LỜI NÓI ĐẦU       Hơn một năm trước, trong lúc đang làm thủ tục check-out khỏi khách sạnđể về nước sau một chuyến công tác...
qua để rút ra những điểm mạnh, yếu của dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ tạingân hàng này và phần nào đưa ra những gợi ý...
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẺ THANH TOÁNA.      TỔNG QUAN VỀ THẺ THANH TOÁNI. Khái niệm về thẻ thanh toán:  1. Định n...
Không tính đến những vấn nạn ăn cắp và làm giả thẻ thanh toán trên toàn      cầu hiện nay, có thể nói người sử dụng thẻ th...
 Họ và tên chủ thẻ: In chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên     của người được uỷ quyền sử dụng nếu là thẻ...
sử dụng số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Đây là loại thẻ được sử dụng     rộng rãi nhất hiện nay, không chỉ trong phạm v...
 Thẻ rút tiền mặt: dùng để rút tiền mặt từ tài khoản của chủ thẻ          tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc tại ngâ...
Tóm lại: Mặc dù được phân chia thành nhiều loại khác nhau nhưng các loại   thẻ nói trên đều có một đặc điểm chung nhất là ...
Khả năng mua hàng không bị gò bó là một tiện ích của thẻ thanh toán. Dù   việc mua bán có được dự tính trước hay không thì...
là chấp nhận thanh toán séc với số tiền lớn hơn hạn mức được đảm bảo và  chịu rủi ro nếu ngân hàng phát hành từ chối thanh...
Điểm bất đồng giữa CSCNT và ngân hàng là về khoản phí mà CSCNT phải        trả cho ngân hàng. Dù các máy móc thiết bị than...
dịch vụ toàn cầu là lợi ích lớn nhất cho ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân        hàng tham gia vào quá trình toàn cầu hoá...
Nhờ những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực công nghệ thông tin những năm      gần đây, công dụng của thẻ thanh toán ngày cà...
Bên cạnh việc đem lại lợi ích to lớn cho xã hội, thẻ được sử dụng ngày càngrộng rãi cũng là nhờ những tiện ích thiết thực ...
5. Môi trường pháp lý:         Môi trường được xem là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát     triển của thẻ. Một m...
CSCNT là các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ chấp nhận thanh toánbằng thẻ. CSCNT phải ký hợp đồng chấp nhận thanh toán t...
(1)     Chủ thẻ yêu cầu thanh toán hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt             bằng thẻ.    (2)      CSCNT cung cấp hà...
Dựa trên các cơ sở này, mỗi ngân hàng phát hành sẽ có những quy chếriêng về phát hành thẻ do Ban Lãnh đạo ngân hàng phát h...
 Đối tượng phát hành:       Thông thường, thẻ tín dụng được phát hành cho các đối tượng cá nhân làngười bản xứ hoặc người...
Sau khi xác định các yếu tố, bộ phận quản lý thẻ lập hồ sơ khách hàng đểquản lý. Hồ sơ gồm:       Tên chủ thẻ       Địa ...
Chủ thẻ cũng có thể yêu cầu phát hành lại thẻ vì một lý do nào đó nhưnghi ngờ bị làm giả, lộ số PIN… để đảm bảo an toàn tr...
EDC (Electronic Draft Capture – Máy thanh toán tự động) thì có thể điều chỉnhhay huỷ bỏ toàn bộ giao dịch trước khi truyền...
Các bước trên được thể hiện từ (1) đến (6) trong sơ đồ 01 - Qui trình thanhtoán thẻ.         c. Thanh toán với chủ thẻ.   ...
Trong khi tra soát, nếu lỗi thuộc về CSCNT thì ngân hàng thanh toán sẽđòi tiền từ CSCNT hoặc sẽ chấp nhận trả tiền nếu lỗi...
lại không hay biết gì về việc thẻ đã được gửi cho mình. Trường hợp này, rủi rosẽ do NHPH chịu.1.5 Tài khoản của chủ thẻ bị...
 Rủi ro mà ngân hàng thanh toán phải chịu do không kịp thời cung            cấp danh sách thẻ bị cấm lưu hành cho các CSC...
- Nắm vững: cách phân biệt thẻ thật, giả; cách sử dụng danh sách thẻ cấm lưuhành; thủ tục thanh toán với ngân hàng.- Thực ...
tiền, vay tiền, thanh toán hàng hóa dịch vụ hay chuyển khoản. Thẻ cũng đượcsử dụng cho nhiều dịch vụ phi thanh toán khác n...
Năm 1993, thẻ thanh toán Vietcombank Card được Ngân hàng Nhà nướccho phép triển khai tại NHNT Việt Nam. Được phát hành dựa...
sử dụng thẻ của các NHTMVN thời gian qua có gia tăng (200- 300%/năm)nhưng so với tiềm năng còn hạn chế.      Năm 2002, doa...
thẻ tự động (CAT, EDC), số lượng giao dịch thẻ xử lý tự động đã chiếm gần70%8.      Như vậy, qua hơn 10 năm đưa vào sử dụn...
CHƯƠNG II      THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN         THẺ TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAMI. VÀI NÉT VỀ N...
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
50676902 the-tin-dung-tai-viecombank
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

50676902 the-tin-dung-tai-viecombank

3,508

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
3,508
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
63
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

50676902 the-tin-dung-tai-viecombank

  1. 1. LỜI NÓI ĐẦU Hơn một năm trước, trong lúc đang làm thủ tục check-out khỏi khách sạnđể về nước sau một chuyến công tác nước ngoài, tôi được cô nhân viên tiếp tânlễ phép hỏi mượn ‘credit card’ (thẻ tín dụng) để thanh toán. Ngạc nhiên vềphương thức này, tôi mang theo câu hỏi ngỏ về loại hình thanh toán không dùngtiền mặt về nước. Đồng nghiệp trong cùng cơ quan và những người thuộc thế hệliền trước đều khẳng định với tôi tính ưu việt của loại hình thanh toán thẻ vàkhuyến nghị ‘cậu nên gia nhập vào thế giới thẻ đi’. Họ bày ra trước mắt tôinhững điều hấp dẫn của việc dùng thẻ tín dụng để thanh toán các chi tiêu thôngthường của mình thay cho tiền mặt. Những cái tên như VISA, MASTER,Diners’ Club, American Express, JBC... đã dần khiến tôi quan tâm hơn. Từ nhận thức sơ bộ ban đầu rằng thẻ thanh toán là một trong những thànhtựu của ngành công nghiệp ngân hàng, với tham vọng muốn tìm hiểu rõ hơn vềthẻ thanh toán, đặc biệt là thẻ tín dụng quốc tế, để nhìn nhận được bản chất vàthực trạng của việc sử dụng thẻ tín dụng trong thanh toán thay cho tiền mặt.Đồng thời với mong muốn đi sâu tìm hiểu thực tế ứng dụng và phát triển dịchvụ thẻ tại hệ thống ngân hàng Việt nam, đặc biệt là tại Ngân hàng Ngoại thươngViệt nam; được sự khuyến khích của thầy giáo Phan Anh Tuấn, giảng viên khoaKinh tế Ngoại thương, trường Đại học Ngoại thương, tôi mạnh dạn chọn đề tàicho luận văn này là: ‘ Thực trạng phát hành và thanh toán thẻ tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam từ 2000 đến nay’ Bố cục của luận văn ngoài Lời giới thiệu và Kết luận ra được chia làm bachương lớn: • Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thẻ thanh toán. • Chương 2: Thực trạng hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam. • Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động phát hành và thanh toán thẻ tại ngân hàng Ngoại thương Việt nam. Quá trình viết luận văn này chủ yếu dựa trên phương pháp nghiên cứuduy vật biện chứng lịch sử để nghiên cứu nội dung lý luận về thẻ qua đó làmsáng tỏ bản chất và lợi ích của thẻ tín dụng, thẻ thanh toán. Bên cạnh đó luậnvăn sử dụng phương pháp tổng hợp và thống kê để tìm hiểu thực trạng pháthành và thanh toán thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam trong ba năm vừa 1
  2. 2. qua để rút ra những điểm mạnh, yếu của dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ tạingân hàng này và phần nào đưa ra những gợi ý và kiến nghị cho việc nâng caochất lượng và mở rộng loại hình dịch vụ đa tiện ích này. Để hoàn thành được luận văn này, tôi chân thành cảm ơn sự hướng dẫntận tình và khoa học của thầy giáo Phan Anh Tuấn, của các thầy cô trong khoaKinh tế Ngoại thương – Trường Đại học Ngoại thương – và của các cô, chú, cácbác cán bộ Phòng Thanh toán thẻ Ngân hàng Ngoại thương Việt nam. Chânthành cám ơn sự giúp đỡ của Thư viện Ngân hàng Nhà nước Việt nam, Thưviện Viện kinh tế Thế giới, Thư viện điện tử của Ngân hàng Thế giới và của tậpthể các anh chị cán bộ Vụ Chiến lược phát triển Ngân hàng và Vụ Tín dụng –Ngân hàng Nhà nước Việt nam. CHƯƠNG I 2
  3. 3. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẺ THANH TOÁNA. TỔNG QUAN VỀ THẺ THANH TOÁNI. Khái niệm về thẻ thanh toán: 1. Định nghĩa: Ngày nay, thẻ thanh toán – hay vẫn được hiểu một cách nôm na là tiềnđiện tử - là phương tiện thanh toán hiện đại và tiên tiến trên thế giới. Thẻ thanhtoán ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển và ứng dụng công nghệ tinhọc trong ngân hàng. Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngânhàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoádịch vụ hoặc để rút tiền mặt ở các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàngđại lý trong phạm vi số dư của tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng đượcký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ. Hoá đơn thanh toán thẻ chính làgiấy nhận nợ của chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ. Cơ sở chấp nhận thẻ vàđơn vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua ngân hàng pháthành thẻ và ngân hàng thanh toán thẻ. Như vậy, sẽ có 3 hoặc 4 thành viên tham gia vào một giao dịch thẻ: Chủthẻ (Khách hàng), cơ sở chấp nhận thẻ (nơi cung ứng hàng hoá dịch vụ), ngânhàng phát hành, ngân hàng thanh toán. 2. Đặc điểm và cấu tạo thẻ: 2.1. Đặc điểm của thẻ:  Tính linh hoạt : Thẻ thanh toán có nhiều loại, đa dạng, phong phú về hạn mức tín dụng của thẻ nên thích hợp với hầu hết mọi đối tượng khách hàng, từ những khách hàng có thu nhập thấp (thẻ thường) cho tới những khách hàng có thu nhập cao (thẻ vàng), khách hàng có nhu cầu rút tiền mặt (thẻ rút tiền mặt), cho tới nhu cầu du lịch giải trí…, thẻ cung cấp cho khách hàng độ thoả dụng tối đa, thoả mãn nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng.  Tính tiện lợi: Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ cung cấp cho khách hàng sự tiện lợi mà không một phương tiện thanh toán nào có thể mang lại được. Đặc biệt đối với những người phải đi ra nước ngoài đi công tác hay là đi du lịch, thẻ có thể giúp họ thanh toán ở gần như bất cứ nơi nào mà không cần phải mang theo tiền mặt hay séc du lịch, không phụ thuộc vào khối lượng tiền họ cần thanh toán. Thẻ được coi là phương tiện thanh toán tốt nhất trong số các phương tiện thanh toán phục vụ tiêu dùng trong xã hội hiện đại và văn minh.  Tính an toàn và nhanh chóng: 3
