• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
Van hien so 10 nam 2013
 

Van hien so 10 nam 2013

on

  • 300 views

 

Statistics

Views

Total Views
300
Views on SlideShare
219
Embed Views
81

Actions

Likes
0
Downloads
0
Comments
0

5 Embeds 81

http://www.camnangdoanhnghiep.com.vn 65
http://doanhnghiepthuonghieu.com.vn 13
http://camnangdoanhnghiep.com.vn 1
http://vn-mg61.mail.yahoo.com 1
http://www.doanhnghiepthuonghieu.com.vn 1

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Van hien so 10 nam 2013 Van hien so 10 nam 2013 Document Transcript

    • NỘI DUNG SỐ 10 (242)-2013 CULTURE OF VIETNAM Taïp chí xuaát baûn 02 kyø/thaùng Giaáy pheùp hoaït ñoäng baùo chí soá 397/GP- BVHTT Vaø soá 41/GP - SÑBS Giaáy pheùp Quaûng caùo soá 1187/BC TOØA SOAÏN TRÒ SÖÏ 27 Höông Vieân, Q. Hai Baø Tröng, Haø Noäi ÑT & Fax: (84.4)39.764.693 CHUÛ NHIEÄM GS. Hoaøng Chöông TOÅNG BIEÂN TAÄP Nhaø baùo Nguyeãn Theá Khoa PHOÙ TOÅNG BIEÂN TAÄP THÖÔØNG TRÖÏC Nhaø baùo Traàn Ñöùc Trung PHOÙ TOÅNG BIEÂN TAÄP Ts. Nguyeãn Minh San TRÖÔÛNG BAN TRÒ SÖÏ Nhaø baùo Nguyeãn Hoaøng Mai THÖ KYÙ TOØA SOAÏN Nhaø baùo Traàn Thu Hieàn Nhaø baùo Töø My Sôn GIAÙM ÑOÁC ÑIEÀU HAØNH Nhaø baùo Voõ Thaønh Taân PGÑ: Nhaø baùo Leâ Haûi Chaâu GIAÙM ÑOÁC VPPT VAÊN HIEÁN VIEÄT NAM Phan Toân Tònh Haûi HOÄI ÑOÀNG BIEÂN TAÄP GS. Vuõ Khieâu - Thöôïng töôùng Nguyeãn Nam Khaùnh - GS. Traàn Baûng - GSTS. Traàn Vaên Kheâ - Nhaø thô Nguyeãn Khoa Ñieàm - NS. Vuõ Maõo - GSVS. Hoà Só Vònh - GS. Tröôøng Löu - GSTS. Thaùi Kim Lan TS.NSND Phaïm Thò Thaønh - NSND Ñaëng Nhaät Minh - TS. Ñoaøn Thò Tình - GSTS. Nguyeãn Thuyeát Phong - NB. Phaïm Ñöùc Löôïng - NB. Trung Ñoâng BAN CHUYEÂN ÑEÀ VAÊN PHOØNG BAN BIEÂN TAÄP Soá 64 Trung Hoøa (Soá 06 - Loâ 12B cuõ) Khu ÑTM Trung Yeân - Trung Hoøa - Caàu Giaáy - Haø Noäi ÑT: (84.4)37.83.1961 - 37.83.1962 Email: chuyendevanhien@ yahoo.com.vn VAÊN PHOØNG QUAÛNG CAÙO VAØ PHAÙT HAØNH Soá 404 Ñöôøng Böôûi, Q. Ba Ñình - TP. Haø Noäi ÑT: 04. 3 7717665 * Fax: 04. 3 7718875; Mobile: (+84)989.186661 Email: trantrungvanhien@gmail.com VAÊN PHOØNG ÑAÏI DIEÄN TAÏI TP. HCM 288B An Döông Vöông - Q. 5 - TP. HCM ÑT: (84.8)38.353.878 VAÊN PHOØNG ÑAÏI DIEÄN TAÏI ÑAØ NAÜNG Taàng 5 Khaùch saïn Eiffel -117 Leâ Ñoä - TP. Ñaø Naüng ÑT: (84.511)647.529 - Fax: (84.511)811.972 Email: chuyendevanhien@ yahoo.com.vn Trình baøy - Cty CP Vaên hoùa Thoâng tin De. Quang Anh TAØI TRÔÏ PHAÙT HAØNH Doanh nghieäp saùch Thaønh nghóa - TP. HCM In Taïi - Coâng ty TNHH MTV in Quaân ñoäi I GIAÙ: 36.000VNÑ SỰ KIỆN - BÌNH LUẬN 4. Anh Văn - Đại Anh hùng dân tộc Người anh lớn trong suốt cuộc đời tôi GS Vũ Khiêu 8. Đại tướng Võ Nguyên Giáp với văn nghệ sĩ GS Hoàng Chương 10. Kỷ niệm một lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp Trần Đức Trung 12. Kỷ niệm 70 năm Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh (1943 - 2013): Ngắm trăng - cuộc “vượt ngục” của Hồ Chí Minh Châu Giang 15. Tọa đàm khoa học mừng khánh thọ 98 tuổi và sinh nhật lần thứ 99 GS.AHLĐ Vũ Khiêu Mạc Hạ 17. GS. AHLĐ Vũ Khiêu - nhà khoa học, nhà trí thức toàn tài Lê Khả Phiêu 19. Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài Chòi trong đời sống hôm nay Ngọc Anh 21. Hội thảo “Nghệ thuật Bài chòi” tạo tiền đề hướng tới lập hồ sơ khoa học Di sản Bài chòi trình UNESSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Mai Thanh Thắng 23. Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài Chòi hướng tới là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại GS. Hoàng Chương 27. Thông cáo chung của toàn thể đại biểu tham dự Hội thảo KH Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi. PV 29. Ra mắt cơ quan đại diện Trung tâm NCBT&PHVHDTVN tại Bình Định... PV 31. Toạ đàm khoa học Di tích nghệ thuật kiến trúc quốc gia Đền Cây Quế Mạc Hạ HIỀN TÀI ĐẤT VIỆT 32. Chuyện về Thủ tướng Phạm Văn Đồng với thầy giáo khuyết tật Nguyễn Ngọc Ký Mạc Công Lý 34. Gs.Vs Trần Đại Nghĩa - Đại trí thức cả đời cống hiến cho đại nghĩa Trương Nguyễn 38. GS. Hoàng Như Mai - một nghệ sĩ sân khấu tài hoa, một nhà giáo nổi tiếng Gs. Hoàng Chương 40. NSƯT Nguyễn Thế Phiệt - Bứt phá cùng “chiếu Chèo” quân đội Minh Linh 43. Nguyễn Thế Kỷ - Người tiết giảm tai nạn giao thông bằng… thơ Lý Nhân 45. Nhớ anh Nguyễn Ngọc Sinh Gs. Hoàng Chương TỪ TRONG DI SẢN 46. Một điệu hát dân gian hai đời người Nguyễn Thế Kỷ 49. Đền Cây Quế di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia Bích Ngọc DIỄN ĐÀN 51. Nâng cao tính dân tộc trong phim truyện Việt Nam hiện nay PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh 55. “Tôi không bao giờ từ bỏ nhạc dân tộc dù có phải trả giá bằng cả cuộc đời nhọc nhằn” Nhạc sư Vĩnh Bảo 58. Mấy ý kiến về “Âm nhạc dân tộc với cuộc sống hôm nay” Mai Tuyết Hoa VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG 60. Công ty TNHH MTV Vật liệu xây dựng, xây lắp và kinh doanh nhà Đà Nẵng: Kinh doanh tốt nhờ hiểu dân Mộng Huệ 62. Công ty CP Tập đoàn Điện Bàn: Tập trung phát triển sản phẩm trí tuệ Trúc Lam 64. Công ty CP Tổng Công ty Giống cây trồng Thái Bình: Thành công từ sự khác biệt Quang Hòa
    • CONTENTS N 10 (242)-2013 0 FORUM 51. Enhance national characters in Vietnamese movies today Asso. Prof. Dr. Nguyen Hong Vinh 55. “I never give up ethnic music at any cost” Musician Vinh Bao 58. A few comments on ethnic music to daily life Artist Mai Tuyet Hoa THƯƠNG HIỆU - NHÃN HIỆU TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA 66. Công ty CP Xây dựng số I : Từ những bí quyết làm nên thương hiệu Bùi Thọ 68. Công ty TNHH MTV Thương mại và dịch vụ Sóng Nhạc: Thương hiệu là sự cam kết về chất lượng Trúc Lam 70. Công ty CP Giải pháp thanh toán Việt Nam: Coi thương hiệu là tài sản vô giá Thu Thu 72. Công ty CP Tập đoàn đầu tư địa ốc Nova: Nỗ lực “vượt sóng” để khẳng định thương hiệu Mộng Huệ TIN TỨC 74. Lễ trao tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho nhà thơ, nhà viết kịch Nguyễn Thế Kỷ Mạc Hạ PEOPLE AND EVENT 4. Brother Van - The Grand National Hero - Big brother in my whole life Prof. Vu Khieu 8. Top-ranking General Vo Nguyen Giap with artists Prof. Hoang Chuong 10. Memories on a time of meeting Topranking General Vo Nguyen Giap Tran Duc Trung 12. Celebrating 70 years of Ho Chi Minh’s Diary of prison (1943-2013) Contemplate the moon - the “escape” of Ho Chi Minh Chau Giang 15. Seminar on celebrating of Prof. Labour Hero Vu Khieu’s 99th birthday Mac Ha 17. Prof. Labour Hero Vu Khieu - A multi-talented scientist, intellectual Le Kha Phieu 19. Scientific workshop on Conservation, Promotion for “Bai Choi” singing art today Ngoc Anh 21. Workshop “Bai Choi” singing art towards to scientific heritage records to nominate to UNESCO as the intangible cultural heritage of humanity Mai Thanh Thang 23. Preservation and promotion of “Bai Choi” singing art towards as the intangible cultural heritage of humanity Prof. Hoang Chuong 27. Common report of all workshop participants on Preservation and promotion of “Bai Choi” singing art Reporter 29. Opening ceremony of representative organ of Center for Research, Preservation and Promotion of ethnic Cultures in Binh Dinh Reporter 31. Scientific seminar on the relics of architectural monuments of “Cinnamon Tree” national Temple - Mac Ha TALENTS OF VIETNAMESE LAND 32. Prime Minister Pham Van Dong with disable teacher Nguyen Ngoc Ky Mac Cong Ly 34. Tran Dai Nghia - The great intellectual for whole life Nguyen Truong 38. Prof. Hoang Nhu Mai - A talented artist, a famous teacher Prof. Hoang Chuong 40. Eminent artist Nguyen The Phiet - Breaking with the “Military Cheo” singing Minh Linh 43. Nguyen The Ky - The reducer traffic accidents by... his poetry - Ly Nhon 45. Remember Nguyen Ngoc Sinh Prof. Hoang Chuong INSIDE HERITAGE 46. A folk melody - wo lifes Nguyen The Ky 49. “Cinnamon Tree” national Temple, a national architecture Ngoc Bich FOR THE COMMUNITY DEVELOPMENT 60. Danang Housing Business & Construction Building Material One Member Limited Company: Good business for people’s understanding Mong Hue 62. Dien Ban Group JS Company: Focus on developing intellectual produces Truc Lam 64. Thai Binh Plants Seed JS Corporation: Success from the difference Quang Hoa TRADEMARK - BRAND NAME 66. No. 01 Construction JSC: From the keys making the brand Bui Tho 68. Music Wave Service & Trading One Member Limited Company: Brand is a commitment to quality Truc Lam 70. Vietnam Payment Solution JS Company: Regard brand as an invaluable asset Thu Thu 72. Nova Real Estate Investment Group JS Company: Effort “overcome the wave” to confirm trademark Hue Mong NEWS 74. Awarding Ceremony of Certificate of Merit by Prime Minister to poet Nguyen The Ky. Mac Ha Ảnh Bìa 1: Chân dung Đại tướngVõ Nguyên Giáp. Ảnh: Trần Định - BAVN
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Võ công truyền quốc sử Văn đức quán nhân tâm Anh Văn ĐẠI ANH HÙNG DÂN TỘC NGƯỜI ANH LỚN TRONG SUỐT CUỘC ĐỜI TÔI l GS.VŨ KHIÊU TÔI ĐƯỢC GẶP ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP SAU CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI NĂM 1950. TỪ ĐÓ TÔI ĐƯỢC SỐNG GẦN ĐẠI TƯỚNG. VỚI TƯ CÁCH LÀ PHÓ BAN TUYÊN HUẤN CỦA KHU ỦY KIÊM GIÁM ĐỐC CÁC SỞ THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN TÂY BẮC VÀ VIỆT BẮC, TÔI ĐƯỢC ĐIỀU SANG THAM GIA CÔNG TÁC TUYÊN HUẤN CỦA ĐẢNG ỦY MẶT TRẬN QUA CÁC CHIẾN DỊCH CHO ĐẾN CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (1954). 4
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Đại tướng Võ Nguyên Giáp trò chuyện với Giáo sư, Anh hùng Lao động, nhà văn hóa Vũ Khiêu tại nhà riêng Ảnh: Lê Quân chụp lại từ triển lãm ảnh. Nguồn Thanh niên online S au một thời gian Đại tướng bảo tôi bỏ cách xưng hô trịnh trọng là Đại tướng mà gọi là Anh cho thân mật. Từ đấy về sau trong suốt cuộc đời tôi, tôi gọi Đại tướng là Anh Văn. Tiếng Anh ấy đối với tôi không những thân thiết mà còn vô cùng thiêng liêng và thể hiện tinh thần ngưỡng mộ Anh từ đáy lòng tôi. 1.Trong thời kháng chiến chống Pháp Trong những năm tháng ấy, anh Văn giao cho tôi làm nhiệm vụ phổ biến tin chiến thắng và kịp thời viết những bài ca ngợi chiến công lừng lẫy của quân dân ta. Ngày ấy, Ban tuyên huấn của Đảng ủy Mặt trận gồm 5 thành viên: Đồng chí Võ Hồng Cương là trưởng ban, bốn Ủy viên khác là Thượng tướng Trần Văn Quang - giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, Hoàng Tuấn, đồng chí Hoàng Xuân Tùy và tôi. Anh Văn rất quan tâm đến vấn đề phổ biến tin chiến thắng, luôn luôn nhắc nhở đồng chí Lê Liêm hoàn thành tốt công việc này. Đồng chí Lê Liêm càng thúc giục tôi thực hiện nhiệm vụ nói trên. Đêm nào đồng chí cũng cho người xuống trải chiếu nằm bên cạnh tôi để đợi tôi viết xong thì mang bài về để đưa Anh xem. Ngoài việc viết những tài liệu trên, tôi còn huy động cơ quan tôi trực tiếp tổ chức việc động viên nhân dân đóng góp gạo nuôi quân, cổ vũ các đoàn dân công chở lương thực ra tiền tuyến, nhất là động viên nhân dân địa phương phục vụ chiến dịch. Tôi đã xẻ nửa nhân viên và phương tiện của Sở thông tin Việt Bắc, đem đoàn văn công đi theo và xây dựng một cơ quan di động. Một bộ phận nhỏ theo tôi đi sát tiền tuyến và gần gũi Anh. Còn đại bộ phận ở cách xa tôi chừng 20km. Cơ quan tôi là một trung tâm thu hút các văn nghệ sĩ. Về hội họa thì tập trung các họa sĩ như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Văn Ngoạn, Nguyễn Văn Tỵ… Anh Tô Hoài thì lấy địa điểm tôi làm trú chân, còn hằng ngày anh đi khắp miền Tây Bắc. Anh Lưu Hữu Phước thì hẳn với tôi, giúp tôi xây dựng các đoàn văn công phục vụ chiến trường. Đó là những ngày tôi được gần gũi các vị tướng lĩnh của Việt Nam như Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái, Lê Liêm, Lê Quang Đạo, Nguyễn Chánh, Đặng Kim Giang… Sau khi Lai Châu giải phóng, tôi được anh Văn cử tôi tham gia đoàn tiếp quản Lai Châu giải phóng, tôi được anh Văn cử tôi tham gia đoàn tiếp quản Lai Châu. Tôi đã tập hợp các chị em trong đội múa xòe của thủ lĩnh cũ của Lai Châu là Đào Văn Long và tổ chức các cháu thành một đội múa xòe phục vụ tiền tuyến. Anh Văn tỏ ý vừa lòng và động viên tôi tiếp tục những công việc ấy. 5
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm đơn vị nữ thông tin và quân y (tháng 5.1973) - Ảnh: TTXVN 2. Từ hòa bình lập lại trên miền Bắc Anh Văn đã kiến nghị với Trung ương cử tôi đi học lớp lý luận dài hạn học tại Học viện Mác - Lênin Trung Quốc. Hai năm sau, trở về nước tôi lại tiếp tục được gần gũi Anh và giúp việc Anh xung quanh các vấn đề tư tưởng, văn hóa và khoa học. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đảng ta đẩy mạnh cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Bắt chước những việc đã làm của Trung Quốc, Đảng ta đã mắc nhiều sai lầm trong việc đấu tố tại nông thôn. Vào tháng 6, 7 năm 1956, Bác Hồ cùng lãnh đạo Đảng họp với một số đơn vị cán bộ cốt cán của Đảng để tự kiểm điểm và thông qua kế hoạch sửa sai. Anh được giao nhiệm vụ sửa sai này và đã làm tốt công việc. Qua những ngày Anh đi nông thôn, những buổi Anh nói chuyện với cán bộ, nông thôn được thanh bình trở lại. Nông dân lại khôi phục và củng cố thêm lòng tin đối với Đảng và Bác Hồ. Tôi nghĩ, ngoài những chiến công rực rỡ ở tiền tuyến, anh Văn đã góp công lớn trong việc ổn định tình hình Kinh tế - xã hội sau Cải cách ruộng đất. Năm 1959, Ủy ban Khoa học Nhà nước được thành lập, anh Văn có lầm được cử làm chủ nhiệm Ủy ban. Tôi lại có dịp gần gũi Anh. Lúc đó, tôi là 6 Ủy viên kiêm Thư ký Ban Khoa học Xã hội, giúp chỉ nhiệm và cùng Tổng thư ký Tạ Quang Bửu, góp phần xây dựng một số viện đầu tiên của Khoa học Xã Hội như viện Văn học, viện Sử học, tổ Triết học, tổ Luật học… 3. Thời kỳ Đại tướng được giảm các nhiệm vụ Vào khoảng giữa thập kỷ 80 (Thế kỷ XX), công việc của Anh bỗng được giảm bớt rất nhiều. Anh được dịp nghỉ ngơi, hằng ngày chơi dương cầm tại gia đình và ngồi du thuyền trên Hồ Tây. Người ta có thể nghĩ rằng, sau bao năm chiến đấu, Anh được thảnh thơi trong “cảnh điền viên”. Tôi không nghĩ ở Côn Sơn. Câu thơ tâm sự của Nguyễn Trãi cũng là tâm sự của Anh những năm ấy: Bui một tấc lòng ưu ái cũ Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông Tôi nghĩ lòng Anh lúc đố cũng là lòng Nguyễn Trãi: Ưu dân, ái quốc, nghĩa là yêu nước và lo cho dân. Lòng Anh cũng “đêm ngày cuồn cuộn” như lòng Nguyễn Trãi. Anh không nghĩ đến bản thân mình mà luôn luôn nghĩ đến những việc lớn, sẽ tiếp tục diễn ra trên đất nước ta. Năm 1980, Anh được giao trách nhiệm tổ chức kỷ niệm long trọng 500 năm ngày sinh của Anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn: Ức Trai Nguyễn Trãi. Để
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN chuẩn bị cho bài phát biểu chính thức của Đảng và Nhà nước, anh yêu cầu một số các nhà khoa học trong giới Văn - Sử thử ghi những ý kiến cần nêu lên về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi. Trên cơ sở bài viết của mình, Anh bổ sung thêm một số ý kiến do đóng góp của các học giả, rồi đưa bài viết ấy cho anh em xem lại và góp ý thêm. Qua cách làm việc đó, tôi học được tính thận trọng, nghiêm túc của Anh trước khi đưa những bài viết của mình ra công chúng. Đối với việc chuẩn bị Lễ kỷ niệm và cuộc Hội Thảo về Nguyễn Trãi, tôi lại được theo Anh đi kiểm tra các bộ phận có trách nhiệm về các việc như : Nội dung các bài tham luận, chương trình buổi lễ và thể thức tiếp khách quốc tế… Trong kế hoạch nghiên cứu sự nghiệp và công hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh chịu trách nhiệm biên soạn một công trình về tư tưởng của Người để đưa ra Hội đồng nghiệm thu. Tập thể Hội đồng có công văn đề nghệ Bộ Chính trị cử một ủy viên chủ trì. Bộ Chính trị vì bận công việc đã giao tôi nhiệm vụ chủ trì buổi nghiệm thu đó. Với tinh thần trách nhiệm cao, tôi và Hội đồng nghiệm thu đã đọc kỹ và đánh giá cao công trình nghiên cứu của Anh, chỉ đề nghị tác giả bổ sung thêm một số điểm về nhân cách Hồ Chí Minh mà chỉ những người gần gũi Bác Hồ như Anh mới nắm được. 4. Những thử thách trước một nhân cách tuyệt vời Trước những năm tháng tưởng như an nhàn của Anh, Đảng giao cho Anh một công việc mới đó là: Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân số Sinh đẻ có Kế hoạch. Tôi rất bực mình hỏi tại sao giao cho Anh công việc ấy, Anh cười bảo tôi: “Hồ Chủ Tịch đã dạy chúng ta: Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Chúng ta đã từng vượt qua mọi khó khăn, từ đánh thắng mọi quân thù thì Đảng giao cho công việc gì cũng nhất định phải làm tốt việc ấy. Hãy bắt tay vào làm đi”. Ngay từ hôm đó, tôi và Ủy ban Khoa học Xã hội đã bắt tay ngay vào công việc. Trước hết, tôi tổ chức ở Ủy ban một bộ phận nghiên cứu về kế hoạch hóa dân số. Làm thế nào để dân số không ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân? Dân số có kế hoạch khoa học và khả thi sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển vì lợi ích của tương lai dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Trong thời kỳ này, Anh thực sự có nhiều khó khăn mà tôi không tiện nói ra ở đây. Nhưng Anh lúc nào cũng bình tĩnh, lạc quan. Anh gặp sự không hay trong quan hệ xã hội, vẫn luôn luôn vươn lên trên những cái tầm thường ấy để hướng vào những vào những điều lớn lao của dân tộc và nhân loại. Anh sống một cuộc đời khiêm tốn, giản dị, theo cách sống của Bác Hồ. Anh không chỉ được nhân dân trong nước yêu quý mà còn được đông đảo các danh nhân và các nhà khoa học trên thế giới ngưỡng mộ. Bao nhiêu khách quốc tế đến Việt Nam muốn được đến chào Anh, Anh không tiếp họ ở nhà riêng mà bảo tôi tổ chức một cuộc gặp mặt ở cơ quan tôi để Anh đến tham dự. Anh là một lãnh tụ có công lao lớn nhất trong sự nghiệp chiến thắng quân thù và giải phóng đất nước nhưng Anh lại muốn che bớt đi ánh sáng rực rỡ của Anh. Tài năng và đức độ của Anh không bao giờ Anh tự nói ra nhưng lại được ghi lại bởi hàng trăm, hàng nghìn bài báo và bút ký của đông đảo tướng sĩ trong quân đội, của các cán bộ Đảng và Nhà nước, của các nhà báo và của các nhà khoa học. Nhận biết dược tinh thần ấy, tôi đã viết tặng Anh 10 chữ như sau: Võ công truyền Quốc sử Văn đức quán Nhân tâm Có nghĩa là: sự nghiệp to lớn của Anh sẽ mãi mãi lưu truyền trong lịch sử. Còn văn hóa và đạo đức của Anh thì trùm lên lòng con người ở cả trong nước và ngoài nước. Anh Văn ơi. Anh mất đi là một tổn thất lớn của đất nước, là nỗi đau xót của 90 triệu đồng bào toàn quốc và cũng là nỗi tiếc thương của hàng triệu con người hâm mộ Anh trên toàn trái đất. Hôm nay toàn quốc khóc Anh như khóc Bác Hồ. Tôi còn khóc Anh nhiều hơn nữa. Anh là lãnh tụ của toàn dân, là hồn thiêng của sông núi. Đối với tôi, Anh còn là tài sản vô giá của đời tôi. Tôi khóc Anh mấy ngày hôm nay, đứt từng khúc ruột. Tôi nhìn lên tường, đọc lại những lời Anh viết tặng tôi năm tôi 90 tuổi: “Mừng anh Vũ Khiêu, một nhà triết học cách mạng, một chiến sĩ văn hóa anh hùng, năm nay thọ 90 xuân”. Sinh ra tôi là cha mẹ, hiểu biết tôi lại là Anh. Tấm lòng tri ngộ ấy tôi biết lấy gì báo đáp? Mấy hôm nay tôi ngồi khóc viết mấy lời trên, từ đỉnh trời cao, Anh có thấu hiểu lòng tôi?n 7
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỚI VĂN NGHỆ SĨ l T ên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị Đại tướng Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam, một danh tướng ngang tầm thế giới và hơn thế nữa là người đã cầm quân đánh bại cả hai đế quốc mạnh nhất ở thế kỷ XX đó là Pháp và Mỹ. Vì thế mà ai trên thế giới này lại không ngưỡng mộ ngợi ca. Tôi nhớ cuối những năm 60 đầu 70 của thế kỷ XX khi tôi đang nghiên cứu, học tập tại Rumani thì có một nhà báo người Châu Âu gặp tôi nói rằng: Tôi có nguyện vọng sang Việt Nam để viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, được gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng rất nổi tiếng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp và thăm cây cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) có sức chịu hàng tấn bom của Mỹ. Cũng tại Thủ đô Bucarest tôi gặp một thực tập sinh Angiêrie - tên là Mohamet đã từng là lính Lê Dương, tù binh ở mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954, kể chuyện với tôi rằng, anh thoát chết là nhờ có lòng nhân đạo của Hồ Chí Minh và tướng Giáp - chuyện này tôi đã viết bài với tên Mohamet đăng trên báo 8 GS. HOÀNG CHƯƠNG QĐND tháng 5 năm 1974, nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Sau này nhà văn Đào Phương đã dựa trên mẩu chuyện này viết vở kịch Vào Điện Biên. Tuy rất sùng kính, ngưỡng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhưng chưa một lần được gặp ông. Mãi đến tháng 9 năm 1990, tại Hội thảo khoa học về chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 100 năm sinh của Người cũng là dịp UNESCO công nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, chủ trì Hội thảo có Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhiều nhà lãnh đạo khác. Tôi đọc bài tham luận với nhan đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sân khấu dân tộc” trong đó có câu trích của G.S Chumakhơ người CHDC Đức viết: “Hồ Chí Minh là tác giả và Đại tướng Võ Nguyên Giáp là đạo diễn thành công vở kịch “Việt Nam Chiến thắng thần kỳ”. Tôi đọc xong được cả hội trường vỗ tay. Khi tôi từ trên bục bước xuống thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các văn nghệ sỹ cựu chiến binh. Ảnh Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đến vỗ vai tôi hỏi: - Đồng chí lấy đâu ra tư liệu này? Có thể chuyển cho tôi được không ?. Tôi thưa: Dạ ! Đây là phát biểu của nhà nghiên cứu sân khấu GS Chumakhơ người đã từng được gặp Bác Hồ nhiều lần và đã viết trên báo về vấn đề này, tôi sẽ chuyển tư liệu ấy cho Đại tướng ... Từ đó tôi được Đại tướng nhớ mặt và nhớ tên. Đến tháng 5 năm 1994, khi tôi làm Viện trưởng Viện nghiên cứu Sân khấu Việt Nam, nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Viện chúng tôi tổ chức Hội thảo khoa học “Nghệ thuật sân khấu với Điện Biên Phủ” có triển lãm và biểu diễn vở chèo Mối tình Điện Biên của Lưu Quang Thuận do Đoàn Chèo Hà Nội biểu diễn, chúng tôi mời Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới xem mấy màn chính trong vở chèo này. Mặc dù trời nóng bức, người xem rất đông nhưng Đại tướng vẫn ngồi xem từ đầu đến cuối. Xem xong, ông nói đại ý: Tôi rất xúc động và hoan nghênh các nghệ sĩ đã có những đóng góp quý báu giành cho đồng bào và chiến sĩ Điện Biên. Tuy vậy Đại tướng cũng cho rằng, “tác phẩm mới chỉ đề cập đến không khí của những ngày sau khi chiến thắng Điện Biên, tiết mục chưa thật sự mang chất chèo mà có phần đi gần với kịch nói” hơn ... Ý kiến của Đại tướng làm cho mọi người phải suy nghĩ là làm thế nào phản ánh chân thực hơn, sâu sắc hơn chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và làm thế nào để những vở chèo đề tài hiện đại có chất chèo hơn ... Một kỷ niệm khác với Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tháng 5/2004 nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam được sự hỗ trợ của báo Sài Gòn giải phóng tổ chức Hội thảo Văn học nghệ thuật với Điện Biên Phủ. Chúng tôi xin gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp để xin ý kiến về nội dung hội thảo và mời ông tới dự. Đại tướng rất khen ý tưởng này và hoan nghênh văn nghệ sĩ đã đóng góp to lớn cho thắng lợi vĩ đại của dân tộc, là chiến dịch Điện Biên Phủ và cuối cùng ông nói : Tôi sẽ cố gắng tới dự hội thảo này nếu vì lý do gì đó không đi được thì tôi sẽ cử chị Hà (phu nhân của ông) đi dự thay. Thật ít thấy một bậc danh tướng, danh nhân nào lại bình dị và chân tình như vậy. Sau hội thảo, ngày 28/4/2004 chúng tôi đến thăm và báo cáo cho Đại tướng kết quả hội thảo. Cả Đại tướng và phu nhân đã thân mật tiếp và nghe tôi báo cáo tình hình văn nghệ sĩ đã và đang tiếp tục sáng tác và biểu diễn về đề tài Điện Biên Phủ. Đại tướng rất vui và đánh giá rất cao những tài năng và cống hiến của văn nghệ sĩ với Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và với Điện Biên Phủ nói riêng. Tiếp theo đó, tôi lại được cùng một đoàn của Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam lên thăm, tặng hoa cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đó có NSND Chu Thúy Quỳnh, người đã từng biểu diễn ở mặt trận Điện Biên Phủ nên Đại tướng không những nhận ra ngay mà còn nhớ những điệu múa đẹp đã diễn ở mặt trận Tây Bắc năm xưa. Tuy Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất bận, lại phải tiếp rất nhiều đoàn trong và ngoài nước đến thăm, nhưng với tôi dường như có một chút ưu tiên nên khi nào tôi xin gặp đại tướng, thông qua Đại tá Nguyễn Văn Huyên là được nhận lời. Vì vậy tôi đưa được nhiều người ngưỡng mộ Đại tướng đến thăm ông, trong đó TS Đinh Đức Hữu Việt kiều Mỹ, nhà văn Sinhgapo.... đều được gặp và được nghe Đại tướng nói chuyện, duy chỉ có một đoàn nước ngoài do Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Malaixia vì quá ngưỡng mộ Tướng Giáp mà kéo một đoàn rất đông đến tận nhà riêng 30 Hoàng Diệu - Hà Nội mà không được gặp Đại tướng vì quy định các đoàn Chính phủ phải thông qua ngành ngoại giao. Ấn tượng về Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất sâu đậm trong ký ức, trong trái tim tôi đối với một danh tướng huyền thoại, một con người vĩ đại, nhân cách lớn, một học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy mà không bút mực nào có thể nói hết được tài năng và đức độ của ông như GS - AHLĐ Vũ Khiêu đã khái quát ra hai câu đối: Võ công truyền quốc sử/ Văn đức quán nhân tâm và Thăng Long thiên tuế thịnh/Đại tướng bách niên xuân. Hà Nội, ngày 7 tháng 10 năm 2013 9
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN KỶ NIỆM MỘT LẦN ĐƯỢC GẶP Đại Tướng VÕ NGUYÊN GIÁP l TRẦN ĐỨC TRUNG THẾ LÀ ĐẠI TƯỚNG ĐÃ MÃI MÃI RA ĐI. VẪN BIẾT QUI LUẬT SINH LÃO BỆNH TỬ KHÔNG ƯU ÁI VỚI BẤT KỲ MỘT AI NHƯNG VỚI ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP - NGƯỜI ANH CẢ CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM, MỘT TRONG MƯỜI VỊ TƯỚNG GIỎI CỦA THẾ GIỚI THÌ SỰ RA ĐI ẤY DƯỜNG NHƯ LÀ MỘT SỰ THẬT KHÔNG DỄ CHẤP NHẬN. THỰC TẾ ĐAU THƯƠNG NÀY KHIẾN TÔI NGỠ CUỘC VIẾNG THĂM ĐẠI TƯỚNG VÀO DỊP ĐẦU NĂM 2010 NHƯ MỚI XẢY RA NGÀY HÔM QUA, HÔM KIA. T hời điểm đó diễn ra vào đầu năm 2010, khi Đại tướng đang nằm điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Được tin ông ốm đã lâu nhưng hôm ấy mấy anh em chúng tôi (gồm nhà báo Trần Đức Trung - P.TBT Tạp chí Văn Hiến Việt Nam, anh Lê Hải Châu - Tổng Giám đốc Công ty Chu Việt, anh Trưởng đoàn Ca múa nhạc Quảng Bình) mới tụ tập nhau để đến thăm sức khoẻ Đại tướng được. Sau khi điện thoại cho thư ký của Đại tướng, chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Sợ ông vì sức khỏe không tốt mà không thể tiếp đón mấy anh em. Khi nhận được điện thoại trả lời của đồng chí thư ký Đại tướng rằng ông đồng ý thì chúng tôi vui mừng khôn xiết, không thể tin rằng mình sắp được gặp ông, được nói chuyện với ông - một tài năng quân sự, huyền thoại sống của lịch sử cách mạng Việt Nam. Không biết mấy người đi cùng có suy nghĩ gì không nhưng trong thâm tôi lúc trên đường đến thăm ông cứ đinh ninh Đại tướng chắc chắn sẽ tiếp đón mình 10 trong bộ đồ của bệnh viện. Đó là điều bình thường và cực bình thường đối với bất cứ ai đang trong quá trình dưỡng bệnh ở bệnh viện. Nhưng một lần nữa, Đại tướng đã cho tôi thêm một lần bất ngờ, kính nể và càng ngưỡng mộ ông hơn về cái Tâm, cái Đức cũng như phong thái lịch thiệp của Đại tướng. Tiếp chúng tôi, có thể nói là những vị khách thuộc thế hệ cháu con, chưa kể là những người bình thường như muôn vàn người khác trong xã hội, nhưng Đại tướng lại ăn vận bộ quân phục rất chỉnh tề, tươm tất. Nhìn ông nhỏ bé, nghiêm ngắn trong bộ quân phục xanh thân thuộc mỉm cười thân thiện chào đón chúng tôi mà trong tôi trào dâng lên niềm cảm xúc khó tả. Mừng vui vì được gặp ông nhưng tôi lại cảm thấy như mình đã làm phiền ông vì Đại tướng lúc này sức khỏe đã không được tốt như trước. Và vì chúng tôi đến thăm mà Đại tướng không được nghỉ ngơi, thay vì nằm trên giường bệnh ông đã phải ngồi dậy, thay trang phục để tiếp đón. Tôi quả thực lúc đó có chút
