• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
80629127 thực-trạng-ứng-dụng-e-marketing-va-giải-phap-phat-triển
 

80629127 thực-trạng-ứng-dụng-e-marketing-va-giải-phap-phat-triển

on

  • 3,424 views

 

Statistics

Views

Total Views
3,424
Views on SlideShare
3,424
Embed Views
0

Actions

Likes
0
Downloads
179
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    80629127 thực-trạng-ứng-dụng-e-marketing-va-giải-phap-phat-triển 80629127 thực-trạng-ứng-dụng-e-marketing-va-giải-phap-phat-triển Document Transcript

    • CHƢƠNG I – TỔNG QUANI. Sự cần thiết của việc thực hiện đề tàiII. Mục tiêu của đề tàiIII. Phương pháp tiến hànhIV. Nội dung thực hiện và kết quả dự kiến CHƢƠNG II – NGHIÊN CỨU VỀ E-MARKETINGI. Khái niệm1. Các quan niệm và định nghĩa2. Quá trình hình thành và phát triển3. Đặc trưng cơ bản và các thế mạnh của e-marketing4. Xu thế phát triển trên thế giớiII. Các giải pháp e-marketing cơ bản1. Website2. SEO, SEM3. Email Marketing4. Quảng cáo trực tuyến5. M-marketing6. Viral Marketing7. Kênh truyền thông xã hội (Social Media)III. Giới thiệu một số mô hình tiêu biểu1 Cổng tìm kiếm Google2 Yahoo 1
    • 3 Facebook4 AmazonIV. Giới thiệu về kinh nghiệm e-marketing tại một số quốc gia tiêu biểu1. Hoa Kỳ2. Hàn Quốc3. Canada CHƢƠNG III- TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG E-MARKETING TẠI VIỆT NAMI. Phân tích cơ sở pháp lý1. Hệ thống văn bản pháp lý về giao dịch điện tử, công nghệ thông tin2. Văn bản quy phạm pháp luật về quảng cáo (Nghị định và dự thảo luật quảng cáo)3. Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác (spam và privacy)II. Phân tích thực trạng triển khai và ứng dụng e-marketing1. Thực trạng về nhận thức2. Thực trạng cung cấp dịch vụ3. Thực trạng ứng dụng dịch vụ4. Nhu cầu về dịch vụ e-marketing CHƢƠNG IV- GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊI. Giải pháp về ứng dựng và triển khai hoạt động e-marketing tại doanh nghiệp1. Xây dựng và triển khai đồng bộ1.1. Xác định mục tiêu1.2. Lựa chọn phạm vi ứng dụng 2
    • 1.3. Lựa chọn công cụ1.4. Thiết kế sản phẩm1.5. Đào tạo nội bộ1.6. Phát triển sản phẩm và thương hiệu1.7. Chăm sóc khách hàng2. Một số vấn đề cần lưu ý trong quản lý và phát huy hiệu quả hoạt động emarketing2.1. Vấn đề pháp lý2.2. Vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân2.3. Khai thác thế mạnh cộng đồng2.4. Nâng cao nhận thức xã hội2.5. Phát triển đồng bộ các thành tố thương mại điện tửII . Khuyến nghị1. Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước2. Khuyến nghị đối với doanh nghiệp triển khai e-marketing3. Khuyến nghị đối với người tiêu dùngKết luậnPHỤ LỤC 3
    • CHƢƠNG I: TỔNG QUANI. Sự cần thiết của việc thực hiện đề tàiĐiện thoại phải mất 35 năm để tiếp cận với 25% dân số Mỹ, truyền hình mất 26 năm,phát thanh mất 22 năm và điện thoại đi động mất 12 năm, còn Internet thì sao? Chỉmất 7 năm, trên toàn cầu đã có khoảng 1,6 tỷ người truy cập vào mạng Internet, tốc độtăng trưởng là 362.3% từ năm 2000 đến 2009. Tại Việt Nam, số người sử dụngInternet đã lên đến gần 25 triệu, chiếm hơn 1/4 dân số quốc gia năm 2009.1 Đó lànhững con số ấn tượng, cho thấy cơ hội kinh doanh cũng như giá trị tiềm năng mà cácgiải pháp, sản phẩm và dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin hay ứng dụngphương tiện điện tử mang lại. Đây cũng là cơ hội hiếm có để các nhà làm chiến lượcmarketing , thương hiệu sản phẩm giảm chi phí đầu tư mà vẫn mang lại hiệu quả caonhư mong đợi.Trong bối cảnh tác động sâu sắc của công nghệ thông tin và các phương tiện điện tửđối với kinh doanh như hiện nay, marketing là một trong những hoạt động tiên phongchịu ảnh hưởng từ những biến đổi như vậy. Để đạt tới thành công, các nhà tiếp thịkhông thể chỉ đơn giản thêm một vài hoạt động kỹ thuật số vào những kế hoạch tiếpthị truyền thống của mình. Thay vào đó, họ phải định hình lại một cách cơ bản hướngtiếp cận tiếp thị, dựa trên những đặc trưng của truyền thống mới và tiếp thị số. Điềunày dẫn đến một cuộc đổi mới trong hoạt động tiếp thị nói chung.Trong khi các nguyên tắc tiếp thị cơ bản như định vị và phân khúc vẫn được duy trì thìcác kênh ứng dụng phương tiện điện tử sẽ mở rộng và tăng cường cách tiếp cận củanhà tiếp thị tới khách hàng. Tiếp thị điện tử được sử dụng và biến hóa dưới nhiều cáchkhác nhau bởi sự phong phú và linh hoạt trong việc truyền tải nội dung. Trên môitrường Internet, khái niệm về không gian, thời gian là rất mờ nhạt và e-marketing đãtận dụng đặc điểm này để phát huy thế mạnh của mình, củng cố lợi ích mang lại chodoanh nghiệp ứng dụng.Tại Việt Nam, tiếp thị điện tử bắt đầu được E-marketing bắt đầu xuất hiện tại ViệtNam khoảng 3 năm trước đây dưới nhiều hình thức khác nhau và bắt đầu được ghinhận dấu ấn từ đầu năm 2008. Nhìn chung, hiệu quả mang lại cho doanh nghiệp đượcđánh giá khá tích cực. Song, tiếp thị điện tử vẫn chưa thực sự tạo ra những bước tăngtrưởng ngoạn mục do rào cản nhận thức từ người tiêu dùng và các nhà làm tiếp thị khichưa có cái nhìn thấu đáo và đúng đắn về tiếp thị điện tử. Hơn nữa, tiếp thị điện tử là1 Trích “Tiếp thị số - Hướng dẫn thiết yếu cho truyền thông mới”, tác giả Kent Wertime, Ian Fenwick;nhà xuất bản Tri Thức 2009, trang 9 4
    • một vấn đề khá mới mẻ và chỉ đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thôngtin, đặc biệt là trong thương mại điện tử.Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu về hoạt động của e-marketing (tiếp thị điện tử) trongthương mại điện tử” hi vọng sẽ là một tài liệu tham khảo mang tính thực tiễn cao vềcác công cụ tiếp thị điện tử, cũng như những kinh nghiệm trên thế giới về việc triểnkhai, ứng dụng trong hoạt động kinh doanh nói chung và thương mại điện tử nóichung.II. Mục tiêu của đề tàiCho đến nay, ở trong nước hầu như chưa có đề tài nghiên cứu nào đề cập một cách cụthể về phương thức tiếp thị mới này. Vì vậy, trong khuôn khổ của đề tài, tác giả vànhóm chuyên gia mong muốn sẽ chuyển tài được 3 mục tiêu chính, đó là:- Nghiên cứu các khái niệm, hoạt động cơ bản của hoạt động e-marketing nói chung;- Nghiên cứu, đánh giá mức độ ứng dụng của hoạt động e-marketing trong thương mạiđiện tử trên thế giới;- Nhìn nhận lại thực trạng ứng dụng e-marketing tại Việt Nam để có những đề xuấtmang tính ứng dụng cao.III. Phƣơng pháp tiến hànhTrong giới hạn về thời gian và nguồn lực của đề tài, phương pháp được tiến hành trongsuốt quá trình thực hiện đề tài bao gồm:- Thu thập tài liệu: tham khảo từ các nguồn có sẵn như Internet , các báo cáo, các giáotrình nếu có;- Làm việc trực tiếp với các cơ quan hữu quan, các doanh nghiệp, tổ chức có liên quan;tham vấn các đơn vị , đối tác nước ngoài;- Khảo sát / Điều tra: đối tượng điều tra là doanh nghiệp, người tiêu dùng có ứng dụngthương mại điện tử;- Nghiên cứu và đề xuất giải pháp.IV. Nội dung thực hiện và kết quả dự kiếnTiếp thị điện tử (e-marketing) là một phương thức tiếp thị rộng lớn bao triiumfd tất cảcác phương tiện điện tử. Tuy nhiên, trong giới hạn đề tài, tác giả chỉ nghiên cứu e-marketing dưới góc độ tiếp thị ứng dụng Interrnet hay còn gọi là tiếp thị trực tuyến.Nghiên cứu về lĩnh vực e-marketing trong thương mại điện tử bao gồm các nội dungchủ yếu như:  Các khái niệm xoay quanh hoạt động e-marketing 5
    •  Các đặc điểm điển hình của hoạt động e-marketing  Các hình thức cơ bản của hoạt động e-marketing- Nghiên cứu ứng dụng e-marketing trong thương mại điện tử trên thế giới;- Nghiên cứu thực tiễn triển khai e-marketing tại Việt Nam - Khảo sát một số mô hìnhe-marketing tiêu biểu;- Đề xuất các giải pháp, biện pháp nâng cao hiệu quả của e-marketing trong lĩnh vựcthương mại điện tử. 6
    • CHƢƠNG II: NGHIÊN CỨU VỀ E-MARKETINGI. Khái niệm1. Các quan niệm và định nghĩaE-marketing là hoạt động tiếp thị ngày càng được nhiều người quan tâm và ứng dụngtrong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhưng để đưa ra một định nghĩa chính xác về e-marketing không phải là một việc dễ dàng. Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khácnhau về e-marketing. Sở dĩ như vậy là do e-marketing được nghiên cứu và xem xét từnhiều góc độ khác nhau.Theo Philip Kotler, cha đẻ của marketing hiện đại, e-marketing là quá trình lập kếhoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng đểđáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân dựa trên các phương tiện điện tử và Internet.(Philip Kotler, Marketing Management, 11th Edition, 2007)Theo Mark Sceats thì e-marketing chính là hoạt động tiếp thị sử dụng Internet là kênhhiển thị.Hay theo quan niệm của Chaffey thì e-marketing là hoạt động đạt được mục tiêu nhờkỹ thuật truyền thông điện tử.Hay theo một quan niệm khác thì cho rằng, e-marketing là hoạt động ứng dụng mạngInternet và các phương tiện điện tử để tiến hành các hoạt động marketing nhằm đạtđược các mục tiêu của tổ chức và duy trì quan hệ khách hàng thông qua nâng cao hiểubiết về khách hàng, các hoạt động xúc tiến hướng tới mục tiêu và các dịch vụ quamạng hướng tới thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản, e-marketing là hoạt động tiếp thị, quảng básản phẩm, dịch vụ bằng cách ứng dụng các phƣơng tiện điện tử nhƣ điện thoại,fax, Internet …Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu e-marketing ứngdụng Internet hay còn gọi là tiếp thị trực tuyến.2. Quá trình hình thành và phát triểnNhìn chung, quá trình hình thành và phát triển của e-marketing được chia thành ba giaiđoạn: - Thông tin: các hoạt động marketing điện tử nhằm giới thiệu quảng bá hình ảnhdoanh nghiệp, sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp thông qua các website thông tin,catalogue điện tử. 7
    • - Giao dịch: các hoạt động giao dịch trực tuyến, tự động hóa các quy trình kinhdoanh, phục vụ khách hàng tốt hơn, thuận tiện, an toàn và hiệu quả hơn trong bán lẻ,dịch vụ ngân hàng, thị trường chứng khoán … - Tương tác: phối hợp, liên kết giữa nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối …thông qua chia sẻ các hệ thống thông tin, phối hợp các quy trình sản xuất, kinh doanhđể hoạt động hiệu quả nhất, điển hình là hoạt động giữa các hãng sản xuất ôtô, máytính …3. Đặc trƣng cơ bản và thế mạnh của e-marketingE-marketing kể từ khi xuất hiện đã được các nhà tiếp thị ứng dụng một cách nhanhchóng. Nguyên nhân chính là do e-marketing có nhiều đặc trưng khác biệt so vớimarketing truyền thống nên đem lại hiệu quả trong hoạt động tiếp thị, quảng bá thươnghiệu, sản phẩm và dịch vụ. E-marketing có một số đặc trưng cơ bản sau:  Không giới hạn về không gianTrong môi trường Internet, mọi khó khăn về khoảng cách địa lý đã được xóa bỏ hoàntoàn. Điều này cho phép doanh nghiệp khai thác triệt để thị trường toàn cầu. Nhờ hoạtđộng tiếp thị trực tuyến mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể quảng bá thương hiệu, sảnphẩm, dịch vụ của mình đến với tập khách hàng mục tiêu trên toàn thế giới với chi phíthấp và thời gian nhanh nhất. Khách hàng của họ có thể là những người đến từ Mỹ,Pháp, Nhật Bản, Anh … Đặc trưng này bên cạnh việc đem lại cho doanh nghiệp rấtnhiều lợi ích thì cũng chứa đựng những thách thức đối với doanh nghiệp. Khi khoảngcách được xóa bỏ đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ tham gia vào môi trường kinhdoanh toàn cầu. Khi đó, môi trường cạnh trạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt.Chính điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được chiến lược kinh doanh,marketing rõ ràng và linh hoạt.  Không giới hạn về thời gianE-marketing có khả năng hoạt động liên tục tại mọi thời điểm, khai thác triệt để thờigian 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần, 365 ngày trong một năm, hoàntoàn không có khái niệm thời gian chết. Doanh nghiệp có thể cung cấp dịch vụ hỗ trợkhách hàng trực tuyến mọi lúc, mọi nơi; tiến hành nghiên cứu thị trường bất cứ khinào; gửi email quảng cáo …  Tính tương tác caoTính tương tác của mạng Internet được thể hiện rất rõ ràng. Chúng cho phép trao đổithông tin hai chiều và cung cấp nhiều tầng thông tin cũng như tạo ra mối quan hệ trựctiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng. Hoạt động marketing trực tuyến cung cấp thôngtin theo yêu cầu của người sử dụng và cho phép người sử dụng xem các thông tin. 8
    • Khách hàng có thể cung cấp thông tin phản hồi về một sản phẩm nào đó, có thể yêucầu nhận thêm thông tin hoặc yêu cầu không nhận thêm thông tin về sản phẩm đó nữa.  Khả năng hướng đối tượng thích hợpHoạt động marketing trực tuyến có rất nhiều khả năng để nhắm vào đối tượng phùhợp. Doanh nghiệp có thể nhắm vào các công ty, các quốc gia hay khu vực địa lý,cũng như doanh nghiệp có thể sử dụng cơ sở dữ liệu để làm cơ sở cho hoạt động tiếpthị trực tiếp. Doanh nghiệp cũng có thể dựa vào sở thích cá nhân và hành vi của ngườitiêu dùng để nhắm vào đối tượng thích hợp.  Đa dạng hóa sản phẩmNgày nay việc mua sắm đã trở lên dễ dàng hơn nhiều, chỉ cần ở nhà, ngồi trước máy vitính có kết nối Internet là khách hàng có thể thực hiện việc mua sắm như tại các cửahàng thật. Sản phẩm và dịch vụ được cung cấp trên các cửa hàng ảo này ngày mộtphong phú và đa dạng nên thu hút được sự quan tâm từ phía người tiêu dùng. Giờ đây,nếu muốn mua một quyển sách, khách hàng chỉ việc truy cập vào các website chuyênbán sách như www.amazon.com để lựa chọn cho mình một quyển sách ưng ý.Trong marketing thông thường, để đến với người tiêu dùng cuối cùng, hàng hóathường phải trải qua nhiều khâu trung gian như các nhà bán buôn, bán lẻ, đại lý, môigiới … Trở ngại của hình thức phân phối này là doanh nghiệp không có được mốiquan hệ trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng nên thông tin phản hồi thường kémchính xác và không đầy đủ. Bởi vậy, phản ứng của doanh nghiệp trước những biếnđộng của thị trường thường không kịp thời. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải chia sẻlợi nhuận thu được cho các bên trung gian … Nhưng với e-marketing, những cản trởbởi khâu giao dịch trung gian đã hoàn toàn được loại bỏ. Doanh nghiệp và khách hàngcó thể giao dịch trực tiếp một cách dễ dàng và nhanh chóng thông qua website, gửiemail trực tiếp, các diễn đàn thảo luận.4. Xu thế phát triển của thế giớiHoạt động e-marketing đang thay đổi một cách nhanh chóng. Nhiều kênh tiếp thị mớingày càng thể hiện được hiệu quả về mặt chất lượng cũng như tính kinh tế. Và xuhướng phát triển của thế giới sẽ được đánh dấu bởi một số đặc điểm sau:  Ngân sách và trọng tâm tiếp thị tiếp tục chuyển dần sang hình thức trực tuyếnChi phí dành cho hoạt động tiếp thị trực tuyến tiếp tục tăng. Các kênh trực tuyến có chiphí thấp và dễ đo lường hiệu quả hơn và dần thay thế phương thức truyền thống. Đa sốcác nhà tiếp thị cho biết tổ chức của họ đang chuyển dần sang các hoạt động marketingtrực tuyến.  Email marketing 9
    • Các nhà tiếp thị đang hoặc đều có kế hoạch sử dụng email marketing – một hình thứcphổ biến xuất hiện trong các chiến lược e-marketing. Việc email được chấp nhận rộngrãi và hộp thư của khách hàng bị đầy ắp nhanh chóng khiến các nhà tiếp thị sẽ khôngthể dùng chiến lược cũ là “vung tiền cầu may” mà phải cố gắng duy trì ở mức thíchhợp. Để làm được điều đó, các nhà tiếp thị không những phải nỗ lực tạo ra các chiếndịch có tính thuyết phục mà còn phải tập trung mạnh hơn vào việc phân tích và quản lývị trí thư đến, cách trình bày nội dung và quan tâm tới uy tín của doanh nghiệp.  Tìm kiếm tiếp tục là công cụ chủ yếu nhưng tính phức tạp gia tăngChưa có dấu hiệu nào cho thấy các khách hàng sẽ thôi không sử dụng công cụ tìmkiếm như một công cụ chủ yếu để tìm kiếm sản phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên, các nhàtiếp thị bằng công cụ tìm kiếm đang bắt đầu chú ý đến một số công cụ tìm kiếm kháckhông phải là Google. Không chỉ do sự tăng trưởng đầy triển vọng của Bing ở Mỹ màcòn do thị trường toàn cầu bị phân chia mạnh mẽ bởi các đối thủ địa phương như trangtìm kiếm Baidu của Trung Quốc và Yandex của Nga. Sự cộng tác giữa các đối thủ đểcải tiến các tiện ích, định vị vị trí khiến mức độ phức tạp của hoạt động tiếp thị bằngcông cụ tìm kiếm đang gia tăng.  Mở rộng mục tiêu và cá biệt hóa trên websiteCá biệt hóa sẽ làm tăng tính phức tạp vì các nhà tiếp thị phải nhắm vào những ngườitruy cập vô danh dựa trên việc khảo sát URL, từ khóa tìm kiếm và định vị vị trí địa lý.Các nhà tiếp thị đồng thời sẽ phải cung cấp thông tin về email, chào hàng và các thôngđiệp trên website để có thể tiếp cận khách hàng tốt hơn thông qua các thông điệp tiếpthị.  Phát triển và chấp nhận các kênh trực tuyến khácCác nhà tiếp thị đang đối mặt với sự thay đổi chóng mặt của một loạt các kênh mớinhư điện thoại di động (tin nhắn, website, các ứng dụng), rich media (video, podcast,chơi game), truyền thông xã hội (tiểu blog, mạng xã hội) và rất nhiều thứ khác. Cáckênh này còn rất mới, chưa rõ mức độ thành công ra sao. Mặc dù có những thách thứcnhưng cơ hội đạt được hiệu quả và thu hút khách hàng là không thể phủ nhận và cácnhà tiếp thị tiếp tục trải nghiệm, thử nghiệm và chấp nhận các kênh tiếp thị mới nổinày.  Tiếp thị qua điện thoại di động tiếp tục tăng trưởngMối quan tâm về hình thức tiếp thị bằng điện thoại di động đã bùng nổ do sự thànhcông vang dội của điện thoại iPhone và Android của Google. Khi điện thoại thôngminh được dùng ngày càng nhiều, tiếp thị bằng điện thoại di động sẽ vượt ra ngoài 10
    • việc nhắn tin, gửi mail, lướt web. Nhiều ứng dụng khác của điện thoại sẽ là nơi để tiếnhành tiếp thị.  Sử dụng mạng xã hộiCác trang như Facebook và Twitter đã có tăng trưởng từ sự khởi đầu đầy khó khăn.Hiện nay, khoảng một nửa các nhà tiếp thị (47%) đang sử dụng hình thức mạng xã hộicho hoạt động tiếp thị. Số còn lại đều có kế hoạch sử dụng hình thức này trong hoạtđộng marketing của mình trong thời gian tới. Với chiến thuật tiếp thị qua mạng xã hộiđể phát triển thương hiệu và củng cố thông điệp của công ty.  Phân tích việc truy cập websitePhân tích truy cập website sẽ tập trung vào tổng hợp dữ liệu khách hàng từ website, từcông cụ tìm kiếm, điện thoại di động. Hầu hết các nhà tiếp thị đang hoặc đều có kếhoạch sử dụng công cụ phân tích website trong hoạt động marketing .  Khó khăn với công nghệ thông tin dẫn đến việc sử dụng các giải pháp marketing theo nhu cầuĐa phần các nhà tiếp thị đều phàn nàn về chất lượng dịch vụ hỗ trợ công nghệ thôngtin cho hoạt động marketing. Vì vậy, để đưa ra lời cam kết về những kênh mới và phântích, thực hiện marketing tích hợp, các giải pháp tiếp thị sẽ được chấp nhận dựa trênnhu cầu. Dịch vụ thuê phần mềm theo nhu cầu (SaaS) cho phép các nhà tiếp thị cá biệthóa chiến dịch mà không phụ thuộc nhiều vào công nghệ thông tin.  Giải pháp trọn gói rút ngắn khoảng cách giữa phân tích và hành độngCác nhà tiếp thị bị ngập chìm trong biển dữ liệu bởi vô số các kênh trực tuyến. Côngcụ phân tích website giúp các nhà tiếp thị đo lường hoạt động thông qua nhiều kênhtrực tuyến. Nhưng để chuyển đổi thành lời khuyên hữu ích thì vẫn còn đầy thách thức.Để xóa khoảng cách giữa phân tích và hành động, giải pháp tiếp thị trực tuyến trọn góicho phép các nhà tiếp thị đáp ứng nhanh chóng nhu cầu và sự quan tâm của kháchhàng đối với việc cá biệt hóa nội dung website và email, nơi phản ánh tất cả thông tinthu được thông qua hoạt động phân tích website. Kết quả là sẽ có thêm nhiều chiếndịch tiếp thị hấp dẫn và thành công nhiều hơn.II. Các công cụ e-marketing cơ bản1. Trang thông tin điện tử (Website)Website là một giải pháp e-marketing quen thuộc đối với các doanh nghiệp. Hầu hếtcác doanh nghiệp đều đã thiết kế website riêng để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ vàquảng bá thương hiệu. Tuy nhiên, cách thức khai thác và sử dụng website hiệu quả vẫncòn là một vướng mắc đối với doanh nghiệp. Để tăng hiệu quả sử dụng, các doanh 11
    • nghiệp phải tiến hành theo một trình tự chuẩn. Đầu tiên, tiến hành thiết kế website cầndựa vào mục tiêu và đặc điểm của những người truy cập thường xuyên. Bởi vì mụctiêu kinh doanh và những người truy cập thường xuyên sẽ quyết định việc website đótrông như thế nào trên màn hình máy tính, cách thức người truy cập tương tác trênwebsite. Mục tiêu ở đây có thể là cung cấp thông tin chính xác về các vấn đề mới, cóphần mục để người dùng tham gia bình luận, đánh giá chất lượng của bài viết (đối vớiwebsite cung cấp thông tin) hay mục tiêu thu hút khách hàng mới nhờ việc cung cấpthông tin, hình ảnh chi tiết liên quan đến sản phẩm.Sau khi hoàn tất công việc thiết kế website và đưa website vào giai đoạn hoạt động,chủ sở hữu website phải lập một kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tiếp thịthông qua việc sử dụng các công cụ truyền thông truyền thông và trực tuyến. Tiếnhành hoạt động quảng cáo website trên các công cụ tìm kiếm, diễn đàn, mạng xã hội,website khác …Website được cấu thành bởi ba yếu tố cơ bản, đó là: nội dung, tính tương tác và bố cụcwebsite. Khi biết cách phối hợp một cách hợp lý ba yếu tố đó thì chúng ta sẽ có đượcmột website hiệu quả.  Nội dung: là một yếu tố hết sức quan trọng đối với một website. Nội dung đượchiểu là tất cả những thứ được cung cấp trên website như từ ngữ, sản phẩm, hình ảnh,audio … Để có được những nội dung phong phú, hấp dẫn đòi hỏi bạn phải xây dựngnội dung dựa vào mô hình AIDA (Attention, Interest, Desire, Action). Dùng tiêu đềđể thu hút sự chú ý, dùng hình ảnh để khơi gợi sự yêu thích, dùng kiểu mẫu để tạo sựham muốn và dùng lời lẽ để khiến người truy cập website đi đến hành động.  Tính tương tác: thể hiện ở việc người truy cập có thể dễ dàng tìm được thôngtin mà họ muốn; dễ dàng tải tài liệu; dễ dàng di chuyển từ trang chủ sang các trangkhác nhờ việc sử dụng công cụ tương tác như danh mục, siêu liên kết; dễ dàng khámphá các đường link; dễ dàng theo dõi “quá trình bán hàng”; dễ dàng gửi bình luận, ýkiến đánh giá, quan điểm của bạn để người khác cùng xem, cùng trao đổi về một vấnđề. Do vậy có thể hiểu một cách đơn giản là một website dễ sử dụng đồng nghĩa vớiviệc có tính tương tác tốt. Chính vì thế mà cấu trúc của website không được quá phúctạp và không được quá lớn.  Bố trí website: đó là cách bố trí, sắp xếp, phối hợp một cách hài hòa tất cả cácyếu tố, bao gồm màu sắc, nút bấm, hình nền, kết cấu, quy tắc, đồ họa, hình ảnh, âmthanh. Hộp II.1: Giao diện website bán hàng trực tuyến Amazon năm 1998 12
    • Hộp II.2: Giao diện website bán hàng trực tuyến Amazon năm 2009Khi so sánh giao diện website của Amazon tại thời điểm năm 1998 và năm 2009,chúng ta sẽ cảm nhận được sự khác biệt một cách rõ ràng. Giao diện năm 2009 được 13
    • bố trí một cách hợp lý hơn. Amazon đã sử dụng nhiều hình ảnh hơn nên giao diện nhìnbắt mắt hơn. Ngoài ra, website Amazon năm 2009 có tính tương tác cao hơn. Được thểhiện rõ nét ở chỗ danh mục hàng hóa được phân loại, bố trị lại một cách hợp lý; thêmmục “Creat your own review” để khách hạng nhận xét về sản phẩm; phần tìm kiếmđược đặt ở vị trí thích hợp hơn.2. SEMSEM là viết tắt của từ Search Engine Marketing – là hình thức quảng cáo thông quacác công cụ tìm kiếm. Đây là phương pháp tiếp cận khách hàng tiềm năng bằng cáchđưa trang web của doyeanh nghiệp hiển thị ở những vị trí đầu trên trang kết quả củacác công cụ tìm kiếm như Google, Yahoo, MSN… Hiện nay, SEM được xem là hìnhthức quảng cáo hiệu quả do tiết kiệm được chi phí, dễ dàng kiểm soát, minh bạch, dễdàng đánh giá được tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư.Phương pháp quảng cáo này có 2 hình thức cơ bản: Pay Per Click – trả tiền theo Clickvà Search Engine Optimization – tối ưu hóa công cụ tìm kiếm.Pay Per Click – Trả tiền theo ClickPay Per Click là cách hiển thị thông điệp quảng cáo trên phần liên kết được tài trợtrong trang kết quả tìm kiếm của Google, Yahoo, MSN … khi người dùng tìm kiếmnhững từ khóa có liên quan. Doanh nghiệp sẽ đặt giá cơ bản cho mỗi click và trả tiềncho mỗi lần công cụ tìm kiếm hướng khách hàng tới website. Khi có nhiều người truycập vào trang web đồng nghĩa với việc doanh nghiệp càng có nhiều cơ hội trong việcbán hàng và tạo dựng thương hiệu. 14
    • H1:Pay Per Click – Trả tiền theo ClickSEO – tối ưu hóa công cụ tìm kiếmSEO là chữ viết tắt của từ Search Engine Optimization (tối ưu hóa công cụ tìm kiếm).SEO là một tập hợp các phương pháp nhằm nâng cao thứ hạng của một website trongcác trang kết quả của công cụ tìm kiếm. Doanh nghiệp không cần trả phí nếu xuất hiệntrong phần kết quả tìm kiếm tự nhiên nên một trang web được tối ưu hóa sẽ tiết kiệmđược rất nhiều chi phí chạy Pay Per Click. SEO được chia làm hai phần: onpageoptimization (là cách xây dựng cấu trúc trang web, nội dung trang web, sự chặt chẽ,kết nối giữa các trang trong trang của bạn) và off-page optimization (là quá trình phổbiến trang web của bạn đến nhiều người). Các nhà tiếp thị sử dụng SEO với mục tiêuchủ yếu là nâng cao thứ hạng của danh sách tìm kiếm miễn phí theo một số từ khóanhằm tăng lượng truy cập vào trang web. 15
