Lược sử sinh học                                                           1Lược sử sinh họcCHƯƠNG I: SINH HỌC THỜI THƯỢNG...
Lược sử sinh học                                                            2nhiên, khi cho rằng sự sống của vũ trụ trôi t...
Lược sử sinh học                                                              3      Ví dụ: Lời thề Hippocrates mà tất cả ...
Lược sử sinh học                                                            4     Tác phẩm viết còn lại của ông là các bản...
Lược sử sinh học                                                               5- Linh hồn động vật tính: phụ trách các ch...
Lược sử sinh học                                                             6ít nhiều thể hiện dấu hiệu của sự sống, còn ...
Lược sử sinh học                                                           7làm thức ăn, hoặc là nguồn dược liệu hoặc kích...
Lược sử sinh học                                                           8CHƯƠNG II: SINH HỌC THỜI TRUNG CỔ  I.   THỜI K...
Lược sử sinh học                                                           9Ngày thứ sáu, Thượng Ðế tạo ra người đàn ông v...
Lược sử sinh học                                                           10lồng những quan sát của mình vào trong những ...
Lược sử sinh học                                                           11CHƯƠNG III: SỰ RA ÐỜI CỦA SINH HỌC NGÀY NAY  ...
Lược sử sinh học                                                          12mức ông có thể nhắm mắt cũng có thể rất nhanh ...
Lược sử sinh học                                                           13quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư d...
Lược sử sinh học                                                            14quan trọng của lý luận kinh viện, và hạ mình...
Lược sử sinh học                                                           15vị cử nhân văn học, rồi sau đó lại chuyển tới...
Lược sử sinh học                                                           16hoạt động của máu và tim ở động vật mà Harvey...
Lược sử sinh học                                                           17     Một trong những nhà sinh hóa học đầu tiê...
Lược sử sinh học                                                           18     Nhưng đem lại tiếng tăm cho kính hiển vi...
Lược sử sinh học                                                              19CHƯƠNG IV: PHÂN LOẠI CÁC DẠNG SINH VẬT  I....
Lược sử sinh học                                                           20sống đơn giản nhất và giới vô tri có một khoả...
Lược sử sinh học                                                           21hình dạng to lớn bên ngoài nhưng lại thuộc ha...
Lược sử sinh học                                                           22       Năm 20 tuổi, Linnaeus vào học ở trường...
Lược sử sinh học                                                         23     Hiện nay, thế giới vẫn chấp nhận rộng rãi ...
Lược sử sinh học                                                            24       Một năm sau khi Buffon từ trần, cuộc ...
Lược sử sinh học                                                          25đi đến thoái hóa; những biến đổi đó do tác nhâ...
Lược sử sinh học                                                              26      Nhà sinh học Pháp là Georges Lêopon ...
Lược sử sinh học                                                       27thêm những hóa thạch ngày càng mới hơn, cho nên v...
Lược sử sinh học                                                           28CHƯƠNG V: HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO  I.   CHẤT KHÍ V...
Lược sử sinh học                                                         29chính xác trong hóa học và ông đã dùng những đo...
Lược sử sinh học                                                              30II . CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠ      Năm 1827, th...
Lược sử sinh học                                                          31        Nhà sinh lý học người Nga, viện sĩ Cas...
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Luoc su sinh hoc
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Luoc su sinh hoc

1,456 views

Published on

Published in: Education
0 Comments
1 Like
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
1,456
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
3
Actions
Shares
0
Downloads
16
Comments
0
Likes
1
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Luoc su sinh hoc

  1. 1. Lược sử sinh học 1Lược sử sinh họcCHƯƠNG I: SINH HỌC THỜI THƯỢNG CỔ I. SỰ RA ĐỜI CỦA KHOA HỌC SINH HỌC II. TRƯỜNG PHÁI IÔNIIII. TRƯỜNG PHÁI ATENIV. NHỮNG NGƯỜI THỦ ĐÔ ALEXANDER V. THỜI KỲ LA MÃ CHIẾM ĐÓNGI. SỰ RA ÐỜI CỦA KHOA HỌC SINH HỌC - Sinh học là một học thuyết về các cơ thể sống đã xuất hiện từ khi conngười đã nhận rõ sự khác biệt của mình với thế giới vô sinh bất động chungquanh. Nhưng đã từ lâu, trong suốt nhiều thế kỷ, sinh học vẫn không đượcgọi là khoa học theo nghĩa chặt chẽ của từ ấy. Loài người muốn tránh bệnhtật, giảm đau đớn, phục hồi sức khỏe, thoát khỏi cái chết, họ đã cầu tới lễnghi tôn giáo hoặc phép thần thông, hy vọng động lòng thương của nhữngthần linh thiện, ác và nhờ đó mà thay đổi được tình hình.Ví dụ: Họ cho rằng thần Apôlông (thần mặt trời) dùng mũi tên đểgây ra bệnh tật và thần có thể nổi giận hoặc động lòng thương vì những vậttế lễ hoặc những lời cầu khấn của con người. - Khi mổ con vật làm vật tế lễ hoặc dùng để chế biến thức ăn, con ngườikhông thể không chú ý tới cấu tạo của các cơ quan bên trong của con vật,tuy rằng ở đây họ không có mục đích nghiên cứu về động vật, mà là để bóiđoán về tương lai. Vì vậy, nên xem nhà giải phẩu đầu tiên là thầy tế, dựa vàohình dạng và vẽ bề ngoài của các cơ quan con vật để cố tiên đoán số phậncho những kẻ cầm quyền. - Chắc chắn rằng loài người đã tích lũy được rất nhiều dẫn liệu có ích,ngay khi họ còn hoàn toàn bị thần quyền thống trị.Ví dụ: Dân Ai cập đã biết ướp xác người chết một cách thành thạo,đã nắm vững những hiểu biết thực tế về giải phẩu nhân thể.Tuy nhiên vào khoảng 600 năm trước công nguyên, trên bờ biển Êđê xứ Iôniđã xuất hiện một trường phái triết học đem lại một hướng mới trong quanniệm thống trị trước đó. Theo Talet là một trong những nhà triết học đầu tiêncủa trường phái này (cuối thế kỷ thứ VII đầu thế kỷ thứ VI trước côngnguyên). Những nhà bác học thuộc trường phái Iôni đã bác bỏ cái siêuTheGioiEbook.com
  2. 2. Lược sử sinh học 2nhiên, khi cho rằng sự sống của vũ trụ trôi theo chiều hướng xácđịnh chặt chẽ và không đổi. Mỗi hiện tượng đều có nguyên nhân củamình và đến lượt mình mỗi nguyên nhân, tất yếu sẽ gây ra một kếtquả xác định, không có sự can thiệp ý chí bên ngoài. Ngoài ra họ còncho rằng quy luật tự nhiên điều khiển thế giới là dễ hiểu đối với trí tuệcủa con người, quy luật đó có thể rút ra từ những tiền đề xác định hoặcbằng sự quan sát. Quan điểm tương tự như vậy đã định ra sự tiến bộ về saunày trong việc nghiên cứu thế giới bên ngoài. Chủ nghĩa duy lý như một hệ thống triết học (nghĩa là tin rằng có thểnhận thức được thế giới bằng lý trí chứ không nhờ vào sự tiết lộ) đã bắtnguồn từ quan điểm triết lý của trường cổ đại Iôni.II. TRƯỜNG PHÁI IÔNI Theo truyền thuyết, Anclêmêon (thế kỷ thứ VI trước công nguyên) làngười đầu tiên giải phẩu động vật để mô tả cái đã thấy. Ông đã mô tả dâythần kinh mắt và quan sát sự phát triển của phôi gà. Anclêmêoncũngđã mô tả ống hẹp nối tai giữa với họng. Tiếc rằng khám phá đó đãtrôi qua không tăm tiếng và chỉ hai ngàn năm sau người ta mới quay trởlại sự phát hiện này. Nhưng người nổi tiếng nhất liên quan tới việc mở đầu chủ nghĩa duy lýtrong sinh học là Hippcrates (khoảng năm 460 - 377 TCN). a.) Sơ lược về tiểu sử của Hippocrates: Người ta chỉ biết ông sinh ra và sống trên đảo Cốt, đối diện với bờ biểnxứ Iôni. b.) Công trình khoa học của Hippocrates:Cống hiến to lớn của Hippocrates đối với sinh học là đã giải thích đúng đắn vềthần Axclepia. Theo ông thần thánh không ảnh hưởng gì hết tới y học. Ôngcho rằng: Trong cơ thể khoẻ mạnh thì các cơ quan làm việc ăn khớp và nhịpnhàng, điều này không thể có ở cơ thể bị bệnh. Nhiệm vụ của thầy thuốcchính là ở chỗ chăm chú theo dõi những biến đổi trong cơ thể và kịp thờichữa hoặc trừ bỏ những hậu quả tai hại do những biến đổi đó gây nên. Loạibỏ việc cầu khấn, cúng lễ, trục xuất tinh thần hung bạo hoặc lòng lànhcủa thần thánh, hoạt động chính của thầy thuốc là hướng dẫn cho ngườibệnh cách nghỉ ngơi, giữ gìn vệ sinh và làm thế nào để có thể sống lâu hơnở chỗ không khí trong sạch, ăn những thức ăn lành và đơn giản. Tóm lại: Theo Hippocrates, vai trò của người thầy thuốc là phụchồi lại hoàn toàn sức khỏe của cơ thể sinh vật. Truyền thống Hippocratescòn được giữ gìn ngay sau khi ông mất.TheGioiEbook.com
