Your SlideShare is downloading. ×
Sắc Xuân
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×

Saving this for later?

Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime - even offline.

Text the download link to your phone

Standard text messaging rates apply

Sắc Xuân

366
views

Published on

Thơ Đặng Văn Phú

Thơ Đặng Văn Phú

Published in: Spiritual

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
366
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Sắc xuân thơ
  • 2. Ts. Đặng văn phúSắc xuânThơ Lục bát hai chiều Thuận nghịch độcnhà xuất bản văn học Hà Nội - 2012
  • 3. Lời thưa Hai chiều thuận nghịch dám làm Lục bát tách bốn thích ham diệu huyền Đam mê xúc cảm tạo nên Lưu thêm kỳ tích đẹp nền văn chương. Một mình gắng sức thân thương Tâm hồn lắng đọng vấn vương lâu dài Tạo nên nền tảng tương lai Mọi người thưởng thức miệt mài đêm thâu Cảm ơn nhận xét sắc sâu Động viên tác giả đi đầu thành công. Để bạn đọc dễ hiểu, Tác giả tách một bài thơ lụcbát hai chiều thuận nghịch độc thành 4 bài lục bát:Bài 1: Đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.Bài 2: Đọc từ phải sang trái, từ dưới lên trên.Bài 3: Đọc từ phải sang trái, từ trên xuống dưới.Bài 4: Đọc từ trái sang phải, từ dưới lên trên. Toàn tập thơ gồm 53 bài, Tác giả tách thành 212 bài.Thể thơ khó và nhiều mới mẻ nên không tránh khỏithiếu sót, mong nhận được sự ưu ái và cảm thôngcủa bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn! ts. đặng văn phú 5
  • 4. Sắc xuân Đào mai lẫn quyện chim đàn Cao bay vào chốn sắc xuân xoay vần Trao đưa báu vật nước dân. Dân nước vật báu đưa trao Vần xoay xuân sắc chốn vào bay cao Đàn chim quyện lẫn mai đào.6 Sắc xuân
  • 5. Đàn chim quyện lẫn mai đàoVần xoay xuân sắc chốn vào bay cao Dân nước vật báu đưa trao. Trao đưa báu vật nước dânCao bay vào chốn sắc xuân xoay vần Đào mai lẫn quyện chim đàn. ts. đặng văn phú 7
  • 6. Nhân nghĩa Nhân nghĩa thắm đượm người đời Phần thêm an ổn đẹp lời vui tươi Phân tâm ẩn hiện hợt hời. Hời hợt hiện ẩn tâm phân Tươi vui lời đẹp ổn an thêm phần Đời người đượm lắm nghĩa nhân.8 Sắc xuân
  • 7. Đời người đượm thắm nghĩa nhânTươi vui lời đẹp ổn an thêm phần Hời hợt hiện ẩn tâm phân. Phân tâm ẩn hiện hợt hời Phần thêm an ổn đẹp lời vui tươiNhân nghĩa thắm đượm người đời. ts. đặng văn phú 9
  • 8. Trời mây Trời mây quyện lẫn nước trong Ơi ai thời nhớ thắm nồng ước mong Vơi đầy tốt lúa vàng ong. Ong vàng lúa tốt đầy vơi Mong ước nồng thắm nhớ thời ai ơi Trong nước lẫn quyện mây trời.10 Sắc xuân
  • 9. Trong nước lẫn quyện mây trờiMong ước nồng thắm nhớ thời ai ơi Ong vàng lúa tốt đầy vơi. Vơi đầy tốt lúa vàng ongƠi ai thời nhớ thắm nồng ước mong Trời mây quyện lẫn nước trong. ts. đặng văn phú 11
  • 10. Hoa mai Bông tuyết trắng muốt hoa mai Trông ngắm đồng điệu sánh vai sắc tài Ông bà mãi thú hoa khai. Khai hoa thú mãi bà ông Tài sắc vai sánh điệu đồng ngắm trông Mai hoa muốt trắng tuyết bông.12 Sắc xuân
  • 11. Mai hoa muốt trắng tuyết bôngTài sắc vai sánh điệu đồng ngắm trông Khai hoa thú mãi bà ông. Ông bà mãi thú hoa khaiTrông ngắm đồng điệu sánh vai sắc tài Bông tuyết trắng muốt hoa mai. ts. đặng văn phú 13
  • 12. Làng xóm Đông vui bản xóm tràn lan Đồng tâm mong đợi vẹn toàn dân an Phong sương cố gắng vượt tràn. Tràn vượt gắng cố sương phong An dân toàn vẹn đợi mong tâm đồng Lan tràn xóm bản vui đông.14 Sắc xuân
  • 13. Lan tràn xóm bản vui đôngAn dân toàn vẹn đợi mong tâm đồng Tràn vượt gắng cố sương phong. Phong sương cố gắng vượt trànĐồng tâm mong đợt vẹn toàn dân an Đông vui bản xóm tràn lan. ts. đặng văn phú 15
  • 14. Bến đò Xưa xa nhớ mãi đầy đò Mùa qua đưa đón sóng to thăm dò Mưa rơi gánh nặng âu lo. Lo âu nặng gánh rơi mưa Dò thăm to sóng đón đưa qua mùa Đò đầy mãi nhớ xa xưa.16 Sắc xuân
  • 15. Đò đầy mãi nhớ xa xưaDò thăm to sóng đón đưa qua mùa Lo âu nặng gánh rơi mưa. Mưa rơi gánh nặng âu loMùa qua đưa đón sóng to thăm dò Xưa xa nhớ mãi đầy đò. ts. đặng văn phú 17
  • 16. Cô gái Việt Nam Xinh tươi đẹp gái Việt Nam Minh thông tình thắm việc làm mê đam Mình trong đức sáng xanh lam. Lam xanh sáng đức trong mình Đam mê làm việc thắm tình thông minh Nam Việt gái đẹp tươi xinh.18 Sắc xuân
  • 17. Nam Việt gái đẹp tươi xinhĐam mê làm việc thắm tình thông minh Lam xanh sáng đức trong mình. Mình trong đức sáng xanh lamMinh thông tình thắm việc làm mê đam Xinh tươi đẹp gái Việt Nam. ts. đặng văn phú 19
  • 18. Duyên tơ Duyên tơ bám sát lạ thường Yên bình miền đất thịnh cường ngát hương Hiền hòa đất biển yêu thương. Thương yêu biển đất hòa hiền Hương ngát cường thịnh đất miền bình yên Thường lạ sát bám tơ duyên.20 Sắc xuân
  • 19. Thường lạ sát bám tơ duyênHương ngát cường thịnh đất miền bình yên Thương yêu biển đất hòa hiền. Hiền hòa đất biển yêu thươngYên bình miền đất thịnh cường ngát hương Duyên tơ bám sát lạ thường. ts. đặng văn phú 21
  • 20. Thanh niên Hanh thông tiến bước vượt đầu Tranh đấu thành quả đức giàu trí sâu Lành an đất nước thỉnh cầu. Cầu thỉnh nước đất an lành Sâu trí giàu đức quả thành đấu tranh Đầu vượt bước tiến thông hanh.22 Sắc xuân
  • 21. Đầu vượt bước tiến thông hanhSâu trí giàu đức quả thành đấu tranh Cầu thỉnh nước đất an lành. Lành an đất nước thỉnh cầuTranh đấu thành quả đức giàu trí sâu Hanh thông tiến bước vượt đầu. ts. đặng văn phú 23
  • 22. Hoa sen Hồng sen mát dịu hồ trên Trông nom đồng ruộng lúa xen đẹp nền Sông nước sóng lướt êm êm. Êm êm lướt sóng nước sông Nền đẹp xen lúa ruộng đồng nom trông Trên hồ dịu mát sen hồng.24 Sắc xuân
  • 23. Trên hồ dịu mát sen hồngNền đẹp xen lúa ruộng đồng nom trông Êm êm lướt sóng nước sông. Sông nước sóng lướt êm êmTrông nom đồng ruộng lúa xen đẹp nền Hồng sen mát dịu hồ trên. ts. đặng văn phú 25
  • 24. Hoa hồng Hồng hoa sắc đẹp mượt mà Bông đơm lồng cánh đậm đà thơm xa Trồng vun đắp xới sương pha. Pha sương xới đắp vun trồng Xa thơm đà đậm cánh lồng đơm bông Mà mượt đẹp sắc hoa hồng.26 Sắc xuân
  • 25. Mà mượt đẹp sắc hoa hồngXa thơm đà đậm cánh lồng đơm bông Pha sương xới đắp vun trồng. Trồng vun đắp xới sương phaBông đơm lồng cánh đậm đà thơm xa Hồng hoa sắc đẹp mượt mà. ts. đặng văn phú 27
  • 26. Tam Đảo Mây sương quyện lẫn núi ngàn Đầy vơi may rủi vẹn an dây đàn Say mê tiết khí lan tràn. Tràn lan khí tiết mê say Đàn dây an vẹn rủi may vơi đầy Ngàn núi lẫn quyện sương mây.28 Sắc xuân
  • 27. Ngàn núi lẫn quyện sương mâyĐàn dây an vẹn rủi may vơi đầy Tràn lan khí tiết mê say. Say mê tiết khí lan trànĐầy vơi may rủi vẹn an dây đànMây sương quyện lẫn núi ngàn. ts. đặng văn phú 29
  • 28. Núi rừng Sương mây quyện lẫn núi rừng Thương yêu đường vượt đón mừng vượng hưng Vương tơ sợi nhớ rưng rưng. Rưng rưng nhớ sợi tơ vương Hưng vượng mừng đón vượt đường yêu thương Rừng núi lẫn quyện mây sương.30 Sắc xuân
  • 29. Rừng núi lẫn quyện mây sươngHưng vượng mừng đón vượt đường yêu thương Rưng rưng nhớ sợi tơ vương. Vương tơ sợi nhớ rưng rưngThương yêu đường vượt đón mừng vượng hưng Sương mây quyện lẫn núi rừng. ts. đặng văn phú 31
  • 30. Cà Mau Trời mây lướt sóng phương nam Vơi đầy thời nhớ sắc chàm màu lam Cười tươi dịu nhẹ thì thầm. thầm thì nhẹ dịu tươi cười Lam màu chàm sắc nhớ thời đầy vơi Nam phương sóng lướt mây trời.32 Sắc xuân
  • 31. Nam phương sóng lướt mây trờiLam màu chàm sắc nhớ thời đầy vơi Thầm thì nhẹ dịu tươi cười. Cười tươi dịu nhẹ thì thầmVơi đầy thời nhớ sắc chàm màu lam Trời mây lướt sóng phương nam. ts. đặng văn phú 33
  • 32. Nâng đỡ Nâng đỡ bé nhỏ tươi xinh Vàng quí mang đến sáng tinh đẹp hình Sang cao giữ được yên bình. Bình yên được giữ cao sang Hình đẹp tinh sáng đến mang quí vàng Xinh tươi nhỏ bé đỡ nâng.34 Sắc xuân
  • 33. Xinh tươi nhỏ bé đỡ nângHình đẹp tinh sáng đến mang quí vàng Bình yên được giữ cao sang. Sang cao giữ được yên bìnhVàng quí mang đến sáng tinh đẹp hình Nâng đỡ bé nhỏ tươi xinh. ts. đặng văn phú 35
