Your SlideShare is downloading. ×
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Chương 6
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×
Saving this for later? Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime – even offline.
Text the download link to your phone
Standard text messaging rates apply
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
644
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
2
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Chương 6: Kiểu hướng dịch vụ và mô hình hiện trạngPhân loại sản phẩm theo định hướng dịch vụ dựa trên nguồn gốc, đặc điểm cấutrúc, đóng góp kiến trúc, chức năng, và hành vi là thực hành của cái kiểu và hiệntrạng. Đây là phần mền xử lý quá trình phân loại sản phẩm cần được thực hiệntrong suốt vòng đời dịch vụ và chủ yếu được sử dụng để khám phá dịch vụ và đánhgiá phân tích. Ngoài ra 1 nhận dạng rõ ràng của các dịch vụ, nó sẽ không thể đánhgiá khả năng để cung cấp một giải pháp hiệu quả cho mối quan tâm của doanhnghiệp. Vì vậy kiểu phương thức này nên sử dụng để giúp nhãn, công nhận, vàphân loại các thực thể phần mềm tổ chức bởi các tính năng độc đáo của chúng vàngữ cảnh.Về lâu dài, kiểu dịch vụ và những hành động hiện thực cho phép việc xác định cơhội doanh nghiệp có thể dùng lại , giảm sự dư thừa quá trình kinh doanh trên toànngành, và hiệu quả kế hoạch hợp nhất sản phẩm trên môi trường sản xuất. Để xuấtkiểu dịch vụ và xử lý hiện trạng cũng sẽ cho phép các tổ chức xây dựng một kholưu trữ tài sản khả thi, được biết đến như một dịch vụ theo định hướng danh mụcđầu tư tài sản, biên mục và mục đích quản lý hàng tồn kho.Các mục tiêu chính của dịch vụ đánh máy và quá trình hồ sơ là gì?Làm thế nào họcó thể đạt được? Ở đây, nó là cần thiết để hoàn thành hai cột mốc quan trọng: Thứnhất, loại hình tổ chức dịch vụ. Cung cấp các định nghĩa rõ ràng và thiết lập sựnhận dạng của các dịch vụ đang được phân tích. Nói cách khác, sử dụng các thuậtngữ đơn giản để chỉ ra nguồn gốc của nó. Có một dịch vụ khái niệm đã được pháthiện trong giai đoạn khái niệm, hoặc là nó là một tài sản hiện có và hoạt động disản? Mô tả cấu trúc nội bộ: Liệu nó tổng hợp các dịch vụ khác, hoặc là nó là mộttài sản không thể chia? Ngoài ra, xây dựng trên bối cảnh của nó. Có một dịch vụ kỹthuật, tiện ích, hoặc một loại kinh doanh? Như có thể được hiển nhiên, quá trìnhnày không chỉ là dịch vụ phân tích về ghi nhãn hoặc gắn thẻ, nó cũng là về việc lựachọn tài sản cho các dự án hiện tại và giao tiếp đóng góp tiềm năng hợp tác của họvới vấn đề đó là để được giải quyết.Mục tiêu thứ hai là thiết lập một hồ sơ cá nhân toàn diện cho mỗi dịch vụ đượcphân tích.Đây là những hồ sơ doanh nghiệp tham khảo không chỉ xác định danhtính dịch vụ cung cấp thông tin chuyên sâu về tình trạng chu kỳ cuộc sống, phụthuộc vào các dịch vụ ngang hàng, các chi tiết mối quan hệ, và môi trường điều
  • 2. hành. Làm thế nào tổ chức có thể hưởng lợi từ những hồ sơ này?Hiện trạng giốngnhư danh mục sản phẩm hàng hóa.Họ có thể được sử dụng để giới thiệu các dịchvụ hiện tại hoặc các khái niệm dịch vụ để quản lý và cộng đồng phát triển để tái sửdụng trong tương lai, triển khai, và các hoạt động hội nhập.SERVICE-ORIENTED TYPING(Kiểu hướng dịch vụ)Typing là một quá trình ghi nhãn các sản phẩm phần mềm hướng dịch vụ và cungcấp một mô tả chung về bản chất của chúng.Những miêu tả rộng xây dựng trên cácdịch vụ tiềm năng của dịch vụ cho con-sumers và vạch ra cấu trúc của chúng.chúng có thể có giá trị thiết kế dịch vụ, kiến trúc của nó, và các cộng đồng hoạtđộng trong một chu kỳ đời sống theo định hướng dịch vụ. Tại sao kiểu dịch vụ làmột hoạt động cần thiết? Những miêu tả dịch vụ tương tự như bảng chú giải thuậtngữ mà nhân viên kinh doanh và công nghệ chẳng hạn như mô hình hóa, phân tích,kiến trúc, quản lý, và phát triển nhân viên, xác định các đặc điểm dịch vụ cơ bản,chức năng, và hành vi. Trong thực tế, kiểu quá trình truy nhập chỉ là một đánh giávề đóng góp của một dịch vụ cho một dự án hoặc một sáng kiến kinh doanh, vàkhông phải là quyết định cuối cùng của thiết kế sản phẩm hoặc kiến trúc. Vì vậy,các loại dịch vụ tinh chỉnh đặc tính của chúng và khái niệm vật lý, cái mà có thểđược tiếp tục sử dụng đòn bẩy trong suốt vòng đời dịch vụ.Các đặc điểm được sử dụng để phân loại dịch vụ là gì?Có ba nhóm thể loại lớn cóthể tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nhận dạng của một dịch vụ phân tích:nguồn dịch vụ, cơ cấu dịch vụ, và bối cảnh dịch vụ. Đây là những trụ cột của quátrình kiểu dịch vụ. Chúng cho phép một quá trình lựa chọn phân tích một dịch vụtrừu tượng được kiểm tra khả năng để góp phần giải quyết một vấn đề. Ngoài rakiểm tra là làm thế nào các dịch vụ mang tính kế thừa các sổ sách đã được chứngminh có thể tham giatrong một giải pháp hợp tác. Kiểu mô hình phân tích hướng dịch vụ