  3. 3. Lược sử sinh học 3 Ví dụ: Lời thề Hippocrates mà tất cả sinh viên tốt nghiệp y khoacho đến nay vẫn nhắc tới. Mặc khác, có thể cho rằng có lẻ chínhHippocrates đã viết một trong những luận văn cổ nhất mô tả về chứng độngkinh. Luận văn này được coi là một ví dụ về việc áp dụng duy lý vào sinh học. Ðộng kinh là hiện tượng rối loạn chức năng của đại não (mà cho đếnnay còn chưa được giải thích đầy đủ) gây rối loạn hoạt động sống bìnhthường của cơ thể. Khi bị nhiễm bệnh nhẹ, ta khó giải thích chính xác cảmgiác của bệnh, vì thế người bệnh càng thấy đau mơ màng; khi bị bệnh nặng -hoạt động của bắp thịt bị tê liệt đột ngột, khi người bệnh co giật, mê man,rên rĩ và ngã ngất; đôi khi lên cơn, người bệnh bị bại liệt nặng nề. Cơn động kinh kéo dài không bao lâu, nhưng gây cho người xungquanh cảm giác sợ hãi, căng thẳng. Những người không hiểu tất cả sự phứctạp của sự hoạt động chức năng của hệ thần kinh, đã ngây thơ tưởng làngười bệnh bị Thượng đế trừng phạt vì làm trái ý trời; và người bệnh bị mộtsức mạnh siêu nhiên nào đó "ám ảnh" thân thể họ. Luận văn " Về những bệnh thiên liêng" viết vào khoảng năm 400 TCNcó thể chính là của Hippocrates. Trong luận văn, tác giả đã chống lại mộtcách quyết liệt quan điểm phổ biến nói trên. Hippocrates bác bỏ mọi sự canthiệp của sức mạnh của thế giới bên kia và cho rằng chúng không có thể lànguồn gốc hoặc nguyên nhân của một loại bệnh tật nào trong số đó có cảchứng động kinh cũng như các bệnh khác là do những nguyên nhân ngẫunhiên và tất nhiên phải được chữa một cách hợp lý. Toàn bộ quan niệm hiệnđại đều dựa trên quan điểm đó.III. TRƯỜNG PHÁI ATENAten là một trường học rất nổi tiếng do Aritxtôt sáng lập ở miền Bắc Hylạp.a.) Sơ lược về tiểu sử của Aristotle: ( 384 - 322 trước công nguyên,nhà bác học Hylạp cổ đại.) Aristotle là Nhà triết học và tự nhiên học tiêu biểu lừng lẫy nhất của nềnvăn minh HyLạp cổ. Ông sinh năm 384 TCN, tại Staza, một vùng đất thơmộng và xinh đẹp nằm trên bờ tây bắc biển Eze. Bố ông là Ngự y hoàngcung. Trong gần 20 năm, Aristotle luôn luôn là học trò xuất sắc của Nhà triếthọc lớn thời cổ Pla-ton (năm 427- 347) TCN. Aristotle cũng là người thầy và là người bạn lâu năm của Alecxander đạiÐế, nhà quân sự và chính trị lỗi lạc nhất thời ấy. Trong suốt cuộc đời nghiêncứu, để làm phong phú thêm vốn kiến thức cũng như thực tế, Aristotleđã đichu du khắp nhiều nơi trong suốt mười hai năm và đã cùng nhà hiền triếtMitylen thành lập một trường học và thư viện nổi tiếng tại Aten, thủ đô Hylạpvào năm 335 TCN.TheGioiEbook.com
  4. 4. Lược sử sinh học 4 Tác phẩm viết còn lại của ông là các bản ghi chép để chuẩn bị nóichuyện hay bài giảng. Ðó là một hệ thống kiến thức đặc biệt uyên thâm vàphong phú, bao gồm rất nhiều ngành kiến thức tiêu biểu về sinh học,vật lý, tâm lý, lí luận, triết học siêu hình, thẩm mĩ học, chính trị thơca và văn biện luận. Mác đã đánh giá Aristotle là nhà tư tưởng vĩ đạinhất của phương Tây cổ đại. Hầu như toàn bộ tác phẩm của Aristotle đãđược phương Tây thời đó chấp nhận và hâm mộ, xem như cơ sở đáng tin cậyhàng đầu trong mọi lãnh vực của nền học vấn kinh điển. Ðặc biệt, trong suốt10 thế kỷ Trung cổ (từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 15), Aristotle là một trongnhững chuẩn mực về đạo đức và kiến thức. Bổn phận thiêng liêng của sinhviên đại học thời đó là Không cho phép bất cứ ai phê phán,chỉ trích, bác bỏhoặc phản đối lời dạy của các bậc thầy...(đứng đầu là bộ ba Aristotle,Hippocrates, Gale...). Từ thế kỷ IX trở đi tư tưởng Aristotle đã ảnh hưởng rấtmạnh lên triết học, thần học.Ông mất năm 322 TCN , thọ sáu mươi hai tuổi. b.) Những công trình khoa học của Aristotle:( Những quan điểm khởi đầu về con người: Quan điểm khoa học của Aristotle về thiên nhiên là: Thiên nhiên khôngbao giờ làm gì thừa và luôn thực hiện theo một mục đích xác định. Aristotletin rằng mọi việc đều do Thượng Ðế hay Ðấng tối cao an bài, điều khiển (tham khảo thêm chương VI). Cũng là người đã sớm đưa ra những quan điểm về nguồn gốc ý thứccủa con người. Theo ông, Linh hồn của con người hay mọi hiểu biết đều bắtnguồn từ cảm giác. Ông giải thích: Hơi nóng của máu, máu cư trú trong timvốn là trụ sở của trí tuệ thỉnh thoảng có thể tràn lên não để được làm mất vàtỏa bớt nhiệt thừa, chính là nhân tố bí mật điều khiển cơ thể. Chính vì bắtnguồn từ những suy nghĩ như vậy mà người xưa quan niệm rằng mọi bệnhtật liên quan đến tư duy của con người, chẳng hạn như bệnh tâm thần là dosự không lưu thông của cái được gọi là hơi nóng của máu. Hơi nóng này tíchtụ ở trong đầu do sự tắc nghẽn làm người ta mắc bệnh. Muốn khỏi bệnh thìhơi nóng đó phải được giải thoát ra ngoài. Những nhà khảo cổ học đã tìmđược rất nhiều bộ xương người trong đó xương sọ được đục thủng thànhnhững lỗ vuông vức hay tròn rất đều đặn. Những lỗ thủng đó là do bàn taycon người tạo ra nhằm giải thoát hơi nóng trong đầu để chữa khỏi bệnh chobệnh nhân.Linh hồn được Aristotle chia làm ba phần:- Linh hồn thực vật tính: phụ trách các chức năng không gây cảm giác vàđiều khiển được bằng ý chí( như hệ vận động).- Linh hồn duy lí hay trí tuệ: chỉ có ở người không có ở động vật, cây cỏTheGioiEbook.com
  5. 5. Lược sử sinh học 5- Linh hồn động vật tính: phụ trách các chức năng có cảm giác và không điềukhiển được.Phân loại sinh vật: Aristotle nghiên cứu tỉ mỉ hình dạng bên ngoài và tập tính của sinh vật (tức là lịch sử tự nhiên). Ông đã dẫn ra gần 500 loài động vật khác nhau và đãchỉ ra những nét sai khác giữa các loài này. Bản thân danh sách đó, có thể,không đáng được đặc biệt lưu ý, nhưng Aristotle không dừng lại ở đấy. Ví dụ: Ông đã chứng minh được những động vật khác nhau cóthể phân thành từng nhóm, và rất thận trọng khi đưa ra các lớp phân loạikhác nhau. Chẳng hạn những động vật ở cạn có thể dễ dàng xếp thành nhómđộng vật 4 chân (thú), nhóm động vật biết bay (chim) và gộp tất cả động vậtcòn lại vào một nhóm gọi chung là giun. Những động vật ở biển được xếp vàomột nhóm gọi là nhóm cá. Song nhờ có sự phân loại thô sơ đó mà ngày xưanhà bác học Hy lạp cổ cũng có thể xếp được dễ dàng một con vật nào đó vàođúng một nhóm nhất định. Sự đóng góp của Aristotle có thể kể tới một việc khác: Ông đã phân chiacá có vẩy thành hai nhóm: Nhóm cá có xương và nhóm cá sụn như cá nhám. Khi phân loại động vật, Aristotle đã sắp xếp các đối tượng từ thấp đếncao, theo tính phức tạp dần của sinh vật. Theo ông, sinh vật thấp nhất làthực vật, sinh vật cao nhất là thú và đặc biệt là con người. Ông cũngmô tả ba kiểu sinh sản, trong đó hai kiểu ông mô tả đúng, đó là sự sinhsản vô tính và hữu tính. Riêng sự sinh sản tự phát, cho rằng chấy rận sinh ratừ giẻ rách hay bụi bẩn là quan niệm sai lầm.Từ cái nhìn sắc xảo đó điều không thể thoát được là thiên nhiên trên conđường phát triển tới đỉnh của vũ trụ. Ðó là loài người, đã phải trải qua nhiềugiai đoạn tiến hóa khác nhau. Phù hợp với cái nhìn của mình, Aristotle chiathế giới ra làm 4 giới: Phía dưới là giới vô tri vô giác bao gồm đất, nước,không khí; cao hơn một chút là giới thực vật; cao hơn chút nữa là giới độngvật và cuối cùng cao hơn cả là loài người. Giới vô tri vô giác tồn tại; giới thựcvật chẳng những tồn tại mà còn sinh sản; giới động vật tồn tại, sinh sảnvà còn vận động; còn loài người chẳng những tồn tại, sinh sản, vậnđộng mà còn biết suy nghĩ. Giới thực vật được chia ra những loài cây đơn giản và những loài phứctạp hơn; giới động vật chia ra động vật có máu đỏ và động vật không cómáu. Aristotle xếp bọt biển thân mềm, sâu bọ, tôm, cua, bạch tuột vào nhómđộng vật không máu. Theo ông động vật có máu đỏ có tổ chức cao hơn baogồm cá, chim, bò sát, thú. Aristotle đã phát hiện rằng trên chiếc thang sinh học đó có những nấcthang nhảy vọt, và không có thể bảo đảm việc xếp loài này loài khácvào một nhóm xác định. Chẳng hạn thực vật đơn giản nhất, hình nhưTheGioiEbook.com
  6. 6. Lược sử sinh học 6ít nhiều thể hiện dấu hiệu của sự sống, còn động vật đơn giản nhất (ví dụ:bọt biển) hầu như không khác gì thực vật. Những tác phẩm Aristotle để lại là: Ðộng vật học; Cấu tạo động vật; Táitạo mô tả sự phát triển phôi động vật. Những nghiên cứu về thực vậtcủa ông khá nhiều nhưng chỉ còn lưu giữ được có hai tập nhan đề Về cây cỏ. Do đó chúng ta có thể coi Aristotle là người đặt nền móng cho động vậthọc (khoa học về động vật). Học trò của ông là Theophrastus; (372 - 287TCN) kế tục sự nghiệp của Aristotle đã để lại hai tác phẩm Thực vật chí vàBàn về nguồn gốc thực vật, trong đó ông miêu tả năm trăm loài câytrồng và cây hoang dại, cũng như xác định đầy đủ các đặc điểm khác biệtchủ yếu giữa động vật và thực vật.IV. NHỮNG NGƯỜI THỦ ÐÔ ALEXANDER Geophin (300 TCN) là một trong những nhà bác học đầu tiêncủa thời ấy đã chú ý tới đại não như là cơ quan suy nghĩ. Geophin đã khẳngđịnh sự khácnhau giữa các sợi dây thần kinh cảm giác ( nhận cảm giác), và thần kinh vận động ( làm co cơ ), giữa động mạch và tĩnh mạch,ông có nhận xét: động mạch thì đập còn tĩnh mạch thì không đập.Ông đã mô tả gan, lách, võng mạc mắt và khúc đầu của ruột non(ruột tá ) cũng như cơ quan sinh dục của phụ nữ, tuyến tiền liệt củanam giới. Erazixtrat(250 TCN), căn cứ vào kích thước của đại não, đã chiara não lớn và não nhỏ (tiểu não). Ông đã mô tả các nếp nhăn của não vàchú ý tới các nếpnhăn đó ở người rõ hơn ở động vật. Sự quan sát ấy chophép ông liên hệ giữa số lượng các nếp nhăn với khả năng thông minh. Chỉ lấy làm tiếc rằng, sau những bước khởi đầu đầy hứa hẹn đó, trườngphái Alexander trong sinh học đã bị lu mờ. Ngoài ra, còn phải kể đến một sựkiện không kém phần quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát triển sinh học,đó là sự sống - giới hữu sinh - khác với giới vô sinh, đã được coi là thiêngliêng, bất khả xâm phạm và vì thế không phù hợp với sự nghiên cứu duy lýcủa thời đó. Nhiều người cho rằng giải phẩu thân thể con người là điều tuyệtđối không được phép thực hiện. Vì thế chả bao lâu người ta cấm mổ xẻ, nóichung là cấm hẳn việc nghiên cứu, thoạt tiên vì lý do chỉ trích là mất đạo đức,sau đó vì sợ vi phạm pháp luậtV. THỜI KỲ LA MÃ CHIẾM ÐÓNGGai Pliny được coi là một trong những người La Mã nghiên cứu tựnhiên nổi tiếng nhất (năm 23 - 79). Trong bộ bách khoa toàn thư gồm 37tập, ông đã tổng kết tất cả các công trình nghiên cứu lịch sử tự nhiên của cácnhà bác học cổ đại. Nhưng cần thấy rằng Pliny không phải lúc nào cũng cóthái độ phê phán đối với các nguồn tài liệu được sử dụng. Theo ông,tất cả mọi thứ tồn tại trong thiên nhiên đều vì con người: Hoặc dùngTheGioiEbook.com