    • H2:Search Engine Optimization (SEO) – Tối ưu hóa công cụ tìm kiếmTrên thực tế, người dùng Internet có thể truy cập vào một website bằng ba cách, đó là:sử dụng công cụ tìm kiếm; nhấp vào liên kết từ các trang khác; hoặc đánh địa chỉURL. Theo báo cáo của Pew Internet & American Life thì gần một nửa người dùngInternet trên thế giới sử dụng công cụ tìm kiếm để tìm kiếm thông tin về các vấn đềkhác nhau. Như vậy, quảng cáo thông qua công cụ tìm kiếm là một hình thức có thểđem lại hiệu quả cao.Công cụ tìm kiếm sử dụng các thuật toán phức tạp để tìm ra những kết quả có liênquan một cách nhanh chóng. Do vậy, để sử dụng công cụ tìm kiếm một cách hiệu quảđòi hỏi các doanh nghiệp phải lưu ý đến một số vấn đề sau:  Quản lý thứ hạng trên các trang công cụ tìm kiếmKhi doanh nghiệp đạt được một thứ hạng tốt trên công cụ tìm kiếm thì doanh nghiệpphải tập trung vào công tác duy trì thứ hạng. Doanh nghiệp cần lưu ý: thứ hạng trêncông cụ tìm kiếm luôn thay đổi do công cụ tìm kiếm luôn thay đổi công thức xếp hạng,hay các công ty khác đang nỗ lực giành lấy vị trí của doanh nghiệp bạn, hay đơn giảnnội dung và liên kết của bạn không được cập nhật trong một thế giới mà nhu cầu tìmkiếm đang đòi hỏi tốc độ với thời gian thực. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần phảichú ý duy trì xếp hạng.  Kiểm tra thứ hạng 16
    • Đối với hầu hết các website nhỏ, báo cáo quý về xếp hạng của công tụ tìm kiếm, mứcđộ phổ biến liên kết và yêu cầu liên kết là rất quan trọng. Nếu bạn đọc các chỉ số cậpnhật về tình trạng xếp hạng của Google, hoặc chạy một chương trình SEO quan trọngcho tìm kiếm tự nhiên, bạn có thể sẽ muốn xem báo cáo thường xuyên. Hộp: Các bƣớc để kiểm tra thứ hạngBƣớc 1: Kiểm tra thứ hạng. Để kiểm tra thứ hạng trên Google bạn có thể sử dụngđường link thống kê tìm kiếm:www.google.com/support/webmasters/bin/answer.py?answer=35256&query=crawl1%20statistics&topic=&type hoặc mua phần mềm Web Positionhttp://webposition.com hoặc Search Engine Trackerwww.netmechanic.com/products/tracker.shtm để kiểm tra thứ hạng một cách tựđộng với đa dạng từ khóa và công cụ tìm kiếm.Bƣớc 2: Lập báo cáo về mức độ phổ biến của link để đảm bảo rằng các link liên kếtbên trong là bền vững.Bƣớc 3: Xem xét lại bảng kết quả về yêu cầu liên kết và thư mục/công cụ tìm kiếm.  Theo dõi lượng truy cậpViệc theo dõi lượng truy cập là một công việc hết sức cần thiết bởi những con số thốngkê về lượng người truy cập này chính là những con số biết nói. Dựa vào báo cáo thốngkê phân tích lượng người truy cập vào trang web, các nhà tiếp thị đưa ra những quyếtđịnh chính xác hơn khi tiến hành các hoạt động quảng bá website, có những điều chỉnhđúng hướng và kịp thời đối với cấu trúc và nội dung của website. Hơn nữa, việc theodõi lượng người truy cập còn giúp các nhà tiếp thị đánh giá hiệu quả của một chiếndịch quảng bá sản phẩm, dịch vụ hay thương hiệu của công ty.  Nghiên cứu từ khóaĐể lựa chọn được một từ khóa thích hợp cho website là cả một nghệ thuật.Tìm kiếm từ: Khi chọn từ khóa, bắt đầu bằng kỹ thuật đảo ngược các trang web củađối thủ cạnh tranh và các trang web xuất hiện ở ba vị trí đầu tiên đối với một cụm từtìm kiếm cụ thể. Xem xét lại toàn bộ trang web và lập một danh sách các từ khóa đã sửdụng. Động não tìm kiếm những cụm từ khác xuất hiện trong văn bản của bạn. Sau đósử dụng danh sách này làm dữ liệu cho một vài công cụ tạo từ khóa để tìm ra nhữngcụm từ phù hợp và những đề xuất thay thế.Sử dụng công cụ tạo từ khóa: Các công cụ tạo từ khóa có thể giúp bạn phát hiện racác từ khóa hiệu quả cho trang web của bạn. Các công cụ tạo từ khóa như Google 17
    • Adwords Keyword, Keyword Discovery, Wordtracker…cho phép bạn nghiên cứu,phân tích và lọc các từ khóa tiềm năng.Ví dụ: với công cụ Google Adwords Keyword, bạn chỉ việc nhập từ khóa của bạn vàovà nhấp "Get keyword ideas", sau đó bạn có thể xem xét các thông tin về từ khóa đãnhập cũng như các từ khóa liên quan, rồi lựa chọn từ khóa cho website của bạn.  Phân tích cạnh tranhCạnh tranh luôn là yếu tố tồn tại trong quy luật thị trường, đừng nghĩ việc cạnh tranhchỉ phụ thuộc vào website của bạn và website của đối thủ. Mà trên thực tế việc cạnhtranh ở đây chính là việc bạn cùng với thuật toán của công cụ tìm kiếm.Sự cạnh tranh này được chính bạn thực hiện với việc tinh chỉnh các meta tag title,description, hiểu chỉnh serve, tốc độ load web và kể cả trọng lượng page của bạn. Sự 18
    • hiểu chỉnh sao cho theo kịp với sự thay đổi của các thuật toán là một việc không hềđơn giản, bạn phải đầu tư khá nhiều thời gian và công sức.  Đăng ký lại website với công cụ tìm kiếmĐể các công cụ tìm kiếm biết đến sự tồn tại của trang web của bạn thì bạn cần phảiđăng ký trang web vào các công cụ tìm kiếm đó. Công việc này thực chất rất đơn giản,bạn chỉ cần truy cập vào 3 đường dẫn sau rồi làm theo hướng dẫn.Nếu mọi việc diễn ra bình thường thì không có một lý do nào khiến bạn phải đăng kýlại trang web với công cụ tìm kiếm. Nhưng trong trường hợp, thứ hạng của trang webtrên công cụ tìm kiếm giảm mà không biết lý do thì bạn nên theo dõi một vài ngày đểchắc chắn về tình trạng này. Rồi sau đó bạn cần phải tiến hành đăng ký lại với cáccông cụ tìm kiếm.3. Email marketingTheo một cuộc điều tra của IDG năm 2000 thì 83% người được hỏi vào mạng để gửiemail. Quảng cáo bằng thư điện tử là một trong những hình thức quảng cáo thôngdụng nhất hiện nay trên mạng.Để thực hiện việc gửi thư điện tử tới người nhận, công ty phải có được danh sách địachỉ thư điện tử của các khách hàng mà công ty muốn gửi thông điệp của mình. Công tycó thể đi thuê của những công ty chuyên cung cấp các danh sách email hoặc có thể tựlàm danh sách email cho riêng mình. Sau khi đã có được danh sách email của cáckhách hàng, công ty có thể tiến hành việc gửi email trực tiếp để quảng bá cho sảnphẩm của công ty. Tuỳ thuộc vào sự cho phép của người nhận hay không đối với cácemail đó, ta có hai hình thức gửi email trực tiếp là email không được sự cho phép củangười nhận và email được sự cho phép của người nhận.a. Email không được sự cho phép của người nhận (Unsolicited Email Marketinghay Unsolicited Commercial Email - UCE) hay còn gọi là Spam"Spam là hiện tượng một công ty gửi thư quảng cáo tới các địa chỉ mà người nhậnkhông có yêu cầu về thông tin của công ty đó”.Đây là hình thức marketing bằng email đầu tiên xuất hiện trên Internet. Người tiêudùng hay khách hàng thường nhìn nhận hiện tượng spam như là hình thức tiếp thị quađiện thoại, điều đó có thể gây phiền phức cho họ và rất có thể sẽ khiến họ khó chịu vàcó những nhận xét không tốt về công ty đã gửi spam. Tuy nhiên, không phải là khôngcó cách khắc phục nhược điểm của các spam nếu như nhà tiếp thị vẫn muốn dùng nó.Một nhà tiếp thị khôn ngoan có thể gửi kèm theo bức thư một món quà nho nhỏ và mộtmẫu đăng ký danh sách gửi thư. Chỉ nên gửi quảng cáo của mình đến hộp thư củakhách hàng một hoặc hai lần và số lần nên cách nhau một khoảng thời gian dài để 19
    • không gây khó chịu cho người nhận. Đồng thời nhà tiếp thị cũng nên nói rõ cho họbiết nếu họ không muốn nhận thư của công ty nữa, chỉ cần thực hiện một số thao tácđơn giản là họ có thể loại bỏ tên của mình ra khỏi danh sách nhận thư, cũng như sẽkhông phải nhận một thư tiếp thị nào khác.Tuy rằng những phương pháp trên có những tác dụng nhất định, việc sử dụng spamvẫn có thể mang lại một rủi ro rất lớn cho uy tín của công ty. Vì vậy, nếu một công tythực sự muốn đầu tư và thu lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trực tuyến, đừng baogiờ đưa spam vào trong kế hoạch kinh doanh của mình.b. Email được sự cho phép của người nhận (Solicited Commercial Email)Đây là một trong các hình thức tiếp thị quảng cáo tốt nhất để tạo cho công việc kinhdoanh của công ty phát triển, mang lại lợi nhuận nhanh chóng với chi phí thấp nhất vì: - Công ty gửi email cho những cho người có quan tâm đến sản phẩm của côngty và họ sẽ cảm ơn công ty vì điều này. - Công ty có thể nhận được đơn đặt hàng của khách hàng trong vòng vài phútsau khi thư chào hàng được gửi đi. - Công ty có thể nhanh chóng xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với khách hàngthông qua việc gửi cho họ các bản tin, thông tin cập nhật về sản phẩm, khuyến mại saucác khoảng thời gian khac nhau, hoàn toàn tự động.Nhược điểm duy nhất của hình thức này là công ty phải được sự cho phép của ngườinhận. Vậy làm thế nào để được khách hàng cho phép? Giải pháp cho vấn đề này đó làsử dụng các danh sách thư "tiếp nhận" (opt-in list), nghĩa là người nhận có yêu cầuđược nhận các email. Và bất kỳ lúc nào họ cũng có quyền lựa chọn ra khỏi danh sáchvà không nhận email. Hộp: Một số lƣu ý trong quảng cáo bằng thƣ điện tửĐể đảm bảo tính hiệu quả của chiến dịch quảng cáo bằng email, bạn cần thực hiệnmột số biện pháp như sau:Có chủ đề hấp dẫn: Mọi người thường nhận được rất nhiều email, đặc biệt là nhữngngười trên danh sách email trực tiếp. Khi họ nhìn vào hộp thư email của mình đểxem chủ đề của tất cả các email, nếu thấy chủ đề hay họ sẽ mở email.Thông tin ngắn gọn đi vào chủ điểm, sự quan tâm của người xem chính là hàng hoácó giá trị trên mạng. Tránh gửi các phần kèm theo vì mọi người thường khôngmuốn nhận các phần này trừ phi có yêu cầu.Cung cấp một thứ gì đó có giá trị trong mỗi lần gửi thư như: giảm giá, tin tức quantrọng hoặc một thứ gì khác. Mấu chốt là phải tạo được lý do để mọi người muốn đọc 20
    • lá thư tiếp theo và có suy nghĩ tốt về công ty. Kiểm tra nhiều kiểu khuyến mại xemcái nào có hiệu quả nhất.Đƣa ra các đề nghị: Người tiêu dùng cần được cung cấp một lý do thúc đẩy họ đáplại và công ty cần đảm bảo việc liên lạc là thuận lợi nhất bằng cách cung cấp các lựachọn phương tiện liên lạc cho người sử dụng: địa chỉ email, URL, số điện thoại hoặcsố fax.Tạo ra các đƣờng link kết nối trong các bức thƣ: Ngày nay, phương pháp tiếp thịbằng email hiệu quả nhất gồm các liên kết nóng hoặc các siêu liên kết trong thôngđiệp bằng email nhằm đưa khách hàng tới thẳng địa chỉ của nhà quảng cáo. Bằngnhững đường link này, người nhận có thể tìm kiếm được nhiều thông tin hơn vềcông ty qua các cuốn e-book hay các website được link tới. Những liên kết nàykhông nên đưa khách hàng tới trang chủ mà nên đưa họ tới thẳng các trang đãđược thiết kế dành cho khách hàng. Bên cạnh đó, công ty nên tạo ra một cuốn sáchđiện tử giới thiệu thật đầy đủ và chi tiết về công ty. Những cuốn sách điện tử sẽ lànhững công cụ rất hiệu quả để quảng cáo cho sản phẩm và công ty mà không tốnnhiều thời gian và tiền bạc.Cá nhân hóa các thông điệp và đƣa ra các thông tin chọn lọc: Hãy thêm tênngười xem vào dòng tiêu đề, vì nó nhanh chóng gây ra sự chú ý của người xem vàkhơi dậy trí tò mò của họ. Nó cũng tạo ra cảm giác đây là bức thư công ty viết đểdành riêng cho họ, hay đây chính là các thông tin mà họ đã yêu cầu. Nếu có thể,công ty nên gửi cho mỗi loại khách hàng một thông điệp khác nhau. Chẳng hạn tấtcả các khách hàng mới có thể nhận một chào hàng riêng, những khách hàng thườngxuyên sẽ nhận được một chào hàng khác và những khách hàng trước đây sẽ có mộtloại chào hàng thứ ba.4. Quảng cáo trực tuyếna. Quảng cáo dạng biểu ngữ hay bannerĐể thiết kế một banner quảng cáo hiệu quả đòi hỏi rất nhiều thời gian và sự kiên nhẫn,điều quan trọng là việc phác thảo kế hoạch ban đầu cho chiến dịch quảng cáo của bạnđã thực sự tối ưu chưa? Tiếp theo, sau khi bạn đã lên được kế hoạch thiết kế banner,bạn cần phải tìm kiếm một vị trí tốt nhất để đặt quảng cáo của bạn. Một vị trí tốt tức làphải phù hợp với đối tượng quảng cáo của bạn, có cùng một thị trường mục tiêu vàđiều quan trọng là với một chi phí hợp lý nhất. Tuy nhiên để tìm kiếm được một vị trínhư thế hoàn toàn không dễ dàng. Bạn có thể đặt quảng cáo trên một trang web bất kỳhay của một nhà chuyên cung cấp các không gian quảng cáo trên web, thậm chí bạn cóthể tham gia vào các chương trình trao đổi banner, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào sựcân nhắc và lựa chọn của bạn. 21
    • Có bốn loại banner: banner tĩnh, banner dạng động, banner dạng tương tác và bannerdạng rich media. - Banner dạng tĩnh: Banner quảng cáo dạng tĩnh là các ảnh cố định trên một sitenào đó và là loại quảng cáo đầu tiên được sử dụng trong những năm đầu của quảng cáoweb. Ưu điểm của loại này là dễ làm và được hầu hết các site tiếp nhận. Nhưng mặttrái của nó là những thay đổi mới về công nghệ quảng cáo banner khiến cho cácbanner tĩnh trông thật nhạt nhẽo va nhàm chán. Hơn nữa, loại quảng cáo này khôngđáp ứng được nhu cầu của khách hàng tốt bằng các loại quảng cáo biểu ngữ khác. - Banner dạng động: Đây là những banner có thể di chuyển, cuộn lại hoặc dướihình thức nào đó. Hầu hết các dải băng quảng cáo kiểu này sử dụng hình ảnh dạngGIF89 hoạt động giống như những cuốn sách lật gồm nhiều hình ảnh nối tiếp nhau.Hầu hết các banner động có từ 2 đến 20 khung. Kiểu quảng cáo này cực kỳ phổ biến,với lý do đơn giản là nó được nhấn vào nhiều hơn so với các quảng cáo banner tĩnh. Vìcó nhiều khung nên các banner này có thể đưa ra được nhiều hình ảnh và thông tin hơnquảng cáo banner tĩnh. Hơn nữa, chi phi để tạo ra kiểu banner này cũng không tốn kémvà kích cỡ của nó nhỏ thường không quá 15 kilobyte. - Banner kiểu tƣơng tác: Quảng cáo kiểu banner tương tác ra đời nhằm đáp ứngnhu cầu khách hàng tốt hơn, cho phép khách hàng tương tác trực tiếp với quảng cáochứ không đơn thuần là "nhấn". Các banner loại này còn thu hút các khách hàng bằngnhiều cách khác nhau như qua các trò chơi, chèn thông tin, trả lời câu hỏi, kéo menuxuống, điền vào mẫu hoặc mua hàng. - Banner dạng rich media: Đây la sự kết hợp công nghệ tiên tiến đưa vào quảngcáo banner. Rich media là một công nghệ cho phép thể hiện được thông điệp quảngcáo chi tiết hơn, hoặc ở mức độ tương tác cao hơn so với các banner chuẩn GIF. Richmedia được xem là loại quảng cáo có dải thông cao, gây ảnh hưởng với khách hàngnhiều hơn loại quảng cáo dạng banner động GIF. Banner dạng rich media cho phépkhách hàng hoàn tất việc giao dịch trong quảng cáo mà không phải ra khỏi website củanhà thiết kế. Hộp II.3: Giới thiệu về trang báo điện tử VnExpress.Net 22
    • Xuất hiện trên môi trường Internet vào những ngày đầu tháng 2/2001, và đến nay,Vnexpress đã tạo dựng được vị thế và có được lượng độc giả lớn nhất trong các trangthông tin điện tử của Việt Nam.Theo Google Analytics, Vnexpress hiện có gần 12,7 triệu độc giả thường xuyên, vớihơn 20 triệu lượt truy cập mỗi ngày. Trong đó, độc giả trong nước chiếm 83%, khoảng7% ở Mỹ, số còn lại từ các nước khác trên khắp châu lục.Tháng 6/2002, mỗi ngày trung bình có 800.000 độc giả.Tháng 6/2003, bước vào Top 2.000 trên hệ thống xếp hạng Alexa.Tháng 6/2004, bước vào Top 1.000 trên AlexaTháng 7/2005, đứng trong Top 500 với số lượng độc giả hơn 1 triệu mỗi ngày.Tháng 6/2006, lọt vào Top 300 với số lượng độc giả 1,5 triệu mỗi ngày.Tháng 6/2007, VnExpress lọt vào Top 100 trong bảng xếp hạng các trang web cónhiều người đọc nhất thế giới của Alexa.Tháng 4/2007 được Bộ Ngoại Giao tặng bằng khen vì “Đã có thành tích xuất sắc trongviệc phục vụ Hội nghị cao cấp APEC 14, năm 2006”.Tháng 12/2008, VnExpress lập kỷ lục đạt gần 20.350.000 lượt truy cập theo thống kêtrên Google.Trong 2 năm liên tiếp (2008-2009), VnExpress đã được độc giả tạp chí Thế giới vi tínhViệt Nam (PC Word VN) – tạp chí công nghệ hàng đầu Việt Nam đánh giá là “Trangtin tức trực tuyến uy tín nhất” của năm với số phiếu lên đến 48%. 23
    • Hộp II.4: Bảng giá quảng cáo Banner trên VnExpressNguồn thu chính của VnExpress là từ hoạt động quảng cáo, trong đó quảng cáoBanner chủ yếu. Các nhà marketer hầu hết đều thích đặt Banner trên VnExpress bởikhả năng nhắm trọn đối tượng mục tiêu. Tuy nhiên, mức giá đặt Banner trênVnExpress là khá cao khiến các nhà marketer phải cân nhắc kỹ lượng. Ví dụ như,muốn đặt một Half Banner trên trang chủ của VnExpress, với kích thước 394x90pixels với cơ chế là cố định và chia sẻ 3 thì doanh nghiệp phải trả 180,000,000đồng/tháng.b. Quảng cáo Interstitial Quảng cáo Interstitial hay còn gọi là quảng cáo “pop–up” là các quảng cáo xuấthiện trên màn hình và làm gián đoạn công việc của người sử dụng. Phiên bản quảngcáo dưới dạng này sẽ bật ra trên một màn hình riêng, khi bạn nhắc chuột vào mộtđường link hay một nút bất kỳ nào đó trên website. Sau khi nhấn chuột, bạn sẽ nhìnthấy một cửa sổ nhỏ được mở ra với những nội dung được quảng cáo. Các nhà quảng cáo rất thích sử dụng loại hình quảng cáo này vì chắc chắn nó sẽđược người sử dụng biết tới. Tuy nhiên, hình thức quảng cáo này khiến một số kháchhàng tỏ ra không hài lòng, bởi vì họ phải nhắc chuột để di chuyển hay đóng cửa sổ đó Nguồn: www.redsailvietnam.comlại khi muốn quay trở lại trang cũ. Hộp II.5: Hình ảnh về quảng cáo Interstitial 24
    • c. Quảng cáo bằng các liên kết văn bản (text link) Textlink là loại hình quảng cáo gây ít phiền toái nhất nhưng đem lại hiệu quảQuảng cáo textlink thường xuất hiện trong bối cảnh phù hợp với nội dung mà ngườixem quan tâm vì vậy chúng rất hiệu quả mà không tốn nhiều diện tích màn hình. Ví dụnhư nó có thể được nhúng trong các nội dung thông tin mà khách hàng đang đọc vàyêu cầu. Các quảng cáo textlink còn được đưa ra như là một kết quả được tìm thấy đầutiên của công cụ tìm kiếm khi người xem tìm kiếm về một vấn đề nào đó.d. Quảng cáo tài trợQuảng cáo tài trợ cho phép nhà quảng cáo thực hiện một chiến dịch thành công màkhông cần lôi cuốn nhiều người vào trang web của mình. Bởi vì, với tư cách là mộtnhà tài trợ, người cung cấp tất cả hoặc một phần vốn cho một chương trình dự án nhấtđịnh thì chắc chắn nhãn hiệu của nhà quảng cáo hoặc là gắn với một đặc tính cụ thểnhư một phần của địa chỉ hoặc được giới thiệu như một nhãn hiệu được yêu thích nhấtcủa một trang hay một địa chỉ. Các nhà tài trợ thường nhận được một vị trí quảng cáođẹp nhất như một phần của tài trợ. Tham dự với tư cách là một nhà tài trợ, bạn cũng cóthể thay đổi quảng cáo, làm cho nó xuất hiện nổi bật bằng một đường nhấn kỹ xảo nàođó nhằm tăng sự thu hút đối với khách truy cập website hay độc giả của các bản tinđiện tử.Tất nhiên, khi muốn trở thành một nhà tài trợ, bạn cũng nên cân nhắc, xác định rõ mốiquan hệ giữa thị trường mục tiêu mà quảng cáo của bạn muốn nhắm đến với đối tượngkhách hàng của các trang web và tạp chí điện tử. Bên cạnh đó, bạn cũng thường xuyênphải theo dõi, kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả của quảng cáo với tư cách là một nhàtài trợ.5. Mobile marketing (m-marketing)Hiện nay chưa có một định nghĩa hay một cái hiểu khái quát nhất về mobilemarketing. Tuy nhiên có thể hiểu nôm na mobile marketing là sử dụng các kênh thôngtin di động làm phương tiện phục vụ cho các hoạt động marketing.Mobile marketing là loại hình được các nhà tiếp thị lựa chọn do nó đã thể hiện đượcmột số ưu thế khác biệt mà các loại hình khác không có. 25
    • Thứ nhất, mobile marketing là một công cụ truyền thông có thể đo lường hiệu quảchính xác hơn các loại hình truyền thông truyền thống. Theo ước tính của các công tytrong ngành, có khoảng trên 75% khách hàng nhận thông điệp quảng cáo nhờ đượcthông tin quảng cáo trên mobile.Thứ hai, mobile marketing có khả năng tương tác, đối thoại hai chiều với người tiêudùng với tốc độ nhanh, chính xác. Điều này có nghĩa là khách hàng có thể gửi phảnhồi cho nhà tiếp thị ngay khi nhận được thông điệp tiếp thị.Thứ ba, công cụ này có thể tích hợp với các công cụ truyền thông khác như: truyềnhình, báo, đài phát thanh, tờ rơi, áp-phích … Chẳng hạn như, khi xem chương trình“Bước nhảy hoàn vũ” có phần hướng dẫn người xem gửi tin nhắn bình chọn cho cặpđôi bạn yêu thích nhất.Các ứng dụng có thể đưa vào hoạt động mobile marketing ngày càng phát triển, vàđiều này đôi khi mang đến cho bạn một số rắc rối bởi vì bạn biết ứng dụng nào là tốtnhất cho chương trình marketing của bạn. Sau đây xin giới thiệu một số ứng dụng cơbản mà bạn có thể sử dụng trong hoạt động tiếp thị của mình.SMS – Tin nhắn văn bản: Đây là hình thức đơn giản và phổ biến nhất. Công ty bạncó thể sử dụng SMS để gửi cho khách hàng thông tin về các sản phẩm mới, chươngtrình khuyến mại mới, hay một lời chúc mừng sinh nhật … những nội dung này có thểphát triển ra rất nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào sự sáng tạo của công ty.Tuy nhiên, có một điểm hạn chế là số ký tự cho phép của một tin nhắn SMS hiện naychỉ là 160 ký tự. Vì thế bạn sẽ phải cân nhắc thật kỹ về nội dung thông tin gửi đi. Mặtkhác, việc gửi tin nhắn cũng nên được sự đồng ý trước của khách hàng, nếu không, tinnhắn của công ty sẽ bị xếp vào dạng “tin rác” và làm phản tác dụng của chương trìnhmarketing.PSMS: Đây là một dạng phát triển hơn của SMS, có mức phí cao hơn tin nhắn văn bảnthông thường và thường được sử dụng để kêu gọi khách hàng tham gia vào một tròchơi dự đoán nào đó, hoặc để bán các dịch vụ như nhạc chuông, hình nền cho điệnthoại di động.MMS: Tin nhắn đa phương tiện, bao gồm cả văn bản, hình ảnh và âm thanh đi cùngtin nhắn. Hình thức này mới chỉ được sử dụng một vài năm trở lại đây cho các chươngtrình marketing của một số hãng lớn trên thế giới. Lý do dễ hiểu là vì chi phí cho tinnhắn MMS lớn hơn và không phải khách hàng nào của bạn cũng có chức nănggửi/nhận tin nhắn MMS trên điện thoại. Tuy nhiên, hiệu quả nó đem lại có thể khá bấtngờ.WAP: Hiểu một cách đơn giản đó là những trang web trên điện thoại di động. Tươngtự như những trang web được xem trên Internet, bạn có thể đưa thông tin về công ty 26
    • hay các sản phẩm dịch vụ của công ty mình lên những trang wap này, hoặc phổ biếnhơn là các thông tin hỗ trợ khách hàng.Video xem trên điện thoại di động: Tương tự như tin nhắn MMS, tác động của videođối với khách hàng có thể khá bất ngờ nhưng hình thức này khó áp dụng vì sự hạn chếcủa cơ sở hạ tầng công nghệ ở nhiều nước chưa cho phép, cũng như số thiết bị có thểxem được video di động cũng chưa nhiều.Theo số liệu thống kê năm 2008, Việt Nam có hơn 30 triệu người dùng di động với tốcđộ gia tăng số lượng thuê bao nhanh chóng. Trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng thuêbao di động của Việt Nam tăng 200%. Với tốc độ như vậy, Việt Nam hứa hẹn sẽ làmột thì trường tiềm năng đối với loại hình mobile marketing.6. Viral marketingViral marketing là loại hình truyền thông mà mọi người thường gọi với cái tên làmarketing lan truyền. Nó được định nghĩa dựa trên nguyên tắc lan truyền thông tin,cũng tương tự như cách thức virus lan truyền từ người này sang người khác với tốc độtheo cấp số nhân. Các nhà tiếp thị sử dụng chiến dịch marketing lan truyền với mongmuốn làm bùng nổ thông điệp của công ty tới hàng nghìn, hàng vạn lần.Viral marketing sẽ sử dụng tất cả các hình thức của truyền thông được thực hiện trênmôi trường Internet như các đoạn video, trò chơi trực tuyến, sách điện tử, tin nhắn vănbản,…nhưng phổ biến hơn cả vẫn là sử dụng các mạng xã hội, diễn đàn, blog, bản tinvà thư điện tử.Một chiến dịch viral marketing nếu được chuẩn bị một cách chi tiết, cẩn thận và đặcbiệt là biết cách kết hợp các yếu tố lại với nhau thì có thể tạo ra một làn sóng trên môitrường mạng. Và kể cả trong trường hợp không tạo được một làn sóng nhỏ thì ít nhấtcác thông điệp của bạn đã được lan xa và rộng khắp. Để có được một chiến dịchmarketing lan truyền hiệu quả đòi hỏi các nhà tiếp thị phải biết cách cân bằng một sốyếu tố sau đây: - Cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ miễn phí. Đây được xem là nguyên tắc đầutiên và cơ bản nhất của marketing lan truyền. Khi một người nào đó nghe thấy từ“miễn phí”, nó sẽ khích thích sự quan tâm trong họ và chắc chắn họ sẽ tận dụng cơ hộisử dụng sản phẩm và dịch vụ miễn phí. Một điều cần phải lưu ý là khi thực hiện chiếndịch marketing lan truyền đòi hỏi bạn phải hết sức kiên nhẫn. Bởi vì khi bạn tiến hànhtặng sản phẩm hay dịch vụ, bạn không thể ngay lập tức thu được lợi nhuận nhưng khibạn đã phát triển được một lượng khách hàng tiềm năng nhờ tặng một cái gì đó miễnphí thì bạn sẽ sớm tạo ra thu nhập từ họ. - Chuyển giao dễ dàng cho người khác. 27
    • Khi sản phẩm hay dịch vụ miễn phí của bạn mang lại sự hài lòng cho một ngườinào đó thì họ sẽ trở thành nhà quảng cáo cho bạn khi họ nói về sự hài lòng của mìnhđối với sản phẩm, dịch vụ của bạn cho gia đình, bạn bè của họ. Bạn phải chuẩn bị tinh thần cho trường hợp số lượng người sử dụng sản phẩmhay dịch vụ miễn phí của bạn sẽ tăng lên rất nhanh. Bạn nên nghiên cứu hành vi, sở thích và động lực sử dụng sản phẩm hay dịchvụ miễn phí của bạn và mọi người để có chiến lược phù hợp hơn. Tận dụng các mối quan hệ của khách hàng của bạn để quảng bá sản phẩm vàdịch vụ của bạn.7. Kênh truyền thông xã hội (Social Media Marketing)Social Media Marketing là một thuật ngữ để chỉ một cách thức truyền thông kiểu mới,trên nền tảng là các dịch vụ trực tuyến, với mục đích tập trung các thông tin có giá trịcủa những người tham gia, mà các nhà tiếp thị Việt Nam thường gọi là truyền thông xãhội hay truyền thông đại chúng. Hiểu một cách rõ hơn, truyền thông xã hội là quá trìnhtác động đến hành vi của con người trên phạm vi rộng, sử dụng các nguyên tắc tiếp thịvới mục đích mang lại lợi ích xã hội hơn là lợi nhuận thương mại.Truyền thông xã hội được thể hiện dưới hình thức là các mạng giao lưu chia sẻ thôngtin cá nhân như Facebook, Yahoo 360, Tam tay, YuMe…hay các mạng chia sẻ tàinguyên cụ thể như: ảnh (tại trang www.flickr.com; www.anhso.net ...), video (tại trangwww.youtube.com hay www.clip.vn), tài liệu (truy cập trang www.scribb.com,www.tailieu.vn ...) mà mọi người thường gọi là mạng xã hội. Hộp II.6: Mạng xã hội Facebook 28