  • 3. Hình trên: Dịch vụ này phân tích mô tả kiểu mô hình tiếp tục phá vỡ các nhóm thểloại chủ yếu vào các lớp con. Một nguồn dịch vụ có thể là một trừu tượng, mộtdịch vụ di sản, hoặc thậm chí được liệt kê trong một danh mục đầu tư tài sản tổchức. Một cấu trúc dịch vụ có thể được mô tả như nguyên tử, kiến trúc hỗn hợphoặc nhóm. Và danh mục ngữ cảnh phân biệt giữa kinh doanh, kỹ thuật, hoặc cácloại linh tinh.ANALYSIS SERVICE SOURCE TYPETrong khi xác định tất cả các bên tham gia có thể đề xuất các giải pháp cho nhữngthách thức tổ chức, nó có thể trở nên rõ ràng rằng các dịch vụ phát hiện trong giaiđoạn khái niệm không bao gồm phạm vi của vấn đề tên miền. Chúng có thể cungcấp, tuy nhiên, một giải pháp một phần có thể có giá trị xem xét. Một số các thànhphần giải pháp đang được tìm kiếm có thể đã được hoạt động trong các môi trườngsản xuất hiện nay hoặc thậm chí cung cấp giá trị kinh doanh khả thi lời hứa của cácđối tác kinh doanh. họ có thể cung cấp các mệnh đề tương tự hoặc bổ sung. Vì vậy,kiểm tra tất cả các tùy chọn có sẵn và kiểm tra các nguồn có hiện nay sẽ làm tăngkhả năng tái sử dụng sản phẩm của tổ chức và thúc đẩy các sáng kiến hợp nhất sảnphẩm.Phân loại nguồn phân tích dịch vụ khác nhau là gì? Quá trình phân tích dịch vụ làquan trọng thế nào?Các nguồn cần được xác định, trong bản chất, nguồn gốc sản phẩm tổ chức khácnhau đang được xem xét để giải quyết các vấn đề . ba nguồn có thể được sử dụngđể phân loại các thực thể doanh nghiệp: trừu tượng, di sản, và đầu tư. Ghi 1 thựcthể phần mềm như là trừu tượng có nghĩa là nó chỉ đơn thuần là một ý tưởng rằngcó thể phát triển thành một giải pháp hữu hình. Ngược lại, các nguồn di sản hiện cótài sản phần mềm hướng dịch vụ hiện đang hoạt động trong môi trường sản xuất.Các thể loại danh mục đầu tư là một loại khác nhau của nguồn. Đây là một danhsách chia thành từng nhóm, giống như thẻ chỉ số, trình bày một kiểm kê tài sản củatổ chức, cho phép tìm kiếm tốt hơn cho các dịch vụ ứng cử viên và các ứng dụng.Các nguồn thông tin cũng có thể tiết lộ sẵn các dịch vụ tham gia vào các hoạt độnggiải pháp được đề xuất. Ví dụ, dịch vụ hữu hình đã hoạt động trong môi trườngđiều hành có thể cung cấp các biện pháp khắc phục hậu quả ngay lập tức cho cácvấn đề đang được giải quyết. Ngược lại, khái niệm trong giai đoạn đầu của chu kỳcuộc sống của họ và sẽ yêu cầu phát triển để biến đổi chúng thành các giải pháp cụthể. Vì vậy, nó là bắt buộc để xác định sẵn sàng dịch vụ và mức độ trưởng thànhtrong kiểu quá trình trước khi ký kết với chiến lược giải pháp cuối cùng của việcđưa ra khung thời gian thực tế cho tổ chức.
  • 4. Abstraction TypeTrừu tượng là mệnh đề tổ chức và tài sản vô hình cái mà giới thiệu khái niệm bêntrong của doanh nghiệp. Những hiện vật này tạo thành vật liệu phân tích mà bâygiờ là chủ đề để tiếp tục kiểm tra và nghiên cứu. Ví dụ lưu lại việc nghỉ hưu hoặcquản lý lợi ích về việc nghỉ hưu là những khái niệm sản phẩm mà một tổ chức cóthể được xem xét theo đuổi . Có hai loại chính của khái niệm kinh doanh trừutượng hoặc kỹ thuật cần được đưa vào quá trình phân tích: các ý tưởng và quytrình. Ý tưởng rõ ràng thường là các thực thể cái mà kết nối một giải pháp hay kháiniệm tổ chức . Chúng có thể được giới thiệu tài liệu mô tả của sản phẩm, quy cáchsản phẩm, các yêu cầu kinh doanh phản ánh các giải pháp đề xuất, hoặc thông sốkỹ thuật. Ý tưởng cũng có thể được tìm thấy trong vấn đề miền tài liệu, phân tíchgiảm thiểu rủi ro, kinh doanh và các văn bản chiến lược công nghệ. Khái niệm cóthể xuất hiện không chỉ từ vật liệu bằng văn bản, chúng có thể xuất hiện từ cácnguồn cung cấp tài liệu, chẳng hạn như các buổi họp nhóm, giám đốc điều hànhcuộc họp ở tòa thị trấn, vàhội nghị với nhà cung cấp.Các hình thức khác của sự trừu tượng hóa dịch vụ bao gồm các quy trình kinhdoanh và công nghệ. Đây là những mô tả của các hoạt động mà chưa có đầy đủtinh chế để tạo thành những ý tưởng chính thức.Ví dụ, hành động có được địa chỉcủa người sử dụng, nhận được hồ sơ người dùng đăng ký sử dụng, và gửi báo cáotài khoản mô tả chức năng miền được sử dụng để đạt được các mục tiêu kinhdoanh cụ thể.Tuy nhiên, chúng không được quan niệm như là khái niệm doanhnghiệp, bởi vì chúng không đủ tổng quát để thể hiện một cái nhìn toàn diện kinhdoanh.Thông tin về doanh nghiệp của tổ chức và các hoạt động kỹ thuật có thể được lấytừ hai nguồn chính: các quá trình ghi lại và không có tài liệu.Đầu tiên, các chứcnăng kinh doanh của tổ chức có thể được sơ đồ của quá trình kinh doanh(BPM).Những miêu tả giống như sơ đồ minh họa các nhiệm vụ kinh doanh, hoạtđộng hệ thống, hoặc các đồ thị quy trình kỹ thuật.Nếu những biểu đồ này khôngtồn tại, giám sát hoạt động kinh doanh hàng ngày hoặc định kỳ được thực hiện bởicác nhân viên nhau trong tổ chức.Nguồn di sản là tài sản đã thông qua các giai đoạn trừu tượng của chu kỳ cuộcsống của chúng và được coi là các thực thể phần mềm hướng dịch vụ cụ thể, chẳnghạn như vật lý điều hành dịch vụ, ứng dụng, và các sản phẩm của bên thứ ba triển