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Phó Tổng Biên tập Thường Trực Tạp chí VHVN - Nhà báo Trần Đức Trung (bên trái) với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ân hận nhưng sự sung sướng vô bờ bến được gặp Đại tướng nhanh chóng lấn át đi. Trong lúc ngồi hỏi thăm sức khỏe Đại tướng, đồng chí Trưởng đoàn Ca múa nhạc Quảng Bình đã không cầm được nước mắt, khóc nức nở khi thấy Đại tướng do tuổi già, sức yếu mà thân thể gầy gò, không được khỏe mạnh. Tất cả mọi người cùng đi tự nhiên mắt cứ đỏ hoe. Thấy vậy, Đại tướng cười nhẹ và nói: Sao phải khóc? Không phải tôi vẫn đang ngồi đây nói chuyện với các đồng chí sao. Nghe thấy Đại tướng nói vậy, chúng tôi lại càng xúc động hơn. Mang tiếng đến thăm hỏi, động viên ông gắng dưỡng bệnh để phục hồi sức khỏe thì ngược lại, chính chúng tôi lại phải để Đại tướng động viên, chấn tĩnh lại. Không hiểu sao mấy người đàn ông to lớn, gan góc ngoài đời thường lại có thể dễ dàng trở nên nhỏ bé, yếu đuối trước Đại tướng đến như vậy. Sau cuộc viếng thăm ấy và cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ như in thái độ ân cần, gần gũi mà Đại tướng dành cho chúng tôi. Một con người sự nghiệp lẫy lừng, tiếng tăm vang dội khắp bốn biển năm châu mà cứ như một người ông, người cha bên con cháu quây quần, không hề có khoảng cách nào giữa chúng tôi với vị Đại tướng huyền thoại. Tôi lại nhớ một câu chuyện viết về sự chu đáo, tình nghĩa của ông đối với nhân dân. Chuyện kể rằng có mấy người nông dân miền Trung lỉnh kỉnh mang rau quả, gà vịt đến trước ngôi nhà 30 Hoàng Diệu đòi vào thăm Đại tướng. Đợt ấy ông cũng đang mệt. Khi được báo và biết mọi người có ý muốn từ chối để cho ông được nghỉ ngơi thì ngay lập tức Đại tướng nói đại ý: không thể phụ tấm lòng của nhân dân rồi ông đi thay trang phục để ra tiếp đón họ. Những ngày qua, khi thấy đoàn người xếp hàng dài mấy km để được vào thắp hương, tưởng nhớ Đại tướng tại ngôi nhà 30 Hoàng Diệu; lại đọc tin tức thấy mọi người ở khắp nơi tụ về Hà Nội, tụ về Quảng Bình để được đứng trong dòng người tham dự lễ tang Đại tướng, tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng đúng như nguyện vọng của Đại tướng, kỷ niệm duy nhất về lần gặp Đại tướng như sống dậy trong ký ức. Tôi cảm thấy mình thật hạnh phúc vì đã may mắn được trực tiếp ngồi trò chuyện với Đại tướng. Ba năm đã trôi qua nhưng tôi cảm thấy như mới hôm qua, giọng nói của ông, bàn tay ấm nóng của ông như vẫn đang ân cần động viên, truyền nhiệt huyết cho anh em chúng tôi vươn lên, góp phần xây dựng quê hương đất nước giàu đẹp. Mùa thu 2013 Đại tướng đã mãi mãi ra đi. Trong tôi và trong hàng nghìn, hàng vạn người dân Việt Nam sự xót xa, đau đớn không gì có thể so sánh. Tôi cảm thấy như mình đã mất đi một người ông một cây cao bóng mát của cuộc đời. Trước công lao và tấm gương đạo đức ngời sáng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tôi tự thấy mình phải cố gắng nhiều hơn nữa, gắng làm thật nhiều điều có ích cho xã hội hơn nữa để không hổ danh con Lạc cháu Hồng, để xứng đáng với thế hệ cha ông đã hy sinh biết bao xương máu mang lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho mọi người. n 11
    • KỶ NIỆM 70 NĂM “NHẬT KÝ TRONG TÙ” CỦA HỒ CHÍ MINH (1943-2013) Ngắm trăng CUỘC “VƯỢT NGỤC” CỦA HỒ CHÍ MINH l CHÂU GIANG SINH THỜI, BÁC HỒ RẤT YÊU TRĂNG. NGƯỜI ĐÃ LÀM MỘT SỐ BÀI THƠ HAY VỀ TRĂNG, NHƯ: NGẮM TRĂNG, CẢNH KHUYA, RẰM THÁNG GIÊNG,…TRONG ĐÓ, THI PHẨM NGẮM TRĂNG ĐƯỢC NGƯỜI LÀM ĐẦU TIÊN, NĂM 1942. 12
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Ảnh Duy My B ài thơ Ngắm trăng (chữ Hán là Vọng nguyệt) là một trong nhiều bài thơ Bác làm trên đất khách, trong khi Người bị giam cầm trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, Trung Quốc, từ mùa thu năm 1942 đến thu năm 1943, đã được tập hợp, in trong tập Nhật ký trong tù (chữ Hán là Ngục trung nhật ký). Mở đầu bài thơ Ngắm trăng Bác viết: “Trong tù không rượu cũng không hoa”. Một câu thơ trần trụi, tả cảnh sống rất chân thực mà Hồ Chí Minh phải sống trong nhà tù Tưởng Giới Thạch. Cảnh “không rượu, cũng không hoa”, có thể nói là cảnh sống của tù nhân ở bất cứ nhà tù nào trên thế gian này. Và, bất cứ người tù nào cũng có thể tả được như thế, bởi đó là thực tế trần trụi và khắc nghiệt của địa ngục dưới trần gian. Câu thơ mở đầu cho người đọc thấy được tư thế / hoàn cảnh ngắm trăng của Bác Hồ - “không rượu, cũng không hoa”. Một tư thế/hoàn cảnh thật độc đáo, chẳng giống thi nhân nào. Và, chẳng có thi nhân chứ đừng nói người thường nào lại có thể bình tâm ngắm trăng trong cái tư thế ấy. Không có rượu, không có hoa (những vật chất thường gọi thi hứng của thi nhân), lại bị giam cầm, đầy đọa trong ngục tối “ghẻ lở mọc đầy thân”, vậy mà người tù Hồ Chí Minh vẫn ngắm trăng (thưởng nguyệt), vẫn nhìn kĩ, nhìn mãi vầng trăng treo mờ tỏ trên cao qua chấn song sắt của nhà tù cho thỏa lòng yêu thích. Sự việc này soi tỏ một điều rằng, chỉ những người có chất thép trong ý chí và nghị lực như Hồ Chí Minh mới có thể ung dung tự tại, chủ động, mới có thể ngắm trăng trong cảnh ngộ ngặt nghèo như vậy. Qua đó cũng khẳng định Hồ Chí Minh là thi nhân lớn, có một tâm hồn dào dạt, tinh tế, thơ mộng không một hoàn cảnh khó khăn, khổ cực nào có thể thui chột, giết chết niềm cảm hứng thi ca trong Người. Chính trong cái hoàn cảnh lao tù ấy, chỉ có tâm hồn thi sĩ trong Hồ Chí Minh mới nhận ra “Cảnh đẹp” trong đêm đen lao tù ấy. Và, như một tất yếu, một diễn tiến tiếp theo của tâm hồn, là thi sĩ Hồ Chí Minh “khó” (mà không phải là “không thể”) “hững hờ”. Chính vì vậy, cái thơ mộng của Bác không viển vông. Đó chính là chất 13
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN lãng mạn cách mạng của người chiến sĩ cách mạng. Chính đôi cánh lãng mạn ấy đã giúp Hồ Chí Minh bay ra khỏi song sắt lao tù lúc nào không hay: Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Tâm hồn lãng mạn cách mạng ấy nảy nở trên cơ sở một ý chí rất cao của Bác - người chiến sĩ cách mạng: Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao Muốn nên sự nghiệp lớn Tinh thần càng phải cao. Bị giam cầm một mình trong bốn bức tường cao, hàng ngày bị bọn cai ngục gian ác hành hạ đủ điều, Hồ Chí Minh chỉ có vầng trăng trên cao là bầu bạn. Bạn tri âm, tri kỷ. Vậy mà hai người bạn tâm giao kia vẫn bị chế độ nhà tù hà khắc ngăn cách bởi những chấn song sắt vô hồn. Với việc nhà thơ Hồ Chí Minh dùng thủ pháp nghệ thuật nhân cách hóa cho trăng là người - Trăng đã trở thành bạn của người tù Hồ Chí Minh. Người ngắm trăng thì trăng cũng ngắm người. Chính vẻ đẹp lãng mạn cách mạng của người tù Hồ Chí Minh đã làm say vầng trăng. Và người tù Hồ Chí Minh và Trăng - hai - người - bạn ngắm nhau qua song sắt nhà tù đã tạo nên một bức tranh vừa tuyệt mỹ về nghệ thuật, vừa lãng mạn và lung linh một nhân sinh quan. Nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhận xét: “Trước cuộc ngắm trăng, Bác là người tù, cuối cuộc ngắm trăng, người tù đã hóa nhà thơ. Bác đã hoàn thành một cuộc vượt ngục bằng hành động ngắm trăng, thân thể ở trong lao nhưng tinh thần đã ở ngoài lao rồi”. Sau cuộc “vượt ngục” bằng thơ năm 1942 - 1943, khi Bác bị kẻ thù giam cầm, khi đất nước chưa được tự do, độc lập ấy, Bác Hồ còn có nhiều dịp ngắm trăng nữa. Mặc dù hoàn cảnh ngắm trăng sau này của Bác có khác xưa, Bác đã là Chủ tịch một nước Việt Nam độc lập, song trăng vẫn vào thơ Bác (như bài Cảnh Khuya viết năm 1947, bài Rằm tháng Giêng làm năm 1948,…). Trăng và Bác Hồ vẫn là hai người bạn tri kỷ, tri âm: Trăng vào cửa sổ đòi thơ Việc quân đang bận xin chờ hôm sau. n 14 VỌNG NGUYỆT Ngục trung vô tửu diệc vô hoa, Đối thử lương tiêu nại nhược hà ? Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt, Nguyệt tòng song khích khán thi gia. (Ngục trung nhật ký) Dịch: NGẮM TRĂNG Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay, khó hững hờ ? Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. (Nhật ký trong tù)
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN TỌA ĐÀM KHOA HỌC MỪNG KHÁNH THỌ 98 TUỔI VÀ SINH NHẬT LẦN THỨ 99 GS. AHLĐ VŨ KHIÊU S áng ngày 18/9/2013, tại Hội trường Bộ VHTT&DL, Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) phối hợp tổ chức Tọa đàm khoa học mừng khánh thọ 98 tuổi và sinh nhật lần thứ 99 của GS. AHLĐ Vũ Khiêu - cây đại thụ khoa học xã hội Việt Nam. Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Vũ Oanh, Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị - Chủ tịch UB Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt, NSND Lê Tiến Thọ - Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Trung tướng - AHLĐ - Nhà văn Hữu Ước - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, TSKH Phan Văn Tân - Chánh Văn phòng Bộ VH-TT&DL, đại diện các Nhà hát: Tuồng, Cải lương Trung ương, đại diện l MẠC HẠ Hội Thơ Đường Việt Nam, đại diện một số hội văn học nghệ thuật, đông đảo nhà khoa học, văn nghệ sĩ và những người kính trọng, yêu mến GS. AHLĐ Vũ Khiêu đã đến dự, đọc tham luận và tặng hoa chức mừng GS. AHLĐ Vũ Khiêu. Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, nguyên Bộ trưởng GTVT Hồ Nghĩa Dũng đã gửi lẵng hoa chúc mừng GS. AHLĐ Vũ Khiêu. Với tình cảm kính trọng, biết ơn GS. AHLĐ Vũ Khiêu, ông Bẩy Lam, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang đã không quản đường xá xa xôi, từ Kiên Giang ra Hà Nội đến tặng hoa mừng khánh thọ 98 tuổi và sinh nhật lần thứ 99, GS.AHLĐ Vũ Khiêu. Mở đầu buổi lễ, các liền anh, liền chị của Trung tâm Văn hoá quan họ Bắc Ninh đã biểu diễn những 15
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Các đ/c Lê Khả Phiêu, Phạm Thế Duyệt, Vũ Oanh và các đại biểu chụp ảnh lưu niệm với Gs. AHLĐ Vũ Khiêu Ảnh http://www.qdnd.vn làn điệu dân ca mượt mà, sâu lắng chúc khánh thọ 98 mùa xuân và mừng sinh nhật lần thứ 99 của GS.AHLĐ Vũ Khiêu. Các nghệ sĩ Mẫn Thu, Kiều Oanh đã ngâm một số bài thơ của GS. AHLĐ Vũ Khiêu. NS Mai Tuyết Hoa hát tặng GS Vũ Khiêu một làn điệu Xẩm mà ông yêu thích và thường nghe mỗi khi cần lấy lại sự bình an, thư thái sau những giờ làm việc căng thẳng. Sau bài phát biểu ca ngợi tài năng, đức độ và những thành tựu khoa học to lớn, rất có giá trị mà GS.AHLĐ Vũ Khiêu đã tạo dựng trong gần một thế kỷ qua của GS. Hoàng Chương - Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, GS.TS Hồ Sỹ Vịnh, Trung tướng - AHLĐ - Nhà văn Hữu Ước và nhiều nhà khoa học, văn nghệ sĩ đã phát biểu ca ngợi tấm gương lao động khoa học có một không hai, và những cống hiến to lớn của GS.AHLĐ Vũ Khiêu cho nền khoa học nước nhà. Với sự xúc động chân thành, GS.AHLĐ Vũ Khiêu đã cảm ơn tấm lòng và những lời chúc tốt đẹp của mọi người, đặc biệt là của GS. Hoàng Chương và Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc đã tổ chức mừng khánh thọ 98 tuổi và sinh nhật lần thứ 99 của ông. Ông lạc quan và tin tưởng sẽ tiếp tục cống hiến cho khoa học nước nhà nhiều hơn nữa. Mọi người đều tin tưởng và chúc mừng ông. n 16 ANH HÙNG VÀ NGHỆ SĨ Tuổi non thế kỷ, trí quang minh Duyên nợ văn chương, nhất nghệ tinh Câu đối tài hoa tôn đạo lý Chúc văn trang trọng tế thần linh Anh hùng nghệ sĩ ngời công đức Cách mạng triết gia thắm nghĩa tình Bách tuế, thân tằm còn nhả chữ Trọn đời vì nước, vị nhân sinh! Tạ Minh Tâm
    • Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu phát biểu chúc thọ Giáo sư, Anh hùng lao động Vũ Khiêu. Ảnh: Nguyễn Minh San GS. VŨ KHIÊU NHÀ KHOA HỌC, NHÀ TRÍ THỨC TOÀN TÀI G iáo sư, Anh hùng Lao động Vũ Khiêu là một trí thức lớn, cây đại thụ của Khoa học Xã hội Việt Nam, một nhà khoa học toàn tài. Mừng khánh thọ lần thứ 98, sinh nhật lần thứ 99 của Giáo sư , tôi thực sự vui mừng vì thấy ở tuổi thượng thọ, cây đại thụ của nền văn hóa Việt Nam vẫn tinh anh, minh mẫn, không ngừng tiếp tục lao động sáng tạo phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Ở ông là cả một nguồn trí tuệ dồi dào, vô tận, một kho báu quý giá cho nền khoa học nước nhà. Không chỉ là sự kỳ diệu của một trí tuệ hiếm biệt, Giáo sư Vũ Khiêu còn là hiện thân, biểu tượng của tài năng l LÊ KHẢ PHIÊU Nguyên Tổng bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam sáng tạo và sức lực cống hiến. Thời gian và bệnh tật đã phải cúi đầu bất lực trước ông. Giáo sư Vũ Khiêu thật xứng đáng là Anh hùng Lao động, một đảng viên Cộng sản mẫu mực chân chính, xứng đáng được Đảng và Nhà nước cùng nhân dân tôn vinh, kính trọng. Với trí tuệ của mình, ông đã cho ra đời hàng trăm bộ sách đồ sộ, bề thế, những công trình khoa học, các tác phẩm, bài viết, bài giảng về nhiều lĩnh vực: Triết học, giáo dục, kinh tế, tôn giáo, văn hóa, lịch sử, đạo đức, mỹ học, tư tưởng Hồ Chí Minh…là những công trình có giá trị lịch sử lâu dài và vô giá đối với kho tàng tri thức của dân tộc. Giáo sư Vũ Khiêu am hiểu cội nguồn văn hóa 17
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Gs. Hoàng Chương - TGĐ Trung tâm NCBT&PHVHDT đọc lời khai mạc Lễ Khánh thọ 98 Gs. AHLĐ Vũ Khiêu. Ảnh: Nguyễn Minh San Gs. AHLĐ Vũ Khiêu phát biểu cảm ơn các đại biểu tại Lễ Khánh thọ. Ảnh: Nguyễn Minh San dân tộc nên các tác phẩm của ông rất sát thực tiễn cuộc sống, gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân và với mọi lứa tuổi. Số lượng tác phẩm, công trình của Giáo sư đã viết, đã chủ biên, biên tập, cố vấn…cho đến nay khiến giới học giả trong nước và nước ngoài phải kính nể. Đặc biệt, Giáo sư Vũ Khiêu còn là bậc thầy về tài viết phú, văn tế, văn bia. Đây là những thể cổ văn rất khó, yêu cầu niêm luật chặt chẽ, mang tính lịch sử, thế nhưng Giáo sư thể hiện vừa tề chỉnh mà vẫn phóng khoáng, nhịp điệu trầm hùng mà vẫn thanh tao, hào hoa, nhã tiệp: Ví dụ ông viết tặng cho tôi hai câu đối treo ở nhà (quê Thanh Hóa): Khóm trúc Đào Tiềm (1) hoa đã nở Hàng tre Nguyễn Trãi bụi không vào Và câu thứ hai tôi treo ở Hà Nội: Ái quốc, ưu dân, cúc đã vàng hoa, lòng vẫn đỏ Thân hiền, trọng sĩ, đầu bạc tóc, mắt đang xanh Đọc tác phẩm của ông, trong dân tộc thấy thời đại, trong văn hóa thấy tư tưởng, trong văn thấy triết, trong lịch sử thấy bài học nhân văn, thấy cả một người nghệ sĩ, một người anh hùng bình dị trong cuộc sống đời thường, trung thực, nặng tình với gia đình, bạn bè, với quê hương đất nước, một ngòi bút sắc sảo, thâm nho, trọng tình nghĩa, gét thói xa hoa, phô trương, tham nhũng, lãng phí. Chủ nghĩa tháp ngà là kẻ thù đối với ông. Hiện nay, với sức làm việc 10 tiếng một ngày và những hoạt động của một người gần trăm tuổi như ông cho thấy một sự ưu thời mẫn thế và tấm lòng của một nhà trí thức toàn diện, toàn tài, không màng danh lợi, tâm huyết sâu nặng với đời, yêu nước thương dân trọn vẹn: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu/ Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (Lo trước thiên hạ/ Hưởng phúc sau thiên hạ). Nhân dịp khánh thọ lần thứ 98, sinh nhật lần thứ 99 của Giáo sư, Anh hùng lao động Vũ Khiêu (19 - 9 - 2013), tôi chúc ông mạnh khỏe, trường thọ và tiếp tục đóng góp vào sự nghiệp Khoa học Xã hội nước nhà. Tôi tin rằng nguồn trí tuệ đầy ắp trong Giáo sư - một nhà tư tưởng, một tầm vóc nhân văn lớn, một trí thức và khoa học gia hiếm có của dân tộc ngày càng tỏa sáng, khiến ông càng cống hiến nhiều hơn nữa cho đời, cho dân tộc. Thế hệ hôm nay và mai sau luôn ngưỡng mộ tài năng, đạo đức và phong cách của ông. n ---------------------- 18 (1) Đào Tiềm là danh nhân Trung Quốc, từ quan về quê ở ẩn.
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN HỘI THẢO KHOA HỌC Bảo tồn và phát huy Nghệ thuật bài chòi TRONG ĐỜI SỐNG HÔM NAY NGỌC ANH Từ ngày 10/09 đến ngày 11/9/2013, tại TP Quy Nhơn (Bình Định), Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Định và Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc VN đã phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi”. T ham dự hội thảo có đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Lê Hữu Lộc, đồng chí Lê Kim Toàn - Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Bình Định và nhiều vị lãnh đạo các Sở VH,TT&DL, các Hội VHNT các tỉnh miền Trung cũng như đông đảo những người hoạt động sân khấu Bài chòi trong cả nước và nhiều cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và địa phương. NSƯT Vương Duy Biên - Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Mai Thanh Thắng, GS Hoàng Chương - Tổng Giám đốc Trung tâm NCBT&PHVHDTVN, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Bình Định Văn Trọng Hùng đã chủ trì hội thảo. Sau bài phát biểu chào mừng của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Mai Thanh Thắng và bài đề dẫn của GS Hoàng Chương, hơn 30 tham luận của các đại biểu đã xác định vị trí và giá trị của Bài chòi sinh ra ở vùng Nam Trung bộ, là sản phẩm văn hóa quý giá, độc đáo của một miền đất nước. Nó giữ 19
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN một vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân Nam Trung bộ. Xét những thành tựu đạt được trên phương diện thực tế hoạt động và trên những đặc trưng nghệ thuật của nguyên lý lý luận sân khấu, hội thảo thống nhất nhận định Bài chòi có nhiều yếu tố sân khấu đẹp và độc đáo. Là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân tộc của địa phương, xứng đáng đứng cùng đội ngũ sân khấu dân tộc khác như Tuồng, Chèo, Cải lương… Nó vừa có nét độc đáo nghệ thuật của không gian văn hóa miền Trung, vừa có nét chung của sân khấu dân tộc, góp mặt vào sự phong phú và đa dạng của nền nghệ thuật sân khấu nước nhà. Bên cạnh việc duy trì bảo tồn phong trào Bài chòi dân gian với những lễ hội đánh Bài chòi, hình thức truyền thống đang tồn tại ở các địa phương và những vở diễn, những trích đoạn Bài chòi tiêu biểu, nhiều tham luận tại hội thảo đã khẳng định những thành tựu đạt được qua các vở diễn như “Thoại Khanh Châu Tuấn”, “Tiếng sấm Tây Nguyên”, “Đội kịch chim chèo bẻo”… và mới đây là vở “Khúc ca bi tráng” của Đoàn Ca kịch Bài chòi Bình Định. Các ý kiến tại hội thảo cũng đề cập đến vấn đề phát triển Bài chòi trên cơ sở cách tân có sự giao lưu, học hỏi giữa Bài chòi với các hình thức khác của sân khấu dân tộc và sân khấu thế giới. Sự cách tân phải giữ được hơi hướng, bản sắc và điệu Bài chòi, bảo đảm được nét độc đáo, riêng biệt của Bài chòi và tiếp tục sáng tạo làm giàu có, phong phú thêm bộ môn nghệ thuật quý giá này. Có nghĩa là: Phát triển Bài chòi dựa trên nguyên tắc giữ được cái lõi Bài chòi cổ trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn đặc trưng của kịch hát dân tộc với 4 yếu tố: Hô, Hát, nói lối, vũ đạo hóa trên nguyên tắc cách điệu và tượng trưng của sân khấu dân tộc. Về nội dung đề tài hiện nay cần tập trung khai thác những kịch bản phù hợp với ngôn ngữ nghệ thuật của thể loại, tập trung giải quyết những vấn đề tâm lý, xã hội hiện nay như nhân tình thế thái, bồi dưỡng nhân cách đạo đức con người, tạo ra một cuộc sống xã hội lành mạnh, tích cực, mang được hơi hướng thời đại. Trước xu hướng nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống bị mai một, trong đó có Bài chòi, các ý kiến tại hội thảo đã nhấn mạnh nghệ thuật Bài chòi cần được bảo trợ, tài trợ để duy trì và phát triển trên tinh thần Trung ương và địa phương cùng làm: + Đề nghị các cơ quan hữu quan sớm tổ chức cơ quan đại diện khoa học về nghệ thuật Bài chòi tại 20 miền Trung. Trước mắt có thể là dựa vào cơ quan đại diện của Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn & Phát huy Văn hoá Dân tộc VN ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên tại TP Quy Nhơn, Bình Định. + Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch dành một phần kinh phí hàng năm trong quỹ phát triển sân khấu truyền thống cho sân khấu Bài chòi; Có kế hoạch lưu giữ các vở “bảo tàng” và các vở “thể nghiệm”; Tổ chức hệ thống đào tạo chính quy chuyên ngành về bộ môn Bài chòi, nhằm tạo ra đội ngũ diễn viên kế tục và những tác giả, đạo diễn, nhạc sĩ chuyên ngành về sân khấu Bài chòi; Có chế độ đãi ngộ thích đáng cho các nghệ sĩ, các nhà hoạt động sân khấu hiện nay, cụ thể về đời sống, tài chính, danh hiệu nghệ sĩ. + Thường xuyên tổ chức toạ đàm, hội thảo về bảo tồn và phát huy, phát triển Bài chòi. + Xây dựng bảo tàng loại hình Dân ca kịch Bài chòi và xây dựng không gian Bài chòi và Nhà hát sân khấu Bài chòi trong tương lai gần. + Tăng cường quảng bá Bài chòi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tại hội thảo, thay mặt Bộ VH,TT&DL, Thứ trưởng Vương Duy Biên đã nhấn mạnh: “Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch sớm có văn bản báo cáo Chính phủ cho phép tỉnh Bình Định hoàn thành hồ sơ trình UNESCO công nhận Bài chòi là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Đề nghị Trung tâm NCBT&PHVHDTVN phối hợp với UBND tỉnh Bình Định và Viện Văn hoá có sự chuẩn bị chu đáo thống nhất tư liệu để trình UNESCO”. Hội thảo khoa học “Nghệ thuật Bài chòi” là một trong những mốc quan trọng trên con đường phát triển nghệ thuật Bài chòi. Hội thảo đã thông qua thông cáo chung kêu gọi các cấp lãnh đạo, các cơ quan hữu quan và đông đảo công chúng nhiệt thành tích cực ủng hộ, giúp đỡ để nghệ thuật Bài chòi thực sự là nghệ thuật độc đáo của miền Nam Trung bộ, đóng góp vào sự phong phú của sân khấu dân tộc. Đồng thời, hội thảo nhận định Bình Định là cái nôi của nghệ thuật Bài chòi, cần bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi bằng nhiều giải pháp, góp phần chăm lo, gìn giữ vốn văn hóa, văn nghệ dân gian cổ truyền của dải đất miền Nam Trung bộ một cách có kế hoạch để nơi đây thực sự trở thành không gian văn hóa của nghệ thuật Bài chòi, tiến tới mục tiêu trình UNESCO công nhận nghệ thuật Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. n
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN HỘI THẢO “NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI” TẠO TIỀN ĐỀ HƯỚNG TỚI LẬP HỒ SƠ KHOA HỌC DI SẢN BÀI CHÒI TRÌNH UNESCO CÔNG NHẬN LÀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA NHÂN LOẠI ( TRÍCH PHÁT BIỂU CỦA Đ/C MAI THANH THẮNG - ỦY VIÊN BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY, PHÓ CHỦ TỊCH UBND TỈNH BÌNH ĐỊNH TẠI HỘI THẢO KHOA HỌC “NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI”) Quang cảnh Hội thảo “Nghệ thuật Bài chòi”. Ảnh: Nguyễn Xuân B ài chòi là loại hình nghệ thuật dân gian, hình thành và phát triển trong quá trình lao động sản xuất, giao lưu văn hóa của người Việt khi vào định cư, khai phá vùng đất Đàng Trong từ cách đây nhiều thế kỷ. Các làn điệu, lời ca bình dị, ngọt ngào của Bài chòi đã đi vào lòng người và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân ở khu vực miền Trung nói chung và vùng Nam Trung Bộ nói riêng. Qua quá trình hình thành và phát triển, nghệ thuật Bài chòi đã tiến triển dần và được trình diễn dưới nhiều hình thức như: hô bài chòi, hội đánh bài chòi, sân khấu ca kịch bài chòi... Tuy là bộ môn nghệ thuật non trẻ nhưng nghệ thuật Bài chòi đã có những đóng góp tích cực cho nghệ thuật sân khấu nói riêng và kho tàng văn học nghệ thuật Việt Nam nói chung. 21
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Biểu diễn bài chòi cổ dân gian ở huyện Tuy Phước. Ảnh: Nguyễn Xuân Đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nghệ thuật Bài chòi đã theo sát cuộc sống kháng chiến, phục vụ đắc lực công cuộc đấu tranh cách mạng, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Bình Định là một trong những cái nôi của nghệ thuật Bài chòi, là nơi còn lưu giữ được nhiều làn điệu Bài chòi cổ. Trên mảnh đất này từ tâm hồn mỗi người dân, mỗi làng quê thôn xóm đâu đâu cũng vang lên âm điệu Bài chòi mượt mà, sâu lắng. Thời gian qua, lãnh đạo tỉnh Bình Định luôn quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi trong việc bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật đặc sắc này, đồng thời làm cho các giá trị văn hóa dân gian cổ truyền của quê hương luôn được thừa kế và phát huy. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có một đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp là Đoàn Ca Kịch Bài chòi và một Đoàn Bài chòi cổ dân gian ngoài công lập thường xuyên tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân. Nhiều vở diễn đã được Đoàn Ca Kịch Bài chòi đầu tư dàn dựng với đề tài phong phú, nội dung hấp dẫn, gặt hái được nhiều thành tích cao tại các kỳ Hội thi, Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc. Những năm gần đây, Sở Văn hóa, Thể 22 thao và Du lịch đã phục hồi Bài chòi cổ dân gian và tập huấn nhân rộng lực lượng diễn viên, hình thành các Câu lạc bộ Bài chòi ở nhiều địa phương trong tỉnh thường xuyên tổ chức trình diễn vào các dịp lễ, tết, hội dân gian truyền thống, được đông đảo nhân dân, du khách trong và ngoài nước ủng hộ, hưởng ứng tham gia. Đến nay trong toàn tỉnh Bình Định có 01 nghệ sĩ nhân dân, 06 nghệ sĩ ưu tú ở bộ môn nghệ thuật này. Việc tổ chức Hội thảo khoa học Nghệ thuật Bài chòi lần này có ý nghĩa nhằm nghiên cứu, tổng kết một cách toàn diện cả về lý luận và thực tiễn lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật Bài chòi, con đường từ Bài chòi dân gian đến Bài Chòi sân khấu chuyên nghiệp, rút ra các bài học trong công tác bảo tồn và phát huy di sản nghệ thuật Bài Chòi cho hôm nay và mai sau. Hội thảo lần này sẽ làm sáng tỏ nhiều vấn đề và quá trình hình thành và phát triển, cùng các đặc điểm, tính chất và giá trị độc đáo, nổi bật của nghệ thuật Bài chòi trình UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại trong thời gian tới. n
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI HƯỚNG TỚI LÀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA NHÂN LOẠI l GS. HOÀNG CHƯƠNG CÁCH ĐÂY 4 NĂM, BỘ TRƯỞNG BỘ VĂN HÓA - THỂ THAO VÀ DU LỊCH ( VH -TT & DL) HOÀNG TUẤN ANH CÓ ĐỀ NGHỊ CHÚNG TÔI VỚI TƯ CÁCH LÀ CƠ QUAN NGHIÊN CỨU BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VHDT NÊN LẤY Ý KIẾN THĂM DÒ CÁC ĐỊA PHƯƠNG CÓ NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI LÀ CÓ NÊN LÀM HỒ SƠ TRÌNH UNESCO CÔNG NHẬN BÀI CHÒI MIỀN TRUNG LÀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA NHÂN LOẠI KHÔNG ? VÀ CHÚNG TÔI ĐÃ THỰC HIỆN. KẾT QUẢ, CÁC GIÁM ĐỐC SỞ VH - TT & DL CÁC TỈNH NAM TRUNG BỘ ĐỀU CÓ CÔNG VĂN TRẢ LỜI, THỰC CHẤT LÀ ĐỀ NGHỊ BỘ VH - TT & DL TIẾN HÀNH LẬP HỒ SƠ VỀ BÀI CHÒI TRÌNH ỦY BAN UNESCO XEM XÉT. 23
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Biểu diễn bài chòi trên đất Thăng Long, xuân Nhâm Thìn. Ảnh Nguyễn Minh San T iếp theo, Bộ VH - TT & DL lại giao cho Trung tâm NCBT & PHVHDT VN thực hiện dự án “Phục hồi nghệ thuật Bài chòi trên miền Bắc từ năm 2010” và sang đầu năm 2011, Bộ VH- TT & DL lại phối hợp với tỉnh Bình Định tổ chức Liên hoan Bài chòi lần thứ nhất tại TP Quy Nhơn. Thứ trưởng Bộ VH TT & DL Lê Tiến Thọ và Phó Chủ tịch tỉnh Bình Định Nguyễn Thị Thanh Bình làm đồng Trưởng ban và tôi là Phó trưởng ban Chỉ đạo cuộc liên hoan này. Sang đầu năm 2012, Sở VH - TT & DL Bình Định lại phối hợp với Trung tâm NCBT & PHVHDT Việt Nam tổ chức Hội Bài chòi tại Hà Nội. Cuối tháng 5/2013 cuộc thi Tuồng và Dân ca kịch (chủ yếu là Bài chòi) lại được tổ chức tại TP.Tam Kỳ - Quảng Nam. Chưa kể NXB Âm nhạc- Bộ VH - TT & DL, cùng Sở VH - TT & DL Bình Định đã tổ chức thực hiện thành công đĩa DVD về nghệ thuật Bài chòi cổ do tôi làm cố vấn, một công trình rất có giá trị đang phát hành cả nước trong năm 2012. Như vậy, trong vòng 5 năm qua đã liên tiếp diễn ra những hoạt động Bài chòi gần khắp đất nước, khiến cho toàn xã hội dù bị cuốn hút vào cơn bão kinh tế và nghệ thuật giải trí cũng phải quan tâm tới một bộ môn nghệ thuật dân gian đặc sắc ở miền duyên hải Nam Trung Bộ, cũng giống như sự vực dậy phong trào đờn ca tài tử Nam Bộ và cả hai đều hướng tới mục tiêu đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. 24 Về hoạt động học thuật, công tác nghiên cứu Bài chòi trong vài thập kỷ qua cũng gặt hái được nhiều thành tựu. Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tháng 4/1975 Đoàn ca kịch Bài chòi Liên khu V từ miền Bắc về miền Nam phục vụ đồng bào, sau đó được Bộ Văn hóa giao cho tỉnh Thuận Hải quản lý và đổi tên là Đoàn Ca kịch Thuận Hải. Vì đây là đoàn Bài chòi mạnh nhất lúc bấy giờ nên đến cuối năm 1980 một hội thảo khoa học đầu tiên về nghệ thuật Bài chòi được tiến hành ở TP Phan Thiết. Tại hội thảo này, vấn đề đặt ra là bảo tồn và phát triển Bài chòi như thế nào để Bài chòi không mất bản sắc? và vì sao lại đặt đơn vị Bài chòi chủ lực trên mảnh đất không có Bài chòi nên không phát triển nổi? Vậy có nên đưa nó trở về cái nôi của nó là Bình Định không? Cũng vì Bộ Văn hóa đặt nhầm chỗ, trồng cây không đúng đất nên sau ba năm thì Đoàn Ca kịch Thuận Hải dần dần tan rã, dù hai con chim đầu đàn của nó là Nguyễn Tường Nhẫn và Lệ Thi đã kêu tới “thiên đình” cũng không sao cứu nguy được. Đây là tổn thất lớn của ngành Bài chòi, một đàn chim vỡ tổ, nhiều nghệ sĩ thất nghiệp, bỏ nghề, ngành Bài chòi mất một đơn vị chủ lực! Đến tháng 10 năm 1987 (Từ 10 - 14) nhân Liên hoan Dân ca kịch tại Đà Nẵng, cũng có một hội thảo về Bài chòi, nhưng vì tổ chức thiếu khoa học mà hiệu ứng không cao. Đến tháng 9 năm 1990 cũng nhân Liên hoan Tuồng và Ca kịch miền Trung lại có một
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN cuộc tọa đàm về Bài chòi, nhưng cũng không bàn sâu được về bảo tồn và phát triển Bài chòi trong xu thế đất nước đang chuyển mạnh sang cơ chế thị trường, Bài chòi bắt đầu gặp khó khăn về khán giả. Hội thảo lớn nhất về nghệ thuật Bài chòi được tiến hành trong 2 ngày liền (từ 30 - 10 đến 1 - 11 năm 1990) ở TP Nha Trang do Viện Sân khấu Việt Nam tổ chức, Bộ VH - TT chỉ đạo. Hội thảo này tập trung gần đủ mặt những nhà nghiên cứu và nghệ sĩ Bài chòi tên tuổi cả nước, bàn rất sâu, tranh luận rất quyết liệt về truyền thống và cách tân, nổi bật là hai ý kiến đối trọng giữa nhà nghiên cứu Mịch Quang và NSND Lệ Thi. Ông Mịch Quang thì phản đối việc dân ca hóa Bài chòi và cho rằng lên giữ Bài chòi cổ và lấy thể Hô là chính. Vì từ xưa tới nay người ta nói “hô Bài chòi” chứ không ai nói “hát Bài chòi”. Ngược lại, NSND Lệ Thi thì cho rằng Bài chòi phải luôn luôn được gia tăng những làn điệu mới từ nguồn dân ca Liên khu V và lấy thể Hát làm chính. Ý kiến của NNC Mịch Quang được các nghệ sĩ gạo cội của Bài chòi Bình Định như Phan Ngạn, Nguyễn Kiềm đồng tình. Còn ý kiến của NSND Lệ Thi thì phù hợp với cách làm của một số đoàn đang tích cực cải tiến, tìm cách tiếp cận với đông đảo khán giả trẻ. Vì vậy, mà có đoàn không gọi tên Đoàn Bài chòi mà gọi là Đoàn Dân ca Kịch, hoặc Đoàn Ca kịch Bài chòi. Từ cái tên Đoàn đã phản ánh hướng đi của đơn vị nghệ thuật lúc ấy, tức là dân ca hóa nghệ thuật Bài chòi, mà khi các làn điệu gốc của Bài chòi bị biến dạng, bị lấn át, kể cả cách hô, hát thì tất nhiên màu sắc, căn cước của Bài chòi bị mờ đi, và như vậy thì gọi đoàn dân ca kịch là đúng, tức là dân ca hóa, hoặc kịch nói pha Bài chòi. Như chúng ta biết, nghệ thuật Bài chòi đã ra đời từ mấy trăm năm trước và đã phát triển trong vòng 100 năm, tương ứng với nghệ thuật Cải lương. Cải lương cũng từ nói thơ, rồi nhập vào đờn ca tài tử, rồi học hát bội mà ca ra bộ lấy bài Dạ cổ Hoài lang của Cao Văn Lầu làm cơ sở để phát triển thành bộ môn nghệ thuật Cải lương theo phương châm: “Cải cách hát theo tiến bộ/Lương truyền tuồng tích sáng văn minh”, tức là cải cách không bờ bến, không bị ràng buộc trong quy tắc, nghiêm ngặt như Tuồng. Bài chòi thì từ trò đánh Bài chòi tiến lên hội Bài chòi, bài chòi chiếu, bài chòi ghế, rồi từ đất lên giàn và cuối cùng là Bài chòi chuyên nghiệp mà tiêu biểu là Đoàn Bài chòi Liên khu V được thành lập tại Hà Nội năm 1957, cũng là năm vở Thoại Khanh- Châu Tuấn ra đời và giành được giải cao tại Hội diễn sân khấu toàn quốc cùng năm ấy. Vậy, cái gì đã làm nên Thoại Khanh- Châu Tuấn một vở ca kịch Bài chòi hiện đại đậm bản sắc dân tộc, rất Bài chòi để cả giới sân khấu và toàn dân công nhận nó? Bởi trước đó giới sân khấu không công nhận Bài chòi là một kịch chủng dân tộc. Có người nói: đây là “nghệ thuật bài bạc”, cũng có người nói: “Bài chòi cải lương Liên khu V”. Trước hết phải nói là kịch bản văn học vở Thoại Khanh - Châu Tuấn của Nguyễn Tường Nhẫn đã dựa theo câu chuyện dân gian cùng tên chuyển sang ca kịch Bài chòi. Ông là một nghệ sĩ có nghề đã từng là diễn viên Tuồng, đồng thời đã từng viết nhiều vở Bài chòi thời chống Pháp. Cái vốn nghề Tuồng và Bài chòi cùng với kinh nghiệm từ thực tế hoạt động phong trào nên Nguyễn Tường Nhẫn đã viết được một vở Bài chòi khá tốt, nhất là văn thơ đậm chất dân gian, trữ tình sâu lắng. Nhưng nếu không có những cộng sự tài năng như Khánh Cao, Lệ Thi, Hoàng Lê, Văn Cận, Nguyễn Cung Nghinh… thì không thể có được một Thọai Khanh- Châu Tuấn như hôm nay để chúng ta được chiêm ngưỡng, được kế thừa, và phát huy trong những sáng tạo nghệ thuật của mình. Nói về âm nhạc ca hát thì, trong vở Thoại Khanh- 25