  4. 4. Không tính đến những vấn nạn ăn cắp và làm giả thẻ thanh toán trên toàn cầu hiện nay, có thể nói người sử dụng thẻ thanh toán rất yên tâm về số tiền của mình trước nguy cơ bị mất cắp do móc túi hay trộm cắp. Ngay cả trong trường hợp thẻ bị lấy cắp, ngân hàng cũng bảo vệ tiền cho chủ thẻ bằng số PIN, ảnh và chữ ký trên thẻ… nhằm tránh khả năng rút tiền của kẻ ăn trộm. Hơn thế nữa, hầu hết các giao dịch thẻ đều được thực hiện qua mạng kết nối trực tuyến từ cơ sở chấp nhận thẻ hay điểm rút tiền mặt tới ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành và các Tổ chức thẻ Quốc tế. Do đó việc ghi nợ, ghi có cho các chủ thể tham gia quy trình thanh toán được thực hiện một các tự động, dẫn đến việc quá trình thanh toán diễn ra rất dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng. 2.2. Cấu tạo của thẻ: Các loại thẻ thường có đặc điểm chung là: được làm bằng Plastic, cókích thước theo tiêu chuẩn quốc tế là 5,5 cm  8,5 cm. Thẻ thường dày từ 2-2,5mm. Trên thẻ có in các thông số nhận dạng như: nhãn hiệu thương mại của thẻ,tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày hiệu lực (ngàycuối cùng có hiệu lực)… và một số đặc tính khác tuỳ theo quy định của các Tổchức thẻ quốc tế hoặc Hiệp hội phát hành thẻ…Mặt trước của thẻ:  Biểu tượng: Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng của tổ chức phát hành thẻ. Đây được xem như một đặc tính mang tính an ninh nhằm chống giả mạo. Ví dụ: - VISA: Hình chữ nhật 3 mầu: xanh, trắng, vàng có chữ Visa chạy ngang giữa màu trắng, trên hình chữ nhật 3 mầu là hình chim bồ câu đang bay in chìm. - MASTERCARD: Có hình 2 hình tròn lồng nhau nằm ở góc dưới bên phải (một hình mầu da cam, một hình mầu đỏ) và dòng chữ Mastercard mầu trắng chạy ở giữa; trên hai hình tròn lồng nhau là hai nửa quả cầu lồng nhau in chìm. - JCB: Biểu tượng 3 mầu xanh công nhân, đỏ, xanh lá cây, có chữ JCB chạy ngang giữa. - AMEX: Biểu tượng hình đầu người chiến binh.  Số thẻ: Số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên thẻ và được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tuỳ theo từng loại thẻ mà chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau.  Thời gian có hiệu lực của thẻ: Là thời hạn mà thẻ được phép lưu hành. Tùy theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày đầu tiên đến ngày cuối cùng được sử dụng thẻ. 4
  5. 5.  Họ và tên chủ thẻ: In chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của người được uỷ quyền sử dụng nếu là thẻ công ty. Ngoài ra, có thẻ còn có cả ảnh của chủ thẻ.  Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: Mỗi loại thẻ luôn có ký hiệu an ninh kèm theo in phía sau của ngày hiệu lực. Ví dụ: Thẻ Visa có chữ V ( hoặc CV, PV, RV, GV ), thẻ MasterCard có chữ M và chữ C lồng vào nhau. Thẻ Amex còn in thêm số mật mã cho từng đợt phát hành. Mặt sau của thẻ:  Dải băng từ có khả năng lưu trữ các thông tin như: số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, ngân hàng phát hành...  Dải băng chữ ký: trên dải băng này phải có chữ ký của chủ thẻ để cơ sở chấp nhận thẻ có thể đối chiếu chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ. 3. Phân loại: Đứng trên nhiều giác độ khác nhau để phân loại thì có thể chia thẻ thànhnhiều loại khác nhau. 3.1 Phân loại theo công nghệ sản xuất: Có 3 loại  Thẻ khắc chữ nổi: Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay, người ta không còn sử dụng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật của nó quá thô sơ, dễ bị lợi dụng, làm giả, mà kết hợp với những kỹ thuật mới như băng từ hoặc chip thông minh.  Thẻ băng từ: Là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật những thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã hóa trên băng từ ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm trở lại đây nhưng có thể bị lợi dụng để lấy cắp tiền do có một số nhược điểm như: thông tin ghi trong thẻ hẹp và mang tính cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn, có thể đọc được dễ dàng bằng thiết bị gắn với máy vi tính.  Thẻ thông minh: Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, một “chip” điện tử có cấu trúc hoạt động như một máy tính được gắn vào thẻ khiến cho thẻ có tính an toàn và bảo mật rất cao. Tuy vậy, do là một công nghệ mới và có nhiều ưu điểm nên giá thành cao, hệ thống máy móc chấp nhận loại thẻ này cũng đắt nên sử dụng còn chưa phổ biến như thẻ từ. Việc phát hành và chấp nhận thanh toán loại thẻ này mới chỉ phổ biến ở các nước phát triển dù các tổ chức thẻ quốc tế vẫn đang khuyến khích các ngân hàng thành viên đầu tư để phát hành và chấp nhận loại thẻ này nhằm làm giảm tỷ lệ rủi ro do giả mạo thẻ. 3.2 Theo chủ thể phát hành:  Thẻ do ngân hàng phát hành: Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc 5
  6. 6. sử dụng số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu. Ví dụ như: VISA, MASTERCARD, JCB …  Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: Đó là các loại thẻ du lịch giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn, hoặc cũng có thể là thẻ do các công ty xăng dầu, các cửa hiệu lớn phát hành…Ví dụ: Thẻ Dinners Club, Amex… 3.3 Theo tính chất thanh toán của thẻ:  Thẻ tín dụng: Là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này. Thẻ tín dụng thường do ngân hàng phát hành và thường được quy định một hạn mức tín dụng nhất định trên cơ sở khả năng tài chính, tài sản thế chấp của chủ thẻ. Chủ thẻ chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi hạn mức đã cho. Chủ thẻ phải thanh toán cho Ngân hàng phát hành thẻ theo kỳ hàng tháng. Lãi suất tín dụng tùy thuộc vào quy định của mỗi Ngân hàng phát hành. Tính chất tín dụng của thẻ còn thẻ hiện ở việc chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định. Thẻ tín dụng được coi là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng.  Thẻ ghi nợ: Với loại thẻ này, chủ thẻ có thể chi trả tiền hàng hoá, dịch vụ dựa trên số dư tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai của mình tại ngân hàng phát hành thẻ. Thẻ thanh toán không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ. Số tiền chủ thẻ chi tiêu sẽ được khấu trừ ngay vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ. Chủ thẻ cũng có thể được ngân hàng cấp cho một mức thấu chi, tuỳ theo sự thoả thuận giữa chủ thẻ và ngân hàng . Đó là một khoản tín dụng ngắn hạn mà ngân hàng cấp cho chủ thẻ. Có 2 loại thẻ ghi nợ cơ bản:  Thẻ Online: Những thông tin về giao dịch được kết nối trực tiếp từ thiết bị điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ hoặc điểm rút tiền mặt tới Ngân hàng phát hành. Giá trị những giao dịch được khấu trừ trực tiếp và lập tức vào tài khoản của chủ thẻ.  Thẻ Offline: Thông tin giao dịch được lưu tại máy điện tử của cơ sở chấp nhận thẻ và được chuyển đến Ngân hàng phát hành muộn hơn (không có kết nối trực tiếp vào thời điểm thanh toán). Giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ sau đó vài ngày. Ngoài 2 loại thẻ phổ biến nhất là thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, còn một sốloại thẻ cũng được sử dụng rộng rãi cho một số mục đích nhất định như: 6
  7. 7.  Thẻ rút tiền mặt: dùng để rút tiền mặt từ tài khoản của chủ thẻ tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc tại ngân hàng và sử dụng các dịch vụ khác do máy ATM cung cấp (Ví dụ: kiểm tra số dư, chuyển khoản, chi trả các khoản vay…). Với chức năng chuyên dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra với chủ thẻ là phải ký quỹ tiền vào tài khoản hoặc được ngân hàng cấp tín dụng thấu chi.  Thẻ lưu trữ giá trị: được phát hành bằng cách nộp một số tiền nhất định để mua một thẻ, mỗi lần sử dụng thì số tiền trên thẻ bị trừ dần. Thẻ này thường được sử dụng để mua bán hàng hóa có giá trị tương đối nhỏ như xăng dầu ở các trạm bán xăng tự động, gọi điện thoại, thanh toán phí cầu đường... (thẻ điện thoại ở VN là một ví dụ điển hình). 3.4 Theo phạm vi lãnh thổ Thẻ nội địa: Là thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nước đó. Hoạt động của loại thẻ này rất đơn giản, chỉ do một ngân hàng hoặc một tổ chức điều hành từ việc phát hành, xử lý trung gian cho đến thanh toán. Thẻ có nhược điểm là việc sử dụng chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia vì vậy việc kinh doanh sẽ không có hiệu quả nếu số cơ sở chấp nhận thẻ ít. Thẻ quốc tế: Thẻ sử dụng các loại ngoại tệ mạnh để thanh toán, được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. Thẻ được hỗ trợ quản lý trên toàn thế giới bởi các tổ chức tài chính lớn như MASTERCARD, VISA… hoạt động thống nhất, đồng bộ. Thẻ quốc tế rất được ưa chuộng vì tính an toàn tiện lợi của nó. 3.5. Theo mục đích và đối tượng sử dụng Thẻ kinh doanh: Là loại thẻ phát hành cho nhân viên của một công ty sử dụng, nhằm giúp công ty quản lý chặt chẽ việc chi tiêu của các nhân viên vì mục đích chung của công ty trong kinh doanh. Thẻ du lịch và giải trí: Là loại thẻ được phát hành để phục vụ cho ngành du lịch, giải trí. 3.6. Theo hạn mức của thẻ Thẻ thường: Là một loại thẻ tín dụng nhưng mang tính phổ thông, phổ biến, được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Thẻ vàng: Là loại thẻ ưu hạng phù hợp với mức sống và nhu cầu tài chính của khách hàng có thu nhập cao. Thẻ được phát hành cho các đối tượng có uy tín, có khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Điểm khác biệt của thẻ vàng so với thẻ thường là hạn mức tín dụng lớn. 7