  • 5. khai trong các môi trường sản xuất. Điều này cũng có thể bao gồm các ứng dụngđối tác kinh doanh (thường được gọi là B2B), cổng thông tin doanh nghiệp, hoặcngười tiêu dùng dịch vụ hiện có, như mô tả tại Phụ lục 6,4. Thực thể kế thừa đượcthiết kế, kiến trúc, và xây dựng để cung cấp các giải pháp cho những thách thứcdoanh nghiệp trong quá khứ. Họ cũng đang quản lý và tài trợ bởi ngân sách đãđược giao trong những hoàn cảnh khác nhauPortfolio TypeCác phân tích nguồn tài liệu tham khảo khác có thể được tìm thấy trong các danhmục đầu tư tài sản tổ chức. Danh mục đầu tư chỉ đơn giản là kho sử dụng cho cácmô tả và thông tin lưu trữ hồ sơ về hệ thống doanh nghiệp, dịch vụ, khái niệm, cácứng dụng tiêu dùng, và các tài sản di sản khác.Danh mục đầu tư cũng nên bao gồmsự thật về giai đoạn doanh nghiệp thực thể phần mềm chu kỳ cuộc sống hiện tại,quyền sở hữu, tài trợ, và năng lực điều hành của họ và khả năng.Trong thực tế,danh mục đầu tư tài sản không bao gồm các dịch vụ giải pháp hữu hình hoặc cácứng dụng ban đầu.Họ chỉ đơn thuần là công cụ quản lý đó tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động phân tích hàng tồn kho và hỗ trợ với ngân sách và lập kế hoạch.TYPING SERVICE STRUCTURE.Cấu trúc dịch vụ quan trọng đối với quá trình phân tích.Trong thực tế, không cókiến thức trước khi hình thành nội dung các thực thể, nó sẽ không thể hiểu đượcmức độ chi tiết và xác định tiềm năng có thể dùng lại. Những cấu trúc này nênđược thành lập càng sớm càng tốt và cho phép tiếp tục phát triển trong suốt chu kỳcuộc sống.Vì vậy, quá trình giữa các khái niệm dịch vụ đầu tiên hoạt độngtheo chủ trương phân loại, tổng hợp hoặc phân vùng trừu tượng hóa doanh nghiệpbước đầu khám phá ra những ý tưởng tốt hơn có thể cung cấp các giải pháp hiệuquả. Tuy nhiên, trong giai đoạn phân tích, nó là cần thiết để tiếp tục tinh chỉnh cácthành phần nội bộ và chuẩn bị cho thiết kế và các hoạt động kiến trúc trong tươnglai.Atomic Structure TypeMột cấu trúc nguyên tử là sự hình thành các loại dịch vụ sơ đẳng nhất. loại này là 1dich vụ cái đó là một đơn vị phần mềm không thể tách rời thường cung cấp giớihạn kinh doanh hoặc chức năng kỹ thuật. Dịch vụ nguyên tử đặc trưng làm việc đểgiải quyết các vấn đề chiến thuật, chứ không phải là để cung cấp các giải phápchiến lược giữa các ngành nghề kinh doanh hoặc các tổ chức. Như vậy, nhãn hiệudịch vụ là các thực thể nguyên tử nghĩa là chúng thường có tỷ lệ sử dụng lại thấphơn và hạn chế trong phạm vi chức năng của chúng. Một dịch vụ được giới hạntrong kinh doanh, năng lực công nghệ được gọi là một lời đề nghị kích thước duy
  • 6. nhất, bởi vì nó tập trung vào giải pháp doanh nghiệp thu hẹp dao động và khôngđược thiết kế để bao gồm một loạt các yêu cầu kinh doanh tổ chức hoặc quan tâm.Composite Structure TypeDịch vụ tổng hợp không phải là nguyên tử. Chúng bao gồm các dịch vụ nội bộ màcùng tồn tại, hình thành các kết hợp đơn giản hay phức tạp, và hợp tác đóng gópvào kinh doanh và mục tiêu công nghệ đã được thiết lập. Những mối quan hệ bêntrong là rất quan trọng để các thành phần tổng thể của một dịch vụ và hình thànhcấu trúc của nó. Hoạt động phân tích cần tận dụng những khả năng tập hợp để tạođiều kiện đưa tin tốt hơn các vấn đề tên miền Do đó, các quy tắc lật cho thấy cácdịch vụ nội bộ hơn được tổng hợp, khả năng của họ để giải quyết mối quan tâm tổchức được tăng lên.Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của một cấu trúc dịch vụ tổng hợp làcó thứ bậc ngăn chặn các dịch vụ nội bộ và các mối quan hệ mà nó hình thành đểcùng nhau thực hiện một yêu cầu kinh doanh hoặc chức năng công nghệ. Việc pháthiện ra dịch vụ theo định hướng và kỷ luật phân tích khuyến khích tập hợp lớpthành phần dịch vụ nội bộ. Ngăn chặn hoạt động này là thích hợp khi các dịch vụtự trị là tốt để hoạt động trên riêng chúng.Cluster Structure Type(kiểu cấu trúc nhóm)Một nhóm các dịch vụ là tích hợp vì lý do kinh doanh hoặc những lý do công nghệđược biết đến như là một nhóm. Trong giai đoạn khái niệm dịch vụ theo địnhhướng, các dịch vụ được thu thập bởi vì giao dịch chung hoặc những thuộc tínhcông nghệ. Khái niệm này cung cấp một chiến lược cơ bản để tập hợp các dịch vụ,nhưng giai đoạn khám phá và phân tích tập trung vào mục tiêu chung của mộtnhóm dịch vụ. Một cấu trúc nhóm cung cấp một số tin tức của vấn đề lớn và cũngcó thể cung cấp các quá trình có thể được sử dụng bởi các cơ quan quản lý lớn hơn.Đây có thể là ngành nghề kinh doanh, các phòng ban chuyên môn, và các bộ phận.Other Structures: Multidimensional FormationsCác dịch vụ nguyên tử được thiết kế điển hình để cung cấp các chức năng quy địnhvà phạm vi hẹp. Ngược lại, các dịch vụ tổng hợp, cụm dịch vụ được thực hiệntrong nội bộ dịch vụ chung cung cấp phạm vi hoạt động lớn hơn. Nhưng nhữngdịch vụ không thuộc phân loại này là gi? Sự thành lập đã tồn tại chưa? Một cấutrúc dịch vụ được hình dung không phải là nguyên tử, không ghép lại hoặc thànhlập nhóm cung cấp một loạt các hoạt động, trả về một loạt các dữ liệu và thông tin.TYPING SERVICES CONTEXT(Kiểu ngữ cảnh dịch vụ)