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Châu Tuấn không chỉ có những làn điệu như ta thấy ở Hội Bài chòi hoặc ở sân khấu Bài chòi chiếu trước đây như Xuân nữ, Xàng xê, Cổ bàn, Hò Quảng, hát Nam mà còn có nhiều bài bản khác như: Dạ đơn hành, Tình duyên cung oán, Trách hoa, Hò Quảng, Lý thương nhau và có cả ngâm thơ cổ nữa. Nhưng có điều là những bài bản mới ấy rất ăn khớp với các làn điệu chính của Bài chòi, khán giả vẫn có cảm giác là đang nghe hát Bài chòi. Ví dụ từ điệu nói lối của hai vợ chồng Thoại Khanh- Châu Tuấn chuyển sang hát điệu Xuân nữ rồi chuyển sang điệu Hò Quảng rồi lại nối tiếp điệu Lý thương nhau mà nghe rất ngọt, rất Bài chòi. Thoại Khanh: Nói lối: Đây là tiền bán củi lâu nay em dành dụm Để cho chàng lộ phí xuống Trường An. Anh ra đi giong ruổi dặm đàng. Em ở lại vượt ngàn cơn cay đắng. Nơi trường ốc may ra chàng chiếm bảng (thì…) cũng đừng quên người tri kỷ chốn lều tranh. Đừng vì mùi chung đỉnh bả lợi danh. Mà phụ phàng cảnh hàn vi nơi thôn dã. Em sẽ giữ trọn tấm lòng vàng đá Cho đến ngày anh quay gót trở về… (chuyển sang hát Bài chòi Xuân nữ). Gió trăng lưng túi đề huề, Đưa chàng đôi bước lòng se bên lòng. Xa chàng, em chỉ cầu mong, Chàng đi đến chốn thành công khi về. Chàng đi hãy giữ lấy tình quê Vinh hoa phú quý chớ hề say xưa. Lều tranh chung sống từ xưa, Mẹ già tựa cửa sớm trưa đợi chờ. Bà mẹ hát Hò Quảng: Mấy lời mẹ dặn con thơ, Chữ tình chữ ngãi con lo cho tròn… Con đừng bận bựu vấn vương. Bước đi còn lắm dặm đường còn xa. Thoại Khanh (chuyển sang hát Lý thương nhau) Đưa anh ngàn dặm, dặm ngàn Dặn anh trọn vẹn đá vàng trăm năm. Ta thấy từ nói lối, chuyển sang điệu Xuân nữ, rồi tiếp là Hò Quảng và kết đoạn là điệu Lý thương nhau nghe rất vào, rất ngọt, không ai không công nhận là không Bài chòi ? Như vậy ca nhạc Bài chòi dù phát triển tới đâu nhưng nếu biết giữ cái gốc, giữ bản sắc, giữ căn cước của nó thì vẫn là Bài chòi. Giống như người 26 trồng hoa, phải ghép hoa trên cái gốc của một cây hoa cổ thụ, thì dù bông hoa có khác màu sắc, nhưng vẫn là loại hoa mang tên chính của nó. Như vậy, khuynh hướng nghệ thuật này không thể dùng cách Hô trong Bài chòi cổ được mà phải hát theo trường phái của NSND Lệ Thi. Nhưng khi chúng ta hướng mục tiêu để UNESCO công nhận Bài chòi là di sản văn hóa nhân loại thì phải thực hiện theo các tiêu chí nghiêm ngặt của UNESCO mà họ đặt ra như các loại hình nghệ thuật khác đã thực hiện và thành công như: Quan họ, Ca trù, Hát xoan, và sắp tới là Ví dặm Nghệ Tĩnh, Đờn ca tài tử. Như vậy, Bài chòi phải trở lại với cái gốc của nó tức là hình thức Hội đánh Bài chòi, hoặc Bài chòi chiếu… Như chúng ta thấy nó đang tồn tại ở vùng đất miền Trung, mà đặc biệt là ở Bình Định. Dĩ nhiên Bình Định cũng như một số địa phương khác từ Quảng Nam đến Khánh Hòa đang tích cực bảo tồn và phát triển nghệ thuật Bài chòi và các hình thức biểu diễn dân gian khác chưa bị cải biên và lai tạp còn phát triển thì như một số đoàn đã thực hiện thành công một số vở diễn để phục vụ cho đại đa số khán giả trong và ngoài nước. Như vậy, Bài chòi một lúc phải đi hai chân, phải làm hai hướng: Bảo tồn nguyên gốc và phát triển như vở “Thoại Khanh - Châu Tuấn” của Đoàn ca kịch Bài chòi Liên khu V cách đây 56 năm và vở “Khúc Ca bi tráng” của Đoàn Bài chòi Bình Định hôm nay. Cả hai tác phẩm đỉnh cao này như một biểu trưng, một điển hình của sự thành công trong quá trình bảo tồn và phát triển nghệ thuật Bài chòi từ dân gian lên chuyên nghiệp mà UNESCO có thể tham khảo để công nhận Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhân đây cũng xin nhắc lại, tại hội thảo Bài chòi năm 1990 ở TP Nha Trang, trong kết luận của Thứ Trưởng Bộ VH - TT - GS Đình Quang có đề nghị thành lập một Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn Bài chòi miền Trung do các tỉnh có Bài chòi đóng góp nhân sự và ngân sách. Trung tâm này nên đặt ở một vị trí trung tâm ở miền Trung, nơi có phong trào Bài chòi mạnh, Bộ Văn hóa sẽ hỗ trợ một phần ngân sách. Như vậy đây cũng là một đề tài quan trọng mà ở hội thảo này nên quan tâm bàn bạc. Tất cả vì mục đích bảo tồn và phát huy, phát triển bộ môn nghệ thuật Bài chòi lâu dài, và trước mắt là hướng tới làm hồ sơ trình UNESCO công nhận Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại./. n
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN THÔNG CÁO CHUNG CỦA TOÀN THỂ ĐẠI BIỂU THAM DỰ HỘI THẢO KHOA HỌC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY H NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI ội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi” do UBND tỉnh Bình Định và Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn & Phát huy văn hóa Dân tộc VN phối hợp tổ chức từ ngày 10/09 đến 11/09/2013 tại TP Quy Nhơn đã thành công tốt đẹp. Tham dự hội thảo có Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Lê Hữu Lộc, T.S Lê Kim Toàn Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Định và nhiều vị lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Định, các Sở VH - TT & DL, các Hội VHNT các tỉnh miền Trung cùng đông đảo những người hoạt động sân khấu Bài chòi trong cả nước. NSƯT Vương Duy Biên - Thứ trưởng Bộ VH - TT & DL, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Mai Thanh Thắng, GS Hoàng Chương - Tổng Giám đốc Trung tâm NCBT&PHVHDTVN, Giám đốc Sở VH - TT & DL Bình Định Văn Trọng Hùng đã chủ trì hội thảo. Nhiều nhà nghiên cứu, lý luận, các nhà hoạt động sân khấu như tác giả, đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ… từ trung ương đến các tỉnh Nam Trung Bộ và TP Hồ Chí Minh đã tham dự hội thảo. Tham gia hội thảo còn có lãnh đạo các đoàn nghệ thuật Bài chòi các tỉnh miền Trung, các nhà báo của các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương như báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Tuổi trẻ, Báo Lao động, Đài PT - TH Bình Định, Báo Quân đội Nhân dân, Báo Bình Định, Tạp chí Văn Hiến Việt Nam, Tạp chí Văn nghệ Khánh Hòa, Đài Tiếng nói Nhân dân TP Hồ Chí Minh… Sau bài phát biểu chào mừng của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Mai Thanh Thắng và bài đề dẫn của GS Hoàng Chương, gần 30 tham luận của các đại biểu đã được trình bày tại Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật Bài chòi hướng tới UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”. Hội thảo đã có những ý kiến thống nhất và đề nghị gửi tới các cơ quan hữu quan những vấn đề sau: I. Xác định vị trí và giá trị của Bài chòi Bài chòi sinh ra ở vùng Nam Trung Bộ là sản phẩm văn hóa dân tộc quý giá, độc đáo, là món ăn tinh thần quen thuộc của nhân dân lao động, giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân Nam Trung Bộ từ hàng trăm năm qua. Xét những thành tựu đạt được trên phương diện thực tế hoạt động và trên những đặc trưng nghệ thuật của sân khấu dân gian truyền thống. Hội thảo thống nhất nhận định: Bài chòi là nghệ thuật hồn nhiên của người lao động ở một vùng văn hóa Nam Trung Bộ mang nhiều yếu tố nghệ thuật đẹp và độc đáo được nhân dân yêu thích, xứng đáng đứng cùng đội ngũ sân khấu dân tộc khác như Tuồng, Chèo, Cải lương… Bài chòi góp phần làm phong phú và đa dạng nền nghệ thuật sân khấu dân tộc Việt Nam II. Việc duy trì và phát triển nghệ thuật Bài chòi được nhìn nhận theo những hướng sau: 1. Thống nhất việc duy trì và phát triển nghệ thuật Bài chòi trên cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động của nghệ thuật Bài chòi thông qua một cơ quan nghiên cứu khoa học đại diện đặt tại chính trên cái nôi của Bài chòi. 2. Khẳng định những thành tựu đã đạt được qua các vở diễn tiêu biểu như “Thoại Khanh - Châu Tuấn”, “Tiếng sấm Tây Nguyên”, “Đội kịch chim chèo bẻo:, … và mới đây là vở “Khúc ca bi tráng” của Đoàn Ca Kịch Bài chòi Bình Định được thưởng Huy chương 27
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Vàng tại cuộc thi Tuồng và dân ca kịch toàn quốc năm 2013 tại TP. Tam Kỳ - Quảng Nam. Mặt khác, duy trì bảo tồn phong trào Bài chòi dân gian với những hình thức: Hội đánh Bài chòi, Bài chòi chiếu, Tấu bài chòi… đang tồn tại ở các địa phương và bảo tồn những vở diễn, những trích đoạn Bài chòi tiêu biểu đậm chất dân gian truyền thống. 3. Phát triển Bài chòi trên cơ sở Bài chòi dân gian truyền thống có sự giao lưu, học hỏi giữa Bài chòi với các hình thức khác của sân khấu dân tộc như Tuồng, Chèo, Cải lương. Sự cách tân phải giữ được hơi hướng, bản sắc và làn điệu Bài chòi dân gian tiếp tục sáng tạo làm giàu có, phong phú thêm bộ môn nghệ thuật quý giá này trên nền dân ca Miền Trung. Phát triển Bài chòi phải dựa trên nguyên tắc giữ được cái cốt lõi Bài chòi cổ giữ cho được đặc trưng của dân ca kịch Bài chòi với 4 yếu tố: Hô, Hát, Nói lối, Vũ đạo hóa trên nguyên tắc cách điệu và tượng trưng của sân khấu dân tộc. 4. Về nội dung đề tài hiện đại cần tập trung khai thác những kịch bản phù hợp với ngôn ngữ nghệ thuật của thể loại Bài chòi dân gian tập trung giải quyết những vấn đề tâm lý, xã hội hiện nay như nhân tình thế thái, bồi dưỡng nhân cách đạo đức con người, tạo ra một cuộc sống xã hội lành mạnh, tích cực, mang được hơi hướng thời đại. Cần có hệ thống lý luận về sân khấu Bài chòi đặt trong hệ thống lý luận chung của sân khấu dân tộc và trên thế giới. Từ đó, qua những công trình nghiên cứu khoa học, qua những vở thể nghiệm về sân khấu Bài chòi, cần rút ra những nét độc đáo, riêng biệt của sân khấu Bài chòi và tìm ra nét chung hòa nhập trong cộng đồng dân tộc, trong sự phong phú của toàn bộ nền nghệ thuật sân khấu nước nhà. 5. Tổ chức hệ thống đào tạo chính quy chuyên ngành về bộ môn Bài chòi, nhằm tạo ra đội ngũ diễn viên kế tục và những tác giả, đạo diễn, nhạc sĩ chuyên ngành về sân khấu Bài chòi, tránh cách chuyển từ kịch nói sang Bài chòi và viết ca khúc cho Bài chòi. 6. Có chế độ đãi ngộ thích đáng cho các nghệ sĩ, các nhà hoạt động sân khấu Bài chòi hiện nay, cụ thể là đời sống tinh thần và vật chất cũng như danh hiệu nghệ sĩ. III. Những kiến nghị cụ thể: toàn bộ đại biểu hội thảo đề nghị: 1. Trước tình hình cụ thể hiện nay, nghệ thuật Bài chòi cần được bảo trợ, tài trợ để bảo tồn và phát triển 28 đúng tinh thần nghị quyết Trung ương 5 Khóa VIII là xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. - Đề nghị các cơ quan hữu quan sớm tổ chức cơ quan đại diện khoa học về nghệ thuật Bài chòi tại miền Trung. Trước mắt có thể là dựa vào Cơ quan đại diện của Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc VN ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên hiện đang đặt tại TP Quy Nhơn - Bình Định. - Bộ VH - TT & DL dành một phần kinh phí hàng năm cho quỹ bảo tồn và phát triển sân khấu Bài chòi. Có kế hoạch phục hồi lưu giữ các vở “bảo tàng” và các vở “thể nghiệm”. 2. Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch sớm có văn bản báo cáo chính phủ cho phép tỉnh Bình Định chủ trì phối hợp các tổ chức có thẩm quyền lập hồ sơ không gian Bài chòi miền Trung trình UNESCO công nhận Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đề nghị Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Bình Định và Cục Di sản Bộ VH - TT & DL có sự chuẩn bị chu đáo thống nhất tư liệu lập hồ sơ Bài chòi để trình UNESCO. 3. Thường xuyên tổ chức tọa đàm, hội thảo về bảo tồn và phát huy phát triển Bài chòi. 4. Xây dựng bảo tàng loại hình Dân ca kịch Bài chòi và xây dựng không gian Bài chòi và Nhà hát sân khấu Bài chòi trong tương lai gần. 5. Tăng cường quảng bá Bài chòi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hội thảo đã kết thúc trong sự đồng thuận tuyệt đối những đề xuất trên đây là một trong những mốc quan trọng trên con đường bảo tồn phát huy và phát triển nghệ thuật Bài chòi. Hội thảo kêu gọi các cấp lãnh đạo, các cơ quan hữu quan và đông đảo công chúng nhiệt thành tích cực ủng hộ, giúp đỡ để Bài chòi thực sự là nghệ thuật độc đáo của miền Nam Trung Bộ, đóng góp vào sự phong phú của dân tộc cả nước. Đồng thời, Hội thảo nhận định Bình Định là trung tâm hoạt động nghệ thuật Bài chòi, tổ chức tọa đàm, hội thảo, liên hoan Bài chòi nên cần có những giải pháp, góp phần chăm lo, gìn giữ vốn văn hóa, văn nghệ dân gian cổ truyền của dải đất miền Nam Trung Bộ một cách tích cực, hướng tới mục tiêu trình UNESCO công nhận nghệ thuật Bài chòi là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. n Qui Nhơn, ngày 11/9/2013
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN RA MẮT CƠ QUAN ĐẠI DIỆN TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BẢO TỒN & PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC VN TẠI BÌNH ĐỊNH VÀ CUỐN SÁCH - BỘ PHIM TÀI LIỆU “LÊ ĐẠI CANG - NHÂN CÁCH BẬC QUỐC SĨ” l VH CHIỀU NGÀY 10/9/2013, TẠI TP QUY NHƠN, BÌNH ĐỊNH, TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BẢO TỒN & PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC VN ĐÃ TỔ CHỨC LỄ RA MẮT CƠ QUAN ĐẠI DIỆN TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU BẢO TỒN & PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC VN TẠI BÌNH ĐỊNH. Đ Toàn cảnh buổi Lễ ra mắt ến dự buổi lễ ra mắt có đồng chí Mai Thanh Thắng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, GS Hoàng Chương - Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc VN, nhà thơ, nhà viết kịch Văn Trọng Hùng - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao & Du lịch Bình Định, nhà báo Nguyễn Thế Khoa - Tổng Biên tập Tạp chí Văn Hiến Việt Nam, cùng đông đảo các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa, các văn nghệ sĩ, các cán bộ là thành viên của Cơ quan đại diện Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc VN và nhiều phóng viên báo, đài Trung ương và Bình Định. Cơ quan Đại diện Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc tại tỉnh Bình Định có nhiệm vụ triển khai hoạt động của Trung tâm tại tỉnh Bình Định và các tỉnh khu vực Nam Trung bộ. Cơ quan Đại diện có tư cách pháp nhân đầy đủ, có con dấu riêng, được mở tài khoản riêng tại ngân hàng để hoạt động theo chức năng nhiệm vụ được giao. Cơ quan Đại diện Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc tại tỉnh Bình Định gồm các bộ phận sau: Văn phòng cơ quan (phụ trách công tác hành chính tổ chức kế hoạch tài vụ chung của cơ quan); Văn phòng đại diện tạp chí Văn hiến VN (tổ chức cộng tác viên, 29
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN Gs. Hoàng Chương - TGĐ Trung tâm NCBT&PHVHDTVN chúc mừng nhà viết kịch Văn Trọng Hùng được bổ nhiệm là Giám đốc cơ quan đại diện Trung tâm NCBT&PHVHDTVN tại Bình Định bài vở, phát hành, quảng cáo tạp chí Văn hiến VN và công tác truyền thông của Cơ quan Đại diện); Ban Văn hóa Vật thể (Phụ trách việc nghiên cứu bảo tồn phát huy các di sản văn hóa vật thể); Ban Văn hóa Phi Vật thể (Phụ trách việc nghiên cứu bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể). Cơ quan đại diện Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn & Phát huy văn hóa Dân tộc VN tại Bình Định hiện gồm 31 thành viên và nhà thơ, nhà viết kịch Văn Trọng Hùng, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Bình Định được bổ nhiệm làm Giám đốc Cơ quan đại diện. Phát biểu tại lễ ra mắt, Giám đốc Cơ quan đại diện - nhà thơ, nhà viết kịch Văn Trọng Hùng đã cảm ơn sự tin tưởng của Lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc Việt Nam và sẽ có trách nhiệm xây dựng tổ chức bộ máy, xây dựng cơ sở vật chất, kế hoạch công tác và điều hành hoạt động của Cơ quan Đại diện Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc tại tỉnh Bình Định theo chức năng nhiệm vụ được giao, chấp hành nghiêm túc pháp luật Nhà nước, sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Định, Quy chế của Liên hiệp hội Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc VN. GS Hoàng Chương - TGĐ Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc Việt Nam đã chúc mừng nhà thơ, nhà viết kịch Văn Trọng Hùng trong vai trò mới sẽ góp phần đưa Cơ quan đại diện Trung tâm Nghiên cứu Bảo 30 tồn & Phát huy văn hóa Dân tộc VN tại Bình Định trở thành nơi hội tụ đông đảo giới trí thức khoa học xã hội, văn nghệ sĩ tâm huyết với văn hóa dân tộc, thực hiện nhiệm vụ giới thiệu quảng bá những giá trị tinh hoa văn hóa dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị đó trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giao lưu hội nhập hôm nay. Cũng tại buổi lễ này, nhà báo Nguyễn Thế Khoa - Tổng Biên tập Tạp chí Văn Hiến Việt Nam đã công bố ra mắt tập sách “Lê Đại Cang - Nhân cách bậc quốc sĩ” (do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành) và bộ phim tài liệu mang tựa đề “Lê Đại Cang - Nhân cách bậc quốc sĩ”. Lê Đại Cang là một danh nhân lớn của Bình Định nói riêng và cả nước nói chung. Ông là một con người xuất chúng, văn võ toàn tài, có nhiều cống hiến to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, một tấm gương ngời sáng của một kẻ sĩ toàn tâm, toàn ý tận trung với nước, tận hiếu với dân. Trước đó, một cuộc hội thảo lớn tại Bình Định mang tên “Lê Đại Cang - Tấm gương kẻ sĩ” do UBND tỉnh Bình Định, Viện Sử học Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc VN phối hợp tổ chức là một sự kiện được dư luận đánh giá cao trong việc nghiên cứu tôn vinh danh nhân lịch sử của đất nước. Qua nhiều bước thăng, trầm, thành công và thất bại, vinh quang và khổ nạn trên con đường hoạn lộ dằng dặc hơn 40 năm, Lê Đại Cang đã thể hiện một nhân cách phi thường, một bản lĩnh kẻ sĩ ngời sáng. Việc ra mắt cuốn sách, bộ phim và cả việc công nhận di tích lịch sử cụm di tích liên quan đến danh nhân Lê Đại Cang ở làng Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, cho đặt tượng Lê Đại Cang bên cạnh tượng Đào Tấn và Xuân Diệu tại Di tich Văn Chỉ Tuy Phước, di tích do Lê Đại Cang sáng lập và đặt tên đường, tên trường Lê Đại Cang ở thành phố Quy Nhơn và huyện Tuy Phước là những việc làm có ý nghĩa quan trọng, thiết thực trong việc tôn vinh danh nhân lịch sử văn hóa ưu tú của Bình Định. Đó cũng là thể hiện tấm lòng kính ngưỡng của hậu thế đối với tiền nhân trên mảnh đất quê hương, cũng như trách nhiệm của hậu thế trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. n
    • SÖÏ KIEÄN&BÌNH LUAÄN TOẠ ĐÀM KHOA HỌC DI TÍCH NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC QUỐC GIA ĐỀN CÂY QUẾ l Gs. Hoàng Chương - TGĐ Trung tâm NCBT&PHVHDT đọc lời khai mạc. Ảnh: Nguyễn Minh San Đ ền Cây Quế thờ Linh Lang Đại vương, tọa lạc tại thôn Phụ Long, xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Đền được Bộ VH-TT&DL xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Nhằm tuyên truyền, quảng bá rộng rãi về những giá trị của di tích nghệ thuật kiến trúc này, qua đó thu hút đầu tư, phát triển du lịch địa phương, sáng ngày 11/10/2013, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Lộc, Ủy ban Nhân dân xã Mỹ Tân, Ban Quản lý Di tích quốc gia đền Cây Quế, tổ chức Hội thảo khoa học về Di tích nghệ thuật kiến trúc cấp quốc gia đền Cây Quế. Tới dự và phát biểu tại Hội thảo có: GS. AHLĐ Vũ Khiêu, NSUT Vương Duy Biên - Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL, GS. Hoàng Chương - Tổng Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, đại diện UBND huyện Mỹ Lộc, UBND xã Mỹ Tân, Ban quản lý di tích đền Cây Quế, nhiều nhà khoa học, phóng viên một số báo, đài Trung ương. Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS Hoàng Chương - người đã về đền Cây Quế 2 lần cùng ông Nguyễn Văn An - nguyên Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Tuấn Anh về thăm đền Cây Quế, MẠC HẠ Gs. AHLĐ Vũ Khiêu, Thứ trưởng Bộ VHTT&DL Vương Duy Biên, Gs. Hoàng Chương, Nhà báo Trần Đức Trung chụp ảnh lưu niệm cùng lãnh đạo huyện Mỹ Lộc, xã Mỹ Tân trong buổi toạ đàm. Ảnh: Nguyễn Minh San giới thiệu khái quát về vùng đất Địa linh Nhân kiệt Nam Định, quê hương Mỹ Tân - đơn vị Anh hùng LLVTND, nơi đã sản sinh ra những người con ưu tú, tiêu biểu là Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; Giới thiệu những giá trị đặc sắc về kiến trúc nghi môn, tòa tiền đường, tòa trung đường và cung cấm ngôi đền. GS.AHLĐ Vũ Khiêu đã giới thiệu về vị thần được thờ Linh Lang Đại vương, cùng ý nghĩa tâm linh của ngôi đền trong vùng tâm linh nhà Trần. Thứ trưởng Vương Duy Biên - tác giả của pho tượng Đức Thánh Trần dựng tại Quảng trường TP Nam Định phát biểu về việc cần phải bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa, trong đó có di tích nghệ thuật kiến trúc - một giá trị mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Đại diện UBND huyện Mỹ Lộc, UBND và Ban quản lý di tích đền Cây Quế giới thiệu khái quát về quê hương, về công cuộc bảo tồn di tích, cảm ơn các nhà khoa học, các nhà báo đã tham dự Hội thảo và tha thiết mời các nhà khoa học, các nhà báo về thăm di tích đèn Cây Quế để cảm nhận giá trị thiêng liêng của di tích, tuyên truyền rộng rãi hơn nữa về di tích nghệ thuật kiến trúc cấp quốc gia này để du khách thập phương về chiêm bái ngôi đền thiêng ngày một nhiều hơn./. n 31
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT Chuyện về Thủ tướng PHẠM VĂN ĐỒNG với Thầy giáo khuyết tật NGUYỄN NGỌC KÝ l MẠC CÔNG LÝ T hầy giáo Nguyễn Ngọc Ký bị liệt hai tay ngay từ khi còn nhỏ. Với tinh thần hiếu học và một nghị lực phấn đấu phi thường, Nguyễn Ngọc Ký đã dùng chân thay tay để viết, giải quyết sinh hoạt cá nhân và làm được nhiều việc mà nhiều người khỏe mạnh, có đủ tay chân cũng chưa chắc đã làm được. Nguyễn Ngọc Ký học lên đến đại học, tốt nghiệp loại giỏi. Anh là một tấm gương vượt qua tật nguyền, hiếu học có ảnh hưởng tốt đến nhiều thế hệ học sinh từ những năm 60 của thế kỷ trước cho đến mai sau. Quyết định cho sự thành công của Nguyễn Ngọc Ký, ngoài ý chí nghị lực phi thường và một niềm khát khao được chứng tỏ mình “tàn nhưng không phế” của anh, còn có sự quan tâm, động viên, giúp đỡ ân cần và kịp thời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Sau khi tốt nghiệp đại học, Nguyễn Ngọc Ký xin nhà trường được phân công về dạy tại trường cấp II ở quê nhà để có cơ hội đền ơn đáp nghĩa những người thân và bạn bè đã giúp đỡ mình học thành tài. Trước khi đi nhận công tác, Nguyễn Ngọc Ký đến chào Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người đã quan tâm giúp đỡ anh rất tận tình trong những năm còn đi học. Khi chia tay, Thủ tướng dặn anh: “Nếu làm việc có gặp khó khăn thì cháu viết thư cho bác”. Nguyễn Ngọc Ký mang giấy giới thiệu về địa phương, song cơ quan quản lý giáo dục không nhận, cho rằng thầy giáo không dùng tay viết bảng được thì không thể dạy học được. Không thể thuyết phục được những người tuyển trạch, Nguyễn Ngọc Ký 32 Từ cậu bé Nguyễn Ngọc Ký ngày nào vượt lên số phận... Ảnh internet
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT Thủ tướng Phạm Văn Đồng gặp Nguyễn Ngọc Ký và khuyên ông nên chọn nghề giáo. Ảnh internet đem nỗi buồn này chia sẻ với thầy chủ nhiệm lớp đại học, cũng là người hướng dẫn luận văn tốt nghiệp cho anh là Giáo sư Hoàng Như Mai. Nguyễn Ngọc Ký vốn là người lạc quan, vừa bước chân vào nhà, trông thấy thầy Mai, liền cười ầm lên: - Em không có tay, cơ quan không nhận thầy ạ. Em thất nghiệp. Lúc ấy, trong nhà thầy Mai đang có khách. Vị khách ấy là ông Trần Việt Phương - Thư ký riêng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, một người bạn lâu năm của thầy Mai. Nghe Nguyễn Ngọc Ký nói vậy, thầy Mai quay sang nói với ông Trần Việt Phương: - Thủ tướng dặn Ký gặp khó khăn thì nói với Thủ tướng, anh nói với Thủ tướng đi. Không lâu sau, thầy Nguyễn Ngọc Ký được địa phương nhận vào làm việc. Dạy học được mấy năm thì thầy Nguyễn Ngọc Ký quen biết, tìm hiểu một cô giáo và đi đến hôn nhân. Ngày cưới, thầy Nguyễn Ngọc Ký gửi thiếp báo hỷ lên Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhận được tấm thiếp, Thủ tướng cho ông Trần Việt Phương đưa đến cho GS. Hoàng Như Mai một tấm thiếp chúc mừng. Thủ tướng tự tay viết bằng bút máy mực đỏ kín cả hai mặt tấm danh thiếp của mình, những lời rất ân cần. Ông Việt Phương nói thêm với GS. Hoàng Như Mai: - Anh Tô (tên gọi thân mật của Thủ tướng Phạm Văn Đồng) hỏi anh có đúng tên cô dâu là thế không? GS. Hoàng Như Mai cười: - Đúng đấy! Nhưng giả sử có sai cũng không sao. Được tự tay Thủ tướng viết thiếp chúc mừng là quý quá rồi. Nghe vậy, ông Việt Phương nói: - Không được! Thủ tướng dặn đi dặn lại là nếu sai thì Thủ tướng sẽ viết lại cánh thiếp khác. Ngày cưới mà sai tên cô dâu thì còn ra sao. Ngừng một lúc, ông Việt Phương nói tiếp: - Anh Tô nói: “Anh Mai là thầy giáo chủ nhiệm của Ký hẳn là sẽ đi ăn cưới; nhờ anh Mai đưa món quà mừng cho vợ chồng Ký: mười thước vải hoa để may chăn và hai cân cam. Nhớ dặn: Nếu anh Mai đi ngay thì đem tất cả đi, nếu chưa đi ngay thì anh Mai ăn cam và chỉ đưa vải đến cho vợ chồng Ký thôi, chớ đưa cam ủng đến cho người ta trong ngày cưới”. Nghe xong, GS. Hoàng Như Mai hết sức ngạc nhiên, hứa là sẽ làm theo đúng lời dặn của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, chuyển thiếp và quà mừng cưới của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho vợ chồng thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký. Câu chuyện về sự quan tâm tới một việc nhỏ và sự ân cần của một vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước tới một thầy giáo khuyết tật Nguyễn Ngọc Ký gây xúc động và là kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời của GS Hoàng Như Mai. Sau khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua đời, kể lại câu chuyện trên, GS. Hoàng Như Mai viết: “Một việc nhỏ như vậy mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng chu đáo đến thế, thật khó tưởng tượng. Sau này biết thêm nhiều sự việc khác, tôi mới rõ đồng chí Phạm Văn Đồng từ việc lớn đến việc nhỏ bao giờ cũng rất cẩn thận và tác phong này xuất phát từ tư tưởng nhân văn tốt đẹp vốn là truyền thống của giới trí thức dân tộc Việt Nam. Bây giờ, nhà hoạt động cách mạng kiên cường ấy, đồng chí lãnh đạo nhà nước anh minh ấy, người cộng sản có nếp sống, đạo đức, tình cảm cao đẹp ấy không còn nữa. Tôi nghĩ đến câu thơ cổ: Nhân sinh tự cổ thùy vô tử Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh (Người ta từ xưa đến nay có ai không chết? Lưu lại một tấm lòng son trong sử xanh). Không phụ tấm lòng ân cần và sự quan tâm giúp đỡ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký không ngừng phấn đấu vươn lên, xây dựng một tổ ấm hạnh phúc và đã được nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú, trở thành một huyền thoại sống của ngành giáo dục nước ta. n (Viết theo lời kể của GS. Hoàng Như Mai, trong sách Phạm Văn Đồng trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế - Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002). 33
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT KỶ NIỆM 100 NĂM SINH GS.VS TRẦN ĐẠI NGHĨA TRẦN ĐẠI NGHĨA ĐẠI TRÍ THỨC CẢ ĐỜI CỐNG HIẾN CHO ĐẠI NGHĨA l TRƯƠNG NGUYỄN Tốt nghiệp loại ưu trong nhiều trường đại học danh tiếng ở Pháp song, với lòng yêu nước nồng nàn và chí căm thù giặc Pháp xâm lược, theo lời kêu gọi của Bác Hồ, ông đã tự nguyện từ bỏ cuộc sống giầu sang, chọn quê hương làm nơi sống và chiến đấu, mặc dầu biết rằng ở đó đầy gian khổ và khó tránh khỏi hy sinh. Từ trời Tây, ông đi thẳng vào bưng biền, vào núi rừng, ra hỏa tuyến,... ở cương vị nào cũng làm tròn nhiệm vụ của một người trí thức yêu nước luôn học tập và làm theo tấm gương Bác Hồ. Ông là Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa. Sinh thời, trong một bài báo, Bác Hồ đã viết: “Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa là một đại trí thức, mang một lòng nhiệt thành về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến”. 6 Bằng kỹ sư loại ưu và làm chủ bí quyết chế tạo vũ khí trong ... 11 năm Trần Đại Nghĩa (13/9/1913 - 9/8/1987), tên thật là Phạm Quang Lễ, quê xã Chấn Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Cha ông là nhà giáo yêu nước Phạm Quang Mùi, đã qua đời khi ông mới 7 tuổi. Mẹ ông là bà Lý Thị Diệu, một người phụ nữ tần tảo, chịu 34 thương chịu khó đã thay chồng nuôi dạy con nên người. Phạm Quang Lễ có tư chất thông minh, học giỏi toàn diện, nhất là môn Toán. Năm 1926, sau khi tốt nghiệp tiểu học hạng ưu, ông thi đỗ vào Trường Trung học Đệ nhất cấp Mỹ Tho, với học bổng 4 năm học tại đây (1926-1930). Năm 1930, ông thi đỗ vào trường Trung học Đệ nhị cấp, lên học Trường Petrus