  • 34. Mầm non Mầm tươi trí não trước sau Tâm trong đầm ấm sắc sâu tuyến đầu Làm nên sáng đẹp bền lâu. Lâu bền đẹp sáng nên làm Đầu tuyến sâu sắc ấm đầm trong tâm Sau trước não trí tươi mầm.36 Sắc xuân
  • 35. Sau trước não trí tươi mầmĐầu tuyến sâu sắc ấm đầm trong tâm Lâu bền đẹp sáng nên làm. Làm nên sáng đẹp bền lâuTâm trong đầm ấm sắc sâu tuyến đầu Mầm tươi trí não trước sau. ts. đặng văn phú 37
  • 36. Trẻ khuyết tật Đùa chơi múa nhảy vui cười Dua thêu mùa được đẹp đời xanh tươi Xua tan vợi bớt buồn vơi. Vơi buồn bớt vợi tan xua Tươi xanh đời đẹp được mùa thêu dua Cười vui nhảy múa chơi đùa.38 Sắc xuân
  • 37. Cười vui nhảy múa chơi đùaTươi xanh đời đẹp được mùa thêu dua Vơi buồn bớt vợi tan xua. Xua tan vợi bớt buồn vơiDua thêu mùa được đẹp đời xanh tươi Đùa chơi múa nhảy vui cười. ts. đặng văn phú 39
  • 38. Chợ canh Xanh vàng đủ loại nhiều màu Nhanh mua thành giá ước cầu bán mau Sành sỏi lựa chọn hàng đầu. Đầu hàng chọn lựa sỏi sành Mau bán cầu ước giá thành mua nhanh Màu nhiều loại đủ vàng xanh.40 Sắc xuân
  • 39. Màu nhiều loại đủ vàng xanhMau bán cầu ước giá thành mua nhanh Đầu hàng chọn lựa sỏi sành. Sành sỏi lựa chọn hàng đầuNhanh mua thành giá ước cầu bán mau Xanh vàng đủ loại nhiều màu. ts. đặng văn phú 41
  • 40. Yêu thương Yêu thương hiện rõ dỗi hờn Thêu dệt điều nhớ thả hồn nước non Khêu gợi cảm xúc vẹn tròn. Tròn vẹn xúc cảm gợi khêu Non nước hồn thả nhớ điều dệt thêu Hờn dỗi rõ hiện thương yêu.42 Sắc xuân
  • 41. Hờn dỗi rõ hiện thương yêuNon nước hồn thả nhớ điều dệt thêu Tròn vẹn xúc cảm gợi khêu. Khêu gợi cảm xúc vẹn trònThêu dệt điều nhớ thả hồn nước non Yêu thương hiện rõ dỗi hờn. ts. đặng văn phú 43
  • 42. Xuân sang Xuân sang đón nhận trăm hoa Tràn sương vân trắng thuận hòa nắng pha An lành mải miết ngâm nga. Nga ngâm miết mải lành an Pha nắng hòa thuận trắng vân sương tràn Hoa trăm nhận đón sang xuân.44 Sắc xuân
  • 43. Hoa trăm nhận đón sang xuânPha nắng hòa thuận trắng vân sương tràn Nga ngâm miết mải lành an. An lành mải miết ngâm ngaTràn sương vân trắng thuận hòa nắng pha Xuân sang đón nhận trăm hoa. ts. đặng văn phú 45
  • 44. Thọ cao Già rồi thọ tuổi gần trăm Xa thăm bà cháu tháng năm nhiều lần Xa gần nghĩa nặng lặng thầm. Thầm lặng nặng nghĩa gần xa Lần nhiều năm tháng cháu bà thăm xa Trăm gần tuổi thọ rồi già.46 Sắc xuân
  • 45. Trăm gần tuổi thọ rồi giàLần nhiều năm tháng cháu bà thăm xa Thầm lặng nặng nghĩa gần xa. Xa gần nghĩa nặng lặng thầmXa thăm bà cháu tháng năm nhiều lần Già rồi thọ tuổi gần trăm. ts. đặng văn phú 47
  • 46. Chơi vui Chơi vui múa nhảy đô sòn Tươi cười ngời sáng đắp dồn cháu con Đời đời tiếp bước vàng son. Son vàng bước tiếp đời đời Con cháu dồn đắp sáng ngời cười tươi Sòn đô nhảy múa vui chơi.48 Sắc xuân
  • 47. Sòn đô nhảy múa vui chơiCon cháu dồn đắp sáng ngời cười tươi Son vàng bước tiếp đời đời. Đời đời tiếp bước vàng sonTươi cười ngời sáng đắp dồn cháu con Chơi vui múa nhảy đô sòn. ts. đặng văn phú 49
  • 48. Giao lưu Đêm thâu đón nhận em anh Thêm vui mềm dẻo đọc nhanh thơ sành Xem ra thắm đượm tươi xanh. Xanh tươi đượm thắm ra xem Sành thơ nhanh đọc dẻo mềm vui thêm Anh em nhận đón thâu đêm.50 Sắc xuân
  • 49. Anh em nhận đón thâu đêmSành thơ nhanh đọc dẻo mềm vui thêm Xanh tươi đượm thắm ra xem. Xem ra thắm đượm tươi xanhThêm vui mềm dẻo đọc nhanh thơ sành Đêm thâu đón nhận em anh. ts. đặng văn phú 51
  • 50. Thi đàn người cao tuổi Việt Nam Thi đàn nét đẹp Việt Nam Thì thầm suy ngẫm việc làm sâu thâm Vi vu lắng đọng trong tâm. Tâm trong đọng lắng vu vi Thâm sâu làm việc ngẫm suy thầm thì Nam Việt đẹp nét đàn thi.52 Sắc xuân
  • 51. Nam Việt đẹp nét đàn thiThâm sâu làm việc ngẫm suy thầm thì Tâm trong đọng lắng vu vi. Vi vu lắng đọng trong tâmThì thầm suy ngẫm việc làm sâu thâm Thi đàn nét đẹp Việt Nam. ts. đặng văn phú 53
  • 52. Thu sang Hoa cúc đón nhận thu sang Hòa giao xoa dịu nắng vàng chuyển mang Đa tình đứng ngắm sao trăng. Trăng sao ngắm đứng tình đa Mang chuyển vàng nắng dịu xoa giao hòa Sang thu nhận đón cúc hoa.54 Sắc xuân
  • 53. Sang thu nhận đón cúc hoaMang chuyển vàng nắng dịu xoa giao hòa Trăng sao ngắm đứng tình đa. Đa tình đứng ngắm sao trăngHòa giao xoa dịu nắng vàng chuyển mang Hoa cúc đón nhận thu sang. ts. đặng văn phú 55
  • 54. Chơi thơ Chơi vui lắng đọng tâm hồn Thơi thảnh lời nói góp dồn yêu con Cười tươi xúc cảm vẹn tròn. Tròn vẹn cảm xúc tươi cười Con yêu dồn góp nói lời thảnh thơi Hồn tâm đọng lắng vui chơi.56 Sắc xuân
  • 55. Hồn tâm đọng lắng vui chơiCon yêu dồn góp nói lời thảnh thơi Tròn vẹn cảm xúc tươi cười. Cười tươi xúc cảm vẹn trònThơi thảnh lời nói góp dồn yêu con Chơi vui lắng đọng tâm hồn. ts. đặng văn phú 57
  • 56. Thơ rượu Thơ rượu ấp ủ tuôn trào Mơ trong chờ đợi dạt dào nghiêng chao Tơ duyên lắng đọng dâng cao. Cao dâng đọng lắng duyên tơ Chao nghiêng dào dạt đợi chờ trong mơ Trào tuôn ủ ấp rượu thơ.58 Sắc xuân
  • 57. Trào tuôn ủ ấp rượu thơChao nghiêng dào dạt đợi chờ trong mơ Cao dâng đọng lắng duyên tơ. Tơ duyên lắng đọng dâng caoMơ trong chờ đợi dạt dào nghiêng chao Thơ rượu ấp ủ tuôn trào. ts. đặng văn phú 59
  • 58. Kéo co Co kéo tục lệ dân làng Lo chăm hò hát được nàng kia sang Tô thêm nét đẹp danh vang. Vang danh đẹp nét thêm tô Sang kia nàng được hát hò chăm lo Làng dân lệ tục kéo co.60 Sắc xuân
  • 59. Làng dân lệ tục kéo coSang kia nàng được hát hò chăm lo Vang danh đẹp nét thêm tô. Tô thêm nét đẹp danh vangLo chăm hò hát được nàng kia sang Co kéo tục lệ dân làng. ts. đặng văn phú 61
  • 60. Mở hội Làng dân mở hội vui xuân Tăng cao sàng lọc đẹp dần thơ văn Nàng ta góp sức chuyên cần. Cần chuyên sức góp ta nàng Văn thơ dần đẹp lọc sàng cao tăng Xuân vui hội mở dân làng.62 Sắc xuân
  • 61. Xuân vui hội mở dân làngVăn thơ dần đẹp lọc sàng cao tăng Cần chuyên sức góp ta nàng. Nàng ta góp sức chuyên cầnTăng cao sàng lọc đẹp dần thơ văn Làng dân mở hội vui xuân. ts. đặng văn phú 63
  • 62. Câu cá Câu thả đứng cạnh bên ao Đâu đây rầu rĩ lướt lao rào rào Cầu trên tĩnh lặng ra vào. Vào ra lặng tĩnh trên cầu Rào rào lao lướt rĩ rầu đây đâu Ao bên cạnh đứng thả câu.64 Sắc xuân
  • 63. Ao bên cạnh đứng thả câuRào rào lao lướt rĩ rầu đây đâu Vào ra lặng tĩnh trên cầu. Cầu trên tĩnh lặng ra vàoĐâu đây rầu rĩ lướt lao rào rào Câu thả đứng cạnh bên ao. ts. đặng văn phú 65
  • 64. Hè sang Hè sang gọi tiếng ve ve Tre lũy lề chỉnh cản che vó bè Mê say mát mặt ngồi kề. Kề ngồi mặt mát say mê Bè vó che cản chỉnh tề lũy tre Ve ve tiếng gọi sang hè.66 Sắc xuân
  • 65. Ve ve tiếng gọi sang hèBè vó che cản chỉnh tề lũy tre Kề ngồi mặt mát say mê. Mê say mát mặt ngồi kềTre lũy tề chỉnh cản che vó bè Hè sang gọi tiếng ve ve. ts. đặng văn phú 67
  • 66. Đông sang Đông sang giá lạnh thân hình Trông xem đồng lúa nhuộm mình vàng tinh Sông bên gái đẹp tươi xinh. Xinh tươi đẹp gái bên sông Tinh vàng mình nhuộm lúa đồng xem trông Hình thân lạnh giá sang đông.68 Sắc xuân
  • 67. Hình thân lạnh giá sang đôngTinh vàng mình nhuộm lúa đồng xem trông Xinh tươi đẹp gái bên sông. Sông bên gái đẹp tươi xinhTrông xem đồng lúa nhuộm mình vàng tinh Đông sang giá lạnh thân hình. ts. đặng văn phú 69
  • 68. Hoàng hôn Vàng nhạt chiếu khoảng miền Tây Vang xa làng xóm đó đây trâu bầy Loang chiều tỏa đám khói mây. Mây khói đám tỏa chiều loang Bầy trâu đây đó xóm lành xa vang Tây miền khoảng chiếu nhạt vàng.70 Sắc xuân
  • 69. Tây miền khoảng chiếu nhạt vàngBầy trâu đây đó xóm làng xa vang Mây khói đám tỏa chiều loang. Loang chiều tỏa đám khói mâyVang xa làng xóm đó đây trâu bầyVàng nhạt chiếu khoảng miền Tây. ts. đặng văn phú 71
  • 70. Trên ngàn Xanh xanh lá biếc cây ngàn Anh chị dành góp nghĩa nhân lưu phần Thanh cao tiếp nhận an nhàn. Nhàn an nhận tiếp cao thanh Phần lưu nhân nghĩa góp dành chị anh Ngàn cây biếc lá xanh xanh.72 Sắc xuân
  • 71. Ngàn cây biếc lá xanh xanhPhần lưu nhân nghĩa góp dành chị anh Nhàn an nhận tiếp cao thanh. Thanh cao tiếp nhận an nhànAnh chị dành góp nghĩa nhân lưu phần Xanh xanh lá biếc cây ngàn. ts. đặng văn phú 73