  • 7. Dịch vụ góp phần mở rộng một số tổ chức và cung cấp giao dịch đa dạng và giá trịcông nghệ trong các lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Để đơn giản hóa hoạt độngnày, phương pháp được đề nghị giữa kinh doanh, kỹ thuật, và các loại dịch vụkhác. Phân tích này có thể được lan rộng hơn.Ví dụ, lĩnh vực kinh doanh dịch vụ có thể được chia thành các cấp độ tổ chức liênkết thấp hơn, và thậm chí cao hơn, giảm các loại sản phẩm.Business TypeDịch vụ phân tích được mô tả như là loại hình kinh doanh thường được đánh giátrên cơ sở chức năng kinh doanh. Các thực thể này cung cấp hoàn toàn việc triểnkhai sản phẩm và thực hiện các chiến lược kinh doanh. Như vậy, cách phân loạichủ yếu chịu ảnh hưởng bởi quá trình cung cấp và điều khiển bằng cách cho phépcác cơ chế kỹ thuật. Ví dụ, một sản phẩm cung cấp dịch vụ kinh doanh lẫn nhau vàthường thực hiện quỹ tương hỗ đặt hàng các hoạt động thay mặt cho người tiêudùng nên được coi như là một loại dịch vụ kinh doanh.Technical TypeNhững loại giao dịch nào được coi là dịch vụ kỹ thuật? Có phải các thực thể cungcấp nhiều giá trị giao dịch? Hoặc sự đóng góp có phải chỉ dành riêng cho hoạtđộng công nghệ thông tin (IT)? Để trả lời những câu hỏi trên,phải tìm hiểu mức độtham gia giao dịch của các dịch vụ.Other TypesSERVICE TYPING NAMESPACES( không gian kiểu dịch vụ)Chương 7: SERVICE-ORIENTED DISCOVERY AND ANALYSIS:IMPLEMENTATION MECHANISMS(tìm hiểu và phân tích dịch vụ hướngđối tượng: thực thi cơ chế)Trong thế giới công nghệ thông tin hiện tại (CNTT), nó là phổ biến để tìm thấymột bản tóm tắt khác nhau trong thư viện phần mền, những thành phần, những hệthống, những dịch vụ, và các ứng dụng của bên đối tác thứ ba .Làm thế nào khối lượng công việc giữa các dịch vụ tham gia có thể được chia nhỏđể đưa ra một biện pháp khắc phục thích hợp cho một vấn đề?
  • 8. Điều gì làm nên tỷ lệ giữa dịch vụ "mới" và "cũ" để giải quyết một giải pháp?Làm thế nào để nhiều dịch vụ được sử dụng?Cấu trúc hình thành dịch vụ tốt nhất có thể được sử dụng để cung cấp một kinhdoanh khả thi và đề xuất phân tích công nghệ là gì?Quy trình kinh doanh hoặc công nghệ được nhóm lại hoặc tách rời như thế nào?SERVICE-ORIENTED ANALYSIS ASSETS( phân tích thành phần hướngdịch vụ)đây là những công cụ thường được sử dụng để thực hiện các hoạt động hợp lý trêncác thành viên thiết lập . "logic" có nghĩa là không chỉ thao tác cấu trúc dịch vụbên trong và bên ngoài mà còn ghi lại địa chỉ giao dịch và phân phối quy trìnhcông nghệ giữa các dịch vụ. Điều này có thể bao gồm tách riêng quá trình, loại bỏhoạt động, hoặc làm tăng quá trình giao dịch. Có ba thành phần theo định hướngdịch vụ thường tham gia vào các hoạt động phân tích. Mỗi thành phần được coinhư là một tập hợp: Composite Service Set(thiết lập bộ tổng hợp dịch vụ) Service Cluster Set(thiết lập nhóm dịch vụ) Atomic Service SetCOMPOSITE SERVICE SETHình thành một cấu trúc composite service là sự thiết lập có thể được thừa hưởngtừ các thành phần dịch vụ tổng hợp, chia sẻ giao dịch chung hoặc các thuộc tínhcông nghệ, bố cục kết nối có thể cung cấp một giải pháp. Bố cục bên trong củacomposite serviece có thể được coi là bộ lồng nhau cho phép mối quan hệ thứ bậcgiữa các dịch vụ tổng hợp. Các thiết lập hoạt động được sử dụng để lắp ráp các cấutrúc dịch vụ hỗn hợp khi thích hợp cũng như để phân hủy các lớp bên trong khi cầnthiết.
  • 9. Mô tả tổng hợp tài khoản dịch vụ khách hàng được ưa thích và tập hợp cácdịch vụ. Chú thích: The preferred customer account service: ưu tiên dịch vụ tài khoản kinh doanh khách hàng The preferred customer business account service các tài khoản kinh doanh dịch vụ cho vay, kinh doanh dịch vụ tài khoản tiết kiệm, kinh doanh kiểm tra dịch vụ tài khoản , và các dịch vụ tài khoản tiện ích khác. the account utility service bao gồm các dịch vụ tra cứu tài khoản và số dư tài khoản dịch vụ.SERVICE CLUSTER SET(thiết lập dịch vụ nhóm)A service cluster là sự hình thành cái đã được đánh giá như là thiết lập cấu trúc.Nhóm không phải là các thực thể phân cấp nhưng chúng tổng hợp các dịch vụ bêntrong là tốt. Thành phần bên trong có thể được chế tác bằng các hoạt động thiết lậpđể cho phép hoàn thiện một đề xuất phân tích.
