Your SlideShare is downloading. ×
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×
Saving this for later? Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime – even offline.
Text the download link to your phone
Standard text messaging rates apply

Khóa luận Du lịch Quảng Ngãi

3,285

Published on

Published in: Education
0 Comments
3 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
3,285
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
0
Likes
3
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Du lịch từ lâu đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến trên toàn thế giới, nó được xem như là một nhu cầu không thể thiếu của con người và được coi là một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cuộc sống. Nhận thức được xu thế trên, trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra đường lối: “Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” [2]. Ngành du lịch Quảng Ngãi cùng với ngành du lịch của các tỉnh khác đã vẽ lên một bức tranh khá sinh động và tươi sáng với nhiều cố gắng và thành quả góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển du lịch quốc tế chung của quốc gia. Đến với Quảng Ngãi, chúng ta sẽ cảm nhận được cái nắng gió của vùng đất của miền Trung với những bờ biển uốn lượn dài tuyệt đẹp và một chiều dài lịch sử lâu đời với các di tích lịch sử khá nổi tiếng. Hình ảnh ấy đã thu hút không ít du khách phải một lần đặt chân đến mảnh đất này. Vì thế mà lượng khách du lịch quốc tế đến đây ngày một gia tăng. Năm 2010, tỉnh đã đón 26.325 lượt khách quốc tế, đóng góp gần 8% tổng số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Tuy nhiên, doanh thu của ngành du lịch tỉnh chỉ đạt 215 tỷ VND so với 25.305,1 tỷ VND của cả nước, con số trên chưa thực sự tương xứng với số lượng khách du lịch [26], [19]. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng trên chính là khả năng thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi còn chưa thật sự mạnh, kèm theo đó là khả năng cung cấp dịch vụ còn nhiều hạn chế. Một mặt là do tình trạng cơ sở hạ tầng còn yếu kém, thái độ nhân viên không chuyên nghiệp, tình trạng tranh giành khách vẫn còn tiếp diễn,… Mặt khác, việc đầu tư của địa phương vào việc phát triển dịch vụ du lịch nhằm tăng lượng khách đến Quảng Ngãi cũng chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Hiện nay, việc tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đã trở thành một thách thức chung cho cả ngành du lịch Việt Nam trong đó có Quảng Ngãi. Bên cạnh đó, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng Cục trưởng Tổng cục Du 1
  • 2. lịch Trần Chiến Thắng cũng đã phát biểu: “Về lâu dài, giải pháp then chốt để thu hút khách du lịch vẫn là nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch” [12]. Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển dịch vụ du lịch đối với ngành du lịch Việt Nam nói chung và Quảng Ngãi nói riêng, người viết đã mạnh dạn chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là: “Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020”. 2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Thông qua việc hệ thống hóa các điều kiện đảm bảo phát triển dịch vụ du lịch quốc tế, phân tích thực trạng và khả năng phát triển du lịch quốc tế của tỉnh Quảng Ngãi, khóa luận hướng đến việc đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, khóa luận đề ra 3 mục tiêu - Thứ nhất, xây dựng luận cứ khoa học, thực tiễn và hệ thống hóa các điều kiện để thu hút khách du lịch quốc tế của Quảng Ngãi - Thứ hai, phân tích tổng quan tình hình du lịch quốc tế và thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2001 - 2010. Từ đó, đánh giá chung về những kết quả đạt được, những mặt hạn chế và nguyên nhân. - Thứ ba, phân tích xu hướng, mục tiêu phấn đấu, định hướng triển khai của du lịch quốc tế của tỉnh Quảng Ngãi; đồng thời đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu + Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi. + Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu khả năng thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi đặt trong quan hệ đối sánh với các trọng điểm du lịch miền Trung như Nha Trang, Đà Nẵng, Huế. Ngoài ra, còn tìm hiểu mở rộng kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới. 2
  • 3. - Về thời gian: • Phân tích thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2010. • Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi trong giai đoạn từ 2011 đến 2020. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong đề tài, người viết sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, phân tích và so sánh các số liệu thứ cấp thu thập được. Từ đó đưa ra các kết quả nghiên cứu và các giải pháp thích hợp. Các thông tin được trích dẫn từ nhiều nguồn khác nhau như các phương tiện thông tin đại chúng, sách, báo, Internet, các tạp chí chuyên ngành và tài liệu từ các Sở, Ban, Ngành liên quan. 5. Kết cấu nội dung đề tài Nhất quán với mục tiêu nghiên cứu, ngoài mở đầu, mục lục, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được kết cấu thành 3 chương có trọng tâm, trọng điểm. Khóa luận được chia thành 3 chương: - Chương 1: Tổng quan về du lịch quốc tế và sự cần thiệt phải tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 – 2020. - Chương 2: Tình hình thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2001 - 2010. - Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020. Để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, người viết xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy Cô giáo của Trường Đại học Ngoại thương Cơ sở II tại thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức bổ ích làm nền tảng cho khóa luận. Người viết cũng xin cảm ơn Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi, Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi đã giúp đỡ trong việc cung cấp tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu. Đặc biệt, xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thạc sĩ Trần Thị Phương Thủy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt thời gian qua. 3
  • 4. Do những hạn chế nhất định về thời gian cũng như kiến thức, nên dù đã cố gắng hết sức, khóa luận không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót. Vì vậy, người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy Cô và những độc giả quan tâm đến đề tài này để những giải pháp mà người viết nêu ra mang tính khả thi và hoàn thiện hơn. Sinh viên thực hiện Đặng Cao Cường 4
  • 5. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN QUẢNG NGÃI GIAI ĐOẠN 2011-2020 I. Tổng quan về du lịch quốc tế 1. Các khái niệm cơ bản 1.1. Du lịch Du lịch từ lâu đã trở thành một đề tài hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, thật khó để tìm được một khái niệm thống nhất về du lịch, bởi khi tiếp cận những cách thức và góc độ khác nhau, ta lại có những khái niệm khác nhau về du lịch [5]: - Tiếp cận trên góc độ người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời ở ngoài nơi lưu trú thường xuyên của cá thể, nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị [5]. Nó vừa là cơ hội để du khách tìm kiếm những kinh nghiệm sống mới vừa là một khoảng thời gian nghỉ ngơi, thư giãn sau những ngày tháng làm việc căng thẳng. - Tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhằm thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu của người đi du lịch [5]. Du lịch được xem như là một cơ hội kinh doanh để tạo ra lợi nhuận. - Tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, cơ sở hạ tầng để phục vụ du khách, thông qua đó tăng các nguồn thu nhập từ các khoản thuế, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho người dân địa phương [5]. - Tiếp cận trên góc độ của cộng đồng dân sở tại: Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội, vừa đem lại cơ hội tìm hiểu văn hóa vừa giúp giải quyết vấn đề việc làm tại địa phương [5]. Người viết xin đơn cử hai khái niệm tiêu biểu để có thể có một cái nhìn tổng quát nhất về du lịch 5
  • 6. Thứ nhất, theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), một tổ chức quốc tế trực thuộc Liên Hợp Quốc, chịu trách nhiệm về những vấn đề liên quan đến du lịch của toàn thế giới, “Du lịch là đi đến một một nơi khác xa nơi thường trú, để giải trí, nghỉ dưỡng trong thời gian rỗi. Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá, và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi giải trí thư giãn, cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng ngoại trừ những mục đích kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường khác hẳn nơi định cư” [5]. Thứ hai, theo Luật Du lịch Việt Nam ban hành năm 2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [24]. 1.2. Du lịch quốc tế Theo nhận định của tác giả Trần Văn Thông trong cuốn tổng quan du lịch về Du lịch quốc tế: Du lịch quốc tế có thể hiểu là sự dịch chuyển và lưu trú tạm thời của con người trong thời gian nhàn rỗi ở một quốc gia khác bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, chữa bệnh, qua đó phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao nhận thức và phát triển thể chất. Việc tiêu thụ các giá trị tự nhiên, kinh tế và văn hóa thông qua nghiên cứu, hoặc những người hoạt động trong lĩnh vực du lịch có một cái nhìn khái quát nhất về du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng. Từ những nghiên cứu trên, theo người viết, du lịch quốc tế là việc đến một quốc gia khác nơi thường trú của mình trong thời gian nhàn rỗi, nhằm mục đích giải trí, nghĩ ngơi, nâng cao nhận thức và phát triển thể chất; qua đó thông qua tinh thần hữu nghị quốc tế. Du lịch quốc tế bao gồm tất cả các hoạt động của khách DLQT thông qua việc tiêu thụ các sản phẩm du lịch 1.3. Khách du lịch quốc tế Có khá nhiều khái niệm về khách du lịch quốc tế: 6
  • 7. - Khái niệm của Liên hiệp các quốc gia (League of Nations): Năm 1937, Liên hiệp các quốc gia đưa ra khái niệm về “khách du lịch nước ngoài ”: “khách du lịch nước ngoài là bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ” [6]. - Khái niệm về khách du lịch được chấp thuận tại Hội nghị tại Rôma (Ý) do Liên hiệp quốc tổ chức về các vấn đề du lịch quốc tế và đi lại quốc tế năm 1963: “Khách du lịch quốc tế” là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24 giờ” [6]. - Khái niệm của Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan năm 1989: “Khách du lịch quốc tế” là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó khách trở về nơi ở thường xuyên của mình” [6]. - Tại khoản 3, điều 34, Chương V, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, “khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch” [24]. Khách du lịch quốc tế sẽ không bao gồm những người sau: • Những người qua lại biên giới thường xuyên, bao gồm cả những người khách đi cùng với họ; • Những người sống gần biên giới nhưng làm việc ở nước bên kia biên giới; • Những quan chức ngoại giao, lãnh sự và thành viên các lực lượng vũ trang được phân công đến một nước khác, bao gồm cả tùy tùng và những người đi cùng; • Những người tị nạn hoặc sống du mục; • Những người quá cảnh không chính thức nhập cư vào một nước, chẳng hạn những hành khách máy bay chỉ ở trong phòng chờ chuyển tiếp trong một thời gian ngắn, hoặc những hành khách tàu thủy không được phép lên bờ, bao gồm cả những người được chuyển tải trực tiếp từ sân bay đến các địa điểm khác. [33] 7
  • 8. 2. Đặc điểm du lịch quốc tế Du lịch quốc tế mang những đặc điểm chung của du lịch, cộng thêm với yếu tố quốc tế. Các đặc điểm của du lịch quốc tế như sau: Thứ nhất, du lịch quốc tế có tính nhạy cảm, gồm nhiều bộ phận cấu thành nên trong quá trình cung cấp dịch vụ đối với du khách, nhà cung ứng cần bố trí chính xác về thời gian, có kế hoạch chu đáo chi tiết về nội dung các hoạt động, cần phải kết hợp một cách hữu cơ, chặt chẽ giữa các khâu. Thứ hai, du lịch quốc tế mang tính đa ngành cao. Tính đa ngành được thể hiện qua đối tượng khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch như sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo. Du lịch quốc tế sẽ không thể phát triển nếu không có sự trợ giúp của các ngành kinh tế - xã hội khác như bảo hiểm, y tế, giao thông vận tải. Ngược lại, du lịch quốc tế cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm, dịch vụ cho khách du lịch. Thứ ba, du lịch quốc tế mang tính đa thành phần. Thành phần tham gia trong hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế gồm: khách du lịch, những người quản lý và phục vụ du lịch, cộng đồng dân cư, các tổ chức xã hội. Do đặc tính đa thành phần trên đây mà có nhiều loại hình du lịch và dịch vụ ra đời, đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách. Thứ tư, du lịch quốc tế có tính thời vụ do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, thời tiết khí hậu đặc trưng tại các điểm du lịch, điều kiện khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành tính thời vụ du lịch. Ngoài ra, tính thời vụ du lịch còn có liên quan mật thiết đến việc sắp xếp ngày nghỉ của nhân viên, các kỳ nghỉ của học sinh, sinh viên, sự bố trí này có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động du lịch. Thứ năm, du lịch quốc tế mang tính liên vùng, biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần thể các điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia, hay giữa các quốc gia với nhau. Mỗi điểm du lịch đều có những đặc điểm độc đáo, hấp dẫn riêng song nó không thể tách khỏi xu thế thời đại và sự phát triển chung của khu vực và quốc gia. Hoạt động du lịch quốc tế của một vùng, một quốc gia khó có 8
  • 9. thể phát triển nếu không có sự liên kết các tuyến, điểm du lịch trong phạm vi quốc gia và toàn thế giới. Thứ sáu, du lịch quốc tế mang tính chi phí và tính tổng hợp cao. Mục đích của các du khách là hưởng thụ các sản phẩm du lịch, do vậy họ sẵn sàng chi trả những khoản chi phí cho chuyến đi của mình về các khoản dịch vụ như: ngủ nghỉ, ăn uống, đi lại và nhiều khoản chi phí khác nhằm thực hiện mục đích đi chơi, giải trí, tham quan. Về tính tổng hợp, sản phẩm du lịch là sản phẩm tổng hợp được biểu hiện bằng nhiều loại dịch vụ. Phạm vi hoạt động của ngành kinh tế, du lịch bao gồm: khách sạn, giao thông và các cửa hàng bán đồ lưu niệm. Ngoài ra, còn có bộ phận sản xuất tư liệu phi vật chất như văn hóa, giáo dục, tôn giáo, hải quan, tài chính, bưu điện. 3. Các xu hướng du lịch quốc tế phổ biến hiện nay Một số xu hướng du lịch quốc tế phổ biến trên thế giới được khách du lịch ưa thích, chẳng hạn như: 4S: SEA + SUN+ SAND +SHOP: bao gồm tắm biển, phơi nắng, đi dạo bãi biển và mua sắm. 3F: FLOWRE +FAUNA + FOLKLORE: bao gồm đi xem các động vật quí hiếm, thực vật quí hiếm và tìm hiểu văn hóa dân gian đặc sắc. 3S: SIGHTSEEING + SPORT + SHOPPING: bao gồm đi chiêm ngưỡng và thưởng thức các cảnh đẹp, tham gia các môn thể thao mạo hiểm, và đi dạo phố kết hợp mua sắm. 5H: HOSPITALITY + HONESTY + HERITAGE + HISTORY + HEROIC: khách du lịch thường tìm đến các địa điểm du lịch mà ở đó người hiếu khách, chân thật, có nhiều di sản, bề dày lịch sử và truyền thống anh hùng để tìm hiểu. Ngoài ra còn có loại hình du lịch đã phổ biến trên thế giới nhưng chưa phát triển ở nước ta như: Du lịch thời trang thường được tổ chức ở Paris hay Milan. Hình thức điện ảnh đi trước du lịch theo sau: ví dụ như thăm trường quay, rạp chiếu phim công nghệ cao, gặp gỡ thần tượng điện ảnh…tại Hollywood. [22] 4. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thu hút khách du lịch quốc tế 9
  • 10. Thứ nhất là tính thời vụ đến hoạt động du lịch Đối với du khách, tính thời vụ làm hạn chế khả năng tìm chỗ nghỉ thích hợp với thời gian tự chọn theo ý muốn. Vào mùa du lịch chính, du khách tập trung quá đông tại các điểm du lịch, vùng du lịch làm giảm chất lượng phục vụ cho du khách. Tác động của tính thời vụ vào hoạt động du lịch là rất lớn, như với mùa hè du lịch cửa lò, sầm sơn, các du lịch bãi biển rất phát triển, khách đông, nhưng đến 3 mùa còn lại thì rất vắng khách. Nhưng ngược lại, với khách quốc tế đến Việt Nam thì mùa đông lại là mùa đông khách nhất, các điểm đến cho mùa đông như Ha long, Sapa, ... Thứ hai là ăn uống nghỉ ngơi Việc tìm kiếm nơi ăn nghỉ là nhu cầu thiết yếu đối với mỗi người. Vì thế các dịch vụ ăn uồng và nghỉ ngơi là trọng tâm, là nhu cầu thiết yếu so với các nhu cầu khác của khách. Trên thế giới, 40% lượng tiền du khách chi tiêu là dành cho chỗ ở. Ở Việt Nam cũng như các nơi khác, ngành khách sạn rất quan trọng vì nó chiếm một phần lớn doanh thu của ngành du lịch. Nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam đã đánh giá “Việt Nam là thiên đường ẩm thực” với những món ăn đặc sắc, hương vị thơm ngon không thể quên ở mỗi điểm đến. Đến Hà Nội không du khách nào có thể quên hương vị của phở, bún riêu cua, bún ốc, xôi gà, chả cá Lã Vọng, bánh tôm hồ Tây, bánh cốm, các món nem cuốn. Ẩm thực miền Trung hấp dẫn du khách bởi các món bánh, món chè xứ Huế, mỳ Quảng, cao lầu…; còn vùng đất Nam Bộ lại đặc trưng bởi các món lẩu, nướng từ thủy, hải sản với các loại cây trái sẵn có. Người dân Việt Nam đã không còn xa lạ với hình ảnh những người nước ngoài ngồi vỉa hè cầm đũa chỉ để thưởng thức một bát phở sáng hay bát bún ốc nóng khói nơi góc phố quen thuộc. Một số nhà nghiên cứu ẩm thực Việt Nam và nước ngoài đã nhận xét, các món ăn Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách bởi nguyên liệu chủ yếu là các loại rau, củ,quả, hạt, thủy, hải sản, không quá nhiều thịt như món Âu, ít dầu mỡ hơn các món Trung Quốc, ít cay hơn đồ ăn Thái Lan. Thứ ba là quảng cáo xúc tiến 10
  • 11. Để thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thì giải pháp chủ yếu là tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến. Từ nay đến cuối năm 2008, ngành du lịch sẽ chi khoảng 16 tỷ đồng để quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam trên các phương tiện truyền thông quốc tế như CNN, Discovery cũng như các đài truyền hình ở các thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam như kênh KBS - Hàn Quốc, NHK - Nhật Bản; các kênh truyền hình các tỉnh gần Việt Nam của Trung Quốc như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam; trên các báo Singapore, Malayxia, Thái Lan, Campuchia; mời các đoàn khảo sát du lịch quốc tế đến viết bài về du lịch Việt Nam. Phối hợp chặt chẽ với ngành hàng không, ngoại giao, giao thông vận tải đẩy mạnh tuyên truyền, xúc tiến quảng bá cho du lịch Việt Nam như quảng bá cho năm du lịch Cần Thơ 2008. Thứ tư là chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ du lịch là yếu tố then chốt tạo nên uy tín, thương hiệu cho từng đơn vị kinh doanh du lịch nói riêng và của ngành du lịch Việt Nam nói chung. Sự khẳng định thương hiệu của từng doanh nghiệp du lịch thể hiện ở việc tôn trọng khách hàng, luôn luôn cho ra đời nhiều sản phẩm mới, nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác dịch vụ du lịch, tiết kiệm chi tiêu và những khâu trung gian không cần thiết khác. Chất lượng dịch vụ du lịch là yếu tố then chốt tạo nên uy tín, thương hiệu cho các đơn vị kinh doanh du lịch nói riêng và của ngành du lịch nói chung. Nhưng chất lượng dịch vụ của ngành du lịch Việt Nam trong thời gian qua là khâu yếu kém nhất, chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ hội nhập. Chính vì thế, về lâu dài, giải pháp then chốt để thu hút khách du lịch vẫn là nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. Đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hoá, hướng dẫn và kiểm tra, đánh giá chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Tăng cường lực lượng lao động lành nghề, chuyên nghiệp; thực hiện tốt qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm, mở chiến dịch làm sạch môi trường tại các điểm du lịch; nâng cao chất lượng dịch vụ vận chuyển khách du lịch theo hướng văn minh, lịch sự, hiện đại, đảm bảo tiện nghi... II. Tiềm năng phát triển du lịch quốc tế của tỉnh Quảng Ngãi 1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên 11
  • 12. 1.1. Điều kiện tự nhiên Quảng Ngãi là tỉnh cực Nam của vùng du lịch Bắc Trung Bộ nằm trong khoảng từ 14-032’40”B – 15025’B vĩ độ Bắc và từ 108006’Đ – 109004’35”Đ kinh độ Đông; có diện tích tự nhiên 5.131,51 km2 . Về phía Bắc, Quảng Ngãi giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp Bình Định, phía Tây giáp Kon Tum và phía Đông giáp biển Đông. Quảng Ngãi có đường bờ biển dài khoảng 130 km và một số đảo nhỏ ngoài khơi, trong đó đáng kể nhất là đảo Lý Sơn (có diện tích khoảng 9,97 km2). Địa hình Quảng Ngãi tương đối phức tạp, mang đặc trưng đại hình của các tỉnh duyên hải miền trung là thấp dần từ Tây sang Đông với các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển và hải đảo. Phần Tây của tỉnh là sườn Đông của dãy Trường Sơn Nam, tiếp theo là các đồi và núi thấp. Vùng rừng núi này chiếm tới hơn 2/3 diện tích toàn tỉnh, là địa hình chiến lược quan trọng của tỉnh, nơi hình thành nhiều căn cứ địa vững chắc gắn liền với lịch sử đấu tranh chống áp bức, chống ngoại xâm của Quảng Ngãi. Đây là kho tài nguyên phong phú về lâm thổ sản với nhiều loại gỗ quý, nhiều loại cây nguyên liệu cho tiểu thủ công nghiệp…Tiếp giáp với vùng rừng núi là vùng trung du. Vùng địa hình này chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng diện tích toàn tỉnh (khoảng 0.3%). Vùng Đồng bằng ven biển thuộc Quảng Ngãi là đồng bằng hẹp với tổng diện tích khoảng 1.200 km2, được hình thành một phần bởi nguốn đất đồi phân hóa, một phần do phù sa của các con sông chảy qua địa phận tỉnh như song Trà Khúc, Trà Bồng, Trà Châu, sông Vệ bồi đắp. Bờ biển Quảng Ngãi có chiều dài 130 km bị chia cắt thành nhiều đoạn bởi các mũi như Nam Châm, Ba Làng An, Sa Huỳnh, Kim Bồng. Quảng Ngãi nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với khí hậu chia thành hai mùa là mùa ít mưa và mùa mưa. Vì Quảng NGãi nằm trong vùng khí hậu Trung Trung Bộ nên có nền nhiệt khá cao với biên độ dao động nhiệt nằm khoảng70C – 80C. Nhiệt độ trung bình ở đây khoảng 260C và giảm xuống ở vùng núi còn 230C - 240C ở độ cao 400m - 500m và chỉ còn 210C – 230C ở độ cao 1000m. 1.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên 12
  • 13. Quảng Ngãi là sự hòa hợp của những dòng sông xen lẫn núi đồi, ghềnh thác cùng nhiều di tích, kiến trúc cổ: di chỉ văn hoá Sa Huỳnh, chùa Thiên Ấn, thành cổ Châu Sa, chứng tích Sơn Mỹ, địa đạo Đám Toái… và với nhiều danh lam thắng cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và hữu tình như: Thiên Ấn niêm hà, Cổ Lũy Cô thôn…. Quảng Ngãi còn được nhắc đến với các bãi biển sạch, đẹp và giá trị để phát triển thành khu du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn như Mỹ Khê (Sơn Tịnh), Sa Huỳnh (Đức Phổ), Khe Hai- Dung Quất (Bình Sơn), Minh Tân, Đức Minh, Tân Định (Mộ Đức) [44]. Với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, tài nguyên du lịch Quảng Ngãi được chia theo 2 vùng sau. Thứ nhất là tài nguyên du lịch vùng đồi núi và trung du, với diện tích vùng đồi núi và trung du khá lớn (chiếm 2/3 tổng diện tích toàn tỉnh) tài nguyên du lịch vùng đồi núi của tỉnh Quảng Ngãi khá phong phú: khu du lịch văn hóa sinh thái Trà Bồng (núi Cà Đam), khu bảo tồn tự nhiên khu vực Ba Tơ, hệ thống các thác nước như Thác Trắng, Thác nước Trịnh, cảnh quan các sông , hồ nước, các thắng cảnh như núi Thiên Ấn, núi Long Đầu. Núi Thiên Ấn thuộc thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh, nằm cách cầu Trà Khúc khoảng 2km về phía Đông với độ cao chỉ hơn 100m nhưng có hình thù rất độc đáo. Đứng từ vị trí nào nhìn núi cũng có hình thang cân, đường lên núi quanh co với phong cảnh hai bên hữu tình. Trên đỉnh núi bằng phẳng có một ngôi chùa cổ được bao bọc bởi những cây cổ thụ xanh tốt. Thiên Ấn được xem là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi và chùa Thiên Ấn trên đỉnh núi được xem là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng của cả Miền Trung [10]. Thứ hai là tài nguyên du lịch ở vùng biển và hải đảo, với đường bờ biển dài gần 130km, tài nguyên du lịch biển và hải đảo của Quảng Ngãi khá phong phú và hấp dẫn với các bãi biển đẹp, các cảnh quan bờ biển kỳ thú và hấp dẫn du khách, các hòn đảo thanh bình và còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, trong lành. Trong số các tài nguyên du lịch biển và hải đảo của Quảng Ngãi, đáng kể nhất là bờ biển Sa Huỳnh, bờ biển Mỹ Khuê, đảo Lý Sơn [10]. Vùng bờ biển Sa Huỳnh nằm ở cực nam của tỉnh, thuộc xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ. Trên bờ biển Sa Huỳnh có nhánh núi Trường Sơn chạy áp sát biển tạo thành những ghành đá rất đẹp. Cũng chính vì vậy 13
  • 14. địa hình Sa Huỳnh rất đa dạng với những ngọn núi màu xanh nhiều cung bậc, với những động cát vàng rực,…Sa Huỳnh còn có Hòn Me, Hòn Khỉ, Động cát Ma Vương chứa đựng di chỉ văn hóa Sa Huỳnh nổi tiếng. Bờ biển Mỹ Khuê dài trên 10km với ba cảnh quan độc đáo và hấp dẫn là Cổ Lũy Cô Thôn, Thạch Cơ Điếu Tẩu và An Hải Sa Bàn. Bờ biển Sa Kỳ - Cổ Lũy có hình cong lưỡi liềm với bãi cát vàng sạch sẽ, rặng phi lao xanh mát, không khí trong lành là nơi thuận lợi cho hoạt động nghỉ dưỡng và tắm biển. Đảo Lý Sơn là đảo lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi(- đảo lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi-) với phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, không khí trong lành, cảnh quan đẹp mắt là địa chỉ du lịch lý tưởng đối với những du khách ưa khám phá. Nhìn chung, tài nguyên du lịch thiên nhiên của Quảng Ngãi khá phong phú và đa dạng, nếu được đầu tư khai thác một cách hợp lý thì đây sẽ là nguồn tài nguyên mang lại lợi ích cho không chỉ nền kinh tế mà còn góp phần thỏa mãn nhu cầu du lịch của nhân dân trong tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung.( sẽ mang lại lợi ích không nhỏ cho nền Ktế cũng như…) 2. Điều kiện kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch 2.1. Điều kiện kinh tế xã hội Những năm gần đây tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội tính trên đầu người của Quảng Ngãi tăng mạnh nhờ vào nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhìn chung cao hơn so với mức bình quân của cả nước và các tỉnh trong khu vực. Chỉ tiêu tăng trưởng GDP 2010 của Quảng Ngãi đạt 14,9% so với năm trước. Năm 2010, Quảng Ngãi xếp vị trí thứ 7 trong top 10 tỉnh nộp ngân sách cao nhất cả nước. Mặc dù có những bước phát triển kinh tế nhất định, song nói chung mức sống dân cư còn thấp. Đặc biệt là trong những vùng thường xuyên gặp thiên tai và những vùng núi xa xôi. Về điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật cũng có nhiều tiến bộ. một trong các chỉ tiêu cho thấy sự phát triển chính là chỉ số gia tăng của các bưu điện cơ sở. Đến nay, 100% các huyện thị đều đã được trang bị tổng đài điện thoại. 2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn 14