  • 72. Ngồi thiền Ngồi thiền tĩnh lặng sắc không Tôi anh bồi đắp nhủ lòng hanh thông Đồi bên ẩn hiện tâm đồng. Đồng tâm hiện ẩn bên đồi Thông hanh lòng nhủ đắp bồi anh tôi Không sắc lặng tĩnh thiền ngồi.74 Sắc xuân
  • 73. Không sắc lặng tĩnh thiền ngồiThông hanh lòng nhủ đắp bồi anh tôi Đồng tâm hiện ẩn bên đồi. Đồi bên ẩn hiện tâm đồngTôi anh bồi đắp nhủ lòng hanh thông Ngồi thiền tĩnh lặng sắc không. ts. đặng văn phú 75
  • 74. Sông bên Sông bên sóng nước hiền hòa Đồng tâm mong ước sắc hoa chói lòa Đông vui sớm tối lại qua. Qua lại tối sớm vui đông Lòa chói hoa sắc ước mong tâm đồng Hòa hiền nước sóng bên sông.76 Sắc xuân
  • 75. Hòa hiền nước sóng bên sôngLòa chói hoa sắc ước mong tâm đồng Qua lại tối sớm vui đông. Đông vui sớm tối lại quaĐồng tâm mong ước sắc hoa chói lòa Sông bên sóng nước hiền hòa. ts. đặng văn phú 77
  • 76. Đồng ruộng Đồng ruộng sớm tối chuyên cần Thông hanh dòng nước bón phân an nhàn Bông đơm trĩu nặng nhiều cân. Cân nhiều nặng trĩu đơm bông Nhàn an phân bón nước dòng hanh thông Cần chuyên tối sớm ruộng đồng.78 Sắc xuân
  • 77. Cần chuyên tối sớm ruộng đồngNhàn an phân bón nước dòng hanh thông Cân nhiều nặng trĩu đơm bông. Bông đơm trĩu nặng nhiều cânThông hanh dòng nước bón phân an nhàn Đồng ruộng sớm tối chuyên cần. ts. đặng văn phú 79
  • 78. Yêu mến Yêu em sớm tối lo chăm Nhiều mong thêu dệt tháng năm nuôi tằm Chiều chiều tĩnh lặng thanh âm. Âm thanh lặng tĩnh chiều chiều Tằm nuôi năm tháng dệt thêu mong nhiều Chăm lo tối sớm em yêu.80 Sắc xuân
  • 79. Chăm lo tối sớm em yêuTằm nuôi năm tháng dệt thêu mong nhiều Âm thanh lặng tĩnh chiều chiều. Chiều chiều tĩnh lặng thanh âmNhiều mong thêu dệt tháng năm nuôi tằm Yêu em sớm tối lo chăm. ts. đặng văn phú 81
  • 80. Chăm ngoan Chăm ngoan thấu suốt tháng ngày Thăm nom đằm thắm đắm say tỏ bày Thầm lặng giúp đỡ vơi đầy. Đầy vơi đỡ giúp lặng thầm Bày tỏ say đắm thắm đằm non thăm Ngày tháng suốt thấu ngoan chăm.82 Sắc xuân
  • 81. Ngày tháng suốt thấu ngoan chămBày tỏ say đắm thắm đằm nom thăm Đầy vơi đỡ giúp lặng thầm. Thầm lặng giúp đỡ vơi đầyThăm nom đằm thắm đắm say tỏ bày Chăm ngoan thấu suốt tháng ngày. ts. đặng văn phú 83
  • 82. Giảm nghèo Trao đưa giúp tiếp lui nghèo Nao lòng chào đón đến theo giữa đèo Cao thanh sáng đẹp trong veo. Veo trong đẹp sáng thanh cao Đèo giữa theo đến đón chào lòng nao Nghèo lui tiếp giúp đưa trao.84 Sắc xuân
  • 83. Nghèo lui tiếp giúp đưa traoĐèo giữa theo đến đón chào lòng nao Veo trong đẹp sáng thanh cao. Cao thanh sáng đẹp trong veoNao lòng chào đón đến theo giữa đèo Trao đưa giúp tiếp lui nghèo. ts. đặng văn phú 85
  • 84. Trù phú Mênh mông tốt lúa đồng xa Kênh con dềnh nước mượt mà quê ta Thênh thênh hát tiếp câu ca. Ca câu tiếp hát thênh thênh Ta quê mà mượt nước dềnh con kênh Xa đồng lúa tốt mông mênh.86 Sắc xuân
  • 85. Xa đồng lúa tốt mông mênhTa quê mà mượt nước dềnh con kênh Ca câu tiếp hát thênh thênh. Thênh thênh hát tiếp câu caKênh con dềnh nước mượt mà quê ta Mênh mông tốt lúa đồng xa. ts. đặng văn phú 87
  • 86. Tâm hồn Êm ru mát dịu tâm hồn Đêm thâu thềm dưới sức dồn chăm con Em yêu nốt nhạc đô sòn. Sòn đô nhạc nốt yêu em Con chăm dồn sức dưới thềm thâu đêm Hồn tâm dịu mát ru êm.88 Sắc xuân
  • 87. Hồn tâm dịu mát ru êmCon chăm dồn sức dưới thềm thâu đêm Sòn đô nhạc nốt yêu em. Em yêu nốt nhạc đô sònĐêm thâu thềm dưới sức dồn chăm con Êm ru mát dịu tâm hồn. ts. đặng văn phú 89
  • 88. Nông sâu Nông sâu khó hiểu đo lòng Hồng tươi bông đẹp uốn cong trên đồng Sông bên ngã bóng nhiều thông. Thông nhiều bóng ngã bên sông Đồng trên cong uốn đẹp bông tươi hồng Lòng đo hiểu khó sâu nông.90 Sắc xuân
  • 89. Lòng đo hiểu khó sâu nôngĐồng trên cong uốn đẹp bông tươi hồng Thông nhiều bóng ngã bên sông. Sông bên ngã bóng nhiều thôngHồng tươi bông đẹp uốn cong trên đồng Nông sâu khó hiểu đo lòng. ts. đặng văn phú 91
  • 90. Măng rừng Măng mầm mọc mới trên rừng Làng dân mang đổi lạc vừng ăn chung Màng mơ lúa gạo tỉnh bừng. Bừng tỉnh gạo lúa mơ màng Chung ăn vừng lạc đổi mang dân làng Rừng trên mới mọc mầm măng.92 Sắc xuân
  • 91. Rừng trên mới mọc mầm măngChung ăn vừng lạc đổi mang dân làng Bừng tỉnh gạo lúa mơ màng. Màng mơ lúa gạo tỉnh bừngLàng dân mang đổi lạc vừng ăn chung Măng mầm mọc mới trên rừng. ts. đặng văn phú 93
  • 92. Hoa loa kèn đỏ Loa kèn đỏ sẫm màu tươi Hoa đẹp xòa cánh thích người ngắm chơi Lòa chói tỏa ánh nơi nơi. Nơi nơi ánh tỏa chói lòa Chơi ngắm người thích cánh xòa đẹp hoa Tươi màu sẫm đỏ kèn loa.94 Sắc xuân
  • 93. Tươi màu sẫm đỏ kèn loaChơi ngắm người thích cánh xòa đẹp hoa Nơi nơi ánh tỏa chói lòa. Lòa chói tỏa ánh nơi nơiHoa đẹp xòa cánh thích người ngắm chơi Loa kèn đỏ sẫm màu tươi. ts. đặng văn phú 95
  • 94. Tiên tổ Tiên tổ hiển thánh thiêng linh Thiên địa truyền phát đức sinh ân tình Liên hồi sáng dạ anh minh. Minh anh dạ sáng hồi liên Tình ân sinh đức phát truyền địa thiên Linh thiêng thánh hiển tổ tiên.96 Sắc xuân
  • 95. Linh thiêng thánh hiển tổ tiênTình ân sinh đức phát truyền địa thiên Minh anh dạ sáng hồi liên. Liên hồi sáng dạ anh minhThiên địa truyền phát đức sinh ân tình Tiên tổ hiển trách thiêng linh. ts. đặng văn phú 97
  • 96. Hoa súng Màu tím rộng trải trên hồ Đâu đây cầu ước bản đồ vẽ thô Giàu sang thích thú điểm tô. Tô điểm thú thích sang giàu Thô vẽ đồ bản ước cầu đây đâu Hồ trên trải rộng tím màu.98 Sắc xuân
  • 97. Hồ trên trải rộng tím màuThô vẽ đồ bản ước cầu đây đâu Tô điểm thú thích sang giàu. Giàu sang thích thú điểm tôĐâu đây cầu ước bản đồ vẽ thô Màu tím rộng trải bên hồ. ts. đặng văn phú 99
  • 98. Hoa quỳnh Màu trắng hiện rõ đơm bông Sâu sắc đầu cuối suốt thông được lòng Thâu đêm ước nguyện ngóng trông. Trông ngóng nguyện ước đêm thâu Lòng được thông suốt cuối đầu sắc sâu Bông đơm rõ hiện trắng màu.100 Sắc xuân
  • 99. Bông đơm rõ hiện trắng màuLòng được thông suốt cuối đầu sắc sâu Trông ngóng nguyện ước đêm thâu. Thâu đêm ước nguyện ngóng trôngSâu sắc đầu cuối suốt thông được lòng Màu trắng hiện rõ đơm bông. ts. đặng văn phú 101
  • 100. Chông gai Chông gai cắm được dưới hầm Đồng dân mong ước giặc tầm vướng đâm Vòng quanh trốn chạy xuyên tâm. Tâm xuyên chạy trốn quanh vòng Đâm vướng tầm giặc ước mong dân đồng Hầm dưới được cắm gai chông.102 Sắc xuân
  • 101. Hầm dưới được cắm gai chôngĐâm vướng tầm giặc ước mong dân đồng Tâm xuyên chạy trốn quanh vòng. Vòng quanh trốn chạy xuyên tâmĐồng dân mong ước giặc tầm vướng đâm Chông gai cắm được dưới hầm. ts. đặng văn phú 103
  • 102. Vũ trường Ca múa lắc nhảy đêm thâu Khà cười ta tự buốt đầu trước sau Va chạm bệnh tật gây sầu. Sầu gây tật bệnh chạm va Sau trước đầu buốt tự ta cười khà Thâu đêm nhảy lắc múa ca.104 Sắc xuân
  • 103. Thâu đêm nhảy lắc múa caSau trước đầu buốt tự ta cười khà Sầu gây tật bệnh chạm va. Va chạm bệnh tật gây sầuKhà cười ta tự buốt đầu trước sau Ca múa lắc nhảy đêm thâu. ts. đặng văn phú 105
  • 104. Vay mượn Vay mượn tốt đẹp đầy vơi Say mê ngày tháng gượng cười vui chơi Bay xa cánh mượn người đời. Đời người mượn cánh xa bay Chơi vui cười gượng tháng ngày mê say Vơi đầy đẹp tốt mượn vay.106 Sắc xuân
  • 105. Vơi đầy đẹp tốt mượn vayChơi vui cười gượng tháng ngày mê say Đời người mượn cánh xa bay. Bay xa cánh mượn người đờiSay mê ngày tháng gượng cười vui chơi Vay mượn tốt đẹp đầy vơi. ts. đặng văn phú 107
  • 106. Quen thân Quen thân kết bạn xa gần Trên nền bền vững biết cần người thân Nên xây tốt đẹp nghĩa nhân. Nhân nghĩa đẹp tốt xây nên Thân người cần biết vững bền nền trên Gần xa bạn kết thân quen.108 Sắc xuân
  • 107. Gần xa bạn kết thân quenThân người cần biết vững bền nền trên Nhân nghĩa đẹp tốt xây nên. Nên xây tốt đẹp nghĩa nhânTrên nền bền vững biết cần người thân Quen thân kết bạn xa gần. ts. đặng văn phú 109
  • 108. Tràng An Tiên ông khéo tạc nhiều hang Thuyền bơi chuyên trở xếp hàng dọc ngang Duyên nên lướt sóng đẹp sang. Sang đẹp sóng lướt nên duyên Ngang dọc hàng xếp chở duyên bơi thuyền Hang nhiều tạc khéo ông Tiên.110 Sắc xuân
