• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
Motsophuongphapxulynuoconhiem
 

Motsophuongphapxulynuoconhiem

on

  • 1,424 views

 

Statistics

Views

Total Views
1,424
Views on SlideShare
1,424
Embed Views
0

Actions

Likes
2
Downloads
43
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Motsophuongphapxulynuoconhiem Motsophuongphapxulynuoconhiem Document Transcript

    • TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA SƯ PHẠM Sinh viên thực hiện: PHAN ANH ĐÀO Mã số sinh viên: DHH 021092 MỘT SỐ PHƯƠNGPHÁP XỬ LÝ NƯỚC Ô NHIỄM Giáo viên hướng dẫn: Th.S. NGUYỄN VĂN THẠT An Giang, năm 2004
    • NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
    • NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
    • LỜI CẢM TẠ ----- ----- Đề tài này được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô KhoaSư Phạm, Trường Đại Học An Giang và các cô chú, anh chị ở Sở Tài Nguyên VàMôi Trường. Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đối với: _ Thầy hướng dẫn : Thạc sĩ NGUYỄN VĂN THẠT đã tận tình chỉ bảoem trong suốt thời gian làm đề tài. _ Ban Giám Hiệu Trường Đại Học An Giang, Ban Chủ Nhiệm Khoa SưPhạm đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ em thực hiện đề tài. _ Các cô chú, anh chị ở Sở Tài Nguyên Và Môi Trường đã cung cấp choem những số liệu cần thiết để bổ sung vào đề tài. Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô Khoa SưPhạm, bộ môn Hóa đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu làm cơ sở choem thực hiện đề tài này.
    • LỜI NÓI ĐẦU ----- ----- Trong môi trường sống nói chung, vấn đề bảo vệ và cung cấp nước sạch làvô cùng quan trọng. Đồng thời với việc bảo vệ và cung cấp nước sạch, việc thảivà xử lý nước thải trước khi đổ vào nguồn là một vấn đề bức xúc đối với toàn thểloài người. Trong những năm gần đây,cùng với sự phát triển của nền công ghiệp nướcta, tình hình ô nhiễm môi trường cũng gia tăng đến mức báo động. Do đặc thù củanền công nghiệp mới phát triển, chưa có sự quy hoạch tổng thể và nhiều nguyênnhân khác nhau như: điều kiện kinh tế của nhiều xí nghiệp còn khó khăn, hoặc dochi phí xử lý ảnh hưởng đến lợi nhuận nên hầu như chất thải công nghiệp củanhiều nhà máy chưa được xử lý mà thải thẳng ra môi trường. Mặt khác nước ta làmột nước đông dân, có mật độ dân cư cao, nhưng trình độ nhận thức của conngười về môi trường còn chưa cao, nên lượng chất thải sinh hoạt cũng bị thải ramôi trường ngày càng nhiều. Điều đó dẫn tới sự ô nhiễm trầm trọng của môitrường sống, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của đất nước, sức khỏe, đờisống của nhân dân cũng như vẻ mỹ quan của khu vực. Trong đó, ô nhiễm nguồn nước là một trong những thực trạng đáng ngạinhất của sự hủy hoại môi trường tự nhiên do nền văn minh đương thời. Ngày nayvấn đề xử lý nước và cung cấp nước sạch đang là một mối quan tâm lớn củanhiều quốc gia, nhiều tổ chức xã hội và chính bản thân mỗi cộng đồng dân cư. Vàđây cũng là một vấn đề cấp bách cần giải quyết của nước ta trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhằm mục đích góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống của con người,em chọn đề tài “MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XƯ LÝ NƯỚC Ô NHIỄM “.Trong đề tài này, em trình bày một cách cô đọng về thực trạng ô nhiễm nguồnnước và một số phương pháp xử lý nước hiện nay thông qua các tài liệu có liênquan mà em có điều kiện tham khảo được. Với sự cố gắng thực sự khi nghiên cứu một vấn đề khoa học nhưng khôngthể tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự hướng dẫn và đóng góp của quýthầy cô và các bạn.
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào MỤC LỤCMục lục ..........................................................................................................7Phần I: ...........................................................................................................10 1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................11 2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................11 3. Đối tượng nghiên cứu ...........................................................................11 4. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................11 5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................11Phần II: Tổng quan ..................................................................................12Giới thiệu thông số đánh giá sự ô nhiễm nước .....................................13 A. Tình hình ô nhiễm và các vấn đề môi trường trên thế giới và ở Việt Nam ..............................................................................15 I. Tình trạng môi trường thế giới ..................................................................15 II. Tình trạng môi trường Việt Nam...............................................................19 B. Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới và ở Việt Nam ..................21 I. Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới.......................................................21 II. Tình trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam.......................................................21 II.1. Tình hình chung..................................................................................21 II.2. Ở đồng bằng Sông Cửu Long ............................................................22 II.3. Ở An Giang.........................................................................................23 C. Phân loại nước ô nhiễm và tính chất của nó ..................................25Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 7
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào I. Phân loại ...................................................................................................25 II. Tính chất ..................................................................................................26Phần III: Các phương pháp xử lý nước ô nhiễm ......................31 I. Các phương pháp sinh học ..................................................................32 I.1. Các phương pháp hiếu khí.....................................................................33 I.2. Các phương pháp thiếu khí....................................................................35 I.3. Các phương pháp kỵ khí ........................................................................35 II. Các phương pháp hóa lý .....................................................................36 II.1. Lọc qua song chắn rác ..........................................................................36 II.2. Lắng tụ ..................................................................................................37 II.3. Lọc.........................................................................................................38 II.4. Đông tụ và keo tụ ..................................................................................39 II.5. Tuyển nổi...............................................................................................41 II.6. Hấp phụ.................................................................................................45 II.7. Trao đổi ion ...........................................................................................46 II.8 Thẩm thấu ngược...................................................................................47 II.9. Siêu lọc..................................................................................................48 II.10. Thẩm tách và điện thẩm tách ..............................................................49 II.11. Các phương pháp điện hóa.................................................................49 III. Các phương pháp hóa học ................................................................52 III.1. Phương pháp trung hòa .......................................................................52 III.2. Phương pháp oxy hóa và khử..............................................................54 III.3. Loại kim loại nặng ................................................................................57 IV. Các phương pháp hóa sinh ...............................................................62Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 8