  7. 7. Lược sử sinh học 7làm thức ăn, hoặc là nguồn dược liệu hoặc kích thích sự phát triểnthể lực và ý chí con người và cuối cùng phục vụ các mục đích đạođức. Quan điểm đó của Pliny phù hợp với học thuyết của đạo thiên chúacổ, ngoài ra người ta đã thể hiện mối quan tâm hiển nhiên đối với nhữngphỏng đoán của Pliny. Vì vậy phần nào có thể giải thích lý do tại sao nhữngtác phẩm của Pliny còn tồn tại đến tận thời đại của chúng ta. Cũng Pliny, ônggiả thiết rằng tất cả các sinh vật được sáng tạo ra với những mục đích đãđịnh sẵn từ trước. Ông đã thấy việc làm của Thượng Ðế ở khắp mọi chỗ trongcơ thể con người. Quan điểm đó được hoàn toàn chấp nhận trong thời kỳhưng thịnh của đạo thiên chúa và giải thích vì sao sau này Galen còn đượcngười ta biết đến một cách rộng rãi. Galen ( năm 131 - 200 ) Thầy thuốc La Mã, gốc người tiểu Á, làngười Sinh học thời Cổ cuối cùng. Galen đã thực hành chữa bệnhtrong nhiều năm đầu ở các trường đấu. Việc chữa bệnh những người bịthương cho phép ông đã thu thập nhiều tài liệu giải phẫu phong phú. Galen đã để lại một di sản khoa học rất lớn. Những lý thuyết mà Galenđã nghiên cứu tỷ mỷ về chức năng của các cơ quan khác nhau của cơ thểngười đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của y học. Kỳthực lý luận của Galen có nhiều sai lầm, bởi ông ta căn cứ vào tri thức giảiphẩu bò, dê, cừu...mà suy luận ra cấu tạo cơ thể người. Ví dụ, ông ta chorằng xương chân của chó là cong mà ra vậy! Không nghi ngờ gì nữa, nguyên nhân sai lầm của phần lớn học thuyếtcủa ông là do thời đó không có dụng cụ nghiên cứu cần thiết dù không thểnghiên cứu một cách thật sự cơ thể của con người. Tuy không thể là tín đồcủa đạo Thiên chúa nhưng ông vẫn tin vững chắc vào sự có mặt của mộtÐấng tối cao duy nhất.TheGioiEbook.com
  8. 8. Lược sử sinh học 8CHƯƠNG II: SINH HỌC THỜI TRUNG CỔ I. THỜI KỲ ĐEN TỐI II. THỜI KỲ PHỤC HƯNGIII. THỜI KỲ QUÁ ĐỘI. THỜI KỲ ÐEN TỐI ( THE FOUNDERS)Ðạo thiên chúa là tôn giáo thống trị trong những năm tồn tại cuối cùng củađế quốc La Mã. Trong chuỗi dài của nhiều thế kỷ, dù sao cũng là trợ lực kìmhãm sự phục hưng của khoa học. Tuy nhiên dưới con mắt của các nhà triếthọc Iôni thì đạo này đã bị chia xẻ tận gốc. Theo quan niệm của các tín đồ đạothiên chúa thì thế giới do các giác quan cảm thấy không quan trọng đối vớicon người, mà là thiên đường, muốn lên trên đó chỉ có con đường là thứctỉnh theo đạo, lấy kinh thánh bài giảng của cha cố và những lời sấm truyềncủa nhà thờ làm người dẫn đường duy nhất đáng tin cậy. Khi đã tuyệt đối tin vào tính bền vững không gì lay chuyển được của cácquy luật tự nhiên, dĩ nhiên người ta cho rằng mọi vật trên đời này đều khôngthay đổi và tuân theo ý Chúa, mọi hoạt động của chúa đều do các vị thánhthực hiện. Theo Kinh Thánh, Mặt Trời, Mặt trăng và các vì Sao cùng toàn bộsinh vật trên Trái Ðất đều do Thượng Ðế sáng tạo ra trong vòng sáu ngày.Thoạt đầu, Thượng Ðế tạo nên Trời và Ðất, Ðất không có hình dạng và trốngrỗng. Chỉ có bóng tối bao trùm lên mặt của vực thẳm và tinh thần củaThượng Ðế bay lượn trên các dòng nước.Thượng đế phán: Aïnh sáng hãy hiện ra! Và ánh sáng xuất hiện. Người đãthấy ánh sáng là tốt đẹp và đã tách ánh sáng ra khỏi bóng tối. Người đã gọiánh sáng là ngày và bóng tối là đêm. Như vậy đã có một buổi tối và một buổisáng: Ðó là ngày đầu tiên.Ngày thứ hai, Thượng Ðế tách bầu trời ra khỏi mặt nước.Ngày thứ ba, Thượng Ðế làm ra đất và biển, Người tạo ra các thảmcỏ và cây cối mọc trên Ðất.Ngày thứ tư, Thượng Ðế tạo ra Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì sao đểchiếu sáng cho đất và để làm ra năm, tháng.Ngày thứ năm, Thượng Ðế tạo ra cá, chim , muông thú và ra lệnhcho chúng sinh sôi nẩy nở trên mặt Ðất.TheGioiEbook.com
  9. 9. Lược sử sinh học 9Ngày thứ sáu, Thượng Ðế tạo ra người đàn ông và người đàn bà đầutiên theo hình dạng của Người và phán rằng con người sẽ sinh sôi nẩy nởtrên mặt đất và thống trị muôn loài.Việc tạo ra thế giới hoàn thành. Thượng Ðế nghỉ ngơi và ngắm tác phẩm củamình. Ðó là ngày thứ bảy.... Chính vì vậy nên ngày nay một tuần lễ có bảyngày và chúng ta cũng nghỉ ngơi vào ngày cuối tuần như Chúa sáng tạo:Ngày chủ nhật thật ra làChúa nhật ( ngày của Chúa ). Cũng may, không phải tất cả mọi người đều tán đồng quan niệm nhưvậy. Trong số các nhà bác học thời Trung cổ có nhiều người cố gắng bảo vệnhững di sản khoa học thời cổ. Ðó là nhà bác học Anh là Bit ( 573- 735 ) ôngđã gìn giữ được các luận văn của các nhà bác học thời cổ. Tiếc rằng, nhữngluận văn đó không có giá trị lớn vì chủ yếu là những đoạn ngắn trích từ tácphẩm của Pliny. Nếu không có những người Ả rập theo đạo hồi giáo, một đạodo nhà tiên tri Môhamet dựng nên vào thế kỷ thứ VII, thì có lẽ ánh sáng khoahọc đã hoàn toàn tắt ngắm rồi. Bản thân họ không phải là những ngườinghiên cứu khoa học có gốc gác, tuy nhiên họ chẳng những chỉ dịch ra tiếngẢ Rập những tác phẩm của Aristotle và Galen, mà còn nghiên cứu và bìnhluận những tác phẩm đó. Trong số những nhà sinh học lớn ở phương Ðông,ta phải kể tới nhà bác học Tatgic mà mọi người chúng ta đều biết tới tênAvixen ( 980 - 1037 ). Ông đã viết những luận văn dựa trên cơ sở những lýthuyết y học của Hippocrates và tài liệu sách vở của Xenxơ.II. THỜI KỲ PHỤC HƯNG Vào cuối thời kỳ Trung cổ người ta đã quay trở lại việc thực hành mổxác người ở Ý.Việc phục hồi quyền mổ xác hoàn toàn chưa phải đưa ngay tớibước nhảy vọt mới trong sự nghiệp phát triển sinh học. Trước tiên người tacần minh họa rõ các công trình của Galen và Avixen, như thường lệ, chínhnhững giảng viên chỉ quen với tài liệu sách vở, coi việc mổ xác là một điềunhục nhã và trao việc đó cho những người phụ giảng. Ông thầy giảngbài không chú ý tới nội dung bài giảng có phù hợp với những điềumà người học trò tận mắt thấy được trong thực tế hay không. Kếtquả là bài giảng đó chứa những điều sai lầm nghiêm trọng. Ví dụ: những đặc điểm về cấu tạo của động vật mà xưa kia Galen đãquan sát và gán ghép (nhầm) là của người, mặc dù trên thực tế chúng hoàntoàn không có ở người, thì theo lời của các giảng viên, những bộ phận đó đãđược quan sát thấy nhiều lần ở người. Nét đặc trưng của thời đại phục hưng là những thích thú rộng lớn đốivới các di sản hiện thực của nền văn hóa cổ đại Phải kể đến nhà họa sĩ vĩ đạingười ý vẽ chân dung giải phẩu là Leonardo da Vinci (1452 - 1591). Ông biếtTheGioiEbook.com
  10. 10. Lược sử sinh học 10lồng những quan sát của mình vào trong những bức tranh kiệt tác. Ôngchẳng những nghiên cứu mà còn thể hiện trên giấy vị trí, và khả năng nốixương với các khớp xương. Lần đầu tiên, ông đã xác định không sai sựgiống nhau trong cấu tạo của xương chân người và ngựa, mặc dù bềngoài của chúng có vẻ khác nhau. Như vậy ông đã phát hiện ra hiệntượng cùng nguồn, hiện tượng này thống nhất nhiều động vật khác nhau vềhình dạng ngoài và do đó đã đặt nền móng vững chắc cho học thuyết tiếnhóa sau này.Leonardo da Vinci đã nghiên cứu và đưa ra hình ảnh sơ đồ hoạt động củamắt và tim; ông cũng đã mô tả thế giới thực vật.Lần này các nhà báchọc đã có những khả năng làm quen với nhiều động vật, thực vật mới lạlùng chưa từng thấy.III THỜI KỲ QUÁ ÐỘ Người Châu Âu thoát khỏi bóng đen u ám của thời Trung cổ trong 10năm đầu của thế kỷ thứ XVI, và đạt đến trình độ khoa học thời Thượng cổ,tuy nhiên để tiếp tục tiến bộ thì cái đó không vẫn chưa đủ.Người đi tiên phong phải kể tới là Philip Aurêon Theophrastus Bombaxt fônCôhenhiem (1439 - 1541) nổi tiếng với biệt danh là Paraxenxo, thầy thuốcngười Ðức và là nhà nghiên cứu thiên nhiên, tự đặt cho mình nhiệm vụ caocả là phê phán di sản của thời xưa. Là thầy thuốc của thành phố Bazen, muôn công khai phát triển quanđiểm của mình, Parasenso đã đốt trước mặt công chúng những tác phẩm củaGalen và Avisen trên quảng trường thành phố.Người ta kết thúc việc đó bằngcách đuổi người thầy thuốc bảo thủ và kích động ra khỏi thành phố (1528),nhưng biện pháp cực đoan này chẳng có ảnh hưởng gì đến quan điểm củaGohenheim. Dĩ nhiên Paracelsus không đánh đổ được nền khoa học Hy lạp cũng nhưsinh học Hy lạp, nhưng việc công kích nền văn hóa cổ xưa đó đã lôi kéo đượcsự chú ý của nhiều nhà bác học khác. Những lý thuyết cá nhân của thầythuốc người Ðức này ít nhiều cũng có chỗ đúng hơn lý thuyết của người Hylạp đã bị ông chống đối kịch liệt, song những cuộc đấu tranh chống lại nhữngđịnh kiến thời kỳ này là cần thiết. Thái độ bất kính hiển nhiên của Paracelsusđối với khoa học thời cổ không đem lại kết quả mong muốn và nền khoa họcHy lạp vẫn tiếp tục làm tê liệt tinh thần của người Châu Âu. Nhưng ảnhhưởng của khoa học Hy lạp đã suy giảm rõ rệt và những cơ sở của sự tư duytrung thực đã bị rung chuyển.TheGioiEbook.com
  11. 11. Lược sử sinh học 11CHƯƠNG III: SỰ RA ÐỜI CỦA SINH HỌC NGÀY NAY I. KHOA HỌC GIẢI PHẨU MỚI II. TUẦN HOÀN MÁUIII. MỞ ĐẦU CỦA HÓA SINH HỌCIV. SỰ XUẤT HIỆN CỦA KÍNH HIỂN VII. KHOA HỌC GIẢI PHẪU MỚI Năm 1543 còn xuất hiện một cuốn sách nữa rất cách mạng đối với sinhhọc, được coi như là cuốn sách của Côpecnic đối với vật lý học. Cuốn sách vớinhan đề Về cấu tạo nhân thể, tác giả của cuốn sách đó là Andre Vesalius(1514 - 1564) nhà giải phẩu học lớn nhất của thời phục hưng ( ông tổ củagiải phẩu học hiệnđại ). a. Sơ lược về tiểu sử của Vesalius:Ông sinh vào ngày 1 tháng 1 năm 1514 ở Bruselles (Bỉ). Cha của ông là dượcsư của Hoàng Ðế Charles thứ V. Thuở nhỏ chịu ảnh hưởng của cha Vesaliusrất thích nghiên cứu tự nhiên, nhất là nghiên cứu động vật nhỏ. Ông thườngtheo cha học cách phẩu thuật chó, thỏ, chim, chuột...nên đã học được nhiềutri thức và kỹ năng thuộc lãnh vực giải phẫu. Ông học ở Hàlan theo truyềnthống nghiêm khắc của trường phái Galen. Ông luôn luôn giữ cho mình mộttình cảm tôn kính sâu sắc với Galen. Sau khi tốt nghiệp 1533 ông tới Paris họcY. Khi đó Paris là trung tâm tư tưởng văn nghệ phục hưng của Châu Âu,không khí học thuật rất sôi động, tư tưởng của mọi người cũng rất tự dophóng khoáng, mới mẻ, thoải mái. Ðiều đó ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc đờiVesalius. b. Công trình khoa học của Vesalius::Vào thời đó tôn giáo thần học còn chiếm địa vị tuyệt đối. Giáo hội thời kỳ nàycấm chỉ giải phẩu thi thể người, cho rằng giải phẩu thi thể người là mạophạm thần linh, là đại nghịch, vô đạo, gây trở ngại nghiêm trọng tới sự pháttriển của khoa học . Do đó, Vesalius chỉ có thể giấu giếm giải phẩu thi thể,tìm ngàn phương, trăm kế trốn tránh sự chú ý của giáo hội. Lòng mong mỏi cầu học mãnh liệt, cộng thêm nỗi hiếu kỳ, đã khiến ôngquên nỗi nguy hiểm tới tính mạng nhiều lần nấp trốn cảnh vệ, trong nhữngđêm trời tối đen như mực, mò tới các bãi hành hình, bãi tha ma, vượt quahàng đàn chó đói, lấy trộm thi thể, mang về nhà mình tiến hành giải phẩusuốt đêm. Cứï như thế Vesalius đã lấy trộm không biết bao nhiêu thi thể vàthức trắng bao nhiêu đêm để bí mật giải phẩu. Cuối cùng nắm vững đích xácrất nhiều tri thức giải phẩu cơ thể người không hề ghi trong sách vở. ÐếnTheGioiEbook.com