  • 15. Tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị văn hóa vật chất cũng như tinh thần do bàn tay và khối óc của người dân Quảng Ngãi sáng tạo ra trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Các tài nguyên này bao gồm những di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, những sản phẩm thủ công và các nghề thủ công truyền thống, những giá trị văn hóa phi vật thể như văn nghệ dân gian, lễ hội, ẩm thực…đều là những nguồn tài nguyên quan trọng cần được nghiên cứu để tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo mang bản sắc riêng của Quảng Ngãi nhằm thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Tài nguyên du lịch nhân văn Quảng Ngãi bao gồm: Thứ nhất là di tích văn hóa – lịch sử. Quảng Ngãi là một tỉnh có bề dày phát triển lịch sử khá lâu đời, do vậy đã để lại nhiều di tích lịch sử quý giá. Tính đến nay toàn tỉnh đã có 23 di tích được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng, hơn 100 di tích khác đã được đưa vào danh mục các di tích đề nghị được xếp hạng. Các di tích này được chia thành các nhóm di tích khác nhau. Đầu tiên, phải kể đến là nhóm di tích khảo cổ học, tiêu biểu là nhóm di tích văn hóa Sa Huỳnh. Nhóm di tích này phân bố tại các địa phương Long Thạnh, thuộc huyện Đức phổ, Bình Châu và Sa Huỳnh. Đây là nền văn hóa khá đặc sắc đã cho thấy vào buổi đầu công nguyên chủ nhân của nền văn hóa Sa Huỳnh đã đạt đến trình độ phát triển cao trong khu vực. Đặc biệt là đồ gốm Sa Huỳnh với những trang trí lắc đen, trắng trên nền đỏ và những hoa văn sông nước rất độc đáo và tinh tế có giá trị cao không những đối với khoa học, mà còn thu hút sự quan tâm của du khách. Tiếp theo, đó là nhóm di tích cách mạng, tiêu biểu phải kể đến là khu di tích về cuộc khởi nghĩa Ba Tơ, khu di tích núi Cà Đam thuộc huyện Trà Bồng, cách thành phố khoảng 50km về hướng tây bắc; di tích địa dạo Đám Toái (huyện Bình Sơn, bán đảo ba Làng An); di tích chiến thắng Ba Gia; di tích chiến thắng Vạn Tường thuộc huyện Sơn Tịnh. Đặc biệt, khu chứng tích Sơn Mỹ (thuộc xã tịnh Khuê), là nơi 504 đồng bào ta bị giặc Mỹ sát hại ngày 16/03/1968 – một vụ thảm sát đẫm máu gây chấn động cả thế giới ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ quân Mỹ chiếm 15
  • 16. đóng miền Nam Việt Nam. Khu chứng tích Sơn Mỹ đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận và là di tích lịch sử cách mạng quốc gia. Hiện nay tại đây có một tượng đài và một nhà chứng tích trưng bày một số hiện vật và hình ảnh về những tội ác của giặc Mỹ đối với đồng bào ta ở đây trong ngày 16/ 03/1986. Nhóm các di tích kiến trúc phải kể đến là Chùa Thiên Ấn và chùa Ông. Chùa Thiên Ấn lúc đầu mới chỉ là một am nhỏ do Tổ sư Pháp Hóa, chùa được xây dựng trên đỉnh núi Thiên Ấn (Sơn Tịnh), trước mặt là sông Trà Khúc, dưới chân núi phía tây là dãy Long Đầu, xung quanh chùa có nhiều cây xanh, khung cảnh đẹp, đặc biệt chùa có 2 di vật giá trị là chuông đồng cao 2m được gọi là “Chuông Thần” và giếng nước sâu 15m được gọi là giếng Phật. Năm 1947 khi cụ Huỳnh Thúc Kháng quyền chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (nay là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) về công tác tại Quảng Ngãi và cụ mất tại Quảng Ngãi. Nhân dân ngưỡng mộ đưa Cụ an táng tại đỉnh núi Thiên Ấn (cách chùa Thiên Ấn 200m). Chùa Thiên Ấn không chỉ là niềm tự hào của Quảng Ngãi, mà còn nổi tiếng khắp miền Trung. Nhóm danh thắng có những cảnh đẹp, trong đó đáng chú ý là 12 cảnh đẹp đã được Nguyễn Chu Trinh làm thơ tặng. Đó là các địa danh: Thiên Ấn Niêm Hà, Long Đầu Hí Thủy, La Hà Thạch Trận, Liên Trì Dục Nguyệt, Hà Nhai Vãng Độ, Cỗ Lũy Cổ Thôn, bãi biển Sa Huỳnh… Thứ hai là nghề thủ công truyền thống. Một trong những nguồn tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng là các nghề và làng nghề thủ công truyền thống. Ở Quảng Ngãi cũng có một số nghề thủ công tiêu biểu có thể khai thác phục vụ như: nghề làm đường phổi, đường phèn, kẹo gương ở Tư Nghĩa, nghề làm gốm ở Mỹ Thiện (Bình Sơn), Đại Lộc (Sơn Tịnh), Bồ Đề (Tư Nghĩa), Nghề đúc đồng ở làng Chú Tượng huyện Mộ Đức - nơi đây đã đúc cho chùa Thiên Ấn chiếc “Chuông Thần” vào thế kỷ 18... Thứ ba là Văn hóa dân gian. Quảng Ngãi có một số lễ hội tiêu biểu là lễ hội Cầu Ngư hay còn gọi là lễ hội Nghinh Ông, lễ hội Đua Thuyền Tứ Linh rất đặc sắc và đông đảo nhân dân tham gia vào các dịp tết nguyên đám. 16
  • 17. Thứ tư là các món ăn đặc sản. Ở Quảng Ngãi có những đặc sản biển phong phú và là xứ sở của mía đường. Có những món ăn bình dị nhưng độc đáo, đậm đà bản sắc quê hương như mắm nhum (loài nhuyễn thể biển) có vị ngọt đặc biệt dung chung với các loại rau sống hay có thể ăn với bún hoặc thịt luộc… Đặc biệt, Quảng Ngãi là quê hương của đường phèn, đường phổi và kẹo gương rất nổi tiếng. III. Sự cần thiết phải phải tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2020 1. Vị trí của du lịch quốc tế Quảng Ngãi trong chiến lược phát triển du lịch quốc tế cả nước và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thứ nhất, vị trí của du lịch quốc tế Quảng Ngãi trong chiến lược phát triển du lịch quốc tế cả nước Trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cả nước, Quảng Ngãi nằm trong không gian vùng du lịch Bắc Trung Bộ với những tiềm năng và lợi thế hết sức quan trọng. Trước hết Quảng Ngãi có vị trí địa lý rất thuận lợi. Nằm trên trục đường giao thông chính nối từ Bắc vào nam, có đường quốc lộ và đường sắt xuyên Việt chạy qua, có cảng nước sâu Dung Quất cùng với hệ thống đường ngang và đường thủy nối Quảng Ngãi với các tỉnh và các địa phương trong cả nước, là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch. Bên cạnh sự thuận tiện về hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng, Quảng Ngãi còn có tiềm năng du lịch phong phú, đặc biệt là tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch biển với bãi biển Mỹ Khuê, Sa Huỳnh nổi tiếng trong cả nước và những nguồn tài nguyên nhân văn phong phú, hấp dẫn, tiêu biểu là các di tích văn hóa, lịch sử như Sa Huỳnh, Chăm Pa, các di tích chiến tranh Sơn Mỹ…Ngoài ra bên cạnh Quảng Ngãi là những điểm du lịch nổi tiếng như đô thị cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn ở phía Bắc, Bình Định Tây Sơn với hệ thống Tháp Chàm ở Phía Nam đã đặt Quảng Ngãi vào một không gian du lịch hấp dẫn. Chính vì vậy, Quảng Ngãi được coi là một trong những điểm du lịch quan trọng trên tuyến du lịch xuyên Việt của cả nước 17
  • 18. Và Quảng Ngãi còn nằm trong khu vực phát triển của hành lang Đông Tây – một dải hành lang chiến lược nối miền trung với các nước Lào, Thái Lan và Myanmar. Tất cả những điều kiện trên đã cho thấy vị trí quan trọng của Quảng Ngãi trong hệ thống các tuyến điểm du lịch của miền trung và có tầm quan trọng trong chiến lược đối với ngành du lịch Việt Nam trong xu thế hội nhập khu vực. Thứ hai, vị trí của du lịch quốc tế Quảng Ngãi trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ngãi Theo số liệu Cục thống kê Quảng Ngãi, mặc dù tỷ phần của kinh tế dịch vụ Quảng Ngãi chỉ chiếm khoảng trên dưới 20%, trong đó tỷ lệ này của cả nước là trên 40% nhưng dịch vụ vẫn là ngành có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế của mình Trong thời gian qua du lịch Quảng Ngãi cũng đã có những bước phát triển nhất định. Nếu năm 2001 tổng doanh thu du lịch đạt 45,6 tỷ đồng, thì đến năm 2005 doanh thu đã đạt 74,6 tỷ đồng và năm 2010 đạt trên 215 tỷ đồng; nộp ngân sách nhà nước từ 4,8 tỷ đồng năm 2001 đến năm 2005 đã đạt xấp xỉ 7 tỷ đồng, năm 2010 đạt trên 10 tỷ đồng. Như vậy tỷ lệ tăng trưởng về doanh thu đạt khoảng 23%/năm, nộp ngân sách tăng gấp nhiều lần. Đây là tốc độ tăng trưởng cao, mặc dù giá trị tuyệt đối còn thấp. Sự đóng góp của du lịch nói riêng và của các ngành du lịch nói chung còn chưa đáng kể. Điều đó được thể hiện trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh trong thời gian qua. Tuy nhiên trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Quảng Ngãi, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh đã quyết định chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông – lâm – thủy sản và tăng tỷ trọng kinh tế dịch vụ và công nghiệp xây dựng. Cơ cấu kinh tế của tỉnh phải được xây dựng trên cơ sở lợi thế so sánh của tỉnh. Quảng Ngãi có bờ biển dài hơn 130km, rất thuận lợi cho việc phát triển ngành đánh bắt hải sản, vận tải biển, cơ khí sửa chữa và đóng tàu biển, nhưng cũng có nhiều điều kiện để phát triển du lịch biển Đặc biệt trong bối cảnh Quảng Ngãi đang trở thành một điểm nóng trong phát triển các ngành kinh tế quan trọng của đất nước, việc tận dụng cơ hội phát triển du lịch và các ngành dịch vụ có thể đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách, góp 18
  • 19. phần giải quyết những vấn đề xã hội như việc làm, xóa đói giảm nghèo 2. Sự cần thiết phải tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2020 Đóng góp trực tiếp của du lịch Việt Nam năm 2010 vào GDP là 73.800 tỷ đồng (tương đương gần 4 tỷ USD), chiếm 3,9% GDP; lao động trực tiếp tham gia vào lĩnh vực du lịch là 1.397.000 người, khoảng 3% tổng số lao động toàn quốc. Ngành du lịch đóng góp gián tiếp tới hơn 231.200 tỷ đồng vào GDP (tương đương 12,5 tỷ USD), khoảng 12,4% GDP; có 4.539.000 người hoạt động gián tiếp trong lĩnh vực du lịch, chiếm 9,9% tổng lao động toàn quốc [32]. Năm 2009, dịch vụ du lịch đã mang đến cho Việt Nam 3.050 triệu USD, chiếm hơn 52% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam năm 2009 [33]. Hơn nữa, dịch vụ du lịch còn góp phần giải quyết khoảng 1.035.000 lao động [1]. Số liệu một phần nào cho thấy sự cần thiết của việc phát triển dịch vụ du lịch ở Việt Nam nói chung và ở Quảng Ngãi nói riêng. Sự cần thiết đó thể hiện thông qua sự đóng góp của việc phát triển dịch vụ du lịch về mặt kinh tế cũng như xã hội. 2.1. Về kinh tế Thứ nhất là khai thác tiềm năng du lịch quốc tế, hỗ trợ phát triển du lịch quốc tế. Tiềm năng sẽ vẫn mãi là tiềm năng nếu như nó không được đánh thức, không được khai thác đúng cách. Những gì ta thấy ở Quảng Ngãi chỉ là những bờ biển dài với phong cảnh hữu tình, những dòng sông hiền hòa, những ngôi chùa cổ kính… đó chỉ là viên kim cương thô chưa được gọt giũa một cách cẩn thận, chưa được biết đến. Thông qua việc chương trình cải thiện dịch vụ du lịch và tăng cường thu hút khách du lịch, chúng sẽ trở nên những viên kim cương vô giá được nhiều người biết đến. Nếu có những chương trình hợp lý, trong một tương lai gần, chúng ta sẽ thấy đằng sau những bờ biển dài vẫn phong cảnh hữu tình ấy là những chuyến du lịch nghĩ dưỡng đầy hấp dẫn, còn đằng sau những con sông hiền hòa, những ngôi chùa cổ kính ấy là những chuyến thưởng ngoạn cảnh vật trên sông và cơ hội đắm mình cùng chốn linh thiên,… Đó chính là cách để tăng cường thu hút khách du lịch và phát triển dịch vụ du lịch giúp đánh thức vẻ đẹp của cảnh vật quê hương. 19
  • 20. Thứ hai là nâng cao giá trị dịch vụ du lịch, góp phần tăng thu ngoại tệ. Những tiềm năng phát triển du lịch ở Quảng Ngãi là điều hiển nhiên không ai có thể bác bỏ được, tuy nhiên những giá trị mang về từ du lịch thật sự chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Một trong những lý do đó là vấn đề trong việc thu hút khách du lịch, tiếp sau đó là chất lượng dịch vụ cung cấp. Hai vấn đề này có một mối quan hệ thân thiết với nhau, một dịch vụ tốt có chất lượng sẽ thu hút được nhiều khách du lịch nhưng phải có một số lượng khách nhất định để có thể duy trì nó được. Dịch vụ cung cấp có chất lượng và phong phú hơn thì số tiền chi tiêu của du khách mới cao hơn. Hiện nay, du khách đến Quảng Ngãi sẽ không thể nào tiêu được “nhiều tiền” bởi vì có quá ít những dịch vụ cung cấp hay nếu có đi chăng nữa thì cũng quá sơ sài và không đáp ứng yêu cầu của du khách, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài. Thứ ba là góp phần phát triển hoạt động du lịch quốc tế một cách đồng bộ và toàn diện hơn. Hiện nay, hoạt động thu hút khách du lịch còn quá yếu, thêm vào đó dịch vụ cung cấp không tốt không đồng nhất, có thể gây những ấn tượng xấu trong lòng du khách. Hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch còn khá yếu kém chưa đáp ứng được ở mức cao của du khách quốc tế. Vấn đề được đặt ra đó là làm sao để có thể phát triển tất cả các thành phần dịch vụ du lịch một cách đồng bộ để mang đến chất lượng hoạt động du lịch một cách toàn diện nhất. Hơn nữa, việc cung cấp các dịch vụ phù hợp, đáp ứng được nhu cầu thì sẽ là một cách để giữ chân khách du lịch. 2.2. Về xã hội Thứ nhất, mở rộng giáo dục đào tạo, tạo việc làm cho lao động trong ngành du lịch, góp phần giảm tệ nạn xã hội. Quảng Ngãi là một tỉnh dựa vào nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, với vựa lúa và những sản phẩm nông nghiệp khác. Vì thế, người dân Quảng Ngãi chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt ở các vùng nông thôn. Thêm vào đó quá trình đô thị hóa đã khiến nhiều lao động trẻ di chuyển từ nông thôn đến thành thị nhưng vẫn thất nghiệp. Việc phát triển dịch vụ du lịch nhằm tăng cường thu hút khách du lịch là cơ hội để những người thất nghiệp có cơ hội tìm được những việc làm . Vì vậy, việc phát triển dịch vụ du lịch giúp tạo nhiều việc làm cho người dân. Thông 20
  • 21. qua đó, nó giúp mang đến cho người dân trong địa phương một nguồn thu nhập đáng kể. Hơn thế nữa, điều này có thể phân bố lại thu nhập giữa các vùng trong tỉnh, người có thu nhập thấp sẽ có cơ hội cải thiện nguồn thu của mình. Từ đó, việc phát triển dịch vụ du lịch giúp tỉnh Quảng Ngãi xóa bỏ dần khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng nông thôn và thành thị. Thứ hai, tăng mức sống người dân, nâng cao sức khỏe và phúc lợi xã hội. Nhờ vào việc tăng thu nguồn ngoại tệ và đóng góp vào ngân sách Nhà nước, dịch vụ du lịch quốc tế phát triển không những có thể cải thiện đời sống người dân mà còn đem đến những kết quả tích cực khác. Du lịch phát triển, đường giao thông được mở rộng, hệ thống điện và truyền thông được bao phủ, cơ sở hạ tầng được cải thiện và phát triển. Nhờ đó, đời sống người dân được nâng cao. Hơn nữa, du lịch phát triển mang đến nguồn thu cho tỉnh nhà có thể xây dựng nhiều cơ sở y tế, người dân có thể dễ dàng tiếp cận nguồn nước sạch và sản phẩm y tế, qua đó cải thiện và nâng cao sức khỏe cho người dân. Thứ ba, cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hóa và hội nhập quốc tế. Du lịch quốc tế là một cơ hội học hỏi giao lưu không những đối với du khách quốc tế mà còn đối với người dân địa phương. Du khách không chỉ mang đến ngoại tệ hay tiền bạc, những gì họ mang đến còn nhiều hơn thế nhiều, họ mang theo cả kho tàng về lịch sự văn hóa của quê hương họ, những phong tục tập quán từ các vùng khác nhau trên khắp thế giới. Chính họ là những vị đại sứ thiện chí, là hình bóng của văn hóa xứ họ. Quảng Ngãi, một mảnh đất của miền trung đầy nắng gió, nơi người dân chân chất, đầu tắt mặt tối trên ruộng vườn, họ chưa từng được biết đến văn hóa thế giới, có chăng là những tin tức chấp vá họ nghe hay nhìn được qua thiết bị truyền thông. Đối với họ việc biết một thứ tiếng nước ngoài còn quá xa xỉ cho dù họ có muốn tiếp cận. Bởi thế, việc phát triển dịch vụ du lịch mang theo những cơ hội để người dân địa phương tiếp cận những kiến thức về văn hóa từ các vùng khác nhau trên thế giới, học tiếng nước ngoài, học cách giao tiếp với nước ngoài,… Hoạt động du lịch quốc tế phát triển cũng đồng nghĩa với những cơ hội giao lưu của người dân được mở rộng. 21
  • 22. IV. Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và bài học cho tỉnh Quảng Ngãi về việc thu hút khách du lịch quốc tế 1. Kinh nghiệm của đảo Sabah (Malaysia) Sabah là một hòn đảo nằm ở phía Bắc Borneo, là bang lớn thứ 2 tại Malaysia, diện tích khoảng 74.500 km2 với 1.440 km bờ biển. Sabah được gọi là “Vùng đất của gió” vì nằm trong vành đai bão. Dù vậy, Sabah vẫn có sức hút đối với du khách bởi những công viên bảo tồn tự nhiên, trong đó có Công viên Quốc gia Kinabalu, Khu bảo tồn Đười ươi Sepilok… Thành phố Kota Kinabalu – thủ phủ của bang Sabah là một hòn đảo xinh đẹp của núi, của biển, của cỏ cây hoa lá với những bãi tắm nguyên sơ và những khu rừng nguyên sinh... kết hợp thành một bức tranh của tự nhiên hoàn mỹ. Vì vậy, Kota Kinabalu còn là cửa ngõ cho những chuyến phiêu lưu leo núi, đi bè vượt thác, khám phá hang động. Du khách sẽ có những phút giây thư giãn tuyệt vời tại suối nước nóng Poring, tận hưởng những loại hình dịch vụ không chê vào đâu được. Du khách thích thú đắm mình vào làn nước biển trong xanh, chơi nhảy dù, lướt ván, tàu chuối (gần giống với lướt ván), lặn biển, tắm nắng và tận hưởng các dịch vụ cao cấp trong các resort. Công viên Quốc gia Kinabalu là một điểm nhấn mà khách du lịch không thể bỏ qua. Rất nhiều du khách ưa thích cảm giác mạnh mong ước được một lần tới đây để chinh phục ngọn Kinabalu cao 4.095m - được mệnh danh là “nóc nhà Đông Nam Á”. Công viên Quốc gia Kinabalu thành lập từ năm 1964, đã được công nhận là di sản thế giới. Để khám phá được sự phong phú của Kinabalu du khách sẽ mất ít nhất 2 ngày. Nơi đây thực sự là một khu rừng nhiệt đới hấp dẫn có diện tích 754km2 với khí hậu 4 mùa rõ rệt, hệ động thực vật hoang dã vô cùng phong phú. Ngọn núi Kinabalu hùng vĩ giữa công viên là một khối núi đá granite được nhô lên bởi những vận động địa chất. Các nhà khoa học cho biết, ngọn núi này có lịch sử địa chất rất kỳ bí, từ hàng triệu năm trước đây. Trong kỷ Băng hà, những dòng sông băng đã chảy ngang qua khối núi này. Do vậy, đến nay hình dáng của ngọn Kinabalu hết sức độc đáo. 22
  • 23. Với người địa phương, Kinabalu là ngọn núi thiêng. Người ta tin rằng linh hồn của tổ tiên họ đã an nghỉ trên đỉnh núi. Xưa kia, người ta thường đem lễ vật cúng trên núi, nay tục lệ ấy vẫn còn duy trì mỗi năm một lần. Du khách sẽ thử sức mình khi leo núi giữa khung cảnh rừng nhiệt đới nguyên sinh um tùm để có thể bất ngờ tìm thấy những dòng suối nước nóng bí ẩn. Để khám phá ngọn núi hùng vĩ này, người leo núi cần chuẩn bị sẵn sàng đồ ăn, túi ngủ, trang phục phù hợp, đèn pin, đặc biệt cần đối phó với cái lạnh ở đỉnh núi vào buổi sớm vì nhiệt độ có thể xuống đến mức nước đóng băng. Thời tiết lý tưởng cho việc chinh phục ngọn Kinabalu là vào tháng 4, vào những ngày trăng tròn sẽ cho du khách một cảm giác tuyệt vời hơn khi ngắm cảnh vật. Đón bình minh trên “nóc nhà Đông Nam Á” cũng đem đến cho du khách những cảm xúc khó quên. Hàng loạt các khu bảo tồn thiên nhiên khác như khu bảo tồn đười ươi Sepilok tập hợp 200 con đười ươi. Đười ươi được cư dân trong vùng gọi một cách trìu mến là “Người đàn ông hoang dã của Borneo”. Đặc biệt, Sabah còn nổi tiếng bởi loài hoa Rafflesia Precei lớn nhất thế giới, du khách có thể chiêm ngưỡng những bông hoa khổng lồ này tại Trung tâm hoa Rafflesia. Rafflesia là loài cây ký sinh, song hoa của nó có đường kính tới 1,5m và nặng tới 10-12kg. Thật tuyệt vời khi ngắm những bông hoa khổng lồ này nở bung trên các triền đồi, các sườn dốc. Có điều loài hoa này có mùi rất hôi. Sabah còn nhiều khung cảnh nên thơ được tạo bởi dòng Kinabatangan – con sông dài nhất của Malaysia. Dọc hai bờ sông về phía hạ nguồn là nơi tập trung động vật hoang dã lớn nhất của đất nước này. Đi thuyền trên sông, du khách có thể nhìn thấy đời sống tự nhiên của đười ươi, khỉ lông đỏ và lông bạc, voi, cá sấu, rái cá và khỉ Proboscis sinh sống trong khu vực đầm lầy ven sông. 2. Kinh nghiệm của Singapore Singapore, được mệnh danh là con rồng và thành phố "sạch sẽ nhất" Châu Á, là nơi bạn sẽ khám phá thấy được những truyền thống cổ xưa hòa hợp với xu thế phát triển hiện đại. 23
  • 24. Không náo nhiệt, ồn ã như một số thủ đô khác nhưng Singapore - đất nước nhỏ bé và ngăn nắp, tinh tươm hàng năm luôn thu hút lượng du khách vượt xa dân số của họ. Ở Singapore, đất đai quý đến mức có những con đường được làm trên nền đất bồi mua từ các quốc gia láng giềng, vậy mà thành phố có rất nhiều khoảng xanh phủ ngợp, dịu mát, trong lành. Du khách không bắt gặp cảnh ăn uống, nhậu nhẹt tưng bừng nơi vỉa hè. Các điểm ăn nhậu bình dân thường được “giấu” vào các con phố nhỏ hoặc khuất sau lùm cây xanh khiến vẻ ngoại cảnh thêm nét thanh tao. Một nếp sống văn hóa được hình thành từ cả một quá trình lâu dài, nghiêm ngặt. Những vi phạm như hút thuốc nơi không được phép, nhả kẹo cao su, xả rác bừa bãi, vi phạm luật giao thông... bị xử phạt rất nặng. Thật khó thấy bóng dáng cảnh sát trên đường phố nhưng ở đây không ít lần du khách được chứng kiến hình ảnh người qua đường, có khi là một người già yếu lượm bỏ vô thùng rác vỏ bao thuốc, túi xốp... mà ai đó sơ ý để rớt trên đường Mạng lưới giao thông công cộng thật lý tưởng, ở các bến xe và đường phố tuyệt đối không có cảnh đậu xe bừa bãi hay taxi giành giật khách, người dân không bị ám ảnh bởi nạn ô nhiễm môi trường, kẹt xe... Những hình ảnh ấy gợi lên biết bao ước muốn về một môi trường thiên nhiên, xã hội cần được gìn giữ, gây dựng ở quê nhà. Thăm Singapore, không thể bỏ qua đảo Sentosa, nơi có nhiều điểm tham quan đặc sắc, nơi có tượng sư tử biển, biểu tượng của đất nước. Chuyến đi trên xe monorail cho du khách một cái nhìn toàn cảnh của Sentosa. Ở đây bên cạnh bãi biển đẹp, còn có Vườn chim Jurong, Thế giới dưới nước và khu Nhạc nước, đặc biệt là Bảo tàng sáp... Vườn chim Jurong rộng hơn 20ha, là vườn chim lớn nhất ở châu Á - Thái Bình Dương với kiểu thiết kế đặc biệt rất giống với điều kiện cư trú thiên nhiên của các loài chim. Ở đây còn có thác nước nhân tạo lớn nhất thế giới. Vườn chim là thiên đường cho hơn 8.000 con chim của 600 loại. Một số con sống trong những “lồng” lưới khổng lồ, số khác tự do bay lượn quanh du khách, nhưng chẳng bay đi xa bởi nơi đây con người đã dành cho chúng một môi trường và sự chăm sóc quá lý tưởng. 24
  • 25. Show biểu diễn thực sự độc đáo, hấp dẫn với hơn 100 con chim - những “tài tử” ngôi sao - vô cùng dễ thương tại một nhà hát ngoài trời, tạo sức lôi cuốn đặc biệt với công chúng. Không chỉ trẻ em mà người lớn cũng có những trận cười giòn giã khi xem những màn diễn, đua tài của các loại chim quý hiếm, có chú chim vừa biết sủa tiếng chó..., biết hỏi thăm sức khỏe du khách bằng tiếng Anh, tiếng Hoa... Ở Bảo tàng đại dương, miền nhiệt đới của châu Á, nơi khám phá bí mật của đại dương quy tụ tới 2.500 sinh vật biển của 250 loài, theo các băng chuyền lướt chầm chậm qua một đường ngầm phủ kín trong suốt, du khách có dịp ngắm nghía những chuyển động “bay lượn” của “cư dân” biển cả từ mọi góc độ... Những điểm tham quan ấy, không chỉ đọng lại cảm xúc đẹp mà còn có cả bài học về bảo tồn và phát triển thiên nhiên. Ðêm buông xuống, cả ngàn người đổ về khu nhạc nước thưởng thức sô diễn hoành tráng, độc đáo của các “vũ công nước”. Nương theo tiếng nhạc, những làn nước được phun lên, đan kết, nhảy múa biến ảo trong ánh sáng rực rỡ muôn màu, cùng những hình ảnh sống động tái hiện bằng ánh sáng laser. Ở đây du khách được nghe những giai điệu đặc sắc của nhiều quốc gia và phần kết thú vị với truyền thuyết sư tử biển - linh hồn của đảo Sentosa... Ðặt chân vào Bảo tàng sáp, dưới hình thức festival hấp dẫn, người ta như bước vào chuyến du hành lý thú với nhiều hình ảnh được tái hiện bằng những bức tượng sáp kích cỡ như người thật và rất sống động, từ gương mặt, thân hình (đôi khi cử động), tới trang phục, âm thanh, khung cảnh và sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật hiện đại tạo nên những hiệu ứng đặc biệt. Phim, audio, video, được trình chiếu liên tục, do đó không có bóng dáng của người thuyết minh nhưng bảo tàng vẫn hấp dẫn. Nếu cái nhìn toàn cảnh cho thấy một đất nước văn minh, quy cũ thì ở các cuộc trình diễn, người xem không chỉ được giải trí mà đọng lại còn là sự cảm phục về nét tinh tế, có tầm vóc và chiều sâu của những người đã tạo dựng. Phải chăng, đó cũng là một trong những lý giải vì sao hàng năm số du khách tham quan Singapore thường vượt trội so với cư dân của họ. Những ngày ở Singapore, có thể cảm nhận được văn hóa nơi đây đã thấm sâu vào các hoạt động du lịch và du lịch đã được quan tâm như một ngành kinh tế quan 25