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào IV.1. Xử lý nước thải trong điều kiện tự nhiên..............................................63 IV.2. Xử lý nước thải trong điều kiện nhân tạo .............................................64 .Các công trình xử lý phụ khác ....................................................................66 I. Khử trùng nước thải ..................................................................................66 I.1. Khử trùng bằng phương pháp vật lý....................................................66 I.2. Khử trùng bằng phương pháp hóa học ...............................................67 II. Khử mùi và vị ...........................................................................................68 III. Loại chất phóng xạ ..................................................................................68Phần IV. Kết luận......................................................................................70Tài liệu tham khảo .............................................................................................74Phụ lục...............................................................................................................76Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 9
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoPHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNGĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 10
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoI. Lý do chọn đề tài: Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nướcnói riêng đang là một thực trạng đáng lo ngại. Vấn đề xử lý nước và cung cấpnước sạch đang là một mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức xãhội và chính bản thân của mỗi cộng đồng dân cư, nước ta cũng không ngoại lệ. Nhằm góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống của con người, em đãchọn đề tài này.II. Mục đích nghiên cứu: _ Nhằm phát huy tính tích cực học tập của sinh viên. _ Tập cho sinh viên bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học. _ Viết phần tổng quan lí thuyết về thực trạng ô nhiễm môi trường, ônhiễm nguồn nước và các phương pháp làm sạch nước.III. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề ô nhiễm môi trường nóichung, ô nhiễm nguồn nước nói riêng và các phương pháp xử lý nước.IV. Nhiệm vụ nghiên cứu: Tìm và đọc những tài liệu có liên quan đến đề tài, sau đó tổng hợp vàtrình bày một cách cô đọng, tương đối đầy đủ về thực trạng ô nhiễm môitrường, ô nhiễm nguồn nước và các phương pháp xử lý nước hiện nay.V. Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết như: phân tích, tổng hợplý thuyết, phân loại, hệ thống hoá lý thuyết,...Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 11
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoPHẦN II: TỔNG QUANĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 12
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào GIỚI THIỆU THÔNG SỐ ĐÁNH GIÁ SỰ Ô NHIỄM CỦA NƯỚC THẢI: • Giá trị pH của nước. • Hàm lượng chất rắn lơ lửng ở dạng huyền phù (Suspended Solid – SS):là phần chất rắn không tan bị giữ lại trên giấy lọc tiêu chuẩn. Đơn vị đo: mg/l. • Màu: thường được xác định bằng phương pháp so màu với các dungdịch chuẩn là clorophantinat coban. Đơn vị: Pt – Co. • Tổng cacbon hữu cơ (Total Organic Carbon – TOC): là chỉ số phản ánhlượng cacbon hữu cơ tổng cộng có trong một mẫu vật, được tính bằng tỉ lệ giữakhối lượng cacbon so với khối lượng hợp chất hữu cơ. Đơn vị: mg/l. • Nhu cầu oxy tổng cộng (Total Oxygen Demand – TOD): là chỉ số phảnánh lượng oxy tổng cộng cần thiết để oxy hoá các chất hữu cơ và vô cơ cótrong nước thải. Đơn vị: mg/l. • Nhu cầu oxy sinh hoá (Biochemical Oxygen Demand – BOD) là chỉ sốphản ánh lượng oxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hữu có trong mẫu nướcnhờ hoạt động sống của vi sinh vật. BOD thể hiện được lượng chất hữu cơ dễbị phân huỷ có trong nước mẫu. Đơn vị: mg/l. • Nhu cầu oxy hoá học (Chemical Oxygen Demand – COD): là chỉ số phảnánh lượng oxy cần thiết để oxy hoá các chất có nhu cầu về oxy trong nứơcmẫu. Giá trị COD thể hiện toàn bộ các chất hữu cơ có thể bị oxy hoá bằng tácnhân hoá học và luôn cao hơn giá trị BOD. Đơn vị: mg/l. • Hàm lượng các kim loại và kim loại nặng: asen, cadimi, chì, niken, crom,sắt, kẽm, mângn, thuỷ ngân, thiếc,... Đon vị: mg/l. • Hàm lượng dầu mỡ khoáng, dầu động thực vật. Đon vị: mg/l. • Photpho tổng số, photpho hữu cơ. Đơn vị: mg/l. • Tổng nitơ, amoniac theo nitơ. Đơn vị: mg/l. • Hàm lượng florua, clorua, sunfua. Đơn vị: mg/l. • Hàm lượng phenol, xianua. Đơn vị: mg/l.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 13
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào • Coliform: là chỉ số cho biết số lượng các vi khuẩn gây bệnh đường ruộttrong mẫu nước. Đơn vị: MPN/100ml.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 14
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoA. Tình hình ô nhiễm và các vấn đề môi trường trênthế giới và ở Việt Nam: I. Tình trạng môi trường thế giới: Vài thập niên gần đây, khủng hoảng môi trường trầm trọng hơn. Sựphá hoại sinh thái gia tăng, hố ngăn cách giàu nghèo càng rộng thêm và trẻ emtrở thành những nạn nhân đầu tiên của sự quản lí kém cỏi về môi trường. Theo một báo cáo quan trọng hàng đầu của Liên Hiệp Quốc về môitrường ( UNEP ), sự ô nhiễm không khí và nước biên giới tiếp tục gia tăng, theođó sự phá rừng mở rộng diện tích sa mạc, sự giảm sức sản xuất nông nghiệp, tỉlệ gia tăng dân số quá nhanh trong lịch sử nhân loại. Sự tàn phá đó đã dẫn đếntầm vóc hành tinh và bao gồm sự giảm tầng ozone, sự thay đổi khí hậu và sựnóng lên toàn cầu, sự gia tăng chất thải độc hại và sự tuyệt chủng của hàngloạt sinh vật. Báo cáo của GEO-3 ( Báo cáo Viễn cảnh Môi trường Toàn cầu )về tình trạng môi trường 1972-2002 có những kết luận sau: • Đất: Động lực chính tạo ra các áp lực đối với tài nguyên đất chính là sự giatăng dân số toàn cầu. So với năm 1972, thế giới hiện nay có thêm khoảng 2,2 tỷmiệng ăn. Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, diện tích đất được canh tácđã tăng từ dưới 125 triệu ha năm 1972 lên tới hơn 175 triệu ha . Tưới tiêu quánhiều hay quản lý kém đều có thể dẫn tới suy thoái đất do các tác động củamặn hóa. Hơn 10% - tương đương 25-30 triệu ha đất được tưới tiêu trên thếgiới được xếp là đất bị thoái hóa nghiêm trọng . Xói mòn là nhân tố chính của quá trình thoái hóa đất. Khoảng 2 tỷ ha đấttrên thế giới, lớn hơn cả nước Mỹ và Mexico cộng lại, được xem là thoái hóa docác hoạt động của con người . Một phần sáu diện tích đất này, khoảng 305 triệuha được xếp là loại đất thoái hóa mạnh hoặc cực kỳ nghiêm trọng. Đất bị thoáihóa nghiêm trọng càng trở nên tồi tệ hơn do không thể khôi phục lại . Các dạng thoái hóa chính là xói mòn do nước (56%); xói mòn do gió(28%); thoái hóa hóa học (12%) và những tổn hại về mặt vật lý hoặc kết cấu(4%). Chăn thả quá mức cũng là nguyên nhân gây thoái hóa (35%); phá rừng(30% ); nông nghiệp (27%); hủy hoại thảm thực vật (7%) và các hoạt động côngnghiệp (1%).Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 15