    • Hộp II.5: Mạng xã hội Ring MeHộp II.7: Mạng xã hội Zing Me 29
    • Một số gợi ý giúp bạn sử dụng các trang mạng xã hội một cách hiệu quả:Định hướng đến những người xem nhất định: Hãy tạo một trang web định hướng đếnmột nhóm người quan trọng đối với công ty của bạn. Và một lời khuyên cho bạn lànên tập trung vào thị trường nhỏ.Định hướng suy nghĩ cho khách hàng: Hãy cung cấp những thông tin có giá trị và thúvị mà mọi người cần.Hãy tỏ ra chân thành và đáng tin cậy: Đừng cố gắng trở thành một người khác. Điềuđó không tốt chút nào và nếu bị lật tẩy sẽ gây tổn hại lớn đến uy tín của công ty. 30
    • Tạo ra thật nhiều đường liên kết: Tạo liên kết đến trang web và blog của bạn, củanhững người khác trong ngành và mạng lưới. Hầu như mọi người đều thích nhữngđường liên kết bởi vì chúng chính là mạch máu của thế giới mạng. Bạn cũng nên tạoliên kết từ những mạng cộng đồng đến thế giới riêng của bạn, đồng thời đến nhữngngười khác trong phạm vi nhất định.Khuyến khích mọi người liên lạc với bạn: Tạo điều kiện để giao lưu trên mạng hoặcqua thư.Tích cực tham gia: Hãy thành lập các nhóm và tham gia vào các cuộc thảo luận trựctuyến. Hãy trở thành một nhà lãnh đạo và tổ chức trong thế giới mạng.Tạo điều kiện để mọi người tìm thấy bạn: Hãy đánh dấu các trang của bạn và đưa lêncác danh mục theo chủ đề.Thử nghiệm: Những trang cộng đồng này thật là tuyệt vời vì là nơi lý tưởng để bạn cóthể thử nghiệm những thứ mới mẻ. Nếu nó không đem lại hiệu quả với bạn, hãy bỏ đivà thử một cái mới. Không có cái gì gọi là tường tận mọi thứ trong những mạng cộngđồng này mà tất cả chúng ta đều phải luôn luôn học hỏi lẫn nhau.III. GIỚI THIỆU MỘT SỐ MÔ HÌNH TIÊU BIỂU1. GoogleCông cụ tìm kiếm Google là một trong những nhân tố chính đem lại tên tuổi và thànhcông cho Công ty Google, Inc. Kể từ khi xuất hiện, công cụ này đã nhanh chóng đượcmọi người ưa chuộng sử dụng, bởi nó có một cách trình bày đơn giản, ngắn gọn cũngnhư đem lại kết quả tìm kiếm thích hợp và nâng cao.Trước đây, để có được thông tin, tài liệu liên quan đến vấn đề mình quan tâm thì mọingười phải tìm đến với các cửa hàng bán sách, báo, tạp chí, thư viện, truyền hình, haythông tin truyền miệng … Công việc này đòi hỏi khá nhiều thời gian và công sức củamọi người. Nhưng bây giờ, mọi việc đã trở lên đơn giản và thuận tiện hơn nhiều. Mọingười có thể khai thác nguồn dữ liệu khổng lồ của Google để tìm kiếm thông tin. Chỉvới những thao tác hết sức đơn giản, mọi người sẽ tìm thấy rất nhiều thông tin liênquan đến vấn đề đang tìm kiếm. Nhưng để có được những thông tin có chất lượng thìđòi hỏi người dùng phải có khả năng lọc thông tin, đồng thời phải biết ứng dụng cácmẹo tìm kiếm hiệu quả. Ví dụ như: dùng dấu trừ (-) để thu hẹp kết quả tìm kiếm.Chẳng hạn khi bạn muốn tìm thông tin về cuộc thi Bước nhảy hoàn vũ nhưng khôngcần kết quả liên quan đến ca sỹ Đoan Trang, hãy gõ "Bước nhảy hoàn vũ – ĐoanTrang” (từ khóa đặt trong ngoặc kép). Hay khi bạn muốn tìm kiếm thông tin vềInternet Marketing, thay vì chỉ đánh cụm từ Internet Marketing vào trong hộp tìmkiếm của Google, để có được kết quả tìm kiếm tốt hơn cho cụm từ đó, bạn chỉ việc đặtcụm từ cần tìm kiếm trong dấu ngoặc kép “ Internet Marketing”. 31
    • Công cụ tìm kiếm Google có hai tính năng chính giúp nó đưa ra những kết quả tìmkiếm có tính chính xác cao. Tính năng đầu tiên phải kể đến, đó là nó sử dụng cấu trúccủa các siêu liên kết để tính độ phổ biến cho mỗi trang web (xếp hạng này được gọi làPage Rank). Tính năng thứ hai là tận dụng lại những siêu liên kết (thường được gọi làLink Text) để cải thiện kết quả tìm kiếm. Ngoài ra, Google còn có một vài tính năngkhác như: chứa đựng thông tin về vị trí của tất cả các tập tin mà nhờ đó nó có thểnhanh chóng đưa ra được những kết quả tương tự; theo dõi một số chi tiết trình bàytrực quan như phông chữ, cỡ chữ; chứa sẵn trong kho dữ liệu thông tin về HTML củacác trang.Để hiểu rõ hơn về công cụ tìm kiếm này, chúng ta sẽ tập trung tìm hiểu về cấu trúctổng thể, cách thức hoạt động của Google. H3:Mô hình cấu trúc tổng thể của GoogleỞ Google, việc dò tìm các trang web thực hiện bởi các bộ dò tìm (Web Server) đượcđặt phân tán. Một máy chủ (URL Server) sẽ cung cấp danh sách các URL cần tìm đếncho các bộ dò tìm. Các trang web tìm về sẽ được lưu trữ vào kho của các server dướidạng nén. Khi phân tích một URL mới, mỗi trang web sẽ được gán một số hiệu nhậndạng, gọi là docID. Việc lập chỉ mục thực hiện bởi bộ lập chỉ mục (Indexer) và bộ sắpxếp (Sorter). Bộ lập chỉ mục thực hiện các chức năng như đọc kho dữ liệu, giải nén vàphân tích các tài liệu. Mỗi tài liệu được chuyển đổi thành lập tần số xuất hiện của cáctừ, gọi là các hit.Các hit ghi nhận từ, vị trí trong tài liệu, kích thước font xấp xỉ, và chữ hoa hay chữthường. Bộ chỉ mục phân phối các hit này vào trong một tập các thùng (barrels), tạo 32
    • một chỉ mục thuận đã sắp xếp theo từng phần. Ngoài ra, bộ chỉ mục còn phân tích tấtcả liên kết trong mỗi trang web và lưu thông tin quan trọng về chúng trong một anchorfile. Tập tin này chứa đủ thông tin để xác định liên kết này từ đâu, chỉ đến đâu và chứađoạn văn bản liên kết. Trình phân giải URL đọc tập tin các neo tạm thời (anchor) vàchuyển các URL tương đối thành các URL tuyệt đối và trả về các docID. Đặt văn bảnneo vào chỉ mục forward có liên quan đến docID mà neo chỉ đến và tạo một cơ sở dữliệu tương ứng giữa các liên kết với các docID. Cơ sở dữ liệu này được dùng để tínhcác Page Rank cho tất cả các tài liệu.Bộ sắp xếp lấy các barrel, đã được sắp xếp cục bộ, và sắp xếp lại chúng theo docID đểsinh ra một chỉ mục nghịch đảo. Công việc này được thực hiện ngay tại chỗ nên khôngmất nhiều bộ đệm. Bộ sắp xếp cũng đồng thời sinh ra một danh sách WordID và bù lạicho chỉ mục nghịch đảo. Một chương trình gọi là DumpLexioin lấy danh sách này vàtừ vựng (lexion) được sinh bởi bộ lập chỉ mục và tạo một từ vựng mới được dùng chobộ tìm kiếm (searcher). Bộ tìm kiếm được chạy bởi một web server và sử dụng từvựng đã được DumpLexion xây dựng cùng với chỉ mục nghịch đảo và các PageRankđể trả lời các truy vấn.2. YahooYahoo! được sáng lập bởi David Filo và Jerry Yang, là hai sinh viên khoa kỹ thuậtđiện tử tại Đại học Standford. Vào tháng 2 năm 1994, họ đã cùng nhau lập ra mộtwebsite gọi là “ Cẩm nang của Jerry và David về mạng Word Wide Web” nhưng sauđó được đổi tên thành Yahoo!. Cái tên Yahoo! là viết tắt cho từ “ Yet AnotherHierarchial Officious Oracle” nhưng Jerry và David lại khẳng định họ chọn từ này làdo họ thích ý nghĩa của từ “Yahoo!” trong từ điển.Đến ngày 12 tháng 4 năm 1996, cổ phiếu của Yahoo! mới được niêm yết trên thịtrường chứng khoán. Trong ngày đầu tiên phát hành cổ phiếu ra công chúng, công tyđã bán được hơn 2 triệu cổ phiếu và đã mang lại cho công ty gần 1 tỷ đô la. Khi đóYahoo! vẫn chỉ là một công ty nhỏ với tổng cộng 49 nhân viên. Và đến bây giờ, saumười sáu năm hoạt động, Yahoo! vẫn không ngừng tăng trưởng hàng năm. Yahoo! đãthu hút được hằng trăm triệu người truy cập mỗi tháng do luôn nỗ lực cải tiến kỹ thuật,chất lượng và dịch vụ.Hiện nay, Yahoo! cung cấp 3 hình thức quảng cáo cơ bản bao gồm quảng cáo hìnhảnh, quảng cáo thông qua tìm kiếm và các giải pháp quảng cáo trên điện thoại di động.Ở Việt Nam, các doanh nghiệp có thể quảng cáo trên trang chủ Yahoo! Việt Nam,trang tìm kiếm Yahoo!, dịch vụ thư điện tử và chat trực tuyến Yahoo!, Yahoo!360Plus,trang tin tức Yahoo!, trang âm nhạc Yahoo!, trang Yahoo! Hỏi và Đáp. 33
    • Theo báo cáo mới nhất, doanh thu của Yahoo! trong quý II năm 2010 đạt 1,601 triệuđô la, tăng 2% so với quý II năm 2009. Thu nhập từ hoạt động đạt 175 triệu đô la,trong khi quý II năm 2009 chỉ đạt 76 triệu đô la. Nếu không tính chi phí tái cấu trúc thìthu nhập từ hoạt động đã tăng 32% so với cùng kỳ năm ngoái. Thu nhập thực tế đạt$0.15 trong quý II năm 2010, so với năm 2009 tăng $0.05.Một số điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh của Yahoo!  Quảng cáo hiển thị trên các trang web vẫn tiếp tục hoạt động tốt  Yahoo! hòa nhập với Facebook một cách sâu hơn thông qua Yahoo! Pulse. Bây giờ người sử dụng có thể liên kết tài khoản ở Yahoo! và Facebook để xem và chia sẻ thông tin với bạn bè trên cả hai mạng.  Nokia và Yahoo! công bố chiến lược liên minh toàn cầu, mở rộng phạm vi dịch vụ của Yahoo!3. FacebookFacebook được biết đến là một mạng xã hội miễn phí hàng đầu thế giới. Nó cho phépmọi người giao tiếp với bạn bè và trao đổi thông tin của họ. Kể từ khi ra đời cho đếnnay, sau 6 năm hoạt động, Facebook đã có 500 triệu người trên toàn thế giới tham giavà sử dụng (theo công bố chính thức của Mark Zuckerberg vào ngày 21 tháng 7 năm2010). Con số này cho chúng ta thấy sự phát triển chóng mặt của Facebook.Facebook có được sự thành công như ngày hôm nay là do họ đã nhạy bén trong việccung cấp các dịch vụ trực tuyến đáp ứng nhu cầu của các hành vi xã hội ngoại tuyến.Facebook tạo ra môi trường cho các hoạt động trí tuệ, xoay quanh mối quan hệ giữacon người với con người; cho phép chia sẻ quan điểm, suy nghĩ, thông tin và tương tácvới nhau. Facebook cung cấp một mạng xã hội được tiêu chuẩn hóa và tự điều chỉnhlinh hoạt – một cổng dừng chân được cá nhân hóa cao phục vụ kết nối trực tuyến dongười sử dụng có thể lập ra một trang riêng cho họ với các ứng dụng được tạo mới liêntục, có giao diện đơn giản, có tính bảo mật. Và hơn nữa là do người sử dụng thíchđược giới thiệu bản thân của họ và kết nối với bạn bè trong một môi trường được bảovệ, nơi những người được họ tin tưởng và biết nằm trong mạng lưới của họ và họkhông cảm thấy bị xâm hại hoặc cưỡng chế xem quảng cáo.Dịch vụ của Facebook hiện nay cũng khá phong phú và đa dạng. Một số dịch vụ tiêubiểu phải kể đến như Facebook Profile, Facebook Photos, Facebook Group, FacebookDevelopers, Facebook Notes … Mỗi loại hình dịch vụ này đều có những đặc điểm nổibật riêng. 34
    • Có thể thấy rằng, Facebook sẽ là mạng dịch vụ xã hội lớn nhất trên thế giới trongtương lai. Điều này thật dễ hiểu bởi vì Facebook có những tính năng, công cụ hấp dẫn;người sử dụng Facebook được kết nối rất tốt trong cuộc sống thực.4. AmazonAmazon.com, Inc là một công ty đa quốc gia về thương mại điện tử của Mỹ, có trụ sởchính tại Seatle, Washington. Amazon là website bán lẻ trực tuyến lớn nhất thế giớihiện nay.Amazon.com được thành lập bởi Jeff Bezos vào năm 1994 và đến năm 1995 nó bắtđầu chính thức bán hàng qua mạng. Cái tên Amazon.com được chọn bởi vì sôngAmazon là sống lớn nhất thế giới và do vậy cái tên này thể hiện sự phát triển với quymô lớn và một phần là do nó bắt đầu bằng chữ “A” nên nó sẽ xuất hiện lên gần đầudanh sách chữ cái. Amazon.com bắt đầu là một hiệu sách trực tuyến nhưng không lâusau đó sản phẩm đã được đa dạng hóa. Họ bán cả DVD, CD, MP3, phần mềm máytính, trò chơi điện tử, điện tử, may mặc, đồ gỗ, thực phẩm và đồ chơi. Tiếp sau đó,Amazon đã thành lập các website riêng biệt tại Canada, Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản vàTrung Quốc. Nó cung cấp dịch vụ vận chuyển quốc tế với các nước nhất định cho mộtsố sản phẩm của mình.Amazon.com không phải bỏ ra 1 triệu $ để tiếp thị gián tiếp hay trực tiếp trên các tờrơi quảng cáo Super Bowl cũng không phải thông báo trên các trung tâm mua sắm, mànó đã vận dụng các thủ thuật trên trực tuyến để tăng mạnh mối quan hệ khách hàng vàđưa vào thị trường tự do những con số đầy thuyết phục trước công chúng.Pay Per Click quảng cáoTrang quảng cáo độc lập Pay Per Click (PPC) đã được trở thành những con cừu đentrong chiến dịch tiếp thị của Amazon.com. PPC là những bước cố gắng đầu tiên trongchiến dịch của họ, ra đời từ công ty con của họ A9, là một Clickriver bình thường, mộtchương trình PPC middling luôn muốn giữ cái đầu của nó trên mặt nước nhưng chắcchắn rằng không có một con kênh nào tuyệt vời để lamg được điều này. VàProductAds đã xuất hiện để thay thế chow Clickriver vào tháng Tám, năm 2008. Nócho phép bất kỳ thương gia web đều có thể mua PPC quảng cáo trên trang web củaAmazon.com. Một số học giả cũng đã bình luận về Amazon.com rằng khi thực sự theođuổi thì ắt hẳn sẽ đoạt tới vương miện trình duyệt web như của Google.Mặc dù lãi suất tiềm năng của nó bị hạn chế trong Google, Cty Amazon.com vẫn tiếptục mua các trang quảng cáo trên Google để qua đó các khách hàng có thể truy cậptrực tiếp đến các trang web của họ. Amazon.com đã mua khoảng không gian phía trênbên trái trong danh sách các kết quả tìm kiếm của Google, và trả một khoản phí chomỗi lần truy cập của khách hang khi truy cập vào Amazon.com. Đây là điều đặc biệttrong chiến lược tiếp thị của Amazon.com. Không sử dụng những biểu ngữ lớn hay 35
    • nhiều màu sắc mà nó chỉ xuất hiện là một quảng cáo thông thường và thể hiện tínhnghiêm túc trên một trang web thông thường nhưng chính điều đó đã thu hút hàngngàn người để ý đến Amazon.com.Sự cải tiến Website liên tục.Ngày nay thì việc truy cập internet một cách đơn giản, tiện dụng và hấp dẫn là nhữngyếu tố vô cùng cần thiết. Amazon.com đã phải tiêu tốn hàng triệu đô la và sử dụnghàng trăm con người mất nhiều giờ để xác định vấn đề này cũng như để tìm ra các giảipháp chow những vấn đề đó, và tiếp tục nâng cao kinh nghiệm cũng như khả năng truycập trực tuyến của khách hàng. Rob Enderle, nhà phân tích đứng đầu của EnderleGroup, cho rằng "Amazon.com đã luôn luôn tập trung vào phân tích lưu lượng truycập trang web họ để đạt được mức độ truy cập tối ưu và luôn đổi mới dựa trên nhữnggì họ thấy.Theo đuổi miệt mài với mục tiêu là sự hoàn hảo đã khiến cho Nielson Jakobxếp hạng cao về độ tin cậy và tính năng truy cập website của Amazon.com. Trong mộtnghiên cứu năm 2001, trong 20 trang thương mại điện tử, Amazon.com đã đạt 65%cao hơn mức trung bình về khả năng sử dụng các trang web so với 19 trang còn lại.Đứng đầu là tỷ lệ người truy cập qua điện thoại di động chiếm tới 99,9%, vì chỉ vớimột vài giây nó có thể truy cập nhanh hơn so với một số đối thủ cạnh tranh khác.Trong một thử nghiệm, Amazon.com đã tải lên mạng một thư mục chỉ trong vòng 2,4giây, trong khi mục tiêu đặt ra là phải mất gần 7 giây.Đôi khi việc thiết lập các mối quan hệ khách hàng lại gặp khó khăn. Sau một số các vụkiện cáo từ phía khách hàng mới đến do sự đối xử thiếu công bằng so với các kháchhàng quen thuộc khác trong việc tính phí truy cập cao hơn trên cùng một mục thìAmazon.com đã phải xin lỗi vì điều này và hủy bỏ sự phân biệt đó. Tuy nhiên,Amazon.com vẫn không ngừng tiếp tục những thử nghiệm chiến lược trên trang webcủa họ, liên tục đăng tải các thông tin mới và làm tăng tính phổ biến cho trang web củamình.Email MarketingĐối với một công ty đầy tiềm thức như Amazon.com, thì việc đưa ra sử dụng cácemail miễn phí và dễ tiếp cận là một trong những cám dỗ khó có thể chống cự lạiđược. Amazon.com thực hiện gửi email về các chương trình khuyến mãi sản phẩm quanhững phần mà các công ty khách hàng cho phép họ làm việc đó. Seth Godin, nhà tiếpthị trực tuyến đã viết rằng "Chỉ bằng cách nói chuyện với các tình nguyện viên, thìngười tiêu dùng sẽ chú ý hơn tới các thông điệp được tiếp thị thay vì những tờ giấyphép tiếp thị." Chiến lược này đã khiến Amazon làm khách hàng hài lòng và MelvinRam, một khách hàng của Amazon đã từ tốn viết trên webdesigncompany.net rằng"Nhìn vào e-mail mà tôi đã nhận được từ Amazon trong hai năm qua, tôi đã không tìm 36
    • được một e-mail nào khác thích hợp với mình hơn thế. Nó giúp tôi thực hiện việc muahàng như thể tự tôi mua hàng bằng chính đôi tay của mình trước đây vậy” Trong quá trình hoạt động, Amazon.com liên tục bổ sung các tính năng khiếnquá trình mua sắm trên mạng hấp dẫn hơn đối với khách hàng. Mục “Gift Ideas” đưara các ý tưởng về quà tặng mới mẻ, hấp dẫn theo từng thời điểm trong năm. Mục“Community” cung cấp thông tin về sản phẩm và những ý kiến chia sẻ của kháchhàng với nhau. Mục “E-card” cho phép khách hàng chọn lựa và gửi những bưu thiếpđiện tử miễn phí cho bạn bè, người thân của mình. Amazon.com luôn cố gắng bổ sungthêm nhiều dịch vụ hấp dẫn nhằm mang đến sự hài lòng cho khách hàng.Hệ thống CRM của Amazon.com hoạt động hiệu quả thông qua các hoạt độngmarketing trực tiếp. Từ năm 2002, khi khách hàng vào trang web của amazon từ lầnthứ hai trở đi, một file cookie được sử dụng để xác định khách hàng và hiện thị dòngchào hỏi “Welcome back, Tommy”, và đưa ra những gợi ý mua sắm dựa trên các hoạtđộng mua sắm trước đó của khách hàng. Amazon cũng phân tích quá trình mua sắmcủa khách hàng thường xuyên và gửi email gợi ý về các sản phẩm mới cho kháchhàng. Thống kê ý kiến, đánh giá của khách hàng đối với các sản phẩm cho phép kháchhàng đưa ra các lựa chọn chính xác và nâng cao lòng tin của khách hàng trong quátrình mua sắm tại Amazon.com hơn hẳn so với mua sắm truyền thống. Tất cả nhữngnỗ lực này của Amazon.com nhằm tạo cho khách hàng sự thoải mái và yên tâm hơnkhi mua hàng đồng thời khuyến khích khách hàng quay lại mua sắm tiếp. Bên cạnhcông cụ tìm kiếm được xây dựng tinh tế và hiệu quả, Amazon.com còn có hệ thốngkho hàng khổng lồ giúp đem lại năng lực cạnh tranh hơn hẳn so với các đối thủ cạnhtranh.IV. Thị trƣờng e-marketing tại một số quốc gia1. Hoa KỳTrong năm 2009, doanh thu quảng cáo trực tuyến của Mỹ đạt $22,7 tỷ, trong đó quýIII 2009 đạt gần $5,5 tỷ và quý IV đạt gần $6,3 tỷ. Như vậy, doanh thu quảng cáo trựctuyến đã giảm 3,4% so với năm 2008.Xu hướng doanh thu hàng năm của Mỹ 37
    • Nguồn: IAB Internet Advertising Revenue ReportNhìn vào biểu đồ ta thấy, từ năm 2003 đến 2008 doanh thu quảng cáo trực tuyến củaMỹ tăng liên tục từ 7,267 triệu đô lên 23,448 triệu đô. Nhưng đến năm 2009 thì doanhthu bắt đầu giảm nhẹ. Doanh thu của 2009 chỉ đạt 22,661 triệu đô, giảm 3,4% so vớinăm 2008.Quảng cáo bằng công cụ tìm kiếm và quảng cáo hiển thị vẫn là hai hình thức chủ yếu.Doanh thu từ công cụ tìm kiếm chiếm tới 47% doanh thu quý IV của năm 2009, tăngtừ 46% so với cùng kỳ năm 2008. Doanh thu từ công cụ tìm kiếm tổng cộng đạt 2,9 tỷUSD trong quý IV năm 2009, trong khi quý IV năm 2008 doanh thu từ công cụ tìmkiếm chỉ đạt 2,8 tỷ USD.Quảng cáo hiển thị đạt 2,3 tỷ USD, chiếm 37% tổng doanh thu của quý IV năm 2009,tăng gần 15% so với quý IV năm 2008. Quảng cáo hiển thị bao gồm quảng cáo Banner(đạt 1,4 tỷ USD, chiếm 23% doanh thu của quý IV năm 2009), Rich Media (đạt 441triệu USD, chiếm 7%), Digital Video (đạt 306 triệu USD, chiếm 5%) và quảng cáo tàitrợ (đạt 110 triệu USD, chiếm 2%).Doanh thu từ rao vặt tổng cộng đạt 594 triệu USD, chiếm 9% doanh thu của quý IV2009. Như vậy đã giảm 23% so quý IV năm 2008, doanh thu rao vặt khi đó đạt 769triệu USD.Doanh thu từ hình thức quảng cáo Lead Generation đạt 347 triệu đô, chiếm 6% doanhthu của quý IV 2009, trong khi quý IV 2008 doanh thu của hình thức quảng cáo này là 38
    • 433 triệu đô. Doanh thu từ hình thức quảng cáo bằng email chỉ đạt 77 triệu đô, chiếm1% doanh thu của quý IV 2009, còn quý IV 2008 đạt 87 triệu đô. Như vậy đã giảm11% so với năm 2008.Doanh thu của các hình thức quảng cáo trực tuyến trong năm 2009:Công cụ tìm kiếmvẫn duy trì mức doanh thu lớn nhất trong các loại hình quảng cáo trực tuyến, chiếm47% doanh thu của cả năm 2009. Doanh thu từ công cụ tìm kiếm năm 2009 đạt 10,7 tỷđô, tăng 1% so với năm 2008.Doanh thu từ hình thức quảng cáo hiển thị đạt 8 tỷ đô, tương đương với 35% doanhthu của cả năm 2009, tăng 4% từ 7,6 tỷ đô la trong năm 2008. Quảng cáo hiển thị baogồm quảng cáo Banner (22% tương đương 5,1 tỷ đô la), Rich Media (7% tương đương1,5 tỷ đô la), Digital Video (4% tương đương 1 tỷ đô la ) và tài trợ (2% tương đương383 triệu đô la) doanh thu của năm 2009.Doanh thu từ rao vặt chiếm 10% doanh thu của cả năm 2009, đạt 2,3 tỷ đô la, đã giảm14% so với năm 2008. Doanh thu từ hình thức quảng cáo Lead Generation chiếm 6%doanh thu của năm 2009, đạt 1,5 tỷ đô la, giảm 7% so với năm 2008. Doanh thu từhình thức quảng cáo bằng email chiếm 1% doanh thu của năm 2009, đạt 292 triệu đôla, giảm 2% so với năm 2008. Tổng doanh thu năm 2009: 22,7 tỷ đô la 39
    • Tổng doanh thu năm 2008: 23,4 tỷ đô la2. Hàn QuốcVào đầu năm 1996, e-marketing mới được công nhận tại Hàn Quốc, khi mà mọi ngườimới chỉ được tiếp cận với một loại hình kết nối, đó là kết nối quay số (dial-up modemconnection). Mặc dù thị trường quảng cáo trực tuyến năm 1997 tăng 247,5% so vớinăm 1995 nhưng doanh thu đạt được từ hoạt động quảng cáo trực tuyến vẫn còn rấtnhỏ. Lúc đó chưa là thời điểm để có được hiệu quả đầu tư cao bởi vì người sử dụngInternet chủ yếu vẫn là giới trẻ.Năm 2007 do suy thoái kinh tế mà thị trường quảng cáo đã giảm 4,2%. Tuy nhiên, thịtrường quảng cáo trực tuyến lại tăng mạnh, tăng 173,4% so với năm 1996. Lý do chínhcủa sự tăng trưởng này là do tỷ lệ thuê bao sử dụng dịch vụ trực tuyến tăng. Ở thờiđiểm đó, số lượng thuê bao sử dụng dịch vụ trực tuyến đã đạt được khoảng 3 triệungười. Đến năm 1998, thị trường quảng cáo ở Hàn Quốc rơi vào tình trạng ảm đạmhơn. Thị trường quảng cáo nói chung đã giảm 35,2% do khủng hoảng kinh tế ở châuÁ. Tuy nhiên, thị trường quảng cáo trực tuyến đã tăng lên đến 45 triệu USD, đã tăng41,3% so với năm 1997. Các nhà quảng cáo đã bắt đầu nhận thức được rằng truyềnthông trực tuyến là một công cụ quảng cáo hiệu quả.Internet được xem là một công cụ quảng cáo hữu hiệu do chi phí thấp và có khả nănghướng tới khách hàng mục tiêu so với các phương tiện truyền thông truyền thống. Các 40
    • nhân tố tạo ra sự tăng trưởng lớn như vậy có thể là do sự gia tăng số lượng sử dụngdịch vụ trực tuyến (4,7 triệu người); kế hoạch marketing chi tiết của các công ty cungcấp dịch vụ trực tuyến như Netsgo, Channel I…; và tăng cường sử dụng phương tiệntruyền thông trực tuyến.Đến năm 1999, nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu hồi phục sau cuộc khủng hoảng ngoạihối và suy thoái sinh tế. Và kết quả là, doanh thu quảng cáo nói chung và doanh thuquảng cáo trực tuyến nói riêng đều tăng một lượng lớn. Tại thời điểm này, chính sáchphát triển hạ tầng băng thông rộng và ngành công nghiệp IT của Chính phủ bắt đầu cóđược các kết quả thành công. Lượng đăng ký dịch vụ băng thông rộng tăng nhanhchóng, dịch vụ và nội dung da dạng hóa, ví dụ như dịch vụ chat đa hệ, trò chơi trựctuyến, các hoạt động giải trí nghe nhìn được cung cấp bởi đường ống băng thông rộng.Như đã thảo luận trước đó, vào năm 2004 đã có trên 4 triệu người đăng ký sử dụngbăng thông rộng và doanh thu quảng cáo từ hoạt động truyền thông trực tuyến đã tăngở mức cao nhất. So với năm 1999, doanh thu này đã tăng 67,5%, tăng lên đến 113 triệuđô la. Năm 2000, thị trường Internet mở rộng nhanh chóng và quy mô thị trường đãtăng lên gấp đôi. Sự tăng trưởng đáng kinh ngạc này là do ba yếu tố: 1) sự phát triểncủa các trang web thông tin như Daum Communication, Yahoo Korea và Naver; 2) sựphát triển của các khu mua sắm trực tuyến và 3) các công ty quảng cáo lớn tập trungvào quảng cáo trực tuyến. Thị trường quảng cáo trực tuyến ở Hàn Quốc không ngừng tăng trưởng qua các năm.Đến năm 2007, thị trường quảng cáo trực tuyến ước tính đạt 1,03 tỷ đô theo khảo sátđược thực hiện bởi công ty nghiên cứu thị trường Oveture. Và thị trường quảng cáotrực tuyến tiếp tục tăng tưởng 15% vào năm 2008.3. CanadaTrong khoảng thời gian năm năm kể từ 2004 – 2008, chúng ta nhìn thấy sự tăngtrưởng lên dốc về doanh thu của quảng cáo rao vặt và tìm kiếm trả tiền. 41
    • Nhìn vào đồ thị chúng ta thấy, quảng cáo tìm kiếm đã vượt quảng cáo hiển thịtrong năm 2006 và năm 2008, chiếm 38% tổng số doanh thu quảng cáo trực tuyến củaCanada, trong khi doanh thu của quảng cáo hiển thị chỉ chiếm có 31%.Trong năm 2008, tốc độ tăng trưởng của cả quảng cáo tìm kiếm và quảng cáo hiển thịđều chậm lại. Quảng cáo tìm kiếm trước đó có tốc độ tăng trưởng 39% vào năm 2006và 2007, nhưng đến năm 2008 tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 26%.Quảng cáo bằng video vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số doanh thu quảng cáotrực tuyến tại Canada, mặc dù có mức tăng trưởng mạnh vào năm 2007, đạt 9 nghìn đôla.Quảng cáo bằng công cụ tìm kiếm đã vượt qua quảng cáo hiện thị trong năm 2006 và2008, chiếm 38% tổng doanh thu quảng cáo trực tuyến của Canada, trong khi đóquảng cáo hiển thị chỉ chiếm có 31%. Doanh thu của quảng cáo rao vặt/thư mục chỉkhoảng 22 -25% doanh thu quảng cáo trực tuyến của Canada trong vòng ba năm qua,nhưng đã tăng lên đến 30% trong năm 2008 do lượng tin/doanh tu rao vặt từ các báovà tạp chí chuyển sang. Thị phần doanh thu của các công cụ quảng cáo trực tuyến từ 2004 - 2008Công cụ quảng 2004 2005 2006 2007 2008 42