  • 10. Một nhóm cũng có thể được coi là một cấu trúc tổng hợp bởi vì nó có chứa cácdịch vụ khác, trong mỗi nhóm đó có thể tổng hợp các dịch vụ riêng của nó. Nhậnxét này là hợp lý nhưng nó phụ thuộc vào định nghĩa chung của một nhóm. Mộtnhóm dịch vụ được thành lập để giải quyết một phạm vi rộng các mối quan tâmcủa tổ chức và giải quyết những thách thức vấn đề chiến lược doanh nghiệp. Ngoàira, một nhóm cấu trúc là một thực thể phân phối có thể bao vây dịch vụ cư trú tạiđịa điểm địa lý vật lý khác nhau.Một nhóm cũng nên được coi như một khái niệm thực thể, xác định một ranh giớiý tưởng cho một tổ chức, chứ không phải là xây dựng theo mức vật lý. Trong thựctế, một nhóm dịch vụ có thể giao dịch chung hoặc chung các thuộc tính công nghệ.Điều này có thể kích hoạt dịch vụ theo định hướng lập mô hình lại khái niệm, thiếtkế lại, và liên kết với môi trường với chi phí thấp nhất. The enterprise business utility service cluster là cấu trúc bộ lưu trữ bao gồm:statements service, download daily news service, aggregate articles service,download reports service, and stream videos service. Mỗi thành phần bên trongphải kết hợp với các thành phần khác để cung cấp một giao dịch khả thi hoặc giảipháp công nghệ.ATOMIC SERVICE SET
  • 11. An atomic service cũng là đối tượng phân tích kiểm tra. Bởi vì nó là một thực thểriêng biệt, nó có thể là một phần của tổng hợp dịch vụ hoặc tham gia vào mộtnhóm cơ cấu dịch vụ. Nhưng trạng thái của một atomic service không thể chia nhỏđược đánh giá lại về cái gì?SERVICE DISCOVERY AND ANALYSIS TOOLBOX(tìm hiểu dịch vụ vàphân tích hộp công cụ)Vì vậy, nơi nào bắt đầu? Các hoạt động phân tích đầu tiên cần là gi? Dịch vụ phântích chủ thực tiễn là một phân tích chi tiết của các dịch vụ. Quá trình này sẽ tiết lộkhả năng của các dịch vụ và khả năng có thể dùng lại.Nó cũng sẽ hiển thị như thếnào đó để đánh giá sự đóng góp của các dịch vụ cho các vùng vấn đề. Tiếp tục vớicác hoạt động phân tích được cung cấp dịch vụ để mở rộng sự phát triển của dịchvụ và tăng cường đề xuất giải pháp. Service typing: cho phép thành lập nhận dạng dịch vụ và phân loại chúng. Nó cũng cung cấp hướng dẫn cho việc thiết lập giao dịch dịch vụ và thực trạng công nghệ. Granularity analysis cung cấp cơ chế kiểm tra khả năng của 1 dịch vụ để cung cấp giao dịch và các giải pháp kỹ thuật, tiêu chuẩn theo
  • 12. chức năng, thước đo mức tiêu thụ các dịch vụ, và kiểm tra các yếu tố có thể dùng lại. Aggregation analysis nguyên tắc này hỗ trợ nhóm dịch vụ và củng cố tổ chức sản phẩm. Ngoài ra, nó cung cấp mức độ chi tiết để điều chỉnh các dịch vụ có quy mô nhỏ. Decomposition analysis quá trình phân hủy tạo điều kiện cho việc phân vùng lớn và khó sử dụng dịch vụ. Ngoài ra, nó khuyến khích việc tách biệt sản phẩm phần mềm vào các đơn vị độc lập để tăng khả năng tái sử dụng lại. Unification analysis được sử dụng để hợp nhất sản phẩm, giảm các chức năng dư thừa dịch vụ, và liên kết mức độ chi tiết thực thể. Intersection analysis Hoạt động này cho phép đánh giá sự thành lập dịch vụ tổng hợp để cung cấp các giải pháp phối hợp, tạo điều kiện cho việc phát triển các dịch vụ mới, và thúc đẩy khả năng tái sử dụng sản phẩm. Subtraction analysis Trừ các hoạt động hỗ trợ với quy mô thu hẹp của chức năng dịch vụ mà không góp phần vào giải pháp. Hành động này cũng cung cấp cơ chế để loại bỏ các quy trình dịch vụ không liên quan hoặc dư thừa và để đạt được hiệu suất cao nhất.GRANULARITY ANALYSIS(phân tích chi tiết)Tổ chức sản phẩm theo định hướng dịch vụ, chẳng hạn như các ứng dụng, dịch vụ,và các thành phần, có ranh giới và giới hạn có thể được đo lường và đánh giá khảnăng góp phần vào một tổ chức giao dịch và chiến lược công nghệ. Phân tích nàykhông chỉ xác định kích thước vật lý mà còn là kiểm tra phạm vi chức năng vàphạm vi của giải pháp có thể được cung cấp.Vì vậy, việc phát hiện chi tiết của mộtdịch vụ có thể giúp trong việc tìm hiểu giá trị của tổ chức. Đo những phẩm chấtnày là một vấn đề kiểm tra quá trình giao dịch, công nghệ và nghiên cứu mức độcủa nóCOARSE-GRAINED SERVICE STRUCTURES(cấu trúc dịch vụ chi tiết)Coarse-grained services tóm lược một phạm vi rộng của giao dịch hoặc chức năngcông nghệ. Đặc trưng này là tập hợp và thành lập nhóm thiết kế để giải quyếtphạm vi rộng lớn hơn quá trình của một tổ chức. Mức trừu tượng hóa cao cũng có
  • 13. thể được coi là các thực thể Coarse-grained nếu chúng bao gồm một phần lớn củagiải pháp lĩnh vực. Ví dụ, một danh mục đầu tư kinh doanh dịch vụ bao gồm mộtloạt các tài khoản công cụ quản lý, chẳng hạn như dịch vụ báo cáo tài khoản, số dưtài khoản dịch vụ, dịch vụ báo giá, vị trí dịch vụ, và lợi nhuận dịch vụ….FIND-GRAINED SERVICE STRUCTURES(cấu trúc dịch vụ tìm kiếm chitiết)Ngược lại, dịch vụ fine-grained cung cấp hạn chế kinh doanh hoặc chức năng côngnghệ và bao gồm một phạm vi giải pháp hẹp hơn. Thường là sử dụng dịch vụ chocác giải pháp chiến thuật và sử dụng như các tiện ích cục bộ. Cấu trúc dịch vụ fine-grained thường bao gồm quá trính giao dịch, quy trình công nghệ mà không bịphân hủy cho các đơn vị nhỏ hơn thực hiện. Ví dụ, một thực thể chẳng hạn như tênvà địa chỉ dịch vụ, cung cấp thông tin khách hàng được xem là một dịch vụ fine-grained.GRANULARITY ANALYSIS BENEFITS(phân tích lợi ích chi tiết)Trong suốt việc tìm hiểu hướng dịch vụ và quá trình phân tích và sau đó trong giaiđoạn thiết kế dịch vụ, nó là cần thiết để nghiên cứu các giải pháp khác nhau đượcđề xuất và đánh giá khả năng để đạt được mục tiêu giao dịch và công nghệ. Hànhđộng phân tích độ chi tiết có thể giúp đạt được các mốc quan trọng này bằng cáchtiết lộ rất nhiều thông tin về các dịch vụ được lựa chọn để tham gia vào giải pháp.Mức độ chi tiết sẽ phát hiện ra số lượng của chức năng cần cung cấp, và quan trọngnhất tiết lộ các yếu tố có thể dùng lại và cung cấp các cơ hội củng cố tài sản.ASSESSING SERVICE GRANULARITY LEVELS(đánh giá mức độ chi tiếtcủa dịch vụ)Đánh giá độ chi tiết là một quá trình đơn giản, trong đó liên quan đến dịch vụ cóthể là khái niệm dịch vụ được phát hiện trong giai đoạn tìm hiểu hoặc giữa sảnphẩm hiện có của tổ chức. Dịch vụ Coarse-grained được vị trí cấp cao nhất và dịchvụ fine-grained cần được ở phía dưới. Phương pháp trực quan có thể minh họa mứcđộ chi tiết tương đối của các dịch vụ được lựa chọn cho dự án. Để đơn giản hóaquá trình này, bắt đầu bằng cách thẩm định sự hình thành dịch vụ đơn giản và tránhnhững dịch vụ tổng hợp, cụm dịch vụ. Sau đó, tiến hành phân tích cấu trúc phứctạp và tham gia vào dịch vụ tổng hợp .