  8. 8. Tóm lại: Mặc dù được phân chia thành nhiều loại khác nhau nhưng các loại thẻ nói trên đều có một đặc điểm chung nhất là dùng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ nên được gọi chung là thẻ thanh toán. Trên thực tế, loại thẻ tín dụng được sử dụng phổ biến và có quy trình phức tạp hơn cả. Đề tài này sẽ đi sâu nghiên cứu và làm rõ các vấn đề về thẻ tín dụng và nghiệp vụ phát hành, thanh toán thẻ tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương Việt nam.II. Vai trò của thẻ thanh toán Mặc dù ra đời sau các phương tiện thanh toán khác, nhưng thẻ thanh toánngày càng khẳng định vai trò của nó trong thanh toán nhờ vào những vai trò vàtính năng ưu việt của nó so với các phương tiện thanh toán khác.1. Đối với người sử dụng thẻ:1.1 Sự linh hoạt và tiện lợi trong thanh toán ở trong và ngoài nước: Tiện ích nổi bật cho người sử dụng thẻ là sự tiện lợi và tính linh hoạt hơn hẳn các phương tiện thanh toán khác. Chủ thẻ có thể thực sự cảm nhận được điều này khi đi du lịch hay công tác ở nước ngoài. Thẻ thanh toán như Visa, MasterCard và trong phạm vi nhỏ hơn là Amex và Diners được chấp nhận trên toàn thế giới. Điều này có nghĩa là, khi dự định ra nước ngoài, thay vì phải chuẩn bị trước một lượng ngoại tệ hay séc du lịch, chủ thẻ có thể mang theo thẻ thanh toán để thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình.1.2 Tiết kiệm thời gian mua, giá trị thanh toán cao hơn: Thẻ thanh toán có nhiều tiện ích hơn tiền mặt hay séc du lịch cả trước, trong và sau chuyến đi. Với séc du lịch, chủ thẻ phải dự định trước xem sẽ tiêu bao nhiêu và phải đến ngân hàng làm thủ tục để mua séc trước chuyến đi, đồng thời thanh toán tiền trước cho ngân hàng cùng với một khoản phí dù trên thực tế họ chưa hề sử dụng séc này. Khi trở về, nếu chưa sử dụng hết số tiền trên séc, hoặc người có séc lại phải mất thời gian và chi phí để đến ngân hàng làm thủ tục đổi lại từ séc thành tiền hoặc sẽ chấp nhận rủi ro về tỷ giá khi giữ séc đó lại cho lần sử dụng sau. Sử dụng thẻ thanh toán đơn giản hơn rất nhiều. Chủ thẻ không cần lên kế hoạch chi tiêu trước, cũng không cần phải trả tiền truớc cho ngân hàng. Sử dụng thẻ, chủ thẻ được phép chi tiêu trước, trả tiền sau. Tài khoản của thẻ chỉ bị ghi nợ khi nào chủ thẻ thực sự chi tiêu và thanh toán bằng thẻ. Thêm nữa, tỷ giá khi bạn thanh toán bằng thẻ cũng thường có lợi hơn so với sử dụng tiền mặt hay séc du lịch. Như vậy, không những giúp người sử dụng thẻ tiết kiệm tiền, thẻ còn giúp họ tiết tiệm thời gian mua hàng cũng như thời gian chờ làm các thủ tục với séc du lịch hay tiền mặt, hạn chế được rủi ro.1.3 Khoản tín dụng tự động, tức thời: 8
  9. 9. Khả năng mua hàng không bị gò bó là một tiện ích của thẻ thanh toán. Dù việc mua bán có được dự tính trước hay không thì thẻ thanh toán cũng là một nguồn tín dụng tự động giúp cho các chủ thẻ khỏi phải đến ngân hàng xin vay. Thường thì người ta có tâm lý ngại đến ngân hàng làm thủ tục xin vay, và họ sẽ đánh giá cao thẻ như là một khoản tín dụng ngắn hạn, thủ tục phát hành đơn giản (thậm chí có thẻ phát hành qua đường bưu điện). Hơn thế nữa, chủ thẻ chỉ phải thanh toán một phần nhỏ (hiện quy định là 20%) khi đến hạn thanh toán (thường là một tháng), số còn lại chủ thẻ có thể trả sau.1.4 Bảo vệ người tiêu dùng: Ở các nước phát triển có luật tín dụng tiêu dùng (chẳng hạn như Luật tín dụng tiêu dùng ở Anh ban hành năm 1974), quy định khách hàng được bảo vệ đối với những món hàng có giá trị từ 100-15.000 bảng Anh thanh toán bằng thẻ tín dụng. Nếu món hàng đó không đủ tiêu chuẩn chất lượng thì chủ thẻ có thẻ yêu cầu được ngân hàng phát hành thẻ bảo vệ, thậm chí có thể được bồi thường. Một số ngân hàng phát hành còn có chế độ bảo hiểm kèm theo: có hàng hoá thay thế hàng bị mất cắp, hư hỏng hay thất lạc, trả tiền bảo hiểm tai nạn hoặc tử vong đối với hàng hoá hay dịch vụ thanh toán bằng thẻ thanh toán. Hơn thế nữa, ngân hàng cũng có chế độ ưu đãi cho chủ thẻ khi sử dụng một số dịch vụ về sức khoẻ (ví dụ như PPP, BUPA ở Anh), câu lạc bộ hoặc có chế độ thưởng điểm sau mỗi lần sử dụng thẻ và số điểm này có thể cộng dồn lại để đổi lấy một số hàng hoá khác.1.5 Rút tiền mặt: Chủ thẻ có thể rút tiền mặt một cách nhanh chóng ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc nào tại ngân hàng hoặc qua các máy rút tiền tự động (ATM) và sử dụng một số dịch vụ khác do máy ATM cung cấp như: trả nợ vay, chuyển khoản, xem số dư tài khoản…1.6 Kiểm soát được chi tiêu: Với sao kê hàng tháng do ngân hàng gửi đến chủ thẻ hoàn toàn có thể kiểm soát được chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính toán được phí và lãi nếu trả cho mỗi khoản giao dịch. Giá cho tất cả những lợi ích mà thẻ mang lại là khoản phí thường niên mà chủ thẻ phải chịu và tỷ lệ lãi nếu khoản chi tiêu không được trả ngân hàng đúng hạn, lãi suất này có thể cao ngang với lãi suất của một khoản vay thấu chi. Tuy nhiên, với tất cả những lợi ích mà thẻ mang lại cho chủ thẻ thì khoản phí này không đáng kể, có thể chấp nhận được.2 Đối với cơ sở chấp nhận thẻ: (CSCNT)2.1 Đảm bảo chi trả: Đối với người bán lẻ, thẻ thanh toán thuận lợi hơn so với séc. Trường hợp khách hàng muốn thanh toán bằng séc cho một món hàng có giá trị lớn hơn mức đảm bảo của tờ séc thì cửa hàng đứng trước sự lựa chọn khó khăn: hoặc 9
  10. 10. là chấp nhận thanh toán séc với số tiền lớn hơn hạn mức được đảm bảo và chịu rủi ro nếu ngân hàng phát hành từ chối thanh toán hoặc sẽ không bán được hàng, doanh số bán sẽ giảm. Với thẻ thanh toán, CSCNT có thể yên tâm là đã được ghi có vào tài khoản ngay khi thông tin được truyền qua hệ thống máy móc điện tử đến ngân hàng thanh toán. Trường hợp phải xin cấp phép thì việc xin cấp phép từ ngân hàng phát hành cũng rất nhanh chóng và đảm bảo qua các máy cấp phép tự động.2.2 Tăng doanh số bán hàng hoá, dịch vụ và thu hút thêm khách hàng Chấp nhận thanh toán thẻ là cung cấp cho khách hàng một phương tiện thanh toán nhanh chóng, tiện lợi do vậy khả năng thu hút khách hàng sẽ tăng lên, doanh số cung ứng hàng hoá dịch vụ của CSCNT cũng tăng lên. Thẻ thanh toán tạo cho CSCNT một khả năng cạnh tranh lớn hơn so với các đối thủ khác. Môi trường văn minh, hiện đại trong giao dịch, mua bán khi thanh toá thẻ là yếu tố quan trong để thu hút khách hàng., đặc biệt là khách du lịch nước ngoài, các nhà đầu tư.2.3 Nhanh chóng thu hồi vốn: Khi dữ liệu về giao dịch thẻ được truyền đến ngân hàng hoặc CSCNT nộp hoá đơn thanh toán thẻ cho ngân hàng thì tài khoản của CSCNT được ghi có ngay. Số tiền này họ có thể sử dụng ngay vào mục đích quay vòng vốn hoặc các mục đích khác. Nhanh chóng luân chuyển vốn là điểm thuận lợi hơn so với séc, séc thường phải mất một thời gian nhất định mới được thanh toán.2.4 An toàn, bảo đảm: Giao dịch thẻ được trả tiền ngay vào tài khoản của CSCNT , nhưng dù chưa được thanh toán ngay thì thanh toán thẻ cũng ít có nguy cơ bị mất cắp hơn là séc hay tiền mặt. Một ngăn kéo đầy séc hay tiền mặt có giá trị lớn sẽ là mục tiêu của những nhân viên thiếu trung thực và kẻ trộm, nhưng cũng với một số tiền như vậy được thể hiện trên hoá đơn thẻ thì sẽ chảng có ai quan tâm đến vì nó chẳng có ý nghĩa với ai khác ngoài CSCNT.2.5 Nhanh chóng giao dịch với khách hàng: Khi giao dịch tiền mặt, việc đếm tiền, ghi chép sổ sách là rất phức tạp. Còn giao dịch thẻ, với các thiết bị chuyển ngân điện tử tại điểm bán hàng EFTPOS (Electronic funds transfer at point of sale) được sử dụng ngày càng nhiều thì đơn giản, người ta chỉ việc đưa băng từ của thẻ qua thiết bị này, mọi thông tin trên thẻ được nhận dạng, giao dịch được thực hiện. Hệ thống EFTPOS giúp đẩy nhanh quá trình xử lý khi bán hàng, giúp CSCNT cung cấp cho nhà phát hành thẻ những thông tin về việc bán hàng mà không phải xử lý thủ công trên giấy tờ.2.6 Giảm chi phí bán hàng Thanh toán thẻ giúp CSCNT giảm đáng kể các chi phí cho việc đếm, bảo quản tiền, quản lý tài chính nhờ vậy cũng giảm được chi phí bán hàng. 10
  11. 11. Điểm bất đồng giữa CSCNT và ngân hàng là về khoản phí mà CSCNT phải trả cho ngân hàng. Dù các máy móc thiết bị thanh toán thẻ được các ngân hàng cung cấp và bảo quản miễn phí, nhưng tuỳ theo quy định của ngân hàng phát hành, CSCNT vẫn phải chịu một khoản phí tính trên giá trị giao dịch: Khoảng 1,6% giá trị giao dịch đối với thẻ phát hành ở Anh, 3-4% đối với thẻ Amex (ở bất cứ nước nào)1. Điều này có hợp lý không khi mà các CSCNT cũng mang lại không ít lợi nhuận cho ngân hàng? (Ở Việt Nam thì tỷ lệ phí này dao động từ 2,5- 3,6%2)3. Đối với ngân hàng Hơn ai hết, ngân hàng chính là người được hưởng lợi từ hoạt động pháthành và thanh toán thẻ. Điều này thể hiện trên các mặt sau:3.1 Lợi nhuận ngân hàng: Lợi ích lớn nhất mà thẻ đem lại cho ngân hàng phát hành và thanh toán thẻ là lợi nhuận. Thu nhập từ thẻ mà ngân hàng có được là: phí CSCNT, phí sử dụng thẻ (phí thường niên) và lãi suất cho khoản tín dụng mà chủ thẻ chậm thanh toán. Đó là chưa kể các khoản thu từ các dịch vụ ngân hàng và đầu tư kèm theo. Một yếu tố nữa có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng từ thẻ đó là lòng trung thành của khách hàng. Một khi khách hàng đã có tài khoản hoặc thẻ tại ngân hàng thì hiếm khi họ lại muốn chuyển sang một tổ chức đối thủ khác. Lợi dụng tâm lý này của khách hàng, ngân hàng có thể tăng lãi suất tương đối cho khoản tín dụng thanh toán thẻ để tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng mà không sợ mất khách hàng đồng loạt. Ngoài ra, kinh doanh thẻ còn tạo ra sự “hỗ trợ chéo” rất có hiệu quả cho ngân hàng. Tỷ lệ lợi nhuận tương đối cao từ kinh doanh thẻ có thể bù đắp cho những hoạt động kém sinh lời hơn của ngân hàng như kinh doanh trên tài khoản vãng lai (thường lãi suất thấp).3.2 Dịch vụ toàn cầu: Là thành viên của một tổ chức thẻ quốc tế như Visa hay MasterCard, một ngân hàng dù là nhỏ nhất trên thế giới cũng có thể cho khách hàng một phương tiện thanh toán quốc tế có chất lượng như bất cứ đối thủ cạnh tranh lớn nào. Ví dụ, mỗi ngày Fleming/Save&Prosper (một ngân hàng ở Anh) phải thanh toán các giao dịch bằng thẻ tín dụng với rất nhiều ngân hàng trên toàn thế giới. Nhờ mối quan hệ với các tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng này chỉ phải thực hiện duy nhất một giao dịch thông qua tổ chức thẻ quốc tế Visa để trả tiền cho tất cả các khoản này, việc phân bổ tới các ngân hàng khác có liên quan sẽ do Visa thực hiện. Sau lợi nhuận, khả năng cung cấp1 Ngu ồn: ‘Thẻ và Thanh toán thẻ trên thế giới’, Tạ p chí Ngân hàng, tr17- 19, 5/20022 Ngu ồn: nh ư trên.. 11
