• Save
Tìm hiểu về khái niệm Biểu tượng và Biểu tượng Xã hội - download file tại http://anthropology.boong.org
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Tìm hiểu về khái niệm Biểu tượng và Biểu tượng Xã hội - download file tại http://anthropology.boong.org

on

  • 9,039 views

Tìm hiểu về khái niệm biểu tượng và biểu tượng xã hội. Chi tiết tại http://anthropology.boong.org/

Tìm hiểu về khái niệm biểu tượng và biểu tượng xã hội. Chi tiết tại http://anthropology.boong.org/

Statistics

Views

Total Views
9,039
Views on SlideShare
9,014
Embed Views
25

Actions

Likes
2
Downloads
20
Comments
0

2 Embeds 25

http://thanghoa.net 21
http://pinterest.com 4

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Tìm hiểu về khái niệm Biểu tượng và Biểu tượng Xã hội - download file tại http://anthropology.boong.org Tìm hiểu về khái niệm Biểu tượng và Biểu tượng Xã hội - download file tại http://anthropology.boong.org Document Transcript

  • http://thanghoa.net Tìm hiểu về khái niệm biểu tượng và biểu tượng xã hội « vào lúc: Thg 4 28, 2006, 11:05:27 » 1. Khái niệm biểu tượng 1.1Khái niệm chung về biểu tượng: Biểu tượng là một khái niệm đang được đẩy mạnh nghiên cứu trên thế giới bởi đến nay khái niệm biểu tượng vẫn là một lĩnh vực chứa đựng nhiều bí ẩn. Ở các nước có nền TLH phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức…, người ta đẩy mạnh không ngững các nghiên cứu về biểu tượng xã hội (BTXH). Chẳng hạn nhă hiện nay, trong TLH Pháp có bốn dòng lớn nghiên cứu BTXH: Một dòng chuyên khảo miêu tả nhằm ghi lại các biểu tượng của nhóm về một đối tượng nào đó (Moscovisi và các học trò của ông). Dòng thứ hai nghiên cứu ảnh hưởng của các BTXH lên ứng xử (Codol, Arbic). Dòng thứ ba chuyên nghiên cứu các kỹ thuật đo lường các BTXH nhằm nắm bắt các cấu trúc của chúng, và dòng cuối cùng chuyên tìm hiểu những biến đổi của các BTXH (Jodelet, Di Giacomo, Flament, Arbic), cũng như tìm các cơ chế ngầm ẩn của các sự biến đổi này. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về BT vẫn còn hạn chế cả về mặt lí luận và thực tiễn. Nguyên nhân có thể là do các nhà khoa học chưa ý thức hết được tầm quan trọng của nó, hoặc cũng có thể do sự né tránh những tranh cãi sẽ gặp phải khi bàn đến hệ thống khái niệm và phạm trù của khái niệm này. Trên thực tế, khái niệm biểu tượng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau. Trong khuôn khổ của đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập tới khái niệm biểu tượng trên bình diện của ngành TLH. Theo từ điển TLH (Vũ Dũng- NXB KHXH - 2000), "Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng. Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát. Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai." Theo từ điển Tiếng Việt (GS Hoàng Phê CB):"Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt". Như vậy, BT là những hình ảnh của những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, được hình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó, được giữ lại trong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở những hình ảnh đã có từ trước. BT không phải hoàn toàn là thực tế, bởi vì nó là sự xây dựng lại thực tế sau khi đã được tri giác. Tuy nhiên, những hình ảnh đó cũng không hoàn toàn là kết quả chủ quan xuất phát từ những hoạt động tâm trí của chủ thể . BT chính là hiện tượng chủ quan của đối tượng về hiện tượng khách quan đã được tri giác từ trước. 1.2 Cấu trúc của BT: Theo luận điểm của I.M Xêtrênốp: "Các biểu tượng là kết quả trung gian từ các tri giác phân chia thành từng thành phần riêng lẻ của sự trừu tượng hoá một tổng số nhất định các vật thể cùng loài và thành phần của sự trừu tượng hoá này bao gồm ngoài các dấu hiệ bề ngoài còn có
  • http://thanghoa.net các dâú hiệu không phơi bày ra một cách trực tiếp mà phải nhờ một sự phân tích chi tiết về mặt trí tuệ và thể chất các vật thể, cũng như quan hệ giữa chúng với nhau và giữa chúng với con người". Qua luận điểm này, chúng ta thấy cấu trúc của BT có thể phân chia thành: - Những biểu hiện bề ngoài vô cùng đa dạng của hiện thực. - Những dấu hiệu của sự vật, hiện tượng của hiện thực mà tự chúng không phơi bày ra. Khi có sự phân tích của trí tuệ về các sự vật, hiện tượng cũng như về các hành vi thì các bộ phận riêng lẻ được tách ra của các BT sẽ được liên kết với các hình ảnh hoàn chỉnh. Do đó, cuối cùng sẽ dẫn đến những BT đầy đủ và hoàn chỉnh hơn. Ngoài ra, một đặc điểm nổi bật của các BT là chúng vừa được giữ lại trong trí nhớ của chủ thể, đồng thời dưới ảnh hưởng của tri giác mới (tác động của thế giới