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Điểm nổi bật trong 30 năm qua chính là sự phát triển của đô thị , diễn rahầu hết ở các gia đình khu vực Đông Nam Á và các đảo Thái Bình Dương. • Nước sạch: Khoảng một nửa các sông trên thế giới bị cạn kiệt nghiêm trọng và bị ônhiễm. 60% trong số 227 con sông lớn nhất thế giới bị chia cắt ở mức cao vàtrung bình do xây dựng các đập và các công trình kỹ thuật khác. Các lợi ích gồm tăng sản lượng lương thực và thủy điện. Song các thiệthại không thể khôi phục lại xảy ra đối với các vùng đất ngập nước và các hệsinh thái khác. Từ những năm thập kỷ 50, đã có 40-80 triệu người đã phải didời. Một phần ba dân số thế giới – tương đương 2 tỷ người phụ thuộc vàocác nguồn cung cấp nước ngầm. Ở một số nước như các vùng của Ấn Độ,Trung Quốc, Tây Á, gồm Bán đảo Arabia, Liên Xô cũ và phía Tây nước Mỹ, cácmực nước ngầm hạ xuống là kết quả của sự khai thác quá mức nguồn nướcnày. Bơm hút quá mức có thể dẫn đến sự xâm nhập mặn ở các vùng venbiển. Ví dụ, nhiễm mặn đã lấn sâu vào đất liền hơn 10 km ở Madras - Ấn Độ -trong những năm gần đây. Gần 80 nước, chiếm tới 40% dân số thế giới đang trong tình trạng thiếunước nghiêm trọng kể từ giữa thập kỷ 90. Có khoảng 1,1 tỷ người không cónước sạch an toàn và 2,4 tỷ người được hưởng các điều kiện vệ sinh đã đượccải thiện, chủ yếu ở Châu Phi và Châu Á. Tuy nhiên, tỷ lệ người dân có được các nguồn cấp nước đã được cảithiện mới chỉ tăng từ 4,1 tỷ người , chiếm 79% dân số thế giới (năm 1990)đến 4,9 tỷ người, chiếm 82% dân số thế giới (năm 2000). Thiệt hại do các bệnh liên quan đến nước lại thật sự tăng nhanh. Hai tỷngười chịu rủi ro vì bệnh sốt rét, trong đó 100 triệu người có thể bị ảnh hưởngbất cứ lúc nào và hàng năm số người tử vong vì căn bệnh này là 2 triệu người.Ngoài ra, có khoảng 4 tỷ trường hợp khác bị mắc bệnh tiêu chảy và số tử vonghàng năm là 2,2 triệu người. Các bệnh lây nhiễm đường ruột do giun làm khổ sở 10% dân số ở cácnước đang phát triển. Có tới 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột. Khoảng200 triệu người khác bị ảnh hưởng do bệnh sán máng là nguyên nhân gây bệnhgiun trong máu ở người. • Rừng và đa dạng sinh học:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 16
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Tổ chức nông lương thế giới (FAO) ước tính rừng che phủ một phần babề mặt Trái đất-3866 triệu ha giảm 2,4% kể từ năm 1990.Các mức giảm nhiềunhất là ở Châu Phi, nơi có 5,6 triệu ha hay 0,7% độ che phủ rừng đã bị mấttrong các thập kỷ qua. Sản lượng gỗ toàn cầu đạt tới 3335 triệu m3, một nửa trong số này đượcdùng làm nhiên liệu, nhất là ở các nước đang phát triển. Các phương pháp khai thác gỗ thương mại thường mang tính phá hủy,ví dụ ở Tây Phi, 2m3 gỗ cây bị phá hủy để tạo ra 1m3 gỗ xẻ. Cuối năm 2000, 2% diện tích đã được cấp chứng nhận quản lý rừng bềnvững theo các chuơng trình của Hội đồng Quản lý rừng. Hầu hết các diện tíchrừng này ở Canađa, Phần Lan, Đức, Na Uy, Ba Lan, Thụy Điển và Mỹ. Các khu rừng ngập mặn, vùng lãnh hải, các bãi ương nuôi và cư trú củacá, các vùng trú đông của các loài chim di cư đang bị đe dọa bởi các tác độngnhư khai thác quá mức gỗ và nhiên liệu, phát triển du lịch và phát triển ven bờ.Gần 50% việc phá hủy rừng ngập mặn hiện nay là do chặt phá rừng để pháttriển các diện tích nuôi tôm. Suy giảm và chia cắt các nơi cư trú như rừng, đất ngập nuớc, các bãi lầyrừng ngập mặn đã làm tăng thêm các áp lực đối với đời sống hoang dã trên thếgiới. 12% hay 1183 loài chim và gần ¼ hay 130 các loài động vật có vú hiệnđang bị đe dọa ở qui mô toàn cầu. Trong các năm gần đây cùng với sự biến đổi khí hậu, sự xâm lấn của cácloài ngoại lai từ một khu vực thế giới tràn sang các khu vực khác làm nảy sinhmối đe dọa đáng chú ý. Các loài ngoại lai thường không có các loài thiên địch tựnhiên ở các nơi cư trú mới và như vậy có thể chiếm lấy nguồn thức ăn và vùngsinh sản của các loài bản địa. Ước tính từ 1939, có 497 loài ngoại lai sống trong môi trường nước ngọtvà môi trường biển đã xâm nhập vào môi trường thủy sản. Từ 1980-1998, sốloài này ước tính tăng lên 2.214 loài. Tổng diện tích các khu bảo tồn, như vườn quốc gia đã tăng lên 2,78 triệukm2 từ 1970 đến 12,18 triệu ha vào năm 2000. Số lượng các khu vực bảo tồntăng từ 3.392 đến 11.496 địa điểm trong cùng thời kỳ. Một cuộc khảo sát 93 khubảo tồn cho thấy hầu hết các khu này đã rất thành công trong việc ngăn chặnkhai hoang đất và không mở rộng phạm vi các vấn đề như khai thác gỗ, sănbắt, cháy rừng và chăn thả gia súc. Qui định ngừng săn bắt cá voi thương mạiáp dụng từ giữa thập niên 1980 dường như đã mang lại thành công đáng kể. • Vùng duyên hải và biển:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 17
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Vào 1994, ước tính 37% dân số toàn cầu sẽ sống trong phạm vi 60 kmgần bờ biển, nhiều hơn số dân trên hành tinh này năm 1950. Trên toàn cầu, nước cống rãnh là nguồn gây nhiễm bẩn, do khối lượngcác dòng thải lớn nhất ở các nước đang phát triển tăng lên và là hậu quả củaquá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, tăng dân số và thiếu qui hoạch, cũngnhư ít đầu tư vào hệ thống thoát nước và các trạm xử lý nước thải. Chương trình hành động toàn cầu của UNEP bảo vệ môi trường biểntrước các hoạt động từ đất liền đã được khởi xướng năm 1995 và được tiếp tụcthúc đẩy vào năm 2001. Giảm thiểu các dòng thải không được xử lý là một mục tiêu quan trọng . Tác động của kinh tế toàn cầu đối với ô nhiễm biển về mặt bệnh tật vàsức khỏe con người đã tiêu tốn gần 13 tỷ đô la. Nước cống rãnh cùng với các dòng thải có chứa phân bón trong đất,phát thải từ ô tô và các động cơ khác đã làm giàu thêm nguồn dinh dưỡng nitơở các biển và đại dương. Từ 1991-1992, nông dân nuôi cá ở Hàn Quốc đã bị thiệt hại 133 triệu đôdo sự bùng nổ của các loài tảo độc, hay còn gọi là thủy triều đỏ xuất hiện domôi trường quá giàu chất dinh dưỡng. Sử dụng phân bón ngày càng tăng ở các nước đang phát triển, còn ởcác nước phát triển đã ổn định hơn. Các mối đe dọa khác đối với đại dương gồm biến đổi khí hậu, tràn dầuvà các dòng thải có chứa các kim loại nặng, các chất ô nhiễm hữu cơ tồn lưu(POPs) và rác. Sự bồi lắng là hậu quả của các phát triển ven bờ, nông nghiệpvà phá rừng đã trở thành các mối đe dọa lớn trên toàn cầu đối với các rạn sanhô, đặc biệt ở Caribê, Ấn Độ Dương, Nam và Đông Nam Á. Ô nhiễm biển là mục tiêu chính của Chương trình biển Khu Vực UNEP,trong đó có sự ký kết hiệp định biển khu vực Đông Bắc Thái Bình Dương vàotháng 3/2002, là nơi bao phủ phần lớn môi trường biển của hành tinh. Các nước đã cùng nhau thông qua Hiệp ước Stockholm về 12 chất ônhiễm hữu cơ tồn lưu vào đầu năm 2001. Gần một phần ba trữ lượng cá thế giới đang ở ngưỡng cửa cạn kiệt, dobị đánh bắt quá mức bởi được nhận sự trợ cấp khoảng 20 tỷ đô la mỗi năm. • Khí quyển:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 18
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Suy giảm tầng ozone, có tác dụng bảo vệ sự sống trước tia cực tím, đãđạt tới mức kỷ lục. Vào tháng 9/2000, lỗ thủng tầng ozone ở Nam Cực đã mởrộng hơn 28 triệu km2. Nghị định thư Montreal được thông qua năm 1987. Sản lượngchloroflurocarbons (CFCs), chất chính phá hủy tầng ozone, đạt đỉnh điểm vàonăm 1988 và hiện nay được duy trì ở mức rất thấp. Hơn 1,1 tỷ đô la dành cho 114 nước đang phát triển dùng để loại bỏ cácchất làm suy giảm tầng ozone. Vào năm 2000, tổng mức tiêu thụ các hóa chấtnày đã làm giảm 85%. Tầng ozone hy vọng sẽ phục hồi bằng các mức trướcnhững năm 80 vào giữa thế kỷ 21. Các nồng độ cacbon dioxide ( CO2 ), khí chính gây nóng lên toàn cầuhiện duy trì ở mức cao hơn 30% so với 1750. Nồng độ các khí nhà kính khácnhư metan và halocacbon cũng tăng lên. Châu Á và Thái Bình Dương phát thải 2.167 triệu tấn CO2 vào năm1998, tiếp theo là châu Âu: 1677 triệu tấn, Bắc Mỹ : 1614 triệu tấn, Mỹ Latin vàCaribê: 365 triệu tấn, châu Phi: 223 triệu tấn, Tây Á: 187 triệu tấn. Năm 1997, các nước công nghiệp đã thông qua nghị định thư Kyoto,đòi hỏi các nước này phải giảm thiểu khí nhà kính thấp hơn 5% so với các mứcnăm 90 trong thời gian từ 2008-2012. Nghị định thư đồng thời kêu gọi các cơchế linh hoạt cho phép các nước được bù lại các mức phát thải của mình bằngcác hành động ở nước ngoài. Ví dụ, Cơ chế Phát Triển Sạch cho phép cácnước trồng cây xanh và có các chương trình năng lượng xanh dự phòng ở cácnước đang phát triển. Hội đồng Liên Chính phủ về Thay Đổi Khí Hậu ước tính các chi phídành cho việc thực hiện Nghị định thư Kyoto ở các nước công nghiệp sẽ chiếm1-2% GDP mỗi nước ( trang 34-36, [24]). II. Tình trạng môi trường Việt Nam: • Hiện trạng môi trường đô thị, công nghiệp: Năm 1990, Việt Nam mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000đã tăng tới 694 đô thị các loại, trong đó có 4 thành phố trực thuộc Trung ương,20 thành phố trực thuộc tỉnh, 62 thị xã và 563 thị trấn. Dân số đô thị Việt Namnăm 1990 là khoảng 13 triệu người ( chiếm tỷ lệ 20% ), năm 1995 tỷ lệ dân sốđô thị chiếm 20,75%, năm 2000 chiếm 25%, dự báo đến năm 2010 tỷ lệ dân sốđô thị ở Việt Nam chiếm 33%, năm 2020 chiếm 45%. Sự phát triển các đô thịcùng với việc gia tăng tỷ lệ dân số đô thị gây áp lực rất lớn đến môi trường đôthị. Bên cạnh sự phát triển mạnh ngành công nghiệp một mặt góp phần rất lớnvào sự phát triển kinh tế nhưng lại gây ảnh hưởng môi trường nghiêm trọng.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 19