  12. 12. dịch vụ toàn cầu là lợi ích lớn nhất cho ngân hàng, tạo điều kiện cho ngân hàng tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, hội nhập với cộng đồng quốc tế.3.3 Hiệu quả cao trong thanh toán: Bằng việc khuyến khích khách hàng sử dụng thẻ, ngân hàng sẽ thực hiện số giao dịch séc, tiền mặt ít hơn. Điều này mang lại cho ngân hàng nhiều lợi ích: thực hiện số giao dịch ít hơn, những thông tin thường nhật được cung cấp bởi các tổ chức thẻ quốc tế Visa, MasterCard dưới hình thức điện tử làm cho việc ghi nợ tương ứng vào các tài khoản của khách hàng được nhanh hơn, đơn giản hơn… hoạt động của ngân hàng nhờ vậy cũng hiệu quả hơn.3.4 Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ ngân hàng: Thẻ thanh toán ra đời, làm phong phú thêm các dịch vụ ngân hàng, mang đến cho ngân hàng một phương tiện thanh toán đa tiện ích, thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Không chỉ có vậy, ở các nước phát triển, phát triển dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng có thêm cơ hội để phát triển các dịch vụ khác song song như: đầu tư hoặc bảo hiểm cho các sản phẩm. Thông tin về các loại hình dịch vụ này sẽ được gửi đến cho khách hàng sử dụng thẻ cùng với sao kê hàng tháng của ngân hàng. Theo thống kê, tại Fleming/Save & Prosper có tới 30% chủ thẻ đã mua các dịch vụ này3.3.5 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng: Đưa thêm một loại hình thanh toán mới phục vụ khách hàng buộc ngân hàng phải không ngừng hoàn thiện: nâng cao trình độ, trang bị thêm trang thiết bị kỹ thuật công nghệ để cung cấp cho khách hàng những điều kiện tốt nhất trong thanh toán, đảm bảo uy tín, sự an toàn, hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng.3.6 Tăng nguồn vốn cho ngân hàng: Nhờ thẻ thanh toán số lượng tiền gửi của khách hàng để thanh toán thẻ và số lượng tài khoản của các CSCNT cũng tăng lên. Với lượng giao dịch thẻ tương đối lớn, các tài khoản này sẽ tạo cho ngân hàng một lượng vốn bằng tiền đáng kể, cũng có thể coi là một nguồn sinh lợi cho ngân hàng. Là một phương tiện thanh toán hiện đại, thuận tiện, lợi ích về mọi mặt đối với nhiều lĩnh vực và nhiều đối tượng trong nền kinh tế, đặc biệt trong công cuộc toàn cầu hoá. Ngày nay, trên thế giới thanh toán bằng thẻ đã trở thành xu thế tất yếu. Ở các nước phát triển, trên 80% lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ bán lẻ được thực hiện bằng thẻ4. Với phạm vi thanh toán rộng như vậy, vai trò của thẻ chắc chắn sẽ ngày càng được khẳng định và mở rộng.4 Đối với nền kinh tế - xã hội:3 ‘Issueing card – A big slump ?’ – FinancialTimes, 11/2001.4 Như trên. 12
  13. 13. Nhờ những thành tựu rực rỡ trong lĩnh vực công nghệ thông tin những năm gần đây, công dụng của thẻ thanh toán ngày càng được phát triển và mở rộng. Thẻ ngày càng thể hiện vai trò lớn của mình trong sự phát triển kinh tế – xã hội. Điều này được thể hiện trên các mặt sau:4.1 Giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò đầu tiên của thẻ là làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông. Ở những nước phát triển, thanh toán tiêu dùng bằng thẻ chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng số các phương tiện thanh toán. Nhờ vậy mà khối lượng cũng như áp lực tiền mặt trong lưu thông giảm đáng kể.4.2 Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế Hầu hết mọi giao dich thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện và thanh toán trực tuyến (ONLINE) vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so với những giao dịch qua các phương tiện thanh toán khác như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi… Thay vì thực hiện các giao dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ, mọi thông tin đều được xử lý qua hệ thống máy móc điện tử thuận tiện, nhanh chóng.4.3 Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước Trong thanh toán thẻ, các giao dịch đều nằm dưới sự kiểm soát của ngân hàng. Nhờ đó các ngân hàng có thể dễ dàng kiểm soát được mọi giao dịch, tạo nền tảng cho công tác quản lý thuế của nhà nước, thực hiện chính sách ngoại hối quốc gia. Thực tế hiện nay, mọi chế độ, chính sách liên quan đến thẻ đều dựa trên chính sách quản lý ngoại hối của nhà nước.4.4 Thực hiện biện pháp " kích cầu" của nhà nước Sự tiện lợi mà thẻ mang lại cho người sự dụng, cơ sở chấp nhận thẻ, ngân hàng… khiến cho ngày càng có nhiều người ưa chuộng sử dụng thẻ, tăng cường chi tiêu bằng thẻ. Điều này làm cho thẻ trở thành một công cụ hữu hiệu góp phần thực hiện biện pháp “kích cầu” của nhà nước. Khuyến khích phát hành, thanh toán thẻ cũng là khuyến khích tăng cầu tiêu dùng. Điều này cũng tạo nên một kênh cung ứng vốn hiệu quả của các ngân hàng thương mại.4.5 Cải thiện môi trường văn minh thương mại, thu hút khách du lịch và đầu tư nước ngoài Thanh toán bằng thẻ là giảm bớt các giao dịch thủ công, tiếp cận với một phương tiện văn minh của thế giới do đó sẽ tạo ra một môi trường thương mại văn minh, hiện đại hơn. Đây cũng là một yếu tố thu hút khách du lịch, các nhà đầu tư nước ngoài. 13
  14. 14. Bên cạnh việc đem lại lợi ích to lớn cho xã hội, thẻ được sử dụng ngày càngrộng rãi cũng là nhờ những tiện ích thiết thực mà nó đem lại cho những đốitượng liên quan trực tiếp: chủ thẻ, CSCNT, ngân hàng.III. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ thanh toán:1. Thói quen tiêu dùng của người dân Thói quen tiêu dùng của người dân có ảnh hưởng lớn đến sự phát triểncủa thẻ. Thói quen tiêu dùng của người dân sẽ tạo ra một môi trường chothanh toán thẻ. Một thị trường mà người dân vẫn chỉ có thói quen tiêu bằngtiền mặt sẽ không thể là một môi trường tốt để phát triển thị trường thẻ. Chỉkhi việc thanh toán được thực hiện chủ yếu qua hệ thống ngân hàng thì thẻthanh toán mới thực sự phát huy hiệu quả sử dụng của nó.2. Trình độ dân trí Trình độ dân trí thể hiện thông qua nhận thức của người dân về thẻ, mộtphương tiện thanh toán đa tiện ích từ đó có tiếp cận và có thói quen sử dụngthẻ. Trình độ dân trí cao cũng đồng nghĩa với một nền kinh tế phát triển vềmọi mặt, tiếp cận với nền văn minh thế giới, ứng dụng những thành tựukhoa học kỹ thuật phục vụ con ngưòi.3. Thu nhập của người dùng thẻ Thu nhập cao đồng nghĩa với mức sống cao hơn. Khi đó, nhu cầu củacon người không chỉ đơn thuần là mua được hàng hoá mà phải mua bán vớiđộ thoả dụng tối đa. Thẻ thanh toán sẽ đáp ứng nhu cầu này của họ. Khi mứcsống được nâng cao, nhu cầu du lịch, giải trí của con người cũng cao hơn.Thẻ thanh toán là phương tiện hữu hiệu nhất đáp ứng nhu cầu này của họ.Mặt khác, chỉ có một mức thu nhập khá cao và ổn định mới có thể đáp ứngđược những điều kiện của ngân hàng khi phát hành thẻ. Khi thu nhập thấp,dù khách hàng có nhu cầu sử dụng thẻ, ngân hàng cũng khó có thể đáp ứngđược.4. Trình độ kỹ thuật công nghệ của ngân hàng Thanh toán thẻ gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại. Nếu hệ thốngmáy móc này có trục trặc thì sẽ gây ách tắc trong toàn hệ thống. Vì vậy, đãđưa ra dịch vụ thẻ, ngân hàng phải đảm bảo một công nghệ thanh toán hiệnđại theo kịp yêu cầu của thế giới. Hơn nữa, chỉ khi có trình độ kỹ thuật cao thì việc vận hành, bảo dưỡng,duy trì hệ thống máy móc phục vụ phát hành, thanh toán thẻ mới có hiệuquả, giảm giá thành dịch vụ, từ đó thu hút thêm người sử dụng nó. 14
  15. 15. 5. Môi trường pháp lý: Môi trường được xem là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của thẻ. Một môi trường pháp lý hoàn thiện, chặt chẽ, đầy đủ hiệu lực mới có thể đảm bảo cho quyền lợi của tất cả các bên tham gia phát hành, thanh toán, sử dụng thẻ.B. NGHIỆP VỤ PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ I. Các chủ thể tham gia Hoạt động kinh doanh thẻ diễn ra theo một chu trình khép kín, bao gồmnhiều chủ thể tham gia. Có thể khái quát chung lại như sau: Ngân hàng phát hành - NHPH Ngân hàng thanh toán - NHTT Chủ thẻ Cơ sở chấp nhận thẻ, điểm ứng tiền mặt - CSCNT Ngân hàng đại lý - NHĐL Tổ chức thẻ Quốc tế - TCTQT* Một ngân hàng thanh toán có thể đồng thời là ngân hàng phát hành. Khi chủthẻ chi tiêu tại một cơ sở chấp nhận thẻ của một NHTT đồng thời là NHPH, cácchủ thể tham gia quy trình thanh toán chỉ gồm chủ thẻ, CSCNT và NH Ngân hàng phát hành Trong việc phát hành thẻ thanh toán quốc tế thì Ngân hàng phát hành phảilà thành viên chính thức của các Tổ chức thẻ quốc tế. Để việc sử dụng thẻ manglại hiệu quả kinh tế cao, ngân hàng phát hành phải là ngân hàng có uy tín trongnước cũng như quốc tế. Ngân hàng phát hành cũng có thể là ngân hàng thanh toán. Ngân hàng thanh toán Ngân hàng thanh toán là thành viên chính thức hoặc liên kết của tổ chứcthẻ quốc tế, hoặc những ngân hàng được ngân hàng phát hành uỷ quyền làmtrung gian thanh toán giữa chủ thẻ và ngân hàng phát hành. Ngân hàng thanhtoán có trách nhiệm trả tiền cho các CSCNT đã cung cấp hàng hoá, dịch vụ chochủ thẻ, hoặc điểm ứng tiền mặt trước khi chủ thẻ thanh toán lại cho ngân hàngphát hành. Ngân hàng thanh toán cũng cung cấp và có trách nhiệm đối với nhữngmáy móc, thiết bị chuyên dùng và hoá đơn thanh toán cho các CSCNT. Cơ sở chấp nhận thẻ 15