khách quan) và tưởng tượng thì nội dung của chúng lại được bổ xung và phong phú thêm. Như vậy, BT là yếu tố động, luôn thay đổi, tuỳ thuộc vào ảnh hưởng của tri giác tác động cũng như tuỳ thuộc vào trí tưởng tượng phong phú của mỗi cá nhân. 1.3 Phân loại BT và vai trò của BT trong hoạt động tâm lí: a. Phân loại BT: Dựa vào tiêu chí: Hình tượng của sự vật và hiện tượng tri giác từ trước được sắp xếp lại trong ý thức con người đến mức độ nào, người ta phân chia BT thành hai loại: + BT của trí nhớ: là hình ảnh của tri giác lúc trước được tái hiện lại trong một hoàn cảnh nhất định. + BT của tưởng tượng: là hình ảnh mới được trí tưởng tượng tạo nên trên nền của biểu tượng cũ. BT của tưởng tượng khác về chất so với BT của trí nhớ. BT của tưởng tượng là hình ảnh mới, được chế biến lại từ những BT của trí nhớ, là:" BT của BT ", thường được chủ thể sáng tạo dựa trên các cách thay đổi số lượng , kích thước, chắp ghép, liên hợp, nhấn mạnh, điển hình hoá. Do đó, sự phản ánh của BT tưởng tượng mang tính chất gián tiếp và khái quát cao hơn so với BT trí nhớ. b. Vai trò của BT trong hoạt động tâm lí: BT là một trong những hình thức quan trọng của sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan. Không có BT thì không thể có ý thức. Do gắn với các yếu tố tổng hợp nên BT là bậc thang chuyển hoá từ hình ảnh cụ thể đến khái niệm trừu tượng, từ cảm giác và tri giác đến tư duy. Ngoài ra, do BT mang tính chất biến đổi rộng rãi , rõ nét - cho phép xây dựng hình ảnh mới, nên chúng đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong hoạt động sáng tạo của con người. 2. BT xã hội: - Có các loại BT: BT xã hội, BT tập thể,... - Khái niệm"BT xã hội" được nhà Xã hội học Durkheim đưa ra năm 1898 với tư cách là một phạm trù xã hội học và đến năm 1961 được Moscovici sử dụng như là một khái niệm TLH trong cuốn sách của ông có nhan đề: "Phân tâm học – hình ảnh và tác giả của nó". 2.1. Những yếu tố định nghĩa:
  • http://thanghoa.net BT xã hội được hiểu như là một kiến thức ngây thơ, tự nhiên, khác cơ bản với kiến thức xã hội. Nó chỉ ra kiến thức chung được hình thành theo mô hình đơn giản, dân giã cung cấp khuôn khổ cắt nghĩa về thực tế. Để có BTXH, mỗi một người xuất phát từ những điều được chứng kiến, được quan sát thấy hay từ các thông tin được truyền đạt từ bên ngoài; sau đó, ở chủ thể xuất hiện một hoạt động tâm lí nhằm tiếp cận các tri thức đó, biến nó thành tri thức của mình, chia sẻ được nó với những cá nhân khác trong cùng nhóm, cùng xã hội, giải thích nhiều hiện tượng, sự vật dưới hình thức một thực tế được tóm tắt. Các BT xã hội là tập hợp các ý kiến, quan điểm, là tri thức về một đối tượng nào đó. Chúng rất đa dạng, nhiều vẻ và chuyển động gần gũi với một nền văn hoá. Ngôn ngữ, sự trao đổi, các cuộc đàm thoại và các tương tác xã hội đóng vai trò cơ bản trong việc hình thành BT xã hội. 2.2. Định nghĩa + Theo Moscovici-(1961): “BT xã hội là một dạng hiểu biết đặc biệt, một dạng tri thức có nghĩa chung mà các nội dung của nó thể hiện thao tác của các quá trình phát sinh và chức năng đánh dấu bởi xã hội. Rộng hơn, nó chỉ ra một dạng tư duy xã hội” (Jodelet,1984, tr361) + Theo Guimelli, BT xã hội là "Phương thức đặc biệt của hiểu biết chung mà tính đặc thù của nó nằm trong tính cách xã hội của các quá trình tạo ra nó”," là một tập hợp các tri thức, niềm tin, các ý kiến được chia sẻ bởi một nhóm đối với đối tượng XH nào đó" (1994). Như vậy nhìn chung các định nghĩa đều xem BT xã hội là một cách thức đặc biệt nắm bắt thực tế, là cái gợi lại sự vật, hiện tượng được tri giác và tâm trí về thực tế qua đó biến đổi các đối tượng xã hội (con người , bối cảnh, hoàn cảnh, các hiện tượng, các sự kiện ,...) thành những phạm trù tượng trưng (giá trị, niềm tin, tư tưởng, quan điểm, quan niệm) dưới hình thức nhận thức, cho phép nắm bắt các khía cạnh của cuộc sống thường nhật trong lòng các tương tác XH. 2.3.Các chức năng cơ bản của BT xã hội: BT xã hội có rất nhiều chức năng, trong đó có thể kể dến các chức năng sau: - Chức năng gắn bó các thành viên của một nhóm với nhau thông qua sự thống nhất với nhau về tư duy. - Chức năng tổ chức môi trường: BT xã hội đóng vai trò trong tri giác môi trường. Chúng tri giác môi trường như chúng ta nhìn thấy nó thông qua bộ lọc mà các BT đã thiết lập nên cho chúng ta trên con đường xã hội hoá. - Chức năng điều chỉnh hành vi và chức năng giao tiếp. - Chức năng hoà hợp: các BT xã hội có chức năng thiết lập, củng cố và duy trì tính cố kết của nhóm. (Không tìm được nguồn tài liệu trích dẫn) http://www.tamlyhoc.net/forum/index.php?topic=1220.0