  12. 12. Lược sử sinh học 12mức ông có thể nhắm mắt cũng có thể rất nhanh nhận ra là loại xương nàomà người ta đặt vào bàn tay ông. Cấu tạo của các bộ phận nội tạng, bắp thịt,thần kinh, huyết quản, ông cũng rất quen thuộc. Vesalius không nghĩ như các thầy giáo của ông là hoàn toàn tuân theo lýluận của Galen Thời đó, ở các viện y học, người ta dạy là dạy giải phẩu họcvề chó, về lợn, mà không phải là dạy giải phẩu học về người. Cần biết rằngđối tượng nghiên cứu y học là người; chỉ có thú y mới nghiên cứu chó, lợn...Nhưng, có một số người vẫn ngang nhiên cho rằng cấu tạo của con người vàchó, lợn là không sai khác bao nhiêu, và ở viện y học rất hiếm khi được giảiphẩu thi thể; khi giải phẩu các giáo sư thường không cho học sinh nhìn rõ. Hễkhi phát hiện chỗ nào không giống với lý luận mà Galen đã viết thì họcố ý lập lờ, không dám nói rõ, sợ nói ngược với quan điểm của Thánhthư!. Ông không mê tín nhân vật uy quyền và sách vở, chỉ xem trọng thựctiễn. Năm 1543, giáo sư Vesalius 28 tuổi, đã cho xuất bản cuốn sách Bàn vềcấu tạo cơ thể người. Trong sách ông chỉ ra những sai lầm trong sáchcủa Galen. Khi đó, trên giảng đường đại học, ông thường vừa giảng, vừagiải phẩu thi thể người khi giảng về cấu tạo cơ thể người, làm sinh viên nhậnra đâu là thật đâu là giả trong trước tác của Galen. Các buổi lên lớp của ôngthường có tới hơn 400 - 500 người tham dự, ngồi chật cả hội trường.Ðương nhiên, Vesalius đã bị công kích kịch liệt của thế lực giáo hội, và giáohội không dung tha ông. Họ chưởi ông là kẻ bổ báng thần linh. Ngay thầygiáo xưa của Vesalius cũng phản đối ông.Ví dụ: Galen cho rằng xương chân lớn của người nói rằng nó là thẳng thìthầy giáo của ông tuy không thể phủ nhận sự thật đó, nhưng lại nói để phủđịnh: - Việc xương chân lớn của người hiện nay là thẳng quả rõ là không phùhợp với sách vở của Galen, nhưng đó là kết quả của con người hiện đại mặcquần ống hẹp mà thôi!Công việc của Vesalius luôn bị công kích rất mạnh bởi những người theothuyết giáo của tôn giáo.Ví dụ, Thánh kinh nói Thượng Ðế sáng tạo ra trời, Ðất, Ngày và Ðêm. MặtTrăng, Mặt Trời và các vì sao, lại sáng tạo ra động vật, thực vật. Cuối cùngThượng Ðế dùng đất bùn tạo ra con người, đầu tiên tạo ra một người nam làAdam, và sau đó là từ chiếc xương sườn của người đàn ông tạo ra một ngườinữ là Eva để làm vợ Adam, từ đó con cháu họ... ra đời, thành loài người.Theo cách thuyết giáo như vậy thì suy ra bộ xương của nam giới phải kém nữgiới một xương. Còn theo thực tiễn giải phẩu của Vesalius, với số lượng rấtlớn sự thực chứng minh, số xương của người nam và người nữ là như nhauđều là 26 chiếc. Sự thực hùng hồn đó đã giáng một đòn chí mạng vào Thánhkinh của tôn giáo. Sau này Lenin cũng đã rút ra cho chúng ta một bàihọc kinh nghiệm trở thành chân lý không thay thế được Từ trựcTheGioiEbook.com
  13. 13. Lược sử sinh học 13quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đếnthực tiễn. Sau khi xuất bản cuốn sách đó, cuộc đời của Vesalius lâm vào tình cảnhbất hạnh. Vesalius vốn trông đợi sự đồng tình ủng hộ của giới y học đươngthời, nhưng sự thật đã ngược lại với mong muốn đó. Nhiều bác sĩ cũng đãphản đối kịch liệt, ủng hộ uy quyền của Galen đã dựng lên từ thời cổ đại.Thầy giáo của ông gọi ông là kẻ dị giáo, loạn thần kinh(!) và biểu thị thái độđấu tranh với ông đến cùng. Sự công kích từ mọi phía gây khó khăn cho ôngcàng lúc càng nghiêm trọng, khiến ông tuyệt vọng, phẫn chí tới mức hủy hếtnhững tư liệu nghiên cứu đã bỏ ra bao tâm huyết tích lũy nhiều năm, và rờibỏ chức vị giáo sư đại học. Từ đấy, ông trở nên trầm tư, khổ não, khôngquan tâm gì đến sự nghiệp nữa... Cho dù đã như thế, nhưng kẻ phản đối ông trong giới khoa học và giớitôn giáo quyền uy căm thù sự phát triển khoa học, vẫn không chịu buông thaông. Chúng thu thập tài liệu, luận tội trạng, cuối cùng vào năm 1563 lôi ôngra tòa án tôn giáo kết án ông phải chịu tử hình! Về sau vị hoàng Ðế Bỉ nghĩ ngợi thế nào mà đã miễn tội chết cho ông,đổi thành án phải đi lưu đày đến Palextin. Ông mất năm 1564 ở đảo Zante,lúc mới 50 tuổi! Suốt đời Vesalius đi tìm chân lý, hiến thân tất cả cho giải phẩu học, yhọc. Ông đấu tranh bất khuất với mê tín, tôn giáo, thần học. Thành tựu khoahọc của ông đã làm ông trở thành người đặt nền móng cho giải phẩu họchiện đại, dược nhiều người tôn vinh là ông tổ của giải phẩu học hiện đại. Giáo hội có thể bức hại Vesalius nhưng ngăn trở không nổi trào lưu thờiđại về nhận thức cơ thể của con người. Chân lý khoa học vẫn phát triển vềphía trước cho dù gặp gian nan, gập ghềnh, khúc khuỷu. Sau khi ông chếtnhà khoa học người Anh William Harvey (1578 - 1675) đã tiếp tục thăm dò,khám phá và cuối cùng triệt để lật đổ thuyết của Galen. Chân lýì khoa học đãgiành được thắng lợi cuối cùng. Trong số những người học trò xuất sắc của ông Gabrien Falop (1523 -1562) đã nghiên cứu cơ quan sinh dục. Ông đã mô tả ống đi từ buồng trứngđến dạ con, và cho đến nay y học vẫn gọi ống đó là vòi Falop. Một nhà giải phẩu khác người Ý tên là Bactolome Ostachser (1510 --1574), về danh nghĩa là người đối lập với Vesalius và là người ủng hộ Galen,nhưng trên thực tế đã nghiên cứu thân thể người và rất thích chí mô tả cáimà bản thân mắt ông nom thấy. Một lần nữa ông đã phát hiện ra ống nối taygiữa với họng, mà ngày nay được mang tên là ống Ostachser. Chẳng bao lâu sau, noi theo việc làm của các nhà bác học giải phẩu,không xem thường việc tự tay mổ xác chết, những thầy thuốc đã quên đi tầmTheGioiEbook.com
  14. 14. Lược sử sinh học 14quan trọng của lý luận kinh viện, và hạ mình, tự họ thực hiện những cuộc giảiphẩu.II. TUẦN HOÀN MÁU Nhiệm vụ cơ bản của giải học làm sáng tỏ sự cấu tạo và cách sắp xếpcác cơ quan của thân thể người ta. Nghiên cứu những đối tượng của của sinhlý học - sự hoạt động chức năng bình thường của các cơ quan -- còn khóhơn nhiều. Người Hy Lạp là những nhà sinh lý học xoàng. Phần lớn nhữngquan niệm của họ về chức năng của tim là sai lầm. Tim là một cái bơm đổ đầy máu, không ai hoài nghi về điểm này. Nhưngmáu từ đâu đến và từ đâu đi? Ðiều sai lầm cơ bản của thầy thuốc cổ Hylạp làcho rằng tĩnh mạch là những ống dẫn máu duy nhất. Thông thường độngmạch ở xác chết rỗng nên họ cho rằng chúng là những ống dẫn khí ( từ Hylạparteria có nghĩa là Ống khí). (Tham khảo tuần hoàn máu theo Galen vàGeophin). Các nhà giải phẩu học người Ý ở thế kỷ XVI, Jerom Fabri (1537- 1619)đã phát hiện ra van tĩnh mạch và giải thích sự hoạt động của các van nàykhông ngăn trở máu chảy về tim và chảy ngược trở lại. Tuy nhiên, kết luậnđó trái với ý kiến của của Galen về máu chuyển động theo hai chiều, vì vậyFabri chỉ dám giả thiết là các van làm máu chảy chậm lại, chứ hoàn toànkhông làm ngừng dòng máu chảy ngược. Kết luận đơn giản hơn, máu chảytrong tĩnh mạch chỉ theo một hướng về tim. Học trò của Fabri là William Harvey (1578 - 1657) một người Anh rấtkiên quyết, sau khi về nước Anh, Harvey cũng như một số nhà giải phẩu họctrước ông lao vào nghiên cứu về tim và chú ý đến sự có mặt của những vanhoạt động một chiều ở trong tim a.) Sơ lược về tiểu sử của Harvey: Ngày 1 tháng 4 năm 1578, W. Harvey sinh ra trong một gia đình nôngdân ở Folkestone, miền Nam nước Anh. Về sau, Harvey còn có 6 em ruột nữa.Lúc nhỏ, Harvey đã yêu thích các loài động vật, thường cả ngày đùa nghịchvới chó, mèo, gà, thỏ mà không biết chán. Ở gần nhà có một xưởng mổ giasúc. Có dịp là Harvey tới xem các chú bác giết thịt rồi chặt thành từng tảngthịt bò, thịt dê, thịt heo... chuyển đi các cửa hàng bán lẻ. Nhìn thấy cảnh máume chảy ròng ròng, bạn bè sợ hết hồn, chạy té đi, song Harvey lại chẳng sợchút nào, lại còn hỏi xem bộ phận này, bộ phận khác trong nội tạng gia súcgọi tên là gì... Năm 1593, chưa đầy 16 tuổi Harvey đã thi đổ trường đại học(Cambridge), học văn học. Năm 19 tuổi, Harvey đã tốt nghiệp, đoạt được họcTheGioiEbook.com