    • cáo trực tuyến % Doanh % Doanh % Doanh % Doanh % Doanh thu thu thu thu thuTìm kiếm 30% 35% 38% 39% 38%Hiển thị 52% 41% 35% 35% 31%Rao vặt/ Thư 15% 22% 25% 25% 30%mụcEmail 3% 2% 2% 1% 1%Video -- -- -- <1% <1% Tổng 100% 100% 100% 100% 100%Để nhìn thấy được sự tăng trưởng của quảng cáo trực tuyến một cách rõ nét, chúng tasẽ tiến hành so sánh sự tăng trưởng giữa quảng cáo trực tuyến và các loại hình truyềnthông khác.Với tỷ lệ tăng trưởng của quảng cáo trực tuyến đạt 29,1% trong giai đoạn 2007 – 2008,đã tăng gần 8 lần so với tỷ lệ tăng trưởng 3,8% của các loại hình quảng cáo khác trongcùng một thời điểm. Doanh thu quảng cáo trực tuyến năm 2008 là 1,6 tỷ đô la đã vượt1,55 tỷ đô la doanh thu quảng cáo bằng Radio. Điều này có nghĩa là quảng cáo trựctuyến đã dành được vị trí thứ ba trong bảng xếp hạng doanh thu quảng cáo của các loạihình quảng cáo tại Canada. 43
    • CHƢƠNG III- TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG E-MARKETING TẠI VIỆT NAMI. Phân tích cơ sở pháp lý1. Hệ thống văn bản pháp lý về giao dịch điện tử, công nghệ thông tinHệ thống Luật Giao dịch điện tử tại Việt Nam hiện nay được hình thành dựa vào haitrụ cột chính là Luật Giao dịch điện tử 2005 (ban hành ngày 29/11/2005) và Luật Côngnghệ thông tin 2006 (ban hành ngày 29/6/2006). Luật Giao dịch điện tử đặt nền tảngpháp lý cơ bản cho các giao dịch điện tử trong xã hội bằng việc thừa nhận giá trị pháplý của thông điệp dữ liệu, đồng thời quy định khá chi tiết về chữ ký điện tử, một yếu tốđảm bảo độ tin cậy của thông điệp dữ liệu khi tiến hành giao dịch. Luật Giao dịch điệntử chủ yếu điều chỉnh giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước vàtrong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại; trong khi đó Luật Công nghệ thông tinquy định chung về hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin cùng nhữngbiện pháp bảo đảm hạ tầng công nghệ cho các hoạt động này. Kết hợp với nhau, haiLuật đã điều chỉnh một cách tương đối toàn diện những khía cạnh liên quan đến ứngdụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử trong các hoạt động kinh tế - xã hộitại Việt Nam.Dựa trên cơ sở của hai bộ Luật này, nhiều văn bản được ban hành làm hoàn thiện vànâng cao hiệu quả cho hệ thống Luật – chính sách về giao dịch điện tử và ứng dụngcông nghệ thông tin, góp phần hướng dẫn thực thi và triển khai pháp luật TMĐT trênmọi phương diện của đời sống xã hội. Các văn bản này tập trung hướng dẫn Luật Giaodịch điện tử trong các lĩnh vực thương mại, tài chính và ngân hàng và quy định cácvấn đề chung về môi trường và hạ tầng CNTT cho giao dịch điện tử trong toàn xã hộinhư vấn đề chữ ký số, thư rác, ứng dụng CNTT trong cơ quan nhà nước, dịch vụInternet và thông tin điện tử trên Internet.Có thể nói tuy chưa có văn bản nào trực tiếp điều chỉnh lĩnh vực quảng cáo trực tuyếnnhưng sự ra đời của các văn bản này đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của Internet vàcác hoạt động liên quan đến môi trường Internet. Hiện nay, hoạt động mua bán trựctuyến đã trở nên quen thuộc với một bộ phận người tiêu dùng tại thành phố lớn, việcbán hàng hóa và dịch vụ qua mạng Internet đã được triển khai trên nhiều lĩnh vực nhưhàng không, du lịch, khách sạn, siêu thị bán hàng tổng hợp, v.v… Cùng với sự pháttriển của những hoạt động này, quảng cáo trực tuyến cũng đang dần trở thành xuhướng và chắc chắn có sự tăng trưởng mạnh trong thời gian tới. Hộp: Một số văn bản trong hệ thống văn bản pháp lý về giao dịch điện tử 44
    • và công nghệ thông tinLuật29/11/2005 Luật Giao dịch điện tử29/6/2006 Luật Công nghệ thông tinNghị định hƣớng dẫn Luật09/6/2006 Nghị định số 57/2006/NĐ-CP của Chính phủ về Thương mại điện tử10/4/2007 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP của Chính phủ về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước13/8/2008 Nghị định số 90/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chống thư rác28/8/2008 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên InternetXử lý vi phạm10/4/2007 Nghị định số 63/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin16/1/2008 Nghị định số 06/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại20/3/2009 Nghị định số 28/2009/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên InternetThông tƣ hƣớng dẫn thi hành một số nội dung của các Nghị định21/7/2008 Thông tư số 09/2008/TT-BCT của Bộ Công Thương hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử12/11/2008 Thông tư số 05/2008/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet18/12/2008 Thông tư số 07/2008/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền 45
    • thông về việc hướng dẫn một số nội dung về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet 24/12/2008 Thông tư số 09/2008/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet 24/12/2008 Thông tư số 10/2008/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về giải quyết tranh chấp tên miền quốc gia Việt Nam ‘‘.vn’’ 30/12/2008 Thông tư số 12/2008/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 90/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chống thư rác 02/3/2009 Thông tư số 03/2009/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về mã số quản lý và mẫu giấy chứng nhận mã số quản lý đối với nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo bằng thư điện tử; nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo bằng tin nhắn; nhà cung cấp dịch vụ tin nhắn qua mạng internet2. Văn bản quy phạm pháp luật về quảng cáoHiện nay văn bản có giá trị cao nhất trong hệ thống văn bản pháp luật về quảng cáo làPháp lệnh Quảng cáo 39/2001/PL-UBT V QH10 ngày 16/11/2001. Pháp lệnh nàyđược ban hành nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về quảng cáo, bảo vệ quyềnvà lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, của tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảngcáo, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Pháp lệnh quảng cáo đã tạo ra hànhlang pháp lý cơ bản định hướng cho ngành quảng cáo.Báo điện tử và mạng thông tin máy tính được xem là một trong những phương tiệnquảng cáo và được Pháp lệnh Quảng cáo điều chỉnh. Tuy nhiên các quy định liên quanđến loại hình quảng cáo này còn khá sơ lược và chưa theo kịp sự phát triển nhanhchóng của hoạt động quảng cáo trên thực tế. Hộp: Một số quy định liên quan đến e-marketing trong Pháp lệnh Quảng cáoĐiều 10. Quảng cáo trên báo chíBáo điện tử được quy định tương tự báo giấy.Báo giấy được quảng cáo không quá 10% diện tích, trừ báo chuyên quảng cáo; mỗiđợt quảng cáo cho một sản phẩm quảng cáo không quá 5 ngày đối với báo hàng 46
    • ngày hoặc 5 số liên tục đối với báo phát hành theo định kỳ; các đợt quảng cáo cáchnhau ít nhất 5 ngày đối với báo hàng ngày hoặc ít nhất 4 số liên tục đối với báophát hành theo định kỳ; không quảng cáo hoạt động kinh doanh, hàng hoá, dịch vụtrên trang một, bìa một.Điều 11. Quảng cáo trên mạng thông tin máy tínhViệc quảng cáo trên mạng thông tin máy tính phải được thực hiện theo đúng cácquy định của pháp luật về quảng cáo, dịch vụ truy nhập, dịch vụ kết nối và việccung cấp các loại hình dịch vụ quảng cáo trên mạng thông tin máy tính; thực hiệncác quy định về kỹ thuật, nghiệp vụ nhằm bảo đảm bí mật nhà nước.Việc quảng cáo trên mạng thông tin máy tính… phải có giấy phép thực hiện quảngcáo do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về Văn hoá - Thông tin cấp.Bộ Văn hoá - Thông tin cấp giấy phép thực hiện quảng cáo trên mạng thông tinmáy tính.Một số văn bản quan trọng khác quy định về lĩnh vực quảng cáo là Nghị định số24/2003/NĐ-CP ngày 13/ 3/2003 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Quảng cáo vàThông tư 43/2003/TT-BVHTT ngày 16/7/2003 Hướng dẫn thực hiện Nghị định số24/2003/NĐ-CP. Trong các văn bản này, quảng cáo trên mạng cũng được điều chỉnh,tuy nhiên các quy định còn chứa đựng nhiều bất cập và chưa thực sự tạo điều kiện chosự phát triển của loại hình quảng cáo này. Chẳng hạn, quy trình và thủ tục quảng cáotrên mạng máy tính được quy định quá phức tạp và không khả thi. Trong Nghị định 24quy định phải gửi sản phẩm quảng cáo đến Bộ Văn hóa Thông tin trước khi thực hiệnquảng cáo ít nhất 10 ngày làm việc. Hoặc Thông tư 43 cũng quy định, sản phẩm quảngcáo thực hiện trên mạng thông tin máy tính không phân biệt pháp nhân Việt Nam haynước ngoài đều phải gửi trực tiếp hay qua đường bưu chính đến cục văn hóa thông tincơ sở trước khi thực hiện quảng cáo. Đồng thời trong hồ sơ thực hiện quảng cáo phảibao gồm cả đĩa mềm, CD hoặc các sản phẩm chứa các sản phẩm quảng cáo. Nhữngquy định này không có tính khả thi vì nội dung quảng cáo trên mạng thông tin máytính chuyển tải liên tục, thay đổi thường xuyên với số lượng rất lớn. Việc quản lý bằngcấp phép theo quy trình nói trên rất khó thực hiện, gây khó khăn cho cả cơ quan quảnlý lẫn các doanh nghiệp có nhu cầu quảng cáo trên mạng.Hộp: Điều kiện thủ tục, thẩm quyền cấp phép đối với quảng cáo trên mạng thông tin máy tính theo Thông tƣ số 43/2003/TT-BVHTT 47
    • 2. Quảng cáo trên mạng thông tin máy tính:a) Sản phẩm quảng cáo thực hiện trên mạng thông tin máy tính (bao gồm cả mạngkinh doanh dịch vụ quảng cáo và trang tin điện tử Website) không phân biệt chủ mạnglà pháp nhân Việt Nam hay pháp nhân nước ngoài phải gửi trực tiếp hoặc qua đườngbưu chính đến Cục Văn hoá -Thông tin cơ sở trước khi thực hiện quảng cáo theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 19 Nghị định số 24/2003/NĐ-CP;b) Trường hợp Cục Văn hoá -Thông tin cơ sở có yêu cầu sửa đổi sản phẩm quảng cáotrước khi đưa lên mạng thông tin máy tính thì người thực hiện quảng cáo có tráchnhiệm sửa đổi theo yêu cầu của Cục Văn hoá- Thông tin cơ sở.Trường hợp người thực hiện quảng cáo không nhất trí với yêu cầu sửa đổi sản phẩmquảng cáo thì Cục Văn hoá -Thông tin cơ sở có quyền không cho phép thực hiệnquảng cáo trên mạng thông tin máy tính. Trong trường hợp đó người thực hiện quảngcáo có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật;c) Hồ sơ đăng ký thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính bao gồm:- Đăng ký thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính, số lượng sản phẩmquảng cáo, thời gian thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính (phụ lục 1).- Bản sao có giá trị pháp lý giấy phép cung cấp thông tin trên mạng thông tin máy tính(ICP) hoặc giấy phép lập trang tin điện tử (Website).- Bản sao có giá trị pháp lý giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ quảng cáo(đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ quảng cáo trênmạng thông tin máy tính).- Đĩa hoặc sản phẩm có chứa các sản phẩm quảng cáo (hai bản).Hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, hoạt động quảng cáo đã có nhữngbước phát triển mạnh với sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụquảng cáo, có sự mở rộng về hình thức, quy mô và công nghệ, việc đầu tư kinh phí chohoạt động quảng cáo cũng ngày càng tăng… Tuy nhiên, như phân tích ở trên, đến nay,các văn bản liên quan hoạt động quảng cáo có nhiều nội dung không còn phù hợp vớitình hình thực tế và cần phải điều chỉnh. Hơn nữa chúng ta cần có luật quảng cáo đểchi phối toàn ngành, và luật quảng cáo liên quan luật báo chí, luật xuất bản, thươngmại, doanh nghiệp, luật sở hữu trí tuệ, công ước quốc tế, cam kết khác của nhà nước.Đáp ứng nhu cầu này, hiện nay Dự thảo Luật Quảng cáo đã được Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch chủ trì soạn thảo, lấy ý kiến và sớm trình Quốc hội thông qua trongthời gian tới. Dự thảo Luật Quảng cáo được xây dựng dựa trên cơ sở kế thừa kế thừacác quy định của Pháp lệnh Quảng cáo, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống phápluật, thống nhất với cam kết của Việt Nam với quốc tế trong lĩnh vực quảng cáo. 48
    • So với Pháp lệnh Quảng cáo, Điều 22 Dự thảo Luật Quảng cáo đã đưa ra một số quyđịnh mới đối với quảng cáo trên báo điện tử như: Tất cả các quảng cáo sẽ không đượcđăng trên trang chủ (trang nhất); Quảng cáo không được vượt quá 10% diện tích, trừchuyên trang quảng cáo; Diện tích quảng cáo chỉ được đặt ở bên trái hoặc bên phảikhuôn hình của báo, không được vượt quá 10% khuôn hình các chuyên trang của báo.Nếu cơ quan báo chí có nhu cầu quảng cáo vượt quá 10% diện tích phải xin phép rachuyên trang quảng cáo.Tuy nhiên, hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng quy định này không phù hợp bởi dunglượng trên báo điện tử không cố định nên việc quy định 10% sẽ khó xác định, hơn nữamỗi báo điện tử lại có một giao diện khác nhau. Ngoài ra, đối với các cơ quan nàyquảng cáo là nguồn thu chủ yếu cho nên giới truyền thông cho rằng nên mở rộngquyền chủ động cho các cơ quan báo chí lựa chọn số lượng diện tích quảng cáo.Các doanh nghiệp cho rằng quy định này không những gây khó khăn cho các trangweb nói riêng mà còn làm cho chính các doanh nghiệp có nhu cầu quảng bá thươnghiệu, sản phẩm chịu thiệt thòi vì chính họ cũng bị ảnh hưởng khi hạn chế quảng cáo. Dự thảo 4 Luật Quảng cáoĐiều 22. Quảng cáo trên báo điện tử 1. Không quảng cáo trên trang chủ (trang nhất). 2. Quảng cáo không vượt quá 10% diện tích, trừ chuyên trang chuyên quảng cáo. 3. Diện tích sản phẩm quảng cáo chỉ được đặt ở bên trái hoặc bên phải khuôn hình của báo, không vượt quá 10% khuôn hình các chuyên trang của báo. 4. Cơ quan báo chí có nhu cầu quảng cáo quá 10% diện tích phải xin phép ra chuyên trang chuyên quảng cáo. 5. Người đứng đầu các cơ quan báo điện tử chịu trách nhiệm về hoạt động quảng cáo trên báo của mình.Điều 25. Quảng cáo trên trang tin điện tử Internet. 1. Diện tích quảng cáo không được vượt quá 10% diện tích trang của trang tin điện tử. 2. Diện tích thể hiện sản phẩm quảng cáo chỉ được thể hiện ở phía bên phải hoặc bên trái của trang tin điện tử, không được vượt quá 10% diện tích khuôn hình. 49
    • 3. Người đứng đầu trang tin điện tử Internet phải chịu trách nhiệm về hoạt động quảng cáo trên trang tin của mình.Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông3. Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác (spam và privacy)SpamNgày 13/08/2008, Nghị định số 90/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chống thư rác đượcban hành để cụ thể hóa các quy định chống thư rác trong Luật Công nghệ thông tin.Ngày 30/12/2008, Bộ Thông tin và Truyền thông có Thông tư số 12/2008/TT-BTTTThướng dẫn một số nội dung của Nghị định 90/2008/NĐ-CP. Tiếp đó, Thông tư số03/2009/TT-BTTTT gày 3/2/2009 quy định chi tiết về mã số quản lý và mẫu giấychứng nhận mã số quản lý đối với nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo bằng thư điện tử vàtin nhắn.Thư rác theo định nghĩa của Nghị định chống thư rác là thư điện tử, tin nhắn được gửiđến người nhận mà người nhận đó không mong muốn hoặc không có trách nhiệm phảitiếp nhận theo quy định của pháp luật. Nghị định chống thư rác nghiêm cấm việc sửdụng phương tiện điện tử để gửi, chuyển tiếp thư rác; trao đổi mua bán hoặc phát táncác phần mềm thu thập địa chỉ điện tử; sử dụng các phần mềm để thu thập địa chỉ điệntử khi không được phép của người sở hữu địa chỉ điện tử đó; trao đổi mua bán danhsách địa chỉ điện tử hoặc quyền sử dụng danh sách địa chỉ điện tử nhằm mục đích gửithư rác, v.v…Nghị định về chống thư rác phân biệt 02 loại thư rác: 1) thư điện tử và tin nhắn vớimục đích lừa đảo, quấy rối hoặc phát tán virus máy tính, phần mềm gây hại; 2) thưđiện tử quảng cáo, tin nhắn quảng cáo vi phạm các nguyên tắc gửi thư điện tử quảngcáo, tin nhắn quảng cáo. Như vậy, để không bị xếp vào thư rác, thư điện tử và tin nhắnquảng cáo phải đáp ứng những yêu cầu rất chặt chẽ về hình thức, nội dung và thể thứcgửi. Hộp: Nguyên tắc gửi thƣ điện tử quảng cáo và tin nhắn quảng cáo 50
    • Yêu cầu đối với thư điện tử quảng cáo1. Chủ đề phải phù hợp với nội dung và nội dung quảng cáo phải tuân thủ theođúng các quy định của pháp luật về quảng cáo;2. Thư điện tử quảng cáo phải được gắn nhãn;3. Có thông tin về người quảng cáo;4. Trường hợp sử dụng dịch vụ quảng cáo phải có thêm thông tin về nhà cungcấp dịch vụ quảng cáo;5. Có chức năng từ chối.Yêu cầu đối với tin nhắn quảng cáo1. Tin nhắn quảng cáo phải được gắn nhãn;2. Trường hợp sử dụng dịch vụ quảng cáo phải có thêm thông tin về nhà cungcấp dịch vụ quảng cáo;3. Có chức năng từ chối.Nguyên tắc gửi thư điện tử, tin nhắn quảng cáo:1. Tổ chức, cá nhân ngoại trừ nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo chỉ được phép gửithư điện tử quảng cáo, tin nhắn quảng cáo khi có sự đồng ý trước đó của ngườinhận;2. Nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo chỉ được phép gửi thư điện tử quảng cáo, tinnhắn quảng cáo cho đến khi người nhận từ chối việc tiếp tục nhận thư điện tửquảng cáo, tin nhắn quảng cáo;3. Trong vòng 24 giờ, kể từ khi nhận được yêu cầu từ chối, người quảng cáo hoặcnhà cung cấp dịch vụ quảng cáo phải chấm dứt việc gửi đến người nhận các thưđiện tử quảng cáo hay tin nhắn quảng cáo đã bị người nhận từ chối trước đó trừtrường hợp bất khả kháng.Nguyên tắc gửi thư điện tử, tin nhắn quảng cáo của nhà cung cấp dịch vụ:1. Nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo chỉ được phép gửi thư điện tử, tin nhắn quảngcáo từ hệ thống có các thông tin kỹ thuật đã đăng ký với Bộ Thông tin và Truyềnthông;2. Nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo bằng thư điện tử không được phép gửi quá 5thư điện tử quảng cáo tới một địa chỉ thư điện tử trong vòng 24 giờ trừ trườnghợp đã có thoả thuận khác với người nhận; 51
    • 3. Nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo bằng tin nhắn không được phép gửi quá 05tin nhắn quảng cáo tới một số điện thoại trong vòng 24 giờ và chỉ được phép gửitrong khoảng thời gian từ 7 giờ đến 22 giờ mỗi ngày trừ trường hợp đã có thoảthuận khác với người nhận.Nghị định về chống thư rác đã thiết lập một hành lang pháp lý khá toàn diện cho hoạtđộng của các nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo qua thư điện tử và tin nhắn. Với việckhuyến khích người gửi quảng cáo sử dụng dịch vụ của những nhà cung cấp đã đượcđăng ký, đồng thời tập trung quản lý những nhà cung cấp dịch vụ này, Nghị địnhhướng tới việc thiết lập một thị trường quảng cáo qua thư điện tử và tin nhắn có trật tự,hiệu quả, vừa hạn chế được tối đa thư rác vừa tạo điều kiện phát triển cho thương mạiđiện tử tại Việt Nam. Điều kiện cung cấp dịch vụ quảng cáo bằng thƣ điện tử và tin nhắn Điều kiện để là Nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo bằng thƣ điện tử: 1. Có trang thông tin điện tử, máy chủ dịch vụ gửi thư điện tử quảng cáo đặt tại Việt Nam và sử dụng tên miền quốc gia Việt Nam ".vn"; 2. Có hệ thống tiếp nhận, xử lý yêu cầu từ chối của người nhận; 3. Đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp mã số quản lý. Điều kiện để là Nhà cung cấp quảng cáo bằng tin nhắn: 1. Sử dụng số thuê bao gửi tin nhắn quảng cáo do nhà cung cấp dịch vụ tin nhắn Việt Nam cung cấp; 2. Có hệ thống tiếp nhận, xử lý yêu cầu từ chối của người nhận; 3. Đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp mã số quản lý. Điều kiện để là Nhà cung cấp dịch vụ tin nhắn qua mạng Internet: 1. Có trang thông tin điện tử sử dụng tên miền .vn và máy chủ dịch vụ gửi tin nhắn đặt tại Việt Nam; 2. Có hệ thống tiếp nhận, xử lý yêu cầu từ chối nhận tin nhắn từ một hoặc nhiều người sử dụng dịch vụ; 3. Đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp mã số quản lý (xem phần đăng ký MSQL. Như vậy, tất cả các nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo qua thư điện tử và tin nhắn đều phải đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông để được cấp mã số quản lý. Thủ tục đăng ký chi tiết được hướng dẫn tại Website điều phối chống thư rác 52
    • http://antispam.vncert.gov.vn/huongdandk.htm.Việc cấp mã số quản lý (MSQL) cho doanh nghiệp được căn cứ vào hoạt động thực tếcủa doanh nghiệp và các hệ thống cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp đó. Doanhnghiệp chỉ được cấp MSQL khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí được quy định trong Nghịđịnh số 90/2008/NĐ-CP về chống thư rác. Đến nay, đã có 47 doanh nghiệp được cấpMSQL cho các dịch vụ gửi tin nhắn quảng cáo, gửi thư điện tử quảng cáo và gửi tinnhắn qua mạng Internet. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp vi phạm các quy định vềchống thư rác cũng đã được phát hiện và xử lý kịp thời. Tính đến thời điểm cuối năm2009 đã có 6 doanh nghiêp bị xử phạt và khoảng 20 doanh nghiệp bị nhắc nhở. Xử lý vi phạm về tin nhắn rácTrên cơ sở phản ánh của người dùng, Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông đãphối hợp với Trung tâm VNCERT điều tra và xử phạt một số công ty về hành vi gửitin nhắn quảng cáo vi phạm các quy định về chống thư rác, bao gồm công ty Cổphần truyền thông Lê Gia (mức phạt 10 triệu đồng), Cổ phần đầu tư An HưngPhát (mức phạt 15 triệu đồng), Công ty TNHH Truyền thông AT (mức phạt 20triệu đồng), và công ty P&T (mức phạt 30 triệu đồng).Đối với công ty P&T, ngày 27/04/2009, Thanh tra Thông tin và Truyền thông đãban hành quyết định xử phạt hành chính với mức mức phạt là 30 triệu đồng đối vớihành vi không phải là nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo mà vẫn gửi tin nhắn quảngcáo khi chưa được sự đồng ý của người nhận theo điểm a Khoản 4 Điều 38 Nghịđịnh 90/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chống thư rác. Công ty P&T cũng đã có cáchành động tích cực thông qua việc chấm dứt hợp đồng cung cấp dịch vụ với đối tácphát tán tin nhắn trên, rà soát lại hoạt động quản lý nội dung, thông cáo báo chí xinlỗi khách hàng đồng thời phối hợp với các mạng viễn thông hoàn tiền cho kháchhàng bị thiệt hại.PrivacyCho đến nay, Việt Nam chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh cáchành vi liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân một cách hệ thống. Tuy nhiên, cùng vớitiến trình hội nhập và sự phát triển mạnh mẽ của ứng dụng công nghệ thông tin vàthương mại điện tử trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội, các cơ quan quản lýnhà nước đã ngày càng nhận thức rõ và quan tâm hơn đến vấn đề quan trọng này. Điềunày được thể hiện trong các chỉ thị của Đảng và Nhà nước, các văn bản luật được banhành trong thời gian gần đây. 53
    • Tại Chỉ thị số 27/CT-TƯ ngày 16 tháng 10 năm 2008 về lãnh đạo thực hiện cuộc tổngđiều tra dân số và nhà ở năm 2009, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã yêu cầu “chú ýbảo mật thông tin theo quy định của pháp luật, nhất là bảo mật thông tin cá nhân…”. Xem xét một cách có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có thể thấy các nộidung điều chỉnh vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân đã được quy định ngày càng rõ hơn từcấp độ luật đến các văn bản hướng dẫn luật. Đã có quy định các hình thức xử phạt, chếtài cụ thể từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền đến xử lý hình sự đối với cáctrường hợp vi phạm nặng. Ở mức độ văn bản pháp luật dân sự, Bộ Luật dân sự được Quốc hội thông qua tháng 6năm 2005 đã đưa ra một số quy định nguyên tắc về bảo vệ thông tin cá nhân tại Điều31 “Quyền của cá nhân đối với hình ảnh” và Điều 38 “Quyền bí mật đời tư”. Điều 31quy định cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình, việc sử dụng hình ảnh của cánhân phải được người đó đồng ý và nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khácmà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh. Điều 38 quy địnhmột số nội dung về quyền bí mật đời tư. Theo đó, quyền bí mật đời tư của cá nhânđược tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu vềđời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; thư tín, điện thoại, điện tín, các hìnhthức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật. Văn bản pháp luật cao nhất điều chỉnh các giao dịch điện tử là Luật Giao dịch điện tửđược Quốc hội thông qua tháng 11 năm 2005 đã dành một điều (Điều 46) để quy địnhchung về bảo mật thông tin trong giao dịch điện tử. Điều 46 Luật Giao dịch điện tửquy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thôngtin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếpcận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác”.Tháng 6 năm 2006, Quốc hội thông qua Luật Công nghệ thông tin, quy định tổng thểvề hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, các biện pháp bảo đảm vàphát triển công nghệ thông tin, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thamgia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Luật Công nghệ thông tinđã có những quy định rõ ràng, cụ thể hơn về trách nhiệm đối với việc thu thập, xử lý,sử dụng, lưu trữ thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng tại các Điều21, Điều 22. Điều 72 quy định các vấn đề liên quan đến việc bảo đảm bí mật đối vớithông tin riêng hợp pháp của tổ chức, cá nhân trao đổi, truyền đưa, lưu trữ trên môitrường mạng. Tuy nhiên, các quy định này vẫn chưa đầy đủ và chưa tập trung vào vấnđề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và không quy định rõ quyền của chủ thể thông tincá nhân. 54