  • 26. trọng của quốc gia. Nơi đây không khai thác du lịch bằng các hình thức mua vui bằng mọi giá mà quan tâm đến chất lượng dịch vụ qua những sáng tạo, nét độc đáo gắn với tầm vóc văn hóa và bảo vệ môi trường sinh thái. Singapore thật sự là một điểm đến hết sức tuyệt vời cho những người mê du lịch [14]. 2. Kinh nghiệm của Bali – Indonesia Nằm ở cực Nam của Châu Á giữa hai lục địa Đông Nam Á và Châu Đại Dương, Indonesia là một đất nước rộng lớn với diện tích 1.919.440 km2 và là quốc gia có nhiều đảo nhất trên thế giới với 17.508 hòn đảo lớn nhỏ, dân số khoảng 237 triệu người, đứng thứ tư thế giới. Indonesia có một nền văn hóa vô cùng giàu có với sự hòa quyện của những màu sắc tôn giáo và một nền văn hóa hết sức lâu đời. Được biết đến là đất nước Hồi giáo đông dân nhất thế giới nhưng nơi đây cũng chịu nhiều ảnh hưởng của các nền văn hóa phương tây như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,... Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997-1998 đã làm cho nền kinh tế Indonesia khủng hoảng trầm trọng. Tuy nhiên, với vị trí địa lý thuận lợi, là "cửa ngõ" của các Đại Dương cùng với nguồn tài nguyên phong phú đặc biệt là dầu mỏ, nền kinh tế đang trong giai đoạn phục hồi tốt với tốc độ phát triển cao và ổn định, hứa hẹn một tương lai sáng sủa. Đến với Indonesia là đến với những hòn đảo kì bí, là đến thăm “thiên đường trên mặt đất”. Thiên nhiên đã ban tặng cho Indonesia những cảnh sắc vô cùng đa dạng với những bờ biển trải dài thẳng tắp, những thác nước hùng vĩ, những ngọn núi lửa tuôn trào và cả cảnh sắc nhiệt đới thanh bình với hệ sinh thái hết sức phong phú đến kì lạ. Và vẫn còn nơi đây hàng nghìn hòn đảo không có người sinh sống, vẫn còn bao nhiêu điều kì bí mà con người chưa thể khám phá hết ở quần đảo này. Đảo Bali có hình hài giống như một chú gà con, mỏ hướng về Ấn Độ Dương, là một trong hàng ngàn hòn đảo của Indonesia. Bali nằm ở phía đông của Indonesia, cách thủ đô Jakarta hơn 1.000km về phía tây và là một trong 33 tỉnh của Indonesia. Với diện tích khoảng 5.632 km2 và dân số là 3,15 triệu người, đây là một trong những hòn đảo có mật độ dân số cao nhất thế giới. Bali nổi tiếng là một địa điểm du lịch hàng đầu Đông Nam Á và thế giới trong thời đại mới, có quá nhiều mỹ từ mà 26
  • 27. du khách thường dùng để nói về hòn đảo này một khi đã đến đây, những mỹ từ như “Đảo thần”, “thiên đường du lịch”, “bình minh của thế giới”… là một trong những số đó [13]. Người dân Bali hiền hòa, chất phác, họ được xem là dân tộc tài hoa nhất, nghệ sĩ nhất trong số 250 dân tộc ở Indonesia. Chính vì vậy, họ đã sáng tạo một nền văn hóa, nghệ thuật đặc sắc nhất góp phần tạo nên một Bali nổi tiếng như ngày nay. Đó là nền văn hóa triết học tôn giáo Hindu vốn đã vô cùng phong phú khi đến Bali lại được kết hợp với tín ngưỡng đa thần giáo và trở nên hết sức độc đáo, là nền tảng, nguồn cảm hứng của nhiều loại hình nghệ thuật ở đây. Với một sự đầu tư mạnh mẽ chỉ để phát triển du lịch ngay từ lúc còn chịu sự cai trị của nước ngoài. Cụ thể là hơn 100 năm trước, chính quyền Hà Lan đã quyết định biến Bali thành vùng nghĩ dưỡng, không cho xây dựng nhà máy hay trồng cà phê. Ngoài ra cũng không ai được phép can thiệp vào những nghi lễ, phong tục, nghệ thuật, tôn giáo, cuộc sống nông nghiệp nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa và lối sống của người dân trên đảo. Ngày nay, với 3,15 triệu dân, 1.200 khách sạn và resort từ bình dân đến sang trọng, Bali là nơi có mật độ dân số và mức sống thuộc hàng cao nhất Indonesia. Quyến rũ khách du lịch năm châu với những bãi biển cát trải dài phẳng lặng, lớp lớp thửa ruộng bậc thang, những dòng sông đêm ngày chảy xiết, những mặt hồ êm đềm trong vắt trên những miệng núi lửa đã tắt, rất nhiều hang động kỳ thú và những cánh rừng nhiệt đới còn lưu lại cuộc sống hoang dã. Bali mang lại đầy đủ các loại hình du lịch mà du khách muốn có, từ du lịch thể thao, sinh thái đến du lịch văn hóa. Đó là sân chơi cho niềm đam mê mạo hiểm của du khách bởi cano, du thuyền, lướt ván, nhảy dù bên bờ biển; là cơ hội khám phá hệ động vật phong phú trong những khu rừng nhiệt đới; là bị níu chân bởi vô số những lễ hội đặc sắc và các điệu múa quyến rũ nhiều màu sắc. 2. Bài học cho tỉnh Quảng Ngãi Thứ nhất, giữa Chính phủ, Nhà nước và các doanh nghiệp phải thật sự có một sự kết hợp đồng bộ để tạo nên một liên kết chặt chẽ nhằm phát triển toàn diện ngành du lịch. 27
  • 28. Thứ hai, phải coi trọng việc đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch cả về trình độ nghiệp vụ lẫn quan điểm đạo đức. Không chỉ phải có nghiệp vụ chuyên môn cao mà còn phải biết lắng nghe thấu hiểu khách du lịch, luôn luôn tôn trọng du khách và xem trọng phương châm “khách hàng là thượng đế” để mang đến cho du khách một dịch vụ tốt nhất có thể. Thứ ba, coi công tác phát triển du lịch là một quốc sách để ưu tiên đầu tư cho du lịch cả về cơ chế, chính sách lẫn cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng du lịch Thứ tư, không chỉ phải biết tận dụng tối đa các tiềm năng du lịch nhân văn và tự nhiên mà cần phải biết kết hợp tiềm năng du lịch với nhau để sáng tạo ra những sản phẩm du lịch mới lạ, hấp dẫn Thứ năm, để thu hút được nhiều du khách và nhiều du khách biết đến thì cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch hơn bao giờ hết, trên các ấn phẩm phát miễn phí tại sân bay, nhà ga, bến xe để du khách có thêm nhiều thông tin du lịch về nơi họ đến. Tiểu kết Chương 1 Chương 1 đã khái quát lý luận chung về du lịch quốc tế và khách du lịch quốc tế. Đồnngg thời cũng phân tích sơ bộ các điều kiện giúp thu hút khách du lịch quốc tế và đưa ra những bài học kinh nghiệm về thu hút khách du lịch quốc tế của các nước trong khu vực, từ đó rút ra bài học cho Quảng Ngãi. Bên cạnh đó giới thiệu đôi nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, những tiềm năng phát triển và sự cần thiết của việc phát triển dịch vụ du lịch quốc tế của tỉnh Quảng Ngãi. Những lý luận chung trong Chương 1 chính là nền tảng để phân tích thực trạng phát triển dịch vụ du lịch quốc tế ở Chương 2 và đề xuất giải pháp ở Chương 3. 28
  • 29. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN QUẢNG NGÃI GIAI ĐOẠN 2001-2010 I. Tình hình thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2001 – 2010 1. Số lượt khách và cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2001 – 2010 1.1. Số lượt khách du lịch quốc tế Bảng 2.1: Lượng khách du lịch đến Quảng Ngãi trong giai đoạn 2001 - 2010 Đơn vị tính: người, % Năm Tổng khách du lịch Khách nội địa Khách quốc tế Số lượt (người) Tốc độ tăng (%) Số lượt (người) Tốc độ tăng (%) Số lượt (người) Tốc độ tăng (%) Tỷ lệ (%) 2001 95.379 - 88.781 - 6.598 - 6,92 2002 107.526 12,74 98.681 11,15 8.845 34.06 8,23 2003 92.231 -14,23 84.819 -14,05 7.412 -16,20 7,66 2004 121.182 31,39 121.125 42,80 10.057 35,39 8,30 2005 151.525 25,04 139.887 15,49 11.638 15,72 7,68 2006 183.891 21,36 178.959 27.93 14.932 28,30 8,12 2007 220.385 19,84 201.792 12,76 18.593 24,52 8,44 2008 259.371 17,69 235.138 16,52 24.213 30,23 9,34 2009 301.928 16,41 279.791 18,99 22.137 -8,57 7,33 2010 357.942 18,55 331.617 18,54 26.325 18,92 7,35 “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi, ngành du lịch Quảng Ngãi trong năm 2001 đã đón được 95.379 lượt khách du lịch, trong đó khách du lịch quốc tế có 6.598 lượt chiếm 6,92% tổng lượt khách đến 29
  • 30. Quảng Ngãi. Đến năm 2002, được xem là năm bùng nổ du lịch Việt Nam, lượng khách du lịch tăng lên 12.147 lượt nâng tổng số khách du lịch lên 107.526 lượt trong đó lượng khách quốc tế chiếm 8,23%. Tháng 2/2003, dịch SARS lần đầu tiên bùng phát ở Trung Quốc, lan dần sang Việt Nam và các quốc gia trong khu vực. Vì thế nên Tổ chức Y tế thế giới WHO khuyến cáo khách du lịch nên tạm thời hoãn các chuyến đi châu Á trong thời gian dịch bùng phát, và điều này đã dẫn đến một sự sụt giảm đáng kể khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Sau mấy tháng trời ròng rã để ngăn chặn SARS, tưởng chừng như dịch bệnh đã tạm lắng xuống thì vào tháng 10 cùng năm một dịch bệnh nguy hiểm hơn là cúm A/H5N1 bắt đầu bùng phát lan nhanh sang các nước châu Á mà Việt Nam là một trong những nước có ca nhiễm bệnh nhiều nhất [18]. Chính vì hai dịch bệnh trên mà ngành du lịch Việt Nam đã phải gánh chịu hậu quả hết sức nặng nề, đã có khoảng 10 nghìn khách du lịch quốc tế hủy chuyến đến Việt Nam. Ngành du lịch Quảng Ngãi nói riêng cũng gánh chịu thiệt hại, lượng khách du lịch quốc tế giảm đi rõ rệt, lên đến 16,20%, lượng khách nội địa cũng giảm nhẹ hơn 14,05%. Đầu năm 2004, là năm dịch cúm gia cầm bùng phát đồng thời cũng là năm đặc biệt với du lịch miền Trung với sự kiện du lịch khám phá “Con đường Di sản Miền Trung” khu vực miền Trung, vì thế lượng khách du lịch đến Quảng Ngãi năm 2004 không giảm mà còn hồi phục và tăng vọt, ở mức khá cao, đạt 31,39%. Lượng khách du lịch đến Quảng Ngãi năm 2005 là 151.525 lượt, trong đó lượng khách quốc tế là 11.638 lượt, chiếm 7,68% tổng lượt khách du lịch. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng của những loại dịch bệnh lan rộng nhưng trong giai đoạn 2001 - 2005, tỉnh vẫn đảm bảo mục tiêu tốc độ tăng trưởng bình quân khách du lịch quốc tế 17%/năm của dự án: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ngãi thời kỳ 2001 – 2010 và định hướng 2020 do Ủy Ban Nhân Dân tỉnh phê duyệt. Từ năm 2006 đến nay, với các điểm khai thác du lịch được nâng cấp, các tuyến điểm du lịch mới được mở ra như các điểm du lịch Mỹ Khuê, Sa Huỳnh gắn kết với các khu di tích Thiên Ấn, khu chứng tích Sơn Mỹ... Bên cạnh đó, việc nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các cơ sở lưu trú của tư nhân ở Quảng Ngãi đã góp phần làm 30
  • 31. tăng lượng khách du lịch đến Quảng Ngãi. Vì thế, năm 2006, ngành du lịch Quảng Ngãi đã đón được 183.891 lượt khách du lịch, trong khách du lịch quốc tế có 14.932 lượt chiếm 8,12% tổng lượt khách đến Quảng Ngãi. Năm 2007, lượng khách đến tham quan đạt 220.385 lượt, tăng 19,84% so với năm 2006, trong đó khách du lịch quốc tế đạt 18.593 lượt chiếm 8,44% tổng lượng khách du lịch. Tiếp nối đà tăng trưởng đó, năm 2008, tổng lượng khách đến Quảng Ngãi đã tăng 17,69% trong đó lượng khách quốc tế tăng vượt bật, với mức tăng trưởng 30,23%. Năm 2009, với nhiều biến động bất lợi đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động du lịch: Trên thế giới, đại đa số người dân phải đối mặt với tình hình bất ổn về an ninh và áp lực của cuộc khủng hoảng kinh tế. Trong nước, dịch cúm A/H1N1 hoành hành. Vì thế, năm 2009, tốc độ tăng của tổng lượng khách du lịch có phần chậm lại, chỉ đạt 16,41%, mức tăng trưởng thấp nhất từ năm 2004 đến năm 2009 trong đó khách quốc tế giảm đến 8,57%. Năm 2010, lượng khách du lịch đạt mức 357.942 lượt với mức tăng trưởng 18,55%, trong đó lượng khách du lịch quốc tế đạt mức 26.325 lượt chiếm 7,35% tổng lượt khách đến Quảng Ngãi. Biểu đồ 2.1: Lượng khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi so với lượng khách nội địa trong giai đoạn 2001 – 2010 “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin 31 6,92%8,23% 7,66% 8,30% 7,68% 8,12%8,44% 9,34% 7,33%7,35% 0 50.000 100.000 150.000 200.000 250.000 300.000 350.000 400.000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Nam Khách qu?c t? Khách n?i d?a
  • 32. kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Biểu đồ 2.1 cho thấy tỷ lệ khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi trong giai đoạn 2001 – 2010 dao động quanh mức từ 6,92% đến 9,34%. Nhìn chung, lượng khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi qua các năm thay đổi một cách đều đặn. Từ tỷ lệ 6,92% năm 2001 sau đó tăng lên 8,23% năm 2002, tiếp đó giảm xuống mức 7,66% năm 2003 sau đó lại tăng lên 8,30% năm 2004, đạt đỉnh 9,33% năm 2008 nhưng chạm đến gần tận đáy 7,33% vào năm 2009. Nếu xét tốc độ tăng trưởng lượng khách bình quân trong mối quan hệ so sánh giữa lượng khách du lịch nội địa đến Quảng Ngãi và lượng khách quốc tế, ta thấy chúng có những mối quan hệ tỷ lệ. Dựa vào biểu đồ 2.1 ở trên ta thấy, trong giai đoạn 2001 đến 2010, lượng khách nội địa và quốc tế đến Quảng Ngãi đều có xu hướng thay đổi một cách đều đặn. Tuy nhiên, trong một số năm, chúng có mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Tiêu biểu, giai đoạn năm 2001 đến 2002 Quảng Ngãi chứng kiến một sự sụt giảm về lượng khách du lịch nội địa nhưng đã đón lượng khách quốc tế tăng vọt. Mặt khác, cột mốc năm 2009 đánh dấu sự bức phá của lượng khách du lịch nội địa và bước lùi đáng kể của lượng khách du lịch quốc tế. Tuy là tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm lượng khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi là 18,04%. Nhưng xét về mặt tỷ trọng, lượng du khách quốc tế đến Quảng Ngãi chiếm khoảng 7,97% trong tổng số lượng khách du lịch đến Quảng Ngãi trong mười năm(Tuy-Nhưng). Những con số trên cho thấy du lịch quốc tế của Quảng Ngãi chưa thật sự có được một sự phát triển đáng kể. Đồng thời, những con số trên cũng cho thấy sự bất ổn của ngành du lịch Quảng Ngãi, không những chịu ảnh hưởng bởi nhân tố bên ngoài, mà còn cho thấy yếu tố bên trong không bền vững. Cụ thể, tình hình cho thấy một tồn tại rất nghiêm trọng trong ngành du lịch Quảng Ngãi, đó là việc chưa tạo ra được các khu du lịch thật sự hấp dẫn để thu hút khách du lịch cộng với dịch vụ du lịch còn kém. Điều này giải thích một phần lý do lượng khách đến Quảng Ngãi hàng năm còn quá thấp. Bảng 2.2: So sánh khách du lịch Quảng Ngãi với một số trọng điểm du lịch của miền Trung 32
  • 33. Đơn vị tính: 1.000 lượt khách STT Chỉ tiêu 2000 2005 2006 Tăng trưởng (%) 2000- 2005 2005- 2006 2000- 2006 1 Tổng số khách 1.1 Quảng Ngãi 84,50 151,52 183,89 14,62 21,36 16,38 1.2 Thừa Thiên Huế 470,00 1.050,00 1.230,0 0 17,44 17,14 17,39 1.3 Đà Nẵng 393,72 659,53 774,00 10,87 17,36 11,92 1.4 Khánh Hòa 902,60 1.080,0 0 19,65 2 Khách quốc tế 2.1 Quảng Ngãi 4,58 11,63 14,93 17,02 28,30 18,97 2.2 Thừa Thiên Huế 195,00 370,00 436,00 13,67 17,84 14,35 2.3 Đà Nẵng 185,23 227,92 258,00 4,23 13,20 5,68 2.4 Khánh Hòa 165,18 256,69 55,41 “Nguồn: Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch” Qua bảng so sánh trên ta thấy so với một số trọng điểm du lịch của khu vực miền Trung như Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, số lượng khách du lịch đến Quảng Ngãi còn thấp hơn rất nhiều so với các tỉnh trên. Cụ thể, lượng khách du lịch đến Quảng Ngãi chỉ đạt khoảng 20% lượng khách du lịch đến các địa phương trên. Đối với lượng khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi thì vào năm 2000 chiếm khoảng 2% so với Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng. Tốc độ tăng trưởng bình quân khách quốc tế giai đoạn 2000 – 2005 và giai đoạn 2000 – 2006 của Quảng Ngãi lần lượt đạt 17,02% và 18,97% xấp xỉ cao gấp 4 lần so với Đà Nẵng (đạt 4,23% và 5,68%). Tuy nhiên, ở giai đoạn 2005 -2006, tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế của Quảng Ngãi tiếp tục vượt trội, chỉ sau Khánh Hòa. Cụ thể, năm 2006 khách du lịch quốc tế của Quảng Ngãi tăng 28,3% so với năm 2005, trong khi đó Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng chỉ đạt dưới 18%. 33
  • 34. Một trong những nguyên nhân chính là do trong khi các tỉnh đưa ra so sánh trên đều có một quá trình phát triển khá dài với nhiều điểm du lịch đạt tầm cỡ quốc tế như Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa hoặc có cửa ngõ quốc tế kể cả về hàng không và đường biển như Đà Nẵng thì Quảng Ngãi mới chỉ thực sự xem du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn trong vài năm gần đây. 1.2. Cơ cấu khách du lịch quốc tế Để có một cái nhìn đầy đủ và chính xác hơn về tình hình thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi thì việc phân tích cơ cấu nguồn khách quốc tế đến Quảng Ngãi sẽ làm rõ hơn bức tranh toàn cảnh. • Theo thị trường Bảng 2.3: Cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi theo thị trường giai đoạn 2001 – 2010 Đơn vị tính: % Thị trường 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Trung Quốc 12 12 6 7 7 8 9 8 9 10 Hàn quốc 27 20 19 14 15 16 16 16 17 19 Mỹ. 5 6 7 5 8 9 9 8 10 12 Nhật Bản 7 9 10 11 12 12 13 12 13 14 Đài Loan 2 1 5 4 8 7 6 5 1 1 Úc 4 6 8 12 5 6 7 6 2 3 Thái Lan 3 1 6 9 5 4 5 8 2 3 Pháp 10 11 11 12 13 13 14 14 16 17 Malaysia 10 12 9 9 8 7 4 6 2 2 Singapore 12 12 8 5 6 4 3 3 2 2 Khác 8 10 11 12 13 14 14 14 16 17 Tổng 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 “Nguồn: Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch” Theo bảng, ta thấy nếu xét theo nhóm nước thì các nước Đông Bắc Á vẫn là thị trường gửi khách du lịch đến Quảng Ngãi, chiếm tỷ trọng khoảng 30%. Các thị trường khác bao gồm các nước ở châu Phi và ASEAN là hai thị trường đang giảm 34
  • 35. dần với năm 2001 là 25% thì đến 2010 còn 7%. Tuy nhiên, nhìn theo các nước riêng lẻ thì Hàn Quốc là thị trường có khách quốc tế đến Quảng Ngãi cao nhất, chiếm tới 19%, kế tiếp sau là Pháp 17%, Nhật bản 14%. Điều này thật sự là một tín hiệu đáng mừng cho du lịch Quảng Ngãi vì khách du lịch quốc tế từ các quốc gia này thường có thu nhập cao nên có mức chi tiêu nhiều hơn, không những góp phần phát triển du lịch mà còn giúp cho các ngành dịch vụ bổ trợ có cơ hội phát triển. Trong giai đoạn 2001 – 2010 ta thấy đa số các nước như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đều là những nước có tỷ trọng khách du lịch quốc đến Quảng Ngãi cao, chỉ riêng năm 2008, các nước này có phần bị đứng lại hoặc tụt lại so với năm trước. Lý do của điều này là vì năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra ở Mỹ, kéo theo sự sụp đổ của một loạt các công ty lớn và đã gây ra tình trạng thất nghiệp cho hàng triệu người Mỹ. Sự ảnh hưởng này không chỉ ở riêng Mỹ mà nó còn ảnh hưởng tới các quốc gia khác trên thế giới làm cho người dân có xu hướng thắt lưng buộc bụng, tiết kiệm trong chi tiêu trong cơn suy thoái kinh tế chung của toàn cầu, và điều này đã làm giảm đáng kể số lượng người đi du lịch. • Theo mục đích chuyến đi Bảng 2.4: ` Cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi theo mục đích chuyến đi giai đoạn 2001 – 2010 Đơn vị tính: % Năm Du lịch nghỉ dưỡng Kết hợp công việc Thăm thân Khác 2001 25 63 7 5 2002 30 59 5 6 2003 35 55 5 5 2004 43 43 6 8 2005 48 39 6 7 2006 53 34 8 5 2007 30 56 8 6 2008 35 53 6 6 2009 48 40 7 5 2010 70 20 5 5 35
  • 36. “Nguồn: Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch” Từ bảng trên ta thấy khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi với nhiều mục đích khác nhau trong đó khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi vì mục đích công việc chiếm tỷ trọng cao nhất, xấp xỉ 46%. Đứng thứ 2, chỉ kém khoảng 4 – 5% là lượng khách quốc tế đến vì mục đích du lịch , tham quan nghỉ dưỡng, chiếm khoảng 40%. Lượng khách quốc tế đi du lịch vì mục đích thăm thân ở Quảng Ngãi cũng chiếm một tỷ lệ tương đối, khoảng 8%. Cuối cùng là lượng khách đến Quảng Ngãi vì các mục đích khác chiếm khoảng 6%. Nếu ta xét riêng từng loại mục đích qua các năm thì có một điều dễ dàng nhận ra là tỷ trọng du khách quốc tế đến Quảng Ngãi vì mục đích thăm thân và mục đích khác tương đối ổn định, nếu có đi chăng nữa thì giảm đi một chút. Cụ thể, trong giai đoạn 2001 – 2010 chỉ dao động ở mức từ 5 – 8%. Ở mặt ngược lại thì lượng khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi với mục đích du lịch tham quan nghỉ dưỡng và thăm thân thay đổi khá nhiều. Nếu như giai đoan 2001 -2006 lượng khách với mục đích du lịch tham quan nghỉ dưỡng tăng từ 25% đến 53% thì lượng khách với mục đích thăm thân lại giảm từ 63% đến 34%. Năm 2007, có một sự đột biến là khách du lịch với mục đích thăm thân tăng lên 56%, một phần cũng là do lượng Việt Kiều về thăm tăng đột biến và khách du lịch với mục đích tham quan nghỉ dưỡng giảm xuống 34%. Chuyển sang giai đoạn 2007 – 2010 một điều tương tự lại diễn ra như giai đoạn 2001 – 2006. 2. Mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch quốc tế giai đoạn 2001 – 2010 2.1. Mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế Bảng 2.5: Mức chi tiêu bình quân một ngày khách du lịch quốc tế và nội địa đến Quảng Ngãi giai đoạn 2001 - 2010 Năm Khách nội địa Khách quốc tế Mức chi tiêu bình quân (ngàn đồng/ người/ khách) Tốc độ tăng (%) Mức chi tiêu bình quân (ngàn đồng/ người/ khách) Tốc độ tăng (%) 36
  • 37. 2001 150 - 640 - 2002 210 40,00 720 12,50 2003 250 19,05 800 11,11 2004 312 24,80 880 10,00 2005 364 14,29 960 9,09 2006 402 10,44 992 3,33 2007 450 11,94 1.008 1,61 2008 510 13,33 1.024 1,59 2009 552 8,24 1.040 1,56 2010 607 9,96 1.088 4,62 “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Ta có thể thấy mức chi tiêu bình quân một ngày khách của cả du lịch quốc tế và nội địa hàng năm đều tăng, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng lại giảm dần. Cụ thể, giai đoạn 2001 – 2005, trong khi mức chi tiêu bình quân tăng, du lịch nội địa từ 150 ngàn đồng/ người/ khách đến 364 ngàn đồng/ người/ khách và du lịch quốc tế từ 640 ngàn đồng/ người/ khách đến 960 ngàn đồng/ người/ khách, thì tốc độ tăng trưởng của mức chi tiêu bình quân lại giảm, du lịch nội địa giảm từ 40,00% đến 14,29% và du lịch quốc tế từ 12,50% đến 9,09%. Vì thế, ta có thể phát hiện ra một nghịch lý và cũng là một yếu kém lớn của ngành du lịch Quảng Ngãi, đó là chất lượng và mức độ đa dạng của dịch vụ không cao, dẫn đến mức chi tiêu của khách du lịch tăng ở mức rất khiêm tốn. Điều này càng được khẳng định rõ ràng hơn vào giai đoạn 2006 – 2010, tốc độ tăng trưởng mức chi tiêu bình quân giảm, du lịch nội địa giảm ở mức thấp nhất là 8,24% và du lịch quốc tế giảm xuống ở mức rất thấp khoảng 1,56% Nếu ta so sánh mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi và khách du lịch nội địa thì ta sẽ thấy được sự chênh lệch rất đáng kể, trong đó mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế hơn hẳn khách du lịch nội địa. Tuy nhiên, số lượt khách du lịch nội địa lại vượt hơn hẳn số lượt khách du khách 37
  • 38. quốc tế đến Quảng Ngãi hàng năm, hơn khoảng gấp 10 lần. Từ sự so sánh trên, ta thấy một hạn chế nữa của ngành du lịch Quảng Ngãi, đó là chưa thật sự tối đa hoá lợi ích kinh tế từ việc phân khúc thị trường du lịch. Vì thế, sự đóng góp của du lịch Quảng Ngãi vào nền kinh tế tỉnh không đúng với tiềm năng mà du lịch mang lại Biểu đồ 2.2: Mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi so với Việt Nam qua các giai đoạn “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Qua biểu đồ trên ta thấy mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế đến .quân của khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi là 60 USD/ người/ngày tăng 15,38% so với giai đoạn 2001 – 2005 và tăng 81,82% so với giai đoạn 1998 – 2000. Tuy nhiên, so sánh với mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam qua các giai đoạn như trên, ta thấy mức chi tiêu của khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi thấp hơn rất nhiều. Vì vậy, ngành du lịch Quảng Ngãi cần tìm cách nâng cao hơn nữa mức chi tiêu của du khách quốc tế thông qua việc xây dựng và quảng bá nhiều hơn các sản phẩm du lịch của mình, tiến hành đầu tư nâng cấp các trung tâm mua sắm, vui chơi giải trí. Một mặt để thỏa mãn nhu cầu đa dạng của du khách quốc tế, mặt khác giúp ngành du lịch Quảng Ngãi tăng thêm doanh thu. 2.2. Doanh thu từ du lịch quốc tế 38
  • 39. Nhìn chung, từ giai đoạn 2005 đến nay, doanh thu của ngành du lịch Quảng Ngãi có chiều hướng gia tăng đều qua các năm. Bảng 2.6: Doanh thu của ngành du lịch Quảng Ngãi giai đoạn 2005 - 2010 Đơn vị tính: tỷ VND, % Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng doanh thu (tỷ VND) 78,4 100,3 120,66 156,24 170,8 215 Tốc độ tăng doanh thu (%) - 27,93 20,36 29,49 9,32 25,88 Doanh thu từ du lịch Quốc tế 28,9 32,2 40,37 48,14 67,6 80 Doanh thu từ du lịch Nội địa 49,5 68,1 80,29 108,1 103,2 135 “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Năm 2005, sau ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, ngành du lịch Quảng Ngãi bắt đầu khởi sắc với doanh thu đạt 78,4 tỷ VND. Mặt khác, với các điểm khai thác du lịch được nâng cấp, các tuyến điểm du lịch mới được mở ra như các điểm du lịch bãi tắm Mỹ Khuê, khu du lịch Sa Huỳnh gắn kết với các khu di tích Thiên Ấn, khu chứng tích Sơn Mỹ,... mở ra giai đoạn tăng doanh thu trong những năm tiếp theo. Cụ thể, năm 2006, doanh thu của ngành du lịch đã đạt 100,3 tỷ VND, tương ứng với 27,93%. Đến năm 2006, doanh thu của ngành du lịch tiếp tục tăng 20,36%. Điều đó một phần cũng nhờ các sự kiện du lịch lớn của các tỉnh lân cận như: “con đường di sản miền trung”, “festival pháo hoa quốc tế tại Đà Nẵng”,... Bên cạnh đó, việc nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các cơ sở lưu trú ở Quảng ngãi được đầu tư và đưa vào hoạt động, trong đó chủ yếu là các cơ sở lưu trú của tư nhân. Năm 2009, tốc độ tăng doanh thu có phần ít hơn năm 2008, chỉ đạt 9,32% năm 2008. Nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm này là có nhiều biến động bất lợi. Trên thế giới, dịch cúm A/H1N1 phát triển trên diện rộng đồng thời tình hình xung đột 39
  • 40. an ninh, chính trị diễn ra tại nhiều nơi, khủng hoảng tài chính đang lan rộng đã tác động tiêu cực không chỉ đến du lịch quốc tế mà cả du lịch nội địa. Nhìn vào bảng trên ta thấy được doanh thu từ khách du lịch nội địa qua các năm đều lớn hơn doanh thu từ khách du lịch quốc tế. Cụ thể, xét về mặt tỷ trọng thì trong giai đoạn 2005 – 2010 doanh thu từ khách quốc tế chỉ chiếm 35% so với tổng doanh thu từ khách du lịch đến Quảng Ngãi. Vì thế, đóng góp của du lịch quốc tế trong ngành du lịch tỉnh vẫn là một con số khiêm tốn. Đồng thời, những con số trên cũng một phần nói lên sự yếu kém trong việc thu hút khách du lịch và cung cấp các dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, để đánh giá chính xác hơn tình hình phát triển của du lịch ta dựa vào số tiền chi tiêu bình quân của một lượt khách du lịch quốc tế. Biểu đồ 2.3: Doanh thu từ khách du lịch quốc tế và số tiền chi tiêu bình quân của một lượt khách du lịch quốc tế trong giai đoạn 2006 đến 2010 “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Qua biểu đồ ta thấy được sự đóng góp của du lịch quốc tế trong ngành du lịch tỉnh vẫn là một con số khiêm tốn, nguyên nhân là do mức chi tiêu của khách du lịch quốc tế lại thấp so với mức chi tiêu bình quân của cả nước, thêm vào đó số lượt khách du lịch đến Quảng Ngãi quá thấp. Nhìn chung, ta thấy tỷ trọng khách quốc tế hàng năm so với lượng khách du lịch tăng không cao, vì thế doanh thu quốc tế chưa 40