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi công việc GS.VS Trần Đại Nghĩa. Ảnh www.cnnd.com.vn Ký ở Sài Gòn (nay là Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - TP Hồ Chí Minh). Quí mến và cảm phục sự thông minh, học giỏi của Phạm Quang Lễ, những Việt kiều trong Hội Ái hữu tại Pháp đã vận động Trường Chasseloup Laubat ở Paris cấp cho Phạm Quang Lễ 1 năm học bổng. Và, ngày 5/9/1935, một bước ngoặt lớn, một chân trời mới chính thức mở ra trong cuộc đời khi Phạm Quang Lễ chính thức sang Pháp du học. Vì học bổng chỉ cấp có 1 năm, để có tiền cho 2 năm học, Phạm Quang Lễ phải “vượt cấp” vào học năm thứ 2, ở nhà trọ, tìm sách tự học năm thứ nhất và dồn sức làm 16 tiếng/ngày để có tiền trang trải. Quyết chí học rút 2 năm làm một, để chỉ 1 năm thôi là Phạm Quang Lễ đã đủ điều kiện vào Trường Đại học tại Paris. Năm 1936, Phạm Quang Lễ thi đỗ xuất sắc vào Trường Đại học Cầu đường Paris và được học bổng tiếp. Ngoài học cầu đường, Phạm Quang Lễ còn theo học Trường Cao đẳng kỹ thuật Paris và Trường Đại học Sorbone. Năm 1940, Phạm Quang Lễ nhận cùng lúc 3 bằng: Kỹ sư Cầu đường, Kỹ sư Điện và Cử nhân Toán. Sau đó, ông còn lấy 3 bằng nữa là: Kỹ sư Hàng không, Kỹ sư Mỏ địa chất và Kỹ sư Chế tạo máy. Sau khi tốt nghiệp các trường đại học, Phạm Quang Lễ đã lần lượt làm việc tại 3 công ty chế tạo máy bay của Pháp. Dù học rất nhiều ngành, nhưng Phạm Quang Lễ vẫn đặc biệt quan tâm tới chế tạo vũ khí. Bởi, ngay từ nhỏ, Phạm Quang Lễ đã đặt câu hỏi: Tại sao nước mình không chế tạo súng đạn để đánh đuổi giặc xâm lược. Và thế là, suốt 11 năm, ông âm thầm nghiên cứu, tìm tòi học cho kỳ được cách chế tạo vũ khí của Pháp, của Đức. Kết quả là ông đã có trong tay hơn 30.000 trang tài liệu về vũ khí, trong đó có không ít thuộc loại “tối mật” của chính quyền Pháp, nằm trong 1 tấn sách mà ông tìm mọi cách đưa được về nước. Để có thành quả đó, không phải là giản đơn. Bởi, không một nước nào trên thế giới lại vô tư đi công bố các tài liệu kỹ thuật quân sự. Đế quốc Pháp đâu phải là ngây thơ và tốt đến mức để cho một người Việt Nam, kể cả những kẻ đã vào “làng Tây” được đến học ở các trường dạy về vũ khí hay vào làm việc ở các viện nghiên cứu, các nhà máy sản xuất vũ khí. Sau này Trần Đại Nghĩa kể lại: “trong 11 năm đằng đẵng ấy, tôi chỉ có thể mò mẫm tự học một cách âm thầm, đơn độc và bí mật hoàn toàn”. Suốt bao năm ở nước ngoài mà Phạm Quang Lễ chẳng biết gì đến nhảy đầm, rượu Tây, cứ rảnh là đến thư viện với sách và sách. Trung bình cứ 20.000 tên sách mới chọn được 1 quyển có liên quan đến vũ khí. Trong số hơn 1 triệu tên sách ở Thư viện, chỉ nhặt ra được có 50 cuốn. Chưa hết, để thực hành những gì mình đã học, năm 1942, Phạm Quang Lễ đã tìm mọi cách để sang Đức xin vào làm việc trong xưởng chế tạo máy bay Halle và Viện Nghiên cứu vũ 35
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT khí. Mấy tháng sau, thấy không phù hợp, ông lại trở lại Paris làm cho Công ty Sud Avion. Nhờ ham học, Phạm Quang Lễ thông thạo các ngoại ngữ: Pháp, Đức, Anh, Nga, Trung Quốc. Được tiếp thu tư tưởng yêu nước của Nguyễn Ái Quốc, năm 1946, khi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc là thượng khách của Chính phủ Pháp, Phạm Quang Lễ đã có mặt trong đoàn đại biểu Việt kiều đến thăm Người. Khi Bác hỏi Phạm Quang Lễ: “Nguyện vọng của chú lúc này là gì?”, ông vô cùng cảm động trả lời: “Kính thưa Cụ. Nguyện vọng cao nhất của cháu là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần”. Từ đó, ông bỏ chức vụ Kỹ sư trưởng của một hãng nghiên cứu chế tạo máy bay với đồng lương tương đương 22 lạng Vàng/tháng, quyết định theo Bác cùng một số trí thức khác về nước. Một ngày tháng 9/1946, trên chiến hạm Duy mông Duyếcvin do Chính phủ Pháp bố trí đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Chính phủ ta từ cảng Tu lông sang Việt Nam, có người trí thức yêu nước Phạm Quang Lễ. “Ông Bazoka” Ngày 5/12/1946, là một ngày đáng nhớ nhất trong cuộc đời Phạm Quang Lễ, khi ông được Bác Hồ giao nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới - đơn vị trực tiếp sản xuất súng đạn phục vụ chiến đấu. Bác Hồ nói với ông: “Đây là một nhiệm vụ quan trọng và hết sức nặng nề. Chú cố gắng cộng tác với anh em, ra sức xây dựng ngành Quân giới, phục vụ cho bộ đội. Đó là một việc rất có ý nghĩa đối với dân, với nước. Do vậy, kể từ nay, Bác đặt tên chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này còn để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình, bà con chú còn ở trong Nam”. Bác giải thích cái tên: “Một là họ Trần, là họ của danh tướng Trần Hưng Đạo. Hai là Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nước. Đại Nghĩa còn là chữ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo. Chú có ưng bí danh đó không?”. Được vị Cha già dân tộc đặt tên, không nói cũng biết, Trần Đại Nghĩa vui thế nào. Từ đó, cái tên Trần Đại Nghĩa đã gắn bó với ông trọn đời. Và, còn một niềm vui lớn nữa, là điều mà ông mơ ước chế tạo được súng để đánh giặc từ nhỏ giờ đây đã thành hiện thực và tri thức tích lũy suốt 11 năm du học giờ sẽ được áp dụng. Trên chiến trường lúc đó, con át chủ bài về vũ khí của Pháp là máy bay và xe tăng, mà chúng biết 36 rõ rằng quân đội của tướng Giáp chưa hề có súng chống tăng. Vì vậy, Bác Hồ đã giao nhiệm vụ cho Phạm Quang Lễ lên Thái Nguyên nghiên cứu chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu Bazoka của Mỹ, với 2 viên đạn do Bộ Quốc phòng cung cấp. Gần như bắt đầu từ con số không, Trần Đại Nghĩa bắt tay từ đầu. Ông say mê làm việc đến quên ăn, quên ngủ. Nhiều đêm, ông chỉ mong trời mau sáng để làm việc, nghiên cứu, thử nghiệm. Tất cả phải tính toán từ đầu. Đen đủi cho ông là gần 1 tấn sách tài liệu về vũ khí của ông chuyển về nước bị thất lạc. Vậy là ông phải vắt óc nhớ lại, moi tất cả những kiến thức về vũ khí để kết nối, tính tính, toán toán. Về những ngày Trần Đại Nghĩa say mê nghiên cứu chế tạo vũ khí tại Việt Bắc, bà Nguyễn Thị Khánh - lúc đó là y tá cơ quan, sau là vợ của Trần Đại Nghĩa, kể lại: “Ôi, Cụ Nghĩa nhà ta lơ đễnh là số 1. Đầu lúc nào cũng súng với đạn, chẳng quan tâm gì xung quanh , cả tuần không tắm, giày thì để cóc ở, quần áo thì tả tơi. Có lần đi tắm suối quá nửa ngày chưa thấy về, anh em bủa đi tìm thì thấy Cụ Nghĩa ta đang ngồi trên tảng đá viết những công thức ngoằn ngoèo. Nhờ giữ con thì khi về thấy con mặt mũi tèm lem còn ba thì mải mê đọc sách...Có lần, Bác Hồ phải kêu lên “Thím Nghĩa đâu mà để chú Nghĩa ra nông nỗi này?”. Những nỗ lực của Trần Đại Nghĩa và các cộng sự đã được đền đáp. Sau gần 3 tháng, điều kỳ diệu đã đến. Vào cuối tháng 2/1947, công binh xưởng dưới sự chỉ đạo của Kỹ sư Trần Đại Nghĩa, đã sản xuất thành công Súng Bazoka với đạn nổ có độ xuyên sâu 75cm trên tường thành gạch xây, tương đương với sức nổ xuyên của đạn Bazoka do Mỹ chế tạo. Ngày 3/3/1947, những quả đạn Bazoka đầu tiên xuất xưởng đã được bộ đội đem đi đánh trận, đã bắn cháy 2 xe tăng của Pháp tại vùng chùa Trầm (Hà Đông). Chiến công này góp phần bẻ gãy cuộc tấn công của Pháp ra vùng Chương Mỹ, Quốc Oai. Ngày 3/3/1947 đã trở thành mốc son chói lọi của ngành Quân giới Việt Nam. Sự xuất hiện của một loại vũ khí mới đã gây cho địch nhiều tổn thất rất lớn, khiến quân Pháp vô cùng bất ngờ, hoang mang. Trong Chiến dịch Thu Đông 1947, súng Bazoka còn bắn thủng cả tầu chiến Pháp ngược dòng sông Lô lên Việt Bắc. Bazoka trở thành vũ khí lợi hại, là nỗi khiếp đảm của quân Pháp, cho dù chúng ẩn nấp trong công sự bê tông cốt thép kiên cố hay trong vỏ thép của xe tăng. Với một đất nước vừa thoát khỏi thuộc địa và nửa
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT phong kiến, lạc hậu, đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, quả là huyền thoại. Súng Bazoka được bộ đội ta ở Nam Bộ gọi là “Ống thổi lửa Trần Đại Nghĩa”. Còn Trần Đại Nghĩa thì được bộ đội ta gọi bằng cái tên trìu mến: “Ông Bazoka”. Sau thành công đó, Kỹ sư Trần Đại Nghĩa tiếp tục chế tạo súng BKZ - là loại súng nhẹ, nhưng đạn lại có sức công phá ngang cỗ đại bác. Sau khi loại súng này xuất xưởng, trong trận Phố Lu, quân ta đã phá tan lô cốt địch có tường bê tông cốt thép dày hơn 1m. Không dừng lại ở đó, Trần Đại Nghĩa tiếp tục chế tạo đạn bay, rồi tên lửa, đánh phá các mục tiêu ở cách xa 4km. Sau này, trong cuốn sách “Chiến tranh Đông Dương” xuất bản tại Paris năm 1963, tác giả Lucien Bodart viết: “Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bê tông dày 60cm là những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lô cốt của chúng tôi”. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, 10 khẩu SKZ và 100 quả đạn đã góp phần mở cửa khẩu để bộ đội ta tiêu diệt nhiều đồn bốt địch. Ghi nhận tài năng và những cống hiến của Kỹ sư Trần Đại Nghĩa, năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký quyết định phong quân hàm Thiếu tướng cho Kỹ sư Trần Đại Nghĩa. Ông là 1 trong 10 vị Thiếu tướng được phong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội ta. Lúc đó, Trần Đại Nghĩa mới 35 tuổi. Năm 1952, ông được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lao động (trong số 7 Anh hùng của Đại hội thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc tổ chức tại Việt Bắc). Hòa bình lập lại năm 1954, Trần Đại Nghĩa được giao nhiệm vụ phụ trách Công nghiệp và xây dựng. Năm 1956, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội được thành lập, ông được cử giữ chức Hiệu trưởng đầu tiên của Trường. Năm 1966, ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô - danh vị cao nhất của những người làm công tác khoa học thời kỳ đó. Khi Đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, ông được điều trở lại quân đội, giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần phụ trách kỹ thuật. Với kiến thức và kinh nghiệm của mình, ông đã góp phần quan trọng tìm ra những biện pháp phá hệ thống thủy lôi địch phong tỏa các cảng biển của miền Bắc; đặc biệt là tìm ra biện pháp chống nhiễu máy bay B52, nâng cấp độ bay cao của tên lửa SAM 2, góp phần đánh thắng cuộc tập kích bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội. Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 3/1977, ông chuyển ngành và lần lượt được cử giữ nhiều chức vụ cấp cao của Bộ Công thương, Bộ Công nghiệp nặng, Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban KH&KT Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam. Năm 1983, ông nhận nhiệm vụ vận động đội ngũ trí thức trong tất cả các ngành KH&KT thành lập Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam. GS Trần Đại Nghĩa được bầu làm Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp Hội, nhiệm kỳ 1983-1988. Đồng thời, ông còn là Chủ tịch Ủy ban Nghiên cứu Vũ trụ Việt Nam. Ông là Đại biểu Quốc hội Khóa II và III. Trần Đại Nghĩa được tặng Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Hồ Chí Minh. Năm 1996, Giáo sư, Viện sĩ, AHLĐ, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh - Đợt I về Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí (Bazoka, súng không giật, đạn bay) trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954). Vào lúc 16h20 phút ngày 9/8/1997, GS. VS Trần Đại Nghĩa trút hơi thở cuối cùng. Sau khi ông qua đời, tên Trần Đại Nghĩa được đặt tên cho một con đường mới ở Thủ đô Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và TP Đà Nẵng. Con tàu khảo sát biển đầu tiên của Việt Nam do Tổng cục CN Quốc phòng đóng, mang ký hiệu HSV 6631 của Hải quân Việt Nam được mang tên Trần Đại Nghĩa. Trường đại học kỹ thuật quân sự đầu tiên ở phía Nam đã vinh dự mang tên Trường Đại học Trần Đại Nghĩa (trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan kỹ thuật quân sự Vinhem Pich). Sau khi Trần Đại Nghĩa qua đời, nhà toán học Phan Đình Diệu viếng ông: Nghĩa lớn gọi về với nước non Buồn vui đã trải với vuông tròn Rèn tài văn võ thời phiêu bạt Gánh việc giang san thuở mất còn. Tình nặng, ấy chưng tình đất nước Nghiệp đời há kể nghiệp vàng son. Gốc thông đứng thẳng dầu mưa gió Để gió lành reo ngát nước non. Còn, nhà văn hóa Trần Bạch Đằng viết: “Anh Trần Đại Nghĩa là một trí thức mang nhiều nét đẹp riêng qua suốt cuộc đời chỉ biết có cống hiến cho đại nghĩa dân tộc - như tên Đại Nghĩa mà Bác Hồ đặt cho anh và anh chấp nhận giống chấp nhận một tuyên cáo hành động và ứng xử... Anh ra đi, để lại một nhân cách lớn - nhân cách của một trí thức Việt Nam, một học trò giỏi của Bác Hồ, của một con dân vùng sông nước Cửu Long cuồn cuộn, bao la”. n 37
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT GIÁO SƯ HOÀNG NHƯ MAI MỘT NGHỆ SĨ SÂN KHẤU TÀI HOA, MỘT NHÀ GIÁO NỔI TIẾNG l GS HOÀNG CHƯƠNG Trong quyển sách mang tên Người văn nghĩ và sống kỷ niệm 50 năm ngày tựu trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Lớp Văn khóa VIII (1963 - 1967), Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2013 của tập thể tác giả là cựu sinh viên khóa 8, trong đó có anh Nguyễn Phú Trọng hiện nay là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quyển sách khổ 16x24 dày 770 trang này phần đầu trọng tâm giành nói về các thầy: Hoàng Xuân Nhị, Hoàng Như Mai, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Tài Cẩn ... Riêng GS. Hoàng Như Mai được các học trò nhắc tới nhiều nhất bởi ông có nhiều kỷ niệm đẹp trong trái tim của sinh viên Văn khoa khóa 8. M ới đây, sáng chủ nhật (22/9/2013) lớp chúng tôi họp mặt đông đủ tại Hội Nhà văn Việt Nam do nhà thơ Hữu Thỉnh tổ chức. Nhiều người nhắc tới GS Hoàng Như Mai với tất cả tấm lòng yêu kính và mong được dịp đến thăm thầy ở TP Hồ Chí Minh .... Không ngờ, ngày hôm sau, anh Hoàng Vũ Quân, con trai GS Hoàng Như Mai gọi điện báo tin cho tôi biết là GS Hoàng Như Mai đang lâm bệnh nặng có thể ra đi trong một ngày gần nhất. Tôi gọi điện báo tin này cho anh Nguyễn Phú Trọng, qua anh Đông thư ký. Và sáng ngày hôm sau anh Đông báo cho tôi là anh Trọng đã cử một phó văn phòng TW và một Cục trưởng quản trị mang thuốc bay vô TP Hồ Chí Minh kịp cứu chữa GS Hoàng Như Mai ... Và như một phép lạ, các bác sĩ giỏi nhất ở Bệnh viện 175 38 Quân đội đã tập trung hội chẩn và tìm ra giải pháp tối ưu để cứu sống Giáo sư Hoàng Như Mai, và GS. Hoàng Như Mai đã dần dần tỉnh lại dù còn rất yếu và đến 15 giờ 30 phút ngày 26/9/2013 đã chút hơi thở cuối cùng! GS Hoàng Như Mai năm nay tròn 95 tuổi. Ông là “cậu ấm” con quan Tuần phủ Bắc Giang, quê gốc ở huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông đã từng là học sinh trường Bưởi (Hà Nội), sinh viên đại học y khoa rồi đại học luật, nhưng có khiếu văn chương và yêu thích nghệ thuật sân khấu. Vì vậy mà từ những ngày đầu Cách mạng tháng 8 (1945) ông đã lập đoàn kịch tuyên truyền cứu quốc, trong đó có Thế Lữ và nhiều tên tuổi trong làng kịch. Vợ của ông bà Phạm Kim Trang cũng làm diễn viên trong đoàn kịch này. Đoàn đi lưu diễn từ miền Bắc đến miền Nam Trung Bộ thì, kháng chiến bùng nổ nên phải quay về Hà Nội. Đến
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT năm 1948, tổ chức điều ông sang ngành giáo dục làm nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam. Nhưng tình yêu sân khấu trong ông vẫn nồng nàn. Ông đã sáng tác vở kịch lịch sử về Tây Sơn - Nguyễn Huệ “Tiếng trống Hà Hồi” và đã diễn rất thành công tại Hà Nội năm 1952, sau đó ông viết tiếp nhiều vở kịch nói và kịch thơ, góp phần đáng kể cho nền sân khấu Việt Nam thời kỳ chống Pháp. Năm 1965, Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội chủ trương dựng kịch tham gia hội diễn sân khấu toàn quốc. Vở kịch Những người chiến thắng (Nguyễn Văn Trỗi) của Học Phi được chọn làm tiết mục dự hội diễn. Tôi được Chủ nhiệm Khoa Hoàng Xuân Nhị giao cho làm đạo diễn và GS Hoàng Như Mai làm cố vấn cho tôi. Trong quá trình dựng vở, GS Hoàng Như Mai luôn theo sát chỉ bảo cho tôi từng ly từng tí. Hôm đoàn kịch về Hà Nội tham gia hội diễn, GS Hoàng Như Mai vì bận không đi cùng đoàn được, ông viết cho tôi một bức thư dài, trong đó dặn dò là không được nóng nảy nặng lời với anh, chị em, khi diễn tập, nếu có ai đó làm sai, làm hỏng vai kịch. Tôi vô cùng xúc động khi đọc bức thư của GS Hoàng Như Mai. Bức thư viết trên giấy pơluy mỏng cho đến nay tôi vẫn giữ như một vật quý. Nhờ có sự quan tâm chỉ bảo của Giáo sư Hoàng Như Mai mà vở kịch Nguyễn Văn Trỗi của Khoa văn đã biểu diễn thành công tại Nhà hát lớn Hà Nội. Có một số đồng chí Bộ Chính trị và Trung ương dự. Khi trở về khu sơ tán ở Tràng Dương - Đại Từ, GS Hoàng Như Mai gọi tôi tới nhà riêng (túp nhà tranh lụp xụp) chúc mừng thành công của đoàn kịch và tôi. Ông hỏi tôi đã bớt nóng nảy chưa? Tôi thưa: - Dạ em quyết tâm thực hiện như lời dạy của thầy... Năm ngoái, GS Hoàng Như Mai gửi tặng tôi tập kịch của ông, và trực tiếp nói chuyện với tôi qua điện thoại do Hoàng Vũ Quân, con trai ông nối cho tôi. GS Hoàng Như Mai khen tôi là lúc nào cũng năng động, nhiệt tình, làm được nhiều việc cho ngành văn hóa. Qua điện thoại tôi thấy giọng ông yếu hơn ngày xưa rất nhiều. Thời ở khu sơ tán (thôn Tràng Dương - huyện Đại Từ) GS Hoàng Như Mai là người giảng văn học Việt Nam hay nhất, hấp dẫn nhất, như ông tự nói: “Tôi nói hay hơn viết”. Thời đó giọng ông âm vang, trầm ấm lại nói có duyên nên sinh viên bị hút vào ông. GS Hoàng Như Mai giảng không cần giáo trình, không cần sách mà bằng tài năng “diễn xuất” bởi ông đã từng là diễn viên kịch nói. Cũng vì thế mà ông vẫn canh cánh một lòng trở lại với sân khấu. Ông tâm sự: “Tôi có nguyện vọng từ thời trẻ là làm văn nghệ, nhưng rồi nhà nước gọi sang làm giáo dục”. Có những người bạn xưa nói vui với tôi: “Anh sang bên giáo dục được phong Nhà giáo nhân dân, nhưng nếu anh cứ ở bên văn nghệ (sân khấu) chắc cũng được là nghệ sĩ nhân dân” (trích thư của GS Hoàng Như Mai gửi cho Lớp văn khóa 8). Ông đã cùng với NSND Sỹ Tiến viết quyển Nghệ thuật cải lương, sau đó viết tiếp quyển Soạn giả Trần Hữu Trang. Vì thế mà Bộ Văn hóa đã nhiều lần thuyết phục, mời ông về làm Viện phó Viện Nghệ thuật sân khấu Việt Nam. Lúc đó GS Hoàng Châu Ký làm Viện trưởng. Nhưng Bộ Giáo dục không cho ông đi. GS Hoàng Như Mai là người xe duyên cho GS Nguyễn Lộc ở khoa Văn và nhà thơ Hoàng Ý Nhi con gái GS Hoàng Châu Ký thành vợ chồng. Cặp đôi tài năng này đã đóng góp tích cực cho nền văn học Việt Nam. Để thể hiện tấm lòng tôn kính với người thầy tài năng, đức độ, năm GS Hoàng Như Mai tròn 80 tuổi, chúng tôi tổ chức sinh nhật ông tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội. Và năm Giáo sư thượng thọ 90 tuổi (ngày 18/9/2008) với tư cách là Chủ tịch Quốc hội khóa XII, anh Nguyễn Phú Trọng đã gửi lẵng hoa và thư “Chúc mừng thầy Hoàng Như Mai - giáo sư, nhà giáo nhân dân - một người thầy đức độ, tài hoa, tâm huyết, chân tình ....”. Từ ngày GS Hoàng Như Mai chuyển về TP Hồ Chí Minh giảng dạy và làm Chủ tịch Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học TP Hồ Chí Minh thì, tôi ít được gặp thầy, nhưng vẫn thường xuyên thăm hỏi thầy qua điện thoại. Ông rất vui khi biết học trò của mình thành đạt trong sự nghiệp văn hóa, văn nghệ. Tấm lòng trong sáng chân tình, đức độ của GS Hoàng Như Mai được thể hiện trong những câu thơ ứng tác làm xúc động lòng người khi ông trở về thăm địa chỉ khoa văn thời sơ tán ở Tràng Dương, Ký Phú năm xưa: ... Nhớ khi Ký Phú, Đồng Văn Mấy phen mì độn, mấy lần đạn bom Thầy, cô người mất, người còn Sinh viên mấy nấm mồ chôn chiến trường. Viết sao hết, nói sao đủ về một con người viết hoa, một nhân cách lớn Giáo sư Hoàng Như Mai. n Hà Nội, ngày 7 tháng 9 năm 2013 GS Hoàng Chương (Học trò cũ của GS Hoàng Như Mai) 39
    • NSƯT Nguyễn Thế Phiệt và các Nghệ sĩ Đoàn Nghệ thuật Chèo Quân đội, Chúc mừng Đại tướng Võ Nguyễn Giáp nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Ảnh: Tư liệu Nhà hát Chèo Quân đội NGHỆ SỸ ƯU TÚ NGUYỄN THẾ PHIỆT Bứt Phá Cùng “Chiếu Chèo” Quân đội l MINH LINH Một thời, Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần (nay là Nhà hát Chèo Quân đội) “làm mưa, làm gió” trên sân khấu cả nước với bộ ba vở chèo lịch sử nổi tiếng “Bài ca giữ nước” của tác giả Tào Mạt; rồi “Chiếc bóng oan khiên”, “Nước mắt Bà Chúa kho”, “Nữ tú tài” - Huy chương Vàng Hội diễn sân khấu toàn quốc, “Người anh hùng áo vải” - Huy chương Bạc, “Điều đọng lại sau chiến tranh” - Huy chương Vàng, “Ánh sao đầu núi”, “Người tử tù mất tích”, “Người trong bóng tối”… với kỉ lục về số đêm diễn. Trong những thành tựu huy hoàng ấy đều có dấu ấn và đóng góp công sức của NSƯT - Nhạc sĩ Nguyễn Thế Phiệt. S inh ra và lớn lên ở vùng quê Thái Bình là một trong “tứ chiếng” Chèo của Đồng bằng Bắc Bộ, những làn điệu chèo, những tích truyện cổ thấm đẫm chất nhân văn dân gian đã “ngấm” vào chàng trai Nguyễn Thế Phiệt ngay từ khi còn nằm trong nôi. Chưa bước qua tuổi vị thành niên, chàng trai Thế Phiệt đã chơi thành thạo một số nhạc cụ dân tộc. Chỉ bằng ống tre và sợi 40 dây cước, nhưng cây nhị dưới bàn tay điêu luyện của anh bao đêm thao thức cùng đào kép thăng hoa qua các vở chèo cổ “Kim Nham”, “Trương Viên”, “Lưu Bình - Dương Lễ”, “Quan Âm Thị Kính”… nức tiếng cả vùng. Tiếng lành đồn xa, Đoàn Chèo nhân dân tỉnh Kiến An mời ông tham gia. Những tưởng sẽ trở thành diễn viên của một đoàn nghệ thuật dân sự “sẵn nong, sẵn né”, yên ổn trên con đường tìm kế sinh nhai, nhưng lời mời của một cán bộ tuyên huấn Quân đội đã bất ngờ dẫn ông sang một ngã rẽ với nhiều thử thách. Gia nhập Đội Văn nghệ Tỉnh đội Thái Bình, ông trở thành người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng Đội Chèo Tỉnh đội Thái Bình với 13 thành viên. Thiếu thốn mọi bề, nhưng nhiệt tình và tâm huyết giúp ông cùng đồng đội vượt lên tất cả. Hoạt cảnh chèo “Nồi cơm ai nấu” hài hước, dí dỏm là tác phẩm đầu tiên được
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT NSƯT - Đoàn trưởng Nguyễn Thế Phiệt đọc báo cáo thành tích tại Lễ đón nhận Danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVT Nhân dân của Đoàn Nghệ thuật Chèo TCHC. Ảnh: Tư liệu Nhà hát Chèo Quân đội trình làng của Đội Chèo, cũng là dấu mốc đưa ông đến với nghệ thuật chuyên nghiệp. Được phục vụ nhân dân và lực lượng vũ trang ngay trên quê hương, với ông là niềm hạnh phúc. Do biến động của tổ chức, ông được điều sang công tác tại Đoàn Chèo Tỉnh đội Hưng Yên. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt. Để đáp ứng yêu cầu phục vụ bộ đội tại chiến trường, Đoàn Chèo Tỉnh đội Hưng Yên được lệnh nhập về Đoàn Văn công Tổng cục Hậu cần. Hàng trăm lần ông và diễn viên vào chiến trường phục vụ bộ đội dưới mưa bom, bão đạn và cái chết cận kề. Hằng ngày, chứng kiến nỗi gian khổ, sự hi sinh của chiến sĩ, ông và các nghệ sĩ trong đoàn chỉ còn biết dùng tiếng đàn, lời ca san sẻ. Đất nước thống nhất, để có thể tiếp nối con đường nghệ thuật dài lâu và chuyên nghiệp, ông xin đi học. Nhưng công việc bộn bề ở một đoàn nghệ thuật là phải đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân ở những vùng mới giải phóng kéo ông đi. Không còn cách nào khác, ông đành tranh thủ tự học. Ngày ấy, những vở chèo được sáng tác để đáp ứng nhiệm vụ chính trị. Am hiểu và có kinh nghiệm thực tiễn, ông sáng tác nhạc cho các vở: “Đôi mắt”, “Đường lên biên giới”, “Hoa và lửa”, “Nguyễn Đức Cảnh”, “Nguyễn Viết Xuân” đặc biệt là phần âm nhạc trong tập I, tập II trong bộ chèo 3 tập “Bài ca giữ nước” nổi tiếng của tác giả Tào Mạt của ông, đã góp phần làm cho Bài ca giữ nước được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, và hàng chục tác phẩm âm nhạc được phát trên Đài TNVN… rất có nét riêng, được các nhà nghiên cứu và nhân dân ngợi khen, đón nhận. Từ một người viết nhạc “tay ngang”, ông trở thành một nhạc sĩ sáng tác thực thụ. Cuối những năm 80 thế kỷ trước, kinh tế thị trường tác động mọi ngõ ngách của đời sống xã hội. Nhiều đoàn nghệ thuật lao đao. Nghệ sĩ phải bươn chải đủ nghề để tồn tại. Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần cũng không ngoại lệ. Đúng lúc “nước sôi lửa bỏng” này (năm 1989), ông được bổ nhiệm làm Đoàn trưởng kiêm Chỉ đạo nghệ thuật của Đoàn.Trong sự trăn trở tìm lối thoát, nhiều nghệ sĩ và các đoàn nghệ thuật dân tộc chọn con đường cải biên, cách tân làm mới các loại hình nghệ thuật dân gian những mong thoát khỏi khó khăn, do nôn nóng, một số người vô tình “phá hỏng” hồn cốt của Chèo… làm khán giả quay lưng với loại hình nghệ thuật dân tộc này. Nhớ lại những ngày gian khổ ấy, ông tâm sự: “Nhận nhiệm vụ, tôi lo lắm! Kinh phí dựng vở hạn hẹp, diễn viên tuổi cao, khán giả không mặn mà. Suy nghĩ, tính toán nát óc, tôi thấy muốn duy trì và phát triển nghệ thuật Chèo phải kiên trì định hướng kế thừa và phát triển sân khấu chèo truyền thống. Tìm tòi, khai thác đề tài lịch sử, dân gian, nhất là chiến tranh cách mạng và hình tượng người chiến sĩ”. Năng động, sáng tạo, ông cùng anh chị em diễn viên “bung ra”, chỉ trong 7 tháng, từ tháng 5/1989 đến tháng 12/1989 dàn dựng 3 vở : “Người trong bóng tối”, “Tình yêu Yến Hoa”, đặc biệt là vở “Chiếc bóng oan khiên” đã biểu diễn 55 đêm tại các nhà hát của Thủ đô Hà Nội, gây tiếng vang lớn, được công chúng và giới phê bình đánh giá cao, trở thành một “hiện tượng” trong đời sống văn hóa lúc ấy. Sự cổ vũ, yêu mến của khán giả và cán bộ chiến sĩ tạo động lực cho Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần vững bước trên con đường chinh phục đỉnh cao của nghệ thuật. Những năm tiếp theo, Đoàn liên tục cho ra mắt những vở diễn đề cập đến nhiều vấn đề thời sự xã hội được mọi người quan tâm như kỉ cương phép nước, lấy dân làm gốc, bình đẳng nam nữ, ca ngợi cái tốt, cái chính nghĩa, phê phán sự 41
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT NSƯT Đào Lê - Phó đoàn (người đứng) và các Nghệ sĩ Đoàn Nghệ thuật Chèo TCHC phục vụ chiến sĩ tại Quần đảo Trường Sa. Ảnh: Tư liệu Nhà hát Chèo Quân đội ích kỷ thấp hèn… bằng những thủ pháp đặc trưng rất Chèo nhưng đẩy nhanh nhịp độ, tình tiết cho phù hợp với cuộc sống hiện đại. Đến bây giờ, ông bảo, cuộc đời ông rất may mắn đã được làm việc với tập thể Đoàn Nghệ thuật Chèo TCHC, với những Nghệ sĩ tài năng, tiêu biểu như các NSƯT Đào Lê, Thanh Hải, Xuân Theo, Xuân Dinh, Ngọc Viễn, Thu Hoà, Quốc Trượng, Trung Sinh, Đỗ Tùng, ... và đã làm việc với nhiều đạo diễn hàng đầu như: NSND Doãn Hoàng Giang và NSND Lê Hùng, hai cá tính sáng tạo bậc nhất của sân khấu nước nhà, từng rất nhiều lần dựng vở cho Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần. Là Đoàn trưởng kiêm chỉ đạo nghệ thuật, nghệ sĩ Nguyễn Thế Phiệt có cái 42 tỉnh táo của nhà quản lý và sự bay bổng của người nghệ sĩ. Chẳng thế mà Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần trở thành một “thương hiệu” mạnh, đoạt nhiều Huy chương Vàng trong các kỳ hội thi, hội diễn, với danh sách kịch mục mà bất cứ đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp nào cũng phải mơ ước. Bản thân nhạc sĩ Nguyễn Thế Phiệt được phong là Nghệ sĩ Ưu tú và Đoàn Chèo Tổng cục Hậu cần được Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVT trong thời kỳ đổi mới. Mặc dù đã được Quân đội cho nghỉ chế độ, song với lòng yêu nghề và mong muốn tiếp tục được “nhả tơ”, NSƯT Nguyễn Thế Phiệt đã tự nguyện tham gia hoạt động ở Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn hóa Dân tộc VN do GS Hoàng Chương làm Tổng giám đốc. Ông được giao nhiệm vụ làm Chánh văn phòng Trung tâm. Ngoài ra, với chất nghệ sĩ chưa bao giờ ngừng chảy trong mình, với kinh nghiệm chỉ đạo, dàn dựng sân khấu bao năm ông tham gia tổ chức sáng tác, dàn dựng những tiểu phẩm hài hước mà thâm thúy trong mảng đề tài mới là Văn hóa giao thông, qua đó đã tác động trực tiếp vào nhận thức của mọi người, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông. Đã gần tuổi thất thập nhưng NSƯT - Nhạc sĩ Nguyễn Thế Phiệt vẫn hoạt động say sưa, nhiệt tình và hiệu quả như thủa nào. Ông tâm sự, sở dĩ ông làm được như vậy, ngoài chất nghệ sĩ, chất Lính Cụ Hồ tiềm ẩn trong mình, ông còn có một tấm gương nhiệt tình cống hiến Tâm - Sức cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy Văn hóa dân tộc để ông học tập, noi theo là GS Hoàng Chương - Tổng giám đốc Trung tâm NCBT & PHVHDT. Và, ông cảm thấy trẻ ra, khỏe ra khi tiếp tục dấn thân cho công việc chung mang lại lợi ích cho cộng đồng. n Cán bộ Nghệ sĩ Đoàn Nghệ thuật chèo Tổng Cục Hậu cần phục vụ chiến sĩ tại Quần đảo Trường Sa. Ảnh: Tư liệu Nhà hát Chèo Quân đội