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Các loại ô nhiễm thường thấy tại các đô thị Việt Nam là ô nhiễm nguồnnước mặt, ô nhiễm bụi, ô nhiễm các khí sunfua, cacbonic, nitrit, ô nhiễm chì(Pb), chất thải rắn ( trong sinh hoạt, bệnh viện ). Giáo sư Lâm Minh Triết ( Đạihọc Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh ) trong buổi hội thảo “ Bảo vệ môi trườngvà phát triển bền vững ở Việt Nam “ đã nhấn mạnh nồng độ các chất ô nhiễmtrong nước mặt thường rất cao như là chất rắn lơ lửng, nhu cầu oxy sinh hóa,nhu cầu oxy hóa học, nitơrit, nitơrat…gấp từ 2-5 lần, thậm chí tới 10-20 lần trịsố tiêu chuẩn đối với nguồn nước mặt loại B, chỉ số E Coli vượt tiêu chuẩn chophép hàng trăm lần. Ngoài các chất ô nhiễm hữu cơ trên, môi trường nước mặtđô thị ở một số nơi còn bị ô nhiễm kim loại nặng và chất độc hại như chì, thủyngân, asen, clo, phenol,… Ở hầu hết các đô thị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm ở mức trầm trọng.Các nơi bị ô nhiễm nặng nhất là khu dân cư gần nhà máy xi măng Hải Phòng,nhà máy Vicasa Biên Hòa, khu công nghiệp Tân Bình, nhà máy tuyển than HònGai,…Ở một số khu dân cư gần các khu công nghiệp nồng độ khí sunfua vượtchỉ số tiêu chuẩn cho phép nhiều lần ( khu dân cư gần nhà máy xi măng HảiPhòng nồng độ khí sunfua trung bình ngày là 0,407 mg/m3 gấp 1,4 lần tiêuchuẩn cho phép, cụm công nghiệp Tân Bình nồng độ khí sunfua trung bình ngàylà 0,338 mg/m3 gấp 1,1 lần tiêu chuẩn cho phép ). “Tính lượng trung bình chấtthải rắn sinh hoạt thải ra ở các thành phố lớn ( Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,thành phố Hồ Chí Minh ) từ 0,6-0,8 kg/người/ngày, chất thải rắn trong bệnh viện( cơ sở y tế ) được thải ra ước tính từ 50-70 tấn/ngày. Chất thải rắn này ảnhhưởng rất lớn đến môi trường đô thị…”-GS. Lâm Minh Triết nói. Hiện nay khảnăng thu gom chất thải rắn còn rất thấp so với yêu cầu đặt ra. Tại nhiều xã tỷ lệthu gom chất thải rắn trung bình chỉ đạt 20-40%. Biện pháp thu gom chất thảirắn hiện nay là chôn lấp ( nhưng chưa có bãi chôn lấp nào đạt tiêu chuẩn kỹthuật vệ sinh môi trường ). Theo thống kê, Việt Nam đã có trên 800 cơ sở sản xuất công nghiệp vớigần 70 khu chế xuất – khu công nghiệp tập trung. Đóng góp của công nghiệpvào GDP là rất lớn; tuy nhiên chúng ta phải chịu nhiều thiệt hại về môi trườngdo lĩnh vực công nghiệp gây ra. Hiện nay, khoảng 90% cơ sở sản xuất côngnghiệp và phần lớn các khu công nghiệp chưa có trạm xử lý nước thải. Cácngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường, nặng nhất là công nghiệp nhiệtđiện, công nghiệp sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, công nghiệp khai tháckhoáng sản ( diễn đàn doanh nghiệp, số 50, ngày 20/6/2003, trang 13 ). • Hiện trạng môi trường nước ở nông thôn: Ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp cũng rấtnghiêm trọng. Gần 76% số dân nước ta đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơsở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc khôngđược xử lý, thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồnnước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Nhiều nơi do nuôi trồng thủysản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật, đã gây ra nhiềuĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 20
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đàotác động tiêu cực tới môi trường nước. Lượng nước thải của các xí nghiệp chếbiến thủy sản đông lạnh cũng rất lớn, từ vài chục ngàn đến vài trăm ngànm3/năm. Môi trường nước ở nông thôn cũng đang bị ô nhiễm do việc sử dụngkhông đúng quy cách và không hợp lý các hóa chất nông nghiệp; thiếu cácphương tiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng phục vụ sinh hoạt nên số hộ ở nông thônđược dùng nước hợp vệ sinh mới chỉ đạt 30-40%, và chỉ có 28-30% số hộ cócông trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn ( trang 14, [23]). B.Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới và Việt Nam: I.Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới: Trong thập niên 60 của thế kỷ 20, ô nhiễm nước đang với nhịp độ đánglo ngại. Tiến độ ô nhiễm phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ. Ta cóthể kể ra: _ Ở Anh Quốc chẳng hạn: Đầu thế kỷ 19, nước sông Thames rất sạch.Nó trở thành ống cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tìnhtrạng tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp xử lý và bảo vệ nghiêmngặt. _ Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn nhưng vấnđề cũng không khác bao nhiêu. Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuốithế kỷ 18. Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi khôngcòn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5000 km sông của Pháp bị ô nhiễmmãn tính. Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệungười, là nạn nhân của nhiều tai nạn thêm vào các nguồn ô nhiễm thườngxuyên. _ Ở Hoa Kỳ, tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùngkhác. Vùng Đại Hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêmtrọng ( trang 111, [2]). II.Tình trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam: II.1. Tình hình chung: _ Nước ta có một nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khucông nghiệp và đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy raở nhiều nơi với mức độ nghiêm trọng khác nhau. _ Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, dùng nước tướilúa và hoa màu, chủ yếu là ở đồng bằng Sông Cửu Long và sông Hồng. Việc sửdụng nông dược và phân bón hóa học ngày càng góp phần làm ô nhiễm môitrường nông thôn ( trang 111, [2]).Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 21