  16. 16. CSCNT là các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ chấp nhận thanh toánbằng thẻ. CSCNT phải ký hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ với ngân hàngthanh toán và phải có tài khoản tại đó. Nếu đủ điều kiện, CSCNT sẽ được cungcấp các máy móc, thiết bị, hoá đơn phục vụ thanh toán thẻ. Một số điều kiện để có thể trở thành CSCNT: Là các tổ chức, công ty, cánhân có kinh doanh hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ hợp pháp, có địa điểm kinhdoanh và hoạt động kinh doanh thuận lợi, cam kết tuân thủ mọi quy định, luật lệcủa Tổ chức thẻ quốc tế và ngân hàng, không nằm trong danh sách các CSCNTcó độ rủi ro cao hoặc “có vấn đề” về năng lực tài chính, khả năng trả nợ, tráchnhiệm thanh toán… Ngân hàng đại lý Là tổ chức trung gian được ủy quyền của Ngân hàng thanh toán để chấpnhận thanh toán thẻ hoặc xây dựng mạng lưới CSCNT. Ngân hàng đại lý đóngvai trò như một CSCNT Chủ thẻ Là người được ngân hàng phát hành cho phép sử dụng thẻ, có hợp đồngký kết đầy đủ. Chủ thẻ là người duy nhất được quyền sử dụng thẻ để thanh toántiền hàng hoá, dịch vụ tại CSCNT hoặc rút tiền mặt tại ngân hàng đại lý hoặcmáy ATM. Tổ chức thẻ Quốc tế Là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng tham gia phát hành và thanhtoán thẻ quốc tế, hiện bao gồm: Tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ Mastercard, côngty thẻ American Express, công ty thẻ JCB. Mối liên hệ giữa các chủ thể của thẻ được thể hiện qua mô hình và chutrình của một giao dịch thanh toán hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt. Bắt đầu từchủ thẻ đến cơ sở chấp nhận thẻ hay ngân hàng đại lý, qua ngân hàng và tổ chứcthẻ Quốc tế cho đến khi chủ thẻ thanh toán cho NHPH về những khoản chi tiêucủa mình. Chu trình này có tính khép kín và thống nhất, các chủ thể có mối liênhệ chặt chẽ với nhau, qua đó hình thành lên một mạng lưới thanh toán thẻ rộng 10khắp trên toàn thế giới và khách hàng có thể được phục vụ bất cứ đâu họ cần. CHcũng được thể hiện bởi quy mô mang tính toànNGÂN HÀNG thanhĐiều này Ủ THẺ cầu của hệ thốngtoán thẻ Visa, MasterCard... 9 PHÁT HÀNH 8 Trình tự thanh toán có thể được trình bày7qua sơ đồ sau SƠ ĐỒ 01: QUY TRÌNH THANH TOÁN THẺ 1 2 TỔ CHỨC THẺ QUỐC TẾ 6 5 CS CNT hoặc NGÂN 16 NH ĐẠ I LÝ 3 HÀNG 4 THANH
  17. 17. (1) Chủ thẻ yêu cầu thanh toán hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt bằng thẻ. (2) CSCNT cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng. (3) Gửi hoá đơn thanh toán thẻ cho ngân hàng thanh toán. (4) Ghi có vào tài khoản của CSCNT hoặc ngân hàng đại lý. (5) Gửi dữ liệu thanh toán tới Tổ chức thẻ quốc tế. (6) Ghi có cho ngân hàng thanh toán. (7) Báo nợ cho ngân hàng phát hành. (8) Thanh toán nợ cho tổ chức thẻ quốc tế (9) Gửi sao kê cho chủ thẻ (10) Thanh toán nợ cho ngân hàng phát hành. Qua sơ đồ trên, ngân hàng thanh toán và ngân hàng phát hành thực hiệnnhững nghiệp vụ khác nhau. Ngân hàng thanh toán xây dựng và quản lý mạnglưới cơ sở chấp nhận thẻ, tổng hợp những dữ liệu giao dịch do cơ sở chấp nhậnthẻ thực hiện để chuyển đòi ngân hàng phát hành thông qua trung gian là Tổchức thẻ Quốc tế. Ngân hàng phát hành quản lý các chủ thẻ và chịu trách nhiệmthanh toán với ngân hàng thanh toán đối với những giao dịch do chủ thẻ củamình thực hiện.II. Nghiệp vụ phát hành thẻ1. Cơ sở pháp lý: Việc phát hành thẻ phải dựa trên cơ sở luật quốc gia nơi thẻ được pháthành, cụ thể là các quy chế về phát hành thẻ do Ngân hàng trung ương hoặc cơquan quản lý tiền tệ của quốc gia đó ban hành. Ngoài ra, việc phát hành thẻthanh toán quốc tế còn phải được sự đồng ý của tổ chức thẻ quốc tế thông quahợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành với các tổ chức thẻ quốc tế, đồngthời tuân thủ các luật lệ và quy định hiện hành của các tổ chức thẻ quốc tế. 17
  18. 18. Dựa trên các cơ sở này, mỗi ngân hàng phát hành sẽ có những quy chếriêng về phát hành thẻ do Ban Lãnh đạo ngân hàng phát hành quy định.2. Nguyên tắc phát hành Thẻ tín dụng được phát hành dựa trên nguyên tắc cho vay ngắn hạn. Cónghĩa là, khi chấp nhận phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng, ngân hàng cungcấp cho họ một khoản tín dụng ngắn hạn với hạn mức nhất định mà chủ thẻđược phép sử dụng trong chu kỳ tín dụng. Hạn mức tín dụng thẻ của khách hàngnằm trong tổng mức cho vay chung đối với khách hàng, tổng mức cho vaychung này không được vượt quá giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng đối vớimột khách hàng theo quy định của pháp luật. Khi phát hành thẻ, một nguyên tắc quan trọng mà khách hàng phải tuânthủ là: khách hàng phải có đảm bảo với ngân hàng bằng thế chấp hoặc tín chấp.Nếu dựa vào tín chấp, ngân hàng sẽ xem xét khả năng trả nợ của khách hàng.Còn thế chấp phải bằng tài sản có giá trị tương đương hoặc cao hơn hạn mứctín dụng mà thẻ được cấp. Tài sản thế chấp của khách hàng thường là tài khoảncá nhân ở ngân hàng hoặc các khoản tiết kiệm có kỳ hạn.3. Quy trình phát hành 3.1 Hoạt động phát hành Khi phát hành thẻ, ngân hàng phát hành phải tiến hành nhiều hoạt độngkhác nhau có liên quan như:  Tổ chức các hoạt động tiếp thị, tuyên truyền cho người sử dụng thẻ.  Thẩm định và xét duyệt đơn xin phát hành thẻ.  Quyết định cấp hạn mức tín dụng cho chủ thẻ.  Thiết kế mẫu và đặt in thẻ trắng theo mẫu quy định.  Phát hành thẻ mới và phát hành lại thẻ hết hạn.  Mã hoá thẻ, cấp mã số cá nhân cho chủ thẻ.  Xử lý, cấp phép thanh toán thẻ theo đúng quy định của tổ chức thẻ quốc tế.  Cung cấp các dịch vụ trợ giúp khách hàng.  Thanh toán các giao dịch sử dụng thẻ của chủ thẻ với các ngân hàng thanh toán thông qua tổ chức thẻ quốc tế.  Xử lý các tra soát, khiếu kiện của khách hàng.  Tổ chức thu nợ và theo dõi việc trả nợ của khách hàng.  Theo dõi và xây dựng hệ thống quản lý rủi ro.Đối tượng phát hành và phạm vi sử dụng thẻ 18
  19. 19.  Đối tượng phát hành: Thông thường, thẻ tín dụng được phát hành cho các đối tượng cá nhân làngười bản xứ hoặc người nước ngoài có đầy đủ tư cách, quyền và nghĩa vụ côngdân (thường là từ 18 tuổi trở lên), sống và làm việc hợp pháp tại quốc gia pháthành thẻ, được các tổ chức nơi cá nhân công tác đứng ra yêu cầu NHTM cho cánhân sử dụng thẻ với trách nhiệm thanh toán của chính tổ chức đó (đối với thẻcông ty); nếu là thẻ cá nhân thì cá nhân đó phải có thu nhập ổn định hoặc phảicó tiền ký quỹ, chứng từ có giá dùng để thế chấp, cầm cố tại ngân hàng theo chếđộ tín dụng thẻ. Cá nhân, tổ chức có yêu cầu sử dụng thẻ phải hoàn tất bộ hồ sơ gồm:Giấy yêu cầu sử dụng thẻ cho cá nhân hoặc công ty, hợp đồng sử dụng thẻ, bảnsao chứng minh thư hoặc hộ chiếu, xác nhận của cơ quan về thu nhập và thờigian công tác, các giấy tờ về thế chấp và bảo lãnh khác.  Phạm vi sử dụng: Chủ thẻ có thể sử dụng thẻ cho các mục đích sau:  Thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các CSCNT trong và ngoài nước.  Rút tiền mặt tại các quầy, phòng giao dịch, các điểm ứng tiền mặt của ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán, ngân hàng đại lý thanh toán , máy rút tiền tự động ATM…  Ngoài ra, chủ thẻ còn có thể thực hiện một số dich vụ khác như: Kiểm tra hạn mức tín dụng còn lại của thẻ và các thông tin khác có liên quan đến tài khoản, thanh toán chuyển khoản…Các bước phát hành thẻ: Quy trình phát hành thẻ gồm các bước như sau: Bước 1: Khách hàng nộp hồ sơ yêu cầu phát hành thẻ. Bước 2: Ngân hàng phát hành kiểm tra hồ sơ theo quy định. Trong một khoảng thời gian nhất định (thường không quá 5 ngày làm việc)kể từ ngày nhận được bộ hồ sơ đầy đủ, ngân hàng phát hành có trách nhiệmthẩm định bộ hồ sơ và ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối phát hành thẻ. Đối với những hồ sơ được chấp thuận, ngân hàng phát hành xác dịnh cácyếu tố sau: + Hạng thẻ phát hành: thẻ vàng hay thẻ chuẩn + Hạn mức tín dụng + Thời hạn thẻ + Phân loại chủ thẻ để xác định hạn mức tiêu dùng của mỗi chủ thẻ. Bước 3: Cấp thẻ cho khách hàng 19
  20. 20. Sau khi xác định các yếu tố, bộ phận quản lý thẻ lập hồ sơ khách hàng đểquản lý. Hồ sơ gồm:  Tên chủ thẻ  Địa chỉ nơi ở và làm việc  Số CMND, số hộ chiếu  Số thẻ, loại thẻ  Ngày hiệu lực  Số tài khoản chỉ định để thanh toán sao kê, người thanh toán sao kê  Tài sản thế chấp (nếu có) Sau đó, ngân hàng tiến hành mã hoá thẻ và in thẻ, xác định mã số cá nhân(PIN) của chủ thẻ và gửi cho chủ thẻ. Chủ thẻ nhận thẻ và ký vào hợp đồng sử dụng thẻ và băng chữ ký ở mặtsau của thẻ.Nghĩa vụ và quyền hạn của các bên Khi hợp đồng cung cấp thẻ tín dụng giữa ngân hàng và chủ thẻ - trong đóquy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên - được ký kết thì một thẻ tíndụng được phát hành và sử dụng. Việc phát hành và sử dụng thẻ thoả mãn nhucầu, lợi ích của cả chủ thẻ và ngân hàng phát hành. Vì vậy, mỗi bên đều phảithực hiện tốt nghĩa vụ và trách nhiệm của mình.  Ngân hàng phát hành: Khi giao thẻ, ngân hàng phải hướng dẫn rõ ràng về cách sử dụng thẻ tốtnhất, các thông số, các thông tin cần thiết về thẻ. Ngân hàng phải lập và quản lý hồ sơ của khách hàng. Đến ngày sao kêhàng tháng, ngân hàng đối chiếu giữa số liệu các giao dịch phát sinh trong kỳvới các tài khoản thẻ của chủ thẻ. Sau đó, ngân hàng sẽ gửi sao kê chi tiết chochủ thẻ, yêu cầu chủ thẻ thanh toán nợ. Trong trường hợp ngân hàng phát hành phát hiện tài khoản của chủ thẻ bịlợi dụng hay số thẻ của khách hàng có liên quan đến the giả mạo, ngân hàng sẽyêu cầu khách hàng trả lại thẻ và lập hồ sơ phát hành thẻ khác cho khách hàng.Ngân hàng cũng có thể yêu cầu khách hàng ngừng sử dụng thẻ khi phát hiệnhiện ra sự vi phạm của chủ thẻ về chế độ tín dụng thẻ, gian lận trong sử dụngthẻ có thể gây tổn thất cho tài sản vốn của ngân hàng.  Chủ thẻ: Trong quá trình sử dụng thẻ, thẻ có thẻ bị mất cắp hay thất lạc. Khi đó,chủ thẻ phải kịp thời thông báo ngay cho ngân hàng phát hành thẻ bằng văn bảnđể kịp thời khoá thẻ và đưa lên danh sách thẻ cấm lưu hành (Danh sáchBulletin). 20