    • Ngày 10 tháng 4 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2007/NĐ-CP quyđịnh hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hànhchính trong ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin. Nghị định này đã đưa ra hìnhthức phạt, mức phạt đối với một số hành vi vi phạm các quy định về thu thập, xử lý, sửdụng, lưu trữ, trao đổi, bảo vệ thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng. Một số quy định liên quan đến bảo vệ thông tin cá nhân tại Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ 55
    • Điều 6. Hành vi vi phạm các quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truynhập, thu thập, xử lý trao đổi và sử dụng thông tin số1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vitríchdẫn nội dung thông tin số của tổ chức, cá nhân khác mà theo quy định của pháp luậtlàđược phép trích dẫn nhưng không nêu rõ nguồn gốc của thông tin đó.2. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Xác định không chính xác hoặc không đầy đủ danh sách chủ sở hữu thuê chỗ lưu trữthông tin số theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;b) Lưu trữ thông tin cá nhân của người khác thu thập được trên môi trường mạng vượtquá thời gian quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận giữa hai bên.3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Trích dẫn nội dung thông tin số của tổ chức, cá nhân khác mà không được sự đồng .của chủ sở hữu thông tin số đó hoặc trích dẫn trái quy định của pháp luật;b) Không chấm dứt việc cho thuê chỗ lưu trữ thông tin số trong trường hợp tự m.nhpháthiện hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông báo cho biết thông tin đangđược lưu trữ là trái pháp luật;c) Không chấm dứt việc cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác công cụ t.m kiếm đến cácnguồn thông tin số trong trường hợp tự m.nh phát hiện hoặc được cơ quan nhà nướccó thẩm quyền thông báo cho biết nguồn thông tin số đó là trái pháp luật;d) Thu thập, xử l. và sử dụng thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạngmàkhông được sự đồng . của người đó trừ quy định tại khoản 3 Điều 21 của Luật Côngnghệ thông tin;đ) Thu thập, xử l. và sử dụng thông tin cá nhân của người khác mà không thông báocho người đó biết h.nh thức, phạm vi, địa điểm và mục đích của việc thu thập, xử l., sử 56
    • dụng thông tin đó;e) Sử dụng thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng sai mục đích đ.thông báo cho người đó;g) Không kiểm tra lại, đính chính hoặc hủy bỏ thông tin cá nhân của người khác lưu trữtrên môi trường mạng trong quá tr.nh thu thập, xử l., sử dụng thông tin khi có yêu cầucủa chủ sở hữu thông tin đó;66h) Cung cấp hoặc sử dụng thông tin cá nhân chưa được đính chính khi có yêu cầu đínhchính của chủ sở hữu thông tin đó;i) Cung cấp hoặc sử dụng thông tin cá nhân khi đ. có yêu cầu hủy bỏ của chủ sở hữuthông tin đó;k) Không lưu trữ những thông tin số ghi hoạt động trên môi trường mạng theo quyđịnhcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền.4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:a) Truy nhập trái phép vào máy tính, mạng máy tính, cơ sở dữ liệu;b) Không thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc truy nhập thông tin hoặcloại bỏ thông tin trái pháp luật theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khitruyền đưa hoặc cho thuê chỗ lưu trữ thông tin số;c) Không thực hiện yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xác địnhdanhsách chủ sở hữu thuê chỗ lưu trữ thông tin số;d) Không đảm bảo bí mật thông tin của tổ chức, cá nhân thuê chỗ lưu trữ thông tin số;đ) Không thực hiện các biện pháp quản l., kỹ thuật cần thiết để bảo đảm thông tin cánhân không bị mất, đánh cắp, tiết lộ, thay đổi hoặc phá huỷ khi thu thập, xử l. và sửdụng thông tin cá nhân của người khác trên môi trường mạng;e) Cung cấp thông tin cá nhân của người khác cho bên thứ ba trên môi trường mạngtrái 57
    • quy định của pháp luật hoặc không được sự đồng . của người đó;g) Ngăn cản quyền t.m kiếm, trao đổi, sử dụng thông tin hợp pháp trên môi trườngmạng;h) Không khôi phục thông tin hoặc khả năng truy nhập đến nguồn thông tin hợp phápkhi được chủ sở hữu thông tin đó yêu cầu;i) Không tiến hành theo d.i, giám sát thông tin số của tổ chức, cá nhân khác theo yêucầucủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền;k) Không tiến hành điều tra các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra trong quá tr.nhtruyềnđưa hoặc lưu trữ thông tin số của tổ chức, cá nhân khác theo yêu cầu của cơ quan nhànước có thẩm quyền.Ngày 21 tháng 7 năm 2008, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 09/2008/TT-BCT hướng dẫn Nghị định Thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợpđồng trên website thương mại điện tử. Bên cạnh các quy định điều chỉnh việc giao kếthợp đồng trên website thương mại điện tử, Thông tư 09/2008/TT-BCT cũng đưa ramột số quy định chung về những thông tin cần được cung cấp nhằm bảo vệ lợi ích tốithiểu cho khách hàng, trong đó có các yêu cầu mà chủ sở hữu website thương mại điệntử phải tuân thủ khi thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của khách hàng.Hiện nay Bộ Thông tin và truyền thông đang tiến hành soạn thảo thông tư quy định vềviệc đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặccổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước.Dự thảo Thông tƣ quy định về việc đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nƣớcĐiều 4. Nguyên tắc đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân 1. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cánhân trong quá trình thu thập, xử lý và sử dụng thông tin cá nhân của tổ chức, cánhân thông qua cổng thông tin điện tử. 2. Thông tin cá nhân của tổ chức, cá nhân trao đổi, truyền đưa, lưu trữ trêncổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước được đảm bảo bí mật theo quy định 58
    • của pháp luật. 3. Việc thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của mỗi người sử dụng phảiđược sự đồng ý của người sử dụng đó trừ những trường hợp pháp luật có quy địnhkhác. 4. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm tuyên truyền, nâng cao nhận thức vềđảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân; đồng thời tăng cường quy định vàhướng dẫn cho tổ chức, cá nhân khi khai thác thông tin và sử dụng dịch vụ côngtrực tuyến trên cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước theo đúng quy địnhcủa pháp luật. 5. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tuân thủ theo các quy định và hướng dẫncủa cơ quan nhà nước để đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân trên cổngthông tin điện tử của cơ quan nhà nước.Điều 6. Sử dụng thông tin cá nhân 1. Thông tin cá nhân chỉ được sử dụng để xác nhận tổ chức, cá nhân khi khaithác, sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên cổng thông tin điện tử và những mụcđích khác do cơ quan nhà nước quy định và thông báo cụ thể. 2. Cơ quan nhà nước chỉ sử dụng thông tin cá nhân cho từng mục đích đãđược nêu rõ trước khi tiến hành thu thập thông tin. 3. Người sử dụng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước giới hạn phạm vi sử dụngthông tin cá nhân của mình.Điều 9. Tiết lộ, chia sẻ thông tin cá nhân 1. Cơ quan nhà nước không được tiết lộ, chia sẻ thông tin cá nhân của ngườisử dụng mà mình thu thập, tiếp cận hoặc kiểm soát được cho bên thứ ba nếu khôngđược sự đồng ý của người sử dụng, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tưliệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc pháp luật có quyđịnh khác. 2. Việc xin ý kiến đồng ý của người sử dụng phải được tiến hành thông quamột bước riêng để người sử dụng lựa chọn chấp nhận hoặc từ chối. Không đượcthiết lập cơ chế chọn đồng ý mặc định cho người sử dụng. 3. Người sử dụng có thể yêu cầu được cấp xác nhận về những thông tin cánhân của mình do cơ quan nhà nước lưu trữ hoặc đang xử lý. 4. Trong trường hợp được phép tiết lộ hoặc chia sẻ thông tin cá nhân cho cơquan nhà nước khác, cơ quan nhà nước có trách nhiệm: 59
    • a) Báo cáo việc thực hiện cho cơ quan, tổ chức cấp trên; b) Thông báo các điều khoản đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhânđể cơ quan nhà nước được chia sẻ thông tin tuân thủ và có cam kết chỉ được sửdụng thông tin nhận được cho công việc liên quan (không phải các công việc riêngcủa mình).Điều 10. Hoạt động đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân 1. Việc đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân là yêu cầu bắt buộctrong quá trình thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo trì và nâng cấp cổng thông tinđiện tử của cơ quan nhà nước. 2. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm xây dựng và ban hành chính sách, quyđịnh đảm bảo an toàn và bảo vệ thông tin cá nhân; áp dụng, hướng dẫn và kiểm trathường xuyên việc thực hiện các biện pháp bảo đảm cổng thông tin điện tử đáp ứngcác tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thông tin cá nhân. 3. Cơ quan nhà nước không chịu trách nhiệm về đảm bảo an toàn và bảo vệthông tin cá nhân đối với các trường hợp sau: a) Thông tin cá nhân đã tiết lộ hoặc chia sẻ khi có yêu cầu của cơ quan nhànước có thẩm quyền; b) Thông tin cá nhân do người sử dụng tự tiết lộ hoặc chia sẻ; c) Liên kết đến trang/cổng thông tin diện tử của cơ quan, tổ chức khác.Nguồn: Cục Ứng dụng công nghệ thông tin Bộ Thông tin truyền thôngII. Phân tích thực trạng triển khai và ứng dụng e-marketing 1. Thực trạng về nhận thức Xu hướng sử dụng e-marketing ở Việt Nam, đặc biệt là marking trực tuyến đã từng bước được nhận định từ đầu năm 2008, nhưng cho đến nay vẫn chỉ “phát triển trong giai đoạn khởi động”. Ngân sách quảng cáo trực tuyến năm 2008 chỉ chiếm 0,4% tổng chỉ tiêu cho quảng cáo cho thấy online marketing vẫn còn khoảng cách rất xa với các phương thức truyền thống. Tuy nhiên,theo số liệu mới nghiên cứu của Công ty Nghiên cứu thị trường Cimigo, doanh thu quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam năm 2009 đạt 278 tỷ đồng, tương đương 15,5 triệu USD. So với năm 2008, doanh thu quảng cáo trực tuyến năm 2009 đã tăng trưởng 71%2.2 Nghiên cứu này đo lường dữ liệu về doanh thu từ trang web, mạng quảng cáo, các đại lý truyền thông cũngnhư những công ty sử dụng quảng cáo trực tuyến. Dữ liệu được thu thập trực tiếp từ các công ty cung cấp dịchvụ quảng cáo trực tuyến. Bản báo cáo phân tích doanh thu theo từng ngành kinh doanh, theo định dạng quảngcáo cũng như mô hình tính phí và kênh bán hàng. 60
    • Với 57% dân số dưới độ tuổi 25 (TNS 2008), Internet là kênh truyền thông lý tưởngcho các nhãn hàng muốn tiếp cận người tiêu dùng trẻ, đặc biệt là phân khúc thuộc lứatuổi 17-30. Cụ thể theo phân tích của FTA Research, năm 2008, 85% số người trongđộ tuổi 17-24 thường xuyên truy cập Internet ít nhất mỗi tuần một lần; và con số nàyở độ tuổi 25-30 là 79%. Lý do truy cập Internet đã có sự thay đổi đáng kể năm 2008so với năm 2007. Nếu năm 2007, những mục đích quan trọng nhất của người sử dụngInternet là cập nhật thông tin, nghe nhạc, kiểm tra thư điện tử, chat, tìm kiếm thôngtin thì bước sang năm 2008, những vị trí này có sự xáo trộn đáng kể. Hoạt động tìmkiếm vươn lên vị trí thứ hai sau cập nhật thông tin. Tiếp sau là kiểm tra email và chat,vị trí thứ năm là tham gia các mạng công cộng. Vào mạng để cập nhật tin tức trở nênquan trọng hơn với những người trong độ tuổi 25-30, bởi 75% số người được hỏi chođây là động cơ đầu tiên để họ truy cập Internet, con số này ở giới học sinh, sinh viên(17-24) là 66%. Trong khi đó, những người trẻ tuổi lại có khuynh hướng thích âmnhạc hơn, chỉ có 18% giới 7X vào Internet để nghe và tải nhạc trong ba tháng qua,trong khi con số này ở thế hệ 8X-9X là 27%. Sự thay đổi về hành vi truy cập Internetnhững năm gần đây chứng tỏ rằng việc quảng bá bằng công cụ đặt banner/display trêncác trang báo điện tử, mạng cộng đồng, các trang web về âm nhạc sẽ tiếp tục được đẩymạnh. Song song đó là khuynh hướng đầu tư mạnh tay cho các công cụ tìm kiếm đểnâng hạng vị trí trang web.Những số liệu nghiên cứu thị trường về Internet cho thấy tiềm năng phát triển của tiếpthị trực tuyến ở Việt Nam là rất lớn. Từ khi cuộc khủng hoảng toàn cầu diễn ra đếnnay, các chuyên gia marketing đã liên tục dự đoán về sự thăng hoa của kênh truyềnthông Internet trong thời gian tới. So sánh với các kênh truyền thông truyền thốngnhư tivi, báo, radio…, Internet có nhiều điểm vượt trội. Nếu các loại hình truyềnthông trước đây chỉ là sự độc thoại, việc truyền đi thông điệp mang tính một chiều,người tiêu dùng thụ động tiếp nhận thông tin thì với Internet, tình thế thay đổi 180 .Doanh nghiệp có cơ hội đối thoại với người tiêu dùng, có thể tương tác 1-1 với nhómkhách hàng mục tiêu và người tiêu dùng chủ động tiếp cận thông tin, lựa chon thôngđiệp nào mình muốn nhận. Với print ad hay phim quảng cáo TVC, nhà quảng cáo chỉphát ra thông điệp mà khó nhận được phản hồi ngay lập tức, nhưng với Internet khôngchỉ đơn giản là việc nhấp chuột và nhìn thấy, marketer còn tạo cơ hội cho khách hàngcùng trải nghiệm, suy nghĩ, dự báo… cùng nhãn hàng. Dựa vào việc phân tích hành vicủa người sử dụng Internet thông qua việc gắn công cụ đo lường thời gian người sửdụng lưu lại trên trang web, hoạt động trên web… marketer có thể biết được thóiquen, sở thích của từng cá nhân, xác định rõ xem người đó có nằm trong nhóm kháchhàng mục tiêu hay không, phản ứng của họ với thương hiệu như thế nào… Đó thực sựlà cuộc đối thoại sâu sắc và thân thiện giữa những người làm tiếp thị với khách hàngcủa mình. 61
    • Với nhiều tiền đề thuận lợi để phát triển, nhưng vì sao quảng cáo trực tuyến vẫn chưa“thăng hoa”? Nguyên nhân của mọi vấn đề vẫn là nhận thức của người làm tiếp thịvới kênh truyền thông mới mẻ này.Sở dĩ các doanh nghiệp thiếu niềm tin vào e-marketing là do thiếu thông tin về thịtrường này, chưa nắm rõ lợi ích thiết thực của nó, cũng như chưa hiểu biết sâu sắc vềthói quen, sở thích, lối sống, tâm lý của những người sử dụng nằm trong nhóm kháchhàng mục tiêu, những trang web quảng cáo hiệu quả nhất, những cách quảng cáo phùhợp nhất. Dù nhu cầu quảng cáo, tiếp thị rất lớn nhưng họ vẫn còn hoài nghi về việcsử dụng kênh thông tin này để tiếp cận các đối tượng khách hàng. Các công ty chưathực sự biết được có bao nhiêu người tiếp cận được các mẫu quảng cáo của họ và đốitượng quan tâm đến những mẫu quảng cáo này.Nhiều doanh nghiệp cho rằng ở Việt Nam tiếp thị, quảng cáo trực tuyến chỉ là hìnhthức bổ trợ cho tiếp thị, quảng cáo truyền thống. Do đó, họ vẫn tập trung vào các kênhquảng cáo qua truyền hình, báo giấy, v.v… mà không đầu tư cho kênh quảng cáo hiệuquả này mặc dù chi phí bỏ ra thấp hơn nhiều. Theo các chuyên gia nghiên cứu vềmarketing, nếu làm một phim quảng cáo trên truyền hình cho một chiến dịch tiếp thịphải tốn ít nhất 300.000USD, trên báo in khoảng 80.000USD, trong khi đó với ngânsách khoảng 30.000USD, doanh nghiệp đã có thể thực hiện một chiến dịch quảng cáotrên mạng. Quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam hiện chiếm một phần rất nhỏ trongtổng đầu tư quảng cáo, và con số này thấp hơn so với các nước cùng khu vực ĐôngNam Á. Theo đánh giá của Cimigo, quảng cáo trực tuyến mới chỉ chiếm 2% trongtổng số chi phí dành cho quảng cáo. Tỷ lệ này còn quá thấp so với 15% tại khu vựcBắc Mỹ, 14% tại Tây Âu, 17% tại Trung Quốc và 20% tại Hàn Quốc.Ngoài ra, một số doanh nghiệp có quan niệm sai lầm về các hình thức tiếp thị, quảngcáo trực tuyến. Chẳng hạn nhiều người cho rằng thư điện tử không phát huy đượctính hiệu quả với vai trò là một công cụ tiếp thị. Hiện tượng thư rác đang lan tràn,chưa có biện pháp hạn chế, khiến nhiều người không tin rằng phương thức tiếp thịnày có tác dụng đối với việc kinh doanh. Lý do là họ không phân biệt được giữa thưrác và những bức thư hợp pháp tiếp thị bằng thư điện tử dựa trên sự cho phép. Trongthực tế, việc tiến hành các chương trình tiếp thị qua thư điện tử hợp pháp vẫn đượcxem là cách thức định vị thị trường có tác dụng nhất, dễ theo dõi và đo được kết quảngay lập tức.Có thể thấy rằng những quan niệm hay sự nhìn nhận, đánh giá không đúng về phươngthức quảng cáo trực tuyến có thể làm doanh nghiệp mất cơ hội có được những khoảnlợi nhuận đáng kể.Hiện nay quảng cáo trực tuyến rất thành công và phổ biến tại nhiều quốc gia pháttriển, ngay tại Châu Á với các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc hiệu quả 62
    • của quảng cáo trực tuyến không thể phủ nhận. Tuy nhiên, tại Việt Nam quảng cáotrực tuyến còn khá mới, các doanh nghiệp Việt Nam không muốn liều lĩnh thử quảngcáo trực tuyến bởi lẽ khái niệm này còn khá mơ hồ đối với họ. Để có được sự tăngtrưởng trong hoạt động quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam đòi hỏi phải có sự thay đổivề mặt nhận thức, trước hết là ở đội ngũ lãnh đạo của doanh nghiệp, bởi nếu quảngcáo trực tuyến được quan tâm đầu tư nhiều hơn nó sẽ phát huy được sức mạnh vốn có.Muốn vậy, công tác tuyên truyền, phổ biến về lợi ích của thương mại điện tử nóichung và quảng cáo trực tuyến nói riêng cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Bên cạnhđó, các nhà cung cấp dịch vụ cần phải gây được niềm tin với khách hàng bằng việcnâng cao chất lượng của dịch vụ quảng cáo, cung cấp cho khách hàng công cụ đo đếmhiệu quả.2. Thực trạng cung cấpTrong khuôn khổ đề tài, 7 giải pháp tiếp thị điện tử đã được giới thiệu khá chi tiết. Tuynhiên, tại thị trường Việt Nam trong thời gian vừa qua, chỉ có một số giải pháp đượctriển khai một cách phổ biến bao gồm: nhóm 1 - website, SEO, email marketing, nhóm2 - mạng xã hội và nhóm 3 - quảng cáo trực tuyến.Nhóm 1: website, SEO và email marketingChỉ cần gcụm từ “thiết kế website” tại địa chỉ tìm kiếm google, bạn sẽ có được27.700.000 kết quả mà tại đó danh sách các công ty cung cấp dịch vụ xây dựngwebsite với nhiều tính năng được đăng tải cụ thể, chi tiết. 63
    • Điều này cho thấy, thiết kế website cho doanh nghiệp đã trở thành một ngành kinhdoanh khá sôi động và thu hút nhiều đối tượng doanh nghiệp tham gia cung cấp dịchvụ.Cùng với sự ra đời của phiên bản google tiếng Việt vào năm 2003(http://toolbar.netcraft.com/site_report?url=http://www.google.com.vn) và dịch vụyahoo search phiên bản tiếng việt năm 2005(http://toolbar.netcraft.com/site_report?url=yahoo.com.vn/), các doanh nghiệp côngnghệ thông tin và thương mại điện tử đã nghiên cứu nghiêm túc để triển khai thêm tínhnăng SEO tại website cho doanh nghiệp nhằm tăng khả năng tìm kiếm, kết nối giữadoanh nghiệp và khách hàng.Việc nhận được những email như trên là một việc khá phổ biến, đặc biệt trước khiThông tư liên tịch về quản lý thư rác được ban hành. Tuy nhiên, cũng chính do ranhgiới giữa thư rác và thư quảng cáo nghiêm túc là khá mong manh trên nền pháp lý hiệnnày mà quảng cáo thông qua thư điện tử vẫn chưa phát huy được hiệu quả như mongmuốn. Người tiếp nhận thư điện tử cũng còn định kiến với hình thức tiếp thị này.Nhóm 2: Quảng cáo trên mạng xã hộiVới các ưu điểm của quảng cáo trực tuyến như không bị giới hạn về không gian vàthời gian, chi phí hợp lý, sự hỗ trợ về công nghệ mở ra khả năng sáng tạo vô tận, dễxác định phân khúc khách hàng mục tiêu, v.v…, cộng thêm các ưu điểm đặc biệt củamạng xã hội: tính tương tác cao, hiệu ứng lan truyền theo cấp số nhân, quảng cáo trênmạng xã hội đang ngày càng thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp. 64
    • Quảng cáo trên mạng xã hội là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình tuyêntruyền, giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp hay ý tưởng, v.v… củadoanh nghiệp (hoặc cá nhân kinh doanh) tới người tiêu dùng thông qua môi trườngmạng xã hội.Theo Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cungcấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet, “dịch vụ mạng xã hộitrực tuyến” được giải thích là “dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụngkhả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trườngInternet, bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) vàcác hình thức tương tự khác”.Dịch vụ tạo blog bắt đầu được chú ý ở Việt Nam từ khoảng năm 2005. Trong suốt 5năm tiếp theo, Yahoo! 360 luôn là mạng xã hội áp đảo về số lượng thành viên ở ViệtNam. Trong nghiên cứu "Thói quen sử dụng Internet ở Việt Nam" của Yahoo và TNSMedia thực hiện vào tháng 04 năm 2009 (khi Yahoo! 360o còn hưng thịnh) có đến85% người được hỏi cho biết có sử dụng dịch vụ này. Trong khi đó, chỉ 4% số ngườitham gia khảo sát dùng Facebook. Con số này ở YouTube là 46%, Google Group là27%, Yahoo! Group 21% và MySpace là 5%.Quanh thời điểm Yahoo! 360o đóng cửa, các mạng xã hội ở Việt Nam như Hi5,MySpace, CyWorld, Opera, Twitter, Worldpress, Tamtay, Youbanbe, v.v... đều có sựgia tăng đột biến về lượng thành viên đăng ký mới. Tuy nhiên, đà tăng chỉ diễn ratrong một thời gian ngắn rồi dừng lại, trừ trường hợp Facebook. Số người dùngFacebook tăng đột biến, với tốc độ tăng khoảng 200.000 thành viên mỗi tháng, nhất làkhi phiên bản tiếng Việt ra mắt. Với tính chất mở, khả năng tương tác rộng rãi, đếntháng 8 năm 2009, theo khảo sát của FTA, Facebook đã tiến lên vị trí thứ 2 trongnhóm các mạng xã hội được yêu thích nhất Việt Nam thời kỳ hậu Yahoo 360o. Yahoo!360 Plus tạm dẫn đầu do có lợi thế từ hệ thống dịch vụ email, chat, cộng với việcchuyển dữ liệu người dùng từ Yahoo! 360o trước đó. 65
    • Các mạng xã hội đƣợc ƣa chuộng nhất Việt Nam thời kỳ hậu Yahoo 360 oNguồn: FTA Viettrack 09/2009Một mạng xã hội Việt Nam tuy ra đời muộn (tháng 8/2009) nhưng đã có bước tiếnngoạn mục về số lượng thành viên là Zing Me. Theo số liệu Zing Me cung cấp trênnhiều phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội này đạt 3,75 triệu thành viên hoạtđộng vào ngày 4/12/2009, trong khi con số tương ứng của Facebook là 1,02 triệu. Mặcdù vậy, số lượng khách hàng quảng cáo trên Zing Me chưa cao do đa phần khách vàoZing ở tuổi vị thành niên, với mục đích giải trí, chưa định hình một đối tượng kháchhàng rõ rệt.Ngoài các mạng xã hội cung cấp dịch vụ tạo blog nêu trên, còn phải kể đến các diễnđàn thu hút khá đông thành viên tham gia cũng như các doanh nghiệp tiến hành quảngcáo: muare.vn, 5giay.vn, webtretho.com, lamchame.com, v.v… và mạng xã hội cungcấp dịch vụ trò chuyện trực tuyến phổ biến nhất Việt Nam là Yahoo Messenger.Hiện nay, có hai hình thức quảng cáo chính trên các mạng xã hội tại Việt Nam làquảng cáo hiển thị và quảng cáo tương tác.Quảng cáo hiển thịHình thức quảng cáo hiển thị thường thấy nhất là đặt logo, banner hoặc text quảng cáotại các mạng xã hội có lượng truy cập lớn, trong đó có nhiều đối tượng khách hàngtiềm năng của sản phẩm. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể ứng dụng công nghệ đaphương tiện để tạo hình ảnh chuyển động đặc biệt trên website như flash. Hình thức 66
    • này đòi hỏi sự đầu tư cao về ý tưởng, thiết kế mỹ thuật. Bù lại, các thành phần đaphương tiện rất cuốn hút, sáng tạo và có khả năng tương tác giúp xác định đối tượngkhách hàng.Có nhiều cách tính phí đối với hình thức quảng cáo hiển thị trên mạng xã hội, trong đócó thể chia thành hai nhóm chính: Tính phí cố định (hay phí trọn gói) và tính phí linhhoạt.Phí cố định: Doanh nghiệp hoặc cá nhân muốn đăng quảng cáo sẽ trả một mức phí trọngói theo tuần, tháng, quý hoặc năm. Mức phí này rất đa dạng, tùy theo mức độ phổbiến của mạng xã hội, vị trí đặt quảng cáo, kích thước quảng cáo, cấp độ của tranghiển thị quảng cáo, v.v… Cách tính phí này đang được nhiều diễn đàn ở Việt Nam ápdụng như muare.vn, 5giay.vn, enbac.com, webtretho.com, vn.yahoo.360plus.com,vn.answers.yahoo.com, v.v… Ưu điểm của phương thức này là doanh nghiệp có thểchủ động ngân sách quảng cáo, đơn giản trong thanh toán và quản lý, giảm thiểu rủi ro(do lỗi thống kê của hệ thống, do nhóm người truy cập liên kết với nhà cung ứng dịchvụ quảng cáo để hưởng hoa hồng, v.v…). Tuy nhiên, nhược điểm của phương phápnày là doanh nghiệp vẫn bị tính phí dù lượng truy cập có thể không đồng đều (giảmvào ngày cuối tuần hoặc những kỳ nghỉ lễ, Tết, v.v…) hoặc khi hệ thống bị gián đoạn. Báo giá quảng cáo hiển thị trên Yahoo! 360 Plus và 5giay.vnBáo giá quảng cáo hiển thị trênBlog 360plus của Yahoo! ViệtNam(Áp dụng từ ngày 01/7/2009) Position 2009 Rate Remark Large rectangl VND e & 45.000.00 supper 0 banner 2 weeks exclusive Large VND , no tier rectangl 30.000.00 discount e 0 VND Supper 20.000.00 banner 0 Nguồn: Yahoo! Việt Nam và 5giay.vn cung cấp 67