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào _ Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngànhcó một loại nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biếnsông Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục km. Khucông nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn m3 nước thải của nhà máy hóachất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt xuống sông Hồng làm cho nước bị ô nhiễm đángkể ( trang 112, [2]). Tại thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng ô nhiễm cũng đang ở mứcbáo động do nước thải sinh hoạt, nước thải của các ngành công nghiệp khôngqua xử lý hoặc xử lý rất sơ sài đang thải thẳng vào môi trường. Tuần báo AnNinh Thế Giới ra ngày 20-05-04, có phóng sự “ sông Đồng Nai đang bị khai tử”của tác giả Thuận Thiên đã phản ánh: “mỗi ngày tại sông Đồng Nai có khoảngtrên dưới một triệu m3 nước thải sinh hoạt và công nghiệp, mọi chất thải củathành phố Biên Hòa và 15 khu chế xuất, khu công nghiệp đều đổ về sông ĐồngNai. Môi trường sống trong nguồn nước và sức khỏe của trên dưới 15 triệungười dân thành phố Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh đang hằng ngày phảiđối mặt với hiểm họa khôn lường ”, cuối bài tác giả tự hỏi: “đến khi nào consông Đồng Nai bị ô nhiễm tới mức không thể tự làm sạch được nữa”. Với lượng chất thải khá lớn từ các nhà máy, xí nghiệp, nước thảicông nghiệp chiếm một lượng lớn trong tổng lượng nước thải hàng ngày ởthành phố Hồ Chí Minh, hơn nữa mức độ gây ô nhiễm của nước thải côngnghiệp cao hơn rất nhiều so với nước thải sinh hoạt do chứa nhiều hóa chấtđộc hại và khó phân hủy ( trang 89, [3]). Do kinh phí còn hạn hẹp, điều kiện chưa cho phép nên hầu hếtnước thải của các cơ sở sản xuất đều không qua khâu xử lý mà thải thẳng ra hệthống kênh rạch, sông ngòi gây ô nhiễm trầm trọng cho các nguồn này (trang89, [3]). Nước dùng sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân sốvà các đô thị. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với các cơ sở tiểu thủcông nghiệp trong dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị nước ta ( trang112, [2]). Bên cạnh đó, nước ngầm cũng bị ô nhiễm do nước sinh hoạt haycông nghiệp và nông nghiệp. Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiệntượng nhiễm phèn, nhiễm mặn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sôngThái Bình, sông Cửu Long, ven biển miền Trung,…( trang 112, [2]). II.2. Ở đồng bằng sông Cửu Long: Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 16 triệu dân, là vùng kinh tếtrọng điểm nông nghiệp lớn nhất nước, có sông Cửu Long là nơi cung cấpnước sản xuất sinh hoạt chính cho vùng. Nhưng do tập quán canh tác, ăn ở đilại trên sông nước, nhất là những năm gần đây công nghiệp các tỉnh phát triển,canh tác nông nghiệp dùng phân bón, thuốc trừ sâu ngày càng nhiều nên làmĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 22
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đàoảnh hưởng nhất định đến môi trường nước mặt cũng như tầng ngầm. Từ đó,ảnh hưởng đến tài nguyên nước, ảnh hưởng đến nước sản xuất , sinh hoạt củanhân dân, nhất là trong mùa lũ, mùa khô ở các vùng sâu, vùng ven biển đồngbằng sông Cửu Long. Hiện nay, ở đồng bằng sông Cửu Long có 40-50% dânnông thôn có nước sạch sinh hoạt. Cấp nước sạch theo đường ống còn thấp,các trạm cấp nước với quy mô nhỏ và vừa ( từ 500-2000 m3/ngày đêm ) chủyếu xây dựng ở thị trấn, thị tứ trung tâm huyện lỵ. Còn các trung tâm xã ấp mớixây dựng trạm cấp nước với quy mô nhỏ ( 100-300 m3/ngày đêm ). Từ đó,nước sạch cho dân vùng nông thôn và vệ sinh môi trường nông thôn đồng bằngsông Cửu Long hết sức bức xúc. II.3. Ở An Giang: + Nước mặt khu vực đô thị ( thành phố, thị xã, thị trấn ): Các chỉ tiêu ô nhiễm nổi bật ở khu đô thị năm 2001 bao gồm các chỉtiêu: chất rắn lơ lửng và mật số vi sinh tổng coliforms. Nồng độ chất hữu cơBOD5 trung bình 4 mg/l, xấp xỉ Tiêu Chuẩn Môi Trường, ô nhiễm nhẹ hơn năm2000, SS trung bình 80 mg/l cao gấp 4 lần TCMT, amoniac trung bình 0,2 mg/lcao gấp 4 lần Tiêu Chuẩn Môi Trường và mật số vi sinh tổng coliforms trungbình 40x103 MPN/100ml, cao gấp 8 lần Tiêu Chuẩn Môi Trường . Các chỉ tiêukhác nằm trong giới hạn môi trường Việt Nam. So sánh khu vực đô thị và nông thôn trong năm 2001 chất lượngnước khu vực nông thôn ô nhiễm về chất hữu cơ cao hơn khu vực đô thị; cácchỉ tiêu khác: sắt tổng cộng, chất rắn lơ lửng, amoniac mức độ ô nhiễm ở 2 khuvực trên tương đương nhau. + Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm nước mặt: Chất lượng nước mặt năm 2001 có mức độ tương đương với năm2000. Độ pH có tính kiềm yếu trong đoạn mùa khô, nguyên nhân có thể là trongthời gian qua nhiều kênh rạch đã tiếp tục được nạo vét, nước rửa phèn từ đấttheo các kênh rạch đổ ra sông, làm độ pH nước sông rạch giảm. Vào mùa mưa, nước bị ô nhiễm về các chỉ tiêu lý hóa như: chất hữucơ, sắt tổng cộng cao hơn mùa khô. Chỉ tiêu amoniac có mức độ tương đươngmùa khô. Nguyên nhân, năm 2001 nước lũ lớn, mực nước xấp xỉ gần năm2000, lũ lớn tràn khắp nơi, kéo các chất ô nhiễm từ trên mặt đất xuống cácsông, kênh, rạch. Cho đến nay, hầu hết các nguồn nước thải công cộng như các cốngthải đô thị ở các thành phố, thị trấn, thị xã và các chất thải công nghiệp vẫn thảitrực tiếp ra sông, các chất thải nông nghiệp vẫn chưa được xử lý. + Hiện trạng nước thải và công nghiệp:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 23
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào _ Nước thải từ các nhà máy sản xuất công nghiệp: Các nhà máy sản xuất gây ô nhiễm môi trường quan trọng tiếp tụcđược quan trắc, giám sát. Qua kết quả quan trắc có thể đánh giá như sau: Trong tỉnh năm 2001 có thêm ba đơn vị doanh nghiệp nhà nước đãxây dựng xong công trình xử lý nước thải, đó là Xí nghiệp đông lạnh số 7 (thuộc công ty Angifish ), Xí nghiệp đông lạnh Bến Mỹ, Nhà máy chế biến khoaimì ( thuộc công ty Afiex ) nâng tổng số đơn vị đã xây dựng hệ thống xử lý nướcthải là 8; trong đó 7 đơn vị thuộc doanh nghiệp nhà nước, 1 đơn vị thuộc doanhnghiệp tư nhân. Hầu hết chất lượng nước thải của các đơn vị này có các chỉtiêu về môi trường nằm trong giới hạn Tiêu Chuẩn Môi Trường Việt Nam. Tuynhiên, trong quá trình vận hành hệ thống xử lý nước thải, một số hệ thống chưahoạt động ổn định, một số chỉ tiêu vẫn nằm ngoài tiêu chuẩn cho phép nhưtrường hợp nhà máy chế biến khoai mì. Một số đơn vị như: Xí nghiệp đông lạnh 8, Xí nghiệp chế biến rauquả Antesco, nhà máy chế biến nước mắm Chánh Hương vẫn chưa xây dựnghệ thống xử lý nước thải, nước thải trực tiếp ra sông Hậu gây ô nhiễm nguồnnước ở mức độ xấp xỉ các năm trước. _ Nước thải khu vực đô thị: Nước thải khu vực đô thị thành phố Long Xuyên cũng như các đôthị, thị xã Châu Đốc có nồng độ chất ô nhiễm rất cao, đặc biệt là mật số vi sinhtổng coliforms, trung bình 2,7x106 MNP/100ml, nồng độ chất hữu cơ BOD5trung bình vượt gấp hai lần Tiêu Chuẩn Môi Trường. Các phương án xử lýnước thải của thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc đã xây dựng xong từnăm 1998, nhưng đến nay vẫn chưa được xúc tiến. Tuy nhiên, trong năm 2001,một số hệ thống cống nội ô đã được nâng cấp, không bị ngập và phần nào hạnchế được ô nhiễm môi trường do cống bể, sứt. _ Đánh giá chung: Năm 2001, ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất công nghiệplớn đã có chiều hướng giảm nhẹ hơn các năm trước. Các doanh nghiệp lớn, cónguồn thải gây ô nhiễm nghiêm trọng đã tích cực thực hiện các giải pháp bảovệ môi trường, một số doanh nghiệp đã xây dựng xong hệ thống xử lý nướcthải, một số khác cũng đã thiết kế hệ thống xử lý, dự kiến xây dựng trong năm2002 như công ty Angifish sẽ xây dựng hệ thống xử lý nước thải Xí nghiệp đônglạnh 8 và nhà máy nước mắm Chánh Hương. + Hiện trạng chất lượng nước khu vực làng bè Châu Đốc: Để đánh giá chất lượng nước các khu vực làng bè Châu Đốc ( VĩnhMỹ, Vĩnh Ngươn ), Phú Tân ( Phú Hiệp ), An Phú ( Đa Phước ), Châu phú ( MỹPhú ), Chợ Mới ( thị trấn Chợ Mới ), thành phố Long Xuyên ( Mỹ Hòa Hưng ),Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 24