  15. 15. Lược sử sinh học 15vị cử nhân văn học, rồi sau đó lại chuyển tới học y học ở trường đại họcPadua, Italia, là một trung tâm nghiên cứu y học đương thời. Năm 1600, vào lúc Harvey 22 tuổi, đang học đại học Padua, thì có xảyra một việc động trời: Ngày 17 tháng 2, nhà khoa học ngoan cường Brunô,người chủ trương và truyền bá Thuyết nhật tâm, bị giáo hội qui tội chết, đemthiêu trên giàn lửa! Harvey rất căm phẫn trước việc đó, trong lòng như muốnthét lên câu hỏi: thế này thì còn gì là chân lý nữa?! Năm 1602 Harvey tốt nghiệp đại học, đoạt danh vị bác sĩ y khoa, khônglâu sau, Harvey trở về nước Anh, lại đoạt học vị bác sĩ giải phẩu học ở trườngđại học Cambridge, trở thành một thầy thuốc có danh tiếng. Từ năm 29 tuổi, ông dạy học ở trường Y Hoàng Gia, kiêm bác sĩ phẩuthuật ở bệnh viện Saint Bactholomew. Năm 35 tuổi, ông là giáo sư trường đạihọc Y ở London. Năm 40 tuổi ông được mời làm ngự y của vua nước Anh làJames I, rồi Charler. b.) Công trình khoa học của Harvey: Ở London, mỗi năm Harvey đều tham gia mấy lần giải phẩu xác phạmnhân tử hình. Trong quá trình giải phẩu, ông chú ý thấy sự co bóp của độngmạch, hiện tượng phập phồng ở thái dương, cổ tay, đỉnh đầu... những hiệntượng đó làm cho ông nghĩ đến giả thuyết cho là trong cơ thể có sự hoạtđộng của một thứ gì tựa như cái bơm trung tâm, từ đó mà khống chế sự lưuđộng của máu trong toàn thân thể. Harvey lúc đó còn là giảng viên giải phẩu. Khi giảng bài, ông thường giảiphẩu ộng vật rồi cùng sinh viên quan sát, nghiên cứu. Mỗi cuộc giải phẩu,ông đều ghi chép tỉ mỉ các quan sát, rồi lại suy ngẫm tìm cách giải thích cácvấn đề thu lượm được. Khi giải phẩu động vật và xác người, ông đặc biệt chúý quan sát kỹ lưỡng về kết quả cấu quả tim, biết rằng tim là do các cơ thịt tổchức thành và công năng chủ yếu của nó là vận động co bóp. Ông nhận ragiữa mỗi nữa quả tim đều có van tim ngăn cách, làm phân chia ra tâm nhĩ vàtâm thất, chỉ cho máu chảy từ tâm nhĩ sang tâm thất, mà không thể chảyngược lại. Harvey tính toán rằng chỉ trong một giờ, tim bơm đầy được một khốilượng máu gấp ba lần trọng lượng của cơ thể. Không thể tưởng tượng đượcrằng với tốc độ đó máu có thể tự tạo ra hoặc tự phân giải. Rõ ràng máu phảitừ động mạch sang tĩnh mạch ở chỗ nào đó bên ngoài tim mà mắt thườngta không nhìn thấy được những mạch nhỏ nối tiếp. Sau khi giả thiết có nhữngmạch nối tồn tại thì rất dễ hiểu là tim phải nhiều lần bơm một khối lượng máuqua các nấc: Tĩnh mạch - tim - động mạch - tĩnh mạch - tim - động mạch -Tĩnh mạch - tim.... Năm 1628, một nhà xuất bản ở nước Ý chủ động viết thư cho Harveytrình bày nguyện vọng là chịu mọi phí tổn, xin xuất bản cuốn sách: Về sựTheGioiEbook.com
  16. 16. Lược sử sinh học 16hoạt động của máu và tim ở động vật mà Harvey đã phải bỏ ra tâmhuyết hơn 20 năm để hoàn thành. Mặc dù cuốn sách không dày ( vẻn vẹnchỉ có 72 trang ) và vẻ bề ngoài khiêm tốn, nhưng cuốn sách đã mở ra mộtthời kỳ mưa bão - làm nên cuộc cách mạng hoàn toàn trong lịch sử sinh học. Nghiên cứu của Harvey là sự thể hiện ý đồ nghiêm chỉnh đầu tiên vềquan điểm mới đối với sinh học. Harvey đã đánh đổ học thuyết của Galen, vàđặt nền tảng cho sinh lý học hiện đại ( chúng ta lưu ý sự tính toán củaHarvey về khối lượng máu đi qua tim là ý định nghiêm chỉnh đầu tiênnhằm ứng dụng toán học vào sinh học). Lẽ tất nhiên, các thầy thuốc là những người gắn bó với trường phái cũđã công khai chống lại Harvey nhưng họ không thể chống lại những sự thậtkhách quan . Ðến thời gian khi Harvey trở về già thì tuần hoàn máu của ôngmới được giới các nhà sinh học thừa nhận chúng mặc dù người ta chưa pháthiện được mao quản nối liền động mạch với tĩnh mạch. Như vậy, các nhà báchọc châu Âu đã dứt khoát vượt qua giới hạn sinh học cổ điển và khôngbao giờ quay trở lại nữa. Không còn nghi ngờ gì nữa, phát minh của Harvey là dẫn chứng có íchcho chủ nghĩa duy vật máy móc. Thật ra có thể cho rằng tim là một loại máybơm, còn sự vận chuyển của máu tuân theo những định lý học về chuyểnđộng của chất lỏng. Nếu như vậy thì giới hạn của vấn đề là ở đâu? Phảichăng người ta có thể giả thiết là tất cả những phần còn lại trong cơ thể sốngchỉ là một bộ tập hợp của các hệ thống cơ học phức tạp và có liên quan lẫnnhau hay không? Ðiểm yếu nhất trong lý thuyết tuần hoàn máu cuả Harvey là không thấyđược mối liên quan giữa động mạch và tĩnh mạch. Ông chỉ giả thiết có sự nốitiếp tương tự, nhưng do kích thước của các mao quản nối với nhau rất nhỏnên không thể nhìn thấy được. Vào cuối đời của Harvey vấn đề này vẫn chưađược giải qưyết, và có lẽ nó vẫn tiếp tục tồn tại nếu như loài người chỉ dùngmắt thường để quan sát sự vật.III. MỞ ÐẦU CỦA HÓA SINH HỌC Nhà nghiên cứu tự nhiên HàLan, Jan Baptis Van Helmont (1577- 1644)là người cùng thời với Harvey đã tiến hành những nghiên cứu thực nghiệmhóa học trên cơ thể sống. Van Hem mon đã trồng một cây liễu trong mộtchiếc chậu với một lượng đất nhất định. Ông chỉ dùng nước tưới liễu đều đặntrong năm năm liền, trọng lượng của cây tăng lên 73 kg, còn đất chỉ mất đi57 g. Từ việc đó Van Helmont đã đi đến kết luận là cây dùng những chất cầnthiết cho nó không phải từ trong đất (hoàn toàn đúng ) mà từ nước ( khôngđúng, ít ra chỉ một phần mà thôi ). Sai lầm của ông ở chỗ không tính đếnkhông khí -- mỉa mai thay, chính Van Helmont là người đầu tiên nghiên cứuvề chất khí. Danh từ khí thuộc về ông ,ông đã phát minh ra cái gọi là hồnrừng mà về sau này không phải là cái gì khác chính là khí carbonic--nguồn gốc chủ yếu của sự sống.TheGioiEbook.com
  17. 17. Lược sử sinh học 17 Một trong những nhà sinh hóa học đầu tiên nhiệt tình phải kể đếnFrance dela Boe (1613 -- 1672). Mang biệt danh La tinh hóa là Xinvia;ông đã đưa khái niệm cơ thể như là một bộ máy hóa học. Theo ông sự tiêuhóa thuần túy là quá trình hóa học, hoạt động của nó tương tự với sự biếnđổi hóa học xảy ra trong thời gian lên men. Tiếp đó ông giả thiết rằng hoạtđộng đúng đắn của sinh vật phụ thuộc vào sự cân bằng của các cấu tử hóahọc của cơ thể; bệnh tật chẳng qua là kết quả hoặc là hàm lượng axit có thừahoặc là thiếu trong cơ thể. Trong chừng mực nào đó, sự xác nhận của Xinvialà đúng. Nhưng khoa học thời đó vẫn còn ở mức độ thấp, những khái niệmcủa ông không thể tiếp tục đi xa hơn nữa.IV. SỰ XUẤT HIỆN CỦA KÍNH HIỂN VI Vào năm 1960, Galileo -- người đầu tiên dùng viễn kính và những dụngcụ quang học để quan sát thiên văn; việc đó đã cổ vũ mọi người lao vàonghiên cứu. - Nhà tự nhiên học Hàlan, Jean Swammerdam (1637- 1680) được coi lànhà giải phẩu vi thể lỗi lạc. Ông rất nổi tiếng nhờ những nghiên cứugiải phẩu về côn trùng và những bức vẻ chi tiết xuất sắc của mình. Sự pháthiện ra các tế bào cực nhỏ lơ lửng trong máu, làm cho máu có màu đỏ thuộcvề Swammerdam (ngày nay ta gọi là hồng cầu hay eritroxit). - Nhà thực vật học Anh Griu (1641-1712) nghiên cứu cấu tạo của thựcvật dưới kính hiển vi và đặc biệt chú ý tới các cơ quan sinh sản . Ông đã môtả cấu tạo của từng hạt phấn. - Nhà giải phẩu học Hàlan, Regnier de Graaf (1641-1673) đã tiến hànhnghiên cứu trên động vật. Ong đã nghiên cứu cấu tạo tinh vi của tinh hoàn vàbuồng trứng, nhất là mô tả dạng túi ở trong buồng trứng mà đến nay đượcgọi là nang Graf ( bao trứng ). - Song những phát hiện của nhà sinh lý học Ý, Maxrcello Malpighi (1628- 1694) là có giá trị xuất sắc nhất. Khi nghiên cứu phổi ếch, ông đã phát hiệnra mạng lưới phức tạp của những mạch máu nhỏ bé nhất (vi huyết quản).Sau khi theo dõi những mạch máu nhỏ ghép thành những mạch máu lớn,Malpighi đã khẳng định rằng những mạch máu lớn trong trường hợp này làtĩnh mạch, còn trường hợp khác là động mạch. Giả thiết của Harvey là đúng: Ðộng mạch và tĩnh mạch thật sự nối vớinhau thành mạng lưới mạch máu cực kỳ nhỏ đến nỗi mắt thườngkhông nom thấy được. Những mạch máu nhỏ bé đó gọi là mao mạch.Sự phát hiện vĩ đại đó khẳng định hoàn toàn học thuyết tuần hoàn máucủa Harvey vào năm 1661 (bốn năm sau khi nhà bác học Anh vĩ đại đó từtrần).TheGioiEbook.com
  18. 18. Lược sử sinh học 18 Nhưng đem lại tiếng tăm cho kính hiển vi lại không phải là Malpighi màlà một nhà buôn Hà lan, Anthony van Leeuwenhuck (1632 - 1723) vì kínhhiển vi là vật giải trí của ông. Leeuwenhuck dùng những thấu kính bình thường có kích thước rất nhỏđược chế tạo bằng thứ thủy tinh tốt nhất. Ông hết sức thận trọng mài nhẵnthấu kính cho đến khi đạt đến độ phóng đại chính xác 200 lần. Nhờ thấu kínhLeeuwenhuck đã quan sát được tất cả những gì mà ông có trong tay. Ôngtheo dõi dễ dàng sự chuyển động của máu trong mao mạch của nòng nọc vàcó thể mô tả những hạt máu đỏ và mao mạch một cách tỉ mỉ và chính xáchơn người đầu tiên phát hiện ra máu và mao mạch là Swammerdam vàMalpighi. Lần đầu tiên một người giúp việc của Leeuwenhuck đã thấy trongtinh dịch có tinh trùng - vật thể nhỏ bé, giống nhu con nòng nọc. Nhưng khi quan sát một giọt nước cống, Leeuwenhuck đã khám phára một điều kỳ lạ nhất trong đó có chứa những vật cực kỳ nhỏ nhưng tuy thếvẫn có đầy đủ dấu hiệu của sự sống. Ðó là những tiểu động vật (theoLeeuwenhuck) mà ngày nay chúng ta biết đó là nguyên sinh vật. Một thế giớibí ẩn vô cùng phong phú đã hiện ra trước mắt ngạc nhiên của các nhà nghiêncứu. Như thế là đã đặt cơ sở cho môn vi sinh vật học ( nghiên cứu những cơthể sống không nom thấy được bằng mắt thường). Năm 1683, Leeuwenhuck đã phát hiện ra những vật còn nhỏ hơn cảnguyên sinh động vật. Song sự mô tả những vật còn mơ hồ, vì thế không đủbằng chứng để hoàn toàn tin tưởng rằng lần đầu tiên trong lịch sử loài người,Leeuwenhuck là người đã thấy những sinh vật mà sau này người ta gọi là vikhuẩn. Việc cải tiến kính hiển vi của R. Huc - nhà bác học Anh, Robok Huc(1635 - 1703) đã cho phép hoàn thành nhiều thí nghiệm khoa học tinh vi.Năm 1665, ông đã xuất bản cuốn sách " Hiển vi học ", trong đó có thể tìmthấy những bức vẽ phác họa những vật có kích thước hiển vi. Lý thú nhất làviệc nghiên cứu cấu tạo của bấc bần vì đã nêu rõ bấc bần kết cấu bằngmột khối những ô hình chữ nhật nhỏ bé, mà Huc gọi là các tế bào.Phát hiện này có những tiếng vang lớn. Trong thế kỷ XVII, kỹ thuật soi kính hiển vi nằm trong thời kỳ suy thoái:hiệu quả của kính hiển vi đạt tới giới hạn thấp. Chỉ vào năm 1773, gần 100năm sau những quan sát đầu tiên của Leeuwenhuck, nhà động vật họcÐanmạch, Ottle Frederic Mule ( 1730 - 1784 ) mới thấy vi khuẩn rõđến nỗi ông có thể mô tả đường nét và hình dạng của một số vi khuẩn.TheGioiEbook.com