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT Nguyễn Thế Kỷ Nhà thơ, nhà viết kịch Nguyễn Thế Kỷ. Ảnh: Nguyễn Minh San NGƯỜI TIẾT GIẢM TAI NẠN GIAO THÔNG BẰNG …THƠ T rong nỗ lực chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nhằm giảm bớt tai nạn giao thông có công lao to lớn của một người con của quê hương Núi Ấn sông Trà đã gần bước qua tuổi 80. Ông không đeo băng dân phòng xuống đường hướng dẫn giao thông như biết bao cựu chiến binh, thanh niên tình nguyện khác, mà tham gia tiết giảm tai nạn giao thông bằng….thơ. Ông là nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ. Nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ cảm hứng với đề tài văn hóa giao thông (VHGT) và chủ tâm quan sát hiện thực cuộc sống cũng như tìm đọc tin tức về an toàn giao thông, đã viết ra hơn 100 bài thơ, được tập hợp trong tập thơ Con đường - Con người (Nxb trẻ, tháng 9/2012). Hơn 100 bài thơ không giống nhau, không trùng nhau với nhiều thể loại thơ khác nhau cùng chứa đựng một nội dung duy nhất về VHGT, phản ánh tổng hòa những mối quan hệ xã hội, khi tham gia giao thông của tất cả mọi người Việt Nam. Đọc tập thơ ta thấy, Nguyễn Thế Kỷ đã hiểu chân tơ kẽ tóc (bởi chỉ có hiểu mới viết được/là kết quả sự l LÝ NHÂN quan sát mọi cung đường, mọi đối tượng tham gia giao thông) nên thơ ông phản ánh từng hành vi nhỏ nhặt, từng biểu hiện bình thường hay bất thường của các đối tượng tham gia giao thông, cũng như đề cập tới hầu như tất cả những gì thuộc về qui định ATGT được thể hiện trong giao thông. Đọc Con đường Con người, ta thấy bất kỳ ai, bất kỳ đối tượng nào khi tham gia giao thông đều phải nghĩ tới những gì mà ông đúc kết cô đọng trong những câu thơ, những ý thơ. Những điều nhắn gửi của nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ trong tác phẩm của mình là làm thế nào để đảm bảo an toàn cho mình và cho mọi người từ hành động, cử chỉ rất bình thường như đứng trước ngã ba, ngã tư, ngã năm đường phố: Đèn đỏ không là mây Giao thông đừng thơ thẩn Không chờ 30 giây Để một giây ân hận Đồng thời, tác giả cũng thẳng thắn chỉ ra những hành động sai trái của những tài xế xem thường tính mạng con người, vì tiền (tất chả chỉ có tiền), và máu 43
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT liều đã gây tai nạn giao thông. Nhà thơ cũng cảnh báo những tai nạn rùng mình không chỉ có hành khách bị thương vong mà cả lái xe cũng không tránh khỏi bi kịch. Hơn 100 bài thơ của Nguyễn Thế Kỷ , mỗi bài mang một nội dung nhắn gửi sâu sắc, rất cần cho bất kỳ đối tượng nào có tham gia giao thông, cần cả cho những ông bà cha mẹ và thầy cô giáo cũng có thể dùng những câu thơ ngắn, dung dị, để nhắc nhở giáo dục cháu con và học trò của mình trong tham gia giao thông - từ việc đội mũ bảo hiểm đến việc tuân thủ nghiêm ngặt tín hiệu đèn xanh, đèn đỏ, từ việc thực hiện quy trình luật lệ của người thi hành công vụ đến người lái xe,…Ai nấy có thể tìm thấy những điều bổ ích trong tập thơ này. Tập thơ còn có thể giúp ích cho những CLB thơ- những người yêu thích thơ có một đề tài nóng bỏng để ngâm ngợi trong việc sáng tác của mình, những nhạc sĩ cũng có thể khai thác từ tập thơ này, để làm ra những ca khúc về an toàn giao thông góp cho đời thêm nét đẹp văn minh và yên bình trong cuộc sống. GS Hoàng Chương, người trực tiếp tổ chức và chỉ đạo thực hiện Dự án Văn hóa giao thông, cũng là người tổ chức phát hành tập thơ rộng rãi, tới cả các đại biểu Quốc hội, các đại biểu tham dự Hội nghị quốc tế về ATGT năm 2012 tổ chức tại Hà Nội đã viết: “Tôi coi tập thơ của Nguyễn Thế Kỷ là một công trình văn nghệ hết sức có giá trị trong cuộc vận động toàn dân thực hiện luật lệ về an toàn giao thông do Chính phủ phát động trong đầu năm 2012 và nói rộng ra nữa là Liên hiệp quốc phát động Thập kỷ An toàn giao thông đường bộ từ năm 2010 đến 2020”. Nhà thơ Thanh Thảo thì nhận xét: “Là một nhà thơ, tôi rất ngạc nhiên khi đọc tập thơ về văn hóa an toàn giao thông của Nguyễn Thế Kỷ - một nhà thơ đang bước gần qua tuổi 80 - vì tập thơ này viết về “tổng hòa những mối quan hệ xã hội” khi tham gia giao thông của tất cả mọi người Việt Nam…Nhiều bài thơ trong tập này thật giản dị và cảm động, nó chứng tỏ một điều: thơ là dành cho tất cả, không có gì thuộc về con người mà xa lạ với thơ. Thơ có mặt ngay khi nó viết về những gì mà người bình thường không bao giờ nghĩ ở đó lại có thơ. Thơ có ích một cách thầm lặng, có ích ngay khi người ta nghĩ nó như vô ích”. Trong lời Tựa tập thơ, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng ban An toàn giao thông Quốc gia, sau 44 khi khẳng định văn nghệ là một thứ vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, thơ ca là một hình thức rất dễ đi vào lòng người, hướng con người tới chân thiện - mỹ, đã đánh giá: “Tập thơ hơn 100 bài của nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ viết về văn hóa giao thông rất quí, rất đáng hoan nghênh, bởi nhà thơ đã dày công trong lao động sáng tạo, biến những con chữ biết nói về an toàn giao thông, tâm tình khuyên nhủ người tham gia giao thông nên thực hiện mọi qui định của pháp luật về an toàn giao thông…Tôi tin rằng bất kỳ ai đã đọc những bài thơ trong tập thơ này đều phải suy ngẫm hành động để rồi làm theo lời khuyên chân tình của nhà thơ để tránh những tai họa bất ngờ, như đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, lái xe ô tô không đảm bảo luật lệ và an toàn tuyệt đối, hoặc thanh niên không nên đua xe làm rối loạn trật tự xã hội và gây thương vong cho mình và cho đồng loại”. Có thể khẳng định, với “Con đường - Con người”, nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ đã góp phần to lớn tiết giảm tai nạn giao thông không chỉ trong thời gian qua mà, trong thời gian không hạn định nữa. Với đóng góp to lớn đó, Nguyễn Thế Kỷ đã được Thủ tướng Chính phủ đã tặng Bằng khen. Thiết nghĩ, ông xứng đáng được Bộ GTVT trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp phát triển Giao thông vận tải”! n NHƯỜNG NHỊN Giao thông tai nạn hàng ngày Văn hóa nhường nhịn thấm đầy nhân văn Giao thông văn hóa như đèn Sáng lên giữa cả đêm đen bão bùng Giao thông văn hóa muôn trùng Xanh trên lối dốc, đỏ từng đoạn quanh Giao thông văn hóa như mình Mình đi. Mình đứng. Mình nhìn trước sau Trên đường nhường nhịn cho nhau Cả đời vài phút chậm mau hề gì: Nhường nhịn hỡi bạn tương tri Giao thông văn hóa thay vì … Nhân sinh! Nguyễn Thế Kỷ
    • HIEÀN TAØI ÑAÁT VIEÄT Nhớ anh T NGUYỄN NGỌC SINH ôi quen biết anh Nguyễn Ngọc Sinh từ tháng 8 năm 1994, khi anh vừa nhận chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại nước Cộng hòa Rumani, lúc đó tôi là Viện trưởng Viện nghiên cứu Sân khấu Việt Nam, làm trưởng Đoàn nghệ thuật sang biểu diễn ở Anh quốc và Rumani. Chúng tôi được đến Rumani là nhờ Đại sứ Nguyễn Ngọc Sinh tận tình vận động Bộ Văn hóa nước bạn mời tham dự hai Festival Quốc tế tổ chức ở hai thành phố Tuncia và Piastranem (tháng 9 -1994). Chúng tôi bay từ London đến Bucarest thì được cán bộ của Đại sứ quán nồng nhiệt đón chào và đưa về Đại sứ quán chiêu đãi cơm, nước rất ngon, bù lại bao nhiêu ngày chỉ ăn bánh mỳ ở Tây Âu. Sau đó Bộ Văn hóa Rumani đưa chúng tôi đến thành phố biển Mamaia, nơi nghỉ mát nổi tiếng để nghỉ ngơi và biểu diễn cho khách du lịch trước khi tham gia Festival Quốc tế. Đại sứ Nguyễn Ngọc Sinh đã mang cơm, thịt gà đến tận nơi thăm chúng tôi mời chúng tôi ăn. Cử chỉ ấy của một vị Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại nước Rumani không những làm cho chúng tôi cảm động mà cán bộ Văn hóa của Rumani cũng cảm phục nên chăm sóc cho chúng tôi tốt hơn từ việc biểu diễn đến sinh hoạt, ăn ở. Bao giờ Việt Nam cũng được mở đầu chương trình Festival. Đại sứ Nguyễn Ngọc Sinh còn phân công anh Phạm Minh Chính (Hiện là UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh), Bí thư thứ hai Đại sứ quán lúc bấy giờ rất giỏi chuyên môn và ngoại ngữ giúp chúng tôi trong hơn một tháng trời nên chúng tôi đã giành thắng lợi ở hai cuộc Liên hoan Quốc tế và đêm biểu diễn cho ngoại giao đoàn tại Thủ đô Bucarest (2/9/1994). Để chúng tôi hiểu thêm về văn hóa Châu Âu, Đại sứ Nguyễn Ngọc Sinh trực tiếp đưa chũng tôi đi xem những bộ phim hay, hoặc đưa vào tham dự các sinh hoạt văn nghệ dân gian của nước bạn. Biết chúng tôi thèm ăn món ăn Việt Nam, anh Nguyễn Ngọc Sinh đích thân ra chợ mua những mớ rau thơm, những món ăn hợp khẩu vị Việt Nam mang về cho chúng tôi ăn. Anh vận động Việt kiểu tổ chức xem văn nghệ nước nhà và đóng góp tiền để mua vé máy bay cho chúng tôi về nước. Anh tổ chức cơm Việt Nam tại gia đình riêng và mời chúng tôi tới ăn. Cử chỉ của anh thật bình dị, chân thành như một người anh cả trong gia đình, mặc dù anh là nhà ngoại giao chuyên nghiệp đã kinh qua các cương vị như Đại diện thường trú Đại sứ quán Việt Nam tại Srilanca, Phó Vụ trưởng rồi Quyền Vụ trưởng Châu Á (nay là Vụ Đông Nam Á, Châu Á Thái Bình Dương), Bộ Ngoại giao, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Apganixtan và tại Rumani. Quý mến một người con rất nhiệt tình, rất chân thành, tốt bụng và rất yêu thích văn hóa văn nghệ nên năm 2001 tôi mời anh Nguyễn Ngọc Sinh về làm Phó Giám đốc cơ quan tôi. Anh rất vui và hoạt động nhiệt tình như tổ chức thành công Hội thảo Văn hiến Hà Tĩnh truyền thống và hiện đại (2001), Hội thảo Quốc tế mối quan hệ văn hóa giữa Việt Nam và Hàn Quốc (2002). Sau đó Hàn Quốc mời tôi sang dự Liên hoan nghệ thuật Châu Á, nhưng tôi cử anh Nguyễn Ngọc Sinh đi thay, vì anh nói: “Mình chưa được thăm Hàn Quốc lần nào…!”. Anh không quen viết bài tham luận về văn hóa, nhưng tôi khuyên anh nên viết về văn hóa đối ngoại và anh đã viết được mấy bài. Viết bài xong, bao giờ anh cũng nhờ tôi chữa. Bài được đọc, được đăng, anh rất mừng. Anh làm việc ở Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc VN đến cuối năm 2003, vì sức khỏe yếu nên anh xin được nghỉ việc mặc dù tôi tha thiết mời anh ở lại. Sau đó anh về Hội với tôi, Làm Tổng Thư ký, rồi Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Rumani, cũng là thời kỳ này, những dấu hiệu bệnh tật ung thư trong anh cứ lộ dần. Thỉnh thoảng anh sang sống với con cháu mấy tháng ở Rumani kết hợp điều trị bệnh tật, nhưng không kết quả. Anh lại phải đi Singapore điều trị mất thời gian dài. Trở về, anh tỏ ra lạc quan và nói với tôi rằng: “Xong cả rồi! Mọi việc sẽ tốt đẹp…” Nhưng ngờ đâu căn bệnh quái ác ấy lại tiếp tục hoành hành rồi quật ngã anh và anh vĩnh viễn ra đi vào hồi 17h50 phút ngày 22/9/2013 tròn 82 tuổi. Tôi tới viếng anh ở Nhà tang lễ mà lòng bùi ngùi thương nhớ anh! Ở đời mất vàng mất của không tiếc bằng mất người thân, người bạn tốt như anh Nguyễn Ngọc Sinh. Tôi viết bài này như một nén tâm nhang tiễn đưa một nhà ngoại giao, một người bạn quý về cõi vĩnh hằng. Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2013 GS Hoàng Chương 45
    • TÖØ TRONG DI SAÛN Một điệu hát dân gian HAI ĐỜI NGƯỜI l M Nghệ nhân hát Xẩm, Hà Thị Cầu 46 NGUYỄN THẾ KỶ ỘT ĐIỆU HÁT DÂN GIAN ở đây, tôi muốn khu biệt về một điệu hát đặc biệt nằm trong dòng nhạc dân tộc, khởi nguồn từ nền nông nghiệp lúa nước vùng đồng bằng Bắc Bộ, ven dọc hai bờ sông Hồng tự xa xưa: Đó là điệu hát Xẩm! Hát Xẩm, tôi không gặp ở miền Nam. Đến khi tập kết ra Bắc, lúc Đoàn Văn công Quân đội Liên khu 5 đóng quân ở Tĩnh Gia (Thanh Hóa), có đôi lần gặp, nhưng chỉ thoảng qua, tôi không để ý. Mãi đến những năm 1960 - 1961, được cho đi học trường Đại học Tổng hợp Văn Hà Nội, một hôm trên chuyến tàu điện Bờ Hồ đi Cầu Giấy, tôi mới gặp ông già mù hát Xẩm. Giọng hát ông sáng cả toa tàu khuya rạo rực… Nghe giọng hát trầm lắng, xót xa, lúc thủ thỉ nỉ non, khi dằn vặt cào xé, như muốn rứt ra khỏi lòng người sự khốn khó, nghèo nàn như một kho tàng mù mịt không biết tự bao đời dư lại, nhưng bất lực và phũ phàng… Tự nhiên, tôi đã đến gần sát bên người nghệ nhân già này lúc nào mà không hay. Và cũng tự nhiên lòng trân trọng đối với Xẩm trong tôi cũng chẳng biết có phải từ ấy hay không, mà để sau này tôi được nhiều lần đến với Xẩm? Hồi ấy, cuộc đời sinh viên miền Nam sống và học
    • TÖØ TRONG DI SAÛN tập trên miền Bắc - việc học hành, việc ngày Bắc đêm Nam dồn nén, làm cho tôi quên bẵng Xẩm đi lúc nào cũng không biết? Sau khi tốt nghiệp cử nhân, năm 1964 - 1965 Mỹ leo thang ra miền Bắc, tôi vào tuyến lửa Khu 4 - Một giai điệu âm nhạc dân gian khác lại quyến rũ tôi, lại mê hoặc tôi. Đó là: VÍ DẶM NGHỆ TĨNH, đã làm cho lòng tôi không phải quên mà phải xa cách XẨM như ĐỖ PHỦ mộng LÝ BẠCH: “Tử biệt dĩ thôn thanh/ Sinh biệt thường trắc trắc” (Đỗ Phủ: 712/770). (Á Nam Trần Tuấn Khải dịch): “Chết đành lạnh ngắt tăm hơi Sống mà xa cách sao nguôi tấm lòng” Đến khi thống nhất đất nước thì tôi (cũng như bao người con miền Nam khác) lại tất tả trở về với quê hương. Trở về với quê hương lúc ấy đâu chỉ là chùm khế ngọt! Chuyện nhà và chuyện nước. Công việc và nhớ quên cứ chen lẫn vào nhau suốt 35 năm, cho đến giữa tháng 9/2010, ra Hà Nội họp về việc phát động sáng tác phục vụ “Dự án Văn hóa giao thông”. Cuộc họp do Bộ trưởng HỒ NGHĨA DŨNG - Chủ tịch UBATGTQG và Chủ nhiệm Dự án GS HOÀNG CHƯƠNG chủ trì. Bài phát biểu hàm súc đầy nhiệt thành không đao to búa lớn mà sâu sắc của Bộ trưởng, Chủ tịch UBATGTQG - HỒ NGHĨA DŨNG và sự điều khiển cuộc hội nghị linh hoạt mà vô cùng nghiêm túc của GS Hoàng Chương đã khiến cảm xúc tôi bột phát sáng tác ngay bài thơ “VĂN HÓA GIAO THÔNG”, đề tặng Bộ trưởng VH - TT&DL HOÀNG TUẤN ANH, vì ở đâu cũng cần có VĂN HÓA, nhưng VĂN HÓA ở con đường, ở giao thông không chỉ cần mà còn quá cần, cần như một sự đổi mới ngay cả trong tâm hồn tôi. Điều quan trọng là bài thơ tôi vừa sáng tác ngay lập tức được nhạc sĩ, nghệ sĩ trẻ, xinh đẹp và tài hoa Mai Tuyết Hoa cất lên giọng hát XẨM: “Mới nghe Văn hóa giao thông Tưởng đâu lạ lẫm viển vông xa vời Hiểu ra là chuyện con người Một giây lên xuống, đôi lời lại qua Dưới trên, sâu cạn, gần xa Khóc cười, sống chết cũng là giao thông Thấy đời bỗng chốc có, không Hãy xem Văn hóa giao thông là đời…” Giọng hát Xẩm tuyệt vời của nhạc sĩ, nghệ sĩ Tuyết Hoa vừa ngưng, tiếng vỗ tay cả Hội trường vang dội, kéo dài. Tôi lúc bấy giờ không còn cái gọi là nhớ quên, quên nhớ mà là tình xưa không phải nối lại mà vẫn nguyên xưa: “Hát Xẩm bấy giờ và Hát Xẩm bây giờ Xưa không phải hẹn nay chờ đợi nhau!” Qua điệu Hát Xẩm về văn hóa giao thông trong cuộc hội nghị hôm tháng 9 năm 2010 ấy của Mai Tuyết Hoa đã cho tôi một cảm nhận là - Những giọng hát Xẩm trước kia mà tôi đã gặp, đã nghe là Xẩm đi tới với con người, còn điệu Xẩm này, điệu Xẩm Tuyết Hoa vừa hát là con người đi tới với Xẩm. Qui luật tàn nở của Hoa không là qui luật nở tàn của nghệ thuật. Hoa tàn, Hoa lại nở. Nghệ thuật tàn, khó có lần nở lại như thuở hồn nhiên. Cũng như Ca trù (Hà Nội), Quan họ (Bắc Ninh), hát Xoan (Phú Thọ), Nhã nhạc cung đình (Huế), Bài Chòi (Bình Định), Vọng cổ (Nam Bộ)… Xẩm hiện đang nung nấu một khát vọng chính đáng là mình phải có mặt trong cuộc sống hôm nay, như đề dẫn cuộc Hội thảo mà GS Hoàng Chương đã dẫn ra vừa rồi. Nhưng suy cho cùng thì cụm từ: “CUỘC SỐNG HÔM NAY” quá khắc nghiệt đối với nghệ thuật, nhất là nghệ thuật dân tộc, trong đó có Âm nhạc dân tộc; khắc nghiệt đến mức như đỉnh cao và vực thẳm! Nắm vững qui luật khách quan ấy, từ năm 2002, GS.AHLĐ. VŨ KHIÊU đã xuất bản cuốn sách “BÀN VỀ VĂN HIẾN VIỆT NAM” dày 1054 trang, khổ 16/24. Trong mục đề “Bản sắc văn hóa của dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hóa”, trang 1013 GS viết: “Tại nhiều nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh… cũng đã nẩy sinh về vấn đề vai trò và số phận bản sắc văn hóa ở nước họ. Phải chăng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế có thể làm biến mất đi bản sắc văn hóa của họ, hay phải chăng bản sắc văn hóa của họ không mất đi mà lại còn có khả năng thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa? Ở Việt Nam không phải bây giờ mà từ lâu Đảng ta và Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh vai trò Văn hóa của dân tộc với công cuộc kháng chiến và toàn bộ sự nghiệp cách mạng”. Chúng ta nghe, thậm chí là thuộc lòng những cảnh báo vô cùng bổ ích ấy, nhưng qui luật nở, tàn của nghệ thuật dân tộc là những đóa hoa vĩnh cửu. Vừa rồi tôi đã nói về “Một điệu hát dân gian Xẩm”. Bây giờ đến phần “Hai đời người” (Cũng nằm trong phạm trù - Nghệ sĩ và Nghệ sĩ âm nhạc dân tộc - hát Xẩm). Đó là một đời nghệ nhân hát Xẩm già - Bà Hà Thị Cầu quê ở Yên Mô và một nhạc sĩ âm nhạc dân tộc chuyên sâu nghiên cứu về hát Xẩm và khát vọng đưa hát Xẩm vào trong cuộc sống hôm nay - Đó là nhạc sĩ trẻ Mai Tuyết Hoa. 47
    • TÖØ TRONG DI SAÛN Bà Cầu như trời dành riêng Xẩm cho bà. Bà biết hát Xẩm khi bà chưa biết chạy. Và, bà không muốn ngưng hát Xẩm trước lúc bà ngừng thở. Chắc chắn giờ khâm liệm bà mọi người có lẽ đã vọng nghe lời bài Xẩm “DẠT NƯỚC CÁNH BÈO” mà nghệ nhân Bà Cầu - người được bà con nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ phong tặng cho Bà danh hiệu “Báu vật nhân gian”, Bà thường hát trên khắp nẻo đường bà đã đi qua: “Bấy lâu nay dạt nước cánh bèo Đã từng lưu lạc nhiều điều gian truân Đường đời thừa thãi trái ngang Hai chân đâu bước hết đa đoan để già…” Bà Cầu sinh năm 1928. Tuyết Hoa sinh năm 1976. Hai thầy trò sinh cách nhau gần nửa thế kỷ. Trong Lễ hội nghìn năm Thăng Long, nhạc sĩ, nghệ sĩ Tuyết Hoa cất lên giọng Xẩm của mình: “Dạo chơi khắp chốn Long Thành Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Khoai Hà Trung, Ngõ Trạm rồi quay ra Hàng Đường…” Nghe chiều hướng phát huy hát Xẩm của nhạc sĩ, nghệ sĩ Tuyết Hoa tâm huyết, lay động đến như thế, được khán thính giả tán thưởng đến như thế, tôi như thấy rất rõ Xẩm đang đi vào cuộc sống hôm nay, tuy còn trên đường rộng, mà công chúng của hát Xẩm lại đang chờ ở ngõ sâu, lối nhỏ… Tuy nhiên hai đời người, hai thế hệ BÀ CẦU - TUYẾT HOA đã là sự kế thừa đầy sinh khí, đầy khả vọng: “Bà Cầu Xẩm đỏ Yên Mô Tuyết Hoa Xẩm đỏ Thủ đô anh hùng” Bà Cầu mất ở Yên Mô, nhưng Xẩm vẫn còn trong Tuyết Hoa ở Thủ đô Hà Nội mà nơi thường trú lại ở giữa Trung tâm NCBT&PHÂNDT do Tuyết Hoa làm Giám đốc thuộc TTNCBT&PHVHDT do GS HOÀNG CHƯƠNG làm Tổng Giám đốc. Hơn nghìn năm trước Đỗ Phủ (712/770) đã viết: “Thiên thu vạn tuế danh Tịch mịch thân hậu sự” Nguyễn Tịch sau này cũng viết: “Thiên thu vạn tuế hậu Vinh danh an sở chi” (Ngàn năm vạn năm sau tiếng tăm mà làm gì, nếu không ai kế tự) “Tiếng tăm muôn thuở nghìn đời Âm thầm lặng lẽ nữa rồi thân sau…” (Á Nam Trần Tuấn Khải dịch) n 48 “Xẩm đỏ Thủ đô” Mai Tuyết Hoa. Ảnh Nguyễn Minh San
    • TÖØ TRONG DI SAÛN ĐỀN CÂY QUẾ DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT QUỐC GIA l Ngày 21/9/2013 (tức ngày 18/7 Âm lịch năm Quý Tỵ), Ủy ban nhân dân xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định đã long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích nghệ thuật kiến trúc cấp Quốc gia (Số 1002/QĐ BVHTTDL, ngày 13/3/2013) do Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch (VHTTDL) trao cho đền Cây Quế thuộc thôn Phụ Long, xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Đ BÍCH NGỌC Đền Cây Quế. Ảnh Ngọc Viên ến dự có đồng chí Nguyễn Văn An, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội,đồng chí Nguyễn Văn Toàn, Cục phó Cục Di sản Bộ VHTT & DL, GS Hoàng Chương, Tổng Gám đốc Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc kiêm chủ nhiệm Tạp chí Văn hiến Việt Nam, Phó Chủ tịch tỉnh Nam Định cùng đông đảo đại diện các Bộ, Ban, ngành của Trung ương và địa phương Nam Định. Đền Cây Quế thờ Đức Thánh Linh lang Đại vương. Trong khuôn viên của Đền trước đây có Cây Quế cổ thụ nên nhân dân trong vùng thường gọi là Đền Cây Quế. Thần tích cho biết Đức thánh Linh Lang Đại vương là con của vua Lý Thái Tông và bà Đệ nhị Cung Phi Phương Nương (1028 - 1054). Thời ấy khi nước nhà gặp nạn giặc phương Bắc tấn công Hoàng Tử Hoàng Lang đã xin cha ra trận dẹp giặc. Khi đã quét sạch giặc xâm lăng khỏi bờ cõi, Hoàng Lang bị bệnh lạ và nói với vua Lý Thái Tông rằng “Muôn tâu Bệ hạ, con thuộc dòng dõi của Lạc Long Quân, là một trong số 50 người con theo cha xuống biển, phụng mệnh Ngọc Hoàng sinh vào cung son gác tía. Nay giặc đã quét sạch, muôn dân được no ấm, con phải trở lại chốn Thủy cung”, nói xong Hoàng Lan biến thành Giao Long trườn mình ra Hồ Tây rồi biến mất. Vua Lý Thái Tông vô cùng thương xót, đã phong cho Hoàng Lang là Linh lang Đại vương. Do thần Linh Lang Đại vương trước đây đã giúp cho rất nhiều nhân dân dọc sông Hồng nên trong vùng châu thổ sông Hồng có rất nhiều di tích thờ ngài và được xây dựng ở nhiều nơi dọc các con sông, trong đó có Đền Cây Quế. Đền rộng 4772,9m2 được xây với kiến trúc cổ kính gồm 3 tòa nhà có mặt bằng kiểu chữ tam (chữ Nho) với các hạng mục tiền đường, trung đường và cung cấm. Còn có thêm nghi môn, sân ngoài và đến sơn trang. Trong cung cấm đặt bức tượng Đức Thánh Linh Lang Đại vương rất đẹp và oai phong… Đền rất thiêng. Nhân dân nói rằng cầu xin ngài cho khỏi thiên tai lũ lụt đều được hiển linh. Phối tự trong đền có bài vị thờ Bố Cái Đại vương 49
    • TÖØ TRONG DI SAÛN Ông Nguyễn Văn An - Nguyên Chủ tịch Quốc hội Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và các ông: Hoàng Tuấn Anh - Ủy viên TW Đảng - Bộ trưởng Bộ VHTT&DL, Nguyễn Hữu Ước - Trung tướng, Nhà văn, P.Tổng Cục trưởng Tổng Cục XDLL, TBT Báo Công an Nhân dân, GS.Hoàng Chương - Giám đốc Trung tâm NCBT&PHVHDTVN thăm và dâng hương tại đền. (Phùng Hưng), bài vị thờ Sơn Dược Đại vương và thờ Bạch Hạc Đại vương. Trong Đền còn có một chuông đồng cổ được đúc từ thời vua Lê Hiển Tông (1775) chuông cao 0,9m, đường kính rộng 0,46m và được đúc theo kiểu Rồng đấu thân. Trong Đền Chuông niên hiệu Cảnh Hưng 36 còn có bia “Trần (1775) treo tại tiền đường Nguyễn Bi ký” soạn khắc niên hiệu Tự Đức 55 (1872) dựng tại Nghi môn Đền. Đền Cây Quế còn có bức đại tự niên đại Khải Định Kỷ Mùi (1919) khắc dòng chữ “Tây Hồ hiển thánh”. Tại hiên tiền đường của Đền Cây Quế còn có câu đối: “Ngọc diệp Kim Chi Trường phồn lý, Vân Hành Vũ Thí tức vi long” Có nghĩa là: Dòng dõi cành vàng lá ngọc, suốt đời phù giúp nhà Lý luôn bền vững Mây bay sấm sét nổi vang mưa gió ầm ầm thần 50 Khám và tượng thờ Đức thánh Linh Lang Đại Vương tại tòa cung cấm hóa hiện mình rồng. Đền Cây Quế suốt trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ cũng là địa điểm che dấu cán bộ Cách mạng, là nơi tập kết tuyển quân và các hoạt động có ích cho nhân dân trong vùng. Đền Cây Quế là công trình tín ngưỡng có tính lịch sử hình thành từ rất sớm, tọa lạc trên vùng đất có bề dày lịch sử của tỉnh Nam Định qua nhiều thế hệ, những hình thức sinh hoạt văn hóa dân tộc, những lễ hội dân gian vẫn được bảo tồn và phát huy.Trong 1 năm Đền Cây Quế có diễn ra hai lễ hội chính: Lễ hội tổ chức vào mùa Xuân (12 tháng giêng) và Lễ hội vào mùa thu (22 tháng tám)… Những năm gần đây, UBND xã Mỹ Tân đã thành lập ban tổ chức Lễ hội để điều hành mọi nghi lễ trong 2 kỳ lễ hội hàng năm và cũng 5 năm một lần nhân dân địa phương còn tổ chức Lễ hội “rước nước” là một nghi thức lớn nhất, được nhiều người tham gia nhất, cầu cho mưa thuận gió hòa, tri âm công đức vị Thần Linh Lang Đại Vương. Từ bao đời nay, hương thiêng Đền Cây Quế đã góp phần chung đúc nên hào khí địa linh nhân kiệt xã Mỹ Tân. Ghi nhận công lao đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Mỹ Tân, Đảng, Nhà Nước đã phong tặng Mỹ Tân nhiều danh hiệu cao quý như: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp (2005), Huân chương Lao động Hạng ba (2012) do Chủ tịch nước trao tặng và Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (năm 2008).n
    • DIEÃN ÑAØN NÂNG CAO TÍNH DÂN TỘC TRONG PHIM TRUYỆN VIỆT NAM HIỆN NAY l PGS.TS NGUYỄN HỒNG VINH LTS: Tính dân tộc trong điện ảnh Việt Nam được đề cập từ lâu, nhưng luôn nảy sinh những vấn đề mới do cách tiếp cận và phân tích khác nhau. Nhằm tăng cường sự thống nhất trong nhận thức về vấn đề này, vừa qua, tại Hà Nội, Hội Điện ảnh Việt Nam phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam và Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức cuộc Hội thảo về “Nâng cao tính dân tộc trong phim truyện Việt Nam hiện nay”. Tham gia Hội thảo có nhiều nhà khoa học; các cán bộ hoạt động thực tiễn trong ngành điện ảnh, sân khấu, mỹ thuật… các cơ quan thông tấn, báo chí ở trung ương và địa phương…Văn hiến Việt Nam xin trích đăng dưới đây kết luận Hội thảo của PGS,TS Nguyễn Hồng Vinh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương. I. Ý nghĩa Hội thảo 1. Tuy là vấn đề không mới, đã được đề cập từ nhiều thập niên trước đây, nhưng như NSND Đặng Nhật Minh nhận xét “cuộc hội thảo này cần được coi như một tiếng chuông cảnh báo mọi người quay lại với những gì mà chúng ta đã có - đó là tính dân tộc, bản sắc dân tộc”. Theo chúng tôi, cần bổ sung một ý rất quan trọng: Hội thảo này không chỉ là một tiếng chuông, mà còn là cơ sở tạo thêm nhận thức mới, từ đó gợi mở cách làm mới nhằm bảo vệ và phát huy lên tầm cao mới về tính dân tộc, bản sắc dân tộc trong Điện ảnh nói chung và phim truyện Việt Nam nói riêng. 2. Thực tiễn điện ảnh Việt Nam, nhất là từ thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế đến nay, cùng với mặt được, mặt tiến bộ đáng ghi nhận, đã và đang xuất hiện những vấn đề rất đáng lo ngại sau đây: - Hiện tượng sao chép, rập khuôn các kịch bản, các thủ pháp… trong các dòng phim của nước ngoài, đã làm lu mờ bản sắc dân tộc, đi ngược lại những mong muốn của công chúng điện ảnh chân chính, trở thành một nguy cơ không thể xem thường. - Xu hướng thương mại hóa ngày càng nghiêm trọng, biểu hiện: + Xa rời hiện thực cuộc sống sinh động, đa dạng, phong phú của một dân tộc đã đánh thắng các thế lực ngoại xâm, đang chung lòng chung sức vượt lên mọi thử thách nghiệt ngã, để trụ vững và phát triển, giành được những thành tựu toàn diện và to lớn trong quá trình hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. + Không ít bộ phim giá trị thấp về tư tưởng và nghệ thuật, thậm chí phản văn hóa, kích thích tình dục trần trụi, cổ súy bạo lực, tuyên truyền lối sống xa lạ, đi ngược thuần phong mỹ tục của dân tộc ta (Ví dụ các phim: Bụi đời chợ lớn, Khi tôi 20, Bẫy cấp ba…) 3. Mặt trái của “toàn cầu hóa” đã và đang tác động tiêu cực vào một số tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn 51
    • DIEÃN ÑAØN viên … Dù vô tình hay hữu ý, thực tiễn tiêu cực nêu trên đang cảnh báo nguy cơ về cuộc “xâm lăng văn hóa” của phương Tây đối với Việt Nam. Đây cũng chính là tiếng chuông cảnh báo cần thiết, nhắc nhở chúng ta sớm có biện pháp ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực, xây dựng đời sống điện ảnh phong phú, lành mạnh, phấn đấu sớm ngang tầm khu vực và thế giới - như Chiến lược phát triển điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030 - đã chỉ ra. Hội thảo này thật sự góp vào quá trình tổng kết 15 những bản sắc riêng biệt, độc đáo của dân tộc đó, làm cho người xem dễ nhận ra nhất”. GS Hồ Sĩ Vịnh: “Tính dân tộc là căn cước tổng hòa các phẩm chất hay giá trị Chân, Thiện, Mỹ, Ích”. TS Lê Bích Hồng: “Tính dân tộc được xem như là một thuộc tính xã hội của văn học, nghệ thuật; là “thuộc tính tất yếu của việc sáng tạo” (Biclinxki). Nhà báo Mai Nam Thắng: “Tính dân tộc là một phạm trù hàm chứa văn hóa dân tộc, là “dấu hiệu” để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác”. Tính dân tộc chứa đựng “cái gốc” để tạo nên Cảnh trong phim “Long Thành Cầm giả ca” năm Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. II. Thế nào là tính dân tộc, bản sắc dân tộc? Nhiều tác giả đã tiếp cận nội hàm này ở những khía cạnh và chiều kích khác nhau: GS Hoàng Chương: “Tính dân tộc là linh hồn, là xương sống của điện ảnh Việt Nam”. Đồng chí Thứ trưởng Lê Khánh Hải: “Là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác, quốc gia này với quốc gia khác… Tính dân tộc, tinh thần dân tộc đã và đang làm nên sức mạnh Việt Nam”. Nhà biên kịch điện ảnh Nguyễn Thị Hồng Ngát: “Tính dân tộc là 52 những nét riêng biệt, bản sắc của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng. Theo chúng tôi, từ những ý kiến nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát. “Tính dân tộc là ý thức về dân tộc gắn liền với tâm thế dân tộc, thân phận dân tộc, tức là lấy hạt nhân giá trị văn hóa dân tộc làm cơ sở”. - Còn bản sắc, theo Đại từ điển là sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng khác của mỗi dân tộc. Bản sắc dân tộc hình thành và phát triển cùng với lịch sử dân tộc, vừa bền vững, vừa có phần biến động. Tuy diễn ra chậm, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng dân tộc, nhưng bản sắc dân tộc không đối lập với