    • Phí linh hoạt: Có nhiều cách tính phí linh hoạt như CPC (Cost per Click), CPM (Costper thousand impressions), CPS (Cost per sale) hay CPA (Cost per Action), v.v… Tuynhiên, ở Việt Nam, hai phương pháp tính phí phổ biến nhất là CPC và CPM.3Ưu điểm của cách tính phí linh hoạt này là doanh nghiệp chỉ phải trả tiền cho nhómkhách hàng tiềm năng hoặc khi có người mong muốn mua hàng hóa, dịch vụ củadoanh nghiệp. Tuy nhiên, phương pháp này cũng sẽ khiến doanh nghiệp khó kiểm soátchi phí phải trả cho chiến dịch quảng cáo (nếu mạng xã hội không cho phép giới hạnngân sách tối đa) và phải chấp nhận rủi ro cao (do lỗi thống kê của hệ thống, do nhấpchuột gian lận, v.v…). Cách tính phí quảng cáo hiển thị trên FacebookChỉ trả tiền khi có người mong muốn sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp: Cũng nhưnhững nhà cung cấp quảng cáo tiên tiến khác, Facebook cho phép doanh nghiệplựa chọn cách tính phí dựa trên số lượng nhấp chuột vào quảng cáo của người dùngCPC (cost per click) hoặc 1000 lượt quảng cáo được hiển thị CPM (cost perthousand impression). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là doanh nghiệp sẽ phảitrả một số tiền khổng lồ nếu như quảng cáo quá thu hút. Facebook cho phép giớihạn ngân sách hàng ngày dành cho quảng cáo (tối thiếu 1 USD/ngày). Do đó,doanh nghiệp có thể an tâm là mình sẽ không bao giờ phải trả nhiều hơn so vớimức ngân sách đã định. Hệ thống quảng cáo của Facebook sẽ tự động dừng hiển thịquảng cáo khi chi phí quảng cáo của một ngày đạt mức giới hạn mà doanh nghiệpđề ra.Tính linh hoạt cao: Doanh nghiệp có thể chuyển đổi giữa 2 hình thức trả phí từ CPCsang CPM và ngược lại.Thanh toán trực tuyến: Facebook cung cấp giải pháp thanh toán trực tuyến đơngiản và nhanh chóng cho doanh nghiệp. Phí quảng cáo được được trừ tự động hàngngày qua thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ của doanh nghiệp.Mức giá quảng cáo giữa các mạng xã hội có sự chênh lệch lớn và thường tỉ lệ thuậnvới mức độ phổ biến của mạng xã hội đó. Nếu giá quảng cáo trên các diễn đàn nhưmuare.vn, 5giay.vn, webtretho.vn, v.v… ở mức trung bình, phù hợp với cả khách hànglà doanh nghiệp hay cá nhân thì các dịch vụ mạng xã hội của Yahoo! Việt Nam như3 CPC (Cost per click): Tính phí dựa trên số lượng nhấp chuột của người truy cập vào quảng cáoCPM (Cost per thousand impressions): Tính phí trên mỗi 1000 lượt quảng cáo được hiển thịCPA (Cost per Action): Tính phí dựa trên mỗi hành động cụ thể (giao dịch, nộp đơn) liên kết vớiquảng cáo được hiển thị 68
    • Yahoo Messeger, Yahoo! 360 Plus hay Yahoo Hỏi Đáp có mức phí quảng cáo cao dolượng khách và lượng truy cập rất lớn, phù hợp với đối tượng là các doanh nghiệp lớn. Thống kê lƣợng truy cập hàng tháng của Yahoo! Việt Nam Số lượng Số lượt khách truy truy cậpDịch vụ Thống kê nhân khẩu học cập hàng hàng tháng thángVietnam 100,1 7,9 triệuMessenger triệuVietnam 2,4 triệu 13,9 triệu360 PlusVietnam 2,4 triệu 13,9 triệuAnswers Nguồn: Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2009Với các mạng xã hội Việt Nam có trụ sở tại Việt Nam như webtretho.com, muare.vn,enbac.vn, 5giay.vn, Yahoo! Vietnam, v.v..., khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụquảng cáo hiển thị có thể liên hệ trực tiếp với đơn vị bán quảng cáo thuộc mạng xã hộiđó và mua vị trí đặt quảng cáo theo tuần, tháng, quí hoặc năm. Còn nếu muốn quảngcáo trên các mạng xã hội nước ngoài, khách hàng thường phải mua không gian quảngcáo theo hợp đồng với công ty quảng cáo trung gian. Tuy nhiên, một số mạng xã hộinhư facebook cho phép khách hàng tự tạo quảng cáo thông qua hệ thống self-serveadvertising (khách hàng tự tạo URL đích, tiêu đề, nội dung, chèn ảnh, chọn đối tượng 69
    • khách hàng mục tiêu, đấu giá giá trị CPC hoặc CPM, v.v... trên hệ thống hỗ trợ củafacebook).Quảng cáo tương tácQuảng cáo tương tác trực tuyến ra đời cùng với sự xuất hiện của Web 2.0. Theo đó,doanh nghiệp hoặc cá nhân kinh doanh sẽ đăng ký vị trí trên một mạng xã hội có nhiềungười tham gia để trò chuyện với người tiêu dùng, khách hàng tiềm năng về nhữngchủ đề như sản phẩm, dịch vụ, giải đáp thắc mắc, v.v... Những nội dung đó được lưugiữ và công khai để bất kỳ ai cũng có thể đọc và phản hồi. Với phương thức quảng cáonày, doanh nghiệp sẽ dễ dàng xác định được đối tượng khách hàng tiềm năng tùy theođặc tính của cộng đồng và truyền đạt những thông điệp tiếp thị, quảng cáo một cáchnhẹ nhàng, kín đáo nhưng có khả năng lây lan (viral marketing) trong cộng đồng.Nhiều diễn đàn phát triển dịch vụ “SMS – AUTO UP” (Nhắn tin bằng điện thoại diđộng để cập nhật chủ đề lên đầu) và “SMS – HOT TOPIC” (Nhắn tin bằng điện thoạidi động để cập nhật chủ đề lên đầu và gắn thêm từ “HOT” nổi bật trong vòng 24 giờ).Với hình thức này, doanh nghiệp và cá nhân có thể nhắn từng tin riêng lẻ, hoặc chọnchế độ nhắn tin tự động vào các giờ đặt trước để cập nhật thông tin “làm mới” chủ đềcủa mình từ máy điện thoại di động mà không cần truy cập diễn đàn để viết bài.Dù vậy, cấu trúc và tiện ích của diễn đàn dường như không đủ để người dùng quản lý,tìm kiếm thông tin, thể hiện cá tính. Ví dụ, loạt bài viết về một chủ đề bị dàn trải lẫngiữa phần bình luận của các thành viên, hoặc nếu tách riêng thành thread (bài viết) mớisẽ bị trôi giữa nhiều bài viết khác.Một hình thức quảng cáo tương tác khác là lập tài khoản riêng trên các mạng xã hội:Facebook: Facebook đã là một trong những trang mạng xã hội phổ biến nhất trên thếgiới. Với hơn 500 triệu người sử dụng, hàng ngàn người đăng ký mới mỗi ngày cùngvị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng của Alexa (trang có lượng truy cập nhiều thứ 2), chắcchắn sức mạnh của người khổng lồ mạng xã hội Facebook sẽ được tận dụng cho nhữngcông việc kinh doanh. Doanh nghiệp có thể tạo hẳn một trang quảng cáo riêng trênFacebook bằng cách lập một tài khoản và trở thành một “user” của mạng xã hội này.Sau đó, doanh nghiệp có thể cập nhật thông tin liên tục với các thành viên khác dướichế độ “Fan”.Cyworld: Mạng xã hội Cyworld Việt Nam (một phiên bản của Cyworld Hàn Quốc) đãthử nghiệm hình thức quảng cáo tương tác cho một số doanh nghiệp. Các công ty sẽđăng ký tên tham gia (nickname) vào mạng này sở hữu một “Myhome” (ngôi nhà ảocủa riêng họ, được quyền trang trí bằng hình ảnh, phát ngôn theo chủ đề) và “kết bạn”với những thành viên khác để quảng bá sản phẩm. Lúc này, doanh nghiệp như mộtngười “hàng xóm”, cũng viết blog chia sẻ niềm vui, nỗi buồn hay thông báo kế hoạch 70
    • mới, đăng ảnh, video, v.v… vào bộ sưu tập riêng, đi “comment” (bình luận) cho bạnbè, tổ chức các cuộc thi, câu lạc bộ, v.v…Youtube: YouTube cho phép người dùng đăng tải, xem và chia sẻ các đoạn phimmiễn phí. Sự thành công của video quảng cáo có thể được đánh giá dựa trên số lượngngười xem (views) và tỉ lệ bầu chọn (ratings). Doanh nghiệp cũng cần chú ý đến ýkiến (comments) của người xem đối với video quảng cáo nói riêng và sản phẩm vàdịch vụ của doanh nghiệp nói chung.Twitter: Twitter là một mạng xã hội và dịch vụ micro-blogging (tiểu blog) cho phépngười sử dụng cập nhật những thông tin mới nhất của mình (còn gọi là tweet hayupdate - về một khía cạnh nào đó có thể xem tương đương với Blast của Yahoo! 360hay Status của Facebook) với không quá 140 ký tự. Người sử dụng Twitter ở ViệtNam có thể gửi thông tin qua website (http://twitter.com), qua cổng WAP dành chothiết bị di động (http://m.twitter.com), qua các ứng dụng (Twitterific, TwitterFox,Twhirl...), tin nhắn nhanh (Instant Message). Sự nhanh chóng, tiện dụng của Twittercho phép tạo nên các cuộc thảo luận xung quanh thương hiệu với sự tham gia chủ độngtừ cộng đồng, đồng thời cho phép các công ty theo dõi phản ứng của dư luận và ngườisử dụng đối với sản phẩm hay dịch vụ của mình.Qua đó có thể thấy quảng cáo tương tác là một cách tiếp cận khách hàng hiệu quả.Những lợi ích mạng xã hội mang lại cho doanh nghiệp là hết sức to lớn: Cải thiện dịchvụ chăm sóc khách hàng thông qua việc thiết lập mối quan hệ hai chiều với số đôngkhách hàng mục tiêu; tăng độ nhận biết thương hiệu do khả năng lan truyền thông tinnhanh chóng; các hoạt động trực tuyến sẽ truyền cảm hứng cho các cuộc hội thoạitrong “thế giới thực”; thuận lợi trong định hướng và điều chỉnh chiến lược truyềnthông và phát triển sản phẩm do tiếp cận được thông tin cá nhân khá chân thực vềngười dùng; tiếp thu những phản hồi mang tính xây dựng để cải thiện chất lượng sảnphẩm và dịch vụ, v.v… Người tiêu dùng cũng chủ động tiếp cận thông tin, lựa chọnthông điệp muốn nhận, chia sẻ những trải nghiệm, suy nghĩ, dự báo, nhu cầu, v.v…của mình. Vì vậy, xây dựng, phát triển và quản lý tốt chiến lược quảng cáo tương tácsẽ giúp tăng mạnh số lượng khách hàng tiềm năng và giữ họ ở lại với doanh nghiệp lâuhơn.Tuy nhiên, khi lựa chọn quảng cáo tương tác, doanh nghiệp sẽ phải đối diện với khôngít khó khăn. Do mọi phản hồi (cả tốt và xấu) đều hiển thị ngay trên website và bất kỳai cũng có thể lập nickname để tham gia phản hồi, cộng với cấp độ lan truyền theo cấpsố nhân của cộng đồng ảo, nên công tác quản lý diễn đàn hoặc blog cần được doanhnghiệp đặc biệt quan tâm, hạn chế tối đa tình huống những tin tức bất lợi lan truyềnvượt quá khả năng kiểm soát của doanh nghiệp. 71
    • Có thể nói, quảng cáo trên mạng xã hội là một hình thức mới mẻ và còn chiếm thịphần nhỏ tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, những ưu điểm của quảng cáo trên mạngxã hội cùng những thành công của nhiều doanh nghiệp khi thử nghiệm hình thứcquảng cáo này đã khiến cho quảng cáo trên mạng xã hội trở thành một hiện tượngđược chú ý. Khi các mạng xã hội đã trở nên phổ biến, xu hướng quảng cáo trên mạngxã hội tại Việt Nam sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đòi hỏi sự nghiên cứu và đầutư nghiêm túc của doanh nghiệp để tối ưu hóa chiến lược quảng cáo của mình. Quảngcáo trên mạng xã hội sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của quảng cáo trực tuyến tạiViệt Nam trong tương lai.Nhóm 3: Quảng cáo trên báo điện tửTrong những năm gần đây, các công ty lớn thường có xu hướng dịch chuyển ngânsách từ quảng cáo trên báo in sang quảng cáo trên báo điện tử. Quảng cáo trên báođiện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình tuyên truyền, giới thiệuthông tin về sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp hay ý tưởng, v.v… của doanh nghiệp(hoặc cá nhân kinh doanh) tới người tiêu dùng thông qua báo điện tử.Theo Luật báo chí sửa đổi, báo điện tử là loại hình báo chí “được thực hiện trên mạngthông tin máy tính”.Thời gian qua, thế giới đã và đang chứng kiến sự “công phá” mãnh liệt của báo điện tửnói riêng và các phương tiện truyền thông trực tuyến nói chung đến các phương tiệnbáo chí truyền thống khác như báo in, phát thanh, truyền hình. Báo mạng điện tử có sựtổng hợp của công nghệ đa phương tiện, nghĩa là không chỉ văn bản, hình ảnh mà cảâm thanh, video và các chương trình tương tác khác. Không bị giới hạn bởi khuôn khổ,số trang, không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lý nên báo mạng điện tử có khảnăng truyền tải thông tin đi khắp toàn cầu với số lượng không giới hạn. Thông tin từkhi thu nhận đến khi phát hành đều được diễn ra rất nhanh chóng, với những thao táchết sức đơn giản nên báo mạng điện tử có thể tức thời và phi định kỳ, luôn sống24h/ngày, 7ngày/tuần. Báo mạng điện tử chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc thiết lập cácdiễn đàn, các cuộc giao lưu, bàn tròn, phỏng vấn trực tuyến… nhằm tăng mối quan hệgiữa toà soạn với độc giả, độc giả với nhau, tạo cơ hội cho độc giả có thể giao lưu, traođổi với nhân vật mình quan tâm, yêu thích. Báo mạng điện tử có tính năng một thưviện giúp người đọc không chỉ xem các tin, bài hiện tại, mà còn đọc được những tin,bài trong quá khứ. Đồng thời, nhờ tích hợp công cụ tìm kiếm thông tin khoa học vàhiệu quả, người đọc dễ dàng tìm kiếm thông tin. Với những ưu thế này, báo điện tửđang trở thành kênh truyền thông được nhiều người lựa chọn.Theo số liệu đưa ra bởi Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến thời điểm này, cả nướcđã cấp phép 32 báo điện tử. Tờ báo điện tử đầu tiên mở đường cho một loại hình báochí mới hình thành ở Việt Nam là , tạp chí Quê hương (tạp chí của Uỷ ban về người 72
    • Việt Nam ở nước ngoài) Ngay sau đó, hàng loạt các cơ quan báo chí đã tiến hành thửnghiệm và lần lượt xuất bản ấn phẩm của mình trên Internet như báo Nhân dân, Đàitiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam. Đến nay, hầu hết các cơ quan báo chílớn như Tiền Phong, Lao Động, Thanh niên, Tuổi trẻ, Thông tấn xã Việt Nam… đềuđã có phiên bản điện tử. Những tờ báo mạng điện tử độc lập của Việt Nam cũng lầnlượt xuất hiện. Đầu tiên là tờ Tin nhanh Việt Nam (vnexpress.net) ra mắt độc giả, tiếpđến là VietNamNet và VnMedia.Phần lớn quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam đều nằm trong tay vài tờ báo điện tử cóđông người truy cập như VnExpress, VietnamNet, Dantri. Với các báo in có trang tinđiện tử như Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Sài Gòn Giải Phóng… thì quảngcáo hầu như không đáng kể, thu từ quảng cáo không bù đắp nổi chi phí. Ngay cả TuổiTrẻ, vốn là tờ báo in có sức thu hút quảng cáo cực mạnh thì trên website quảng cáovẫn rất thưa thớt.Tại Việt Nam, hình thức quảng cáo phổ biến trên báo điện tử là đặt banner, logo, hoặcpop-up. Các dạng quảng cáo như qua từ khóa, quảng cáo theo ngữ cảnh, theo hành vi... còn là những khái niệm mới mẻ. Và hiện, cũng chưa có một chuẩn nào đối với cácmẫu thiết kế cho quảng cáo trực tuyến (kích thước, vị trí ...). Điều này khiến kháchhàng mất thêm nhiều thời gian và chi phí khi tiến hành quảng cáo tại các website khácnhau.Điển hình như Vnexpress.net, dantri.com, nếu tính sơ bộ thì chỉ riêng trang chủ mỗingày có hơn 20 banner được đặt dưới đủ mọi hình thức. Các cách thức quảng cáo đểlôi kéo người xem click vào các banner cũng ngày một đa dạng hơn.Banner thường được thiết kế với những hình ảnh động vui nhộn, màu sắc bắt mắt,công nghệ đồ họa 3D, Flash được ứng dụng tối đa. Năm 2009 nổi lên các dạng bannertương tác đa phương tiện, bao gồm cả các loại mở rộng, có video trong banner, và gầnđây là hình thức chèn form trong banner, như trong các chiến dịch quảng cáo một sốdòng sản phẩm gần đây của MindShare và Unilever. Khi độc giả nhấp chuột vào mộtbanner thì ngay lập tức, liên kết sẽ dẫn đến một trang web buôn bán trực tuyến vớinhững hứa hẹn, ưu đãi cực kì hấp dẫn. Quảng cáo kiểu này đánh vào tâm lí tò mò vàưa khám phá của công chúng. Bên cạnh đó, nó mang lại cho công chúng cảm giác thúvị vì chính họ là người tìm đến với thông tin chứ không phải bị ép buộc thu nhận thôngtin quảng cáo như những hình thức marketing truyền thống trên TV, báo in, tạp chí…Các banner quảng cáo ở Việt Nam thường sử dụng các frames để giữ các banner luônnằm ở tầm mắt người đọc. Khi người đọc cuộn xuống, vị trí các quảng cáo này trongtầm mắt người đọc. 73
    • Tuy nhiên, tương tự hình thức sử dụng banner quảng cáo trên mạng xã hội, hiện naytrên các trang báo xuất hiện quá nhiều banner gây tác dụng phản cảm đối với độc giả.Việc sắp đặt các banner nhiều màu sắc cạnh nha phá hỏng sự hài hòa về màu sắc vàmang lại cảm giác rối mắt cho người xem.Khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ quảng cáo sẽ phải liên hệ với tòa soạn và muavị trí đặt quảng cáo theo tuần, tháng, quí hoặc năm. Kiểu tính phí này được đưa ra lầnđầu ở báo điện tử VnExpress khi báo này ra đời vào năm 2000. Báo giá quảng cáo trực tuyến trên Vnexpress Mô tả Đơn giá (VNĐ/tháng)Khoản Chuyên Kíchmục mục Chuyên mục thƣớc Cơ chế Trang chủ Chuyên mục cao cấp cao cấp Nhóm II (px) Nhóm ITop 728x90 chia sẻ 3 100,000,000 40,000,000 24,000,000 15,000,000Banner 3Expanding 5,000,000 4,000,000 2,000,000 728x60 (chia sẻbanner VNĐ/ngày) VNĐ/ngày) VNĐ/ngày) theo user)Large 180x13 chia sẻ 3 90,000,000 40,000,000 22,000,000 12,000,000Logo 0Big Logo 1 180x60 chia sẻ 3 36,000,000 25,000,000 18,000,000 10,000,000Big Logo 2 180x60 chia sẻ 3 30,000,000 22,000,000 14,000,000 8,000,000Big Logo 180x60 chia sẻ 3 26,000,000 18,000,000 12,000,000 6,000,0003, 4, 5, 6 10 180x15Basic Logo (chia sẻ 25,000,000 18,000,000 12,000,000 6,000,000 0 theo user)Left Logo 120x18 Độc quyền 60,000,000 40,000,000 30,000,000 15,000,0001 0Left Logo 120x18 Độc quyền 55,000,000 38,000,000 15,000,000 7,500,0002 0Left Logo 120x18 Độc quyền 50,000,000 35,000,000 12,000,000 6,000,0003 0 74
    • Left Logo 120x18 Độc quyền 45,000,000 31,000,000 10,000,000 5,000,0004, 5, 6 0Great 770x12 chia sẻ 3 30,000,000 20,000,000 15,000,000 10,000,000Banner 0Pop 400x50 7,000,000/n 5,000,000/nUnderArti Độc quyền 3,000,000/ngày 2,000,000/ngày 0 gày gàycle banner 115x24Right 2Fload Độc quyền 72,000,000 50,000,000 45,000,000 30,000,000 100x18Left Fload 0 Độc quyền 90,000,000 60,000,000 20,000,000 (1 vị trí)Article 400x80banner pixels Vị trí 1,2, 60,000,000 40,000,000 150,000,000 không chia sẽ Nguồn: www.quangbaweb.comCác công nghệ quảng cáo và cách đánh giá hiệu quả quảng cáo mới dựa trên mức độquan tâm của người xem được ứng dụng phổ biến trên thế giới là CPM, CPC, AdClick Through, Ad Impression, v.v… Hình thức quảng cáo theo impression có ưuđiểm tận dụng lợi thế của Internet để tùy biến thông điệp quảng cáo đến người dùngtheo từng lượt xem. Khách hàng không cần mua đứt vị trí quảng cáo, thay vào đó, họchỉ trả tiền theo lượt quảng cáo của họ xuất hiện. Mỗi khi người dùng truy vấn trangweb, hệ thống máy chủ quảng cáo (Ad Server) sẽ nhúng vào nội dung trang web gởiđến người dùng banner được lựa chọn ngẫu nhiên theo trọng số từ các banner lưu trữtrong hệ thống. Trọng số này thường được xác định dựa trên tỉ lệ giữa số impressionđược mua chia cho tổng số impression dự kiến (còn gọi là Inventory) tại vị trí quảngcáo. Tuy nhiên, công nghệ này chưa được ứng dụng trên các báo điện tử Việt Nam.Việc sử dụng cách tính phí dựa trên thời gian đăng banner (CPD), theo tuần hay thángmột phần là do thiếu bên thứ ba để phục vụ và theo dõi hiệu quả quảng cáo. Với cáchtính phí này các khách hàng sẽ không thể biết được mức độ hiệu quả của quảng cáo.Hơn nữa, khi có sự cố như nghẽn mạng, website bị tấn công từ chối dịch vụ... phầnthiệt hại sẽ thuộc về khách hàng vì lúc đó dù số lượng truy cập bị giảm rất nhiều, thậmchí bằng không, họ vẫn phải trả tiền quảng cáo như ngày thường.Ít có báo điện tử có được bộ tài liệu cung cấp cho nhà quảng cáo (sales kit) cũng nhưđội ngũ nhân viên khai thác quảng cáo trực tuyến chuyên nghiệp. Hiệu quả quảng cáocũng rất khó đo lường vì nhà quảng cáo cũng không được cung cấp các công cụ theodõi xem hiệu quả do banner quảng cáo của họ đến đâu. Trong khi đó, các website thu 75
    • hút quảng cáo lớn ở nước ngoài đều cung cấp cho khách hàng của họ những công cụtheo dõi hiệu quả quảng cáo.Các chỉ số cơ bản để đánh giá khả năng thu hút bạn đọc của website là số lượt ngườitruy cập (visitor), số lượt người truy cập thường xuyên (unique visitor) và số trangbình quân được xem (pages view) tính theo tháng, năm hầu như không có báo nàocung cấp chính xác. Đây là các thông số được các công ty quảng cáo quốc tế xem làtiêu chuẩn đánh giá sức hấp dẫn của một website.Trong khi đó, nhiều báo điện tử Việt Nam lại chủ yếu dựa vào thông tin xếp hạng củawebsite Alexa.com để giới thiệu với khách hàng quảng cáo. Về cơ bản, bảng tổng sắpthứ hạng của Alexa phản ánh tương đối chính xác. Tuy nhiên, do website này chỉ cungcấp số hit (mỗi visitor có thể tạo ra hàng ngàn hit) nên không thể đánh giá chính xác sốvisitor. Mặt khác, phần mềm do website này cung cấp (Alexa toolbar) đều bị cácchương trình chống virus xếp vào loại phần mềm gián điệp (spyware) và không chohoạt động. Đo lƣờng hiệu quả quảng cáo trực tuyếnTrên thực tế, quảng cáo trực tuyến có thể ghi nhận gần như đầy đủ và chính xác quátrình người dùng tương tác trang web, từ đó cho biết đặc tính và số lượng cụ thểcủa từng hành động hoặc đối tượng web tham gia quá trình tương tác với ngườidùng. Nói đơn giản, người dùng truy cập vào một trang bất kỳ trên trang web(bằng cách truy vấn địa chỉ URL) đồng nghĩa với tạo ra một lượt xem, còn gọi làlượt truy cập (pageview/hit). Mỗi lượt truy cập đều được ghi nhận kèm theo ngàygiờ cụ thể. Với mỗi lần ghé thăm trang web, người dùng có thể truy cập nhiều trangkhác nhau, nghĩa là tạo ra nhiều lượt xem. Mỗi lần như vậy được gọi là phiên truycập (visit/session), gồm nhiều lượt xem, mỗi lượt xem ứng với một trang. Xét trongkhoảng thời gian xác định, có thể đếm được lượng người truy cập, họ ghé thămtrang web bao nhiêu lần, tổng cộng đã xem bao nhiêu trang.Với mỗi phiên truy cập, trang đầu tiên người dùng vào xem gọi là trang khởi đầu(Entry page), trang cuối cùng gọi là trang kết thúc (Exit page). Ngoài ra, các trangtừ đó có đường link chuyển đến trang kế tiếp gọi là trang chuyển hướng (Referrer).Nếu bạn có một đường link hay banner đặt trên trang web, hành động nhấn vào đógọi là Click-through. Tỉ lệ giữa số lần đường link được nhấn vào chia cho số lầnđường link được xem gọi là Click-through Rate (CTR). Mặt khác, đối với từng trang,chúng ta biết được bao nhiêu trường hợp trang đó chỉ được xem một lần duy nhấttrong suốt phiên truy cập. Nghĩa là, sau khi xem trang đầu tiên, người dùng khôngxem tiếp trang nào nữa (hành động này gọi là Bounce). 76
    • Trong trường hợp này, có thể người dùng chỉ vô tình ghé qua hoặc bị ép buộc vàotrang web mà chưa có chủ ý truy cập. Từ đó, ta tính được tỉ lệ Bounce Rate của toànbộ trang web, dựa vào đó tính được số lượt truy cập thực tế từ những người dùngthường xuyên. Bên cạnh đó, mỗi hành động của người dùng trên trang web, ví dụtìm thông tin hay tải tài liệu, được gọi là sự kiện (Event). Ta có thể định sẵn kịchbản gồm nhiều sự kiện nối tiếp nhau để xem xét tỉ lệ chuyển đổi (Conversion Rate)hành vi người dùng qua từng sự kiện. Tuy nhiên, các chỉ số này nếu đứng riêng lẻkhông thể giúp ta phân tích thông tin chi tiết về người dùng theo nhiều tiêu chíkhác nhau. Thực tế cho thấy, cần khai thác số liệu theo kiểu báo cáo động như vậymới giải quyết được những yêu cầu cụ thể của công việc. Bằng cách ghi nhận hànhđộng trong suốt phiên truy cập của từng người dùng, so sánh với các kịch bản dựngsẵn, người phân tích số liệu dễ dàng xác định được độ vênh giữa cách người dùngsử dụng trang web so với dự kiến, từ đó đề ra các biện pháp điều chỉnh hợp lý.Quảng cáo trực tuyến có nhiều ưu điểm so với quảng cáo thông thường như: rẻ, có khảnăng thống kê phân tích thông tin, dễ triển khai, v.v. Tuy nhiên quảng cáo trực tuyếntại Việt Nam chưa phát huy được thế mạnh vốn có do một số nguyên nhân:- Các tờ báo điện tử tự đưa ra các chuẩn về kích cỡ ô quảng cáo (banner) và định dạng(format). Các đơn vị đi quảng cáo thường gặp khó khăn và tốn kém trong việc phảithiết kế nhiều banner và nhiều định dạng nếu muốn quảng cáo trên nhiều kênh. Thờigian triển khai do đó cũng bị kéo dài.- Không có thông tin chính xác dẫn đến những đầu tư không hiệu quả.- Nhiều kích cỡ banner và định dạng còn dẫn đến những khó khăn trong việc thu thậpthống kê và phân tích hiệu quả quảng cáo.- Các thông tin giúp nâng cao nhận thức về quảng cáo trực tuyến phần lớn cho các đơnvị đi chào quảng cáo là các tờ báo điện tử đưa ra. Thông tin mang hơi hướng quảngcáo nên kém tính thuyết phục đối với doanh nghiệp, do đó hiệu quả tuyên truyền chưacao.Các nguyên nhân trên dẫn đến những nghi ngờ về vai trò và hiệu quả của quảng cáotrực tuyến. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến các tờ báo điện tử về nguồn thu, đồngthời còn ảnh hướng đến chính các doanh nghiệp vì không tận dụng kênh hiệu quả giúpphát triển doanh nghiệp.Đã đến lúc lĩnh vực này cần đến một đơn vị trung gian đo kiểm kết quả truy cập vàhiệu quả thông tin trên từng trang quảng cáo trực tuyến một các chính xác và kịp thờiđể hỗ trợ thông tin cho bạn đọc và các doanh nghiệp dễ dàng ra quyết định trong khiđặt quảng cáo. Đơn vị trung gian này sẽ cung cấp các nguồn thông tin chính xác, độc 77
    • lập giúp nâng cao nhận thức và vai trò của quảng cáo trực tuyến; giúp các doanhnghiệp lựa chọn và ra quyết định; thống kê, phân tích và đánh giá độc lập về các kênhquảng cáo trực tuyến đặc biệt là các tờ báo điện tử.Ngoài ra, công tác tuyên truyền, đào tạo các đơn vị đi quảng cáo, các công ty môi giớiquảng cáo, các kênh cung cấp quảng cáo giúp phát huy hiệu quả quảng cáo và pháttriển ngành quảng cáo trực tuyến cần được chú trọng hơn.Kích thước và định dạng quảng cáo cần được thúc đẩy chuẩn hóa, chẳng hạn các báođiện tử có thể hợp tác phát triển, xây dựng và áp dụng hệ thống chuẩn chung.3. Tình hình ứng dụngTheo nghiên cứu gần đây của Yahoo và Neilsen, chỉ tiêu cho quảng cáo online ở khuvực Đông Nam Á sẽ đạt 200 triệu USD vào năm 2010 và đạt tốc độ tăng trưởngnhanh nhất trong năm tới. Cuộc khảo sát được thực hiện tại năm quốc gia bao gồmSingapore, Malaysia, Indonesia, Thái lan và Việt Nam nhằm đưa ra dự báo về chỉ tiêucho quảng cáo display và tìm kiếm (SEO) trong hai năm tới. (Theo MarketingInteractive 2.2009)Nhìn vào biểu đồ ta thấy, các doanh nghiệp đang chuyển dần tài chính sang mảng tiếpthị trực tuyến và giảm dần đầu tư cho tiếp thị truyền thống. Điều này chứng tỏ hiệu 78