  19. 19. Lược sử sinh học 19CHƯƠNG IV: PHÂN LOẠI CÁC DẠNG SINH VẬT I. HIỆN TƯỢNG TỰ SINH II. SẮP XẾP CÁC LOÀI TRONG HỆ THỐNG PHÂN LOẠI TRÊN NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG DẪN TỚI HỌC THUYẾT TIẾN HÓAIII. NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỊA CHẤTI. HIỆN TƯỢNG TỰ SINH Cách đó không lâu, người ta thấy những sinh vật giống như giun hoặcsâu sinh ra từ thịt thối hoặc trong chất cặn bã. Ở những chỗ dơ bẩn, hôi thốithường có nhiều ruồi muỗi. Ở chỗ tối tăm, ngóc ngách thường có nhiềuchuột. Ở chỗ lá xanh non thường có nhiều sâu bọ. Sự "xuất hiện" vật sống từvật chất không sống như vậy được gọi là hiện tượng tự sinh . Từ nhậnxét đó, do trình độ có hạn, cho đến thế kỷ 16, người ta vẫn nghĩ rằng cóhai cách sinh sản: Sinh sản từ bố mẹvà sinh sản từ môi trường, tức là tựnhiên sinh ra- hiện tượng tự sinh. Mà dòi của ruồi xuất hiện trong thịtthối là một ví dụ kinh điển. Francesco Redi (1626 - 1698) thầy thuốc người Ý, thấm nhuầnquan điểm của Harvey bác bỏ cái thuyết " Thịt ôi sinh ra dòi" đã tiến hànhthí nghiệm sau đây vào năm 1668 : Lấy một tấm vải màn mỏng bọc kín thịtlại, không cho ruồi đến đậu vào thịt =>Thịt có ôi nhưng không thấy dòi xuấthiện trên thịt. Nếu lấy trứng ruồi để lên vải màn đó rồi bỏ vào thịt => trứng đó lại sinhra dòi. Như vậy theo Redi, mọi việc đã rõ ràng: Dòi chính là ấu trùng của ruồi.Thịt chẳng qua là cái tổ để dòi sống và phát triển mà thôi. Cũng như vậy, vách đá là cái tổ ẩm ướt để cóc dễ dàng sinh sống vì ởđó có nhiều sâu bọ, môi trường ẩm ướt mát mẻ và kín đáo. Con bọ que sốngđược dể dàng trên cây xanh vì ở đó có nhiều lá non và thức ăn tốt chonó.Thế thôi! Làm gì có chuyện tự nhiên sinh ra! Muốn có chuột con phải cóchuột cha mẹ. Chuột cha mẹ do chuột ông bà sinh ra. Cứ như thế chuột sinhsôi nẩy nở từ thế hệ này đến thế hệ khác. Thuyết tự nhiên sinh ra rõ ràng làhoang đường và phản khoa học, phản thực tế. Vấn đề tự sinh trở thành một bộ phận tranh luận tương đối rộng rãi, đặcbiệt gay go trong cuối thế kỷ XVIII: Ðối với người duy vật cho rằng giới vô sinh và giới hữu sinh chỉ tuântheo một số quy luật nhất định thì vi sinh vật đặc biệt là lý thú vì chúng là cầunối độc đáo giữa vật chất sống và vật chất không sống. Người sinh lực luậnkế sau đó đã phủ nhận hoàn toàn khả năng tự sinh theo họ giữa những dạngTheGioiEbook.com
  20. 20. Lược sử sinh học 20sống đơn giản nhất và giới vô tri có một khoảng cách không thể vượt xađược. Nếu chứng minh được vi sinh vật được tạo thành từ vật chất khôngsống thì người ta đã xây xong nhịp cầu đó. Nhưng trong suốt thế kỷ XVII chỗ đứng về vấn đề tự sinh của nhữngngười sinh lực luận và những người duy vật vẫn chưa được phân biệt rõ ràng,bởi vì đóng vai trò nhất định ở đây có cả những nguyên nhân tôn giáo. Ðôikhi những người sinh lực luận , thường khá bảo thủ trong các vấn đề tôngiáo, đã buộc phải ủng hộ quan niệm vật chất sống phát triển từ vật chấtkhông sống mà trong thánh kinh đã ghi chép. Linh mục John Abbe Needham (1713 - 1781) Nhà tự nhiên học Anh, đãđi đến kết luận tương tự vào năm 1748. Ông đã làm thực nghiệm rất đơngiản bằng cách nấu sôi canh thịt cừu => rót canh vào ống nghiệm vàđậy nắp lại => qua vài ngày vi sinh vật xuất hiện đầy trong canhthịt. Bởi vì theo Needhem , khi đun sôi sơ bộ ta khử trùng nước canh thịt,lúc đó vi sinh vật được tạo thành từ vật chất không sống và người ta có thểchứng minh được hiện tượng tự sinh, ít ra là đối vơí vi sinh vật. Nhà sinh học người Ý- Lazzaro Spanllanzani (1729 - 1799) tỏ ra hoàinghi đối với thí nghiệm đó; ông giả thiết rằng trong thí nghiệm của Needham,thời gian đun sôi chưa đủ để khử trùng. Spanllanzani đun sôi canh thịt trongbình hẹp cổ trong thời gian 30 - 40 phút, và không thấy vi sinh vậtxuất hiện. Có lẽ kết quả đã giải thích được cuộc tranh luận trên nhưng nhữngngười theo thuyết tự sinh dẫu sao cũng vẫn tìm lối thoát. Họ tuyên bố rằngnguồn sống là cái gì đấy bí hiểm và không thể nhận thức được, nó ở trongkhông khí và truyền khả năng sống cho những vật vô tri vô giác. Họ nói rằngthí nghiệm của Spanllanzani đã phá hủy nguồn sống đó. Và thật vậy hầu nhưtrong suốt cả thế kỷ sau đó vấn đề này đã gây ra sự hoài nghi và nhiều cuộctranh luận.II. SẮP XẾP CÁC LOÀI TRONG HỆ THỐNG PHÂN LOẠI Trong thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII đã bắt đầu có ý định phân loại cácdạng sống khác nhau nhưng ý đồ đó đã vấp phải những mâu thuẩn khánghiêm trọng và đạt đến đỉnh cao trong thế kỷ XIX. Trước hết loài là đơn vị phân loại đối vớithực vật cũng như đối với độngvật, nói một cách nôm na, loài là bất kỳ một nhóm cơ thể sống nào đó mà cóthể tự giao phối với nhau trong thiên nhiên, sinh ra con cháu của chúng giốngnhau như đúc; thế hệ con cháu này đến lượt mình lại sinh ra thế hệ con cháukế tiếp cứ thế tiếp tục mãi. Ví dụ: Con người với tất cả những sai khác bên ngoài vẫn được coi là đạidiện của một loài. Trong khi đó voi Châu Phi và voi Ấn Ðộ rất giống nhau vềTheGioiEbook.com
  21. 21. Lược sử sinh học 21hình dạng to lớn bên ngoài nhưng lại thuộc hai loài khác nhau, vì khi chúnggiao phối với nhau không sinh ra thế hệ con cháu. Trong danh mục của Aristotle có khoảng 500 loài động vật, cònTheophrastus mô tả cũng chừng ấy loài thực vật. Vào năm 1700, người ta đãmô tả được hàng chục nghìn loài thực vật và động vật. Nhưng để hoàn chỉnhmột hệ thống phân loại thống nhất cho hàng chục nghìn loài không phải dểdàng. Jon Ray (1628 - 1705) nhà tự nhiên học người Anh. Trong tácphẩm gồm ba tập: " Lịch sử thực vật" (1686 - 1704) Ray đã mô tả tất cảcác loài thực vật được biết đến thời đó. Trong cuốn sách khác: " Tổng quanphân loại độngvật..." (1693) Ray đã đề cập đến việc phân loại độngvật của ông sau khi áp dụng qui tắc liên kết các loài theo nhóm nhữngdấu hiệu bên ngoài, chủ yếu là theo xương và răng. Chẳng hạn ông chia cácloài thú thành hai nhóm lớn : - Thú có ngón - Thú có guốt Ðến lượt mình nhóm có guốc lại chia ra: - Nhóm một guốc ( ngựa ) - Nhóm hai guốc ( bò rừng lớn ) - Nhóm ba guốc ( tê giác ) Ông lại chia nhóm có hai guốc thành 3 nhóm nhỏ: - Thứ nhất: Các loài nhai lại, sừng không rụng như là (dê ) - Thứ hai: Các loài nhai lại sừng rụng hàng năm ( hươu ) - Thứ ba: Các loài không nhai lại Phân loại của Ray còn rất chưa hoàn chỉnh nhưng nguyên lý cơ bản củanó đã được tiếp tục phát triển trong các công trình của các nhà tự nhiên họcThụy điển Carl Linnaeus a. Sơ lược tiểu sử của Linnaeus( 1707 - 1778 )Linnaeus sinh ngày 23- 5- 1707 ở Thụy Ðiển. Ngay từ khi còn họctiểu học và trung học, Linnaeus đã không chăm chỉ học bài ở lớp, ở trườngbằng mải mê quan sát thu thập các mẫu vật về cây cỏ, hoa, lá, quả...ở ngoàitrời, trong thiên nhiên. Lúc 8 tuổi người ta đã gọi đùa Linnaeus là " Nhà thựcvật trẻ ".TheGioiEbook.com
  22. 22. Lược sử sinh học 22 Năm 20 tuổi, Linnaeus vào học ở trường Y và ba năm sau, năm 1730,được giữ lại trường làm phụ giảng. Năm năm sau, năm 1735, ông bảo vệthành công luận án tiến sĩ Y khoa tại Hàlan. Sau đó, trong ba năm liền, ônglần lượt học thêm ở Ðức, Ðanmạch, Anh và Pháp, là những trung tâm vănhóa lớn thời đó. Năm 1738 ông trở về quê để theo đuổi nghề thầy thuốc. Năm 1741,lúc 34 tuổi ông được cử làm giáo sư đại học. Từ đó tới lúc mất, ông kết hợpgiảng dạy, nghiên cứu và biên soạn tài liệu khoa học.Linnaeus mất năm 1778, thọ 71 tuổi b. Công trình khoa họ của Linnaeus: Năm 1732, khoảng thời gian này, người ta đã biết ít nhất là 70.000 loài,sau khi đi ngang qua vùng phía Bắc bán đảo Scanđinever, vùng được coi làkhông có điều kiện thuận lợi đối với sự phồn thịnh của khu hệ động và thựcvật, trong một thời gian ngắn Linne đã phát hiện gần 100 loài cây mới.Linnaeus đã nghiên cứu các cơ quan sinh sản của thực vật, và có chú ý đếnnhững sai khác về loài. Sau này trên cơ sở đó ông đã xây dựng hệ thốngphân loại của mình. Năm 1735 Linnaeus đã xuất bản cuốn sách "Hệ thồngcủa tự nhiên " trong đó trình bày hệ thống phân loại của giới động vật vàthực vật do ông lập ra, gồm 4 nhóm từ nhỏ đến lớn là: Loài ( chi ( bộ (lớp. Hệ thống này được coi là ông tổ của hệ thống phân loại hiện đại. ChínhLinnaeus là người sáng lập ra Khoa học phân loại ( Taxanomy hay làSystematics) nghiên cứu sắp xếp các loài sinh vật. Ví dụ: Linnaeus chia giới thực vật thành 24 lớp, giới động vật thành 6lớp. Ðóng góp lớn nhất của Linnaeus đối với công tác phân loại là đã nghĩ rađược một cách đặt tên sinh vật rất chặt chẽ và thuận tiện. Mỗi sinh vật đượcgọi bằng hai tên của tiếng Latinh, tên đầu viết hoa, chỉ Chi (Genus), tên sauviết thường, chỉ Loài (Species). Chẳng hạn trong chi mèo Felis có mèo nhà:Felis domesticus, sư tử: Felis Leo, cọp: Felis Tigris. Từ năm 1746 đến năm 1753, trong bảy năm. Linnaeus đã soạn và inthêm quyển " Thực vật chí ", trình bày các chìa khóa và kết quả phân loạithực vật. Việc phân loại chủ yếu dựa trên các ngoại hình, dễ thấy và dễ nhậndạng nhất giữa các sinh vật. Chìa khóa phân loại đó có nhược điểm lớn nhất là chưa tính được cáckhác biệt về kích thước, hình dáng ngoài xuất hiện do các giai đoạn phát triểnkhác nhau ( trứng, sâu, nhộng, ngài...), hoặc chế độ dinh dưỡng khác nhau (nhất là đối với thực vật ). Chẳng hạn Ốc sên thuộc Chi Cerion ở quần đảoCaribe đã được phân loại thành 600 trăm loài, nhưng xét kỹ lưỡng thì chỉ gồmcó ... hai Loài! Một hạn chế nữa của Linnaeus là đã phân loại sinh vật theoquan điểm Thượng đế sáng tạo muôn loài bất biên qua thời gian. Tuynhiên, Linnaeus đã nhận ra sai lầm của mình và tự ý bác bỏ các phầnliên quan đến quan điểm bất biến.TheGioiEbook.com