    • DIEÃN ÑAØN tính dân tộc, mà có quan hệ biện chứng với nhau. Về nội hàm cụ thể của bản sắc dân tộc Việt Nam là gì? Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) chỉ rõ: 1. Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc. 2. Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý. 3. Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động. 4. Sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống. 5. Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính độc đáo. III. Một số vấn đề đáng quan tâm về sự thể hiện tính dân tộc trong phim truyện Việt Nam hiện nay. Mặc dù có những dòng phim thị trường đang nở rộ và có phần lấn át, nhưng phim truyện Việt Nam từ bắt đầu thời kỳ đổi mới đến nay đã xuất hiện những tác phẩm đáng trân trọng: Thương nhớ đồng quê, Ai xuôi Vạn Lý, Giải hạn, Hà Nội mùa đông năm 1946, Ngã ba Đồng Lộc, Đời cát, Mùa ổi, Bến không chồng, Vào Nam ra Bắc, Chiếc chìa khóa vàng, Bao giờ cho đến tháng 10, Hẹn gặp lại, Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công, Nhìn ra biển cả, Đêm hội Long Trì, Hoa ban đỏ, Mùi cỏ cháy, Đừng đốt, Long thành cầm giả ca, Cánh đồng bất tận… Thành công của những bộ phim nêu trên trước hết và chủ yếu là các tác giả đã bám sát hiện thực sinh động và đa dạng của dân tộc ta trong các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là cuộc sống hôm nay khi toàn Đảng, toàn dân ta tiếp tục cuộc hành trình đổi mới và hội nhập tuy vô cùng gian nan, nhưng đầy hào hùng. Những đề tài về chiến tranh cách mạng, về lịch sử dân tộc vẫn được khai thác. Những chiều sâu nội tâm, những số phận nghiệt ngã của con người sau chiến tranh đi vào xây dựng và phát triển kinh tế thị trường được miêu tả sinh động, thể hiện rõ nét tính cách dân tộc, tính cộng đồng dân tộc, phẩm chất dân tộc, lẽ sống dân tộc, lý tưởng dân tộc… Đây là thành tựu rất đáng ghi nhận về nội dung và thủ pháp thể hiện. Tuy nhiên, cùng với những thành tựu nêu trên, đã và đang phát triển dòng phim mô phỏng, rập khuôn các kịch bản, cách đạo diễn, cách xây dựng nhân vật, các thủ pháp nghệ thuật của nước ngoài, làm mất đi bản sắc dân tộc, làm cho số đông công chúng điện ảnh phân tâm. Sự đa dạng hóa các chủ đề là đáng cổ vũ, nhưng một số phim tập trung khai thác những câu chuyện tình bi lụy, những cảnh đâm thuê chém mướn, cảnh loạn luân…, là điều không thể chấp nhận đối với dân tộc ta có hàng ngàn năm văn hiến. Về nguyên nhân tính dân tộc đang bị nhạt nhòa trong các phim truyện Việt Nam, theo nhận xét của GS Hồ Sĩ Vịnh: “Tính dân tộc được thể hiện qua các nhân vật còn thiếu tầm cao trí tuệ, chiều sâu nhân văn; tính đa nghĩa thi pháp đạo diễn còn bị bó hẹp; tính hiện đại, yếu tố lạ trong văn hóa dân tộc chưa được ứng dụng tốt vào nghệ thuật điện ảnh”. Đề cập yếu tố chủ quan của người nghệ sĩ trong việc thể hiện tính dân tộc chưa rõ nét, chưa sâu sắc, NSND Đặng Nhật Minh cho rằng: “bản sắc dân tộc chưa được thấm sâu trong tư tưởng, tâm hồn của người nghệ sĩ. Bản sắc dân tộc chỉ có thể có ở những tác phẩm chạm tới thân phận của dân tộc, thông qua những số phận của dân tộc, với những hoàn cảnh đa dạng của con người cụ thể…” Các tham luận của tác giả Hồng Ngát, Lê Bích Hồng, ND Đàm Liên, đạo diễn Vũ Xuân Hưng, TS.NSƯT Đoàn Thị Tình; các nhà báo Mai Nam Thắng, Ngọc Anh, Đoàn Tuấn… trên cơ sở phân tích nhiều chiều cạnh của từng bộ phim cụ thể, đã chỉ ra mặt được và chưa được, kiến nghị các giải pháp căn cốt. Đó là những ý kiến rất đáng ghi nhận tại Hội thảo này. IV. Một số giải pháp chủ yếu 1. Cần làm sâu sắc thêm nhận thức về tầm quan trọng bảo vệ và phát huy tính dân tộc, bản sắc dân tộc - cơ sở tạo ra cách nhìn nhận mới, cách tiếp cận mới nhằm tạo ra bước chuyển về chất trong phim truyện Việt Nam. Về nội dung này cần khẳng định rõ vai trò quan trọng của tính dân tộc trong điện ảnh Việt Nam. Tính dân tộc là hồn cốt, là sức sống, là dấu ấn sâu sắc đọng lại trong công chúng trở thành sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc ta. Nâng cao tính dân tộc là đòi hỏi tất yếu, khách quan của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển; cần gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa tính dân tộc và tính hiện đại để làm nên diện mạo mới của phim truyện Việt Nam nói riêng, của văn học, nghệ thuật nói chung. 2. Đề cao vai trò, trách nhiệm của văn nghệ sĩ, từ cán bộ tham gia chỉ đạo, quản lý đến đội ngũ biên kịch, đạo diễn, diễn viên, người làm phục trang, âm nhạc…. 53
    • DIEÃN ÑAØN - Trước hết, người nghệ sĩ cần thấm đẫm hồn cốt dân tộc, tâm hồn, tình cảm dân tộc, lối sống dân tộc trong sáng tác, biểu diễn, quản lý, quảng bá…Cần khai thác tối đa sự giàu có của tiếng Việt làm nên âm sắc dân tộc của từng tác phẩm - như Lưu Quang Vũ đã viết: “Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người. Như tiếng sáo, như dây đàn máu nhỏ”. Người nghệ sĩ cần không ngừng học tập, nghiên cứu, bền bỉ khám phá cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân ta để “phản ánh chân thật và hùng hồn” công cuộc đổi mới, hội nhập - như Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về văn học, nghệ thuật yêu cầu. Suy cho cùng yếu tố cần và đủ để làm nên tính dân tộc của điện ảnh Việt Nam là tài năng - vốn sống Cảnh trong phim “Bao giờ cho đến Tháng Mười” - tấm lòng người nghệ sĩ dành cho đất nước và dân tộc - như lời dạy của Bác Hồ là tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. 3. Coi trọng công tác lãnh đạo,chỉ đạo, huy động cao nhất nguồn lực cho ngành Điện ảnh. Nguồn lực gồm 2 mảng quan trọng: Kinh phí, cơ sở vật chất kỹ thuật và con người thực thi nhiệm vụ ( cần được đào tạo đồng bộ từ biên kịch, đạo diễn, diễn viên, phục trang…) 4. Mở rộng giao lưu quốc tế với ý thức tiếp Cảnh trong phim “Cánh đồng bất tận” thu có chọn lọc tinh Chúng ta đang trong tình trạng thiếu kinh phí, hoa điện ảnh thế giới để vận dụng sáng tạo vào Việt Nam trên cơ sở hiểu biết sâu sắc các yêu cầu, đòi nhưng đầu tư vẫn phân tán, dàn trải. Cần tổng rà hỏi mới của ngành điện ảnh và công chúng điện ảnh soát và ưu tiên cho một số loại hình nghệ thuật có nước ta; trên cơ sở trí tuệ và bản lĩnh của người nghệ ưu thế đặc biệt, đã và đang tích cực tham gia có hiệu sĩ, để “hòa nhập” nhưng không “hòa tan” trong thế quả quá trình xây dựng các hệ giá trị nhân văn, hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ giới đầy phức tạp, biến động khó lường. 5. Tăng cường phối hợp các ngành liên quan, nhất công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ là với âm nhạc, các cơ quan thông tấn báo chí, đặc thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Làm tốt các giải pháp nêu trên chính là góp sức biệt truyền hình để không chỉ quảng bá, mà còn định tạo ra chất lượng mới trong hoạt động của dòng phim hướng công chúng. 6. Hoàn thiện cơ chế, chính sách cho hoạt động truyện Việt Nam./.n điện ảnh 54
    • DIEÃN ÑAØN Không bao giờ từ bỏ nhạc dân tộc dù có phải trả giá bằng cả cuộc đời nhọc nhằn l Nhạc sư VĨNH BẢO M ở đầu bài phát biểu này tôi xin đọc mấy câu thơ cảm tác: Nhả chút tơ tằm lên phím nhạc Gởi vào cung bậc ít tâm tư Nắn dây, giọng oán từng hơi thở Gởi với đường tơ muôn mảnh lòng Có người hỏi tôi: Nhạc sư có sinh sống được bằng nghề dạy và chơi đàn, nhất là trong thời buổi mà nhạc dân tộc cổ truyền đang “thất thế”? Tôi trả lời: tôi vừa dạy nhạc trên internet, vừa làm nhiều thứ, kể cả dịch văn bản, tài liệu tiếng Pháp cho bạn bè, bà con cô bác cần nhờ… Giờ tôi sống đơn giản, học trò thương gửi tiền nuôi. Học trò của tôi có cả ở nước ngoài và trong nước, đa số là học trên mạng. Chỉ có những người phải là thân lắm hay học trò cũ ngày xưa, tôi mới nhận lời dạy. Vì tôi có những tâm tư riêng, vì người Việt mình bây giờ không phải như ngày xưa. Tôi chơi với ai cũng thiệt tình nên không thích gặp những người gian dối. Vì sao bây giờ tôi không nhận học trò nữa ư? Ai thích học thì tôi dạy, không phân biệt, không giấu nghề… nhưng có một trò giỏi khó lắm. Học nhạc giống như đi tu, không phải đi đúng đường hay trật đường, nhưng khi cô ra trường có thể viết hay hơn cô giáo, đó là do tâm hồn cô đẹp, đi vào lòng người êm ái. Giống như tiếng đờn, gần nhiều người xấu, tâm xấu, tiếng đờn xấu xa… Tất nhiên, tài năng họ có, nhưng còn kinh nghiệm với đời thì có thể không bằng tôi, với gần cả đời trải qua, tuy không thể truyền kinh nghiệm với đời thì chỉ có thể khuyên bảo họ…Chịu khó nghe người đi trước, tiếp thu được là cũng có tiếng đờn đắng ngọt như đời. Tôi không bao giờ từ bỏ nhạc dân tộc dù có phải Chân dung Nhạc sư Vĩnh Bảo trả giá bằng cả cuộc đời nhọc nhằn.Từ lúc xa gia đình, tha hương khắp chốn, lang thang ở Sài Gòn, tôi chưa bao giờ có nhà. Lấy vợ, có nhiều bạn thương tình cho ở đậu vài ba năm…mãi đến năm 2000, hơn 80 tuổi, mới mua được căn nhà hiện nay có giá mấy chục cây vàng đó. Ngày trước, có thời gian tôi dạy trường nhạc, lãnh lương hàng tháng, không phải lo lắng gì, 55
    • DIEÃN ÑAØN Nhạc sư Vĩnh Bảo (đứng) và GS Trần Văn Khê trong chương trình sinh hoạt định kỳ tháng 112009 tại Trung tâm Trần Văn Khê. Ảnh: Q.Trang chỉ chuyên tâm vào âm nhạc. Tôi không muốn lợi dụng ai, nên sống nghèo. Rồi tôi bỏ trường nhạc ra lái taxi, mục đích là được gia nhập thế giới của những số phận bạc phước, hẩm hiu. Trên những chuyến xe đó, tôi gặp được ngàn ngàn mảnh đời, không giống ai, nhưng ai cũng ước mơ được sống yên ổn, không chiến tranh. Đó cũng là một trong những thứ người nhất, nhân văn nhất của dân tộc mình. Những mảnh đời đó đi vào âm nhạc của tôi, như những lời tự tình. Vì thế, dù cơ khổ, tôi cũng vẫn chỉ thấy mình thật sự sống với tiếng đờn, mỗi ngày. Tôi là nhạc sĩ, sống với nội tâm nhiều hơn ngoại cảnh. Đối với tôi không có chuyện lớn, chuyện nhỏ, không có kỳ quan, chỉ có tình thương. Những huân chương với tôi chỉ là hão huyền, mộng, giả…nhưng trong đời không có khen chê, thưởng phạt thì không tiến bộ. Và chỉ có âm nhạc mới làm dịu lòng người. Những nhạc sĩ được gọi đúng với tên gọi có nhiệm vụ hâm nóng lại, làm thăng hoa cho cuộc sống của chính mình và người chung quanh. Tôi có khả năng nghe tiếng đờn biết tính tình người, biết cả họ sẽ có cuộc đời thế nào. Nhạc ảnh hưởng đến cuộc sống rất mạnh, nhất là sức khỏe. Bản nhạc nghe êm dịu, trái tim ta đập đều, nhưng nếu nhịp điệu mạnh thì chân tay muốn giựt rồi. Nhạc dân tộc đưa tôi gần với thiền. Được ở trong trạng thái thiền nghĩa là thắng được chính mình, bằng lòng với cái tối thiểu mình đang có, không đòi hỏi. Vì tôi hiểu, cuộc sống chỉ đãi ngộ 56 những người ít đòi hỏi, biết phục tùng, ngoan ngoãn, còn hồi trẻ tôi toàn làm ngược lại, nên khổ. Ngày nay có phải do chúng ta đã bớt đau khổ vì thảm họa chiến tranh, nên những Tứ đại oán, Nam ai…không còn làm nhức nhối tâm thức người Việt? Đừng đổ thừa chiến tranh mà nhạc dân tộc bị mai một. Đâu riêng gì mình, Nhật Bản bị chiến tranh, nhưng sau chiến tranh họ vẫn phục hồi được. Tôi nhìn thời thế bây giờ, nghĩ quẩn: một dân tộc vọng ngoại, thích nhạc Mỹ, nhạc Âu… rồi bỏ nhạc mình là tự giết chết cội rễ. Nước họ nuôi dưỡng nhân tài, tìm nhân tài, còn mình thì sợ nhân tài… Mất lần hồi là tại mình, mình chê mình, mình cho là mình dở rồi lấy của người ta đem về cho là hay. Nhạc dân tộc ngày xưa gần như là độc tôn. Hồi đó nghe nhạc Tây như vịt nghe sấm, bà con mê nhạc dân tộc, nghe thấm thía lắm. Lần lần, tụi trẻ lớn lên rồi chê, thích nhạc Tây vì nghĩ nếu biết nó thì thấy mình sang trọng, có oai… Nhỏ đã cho ăn cơm Tây, lớn biểu nó ăn cơm mắm kho, ăn sao được… Tinh thần vọng ngoại lớn quá mà. Nhạc dân tộc bị lai căng, mất gốc. Những người biết chuyện muốn nói thì không ai mời họ nói, còn những người nói tầm bậy, tầm bạ thì được mời lung tung, thành ra cái giả lộng hành. Thời điểm huy hoàng của nhạc dân tộc là từ năm 1930 đến 1970. Tất cả đều là tự phát, người này dạy người kia, học lẫn nhau. Năm 1956, tôi đi dạy, cũng chỉ một nhóm người, cho nên vấn đề giáo dục âm nhạc
    • DIEÃN ÑAØN Nhạc sư Vĩnh Bảo đang hướng dẫn bản Tứ đại oán cho Alexander M.Cannon, nhạc sĩ - nghiên cứu sinh Mỹ (Đại học Michigan). Ảnh: Yên Ngọc khác nhau. Nhưng việc học nhạc dân tộc ngày xưa là truyền khẩu, truyền nối, không thành văn. Ông thầy nói, người học ghi nhớ trong đầu, rồi nhiều người nói với nhiều ngả khác nhau. Thậm chí nhiều bản nhạc cũng không nhớ do ai sáng tác. Vậy tìm hệ thống thế nào được. Có người học sao đờn vậy, có người cũng sáng tạo… không ai phục ai, ai cũng chơi theo cách của mình, không bằng cấp… Giờ dạy kiểu đó đâu có được, phải có giáo trình, muốn vậy phải có trình độ mới soạn được. Do vậy, khi tôi dạy, tôi mới sáng chế ra ký âm, nhưng một con én không thể làm nên mùa xuân, cũng vì vậy mình không có trường chính quy… Lần hồi, mai một đi thôi. Tiếng nhạc là sản phẩm của xã hội, là tiếng nói của xã hội đó, có ở trong cộng đồng đó, nghe mới thấy thấm thía. Nhạc dân tộc hồi đó thuần khiết. Đến khi tiếp xúc với các loại nhạc khác của thế giới, tôi biết vẫn có thể giữ nó thuần khiết, nhưng vì xu hướng thời thượng, muốn nhạc dân tộc vẫn từ từ lậm vào người nghe qua những giai điệu mới theo sự phát triển của xã hội đang ào ạt, tôi muốn làm cái gì mới hơn một chút, nhưng nghe qua, vẫn biết đó là nhạc dân tộc vì nó thực sự được viết trên nền nhạc dân tộc. Có cách giữ không ư? Không ít người giữ đã chết hoặc sắp chết. Mấy năm gần đây được bầu bạn cùng ông Trần Văn Khê hòa nhịp đờn cũng thú. Hay ngồi nhìn mấy cháu Hải, Phượng… tay nhịp nhàng, lòng êm ái, thấy cũng có tương lai. Chỉ mong các cháu ấy tiếp tục đào tạo thêm học trò, và mong bà con thuyết phục con cháu mình chịu nghe đờn tranh, tiếng sáo, các bà các cô chịu ru con bằng điệu hò, rủ nhau đi coi vọng cổ. Cứ từ từ vậy, mưa dầm thấm kỹ mà. Gia đình tôi có bốn anh em trai, ba gái. Ông cụ nhà tôi là địa chủ, có đất, học chữ nho, làm thơ, thuốc đông y, học võ, nuôi gà, cây kiểng và đờn rất hay: kìm, tranh, cò và hát bội mà kép hát cũng phục. Ảnh hưởng của cha tôi nên tôi cũng mê, và mò mẫm học. Có thầy đến dạy, ông già không bằng lòng vì sợ con cái bỏ học mê đờn. Mẹ tôi thì khuyến khích. Mẹ tôi là một người đàn bà tuyệt diệu, tôi chưa thấy người mẹ nào thương con, hiền đức, ăn ở nhân hậu, rộng rãi đến vậy. Mẹ tôi còn khuyến khích, phê bình tiếng đờn của tôi. Lúc tôi lên sáu, thấy tôi ôm cây đờn dài quá với không tới, bà lẳng lặng đi tìm mua cho tôi cây đờn nhỏ, tôi mê lắm. Cuối cùng anh em tôi cũng bỏ, không ai làm nghề này vì không sống nổi, chỉ nghĩ đó là thú chơi. Chỉ riêng mình tôi sống vì nghề này. Trong khi tôi đờn, tôi nghĩ nhiều chuyện lắm. Nào là chiến tranh, nhân tình thế thái, người thương, người ghét, những buồn vui đi ngang qua tiếng đờn… nhưng đờn mà cái tâm không yên thì đờn không hay được… phải như người đứng bên dòng sông, thấy đòng đời trôi mà nhận ra phận người. Người đờn giỏi, nghĩ sao đờn vậy, càng đờn càng hưng phấn, não hoạt, tim đập, máu chảy lưu loát như tiếng đàn… Cái gì mình biết thật sâu thì mình nói như không. Tôi không bao giờ từ bỏ nhạc dân tộc dù có phải trả giá bằng cả cuộc đời nhọc nhằn./. n 57
    • MẤY Ý KIẾN VỀ Âm nhạc dân tộc với cuộc sống hôm nay (Tham luận của NS Mai Tuyết Hoa - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Âm nhạc dân tộc VN tại “Hội thảo Âm nhạc dân tộc với cuộc sống hôm nay” - TP Hồ Chí Minh, ngày 9/8/2013) T rong xu thế toàn cầu hóa của thế giới và công cuộc hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta, “Âm nhạc dân tộc với cuộc sống con người hôm nay” là vấn đề mà những người làm âm nhạc dân tộc đang băn khoăn, trăn trở kéo dài nhưng chưa tìm được lối ra. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, trong xu hướng hội nhập hiện nay, nghệ thuật dân tộc nói chung, âm nhạc dân tộc nói riêng bị tác động rất lớn bởi cơ chế thị trường, bởi nghệ thuật thương mại. Âm nhạc dân tộc bị mờ dần bản sắc và thưa vắng người nghe, người xem, một bộ phận lớn lớp trẻ không hiểu hết giá trị của âm nhạc truyền thống, hướng vào âm nhạc thương mại, âm nhạc nước ngoài, quay lưng với nghệ thuật dân tộc, khiến cho những người hoạt động âm nhạc dân tộc hết sức khó khăn. Để nhận diện rõ nét thực trạng của âm nhạc dân tộc và tìm ra giải pháp bảo tồn, phát huy âm nhạc dân tộc nước nhà, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Âm nhạc Dân tộc thuộc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn & Phát huy Văn 58 hoá Dân tộc VN phối hợp với Nhạc viện TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: Âm nhạc dân tộc với cuộc sống hôm nay” với mong muốn góp phần khẳng định, tôn vinh nền âm nhạc dân tộc trong bối cảnh hội nhập văn hoá hiện nay. Nước ta có một nền văn hoá lâu đời, trong đó âm nhạc dân tộc rất phong phú và có nhiều giá trị nghệ thuật đặc sắc. Nền văn hóa âm nhạc ấy phát triển liên tục trong suốt chiều dài lịch sử có lúc thăng, có lúc trầm, có lúc thịnh, có lúc suy. Song từ chính cái thăng - trầm, thịnh - suy ấy, cha ông chúng ta đã tạo dựng được một nền âm nhạc truyền thống có nhạc ngữ riêng, có bản sắc riêng, phong phú về hình thức, đa dạng về thể loại. Có thể nói, âm nhạc truyền thống Việt Nam là một phần không thể thiếu trong đời sống của mỗi người dân đất Việt, góp phần làm lên con người với đặc tính và đặc trưng riêng của văn hóa Việt Nam. Các loại hình âm nhạc nghệ thuật dân tộc của chúng ta như Tuồng, Chèo, Cải lương và các loại hình dân ca là sản phẩm văn hóa của nhân dân ta sáng tạo ra và đã trở thành món ăn tinh thần, có vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống của người dân các dân tộc Việt Nam. Đáng tự hào biết bao khi đất nước ta đã có những loại hình âm nhạc trở thành di sản văn hóa phi vật thể thế giới như: Nhã nhạc Cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên, hát Ca trù, Quan họ Bắc Ninh, hát Xoan Phú Thọ và sắp tới có thể là hát Ví dặm xứ Nghệ, Đàn ca tài tử Nam Bộ, Bài chòi miền Trung. Ngoài ra còn hát Xẩm, hát Chầu văn, ca Huế, Dù kê Nam Bộ vô cùng đặc sắc. Đó là một nỗ lực vô cùng lớn lao của toàn dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đã có lúc một số loại hình trong số đó tưởng chừng bị thất truyền, song với những giá trị và vai trò đích thực của âm nhạc dân tộc trong đời sống xã hội của người Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã và đang dành nhiều quan tâm nhằm phục hồi, bảo tồn và tôn vinh nền âm nhạc truyền thống nước nhà, trong đó đáng chú ý là tôn vinh và quan tâm cụ thể tới đội ngũ nghệ nhân và nghệ sĩ - “di
    • Trung tướng - AHLĐ - Nhà Văn Hữu Ước giao lưu hát Xẩm với các cán bộ Trung tâm NCBT&PH Âm nhạc Dân tộc. Ảnh Nguyễn Minh San sản nhân văn sống” đang tồn tại trong đời sống chúng ta, mà Chính phủ sẽ có quyết định tôn vinh nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú. Đó là những tín hiệu vui, nhưng nhìn chung thực trạng của nền âm nhạc dân tộc đang bị mai một về bản sắc và đang khó khăn về khán giả. Hiện nay, đất nước đang mở cửa, nền văn nghệ dân tộc ngày càng bị các luồng văn hoá khác lạ, kể cả độc hại từ phương Đông, phương Tây… xâm nhập vào như những dòng nước đục pha vào dòng nước trong xanh để dần dần chuyển hoá sang những sắc màu khác lạ… cụ thể là văn hoá dân tộc nói chung, trong đó có âm nhạc dân gian, dân tộc cái hồn cốt của văn hoá Việt Nam cứ mờ dần bản sắc. Sự xâm nhập của văn nghệ nước ngoài ngày càng mạnh, càng sâu hơn trên toàn lãnh thổ nước ta, tạo thành sự tranh chấp gay gắt trong đời sống tinh thần của cộng đồng Việt Nam. Do đó, để tiếp tục đưa âm nhạc truyền thống đi sâu vào đời sống xã hội, chúng ta cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá và tôn vinh các thể loại âm nhạc truyền thống, các nghệ nhân, nghệ sĩ đã và đang nắm giữ kho di sản quý báu của dân tộc, điển hình như nghệ nhân hát Xẩm Hà Thị Cầu, báu vật sống vừa qua đời cách đây mấy tháng. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. Muốn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, trước hết phải giữ gìn những tinh hoa truyền thống, trong đó có âm nhạc dân tộc. Với tâm huyết đó, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Âm nhạc Dân tộc thuộc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn & Phát huy Văn hoá Dân tộc VN đã tập hợp lực lượng nghệ nhân, nghệ sĩ âm nhạc dân tộc cùng bảo tồn và phát huy, quảng bá vốn âm nhạc quý báu của cha ông, góp phần tôn vinh văn hoá dân tộc trong bối cảnh mở cửa, hội nhập là vô cùng cần thiết. Vì vậy mà Hội thảo khoa học “Âm nhạc dân tộc với cuộc sống con người hôm nay” lần đầu tiên tổ chức tại Văn phòng Quốc hội vào cuối tháng 10 năm 2012 đã có sự hiện diện và tham luận của những nhà lãnh đạo, những nhà văn hoá lớn: nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên, GS.AHLĐ Vũ Khiêu, nguyên UVTƯ Đảng Chủ nhiệm UB Đối ngoại Quốc hội Vũ Mão, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, Trưởng ban Bảo vệ Sức khỏe Trung ương Nguyễn Quốc Triệu, Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Vương Duy Biên và nhiều nhạc sĩ, nhà nghiên cứu tên tuổi cả nước. Và tiếp theo hôm nay, lần thứ hai được tổ chức tại khách sạn Rex nổi tiếng ở giữa TP Hồ Chí Minh với sự có mặt của nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, nguyên Trưởng ban Văn hoá tư tưởng TƯ Trần Trọng Tân, Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Vương Duy Biên và đông đảo các nhà nghiên cứu, nhạc sĩ và nhà báo. Tôi thật sự xúc động và xin chân thành cảm ơn quý vị. Cảm ơn các nhà tài trợ Võ Thành Tân, Tào Văn Nghệ. Cảm ơn các nhà báo đã đến dự để cuộc hội thảo được thành công.n 59
    • VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN COÄNG ÑOÀNG CÔNG TY TNHH MTV VẬT LIỆU XÂY DỰNG, XÂY LẮP VÀ KINH DOANH NHÀ ĐÀ NẴNG Kinh doanh tốt NHỜ HIỂU DÂN l MỘNG HUỆ Kinh doanh phát triển ổn định, doanh thu năm sau luôn cao hơn năm trước, thu nhập của người lao động được cải thiện là những nét phác thảo cơ bản về Công ty TNHH MTV vật liệu xây dựng, xây lắp và kinh doanh nhà Đà Nẵng. Có thể nói, kết quả này là sự nỗ lực không ngừng nghỉ của tập thể cán bộ công nhân viên đang làm việc tại doanh nghiệp, trong đó có phần đóng góp không nhỏ của doanh nhân Nguyễn Tuấn Anh - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc Công ty. T rưởng thành từ một nhân viên thu mua gạch ngói của Công ty vật liệu xây dựng Quảng Nam - Đà Nẵng, với hơn 30 năm hoạt động, gắn bó trong ngành, ông Nguyễn Tuấn Anh là người hiểu rõ thế mạnh, yếu của lĩnh vực mình đang công tác nói chung và thị trường Đà Nẵng nói riêng. Chính vì vậy, dưới sự quản lý điều hành của ông, doanh nghiệp không chỉ tạo dựng được uy tín, thương hiệu ở thị trường Đà Nẵng, mà còn mở rộng tới miền Trung- Tây Nguyên và các vùng lân cận. Là Công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn, ngoài nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, xây dựng công trình, kinh doanh nhà, khai thác quỹ đất, doanh nghiệp còn có nhiệm vụ điều hành dự án, thực hiện công tác đền bù giải tỏa, quản lý thi công hạ tầng kỹ 60 thuật và bố trí tái định cư theo chỉ đạo của UBND Thành phố. Hiện tại, đơn vị đang sản xuất các loại sản phẩm: gạch tuy-nen, gạch chống nóng các loại, bê tông tươi, bê tông ly tâm, cấu kiện bê tông đúc sẵn và đảm nhiệm công việc: tư vấn lập dự án, thiết kế công trình, giám sát thi công, quản lý dự án,… Để duy trì thương hiệu đã được khẳng định trong suốt nhiều năm qua, ông Nguyễn Tuấn Anh và Ban lãnh đạo luôn xác định con người là nhân tố giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Do đó, Công ty đã đặt ra mục tiêu: đội ngũ nhân lực có trình độ kỹ thuật cao, phẩm chất đạo đức tốt, có kỹ năng quản lý kỹ thuật và chất lượng. Đương nhiên, muốn mục tiêu trở thành hiện thực, doanh nghiệp đã không tiếc công sức, tiền của chăm lo cho việc đào tạo và đào tạo lại, nâng cao năng lực chuyên môn cho các cán bộ công nhân viên. Mặt khác, với sản phẩm, đơn vị luôn coi việc thực hiện đầy đủ chính sách chất lượng như là chiến lược cạnh tranh hiệu quả và quan trọng nhất thông qua việc đảm bảo cung cấp đầy đủ các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Ông Nguyễn Tuấn Anh cho biết: Là một thương hiệu lâu năm, đã nhận được sự tín nhiệm ủng hộ của khách hàng nhưng không vì thế mà Công ty chủ quan trong việc hoạt động sản xuất kinh doanh và phục vụ khách hàng. Trước sự canh tranh ngày một khốc liệt của thị trường xây dựng, trong những năm qua, đơn vị đã tiến hành cộng tác với nhiều đối tác để có được những sản phẩm tốt nhất, đáp ứng yêu cầu thị trường. Bên cạnh đó, liên tục tiến hành đổi mới toàn diện, từ cung
    • VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN COÄNG ÑOÀNG Bà Nhótkéomani Xuphanuvông - Phó Chánh văn phòng Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (Trái) và Ông Nguyễn Đức Kiên - Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam (Phải) trao Giải thưởng “Nhà quản lý xuất sắc thời kỳ đổi mới” cho Ông Nguyễn Tuấn Anh - CTHĐTV, TGĐ Công ty tại Thủ đô Viêng Chăn, Lào cách làm việc, cải tiến quy trình sản xuất, đầu tư trang thiết bị công nghệ hiện đại đến tinh thần phục vụ khách hàng,… nhằm làm hài lòng khách hàng. Tại Công ty, tất cả các lô sản phẩm của doanh nghiệp đều được lấy mẫu thí nghiệm theo tiêu chuẩn chất lượng Nhà nước quy định trước khi được đưa ra lưu hành tại thị trường. Được biết, mọi giải pháp Công ty thực hiện đều hướng tới một mục tiêu: tiếp tục giữ vững uy tín, thương hiệu đối với người tiêu dùng, với thị trường cũng như vị thế đã được khẳng định trong ngành. Song, sẽ là chưa đủ khi không đề cập đến một bí quyết đặc biệt quan trọng, giúp Công ty phát triển bền vững trong thời gian vừa qua. Đó là tinh thần cầu thị, sát dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có được thông tin chính xác, xử lý kịp thời hợp tình hợp lý. Như đã nêu ở trên, với nhiệm vụ điều hành dự án, thực hiện công tác đền bù, giải tỏa, quản lý thi công hạ tầng kỹ thuật và bố trí tái định cư, dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn Tuấn Anh, doanh nghiệp đã giải quyết hoặc đề nghị lãnh đạo cấp trên giải quyết các chế độ chính sách đền bù, giải tỏa, tái định cư của nhân dân các vùng bị giải tỏa thấu tình đạt lý. Nhờ đó, Công ty luôn nhận được sự đồng thuận của nhân dân trong việc thực hiện chủ trương của Thành phố và các dự án khu dân cư. Đồng thời với việc thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn Tuấn Anh và Ban Giám đốc, Công ty còn thường xuyên tham gia các hoạt động từ thiện xã hội. bằng cách trích quỹ phúc lợi, động viên, khuyến khích người lao động nhiệt tình tham gia các phong trào ủng hộ, doanh nghiệp không chỉ hình thành được nét đẹp văn hóa doanh nghiệp, mà còn đóng góp cho các quỹ từ thiện mỗi năm nhiều triệu đồng. Các hoạt động từ thiện đơn vị đã tham gia ủng hộ bao gồm: phụng dưỡng suốt đời 02 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, tặng quà gia đình thương binh liệt sỹ; tặng quà các bệnh nhân tâm thần, chất độc da cam; đóng góp xây dựng bệnh viện, trường mẫu giáo;… Thiết thực chăm lo xây dựng uy tín, thương hiệu để đảm bảo việc làm thường xuyên, thu nhập hàng ngày cho người lao động, hình thành văn hóa doanh nghiệp là những việc làm cụ thể mà doanh nhân Nguyễn Anh Tuấn đã và đang làm được cho Công ty TNHHMTV Vật liệu xây dựng, xây lắp và kinh doanh nhà Đà Nẵng. Nỗ lực của ông cho Công ty đã được ghi nhận qua rất nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Lao động hạng Nhì - Ba; nhiều Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng, UBND thành phố Đà Nẵng; Huy chương Vì sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì sự nghiệp xây dựng Công đoàn và Đoàn Thanh niên; Chiến sỹ thi đua toàn quốc 2005; Bằng lao động sáng tạo 2004; Giải thưởng: Quả cầu Vàng 2006 - 2007, Giám đốc Tài năng 2010, Nhà quản lý xuất sắc thời kỳ đổi mới 2013,… n 61
    • VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN COÄNG ÑOÀNG CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN ĐIỆN BÀN Tập trung PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM TRÍ TUỆ Chuyên kinh doanh giống cây trồng, phân bón hữu cơ sinh học và thuốc bảo vệ thực vật, Công ty cổ phần Tập đoàn Điện Bàn (viết tắt là Dibanco) đang trong quá trình khẳng định thương hiệu với quyết tâm và nỗ lực hết sức mình. Để phát triển, mỗi doanh nghiệp có một giải pháp riêng. Đối với Công ty, giải pháp liên tục cho ra đời những sản phẩm mới, chất lượng cao, thể hiện trí tuệ của đội ngũ nhân lực năng động, sáng tạo sẽ nắm giữ vai trò chủ đạo. H oạt động trên thị trường đã nhiều năm nhưng đến năm 2008, Công ty được tái cấu trúc theo mô hình Tập đoàn đa ngành, đa lĩnh vực với nhiều thành viên tham gia sản xuất ở các lĩnh vực khác nhau trong ngành nông nghiệp, hóa chất, dịch vụ du lịch và xây dựng. Trên diện tích 40.000 m2 của trụ sở chính được đặt tại Cụm công nghiệp Thương Tín - Điện Nam Đông, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, Tập đoàn Điện Bàn tiến hành đầu tư xây dựng các cụm sản xuất và nhà máy chế biến thức ăn gia súc, sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, sản xuất chọn lọc giống, phòng thí nghiệm và hóa nhựa. Bên cạnh trang thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại doanh nghiệp đã và đang tiến hành liên kết với các cơ sở đào tạo uy tín trong khu vực như Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, Đại học Đà Nẵng, Đại học Nông Lâm Huế,… để trao học bổng hàng năm nhằm thông qua đó, tìm kiếm nhân lực phục vụ cho mục đích lâu dài của Công ty. Tuy nhiên, với tinh thần cầu thị, sau khi được tuyển dụng, các kỹ sư dù tốt nghiệp loại khá giỏi ngành 62 l TRÚC LAM chuyên nghiệp ở các trường đào tạo có uy tín vẫn được doanh nghiệp tổ chức đào tạo và đào tạo lại để đạt với yêu cầu thực tế. Bằng cách thức này, đơn vị đã từng bước thực hiện giải pháp phát triển sản phẩm trí tuệ với đội ngũ cán bộ kỹ thuật trẻ, năng động, sáng tạo, nhiệt huyết với công việc. Và Tập đoàn làm tất cả chỉ để có được những sản phẩm chất lượng cao, phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp. Trên thực tế, Công ty đã có 20 năm kinh nghiệm kinh doanh phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của nông dân các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Các sản phẩm của doanh nghiệp cũng không xa lạ với bà con vùng Đồng bằng Sông Hồng, Sông Cửu Long, Tonlesap (Campuchia). Trong quá khứ, Đơn vị đã trải qua nhiều thử thách khi chinh phục các thị trường nói trên. Dần dần, chất lượng sản phẩm cao, dịch vụ hoàn hảo, bảo hành tận đồng ruộng, đem lại những mùa màng bội thu đã trở thành cầu nối giữa bà con nông dân với thương hiệu. Đến nay, sản phẩm mang thương hiệu Dibanco đã được khách hàng xem như nhãn hiệu của uy tín và chất lượng
    • VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN COÄNG ÑOÀNG Bà Nhótkéomani Xuphanuvông Phó Chánh văn phòng Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (Phải) và Ông Nguyễn Viết Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế (Trái) trao Cúp vàng “Thương hiệu nổi tiếng Asean” cho Đại diện Công ty tại Thủ đô Viêng Chăn, Lào đảm bảo. Để tri ân sự tin cậy của bà con nông dân đối với sản phẩm, trong quá trình phát triển của mình, Công ty đã không chỉ mang đến lợi nhuận cao trong sản xuất kinh doanh cho người tiêu dùng; mà còn giúp họ được tiếp cận với những công nghệ mới, sản phẩm mới. Đúng như cam kết của doanh nghiệp, đây là những sản phẩm của trí tuệ, là thành quả của những đam mê nghiên cứu khoa học và học hỏi của Dibanco. Hơn nữa, trong quá trình đồng hành với nền nông nghiệp nước nhà, Công ty đã, đang và sẽ tiếp tục chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất của thế giới đến với bà con nông dân, giúp họ ứng dụng khoa học vào cuộc sống, nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện thu nhập, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, tích cực góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam. Đáp lại nỗ lực sản xuất kinh doanh của tập thể cán bộ công nhân viên Công ty, doanh thu của Dibanco mỗi năm một cao, năm 2011 đạt 85 tỷ đồng, năm 2012 là 108 tỷ đồng. Đối với 200 cán bộ công nhân viên, doanh nghiệp đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ; thu nhập bình quân ở mức 4 triệu đồng/người/ tháng; phúc lợi thực hiện đầy đủ theo quy định của Nhà nước. Và như mọi doanh nghiệp khác trong thời kỳ hội nhập, Công ty đã thực hiện trách nhiệm với xã hội qua hoạt động tham gia công tác từ thiện. Hoạt động được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm và chú trọng nhất là trao học bổng ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên ngành hoặc cấp phổ thông trung học,… với chi phí nhiều triệu đồng mỗi năm. Nói về tham vọng của Dibanco với thị trường, ông Nguyễn Hữu Trại - Tổng Giám đốc Công ty cho biết: Dibanco đã lập văn phòng đại diện tại Đà Nẵng - một trong những trung tâm kinh tế lớn của đất nước nhằm tạo sự thuận tiện trong việc giao lưu thương mại trong và ngoài nước. Về công nghệ, chúng tôi luôn chú trọng cải tiến, đổi mới công nghệ thông qua việc nhập khẩu các loại máy móc phục vụ cho việc tuyển lựa hạt giống,… Tại Công ty, hệ thống quản lý chất lượng ISO 14001:2004 cũng đã được xây dựng và ứng dụng thành công… Nói nhiều như vậy để biết rằng Dibanco coi trọng việc nâng cao chất lượng, củng cố niềm tin của bà con nông dân đến mức nào. Hy vọng trong thời gian tới, cùng với sự ưu ái của khách hàng, Công ty sẽ trở thành một trong những thương hiệu lớn trong lĩnh vực cung ứng hạt giống, thuốc bảo vệ thực vật. Hiện tại, sản phẩm chủ lực đang được chúng tôi tung ra thị trường là thuốc trừ cỏ Gennsate 480SL (có tính năng trừ cỏ lưu dẫn tất cả các loại và bổ sung kali cho đất) và Lúa thuần ĐT34 (hạt giống năng suất cao, gạo ngon). Không chỉ là thương hiệu được bà con nông dân ưa chuộng, Dibanco còn ghi đậm dấu ấn bởi là thương hiệu của những thành tích: Bằng khen của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao (2009, 2010, 2011,2012), Top 10 doanh nghiệp tiêu biểu Việt Nam - Lào - Campuchia, Siêu cúp thương hiệu mạnh và phát triển bền vững, Top 100 nhà cung cấp đáng tin cậy năm 2011, giải thưởng Thương hiệu nổi tiếng quốc gia 2010, Thương hiệu vàng Top 50 cho các sản phẩm: Lúa thuần ĐT34, Tomahawk 4G, Genotox 55.5EC,… Trong đó, Giải thưởng Thương hiệu nổi tiếng Asean 2013 là giải thưởng mới nhất mà Dibanco được trao trên đất nước Lào anh em vào tháng 8 vừa qua. n 63
    • VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN COÄNG ÑOÀNG CÔNG TY CỔ PHẦN TỔNG CÔNG TY GIỐNG CÂY TRỒNG THÁI BÌNH THÀNH CÔNG TỪ SỰ KHÁC BIỆT H Thành lập năm 1972, với Công ty cổ phần Tổng Công ty giống cây trồng Thái Bình (viết tắt là TSC) bao nhiêu năm hoạt động là bấy nhiêu năm hết mình phục vụ sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Nhờ đó, sau hơn 40 năm xây dựng, doanh nghiệp đã có một nền tảng vững chắc với vốn điều lệ gần 10 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu trên 74 tỷ đồng, tổng nguồn vốn 210 tỷ đồng. l QUANG HÒA oạt động đa ngành, đa nghề với lĩnh vực chính là sản xuất, kinh doanh giống cây trồng, gạo các loại, máy cơ khí nông nghiệp và xây dựng dân dụng, Công ty luôn đề cao yếu tố chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ nhằm thỏa mãn khách hàng, kể cả những khách hàng khó tính. Chính vì vậy, TSC rất coi trọng các giải pháp liên quan tới vấn đề chất lượng. Tại doanh nghiệp, đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008, ISO/IEC 170252008 và TMQ là hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Nhật Bản. Ngoài ra, quản lý qui trình sản xuất là việc làm không thể thiếu của Công ty. Bởi theo ông Trần Mạnh Báo - Tổng Giám đốc TSC: chỉ cần một sơ suất nhỏ trong qui trình sản xuất có thể dẫn đến hậu quả là phải hủy bỏ cả lô sản phẩm. Kết quả là không những doanh nghiệp phải chịu tổn thất về kinh tế mà còn có khả năng làm mất thị trường, giống gốc bị hỏng, ảnh hưởng đến cơ cấu sản xuất không chỉ của một năm mà 64 cả đến hai, ba năm sau, khiến đơn vị mất thời cơ kinh doanh. Rõ ràng, giá trị của sản phẩm bị hỏng có thể không lớn nhưng ảnh hưởng đến rất nhiều thứ, từ vấn đề tài chính cho đến uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp. Do đó, để phòng tránh, Công ty đã xây dựng một qui trình kiểm soát nghiêm ngặt ở tất cả các khâu, từ giống đưa vào khảo nghiệm, phương pháp chọn lọc qua các năm, các chỉ tiêu đánh giá, các trang thiết bị cho sản xuất, sổ sách ghi chép, trang vật dụng và môi trường có liên quan. Các điều kiện và các hoạt động của quá trình sản xuất đều được quy định ở mức độ cần thiết bằng văn bản trong qui trình công nghệ. Việc kiểm tra tình trạng chất lượng sản phẩm được tiến hành ở các khâu quan trọng do phòng kỹ thuật, phòng quản lý chất lượng thực hiện nhằm hạn chế các khuyết tật của sản phẩm. Đương nhiên, các thiết bị chuyên dụng dùng để thực hiện kiểm tra cũng như tay nghề của cán bộ kiểm tra được xác nhận và chuyên môn hóa. Các kết quả kiểm tra đều được thông báo kịp thời và có chữ ký của Tổng Giám đốc. Và đây chính là bí quyết quan trọng giúp Công ty vượt qua nhiều khó khăn, thách thức để trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành giống cây trồng Việt Nam. Hơn nữa, TSC còn thể hiện tính năng động, nhạy bén của một doanh nghiệp dám nghĩ dám làm khi luôn giữ vị thế tiên phong trong quá trình đổi mới. Năm 1988, Công ty khởi xướng thực hiện đổi mới trong doanh nghiệp quốc doanh bằng đề án “Khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động”. Năm 1989, là doanh nghiệp đi đầu xóa bỏ chế độ bán hàng theo kế hoạch, tổ chức hệ thống bán lẻ giống cây trồng đến tận tay nông dân. Cùng trong năm này, TSC tiến hành đăng ký thương hiệu tại Cục Sở hữu công nghiệp, trở thành đơn vị đầu tiên của ngành giống cây trồng Việt Nam xây dựng thương hiệu doanh nghiệp. Tiếp theo, Dưu 527 là giống lúa lai đầu tiên được công nhận tại Việt Nam và là sản phẩm hợp tác đầu tiên
    • VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN COÄNG ÑOÀNG Bà Nhótkéomani Xuphanuvông - Phó Chánh văn phòng Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (Phải) và Ông Nguyễn Viết Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế (Trái) trao Cúp vàng “Thương hiệu nổi tiếng Asean” cho Đại diện Công ty tại Thủ đô Viêng Chăn, Lào giữa Công ty với trường Đại học Tứ Xuyên (Trung Quốc). Sau đó, TSC đã tiến hành xây dựng và bảo vệ thành công thương hiệu giống thuần (giống lúa TBR-1) và cũng là đơn vị đầu tiên thực hiện mua bản quyền giống lúa thuần ở Việt Nam (BC15) sau khi nước ta gia nhập WTO, làm tiền đề hình thành thị trường bản quyền giống cây trồng hiện nay. Với chương trình liên kết 4 nhà và tiêu thụ nông sản cho nông dân tại Thái Bình, doanh nghiệp đã đi đầu thực hiện thành công. Công ty cũng là đơn vị đầu tiên thành lập Trung tâm nghiên cứu sản phẩm mới trực thuộc doanh nghiệp trong ngành giống cây trồng Việt Nam. Đồng thời, là đơn vị đầu tiên trong ngành và tại Thái Bình xây dựng Phòng Thử nghiệp quốc gia (mã số Vilas 110) cũng như thực hiện cùng lúc ba hệ thống quản lý chất lượng quốc tế như đã nêu ở trên. Trong phong trào thực hiện công nghiệp hóa ngành giống cây trồng ở Việt Nam, vẫn là TSC giữ vị trí tiên phong. Và, chính lãnh đạo Công ty đã đưa ra ý tưởng và trở thành một trong những người sáng lập Hiệp hội thương mại giống cây trồng Việt Nam. Hiện tại, với vị trí là một trong số các doanh nghiệp giống cây trồng hàng đầu Việt Nam, TSC có thị trường ở hầu hết các tỉnh miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Hơn nữa, doanh nghiệp còn sở hữu cơ sở vật chất cho nghiên cứu chọn tạo, sản xuất, chế biến, bảo quản hiện đại nhất Việt Nam với một đội ngũ cán bộ lành nghề, được đào tạo cơ bản ở trong và ngoài nước. Tuy nhiên, trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường thời hội nhập, các đối thủ của doanh nghiệp cũng đang xây dựng những mục tiêu cải tiến tương tự. Ban lãnh đạo Công ty biết thực tế này và đang đưa ra những giải pháp cần thiết dù với khách hàng nào, Tổng Công ty cây giống Thái Bình vẫn đứng đầu với các chỉ tiêu: chất lượng, thời gian, dịch vụ và độ tin cậy. Dựa trên đánh giá thị trường, giá thành sản phẩm của TSC đang cao hơn các doanh nghiệp khác. Mục tiêu của Công ty trong thời gian tới là phải giảm giá sản phẩm. Và cách thức thực hiện của Công ty sẽ là nâng chất lượng sản phẩm. Cụ thể: để gieo trồng 1 sào (360m2), nông dân phải dùng 1,2kg thóc giống (tỷ lệ nảy mầm 80%) đối với lúa thuần. Song nếu dùng sản phẩm được chế biến qua máy móc hiện đại của TSC thì chỉ cần sử dụng 1kg thóc giống (tỷ lệ nảy mầm >90%). Xuất phát từ quan điểm: để tồn tại, mỗi doanh nghiệp tham gia thị trường cần phải có những sản phẩm mang nét đặc trưng riêng, Tổng Công ty giống lúa Thái Bình đã quyết tâm làm và làm được. Để sản phẩm của mình có đặc thù riêng, trong quá trình sản xuất chọn dòng, TSC đã chú ý đưa thêm một số chỉ tiêu riêng để chọn những dòng có những đặc điểm riêng được người tiêu dùng ưa chuộng. Bên cạnh đó, toàn bộ sản phẩm của doanh nghiệp đều được chế biến tại Nhà máy chế biến hạt giống chất lượng cao, hiện đại nhất Việt Nam hiện nay; có chế độ bảo hành 1 vụ sản xuất; có cán bộ kỹ thuật theo dõi tình hình phát triển lúa tại các tỉnh, huyện dùng nhiều giống của Công ty để chỉ đạo, hướng dẫn, phát hiện kịp thời để có biện pháp phòng trừ sâu bệnh, tránh thiệt hại cho nông dân; bao tiêu sản phẩm cho bà con với giá thành cao;… Sự khác biệt trong giải pháp kinh doanh đã mang lại thành công cho Công ty. Doanh số bán hàng của TSC năm sau luôn cao hơn năm trước, tốc độ tăng trưởng của ngành giống cây trồng luôn đứng vị trí hàng đầu. Cho nên, không bất ngờ khi thành tích của doanh nghiệp không chỉ ấn tượng bởi những con số; mà còn bởi nhiều Huân chương, Bằng khen, Cờ thi đua cùng các loại giải thưởng uy tín. Mới đây nhất, TSC đã thêm một lần nữa được vinh danh với Giải thưởng Thương hiệu nổi tiếng Asean 2013 tại Thủ đô Viên-chăn (Lào) cùng nhiều doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước. n 65
    • THÖÔNG HIEÄU & NHAÕN HIEÄU TÖØ GOÙC NHÌN VAÊN HOÙA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 1 Từ những bí quyết làm nên THƯƠNG HIỆU l BÙI THỌ Đ i lên từ một Xí nghiệp xây lắp được thành lập năm 1975, Công ty chính thức hoạt động theo mô hình cổ phần hóa vào năm 2006 với các cổ đông chiến lược đến từ các tập đoàn lớn mạnh trong và ngoài nước. Theo ông Lê Đăng Xu Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Cofico: Bằng sự tham gia của các cổ đông chiến lược mạnh tiềm lực kinh tế không chỉ chứng minh năng lực thật sự của chúng tôi, mà còn giúp cho Công ty phát huy tốt hơn nữa tiềm lực sẵn có, khẳng định vị thế và thương hiệu của một doanh nghiệp có thâm niên hoạt động trong ngành xây dựng. Chuyên hoạt động trong lĩnh vực tổng thầu xây dựng, lắp đặt trang thiết bị, trang trí nội ngoại thất các công trình dân dụng và công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng và quản lý dự án, Cofico trong những năm qua đã chuyển giao thành công nhiều công trình lớn cho các đối tác trong và ngoài nước như: Caravell Hotel, HaNoi Daewoo Hotel, Vietcombank Tower, Saigon Ariport Plaza, Sunteel Factory,… Qua mỗi công trình lớn hay nhỏ, tập thể cán bộ công nhân viên doanh nghiệp đều được tích lũy thêm những kinh nghiệm cần thiết. Và càng thi 66 công nhiều công trình có phong Hơn cách khác nhau thì kinh nghiệm 30 năm hoạt động càng trở nên phong phú và trong lĩnh vực xây dựng, giàu có. Đây là quan điểm Công ty cổ phần Xây dựng số 1 riêng của Ban lãnh đạo (viết tắt là Cofico) tin rằng con đường Cofico. Không tập trung tốt nhất để đạt được mục tiêu kinh vào một lĩnh vực công doanh là không ngừng học hỏi và cống trình nào chuyên biệt hiến để mang đến sự hài lòng trên cả mong bởi Công ty làm việc là đợi cho khách hàng. Đó chính là mục tiêu để phục vụ cho nhu cầu để doanh nghiệp không ngừng xây dựng, của xã hội và cộng đồng. củng cố và phát triển thương hiệu dựa Tuy nhiên, chính sự linh trên các giá trị cốt lõi, bao gồm: hoạt và đa dạng này đã giúp doanh nghiệp tạo dựng tôn trọng, tin cây, tinh thần được dấu ấn trên các lĩnh vực đồng đội và an toàn. ở khắp ba miền của đất nước. Từ nhân các công trình công cộng, trung b a tâm thương mại, khách sạn năm tố: khách hàng, chuyên gia thiết sao, bệnh viện, trường học đến kế và chuyên gia xây dựng. Bên các nhà máy sản xuất có quy mô cạnh đó là một yếu tố không thể lớn cũng như sân bay, bến cảng. thiếu: tinh thần làm việc trung Và dù thi công trên mọi lĩnh vực thực và thẳng thắn. Khi hội đủ và mọi miền địa hình nhưng ở bất các điều kiện này, công việc sẽ cứ nơi đâu, Công ty cũng để lại diễn ra tốt đẹp với những kết một thông điệp duy nhất: giá trị quả khả quan nhất. Những điều kiện này trên thực tế Công ty đã bền vững của công trình. Như đã nói ở trên, xây dựng làm được và làm tốt để thành thương hiệu từ những giá trị cốt lõi, công nối tiếp thành công đến với gồm: tôn trọng, tin cậy, tinh thần Cofico. Về chiến lược phát triển, đồng đội và an toàn, Cofico luôn xác định nhân lực là yếu tố quan có những nguyên tắc riêng trong trọng, doanh nghiệp đã dành sự việc thi công công trình hay triển quan tâm đặc biệt cho việc đào khai chiến lược phát triển. Đối với tạo đội ngũ nhân lực. Bằng quy thi công công trình, doanh nghiệp trình chuyên nghiệp, môi trường luôn đề cao sự đồng tâm của an toàn và chính sách công bằng,
    • THÖÔNG HIEÄU & NHAÕN HIEÄU TÖØ GOÙC NHÌN VAÊN HOÙA Lễ khởi công Dự án xây dựng Nhà máy Nippon Paint tạo ra nhiều cơ hội thành công trong nghề nghiệp cho mỗi cá nhân, Công ty không chỉ sở hữu lực lượng lao động chất lượng cao, giỏi chuyên môn, mà còn tạo dựng được sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau giữa các đồng nghiệp. Nhờ đó, mỗi nhân viên đều cảm thấy tự hào khi được làm việc ở Cofico và luôn phấn đấu lao động, sáng tạo để góp phần vào sự nghiệp phát triển chung. Được biết, tổng số lao động tại Công ty là xấp xỉ 400 người, thu nhập bình quân hơn 7,4 triệu đồng/người/tháng. Các chế độ phúc lợi được thực hiện đầy đủ, thường xuyên. Trở lại với hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cofico có thế mạnh đặc biệt trong lĩnh vực tổng thầu xây dựng. Thực hiện trọn gói dự án từ khâu thiết kế, thi công xây dựng công trình cho đến cung cấp thiết bị công nghệ, lập dự án đầu tư xây dựng và trang trí nội ngoại thất cho nhiều công trình có quy mô lớn. Nguyên tắc của doanh nghiệp trong lĩnh vực này là giám sát chặt chẽ từng giai đoạn thi công công trình với tinh thần trách nhiệm cao và cung cấp kịp thời toàn bộ các phương tiện, dịch vụ cần thiết cho dự án. Chính vì vậy, các công trình do Công ty thực hiện đều được đánh giá cao về tính an toàn, bền vững, hiện đại cùng các vấn đề bảo vệ môi trường xung quanh công trình. Chuyên môn kỹ thuật cao và kỹ năng quản lý chuyên nghiệp đã làm nên uy tín cho thương hiệu Cofico. Khách hàng ngày càng tin tưởng vào sức nặng của thương hiệu. Về phần mình, Cofico đã nỗ lực rất nhiều để xây dựng nên thương hiệu, nên Công ty càng quyết tâm giữ vững sự tôn trọng, tin cậy của khách hàng và đối tác kinh doanh qua mỗi công trình. Như ông Lê Đăng Xu đã khẳng định: Sứ mệnh của Cofico là cung cấp dịch vụ xây dựng tốt nhất nhằm đáp ứng sự kỳ vọng của khách hàng và giúp khách hàng đạt được mục tiêu trong chiến lược kinh doanh lâu dài. Chúng tôi đánh giá sự thành công dựa trên cơ sở thành công của khách hàng và các đối tác liên quan. Sự thành công đó tất yếu phải dựa trên các yếu tố về chất lượng cao, tính an toàn tại công trường, giá thành hợp lý và các giải pháp với tiến độ thích hợp. Với bề dày hơn 30 năm hình thành và phát triển, Công ty đã vinh dự nhận được nhiều phần thưởng xứng đáng: Huân chương Lao động hạng Nhất - hạng Nhì, Huy chương Vàng chất lượng công trình, sản phẩm xây dựng Việt Nam, Giải thưởng: Thương hiệu mạnh Việt Nam 2012, Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam 2008 và 2012, Top 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2012, Thương hiệu vàng Việt Nam, Thương hiệu Nổi tiếng Việt Nam, Doanh nghiệp Uy tín - Chất lượng, Thương hiệu mạnh, Thương hiệu nổi tiếng Asean 2013,… Đây là phần thưởng của sự uy tín, tin cậy mà Công ty đã nỗ lực phấn đấu trong suốt nhiều năm qua. Trong thời gian này, sự tín nhiệm của các khách hàng trong lĩnh vực xây dựng các công trình công cộng đã và đang tiếp tục đem lại thành công cho Cofico. Nền tảng này trở thành động lực mạnh mẽ để Công ty hướng đến mục tiêu trở thành một trong những doanh nghiệp xây dựng hàng đầu trong nước và khu vực. Qua đó, có thêm nhiều đóng góp giá trị thiết thực cho cộng đồng. Hiện tại, đóng góp của doanh nghiệp cho các hoạt động từ thiện xã hội đang dừng lại ở mức tương đối khiêm tốn, khoảng dưới 50 triệu đồng mỗi năm.n 67
    • THÖÔNG HIEÄU & NHAÕN HIEÄU TÖØ GOÙC NHÌN VAÊN HOÙA CÔNG TY TNHH MTV THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ SÓNG NHẠC THƯƠNG HIỆU là sự cam kết về chất lượng l TRÚC Trưởng thành từ một cửa hàng phân phối các sản phẩm điện tử, thành công của Công ty TNHH MTV thương mại và dịch vụ Sóng Nhạc ngày hôm nay chính là kết quả của sự cam kết về chất lượng đối với khách hàng. Với bí quyết: mỗi một sản phẩm đều chuyển tải thông điệp “luôn mang tới cho mọi người sự thoải mái, an lòng và nhẹ nhõm”, thương hiệu của doanh nghiệp đã dần trở thành địa chỉ uy tín, tin cậy trong lòng người tiêu dùng. Chân dung người sáng lập Sóng Nhạc Ông là doanh nhân Phạm Duy Tùng, hiện đang là Giám đốc Công ty, đảm trách vai trò điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh. Ngược thời gian về những năm 90 của thế kỷ trước, đó là thời điểm nền kinh tế thị trường bắt đầu có những hiệu ứng tích cực đối với nền kinh tế trong nước, đời sống người dân được cải thiện. Nhu cầu hưởng thụ văn hóa được 68 chú trọng, đặc biệt là văn hóa nghe nhìn. Nắm được thị hiếu này của xã hội, ông Phạm Duy Tùng với khả năng chuyên môn và tiềm lực kinh tế đã quyết định mở cửa hàng bán lẻ, làm đại lý cấp 1 để phân phối các thương hiệu điện tử: Bose, Ariang, Shure tại Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh. Vốn là người nhanh nhạy, năng động lại rất chú trọng đến việc đảm bảo chất lượng, xây dựng niềm tin, uy tín đối với khách hàng nên cửa hàng điện tử của ông Tùng kinh doanh không ngừng phát triển. Bằng cách nghĩ, cách làm của riêng mình, ông Tùng đã quản lý cửa hàng theo hướng ổn định, bền vững. Kinh doanh nhưng không đưa lợi nhuận lên hàng đầu mà ông lấy sự hài lòng, thỏa mãn của khách hàng làm trọng. Ông hiểu tâm lý lo âu của người tiêu dùng rất sợ mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng. Đối với đồ điện tử - là loại hàng hóa xa xỉ, đầu tư nhiều thì nỗi lo âu càng lớn. Do đó, tại cửa hàng, ông chỉ bán những sản phẩm chính hãng, chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý. Đây chính là cam kết mà ông tự hình thành nên, biến nó thành cây gậy thần kỳ trong hoạt động điều hành kinh doanh của cửa hàng. Ông mang LAM lại lợi ích cho khách hàng, mang lại sự thoải mái, nhẹ nhõm trong tâm lý mua sắm đồ điện tử cho khách hàng thì ngược lại, chính khách hàng đã mang tới cho ông lợi nhuận khi chọn cửa hàng làm địa chỉ tin cậy mỗi khi có nhu cầu về đồ điện tử. Cửa hàng ngày càng phát triển với lượng khách hàng ngày một đông. Đến năm 2005, để phù hợp với xu thế chung và để phục vụ khách hàng mỗi ngày một tốt hơn, ông đứng ra thành lập Công ty TNHH MTV Thương mại và Dịch vụ Sóng Nhạc chuyên kinh doanh hàng kim khí, điện máy, điện gia dụng, thiết bị viễn thông,... Chuyển đổi hình thức kinh doanh nhưng vẫn duy trì cam kết kinh doanh ấy, tinh thần phục vụ khách hàng ấy, riêng phong cách thì chuyên nghiệp hơn, bài bản hơn, doanh nhân Phạm Duy Tùng đã mang lại bước tiến mới trong hoạt động kinh doanh của Công ty. Năm 2007, doanh nghiệp trở thành nhà phân phối độc quyền ampli Guinness của Hàn Quốc. Năm 2009, phân phối độc quyền camera giám sát và đầu ghi hình Avtech của Đài Loan - đứng hàng thứ 10 trên thế giới về thương hiệu. Tiếp đó, Công ty tiếp tục nhận phân phối độc
    • THÖÔNG HIEÄU & NHAÕN HIEÄU TÖØ GOÙC NHÌN VAÊN HOÙA Gian hàng của Công ty tại triển lãm Secutech 2013 quyền những sản phẩm âm thanh karaoke thương hiệu Jarquar số 1 của Hàn Quốc. Đến nay, sau gần 10 năm hình thành và phát triển, Công ty Sóng Nhạc đã thực sự có quy mô và tầm vóc hoàn toàn khác. Ngày mới thành lập, doanh nghiệp chỉ có tổng số 30 nhân viên với doanh thu 10 tỷ đồng mỗi năm. Năm 2013 này, doanh nhân Phạm Duy Tùng đang quản lý 125 nhân viên ký hợp đồng dài hạn và doanh thu đạt trên 200 tỷ đồng/năm. Bí quyết làm nên thương hiệu Như đã nói ở trên, ngay từ những ngày đầu bước chân vào lĩnh vực kinh doanh, doanh nhân Phạm Duy Tùng đã cam kết luôn mang đến cho khách hàng những sản phẩm chất lượng tốt nhất, đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng theo từng giai đoạn. Chính vì vậy, Sóng Nhạc đã xây dựng được lòng tin đối với khách hàng. Để mỗi khi nghĩ tới đồ điện tử là người tiêu dùng nhớ ngay tới Sóng Nhạc với các sản phẩm độc quyền: camera giám sát và đầu ghi hình nhãn hiệu Avtech (Đài Loan), đầu karaoke chuyên nghiệp và đầu karaoke 5 số cao cấp Musiccore (Hàn Quốc), các thiết bị âm thanh karaoke và nghe nhạc cao cấp các nhãn hiệu: Jarguar, Guinness, Musicware (Hàn Quốc). Khi nền kinh tế đất nước gia nhập WTO, việc kinh doanh trong một thế giới phẳng thật sự là một thách thức với ngành điện tử giải trí khi công nghệ liên tục thay đổi, thông tin luôn được cập nhật. Để giữ vững đà phát triển, bên cạnh việc xây dựng, củng cố một đội ngũ nhân viên có đầy đủ kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức và sự nhiệt tình nhằm đáp ứng tốt nhất, nhanh nhất mọi yêu cầu của khách hàng; Sóng Nhạc còn luôn nắm bắt nhạy bén các thay đổi nhanh chóng của công nghệ giải trí hiện nay trên thế giới. Qua đó, am hiểu cặn kẽ các yếu tố có ảnh hưởng tới chất lượng của từng sản phẩm để đem tới khách hàng những sản phẩm vượt trội về tính năng, chất lượng, vừa an toàn và vừa tiện lợi. Trong những năm qua, với kinh nghiệm cung cấp thiết bị cho hơn 5.000 điểm kinh doanh karaoke và hàng chục ngàn hộ gia đình, không ai có thể thấu hiểu nhu cầu giải trí của khách hàng bằng Sóng Nhạc. Và với lĩnh vực camera giám sát thông minh, Công ty đã góp phần giải quyết những trăn trở để khách hàng yên tâm công tác và học tập dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Hiện, đơn vị có hệ thống phân phối phủ rộng trên khắp 63 tỉnh thành trong cả nước với gần 1.000 đại lý, trung tâm bán lẻ và các cửa hàng nhỏ. Được biết, các sản phẩm Công ty phân phối chiếm hơn 20% thị phần ampli ngành âm thanh karaoke và chiếm hơn 15% thị phần ngành giám sát tại Việt Nam. Tới đây, tại Thủ đô Viên-chăn (Lào), doanh nhân Phạm Duy Tùng sẽ được vinh danh với Giải thưởng Nhà quản lý xuất sắc thời kỳ đổi mới và Công ty Sóng Nhạc cũng sẽ được vinh danh với Giải thưởng Thương hiệu nổi tiếng Asean. Hai giải thưởng này cùng với các giải thưởng Công ty đã từng đạt được như: Top 500 doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhất năm 2011, 2012; Thương hiệu mạnh và phát triển bền vững năm 2012; Thương hiệu - sản phẩm uy tín, chất lượng,… sẽ trở thành động lực mạnh mẽ, cổ vũ tập thể lãnh đạo, nhân viên Công ty Sóng Nhạc đồng lòng hướng đến mục đích chung: trở thành nhà phân phối uy tín, chuyên nghiệp nhất tại Việt Nam trong lĩnh vực điện tử. n 69
    • THÖÔNG HIEÄU & NHAÕN HIEÄU TÖØ GOÙC NHÌN VAÊN HOÙA CÔNG TY CỔ PHẦN GIẢI PHÁP THANH TOÁN VIỆT NAM Coi thương hiệu là tài sản vô giá lTHU THU Thành lập năm 2007, là doanh nghiệp cung cấp giải pháp Topup trực tiếp đầu tiên trên thị trường Việt Nam nên Công ty cổ phần giải pháp thanh toán Việt Nam (viết tắt là VNpay) đã gặt hái không ít thành công. Đây là kết quả xứng đáng mà tập thể cán bộ, nhân viên đơn vị đã nỗ lực phấn đấu không ngừng nghỉ trong suốt thời gian qua. Và VNpay đã thực sự trở thành một thương hiệu vô giá trên thương trường, đồng thời, trở thành một trong những chủ nhân mới nhất của giải thưởng Thương hiệu nổi tiếng Asean 2013. Ô ng Lê Tánh - Tổng Giám đốc Công ty cho biết: Chuyên kinh doanh: dịch vụ trung gian thanh toán, xử lý thanh toán; dịch vụ quảng cáo trên mạng viễn thông, internet; dịch vụ giá trị gia tăng trên các mạng điện thoại, dịch vụ thương mại điện tử; đại lý vé máy bay, vé tàu;… điều này có nghĩa là lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp rộng, bạn hàng đông, đều là những doanh nghiệp có uy tín trên thị trường. Chính vì vậy, ngay từ những ngày đầu thành lập, VNpay đã luôn xác định lấy uy tín, chất lượng làm trọng. Các sản phẩm luôn được cung cấp hoàn hảo. Khách hàng luôn luôn được đáp ứng các yêu cầu. Cũng có thể bởi khách hàng công nghệ luôn là những người khó tính, đòi hỏi cao. Do đó, trước sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường, để tồn tại và phát triển, mỗi một đối tác hài lòng là thương hiệu của Công ty dần được củng cố. Tuy nhiên, chỉ cần một khách hàng phật ý là uy tín có nguy cơ tiêu tan, công 70 Bà Nhótkéomani Xuphanuvông - Phó Chánh văn phòng Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (Phải) và Ông Nguyễn Viết Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế (Trái) trao Cúp vàng “Thương hiệu nổi tiếng Asean” cho đại diện Công ty tại Thủ đô Viêng Chăn, Lào sức của mọi người rất dễ trở nên vô giá trị. Bởi, có rất nhiều doanh nghiệp đang tìm đủ mọi cách lôi kéo khách hàng với dịch vụ và chất lượng cực cạnh tranh. Mất khách hàng dễ như bỡn! Tự tin với giải pháp của mình: ứng dụng các mô hình công nghệ mới và đã được triển khai thành công tại các nước trong khu vực hay nói cách khác là ứng dựng những giải pháp công nghệ tiên tiến đạt chuẩn quốc tế, đảm bảo sự kết nối giữa Viễn thông - Ngân
    • THÖÔNG HIEÄU & NHAÕN HIEÄU TÖØ GOÙC NHÌN VAÊN HOÙA hàng trên nền tảng công nghệ tối ưu nhất nhằm có được những sản phẩm dịch vụ chất lượng cung cấp cho khách hàng. Nhờ đó, VNpay nhanh chóng thuyết phục được đối tác trở thành bạn hàng và VNpay thành công. Thực tế, chỉ sau vài tháng ra đời, Công ty đã có Vinaphone là khách hàng đầu tiên với việc triển khai dịch vụ nạp tiền điện thoại di động trả trước với VietinBank. Từ đó cho đến nay, song song với việc không ngừng triển khai các loại dịch vụ mới, hiện đại là số lượng khách hàng, bạn hàng mới gồm các ngân hàng trong nước cũng đồng thời không ngừng gia tăng. Các dịch vụ mà Công ty đã và đang cung cấp cho khách hàng bao gồm: Dịch vụ SMS banking là gói tiện ích cho phép khách hàng truy vấn thông tin tài khoản ngân hàng qua điện thoại di động bằng cách gửi tin nhắn theo mẫu quy định tới tổng đài; Dịch vụ nạp tiền điện thoại eTopup là dịch vụ nạp tiền vào tài khoản điện thoại di động qua tin nhắn. Số tiền khách hàng yêu cầu nạp sẽ trừ trực tiếp trong tài khoản ngân hàng của khách hàng; Dịch vụ nạp tiền điện thoại VnTopup là dịch vụ nạp tiền vào tài khoản điện thoại di động trả trước (6 mạng di động tại Việt Nam) và nạp tiền để thanh toán cước cho thuê bao trả sau của 2 mạng Viettel và MobiFone; Dịch vụ thanh toán hóa đơn cho phép khách hàng tra cứu và thanh toán cước dịch vụ (điện thoại di động trả sau, điện thoại cố định, ADSL,…) qua các kênh khác nhau như: SMS, internet banking, ủy nhiệm thu tự động, tại bàn quầy; Dịch vụ mua vé máy bay qua tổng đài 1900 55 55 22 là dịch vụ cho phép khách hàng mua vé máy bay của 31 hãng hàng không khác nhau qua điện thoại; Dịch vụ Mobile Marketing là dịch vụ gửi tin nhắn với số lượng lớn cho VNpay cung cấp, phục vụ chủ yếu cho các mục đích truyền thông, quảng bá sản phẩm, dịch vụ tới các khách hàng một cách hiệu quả với chi phí thấp; Ứng dụng Mobile banking là ứng dụng do Công ty xây dựng và phát triển nhằm cài đặt trên thiết bị di động như điện thoại, máy tính bảng và giao tiếp qua tin nhắn SMS hoặc GPRS/3G/wifi, cho phép khách hàng quản lý tài khoản và thực hiện giao dịch thanh toán ngay trên các thiết bị di động của mình; Cổng thanh toán hóa đơn và mua hàng trực tuyến Vban là hệ thống trung gian truyền dẫn, trao đổi và xử lý các giao dịch thanh toán giữa người tiêu dùng với các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ và ngân hàng; Dịch vụ ví điện tử Vnmart là sản phẩm do Công ty phát triển để làm phương tiện thanh toán khi thực hiện các giao dịch mua sắm trên các website thương mại điện tử. Trong đó, dịch vụ SMS banking qua tổng đài 8149 của doanh nghiệp được đánh giá là một trong những tổng đài chất lượng nhất tại Việt Nam với khách hàng đang sử dụng là hầu hết các ngân hàng lớn và uy tín trong nước. Hiện tại, VNpay đã triển khai thành công và cung cấp dịch vụ đến hơn 80% khách hàng là các ngân hàng trên toàn quốc như: Agribank, Vietinbank, BIDV, DongA bank, Techcombank, Eximbank,… cùng hơn 300 đơn vị điện lực trên cả nước. Sau 7 năm hoạt động, Công ty đang sở hữu số vốn điều lệ trên 53 tỷ đồng. Nhưng ấn tượng nhất là những con số về doanh thu. Năm 2011 là trên 763 tỷ đồng. Năm 2012 đạt trên 802 tỷ đồng. Năm 2013 trên 950 tỷ đồng. Ngoài ra, VNpay đang giải quyết công ăn việc làm ổn định cho gần 140 lao động với thu nhập bình quân đạt trên 10 triệu đồng/người/tháng. Các chế độ phúc lợi thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật. Lấy công nghệ tiên tiến làm nền tảng để chinh phục thị trường trong nước và đã gặt hái thành công, tiếp tục phát huy lợi thế này, trong năm 2011, VNpay đã mạnh dạn thành lập Cambopay đặt tại thủ đô Phnomphenh - Campuchia. Theo đó, mục tiêu mà Cambopay hướng tới là liên kết, hợp tác với các tổ chức tài chính - ngân hàng, tạo ra các giải pháp thanh toán ứng dụng rộng rãi trên điện thoại di động, internet và các kênh khác nhau thông qua hệ thống thẻ các ngân hàng. Cho đến nay có thể khẳng định thành công của VNpay ngày hôm nay sẽ không có được nếu như doanh nghiệp không chú trọng xây dựng uy tín để khẳng định thương hiệu - nền tảng quan trọng và vững chắc của bất cứ một doanh nghiệp nào trong quá trình phát triển lâu dài, bền vững. Với VNpay, thương hiệu chính là những sản phẩm dịch vụ chất lượng cao, mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng đúng như câu slogan của Công ty: Cho cuộc sống đơn giản hơn. Ông Lê Tánh khẳng định: trong tương lai, VNpay sẽ tiếp tục nghiên cứu và triển khai những dịch vụ, giải pháp thanh toán mới mang lại tiện tích cho người tiêu dùng; tiếp tục duy trì và giữ vững hình ảnh là thương hiệu của công nghệ và chất lượng. Đây chính là nền tảng để VNpay tiếp tục phát triển với những con số ấn tượng trong doanh thu. n 71