  • 14. HÌnh trên miêu tả 1 dịch vụ lòng vòng liên kết cấu trúc các dịch vụ độc lập.Lưu ý rằng các dịch vụ coarse-grained, chẳng hạn như dịch vụ danh mục đầu tư vàphân tích danh mục đầu tư dịch vụ, tổng quát hơn.Di chuyển xuống các cấp thấphơn, các dịch vụ fine-grained xuất hiện chức năng cung cấp hạn chế, chẳng hạnnhư vị trí tài khoản dịch vụ và hoạt động dịch vụ tài khoản.AGGREGATION ANALYSIS(phân tích tổng hợp)Tập hợp là tổng hợp các quy định liên quan đến các dịch vụ fine-grained và baogồm cả chúng dịch vụ coarse-grained. Quá trình này lặp đi lặp lại thường kéo dàitrong chu kỳ sống mở rộng chức năng của lưu trữ dịch vụ bên trong. Hoạt độngtổng hợp thường gia tăng phạm vi của giải pháp kế hoạch ban đầu và đề xuất mộtphạm vi rộng hơn của các biện pháp khắc phục hậu quả cho các vấn đề mà chúngđang cố khắc phục. Quá trình phát triển này thường phải được đánh giá lại để kiểmsoát chi phí bảo trì, giảm nhẹ quản lý những thách thức và trở về tối ưu hóa đầu tư.Hơn nữa, phân tích kết hợp cũng cung cấp cơ chế để tăng cường dịch vụ và quátrình tổng hợp nhóm dịch vụ bằng cách bao gồm các dịch vụ bổ sung. Điều nàytăng cường các thao tác kết hợp, nhóm kích thước và khả năng để cung cấp cácbiện pháp khắc phục hậu quả cho các vấn đề tổ chức.SERVICE AGGREGATION PROCESS AND APPROACH(xử lý và tiếp cậndịch vụ tổng hợp)
  • 15. Xử lý tập hợp khá đơn giản, nhưng nó đòi hỏi phải lập kế hoạch trước để đạt đượckết quả tốt nhất.Hãy nhớ rằng, quá trình phân tích làm cho nó có thể để đánh giáliệu các giải pháp đề xuất có thực sự khả thi và liệu các biện pháp khắc phục hậuquả được cung cấp có thể bao gồm các miền vấn đề. Tập hợp các hoạt động có thểgiúp đạt được các mục tiêu này bằng cách phân tích dịch vụ còn lại, và áp dụng tậphợp các chức năng để hướng tới một giải pháp khả thi. Như vậy, cơ hội để tập hợptrừu tượng hóa dịch vụ và kết hợp triển khai sản phẩm có thể thúc đẩy khả năng táisử dụng của tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi cho chiến lược hợp nhất sản phẩm.Sử dụng kỹ thuật kết hợp với bảo trì. Tổng hợp phải được áp dụng một cách cẩnthận ,chặt chẽ .Hiệu ứng này có thể mang lại kết quả không mong muốn, ảnhhưởng đến hoạt động giám sát dịch vụ trong sản xuất, và giảm khả năng tái sửdụng dịch vụ giữa các tổ chức.SERVICE AGGREGATION USE CASE(trường hợp sử dụng dịch vụ tổnghợp)Nó là điều cần thiết để làm việc chặt chẽ với phạm vi vấn đề và các yêu cầu tài liệugiao dịch để hiểu được những thách thức khác phải đối mặt. ví dụ sau đây mô tảcách trình bày phạm vi vấn đề theo sau 1 giải pháp bằng 2 giai đoạn mà giao dịchcủa 1 tổ chức quan tâm:Giải pháp đề xuất giai đoạn I: Chúng tôi sẽ đầu tư vào các công cụ mới có thu nhậpcố định để tăng thu nhập cho tổ chức.Trong giai đoạn đầu tiên, chúng tôi sẽ thuthập tất cả các dịch vụ có thu nhập cố định khác nhau và phân tán trên toàn doanhnghiệp và cung cấp dịch vụ quản lý tài khoản thu nhập cố định toàn diện.Giải pháp đề xuất giai đoạn II: Chúng tôi sẽ tiếp tục tăng cường kinh doanh muabán, do đó thiết lập một giao dịch tài chính lớn hơn tài khoản giao dịch dịch đã có.SERVICE AGGREGATION BEST PRACTICES(thực hành tốt dịch vụ tổnghợp)Như đã thảo luận, tập hợp dịch vụ thường được theo đuổi khi giải pháp phải đượcmở rộng vượt ra ngoài phạm vi ban đầu của nó. Vào thời điểm đó, hoạt động nàyđược sử dụng để kết hợp các dịch vụ fine-grained(hạt mịn). Các hoạt động tổnghợp cần được triển khai và bảo trì vì tiềm năng của nó mang lại các thực thể rất thôcó thể được thay đổi để duy trì và tối ưu hóa trong môi trường sản xuất.