  • 41. tăng mạnh, do khách chủ yếu du lịch kết hợp với công việc. Vì ít có các dịch vụ du lịch tốt phục vụ khách, từ đó không khuyến khích khách quốc tế chi tiêu nhiều. Bảng 2.7: So sánh doanh thu du lịch Quảng Ngãi với một số trọng điểm du lịch của miền Trung Đơn vị tính: tỷ đồng STT Chỉ tiêu 2000 2005 2006 Tăng trưởng (%) 2000- 2005 2005- 2006 2000- 2006 1 Quảng Ngãi 36,78 78,4 100,3 13,23 27,93 16,17 2 Thừa Thiên Huế 189,62 534,00 731,3 23,42 34,68 25,23 3 Đà Nẵng 255,63 406,16 435,00 9,70 7,10 9,26 4 Khánh Hòa 643,70 840,00 30,5 “Nguồn: Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch” Qua bảng so sánh 2.5 trên ta thấy so với một số trọng điểm của miền Trung, doanh thu du lịch của Quảng Ngãi là thấp nhất. Năm 2006, doanh thu chỉ đạt 100,3 tỷ đồng so với Thừa Thiên Huế 731,3 tỷ đồng; Đà Nẵng 435 tỷ đồng; Khánh Hòa 740 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng doanh thu giai đoạn 2000 – 2006 của Quảng Ngãi chỉ đạt 16,17% , thấp hơn so với Thừa Thiên Huế (25,23%), cao hơn so với Đà Nẵng (9,26%). Tuy nhiên, xét riêng năm 2006, ta thấy tốc độ tăng trưởng về doanh thu du lịch Quảng Ngãi cao hơn nhiều so với tốc độ bình quân giai đoạn 2000 – 2006 (đạt 16,17%) và giai đoạn 2000 - 2005 (đạt 13,23%). Đây thật sự là một dấu hiệu tích cực cho thấy du lịch Quảng Ngãi đang phát triển theo chiều hướng tích cực. II. Các nhân tố ảnh hưởng đối với hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi 1. Tình hình xây dựng, mở rộng và nâng cấp dịch vụ du lịch quốc tế của Quảng Ngãi giai đoạn 2001 – 2010 1.1. Nguồn vốn đầu tư vào du lịch quốc tế Quảng Ngãi Bảng 2.8: Tình hình thực hiện vốn của các dự án đầu tư phục vụ du lịch giai đoạn 2006 - 2010 41
  • 42. Đơn vị tính: tỷ VND Nguồn vốn Kế hoạch Giá trị thực hiện Đến 2010 2006 2007 2008 2009 2010 Nguồn vốn thuộc ngân sách 175,17 76,17 19,58 19,70 15,95 39,00 Nguồn vốn thuộc các thành phần kinh tế khác đầu tư về lĩnh vực du lịch 4.952,15 1.025,0 0 300,0 0 600,00 500,00 1.777,0 0 “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Trong những năm qua, công tác thu hút nguồn vốn đầu tư được tỉnh Quảng Ngãi hết sức chú trọng, được xem là nguồn lực quan trọng trong việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Qua bảng trên ta thấy nguồn vốn đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác từ năm 2006 đến nay luôn lớn hơn nguồn vốn thuộc ngân sách. Cụ thể, năm 2006, trong khi nguốn vốn trong ngân sách đầu tư vào ngành du lịch chỉ 76,17 tỷ VND thì nguồn vốn đầu tư thuộc các thành phần khác lại lớn hơn rất nhiều, đạt 1.025,00 tỷ VND. Các năm sau đó, năm 2007, năm 2008, năm 2009, nguồn vốn thuộc các thành phần kinh tế khác vẫn giữ một tỷ lệ chênh lệch rất lớn so với nguồn vốn thuộc ngân sách Năm 2010, Quảng Ngãi có những dự án đầu tư lớn vào du lịch bắt đầu đi vào giai đoạn đầu như khu du lịch Phim trường - Vina Universal qui mô 2569 hecta với tổng vốn đầu tư 10700 tỷ VND, tiếp đó phải kể đến là khu du lịch sinh thái Ánh Sao qui mô 15,9 hecta với tổng vốn đầu tư 932 tỷ VND, khu thương mại và dịch vụ Vina Paradiseta qui mô 60 hecta với tổng vốn đầu tư 940 tỷ VND, Khu du lịch Biển Mỹ Khê qui mô 30,3 hecta với tổng vốn đầu tư 700 tỷ VND. Tất cả các dự án lớn trên đều do các doanh nghiệp làm chủ đầu tư. Vì thế, ta thấy được một chênh lệch rất lớn giữa nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước và nguồn vốn từ các thành phần kinh tế khác, trong khi nguồn vốn từ ngân sách nhà nước là 39,00 tỷ đồng thì nguồn 42
  • 43. vốn thuộc các thành phần kinh tế khác đạt tới mức 1.777,00 tỷ VND. Sư chênh lệch trên qua các năm cho thấy một tín hiệu vui cho ngành du lịch Quảng Ngãi, đó là các doanh nghiệp đã bắt đầu tập trung chú ý đầu tư vào ngành du lịch Quảng Ngãi. Người viết xin đơn cử 2 dự án tiêu biểu, chiếm tỷ lệ vốn cao và có ý nghĩa trong 11 dự án trong danh mục đầu tư. Đứng đầu về tỷ lệ vốn là dự án khu du lịch Mỹ Khuê với 39,5 triệu USD qui mô 122 ha, với 25 triệu USD và 6 khu chức năng: khu khách sạn cao tầng với 5 triệu USD, khu khách sạn và biệt thự Mỹ khuê với 6 triệu USD, trung tâm dịch vụ và công viên vui chơi giải trí Mỹ Khuê với 2 triệu USD, khu cắm trại Mỹ khuê với 0,5 triệu USD, khu vui chơi giải trí với 1 triệu USD . Dự án tiếp theo phải kể đến là dự án khu du lịch thành phố Vạn Tường, với 02 dự án đầu tư: khu du lịch sinh thái Vạn Tường với mức vốn đầu tư 50 triệu USD, khu nghỉ dưỡng Vạn Tường với vốn đầu tư 20 triệu USD [26]. Về tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, Cụ thể năm 2007, có 4 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đầu tư trên 8 triệu USD, đặc biệt năm 2009 có 15 dự án FDI với tổng vốn đầu tư khoảng 3,4 tỉ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2010, có 4 dự án FDI đăng ký đầu tư với tổng vốn đầu tư khoảng 369 triệu USD [38]. Trong các dự án FDI đầu tư vào tỉnh Quảng Ngãi không dự án nào đầu tư vào du lịch. Điều này một phần cho thấy môi trường đầu tư về du lịch của tỉnh chưa thực sự thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, cần có những biện pháp hoặc thay đổi thích hợp để cải thiện môi trường đầu tư nước ngoài để tận dụng nguồn lực này một cách tốt nhất. 1.2. Về việc xây dựng, mở rộng và nâng cấp hệ thống các cơ sở lưu trú Để làm rõ hiện trạng các cơ sở lưu trú có đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, đầu tiên ta xem xét nhu cầu lưu trú của khách du lịch để hiểu rõ hiện trạng Bảng 2.9: Bình quân ngày lưu trú của khách du lịch đến Quảng Ngãi trong giai đoạn 2006 - 2010 Đơn vị tính: ngày, người Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Ngày bình quân lưu trú 1,40 1,41 1,43 1,34 1,44 43
  • 44. Khách trong nước 1,26 1,26 1,42 1,36 1,47 Khách quốc tế 1,20 1,07 1,20 1,08 1,15 “Nguồn: Niên Giám Thống Kê, Cục Thống Kê tỉnh Quảng Ngãi [3]” Giai đoạn 2006 – 2010 ngày bình quân lưu trú của khách du lịch khá ổn định không có nhiều thay đổi. Năm 2006, con số này là 1,40 ngày. Qua các năm sau đó con số này vẫn nằm ở mức cao nhất là 1,44 ngày, mức thấp nhất là 1,34 ngày. Trong giai đoạn 2006 đến 2010, khách du lịch đến Quảng Ngãi ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, lượng khách đến Quảng Ngãi hầu hết là du lịch kết hợp với công việc. Mặt khác, các loại hình du lịch ở Quảng Ngãi vẫn còn quá nghèo nàn, dịch vụ du lịch còn hạn chế đặc biệt là các dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm. Vì thế, lượng khách này chỉ lưu lại qua một đêm. Và lượng khách đến Quảng Ngãi để nghỉ dưỡng cũng chiếm một phần không nhỏ, nhưng các hoạt động này không được đầu tư và phát triển vì vậy không thể giữ chân khách ở lại lâu hơn. Do đó, thời gian lưu trú bình quân của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế, đến Quảng Ngãi không được cải thiện nhiều, chỉ dao động ở mức 1,07 ngày đến 1,20 ngày. Biểu đồ 2.4: Số lượng cơ sở lưu trú và số phòng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2001 đến 2010 44
  • 45. “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Giai đoạn 2000 – 2006 với sự bùng nổ của ngành du lịch Việt Nam, hoạt động du lịch Quảng Ngãi đã có những chuyển biến tích cực. Trước những yêu cầu về nơi ăn, chốn ở và các dịch vụ bổ trợ nhiều doanh nghiệp, doanh nhân đã đầu tư xây dựng mới cơ sở lưu trú và nâng cấp cơ sở lưu trú để đạt tiêu chuẩn từ 3 – 4 sao như khách sạn Petro Sông Trà, khách sạn Trung Tâm, khách sạn Mỹ Trà và sau này là khách sạn Hùng Vương, khách sạn Petrosetco, khách sạn Hoàng Mai, một số khách sạn từ 1 – 2 sao và nhiều cơ sở lưu trú du lịch khác cũng tăng tốc đầu tư tạo nên sự đa dạng về hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch. Tính đến năm 2006 có 37 cơ sở lưu trú với 1100 phòng [35]. Năm 2007, con số được nâng lên thành 44 cơ sở lưu trú [28]. Năm 2009, toàn tỉnh có 60 khách sạn lớn nhỏ, tăng hơn 40% so với năm 2005. Trong đó có 02 khách sạn 4 sao (khách sạn Trung tâm, khách sạn Sông Trà 2), 03 khách sạn 3 sao (khách sạn Mỹ Trà, Petro Sông Trà và Hùng Vương), 03 khách sạn 2 sao (khách sạn Bình Minh, Đồng Hưng và Hoàng Mai) [39]. Năm 2010 có thêm 05 cơ sở lưu trú đưa vào sử dụng, nâng tổng số cơ sở lưu trú lên 65 cơ sở với 1800 phòng, trong đó có 02 khách sạn 4 sao, 03 khách sạn 3 sao [40]. Lượng khách lưu trú đang có xu hướng gia tăng qua các năm, tuy nhiên lượng khách có thu nhập cao không gia tăng nhiều. Điều này đã không kích thích các nhà đầu tư xây dựng các khách sạn cao cấp tại trung tâm thành phố Quảng Ngãi, vẫn là những khách sạn cao cấp cũ như khách sạn Trung tâm (khách sạn 4 sao), 03 khách sạn 3 sao (khách sạn Mỹ Trà, Petro Sông Trà và Hùng Vương). Tuy nhiên, các nhà khách Quảng Ngãi đã cải tạo nâng cấp đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch quốc tế. Với lượng khách sạn này đã đáp ứng nhu cầu lưu trú của du khách đến Quảng Ngãi trong thường nhật cũng như những ngày có hội thảo, hội nghị [39]. Bảng 2.10: Hiện trạng hệ thống khách sạn tỉnh Quảng Ngãi năm 2010 Hạng mục Số khách sạn Số phòng Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ 45
  • 46. 1. Tổng số 65 - 1.800 - 2. Xếp hạng khách sạn • 1 sao 12 18,46% 333 18,50% • 2 sao 3 4,62% 112 6,22% • 3 sao 4 6,15% 281 15,61% • 4 sao 2 3,08% 165 9,17% 3. Quy mô khách sạn • Dưới 10 phòng 12 18,46% 500 27,78% • Từ 10 đến 19 phòng 28 43,08% 395 21,94% • Từ 20 đến 50 phòng 20 30,77% 533 29,61% • Trên 50 phòng 5 7,69% 382 21,22% “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Xét về cơ cấu khách sạn cho thấy năm 2010 trong số 65 khách sạn đã có 21 khách sạn được xếp hạng, chiếm tỷ lệ 32,31%. Tuy nhiên, trong số khách sạn được xếp hạng thì có tới 57,14% khách sạn 1 sao. Khách sạn được xếp hạng cao nhất, khách sạn 4 sao, chỉ chiếm chưa tới 10%. Điều này nói lên được chất lượng khách sạn không cao. Xét về quy mô, nhìn chung hệ thống khách sạn toàn tỉnh ở quy mô vừa và nhỏ, có tới 40 khách sạn, chiếm tỷ lệ 61,54%, có quy mô dưới 20 phòng. Một phần cũng do nhu cầu về khách sạn chưa cao, vì thế mà việc đầu tư phát triển hệ thống khách sạn chưa được quan tâm. Tuy nhiên, cùng với những dự án đầu tư lớn vào du lịch cũng như cùng với sự phát triển về kinh tế của Quảng Ngãi, vì thế mà một số dự án về khách sạn cao cấp tại Quảng Ngãi đã được đầu tư vào Quảng Ngãi như 46
  • 47. Biểu đồ 2.5: Công suất sử dụng phòng tại các cơ sở lưu trú Quảng Ngãi trong giai đoạn 2006 đến 2010 “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Công suất sử dụng phòng tại các cơ sở lưu trú vẫn còn thấp, bình quân chỉ dao động trong khoảng 49% đến 60%. Vì du lịch Quảng Ngãi còn quá ít những lễ hội cũng như các sự kiện thật sự thu hút khách du lịch nên tình trạng khan hiếm phòng vào các dịp lễ hội thường không xảy ra. Tuy công suất sử dụng phòng qua các năm tương đối ổn định nhưng có một sự chênh lệch lớn giữa các cơ sở lưu trú, đối với các khách sạn lớn có uy tín thì lượng khách luôn đạt ở mức cao, còn đối với các cơ sở đạt chuẩn tối thiểu hoặc chưa đạt chuẩn thì công suất sử dụng phòng thấp hơn nhiều. Liên tiếp hai năm 2008 – 2009, khách sạn đạt hiệu quả cao, công suất sử dụng phòng luôn đạt trên 90%; chất lượng dịch vụ của khách sạn không ngừng được hoàn thiện, phục vụ tốt các nhu cầu của khách hàng [42]. Bảng 2.11: Doanh thu dịch vụ lưu trú Quảng Ngãi giai đoạn 2007 - 2010 Đơn vị tính: triệu VND, % Năm 2007 2008 2009 2010 Doanh thu DVLT (triệu VND) 36.814 53.455 49.726 68.726 Tổng doanh thu du lịch (triệu VND) 120.660 156.240 170.800 215.000 47
  • 48. “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Về doanh thu, như đã phân tích ở doanh thu,vì đa số khách du lịch kết hợp với công việc nên du khách chi khá nhiều cho dịch vụ lưu trú, chỉ sau dịch vụ ăn uống. Qua bảng trên ta thấy doanh thu từ dịch vụ lưu trú tăng đều qua các năm. Năm 2008, mức doanh thu từ dịch vụ lưu trú tăng lên đến 45,21%, chiếm tỷ trọng 34,21% so với tổng doanh thu du lịch. Năm 2010, mức này tăng lên đến 38,21% so với năm 2009 và 28.57% so với năm 2008, chiếm tỷ trọng 31,97% so với tổng doanh thu du lịch. Tuy nhiên, nếu xét về tỷ trọng thì doanh thu từ dịch vụ lưu trú có phần giảm đi tuy là không nhiều không đều qua các năm. Điều đó một phần là do các cơ sở lưu trú chưa thật sự phát triển cùng với nhịp độ phát triển của kinh tế Quảng Ngãi cũng như du lịch Quảng Ngãi. Bảng 2.12: So sánh cơ sở lưu trú du lịch Quảng Ngãi với một số trọng điểm du lịch miền Trung Đơn vị tính: Phòng STT Chỉ tiêu 2000 2005 2006 Tăng trưởng (%) 2000- 2005 2005- 2006 2000- 2006 1 Quảng Ngãi 470 902 1100 17,23 21,95 18,61 2 Thừa Thiên Huế 2.250 3.800 4.500 11,05 18,42 12,25 3 Đà Nẵng 2.281 2.343 2.600 0,54 10,97 2,21 “Nguồn: Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch” Qua bảng trên ta thấy số lượng phòng lưu trú của Quảng Ngãi thấp hơn nhiều so với hai trọng điểm du lịch trong Vùng KTTĐ miền Trung là Thừa thiên Huế và Đà Nẵng. Cụ thể, năm 2006 đạt 1.100 phòng so với Đà Nẵng (2.600 phòng) và Thừa Thiên Huế (4.500 phòng). Nếu xét tỷ trọng, trong tổng số phòng của Vùng KTTĐ miền Trung, số phòng lưu trú của Quảng Ngãi chỉ chiếm dưới 13% (12,21%) và so với Việt Nam thì chỉ tiêu này chưa đạt tới 1%. Đây là chỉ tiêu rất thấp chưa tương xứng với tiềm năng và vị trí của Quảng Ngãi trong Vùng KTTĐ miền Trung cũng như Việt Nam. 48
  • 49. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng phòng lưu trú của Quảng Ngãi lại được xếp thứ nhất trong Vùng KTTĐ miền Trung. Cụ thể, giai đoạn 2000 – 2005, trong khi tốc độ tăng trưởng phòng lưu trú của Quảng Ngãi là 17,23% thì con số này ở Thừa Thiên Huế là 11,05% và Đà Nẵng là 0,54%. Nếu so sánh chỉ tiêu này với cả nước thì chỉ tiêu này cũng cao hơn. Điều này cho thấy, Quảng Ngãi đang thu hút nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đây là điều kiện thuận lợi cho Quảng Ngãi thu hút khách du lịch nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng trong thời gian sắp đến. 1.3. Về việc xây dựng, mở rộng và nâng cấp chất lượng cơ sở ăn uống và các tiện nghi phục vụ du lịch quốc tế Dịch vụ ăn uống cũng là một trong những dịch vụ có tầm ảnh hưởng đến du lịch Quảng Ngãi. Các cơ sở ăn uống của Quảng Ngãi bao gồm nhà hàng, quán ăn nhanh, coffee-shop,…. Các cơ sở này có thể nằm ở các cơ sở lưu trú nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp và giao lưu của khách đang lưu trú tại các khách sạn. Ngoài ra, các cơ sở ăn uống cũng nằm ở độc lập bên ngoài các cơ sở lưu trú, ở các bãi biển, ở các điểm tham quan du lịch,…nhằm phục vụ các đối tượng khách khác nhau, là khách du lịch cũng như các tầng lớp dân cư địa phương Biểu đồ 2.6: Số lượng nhà hàng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2006 đến 2010 “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin 49
  • 50. kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Qua biểu đồ ta thấy số lượng nhà hàng ở Quảng Ngãi qua các năm nằm ở con số tương đối thấp, cụ thể, năm 2006 số nhà hàng của Quảng Ngãi là 22 nhà hàng, đến năm 2010 thì số nhà hàng của Quảng Ngãi cũng không tăng lên nhiều so với năm 2010, chỉ có 31 nhà hàng. Đồng thời, ta cũng thấy được tốc dộ tăng trưởng của số chỗ ngồi có xu hướng giảm đi trong giai đoạn 2006 – 2010, năm 2007 tốc độ tăng trưởng của chỗ ngồi là 10,21% so với năm 2006, nhưng qua các năm sau đó tốc độ tăng trưởng của số chỗ ngồi không bao giờ vượt qua được 10%, cụ thể năm 2010 tốc độ tăng trưởng của số chỗ ngồi trong các nhà hàng chiếm 7,2% so với năm 2009. Điều này một phần đã nói lên được chất lượng của dịch vụ ăn uống còn thấp, chưa thật sự phát triển và được tỉnh quan tâm đầu tư phát triển. Biểu đồ 2.7: Cơ cấu doanh thu theo dịch vụ du lịch của Quảng Ngãi trong giai đoạn 2006 đến 2010 “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Có thể nói, dịch vụ ăn uống là một lĩnh vực khiến du khách tiêu tốn nhiều nhất khi đến Quảng Ngãi. Vì thế, nó đã góp phần đáng kể vào việc tăng doanh thu tỉnh nhà. Cụ thể, giai đoạn 2006 - 2010, doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm khoảng 54,73%, hơn tất cả các dịch vụ du lịch khác cộng lại. Con số rất lớn trên cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển dịch vụ ăn uống, đặc biệt trong tình trạng hiện 50
  • 51. nay, đa số các cơ sở phục vụ ẩm thực đều là nhỏ lẻ và tự phát. Tuy chiếm tỷ lệ doanh thu cao nhưng như các dịch vụ khác, đa số các cơ sở hoạt động đều ít có khả năng phục vụ khách du lịch quốc tế. Nhìn chung, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại Quảng Ngãi chủ yếu là hình thức kinh doanh hộ gia đình, cá thể, vốn đầu tư ít nên chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của du khách. Ngoài những dịch vụ trên thì có thể kể đến những dịch vụ bổ sung khác như dịch vụ mua sắm hàng lưu niệm, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ vận chuyển du lịch,...Qua biểu đồ 2.7 ta thấy tỷ lệ chi tiêu của du khách vào lĩnh vực này là thấp nhất. Điều này có lẽ dễ hiểu bởi lẽ Quảng Ngãi chưa phát triển tốt của dịch vụ bổ sung. Tuy nhiên, đây sẽ là một nguồn doanh thu không nhỏ nếu ta biết khai thác và phát triển. Về dịch vụ vận tải, vì ở Quảng Ngãi không có sân bay nên đa số các tuyến vận chuyển đường bộ đều do các doanh nghiệp du lịch lữ hành ở các tỉnh lân cận như Thừa Thiên Huế hoặc Đà Nẵng đảm nhận. Đây là một trong lý do khiến cho doanh thu từ dịch vụ vận chuyển còn rất thấp so với các dịch vụ khác, chiếm 0.94%, gần thấp nhất trong tất cả các dịch vụ. Về dịch vụ mua sắm, qua biểu đồ 2.7 ta thấy dịch vụ này là một trong những dịch vụ góp phần vào doanh thu du lịch ở mức thấp, chiếm 2,11%. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, dịch vụ này đang được quan tâm đầu tư. Cụ thể là các trung tâm mua sắm như siêu thị Co-op Mart, trung tâm mua sắm Việt Trung, các gian hàng bán đồ lưu niệm tại các địa điểm tham quan. Về dịch vụ vui chơi giải trí, hiện nay, công tác quy hoạch và đầu tư phát triển dịch vụ vui chơi giải trí chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành. Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng phát triển các khu, điểm du lịch triển khai thực hiện còn chậm và có quy mô nhỏ. Các tuyến điểm và dịch vụ chưa thực sự phong phú, có nơi thì quá tải, nơi lại vắng khách, chưa phát huy hết năng lực để tổ chức chương trình du lịch dài ngày trong tỉnh, nên hiệu quả kinh tế còn thấp. 2. Tình hình phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động du lịch quốc tế 51
  • 52. Như đã đề cập ở Chương 1, lực lượng lao động là một trong những yếu tố quyết định chất lượng hoạt động của dịch vụ du lịch. Trong những năm qua, cùng với tốc độ phát triển của ngành du lịch tỉnh nhà, lực lượng lao động trong ngành du lịch Quảng Ngãi cũng có những bước phát triển không ngừng cả số lượng và chất lượng. Theo thống kê của Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch, đến năm 2010 tổng số lao động trong lĩnh vực du lịch, nhà hàng, khách sạn của tỉnh có trên 4.000 lao động (trong đó lao động trực tiếp trên 900 người và tỷ lệ đã được qua đào tạo chỉ xấp xỉ 40% cả đại học, trung cấp và sơ cấp, tập trung hầu hết tại doanh nghiệp lớn) [41]. Biểu đồ 2.8: Số lượng lao động trong ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2001 đến 2010 “Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và trang mạng thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi [26], [27]” Giai đoạn từ năm 2001 tới 2005 số lượng lao động tăng trung bình là 7,4%, năm 2001 với mức 503 lao động năm 2005 tăng lên 668 lao động. Kể từ năm sau 2005 ngành du lịch Quảng Ngãi được quan tâm đầu tư nhiều hơn, đặc biệt là các dịch vụ du lịch. Vì thế, lực lượng lao động trong ngành du lịch đã tăng lên nhiều, với mức tăng trung bình là 7,17% trong giai đoạn 2006 – 2010. Cụ thể, chỉ tính lực lượng trực tiếp phục vụ du lịch đến năm 2006 toàn ngành có 512 người, trong đó nữ 269 người (chiếm 52,54%). Đến năm 2010 con số này tăng lên 971 người, trong đó 52
  • 53. nữ 663 người (chiếm 68,28%). Qua những con số trên ta thấy được lợi ích xã hội của ngành du lịch trong việc góp phần giải quyết vấn đề lao động cho địa phương đặc biệt là lực lượng lao động nữ. Biểu đồ 2.9: Cơ cấu nguồn nhân lực du lịch Quảng Ngãi trong giai đoạn 2001 - 2005 và 2006 – 2009 “Nguồn: Cục Thống Kê tỉnh Quảng Ngãi, Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch [3], [26], [27]” Qua biểu đồ trên, có thể thấy trong cơ cấu nguồn nhân lực không có nhiều sự thay đổi qua các giai đoạn. Cụ thể, ở giai đoạn 2001 – 2005 lao động chưa qua đào tạo chiếm 23% so với tổng số lao động trong ngành, qua giai đoạn 2006 – 2010 con số này cũng không thay đổi vẫn là 23%. Giai đoạn 2001 – 2005 tỷ lệ lao động đại học và trên đại học chiếm một tỷ lệ thấp, nhưng bù lại tỷ lệ lao động cao đẳng và trung cấp lại chiếm tỷ lệ cao nhất, ở mức 33%. Tuy nhiên, đa số lực lượng lao động này tập trung trong ngành thuộc doanh nghiệp nhà nước. Còn đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thì hầu hết chưa được qua đào tạo nghiệp vụ, tại các cơ sở lưu trú, nhà hàng còn rất nhiều hạn chế trong quy trình phục vụ khách, chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu dựa vào các kinh nghiệm thực tiễn, do đó chưa thể đảm bảo phục vụ khách theo đúng tiêu chuẩn. Trong giai đoạn tiếp theo 2006 - 2010, trong cơ cấu nguồn lực du lịch có những thay đổi tích cực góp phần làm tăng chất lượng nguồn nhân lực du lịch của tỉnh, giai đoạn 2001 – 2005 lao động đại học và trên đại học chỉ chiếm ở mức 19% 53
  • 54. so với tổng lao động của ngành thì giai đoạn 2006 – 2010 đã tăng lên 31%. Có được sự gia tăng này cũng một phần do số lao động trong các đơn vị khách sạn, nhà hàng, lữ hành phần lớn đều được đào tạo tốt về chuyên môn nghiệp vụ. Đặc biệt trong giai đoạn 2006 – 2010 lực lượng lao động đại học và trên đại học chiếm một tỷ lệ cao nhất, ở mức 31%, đây thật sự là một tín hiệu vui cho du lịch Quảng Ngãi để có thể phục vụ khách theo đúng tiêu chuẩn, đặc biệt là khách du lịch quốc tế Bảng 2.14: So sánh lao động ngành du lịch Quảng Ngãi với một số trọng điểm miền Trung STT Chỉ tiêu 2000 2005 2006 Tăng trưởng (%) 2000- 2005 2005- 2006 2000- 2006 1 Quảng Ngãi 516 668 707 6,23 5,84 6,08 2 Thừa Thiên Huế 3.375 5.700 6.750 11,05 18,42 12,25 3 Đà Nẵng 2.737 2.812 3.120 0,54 10,97 2,21 “Nguồn: Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch” So với Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng tính đến năm 2006 số lượng lao động của Quảng Ngãi chỉ đạt 707 lao động so với 6.750 lao động của Thừa Thiên Huế và 3.120 lao động của Đà Nẵng. Nếu như so sánh với cả nước và Vùng KTTĐ miền Trung, năm 2006, số lượng lao động của Quảng Ngãi mới đạt 0,21% (so với cả nước) và 5,43% so với Vùng KTTĐ miền Trung; năm 2005 đạt 0,32% so với cả nước và 7,25% so với Vùng KTTĐ miền Trung. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng số lượng lao động ngành du lịch của Quảng Ngãi có dấu hiệu giảm đi nhưng không nhiều. Cụ thể, giai đoạn 2005 – 2006 tốc độ tăng trưởng bình quân số lượng lao động của Quảng Ngãi là 6,23%, nhưng sang năm 2006 tốc độ tăng trưởng số lượng lao động lại giảm đi, chỉ còn đạt ở mức 5,84%. Đây cũng được coi là một dấu hiệu cho thấy du lịch Quảng Ngãi chưa thật sự đầu tư nhiều vào lao động trong lĩnh vực du lịch. 3. Công tác tuyên truyền quảng bá Trong thời gian qua công tác tuyên truyền quảng bá du lịch đã được tỉnh chú trọng, ngày càng đầu tư nhiều kinh phí và cũng đã có những kết quả hết sức khả 54
  • 55. quan. Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng công tác tuyên truyền quảng bá du lịch vẫn còn những mặt hạn chế Thứ nhất, tháng 12 năm 2010 Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Quảng Ngãi phát hành DVD giới thiệu du lịch Quảng Ngãi là “Du lịch Quảng Ngãi – Cơ hội mới”. Ngoài ra, Trung tâm cũng cho phát hành Bản đồ du lịch Quảng Ngãi và Cẩm nang du lịch Quảng Ngãi (được dịch ra 3 thứ tiếng là Anh, Trung Quốc và Việt Nam) được bày bán trên khắp các hiệu sách trong tỉnh và được phát miễn phí tại các hội chợ, triển lãm về du lịch. Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, khi điều tra khách du lịch quốc tế về sự nhận biết của họ đối với DVD và 2 ấn phẩm trên, thì 100% người được hỏi đều trả lời rằng chưa từng được biết đến chúng. Một thực tế là DVD hiện chỉ được sử dụng trong các kỳ hội chợ, triển lãm để giúp quảng bá cho du lịch Quảng Ngãi. Tương tự thế Bản đồ và Cẩm nang du lịch Quảng Ngãi ngoài việc sử dụng giống như DVD, còn sẽ được phát miễn phí cho các phái đoàn khách lớn đến Quảng Ngãi, miễn là có Công văn hướng dẫn của Sở về việc phát này. Một điểm đáng lưu ý nữa là theo thông tin từ phía Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Quảng ngãi thì có trên 65% khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi lưu trú tại các khách sạn như khách sạn Trung Tâm, Mỹ Trà, Sông Trà…các khách sạn này nằm ở cuối và đầu đường Quang Trung; mà trong khi các nhà sách ở thành phố Quảng Ngãi lại tập trung chủ yếu trong khu vực trung tâm thành phố, nằm cách xa các địa điểm này. Vì lẽ đó mà khách du lịch không có nhiều điều kiện tiếp xúc với 2 ấn phẩm này. Cũng thông qua khảo sát thực tế tại các khách sạn mà khách du lịch quốc tế hay lưu trú thì không thấy một ấn phẩm du lịch nào tại quầy tiếp tân. Hiện nay, với các ấn bản 2010, Bản đồ du lịch Quảng Ngãi được bán với giá là 15.000 đồng và Cẩm nang du lịch Quảng Ngãi được bán với giá là 42.000 đồng. Thứ hai, Quảng Ngãi tham gia nhiều hội chợ, triển lãm chuyên đề về du lịch tại triển lãm du lịch quốc tế ITE tại thành phố Hồ Chí Minh và các hội chợ trong nước như Hà Nội, Huế, Quảng Nam…và gần đây nhất là tham gia Ngày hội du lịch thành phố Hồ Chí Minh 2010 vào giữa tháng 4 năm nay. Đặc biệt, ngành đã chủ động phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và của 55