  21. 21. Chủ thẻ cũng có thể yêu cầu phát hành lại thẻ vì một lý do nào đó nhưnghi ngờ bị làm giả, lộ số PIN… để đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụngthẻ. Thời hạn hiệu lực của thẻ chỉ trong một số năm nhất định tuỳ từng loạithẻ, quy định của ngân hàng phát hành và yêu cầu của chủ thẻ. Khi hết hạnthanh toán thẻ, trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận được thông báo của ngânhàng, chủ thẻ có trách nhiệm trả lời cho ngân hàng có tiếp tục sử dụng thẻ haykhông, nếu không, ngân hàng sẽ mặc nhiên coi là không sử dụng nữa. Chủ thẻ có trách nhiệm thanh toán số dư nợ cuối kỳ vào ngày đáo hạn, ítnhất cũng phải thanh toán số tiền tối thiểu theo quy định, thường là 20% số dưnợ (bao gồm dư kỳ trước và tổng số phát sinh trong kỳ). Chủ thẻ cũng cần tuân thủ tuyệt đối các quy đinh, hướng dẫn và khuyếncáo của ngân hàng để việc sử dụng thẻ đạt hiệu quả cao nhất, an toàn, bí mật,tránh rủi ro.III. Nghiệp vụ thanh toán thẻ: a. Cơ sở pháp lý: Cũng giống như phát hành thẻ, việc thanh toán thẻ cũng phải dựa trênpháp luật, quy chế về thẻ của nước sở tại, của ngân hàng phát hành và tổ chứcthẻ quốc tế. b. Quy trình cơ bản khi thực hiện thanh toán thẻ tín dụng: Quy trình này có thể được cụ thể hóa thành các bước sau:  Bước 1: Chủ thẻ dùng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt. Khi nhận được thẻ từ khách hàng, ngân hàng đại lý hoặc CSCNT phảikiểm tra tính hợp lệ của thẻ: Logo, biểu tượng của thẻ tín dụng quốc tế, băngchữ ký, ký hiệu đặc biệt, thời hạn hiệu lực, các yếu tố in nổi trên thẻ… Sau khi kiểm tra tính hợp lệ của thẻ, CSCNT hoặc điểm ứng tiền mặt phảihoàn thành hoá đơn, đề ngày giao dịch, số tiền giao dịch, số cấp phép (nếu có),tên và số hiệu CSCNT, loại hàng hoá, dịch vụ cung ứng. Tiếp đó, CSCNT sẽ phải yêu cầu khách hàng ký vào hoá đơn (chữ ký trênhoá đơn phải khớp đúng với chữ ký ở băng sau của thẻ). Hoá đơn thanh toán thẻ gồm 3 liên: 1 liên giao cho khách hàng giữ, 2 liêncòn lại CSCNT giữ lại. Trong trường hợp CSCNT và chủ thẻ thoả thuận huỷ bỏ một phần haytoàn bộ giao dịch đã thực hiện, CSCNT không được hoàn lại cho chủ thẻ bằngtiền mặt mà phải thực hiện giao dịch hoàn trả. Đối với CSCNT có trang bị máy 21
  22. 22. EDC (Electronic Draft Capture – Máy thanh toán tự động) thì có thể điều chỉnhhay huỷ bỏ toàn bộ giao dịch trước khi truyền dữ liệu. CSCNT phải liên hệ ngay với ngân hàng để xin cấp phép khi: - Số tiền giao dịch bằng hoặc lớn hơn hạn mức thanh toán. - Có nghi ngờ thẻ giả hay chủ thẻ có vấn đề. Chỉ sau khi được ngân hàng phát hành hoặc Tổ chức thẻ Quốc tế chuẩn chigiao dịch bằng cách cung cấp số cấp phép thì CSCNT mới được thực hiện giaodịch.  Bước 2: CSCNT giao dịch với ngân hàng. Ở đây có sự phân biệt giữa CSCNT có sử dụng máy EDC (ElectronicDraft Capture ) và CSCNT không sử dụng máy này.  Đối với CSCNT có trang bị EDC: Việc đọc các dữ liệu trên thẻ và in ra hoá đơn thanh toán thẻ sẽ do máy thực hiện kể cả việc xin cấp phép. Dữ liệu về giao dịch sẽ được lưu giữ trên bộ nhớ của máy. Hàng ngày, CSCNT truyền dữ liệu thanh toán về ngân hàng thanh toán. Còn hoá đơn thanh toán EDC sẽ được tập hợp và chuyển cho ngân hàng thanh toán mỗi tuần.  Đối với CSCNT không trang bị máy EDC: Việc đối chiếu danh sách thẻ cấm lưu hành, xin cấp phép đều do CSCNT thực hiện sau đó sẽ dùng máy cà tay để in ra hoá đơn thanh toán. Hàng ngày, CSCNT sẽ tổng hợp toàn bộ hoá đơn phát sinh, lập bảng kê hoá đơn, giữ lại một liên lưu còn một liên gửi đến ngân hàng thanh toán cùng bảng kê sau không quá 05 ngày kể từ ngày giao dịch.  Bước 3: Ngân hàng thanh toán cho CSCNT. Căn cứ vào dữ liệu EDC hoặc hoá đơn thẻ nhận được, ngân hàng thanhtoán tiến hành tạm ứng tiền cho CSCNT trên cơ sở tổng giá trị giao dịch sau khiđã trừ đi một khoản phí mà CSCNT phải thanh toán theo tỷ lệ đã quy định trênhợp đồng đại lý ký giữa ngân hàng và CSCNT.  Bước 4: Thanh toán với tổ chức thẻ Quốc tế và các thành viên khác. Cuối mỗi ngày, ngân hàng tổng hợp toàn bộ các giao dịch phát sinh từ thẻdo ngân hàng khác phát hành và truyền dữ liệu cho Tổ chức thẻ quốc tế và nhậndữ liệu thanh toán từ Tổ chức thẻ Quốc tế truyền về. Dữ liệu này bao gồm tất cảnhững khoản mà Ngân hàng thanh toán được trả, những khoản phí phải trả choTổ chức Thẻ Quốc tế, những giao dịch bị tra soát... Ngân hàng tiến hành thanh toán và cập nhật dữ liệu thanh toán vào hệthống quản lý thẻ. Ngoài ra, các ngân hàng phải thanh toán các chi phí theo luậtđịnh của các Tổ chức thẻ quốc tế phát sinh trong quá trình hoạt động. 22
  23. 23. Các bước trên được thể hiện từ (1) đến (6) trong sơ đồ 01 - Qui trình thanhtoán thẻ. c. Thanh toán với chủ thẻ. Ngân hàng phát hành cập nhật thông tin về các giao dịch chi tiêu của chủthẻ phát sinh hàng ngày. Những thông tin này có thể được gửi từ Tổ chức ThẻQuốc tế trong trường hợp Ngân hàng phát hành không phải là ngân hàng thanhtoán, hoặc trực tiếp từ CSCNT hay ngân hàng đại lý (khi NHPH đồng thời làNHTT). Thông tin này bao gồm: Số thẻ, số tiền giao dịch, ngày giao dịch, sốcấp phép (nếu có), ký hiệu ngoại tệ, tên CSCNT... Đến ngày sao kê hàng tháng, ngân hàng phát hành tiến hành đối chiếu sốliệu các giao dịch phát sinh trong kỳ với các tài khoản thẻ của chủ thẻ. Sau đó,ngân hàng gửi sao kê chi tiết cho chủ thẻ, yêu cầu thanh toán nợ. Sao kê chi tiếtgồm:  Số dư nợ kỳ trước.  Các giao dịch mới phát sinh.  Phí ứng tiền mặt.  Lãi phải trả tính trên trị giá phát sinh kỳ trước.  Số tiền chủ thẻ nợ trong kỳ.  Số tiền thanh toán tối thiểu (hiện là 20% số dư nợ)  Các khoản phí (phí thường niên, phí chậm trả, phí sử dụng quá hạn mức, phí tra soát…)  Số dư nợ còn lại.  Ngày đến hạn.  Các thông tin khác…Các bước thanh toán của NHPH với chủ thẻ được thể hiện trong sơ đồ 01- quytrình thanh toán thẻ, từ (7) đến (10) d. Tra soát và bồi hoàn Bước này chỉ phát sinh trong quá trình thanh toán khi mà nhà phát hànhhoặc chủ thẻ không chấp nhận thanh toán giao dịch và thực hiện khiếu nại hoặcđòi bồi hoàn. Việc nhà phát hành thực hiện khiếu kiện giao dịch theo yêu cầucủa chủ thẻ (giao dịch chưa được cung ứng, số tiền giao dịch không đúng…)hoặc vì một lý do nào đó (CSCNT không xin cấp phép, thẻ nằm trong danh sáchthẻ cấm lưu hành, thẻ hết hạn…) thì gọi là quá trình tra soát và đòi bồi hoàn. Khi đó, ngân hàng phát hành yêu cầu tổ chức thẻ quốc tế ghi nợ cho ngânhàng thanh toán và gửi các thông tin liên quan cho ngân hàng thanh toán. Ngânhàng thanh toán dựa vào các thông tin này để tiến hành tra soát đối với CSCNT. 23
  24. 24. Trong khi tra soát, nếu lỗi thuộc về CSCNT thì ngân hàng thanh toán sẽđòi tiền từ CSCNT hoặc sẽ chấp nhận trả tiền nếu lỗi do ngân hàng thanh toán,hoặc sẽ tái xuất trình lại giao dịch cho NHPH khi có chứng cớ chứng minh giaodịch đòi bòi hoàn của NHPH là không có căn cứ. Nhận được tái xuất trình từ ngân hàng thanh toán, NHPH có thể chấpnhận hoặc tiếp tục đòi bồi hoàn lần hai. Nếu vẫn tiếp tục không giải quyết đượcthì có thể đưa ra trọng tài để xử lý.IV. Rủi ro trong kinh doanh thẻ Trong kinh doanh, dù ở bất cứ lĩnh vực nào cũng có thể gặp phải rủi ro.Kinh doanh thẻ cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vấn đề quan trọng là cácngân hàng phải nghiên cứu, phân tích, từ đó hạn chế tối đa rủi ro có thể gặpphải.1. Các loại rủi ro thường gặp:1.1 Đơn xin phát hành thẻ với thông tin giả mạo: Do không thẩm định kỹ hồ sơ, ngân hàng phát hành thẻ cho khách hàngmà không biết rằng thông tin trên dơn xin phát hành là giả mạo. Trường hợpnày sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng cho NHPH khi đến hạn thanh toán chủ thẻ khônghoặc không có khả năng thanh toán.1.2 Thẻ giả Thẻ do các tổ chức tội phạm làm giả căn cứ vào các thông tin có được từcác giao dịch thẻ hoặc thông tin của thẻ bị mất cắp. Thẻ giả được sử dụng tạo racác giao dịch giả mạo, gây tổn thất cho các ngân hàng mà chủ yếu là NHPH vìtheo quy định của Tổ chức thẻ quốc tế, NHPH chịu hoàn toàn trách nhiệm vớimọi giao dịch thẻ giả mạo có mã số của NHPH. Đây là loại rủi ro nguy hiểm vàkhó quản lý vì có liên quan đến nhiều nguồn thông tin và nằm ngoài khả năngkiểm soát của NHPH.1.3 Thẻ mất cắp, thất lạc Chủ thẻ bị mất cắp, thất lạc thẻ và bị người khác sử dụng trước khi chủthẻ kịp thông báo cho NHPH để có các biện pháp hạn chế sử dụng hoặc thu hồithẻ. Thẻ này có thể bị các tổ chức tội phạm lợi dụng để in nổi và mã hoá lại thẻđể thực hiện các giao dịch giả mạo. Rủi ro này có thể dẫn đến tổn thất cho cả chủ thẻ và NHPH, thườngchiếm tỷ lệ lớn nhất.1.4 Chủ thẻ không nhận được thẻ do NHPH gửi NHPH gửi thẻ cho chủ thẻ bằng đường bưu điện nhưng thẻ bị thất lạchoặc bị đánh cắp trên đường gửi. Thẻ bị sử dụng trong khi chủ thẻ chính thức 24