    • quả mà tiếp thị trực tuyến mang lại cho doanh nghiệp là đáng ghi nhận. Tiếp thị trựctuyến đang ngày càng chứng tỏ được thế mạnh và hiệu quả của mình mang lại trongquá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Doanh nghiệp trong nước cũng tỏ ra khá nhạy bén với kênh truyền thông mới. PepsiCo là một doanh nghiệp điển hình ứng dụng công nghệ microsite trong chiến dịchquảng bá sản phẩm mới của mình. Pepsi Tƣ in t SửuTet Co Truyen la sự kiên quan trong nhat trong nam vơi moi ngươi Viêt Nam,ngươi ta san sang danh ra hai thang lương đê chi tiêu cho dip le nay. Theo motnghiên cưu cua TNS, nam 2007, doanh so ban hang cua cac mat hang nươc ngottăng trưởng 328% trong dip Tet am lich so vơi thơi gian trươc đo. Them vao đo, tiep thi van hoa - xu hương tiep thi ket hợp vơi cac yeu to van hoa truyen thongđang ngay cang trở nên phô bien ở Viêt Nam. Tat ca nhưng đieu đo la ly do đenhan hang Pepsi tung ra chien dich marketing 3600 Kham pha Tet cực đôc đaovơi Pepsi Tư Linh , trong đo trung tam la cac hoat đông marketing trực tuyen.Thực hiên c i n dichĐê thực hiên chương tr nh nay, nhan hang bat đau bang vie c khởi tao môtmicrosite la mot trang phu cua trang web pepsiworld.com.vn. Sau đo, cac hoatđông quang ba cho chien dich đeu co đương link dan đen microsite bao gom: đatbanner va rich media banner. Cac kenh truyen thong được lựa chon đê quang batâp trung chu yeu la cac trang bao đien tử, cac trang web âm nhac, cac mang xahôi danh cho giơi tre, bao gom kênh14.vn, mp3.zing.vn, anhso.net, ngoisao.net,yeal1.com.vn, vnexpress.net… Song song vơi cac hoat đông nay, Pepsi con khuyenkh ch cac thanh vien truy cap sử dung widget đê quang ba thương hiêu.Đán giá t quaChien dich quang ba bang rich media đa thanh cong rực rơ thê hiên ở viêc thu hutđược hơn 120.000 lượt ngươi ghe tham microsite, trong đo hơn 82 la khachmơi. Sau môt thang khởi đông chien dich, so lượt xem cac banner rich media lahơn 22 triêu lượt vơi khoang bon trieu ngươi xem, tương đương vơi so tan suat la6 lan xem/ngươi sử dung. Ti lê so ngươi xem mau quang cao rich media nhan vaođương link đen microsite (CTR) cao hơn so vơi ti lê nay ở cac mau banner thôngthương. Chăng han ở trang web E va M, hai so lieu nay lan lượt la 8,84 va 1 .Cung trong chien dich nay, lan đau tien Pepsi đa sử dung viêc quang ba bangwidget tai Viêt Nam. Cac thanh vien cua microsite đa 508 lan tai widget vơi 4.488tam ecard được gửi đi, tông so lượt truy câp la 6.572, ti lê so ngươi chi vao trang 79
    • đau tien đat 66,49%. Thơi gian lưu lai trung b nh cua môt ngươi dung tren trangnay đat 6’34 . Trong suot ba tuan dien ra chien dich, viêc sử dung widget đêquang ba khong nhưng khien cac ban tre thay th ch thu vơi nhan hang, ma congop phan tao cho ngươi sử dung môt thoi quen mơi khi nhân va gửi ecard bangcông cu mơi me nay. t qua hoat đông cua microsite trong thơi gian di n ra c i n dich Tông so phien truy cap: 154.719 Lượt truy câp: 506.400 So trang xem trong môt phiên truy câp: 3,27 Ti lê ngươi dung chi truy câp vao trang đau tien: 67,81 Thơi gian lưu lai trung b nh: 2’51 Ti lê ngươi mơi ghe tham: 82,28Nhưng con so tren đay cho thay chien di ch online marketing cua Pepsi trong dipTet Ky Sửu đa thanh cong rực rơ. Song đang sau thanh cong nay khong the khongnhac đen cac hoat đông marketing offline ram ro ma nhan hang đa tien hanhnhư: TVC, PR, cac hoat đông k ch hoat thương hiêu… Đieu đo cho thay, viêc t chhợp cac cong cu truyen thong va hien đai la mot tat yeu đơi vơi cac nhan hangmuon tao ra sự công hưởng manh me tren con đương chinh phuc khach hangmuc tiêu.Nguồn: Tạp chí Marketing Việt Nam, số 4-2009, trang 37Có thể nhận thấy doanh nghiệp, cá nhân rất tích cực quảng bá thương hiệu thông quamạng xã hội. Quảng cáo hiển thị (đặc biệt là hiển thị banner) là hình thức quảng cáođược sử dụng rộng rãi nhất trên các mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay do nó mang lạihiệu quả cao nhờ khả năng hiển thị thông điệp quảng cáo khá tốt. Đây cũng là hìnhthức quảng cáo đơn giản, tiết kiệm thời gian quản lý cho doanh nghiệp. Minh họa một số mẫu quảng cáo hiển thị Flash quảng cáo trên danh sách bạnBanner quảng cáo trên diễn đàn muare.vn bè của Yahoo Messenger 80
    • Sự phổ biến của Facebook hiện đang thu hút nhiều doanh nghiệp trong quảng báthương hiệu. Hình thức quảng cáo hiển thị được nhiều doanh nghiệp sử dụng trong cácchiến dịch quảng cáo của mình. Chẳng hạn, Samsung đã thực hiện các chiến dịchquảng cáo nhắm vào đối tượng là những người trẻ sử dụng mạng xã hội này. Thươnghiệu này đã liên tục xuất hiện trên Facebook cho mỗi chiến dịch quảng cáo sản phẩmmới cùng nhiều hình thức khuyến mãi hấp dẫn. Minh họa một quảng cáo của Samsung trên Facebook Chiến dịch quảng cáo của Baomoi Mobi trên facebook Mục tiêuQuảng bá hình ảnhHỗ trợ cho chiến dịch khai trươngHỗ trợ marketing cùng với các kênh khác đạt con số đều đặn (trong khoảng thờigian chạy quảng cáo): ít nhất 1000 người sử dụng Baomoi Mobi mới trong mộtngày 81
    • Phƣơng thứcSử dụng Facebook Ads trỏ tới trang http://baomoi.mobi vớithông điệp: Dế bèo đọc báo vi vu và nội dung miêu tả là Xuhướng đọc tin mới không thể chối từ dành cho hầu hết các loạiđiện thoại . Hình ảnh sử dụng là đồng nhất với hình ảnh củaBaomoi Fan Page Kết quảSau hơn hai tuần chạy thử, có hơn 30 triệu Impression, số lượng click (nhấp chuột)khoảng gần 20.000. Số lượng Click/Impression đồng đều so với độ tuổi. Ngườinhấp chuột từ 18-24 tuổi chiếm khoảng 60%, 25-34 tuổi chiếm khoảng 34%, sốcòn lại là 35-54 tuổi. Nữ hiện ra impression nhiều hơn nam (theo đúng tỷ lệ giữanam nữ trên Facebook nói chung) nhưng nam nhấp chuột nhiều hơn nữ. BaomoiMobi đạt chỉ tiêu có 1000 người sử dụng mới mỗi ngày.Nguồn: Baomoi Mobi cung cấp Đánh giá hiệu quả của quảng cáo hiển thị trên Facebook của VinabookVinabook: Quảng cáo hiển thị trên facebook chưa chứng minh được sự vượt trội sovới các hình thức quảng cáo trực tuyến khác, ví dụ như quảng cáo bằng từ khóa(targeted keywords ads), không hiệu quả để mang lại lượng truy cập lớn. Tỷ lệ nhấpCTR (Cost-through Rate) tương đối thấp, chỉ 0,05-0,07%. Chi phí gần tương đươngvới quảng cáo banner ở các báo điện tử lớn. Tuy nhiên lượng khách hàng đến từFacebook có chất lượng và động cơ mua hàng tốt hơn một số nguồn khác như bannertừ các site nội dung. Tỉ lệ chuyển đổi (conversion rate - ở đây là đặt mua hàng) từnguồn Facebook trung bình từ 1,6 - 2,8%.Nguồn: Vinabook cung cấpTuy nhiên, sự xuất hiện dày đặc của những banner, flash quảng cáo, v.v… trên cácmạng xã hội hiện đang gây dị ứng quảng cáo cho người xem. Những banner quảngcáo, mặc dù vẫn được đánh giá là cách quảng cáo phổ biến và hiệu quả nhất hiện nay,càng ngày càng ít được chú ý do phải cạnh tranh tần suất và vị trí xuất hiện giữa chínhcác banner với nhau.Diễn đàn là nơi chứng kiến mô hình quảng cáo tương tác đầu tiên ở Việt Nam, với mộtsố diễn đàn nổi bật như www.muare.vn, www.5giay.vn, webtretho.com, enbac.com,v.v… Doanh nghiệp hoặc cá nhân có thể lập chủ đề (topic) để bán hàng hoặc quảngcáo dịch vụ của mình và trực tiếp trao đổi, giao lưu với khách hàng trên topic. Việc lậpcác topic để quảng cáo hay giới thiệu sản phẩm hoàn toàn miễn phí, nhưng các topicnày sẽ bị đẩy lùi xuống các trang sau mỗi khi có các chủ đề mới được lập ra hoặc khi 82
    • các chủ đề cũ có những bài viết mới. Từ đó nảy sinh nhu cầu sở hữu các "topic dính".Đó là topic luôn nằm cố định ở khu vực riêng đầu trang 1 của các chuyên mục nênhiệu quả quảng cáo cũng lớn hơn rất nhiều. Hiện nay, nhu cầu lưu thông tin quảng cáosử dụng topic dính tại các diễn đàn đang rất cao, nhất là các diễn đàn lớn có số lượngtruy cập cao.Muare.vn là một trong những website có hoạt động đấu giá “topic dính” nhộn nhịpnhất vì số lượng thành viên cũng như khách truy cập luôn lên đến con số hàng nghìn.Bắt đầu từ tháng 8/2008, khi nhu cầu sở hữu topic dính tăng cao, ban quản trị websitemuare.vn quyết định tổ chức đấu giá công khai các topic dính trên diễn đàn này. Hoạtđộng đấu giá này diễn ra hai tháng một lần, mỗi lần kéo dài 24h, từ 12h trưa hôm trướcđến 12h trưa hôm sau, với thủ tục để tham gia đấu giá tương đối đơn giản. Quy định đấu giá topic dính của muare.vnNick tham gia đặt giá phải là nick đã kích hoạt SMS. Không được phép spam hayhỏi đáp trong topic đấu giá ngoài việc đặt giá, nếu vi phạm sẽ khóa nick tối thiểu 3ngày.- Giá đặt khi đấu giá là cho 1 tháng. Khi thanh toán thì nhân đôi giá đã đặt (do thờigian dính topic là 2 tháng).- Trong reply đặt giá đầu tiên phải để lại thông tin liên hệ: Số điện thoại di động(bắt buộc) và nick Yahoo hoặc E-mail.- Được phép đặt giá nhảy n lần bước giá (ví dụ giá cao nhất đang là 550k, có thể đặtgiá 800k) đơn vị làm tròn theo bước giá, 1 nick được phép đặt giá nhiều lần, lần đặtgiá sau phải cao hơn lần đặt giá trước, nếu không sẽ coi đặt giá sau là không hợp lệ.- Người đặt giá sau có thể đặt giá thấp hơn người đặt giá trước (để tránh tình trạngphá giá), nếu người đặt giá cao hơn bỏ thì người sau sẽ được chọn thay thế. Nhữngđặt giá nào hợp lệ mà bỏ thì sẽ bị khóa nick 1 tháng.- Khi đã đặt giá thì không được phép sửa lại nội dung reply đã đặt mà phải tạoreply mới- Đúng 12 giờ 00 trưa ngày cuối cùng của phiên đấu giá, phiên đấu giá sẽ kết thúc,những đặt giá được hệ thống ghi nhận từ 12 giờ 01 trở đi sẽ bị loại. Trường hợp khihết giờ có 2 đặt giá hợp lệ bằng tiền nhau thì sẽ chọn đặt giá nào trả giá sớm hơn vànằm trên.Một số diễn đàn như 5giay.vn, webtretho.com, v.v… không áp dụng hình thức đấu giánhư muare.vn mà có mức giá cố định cho “topic dính” được gắn cố định ở vị trí đầutiên của mỗi chuyên trang với mức giá đa dạng tùy theo từng chuyên mục. Các diễn 83
    • đàn này cũng đang thu hút một lượng khách hàng lớn có nhu cầu quảng bá thươnghiệu.Như đề cập ở phần trước, các doanh nghiệp cũng quan tâm tới hình thức quảng cáotương tác lập tài khoản riêng trên các mạng xã hội:Facebook: Trên thế giới có không ít tập đoàn lớn đã tận dụng triệt để Facebook đểquảng bá thương hiệu của mình, trong đó nổi tiếng hơn cả là các thương hiệu nhưStarbucks, Coca Cola, Ford, v.v… Xu hướng này cũng bắt đầu được các doanh nghiệpở Việt Nam chú ý. Các doanh nghiệp đã nhận thấy rằng nếu quảng cáo trên Facebooksẽ có số lượng khách hàng tiềm năng ghé thăm rất lớn thay vì những chiến lược PRkhác tốn kém hơn rất nhiều. Và hơn nữa thông qua hình thức này các doanh nghiệp sẽnhận thấy những nhu cầu của khách hàng dễ dàng hơn. Chẳng hạn, hãng Dell chinhánh Việt Nam đã thành lập trang facebook của Dell với tên gọiwww.facebook.com/dellvietnam để kết nối với khách hàng, với số lượng “fan” lên tớihơn 3.300; trang facebook của Vinabook (http://www.facebook.com/vinabook) cũngcó lượng “fan” lên tới hơn 2.200. Số lượng “fan” đông đảo này, cộng với mạng lướiquan hệ của họ, sẽ là đối tượng khách hàng tiềm năng rất lớn cho doanh nghiệp.Cyworld: Tính đến tháng 12 năm 2009, “ngôi nhà” dành cho mỹ phẩm LacvertEssance của công ty trên mạng Cyworld đã thu hút hàng trăm nghìn lượt ghé thăm,hơn 22.000 “hàng xóm” và hơn 18.000 “lưu bút” của người xem.YouTube: Nhiều doanh nghiệp đã tận dụng chức năng này để đăng tải các đoạn phim,video clip quảng cáo sản phẩm, dịch vụ của mình. Minh họa video clip quảng cáo tên YouTube Quảng cáo Yahoo! Việt Nam trên Quảng cáo Vinamilk trên Youtube YouTube 84
    • Twiter: Ở Việt Nam cũng đã xuất hiện tài khoản của một số doanh nghiệp và của cảcác mạng xã hội khác trên Twitter như Baomoi, Vinapay, Clip.vn, Buzz.vn, YanTV,TuVinhSoft, LinkHay, v.v… Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Twitter vẫn chưa thậtsự phổ biến tại Việt Nam.Theo đà phát triển hiện tại của các công cụ trực tuyến, mạng xã hội không còn là mộttrong nhiều lựa chọn mà đã trở thành một nhân tố tất yếu của bán hàng, tiếp thị và gâydựng thương hiệu.Bên cạnh mạng xã hội, báo điện tử là nơi thu hút nhiều doanh nghiệp trong việc quảngbá thương hiệu của mình. Mặc dù, như phân tích ở phần trên, các báo chưa cung cấpđược công cụ theo dõi hiệu quả quảng cáo, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn dành mộtphần ngân sách của mình để thực hiện quảng cáo trên phương tiện này. Đặc biệt cácbáo có lượng truy cập lớn như Vnexpress, Dantri.com, Vietnamnet.vnCó thể nhận thấy những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin,viễn thông, phát triển thương mại điện tử hoặc những sản phẩm, dịch vụ hướng đếnkhách hàng là doanh nhân, cư dân mạng... quan tâm đến quảng cáo trên Internet nhiềuhơn. Hầu hết banner, logo trên các báo điện tử hiện nay thuộc về ngân hàng, nhà cungcấp dịch vụ mạng viễn thông, công ty chuyên kinh doanh linh kiện thiết bị máy tính,thiết bị kỹ thuật số… Quảng cáo trực tuyến của Siêu thị điện thoại chính hãng Axmobile.comQuảng cáo trực tuyến trên các báo điện tử chiếm hơn 30% chi phí quảng cáo củacông ty. Loại hình này cho phép kết nối dễ dàng, nhanh chóng đến trang chủ củacông ty chỉ cần click chuột. Lượng người truy cập vào website tăng đáng kể cùnglúc với khách hàng đến siêu thị đông hơn. Tuy nhiên, chúng tôi phải cân nhắc rấtkỹ trước khi quyết định tăng thêm chi phí quảng cáo trên mạngKhi chọn đăng ký dịch vụ quảng cáo trên các trang trực tuyến, doanh nghiệp thườngchú trọng vào các tiêu chí như: thứ hạng của website, lượng người truy cập, đối tượngcủa nhà cung cấp dịch vụ, nội dung, hình thức thông tin, giá cả… Hiện nay, một sốdoanh nghiệp nắm bắt được xu hướng tìm kiếm thông tin trên Internet của giới tiêudùng hiện đại, đề ra chiến lược cụ thể và lên kế hoạch đầu tư chi tiết. Tùy thời điểm,kế hoạch quảng bá, thị trường mục tiêu và đối tượng mà sản phẩm, dịch vụ nhắm đếnthuộc giới trẻ hay doanh nhân thành đạt… mà doanh nghiệp chọn lựa nội dung thôngtin hiển thị cũng như website quảng cáo cho phù hợp. Quảng cáo theo tuần, tháng, quýhay năm phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh cũng như thời hạn khuyến mãi củadoanh nghiệp. Minh họa quảng cáo trên Vnexpress.net 85
    • Minh họa quảng cáo trên dantri.com.vn4. Nhu cầu về dịch vụ e-marketingNguồn: yahoo.comTheo một nghiên cứu về xu hướng sử dụng Internet tại thị trường Việt Nam do tậpđoàn Yahoo! công bố ngày 20/5/2010 xu hướng đọc báo điện tử đang dần trở nên phổ 86
    • biến đối với người dân Việt Nam. Số người sử dụng internet để đọc tin tức trực tuyếnđã tăng từ 89% trong năm 2008 lên 97% trong năm 2009. Đọc tin tức trực tuyến hiệnlà hoạt động online phổ biến nhất ở tất cả các nhóm tuổi và giới tính.Dưới đây là một số kết quả quan trọng khác trong cuộc nghiên cứu:- Xu hướng truy cập internet tại gia đình đã tăng từ 66% năm 2008 lên 71% năm 2009để trở thành hình thức truy cập internet phổ biến nhất.- Tỷ lệ truy cập từ internet cafe đã giảm từ 53% năm 2008 xuống còn 42% năm 2009.- Với việc bùng nổ công nghệ 3G tại thị trường VN trong thời gian gần đây, số lượngngười dùng truy cập internet bằng điện thoại đã tăng đột biến. Cụ thể chỉ trong vòngmấy tháng đầu năm 2010, số lượng người sử dụng 3G đã tăng gấp ba lần so với cuốinăm 2009.- Số lượng người mua hàng qua mạng cũng đã tăng từ 4% năm 2008 lên 11% năm2009.- Các mạng xã hội đang tiếp tục phát triển mạnh tại VN. Trong đó, các hoạt động chiasẻ nội dung và tham gia các diễn đàn trực tuyến hiện đang là hình thức hoạt động phổbiến.Một cuộc khảo sát khác do Yahoo! và công ty nghiên cứu truyền thông TNS tiến hànhvới 1.200 người tuổi trên 15 cho thấy có đến 30% người sử dụng Internet vào các trangweb xem banner quảng cáo. Quảng cáo trực tuyến của các sản phẩm như điện thoại diđộng, máy tính, máy in, xe máy,v.v… thu hút nhiều lượt truy cập của người sử dụng.Tỷ lệ các loại quảng cáo trên Internet đƣợc ngƣời dùng click vào xem 87
    • Nguồn: TNSViệt Nam hiện giờ là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng số lượng ngườidùng Internet đứng đầu thế giới. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tháng 7/2010, sốngười sử dụng Internet tại thời điểm cuối tháng 7/2010 đạt 25,1 triệu người. Ngườitiêu dùng hiện nay thường có thói quen tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhautrên Internet trước khi đưa ra một quyết định nào đó. Do vậy, Internet đang trở thànhmột trong những chiến lược quảng bá thương hiệu chủ yếu để các doanh nghiệp cạnhtranh cùng đối tác và thu hút khách hàng tiềm năng.Từ những số liệu trên, có thể thấy Việt Nam hiện là một thị trường tiềm năng choquảng cáo trực tuyến. Trong bối cảnh môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt,nhiều doanh nghiệp đang tìm hướng đi mới, có hiệu quả hơn và chi phí hợp lý, tiếp thị,quảng cáo trực tuyến là chính một giải pháp tốt, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừavà nhỏ, không có nhiều chi phí cho quảng cáo.Gần đây, sự thành công của một số chương trình quảng cáo trực tuyến như “DutchLady – Ngày của mẹ”, “Tìm em nơi đâu” của Close up, “Happiness Factory” củaCoca-Cola… đã có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp vận dụng nhiều hơn phươngthức tiếp thị, quảng cáo trực tuyến trong những kế hoạch sắp tới của mình.Bên cạnh đó, sự phát triển của hạ tầng công nghệ và thương mại điện tử, sự hoàn thiệncủa hệ thống thanh toán, bán hàng qua mạng và gia tăng của hoạt động mua bán trênmạng sẽ tạo nền tảng thúc đẩy sự phát triển của hoạt động quảng cáo trực tuyến. Dođó, trong thời gian tới, nhu cầu quảng cáo trực tuyến của doanh nghiệp Việt Nam sẽngày càng tăng. Để đáp ứng tốt nhu cầu này, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cần nângcao chất lượng dịch vụ, giới thiệu các công nghệ mới, và cần đầu tư cho công cụ đo 88
    • hiệu quả quảng cáo để người mua có thể theo dõi hiệu quả thông qua các báo cáochính xác và khách quan. 89
    • CHƢƠNG IV: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊI. Giải pháp về ứng dựng và triển khai hoạt động e-marketing tại doanh nghiệp1. Xây dựng và triển khai đồng bộ1.1. Xác định mục tiêuĐối với bất kỳ một hoạt động nào thì việc xác định mục tiêu là một công việc hết sứccần thiết. Khi công ty đưa ra được những mục tiêu rõ ràng, công ty sẽ lựa chọn đượcnhững giải pháp phù hợp để đạt được mục tiêu đó. Nhưng trên thực tế chỉ ra rằng, córất nhiều công ty, đặc biệt là công ty kinh doanh trực tuyến đang rất bối rối trong việcxác định mục tiêu. Mục tiêu của họ đưa ra thường không rõ ràng và họ sử dụng cáccông cụ quảng cáo một cách tự phát.Trước khi tiến hành những thay đổi trong hoạt động e-marketing, công ty cần làm rõmột số vấn đề như: Tại sao công ty muốn xuất hiện trên môi trường trực tuyến? Mụctiêu là gì? Lợi thế và lợi nhuận mong đợi là gì?Mục tiêu của hoạt động e-marketing được tóm gọn trong 5 chữ S bao gồm: Sell (Bánhàng – dùng Internet như là một công cụ bán hàng); Serve (Phục vụ - dùng Internetnhư là một công cụ dịch vụ khách hàng); Speak (Truyền thông - dùng Internet như làmột công cụ giao tiếp); Save (Chi phí – dùng Internet như là một công cụ cắt giảm chiphí) và Sizzle (Mở rộng thương hiệu trực tuyến)Khi công ty đặt mục tiêu vào bán hàng với một mục tiêu điển hình có thể là: tăngdoanh số bán hàng trực tuyến, ví dụ: tạo ra ít nhất 10% doanh thu từ hoạt động bánhàng trực tuyến trong vòng 6 tháng hoặc doanh thu từ hoạt động bán hàng trực tuyếntăng 100 triệu trong tháng 12/2010. Khi đó công ty có thể tiếp tục chia mục tiêu nàythành những mục tiêu nhỏ hơn. Chẳng hạn như để đạt được doanh số bán hàng trựctuyến trong tháng 12/2010 có nghĩa rằng công ty của bạn phải thu hút được 1000khách hàng trực tuyến với mức chi tiêu trung bình là 100 nghìn.Đối với mục tiêu là phục vụ, công ty có thể đạt được mục tiêu này thông qua việc giatăng lợi ích cho khách hàng trực tuyến hoặc thông báo với khách hàng về cải tiến củasản phẩm thông qua đối thoại trực tuyến và thông tin phản hồi. Khi công ty đặt phụcvụ là mục tiêu hàng đầu thì công ty có thể đưa ra một số mục tiêu cụ thể như: Tăngtính tương tác giữa các nội dung khác nhau trên trang web; Tăng lượng khách hàngchủ động sử dụng dịch vụ trực tuyến lên 30%; Tăng thời lượng truy cập vào trangweb…Với mục tiêu truyền thông thì công ty có thể tạo ra những cuộc đối thoại trực tuyếnthông qua trang web, tiến hành nghiên cứu thị trường trực tuyến thông qua các bảngcâu hỏi khảo sát và các diễn đàn. Tiếp cận với khách hàng trực tuyến thông qua các 90
    • hoạt động truyền thông trực tuyến. Chẳng hạn, công ty có thể đưa ra mục tiêu là: Mỗitháng khảo sát được 1000 khách hàng trực tuyến; Tăng xếp hạng/đánh giá và bình luậnlên 5%...Mục tiêu “Tiết kiệm chi phí” đạt được thông qua việc giảm chi phí thiết kế in ấn, chiphí tiền lương nhờ việc ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động sản xuất, kinhdoanh. Đối với mục tiêu này, công ty có thể đưa ra các mục tiêu chi tiết như: Giảm chiphí hoạt động marketing trực tiếp xuống 15% bằng việc tiến hành sử dụng email vàquảng cáo trực tuyến; Giảm chi phí phục vụ xuống 10% nhờ việc nỗ lực đáp ứng cácyêu cầu về dịch vụ thông qua web…Đối với mục tiêu “Mở rộng thương hiệu trực tuyến”, công ty có thể đưa ra những đềxuất và trải nghiệm trực tuyến để thu hút khách hàng song song với các hoạt độngkhông trực tuyến.1.2. Lựa chọn phạm vi ứng dụngDựa vào mục tiêu e-marketing của công ty, các nhà tiếp thị sẽ lên kế hoạch chi tiết vềphạm vi ứng dụng. Công ty có thể sẽ chỉ sử dụng các công cụ của e-marketing đểquảng bá hình ảnh thương hiệu. Nhưng có công ty sẽ sử dụng để quảng cáo cho cácloại sản phẩm của mình. Mà mỗi loại sản phẩm lại có những đặc tính khác nhau nênmức độ ứng dụng e-marketing khác nhau. Có những chương trình quảng cáo sản phẩmmới, công ty chỉ cần tiến hành gửi email cho những đối tượng khách hàng thân thiết vàđăng tải thông tin giới thiệu trên các diễn đàn, forum. Nhưng bên cạnh đó có nhữngmặt hàng đòi hỏi công ty phải sử dụng thêm các công cụ quảng cáo khác như: đặtBanner trên các trang web có tiếng, quảng cáo bằng cách đặt link text, đăng tải videogiới thiệu về sản phẩm lên các trang mạng xã hội.1.3. Lựa chọn công cụTrước khi quyết định sử dụng công cụ nào trong hoạt động e-marketing, công ty cầnxác định xem đối tượng nào sẽ là tập khách hàng mục tiêu (người sẽ nhận thông điệpquảng cáo của công ty), nghiên cứu những chấp nhận của tập người nhận trọng điểmvể mặt hàng, nghiên cứu những chấp nhận về hình ảnh của công ty. Tiếp theo đó, côngty phải ấn định mục tiêu cho một chương trình tiếp thị và quyết định ngân sách thực thichương trình đó.Và từ cơ sở trên, các nhà tiếp thị của công ty mới có thể phân tích vàlựa chọn công cụ quảng cáo phù hợp với đặc điểm của sản phẩm để thực thi kế hoạche-marketing.Mỗi một công cụ quảng cáo trực tuyến đều có những ưu thế riêng và sẽ mang lại chocông ty một hiệu quả nhất định. Trong quá trình xây dựng kế hoạch e-marketing, côngty nên phối kết hợp cùng một lúc nhiều công cụ quảng cáo, công cụ này hỗ trợ công cụkia thì hiệu quả mang lại sẽ cao hơn nhiều. Điều quan trọng ở đây là công ty phải xác 91
    • định được cách thức kết hợp và phân bổ chi phí giữa các công cụ quảng cáo trựctuyến. Chẳng hạn như, trong giai đoạn giới thiệu sản phẩm mới, công ty ngoài việcđưa thông tin giới thiệu về sản phẩm lên trang web chính thức của công ty, công ty cóthể kết hợp với việc quảng cáo bằng Banner trên các trang web lớn như VnExpress,Ngoisao, Enbac…, quảng cáo trên công cụ tìm kiếm Google, Yahoo!. Và ngân sáchquảng cáo chia theo tỷ lệ 1:3:3.1.4. Thiết kế sản phẩmViệc thiết kế sản phẩm là một công việc hết sức quan trọng cần nhận được sự quantâm đúng mức của công ty. Đặc biệt trong môi trường trực tuyến, một môi trường cótính đặc thù riêng đòi hỏi công ty càng phải chú trọng vào hoạt động thiết kế sảnphẩm.Thế giới trực tuyến được biết đến là nơi cung cấp rất nhiều cơ hội mới. Do vậy, khithiết kế sản phẩm các công ty nên trả lời một số câu hỏi liên quan đến sản phẩm như:  Lợi ích mà công ty cung cấp cho khách hàng?  Sản phẩm có thể cung cấp trực tuyến không?  Những lợi ích được cung cấp trực tuyến?  Công ty bạn kinh doanh cái gì? Có thể cung cấp trực tuyến không?Bất kỳ một sản phẩm hay dịch vụ nào đều có thể tìm thấy một vài giá trị gia tăng trựctuyến. Công ty có thể kinh doanh bất kỳ một sản phẩm, dịch vụ nào đấy, chứ khônggiới hạn ở sản phẩm số hóa hay dịch vụ số hóa. Trong thực tế chỉ ra rằng sản phẩmcàng phức tạp, cơ hội trực tuyến càng nhiều, kể từ khi chúng ta nhận thấy nhu cầu vềgiáo dục, đào tạo, thử nghiệm, cài đặt và dịch vụ, mà phần lớn trong số đó có thể tíchhợp trực tuyến. Sự hiện diện trực tuyến có thể dùng để kết nối với các tùy chọn choquá trình lựa chọn sản phẩm phức tạp. Người truy cập đưa ra yêu cầu và những môhình phủ hợp được chỉ định sử dụng Rich Internet Application (RIA), trong trườnghợp này là nhờ công nghệ Adobe Flex dựa trên Flash. Trong khi các ứng dụng này cóthể cung cấp một trải nghiệm hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của khách hàng nhờ sửdụng công cụ tìm kiếm, kể từ khi công cụ tìm kiếm có thể lập chỉ mục và liên kết đếntrang sản phẩm cụ thể.Khi thiết kế sản phẩm, các công ty nên để người tiêu dùng chủ động tham gia vào quátrình thiết kế sản phẩm bằng cách lôi kéo người tiêu dùng trả lời các câu hỏi. Công tycủa bạn có thể tham khảo một số câu hỏi như: Tôi có thể hỗ trợ khách hàng bằng cáchnào? Những thông tin tập khách hàng mục tiêu tìm kiếm? Bằng cách nào tôi có thể tiếtkiệm thời gian cho khách hàng? Bằng cách nào tôi có thể gia tăng giá trị cho kháchhàng khi họ truy cập vào trang web?..... 92