  • 56. tỉnh như: Báo Quảng Ngãi, Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Ngãi, Tạp chí Du lịch và Giải trí, Tạp chí Du lịch TP. Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh…cùng một số báo điện tử thường xuyên cập nhập, giới thiệu, cung cấp nhiều thông tin, hình ảnh hấp dẫn về du lịch Quảng Ngãi II. Điều tra cảm nhận của khách du lịch quốc tế 1. Đối tượng nghiên cứu Khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi 2. Phương pháp thu thập mẫu nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp gửi bảng câu hỏi để khách tự điền vào. Sau khi cân nhắc số lượng khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi vào thời điểm khảo sát là 10/04 – 24/04/2010, và vì điều kiện về không gian và thời gian để viết khóa luận, người viết quyết định chọn kích thước mẫu là 100. 3. Thiết kế bảng câu hỏi Bảng câu hỏi được thiết kế theo các bước sau: Bước 1: Từ thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi, xác định những thông tin cần thiết để xây dựng bảng câu hỏi Bước 2: Sau khi thiết kế bảng câu hỏi sẽ tiến hành phỏng vấn thử vài người xem người được phỏng vấn có hiểu bảng câu hỏi hay không. Sau đó, người viết hoàn chỉnh bảng câu hỏi Bước 3: Tiến hành khảo sát 4. Báo cáo kết quả Tổng số phiếu phát ra: 100. Tổng số phiếu thu vào: 85. Sau khi làm sạch dữ liệu, tổng số mẫu được chọn là 83 Bảng khảo sát được chia thành 2 phần riêng biệt nên người viết sẽ báo cáo dựa trên 2 phần đó. • Thông tin về chuyến du lịch ở Quảng Ngãi Thứ nhất, tiêu chí số lần đến Quảng Ngãi của du khách. Trong 83 mẫu khảo sát, có tới 81,93% trả lời rằng đây là lần đầu tiên họ đặt chân đến Quảng Ngãi, 7,23% đến lần thứ 2, 3,61% đến lần thứ 3, 7,23% trả lời rằng họ đến Quảng Ngãi 56
  • 57. trên 3 lần. Có một số khách quay lại Quảng Ngãi lần thứ 2 hay nhiều hơn thế chủ yếu là do thăm thân hoặc là công việc. Quảng Ngãi có tiềm năng thu hút khách du lịch và giữ chân họ nhưng sức hút đó thật sự chưa lớn, chưa thật sự đủ ấn tượng để du khách quốc tế mong muốn quay trở lại Quảng Ngãi để khám phá, thưởng ngoạn và tìm hiểu thêm về vùng đất này. Thứ hai, với mục đích đến Quảng Ngãi, tất cả 83 người tham gia trả lời bảng câu hỏi đều trả lời rằng họ đến Quảng Ngãi với mục đích du lịch, và bên cạnh đó kèm theo các mục đích khác. 16 khách du lịch quốc tế đến vì công việc, chỉ có 7 du khách đến với mục đích thăm người thân/ bạn bè. Ngoài ra, hiện nay còn xuất hiện thêm xu hướng mới là du lịch khám phá, có tới 19 khách du lịch quốc tế đến vì mục đích khám phá. Vì trong khoảng thời gian khảo sát không có triển lãm hay lễ hội gì nên không có ai chọn đến Quảng Ngãi vì mục đích này. Thứ ba, theo hình thức tổ chức chuyến đi thì có một con số khá cao, khoảng 84,34% người, trả lời rằng tự bản thân họ tổ chức thông qua việc lên mạng tìm kiếm thông tin hoặc sách Lonely Plannet. 7,23% trả lời rằng công ty tổ chức cho họ và chỉ có 8,43% là do công ty du lịch. Trong đó, hầu như gần 100% khách đều đã qua các tỉnh lân cận như Đà Nẵng, Huế hay là Đà Nẵng. Do vậy, cần khai thác nhiều hơn nữa lượng khách đến từ các vùng lân cận thông qua việc liên kết vùng trên cơ sở phát huy những thuận lợi của Quảng Ngãi. Thứ tư, về số ngày và nơi lưu trú tại Quảng Ngãi, có tới 77,11% người lưu trú 1 – 2 ngày, đa phần là 2 ngày. 16,87% trả lời là chỉ ở lại 1 ngày và 6,1% trả lời là ở nhiều hơn 2 ngày. Phần đông các du khách đều cho rằng họ không biết làm gì ở Quảng Ngãi ngoài việc đi tắm biển và đi dạo dọc bờ biển, gần như họ không biết những địa điểm vui chơi hoặc tham quan gì để thu hút họ ở lại lâu hơn. Về nơi lưu trú, hầu như khách đều chọn khách sạn làm nơi lưu trú và thường là các khách sạn có đầy đủ tiện nghi, thuận lợi giao thông. Có tới 56,63% chọn khách sạn 1 – 2 sao và 26,5 % chọn khách sạn 3 – 4 sao, chỉ có 16,87% chọn nhà nghĩ. Điều này phảnh ánh được lưu trú là một dịch vụ quan trọng của du khách và chiếm một phần lớn trong tỷ trọng chi tiêu của họ. Về số tiền chi tiêu bình quân cho 1 ngày lưu trú của 57
  • 58. khách quốc tế ở Quảng Ngãi, khoảng tiền dao động nằm trong khoảng 400.000 – 1.400.000 đồng. Theo đó, số tiền chi tiêu bình quân là 683.000 đồng, đây thật sự là một số tiền chi tiêu thấp cho 1 ngày lưu trú của du khách quốc tế. Thứ năm, về những dịch vụ du khách. Việc đánh giá trên thang đo từ 1 – 5 với 1 là rất tốt và 5 là rất không tốt. Ta thấy các vấn đề sau đây có tỷ trọng về việc “không tốt” và “ rất không tốt” nằm ở mức cao: thông tin du lịch (79,52%), dịch vụ giải trí (43,37%), nơi ngắm cảnh (36,41%). Về các dịch vụ sẵn sàng chi tiêu thêm nhất nếu được cải thiện (chỉ lấy từ 1 đến 3) là mua sắm (77,12%), giải trí như các quán bar, câu lạc bộ, công viên…(74,71%), phương tiện đi lại (71,09%). Qua kết quả ta thấy các dịch vụ ăn uống lưu trú tương đối đáp ứng được du khách cần được phát huy và giữ gìn, tuy nhiên với các dịch vụ bổ sung như giải trí, thông tin du lịch, phương tiện đi lại và mua sắm có tới 71,09% người được khảo sát không thích nhất, vì thế, các dịch vụ này cần được cải thiện nhiều hơn nữa. Và thông qua khảo sát, có tới 51,81% số người được hỏi trả lời rằng Quảng Ngãi nên lấy du lịch biển làm thế mạnh để thu hút khách du lịch quốc tế. Thứ sáu, về nguồn thông tin giúp du khách quốc tế biết đến Quảng Ngãi, thì có 49,39% số người trả lời rằng họ biết đến Quảng Ngãi thông qua sách Lonely Plannet. Vì thời gian khảo sát không rơi vào mùa vụ du lịch nên khách đến Quảng Ngãi thời gian này, như đã nói ban đầu, là khách đi riêng lẻ, tự tổ chức tour, vậy nên người bạn đước đáng tin cậy của họ là cuốn sách là một điều tất nhiên. Nhưng thật sư đáng buồn vì nếu như nói về Tp. Hồ Chí Minh, Nha Trang, Huế…thì có đến mấy chục trang nhưng nói về Quảng Ngãi thì chỉ vỏn ven 4- 6 trang. Bên cạnh đó, có những dấu hiệu đáng mừng là mặc dù không biết vui chơi như thế nào ở Quảng Ngãi nhưng có tới 51,81% trả lời rằng họ sẽ quay trở lại Quảng Ngãi trong thời gian sắp tới và có tới 78,31% trả lời rằng họ sẽ giới thiệu cho bạn bè và người thân. • Thông tin cá nhân Trong số những người được khảo sát thì phần đông là khách quốc tế từ thị trường Đông Bắc Á, chiếm 26,5%, tiếp sau đó là Pháp, chiếm 21,69%, sau đó là Mỹ, chiếm 19,28%. Bản khảo sát được thực hiện với 44 người nam và 39 người nữ 58
  • 59. với độ tuổi chủ yếu là 30 – 40 (37,35%) và dưới 30 (27,71%). III. Nhận xét chung 1. Thành tựu Từ những phân tích về tình hình thu hút khách du lịch quốc tế và dịch vụ du lịch quốc tế của tỉnh Quảng Ngãi, có thể khái quát những kết quả đạt được như sau: Thứ nhất, về kinh tế, những kết quả đạt được từ việc thu hút khách du lịch quốc tế là một dấu hiệu đáng mừng cho du lịch Quảng Ngãi. Giai đoạn 2001 - 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về khách du lịch quốc tế đạt 18,05%. Nhờ đó doanh thu của ngành cũng không ngừng tăng lên. Giai đoạn năm 2005 đến năm 2010, doanh thu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 22,59%, qua đó góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách của tỉnh. Thứ hai, về xã hội, ngày càng nhiều khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi cũng đồng nghĩa với ngày càng nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi và trao đổi nét đẹp văn hóa giữa du khách quốc tế và người dân địa phương, đặc biệt là những lớp trẻ thanh thiếu niên. Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch quốc tế, đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều người dân trong tỉnh. Mặt khác, nó cũng tạo cơ hội cho những lao động làm trong các lĩnh vực dịch vụ tương ứng trau dồi và hoàn thiện kỹ năng phục vụ đúng tiêu chuẩn quốc tế. Thứ ba, dịch vụ du lịch quốc tế cũng có những bước khởi sắc cả về quy mô và chất lượng. Thể hiện qua các chỉ tiêu doanh thu từ các dịch vụ trên địa bàn, đặc biệt là dịch vụ lưu trú, ăn uống đều có xu hướng tăng qua các năm, năm sau cao hơn năm trước. Chất lượng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế của tỉnh ngày càng được nâng cao, nhiều cơ sở lưu trú được xây dựng. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, những khách sạn đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế được quan tâm đầu tư và xây dựng. Mặt khác, dịch vụ ăn uống cũng tỏ rõ thế mạnh về ẩm thực của du lịch Quảng Ngãi. Thứ tư, các định hướng cơ bản của quy hoạch: về loại hình và sản phẩm du lịch, về không gian - tuyến – cụm du lịch đã được phát triển đúng, bước đầu khơi dậy tiềm năng về tài nguyên du lịch của tỉnh. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tăng lên đáng kể, nhất là trong lĩnh vực lưu trú. Các hoạt động đầu tư kinh 59
  • 60. doanh du lịch cơ bản theo các phương án quy hoạch, chưa có tình trạng lộn xộn, ồ ạt, phá vỡ cảnh quan và môi trường gây hậu quả về lâu dài cho du lịch nói riêng, kinh tế xã hội nói chung. Thứ năm, cơ sở hạ tầng, vật chất - kỹ thuật hỗ trợ phát triển du lịch quốc tế và dịch vụ du lịch quốc tế từng bước được đầu tư, nâng cao và phát triển. Mạng lưới giao thông đường bộ, du lịch đường thủy, mạng lưới bưu chính viễn thông, điện nước và đặc biệt là hệ thống vệ sinh môi trường đã và đang được đầu tư, góp phần tạo dựng hình ảnh một vùng đất hiện đại, thân thiện với môi trường và du khách. Thứ sáu, cùng với sự phát triển các dịch vụ du lịch Quảng Ngãi thì công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ trong các cơ sở dịch vụ quốc tế cũng được triển khai và thu được nhiều sự đồng tình ủng hộ. Người lao động được trau dồi những kỹ năng chuyên môn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Người dân địa phương cũng có cơ hội tiếp cận những kiến thức bổ ích để giao tiếp và ứng xử với khách quốc tế. Thứ bảy, về hoạt động thu hút và xúc tiến đầu tư, ngày càng có nhiều dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch, đa số tập trung vào khai thác các điểm du lịch còn ở dạng tiềm năng và lĩnh vực dịch vụ giải trí, lưu trú. Đặc biệt, sự xuất hiện của dự án kết hợp với việc bảo vệ môi trường là một tín hiệu đáng mừng cho mục tiêu phát triển du lịch bền vững. Những kết quả chủ yếu nêu trên đạt được nhờ những nguyên nhân: Thứ nhất, về đường lối chỉ đạo, ngành du lịch có được sự quan tâm, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Tổng cục Du lịch. Sở Thương mại và Du lịch đã triển khai thực hiện “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Ngãi thời kỳ 2001 – 2010 và định hướng năm 2020”, “Chương trình phát triển du lịch Quảng Ngãi giai đoạn 2007 - 2010 và định hướng năm 2015”. Đặc biệt, Công tác quản lý Nhà nước về du lịch được tăng cường, nhất là một số mặt quan trọng: Công tác quy hoạch; tổ chức và bộ máy; thanh kiểm tra chuyên ngành; công tác nghiên cứu, xúc tiến, quảng bá du lịch; công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Thứ hai, về phía nhân dân, hoạt động dịch vụ du lịch ngày càng được người dân quan tâm. Nhờ chính sách đổi mới, thông thoáng đã tạo điều kiện các thành 60
  • 61. phần kinh tế, nhân dân tham gia đầu tư vào phát triển hoạt động du lịch, từng bước đẩy mạnh xã hội hóa du lịch, nâng cao trách nhiệm của cộng đồng và du khách trong quản lý và khai thác các tài nguyên du lịch. Thứ ba, về nguồn nhân lực, sự nỗ lực phấn đấu của lực lượng cán bộ - công nhân viên và người lao động trong toàn ngành đã nâng dần chất lượng phục vụ, nghiệp vụ chuyên môn và đã tác động tích cực đến quá trình phát triển. Thứ tư, về nguồn lực tài chính, tỉnh luôn được sự quan tâm của Tổng cục Du lịch hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng du lịch từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia. Đồng thời chính sự mở rộng giao lưu, trao đổi học tập với ngành du lịch các tỉnh, các đơn vị lữ hành quốc tế ở thành phố Hồ Chí Minh đã giúp cho việc sử dụng vốn có nhiều hiệu quả. 2. Những mặt hạn chế Thứ nhất, về kinh tế, số lượng du khách đến tham quan du lịch với tốc độ tăng hàng năm cao, nhưng doanh thu đối với khách tăng không đáng kể. Chi tiêu bình quân trên một lượt du khách quốc tế cũng không ổn định. Thứ hai, về mặt xã hội, tại các khu, điểm tham quan du lịch vẫn còn xảy ra tình trạng "cò mồi", tranh giành khách, cảnh buôn bán tự do nơi tham quan, đã làm cho môi trường du lịch thiếu văn minh, lịch sự, việc giải quyết và xử lý chưa dứt điểm. Thứ ba, về dịch vụ du lịch, các khu điểm, tham quan du lịch, giải trí xây dựng còn chậm so với yêu cầu để đón đầu so với các tỉnh trong vùng. Tổ chức tuyến điểm và các dịch vụ bổ sung chưa thật phong phú, hấp dẫn và đổi mới. Có nơi khách đến quá tải, có nơi lại ít khách. Chưa phát huy năng lực, điều kiện đã tổ chức chương trình chương trình dài ngày, từ đó lượng khách du lịch đông nhưng doanh thu lại thấp. Thứ tư, về đội ngũ lao động, tỉnh vẫn chưa đáp ứng được kịp thời yêu cầu phục vụ khách, nhất là đối với khách du lịch quốc tế. Nghiệp vụ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ còn nhiều hạn chế. Trình độ cán bộ công nhân viên, người lao động trong ngành chưa đồng đều, nhất là ở khu vực tư nhân ít được đào tạo, bồi 61
  • 62. dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn. Một số tồn tại trên xuất phát từ các nguyên nhân cần khắc phục Thứ nhất, về đường lối chỉ đạo, công tác xúc tiến du lịch của ta chưa được đẩy mạnh, chưa đi vào chiều sâu và chưa nhắm đến các thị trường mục tiêu. Ta chưa phối hợp tốt các tổ chức cũng như cung cấp thông tin cần thiết hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế, nên dù lượng khách tăng cao mà hiệu quả không cao. Trình độ năng lực cán bộ quản lý, điều hành chương trình còn hạn chế, các sản phẩm du lịch chưa được đa dạng hóa nên việc tổ chức các chương trình dài ngày trong tỉnh chưa thực hiện được. Thứ hai, về phía nhân dân, hoạt động dịch vụ du lịch còn tự phát và nhỏ lẻ. Người dân chưa thực sự phối hợp với sự quản lý của các ngành, các cấp trong các hoạt động xung quanh và trong các khu, điểm tham quan du lịch. Vì vậy, nhiều hoạt động dịch vụ tự phát gây mất trật tự, mỹ quan, không phù hợp theo quy hoạch phát triển du lịch sinh thái của ngành. Mặt khác, các khách sạn không thường xuyên nâng cấp, cải tiến trang thiết bị nên công suất khai thác phòng còn thấp. Các thành phần kinh tế đầu tư còn manh mún, quy mô nhỏ, chỉ đáp ứng thời gian trước mắt. Thứ ba, về nguồn lao động, trình độ học vấn của khu vực còn hạn chế. Người dân trong vùng còn khó khăn trong việc tiếp cận những kỹ năng cần thiết, đặc biệt là kỹ năng ngoại ngữ. Thứ tư, về nguồn lực tài chính, biện pháp huy động vốn, kêu gọi đầu tư chưa kịp thời để động viên mọi nguồn vốn, mọi thành phần kinh tế tham gia. Tiểu kết Chương 2 Trong Chương 2, người viết phân tích thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi thông qua các chỉ tiêu lượt khách quốc tế đến Quảng Ngãi, cơ cấu khách du lịch quốc tế theo mục đích chuyến đi và theo thị trường, bình quân ngày lưu trú, doanh thu kinh doanh du lịch quốc tế, cơ sở lưu trú, thời gian lưu trú và mức chi tiêu trung bình. Bên cạnh đó, người viết cũng phân tích để phản ánh rõ việc thu hút khách du lịch quốc tế của Quảng Ngãi. Mặt khác, người viết cũng so sánh các chỉ tiêu này với các tỉnh trọng điểm khu vực miền Trung, đồng thời người 62
  • 63. viết cũng tham khảo ý kiến đánh giá của du khách quốc tế đến tham quan du lịch. Từ đó người viết đưa ra những nhận xét về những kết quả đạt được và những hạn chế. Đây chính là những cơ sở cho việc đề xuất giải pháp trong Chương 3 nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi trong thời gian đến. 63
  • 64. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN QUẢNG NGÃI GIAI ĐOẠN 2011-2020 I. Triển vọng hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 – 2020 1. Một số dự báo về triển vọng phát triển du lịch ở Quảng Ngãi 1.1. Các cơ sở tính toán dự báo Dự báo mức độ tăng trưởng của ngành du lịch Quảng Ngãi trong những năm tới được dựa trên những căn cứ cụ thể sau: - Căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020, trong đó du lịch và dịch vụ được đánh giá là ngành kinh tế quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Căn cứ vào vị trí của Quảng Ngãi trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam, cũng như trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đến 2010 và định hướng đến năm 2020. - Căn cứ vào tiềm năng du lịch của tỉnh (cả về vị trí địa lý, tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn). - Căn cứ vào hiện trạng mức độ tăng trưởng của dòng khách quốc tế và nội địa đến Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung: vào hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. - Căn cứ vào các dự án đầu tư về du lịch và các ngành liên quan đến du lịch ở Quảng Ngãi và các tỉnh phụ cận đã được cấp giấy phép và các dự án trong kế hoạch kêu gọi vốn đầu tư. - Căn cứ vào xu hướng thị trường của dòng khách quốc tế đến Việt Nam trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 đã được Chính Phủ phê duyệt. Dự báo mức tăng trưởng của du lịch Quảng ngãi được tính theo 3 phương án: 64
  • 65. Phương án 1 (phương án thấp): Phương án này có khả năng đạt được ngay cả khi không có tác động lớn trong lĩnh vực đầu tư. Tuy nhiên, phương án này chưa phù hợp với định hướng phát triển du lịch của cả nước. Phương án 2 (phương án trung bình): Phương án này phù hợp với xu thế phát triển chung và đáp ứng được yêu cầu thực tại nên được chọn là phương án chủ đạo để tính toán. Phương án 3 (phương án cao): Phương án này có nhiều khả năng đạt được trong điều kiện thuận lợi của mối quan hệ quốc tế và khả năng đảm bảo cho việc đầu tư đồng bộ về kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên ngành, đặc biệt đầu tư vào những khu du lịch tổng hợp. 1.2. Dự báo về nhu cầu của khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2020 Bảng 3.1: Dự báo khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi so với vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020 Phương án Địa điểm Hạng mục 2010 2020 Phương án thấp Quảng Ngãi Tổng số lượt khách (ngàn) 25 140 Ngày lưu trú trung bình (ngày) 2,5 3,0 Tổng số khách (ngàn) 55 420 Vùng Bắc Trung Bộ Tổng số lượt khách (ngàn) 1.530 2.600 Ngày lưu trú trung bình (ngày) 3,0 3,4 Tổng số khách (ngàn) 4.600 8.800 Phương án chọn Quảng Ngãi Tổng số lượt khách (ngàn) 30 150 Ngày lưu trú trung bình (ngày) 2,5 3,0 Tổng số khách (ngàn) 75 450 Vùng Bắc Trung Bộ Tổng số lượt khách (ngàn) 1.770 3.030 Ngày lưu trú trung bình (ngày) 3,0 3,4 Tổng số khách (ngàn) 5.300 10.300 Phương án cao Quảng Ngãi Tổng số lượt khách (ngàn) 50 175 Ngày lưu trú trung bình (ngày) 2,5 3,0 Tổng số khách (ngàn) 125 525 65
  • 66. Vùng Bắc Trung Bộ Tổng số lượt khách (ngàn) 1.850 3.530 Ngày lưu trú trung bình (ngày) 3,0 3,4 Tổng số khách (ngàn) 3.300 7.500 “Nguồn: Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du lịch” 1.3. Dự báo về khả năng cung cấp dịch vụ du lịch quốc tế của các doanh nghiệp trong tỉnh giai đoạn 2011-2020 Bảng 3.2: Dự báo nhu cầu khách sạn cho khách du lịch ở Quảng Ngãi đến năm 2020 Phương án Địa điểm Nhu cầu cho từng đối tượng khách du lịch 2010 2020 Phương án thấp Quảng Ngãi Nhu cầu cho khách quốc tế 230 680 Nhu cầu cho khách nội địa 690 1.220 Tổng cộng 920 1.900 Vùng Bắc Trung Bộ Nhu cầu cho khách quốc tế 10.500 18.500 Nhu cầu cho khách nội địa 4.600 9.500 Tổng cộng 15.100 28.000 Phương án chọn Quảng Ngãi Nhu cầu cho khách quốc tế 280 750 Nhu cầu cho khách nội địa 777 1.329 Tổng cộng 1.057 2.079 Vùng Bắc Trung Bộ Nhu cầu cho khách quốc tế 12.100 21.700 Nhu cầu cho khách nội địa 4.700 10.200 Tổng cộng 16.800 31.900 Phương án cao Quảng Ngãi Nhu cầu cho khách quốc tế 290 1.100 Nhu cầu cho khách nội địa 885 1.600 Tổng cộng 1.175 2.700 Vùng Bắc Trung Bộ Nhu cầu cho khách quốc tế 12.700 25.300 Nhu cầu cho khách nội địa 5.000 10.500 Tổng cộng 17.700 35.800 “Nguồn: Viện Nghiên Cứu Phát Triển Du lịch” 2. Cơ hội và thách thức trong việc tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2020 66
  • 67. 2.1. Cơ hội Thứ nhất, đối với quốc tế Trong những năm gần đây có nhiều sự kiện không tốt làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động du lịch quốc tế. Cụ thể, tình hình khủng bố, thiên tai, chính trị bất ổn xảy ra ở một số nước có nhiều khu du lịch nổi tiếng trong khu vực ở Châu Á, chẳng hạn như Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc đã làm cho một bộ phận không nhỏ khách du lịch bắt đầu chuyển hướng đến một điểm đến khác trong khu vực, Việt Nam nói chung cũng như Quảng Ngãi nói riêng là một trong điểm đến đó. Tuy tình hình kinh tế thế giới khó khăn nhưng trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng ngành du lịch Châu Á vẫn được duy trì ở mức cao. Khách du lịch có xu hướng chọn Châu Á làm điểm đến du lịch. Trong tổng số 77 nước có báo cáo lên UNWTO, 60 nước có tốc độ tăng tích cực, trong đó 24 nước tăng trưởng 2 con số, đa số là các quốc gia châu Á, như Việt Nam, Singapore, Ấn Độ, Nhật Bản, Indonesia, Israel,… [45]. Tình hình này tạo cơ hội thuận lợi để du lịch Việt Nam mà trong đó có Quảng Ngãi tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế. Xu hướng giao lưu trao đổi văn hóa giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng gia tăng, vì thế mô hình du lịch kết hợp với tiếp cận và tìm hiểu nét đẹp truyền thống của địa phương ngày càng được ưa chuộng. Việt Nam nói chung và Quảng Ngãi nói riêng có cơ hội phát triển mô hình du lịch kết hợp với các làng nghề. Thứ hai, đối với trong nước Nền kinh tế vĩ mô được Nhà nước quan tâm duy trì ổn định, tạo tiền đề tốt để mọi ngành kinh tế phát triển, trong đó có lĩnh vực dịch vụ du lịch. Tư tưởng chủ đạo trong điều hành phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 là tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, trên cơ sở đó mà bảo đảm tăng trưởng kinh tế cao hơn cả về số lượng và chất lượng, đồng thời ngăn ngừa lạm phát cao trở lại. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu trong thông điệp nhân dịp năm mới 2010 như sau: “Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2009” [9]. Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Điều này sẽ thay đổi đáng kể tới chính sách, 67
  • 68. định hướng và quy hoạch cho phát triển của ngành giai đoạn 2011-2010 tầm nhìn 2030. Đây cũng là điều kiện rất thuận lợi để du lịch tiếp tục phát triển [46]. Sau chương trình kích cầu du lịch “Ấn tượng Việt Nam” đạt kết quả khá tốt vào năm 2009 và chương trình kích cầu du lịch năm 2010 mang tên “Việt Nam - điểm đến của bạn”, đã thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước đến sự phát triển của ngành du lịch nhằm tạo dựng Việt Nam trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn và chất lượng. Năm Du lịch quốc gia 2011 tại Phú Yên và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ với chủ đề Biển đảo. Trên cơ sở đó hình thành các vùng du lịch trọng điểm, hình thành bản đồ du lịch Việt Nam là động lực quan trọng đối với phát triển du lịch biển. Đây cũng là một chương trình nằm trong chiến lược phát triển du lịch trong thập kỷ tới. Năm Du lịch quốc gia 2011 cũng là năm đầu tiên không phải chỉ một địa phương tổ chức mà cả 7 tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận cùng phối hợp tổ chức với chiến lược phối kết hợp phát triển du lịch theo vùng miền [46]. Đây là một dịp để Quảng Ngãi quảng bá hình ảnh du lịch của mình tới các du khách. Nhà nước có nhiều chương trình khuyến khích Việt kiều về thăm quê hương, giới thiệu, quảng bá và vận động bạn bè nước ngoài tới thăm Việt Nam. Vì thế mà nguồn khách Việt kiều về nước du lịch ngày càng tăng, mở đường cho nhiều người Việt kiều về Quảng Ngãi góp phần vào nỗ lực tăng trưởng chung của ngành du lịch. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập với việc gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới và đang tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại, trong đó có du lịch phát triển. Cụ thể, Việt Nam đang tiến tới bãi bỏ hộ chiếu với các nước trong khối ASEAN và một số nước khác ở châu Á, Bộ Công an cũng đã ban hành Quy chế 849/2004/QĐ-BCA về tổ chức và quản lý công dân Trung Quốc sử dụng giấy phép nhập, xuất cảnh vào Việt Nam tham quan du lịch. Thứ ba, đối với trong tỉnh Hiện trạng và quy hoạch phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và đô thị hóa của tỉnh nhất là thành phố Quảng Ngãi hiện là đô thị loại II, cùng với tốc độ tăng trưởng nguồn khách đến Quảng Ngãi nói riêng và của các tỉnh miền Trung nói chung trong thời gian qua ngày càng gia tăng sẽ là điều kiện thuận lợi thu hút khách 68
  • 69. du lịch đến Quảng Ngãi, nhất là khách du lịch quốc tế. Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch vừa ký quyết định xếp hạng di tích cấp Quốc gia đối với công trình Di tích lịch sử văn hóa Trường Lũy Quảng Ngãi [29]. Việc công nhận Trường luỹ là Di tích lịch sử cấp Quốc gia sẽ mở ra cơ hội lớn để phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến, đồng thời có điều kiện để tôn tạo, bảo vệ di tích này ngày càng tốt hơn. Ngành du lịch Quảng Ngãi đã nhận được sự quan tâm của các cơ quan Trung ương trong Quyết định phê duyệt bản “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020” số 2052/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ ngày 11/10/2010 xác định tỉnh cần hỗ trợ phát triển mô hình du lịch sinh thái, du lịch biển đảo, thực hiện liên kết phát triển du lịch trong nước và quốc tế, đa dạng hoá các loại hình và sản phẩm du lịch. Thu hút đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí tổng hợp, các khu nghỉ dưỡng, các địa điểm có tiềm năng du lịch. Đồng thời bản quy hoạch cũng chỉ rõ chiến lược phát triển du lịch và dịch vụ du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và là động lực của tỉnh. Nhận thức về du lịch của người dân trong tỉnh đang dần được cải thiện, tạo môi trường xã hội thuận lợi để phát triển du lịch theo đúng mục tiêu đề ra. Cơ sở hạ tầng đang được chú trọng đầu tư hoàn chỉnh, tạo một sự thuận tiện giữa tỉnh Quảng Ngãi với các địa phương trong nước và khu vực, tỉnh đã hoàn thành nhiều tuyến đường giao thông nội tỉnh và liên tỉnh. 2.2. Thách thức Thứ nhất, cạnh tranh du lịch trong khu vực và thế giới ngày càng gay gắt trong khi đó khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam còn rất hạn chế. Hơn nữa, ngành du lịch Việt Nam trong đó có du lịch Quảng Ngãi phát triển trong môi trường chịu nhiều biến động khó lường của nền kinh tế thế giới. Năm 2008, sự suy giảm của nền kinh tế toàn cầu tác động không nhỏ đến lượng cầu của ngành du lịch, đặc biệt là các nước phương Tây, vốn chịu ảnh hưởng nặng của cuộc khủng hoảng kinh tế. Bên cạnh đó, tình hình dịch bệnh hoành hành, như dịch cúm gia cầm và dịch cúm H1N1 năm 2009 đã làm ngành du lịch quốc tế gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, tình hình 69