  • 109. Hang nhiều tạc khéo ông TiênNgang dọc hàng xếp chở chuyên bơi thuyền Sang đẹp sóng lướt nên duyên. Duyên nên lướt sóng đẹp sangThuyền bơi chuyên chở xếp hàng dọc ngang Tiên ông khéo tạc nhiều hang. ts. đặng văn phú 111
  • 110. Cảm nhận bài thơ “Lệ Chi Viên” của Tiến sĩ Đặng Văn Phú Đ ọc tập thơ Bình minh mới đây của nhà thơ - tiến sĩ Đặng Văn Phú với những sáng tạo tâm huyết và mẫu mực, tôi rất chú ý đến bài thơ Lệ Chi Viên. Bởi bài thơ chữ trắng được khắc trang trọng trên bia đá, với những nét chạm trổ rồng phượng và lư hương mà con cháu hậu sinh kính cẩn nhớ đến người xưa. Mới đọc vào nhan đề bài thơ, chúng ta đã cảm thấy một cái gì rất đẹp, diễm lệ và trong suốt, như một kỷ niệm, như dòng nước mắt kéo qua. Ba chữ Lệ - Chi - Viên đều gợi lên những nét thanh sạch, thoáng đãng và nhiều xúc cảm như tâm hồn con người. Lệ là nước mắt, chi là xương thịt thân thể, và viên là một khu vườn với cây cối thanh thoát. Tưởng như nhà thơ đang tả cảnh một công viên nào đấy. Một khu vườn đầy nước mắt! Thì đó, đây đúng là một bài thơ nhắc đến một vết thương không bao giờ lành trong lịch sử dân tộc. Đó là cái án oan của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, với rất nhiều máu và nước mắt. Đó là lý do vì sao bài thơ mở đầu bằng chữ “Lệ”. Tất nhiên, khi đặt bút viết, nhà thơ không nên gò ép, nhưng rõ ràng từ “Lệ” rất đắc địa, đã được nhà thơ cảm và đặt làm dấu báo112 Sắc xuân
  • 111. hiệu cho một cuộc đời đau thương, oan khuất, mà cảdân tộc đã phải soi vào. Bài thơ không hề nhắc đến tên Nguyễn Trãi, nhưngđã viết rất đầy đủ về cuộc đời oanh liệt của ông. Chỉbằng bốn câu ngắn gọn súc tích của thể tứ tuyệt, tácgiả đã thể hiện được tầm vóc, chiều rộng của một cuộcđời, chiều dài của một nỗi đau, dòng nước mắt, táihiện được không khí hãi hùng đầy máu chảy, thể hiệnđược lòng đau xót của nhân dân Việt Nam và thế giớiđối với vị anh hùng dân tộc. Thế mới biết, sự phongphú về ý tứ và sự sâu sắc về nghệ thuật của một bài thơtứ tuyệt như thế nào. Bất cứ người dân Việt Nam yêu nước nào cũng đãhơn một lần nhớ về Nguyễn Trãi, đau lòng và day dứtvề Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi dòng dõi trung thần yêunước, đã theo Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, viết BìnhNgô đại cáo và sáng tạo rất nhiều thơ văn, NguyễnTrãi vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thếgiới, nhà chính trị lỗi lạc, nhà chiến lược thiên tài, nhàngoại giao kiệt xuất của dân tộc ta. Vậy mà NguyễnTrãi đã bị khép tội tru di tam tộc ở Lệ Chi Viên, vì cáichết của vua Lê Thái Tông (con Lê Lợi) có liên quanđến một người thiếp của Nguyễn Trãi là Nguyễn ThịLộ. Nguyễn Thị Lộ khi ấy 40 tuổi, xinh đẹp, có tàinăng văn chương và đầy đủ công dung ngôn hạnh củamột người phụ nữ thời đó, đã được vua Lê Thái Tông(Nguyên Long) mời vào triều làm Lễ nghi học sĩ. Rồi ts. đặng văn phú 113
  • 112. vua say đắm Nguyễn Thị Lộ và băng hà ở Lệ Chi Viên, khi đến thăm nhà Nguyễn Trãi. Dẫn giải ra như vậy để người đọc hiểu, cảm hứng của bài thơ là cảm hứng lịch sử, viết về một câu chuyện khá bi thương đau xót trong lịch sử dân tộc, đã được rất nhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu quan tâm và nhân dân đã ghi nhớ, ám ảnh. Vậy có khó cho tiến sĩ Đặng Văn Phú chăng? Mỗi câu, mỗi chữ của bài thơ đều mang nhiều nghĩa - tình. Hai câu thơ đầu nhà thơ dành để ca ngợi vị anh hùng dân tộc: Chí lớn tài cao lo cứu nước Tâm vàng đức quý giúp cho dân. Hai câu này đã thể hiện được tầm vóc, tài trí và tấm lòng Nguyễn Trãi với nước, với dân, với con người. Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo (Bình Ngô đại cáo). Ở đây, con người Nguyễn Trãi đã được thể hiện ở tầm bao quát, khái quát nhất ở khía cạnh công lao và nhân cách. Thiết nghĩ ai đọc đến đó cũng có thể hiểu được, có thể hiểu ít có thể hiểu nhiều về cuộc đời Nguyễn Trãi tùy theo sự am hiểu về lịch sử của họ. Viết về tiền nhân cốt nhất là trung thực, công tâm và thành kính, chứ đừng màu mè, hoa hòe hoa sói. Ở đây, hai câu thơ này đã làm được điều đó. Tôi chú ý đến hai chữ “lo” và “giúp”, vì nó rất hiện đại, đó là nỗi lòng của con người hiện đại. Nguyễn Trãi một đời lo cứu nước giúp dân, với nỗi lòng thường trực ấy. Các cặp tính từ, danh từ, động từ114 Sắc xuân
  • 113. song hành: chí - tài - tâm - đức, lớn - cao - vàng - quý,nước - dân, lo - giúp đã làm toát lên toàn bộ cốt cáchvà tài năng của Nguyễn Trãi. Đọc xong hai câu nàyngười ta nghĩ chắc đây là bài thơ thuần túy ca ngợinhững người có công với nước. Nhưng hai câu thơ saumới thật sự chạm đến cõi lòng, lột tả được bi kịch củaNguyễn Trãi. Bài thơ không những ca ngợi vị anh hùng NguyễnTrãi, mà còn gián tiếp ngợi ca người con gái NguyễnThị Lộ. Nguyễn Thị Lộ - cô bán chiếu Tây Hồ, vợngười anh hùng Nguyễn Trãi hay Lễ nghi học sĩ triềuLê, từ lâu là hình ảnh đẹp trong ký ức của nhân dânta. Nàng cũng có cùng một phẩm chất như trên, mộttấm lòng vời vợi yêu thương và sẵn lòng hy sinh vìnon sông đất nước, vì sự nghiệp của chồng. Nàng làngười vợ yêu dấu, tri âm tri kỷ, luôn đứng sau cuộc đờiNguyễn Trãi, cùng Nguyễn Trãi một lòng trung quânái quốc, hy sinh vì đại nghĩa. Kết duyên cùng NguyễnTrãi trong một mối tình lãng mạn, sau bao nhiêu nămcùng chồng giúp nghĩa quân Lam Sơn chiến thắng,Nguyễn Thị Lộ lại cùng chồng sẻ chia cái chết thảmkhốc nhất trong lịch sử dân tộc. Đánh giá về bà, giáosư Vũ Khiêu khẳng định: “Ít nhất, bà cũng là ngườitài hoa trong văn học, sắc sảo trong chính trị, chu đáotrong ứng xử và thủy chung trong tình nghĩa”, “Lễ nghihọc sĩ Nguyễn Thị Lộ đã dâng trọn cuộc đời phục vụcho sự bền vững của Vương triều Lê và sự phồn vinh ts. đặng văn phú 115
  • 114. của non sông Đại Việt”. (Báo Nhân dân, 12/2005). Hai câu thơ sau diễn tả bi kịch khủng khiếp, nó gây bất ngờ, hoàn toàn đối lập với hai câu đầu: Oan gia ba họ đầu rơi sạch Tuôn lệ đau thương xót cõi trần. -Người đọc tự hỏi: Tại sao một người tài trí hết lòng vì dân vì nước mà lại “Oan gia ba họ đầu rơi sạch?”. Sửng sốt quá! Người ta muốn hiểu rõ sự tình thì phải lật giở lại nghi án Lệ Chi Viên: Triều đình nhà Lê lúc đó khép Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ vào tội giết vua, tru di tam tộc. Máu đã chảy, đầu đã rơi xuống. Câu thơ với tiết tấu nhanh mạnh gây rợn ngợp, thảm khốc, kinh ngạc, sửng sốt. “Đầu rơi sạch” chất thơ ở đấy, bi kịch ở đấy và cái hiện đại cũng ở đấy. Đầu rơi sạch là đầu rơi nhanh, rơi hết, cùng một lúc, trong thời gian ngắn! Đó là cách nói của người Thanh Hóa chăng? Chữ “sạch” ở đây đáng chú ý nhất là nghĩa của nó: “trong sạch, sạch sẽ, tinh khiết”. Chữ sạch đau đớn làm sao, trắng trợn, ngay thẳng và quyết liệt. Nó như khẳng định một làn nữa phẩm chất trung thần của Nguyễn Trãi, một lòng trung với vua, vì đại nghĩa, vì dân vị nước. Một người tài trí như Nguyễn Trãi, làm quan đến mức ấy (đại thần, Nhập nội hành khiển), có công lao và tài năng đến mức ấy, và vào lúc bấy giờ tuổi đã ngoại 60, thì thử hỏi ông còn gì ngoài một lòng khát khao giúp nước? Tuy có thể buồn vì vương triều mâu thuẫn, xáo trộn, nhưng ông không thể phản bội lại lý tưởng và sự116 Sắc xuân
  • 115. nghiệp của mình mà đi giết vua, nhất là khi NguyênLong lại là người tài đức. Cho nên, cái chết của vuaLê Thái Tông là do âm mưu của việc tranh giành ngôivị của các bà phi và các quan trong vương triều mụcruỗng. “Sâu xa hơn, đó là sự ghen ghét, đố kỵ của mộtsố không nhỏ quan lại trong triều lúc bấy giờ trước tàinăng lỗi lạc và tính tình ngay thẳng, cương trực củaNguyễn Trãi - cái luôn cản trở những việc làm mờ ámcủa chúng.” (Nhân dân, 12/2005). Chữ “sạch” ở đâyvô hình trung đã đối chọi với “bẩn”. Vì theo tâm lý củangười Việt chúng ta, ta chỉ nói cái này sạch lắm là khita khẳng định sự “sạch” và khẳng định nó không bẩnkhi nó đang có nguy cơ bị bẩn. Cái sạch lúc ấy đang kềcận rất gần cái bẩn, bị cái bẩn đe dọa, khủng bố, đồnghóa. Tôi thật sự thích thú với cái ý này của bài thơ vàrất thán phục sự sâu xa của tiến sĩ Đặng Văn Phú. Về vụ án Lệ Chi Viên và hai danh nhân văn hóa nóitrên đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, đánhgiá lại, nó là vấn đề lớn của lịch sử. Ở bài thơ này tachỉ xét cái tình của con người. Bài thơ của tiến sĩ ĐặngVăn Phú vẫn không nhắc đến tên hai vị công thần triềuLê có công với nước như ta đã phân tích ở trên. Ở đâynhân vật trữ tình vẫn ẩn kín - cho bạn đọc có thể tự donhìn nhận, suy tưởng, đánh giá. Vì vậy bài thơ khôngchỉ có một nghĩa, mà có nhiều nghĩa. Có thể, bài thơđang nói chuyện đời, chuyện của mọi thời, mọi người.Tại sao một người có tâm có đức lớn như vậy, công lao ts. đặng văn phú 117