  • 16. Những lợi ích của hoặt động tổng hợp Phân tích thực hành tốt nhất dịch vụMở rộng quy mô giải pháp Tăng cường ngăn cách của quá trình quan tâm Tập hợp các dịch vụ fine-grained(hạt Tránh các dịch vụ tổng hợp kết hợp chặtmịn) chẽCho phép tổng hợp các atomic services Sử dụng cơ chế tổng hợp để thúc đẩyvà composite services, cụm dịch vụ để tính linh hoạt trong giao dịch bằng cáchcung cấp các giải pháp đòi hỏi sự tham kết hợp các dịch vụ có thể cung cấp cácgia của nhiều dịch vụ giải pháp hợp tácTạo cơ hội tái sử dụng cho các đối Tăng cường cơ hội có thể dùng lại chotượng kế thừa các sản phẩm thừa kế theo định hướng giữa các tổ chức dịch vụThúc đẩy quy định hợp nhất sản phẩm Giảm chức năng dư thừaSERVICE DECOMPOSITION USE CASE (trường hợp sử dụng dịch vụphân tích)SERVICEDECOMPOSITION BEST PRACTICES(thực hành tốt phân hủydịch vụ)Phân hủy các cấu trúc tổng hợp mà không làm tổn hại đến việc thực hiện cơ bản vàphá vỡ sự tồn tại của các dịch vụ còn lại. Để quản lý thành công một nhiệm vụ nhưvậy, nó được khuyến khích để lập kế hoạch thận trọng và tỉ mỉ nghiên cứu hìnhthành cơ cấu nội bộ và mối tương quan. Nhớ lại rằng các quá trình khái niệm dịchvụ xác định một số loại liên kết nên được sử dụng để hỗ trợ khám phá dịch vụ vàhình thành cấu trúc kết quả.
  • 17. Hình trên mô tả: mô tả một hình thành liên kết tròn một dịch vụ tổng hợpcoarse-grained được thành lập. Phân hủy một cấu trúc hoặc phá vỡ nó thành đơn vịnhỏ hơn có thể gây tổn hại cho mối quan hệ đã tồn tại.Những lợi ích phân tích phân hủy và thực hành tốt nhất.Lợi ích của hoặt động phân hủy Phân tích thực hiện tốt dịch vụPhát triển việc sản phẩm có thể dùng lại Xác định sớm các cơ hội có thể dùng lại.Phá vỡ các dịch vụ lớn và các nhóm Tránh những giải pháp kết nối chặt chẽdịch vụ thành các đơn vị quản lýTạo điều kiện cho bộ phận giao dịch từviệc triển khai công nghệGiúp với phân vùng các sản phẩm, và côlập giao dịch cốt lõi thực thi tiện ích.Tách biệt mối lo ngại của tổ chứcTách dòng các chức năng giao dịchUNIFICATION ANALYSIS(sự thống nhất những phân tích)
  • 18. Hoạt động thống nhất cho phép sự kết hợp các dịch vụ, chia sẻ so sánh các thuộctính và giao dịch hoặc kỹ thuật tương đồng. Phân tích này thường thích hợp choatomic services bởi vì cấu trúc bên trong đơn giản, không chứa những dịch vụkhác. Kết quả cuối cùng luôn luôn là atomic service duy nhất. Quá trình thống nhấtcó thể liên quan đến các dịch vụ tổng hợp. Không giống như các hoạt động tổnghợp, kết quả trong các dịch vụ nội bộ còn nguyên vẹn.SERVICE UNIFICATION MOTIVATION(sự thúc đẩy thống nhất dịch vụ)UNIFICATION PROCESS(quá trình thống nhất)Quá trình dịch vụ thống nhất nguyên tử là đơn giản và khá đơn giản.Để kết nối haidịch vụ hiện có, hành động thường là nhập khẩu một thực thể khác hoặc thống nhấtcả hai dưới một tên dịch vụ mới.Hoạt động này nên được lên kế hoạch cẩn thận vàtỉ mỉ được áp dụng để bảo vệ các quá trình của các bên tham gia cho các mục đíchtheo dõi.SERVICE UNIFICATION USE CASE(trường hợp sử dụng dịch vụ thốngnhất)Quá trình thống nhất gồm hai bước được giới thiệu một yêu cầu hợp nhất sản phẩmcủa doanh nghiệp. Hãy xem xét các trường hợp sử dụng sau đây, đại diện cho cácphạm vi vấn đề giao dịch và đề xuất các giải pháp: Vấn đề tên miền: chi phí quản lý và bảo trì của các dịch vụ đa dạng thuộc sở hữu của các tổ chức khác nhau đã được phát triển mạnh trong những năm gần đây. Giải pháp đề xuất: Chúng ta nên củng cố kích thước nhỏ và các dịch vụ tài khoản đầu tư vào một dịch vụ tài khoản cá nhân lớn hơn.