  • 70. cạnh tranh về du lịch của các quốc gia trong khu vực ngày càng gay gắt trong khi trình độ phát triển kinh tế của đất nước và mức sống của người dân nhìn chung còn thấp. Thứ hai, nhu cầu của khách du lịch quốc tế ngày càng cao, càng đòi hỏi nhiều và khắt khe hơn, đòi hỏi chất lượng phục vụ cao hơn trước, cở sở vật chất hạ tầng hiện đại, môi trường du lịch trong lành và thật sự an toàn, dịch vụ du lịch đa dạng có chất lượng tốt có thể đáp ứng các nhu cầu phát sinh của khách du lịch quốc tế. Đây lả một thách thức lớn xuất phát từ các yếu tố cầu của du lịch mà đòi hỏi du lịch Quảng Ngãi phải nổ lực vượt qua nếu không muốn bị tụt hậu với các địa phương khác vốn có điều kiện mạnh về du lịch như Nha Trang, Vịnh Hạ Long,… Thứ ba, tình hình thu hút vốn đầu tư chưa mang lại hiệu quả, thiếu trọng tâm, chưa huy động được tối đa nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế. Cơ sở hạ tầng của tình còn yếu kém trong khi yêu cầu của khách du lịch quốc tế đặt ra cho lĩnh vực du lịch càng cao. Tình hình đặt ra áp lực rất lớn với ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi phải làm sao để thu hút vốn đầu tư đủ để phát triển cơ sở hạ tầng tỉnh nhà. Thứ tư, một thách thức khác đối với ngành du lịch Quảng Ngãi là tình trạng tương đồng, trùng lắp sản phẩm du lịch giữa các tỉnh miền Trung. Du khách ngày càng trở nên nhàm chán với du lịch miệt vườn bởi lẽ họ không thể tìm được điểm khác biệt, độc đáo nào riêng của từng vùng. Thách thức đặt ra là phải làm sao có thể khai thác sáng tạo thế mạnh của tỉnh để tạo ra nét độc đáo riêng của vùng. Thứ năm, nguồn tài nguyên du lịch bị khai thác một cách không hợp lý và môi trường du lịch ngày càng bị ô nhiễm, đặc biệt là các vùng ven biển, cũng là một trở ngại rất lớn với ngành du lịch Quảng Ngãi. Mặt khác, tình hình rác thải trên sông Trà Khúc, Sông Vệ cũng không kém phần nghiêm trọng. Người dân và doanh nghiệp thiếu ý thức ngày càng làm dòng sông trở nên ô nhiễm. Thứ sáu, công tác triển khai dự án phát triển du lịch còn chậm chạp, hệ thống chính sách, quy định pháp luật hỗ trợ còn thiếu đồng bộ, chưa đóng vai trò hỗ trợ tốt nhất cho các dự án. Mặt khác, kinh nghiệm và trình độ của cán bộ nhân viên và 70
  • 71. quản lý trong lĩnh vực du lịch còn nhiều hạn chế. II. Quan điểm, mục tiêu phấn đấu và định hướng thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2020 1. Quan điểm Phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững. Từ đó đặt ra các kế hoạch cả cơ chế quản lý phù hợp với việc tôn tạo, khai thác các tài sản thiên nhiên, nhân văn. Nhất là những điểm du lịch có tính nhạy cảm như các khu du lịch biển ở Quảng Ngãi cần được quan tâm. Quy hoạch du lịch cũng phải gắn với việc bảo vệ môi trường xã hội trong sạch. Cần có biện pháp tổ chức quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch mang lại đối với môi trường văn hóa xã hội. Phát triển du lịch phải dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành. Muốn thế cần phải có được nhận thức đúng đắn về phát triển du lịch trong tất cả các cấp, các ngành, từ đó có sự chỉ đạo phối hợp chặt chẽ để đưa việc phát triển du lịch trở thành nhiệm vụ chung của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi người dân Quảng Ngãi. Như thế mới thúc đẩy được du lịch tỉnh nhà phát triển bền vững và đạt được các mục tiêu đề ra. Phát triển du lịch gắn với việc bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Phát triển du lịch mang lại hiệu quả kinh tế xã hội nhưng phải dựa trên quan điểm bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, đặc biệt trong bối cảnh Quảng Ngãi là tỉnh ven biển và hiện nay đang có những dự án kinh tế quan trọng, nên vấn đề đảm bảo an ninh quốc gia phải được chú trọng 2. Mục tiêu phấn đấu Về kinh tế, quy hoạch phát triển du lịch Quảng Ngãi nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng của địa phương để nhanh chóng phát triển ngành du lịch, tối ưu hóa sự đóng góp của ngành du lịch vào GDP của tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế bằng cách tạo môi trường kinh tế thuận lợi cho sự phát triển của ngành, thúc đẩy du lịch phát triển sao cho du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, tương xứng với tiềm năng du lịch của địa phương. Cụ thể, dự kiến doanh thu du lịch của tỉnh Quảng Ngãi bình quân trong trong năm 2011 đạt từ 291 đến 436 tỷ VND trong đó doanh 71
  • 72. thu từ khách du lịch quốc tế từ 89 đến 152 tỷ đồng và đến năm 2020 đạt từ 1.586 đến 2.573 tỷ VND trong đó doanh thu từ khách du lịch quốc tế từ 485 đến 672 tỷ VNĐ. Tỷ trọng GDP du lịch trong GDP tỉnh chiếm từ 4,13% đến 5,38%. Về văn hóa - xã hội, hoạt động du lịch nhằm góp phần vào việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa đặc thù của địa phương, bảo tồn được môi trường nhân văn trong sạch. Đồng thời khai thác tốt các di sản văn hóa có giá trị giàu bản sắc dân tộc, các di tích lịch sử, công trình văn hóa, các lễ hội để phục vụ phát triển du lịch. Góp phần giáo dục truyền thống dân tộc cho thanh thiếu niên. Mặt khác phát triển du lịch còn nhằm tạo công ăn việc làm cho người lao động góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân và giải quyết các vấn đề bức xức của xã hội. Về bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi nhằm mục tiêu thu hút đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế, nhưng phải đảm bảo được an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội của địa phương. Về môi trường, hoạt động du lịch phải gắn liền với những hành động cụ thể về bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, từ đó đặt ra các kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp với việc tôn tạo, khai thác các tài nguyên du lịch. 3. Định hướng phát triển 3.1. Định hướng chiến lược thị trường Xuất phát từ thực trạng của ngành du lịch tỉnh và xem xét trên mối tương quan so với các tỉnh khác với cùng Bắc trung bộ, Quảng Ngãi còn nhiều bất lợi hơn so với các tỉnh, thành phố như Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam. Vì thế định hướng về chiến lược thị trường của tỉnh như sau: Thứ nhất là chiến lược marketing. Sản phẩm du lịch của Quảng Ngãi gồm có tắm biển nghĩ dưỡng, tham quan, sinh thái, ngoài ra còn có các lễ hội. Với sự đa dạng về sản phẩm du lịch như trên, Quảng Ngãi có thể đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch mặc dù không có điểm du lịch nào nổi tiếng trong và ngoài nước như Huế và Quảng Nam. Nếu xét về vị trí địa lý cho thấy Quảng Ngãi ít thuận tiện 72
  • 73. so với các tỉnh khác trong vùng do xa Huế - Đà Nẵng, nơi đã có cảng hàng không quốc tế và Quảng Trị, nơi có cửa khẩu quốc tế đường bộ. Vì thế, để thâm nhập vào thị trường khách du lịch quốc và nội địa cần áp dụng chiến lược marketing “ nhiều sản phẩm cho nhiều thị trường”. Cụ thể, kết hợp với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ở các tỉnh có thế mạnh về du lịch lân cận như Quảng Nam, Huế tìm ra thị trường mục tiêu tiến hành ghép tour du lịch để tăng cường thu hút khách du lịch, đa dạng bằng cách kết hợp tắm biển cùng với thăm quan… Thứ hai là chiến lược cạnh tranh thị trường. Để cạnh tranh được với các điểm du lịch khác trong cùng Bắc Trung Bộ thì Quảng Ngãi có 3 khả năng để lựa chọn áp dụng là chiến lược giá rẻ hoặc chiến lược sản phẩm độc đáo hoặc chiến lược thị trường thích hợp. Do Quảng Ngãi cần áp dụng chiến lược marketing “nhiều sản phẩm cho nhiều thị trường”, thêm vào đó Quảng Ngãi chưa có sản phẩm độc đáo nổi bật hơn so với cố đô Huế hay phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn. Vì vậy, để cạnh tranh được với các nơi này nhằm thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi thì chiến lược thích hợp nhất là chiến lược giá rẻ và chiến lược thị trường thích hợp. Để thực hiện chiến lược giá rẻ thì các dịch vụ sản phẩm du lịch phải có giá cả hợp lý phù hợp với chất lượng, còn đối với chiến lược thị trường thích hợp thì cần tìm những thị trường nào có mối quan tâm đặc biệt như nghiên cứu văn hóa, lịch sử hoặc tham qua các hoạt động du lịch mạo hiểm,giải trí. 3.2. Định hướng theo cụm du lịch Căn cứ vào sự phân bổ tài nguyên du lịch, nguồn lực và cả điều kiện có liên quan, lãnh thổ Quảng Ngãi có thể hình thành 4 cụm du lịch chính như sau: Thứ nhất là cụm du lịch trung tâm thành phố Quảng Ngãi và phụ cận. Các sản phẩm của cụm du lịch này khá phong phú gồm: nghỉ mát tắm biển, vui chơi giải trí, tham quan, lễ hội và hội nghị hội thảo. Vì vậy các hướng khai thác chủ yếu: du lịch nghỉ mát tắm biển, du lịch vui chơi giải trí cuối tuần, du lịch hội nghị, hội thảo, du lịch tham quan, nghiên cứu...Đối với cụm du lịch này, việc tập trung ưu tiên đầu tư có ý nghĩa quan trọng và là yêu cầu bức xúc không chỉ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch mà còn đối với nhu cầu của người dân địa phương. Hiện tại việc 73
  • 74. đầu tư vào các điểm du lịch trong cụm du lịch này về cơ bản đã được cải tạo nâng cấp. Từ nay đến năm 2020 chủ yếu tập trung đầu tư chiều sâu các điểm du lịch và dịch vụ nhằm năng cao chất lượng sản phẩm du lịch. Thứ hai là cụm du lịch phía Nam bao gồm Đức Phổ, Sa Huỳnh và phụ cận. Điểm du lịch nổi bật của cụm là bãi tắm Sa Huỳnh và di chỉ văn hóa Sa Huỳnh với loại hình du lịch nghỉ mát tắm biển kết hợp văn hóa - lịch sử. Vì thế Các hướng khai thác chủ yếu:du lịch quá cảnh (transit), du lịch nghỉ mát tắm biển, du lịch tham quan nghiên cứu... Thứ ba là cụm du lịch Đông Bắc bao gồm Vạn Tường và phụ cận. Là cụm du lịch biển và du lịch Văn hóa - Lịch sử - Cách Mạng. Ý nghĩa của cụm du lịch này là đáp ứng nhu cầu phát triển của khu công nghiệp Dung Quất và thành phố Vạn Tường trong tương lai. Các điểm du lịch chủ yếu của cụm gồm: Khu công nghiệp Dung Quất, bãi tắm Vạn Tường, di tích chiến thắng Vạn Tường, chứng tích Bình Hòa, địa đạo Đàm Toái - Bình Châu. Trung tâm du lịch của cụm là thành phố Vạn Tường. Vì thế hướng khai thác chủ yếu: nghỉ mát tắm biển, tham quan, vui chơi giải trí... Thứ tư là cụm du lịch phía Tây Nam bao gồm Ba Tơ và phụ cận. Không gian du lịch của cụm gồm phần lãnh thổ của huyện Ba Tơ, huyện Minh Long, trung tâm du lịch cụm là thị trấn Ba Tơ. Các điểm du lịch của cụm là: Khu di tích du kích Ba Tơ, Bảo tàng Cách Mạng Ba Tơ (của huyện Ba Tơ) và khu cảnh quan thác trắng (của huyện Minh Long). Vì thế các hướng khai thác chủ yếu: Du lịch văn hóa (tham quan di tích, làng nghề...), du lịch sinh thái (tham quan, thể thao, cắm trại...). 3.3. Định hướng theo tuyến du lịch Thông qua việc xác định cụm du lịch và điểm du lịch, cùng với các căn cứ khác như: cơ sở hạ tầng, sự phân bố tài nguyên du lịch, các khu nghỉ ngơi vui chơi giải trí…có thể xác định các tuyến du lịch chính của Quảng Ngãi như sau: Thứ nhất là các tuyến du lịch nội tỉnh. Tuyến du lịch có vai trò quan trọng nhất phải kể đến là tuyến du lịch đường bộ (tuyến du lịch thành phố Quảng Ngãi - Mỹ Khê - Vạn Tường, tuyến du lịch thành phố Quảng Ngãi - Mộ Đức - Ba Tơ 74
  • 75. - Minh Long - Nghĩa Hành, tuyến du lịch thành phố Quảng Ngãi - Đức Phổ - Sa Huỳnh), sau đó là tuyến du lịch đường thủy, chủ yếu khai thác các tiềm năng du lịch ở đảo Lý Sơn. Có thể sử dụng hai điểm xuất phát từ đất liền là Mỹ Khê và Sa Huỳnh tạo thành các tuyến du lịch chính sau: Tuyến thị xã Quảng Ngãi - Mỹ Khê - Lý Sơn ,tuyến Sa Huỳnh - Lý Sơn, tuyến Thành phố Vạn Tường - Lý Sơn. Thứ hai là tuyến du lịch liên tỉnh. Các tuyến du lịch liên tỉnh có chức năng đưa đón khách Quảng Ngãi đi du lịch các tỉnh khác trong khu vực và thu hút khách ngoại tỉnh đến với các điểm tham quan trong tỉnh. Phát triển du lịch ngoại tỉnh, liên khu vực của Quảng Ngãi cùng dựa trên tuyến du lịch xuyên Việt bao gồm: Tuyến thị xã Quảng Ngãi - Tam Kỳ - Đà Nẵng, tuyến thị xã Quảng Ngãi - Quy Nhơn - Nha Trang, tuyến Nha Trang-Quy Nhơn-Sa Huỳnh-Đà Nẵng. III. Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2020 1. Nhóm các giải pháp vĩ mô 1.1. Đổi mới nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về du lịch Nhà nước có vai trò quan trọng thể hiện ở chỗ công tác hoạch định không làm thay chức năng của một doanh nghiệp mà có thể hướng doanh nghiệp phát triển đúng định hướng và mục tiêu đề ra. Ta có thể đạt được điều đó nếu thực hiện những giải pháp sau: - Nâng cao nhận thức về du lịch đối với Đảng bộ và chính quyền các cấp, các ngành. Quán triệt trong các cấp chính quyền và nhân dân về vai trò quan trọng của kinh tế du lịch, nâng cao sự phối hợp đồng bộ trong mọi hoạt động của tỉnh và thành phố Quảng Ngãi, từ đó, nâng cao nhận thức về kinh tế du lịch: phát triển du lịch là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo. Tuyên truyền và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp luật trong hoạt động kinh doanh thông qua các hoạt động như soạn thảo các văn bản hướng dẫn cụ thể về thể lệ, tiêu chuẩn đối với từng loại hình kinh doanh dịch vụ du lịch. Đồng thời đẩy mạnh công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch của các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh, theo quy định của pháp luật. 75
  • 76. - Phát huy hiệu quả chỉ đạo, xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi để hỗ trợ nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư các dự án phát triển du lịch trên tinh thần là xã hội hóa thật mạnh trong đầu tư và kinh doanh du lịch. Nhà nước chỉ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đến các khu điểm du lịch như: cầu, đường, điện,… còn các hạng mục kinh doanh dịch vụ thì kêu gọi các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư. - Tăng cường sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ngành, các cấp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư phát triển các dự án du lịch, cải tạo nâng cấp các khu, điểm du lịch, các cơ sở lưu trú, nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ khách du lịch. Xây dựng mối quan hệ phối hợp với các ngành kinh tế trong tỉnh, đồng thời cả mối quan hệ với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm, tạo điều kiện thuận lợi đầu tư phát triển ngành du lịch, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh. - Nghiên cứu và ban hành quyết định phân cấp, phân công trách nhiệm rõ ràng nhằm tránh tình trạng trách nhiệm chồng chéo, bỏ sót. Nâng cao ý thức trách nhiệm và trình độ của đội ngũ quản lý nhằm hỗ trợ một cách thường xuyên, có hiệu quả cho cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch Quảng Ngãi. - Minh bạch hóa hoạt động quản lý nhằm đạt được lòng tin của doanh nghiệp và người dân. Từ đó, đảm bảo sự công bằng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế từ kinh tế Nhà nước đến kinh tế tư nhân. 1.2. Tăng cường xúc tiến quy hoạch, đầu tư vào lĩnh vực du lịch Thứ nhất đối với quy hoạch Đối với những án có tiến độ chậm, cần xúc tiến công việc hơn nữa để không bị quá trễ so với mục tiêu; còn đối với các dự án đang thi hành thì UBND tỉnh nên có kế hoạch đôn đốc, kiểm tra để bảo đảm dự án được quy hoạch theo đúng kế hoạch đã đề ra. Ngoài ra, vì các chủ đầu tư và UBND tỉnh chưa đạt được sự đồng thuận nên vẫn còn nhiều dự án còn treo lơ lửng và doanh nghiệp chưa thể tiến hành quy hoạch 1/500 dựa trên 1/2000 mà UBND tỉnh đã thảo ra. Chính vì vậy, tỉnh cần tạo nhiều điều kiện hơn nữa để giúp doanh nghiệp có thể nhanh chóng bắt tay vào đầu tư xây dựng các dự án mà tỉnh đã chào thầu, bằng các chính sách bổ trợ về đất đai, bất động sản cho các nhà chủ đầu tư: 76
  • 77. - Nhà đầu tư có quyền cho đầu tư thứ cấp một phần trong phạm vi dất được giao, có quyền cho thuê lại theo cơ chế thị trường. Tỉnh chỉ quản lý mục đích sử dụng dất và định hướng quy hoạch du lịch theo khu, điểm du lịch. - Các doanh nghiệp đầu tư du lịch tại Quảng Ngãi được giao đất, thuê đất với mức ưu đãi nhất, giao một lần căn cứ vào nhu cầu thực sự của dự án, không phân biệt quy mô trên cơ sở đảm bảo thực hiện đúng quy hoạch. - Giá thuê đất được xem xét với mức độ ưu tiên nhất có thể theo pháp luật Việt Nam và những quy định của tỉnh - Ưu tiên hình thức đấu thầu quyền sử dụng đất, đấu thầu quỹ đất phục vụ phát triển du lịch, tạo vốn xây dựng cơ sở đảm bảo thực hiện đúng quy hoạch - Cho phép người Việt Nam, người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư trực tiếp trong lĩnh vực du lịch vào Quảng Ngãi - Có chính sách miễn giảm tiền thuê đất đối với các công trình du lịch khởi công và đi vào hoạt động theo từng giai đoạn - Có giá ưu đãi đối với phần diện tích cây xanh, khuôn viên trong các khu du lịch, khu cảnh quan. Thứ hai đối với đầu tư Dựa trên các loại vốn đầu tư, người viết xin đưa ra chương trình xúc tiến đầu tư sau: Thứ nhất là tận dụng nguồn vốn từ ngân sách - Sử dụng tốt nguồn vốn ngân sách, nhanh chóng thu được hiệu quả kinh tế - xã hội, tạo được sự tin tưởng từ phía Trung Ương. Đây là nguồn vốn ổn định và đáng tin cậy nhất cho quá trình giải ngân. Vì thế, tập trung cần sử dụng nguồn vốn này cho các dự án quan trọng, cấp bách phải hoàn thành. - Tranh thủ nhận được sự hỗ trợ từ nguồn vốn của Trung Ương thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, để phát triển cơ sở hạ tầng. Từ đó làm bàn đạp cho sự phát triển của ngành du lịch. Thứ hai là tạo được lòng tin và tranh thủ nguồn vốn đầu tư trong nước 77
  • 78. - Cần phải tăng cường liên doanh trong nước, mở rộng hợp tác với các tỉnh du lịch trọng điểm, đặc biệt là một số tỉnh ở Bắc Trung Bộ để xây dựng, nâng cấp khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển khách du lịch,... - Minh bạch hóa chiến lược và dự án đầu tư du lịch, tổ chức các hội thảo, diễn đàn thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp trong nước quảng bá tiềm năng và cơ hội đầu tư của Quảng Ngãi. - Nâng cao chất lượng, tính khả thi của các dự án đầu tư. Để đạt được điều đó, ta cần lập kế hoạch đào tạo và tổ chức đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư. Thứ ba là tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài - Tổ chức các hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế nhằm giới thiệu các cơ hội và tiềm năng đầu tư của Quảng Ngãi. Đồng thời, tiếp cận được tâm lý của từng nhóm nhà đầu tư để có những biện pháp kịp thời để điều chỉnh môi trường đầu tư, tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư đến Quảng Ngãi. - Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính tại các cơ quan có liên quan đến quá trình cấp phép đầu tư và triển khai dự án. Tránh tạo ra tâm lý chán nản trong các nhà đầu tư, đặc biệt là đối với nhà đầu tư quốc tế. - Tranh thủ từ nguồn vốn ODA để xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, cải thiện môi trường môi sinh,... Thứ tư là hỗ trợ nguồn vốn tín dụng cho doanh nghiệp Công tác phát triển du lịch, đặc biệt là phát triển dịch vụ du lịch, không thể hoàn thành nếu chỉ có sự cố gắng từ Nhà nước mà không có sự chung tay góp sức từ phía doanh nghiệp. Vì thế, công tác xúc tiến đầu tư còn gắn liền với hoạt động khuyến khích, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh trong dịch vụ du lịch. Hỗ trợ vốn thông qua con đường cấp tín dụng cho doanh nghiệp không những đồng nghĩa với việc ta huy động được vốn từ phía doanh nghiệp mà còn được sự chung tay góp sức và ủng hộ của các doanh nghiệp trong công cuộc phát triển du lịch. 1.3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá và xây dựng mối quan hệ liên kết du lịch 78
  • 79. Mặc dù, cơ sở hạ tầng du lịch của Quảng Ngãi hạn chế hơn so với các tỉnh phụ cận, nhưng Quảng Ngãi có tiềm năng du lịch tương đối phong phú và đa dạng. Do đó, người viết đề xuất các biện pháp cần làm để thiết lập mối quan hệ với các tỉnh thành bạn như sau: Thứ nhất, Sở VHTTDL TP. Quảng Ngãi cần đẩy mạnh hợp tác với các tỉnh lân cận vì hầu hết khách du lịch quốc tế trước khi di chuyển về Quảng Ngãi thì đều có một khoảng thời gian ở các tỉnh này. Sự hợp tác này bao gồm các điểm chính sau: • Tại các tỉnh lân cận cho phép Quảng Ngãi đặt các biển quảng cáo du lịch và văn phòng đại diện Quảng Ngãi ở sân bay Đà Nẵng hoặc nhà ga Thừa Thiên Huế, dọc các tuyến đường chính của thành phố của các tỉnh. Các văn phòng đại diện sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết về Quảng Ngãi cho du khách, hỗ trợ cho du khách trong việc mua tour hoặc liên hệ với các công ty du lịch ở Quảng Ngãi, tư vấn du lịch cho khách hàng về các tour. Đây chính là cách mà văn phòng đại diện của Ủy ban Du lịch Singapore đã làm. • Phối hợp với Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế hoặc Nha Trang tham dự các triển lãm du lịch quốc tế ở nước ngoài. Kinh phí sẽ lấy từ nguồn ngân sách nhà nước và sự đóng góp của doanh nghiệp du lịch của cả hai bên. Ngoài việc tập trung quảng bá du lịch của địa phương mình, cần tăng cường quảng bá về tour du lịch liên kết các tỉnh trên với Quảng Ngãi. • Đối với các du khách du lịch tự túc đến Quảng Ngãi, họ sẽ sử dụng các phương tiện giao thông công cộng từ các tỉnh như Đà Nẵng, Huế hoặc Nha Trang đến Quảng Ngãi. Do đó, sở Giao thông Công chính TP. Quảng Ngãi cần phối hợp với sở đồng cấp tại các tỉnh trên tạo điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp khai thác tuyến đường từ các tỉnh trên và TP. Quảng Ngãi để họ tăng cường chất lượng dịch vụ nhằm phục vụ du khách tốt hơn. • Đổi lại, TP. Quảng Ngãi cũng sẽ tổ chức quảng bá du lịch các tỉnh trên tại các địa điểm du lịch, các website quảng bá du lịch Quảng Ngãi. Ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp của các tỉnh trên khi đến đầu tư các dự án du lịch tại Quảng Ngãi 79
  • 80. Thứ hai, sở VHTTDL TP. Quảng Ngãi cần phối hợp liên kết với các sở đồng cấp của các tỉnh trong vùng. Chấm dứt tình trạng dẫm chân nhau trong việc phát triển các sản phẩm du lịch của địa phương mình. Mỗi địa phương tập trung vào một sản phẩm du lịch nhất định là thế mạnh của địa phương mình góp phần vào việc phát triển mô hình “Con đường di sản miền Trung”. 1.4. Đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch Theo mục 4 phần I chương 2 về thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động du lịch quốc tế giai đoạn 2001 – 2010, ta nhận thấy nguồn nhân lực của Quảng Ngãi có bước tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng, tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của tỉnh về nhân lực đặc biệt là về chất lượng. Xuất phát từ thực trạng này người viết xin đề xuất một số biện pháp cần thực hiện để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của Quảng Ngãi: Thứ nhất, nâng cao kỹ năng cho đội ngũ nhân viên tiếp xúc trực tiếp với du khách, đó là nhân viên phục vụ trong các lĩnh vực: khách sạn, lữ hành, vận chuyển,…Đối tượng là nhân viên của các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực trên. Để nâng cao kỹ năng của đội ngũ này có hai hình thức - Tổ chức các khóa đào tạo, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho các đội ngũ nói trên. Kinh phí tổ chức cho các khóa đào tạo này sẽ do các doanh nghiệp tự bỏ ra hoặc các doanh nghiệp liên kết với nhau trên cơ sở có sự hỗ trợ một phần của ngành du lịch địa phương. Các ngành tập trung đào tạo bao gồm: lễ tân, buồng, bàn, nấu ăn, điều hành tour,…Lưu ý là bên cạnh đào tạo nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cần phải trau dồi kỹ năng giao tiếp Anh văn cho đội ngũ trực tiếp tiếp xúc với khách du lịch quốc tế. Đối với nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch thì chắc chắn phải hội đủ kỹ năng về nghiệp vụ và kỹ năng giao tiếp, tinh thần thái độ phục vụ khách thì mới có thể có đủ khả năng làm việc được trong ngành. - Cần tiến hành tổ chức các cuộc thi ứng với từng lĩnh vực cụ thể trong ngành du lịch như “ nhân viên lễ tân thân thiện nhất”, “ hướng dẫn viên du lịch tinh tế nhất”,…nhằm tạo sân chơi và đồng thời tạo cơ hội để các nhân viên có cơ hội trao đổi, học hỏi, nâng cao kỹ năng cần thiết trong ngành du lịch. Một điều tất 80
  • 81. nhiên là sẽ có rất nhiều nhân viên đăng ký tham gia cuộc thi, vì nếu giành được giải thưởng thì đây sẽ là cơ hội rất tốt để doanh nghiệp quảng bá cho chính doanh nghiệp. Thứ hai, tăng nguồn cung lao động, đặc biệt là lao động chất lượng cao cho ngành du lịch Quảng Ngãi. Một thực tế là số lao động có trình độ đại học và trên đại học trong những năm gần đây đã tăng lên đáng kể, tuy nhiên Quảng Ngãi vẫn chưa thể chủ động trong nguồn cung ứng lao động, các vị trí cao cấp như quản lý, điều hành vẫn còn thuê mướn từ các nơi. Để tăng nguồn cung lao động thì có 2 nguồn: - Hiện tại, tại Quảng Ngãi đã có trường đại học Phạm Văn Đồng, chi nhánh trường đại học Mở, đại học Công Nghiệp và một số trường cao đẳng và trung cấp khác có đào tạo về chuyên ngành du lịch. Như vậy, cần khuyến khích các trường này mở rộng về quy mô và hình thức đào tạo, đặc biệt là cần mở khóa đào tạo du lịch trong trường đại học Phạm Văn Đồng – một trường đại học mới được sáp nhập từ 2 trường cao đẳng lâu đời của tỉnh. Có thể liên kết đào tạo từ xa với các trường đại học Duy Tân và đại học Phan Châu Trinh hoặc mời những giảng viên về giảng dạy ngắn hạn tại địa phương như chi nhánh của trường đại học Công nghiệp đã đang làm, hoặc mở các lớp đào tạo cho nhân lực nghiệp vụ. - Về nguồn nhân lực chất lượng cao học tập tại các tỉnh, thành phố khác. Có một hiện tượng là các sinh viên có hộ khẩu thường trú tại địa phương muốn học về chuyên ngành du lịch thường chọn các trường đại học có uy tín và đã được khẳng định về chất lượng đào tạo như trường nghiệp vụ du lịch Nha Trang, hoặc trường Nghiệp vụ du lịch thành phố Hồ Chí Minh. Để khắc phục tình trạng này thì tỉnh cần có chính sách để thu hút nhân tài về làm việc cho tỉnh. Cụ thể, đối với bậc đại học, cao đẳng và trung cấp nghiệp vụ, tỉnh cần phải chi ngân sách để lập “Quỹ nuôi dưỡng tài năng ngành du lịch Quảng Ngãi”, đối với mỗi sinh viên có thành tích học tập giỏi xuất sắc mỗi kỳ thì tỉnh chi từ ngân sách một khoản tiền đủ cho sinh viên đóng tiền học phí và trang trải một phần sinh hoạt phí. Sinh viên sẽ được hỗ trợ đến khi tốt nghiệp miễn là duy trì kết quả tốt theo yêu cầu. Đổi lại sinh viên phải cam kết làm việc ít nhất hai năm sau khi tốt nghiệp ra trường. Không chỉ thế Sở cần phải 81