  • 116. như vậy, anh hùng như vậy, mà bị cuộc đời làm cho chết? Chúng ta phải làm gì? Chúng ta khao khát con người vĩ đại ấy hiểu ta, thương ta, và cho dân tộc ta, đất nước ta thêm những thành quả, những chiến thắng của tình thương và trí tuệ. Ta khao khát một lần được gặp con người đó, để quỳ lạy, để ngợi khen, để cám ơn, để sám hối! Đọc bài thơ này rồi tôi cũng trở thành một kẻ bị ám ảnh bởi số phận và cuộc đời Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ. Ở đây tác giả đã thành công trong việc chơi chữ chăng? “Đầu rơi sạch’. Quá đau thương thảm khốc! Một cái án oan còn vọng đến ngàn sau, biết bao ô nhục, đau lòng. Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ còn có kỳ tích lớn đối với triều Lê, là đã bảo vệ, nuôi giấu được vua Lê Tư Thành (Lê Thánh Tông sau này). Khi ấy, Tư Thành là con của bà Ngô Thị Ngọc Giao, thứ phi của vua, đang bị truy sát, vì sự tranh giành quyền bính. Sau này vua Lê Thánh Tông lên ngôi, nổi tiếng là vị minh quân, là người đã đưa Đại Việt lên tới thời hoàng kim của chế độ phong kiến. Ông cũng được xem là một nhà văn hóa và một người coi trọng hiền tài. Vua Lê Thánh Tông đã ban chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng tước Tán Trù Bá, ban cho câu “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê). Một người như vậy mà phải chết vì sự ngu muội của con người, sự hà khắc của chế độ phong kiến, đó là câu hỏi lớn vấn đề lớn để cho các118 Sắc xuân
  • 117. thế hệ sau suy ngẫm và lịch sử dân tộc tự đánh giá lạichính mình. Câu thơ cuối trải dài như một tiếng nấc đau thươngđầy nước mắt của nhân dân và thế giới, thậm chí thiênnhiên cỏ cây đã nhỏ lệ tiếc thương người anh hùngNguyễn Trãi. Oan gia ba họ đầu rơi sạch/ Tuôn lệ đauthương xót cõi trần. Câu thơ cũng có nhiều tính từgây chú ý, gợi, nhấn mạnh được nỗi lòng. Như “tuôn”“xót”. Cái “xót” đây là xót của lệ, và dòng lệ ấy nhiềuđến nỗi ngập tràn trần thế. Ta thấy nỗi lòng nhà thơ vàtâm tình nhân loại được nhà thơ diễn tả rất sâu. Cáinỗi oan gia ấy, đau thương ấy, máu xương oan khốcấy, có thể chẳng những động đến lòng người mà cònđộng đến lòng trời. Lệ ở đây là nước mưa hay là nướcmắt. Câu thơ không cần phải rạch ròi quá. Về mặt cảmxúc và kịch tính, câu thơ này quả là xuất sắc. Phải làtâm huyết, tri ân với Nguyễn Trãi, nhà thơ mới viếtđược hai câu thơ như thế. Cái điều đáng nói cuối cùnglà dòng lệ đau thương ấy sẽ chảy mãi mãi chẳng baogiờ vơi. Đây là một bài thơ phúng viếng, để tưởng nhớ tiềnnhân, nên thiết nghĩ nó chấm phá được vài nét cũnglà quý rồi. Huống hồ ở đây nó lại chấm phá được quánhiều nét và nó diễn tả được nỗi đau có thực của cácthế hệ đã tiếc thương người anh hùng. Đó là một nỗiđau chân thực, hiện hữu của tác giả và các thế hệ hậusinh, đã được nhà thơ diễn tả rất chân thành, sát thực. ts. đặng văn phú 119
  • 118. Người đọc cũng thấy đau xót thay. Vì thế bài thơ mới gây xúc động cho bạn đọc và có được giá trị mới. Bởi có hàng ngàn học giả, nhà thơ đã viết về cuộc đời Nguyễn Trãi. Đây là một đề tài không mới, nhưng tác giả đã đem được cảm xúc của mình vào làm cho bài thơ hiện đại lên và đầy cảm xúc. Dẫu mỗi dân tộc có những trang lịch sử sai lầm và mỗi con người từng có những tháng năm tội lỗi, nhưng bao giờ cũng sẽ được nhìn nhận lại, làm lại, sửa lại. Sự làm lại con người không bao giờ là muộn. Bài thơ và tác giả quả là một tấm lòng tri ân với Nguyễn Trãi. Với cái nhìn chân thực soi rọi vào cuộc đời Nguyễn Trãi, thì bài học lịch sử vẫn còn nguyên giá trị./. Trần Thị Ngọc Lan (Nhà xuất bản Văn học)120 Sắc xuân
  • 119. Kính viếng ANH LINH CÁC LIỆT SĨ Đ ất nước Việt Nam ta trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, trải qua bao cuộckháng chiến gian khổ và oanh liệt, đã có biết bao thếhệ anh hùng liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc. Trên đất đaisông suối của tổ tiên này, đã thấm bao xương máunhững người ngã xuống, cho đất nước trường tồnvà hồi sinh. Tiến sĩ Đặng Văn Phú, một bậc thầy vềtâm linh, một ông tiến sĩ đa tài, qua bao nhiêu nămhoạt động khoa học và nghệ thuật, đã để lại cho đờinhững bài thơ tinh tế, đầy tình người. Đặc biệt, ôngcó biệt tài trong việc sáng tạo thể thơ thuận nghịchđộc, với sức sáng tạo tươi mới và mãnh liệt, gầnđây ông đã cho in rất nhiều tập thơ về thể loại này.Điều đáng chú ý trong các tập thơ đó, là trí tuệ trongsáng và tình người nồng ấm, làm người đọc rất ngạcnhiên và yêu thích. Có lẽ qua nhiều năm hoạt độngtâm linh, với tài năng đặc biệt của mình, ông đã thuđược tất cả những tinh hoa năng lượng, về giúp đời,giúp người và tự tỏa sáng trong thơ. Với một lòngthành kính, ông đã đi khắp đất nước, đem tài năng ts. đặng văn phú 121
  • 120. ngoại cảm của mình tìm mộ các liệt sĩ đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến vừa qua. Sở trường lớn nhất của ông là khả năng ngoại cảm, ông tham gia hoạt động này với niềm tin lớn lao về sự bất tử của con người, của dân tộc, của lịch sử đất nước. Với ngót 400 bài thơ và gần 10 tập thơ đã ra đời, thì đó là một chiến tích về tinh thần và giá trị nghệ thuật không nhỏ của ông góp sức làm đẹp cho đời, khiến cho người đọc hết lòng khâm phục. Trên đây là một bài thơ tiêu biểu của ông kính viếng anh linh các liệt sĩ ở nghĩa trang Trường Sơn, làm theo thể thuận nghịch độc, mà ông đã gửi vào trong đó tất cả niềm tin, lòng biết ơn và sự kính trọng của mình dành cho các thế hệ liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Vì ông lựa chọn thể thơ Đường, với kiểu thuận nghịch độc rất “khó chơi” theo lời bạn đọc nhận xét, nên tôi luôn thấy những bài thơ của ông rất ấn tượng, có sự tinh luyện về câu từ và giàu chất trí tuệ, kiệm lời và chắt lọc ngôn ngữ, cấu tứ rất công phu. Nhưng thật kỳ lạ, ở những bài thơ ấy, ý thơ của ông vẫn bay bổng, phiêu diêu và nồng thắm, vượt lên câu từ, vượt lên kỹ thuật. Cũng phải thôi, mục đích của ông là cái hồn thơ, là ý tứ sâu sắc và niềm tin của ông dành cho con người. Anh linh các liệt sĩ đã hiện về trong một không gian trân trọng:122 Sắc xuân
  • 121. Hương thơm ngát tỏa, tình đồng đội. Ở đây dường như ta thấy hiện lên trong chiềurộng và sâu của đất nước mình, những nghĩa tranghoang hoải với khói hương và màu hoa mua tím.Cũng có thể, thiên nhiên tươi đẹp ấy luôn ấp iu linhhồn các liệt sĩ. Đấy là tôi nghĩ vậy, khi đứng trướckhông gian câu thơ gợi mở, với tình yêu thươngthủy chung giữa muôn vật và con người. Cái khônggian mênh mông quá, làm lòng người hoài nhớ,chơi vơi, khi âm dương cách biệt, nhưng khônggian ấy cũng đầy bao dung, đầy hương thơm vàtình nghĩa con người. Tình nghĩa ấy, có lẽ vượt trênmức cá nhân, riêng tư, để đi đến một nghĩa cả sâuthẳm và bao la hơn về con người, về đất nước. Tasẽ nghĩ về đất nước, về dân tộc, về những điều cònmất, về những người đã mất và những người cònsống, về tương lai của chúng ta. Trước mắt chúngta như hiện ra một bình nguyên bao la với đất đai,sông suối, mặt trời, với những hy vọng về sự bấttử của con người và dân tộc, niềm hy vọng chongày sau. Một sợi dây tâm linh nối hiện tại, quákhứ, tương lai lại với nhau, và những nhân chứngsống của chiến tranh sẽ biết sống cuộc đời sao choý nghĩa, khi họ nghĩ về nền hòa bình, về nhữngngười đã khuất. Tất nhiên ở một nghĩa cụ thể hơn,ta thấy hiện ra hình ảnh những đoàn cựu chiến binh ts. đặng văn phú 123