    • THÖÔNG HIEÄU & NHAÕN HIEÄU TÖØ GOÙC NHÌN VAÊN HOÙA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN ĐẦU TƯ ĐỊA ỐC NOVA NỖ LỰC “VƯỢT SÓNG” ĐỂ KHẲNG ĐỊNH THƯƠNG HIỆU T rước quy mô hoạt động kinh doanh của Novaland ngày nay, ít người có thể tin được hơn 20 năm về trước, doanh nghiệp khởi đầu là một công ty có 400 triệu đồng vốn điều lệ, chuyên sản xuất kinh doanh thuốc thú y, hóa chất, nguyên liệu dược và bất động sản như xây biệt thự cho thuê hoặc góp vốn đầu tư vào các dự án khu dân cư. Trong quá trình phát triển, dưới sự lãnh đạo của doanh nhân Bùi Thành Nhơn, Công ty dần dần chuyển sang lĩnh vực bất động sản, là một trong những doanh nghiệp đầu tiên xây biệt thự cho thuê ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2007, doanh nghiệp chính thức tập trung nguồn lực vào lĩnh vực bất động sản dân dụng, xây dựng và phát triển các khu căn hộ, dân cư, khu thương mại, văn phòng, khách sạn. Và tính đến năm 2012, tổng tài sản của Novaland đã đạt con số 9.000 tỷ đồng, vốn điều lệ là 1.700 tỷ đồng. Với quan điểm: phát triển dự án không chỉ đơn thuần ở những mét vuông xây dựng, mà là góp phần kiến tạo cộng đồng nhân văn tiên tiến, có phong cách sống hiện đại với nhiều tiện ích, qua đó tạo nên giá trị sống gia tăng bền vững cho mình và cho xã hội, Novaland Group đã cho 72 l MỘNG HUỆ Là một doanh nghiệp hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, phát triển bất động sản ở Việt Nam, Công ty cổ phần Tập đoàn đầu tư địa ốc Nova (viết tắt là Novaland Group) đã tạo dựng được uy tín và thương hiệu của mình qua các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao. Hiện tại, khi nền kinh tế đang còn gặp nhiều khó khăn, để đáp lại sự ưu ái và tín nhiệm mà khách hàng đã trao gửi cho những sản phẩm của doanh nghiệp, Nova đã và đang nỗ lực “vượt sóng”, hoàn thành các dự án đúng tiến độ nhằm khẳng định cam kết: nói đi đôi với làm. Từ đó, càng khẳng định hơn nữa tên tuổi của doanh nghiệp trong quá trình phát triển bền vững, lâu dài. ra đời những sản phẩm bất động sản chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phong phú của khách hàng. Tuy nhiên, có lẽ điều khiến khách hàng hài lòng hơn cả khi sử dụng các sản phẩm của doanh nghiệp là “nói đi đôi với làm” khi không chỉ có sản phẩm chất lượng cao, mà dịch vụ cũng chất lượng cao. Về phần mình, để đáp lại sự ưu ái, tin tưởng của khách hàng trao gửi, Nova đã thể hiện đẳng cấp, phong độ của mình khi nỗ lực “vượt sóng” trong bối cảnh kinh tế gặp khó khăn như hiện nay. Sở dĩ nói như vậy vì khi thị trường bất động sản đang đóng băng, nhiều nhà đầu tư chấp nhận bán cắt lỗ, thậm chí sử dụng giải pháp “bất động” với những dự án đã hoặc chưa thi công. Riêng Novaland, năm 2011 khởi công dự án Tropic Garden và dự án Central Towers Sunrise City. Năm 2012 hoàn tất xây dựng và bàn giao khu căn hộ hạng A Sunrise City (giai đoạn 1), khu South Towers (khởi công năm 2009) theo đúng tiến độ và chất lượng cam kết với những tiện ích vượt trội như: 2 hồ bơi rộng lớn, phòng Gym, 2 tầng hầm đậu xe có sức chứa 1.000 xe ô tô. Sang năm 2013, ngoài việc tiếp tục thi công các dự án theo đúng tiến độ, Công ty triển khai cọc thử cho dự án khu phức hợp căn hộ văn phòng The Rrince Residence tại quận Phú Nhuận. Thiết nghĩ, bằng việc liên tục thực hiện các dự án bất động sản trong thời kỳ nhạy cảm này, doanh nghiệp đã thể hiện sức mạnh nội lực của
    • THÖÔNG HIEÄU & NHAÕN HIEÄU TÖØ GOÙC NHÌN VAÊN HOÙA thương hiệu Novaland Group, đồng thời, hiện thực hóa quyết tâm của Ban lãnh đạo sẽ cung cấp hơn 5.000 căn nhà cho người dân Việt Nam trong giai đoạn 2011-2016. Mạnh dạn, chủ động trong việc triển khai các dự án bất động sản nhằm khẳng định vị thế của thương hiệu, Novaland còn là một doanh nghiệp có “thương hiệu” trong việc quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động. Trên tổng số hơn 230 cán bộ công nhân viên, Công ty đảm bảo thu nhập bình quân ở mức gần 17 triệu đồng/người/tháng. Các chế độ phúc lợi theo quy định của Nhà nước được thực hiện đầy đủ. Ngoài ra, doanh nghiệp còn thực hiện nhiều chế độ phúc lợi khác như: bảo hiểm tai nạn 24/24, bảo hiểm sức khỏe Aon, thẻ taxi, phụ cấp đi lại, phụ cấp điện thoại, chính sách nhà công vụ, thưởng các ngày lễ tết, thưởng năng suất, các chương trình đào tạo, khám sức khỏe định kỳ, nghỉ dưỡng hàng năm, tiền hiếu - hỉ, chính sách tập gym, tiệc mừng cuối năm,… Được làm việc tại Novaland là niềm tự hào của mỗi cán bộ công nhân viên nơi đây. Với họ, doanh nghiệp thực sự là ngôi nhà chung thứ hai. Thêm hiểu, sự tâm huyết, nhiệt tình, năng động của đội ngũ nhân lực và trên tất cả là sự thành công của Nova không phải tự nhiên mà có. Ông Bùi Thành Nhơn - Tổng Giám đốc Công ty chia sẻ: Hơn ai hết chúng tôi hiểu rằng, sự phát triển vững vàng của Công ty được như ngày hôm nay là nhờ vào sự ưu ái và tín nhiệm của các quý khách hàng đã dành cho các sản phẩm của Novaland. Nên, sự thành công của Công ty thực tế Bà Nhótkéomani Xuphanuvông - Phó Chánh văn phòng Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (Phải) và Ông Nguyễn Viết Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế (Trái) trao Cúp vàng “Thương hiệu nổi tiếng Asean” cho Đại diện Công ty tại Thủ đô Viêng Chăn, Lào không chỉ đo bằng các thành tích về kinh doanh, mà còn được đo bằng mức độ và các trách nhiệm xã hội mà doanh nghiệp đóng góp cho cộng đồng. Để tri ân lại với cộng đồng, Công ty đã tham gia tích cực vào các hoạt động từ thiện xã hội. Mỗi năm, doanh nghiệp đóng góp hàng tỷ đồng cho: Quỹ Nụ cười, tết của người nghèo, trao học bổng, khám chữa bệnh miễn phí tại các bệnh viện,… Bên cạnh đó, trong các dự án xây dựng của mình, Công ty luôn triển khai các giải pháp công nghệ tiên tiến nhằm tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Các giải pháp đó là: dùng các loại bóng đèn tiết kiệm điện năng, dùng hệ thống điều khiển thông minh để điều khiển chiếu sáng các khu công cộng (tự động đóng mở khi không có người, tự động điều khiển ánh sáng khi ánh sáng tự nhiên đủ cường độ sáng yêu cầu), sử dụng gas trung tâm, dùng giải pháp biến tần điều khiển động cơ nhằm kiểm soát công suất động cơ vận hành theo nhu cầu sử dụng,… Bằng việc áp dụng các giải pháp này, Công ty vừa tiết kiệm được chi phí sản xuất, tăng tính cạnh tranh, vừa giúp xã hội giảm áp lực về năng lượng thật, nhất cử lưỡng tiện. Đáng tiếc là hiện thời không phải doanh nghiệp nào cũng nhận thức được và làm được như Novaland. Hướng tới sự phát triển bền vững, Novaland coi trọng đảm bảo mọi kế hoạch phải dựa trên hiệu quả lâu dài, có kết quả tốt, trong vòng kiểm soát và không đi ngược lại lợi ích của cộng đồng. Tin rằng, với một quan điểm kinh doanh chuyên nghiệp và đầy tính nhân văn như trên, mục tiêu 5.000 căn nhà cho thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2011-2016 không phải là con số cuối cùng của Công ty. Và, Giải thưởng Thương hiệu nổi tiếng Asean 2013 cùng nhiều giải thưởng quý giá khác sẽ tiếp tục nối dài thêm những thành tích của doanh nghiệp trong tương lai.n 73
    • TIN TÖÙC LỄ TRAO TẶNG BẰNG KHEN CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ CHO NHÀ THƠ, NHÀ VIẾT KỊCH NGUYỄN THẾ KỶ l MẠC HẠ Nguyên Bộ trưởng Bộ GTVT Hồ Nghĩa Dũng trao Bằng khen của Thủ tướng CP cho Nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ. Ảnh Nguyễn Minh San S áng ngày 15/10/2013, tại Hà Nội, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy văn hóa dân tộc tổ chức Lễ trao tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho nhà thơ, nhà viết kịch Nguyễn Thế Kỷ - tác giả tập thơ “Con đường - Con người” (NXB Dân trí, 2012) - tập thơ viết về chủ đề Văn hóa giao thông. Đến dự buổi lễ có các đồng chí: Hồng Vinh - Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, Hồ Nghĩa Dũng - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng - nguyên Bộ trưởng GTVT - nguyên Chủ tịch UB An toàn giao thông Quốc gia, NSUT Lê Chức - Phó Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Lê Minh Châu - Phó Vụ trưởng Vụ Vận tải - Bộ GTVT, Khương Kim Tạo - Phó Chánh Văn phòng Ủy ban ATGTQG, GS Hoàng Chương - Tổng Giám đốc Trung tâm NCBT & PHVHDT, cùng đông đảo cán bộ, nhân viên UBATGTQG, Trung tâm NCBT & PHVHDT, đại diện các cơ quan báo chí Trung ương và Hà Nội . Bộ trưởng Bộ VH - TT & DL Hoàng Tuấn Anh, Viện trưởng Viện KSND tối cao Nguyễn Hòa Bình, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng, Chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam NSND Lê Tiến Thọ đã gửi lẵng hoa chúc mừng nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ. 74 Gs. Hoàng Chương - TGĐ Trung tâm NCBT&PHVHDTVN trao đôi câu đối của Gs. Vũ Khiêu tặng Nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ. Ảnh Nguyễn Minh San GS. AHLĐ Vũ Khiêu đã gửi chúc mừng nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ câu đối: “Cẩm tú ngàn trang mừng Thế Kỷ Sơn hà vạn đặm thuận giao thông” “Con đường - Con người” là tập thơ đầu tiên ở Việt Nam viết về một chủ đề duy nhất - cũng là “nóng nhất”, nan giải nhất ở nước ta trong nhiều năm qua và của nhiều năm tới đó là An toàn giao thông. Tập thơ đã được in trên 10.000 bản, là quà tặng các đại biểu tham dự Hội nghị quốc tế về ATGT tổ chức năm 2012 tại Hà Nội. Ngoài Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, tác giả “Con đường - Con người” còn được Chủ tịch UBATGTQG tặng thưởng 1.500.000 đ. Phát biểu chúc mừng nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ, đồng chí Hồ Nghĩa Dũng, Hồng Vinh, Lê Chức, Lê Minh Châu và nhiều đại biểu khác đều đánh giá cao tài năng, sự nhiệt tình, tâm huyết của nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ, khẳng định giá trị của tập thơ đã góp phần tiết giảm tai nạn giao thông thời gian qua, chắc chắn sẽ nâng cao văn hóa của người tham gia giao thông trong thời gian tới. Mọi người đều mong nhà thơ Nguyễn Thế Kỷ tiếp tục có những sáng tác mới về chủ đề VHGT. Bởi những phát sinh các đối tượng, các phương tiện giao thông mới (như xe chạy điện,…) rất cần sự vào cuộc của thơ. n
    • BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG BAN ĐỐI NGOẠI *** Số 9735 - CV/ĐNTW - LCPC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Hà Nội, ngày 03 tháng 10 năm 2013 V/v: Tổ chức trao giải thưởng tại Thủ đô Viêng Chăn, Lào Kính gửi: Ban Tổ chức giải thưởng Giải thưởng “Top 100 Doanh nghiệp tiêu biểu xuất sắc” Giải Thưởng “Top 100 Thương hiệu, Dịch vụ, Sản phẩm hội nhập Quốc tế” Giải thưởng “Top 100 Nhà quản lý tài đức” năm 2013 Về đề nghị của Ban Tổ chức Giải thưởng tại Công văn số 06/CV - BTC, ngày 19/9/2013, Ban Đối ngoại Trung ương đã có Công văn gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Lào đề nghị hướng dẫn và hỗ trợ Ban Tổ chức hoàn tất các thủ tục pháp lý theo qui định của Lào để việc tổ chức sự kiện bình chọn và trao giải thưởng được diễn ra đúng ý nghĩa, mục đích, tạo được sự đồng thuận của các doanh nghiệp, cũng như các cơ quan chức năng của Lào. Ban Đối ngoại Trung ương thông báo để Ban Tổ chức biết và phối hợp thực hiện./. Nơi nhận - Nt - GS Hoàng Chương - Chị Lê Thị Hằng - Vụ L- CPC - VP - Lưu T/L TRƯỞNG BAN VỤ TRƯỞNG VỤ LÀO - CAMPUCHIA Lê Tuấn Khanh
    • Bình chọn và Trao tặng Giải thưởng “Top 100 Doanh nghiệp Tiêu biểu Xuất sắc” Giải thưởng “Top 100 Thương hiệu, Dịch vụ, Sản phẩm Hội nhập Quốc tế” Giải thưởng “Top 100 Nhà Quản lý Tài Đức” Việt Nam - Lào - Campuchia, Năm 2013 ĐIỀU LỆ BÌNH CHỌN .........., ngày tháng 8 năm 2013 A. MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA: Chương trình Bình chọn và trao tặng Giải thưởng “Top 100 Doanh nghiệp tiêu biểu xuất sắc”; Giải thưởng “Top 100 Thương hiệu, Dịch vụ, Sản phẩm hội nhập Quốc tế” và Giải thưởng “Top 100 Nhà quản lý tài đức” được bảo trợ và chỉ đạo bởi Bộ Công thương Lào, Bộ Thông tin Văn hóa và Du lịch Lào, Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa ngành nghề nông thôn Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc Việt Nam, Đài Truyền hình Quốc gia Lào, Tạp chí Văn hiến Việt Nam, Tạp chí Doanh nghiệp và Thương hiệu và một số đơn vị khác. Việc trao những giải thưởng trên nhằm góp phần thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tăng cường mối quan hệ hữu nghị và nêu cao tấm lòng nhân ái vốn là nét đẹp truyền thống của nhân dân ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia. Tôn vinh cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, các đơn vị, các cá nhân xuất sắc…của các nước có nhiều đóng góp vào sự thịnh vượng chung, thúc đẩy nền kinh tế văn hóa, xã hội và mối quan hệ hữu nghị trong khối Asean. Cổ vũ và khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức, các bệnh viện, trường học…phấn đấu xây dựng những thương hiệu và nhãn hiệu hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ có uy tín và chất lượng được đông đảo người tiêu dùng ưa chuộng, góp phần xây dựng môi trường văn hóa kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững trong thời kỳ đổi mới. Tôn vinh các Nhà quản lý, có tinh thần dám nghĩ, dám làm, lao động sáng tạo, chất lượng và hiệu quả công tác cao, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đơn vị, địa phương, ngành và đất nước. B. CÁC ĐƠN VỊ THAM GIA BAN TỔ CHỨC 1. ĐƠN VỊ CHỈ ĐẠO VÀ CHỨNG NHẬN GIẢI THƯỞNG Bộ Công thương Lào Bộ Thông tin Văn hóa và Du lịch Lào Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa ngành nghề nông thôn Việt Nam Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy VHDT Việt Nam 1
    • Bình chọn và Trao tặng Giải thưởng “Top 100 Doanh nghiệp Tiêu biểu Xuất sắc” Giải thưởng “Top 100 Thương hiệu, Dịch vụ, Sản phẩm Hội nhập Quốc tế” Giải thưởng “Top 100 Nhà Quản lý Tài Đức” Việt Nam - Lào - Campuchia, Năm 2013 2. ĐƠN VỊ BẢO TRỢ THÔNG TIN VÀ THỰC HIỆN TÀI TRỢ QUẢNG CÁO Đài Truyền hình Quốc gia Lào Công ty CP Văn hóa Việt Nam Công ty TNHH Thương mại XNK Phết Mung Khun - Lào Tạp chí Văn hiến Việt Nam – Chuyên đề “Văn hóa & Kinh tế” Tạp chí Doanh nghiệp & Thương hiệu Website: http://www.doanhnghiepthuonghieu.com.vn; Website: http://www.camnangdoanhnghiep. com.vn; http://www.vanhien.net; http://tinnhanh24.vn C. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐIỀU KIỆN THAM GIA BÌNH CHỌN I. GIẢI THƯỞNG “TOP 100 DOANH NGHIỆP TIÊU BIỂU XUẤT SẮC” l Đối tượng: Các doanh nghiệp đang hoạt động trên mọi lĩnh vực tại các nước Asean, đặc biệt ba tnước Đông Dương (Việt Nam – Lào – Campuchia) lTiêu chí bình chọn: 1. Là Đơn vị, doanh nghiệp tiêu biểu về các mặt: năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế, xã hội, đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, ngành và đất nước. 2. Đi đầu trong việc đổi mới công nghệ, có nhiều thành tích trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, trong phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và bảo vệ môi trường sinh thái. 3. Đi đầu trong việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ về mọi mặt cho cán bộ, công nhân viên chức và lao động là điển hình về công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để các tập thể khác noi theo. 4. Quản lý tốt tiền vốn, tài sản, đảm bảo an toàn tuyệt đối về người và tài sản; chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công nhân viên chức và người lao động trong đơn vị. 5. Tích cực tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện. 6. Thành đạt trong các hoạt động văn hóa, xã hội, khoa học… 7. Đã có Bằng khen, giải thưởng cấp Tỉnh hoặc tương đương trở lên II. GIẢI THƯỞNG “TOP 100 THƯƠNG HIỆU, DỊCH VỤ, SẢN PHẨM HỘI NHẬP QUỐC TẾ” l Đối tượng: Các Đơn vị, doanh nghiệp; các bệnh viện, trường học, các Hợp tác xã, các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài… đang hoạt động trên mọi lĩnh vực trong khối ASEAN, đặc biệt ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia; Các Sản phẩm độc đáo, chất lượng cao, được người tiêu dùng tín nhiệm, mẫu mã đa dạng, có khả năng cạnh tranh và hội nhập Quốc tế. l Tiêu chí bình chọn: 1. Là đơn vị, doanh nghiệp uy tín, sản phẩm chất lượng, được người tiêu dùng tín nhiệm chiếm thị phần nhất định trong nước hoặc quốc tế. 2. Đi đầu trong việc đổi mới công nghệ, bảo vệ môi trường 3. Có nhiều nỗ lực trong công tác xây dựng và phát triển thương hiệu 2
    • Bình chọn và Trao tặng Giải thưởng “Top 100 Doanh nghiệp Tiêu biểu Xuất sắc” Giải thưởng “Top 100 Thương hiệu, Dịch vụ, Sản phẩm Hội nhập Quốc tế” Giải thưởng “Top 100 Nhà Quản lý Tài Đức” Việt Nam - Lào - Campuchia, Năm 2013 4. Sản phẩm tham dự bình chọn phải độc đáo, có chất lượng, mẫu mã đa dạng, có khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế. 5. Đã có bằng khen, giải thưởng cấp tỉnh trở lên III. GIẢI THƯỞNG “TOP 100 NHÀ QUẢN LÝ TÀI ĐỨC” l Đối tượng: Các thành viên trong Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị, các Tập đoàn, Tổng Công ty, đơn vị, doanh nghiệp của ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia. l Tiêu chí bình chọn: 1. Có tinh thần dám nghĩ, dám làm, lao động sáng tạo, đạt năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công tác cao, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đơn vị, địa phương, ngành và đất nước. 2. Có nhiều thành tích trong công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới: có sáng kiến cải tiến hoặc giải pháp có giá trị, có sản phẩm, công trình khoa học có giá trị, được ứng dụng trong sản xuất, công tác đem lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội. 3. Có trình độ chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ giỏi. 4. Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước. 5. Là hạt nhân xây dựng sự đoàn kết nhất trí trong tập thể. 6. Đã có bằng khen, giải thưởng cấp tỉnh trở lên. D. CÁCH THỨC THAM GIA BÌNH CHỌN Giải thưởng Đối tượng GIẢI THƯỞNG “TOP 100 DOANH NGHIỆP TIÊU BIỂU XUẤT SẮC” Các doanh nghiệp, đơn vị đang hoạt động trên mọi lĩnh vực tại các nước Asean, đặc biệt ba nước Đông Dương (Việt Nam – Lào – Campuchia) 3 Hồ sơ tham dự bình chọn 1. Báo cáo các nội dung sau: – Quá trình hình thành và phát triển – Kết quả hoạt động kinh doanh trong hai năm gần nhất – Trách nhiệm của đơn vị, doanh nghiệp đối với người lao động – Công tác xã hội trong hai năm gần đây – Triển vọng tương lai – Quan hệ hợp tác với các đơn vị của Việt Nam – Lào – Campuchia (nếu có) 2. Các giấy chứng nhận: giải thưởng đã đạt được (photo) 3. Công văn: Tự đề nghị hoặc do tổ chức khác giới thiệu 4. Bản đăng ký: Tham dự bình chọn 5. Tài liệu phục vụ truyền thông: Một số hình ảnh hoạt động của Doanh nghiệp, 1 trang quảng cáo A4 (Để đăng trên Cẩm nang doanh nghiệp tập XII, 2014)
    • Bình chọn và Trao tặng Giải thưởng “Top 100 Doanh nghiệp Tiêu biểu Xuất sắc” Giải thưởng “Top 100 Thương hiệu, Dịch vụ, Sản phẩm Hội nhập Quốc tế” Giải thưởng “Top 100 Nhà Quản lý Tài Đức” Việt Nam - Lào - Campuchia, Năm 2013 GIẢI THƯỞNG “TOP 100 THƯƠNG HIỆU, DỊCH VỤ, SẢN PHẨM HỘI NHẬP QUỐC TẾ” Các đơn vị, doanh nghiệp; bệnh viện, trường học, HTX, các khách sạn, nhà hàng, các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài… hiệu 1. Báo cáo các nội dung sau: – Quá trình hình thành và phát triển – Thành tích trong hai năm gần nhất – Tình hình về sử dụng vốn, Công nghệ, lao động – Những nỗ lực xây dựng và phát triển thương – Bản giới thiệu sản phẩm: Chức năng, công dụng, tính chất… – Triển vọng trong tương lai – Quan hệ hợp tác với các đơn vị của Việt Nam – Lào – Campuchia (nếu có) 2. Các giấy chứng nhận: giải thưởng đã đạt được (photo) 3. Công văn: Tự đề nghị hoặc do tổ chức khác giới thiệu 4. Một số hình ảnh: về hoạt động của Doanh nghiệp, 1 trang quảng cáo A4 (Để đăng trên Cẩm nang doanh nghiệp tập XII, 2014) 5. Bản đăng ký tham dự bình chọn 6. Logo của đơn vị: In 01 trang A4 màu hoặc gửi đĩa CD Báo cáo: – Giới thiệu sản phẩm: Chức năng, công dụng, tính Sản phẩm, Dịch vụ GIẢI THƯỞNG “TOP 100 NHÀ QUẢN LÝ TÀI ĐỨC” chất… – Gửi kèm các hình ảnh và các giấy chứng nhận giải thưởng (photo) 1. Báo cáo thành tích cá nhân có xác nhận của cơ quan hoặc các tổ chức giới thiệu khác. Bao gồm: – Quá trình công tác và những nỗ lực trong công tác quản lý, điều hành, những sáng kiến, giải pháp có giá - Các cá nhân trị, sản phẩm, công trình khoa học có giá trị được ứng gồm: Các nhà dụng trong sản xuất, công tác đem lại hiệu quả cao cho quản lý, TGĐ, đơn vị và cho xã hội. CTHĐQT, Giám – Công tác xã hội từ thiện và các hoạt động vì cộng đồng đốc, các thành viên HĐQT, Thành 2. Giấy chứng nhận giải thưởng đã đạt được (Photo) 3. Bản đăng ký tham dự bình chọn viên Ban Giám 4. Tài liệu phục vụ truyền thông: đốc, Giám đốc – Một số hình ảnh quá trình công tác, hoạt động xã hội điều hành, Hiệu trong đó có cá nhân tham dự bình chọn trưởng, Chủ nhiệm – 02 ảnh 4x6 + name card của cá nhân tham dự bình chọn HTX … 4
    • Bình chọn và Trao tặng Giải thưởng “Top 100 Doanh nghiệp Tiêu biểu Xuất sắc” Giải thưởng “Top 100 Thương hiệu, Dịch vụ, Sản phẩm Hội nhập Quốc tế” Giải thưởng “Top 100 Nhà Quản lý Tài Đức” Việt Nam - Lào - Campuchia, Năm 2013 E. BAN TỔ CHỨC & BAN GIÁM KHẢO BÌNH CHỌN l Đồng Trưởng Ban: – Ông Nam Vị Nhạ Kệt – Bộ trưởng Bộ Công thương Lào – Ông Bo Seng Kham Vongdara – Bộ trưởng Bộ Thông tin – Văn hóa và Du lịch Lào – Gs. Vs Đặng Vũ Minh – Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam – Ông Vũ Mão – Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Campuchia – GS. Hoàng Chương - TGĐ Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn & Phát huy Văn hóa dân tộc Việt Nam – Ông Nguyễn Văn Biên – Phó Chủ tịch thường trực Liên minh các Hợp tác xã Việt Nam – Gs. Ts Phạm Đức Dương – Chủ tịch Hội Nghiên cứu Khoa học Đông Nam Á – Ông Lê Khắc Triết – Chủ tịch Hiệp hội Doanh Nghiệp Nhỏ và Vừa ngành nghề nông thôn Việt Nam l Phó Trưởng Ban: - TS. Phạm Việt Long - Tổng Biên tập Tạp chí Văn hiến Điện tử Việt Nam - Nhà báo Trần Đức Trung - Phó Tổng Biên tập thường trực Tạp chí Văn hiến Việt Nam l Các Thành viên Ban Giám khảo: – Thiếu tướng Nguyễn Quang Thống – Nguyên Tổng Biên tập Báo Quân đội Nhân dân – Ông Trần Đức Chính – Nguyên Tổng Biên tập Báo Nhà báo và Công luận – TS. Phạm Tất Thắng – Phó TBT Tạp chí Cộng sản – TS. Bùi Đặng Dũng – Ủy ban tài chính, Ngân sách Quốc hội – TS. Hoàng Hải – Tổng Biên tập Tạp chí Mặt trận Việt Nam – TS. Nguyễn Minh San – Phó Tổng Biên tập Tạp chí Văn hiến Việt Nam – TS. Hoàng Xuân Hòa – Phó Vụ trưởng Văn phòng Trung ương Đảng – NSƯT, Nhạc sỹ Nguyễn Thế Phiệt – CVP Trung tâm NC Bảo tồn và Phát huy VHDT Việt Nam l Ban Tổ chức sẽ mời một số thành phần tham gia Ban giám khảo gồm: Đại diện Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội; Đại diện Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch; Đại diện Bộ Thông tin Truyền thông Việt Nam, Lào, Campuchia; Đại diện Đại sứ quán Lào, Campuchia; Đại diện nhiều cơ quan thông tấn báo chí, nhiều nhà khoa học uy tín trong và ngoài nước… E. BAN THƯ KÝ l Trưởng ban (Tổng Thư ký): – Nhà báo Trần Đức Trung – Phó Tổng Biên tập thường trực Tạp chí Văn hiến Việt Nam l Phó Trưởng ban: – Bà Lê Hằng – Đại sứ Thiện chí Vì sự nghiệp Phát triển Nông thôn mới – Ông Trần Bắc – Giám đốc đối ngoại – Ông Han Kuk Sang – Chủ tịch HĐQT Công ty đầu tư HK & MI – Ông Trần Đức Thành – Giám đốc Công ty TNHH Thương mại XNK Phết Mung Khun - Lào 5
    • Bình chọn và Trao tặng Giải thưởng “Top 100 Doanh nghiệp Tiêu biểu Xuất sắc” Giải thưởng “Top 100 Thương hiệu, Dịch vụ, Sản phẩm Hội nhập Quốc tế” Giải thưởng “Top 100 Nhà Quản lý Tài Đức” Việt Nam - Lào - Campuchia, Năm 2013 – Bà Trần Ánh Tuyết – Giám đốc đối ngoại Công ty Cổ phần Văn hóa Thông tin – Ông Nguyễn Thanh Phúc – Giám đốc Công ty CP Đầu tư Thương mại & Truyền thông Đông Á l Các ủy viên: Trần Minh, Chung Thủy, Trần Thủy, Quang Anh, Nguyễn Trang, Giáng Son, Thu Huệ, Thu Hường, Phạm Huyền, Nguyễn Ánh, Thùy Linh, Quang Thắng, Thu Trà, Thu Hiền, Lê Hằng, Thu Hồng, Bùi Phương, Bùi Dán, Thanh Nga, Lê Trang, Hồng Thúy, Hồng Thắm, Ngọc Minh, Ngọc Hoa, Thanh Mai, Thu Hoài, Duy Thưởng, Tăng Kiên, Quang Trung, Trường Nam … l Chức năng Ban Thư ký (BTK): ): Liên hệ, hướng dẫn các đơn vị làm hồ sơ tham dự bình chọn và mời tài trợ, quảng cáo trong chương trình. G. QUY CHẾ CHẤM GIẢI: 1. Ban Giám khảo sơ bộ kiểm phiếu bình chọn theo sự giới thiệu của UBND các Tỉnh, Thành phố, các Bộ, Sở, Ban, các Tập đoàn, Tổng Công ty, các Hiệp hội, các Viện, Trường học, các Doanh nghiệp... 2. Ban tổ chức sẽ kết hợp các cấp có thẩm quyền, các nhà khoa học, các nhà báo và chuyên gia có uy tín để tuyển chọn và thẩm định, tổng hợp, phân tích một cách công bằng nhất. 3. Kết quả bình chọn do Ban tổ chức công bố là kết quả cuối cùng để được nhận Giải thưởng “Top 100 Doanh nghiệp tiêu biểu xuất sắc”; “Top 100 Thương hiệu, Dịch vụ, Sản phẩm hội nhập Quốc tế”; và “Top 100 Nhà quản lý Tài Đức” Việt Nam – Lào – Campuchia, năm 2013. l Lưu ý: - Các đơn vị và cá nhân thấy đủ điều kiện có thể trực tiếp gửi hồ sơ tới Ban tổ chức. - Ưu tiên các đơn vị, cá nhân gửi hồ sơ sớm. - Gửi Hồ sơ theo đường bưu điện hoặc qua Email: trantrungvanhien@gmail.com H. TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN: – Tháng 9/2013: Thông báo Điều lệ bình chọn. Đồng thời, Điều lệ này được triển khai và gửi đến UBND các Tỉnh, Thành phố, các Bộ, Ban, Ngành, các Sở, các Tập đoàn, Tổng Công ty, Hiệp hội, các Doanh nghiệp và các cơ quan liên quan tại Việt Nam – Lào – Campuchia. – Ngày 16/11/2013: kết thúc nhận giới thiệu của các tổ chức (theo dấu bưu điện). – Ngày 16/12/2013: Kết thúc nhận hồ sơ tham gia bình chọn. – Ngày 21/12/2013: Hoàn chỉnh thủ tục và Chấm Sơ khảo. – Ngày 28/12/2013: Hội đồng Chung khảo bình chọn. – Đầu tháng 02/2014: Tổ chức trao giải thưởng trang trọng tại Thủ đô Vientiane – Lào. Lễ trao giải thưởng sẽ được truyền hình trực tiếp trên Đài Truyền hình Quốc gia Nước CHDCND Lào và được phát lại trên , hoặc hoặc 6
    • Bình chọn và Trao tặng Giải thưởng “Top 100 Doanh nghiệp Tiêu biểu Xuất sắc” Giải thưởng “Top 100 Thương hiệu, Dịch vụ, Sản phẩm Hội nhập Quốc tế” Giải thưởng “Top 100 Nhà Quản lý Tài Đức” Việt Nam - Lào - Campuchia, Năm 2013 I. HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN GIẢI THƯỞNG “TOP 100 DOANH NGHIỆP TIÊU BIỂU XUẤT SẮC”; GIẢI THƯỞNG “TOP 100 THƯƠNG HIỆU, DỊCH VỤ, SẢN PHẨM HỘI NHẬP QUỐC TẾ” VÀ GIẢI THƯỞNG “TOP 100 NHÀ QUẢN LÍ TÀI ĐỨC” NĂM 2013 l Các đơn vị, cá nhân đoạt cúp sẽ được hưởng các quyền lợi sau: 1. Cúp vàng, Giải thưởng + Biểu trưng chứng nhận của BTC 2. Được đăng tên, logo trên: Tạp chí Văn hiến Việt Nam, Tạp chí Doanh nghiệp và Thương hiệu, trên phướn lớn dựng tại lễ trao giải thưởng. 3. Đăng tên, logo trên Website: http://www.camnangdoanhnghiep.com.vn 4. Được viết bài giới thiệu về cá nhân hoặc đơn vị đăng trên Tạp chí Văn hiến Việt Nam hoặc Tạp chí Doanh nghiệp và Thương hiệu. 5. Được đăng thông tin 01 trang A4, 4 màu trên “Cẩm nang doanh nghiệp Việt Nam”, tập XII, song ngữ Việt – Anh, phát hành năm 2014. 6. Được tặng 01 đĩa DVD hình ảnh và 01 đĩa DVD ghi lại toàn bộ chương trình. 7. Được mời tham gia các Hội chợ trong nước và Quốc tế. 8. Được Tổ chức trao giải thưởng trang trọng tại Thủ đô Vientiane – Lào. l Điều lệ này đã được Ban Tổ chức thống nhất thông qua, ủy quyền cho Tạp chí Doanh nghiệp & Thương hiệu là đơn vị thường trực Ban Tổ chức và Công ty CP Văn hóa Việt Nam, Công ty TNHH Thương mại XNK Phết Mung Khun - Lào cùng Ban Thư ký liên hệ, hướng dẫn các đơn vị làm hồ sơ tham dự bình chọn ký kết hợp đồng tài trợ, quảng cáo, tuyên truyền trong chương trình. Xin liên hệ: BAN TỔ CHỨC BÌNH CHỌN VP1: Số 64 Phố Trung Hòa (Số 6, Lô 12B cũ) Khu ĐTM Trung Yên, Quận Cầu Giấy, Hà Nội VP2: Số 404 Đường Bưởi, Quận Ba Đình, Hà Nội Tel: (+84) 437717665 * Fax: (+84) 437718875 * Mobile: (+84) 989186661 (Mr. Trung) (+856) 2098268926 - (+856) 2055225673 (Mr.Thành, Vp tại Lào) Email: trantrungvanhien@gmail.com Website: http://www.camnangdoanhnghiep.com.vn http://www.doanhnghiepthuonghieu.com.vn / www.tinnhanh24.vn / www.vanhien.net 7