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đàođồng thời thực hiện theo tinh thần công văn 952/CV-UB ngày 15/5/2000 củaUBND tỉnh An Giang “ Giao cho Sở Khoa Học Công Nghệ & Môi Trường hàngtháng một lần đo đạc phân tích môi trường nước các khu vực neo đậu bè tậptrung lớn, để có những khuyến cáo cho các ngành chức năng tham khảo vàquản lý”. Trong năm, các khu vực làng bè đã được quan trắc 6 đợt, kết quảquan trắc cho thấy chất lượng nước ở các khu vực làng bè ở trên có diễn biến ônhiễm chất hữu cơ, amoniac, chất rắn lơ lửng, sắt tổng cộng vào giai đoạn cuốinăm gia tăng hơn so với các tháng đầu và giữa năm 2001. Mức độ ô nhiễm đãcó khả năng ảnh hưởng chất lượng môi trường khu vực nuôi trồng thủy sản vàchất lượng nước sinh hoạt, cụ thể như sau: Chỉ tiêu amoniac trung bình 0,4 mg/l, cao gấp 8 lần Tiêu Chuẩn MôiTrường Việt Nam quy định đối với chất lượng môi trường nước mặt. Nồng độamoniac cao nhất tập trung vào các tháng mùa lũ ( tháng 9-12 ). Khu vực làngbè Chợ Mới, Mỹ Hòa hưng ( Long Xuyên ), Phú Hiệp ( Phú Tân ), Đa Phước (An Phú ) mức độ ô nhiễm cao nhất vượt Tiêu Chuẩn Môi Trường trên 13-20 lần.Nồng độ amoniac cao trong giai đoạn này là do nước rửa trôi phân bón từ đồngruộng và chất lượng nước sông ô nhiễm về amoniac hơn các giai đoạn lũ. Đâycũng có thể là lượng phân bón sử dụng cho đồng ruộng gia tăng. Mặt khác,hoạt động nuôi cá tập trung cũng góp phần làm nước bị ô nhiễm theo chỉ tiêunày ( [8]). Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn ra ngày 24/06/2004, có phóng sự“Sông Hậu “oằn gánh” ô nhiễm” của tác giả Hồ Hùng đã phản ánh: “...Thạc sĩKỷ Quang Vinh, Trưởng trạm Quan trắc môi trường thành phố Cần Thơ, bứcxúc: “Chất lượng nước trên sông Hậu có dấu hiệu ô nhiễm nặng”. Kết quả giámsát gần đây nhất của trạm, từ các mẫu nước lấy từ sông Hậu, cho thấy: hàmlượng chất hữu cơ thông qua các chỉ số BOD5 và COD đều vượt tiêu chuẩnViệt Nam (10 mg/l) khoảng 1,2-2,5 lần, có khuynh hướng tăng nhanh so với cácnăm trước; nồng độ dưỡng chất (NO2 và NH3) vượt tiêu chuẩn Việt Nam(0,05mg/l) 2-20 lần; số lượng vi sinh (Coliform)cũng vượt mức cho phép từ 1,5-9lần,... Hiện nay, ở làng bè thị xã Châu Đốc có hơn 400 bè cá, tính chungtrong tỉnh An Giang có hơn 3400 bè cá trải dài trên sông Hậu. Lượng chất thảitừ hàng ngàn bè cá này thải ra cùng với các hộ gia đình sống ven sông rồi cáckhu công nghiệp,...làm cho tình trạng ô nhiễm trên sông Hậu thật sự đáng longại. C. Phân loại nước ô nhiễm và tính chất của nó: I. Phân loại: Sự ô nhiễm nước là sự có mặt của một số chất ngoại lai trong môitrường nước tự nhiên dù chất đó có hại hay không. Khi vượt qua một ngưỡngnào đó thì chất đó sẽ trở nên độc hại đối với con người và sinh vật.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 25
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo: _ Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: là do mưa. Nước mưa rơixuống đất, mái nhà, đường phố đô thị, khu công nghiệp,…, kéo theo các chấtthải bẩn xuống sông, hồ hoặc các sản phẩm của các hoạt động sống của sinhvật vi sinh vật kể cả xác chết của chúng. Sự ô nhiễm này còn gọi là sự ô nhiễmkhông xác định được nguồn gốc. _ Sự ô nhiễm nhân tạo: chủ yếu do nguồn nước thải từ các khu dâncư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏvà phân bón trong nông nghiệp ( trang 84, [10]). Nước thải là một tổ hợp phức tạp các thành phần vật chất có nguồngốc vô cơ hay hữu cơ tồn tại dưới dạng không hòa tan, keo và hòa tan. Thànhphần nồng độ chất bẩn tùy thuộc vào từng loại nước thải. Căn cứ vào nguồngốc và tính chất của nguồn nước thải mà người ta phân loại như sau: + Nước thải sinh hoạt: Là nước thải ra từ các khu dân cư bao gồm nước sau khi sử dụngtừ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học, cơ quan, khu vui chơi giảitrí. Đặc điểm của nước thải sinh hoạt là trong đó có hàm lượng lớncác chất hữu cơ dễ phân hủy ( hidrocacbon, protein, chất béo ), các chất vô cơdinh dưỡng ( nitơ, photphat ), cùng với vi khuẩn ( bao gồm cả vi sinh vật gâybệnh ), trứng giun sán… Hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt phụthuộc vào điều kiện sống, chất lượng bữa ăn, lượng nước sử dụng, hệ thốngtiếp nhận nước thải và đặc điểm nước thải của từng vùng dân cư ( trang 15-16,[15]). + Nước thải công nghiệp: Nước thải từ các xí nghiệp sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp,giao thông vận tải nói chung là nước thải công nghiệp. Nước thải loại này khôngcó đặc điểm chung mà phụ thuộc vào các quy trình công nghệ của từng loại sảnphẩm. Nước thải từ các cơ sở chế biến nông sản, thực phẩm và thủy sản( đường, sữa, bột tôm cá, rượu, bia,…,) có nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy;nước thải của các xí nghiệp làm acquy có nồng độ axit và chì cao,… Tóm lại,nước thải từ các ngành hoặc xí nghiệp khác nhau có thành phần hóa học vàhóa sinh khác nhau ( trang 16, [15]). II. Tính chất:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 26
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Các tính chất đặc trưng của nước thải sinh hoạt, công nghiệp được tómtắt trong các bảng sau: Bảng 1: Các tính chất vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng của nướcthải, và nguồn gốc của chúng ( trang 17, [15]): Tính chất Nguồn phát sinh_ Các tính chất vật lý: Màu Các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, sự phân rã tự nhiên các chất hữu cơ. Mùi Sự thối rữa nước thải và các chất thải công nghiệp. Chất rắn Cấp nước cho sinh hoạt, các chất thải sinh hoạt và sản xuất, xói mòn đất, dòng thấm, chảy vào hệ thống cống. Nhiệt độ Các chất thải sinh hoạt và sản xuất._Thành phần hóa học: + Nguồn gốc hữu cơ: Cacbonhidrat Các chất thải sinh hoạt, thương mại và sản xuất. Mỡ, dầu, dầu nhờn Các chất thải sinh hoạt, thương mại và sản xuất. Thuốc trừ sâu Các chất thải nông nghiệp. Phenol Các chất thải nông nghiệp. Protein Các chất thải sinh hoạt và thương mại. Các chất hoạt động Các chất thải sinh hoạt và sản xuất.bề mặt Các chất khác Phân rã tự nhiên các chất hữu cơ. + Nguồn gốc vô cơ: Độ kiềm Nước thải sinh hoạt, cấp nước sinh hoạt và sự thấm của nước ngầm. Clorua Cấp nước sinh hoạt, các chất thải sinh hoạt, sự thấm của nước ngầm, các chất làm mềm nước.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 27
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Các chất thải công nghiệp. Các kim loại nặng Các chất thải sinh hoạt và công nghiệp. Nitơ Các chất thải công nghiệp. pH Các chất thải sinh hoạt và công nghiệp. Phospho Cấp nước sinh hoạt, các chất thải sinh hoạt và công Lưu huỳnh nghiệp. Các chất thải công nghiệp. Các hợp chất độc +Các khí: Phân hủy các chất thải sinh hoạt. H2S Phân hủy các chất thải sinh hoạt. CH4 Cấp nước sinh hoạt, sự thấm của nước bề mặt. O2Thành phần sinh học: Các động vật Các dòng nước hở và các nhà máy xử lý. Thưc vật Các dòng nước hở và các nhà máy xử lý. Sinh vật nguyên sinh, Các chất thải sinh hoạt và nhà máy xử lý các chấtvirut thải sinh hoạt.Bảng 2: Phân loại nước ô nhiễm dựa vào hàm lượng chất ô nhiễm ( trang 32,[13]) Các chất Mức độ ô nhiễm Nặng Trung bình ThấpTổng chất rắn, mg/l 1000 500 200_ Chất rắn hòa tan, mg/l 700 350 120_ Chất rắn không tan, mg/l 300 150 8Tổng chất rắn lơ lửng, mg/l 600 350 120Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 28
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoChất rắn lắng, mg/l 12 8 4BOD5, mg/l 300 200 100Oxy hòa tan, mg/l 0 0 0Tổng nitơ, mg/l 85 50 25Nitơ hữu cơ, mg/l 35 20 10N-NH3, mg/l 50 30 15N-NO2-, mg/l 0,1 0,05 0N-NO3-, mg/l 0,4 0,2 0,1Clorua, mg/l 175 100 15Độ kiềm, mg CaCO3/l 200 100 50Chất béo, mg/l 40 20 0Tổng photpho (theo P), mg/l _ 8 _ Nước thải sinh hoạt có thành phần với giá trị điển hình như sau:COD= 500 mg/l, BOD5= 250 mg/l, SS= 220 mg/l, Photpho= 8 mg/l, N-NH3 và N-hữu cơ= 40 mg/l, pH= 6,8, TS= 720 mg/l. Một tính chất đặc trưng của nước thải sinh hoạt là không phải tất cảcác chất hữu cơ đều có thể bị phân hủy bởi các vi sinh vật và khoảng 20-40%BOD thoát ra khỏi quá trình xử lý sinh học cùng với bùn.Bảng 3: Thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp ( trang 18, [15]) Ngành công nghiệp Chất ô nhiễm trong nước Nồng độ (mg/l) thải Chế biến sữa Tổng chất rắn 4516 Chất rắn lơ lửng 560 N - hữu cơ 732 Natri 807Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 29
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Canxi 112 Kali 116 Photpho 59 BOD5 1890 Lò mổ _ Trâu, bò Chất rắn lơ lửng 820 N- hữu cơ 154 BOD5 996 _ Mổ lợn Chất rắn lơ lửng 717 N- hữu cơ 122 BOD5 104,5 _ Hỗn hợp Chất rắn lơ lửng 929 N- hữu cơ 324 BOD5 2240 Thuộc da Tổng chất rắn tan 6000-8000 BOD5 900 NaCl 3000 Tổng độ cứng 1600 Sunfua 120 Protein 1008 Crom 30-70Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 30