  23. 23. Lược sử sinh học 23 Hiện nay, thế giới vẫn chấp nhận rộng rãi và trong những nét cơ bảnphương pháp phân loại của Linnaeus, như trình bày trong bản tái bản lần thứ10 quyển hệ thống tự nhiên ( 1758 ), gồm 1384 trang. Sinh vật được chiathành các nhóm từ lớn đến nhỏ: Giới ( Lớp ( Bộ ( Chi ( Loài. Cácnhóm trung gian được gọi là phụ. Nay ta thêm Ngành giữa Giới và Lớp.Chẳng hạn, trong giới động vật có Ngành động vật không xương sống vàNgành động vật có xương sống. Mỗi Ngành lại bao gồm nhiều Lớp. Chẳnghạn, Ngành động vật có xương sống gồm năm Lớp: cá, ếch nhái, bò sát, chimvà thú. Ngoài ra, người ta còn thêm Họ vào giữa Bộ và Chi. Ví dụ: cây cải bắp,su hào, su lơ, cải xanh... đều thuộc Họ cải. Sau đó hệ thống phân loại của Linnaeus đã được R.H Whitaker cải tiếnthêm một lần nữa vào năm 1969 và gồm 5 giới sinh vật: Sinh vật có nhânnguyên thủy, nguyên sinh vật, thực vật, nấm và động vật. Ðó là hệ thốngphân loại được thừa nhận rộng rãi nhất ngày nay.III TRÊN NHỮNG CHẶNG ÐƯỜNG DẪN TỚI HỌC THUYẾT TIẾN HÓA Trong khóa phân loại của Linnaeus, những nhóm rất lớn dần dần đượcphân chia thành những nhóm ngày một nhỏ hơn, tạo nên hình tượng tươngtự một cây phân thành nhiều cành nhánh, sau này mang tên là cây sống. Khinghiên cứu kỹ sơ đồ ấy, người ta không khỏi có suy nghĩ: Tổ chức này cóphải là điều ngẫunhiên không? Phải chăng trên thực tế hai loài gầnnhau lại có thể bắt nguồn từ một tổ tiên chung, còn hai tổ tiên nnhau lại có thể bắt nguồn từ một tổ tiên còn cổ hơn và nguyên thủyhơn hay không? Nói tóm lại bức tranh do Linnaeus dựng nên qua nhiềuthế kỷ xuất hiện và phát triển có giống cái cây đang mọc hay không? Giả địnhnày đã là cái ngòi để nổ ra cuộc tranh cãi nổi tiếng nhất trong lịch sử sinhhọc. Sau khi nêu quan điểm về khả năng biến dị loài dưới ảnh hưởng củangoại cảnh, nhà tự nhiên học Pháp Lui Lecie Buffon (1707- 1788) đã viết 44tập bách khoa toàn thư: Lịch sử tự nhiên", đề cập đến nhiều lãnh vực phổcập đối với thời bấy giờ, như tác phẩm của Pliny xưa kia, nhưng chính xáchơn nhiều. Trong đó ông đã dẫn ra một số sinh vật có những bộ phận vôdụng (cơ quan tiêu giảm). Ví dụ: Hai ngón chân tiêu giảm của lợn nằm cạnh những móng hoạtđộng bình thường. Phải chăng ngày xưa, những ngón chân đó có kích thướcbình thường? Có khả năng ngày xưa những ngón ấy có tác dụng đối với convật, nhưng theo thời gian con vật không cần thiết đến những ngón thừa ấynữa. Ta không loại trừ khả năng ngay cả một cơ thể nguyên vẹn có thể xảyra cái gì đó tương tự? Có lẽ những con khỉ hình người -- đó là người đã đượcsinh ra trước đây, và con lừa là do con ngựa sinh ra?TheGioiEbook.com
  24. 24. Lược sử sinh học 24 Một năm sau khi Buffon từ trần, cuộc đại tư sản Pháp nổ ra làm rungchuyển Châu Âu, đã mở ra thời đại đạp đổ và cải tạo lại, thời đại đánh giá lạinhững di sản quý, bây giờ người ta thừa nhận những học thuyết khoa học màtrước đây bị kết luận là tà thuyết nguy hiểm. Trong hoàn cảnh ấy người takhông ủng hộ quan điểm của Buffon về sự phát triển tiến hóa tĩnh của giớisinh vật. Nhưng mấy chục năm sau nhà nghiên cứu tự nhiên khác người PhápJean Baptiste de Lamarck đã nghiên cứu tỉ mỉ sự phát triển của thếgiới sinh vật. a.) Sơ lược về tiểu sử của Lamarck (1744 - 1829): Lamarck sinh ra trong gia đình quý tộc nhưng đã bị sa sút. Ngay từnhỏ ông đã say mê thiên nhiên và có ước mơ trở thành một nhà khoa họcchuyên nghiên cứu động vật, thực vật. Ông là người tiến bộ, mang tư tưởngchống lại quan điểm bất biến (nghĩa là không bao giờ biến đổi) củathực vật, động vật. Ông cho rằng các loài thay đổi theo chiều hướng ngàycàng tiến hóa hơn. Và cũng từ đó, cuộc đời ông ba chìm bảy nổi mang nhiềucay đắng cũng chỉ vì những suy nghĩ tiến bộ của mình, mà người đời dạo đókhông chịu hiểu cho. Hiện nay, tại Paris ( thủ đô nước Pháp ) vẫn còn bia mộ của Lamarck.Ðó là kiến trúc bằng đá, tạc cảnh tượng lamarck mù lòa và tiều tụy, đang hấphối trong vòng tay người con gái hiếu thảo ( vốn là thư ký và cộng tác viêncủa ông vào cuối đời, khi ông mù lòa Ông làm việc ở bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris. Ông rất quan tâm đếnviệc phân loại các loài sinh vật. Ông tự hỏi tại sao trong thiên nhiên có nhiềuloài như vậy, có thể nói rằng chúng nhiều không kể xiết. Từ loài côn trùngcho đến loài bò sát, loài chim, loài cá, loài có vú... Hàng nghìn con vật khácnhau trong mỗi loài. Có loài có vú mà không có sừng. Có loài có vú lại sốngđược dưới nước. Có loài chim cánh cụt có loài chim cánh dài cả sải tay...Lamarck xếp bốn loài động vật đầu tiên của Linnaeus (thú, chim, bò sát vàcá) vào nhóm động vật có xương sống, ông gọi hai lớp khác (côn trùng vàgiun) là nhóm động vật không xương sống. Khi công nhận giữa hai lớp côntrùng và lớp giun (ví dụ, ông hiểu rằng không thể xếp nhện 8 chân với côntrùng 6 chân, và mực với sao biển). Lamarck đã có công phân loại các độngvật đó và đưa vào một trật tự tạm thời đạt đến mức phân loại của Aristot. Trong những năm (1815 -- 1827), đã xuất bản 7 tập chủ yếu củaLamarck về Lịch sử tự nhiên của động vật không xương sống, trong đó ôngđã mô tả động vật không xương sống, nhiều lần Lamarck đã ngẫm nghĩ vềxác suất của quá trình tiến hóa. Vào năm 1801, lần đầu tiên ông đã trình bàysự suy nghĩ của ông về tiến hóa của sinh vật và phát triển những suy nghĩ đótrong công trình chính của mình: Triết học của động vật học (1809). Lamarckđã đề xuất giả thiết rằng một cơ quan nào đó luôn luôn được sử dụng thì kíchthước và khả năng hoạt động của nó tăng lên; ngược lại cơ quan vô dụng thìTheGioiEbook.com
  25. 25. Lược sử sinh học 25đi đến thoái hóa; những biến đổi đó do tác nhân bên ngoài gây ra. TheoLamarck sự biến đổi đó có thể di truyền đến đời sau (cái gọi là dấu hiệu tậpnhiễm). Ví dụ: thật dể dàng hình dung ra một loại sơn dương nào đó,cần với tới những lá ở trên cây, con vật phải dùng hết sức vươn dài cổ, đồngthời chân và lưỡi cũng kéo dài thêm. Kết quả là những bộ phận đó của cơ thểtrở nên dài hơn và Lamrcak phỏng đoán, những cái đó đã truyền lại cho đếnđời sau, thế hệ này phát triển và hoàn thiện những đặc điểm kế thừa ấy. Nhưthế là dần dần con sơn dương đã biến thành con hươu cao cổ. Người ta không thừa nhận những học thuyết của Lamarck, vì nó khôngcó những bằng chứng xác đáng về sự di truyền các dấu hiệu tập nhiễm. Thậtvậy những dấu hiệu lúc bấy giờ chưa chứng tỏ rằng các dâu hiệu tập nhiễmkhông di truyền. Thậm chí nếu chúng di truyền được thì chỉ đối với nhữngtình trạng bị sự cố gắng của ý chí. Tác dụng vào giống như kiểu vươn dài củacái cổ con vật. Nhưng khi ấy làm sao giải thích sự xuất hiện màu sắc bảo vệ -các chấm lốm đốm, trên da của con hươu cao cổ? Bằng cách nào mà màu sắcbảo vệ của con sơn dương không còn chấm màu này? Có thể giả thiết là tổtiên của hươu cao cổ đã cố gắng biến thành hươu cao cổ có đốm hay không?IV. NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐỊA CHẤT Jem Hieton ( 1726-1792 ), thầy thuốc người Scotland, rất saymê địa môn chất học, năm 1785 đã xuất bản cuốn sách Lý thuyết về tráiđất, ông đã chứng minh tác dụng của nước, gió và khí hậu làm thay đổi bềmặt của Trái đất chậm chạp như thế nào? Ông thừa nhận quá trình ấy diễnra với tốc độ không đổi( đồng điệu) và đối với những thay đổi khổng lồ nhưquá trình hình thành sông núi cần có thời gian rất lâu dài, vì thế tuổi củahành tinh chúng ta phải tính bằng nhiều triệu năm. Lúc đầu quan niệm của Hieton là quan niệm đối kháng với những ngườicùng thời. Nhưng phải thừa nhận rằng quan niệm ấy đã giải thích được di tíchcủa các sinh vật hóa thạch, mà các nhà sinh học đặc biệt quan tâm. Nếu chấp nhận giả thiết của Hieton là đúng thì những hóa thạch đó đãnằm trong các lớp đất từ lâu lắm rồi, trong thời gian đó các chất khoáng ởchung quanh đã thay thế những chất có trong vật hóa thạch. Nhà đo đạc người Anh-kỹ sư William Smith (1769-1839) đã đưa ranhững quan niệm mới có liên quan đến việc phát hiện các sinh vật hóa thạch.Khi kiểm tra các công trình xây dựng kênh đào ở khắp mọi nơi lúc bấy giờ vàkhi quan sát những công việc có liên quan đến việc đo đạc đất đai. Thậm chíSmith đã biết xác định các lớp đất rất khác nhau đặc biệt chỉ dựa vào nhữngdi tích sinh vật hóa thạch có trong các lớp đất ấy.TheGioiEbook.com
  26. 26. Lược sử sinh học 26 Nhà sinh học Pháp là Georges Lêopon Cuvier (1769-1832) đã đặc biệtchú ý đến hóa thạch. Ông đã nghiên cứu cấu tạo của những động vật khácnhau, so sánh chung một cách tỉ mỉ ghi chép những đặc điểm giốnghoặc khác nhau. Có thể coi Cuvier là người sáng lập giải phẩu học so sánh. Những nghiên cứu đó giúp Cuvier nắm được mối tương quan giữa cácbộ phận khác nhau của cơ thể sinh vật, cho phép ông kết luận dễ dàng cácloại xương khác nhau, về kiểu nối của bắp thịt với xương, thậm chí nhận xétvề tòan bộ cơ thể mà chỉ dựa vào một cái xương nhỏ riêng biệt. Cuvier đã hòan chỉnh hệ thống phân loại của Linnaeus, sau khi đã xếpcác lớp của hệ thống này vào những đơn vị phân loại lớn hơn. Cũng nhưLamack, ông đặt tên cho một số đơn vị phân loại đó là động vật có xươngsống. Nhưng Cuvier không xếp tất cả những động vật còn lại vào 1 nhóm lớn.Trong nhóm động vật không xương sống, ông chia ra 3 nhóm phụ: chân đốt(động vật có bộ xương ngoài và chân chia đốt như côn trùng và thân giáp),thân mềm (động vật có vỏ, không có chân chia đốt như trai ốc) và động vậttoả tia(tất cả động vật không xương sống còn lại). Cuvier gọi những nhóm lớnấy là ngành. Thời bấy giờ người ta đã biết trên 30 ngành thực vật và độngvật. Ngành động vật có xương sống đã mở rộng giới hạn của mình: sau khingười ta đưa vào đó một số động vật nguyên thuỷ không có cột sống, ngànhnày mang tên là ngành động vật có dây sống. Khi nghiên cứu giải phẫu so sánh, Cuvier dựa vào các nguyên tắc phânloại của mình: cũng như Linnaeus, chẳng những ông căn cứ vào những nétgiống nhau bên ngoài, mà ông còn dựa vào những dấu hiệu chứng tỏ mốiquan hệ giữa cấu trúc và chức năng. Cuvier đã áp dụng nguyên tắc phân loạiđó chủ yếu đối với động vật; và vào năm 1810, nhà thực vật học Thụy sĩAugustin Piramut de Candolle( 1778-1841) đã áp dụng nguyên tắc đó đểphân loại thực vật. Cuvier không thể không đưa ra cả những động vật hóa thạch vào hệthống phân loại của mình. Trên cơ sở những bộ phận riêng biệt của con vật,ông có căn cứ để dừng lại 1 sinh vật hoàn chỉnh; ông tìm ra ở các hóa thạchnhững dấu hiệu cho phép xếp chúng vào ngành này hoặc ngành khác 1 cáchchính xác và thậm chí còn cho phép xác định vị trí phân loại của chúng trong1 nhóm phụ thuộc 1 ngành nhất định. Như vậy, Cuvier đã mở rộng khoa họctrở về quá khứ xa xưa sau khi đặt nền tảng cho cổ sinh vật - khoa học vềnhững sinh vật sống trong quá khứ. Nhưng những quan điểm lý luận của Cuvier lại mâu thuẩn gay gắt vớinhững sự kiện người ta thu được. Theo Cuvier, Trái đất có những tai biến lớndiễn ra theo chu kỳ, tất cả những sinh vật bị tiêu diệt trong thời gian tai biến.Sau đó lại xuất hiện những dạng sống mới khác hẳn với những dạng sống đãcó trong lần tai biến trước. Những sinh vật sống hiện nay (trong số đó kể cảcon người) đã được hình thành sau lần tai biến cuối cùng. Theo giả thuyết ấy,người ta không cần phải chấp nhận quá trình tiến hóa của sinh vật để giảithích sự có mặt của các hóa thạch. Nhưng do vì người ta ngày càng phát hiệnTheGioiEbook.com