  • 19. Hình trên mô tả phương pháp hai bước cho các dịch vụ thống nhất tổng hợp.Bước một mô tả sự hợp nhất giữa nội bộ SEP-IRA và các dịch vụ truyền thốngIRA và tích hợp tổng thể vào cái chung của tài khoản dịch vụ hưu trí. Bước thứhai minh họa cho sự hợp nhất của ba dịch vụ: dịch vụ tài khoản hưu trí và dịch vụtài khoản đầu tư vào các dịch vụ tài khoản cá nhân.SERVICE UNIFICATION BEST PRACTICES(thực hành tốt nhất dịch vụthống nhất)INTERSECTION ANALYSIS(phân tích sự giao nhau)Phân tích sự giao nhau xác định chia sẻ giao dịch và công nghệ chung giữa cácnhóm dịch vụ. Sự giao nhau hình thành với các bộ phận chồng chéo, điển hình củasơ đồ Venn, phác thảo các thuộc tính dịch vụ và đặc điểm chung có thể được sửdụng để phân tích chi tiết.Không có hạn chế về số lượng các nhóm có thể tham giavào quá trình này và không có giới hạn đối với số lượng dịch vụ có thể có trongmỗi nhóm.INTERSECTION ANALYSIS MOTIVATION(động lực phân tích giao nhau)Các hoạt động giao nhau hỗ trợ đánh giá của nhóm dịch vụ, kiểm tra các hành vitập thể, và đóng góp cho các giải pháp tổng thể. Ở đây, tập chung không phải là về
  • 20. các dịch vụ cá nhân và khả năng duy nhất của chúng mà là trên khía cạnh hợp táccủa các nhóm dịch vụ để giải quyết một phạm vi vấn đề chiến lược. Phân tích giaonhau sau đó cung cấp cơ hội để khám phá dịch vụ mới bằng cách xác định sảnphẩm chung và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện các chức năng dư thừaqua các dự án và thậm chí tổ chức. Hơn nữa, các nhóm chia sẻ cho thấy các lợi íchgiao dịch và công nghệ lẫn nhau cũng như khả năng tái sử dụng triển vọng trong sốcác nhóm giao nhau.INTERSECTION ANALYSIS PROCESS(quá trình phân tích giao nhau)Quá trình phân tích giao nhau đòi hỏi sự tham gia của hai hoặc nhiều nhóm dịchvụ. Làm thế nào để dịch vụ tìm đường vào các nhóm này? Phương pháp đơn giảncho thấy liên kết các dịch vụ giao dịch, bối cảnh công nghệ và nhóm chúng bởi cácthuộc tính được chia sẻ. Một khi các nhóm dịch vụ đã được chuẩn bị để phân tích,các hoạt động phát hiện các giao lộ có thể tiếp tục. Cơ chế để xác định dịch vụ làcác thuộc tính phổ biến của nhiệm vụ chồng hai hoặc nhiều nhóm dịch vụ để hìnhthành lên các dịch vụ chồng chéo. Quá trình này có thể được lặp đi lặp lại cho đếnkhi kết quả đạt được tốt nhất.INTERSECTION ANALYSIS USE CASE(trường hợp sử dụng phân tích giaonhau)Trường hợp sử dụng phân tích giao nhau sau đây xác định một cơ hội tái sử dụngsản phẩm đó có thể thích ứng với yêu cầu của hai dòng chính của các nhóm kinhdoanh dịch vụ: tài khoản giao dịch và các cụm dịch vụ tài khoản cá nhân. Kinh doanh và lĩnh vực vấn đề kỹ thuật: Chúng tôi đã nhận được rất nhiều khiếu nại của khách hàng về sự bất lực của chúng tôi để cung cấp thông tin số dư tài khoản trên điện thoại một cách kịp thời. Giải pháp đề xuất: Chúng ta nên đầu tư mạnh mẽ trong một tiện ích tra cứu tài khoản là có khả năng tìm kiếm qua nhiều ngân hàng khách hàng và tài khoản đầu tư.INTERSECTION ANALYSIS BEST PRACTICES(thực hành tốt nhất phântích giao nhau)Lạm dụng khả năng giao nhau có thể làm tăng sự phụ thuộc sản phẩm và do đó làmgiảm khả năng tái sử dụng các dịch vụ. Quá trình này cũng có thể có ảnh hưởngtiêu cực đến dịch vụ giám sát, an ninh, và các nỗ lực hội nhập.lợi ích Phân tích giao nhau Thực hành tốt phân tích dịch vụ
  • 21. Đánh giá đóng góp chung với các giải Làm việc với các kỹ thuật phân tíchpháp phân nhóm và kiểm tra hoặt động nhóm dịch vụ và năng lực để giải quyết vấn đềTạo điều kiện phát triển dịch vụ Thực hiện các hoạt động phân tích để khám phá dịch vụ mớiCho phép xác định các thuộc tính và Sử dụng các mối quan hệ dịch vụ cấuchức năng phổ biến trúc để xác định các thuộc tính phổ biến và chức năngHỗ trợ phát hiện giao dịch và quá trình Tìm kiếm cơ hội hợp nhất sản phẩm mớicông nghệ dư thừaKhuyến khích khả năng tái sử dụng sản Sử dụng kỹ thuật phân nhóm để xácphẩm định các cơ hội có thể dùng lạiTrình bày sự tương đồng giữa các tổ Luôn luôn khám phá khả năng tái sửchức giao dịch và công nghệ khác nhau dụng thông qua các tổ chức, các ngành, nghề kinh doanhSUBTRACTION ANALYSIS(phân tích loại bỏ)Phân tích loại bỏ tạo điều kiện thuận lợi làm giảm phạm vi tổng hợp dịch vụ. Quátrình này liên quan đến việc loại bỏ các chức năng dịch vụ không cần thiết, giảmtrong các quá trình giao dịch và công nghệ. Một trong những hành động này ảnhhưởng đến dịch vụ cấu trúc bên trong . Tuy nhiên, quá trình này là sự khác nhau từphân tích loại bỏ. Ở đây, các thực thể loại bỏ có thể được loại trừ và có thể khôngbao giờ sử dụng một lần nữa. Hơn nữa, phương pháp loại trừ cũng cho phép thuhẹp hình thành nhóm hoặc thanh lọc nhóm thành viên. Hãy nhớ rằng, phân nhómlà một kỹ thuật hiệu quả đơn giản là tạo điều kiện cho nhóm dịch vụ để giải quyếtvấn đề.SUBTRACTION ANALYSIS MOTIVATION(Động lực phân tích loại trừ)Khi nào phân tích loại trừ được sử dụng? Việc sử dụng phổ biến nhất của quá trìnhphân tích loại trừ cho việc sắp xếp cấu trúc sản phẩm với những thay đổi trong cácyêu cầu giao dịch hoặc thay đổi chiến lược giao dịch và nhiệm vụ. Những trườnghợp yêu cầu loại bỏ không cần thiết đã ngừng thúc đẩy giao dịch, hoặc loại bỏ cácgiao dịch dư thừa hoặc chức năng quy trình công nghệ. Hơn nữa, thiết kế và yêucầu kiến trúc thường gọi cho các hoạt động tối ưu hóa hiệu suất đổi mới thườngxuyên kết quả trong sự cô lập của các thực thể không thích hợp mà không cònđóng góp vào giải pháp kỹ thuật. Tương tự như vậy, những nguyên tắc này cũng
  • 22. nên áp dụng khi phân tích các nhóm dịch vụ. Hoạt động phân tích loại trừ cũng cóthể xảy ra để sắp xếp các nhóm cấu trúc với yêu cầu giao dịch mới và công nghệ.SUBTRACTION ANALYSIS PROCESS(quá trình phân tích loại trừ)Quá trình phân tích loại trừ có thể được áp dụng trên một dịch vụ không thể chianhỏ được nữa khi cấu trúc của nó bao gồm kinh doanh dự phòng hoặc chức năngcông nghệ, bao gồm các quy trình không cần thiết.SUBTRACTION ANALYSIS USE CASE(trường hợp sử dụng phân tích loạitrừ)

×