  • 122. lặng lẽ đi thăm lại chiến trường xưa, thành kính cắm những bó hoa và hương thơm lên mộ người chiến sĩ. Đó cũng là nén tâm hương của thi sĩ Đặng Văn Phú dâng lên anh linh những người anh hùng với niềm tri ân sâu nặng. Xương máu trao đưa, góp trọn phần Hiến dâng non nước, biệt người thân. Đây là hai câu thơ đầu của bài thơ, cũng là hai câu thơ ấn tượng nhất, có chiều sâu nhất, khẳng định công lao to lớn của các anh hùng, liệt sĩ. Câu thơ có một tầm vóc lớn, khái quát được nỗi đau thương và sự hy sinh vô điều kiện ấy. Viết về sự hy sinh của nhiều người, thậm chí của nhiều thế hệ, viết được như thế cũng là tài. Tôi cứ tần ngần trước sự uyển chuyển, tinh tế của câu thơ khi diễn tả một vấn đề quan trọng của sống còn, của sự hy sinh và dâng hiến. Sao nó diễn tả được sự hy sinh máu xương và ly biệt một đời mà lại giản dị và thanh tao đến thế? “Xương máu trao đưa, góp trọn phần”: cái “trao đưa” (thanh thản, tự nguyện) ấy là “xương máu” (sống còn, tồn tại), vậy mà nhẹ nhàng sao, như trao đưa một cành hoa, một lời hứa, một niềm hy vọng cho tương lai. Một niềm tin cho thế kỷ. Xét cho cùng trong sự tồn tại, mạng sống con người là quý nhất. Vậy mà người chiến sĩ trong một phút giây124 Sắc xuân
  • 123. trong trẻo của đời mình, đã thanh thản “trao đưa”,với một niềm tin bộc trực và thánh thiện, đi vào cõivĩnh hằng, để hy sinh vì cuộc sống. Vì tự do, độclập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Cái đángquý ở đây không chỉ ở tâm thế trao đưa thanh thảnvà chủ động tự nguyện, mà sâu xa hơn là khát vọng“góp trọn phần”. Thì ra trong tâm niệm của nhữngngười chiến sĩ ấy luôn nghĩ rằng, mình phải có bổnphận đóng góp phần mình vào trong chiến thắng,vào trong cái chung của dân tộc, để giành độc lập tựdo cho nhân dân ta, có như thế mới hoàn thành tráchnhiệm của mình. Cụm từ “góp trọn phần” có nhiềucái lạ. Lạ ở chữ “trọn”. Nghĩa là trọn vẹn cái phầnmình, mới an tâm yên lòng thanh thản, cũng có thể“trọn” là hy sinh tất cả những gì mình có, trọn tìnhvẹn nghĩa với đất nước non sông. Và cao hơn, có sựđóng góp này, mới tròn vẹn cái nghĩa cao cả, mớitrọn niềm vui cho mai sau. Câu thơ đầu tiên khéplại, tưởng thế đã kiệt cùng, trọn vẹn. Nhưng không,câu thơ thứ hai còn mở ra, bao la hơn: Hiến dâng non nước, biệt người thân. Câu thơ đầu có đau đớn hy sinh, tuy nhiên đó chỉlà cái phần thế tục, được mất, sống còn. Câu thứ haiđã nâng lển tầm vóc tâm linh. Sự hy sinh ấy chínhlà một hành vi cao cả, một lý tưởng rõ ràng: “hiến ts. đặng văn phú 125
  • 124. dâng non nước”. Ta hãy chú đến từ “hiến dâng”. Từ này chỉ được dùng trong trường hợp đặc biệt với nghĩa thiêng liêng, mang một giá trị lớn lao của đạo lý dân tộc, hoặc của tầm vóc cộng đồng. Từ này được bổ trợ bởi “non nước” ở đằng sau, càng nâng thêm cái thiêng liêng cao quý, mang tầm quốc thể của sự hy sinh. Câu thơ chia làm hai nửa, một bên là non nước, một bên là người thân. Bên nghĩa bên tình, cái gánh nặng nghĩa tình sao mà luyến lưu, xót xa, đau đớn. Biệt người thân, biệt đến muôn đời. Cái chữ “biệt” ở đây cũng rất đặc biệt, nó được chọn lọc rất kỹ, diễn tả được nhiều chữ khác, như ly biệt, tiễn biệt, đi mãi không về, mà cũng là từ biệt. Một bên là non nước, một bên là cốt nhục, người thân, nhưng cái non nước cái lý tưởng luôn được đặt lên trước cái cá nhân, riêng tư của bản thân mình. Câu thơ ngắn gọn súc tích, dùng những từ đẹp, sang trọng, nhưng lại chân thật, không hề ồn ào, bi lụy, không tình cảm sướt mướt. “Biệt người thân” một tâm nguyện giản dị chân thực đến xao lòng. Thiết nghĩ, để nói được hai khía cạnh lớn của lòng hy sinh cao cả, mà chỉ diễn tả trong một câu thơ 7 chữ, là kiệm lời, súc tích biết mấy, nó gợi đến sự hy sinh âm thầm lặng lẽ của những người lính trong cuộc kháng chiến vừa qua.126 Sắc xuân
  • 125. Hai câu thơ đầu và hai câu thơ cuối của bài vôhình trung đã tạo ra một khoảng cách, một cáchđoạn lớn về không gian và thời gian, cả chiều sâutâm thức và sự đổi thay của bối cảnh xã hội. Mới đómà đã mấy chục năm, mới đó mà đã là cả một đờingười, là ly biệt. Giờ đây những đồng đội đang sốngtrong nền hòa bình, trong thời kỳ đổi mới mãnh liệtcủa đất nước, đã lặn lội tìm lại mộ cho những ngườiđồng đội xưa, cùng thắp nén tâm hương tưởng nhớngười đã khuất với lòng biết ơn vô hạn: Hương thơm ngát tỏa, tình đồng đội Thương nhớ anh em, suối lệ giàn. Cái thương nhớ ở đây có cả hai chiều. Ngườiđang sống nhớ thương người đã khuất đã hy sinh,và người đã khuất cũng còn vong linh đầy ánh sángđể nhớ thương người còn sống. Một không gianbao la không giới hạn, gợi lên bao ý nghĩa của cuộcsinh tồn, bao lời gửi gắm và mong ước của ngườicòn sống cho những người đã khuất và thế hệ maisau. Nỗi thương nhớ đó thành suối lệ giàn chảy vàochiều sâu đất nước, lệ chảy tràn như suối vậy thôi.Nghĩa là nỗi nhớ thương vô tận vô biên, không giớihạn, không có thời gian, không gian nào nữa. Haychính là, không gian ở đây đã chuyển thành khônggian tâm thức rồi. Tâm thức yêu thương, giao cảm, ts. đặng văn phú 127
  • 126. biết ơn. Chính là khi nhìn về quá khứ, về sự hy sinh, về những gì đã mất, con người ta mới thấm thía được sâu sắc về cuộc đời, sự tồn tại và ý nghĩa của sự sống mình. Và bài thơ đã diễn đạt trọn vẹn một cuộc giao tiếp về tâm linh quan trọng, là bước ngoặt trong nhận thức của con người. Ta hãy chú ý tới cách đặt các từ xương máu - góp trọn -hiến dâng - biệt - hương thơm - tình - thương nhớ - suối. Tất cả các từ đó được đặt ở trước một số từ khác, đây cũng là dụng ý nghệ thuật và cảm quan của tác giả, muốn đặt những tình cảm, danh dự của người lính và tình nghĩa đồng đội lên chỗ trang trọng nhất. Cách chọn chữ, đặt chữ của tiến sĩ Đặng Văn Phú là hết sức thận trọng. Cho nên ta cảm nhận được bài thơ rất chân thành, giản dị, nhưng vẫn vô cùng trang trọng, kính cẩn đối với anh linh các liệt sĩ. Phải một người tâm huyết mới làm được điều ấy. Trên đây chỉ là cảm nhận bài thơ khi đọc xuôi. Còn khi đọc ngược thì bài thơ lại có vẻ mênh mang hơn vì được cái âm “ương” ở cuối câu bổ trợ. Trên cơ sở bài thơ đọc xuôi, khi đọc ngược bài thơ vẫn mượt mà đằm thắm và có thêm ánh sáng mới. Giàn lệ suối, em anh nhớ thương Đội đồng tình, tỏa ngát thơm hương Thân người biệt, nước non dâng hiến128 Sắc xuân
  • 127. Phần trọn góp, đưa trao máu xương. Đó là biệt tài, công phu của tiến sĩ Đặng VănPhú trong thể thơ thuận nghịch độc. Quả thật,người tâm huyết với thể thơ này phải rất kỳ công.Phải chọn lọc từ ngữ, sắp xếp sao cho cho nhuầnnhị về ngôn ngữ, cấu tứ, độ tương xứng của bàithơ khi đọc xuôi và đọc ngược. Vậy mà ta thấynhững bài thơ thuận nghịch độc của tiến sĩ ĐặngVăn Phú vẫn đậm chất thơ, vẫn bay bổng, phiêu du,đầy ánh sáng. Tiêu biểu như bài thơ viếng anh linhcác liệt sĩ trên đây. Bài thơ vút lên, tỏa sáng bằngnhững vần trắc, và trải dài mênh mang bằng nhữngvần bằng. Có lẽ cách đọc các bài thơ thuận nghịchđộc của tiến sĩ Đặng Văn Phú là nên đọc chậm rãi,nhâm nhi, chiêm ngưỡng từng từ ngữ trong một bốtrí hài hòa, và quan trọng phải đọc bài thơ trongmột niềm tin chan chứa của tâm linh. Vì vậy, bàithơ không chỉ có một nghĩa mà còn có nhiều nghĩa,nhiều ý tứ phái sinh, tùy theo thời điểm tiếp nhậnvà cá thể tiếp nhận. Cũng bởi thế, thuận nghịch độclà một thể thơ phức tạp và kỳ thú. Là một con em của thế hệ này, được sống tronghòa bình và ổn định của đất nước, được học hànhthăng tiến trong thời đại mới, bài thơ trên thật sựgợi cho tôi nhiều nghĩ suy và xúc động. Lòng thầm ts. đặng văn phú 129