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoPHẦN III: CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC Ô NHIỄMĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 31
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Trong thành phần nước ô nhiễm có chứa nhiều loại tạp chất nhiễm bẩn cótính chất khác nhau: từ các loại chất không tan, đến các chất ít tan và nhữnghợp chất tan trong nước. Xử lý nước ô nhiễm là loại bỏ các tạp chất đó, làmsạch nước và có thể đưa nước đổ vào nguồn hoặc đưa vào tái sử dụng. Để đạtđược những mục đích đó chúng ta thường dựa vào đặc điểm của từng loại tạpchất để lựa chọn phương pháp xử lý thích hợp ( trang 93, [15]). Thông thường có các phương pháp xử lý sau: _ Xử lý bằng phương pháp sinh học. _ Xử lý bằng phương pháp hóa lý. _ Xử lý bằng phương pháp hóa học. I. Các phương pháp sinh học: Thực chất của biện pháp sinh học để xử lý nước thải là sử dụng khảnăng sống và hoạt động của vi sinh vật để phân hủy các chất bền hữu cơ trongnước thải. Chúng sử dụng các hợp chất hữu cơ và một số chất khoáng làmnguồn dinh dưỡng và tạo năng lượng. Trong quá trình dinh dưỡng, chúng nhậnđược các chất làm vật liệu để xây dựng tế bào, sinh trưởng và sinh sản nênsinh khối được tăng lên. Phương pháp này thường được sử dụng để làm sạch các loại có chứacác chất hữu cơ hòa tan hoặc các chất phân tán nhỏ, keo. Do vậy, chúngthường được dùng sau khi loại các tạp chất phân tán thô ra khỏi nước thải. Đối với các chất hữu cơ có trong nước thải thì phương pháp này dùng đểkhử các hợp chất sunfit, muối amoni nitrat - tức là các chất chưa bị oxy hóahoàn toàn. Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy sinh hóa các chất bẩnsẽ là CO2, H2O, N2, SO42-,…Các nghiên cứu cho thấy vi sinh vật có thể phânhủy tất cả các chất hữu cơ có trong thiên nhiên và rất nhiều chất hữu cơ tổnghợp nhân tạo ( trang 38-39, [3]). Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học gồm các phương pháp sau: _ Phương pháp hiếu khí. _ Phương pháp kỵ khí. _ Phương pháp thiếu khí. Tùy điều kiện cụ thể như địa hình, tính chất và khối lượng nước thải, khíhậu, mặt bằng nơi cần xử lý, kinh phí cho phép với công nghệ thích hợp, ngườita sẽ chọn một trong những phương pháp trên hay kết hợp với nhau ( trang 80,[11]).Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 32
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Các phương pháp này có những ưu điểm sau: _ Có thể xử lý nước thải có phổ nhiễm bẩn các chất hữu cơ tương đốirộng. _ Hệ thống có thể tự điều chỉnh theo phổ các chất nhiễm bẩn và nồngđộ của chúng. _ Thiết kế và trang thiết bị đơn giản. Đồng thời chúng cũng có những nhược điểm sau: _ Đầu tư cơ bản cho việc xây dựng khá tốn kém. _ Phải có chế độ công nghệ làm sạch đồng bộ và hoàn chỉnh. _ Các chất hữu cơ khó phân hủy cũng như các chất vô cơ có độc tínhảnh hưởng đến thời gian và hiệu quả làm sạch. Các chất có độc tính tác độngđến quần thể sinh vật nói chung và trong bùn hoạt tính làm giảm hiệu suất xử lýcủa quá trình. _ Có thể phải làm loãng nước thải có nồng độ chất bẩn cao, như vậy sẽlàm tăng lượng nước thải và cần diện tích mặt bằng rộng. Tuy vậy, các phương pháp sinh học vẫn được dùng phổ biến rộng rãi vàtỏ ra rất thích hợp cho quá trình làm sạch nước thải chứa các chất hữu cơ dễphân hủy ( trang 298-299, [1]). I.1. Các phương pháp hiếu khí: a. Nguyên tắc: Phương pháp hiếu khí dùng để loại các chất hữu cơ dễ bị visinh phân hủy ra khỏi nguồn nước. Các chất này được các loại vi sinh hiếu khíoxy hóa bằng oxy hòa tan trong nước. vi sinh vật Chất hữu cơ + O2 H2O + CO2 + Năng lượng. vi sinh vật Chất hữu cơ + O2 Tế bào mới. vi sinh vật Tế bào mới + O2 H2O + CO2 + NH3.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 33
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Tổng cộng: Chất hữu cơ + O2 H2O + CO2 + NH3 +… Trong phương pháp hiếu khí amoniac cũng được loại bỏ bằng oxyhóa nhờ vi sinh tự dưỡng ( quá trình nitrit hóa ). 2 NH4+ + 3 O2 Nitrosomonas 2 NO2- + 4 H+ + 2 H2O + Năng lượng. 2 NO2- + O2 Nitrobacter 2 NO3- Tổng cộng: NH4+ + 2 O2 Vi sinh NO3- + 2 H+ + H2O +Năng lượng. ( giảm pH ) Điều kiện thích hợp cho quá trình là: pH= 5,5 - 9,0, oxy hòa tan lớn hơnhoặc bằng 0,5 mg/l, nhiệt độ 5-400C. b. Kỹ thuật xử lý nước thải theo phương pháp hiếu khí: Kỹ thuật bùn hoạt tính: Đây là kỹ thuật được sử dụng rộng rãi để xử lý nước thải đô thị vàcông nghiệp. Theo cách này, nước thải được đưa ra bộ phận chắn rác, loại rác,chất rắn được lắng, bùn được tiêu hủy và làm khô. Một dạng cải tiến của phương pháp bùn hoạt tính là phương pháp“thông khí tăng cường” gần đây được sử dụng tại nhiều nước phát triển dướitên gọi là “mương oxy hóa”. Trong hệ thống này có thể bỏ qua các giai đọanlắng bước một và tiêu hủy bùn. Tuy nhiên quá trình này lại cần biện pháp thôngkhí kéo dài với cường độ cao hơn. Ao ổn định nước thải: Phương pháp xử lý sinh học đơn giản nhất là kỹ thuật “ổn địnhnước thải”. Đó là một loại ao chứa nước trong nhiều ngày phụ thuộc vào nhiệtĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 34
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đàođộ, oxy được tạo ra qua hoạt động tự nhiên của tảo trong ao. Cơ chế xử lýtrong ao ổn định chất thải bao gồm cả hai quá trình hiếu khí và kị khí. _ Ao ổn định chất thải hiếu khí: là loại ao cạn cỡ 0,3-0,5m đượcthiết kế sao cho ánh sáng mặt trời thâm nhập vào lớp nước nhiều nhất làm pháttriển tảo do hoạt động quang hợp để tạo oxy. Điều kiện không khí bảo đảm từmặt ao đến đáy ao. _ Ao ổn định chất thải kỵ khí: là loại ao sâu không cần oxy hòa tancho hoạt động vi sinh. Ở đây các loại vi sinh kỵ khí và vi sinh tùy nghi dùng oxytừ các hợp chất như nitrat, sunfat để oxy hóa chất hữu cơ thành mêtan và CO2.Như vậy các ao này có khả năng tiếp nhận khối lượng lớn chất hữu cơ vàkhông cần quá trình quang hợp tảo. Ao ổn định chất thải tùy nghi là loại ao hoạtđộng theo cả quá trình kỵ khí và hiếu khí. Ao thường sâu từ 1-2m, thích hợpcho việc phát triển tảo và các vi sinh tùy nghi. Ban ngày khi có ánh sáng, quátrình xảy ra trong ao là hiếu khí. Ban đêm ở lớp đáy ao quá trình chính là kỵ khí. Ao ổn định chất thải tùy nghi thường được sử dụng nhiều hơn hailoại trên. Ngoài ba loại ao trên, theo phương pháp “ ao ổn định chất thải ” ngườita còn kết hợp với các loại ao nuôi cá, ao thủy thực vật ( ao rau muống, lục bình). Để tăng cường hiệu quả xử lý nước thải, ta nên kết nối các loại ao với nhau. I.2. Các phương pháp thiếu khí ( anoxic ): Trong điều kiện thiếu oxy hòa tan việc khử nitrit hóa sẽ xảy ra. Oxyđược giải phóng từ nitrat sẽ oxy hóa chất hữu cơ và nitơ sẽ được tạo thành. NO3- vi sinh NO2- + O2 Chất hữu cơ O2 N2 + CO2 + H2O Trong hệ thống xử lý theo kỹ thuật bùn hoạt tính sự khử nitrit hóa sẽxảy ra khi không tiếp tục thông khí. Khi đó oxy cần cho hoạt động của vi sinhgiảm dần và việc giải phóng oxy từ nitrit sẽ xảy ra. Theo nguyên tắc trên,phương pháp thiếu khí ( khử nitrit hóa ) được sử dụng để loại nitơ ra khỏi nướcthải. I.3. Các phương pháp kỵ khí: Phương pháp xử lý kỵ khí dùng để loại bỏ các chất hữu cơ có trongphần cặn của nước thải bằng vi sinh vật tùy nghi và vi sinh vật kỵ khí. Hai cách xử lý yếm khí thông dụng là:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 35