  25. 25. lại không hay biết gì về việc thẻ đã được gửi cho mình. Trường hợp này, rủi rosẽ do NHPH chịu.1.5 Tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng Đến kỳ phát hành lại thẻ, NHPH nhận được thông báo thay đổi địa chỉcủa chủ thẻ. Do không kiểm tra tính xác thực của thông báo đó, thẻ được gửi vềđịa chỉ mới không phải là địa chỉ của chủ thẻ đích thực, dẫn đến tài khoản củachủ thẻ bị lợi dụng. Việc này sẽ chỉ được phát hiện khi chủ thẻ hỏi NHPH vềthẻ mới của mình hoặc khi nhận được sao kê thanh toán nợ cho những khoảnmà mình không hề chi tiêu. Rủi ro này chủ thẻ và NHPH cùng phải chịu.1.6 Thẻ bị giả mạo để thanh toán qua thư, điện thoại CSCNT cung cấp dịch vụ, hàng hoá theo yêu cầu của chủ thẻ qua thưhoặc điện thoại dựa vào các thông tin về chủ thẻ: loại thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực,tên chủ thẻ… mà không biết rằng khách hàng đó có thể không phải là chủ thẻchính thức. Khi giao dịch đó bị NHPH từ chối thanh toán thì CSCNT phải chịurủi ro.1.7 Nhân viên CSCNT giả mạo hoá đơn thanh toán thẻ Khi thực hiện giao dịch, nhân viên CSCNT cố tình in ra nhiều bộ hoá đơnthanh toán cho một giao dịch nhưng chỉ đưa cho chủ thẻ ký vào một bộ hoáđơn. Các hoá đơn còn lại sẽ bị giả mạo chữ ký của chủ thẻ để thu đòi tiền từngân hàng thanh toán.1.8 Tạo băng từ giả Rủi ro xẩy ra là do các tổ chức tội phạm dùng các thiết bị chuyên dụngthu thập thông tin thẻ trên băng từ của thẻ thật. Sau đó, chúng sử dụng các thiếtbị riêng để mã hoá và in tạo các băng từ trên thẻ giả và thực hiện các giao dịchgiả mạo. Loại giả mạo dựa vào kỹ thuật cao này rất đang phát triển tại các nướctiến tiến gây ra thiệt hại cho chủ thẻ, NHPH, NHTT.1.9 Rủi ro khác  Rủi ro do khách hàng thiếu trung thực: Khách hàng gian dối, họ cố tình sử dụng thẻ ở các điểm tiếp nhận thẻ khác nhau với mức thanh toán thấp hơn hạn mức thanh toán nhưng tổng hạn mức lại cao hơn hạn mức thanh toán cho phép. Điều này chỉ được phát hiện khi ngân hàng thanh toán kiểm tra các hoá đơn do CSCNT gửi đến và ngân hàng có thể chịu rủi ro khi chủ thẻ mất khả năng thanh toán. Chủ thẻ cũng có thể lợi dụng tính chất thanh toán toàn cầu của thẻ đểthông đồng với người khác, giao thẻ cho người đó sử dụng ở các nước khácnhau bằng chữ ký giả mạo của chủ thẻ và từ chối thanh toán khi bị ngân hàngphát hành đòi tiền. 25
  26. 26.  Rủi ro mà ngân hàng thanh toán phải chịu do không kịp thời cung cấp danh sách thẻ bị cấm lưu hành cho các CSCNT khi các giao dịch đã được CSCNT thực hiện.2. Quản lý rủi ro trong thanh toán thẻ Để phòng ngừa và hạn chế rủi ro mỗi ngân hàng phát hành và thanh toánthẻ phải thực hiện đầy đủ và đúng như quy trình, chế độ phát hành và thanhtoán thẻ. Các quy định này được các ngân hàng ban hành dựa trên quy tắc tiêuchuẩn của các Tổ chức thẻ quốc tế, quy định của mỗi quốc gia và tình hình thựctế ở từng ngân hàng. Ngoài ra, khi đã là thành viên chính thức của một tổ chứcthẻ quốc tế, các ngân hàng có điều kiện tham gia vào hệ thống xử lý, trao đổithông tin và quản lý rủi ro trên phạm vi toàn cầu thông qua một hệ thống mạngtrực tuyến hoạt động có hiệu quả. Đó là chưa kể đến các chương trình tập huấn,dịch vụ hỗ trợ, đào tạo nghiệp vụ mà Tổ chức thẻ quốc tế thực hiện đối với cácthành viên của mình. Nhưng vấn đề cốt yếu vẫn là ở quan điểm, nhận thức củatừng ngân hàng trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro.  Về phía ngân hàng:- Tuân thủ các quy đinh và tham gia chương trình quản lý rủi ro của các Tổchức thẻ quốc tế.- Sử dụng các biện pháp kỹ thuật và nghiệp vụ phù hợp để phòng ngừa rủi rocho tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình phát hành, sử dụng và thanh toánthẻ.- Tuân thủ các quy định về cho vay phát hành thẻ: thế chấp, bảo lãnh, cầm cố.- Thực hiện việc thẩm định khách hàng và CSCNT chính xác.- Thành lập trung tâm cấp phép cho chủ thẻ và CSCNT.- Phối hợp giữa các ngân hàng trong trao đổi, xử lý thông tin về thẻ.- Phối hợp với các cơ quan pháp luật trong nước và quốc tế trong phòng chốngtội phạm giả mạo thẻ.  Về phía khách hàng chủ thẻ:- Tuân thủ các quy định trong hợp đồng sử dụng thẻ.- Nắm vững cách sử dụng thẻ, lưu hoá đơn, thanh toán sao kê, thủ tục khiếu nại,tranh chấp.- Thực hiện tốt việc bảo mật thẻ, liên hệ ngay với NHPH khi có mất mát, thấtlạc thẻ hay thay đổi về địa chỉ liên lạc.  Về phía khách hàng CSCNT:- Tuân thủ các quy định về chấp nhận, thanh toán thẻ của ngân hàng. 26
  27. 27. - Nắm vững: cách phân biệt thẻ thật, giả; cách sử dụng danh sách thẻ cấm lưuhành; thủ tục thanh toán với ngân hàng.- Thực hiên quy định về tra soát, khiếu nại, tranh chấp.- Quản lý, giáo dục đội ngũ nhân viên.C. SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN THẺ THANH TOÁN TẠI VIỆTNAM Bối cảnh kinh tế, xã hội Theo nhận định của Ngân hàng nhà nước Việt nam, dịch vụ ngân hàngbán lẻ ở Việt Nam hiện vẫn chưa phát triển. Ngoài dịch vụ nhận tiền gửi tiếtkiệm dưới hình thức thủ công, hầu hết các dịch vụ khác từ rút tiền, thanh toánđến quản lý tài khoản, ủy thác đầu tư... đều chưa phát triển hoặc chưa hìnhthành. Trong khi đó, dịch vụ ngân hàng bán lẻ lại có ý nghĩa rất lớn đối với ViệtNam trên nhiều phương diện. Xét trên giác độ kinh tế xã hội, dịch vụ ngân hàng bán lẻ sẽ là công cụquan trọng để thu hút vốn nhàn rỗi trong dân cư. Điều này có ý nghĩa rất lớntrong điều kiện hiện nay của nước ta, khi mà lượng tiền mặt nhàn rỗi trong dâncư còn quá lớn và nền kinh tế lại đang cần vốn để đầu tư phát triển. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ nếu phát triển sẽ là nhân tố góp phần giảm chiphí giao dịch xã hội thông qua việc tiết kiệm chi phí và tiết kiệm thời gian chocả ngân hàng và người sư dụng. Ngoài ra, thông qua việc mở rộng thêm nhiềudịch vụ với nhiều tiện ích mới, dịch vụ ngân hàng bán lẻ sẽ thêm nhiều công ănviệc làm, giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp. Đó là chưa kể đến việc dịch vụ ngân hàngbán lẻ với những tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt sẽ cải thiện được môitrường tiêu dùng, xây dựng một nền văn minh thanh toán, từ đó góp phần tạo cơsở để Việt Nam hòa nhập với cộng đồng phát triển quốc tế. Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, các ngân hàng triển khaidịch vụ ngân hàng bán lẻ sẽ có điều kiện hạn chế phần nào rủi ro do các nhân tốbên ngoài vì dịch vụ ngân hàng bán lẻ là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳkinh tế so với các lĩnh vực khác. Với những lý do trên, việc phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ ở ViệtNam đã trở thành vấn đề tất yếu. Nhưng đối với các ngân hàng thương mại, bắtđầu dịch vụ ngân hàng bán lẻ từ đâu, sử dụng công cụ thanh toán và phát triểnnhững tiện ích gì là điều hết sức quan trọng, cần phải được xem xét để triểnkhai thực hiện. Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam, thờigian qua, có thể khẳng định thẻ là một công cụ thanh toán quan trọng trong pháttriển dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Thẻ có thể được sử dụng vào việc rút tiền, gửi 27
  28. 28. tiền, vay tiền, thanh toán hàng hóa dịch vụ hay chuyển khoản. Thẻ cũng đượcsử dụng cho nhiều dịch vụ phi thanh toán khác như xem số dư tài khoản, cácthông tin về khách hàng, ngân hàng… và hiện nay, các nhà khoa học đangnghiên cứu, triển khai ứng dụng thẻ thanh toán ra ngoài lĩnh vực tiền tệ và thanhtoán như sử dụng thẻ thay giấy tờ tùy thân... Cùng với yêu cầu của phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, sự phát triểncủa thẻ còn là đòi hỏi tất yếu của xu hướng đa dạng hóa dịch vụ trong chiếnlược kinh doanh của các NHTM ở Việt Nam. Tình hình phát triển tín dụngtrong thời gian gần đây gặp rất nhiều trở ngại ảnh hưởng đến doanh thu, lợinhuận và sự tăng trưởng của các ngân hàng. Để khắc phục khó khăn này, cácngân hàng thương mại có xu hướng phát triển hoạt động kinh doanh dựa trên cơsở đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ với việc cung cấp cho khách hàng nhiềuchủng loại dịch vụ nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu, mong muốn của khách hàngtrong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng với mục tiêu giữ vững khách hàngtruyền thống đồng thời phát triển khách hàng mới. Một trong những dịch vụ màcác NHTM Việt Nam đã và đang dần hoàn thiện là hoạt động phát hành và kinhdoanh thẻ - loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại. Mở rộng dịch vụ ngân hàng trong khu vực dân cư là một chủ trương lớncủa Ngân hàng Nhà nước nhằm cải thiện tình hình thanh toán trong khu vựcnày, tạo thói quen sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt,từng bước đổi mới tập quán sùng bái tiền mặt, phát triển thanh toán qua ngânhàng, góp phần thực thi tốt chính sách tiền tệ. Mặt khác, về phía ngân hàng, chủtrương này cũng tạo ra một hình thức huy động vốn mới, tập trung lượng vốntiềm tàng trong khu vực dân cư để đầu tư và phát triển. Hơn nữa, với sự pháttriển của của công nghệ thông tin và sự hội nhập kinh tế Việt nam vào nền kinhtế khu vực và thế giới, trong thời gian gần đây càng thúc đẩy chúng ta phát triểnphương thức kinh doanh thẻ, một hoạt động thanh toán hiện đại, văn minh vànhiều triển vọng với khả năng phổ cập rộng rãi trong cộng đồng dân cư. Sự ra đời và phát triển thị trường thẻ ở Việt Nam Việc chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theocơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa đã thúc đẩy mạnh mẽ các loại hình dịch vụ mới trong hoạt động ngânhàng, đáp ứng yêu cầu về tài chính ngân hàng cho mọi thành phần xã hội. Kinhnghiệm cho thấy, kinh tế xã hội càng phát triển, tỷ lệ thanh toán dùng tiền mặtsẽ giảm và tỷ lệ sử dụng các công cụ thanh toán phi tiền mặt, trong đó có thẻthanh toán ngày càng tăng lên. ở Việt Nam, ngay từ những năm đầu đổi mớihoạt động ngân hàng và thực hiện 2 pháp lệnh ngân hàng, các ngân hàng trongnước đã tiếp cận với các nghiệp vụ về thẻ thanh toán. Năm 1990, Ngân hàngNgoại thương Việt nam là ngân hàng đầu tiên của nước ta triển khai nghiệp vụthanh toán thẻ. Tuy vậy vào thời điểm đó, NHNT Việt Nam chưa phải là thànhviên chính thức của một Tổ chức thẻ Quốc tế mà mới chỉ làm đại lý thanh toánthẻ cho các đối tác nước ngoài. 28