  • 82. có chính sách thu hút nhân tài, đặc biệt là đội ngũ quản lý vừa có kiến thức chuyên môn cao và kinh nghiệm lâu năm. Thứ ba, cần phải phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, nâng cao kỹ năng cho đối tượng này. Người dân địa phương là chủ thể quan trọng quyết định sự thành công của các sản phẩm du lịch gắn với cộng đồng vì lý do đa phần khách có nhu cầu tham quan, hòa mình vào cái không khí sinh hoạt của người dân bản địa để tìm hiểu nét văn hóa và tập tục của địa phương. Để nâng cao được kiến thức và nghiệp vụ du lịch cho mỗi người dân ta cần lưu ý một số nội dung sau: - Đa số người dân ở các điểm du lịch nhận thức được lợi ích to lớn có được khi tham gia vào các hoạt động du lịch nhưng do hạn chế về kinh tế và điều kiện sống nên chưa có điều kiện được trau dồi kiến thức, kỹ năng về ngành du lịch, ở đây người dân có thể bao gồm cả các nghệ nhân làm việc ở làng nghề. - Địa điểm tập huấn nhằm nâng cao kỹ năng cho người dân địa phương nên gần địa phương ( gần địa điểm của họ sống và làm việc), gần các điểm du lịch để người dân dễ thực tập, tiếp xúc và làm quen với nghề. Cố gắng sắp xếp lớp học phù hợp với thời vụ của nhà nông, thời gian nghỉ hè của học sinh, thời tiết khu vực. Thứ tư, mở rộng hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế, các vùng lãnh thổ trong hoạt động đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lực du lịch. Ngoài ra, tỉnh cần tạo cơ hội cho cán bộ quản lý, người lao động học tập kinh nghiệm quản lý và kinh doanh du lịch ở một số nước phát triển mạnh về du lịch thông qua các quan hệ tại một số nước có trình độ. Ngoài ra, yêu cầu các dự án đầu tư đặc biệt là các dự án nước ngoài phải có chương trình chuyển giao công nghệ quản lý, kinh doanh cho cán bộ quản lý và người lao động Việt Nam 2. Nhóm các giải pháp vi mô 2.1. Các giải pháp về thị trường Thứ nhất là đa dạng hóa các loại hình du lịch Như đã trình bày ở mục II chương 1 về tiềm năng phát triển du lịch của Quảng Ngãi, ta thấy rằng Quảng Ngãi có nguồn tài nguyên phong phú và khá đa dạng cho việc phát triển du lịch. Tuy nhiên, các loại hình du lịch của Quảng Ngãi hiện nay 82
  • 83. vẫn chưa thực sự hấp dẫn du khách. Xuất phát từ thực tế đó và định hướng về du lịch ở phần 3 mục II chương 3, người viết mạnh dạn đưa ra các đề xuất nhằm cải thiện các loại hình du lịch của Quảng Ngãi. - Đối với du lịch biển nghỉ dưỡng, có thể nói đây là một trong những thế mạnh của du lịch Quảng Ngãi, hiện tại Quảng Ngãi có khu du lịch biển là Mỹ Khuê và Sa Huỳnh. Vì thế ta nên tổ chức kết hợp các tour du lịch có liên kết tới một trong hai khu du lịch biển này bởi vì các dịch vụ ở đây đã được cải thiện khá tốt. Cụ thể, ở Quảng ngãi có kết hợp giữa hình thức tắm biển và dịch vụ câu mực cùng người dân địa phương. Vì thế, chắc chắn một trong hai bãi tắm sẽ thu hút được khá nhiều du khách quốc tế, có thể sẽ thu hút được du khách đến Quảng Ngãi hơn một lần. - Đối với du lịch tìm hiểu về văn hóa – lịch sử, Quảng Ngãi nổi tiếng với bệnh xá Đặng Thùy Trâm, khu chứng tích Sơn Mỹ,…tương đối khá nổi tiếng. Thêm vào đó là các làng nghề truyền thống tại tỉnh. Ngành du lịch tỉnh nên kết hợp các tour du lịch tham quan các di tích lịch này với việc tham quan các làng nghề truyền thống, tạo điều kiện để du khách có thể trải nghiệm cuộc sống đích thực của người dân làng nghề. Đây là một nét mới và thu hút khá nhiều du khách quốc tế muốn được học hỏi và trải nghiệm thêm về văn hóa địa phương - Về du lịch MICE thì Quảng Ngãi không còn thiếu những điều kiện về cơ sở hạ tầng về giao thông như sân bay nhưng không phải thế mà tỉnh không nên không phát triển loại hình này. Ngược lại, cùng với việc đi vào hoạt động của khu công nghiệp Dung Quất và nhà máy lọc dầu Dung Quất, Quảng Ngãi càng cần phải xây dựng các trung tâm tổ chức hội nghị, hội thảo, triển lãm mang tầm cỡ quốc tế để phát triển du lịch MICE, cải thiện cơ sở hạ tầng như hệ thống khách sạn, trong đó việc xác định vị trí xây dựng các trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế khá quan trọng: phải tiện về giao thông và giao dịch, gần khu khách sạn. - Xu hướng mới của thế giới và các khu du lịch ở Việt Nam hiện nay là ngoài việc phát triển loại hình du lịch MICE là chủ yếu thì còn nổi lên loại hình mới là Famtrip. Đây là chương trình du lịch miễn phí dành cho lữ hành, cụ thể các nhà báo tới một hay nhiều quốc gia, một hoặc nhiều địa phương để làm quen với các 83
  • 84. sản phẩm du lịch, nhằm khảo sát và đánh giá để xây dựng các chương trình du lịch và viết báo tuyên truyền nhằm thu hút khách du lịch. Đây là một hình thức khá mới, tiết kiệm được chi phí trong việc nâng cao hiệu quả xúc tiến du lịch. Quảng Ngãi nói riêng và Việt Nam nói chung đang là một điểm du lịch có nhiều triển vọng trong tương lai nên cần phải chú ý đến việc phát triển loại hình này. Thứ hai là lựa chọn thị trường mục tiêu Thị trường mục tiêu là thị trường thích hợp nhất đối với tiềm năng của Quảng Ngãi và hy vọng sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao. Bảng 3.3: 10 Quốc gia dẫn đầu về tỷ lệ số lượng khách đến Quảng Ngãi năm 2009 và 2010 STT Thị trường 2009 2010 1 Hàn Quốc 17 19 2 Pháp 16 17 3 Nhật Bản 13 14 4 Mỹ 10 12 5 Trung Quốc 9 10 6 Úc 2 3 7 Thái Lan 2 3 8 Malaysia 2 2 9 Singapore 2 2 10 Đài Loan 1 1 “Nguồn: Tổng hợp từ các số liệu của Sở Văn hóa – Thông tin – Du lịch” Xuất phát từ thực trạng cơ cấu khách ở phần 2 mục I chương 2, ta có thể sử dụng phương án lựa chọn thị trường mục tiêu trên cơ sở phân đoạn thị trường, sau đó phân tích tiềm lực của mình và của cả đối thủ cạnh tranh để có thể chọn một vài phân đoạn thị trường mục tiêu. Với phương án như vậy, trong giai đoạn 2011 – 2020, thị trường mà tỉnh cần nhắm tới là các thị trường có mức chi tiêu cao Mỹ, Pháp, ở khu vực châu Á có Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Đây cũng chính là thị trường khách quốc tế chủ yếu của tỉnh trong giai đoạn 2001 -2010. Trên cơ sở 84
  • 85. tận dụng những mối quan hệ có sẵn cũng như am hiểu về thị hiếu, nhu cầu của du khách mỗi nước, ngành du lịch tỉnh cần xây dựng các chiến lược tiếp thị đối với thị trường mục tiêu này Đối với thị trường châu Á, mà cụ thể là thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc. Trong giai đoạn 2001 – 2010 các thị trường này luôn luôn nằm trong top 5 thị trường dẫn đầu với lượng khách du lịch đến Quảng Ngãi. Năm 2010, thị trường Hàn Quốc dẫn đầu với tỷ lệ là 19%, Nhật Bản đứng ở top 3 với tỷ lệ là 14% và cuối cùng là Trung Quốc với tỷ lệ là 10% đứng ở vị trí thứ 5. Trong thị trường này cần chú ý đến du khách Nhật với mức chi tiêu khá cao, trong đó hơn 50% là vào dịch vụ ăn ở. Đây thật sự là một thị trường mục tiêu cho du lịch Quảng Ngãi. Tuy nhiên, khách du lịch ở thị trường này tương đối khó tính, đặc biệt là du khách Nhật. Vì vậy, các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ cần phải quan tâm đến đặc điểm và sở thích của du khách ở thị trường này như đòi hỏi cao trong cách ứng xử, kỷ luật và trật tự xã hội. Đặc biệt là đa số các du khách muốn mua tour du lịch qua hệ thống internet. Vì vậy, các doanh nghiệp lữ hành của tỉnh nên phát triển hình thức này bằng cách lập các website có tiếng Nhật, Hàn và Trung, nếu được thì xây dựng mối quan hệ mật thiết với các đại lý du lịch ở các nước này để mong đặt được tour qua mạng Đối với thị trường các nước châu Âu, cụ thể là Pháp. Trong giai đoạn vừa qua, số lượng khách du lịch Pháp đến tỉnh vẫn giữ ở mức cao và đều đặn so với các nước khác. Năm 2009, số lượng khách Pháp đến Quảng Ngãi chiếm 16% đạt mức 3.541 lượt khách Pháp. Năm 2010, tỷ lệ này chỉ tăng lên ở mức 17% nhưng vẫn giữ ở vị trí thứ hai sau Hàn Quốc. Du khách Pháp cũng là du khách có mức chi tiêu cao. Vì thế, thị trường Pháp là một thị trường mục tiêu cho ngành du lịch tỉnh nhà. Đối với thị trường Mỹ. Tuy chỉ đứng ở vị trí thứ năm với tỷ lệ 10% vào năm 2009 nhưng đây là một thị trường tiềm năng cho du lịch Quảng Ngãi vì du khách Mỹ có sở thích về biển và các giá trị văn hóa, đây là các thế mạnh của du lịch tỉnh. Để thu hút được du khách Mỹ, bên cạnh các yêu cầu cơ bản đặc trưng về du lịch còn cần phải lưu ý đến đặc điểm, sở thích của khách du lịch Mỹ. Đặc biệt du khách 85
  • 86. Mỹ cũng quan tâm nhiều đến điều kiện an ninh, trật tự tại các điểm du lịch. 2.2. Các giải pháp về nâng cao dịch vụ du lịch quốc tế Thứ nhất là cải thiện chất lượng cơ sở vật chất – kỹ thuật Việc cần thiết nhằm cải thiện chất lượng cơ sở vật chất – kỹ thuật là xây dựng những cơ sở khách sạn và giải trí hiện đại, sáng tạo thỏa mãn được yêu cầu đa dạng của du khách + Về phía địa phương Đối với các dự án lớn, cơ quan chức năng tỉnh cần yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện công tác báo cáo tiến độ thực hiện dự án, tường trình từng giai đoạn rõ ràng. Tránh xảy ra tình trạng “ngâm dự án”, vừa lãng phí nguồn lực tỉnh, vừa lãng phí một cơ hội đầu tư cho doanh nghiệp khác. Đối với những dự án quy mô nhỏ, quản lý chặt chẽ các dự án xây dựng cơ sở lưu trú và giải trí của các doanh nghiệp trong tỉnh. Tránh diễn ra tình trạng các khu nhà nghỉ, nhà trọ tràn lan không đáp ứng được những tiêu chuẩn của cơ sở lưu trú. + Về phía doanh nghiệp - Xuất pháp từ việc phân đoạn thị trường về mức chi tiêu của khách du lịch, các doanh nghiệp cần phát triển song song hai mô hình cơ sơ lưu trú dành cho hai thị trường mục tiêu: Ÿ Xây dựng những khách sạn quy mô, hiện đại, đáp ứng được tiêu chuẩn cho đại đa số khách du lịch quốc tế. Những mô hình khách sạn trên cần được xây tại những địa điểm đẹp, thuận tiện. Mặt khác, các trang thiết bị cung cấp cần phải đảm bảo yêu cầu chất lượng. Mục tiêu hướng đến của mô hình này là thị trường du khách quốc tế, có khả năng về tài chính và yêu cầu cao về chất lượng dịch vụ. Ÿ Nâng cấp và trang bị hệ thống nhà nghỉ, nhà khách, đáp ứng nhu cầu du khách trong nước và một bộ phận khách du lịch quốc tế. Đối với nhóm cơ sở lưu trú này, ta không cần tập trung quá nhiều nguồn vốn vào đầu tư nhưng cũng không được qua loa sơ sài. Chẳng hạn, với những cơ sở nhà khách, ta có thể trang bị thêm máy điều hòa không khí, giường nệm, và các dụng cụ thiết yếu ngăn nắp. Các trang bị trên không nhất thiết phải là những vật dụng đắt tiền. Mục tiêu của hoạt động này 86
  • 87. là tập trung vào thị trường không yêu cầu cao về chất lượng dịch vụ. - Đa dạng hóa các loại hình giải trí, lấy thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên vùng kết hợp với yếu tố sáng tạo nâng cao chất lượng dịch vụ giải trí. Hiện nay, các dịch vụ giải trí trong địa bàn tỉnh còn khá đơn điệu, không có nét mới lạ. Cần chú trọng nhiều hơn vào yếu tố sáng tạo trong hoạt động xây dựng các cơ sở giải trí. Kết hợp sáng tạo giữa hình thức dịch vụ lưu trú và giải trí, khiến chúng bổ sung cho nhau để cùng nhau nâng cao chất lượng du lịch. Kinh nghiệm của một số địa phương khác đã dùng các dịch vụ giải trí bổ sung cho dịch vụ lưu trú như cung cấp dịch vụ spa, các phòng tập thể dục thể thao, dịch vụ chăm sóc sức khỏe,… Thứ hai là cải thiện chất lượng hoạt động Thứ nhất là xây dựng các chiến lược quảng bá du lịch và chiến lược kinh doanh cụ thể: + Về phía địa phương Xây dựng những chủ đề phát triển du lịch sáng tạo, kích thích được tính tò mò của du khách. Đồng thời, thiết kế những chương trình gắn liền với chủ đề tạo hứng thú trong lòng du khách. Chẳng hạn, với chủ đề “Hòa mình vào Quảng Ngãi”, Tại sao ta không đưa du khách đến những bãi biển để cùng hòa mình vào cuộc sống của cư dân với những cảm giác thú vị và mới lạ. Tuy việc quyết định điểm đến là của mỗi cơ sở lữ hành nhưng chủ đề phải cần được thống nhất giữa các doanh nghiệp, như thế mới dễ dàng đi vào lòng du khách làm du khách nhớ và không quên. + Về phía doanh nghiệp Tuyên truyền và kêu gọi các doanh nghiệp nghiên cứu và sử dụng thành thạo các chiến lược Marketing hỗn hợp. Đa số các cơ sở đều quên mất một nguyên tắc rất quan trọng đó là cung cấp những gì thị trường cần chứ không phải những gì mình có. Để giải quyết tình trạng này, người viết xin đưa ra giải pháp dựa trên các chiến lược Marketing hỗn hợp như sau: - Về chiến lược sản phẩm. Định vị sản phẩm du lịch của tỉnh Quảng Ngãi, thiết kế các sản phẩm tạo được hình ảnh khác biệt trong tâm trí của thị trường mục tiêu (như đã phân tích ở mục 2 phần III chương 3). Thực trạng tương đồng về sản phẩm 87
  • 88. du lịch của các địa phương dẫn đến sự nhàm chán của du khách. Ta có thể loại bỏ yếu tố nhàm chán này bằng cách kết hợp nhuần nhuyễn các hình thức dịch vụ du lịch. Chỉ cần một chút điều chỉnh nhỏ trong các thành phần trong dịch vụ du lịch sẽ cho ta những kết quả tuyệt vời. Về việc tạo sự khác biệt này, tác giả xin đề xuất ý kiến cải tạo một phần khu du lịch Mỹ Khuê, xây dựng một khu ẩm thực - mua sắm trên bãi biển. Mô hình bao gồm việc xây dựng và cải tạo đồng bộ khu vực nhà dân ven đó trở thành những cơ sở cung cấp dịch vụ ăn uống và mua sắm. Khách du lịch sau khi tắm biển xong thường có cảm giác đói, sau đó ta có thể giúp những du khách hòa mình vào những khu ẩm thực với một không khí vui vẻ và hòa đồng nhôn nhịp giúp du khách có cảm giác dễ chịu, thích thú, sau đó là các khu mua sắm với đa dạng các loại sản phẩm, nơi mà du khách có thể chiêm ngưỡng những kết tinh giá trị văn hóa qua những sản phẩm cụ thể. Chi phí thực hiện vào khoảng 10 tỷ VND với quy mô 2 khu ẩm thực và 2 khu mua sắm, huy động 180 nhân viên. Thời gian xây dựng khoảng nửa năm và thời gian hoàn vốn khoảng 3 năm. - Về chiến lược giá. Thiết kế các khung giá phù hợp với những thị trường du khách khác nhau. Mỗi thị trường du khách khác nhau sẽ có tâm lý du lịch khác nhau và kéo theo nó là tâm lý tiêu xài khác nhau. Đối với nhóm du khách thư giãn, nghỉ dưỡng, chiến lược giá phù hợp có lẽ là chiết khấu. Họ sẵn sàng chi trả một số tiền lớn cho dịch vụ du lịch. Tuy nhiên, một khoản chiết khấu nhỏ có thể làm cho họ hài lòng. Ngược lại, đối với nhóm khách du lịch tự túc, ta nên áp dụng chiến lược giá thấp để thu hút lượng khách du lịch trên. Luôn giữ giá ổn định, tránh xảy ra tình trạng đẩy giá, nâng giá, chỉ nhìn thấy lợi nhuận trước mắt gây ra tâm lý khó chịu và đánh mất lòng tin của du khách. - Về chiến lược kênh phân phối. Mở rộng kênh phân phối trực tiếp và gián tiếp đến các địa phương có ngành du lịch phát triển. Chẳng hạn như ta mở các đại lý du lịch hay công ty du lịch Quảng Ngãi tại Thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam,… Hoặc ta có thể liên kết với các công ty du lịch khác, tranh thủ hệ thống phân phối của đối tác để mở rộng kênh phân phối của chính doanh nghiệp. Thiết lập kênh phân phối thông qua điện thoại hay trang mạng (website). Bằng cách sử dụng tiến bộ trong 88
  • 89. lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin, các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, đặc biệt là các cơ sở lưu trú có thể phát triển hệ thống đặt phòng từ xa và thanh toán qua mạng. Việc phân phối này rất thuận lợi cho cả cơ sở kinh doanh lẫn du khách. - Về chiến lược xúc tiến đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Lập Hiệp Hội Việt Kiều của tỉnh Quảng Ngãi để quảng bá du lịch theo tinh thần và quan điểm của Tổng cục Du lịch Việt Nam xem Việt kiều như một nguồn lực quan trọng để quảng bá cho du lịch Việt Nam. Phát hành tài liệu du lịch tỉnh Quảng Ngãi tại các thành phố lớn nổi tiếng về du lịch như thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, Hà Nội, Hội An,…Quay đoạn phim quảng bá về các chương trình du lịch và các hình ảnh về du lịch của tỉnh Quảng Ngãi, phát trên kênh truyền hình của tỉnh và truyền hình Việt Nam, trên trang mạng (website) thông tin du lịch của tỉnh. Thứ hai là xây dựng một nền văn hóa du lịch thân thiện, đậm đà bản sắc dân tộc + Về phía địa phương Theo ông Vũ Thế Bình, Vụ trưởng Vụ Lữ hành (Tổng cục Du lịch) nhấn mạnh: “Hơn 80% du khách sang Việt Nam đều lấy thông tin từ bạn bè và người thân. Việc tỏ thái độ thân thiện với số du khách nước ngoài đến Việt Nam chính là cách thức quảng bá, tuyên truyền hiệu quả nhất để vận động họ quay trở lại cùng với bạn bè và người thân” [36]. Để có một nền du lịch phát triển thì không chỉ nhờ sự cố gắng chính quyền hay doanh nghiệp mà còn nhờ sự góp sức của người dân. Hơn bao giờ hết, sự phát triển của ngành du lịch cần có sự hỗ trợ của người dân trong việc tạo dựng hình ảnh một vùng đất thân thiện và đậm đà bản sắc dân tộc. Nhằm giúp người dân dễ dàng nhận thức điều đó, người viết đưa ra giải pháp sau: - Tuyên truyền, giáo dục ý thức du lịch của người dân bằng hình thức quảng bá nét đẹp và sự ích lợi của du lịch mang lại. Người viết đề xuất chương trình quảng bá mang tên “Một nụ cười cho một du khách”. Chương trình sẽ bao gồm những đoạn phim quảng cáo xoay quanh chiến lược du lịch của tỉnh nhà, đồng thời chỉ ra những ích lợi từ những nụ cười của người dân mang lại cho ngành du lịch. Bên cạnh đó, chương trình cũng thiết kế các băng rôn, phát tờ rơi đến những điểm kinh doanh 89
  • 90. dịch vụ du lịch và khu vực chung quanh. Nội dung chính của toàn bộ chương trình là thông điệp: cho dù bạn là ai là nhân viên hàng không hay người bán hàng nước, nhân viên khách sạn hay người đưa đò, nhân viên văn phòng hay nông dân làm vườn, hãy làm cho quê hương, mảnh đất Quảng Ngãi mình đẹp hơn bằng chính nụ cười của bạn. Hãy cười với những người khách thân yêu của chúng ta. Thông điệp sẽ giúp đưa người dân gần hơn với khách du lịch quốc tế và ngược lại họ sẽ cảm thấy thật gần, thật thương mảnh đất họ đi qua. Chương trình được dự tính kéo dài 1 tháng với chi phí tổng cộng 365,5 triệu VND, huy động 14 nhân công, 6000 truyền đơn và 30 băng rôn. + Về doanh nghiệp - Phối hợp cùng chính quyền trong các chiến dịch tuyên truyền thực hiện văn hóa một điểm đến thân thiện. Hơn nữa, chính thái độ nhân viên trong các cơ sở du lịch quyết định phần lớn ấn tượng của du khách. Vì vậy, doanh nghiệp cần khuyến khích nhân viên có những cử chỉ và thái độ thích hợp. - Văn hóa doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch phải đi tiên phong trong việc thể hiện văn hóa địa phương. Nhờ đó, gây ấn tượng mạnh trong lòng du khách. Cụ thể các cơ sở thiết kế logo, khẩu hiệu nên sử dụng những hình ảnh gắn với quê hương, không nên chạy theo xu hướng tân thời, lai căn. Chẳng hạn như bức tường của khách sạn lại thiết kế theo “kiểu graffiti” hay những nhân viên trong nhà hàng phục vụ món ăn dân tộc lại mặc những trang phục hở hang, phản cảm. Tuy yếu tố sáng tạo là không thể thiếu trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp nhưng phải đảm bảo sao cho không vượt qua giới hạn truyền thống tốt đẹp của dân tộc. 2.3. Các giải pháp về tuyên truyền quảng bá Thứ nhất là gắn tuyên truyền, marketing với phát triển sản phẩm 90
  • 91. Sơ đồ 3.1: Nhiệm vụ của các doanh nghiệp nhằm gắn kết thị trường với phát triển sản phẩm “Nguồn: Tự tổng hợp” - Minh bạch hóa công tác Marketing chính là việc cung cấp thông điệp rõ ràng và minh bạch về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Thông điệp mà doanh nghiệp gửi đến du khách phải chính xác và trung thực đúng như chất lượng dịch vụ mà doanh nghiệp có thể cung cấp. Điều này không chỉ giúp cho du khách quốc tế có được những thông tin chính xác để có thể đưa ra cho mình một quyết định đúng đắn mà còn giúp bản thân các doanh nghiệp xây dựng được lòng tin, uy tín trong lòng du khách quốc tế khi đến Việt Nam. - Tăng cường hiểu biết khách hàng. Để thành công trong cạnh tranh, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch phải coi trọng tìm hiểu tâm lý, thị hiếu và đặc điểm du khách quốc tế. Đó chính là tâm lý muốn khẳng định địa vị của mình trong xã hội thể hiện qua những yêu cầu, đòi hỏi cao của du khách trong quá trình du lịch, sẵn sàng dành ra những khoản chi lớn cho các dịch vụ có chất lượng tốt nhất đồng thời thể hiện được đẳng cấp của người sử dụng dịch vụ - Linh hoạt trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch. Sự linh hoạt đó thể hiện qua việc lắng nghe khách du lịch, hiểu điều họ muốn và biến đổi sản phẩm, dịch vụ phù hợp với thị hiếu của họ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ. 91
  • 92. Du lịch Quảng Ngãi đang, đã và sẽ chịu cạnh tranh gay gắt từ các tỉnh khách và các quốc gia khác( tỉnh và quốc gia khác). Vì vậy, nếu các doanh nghiệp thiếu tính linh hoạt trong việc thay đổi, cải thiện, mở rộng sản phẩm du lịch của mình thì sẽ khiến cho du khách quốc tế nhàm chán và không tiếp tục sử dụng dịch vụ. - Thỏa mãn những nhu cầu của khách du lịch. Việc thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch không phải là một chuyện dễ dàng. Du lịch là một sản phẩm vô hình, khách hàng cảm nhận được chất lượng sản phẩm sau khi sử dụng nó và hoàn toàn không có sản phẩm dự trữ. Vì vậy, để thỏa mãn nhu cầu của du khách quốc tế các doanh nghiệp khả năng đáp ứng được nhu cầu từ nhỏ nhất đến nhu cầu lớn, có như thế du khách mới cảm nhận được chất lượng trong các dịch vụ du lịch của tỉnh - Thành công từ nghệ thuật giữ chân khách hàng. Nghệ thuật giữ chân ở đây được hiểu là bên cạnh sự linh hoạt trong cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch thì yếu tố khách cũng quan trọng không kém khiến khách hàng quay lại là nghệ thuật phục vụ và chăm sóc khách hàng. Nghệ thuật này được thể hiện xuyên suốt trong quá trình phục vụ khách hàng từ cách cư xử của nhân viên cho đến thái độ quan tâm từ phía lãnh đạo công ty sau khi khách hàng đã sử dụng dịch vụ Thứ hai là ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động du lịch Xuất phát từ thực trạng tình hình quảng bá về du lịch Quảng Ngãi còn quá kém và từ kết quả khảo sát thực tế rằng khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi được tiếp cận quá ít với thông tin du lịch Quảng Ngãi, bên cạnh việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá và xây dựng mối quan hệ liên kết du lịch như đã trình bày trong phần giải pháp vĩ mô, người viết xin mạnh dạn đưa ra những giải pháp giúp doanh nghiệp tự quảng bá cho chính mình thông qua việc ứng dụng khoa học – công nghệ thông tin như sau: Thứ nhất là quảng cáo bằng cách mua lại từ khóa trên Google. Theo Experian Hitvise, công ty nổi tiếng ở Mỹ chuyên thu thập các dữ liệu trực tiếp từ các mạng ISP để giúp các nhà quản trị trang web phân tích được hành vi của những người ghé thăm trang web của mình và giúp đo lường được thị phần của các trang web, Google chiếm áp đảo lượng tìm kiếm trên mạng [34]. Vì thế mà người viết chọn 92
  • 93. google nơi để quảng cáo. Biểu đồ 3.1: Thị phần của những công cụ tìm kiếm hàng đầu thế giới “Nguồn: Experican Hitvise” Exprian Hitwise cũng thu thập dữ liệu từ 10 triệu người Mỹ sử dụng công cụ tìm kiếm trong khoảng thời gian từ 27/02/2010 đến 27/03/2010 và kết quả cho thấy độ dài của từ khóa tìm kiếm chiếm tỷ trọng cao nhất là một từ và hai từ Bảng 3.4: Tỷ trọng độ dài từ khóa tìm kiếm của người Mỹ Đơn vị tính: % Tiêu chí Tháng 2 – 2010 Tháng 3 – 2010 Một từ 22,81 22,98 Hai từ 22,85 22,81 Ba từ 20,46 20,32 Bốn từ 14,33 14,27 Năm từ 8,54 8,55 Sáu từ 4,69 4,71 Bảy từ 2,58 2,59 Tám từ trở lên 3,74 3,77 “Nguồn: Experican Hitvise” 93
  • 94. Nếu có nhiều người đặt mua cho cùng một từ khóa thì Google sẽ tổ chức đấu giá, người trả giá cao nhất cho từ khóa đó sẽ sở hữu từ khóa. Và mỗi khi có người gõ vào Google từ khóa để tìm kiếm thông tin thì lập tức Google sẽ đưa ra kết quả với tên của doanh nghiệp mua từ khóa xuất hiện ngay kết quả đầu tiên, trong khung màu vàng - Đối với doanh nghiệp kinh doanh khách sạn. Khi du khách có ý định đến du lịch ở Quảng Ngãi, thường thì du khách sẽ tìm kiếm với từ khóa là “hotel” hoặc “resort” và kết hợp với tên địa điểm là “Quảng Ngãi”. Dựa vào cơ sở đó ta thấy chỉ nên chọn từ khóa ngắn gọn vì thứ nhất, du khách có xu hướng tìm kiếm với một từ, hoặc hai từ khóa là chủ yếu như đã phân tích ở biểu đồ trên và thứ hai, việc mua nhiều từ sẽ tốn một khoảng tiền rất lớn của doanh nghiệp. Vậy nên, người viết đề xuất nên cân nhắc để đặt mua là “Quang Ngai hotel”, “Quang Ngai resort” - Đối với doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, du lịch: Tương tự như thế công ty Du Lịch Quảng Ngãi có thể áp dụng để đặt mua là: “Quang Ngai tourism”, “Mỹ Khuê torism” Thứ hai là liên kết với các website uy tín để giúp khách quốc tế đặt phòng. Giải pháp này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp kinh doanh khách sạn. Một xu hướng là du khách ngày càng thích tự bản thân thiết kế tour du lịch cho chính mình và vấn đề về chỗ ở là vấn đề được lưu tâm hàng đầu khi du khách đi đến một nơi nào đó. Nói thế không đồng nghĩa với việc du khách chi tiền nhiều cho nhu cầu ăn ở, mà để nói lên được tầm quan trọng của nơi dừng chân nghỉ qua đêm khi đi du lịch. - Với trang web nổi tiếng của Việt Nam về đặt phòng khách sạn là www.vietnamhotel.vn, hầu hết các khách sạn ở thành phố Quảng Ngãi đều đã liên kết với trang web này. Tuy nhiên, có một điều đáng lưu ý là thong thường du khách đi dạng riêng lẻ thì sẽ có khuynh hướng chi tiêu ít hơn các nhu cầu khác, cho nên du khách thường chọn đến với khách sạn 1-2 sao. Và qua khảo sát trang web thì chỉ thấy có địa chỉ và số điện thoại liên lạc. Điều này gây khó khăn cho việc chọn phòng và đặt từng phòng cụ thể. Vì thế, các khách sạn cần cập nhật những thông tin 94