    • Đề xuất giá trị trực tuyến bằng cách nào đó củng cố được giá trị thương hiệu cốt lõi vàtóm tắt một cách rõ ràng những lợi ích mà khách hàng nhận được khi mua hàng trựctuyến mà họ không thể có được ở nơi khác. Đây là một nhiệm vụ và yêu cầu đòi hỏicông ty phải xem xét một cách cẩn thận về nhu cầu của khách hàng, mức độ cạnhtranh, thế mạnh của công ty và nguồn lực sẵn có.1.5. Đào tạo nội bộTrong bối cảnh áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt, các công ty phải không ngừng nỗlực nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, nhân viên bằng cách thường xuyên đàotạo lại một cách sâu rộng. Và e-marketing cũng là một lĩnh vực cần được chú trọngđào tạo cho toàn thể các nhân viên trong công ty, đặc biệt là nhân viên của phòngMarketing.Khi công tác đào tạo nội bộ được tiến hành tốt, sẽ mang lại cho công ty và nhân viênrất nhiều lợi ích. Đối với công ty, công tác đào tạo này giúp công ty tăng khả năng sinhlời, tiết kiệm chi chí trong hoạt động marketing, thiết lập được mối quan hệ thân thiếtvới khách hàng…Còn đối với các nhân viên, quá trình được đào tạo sẽ giúp họ tăngkiến thức chuyên môn, giúp họ đưa ra những quyết định chính xác hơn khi lựa chọncác công cụ e-marketing…Tùy thuộc vào điều kiện và khả năng tài chính, các công ty sẽ lựa chọn một loại hìnhđào tạo phù hợp. Hiện nay có 2 loại hình đào tạo chính là: đào tạo tại chỗ và đào tạo ởbên ngoài.Đào tạo tại chỗ là hình thức đào tạo được tổ chức dưới dạng trao đổi kỹ năng ở dạngchính thức thành lớp, khóa học hoặc là đào tạo ngay trong quá trình làm việc. Hìnhthức đào tạo này giúp công ty tiết kiệm được chi phí, thời gian, mang lại lợi ích cho cảcông ty và nhân viên, nhưng lại có những rào cản riêng đó là: giảng viên đào tạo chínhlà các cán bộ quản lý của công ty, họ có thể rất giỏi về chuyên môn nhưng không đượcđào tạo bài bản về phương pháp truyền đạt, trong khi để đạt được hiệu quả cao,phương pháp giảng dậy được coi là yếu tố hàng đầu.Khi tiến hành đào tạo, công ty phải biết cách kích thích sự sáng tạo của nhân viên bằngcách sử dụng nhiều hình thức truyền thụ thích hợp cho từng loại nghiệp vụ như bàigiảng, chiếu hình, băng video, tự nghiên cứu, tổ chức hội thảo. Bên cạnh đó, công tycũng cần lưu ý rằng, việc đào tạo tại chỗ cần được lập kế hoạch, sắp xếp và ghi chépcẩn thận giống như đào tạo tại các lớp học.Đào tạo ở bên ở bên ngoài là hình thức công ty tạo điều kiện để nhân viên tham gia cáckhóa học tại các cơ sở đào tạo bên ngoài như trường học, trung tâm đào tạo. Khi lựachọn loại hình đào tạo này, các công ty cần lưu ý trong việc chọn trung tâm. Chỉ cónhững trung tâm có uy tín mới giúp công ty bạn nâng cao kiến thức cho đội ngũ cán 93
    • bộ, nhân viên. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều trung tâm đào tạo về e-marketingkhiến công ty bạn gặp khó khăn trong công tác chọn lựa. Nhưng tốt nhất là công ty củabạn nên chọn các khóa đào tạo được cung cấp bởi các trường đại học hoặc các trungtâm có tiếng như VietNam Narcom, Arti Việt Nam, BMN International Education…Sau khi đào tạo, công ty cần phải chú trọng vào công tác đánh giá hiệu quả của chươngtrình đào tạo. Các tiêu thức đánh giá phải hướng đến một số vấn đề như: Phản ứng củangười được đào tạo đối với nội dung và quy trình đào tạo; Kiến thức cũng như nhữngđiều học hỏi được qua chương trình đào tạo; Những thay đổi về hành vi nhờ có sự đàotạo; Các kết quả hoặc sự tiến bộ đo được trong bản thân mỗi một học viên và cũng nhưcủa cả công ty như sự luân chuyển lao động ít hơn, tai nạn giảm xuống thấp hơn,người lao động vắng mặt ít hơn.Tiêu thức Kiểm tra Đã đào tạo Kiểm tra Làm việc Tiếp tụcđánh giá trước khi xong sau khi đào tạo đào tạo đào tạoCác bước đánh giá chương trình đào tạo1.6. Phát triển sản phẩm và thương hiệuKhi môi trường cạnh tranh giữa các nhà cung cấp ngày càng quyết liệt thì thương hiệusẽ đóng một vai trò hết sức quan trọng. Thương hiệu giúp công ty tạo dựng hình ảnhvà sản phẩm trong tâm trí người tiêu dùng. Ngoài ra, thương hiệu còn có rất nhiều cácvai trò khác như: thương hiệu chính là một lời cam kết giữa doanh nghiệp và kháchhàng; thương hiệu giúp công ty phân đoạn thị trường; thương hiệu còn là yếu tô tạonên sự khác biệt trong quá trình phát triển của sản phẩm….Trong kinh doanh để tạo dựng được thương hiệu là một việc rất khó, nhưng việc duytrì và phát triển thương hiệu còn là một công việc khó hơn nhiều. Quá trình phát triểnthương hiệu sẽ bao gồm rất nhiều các hoạt động liên tục gắn chặt với nhau nhằm nuôidưỡng và cố định hình ảnh trong tâm trí khách hàng, tạo cơ hội để thu hút ngày càngnhiều khách hàng biết đến, chấp nhận, ghi nhớ và có thái độ tích cực đối với thươnghiệu của công ty.Muốn thương hiệu ngày càng phát triển, các công ty cần xây dựng được một chiếnlược truyền thông và quảng cáo hiệu quả. Chính vì vậy mà các nhà làm marketing cầncân nhắc thật kỹ lưỡng khi lựa chọn phương tiện quảng cáo.Quảng cáo điện tử là hình thức ngày một phổ biến và được các công ty sử dụng trongquá trình phát triển thương hiệu. Hoạt động này thường bắt đầu từ việc xây dựng trangweb và hệ thống thư điện tử của công ty. Các công ty cần lưu ý một điều rằng: giaodiện của trang web phải nhất quán với hình ảnh của thương hiệu trong hệ thống nhận 94
    • diện thương hiệu. Nó phải đồng nhất và không khác biệt so với các yếu tố thương hiệukhác được truyền tải. Đối với hình thức quảng cáo bằng email, công ty cần phải chú ýđến việc lựa chọn chủ đề sao cho thật hấp dẫn và lập sẵn một danh sách các địa chỉemail của đối tượng khách hàng mục tiêu. Ngoài hình thức quảng cáo bằng trang webvà hệ thống thư điện tử, công ty có thể lựa chọn một số hình thức quảng cáo khác như:quảng cáo Banner trên các trang web lớn, quảng cáo trên công cụ tìm kiếm, quảng cáotài trợ, quảng cáo bằng điện thoại…Tuy nhiên, chí phí của các loại hình quảng cáo nàylà khá lớn, không thích hợp với phần đông các công ty vừa và nhỏ. Nhưng nói nhưvậy không có nghĩa là các công ty không thể lựa chọn phương tiện quảng cáo điện tử.Công ty có thể lập ra một danh sách địa chỉ email để trao đổi đối với các khách hàngtrung thành, sử dụng các bản tin điện tử hay lập ra các diễn đàn để khách hàng trao đổivề sản phẩm và đặc tính của thương hiệu.1.7. Chăm sóc khách hàngTìm hiểu khách hàng là nền tảng thành công của hoạt động tiếp thị. Những nhà tiếp thịgiỏi là những người nắm bắt được tâm lý của tập khách hàng mục tiêu. Dường như họphải đi guốc trong bụng người tiêu dùng. Tìm hiểu về khách hàng trực tuyến thậm chícòn quan trọng hơn do sự khác biệt về địa lý và văn hóa. Khách hàng trực tuyến có đặcđiểm và thái độ khác về quá trình tìm kiếm thông tin và mua hàng trực tuyến.  Quá trình mua hàng trực tuyến và truyền thống nhìn chung là giống nhau. Mỗi giai đoạn của quá trình mua hàng đều cần sự hỗ trợ của cả hoạt động trực tuyến và truyền thống.  Quá trình mua hàng có 6 giai đoạn bao gồm: Xác định nhu cầu; Tìm kiếm thông tin; Đánh giá; Quyết định; Hành động và Dịch vụ sau bán.Công ty cần tìm ra cách để phối hợp các hoạt động truyền thống với các hoạt động trựctuyến để hỗ trợ khách hàng trong suốt quá trình mua hàng. Các phƣơng p áp c ăm sóc ác àngNhững chỉ dẫn về website: Việc chăm sóc khách hàng không chỉ được thực hiện saubán hàng, mà công ty cần phải thực hiện trước và trong khi bán. Chính vì vậy, cáccông ty bán hàng trực tuyến nên đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng và minh bạch vềcách thức sử dụng trang web. Hãy hướng dẫn cho họ một cách để bổ sung thêmhàng hóa vào giỏ hàng của họ, cách thức đặt hàng và xem xét sản phẩm, phươngthức thanh toán và vận chuyển.Trả lời câu hỏi của khách hàng: Mục FAQ rất dễ thiết kế nhưng lại mang lại hiệu quảtrong việc trả lời câu hỏi của khách hàng một cách nhanh chóng. Nhưng có một lưuý rằng, công ty của bạn phải trả lời câu hỏi của khách hàng một cách thường xuyên. 95
    • Bởi vì, khi khách hàng đưa ra câu hỏi mà không nhận được câu trả lời thì sẽ khiếnkhách hàng cảm thấy thất vọng và không hài lòng.Diễn đàn: là một công cụ chăm sóc khách hàng tuyệt vời. Bất kỳ một khách hàngnào cũng có thể tham gia diễn đàn và trả lời câu hỏi của khách hàng khác đặt ra.Hỗ trợ bằng email: công ty chỉ phải chi một khoản chi phí thấp nhưng hiệu quả đemlại cao. Tuy nhiên, khi sử dụng email để hỗ trợ khách hàng cần chú ý đưa ra mốcthời gian phục vụ, nghĩa là tổng thời gian cho một câu trả lời mà bạn có thể cungcấp qua email cho khách hàng.Hỗ trợ qua điện thoại: khi công ty có quy mô lớn thì công ty có thể xem xét phươngpháp này. Việc tạo ra một số điện thoại hỗ trợ có thể sẽ mang lại độ tin cậy chocông ty. Số điện thoại hỗ trợ thể hiện công ty bạn luôn sẵn sàng trả lời mọi thắc mắccủa khách hàng miễn phí.Hỗ trợ kiểm tra hàng: Công ty hãy cung cấp cho khách hàng phương thức theo dõiđơn hàng của họ. Sau khi gói hàng đã được chuyển đi, hãy cung cấp cho khách hàngmột số hiệu theo dõi và một đường kết nối tới hệ thống theo dõi của công ty vậnchuyển.2. Một số vấn đề cần lƣu ý trong quản lý và phát huy hiệu quả hoạt độngemarketing2.1. Vấn đề pháp lýQuảng cáo trực tuyến đã bắt đầu phát triển tại Việt Nam trong vài năm gần đây. Cáchình thức quảng cáo trực tuyến chủ yếu vẫn là thông qua đặt banner, logo trên cáctrang thông tin điện tử có lượng truy cập lớn. Bên cạnh đó, xuất hiện hình thức quảngcáo gửi thư trực tiếp vào email cho các khách hàng, quảng cáo bằng tin nhắn thông quađiện thoại di động. Hoạt động mua bán địa chỉ thư điện tử và số điện thoại di động chomục đích quảng cáo vẫn chưa được diễn ra dưới sự quản lý của pháp luật. Do khôngsự chọn lọc đối tượng khách hàng kỹ lượng và việc phát tán thư quảng cáo hàng loạtgây nhiều nhiều phiền toán cho khách hàng. Các tin quảng cáo này thường bị xóa vàkhông gây được ấn tượng với khách hàng. Nhiều người còn sử dụng các phần mềm lọcđể lấy địa chỉ email của người dùng các trang tin. Do đó, quảng cáo trực tuyến khôngđạt được kết quả như mong đợi. Chính vì thế, quảng cáo trực tuyến hiện cần điềuchỉnh bởi pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người dùng, nhà cung cấp.Hiện nay, các quy định liên quan đến loại hình quảng cáo này còn khá sơ lược và chưatheo kịp sự phát triển nhanh chóng của hoạt động quảng cáo trên thực tế. Có thế nóihiện nay chưa có văn bản pháp quy nào trực tiếp điều chỉnh lĩnh vực quảng cáo trựctuyến. 96
    • Việc xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp trong quảng cáo trực tuyến cũng là mộtvấn đề cần ưu tiên đối với cơ quan quản lý nhà nước trong thời gian tới. Trên thực tế,việc thiếu cơ chế giải quyết tranh chấp khiến cho nhà cung cấp dịch vụ e ngại khi đưara các công nghệ mới cũng như cách tính phí phù hợp, đồng thời khiến cho doanhnghiệp có nhu cầu quảng cáo trực tuyến e ngại đầu tư vào hình thức quảng cáo này.Vấn đề này khi được pháp luật điều chỉnh sẽ giúp các bên tham gia vào thị trườngquảng cáo trực tuyến tin tưởng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động này.2.2. Vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhânThông tin cá nhân là bất kỳ thông tin nào để xác định được hay có thể xác định đượcdanh tính của một cá nhân cụ thể. Trong thời gian vừa qua, với sự phát triển của côngnghệ thông tin, đặc biệt là Internet, các giao dịch thương mại điện tử tăng mạnh, khốilượng thông tin trao đổi ngày càng nhiều. Tuy nhiên, những vi phạm liên quan đếnthông tin cá nhân cũng ngày một nhiều hơn, gây tâm lý e ngại cho cá nhân, tổ chức khitham gia giao dịch thương mại điện tử. Theo kết quả khảo sát của Bộ Công Thươngtrong năm 2007, vấn đề bảo mật, an toàn thông tin cá nhân được đánh giá là cản trởlớn nhất đối với phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam.Công nghệ thông tin và truyền thông, kể cả công nghệ di động kết nối với Internet vàcác hệ thống thông tin khác cho phép con người có thể thu thập, lưu trữ và tiếp cậnthông tin từ mọi nơi trên thế giới. Những công nghệ này mang đến nhiều lợi ích kinhtế, xã hội cho các cá nhân, doanh nghiệp, nhà nước và toàn xã hội, đa dạng hoá phạmvi lựa chọn của người tiêu dùng, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng caonăng suất lao động, đổi mới giáo dục, cải tiến sản phẩm, v.v… Những công nghệ hiệnđại cho phép con người kết nối, thu thập và sử dụng khối lượng thông tin đồ sộ nhưngchưa hậu thuẫn cho việc xác định danh tính của những người tham gia các hoạt độngđó. Hệ quả là khó có biện pháp quản lý dữ liệu cá nhân và người ta ngày càng trở nênquan ngại hơn về những thiệt hại có thể xảy ra do dữ liệu cá nhân của họ bị lạm dụnghoặc sử dụng sai mục đích. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và thúc đẩy thực thinhững cơ chế trao đổi thông tin tin cậy và phù hợp trong các giao dịch trực tuyến cũngnhư ngoại tuyến là yêu cầu cấp bách nhằm tăng cường niềm tin của cộng đồngdoanh nghiệp và người tiêu dùng đối với thương mại điện tử. Những quy định pháp lýhạn chế hay ràng buộc quá mức cần thiết đối với việc trao đổi thông tin đều có tác độngtiêu cực đối với sự phát triển kinh tếĐể bảo đảm quyền lợi chính đáng của mỗi cá nhân đối với quyền riêng tư, cần xâydựng các cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân để ngăn ngừa việc sử dụng thông tin trái phép.Cần quy định trách nhiệm cụ thể đối với việc thu thập, sử dụng, chuyển giao dữ liệu cánhân, trong đó có tính đến thiệt hại có thể phát sinh từ việc sử dụng thông tin trái phép, 97
    • đồng thời xây dựng các biện pháp chế tài phù hợp đối với mức độ thiệt hại có thể xảyra.Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nàođiều chỉnh các hành vi liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân một cách hệ thống. Vấn đềđặt ra hiện nay đối với cơ quan quản lý nhà nước là cần phải hoàn thiện khung pháp lývề bảo vệ dữ liệu cá nhân nói chung và đối với các hoạt động trên môi trường mạngnói riêng. Việc xây dựng luật bảo vệ dữ liệu cá nhân là cần thiết nhằm bảo vệ công dânkhỏi sự tổn hại; tạo môi trường thúc đẩy hợp tác quốc tế và sự tin cậy với các đối tácthương mại. Việc xây dựng các cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân hợp lý để tránh nhữngthiệt hại do thông tin cá nhân bị xâm nhập bất hợp pháp và bị lạm dụng. Bên cạnh đó,công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nướcvà cộng đồng về bảo vệ dữ liệu cá nhân phải được chú trọng. Đồng thời, cần tăngcường năng lực cho các cơ quan hoạch định chính sách, các cơ quan thực thi pháp luậtvề bảo vệ dữ liệu cá nhân.Cần phải xây dựng văn bản pháp quy quy định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của nhàquản lý thông tin đối với các thông tin cá nhân. Nhà quản lý thông tin cá nhân có nghĩavụ bảo vệ dữ liệu cá nhân mà họ lưu trữ bằng những biện pháp bảo đảm an ninh, antoàn hợp lý nhằm ngăn chặn mọi rủi ro đối với thông tin cá nhân, ví dụ như mất hoặctiếp cận thông tin trái phép; hoặc phá huỷ, sử dụng, sửa chữa, tiết lộ thông tin tráiphép hay các hành vi bất hợp pháp khác. Tuỳ theo mức độ và cấp độ đe doạ thiệt hại,tuỳ theo tính nhạy cảm của thông tin cá nhân và bối cảnh mà thông tin được lưu trữ,nhà quản lý thông tin phải đưa ra những biện pháp bảo vệ phù hợp và thường xuyên ràsoát, kiểm tra, đánh giá hiệu quả của công tác này.2.3. Khai thác thế mạnh cộng đồngViệt Nam chứng kiến sự bùng nổ của các hình thức xã hội ảo, từ bộ lọc xã hội (socialfiltering), nguồn dữ liệu từ đám đông (crowd sourcing), bộ đánh dấu xã hội (socialbook marking), đến các blog và tiểu blog (microblogging) như myspace.com,facebook.com, zing.vn, yume.vn, tamtay.vn, cyvee.com. Đây là công cụ mới để doanhnghiệp và những người làm tiếp thị tiếp cận với thị trường và khách hàng mục tiêuthông qua các hình thức marketing trực tuyến (E – marketing). Marketing trên internetkhông phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, dù lớn hay nhỏ thì bất cứ doanhnghiệp nào cũng có thể tiến hành hoạt động marketing và trao đổi với khách hàng trêntoàn thế giới”.Các kênh tiếp thị số như Internet, blog, mạng xã hội, qua điện thoại di động có chi phírẻ hơn cả trăm lần so với quảng cáo truyền thống, có “độ phủ” rất rộng và hiệu quả caonhưng vẫn chưa được các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng và đầu tư phát triển. Do đó,cần nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về lợi ích của việc khai thác quảng cáo đối 98
    • với các mạng xã hội nhằm mở rộng kênh tiếp xúc với khách hàng và xây dựng hìnhảnh doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể tiến hành chiến dịch tiếp thị trên diện rộng,tiếp cận và tương tác với hàng triệu người dùng nhờ ứng dụng các loại hình marketingsố như email marketing, web marketing, blog marketing, SMS marketing, mobilemarketing, SEO marketing, social net-working marketing, banner marketing, articlesonline marketing.v.v2.4. Nâng cao nhận thức xã hộiThực trạng là có một số doanh nghiệp Việt Nam đang có xu hướng mở các kênh tiếpthị số, chủ yếu là qua website của doanh nghiệp nhưng hình thức, nội dung thể hiệncòn hạn chế, chưa hấp dẫn và chưa tạo ra được nét độc đáo riêng, hiệu quả tiếp thị cònthấp. Một số doanh nghiệp xây dựng website theo phong trào, chưa chú ý đầu tư chiềusâu. Do đó, các website này có hình ảnh đơn giản, nội dung nghèo nàn, ít được cậpnhật và không gây được ấn tượng đối với khách hàng.Chi phí cho các quảng cáo đặt trên trang thông tin điện tử với lượng truy cập lớn là rấtnhiều.Để các quảng cáo này gây được chú ý với khách hàng thì các nhà thiết kế quảngcáo phải chú ý đến các yếu tố sau: - Tiêu đề của quảng cáo: Tiêu đề của quảng cáo cần hấp dẫn. Ngôn từ trong tiêu đề quảng cáo cần cô đọng và súc tích vì đây là yêu tố quyết định hơn 70% sự thành công của quảng cáo. Hãy chi tiết hoá, đừng đưa ra những thông tin chung chung - Nội dung của quảng cáo cần quan tâm đến các lợi ích của khách hàng khi sử dụng sản phầm và dịch vụ chứ không phải là những đặc tính của sản phẩm.Cần nhấn mạnh sự chú ý của người tiêu dùng vào bảo hành. Bảo hành sẽ góp phần tăng doanh thu bán hàng.Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa ý thức được rõ các lợi ích từ việc quảng cáo tới cáccộng đồng mạng nên vẫn chưa đầu tư thích đáng về nhân lực và tài chính cho hoạtđộng quảng cáo trực tuyến. Doanh nghiệp vẫn chưa phát huy được hết các lợi ích từcác hội chợ trực tuyến, sàn giao dịch trong việc quảng bá sản phẩm và tìm kiếm kháchhàng.Do đó, việc tuyên truyền, phổ biến về phương thức marketing trực tuyến, các lợi íchmà nó mang lại cho doanh nghiệp là cần thiết. Ứng dụng marketing trực tuyến vàohoạt động sản xuất kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp quảng bá hình ảnh, tìm kiếm đốitác kinh doanh thuận tiện, không bị phụ thuộc vào không gian và thời gian2.5. Phát triển đồng bộ các thành tố thương mại điện tửTheo khảo sát của Bộ Công Thương năm 2009, các trở ngại mà doanh nghiệp gặptrong ứng dụng thương mại điện tử bao gồm: môi trường xã hội và tập quán kinh 99
    • doanh; nhận thức của người dân về thương mại điện tử thấp; anh ninh mạng chưa đảmbảo; hệ thống thanh toán điện tử chưa phát triển, môi trường thanh toán điện tử chưahoàn thiện; nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; dịch vụ vận chuyển và giao nhậncòn yếu. Dù đã có nhiều nỗ lực nhằm cải thiện tình hình, tuy nhiên các trở ngại nàyvẫn chưa được giải quyết triệt để và đang cản trở quá trình ứng dụng thương mại điệntử trong doanh nghiệp, cản trở sự phát triển của thương mại điện tử. Các kiến nghị từphía doanh nghiệp nhằm nhận được sự hỗ trợ của nhà nước loại trừ các khó khăn, trởngại trong ứng dụng thương mại điện tử bao gồm: tuyên truyền, phổ biến về TMĐT;đào tạo nguồn nhân lực TMĐT; hoàn thiện chính sách, pháp luật; cải thiện vấn đề antoàn, an ninh mạng; phát triển giái pháp thanh toán trực tuyến; hỗ trợ hệ thống vậnchuyển và giao nhận. Như vậy, việc các vấn đề này được giải quyết sẽ tạo thuận lợicho sự phát triển của thương mại điện tử, từ đó sẽ thúc đẩy các hoạt động ứng dụngmôi trường Internet, bao gồm quảng cáo trực tuyến.Ngoài ra, một thành tố khác trong thương mại điện tử cần được phát triển là chuẩn ứngdụng trong thương mại điện tử. Việc áp dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn, đầu tưphát triển công nghệ và các tiêu chuẩn chung sử dụng chung trong thương mại điện tử,đặc biệt là chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử (EDI và ebXLM), sẽ tạo thuận lợi hóa chocác hoạt động thương mại. Hiện nay, các bộ, ngành đã tích cực triển khai xây dựng vàphổ biến tiêu chuẩn công nghệ phục vụ việc ứng dụng thương mại điện tử cho cơ quanquản lý và doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhận thức về công nghệ trong thương mại điện tửcủa doanh nghiệp chưa cao, mới chỉ có một số doanh nghiệp lớn tiếp cận và triển khaicác ứng dụng này vào hoạt động sản xuất kinh doanh.II. Khuyến nghị 1. Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nƣớcCoi tiếp thị trực điện tử là một trong những hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp triển khai,đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong các kế hoạch phát triển liên quan tớithương mại điện tử giai đoạn 2011-2015.Luôn khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp ứng dụng, triển khai tiếp thị điện tử nhằmcắt giảm chi phí, tận dụng nguồn lực, từ đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của cảdoanh nghiệp và nền kinh tế.Đưa tiếp thị điện tử vào nội dung tập huấn cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệpvừa và nhỏ tại địa phương nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng một phươngthức kinh doanh mới. 2. Khuyến nghị đối với doanh nghiệp triển khai e-marketingVai trò của doanh nghiệp trong công tác triển khai và ứng dụng tiếp thị trực tuyếnđược coi như nhân tố quan trọng nhất. Doanh nghiệp chính là chủ thể cần nắm rõ các 100
    • nội dung liên quan đến tiếp thị điện tử nhằm tạo ra chiến lược tiếp thị đúng đắn, đúngthời điểm, đúng cách và đúng đối tượng. Vì vậy, nhóm chuyên gia xây dựng đề tài đặcbiệt nhấn mạnh nhân tố doanh nghiệp trong suốt quá trình nghiên cứu, xử lý và triểnkhai tiếp thị điện tử. Để triển khai tiếp thị điện tử thành công, doanh nghiệp cần lưu ýmột số điểm như sau:Dành thời gian nghiêm túc nghiên cứu về phương thức tiếp thị mới trong bối cảnh củatừng doanh nghiêp và đặc thù sản phẩm, dịch vụ của đơn vị mình, từ đó, đề xuất địnhhướng ứng dụng và phát triển.Dành nguồn lực thỏa đáng trong bộ phận tiếp thị của doanh nghiệp để phát triển kênhtiếp thị điện tử và xác định đây là hướng đi tất yếu của hoạt động tiếp thị trong thời đạiInternet.Đánh giá đúng vai trò của kỹ sư tin học trong hoạt động chuyên môn của tiếp thị điệntử.Một trong những đặc điểm nổi bật của tiếp thị điện tử là tính tương tác giữa doanhnghiệp và khách hàng, vì vậy, doanh nghiệp cần có sự đầu tư về “chất” nhiều hơn phầnchi phí bỏ ra để triển khai một chiến lược tiếp thị điện tử. 3. Khuyến nghị đối với ngƣời tiêu dùngNếu như doanh nghiệp đóng vai trò then chốt trong công tác triển khai thì khách hànghay người tiêu dùng cuối cùng chính là thước đo thành công của mỗi chiến lược tiếpthị nói chung và tiếp thị điện tử nói riêng. Chính vì vậy, người tiêu dùng cần tỉnh táovà khách quan trong việc tiếp nhận và đánh giá nhằm đem lại khuynh hướng phát triểnlành mạnh cho phương thức tiếp thị mới. 101
    • TÀI LIỆU THAM KHẢOTÀI LIỆU TIẾNG VIỆT1. Philip Kotler (Biên dịch: PTS.Phan Thăng, PTS. Vũ Thị Phượng, Phan Văn Chiến), Marketing căn bản, NXB Thống kê 19992. Ts.Phạm Thu Hương và Ths.Nguyễn Văn Thoan, Ứng dụng Marketing điện tử trong kinh doanh thương mại, NXB Khoa học và Kỹ thuậtTÀI LIỆU TIẾNG ANH3. Judy Strauss và Raymond Frost, E-Marketing, Prentice Hall 20004. Jan Zimmerman, Web Marketing for Dummies, 2nd edition, pp.170-1745. David Chaffey and PR Smith, eMarketing eXcellence, 3rd edition, p.261WEBSITE6. http://amazon.com7. http://www.emarketer.com8. http://www.emarketing.com9. http://www.google.com10. http://vn.yahoo.com11. http://facebook.com/12. http://me.ring.vn/13. http://vnexpress.net/14. http://iab.net/ 102