  29. 29. Năm 1993, thẻ thanh toán Vietcombank Card được Ngân hàng Nhà nướccho phép triển khai tại NHNT Việt Nam. Được phát hành dựa trên công nghệ"Chip" (thẻ thông minh), nhưng loại thẻ này vẫn không phát triển do mức đầutư quá lớn cả về thẻ trắng và chi phí triển khai hệ thống máy đọc thẻ tại cácCSCNT. Hơn nữa máy đọc thẻ do một hãng của Pháp (Bull) sản xuất khôngtheo tiêu chuẩn quốc tế nên chỉ có thể phát triển ở thị trường nội địa với tínhchất riêng lẻ. Trong khi đó, thị trường thẻ lúc này ở Việt Nam còn quá mới mẻ,một mình NHNT không đủ sức đầu tư để phát triển cả một mạng lưới rộng lớnbao gồm phát hành và thanh toán thẻ. Đến năm 1995, theo sự chỉ đạo của NHNN, NHNT Việt Nam triển khaidự án thẻ rút tiền tự động ATM. Dự án này cũng không phát triển được do côngnghệ và hạ tầng cơ sở ngân hàng hiện tại chưa phát triển theo kịp, mặc dù tiềmnăng thị trường tương đối lớn. Cũng vào thời kỳ này, các Tổ chức thẻ Quốc tế bắt đầu chú ý đến thịtrường Việt Nam đầy tiềm năng với hơn 70 triệu dân. Từ 1990- 1996, mức tăng trưởng doanh số thanh toán thẻ ở Việt Nam rấtlớn, trung bình khoảng 200%/ năm. Đến 1995, sau khi Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấmvận thì nhiều ngân hàng trong nước và nước ngoài có chi nhánh tại Việt nam đãbắt đầu quan tâm đến loại hình dịch vụ mới mẻ này. Thị trường thanh toán thẻ ởViệt Nam sôi động hẳn lên, NHNT không còn giữ vai trò độc tôn nữa mà cóthêm gần chục ngân hàng thương mại cũng tham gia vào hoạt động kinh doanhthẻ. Tháng 4/1995 có 4 ngân hàng thương mại Việt Nam được kết nạp làthành viên chính thức của Tổ chức thẻ Quốc tế MasterCard là: NHNT Việt Nam(Vietcombank), NHTMCP Á Châu (ACB), NHTMCP Xuất nhập khẩu(EXIMBANK) và ngân hàng FirstVina Bank. Năm 1996 có 2 ngân hàng trở thành thành viên chính thức của Tổ chứcthẻ Quốc tế Visa là Vietcombank và ACB. Tiếp đó 2 ngân hàng này với tư cáchlà thành viên chính thức của cả MasterCard và Visa đã bắt đầu triển khai nghiệpvụ phát hành thẻ tín dụng quốc tế và thực hiện thanh toán trực tiếp (On-line) vớicác Tổ chức thẻ Quốc tế này. Từ đó ngày càng có nhiều ngân hàng tham gia vàothị trường này. Ngoài các NHTM Việt Nam còn có các chi nhánh NH nướcngoài như UOB, Hong Kong Bank, ANZ Bank... Vì là một thị trường có sứchấp dẫn cao nên sự cạnh tranh giữa các ngân hàng diễn ra rất sôi động. Trong những năm qua, doanh số thanh toán thẻ tại Việt Nam đã đạt gần240 triệu USD/năm. Doanh số sử dụng thẻ tín dụng quốc tế do các NHTM ViệtNam phát hành khoảng 230 tỷ VND/năm5. Con số này còn rất khiêm tốn so vớicác nước trong khu vực và cũng chỉ chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổngdoanh số thanh toán không dùng tiền mặt. Số lượng thẻ phát hành và đối tượng5 Ngu ồn: Phòng qu ản lý thẻ NHNTVN, 6/2002 29
  30. 30. sử dụng thẻ của các NHTMVN thời gian qua có gia tăng (200- 300%/năm)nhưng so với tiềm năng còn hạn chế. Năm 2002, doanh số sử dụng thẻ do các NHTM Việt Nam phát hành xấpxỉ 230 tỷ VND nhưng các giao dịch chi tiêu chủ yếu là ở nước ngoài, còn doanhsố sử dụng trong nước chỉ chiếm khoảng 30% trên tổng doanh số6. Tuy vậy đâycũng là một tỷ lệ tương đối khả quan so với những năm đầu với con số chỉ vỏnvẹn 10%. Việc sử dụng thẻ để thanh toán hàng hóa dịch vụ chiếm tỷ trọng lớntừ 80- 90% còn rút tiền mặt chỉ chiếm trên 10%. Tính đến 3/2003, số lượng thẻ do 2 NHTM Việt Nam (NHNT Việt namvà NHTM Cổ phần ACB) phát hành khoảng gần 16,500 cái, cả Visa vàMasterCard7. Còn về số lượng CSCNT, thời gian đầu ở nước ta chỉ có khoảng30 đơn vị cung ứng hàng hóa dịch vụ chấp nhận thanh toán thẻ gồm một sốkhách sạn nhà hàng lớn chuyên phục vụ khách nước ngoài. Với sự cố gắng củacác NHTM, đến nay mạng lưới chấp nhận thanh toán thẻ đã lên tới khoảng5000 điểm nhưng vẫn chủ yếu là loại hình khách sạn, nhà hàng và các cửa hàngcó khả năng tiếp cận với đối tượng là khách du lịch, doanh nhân nước ngoài vàoViệt Nam. Gần đây, mạng lưới CSCNT được NHTM mở rộng cả về số lượng và cácloại hình chấp nhận thẻ. Ngoài các loại hình cơ sở chấp nhận và thanh toán thẻtruyền thống như khách sạn, nhà hàng… các đại lý bán vé máy bay, công ty dulịch, các cửa hàng bán lẻ, siêu thị… cũng tham gia vào mạng lưới chấp nhậnthẻ. Tuy vậy, mạng lưới chấp nhận thẻ tại Việt Nam hiện nay chưa đa dạng vàphát triển để phục vụ cho chủ thẻ là người Việt Nam do đó cũng có ảnh hưởngđến việc mở rộng sử dụng thanh toán thẻ tại Việt Nam. Thời kỳ đầu hoạt độngthẻ, để chiếm thị phần, các ngân hàng nước ngoài với lợi thế về chi phí tiếp thịquảng cáo lớn, công nghệ phát triển, đầu tư lớn hiểu biết nhiều về nghiệp vụthẻ…đã thi nhau hạ phí thanh toán thẻ thu từ CSCNT. Điều này làm giảm đángkể lợi nhuận của các NH thậm chí có thể gây thua lỗ nếu không có sự ra đời củaHiệp hội các NH thanh toán thẻ Việt Nam vào tháng 8/1996 với 6 thành viên:VCB, ACB, Eximbank, FirstVina Bank, NH Sài Gòn công thương và ANZ. Saukhi ra đời, hiệp hội đã ấn định mức phí tối thiểu cho các NHTM cùng áp dụngđối với các CSCNT tại Việt Nam, làm cho thị trường thẻ Việt Nam đi vào cuộccạnh tranh lành mạnh. Đây là một hành động được các tổ chức thẻ quốc tế đánhgiá cao. Điểm nổi bật trong thanh toán thẻ những năm gần đây là việc đầu tư côngnghệ, thực hiện tự động hoá quy trình chấp nhận và thanh toán thẻ của cácTHTM nhẳm giảm thiểu rủi ro và giảm bớt thời gian thực hiện giao dịch. Trước1996, các CSCNT hầu hết sử dụng máy thanh toán thẻ thủ công (máy cà tay-imprinter) thì hiện nay đã có hơn 55% số CSCNT được trang bị máy thanh toán6 Như trên.7Ngu ồ n: Phòng Phân tích và tổng hợ p – NHNTVN, 6/2002 30
  31. 31. thẻ tự động (CAT, EDC), số lượng giao dịch thẻ xử lý tự động đã chiếm gần70%8. Như vậy, qua hơn 10 năm đưa vào sử dụng thẻ tại Việt Nam, hoạt độngkinh doanh thẻ tại các NHTM Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khíchlệ. Thị trường thẻ Việt Nam là một thị trường đầy triển vọng, chắc chắn cónhững bước tiến lớn trong quá trình hội nhập vào cộng đồng thanh toán quốc tế.TÓM LẠI Ở các nước phát triển và tiên tiến trên thế giới, hầu như mọi công dân ởđộ tuổi lao động ăn lương đều có và sử dụng thẻ tín dụng. Vì vậy, hầu hết mọigiao dịch hàng ngày đều thực hiện bằng thẻ. Ví dụ như đặt mua báo, chi trả tiềnđiện nước, mua vé,… Do nhu cầu cao về thẻ tín dụng nên hầu hết các ngân hàng thương mại ởcác nước này đều phát hành thẻ. Hạn mức tín dụng cấp cho khách hàng căn cứhoàn toàn vào mức thu nhập của họ và ngân hàng có thể dễ dàng quản lý nguồnthu nhập của chủ thẻ do lương được thanh toán qua hệ thống ngân hàng, ngânhàng lại có một hệ thống thông tin đầy đủ về chủ thẻ, với sự bảo vệ của một môitrường pháp luật hoàn thiện. Ngày nay, hệ thống thẻ tín dụng trải rộng khắp nơi trên thế giới. Việcthanh toán bằng thẻ tín dụng có thể được thực hiện tại bất cứ nước nào trên thếgiới là nhờ vào mạng toàn cầu của các Tổ chức thẻ quốc tế như Visa,MasterCard hay chi nhánh của các công ty thẻ JCB, AMEX… Thẻ tín dụng đặcbiệt tiện dụng khi đi công tác du lịch nước ngoài và là một hình thức thanh toánkhông thể thiếu được khi mạng Internet và hình thức thương mại điện tử pháttriển. Tuy nhiên, nạn ăn cắp tiền từ thẻ tín dụng ngày càng tinh vi và phổ biếnhơn cũng đang là một vấn đề đau đầu của các nhà kinh doanh thẻ. Chỉ riêngnăm 1999, Mastercard thống kê có trên 200 tỷ USD giao dịch bất hợp lệ quathẻ tín dụng. Do đó, cùng với quá trình phát triển thẻ tín dụng, vấn đề an toàncho sử dụng thẻ tín dụng cũng là vấn đề được quan tâm trên toàn thế giới. Là một thành viên của Tổ chức thẻ Thế giới, Việt nam cũng rất tích cựcphát huy những mặt mạnh của loại hình thanh toán này và góp phần ngăn chặnnhững mặt tiêu cực của việc phát hành và thanh toán thẻ trên thế giới. Ngânhàng Ngoại thương Việt nam là ngân hàng đi tiên phong trong lĩnh vực này vàđã gặt hái được những thành công nhất định.8 Như trên. 31
  32. 32. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH VÀ THANH TOÁN THẺ TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAMI. VÀI NÉT VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Thành lập ngày 01/04/1963 mà tiền thân là Cục ngoại hối Ngân hàngnhà nước Việt nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt nam (NHNT-Vietcombank) là một ngân hàng thương mại quốc doanh đầu tiên của hệthống ngân hàng Việt nam. Trong những năm 1963-1990, Vietcombank làNHTM kinh doanh các nghiệp vụ đối ngoại. Nhưng ngày nay, NHNT làmcả nghiệp vụ đối nội và đối ngoại, cung cấp các dịch vụ ngân hàng chokhách hàng theo Luật các tổ chức tín dụng và các luật khác của Việt Namcũng như thông lệ quốc tế quy định về thanh toán, bảo lãnh, tín dụngthương mại và tín dụng quốc tế. Khi mới thành lập, Vietcombank chỉ có một cơ sở tại Hà Nội. Hiệnnay, Vietcombank đã phát triển thành một hệ thống hoàn chỉnh gồm Ngânhàng Ngoại thương trung ương và 25 chi nhánh tại các thành phố trong cảnước, 3 văn phòng đại diện ở nước ngoài và 1 công ty tài chính với tổng sốhơn 3.000 cán bộ công nhân viên. Vietcombank đầu tư vốn cổ phần vào 14doanh nghiệp: 3 liên doanh với nước ngoài, 6 ngân hàng cổ phần, 2 côngty bảo hiểm, 3 công ty kinh doanh bất động sản. Vietcombank có quan hệđại lý với hơn 1.300 ngân hàng thuộc 85 nước trên thế giới9. Trong suốt thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, Vietcombank là ngânhàng duy nhất được nhà nước giao cho nhiệm vụ phục vụ thanh toán xuấtnhập khẩu, tiếp nhận viện trợ, vay nợ nước ngoài. Vào cuối thập kỉ 80 vànhững năm đầu thập kỉ 90, khi Viက؁

×