  27. 27. Lược sử sinh học 27thêm những hóa thạch ngày càng mới hơn, cho nên vấn đề trở nên phức tạpthêm: một người nào đó kế tục Cuvier đã cho rằng có sự tồn tại của 27 lầntai biến xảy ra trên trái đất. Năm 1830 nhà địa chất học - Chales Lawrence bắt đầu xuất bản tácphẩm gồm 3 tập Những cơ sở địa chất học. Cuốn sách Lawrence xuất hiện đãgiáng một đòn chí tử vào thuyết tai biến. Thành lũy khoa học cuối cùng củahọc thuyết phản tiến hóa. Như vậy vào khoảng giữa thế kỷ XIX, người ta đãchuẩn bị và dọn xong mảnh đất để xây dựng một học thuyết khoa học về tiếnhóa.TheGioiEbook.com
  28. 28. Lược sử sinh học 28CHƯƠNG V: HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO I. CHẤT KHÍ VÀ SỰ SỐNG II. CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠIII. MÔ VÀ PHÔII . CHẤT KHÍ VÀ SỰ SỐNG Nhà nghiên cứu tự nhiên học người Pháp là Rơne Anthony Reomuya(1683 - 1758 ) đã tìm ra con đường để giải quyết vấn đề này. Ông cho mộtmiếng thịt vào trong một ống kim loại nhỏ bịt kín hai đầu bằng lưới sắt =>cho chim Kiền kiền nuốt cái ống đó => Ống này giữ cho thịt khỏi bị cọ xát cótính chất lý học, còn lưới sắt không ngăn cản dạ dày chảy vào ống. Thôngthường chim Kiền kiền thảy thức ăn không tiêu ra ngoài, lần nó thải cái ốngsắt và thịt ở trong ống đã bị tiêu hóa một phần. Ví du û2: Ông đặt bọt bể vào trong ống kim loại. Sau khi ống này quadạ dày, ông lấy bọt bể ra và vắt lấy dịch dạ dày. Trộn dịch này vào thịt. Thịtbị tan dần. => Người ta đi đến một kết luận: tiêu hóa là một quá trình hóa học.Như vậy vai trò của của hóa học trong quá trình sống được chứng minh mộtcách triệt để. Năm 1727, nhà thực vật kiêm hóa học Anh Stephen Heles (1677- 1761)một trong những người theo hướng thực nghiệm sinh học đã viết cuốn sáchnêu những thí nghiệm về sự thay đổi nhịp điệu sinh trưởng của thực vật vàáp suất của các chất dịch. Trên thực tế người ta có thể công nhận Heles làngười sáng lập ra sinh lý học thực vật. Khi nghiên cứu thực nghiệm các chấtkhí khác nhau Heles đầu tiên đã xác nhận các chất khí (khí carbonic - CO2 )theo cách nào đó đã tham gia vào quá trình dinh dưỡng của thực vật. Chínhvì vậy, ông đã thay đổi quan niệm: mô thực vật chỉ hình thành từ nước nhưVan Henmon đã xác định. Nhà hoá học Anh là Joseph Priestley ( 1733 - 1804 ) đã hoàn thànhbước tiếp theo vào nữa thế kỷ sau Năm 1774, ông đã phát hiện ra oxy. Ôngnhận thấy oxy dùng để thở, làm tăng hoạt tính động của động vật và thựcvật, có khả năng tăng hàm lượng oxy trong không khí. Nhà nghiên cứu tự nhiên kiêm thầy thuốc Hà Lan là Jan Ingenhousz(1730 - 1799) đã khẳng định rằng thực vật sử dụng khí carbonic và hìnhthành oxy chỉ xảy ra ngoài sáng. Nhà hóa học vĩ đại Pháp tiêu biểu cho thế kỷ đó là Anthony LoranceLavoisier (1743 - 1794) đã nêu ý nghĩa to lớn của những đo đạcTheGioiEbook.com
  29. 29. Lược sử sinh học 29chính xác trong hóa học và ông đã dùng những đo đạc đó làm nền tảngcho lý thuyết về sự cháy - các hợp chất hóa học cháy với oxy có trong khôngkhí. Lavoisier đã thử áp dụng hóa học mới vài sinh học. Ngọn nến cháy phảicần đến oxy và thải khí carbonic - CO2, được tạo thành bằng con đường kếthợp carbon của nến cháy với oxy của không khí, ngọn nến bị tắt dưới cáichụp thủy tinh khi tất cả hoặc gần cả lượng oxy dưới cái chụp ấy bị tiêu thụhết. Cũng như trường hợp đó, con chuột sẽ ngạt thở và chết khi sử dụng hếtkhí oxy và thải khí carbonic ( CO2 được tạo thành do carbonic trong mô chuộtkết hợp với oxy trong không khí). Như vậy thực vật hấp thụ O2 và thải CO2 .Bằng cách đó giữ được sự cân bằng hóa học trong khí quyển là 21% oxy và0,03% khí carbonic. Trên cơ sở những sự kiện ấy, Lavoisier giả thiết hô hấp là một dạngcháy. Ngoài ra trong các thí nghiệm của Lavoisier: ngọn nến và con chuột khisử dụng một lượng oxy nhất định đã thải ra một nhiệt lượng tương ứng. Kỹthuật cân đo trong những thí nghiệm ấy cho phép thu được những kết quảgần đúng, nhưng dù sao chúng cũng chúng cũng khẳng định những quanđiểm khoa học Lavoisier. Ðiều đó đã cũng cố mạnh mẽ quan niệm duy vật về sự sống vì nóchứng minh ở vật sống và vật không sống chỉ xảy ra quá trình hóa học duynhất, lẽ tất nhiên chỉ có một số quy luật điều khiển chúng mà thôi Năm 1807, nhà vật lý học kiêm thầy thuốc Anh là Thomas Yang (1773- 1829) đề nghị gọi hiện tượng mà kết quả của hiện tượng đó sinh ra côngbằng thuật ngữ Năng lượng. Ðến năm thứ 40 của thế kỷ XIX, ít nhất có mộtnhà Bác học Anh là June (1818 - 1889) đã tìm ra định luật bảo toàn vàchuyển hóa năng lượng. Theo định luật này thì: một dạng năng lượng này cóthể chuyển biến thành một dạng năng lượng khác, nhưng lúc đó tổng sốnăng lượng không giảm và cũng không tăng. Sự kiện động vật không thể tồn tại nếu không thường xuyên nhận đượcnăng lượng từ thức ăn tự do, nó đã chỉ rõ rằng các quá trình sống không thểtạo ra được năng lượng từ cái hư vô. Thực vật không sử dụng thức ăn và hítthở như động vật được, nhưng mặt khác chúng không thể tồn tại nếu khôngtiếp nhận năng lượng ánh sáng theo chu kỳ. Maie khẳng định là nguồn gốc của các dạng năng lượng khácnhau trên trái đất là do mặt trời phát ra ánh sáng và nhiệt. Ðó cũng chínhlà nguồn năng lượng cần thiết cho thực vật, cần thiết đối với động vật (tấtnhiên đối với con người). Khả năng áp dụng định luật bảo toàn năng lượng đối với thiên nhiênhữu sinh và thiên nhiên vô sinh chỉ được hoàn toàn xác nhận vào nữa thế kỷXIX.TheGioiEbook.com
  30. 30. Lược sử sinh học 30II . CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠ Năm 1827, thầy thuốc người Anh là William Porount (1785 - 1850) lầnđầu tiên các chất hữu cơ thành ba nhóm. Ngày nay chúng ta gọi các nhómchất đó là gluxit ( chất đường), lipit ( chất mỡ ), protit ( chất đạm). Gluxit (đường, tinh bột, xenluloza... ) cũng như lipit chỉ cấu tạo từ carbon, hydro vàoxy, còn lipit rất nghèo oxy. Ngoài ra, khác với lipit, nhiều gluxit hòa tan đượctrong nước. Protit là chất phức tạp nhất, dễ bị phá hủy nhất và đặc trưngnhất cho sự sống. Ngoài thành phần carbon, hydro và oxy, protit còn chứanitơ và lưu huỳnh. Chất đạm (protit hòa tan trong nước lạnh, bị đóng cục vàthậm chí không hòa tan khi bị đun nhẹ. Lúc đầu, người ta gọi protit là Albumin, và albumin - lòng trắng trứng ,là chất protit được nhiều người biết hơn cả. Năm 1838 nhà hoá học HàlanJera John Munde (1802 - 1880) đã gọi albumin là protein - chất quantrọng số một. Các nhà sinh lực luận đã đặt hy vọng đặt biệt vào chính phântử Protit. Nhưng các thành tựu của hóa học hữu cơ đã tạo điều kiện cho quanđiểm tiến hóa luận phát triển. Người ta khẳng định rằng mọi sinh vật được cấu tạo từ một số loại chấthữu cơ - gluxit, lipit, protit, và mặc dù có sự khác biệt giữa các loài với nhau,song sự sai khác đó chỉ mang đặc tính thứ yếu. Cây dừa và con bò sữa hếtsức khác nhau, nhưng người ta hầu như không phân biệt được mỡ của quảdừa với mỡ của sữa bò. Ði xa hơn nữa các nhà hóa học ở giữa thế kỷ XIX hiểu rõ ràng gluxit,lipit và protit, có cấu trúc rất phức tạp và trong quá trình tiêu hóa thức ăn,các chất đó đã bị phân giải thành các viên gạch tương đối đơn giản. Ở mọiloài sinh vật, những viên gạch đó đều giống nhau, và chỉ khác nhau về cáchkết hợp. Một sinh vật này có thể sử dụng thức ăn khác hẳn thức ăn của cácsinh vật khác (ví dụ: người ăn tôm hùm, còn bò sữa thì ăn cỏ), nhưng cả haitrường hợp, thức ăn đều bị phân chia thành những viên gạch như nhau màcơ thể sinh vật có thể hấp thụ được; sau khi hấp thụ, sinh vật sắp xếp lạinhững viên gạch ấy thành các chất phức tạp riêng cho mình. Nhưng bởi vì sự sống xuất phát từ quan điểm hóa học là thống nhấttrong mọi biểu hiện đa dạng bề ngoài của sinh vật, cho nên những biến đổitiến hóa từ loài này thành loài khác, về thực chất, chỉ động chạm đến chi tiếtchứ không đòi hỏi sự xây dựng lại về cơ bản. Bản thân luận điểm đó đãchứng minh cho học thuyết tiến hóa.III . MÔ VÀ PHÔITheGioiEbook.com
  31. 31. Lược sử sinh học 31 Nhà sinh lý học người Nga, viện sĩ Caspa Fridrikh Volf (1733 - 1794)đã mở đầu trận tấn công quyết định chống lại học thuyết tiến thành luận.Trong luận văn tiến sĩ ( 1759 ) của mình, Volf đã mô tả tỉ mĩ sự phát triểncủa hoa và lá cây. Ông nhận xét rằng chồi mầm, tức là điểm sinh trưởng, donhững cấu trúc chưa phân hóa đồng nhất hợp thành. Nhưng khi sinh trưởngthì các mô ấy phân hóa, một số thành hoa, một số khác thành lá. Tiếp đó ôngđã mở rộng kết luận đó sang cả phạm vi động vật. Ông vạch rõ rằng: nhữngmô chưa phân hóa của phôi trứng gà dần dần sẽ chuyển thành các cơquan nội tạng. Lý luận phát triển do Volf nêu lên được gọi là thuyết biểu sinh (WilliamHarvey đã dùng danh từ này từ năm 1651). Nhà động vật học Pháp là Etien Jofrua Xanh I ler (1772 - 1844) đãbổ sung bằng những bằng chứng cho thuyết biểu sinh. Khi tạo điều kiệnkhông bình thường với sự phát triển của phôi gà, ông đã thu được một congà quái hình. Ðó là những thí nghiệm đặt nền móng cho phôi sinh học thựcnghiệm. Nhờ đó nhà phôi sinh học người Ðức là Wilhelm Roux (1850 - 1924) vànhững cộng sự dựa trên sự nghiên cứu phát triển cá thể của nhiều loài độngvật đã chứng minh rằng tất cả những biến đổi xảy ra trong sự phát triển phôilà do kết quả của những tác động bên trong và bên ngoài. Ngay cả những sinh vật đã phát triển đầy đủ cũng không khác nhau đếnmỀ

×