  • 128. nhớ thương và biết ơn cha ông đã đổ máu xương để gìn giữ độc lập tự do, giữ gìn giang sơn Tổ quốc. Mong một lần được đến với Trường Sơn thắp nén hương thơm lên mồ liệt sĩ, để hiểu rõ cuộc đời mình đang sống và biết sống tốt hơn. Có lẽ phải cảm nhận mỗi lời thơ của tiến sĩ Đặng Văn Phú bằng niềm tin tâm linh sáng trong mà ông đã thổi vào, đó cũng là điều đặc biệt mà ông đã làm được với đất trời này, với con người. Văn học nghệ thuật chính là giá trị của tinh thần, mang tính biểu tượng, tinh túy chắt lọc từ cuộc sống của nhân loại. Chỉ cần có một niềm tin về giá trị đó, cũng làm biến đổi cuộc đời ta. Đứng trước mỗi bài thơ Đường luật thuận nghịch độc của tiến sĩ Đặng Văn Phú, người ta sẽ phải khám phá từng từ, rồi xem độ liên kết và sự xoay chuyển của nó trong một cấu tứ chung, nên thường thấy rất thú vị và mệt. Nó không đơn thuần như một bài thơ ở thể tự do. Thể thơ thuận nghịch độc là một thể thơ rất khó, vì ở bài thơ đọc ngược, nó lại lộn ngược cả câu, cả bài, lộn ngược từ đầu đến cuối, mà không được lỗi ở chữ nào. Hơn nữa nếu bạn đọc chưa có nhiều kinh nghiệm với thể thơ này, thì nó thực sự là một thử thách đối với họ. Đối với người viết bài này, do chưa có nhiều kinh nghiệm tiếp cận với thể thơ thuận nghịch độc, vì thế nó thật sự là một thử thách, nên không dám lạm bàn. Tôi xin dừng bài130 Sắc xuân
  • 129. viết tại đây, hy vọng trong tương lai được sự chỉdạy của tiến sĩ Đặng Văn Phú và đông đảo bạnđọc gần xa về thể loại này./. TRẦN THỊ NGỌC LAN (Nhà xuất bản Văn học) ts. đặng văn phú 131
  • 130. Cái độc đáo trong thơ “Sắc xuân” Của nhà thơ - Tiến sĩ Đặng Văn Phú C ó thể nói ấn tượng đầu tiên của mỗi người khi tiếp xúc với những sáng tác của nhà thơ – tiến sĩ Đặng Văn Phú. Có lẽ ông là người độc nhất trong đội ngũ các nhà thơ không chuyên nhưng lại chuyên viết về thơ dạng thuận nghịch độc. Ông đã từng xuất bản hai tập thơ Đường luật thuận nghịch độc, một tập thơ lục bát thuận nghịch độc và đã gây được tiếng vang trên văn đàn Việt Nam. Đó là các tập thơ: Hương vị cuộc đời (NXB Văn học – 2005), Trăng ngàn (NXB Hội nhà văn – 2009), Vườn đào (NXB Hội nhà văn – 2010), Bình minh (NXB Văn học). Lần này ông cho ra đời tập thơ “Sắc xuân” lục bát hai chiều thuận nghịch độc. Theo tác giả thơ lục bát hai chiều thuận nghịch độc được tách thành 4 cách đọc trong tập thơ này là: “Hai chiều thuận nghịch dám làm Lục bát tách bốn thích ham diệu huyền” Thật không có gì ngạc nhiên khi các bạn văn, bạn thơ đã dành cho ông những lời ngợi ca thân tình. Nhà báo – nhà văn Đức Ánh đã nhận xét: “Tác giả là người biết sáng tác và thưởng thức cái hay cái đẹp, tinh tế mà nhuần nhuyễn, có tâm hồn sâu lắng, là người có trí tuệ, đã làm được kỳ tích trong thơ ca132 Sắc xuân
  • 131. hiện nay…” Nhà thơ Nguyễn Đỗ Lưu qua cảm nghĩ “Trăngngàn” có lời khen: “Ông là một người đa tài, mangkiến thức một tiến sỹ hóa học để hóa nghiệm trong thơmình, thành một thứ thần thông đảo thể lật vần xoayngược giao cảm của độc giả, đòi độc giả đi vòng đểtới đỉnh thơ ông.” Nhà thơ Lê Thanh Long trong tập: “Bạn thơ vàtôi” (NXB Lao động 2012) viết về nhà thơ Đặng VănPhú: “Đánh giá thơ thuận nghịch độc là đánh giá ở sựkỳ công, kiên trì của tác giả. Thưởng thức thơ thuậnnghịch độc là thưởng thức sự độc đáo của loại hìnhthơ này.” Như thế có thể nói chúng ta đều mặc nhiên côngnhận sự kiên trì, độc đáo của tác giả khi trình diễn tácphẩm của mình trên nhiều góc độ thể hiện. Trong tậpthơ “Sắc xuân” gồm 53 bài, chủ yếu thể lục bát 3 câu,được thể hiện mỗi bài 4 cách đọc: xuôi, nghịch từ phảisang trái và ngược lại. Như vậy, 53 bài thơ, nếu theo đủ cách có thể đọcthành 212 bài mang 636 câu thơ. Khoan hãy nói về nội dung mà tác giả đề cập kháphong phú, thể hiện cảm nhận về nhiều vấn đề thuộcphong cảnh, tình cảm hoắc về xã hội (giảm nghèo,chăm ngoan, ruộng đồng…) ta đi sâu hơn về hình thứcthể hiện. Trước hết về thể thơ lục bát mà ông trình bày lần ts. đặng văn phú 133
  • 132. này đều là bài thơ 3 câu, đây cũng là một sự độc đáo trong cách thể hiện. Lâu nay ta quen với các dạng thơ lục bát, song thất lục bát, thơ 4 chữ, thơ 5 chữ, thơ 7 chữ…Nay ông Đặng Văn Phú đưa ra thơ lục bát chỉ 3 câu (3 dòng) thì thật mới lạ. Bởi vì thơ là một hình thức nghệ thuật, một loại sáng tác văn học có vần điệu, súc tích, ý cô đọng, gây cảm xúc cho người đọc. Thông thường một bài thơ phải có đủ các phần, nhưng quan trọng hơn là đủ tứ nói lên cái cốt lõi của chủ đề ta định diễn tả. Dưới hình thức 3 câu, ông Đặng Văn Phú muốn đưa chúng ta vào thế giới của hình thức thể hiện mới, lấy ý thơ là chính. Do vậy, đọc những bài thơ ta thấy ý tứ của tác giả muốn diễn tả trong một bài thơ. Nhưng hơn thế, mỗi bài thơ tác giả muốn chúng ta đọc theo 4 cách. Đã có thời kỳ người ta nêu lên 8 cách, 10 cách đọc, riêng ông Đặng Văn Phú đã giới thiệu một bài thơ với 20 cách đọc (Trăng ngàn – NXB Hội nhà văn 2009) xem thế đủ thấy bản thân tác giả đã có những suy nghĩ khá độc đáo. Đi sâu vào những bài thơ trong tập “Sắc xuân” tác giả trình bày mỗi bài thơ có 4 cách đọc: thuận, phải sang trái dưới lên, phải sang trái trên xuống, trái sang phải từ dưới lên. Mỗi bài đọc xong có thể là một bài có tứ độc lập, nhiều bài có sự tìm tòi khá công phu. Cái hay của tập thơ này, là các bài thơ đều thanh thoát, lưu loát khi đọc xuôi và đọc ngược đều có ý nghĩa.134 Sắc xuân
  • 133. Trong “Sắc xuân” có nhiều tứ dù đọc theo cách nàocũng thấy hay: Thí dụ: Bài Hoa Sen Hồng sen mát dịu hồ trên Trông nom đồng ruộng lúa xen đẹp nền Sông nước sóng lướt êm êm Êm êm lướt sóng nước sông Nền đẹp xen lúa ruộng đồng nom trông Trên hồ dịu mát sen hồng Trên hồ dịu mát sen hồng Nền đẹp xen lúa ruộng đồng nom trông Êm êm lướt sóng nước sông Sông nước sóng lướt êm êm Trông nom đòng ruộng lúa xen đẹp nền Hồng xen dịu mát hồ trên Và các bài trong tập thơ “Sắc xuân” đều như thế.Tác giả đã dành bao tâm huyết, thời gian để có nhữngbài thơ đầy tâm tình như vậy. Điều đó thật đáng chântrọng. Tất nhiên, khi cố làm được diều này, không hẳnđã đạt điều khác như ý muốn, đó là do năng lực, trí tuệchỉ có đến thế. Nhưng để mọi người có sự đồng cảmvới mình, có thể nói đã thành công rồi. Ông Đặng Văn Phú vốn là một nhà khoa học, hơn ts. đặng văn phú 135
  • 134. thế nữa lại là một Lương y gia truyền, cái nghiệp nghề cần đến sự chi ly, tỷ mỷ của những phân tử hóa nghiệm hoặc ly lạng trong việc cất từng thang thuốc, đòi hỏi con người không được sai sót. Ý thức được như vậy, ông chọn cách làm thơ thuận nghịch độc thể Đường luật hoặc lục bát như “Sắc xuân”, chắc chắn phải qua nhiều chăn trở. Vì thế chúng ta – bạn thơ với ông, mong nhà thơ - Tiến sĩ - thầy thuốc Đặng Văn Phú sẽ có nhiều dạng thơ hay và độc đáo hơn nữa, để thực hiện mong ước của ông: “Đam mê xúc cảm tạo nên Lưu thêm kỳ tích đẹp nền văn chương” Nhà thơ Lê Hùng Phó Chủ tịch Thường trực CLB Thơ Việt Nam136 Sắc xuân
  • 135. Đôi điều cảm nhận nhân đọc cuốn “Sắc xuân” Thơ lục bát hai chiều thuận nghịch độc của tiến sĩ Đặng Văn Phú Đ ọc tập “Bình minh”, thơ lục bát thuận nghịch độc của TS.Đặng Văn Phú do nhà xuất bảnVăn học ấn hành năm 2011, tôi có nêu ý kiến là việc sửdụng thể loại này có cái khó là chỉ cần sơ ý một chúttrong việc sắp xếp từ là sẽ có lệch lạc ngay trong nhịpđiệu và câu thơ sẽ trở nên trúc trắc khó nghe. Đọc toànbộ tập thơ chúng ta vui mừng thấy nhà thơ Đặng VănPhú đã vượt qua được khó khăn đó. Dẫn chứng rất nhiều, chúng tôi chỉ đơn cử một bài,bài “Xuân sang” ở trang 32 ra làm ví dụ. Bài thơ lànnhư sau: “Đua chen táo quất ai nhường Mua xem hàng bán vị hương thơm lừng Giang tay đón tết vui mừng Sang xuân trời ấm vượng hưng hoa đào Thời xuân nhớ lại lòng nao” Bài thơ nêu lên quang cảnh tươi vui của đất trời khimùa xuân tới, lòng người rộn lên bao niềm xúc cảmtrước mọi cảnh vật dường như hoàn toàn đổi mới. Đọc ngược lại: “Nao lòng lại nhớ xuân thời ts. đặng văn phú 137