  • 95. cơ bản về khách sạn mình, hình ảnh toàn cảnh khách sạn,…để giúp thu hút khách quốc tế đặt phòng ở khách sạn mình. - Với những trang web nổi tiếng thế giới như: www.booking.com, www.bookingonline.asian, hiện nếu tìm kiếm với địa điểm là Quảng Ngãi thì không thấy có kết quả. Nếu liên kết với trang web này cần phải trả hoa hồng tùy theo cam kết của hai bên nhưng không thấp mức tối thiểu mà trang web đặt ra. Vì vậy, các khách sạn 1-2 sao không nên liên kết với những trang web có quy mô lớn như thế này vì nó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của khách sạn. Những khách sạn từ 3 sao trở lên với tiềm lực tài chính mạnh thì có thể áp dụng phương án này. IV. Một số kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan 1. Kiến nghị đối với Chính phủ Mục tiêu của ngành du lịch là phát triển bền nhanh và bền vững, nhất thiết phải có sự điều tiết đúng đắn của Chính phủ và Nhà nước - Tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng một tiền đề thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển mà trong đó có lĩnh vực dịch vụ du lịch. Song song đó, ban hành cở sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh để các doanh nghiệp cùng nhau phát triển. - Tiếp tục thực hiện chương trình kích cầu du lịch, đưa ngành du lịch của nước nhà qua khỏi tình trạng khó khăn, tạo ra một động lực phát triển mạnh mẽ cho sự phát triển du lịch trong những năm tiếp sau. - Cung cấp nguồn vốn cho công tác quy hoạch, đầu tư, nâng cấp, bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể như các di tích lịch sử, văn hóa, các làng nghề truyền thống,… nhằm phục vụ cho du lịch. - Có chính sách khuyến khích ưu đãi về tín dụng, thuế cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển du lịch. Tăng cường liên doanh trong nước, thu hút vốn trong nước cần được xem là hướng ưu tiên. Đồng thời cũng quan tâm kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài với những công trình có quy mô vốn lớn. Cần tập trung thứ tự ưu tiên vào các dự án du lịch có quy mô lớn, quan trọng, không đầu tư dàn trải manh mún. 95
  • 96. - Tiếp tục chỉ đạo Tổng cục du lịch đẩy mạnh hơn nữa việc xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam ra thị trường nước ngoài bằng các phương tiện thông tin đại chúng. Thông qua đó, xây dựng hình ảnh đất nước Việt Nam thân thiện, mến khách với quan cảnh thiên nhiên hữu tình và đậm đà văn hóa dân tộc. Song song đó, tạo điều kiện tỉnh, thành có cơ hội quảng bá cho riêng địa phương mình. - Tạo điều kiện cho du khách quốc tế khi làm thủ tục xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu, đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian không cần thiết trong quá trình làm thủ tục, đồng thời đưa ra những trường hợp có thể miễn thị thực cho du khách, đặc biệt là khách đến từ các thị trường lân cận và trọng điểm. - Đề nghị Chính phủ nhanh chóng chỉ đạo Bộ Giao thông vận tải có kế hoạch phát triển ngành hàng không, cho phép thêm nhiều thành phần kinh tế tham gia thành lập hãng hàng không trong nước, bình đẳng với nhau trong kinh doanh để khắc phục tình trạng thiếu chuyến bay trong nước, tạo điều kiện cho khách du lịch dễ dàng hơn trong việc đi lại 2. Kiến nghị đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Phối hợp với Quảng Ngãi xây dựng và triển khai thực hiện chương trình bào tồn tôn tạo và phát huy tác dụng các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, các vùng bảo tồn thiên nhiên. Ưu tiên các dự án bảo tồn di tích lịch sử văn hóa gắn với du lịch. - Ban hành các thông tư quy định chất lượng cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, lữ hành, ăn uống và vận tải du lịch; đồng thời quy định chế tài xử phạt nhằm tạo thành hành lang pháp lý rõ ràng, tiến tới việc phổ cập tiêu chuẩn quốc tế ở các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch. - Thiết kế các đoạn phim quảng cáo và đăng bài các bài báo, tạp chí tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, về tầm quan trọng và nguồn lợi du lịch mang lại. Đồng thời, xây dựng những khẩu hiệu về du lịch trong tâm trí người dân, tiến tới xây dựng nền văn hóa du lịch văn minh, đậm đà bản sắc dân tộc. 96
  • 97. - Giúp đỡ tỉnh trong việc quảng bá tuyên truyền tại các thị trường trọng điểm quốc tế, làm cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến Quảng Ngãi khảo sát và đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ du lịch. 3. Kiến nghị đối với UBND tỉnh Quảng Ngãi và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi - Đặt chiến lược phát triển dịch vụ du lịch trở thành động lực chính cho nhiệm vụ phát triển du lịch trong thời gian tới. Tạo điều kiện về chính sách và đưa ra những chính sách hỗ trợ về nguồn vốn các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này phát triển và tạo ra những dịch vụ chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế. - Hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển du lịch, cải tạo nâng cấp các khu, điểm du lịch, các cơ sở lưu trú, vận tải, ăn uống, giải trí, mua sắm,… Đẩy nhanh tiến độ giải ngân của các dự án đầu tư đồng thời kịp thời thu hồi giấy phép đối với những trường hợp “ngâm dự án” để chuyển đổi sang nhà đầu tư khác. - Thành lập hội Việt kiều của tỉnh Quảng Ngãi, đồng thời kết hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi tổ chức buổi hội thảo nhằm liên lạc và truyền đạt thông điệp góp phần phát triển ngành du lịch tỉnh nhà. - Thường xuyên liên kết với các các địa phương phụ cận, đặc biệt là tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng và Huế hình thành các chương trình hợp tác du lịch liên vùng. - Khôi phục và bảo tồn những phong tập, tập quán, văn hóa tốt đẹp của tỉnh nhà, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa ẩm thực và nghệ thuật dân gian. Đưa những nét đẹp ấy đến du khách hơn nữa, để họ cảm được cái đẹp và tuyên truyền cho những người khác biết. - Tổ chức các cuộc thi sáng tác phim quảng cáo, bài hát và khẩu hiệu cho du lịch tỉnh nhà. Hoạt động giúp đưa khái niệm dịch vụ du lịch quốc tế đến với nhân dân và huy động được nguồn tư duy sáng tạo của tỉnh. 4. Kiến nghị đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 97
  • 98. Nếu như nhiệm vụ của Chính phủ và chính quyền địa phương là đóng vai trò hỗ trợ cho việc phát triển dịch vụ du lịch thì doanh nghiệp đóng vai trò người tiên phong, là nhân tố quyết định sự phát triển của dịch vụ du lịch quốc tế của tỉnh. Chính các doanh nghiệp là người trực tiếp tiếp xúc với du khách để tạo ra chất lượng của dịch vụ du lịch. Vì vậy, các doanh nghiệp không thể đứng ngoài cuộc trong nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ của toàn tỉnh. - Phát triển chương trình du lịch theo chủ đề do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề ra, đồng thời phối hợp nhuần nhuyễn với các lĩnh vực dịch vụ khác nhằm mang lại hiệu quả kinh tế và thỏa mãn nhu cầu của du khách. Đồng thời liên kết các cơ sở lữ hành tại các địa phương khác, thiết kế các chương trình du lịch vùng - Nắm vững các tiêu chuẩn về thẩm định chất lượng cơ sở lưu trú, các điều kiện đón khách quốc tế. Tăng cường đầu tư hơn nữa vào cơ sở vật chất, các trang thiết bị, tiện nghi phục vụ khách du lịch. - Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đẩy mạnh việc sáng tạo ra những món ăn mới song vẫn giữ được những đặc sản địa phương và hương vị truyền thống. - Đảm bảo sự tiện nghi và an toàn nhất cho hành trình vận chuyển du khách. Đẩy mạnh các hình thức vận tải thân thiện với môi trường. - Dựa vào lợi thế vùng, xây dựng nhiều loại mô hình vui chơi giải trí khác nhau, phù hợp với mọi đối tượng, mọi lứa tuổi. Sáng tạo ra nhiều loại hình giải trí mới lạ, tạo được điểm nhấn cho ngành du lịch tỉnh nhà. Tiểu kết Chương 3 Trong Chương 3, người viết đã tổng hợp một số dự báo và xu hướng phát triển du lịch quốc tế của vùng Bắc trung bộ và Quảng Ngãi. Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những cơ hội và thách thức cho ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi. Mặt khác, người viết cũng đưa ra những quan điểm, mục tiêu và định hướng triển khai của ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2011 - 2020. Từ đó đề xuất một số giải pháp vĩ mô và vi mô cùng với những kiến nghị với Chính phủ và Nhà nước, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Quảng Ngãi và Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ở Quảng Ngãi nhằm tăng 98
  • 99. cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi. 99
  • 100. KẾT LUẬN Trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực, du lịch không những đóng góp một nguồn thu đáng kể trong ngân sách Nhà nước mà còn góp phần đưa nền kinh tế đi lên. Song để thành công trong quá trình hội nhập quốc tế, ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng cần nhận thức đúng đắn về vai trò và tầm quan trọng của việc phát triển dịch vụ du lịch quốc tế của mình lên một tầm cao mới, nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch quốc tế, góp phần vào việc quảng bá hình ảnh đất nước với tài nguyên phong phú, con người thân thiện và văn hóa du lịch tiến bộ đến với thế giới. Đề tài khóa luận tốt nghiệp “ Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020” ra đời nhằm phản ánh nội dung trên. Với hơn chín mươi trang viết theo kết cấu ba chương có trọng tâm, trọng điểm và nhất quán theo mục tiêu nghiên cứu xác định ban đầu, khóa luận tốt nghiệp đã khái quát được nội dung chủ yếu được liệt kê sau: Một là, xây dựng hệ thống lý luận chung về thu hút khách du lịch quốc tế, hệ thống hóa các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi, nghiên cứu kinh nghiệm của một vài quốc gia trong khu vực, đồng thời đánh giá được những tiềm năng và sự cần thiết của sự phát triển dịch vụ du lịch quốc tế của tỉnh Quảng Ngãi. Hai là, phân tích thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi trong giai đoạn 2001 – 2010, từ đó đánh giá những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại cũng như những nguyên nhân nhằm có thể đưa ra biện pháp khắc phục. Ba là, đề xuất quan điểm, mục tiêu phấn đấu, các định hướng triển khai và một số giải pháp ở tầm vi mô và vĩ mô nhằm tăng cường thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi giai đoạn 2011 – 2020. Từ đó góp phần vào công cuộc phát triển du lịch Việt Nam. Qua những số liệu thống kê tình hình du lịch Quảng Ngãi trong những năm qua kết hợp với khảo sát thực tế, người viết nhận thấy đa phần khách du lịch yêu thích cảnh quan thiên nhiên, bãi biển và con người thân thiện nơi đây. Trong các 100
  • 101. giải pháp đề ra, tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá và xây dựng một nền văn hóa du lịch thân thiện, đậm đà bản sắc dân tộc là hai giải pháp quan trọng nhất. Tuy nhiên, để đạt sự phát triển mong muốn, dịch vụ du lịch quốc tế của tỉnh Quảng Ngãi rất cần vai trò quản lý của Nhà nước về du lịch nói chung và dịch vụ du lịch nói riêng. Tác giả tin tưởng rằng khi Nhà nước, chính quyền địa phương và người dân cùng nhau phối hợp thực hiện các giải pháp đã đề ra thì du lịch Quảng Ngãi nhất định sẽ phát triển và đạt một tầm cao mới, đóng góp tích cực vào sự phát triển ngành du lịch của nước nhà. Hy vọng với những giải pháp cơ bản trên, tác giả mong muốn sẽ đóng góp một phần công sức của mình vào việc đẩy mạnh phát triển du lịch quốc tế của tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới. Tuy nhiên, do hạn chế và thời gian và kiến thức cũng như nguồn tài liệu nên phạm vi nghiên cứu và khả năng ứng dụng của đề tài còn hẹp. Người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía quý thầy cô và bạn đọc để đề tài được tốt hơn. 101
  • 102. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 1. Ban đặc trách Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên Giai đoạn III (2009), Báo cáo Chiến lược Tổng thể phát triển ngành dịch vụ (CSSSD) tới năm 2020 và tầm nhìn tới năm 2020, Hà Nội, trang 59. 3. Cục Thống Kê tỉnh Quảng Ngãi (2010), Niên Giám Thống Kê tỉnh 2008, trang 224 – 226. 2. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2002), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội. 6. Đoàn Liêng Diễm (2003), Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Một số giải pháp phát triển Du lịch bền vững Thành phố Hồ Chí Minh, trang 140 - 142 - 145, Hồ Chí Minh. 5. GS., TS. Nguyễn Văn Đính, PGS., TS. Trần Thị Minh Hòa (2008), Giáo trình kinh tế du lịch, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, trang 10 - 11 - 217 - 222 - 223. 43. PTS. Nguyễn Minh Tuệ (2007), Địa lý du lịch, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, trang 11 - 15. 26. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng ngãi (2011), Báo cáo hoạt động năm 2010 và phương hướng phát triển du lịch Quảng Ngãi năm 2011, Quảng Ngãi. 27. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi (2010), Báo cáo hoạt động năm 2009 và phương hướng phát triển du lịch Quảng Ngãi năm 2010, Quảng Ngãi. 28. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi (2007), Quy hoạch phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2020, Quảng Ngãi. 24. Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (2005), Luật Du lịch 2005, NXB Chính trị Quốc gia. 33. Tổng cục thống kê (2010), Niên giám thống kê 2009 (tóm tắt), NXB thống kê, trang 182 - 184. 9. Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (2010), Ổn định kinh tế vĩ mô để tăng trưởng cao hơn, Pháp Luật Online (01/01/2010), tại http://phapluattp.vn/20100101120145104p0c1013/on-dinh-kinh-te-vi-mo-de- tang-truong-cao-hon-.htm, ngày truy cập 10/05/2010. 102
  • 103. 13. Bali: Thiên đường nhiệt đới, website thế giới trong tầm tay bạn, tại http://maxreading.com/sach-hay/du-lich-the-gioi/bali-thien-duong-nhiet-doi- 38647.html, ngày truy cập 5/05/2010. 32. Lại Thúy Hà (2010), Du lịch đóng góp gián tiếp 738.600 tỷ đồng vào GDP năm 2020, Website tổng cục du lịch Việt Nam (10/12/2010), tại http://www.vietnamtourism.gov.vn/index.php?cat=1005&itemid=8731, ngày truy cập 15/04/2011. 46. Nguyệt Hà (2011), Du lịch Việt Nam trước cơ hội lớn, Website Tổng thông tin điện tử chính phủ (05/02/2011), tại http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Du-lich-Viet-Nam-truoc-co-hoi-lon/20112/ 63023.vgp/, ngày truy cập 19/04/2011. 38. Nam Cường, Quảng Ngãi – thực trạng thu hút FDI, Website xúc tiến đầu tư miền trung cục đầu tư nước ngoài, bộ kế hoạch và đầu tư (26/11/2010), tại http://xuctiendautumientrung.gov.vn/bantin/index.php? option=com_content&view=article&id=52:quangngai-fdi&catid=27:t11- hoatdongxuctiendautu&Itemid=28&lang=vi, ngày truy cập 01/05/2011. 42. Petro Sông Trà: Tiếp tục đạt danh hiệu “Khách sạn 3 sao hàng đầu Việt Nam”, Website trang báo Quảng Ngãi (01/07/2010), tại http://www.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/sbn_321/2010/53578/, ngày truy cập 18/04/2011. 44. Sở TM-DL, Du lịch Quảng Ngãi, Website tỉnh Quảng Ngãi, tại http://www.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/DL/102292/, ngày truy cập 19/04/2011. 12. Thiên Hương (2009), Để thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, VOV News (06/01/2009), tại http://vovnews.vn/Home/De-thu-hut-khach-du-lich-quoc-te-den-Viet-nam/ 20091/102311.vov, ngày truy cập 25/05/2010. 10. Thanh Hà (2010), Hướng dẫn du lịch Quảng Ngãi, website sở Văn hóa, Thông tin và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi (31/10/2010) 103
  • 104. http://www.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/chuyennganh/sovhtt/ 1342522/, ngày truy cập 20/04/2011. 35. Tạ Quy (2010), Du lịch Quảng Ngãi - Chặng đường hơn 20 năm, Website trung tâm xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Ngãi (12/07/2010), tại http://www.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/sbn_321/2010/53808/, ngày truy cập 15/04/2011. 39. Trịnh Phương (2009), Hệ thống khách sạn ở Quảng Ngãi: Lượng tăng nhưng chất chưa cao (19/08/2009), tại http://baoquangngai.com.vn/channel/2025/2009/08/1715604/, ngày truy cập 15/ 04/2011. 14. Tuyết Nga, Singapore – Thiên đường du lịch sạch, website du lịch cao cấp, tại http://www.dulichcaocap.vn/singapore-thien-duong-du-lich-sach. 29. Vĩnh Thụy (2011), Trường Lũy Quảng Ngãi được xếp hạng di tích cấp Quốc gia, Website thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi (10/03/2011), tại http://ca.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/bangtin/2011/60401/, ngày truy cập 15/04/2011. 36. Thu Trang (2010), Hãy nở nụ cười với du khách, Hà Nội Mới Online (13/03/ 2010), tại http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/du_lich/314342/hay-no-nu-cuoi-voi- du-khach!.htm, ngày truy cập 12/05/2010. 40. Vĩnh Thụy (2011), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai nhiệm vụ năm 2011, Website thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi (04/03/2011), tại http://sbcvt.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/bangtin/2011/60258/, ngày truy cập 15/04/2011. 41. Việt Hà, Du lịch Quảng Ngãi - Thu hút từ đâu?, Website trang báo Quảng Ngãi (25/12/2010), tại http://baoquangngai.com.vn/channel/2024/201012/du-lich-Quang-Ngai-Thu- hut-tu-dau-1971532/, ngày truy cập 18/04/2011. 104
  • 105. 45. UNWTO dự báo du lịch thế giới sẽ tăng trưởng 4%, Website Tổng Cục Du lịch, (4/5/2010) tại http://www.quangngai.gov.vn/quangngai/tiengviet/DL/102292/, ngày truy cập 19/04/2011. TIẾNG ANH 34. Experian Hitwise, Ask share of searches increases for fourth straight month, tại http://www.hitwise.com/us/press-center/press-releases/google-searches-mar-10, ngày truy cập 13/04/2011 49. A.G.Laffey, Ram Charan (2008), The Game - Changer: How you can drive the revenue, NXB Crown Business. 50. A.K.Raina, S.K.Agarwal (2004), The Essence of Tourism Development, NXB Sarup & Sons New Delhi, trang 18 - 30 - 36. 51. The Borneo Post (2010), 2.3 million tourists to come with 4 million MYR, Sabah Tourism Board (25/01/2010), tại http://www.sabah.com/sabah-malaysian-borneo/en/news/4961-23-mln-tourists- to-bring-in-rm4-bln/, ngày truy cập 30/05/2010. 53. David Weaver (2008), Sustainable tourism: Theory and Practice, NXB Elsevier Butterworth - Heinemann, trang 10. 105
  • 106. PHỤ LỤC Phụ lục 1 QUESTIONNAIRE Dear Sir/Madam, I am a senior student at Foreign Trade university HMC, and now I am doing a market survey for my Thesis: “Enhance attracting international tourists to Quang Ngai Province in the period 2011 – 2020” Your response in each question in this questionnaire will ONLY be used for the thesis and be kept strictly confidential. I should be pleased if you could spare 3 minutes to participate in this survey. Thank you so much for your kind cooperation. I. MAJOR INFORMATION ABOUT YOUR TRIP IN QUANG NGAI: 1. How many times have you visited Quang Ngai? Once Twice 3 times More than 3 times 2. What was your purpose to visit Quang Ngai? Business Convention Visiting relative /friend Tourism Discovery Other (please specify):……………………………………………………………. 3. Your tour was prepared by: Yourself Your company Travel agent Other (please specify):……………………………………………………………. 106
  • 107. 4. How long will you stay in Quang Ngai? Less than 1 day 1-2 days 3 day More than 3 days 5. What was your style of accommodation? Lodging house 1-2 star hotel 3-4 star hotel Other(pleasespecify):……………………………………………………………… 6. Please rate 1-5 for these service in Quang Ngai (1 means very good, 5 means very bad) 1 2 3 4 5 Tourism information Local culture Quality of foods and drinks Hotel and other accommodation Transportation Shopping Entertainment Sightseeing spots 7. Please rate 1-5 for the services you are willing to pay more if which service is improved? (1 means the most, 5 means the least) Shopping: Foods and drinks: Entertainment: Accommodation: Transportation: 8. How much money do you spend in one day in Quang Ngai on average? 107
  • 108. ………………………………………………………………………………………... 9. In your opinion, what is the own characteristic in Quang Ngai that can help attract international tourists? Culture Sea Sightseeing Spot eating- house Other (please specify):……………………………………………………………. 10.What do you dislike about Quang Ngai? Foods and Drinks Weather Traffic system Accommodation Additional Service Other (please specify):……………………………………………………………. 11.What means of transportation was you use to arrive for Quang Ngai? Train Ship Coach Bus Motorbike Other (please specify):……………………………………………………………. 12.What means of transportation was you use to ravel around Quang Ngai? Bus Taxi Motorbike Bicycle Other (please specify):……………………………………………………………. 13.Which source did you know about Quang Ngai from? Relative/ friend Internet Newspaper Travel agent Other (please specify):……………………………………………………………. 14.Do you intend to come back Quang Ngai? Yes May be No 15.Do you intend to introduce Quang Ngai to your relatives and friends? Yes May be No 108
  • 109. II. PERSONAL INFORMATION: 16.Where are you from?............................................................................................... 17.Gender: Male Female 18.How old are you? Under 30 30-40 40-50 Above 50 THE END 109
  • 110. Phụ lục 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT Ý KIẾN KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 1. Số lần đến Quảng Ngãi của du khách số lần số khách tỷ lệ (%) 1 68 81,93 2 6 7,23 3 3 3,61 trên 3 6 7,23 tổng cộng 83 100 2. Mục đích đến Quảng Ngãi của du khách Công việc số khách tỷ lệ (%) Không 67 80,72 Có 16 19,28 Tổng cộng 83 100 Triển lãm/ Hội nghị số khách tỷ lệ (%) Không 83 100 Có 0 0 Tổng cộng 83 100 Thăm bà con/ bạn bè số khách tỷ lệ (%) Không 76 91,57 Có 7 8,43 Tổng cộng 83 100 Du lịch số khách tỷ lệ (%) 110
  • 111. Không 0 0 Có 83 100 Tổng cộng 83 100 Khám phá số khách tỷ lệ (%) Không 64 77,11 Có 19 22,89 Tổng cộng 83 100 3. Người tổ chức tour của du khách Người tổ chức tour số khách tỷ lệ (%) Tự bản thân 70 84,34 Công ty 6 7,23 Công ty du lịch 7 8,43 tổng cộng 83 100 4. Thời gian du khách ở Quảng Ngãi Thời gian ở số khách tỷ lệ (%) dưới 1 ngày 13 16,87 1 - 2 ngày 64 77,11 3 ngày 3 3,61 hơn 3 ngày 2 2,41 Tổng cộng 83 100 5. Nơi lưu trú của du khách Nơi lưu trú số khách tỷ lệ (%) Nhà nghỉ 14 16,87 Khách sạn 1-2 sao 47 56,63 Khách sạn 3-4 sao 22 26,50 111
  • 112. tổng cộng 83 100 6. Đánh giá các dịch vụ du lịch tại Quảng Ngãi Chi tiết Điểm 5 Điểm 4 Điểm 3 Điểm 2 Thông tin Du lịch 45 21 13 4 Phần trăm 54,22 25,30 15,66 4,82 Chi tiết Điểm 5 Điểm 4 Điểm 3 Điểm 2 Điểm 1 Văn hóa địa phương 6 13 38 15 11 Phần trăm 7,23 15,66 45,78 18,07 13,26 Chi tiết Điểm 5 Điểm 4 Điểm 3 Điểm 2 Điểm 1 Chất lượng dịch vụ ăn uống 3 14 17 29 20 Phần trăm 3,61 16,87 20,48 34,94 24,10 Chi tiết Điểm 5 Điểm 4 Điểm 3 Điểm 2 Điểm 1 Nhà nghỉ, khách sạn 4 7 19 21 32 Phần trăm 4,83 8,43 22,89 25,30 38,55 Chi tiết Điểm 5 Điểm 4 Điểm 3 Điểm 2 Điểm 1 Phương tiện đi lại 5 17 32 21 8 Phần trăm 6,02 20,48 38,55 25,31 9,64 112
  • 113. Chi tiết Điểm 5 Điểm 4 Điểm 3 Điểm 2 Điểm 1 Dịch vụ giải trí 17 19 28 11 8 Phần trăm 20,48 22,89 33,73 13,25 9,65 Chi tiết Điểm 5 Điểm 4 Điểm 3 Điểm 2 Điểm 1 Nơi ngắm cảnh 11 19 26 22 5 Phần trăm 13,25 22,89 31,33 26,51 6,02 7. Đánh giá những dịch vụ mà du khách sẽ trả nhiều hơn nếu được cải thiện Mua sắm Mức sẵn sàng trả thêm số khách tỷ lệ (%) 1 33 39,78 2 20 24,09 3 11 13,25 4 10 12,04 5 9 10,84 Tổng cộng 83 100 Ăn uống Mức sẵn sàng trả thêm số khách tỷ lệ (%) 1 1 1,21 2 12 14,45 3 17 20,48 4 22 26,50 5 31 37,36 Tổng cộng 83 100 113
  • 114. Giải trí Mức sẵn sàng trả thêm số khách tỷ lệ (%) 1 27 32,55 2 20 24,09 3 15 18,07 4 13 15,66 5 8 9,63 Tổng cộng 83 100 Lưu Trú Mức sẵn sàng trả thêm số khách tỷ lệ (%) 1 2 2,41 2 13 15,66 3 19 22,89 4 21 25,30 5 28 33,74 Tổng cộng 83 100 Phương tiện đi lại Mức sẵn sàng trả thêm số khách tỷ lệ (%) 1 20 24,10 2 18 21,68 3 21 25,31 4 17 20,48 5 7 8,43 Tổng cộng 83 100 9. Đặc điểm thu hút khách du lịch quốc tế đến Quảng Ngãi Đặc điểm số khách tỷ lệ (%) 114
  • 115. Văn hóa 8 9,64 Biển 43 51,81 Nơi ngắm cảnh 21 25,30 Quán ăn 11 13,25 Tổng cộng 83 100 10. Đặc điểm mà du khách không thích về Quảng Ngãi Đặc điểm số khách tỷ lệ (%) Ẩm thực 5 6,02 Khí hậu 15 18,07 Hệ thống giao thông 24 28,92 Cơ sở lưu trú 4 4,82 Dịch vụ bổ trợ 35 42,17 Tổng cộng 83 100 11. Phương tiện giao thông mà khách du lịch dùng để đến Quảng Ngãi Phương tiện số khách tỷ lệ (%) Tàu hỏa 37 44,58 Tàu thủy 0 0 Xe khách 44 53,01 Xe Buýt 0 0 Xe máy 2 2,41 Tổng cộng 83 100 12. Phương tiện giao thông mà khách du lịch thường dùng để dạo quanh Quảng Ngãi Phương tiện số khách tỷ lệ (%) Xe buýt 6 7,22 Taxi 11 14,65 115
  • 116. Xe máy 8 9,63 Xe đạp 23 27,60 Xe khách theo tour 31 36,34 Đi bộ 4 4,56 Tổng cộng 83 100 13. Nguồn mà du khách biết đến Quảng Ngãi đầu tiên Nguồn số khách tỷ lệ (%) Bạn bè/ Người thân 13 15,67 Internet 17 20,48 Báo chí 2 2,41 Đại lý du lịch 10 12,05 Sách Lovely Planet 41 49,39 Tổng cộng 83 100 14. Đánh giá về việc quay lại của du khách Việc Quay lại số khách tỷ lệ (%) Có 18 21,69 Có thể 25 30,12 Không 40 48,19 Tổng cộng 83 100 15. Đánh giá về việc giới thiệu Quảng Ngãi của du khách cho người thân của họ Giới thiệu số khách tỷ lệ (%) Có 36 43,37 Có thể 29 34,94 Không 18 21,69 Tổng cộng 83 100 116
  • 117. 16. Quốc tịch của khách du lịch quốc tế Quốc tịch Số khách Tỷ lệ (%) Pháp 18 21,69 Mỹ 16 19,28 Hàn Quốc 11 13,25 Nhật Bản 11 13,25 Trung Quốc 7 8,43 Úc 5 6,02 Canada 5 6,02 Anh 3 3,61 Singapore 3 3,61 Bỉ 2 2,41 Thụy Sĩ 2 2,41 Tổng cộng 83 100 17. Giới tính của khách du lịch Giới tính Số khách Tỷ lệ (%) Nam 44 53,01 Nữ 39 46,99 Tổng cộng 83 100 18.Độ tuổi của khách du lịch Độ tuổi Số khách Tỷ lệ (%) dưới 30 23 27,71 30 - 40 31 37,35 40 - 50 17 20,48 trên 50 12 14,46 Tổng cộng 83 100 117

×