  • 136. Đào hoa hưng vượng ấm thời xuân sang Mừng vui tết đón tay giang Lừng thơm hương vị bán hàng xem mua Nhường ai quất táo chen đua” Người đọc vẫn cảm thấy thoải mái nhẹ nhàng, lòng như bừng sáng trước cảnh đất trời tươi tắn trong buổi xuân sang, nơi đâu cũng nhộn nhịp, tưng bừng như cành quất, đào khoe sắc. Làm sao đọc xuôi, đọc ngược bài thơ, cảm xúc của người đọc vẫn không hề thay đổi. Rõ ràng nhà thơ đã sử dụng ngọn bút của mình rất mực tài tình, không phải bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể làm như thế được. Và nhiều người đã phải công nhận là nhà thơ Đặng Văn Phú quả đã có một biệt tài trong việc sáng tác loại thơ này. Có lẽ do được đông đảo bạn đọc hoan nghênh, nên chỉ ít lâu sau, nhà thơ lại cho xuất bản tập “Sắc xuân”, thơ lục bát hai chiều thuận nghịch độc. Lần nay, người đọc không phải chỉ đọc ngược lại bài thơ , mà còn bất cứ một bài thơ nào trong tập, tác giả cũng có thể tách thành bốn bài khác nhau và như vậy là như tác giả đã giới thiệu trong lời đầu sách, toàn tập thơ gồm 53 bài, tác giả tách thành hai trăm mười hai bài. Nhìn chung, thì đề tài tập thơ này cũng vẫn như đề tài các tập thơ trước. Vẫn là sự vận chuyển không ngừng, không nghỉ của thời gian: xuân đi, hè lại, thu138 Sắc xuân
  • 137. đến, đông sang. Vẫn là cảnh hội hè, đình đám của mọimiền: miền ngược, miền xuôi trên khắp chiều dài đấtnước. Vẫn là cảnh những người lao động trên đồngruộng hay trong nhà máy, ở đâu cũng tận tâm tận lựclàm cho đất nước mình thêm đẹp, thêm tươi. Vẫn làcảnh của những trẻ tật nguyền luôn được những ngườichung quanh chăm sóc, đang vui vẻ nô đùa. Có thêm chăng, có lẽ cũng chỉ là lòng tri ân “tiên tổhiển thánh thiêng linh” vốn đã là tập tục tốt đẹp ở hầuhết mọi nơi, và nhất là việc đề cao nhân nghĩa “thắmđặm tình người” được đề cập đến ngay trong bài thơthứ hai của tập thơ này. Khi nhận xét về tập “Bình minh”, chúng tôi cũng cóviết: “Mỗi điểm cần chú ý là một tấm lòng nhân hậucủa nhà thơ. Thật vậy, trong cuộc sống đời thường ôngvốn là người tôn trọng nghĩa nhân, luôn luôn có trướccó sau.” Tôn trọng nghĩa nhân như vậy, nên khi cuộc khángchiến thắng lợi đất nước sạch bóng quân thù, mọingười đều nô nức đến nghiêng mình trước những trangnghĩa liệt đã không nề hi sinh cả tính mạng của mìnhđể bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc và thế là: “Thôn quê khắp nẻo buôn làng Luôn luôn ngời sáng núi vàng viếng thăm” (Viếng thăm - trang 70 - Bình minh) Hình ảnh hết sức xúc động này là biểu hiện sángngời lòng nhân nghĩa của nhân dân ta. ts. đặng văn phú 139
  • 138. Lòng nhân nghĩa ấy đưuọc nhà thơ – tiến sỹ Đặng Văn Phú cô đúc lại trong bài “Nhân nghĩa”: “Nghĩa nhân thắm đượm người đời” Những lời thơ đặt ngang ở bài thơ thứ hai của tập thơ được nhắc lại nhiều lần gây ắn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, mọi người đều nhận thức rất rõ là đời người có “đượm thắm nghĩa nhân” thì mới: “Tươi vui lời đẹp ổn an thêm phần” Nhân nghĩa - tr.2 Người đọc cảm ơn tác giả đã nêu lên được một điều mọi người nên luôn luôn ghi nhớ để cuộc sống thêm phần ý nghĩa và để góp phần xây dựng hữu hiệu Tổ quốc thân yêu của chúng ta. Tháng 6 năm 2012 Nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Xuân Dương140 Sắc xuân
  • 139. Lục bát ghép về thơ Tiến sĩ Đặng Văn Phú, chơi thơ Sắc xuân, nhân nghĩa, duyên tơ, tâm hồn Chơi vui, thơ rượu, hoàng hônYêu mến, làng xóm, mầm non, hoa quỳnh. Đồng ruộng, trù phú, núi rừng Chợ Canh, mở hội, vũ trường, Tràng An Thi đàn, Người cao tuổi Việt Nam Giao lưu, sông bến, trên ngàn, trời mây Lên Tam Đảo, vào Cà Mâu Bến đò, câu cá, nông sâu, ngồi thiền Thọ cao, nâng đỡ, thanh niênGiúp trẻ khuyết tật, yêu thương, giảm nghèo Xuân, hè, thu đến đông theo Chăm ngoan, cô gái Việt Nam thêm bền Hoa mai, hoa súng, hoa sen Hoa loa kèn đỏ, lại thêm hoa hồng Chông gai, co kéo, măng rừng Vay mượn, xuôi ngược đọc mừng tập thơ! 8/2012 Nhà thơ Trần Đức Chính ts. đặng văn phú 141
  • 140. Đóng góp độc đáo của Tiến sĩ - Nhà thơ Đặng Văn Phú T iến sĩ - Nhà thơ Đặng Văn Phú là người say mê lối thơ “Thuận nghịch độc”. Sau thi phẩm đầu tay: “Hương vị cuộc đời” - Thơ Đường luật (NXB Văn học 2005), tác giả cho in liền 3 tập: “Trăng ngàn” - Thơ Đường luật Thuận Nghịch độc (NXB Hội nhà văn 2009); “Bình minh” - Thơ Lục Bát Thuận nghịch độc (NXB Văn học 2011); năm Nhâm Thìn 2012, tác giả lại công bố tập “Sắc xuân” - Thơ Lục Bát hai chiều Thuận nghịch độc (NXB Văn học 2012) Thơ Lục Bát hai chiều “Thuận nghịch độc” ở tập “Sắc xuân” có nhiều nét mới và độc đáo. Mỗi bài chỉ có 3 dòng thơ Lục Bát (câu mở đầu là câu Lục, câu giữa là câu Bát và câu cuối là câu Lục/6-8-6) Người đọc có thể đọc từ trái qua phải, từ trên xuống dưới - cũng có thể đọc từ phải sang trái từ dưới lên trên… Đều vẫn rất đúng vần thơ Lục Bát. Và tạo thành 3 bài thơ Lục Bát mới nữa (ba bài thơ mới này cũng có kết cấu: 6-8-6/ Lục-Bát-Lục) Như vậy, cùng với bài thơ gốc, bây giờ ta có 4 bài thơ Lục Bát. Chỉ với 20 từ, sắp xếp trên, dưới, phải, trái… mà thành 4 bài thơ. Tiến sĩ - Nhà thơ Đặng Văn Phú quả là một nghệ sĩ xiếc chữ tài tình biến ảo khôn lường. Điều đáng khâm phục là cả 4 bài thơ cho phép “Thuận nghịch độc” mà thành ấy đều có chung chủ đề142 Sắc xuân
  • 141. ban đầu, bài nọ bổ trợ bài kia giúp cho cảm nhận củangười đọc thêm sâu sắc. Nhiều bạn yêu thơ gần xa, và một số nhà nghiên cứuđã đề xuất: Nên chăng tập hợp những sáng tác của Tiếnsĩ - Nhà thơ Đặng Văn Phú gửi đến “Trung tâm sáchkỷ lục Việt Nam” đề nghị xem xét xác lập kỷ lục viếtthơ “Thuận nghịch độc” nhiều nhất Việt Nam cho ôngĐặng Văn Phú. Tuy nhiên, cũng có đôi ba người cho rằng lối thơ“Thuận nghịch độc” chỉ là thú chơi của một số ngườinhiều thời gian rảnh rỗi và có trình độ nhất định, khóphổ cập trong quần chúng rộng rãi. Tôi thì lại nghĩ khác, vì đọc thơ “Thuận nghịch độc”của Đặng Văn Phú tôi vẫn thấy đề tài muôn mặt củađời sống, đa dạng và phong phú. Nghĩa là lối thơ ấyvẫn đảm bảo những tiêu chí thơ, vẫn có thể tìm đượcnơi neo đậu trong tâm tư người đọc, người nghe. Lối thơ “Thuận nghịch độc” có sớm được quảng bárộng rãi trong công chúng hay không còn tùy thuộcvào sự sàng lọc của thời gian, nhưng đóng góp củaTiến sĩ - Nhà thơ Đặng Văn Phú rất đáng ghi nhận vàtrân trọng. Nhà thơ Bùi Đăng Sinh ts. đặng văn phú 143
  • 142. Mục lục Lời thưa 5 1. Sắc xuân 6 2. Nhân nghĩa 8 3. Trời mây 10 4. Hoa mai 12 5. Làng xóm 14 6. Bến đò 16 7. Cô gái Việt Nam 18 8. Duyên tơ 20 9. Thanh niên 22 10. Hoa sen 24 11. Hoa hồng 26 12. Tam Đảo 28 13. Núi rừng 30 14. Cà Mau 32 15. Nâng đỡ 34 16. Mầm non 36 17. Trẻ khuyết tật 38 18. Chợ canh 40 19. Yêu thương 42 20. Xuân sang 44144 Sắc xuân
  • 143. 21. Thọ cao 4622. Chơi vui 4823. Giao lưu 5024. Thi đàn người cao tuổi Việt Nam 5225. Thu sang 5426. Chơi thơ 5627. Thơ rượu 5828. Kéo co 6029. Mở hội 6230. Câu cá 6431. Hè sang 6632. Đông sang 6833. Hoàng hôn 7034. Trên ngàn 7235. Ngồi thiền 7436. Sông bên 7637. Đồng ruộng 7838. Yêu mến 8039. Chăm ngoan 8240. Giảm nghèo 8441. Trù phú 8642. Tâm hồn 8843. Nông sâu 9044. Măng rừng 92 ts. đặng văn phú 145
  • 144. 45. Hoa loa kèn đỏ 94 46. Tiên tổ 96 47. Hoa súng 98 48. Hoa quỳnh 100 49. Chông gai 102 50. Vũ trường 104 51. Vay mượn 106 52. Quen thân 108 53. Tràng An 110 54. Cảm nhận bài thơ “Lệ Chi Viên” của Tiến sĩ Đặng Văn Phú 112 55.Kính viếng anh linh các liệt sĩ 121 56.Cái độc đáo trong thơ “Sắc xuân” Của nhà thơ - Tiến sĩ Đặng Văn Phú 132 57. Đôi điều cảm nhận nhân đọc cuốn “Sắc xuân” Thơ lục bát hai chiều thuận nghịch độc của Tiến sĩ Đặng Văn Phú 137 58.Lục bát ghép về thơ 141 59. Đóng góp độc đáo của Tiến sĩ - Nhà thơ Đặng Văn Phú 142146 Sắc xuân
  • 145. Sắc xuân thơ - Ts. Đặng văn phú Nhà xuất bản văn học 18 Nguyễn Trường Tộ - Ba Đình - Hà NộiĐiện thoại: 04.37161518 - 04.37161190, Fax: 04.38294781 Email: tonghopvanhoc@vnn.vn * Chi nhánh tại Tp. Hồ Chí Minh 290/20 Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Quận 3 Điện thoại: 08.38469858 - Fax: 08.38483481 * Văn phòng đại diện tại thành phố Đà Nẵng 580 đường Núi Thành - thành phố Đà Nẵng Điện thoại: 0511. 3797709 Chịu trách nhiệm xuất bản Chủ tịch hội đồng thành viên Phó Giám đốc phụ trách Nguyễn Anh Vũ Chịu trách nhiệm nội dung Nguyễn Thị Hạnh Biên tập : Ngọc Lan Trình bày : LÊ An Bìa : Thanh bình Sửa bản in : Tác giả
  • 146. In 1000 cuốn, khổ 13 x 19 cm. Tại Nhà in KH&CN Giấy đăng kí KHXB số: 1190-2012/CXB/26-113/VH.Số QĐXB của Giám đốc: 1087/QĐ-VH cấp ngày 5/10/2012 In xong và nộp lưu chiểu quý IV năm 2012.