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào _ Lên men acid thủy phân và chuyển hóa các sản phẩm thủy phân( như acid béo, đường ) thành các acid và rượu mạch ngắn hơn và cuối cùngthành khí cacbonic. _ Lên men metan: Phân hủy các chất hữu cơ thành metan ( CH4 )và khí cacbonic ( CO2 ). Việc lên men metan nhạy cảm với sự thay đổi pH, pHtối ưu cho quá trình từ 6,8-7,4. Thí dụ về phản ứng metan hóa: Methanosarcina CH3COOH CH4 + CO2 M.Suboxydans 2 CH2(CH2)COOH CH4 + 2CH3COOH + 2 H2O + CO2+C2H5COOH + CO2 Các phương pháp kỵ khí thường được dùng để xử lý nước thải côngnghiệp và chất thải từ chuồng trại chăn nuôi ( trang 80-84, [11]). II. Các phương pháp hóa lý: Làm sạch sinh học chỉ được ứng dụng trong trường hợp cần loại rakhỏi nước các chất hữu cơ, nếu các chất bẩn có nguồn gốc vô cơ thì phươngpháp này không phù hợp. Các phương pháp hóa lý được ứng dụng để xử lýnước thải gồm lọc, đông tụ và keo tụ, tuyển nổi, hấp phụ, trao đổi ion, thẩm thấungược, siêu lọc, thẩm tách và điện thẩm tách,…Các phương pháp này đượcứng dụng để loại ra khỏi nước thải các hạt phân tán lơ lửng ( rắn và lỏng ), cáckhí tan những chất vô cơ và hữu cơ hòa tan. Việc ứng dụng các phương pháp hóa lý để xử lý nước thải có nhữngưu điểm sau: _ Có khả năng loại các chất độc hữu cơ không bị oxy hóa sinh học; _ Hiệu quả xử lý cao hơn; _ Kích thước hệ thống xử lý nhỏ hơn; _ Độ nhạy đối với sự thay đổi tải trọng thấp hơn; _ Có thể tự động hóa hoàn toàn; _ Không cần theo dõi hoạt động của sinh vật; _ Có thể thu hồi các chất khác nhau. II.1. Lọc qua song chắn rác ( xử lý sơ bộ ):Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 36
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Đối tượng xử lý là rác thải loại lớn ( như: giẻ, rác, vỏ đồ hộp, cácmẫu đá, gỗ và các vật thải khác ), chúng thường được tách ra để khỏi gây tắcnghẽn đường ống. Người ta dùng lưới làm bằng các thanh kim loại được đặtnghiêng một góc 60÷750. Rác thải được lấy ra bằng cào cơ giới. Đối với rác cókích cỡ nhỏ hơn người ta có thể dùng rây ( trang 29, [3]). Đây là hình thức xử lý sơ bộ. Mục đích của quá trình là loại tất cảcác tạp vật có thể gây ra sự cố trong quá trình vận hành hệ thống xử lý nướcthải như làm tắc bơm, đường ống hoặc kênh dẫn. Đây là bước quan trọng đảmbảo an toàn và điều kiện làm việc thuận lợi cho cả hệ thống xử lý nước tự nhiênlẫn nước thải ( trang 74, [13]). II.2. Lắng tụ: Được dùng để lắng các tạp chất tan thô ra khỏi nước thải ( sinhhoạt và công nghiệp ). Lắng tụ diễn ra dưới tác dụng của trọng lực. Để lắngngười ta sử dụng bể lắng cát, bể lắng và bể lắng trong. • Bể lắng cát: Được dùng để loại sơ bộ chất bẩn khoáng và hữu cơ ( 0,2-0,25mm ) ra khỏi nước thải. Bể lắng cát ngang là hồ chứa có tiết diện ngang làtam giác hoặc hình thang. Chiều sâu bể lắng cát 0,25-1m. Vận tốc chuyển độngcủa nước không quá 0,3m/s. Bể lắng cát dọc có dạng hình chữ nhật, tròn, trongđó nước chuyển động theo dòng từ dưới lên với vận tốc 0,05m/s. • Bể lắng ngang: Bể lắng ngang là bể hồ chứa hình chữ nhật, có hai hay nhiềungăn hoạt động đồng thời. Nước chuyển động từ đầu này đến đầu kia của bể. Chiều sâu của bể lắng H=1,5-4 m, chiều dài L=( 8-12 )xH, chiềurộng B=3-6 m. Bể lắng ngang được ứng dụng khi lưu lượng nước thải lớn hơn15000m3/ngày đêm. Hiệu quả bể lắng 60%. • Bể lắng đứng: Bể lắng đứng là bể chứa hình trụ ( hoặc tiết diện vuông ) có đáychóp. Nước thải được cho vào theo ống trung tâm. Sau đó nước chảy từ dướilên trên vào các rãnh chảy tràn. Như vậy, quá trình lắng cặn diễn ra trong dòngđi lên, vận tốc nước là 0,5-0,6m/s. Chiều cao vùng lắng 4-5m. • Bể lắng hướng tâm:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 37
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Bể lắng hướng tâm là bể lắng tròn. Nước trong đó chuyển động từtâm ra vành đai. Vận tốc nước nhỏ nhất là ở vành đai. Loại bể lắng này đượcứng dụng cho lưu lượng nước thải lớn hơn 20.000m3/ngày đêm. • Bể lắng dạng bảng: Ở bên trong bể lắng dạng bảng có các bản đặt nghiêng và songsong với nhau. Nước chuyển động giữa các bản, còn cặn trượt xuống vào bìnhchứa. • Bể lắng trong: Bể lắng được sử dụng để làm sạch tự nhiên và để làm trong nướcthải công nghiệp. Người ta thường sử dụng bể lắng trong với lớp cặn lơ lửngtrong đó người ta cho nước với chất đông tụ đi qua đó ( trang 87-89, [11]). II.3. Lọc: Lọc được dùng để xử lý nước thải, để tách các loại tạp chất nhỏ rakhỏi nước thải mà bể lắng không lắng được. Trong các loại phin lọc thường cócác loại phin lọc dùng vật liệu lọc dạng tấm hoặc dạng hạt. Vật liệu dạng tấm cóthể làm bằng tấm thép có đục lỗ hoặc lưới bằng thép không gỉ, nhôm, niken,đồng, thau,… và cả các loại vải khác nhau ( thủy tinh, amiăng, bông, len, sợitổng hợp ). Tấm lọc cần có trở lực nhỏ, đủ bền và dẻo cơ học, không bị trươngnở và bị phá hủy ở điều kiện lọc ( trang 95, [15]). Vật liệu lọc dạng hạt là cát thạch anh, than cốc, sỏi, đá nghiền thậmchí cả than gỗ ( trang 95, [15]). Đặc tính quan trọng của lớp hạt lọc là độ xốp và bề mặt riêng. Quátrình lọc có thể xảy ra dưới tác dụng của áp suất của cột chất lỏng hay áp suấtcao trước vách vật liệu lọc hoặc chân không sau lớp lọc. Các phin lọc làm việc sẽ tách các phần tử tạp chất phân tán hoặc lơlửng khó lắng khỏi nước. Các phin lọc làm việc không hoàn toàn dựa vàonguyên lí cơ học. Khi nước qua lớp lọc dù ít hay nhiều cũng tạo ra lớp màngtrên mặt các hạt vật liệu lọc, màng này là màng sinh học. Do vậy, ngoài tácdụng tách các phần tử tạp chất phân tán ra khỏi nước, các màng sinh học cũngbiến đổi các chất hòa tan trong nước thải nhờ quần thể các vi sinh vật có trongmàng sinh học. Chất bẩn và màng sinh học sẽ bám vào bề mặt vật liệu lọc dần dầnbít các khe hở của lớp lọc làm cho dòng chảy bị chậm lại hoặc ngưng chảy. Dođó, trong quá trình làm việc, người ta phải rửa phin lọc, lấy bớt màng bẩn phíatrên, và cho nước thải đi từ dưới lên trên để tách màng bẩn ra khỏi vật liệu lọc (trang 96-97, [15]).Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 38
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào II.4. Đông tụ và keo tụ: a. Đông tụ: Hỗn hợp phân tán nhỏ được loại ra khỏi nước bằng phương phápđông tụ. Đông tụ là phương pháp xử lý nước bằng tác chất nhằm hình thànhcác phân tử lớn từ các phân tử nhỏ. Phần tử các chất đục mang điện tích âm.Việc loại các chất này nhờ các chất đông tụ là tạo thành muối từ các chất kiềmvà axit yếu. Chất đông tụ trong nước tạo thành các bông hydroxit kim loại, lắngnhanh trong trường trọng lực. Các bông này có khả năng hút các hạt keo và hạtlơ lửng kết hợp với chúng. Các chất này tham gia vào phản ứng trao đổi với ionnước và hình thành các tạp chất có phối trí phức tạp ( trang 51, [11]). Quá trình thủy phân các chất đông tụ và tạo thành các bông keo xảyra theo các giai đoạn sau: Me3+ + HOH ↔ Me(OH)2+ + H+ Me(OH)2+ + HOH ↔ Me(OH)2+ + H+ Me(OH)2+ + HOH ↔ Me(OH)3 + H+ ⇒ Me3+ + 3HOH ↔ Me(OH)3 + 3H+ ( trang 120,[13]). Các chất đông tụ thường dùng trong mục đích này là các muối nhômhoặc muối sắt hoặc hỗn hợp của chúng. Đây là hai loại hóa chất rất thông dụngtrong xử lý nước cấp nhất là xử lý nước sinh hoạt ( trang 138, [20]). Các muối nhôm gồm có: Al2(SO4)3.18 H2O, NH4Al(SO4)2.12 H2O,NaAlO2. Al2(OH)5Cl, KAl(SO4)2.12 H2O, Trong đó được sử dụng rộng rãi nhất làAl2(SO4)3 vì Al2(SO4)3 hòa tan tốt trong nước, chi phí thấp, hoạt động có hiệuquả cao trong khoảng pH= 5÷7,5 ( trang 121, [13] ). _ Trong phần lớn các trường hợp, người ta dùng hỗn hợp NaAlO2 vàAl2(SO4)3 theo tỉ lệ ( 10:1 )÷( 20:1 ). Phản ứng xảy ra như sau: 6NaAlO2 + Al2(SO4)3 + 12 H2O ↔ 8 Al(OH)3 ↓ + 3Na2SO4 Việc sử dụng hỗn hợp này cho phép tăng hiệu quả của quá trình làmtrong nước, tăng khối lượng và tốc độ lắng của các bông keo tụ, mở rộngkhoảng pH tối ưu của môi trường. Al2(OH)5Cl có độ axit thấp dùng làm sạch nước có độ kiềm yếu nhờphản ứng:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 39
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Al2(OH)5Cl + Ca(HCO3)2 → 4 Al(OH)3↓ +CaCl2 +2CO2↑ Các muối sắt Fe2(SO4)3. 2 H2O, Fe2(SO4)3. 3 H2O, FeSO4. 7 H2O vàFeCl3 cũng thường được dùng làm chất đông tụ ( trang 121, [13]). Dùng FeCl3 để loại photphat: FeCl3 + 6 H2O + PO43- → FePO4 + 3 Cl- + 6 H2O Tạo bông keo qua phản ứng: FeCl3 + 6 H2O → Fe(OH)3↓ + 3 HCl Fe2(SO4)3 + 6 H2O → 2 Fe(OH)3↓ + 3 H2SO4 Các muối sắt thường được dùng làm chất đông tụ vì có nhiều ưuđiểm hơn so với các muối nhôm do: _ Tác dụng tốt hơn ở nhiệt độ thấp. _ Có khoảng giá trị pH tối ưu của môi trường rộng hơn. _ Độ bền lớn và kích thước bông keo có khoảng giới hạn rộng củathành phần muối. _ Có thể khử được mùi vị khi có H2S. Nhưng các muối sắt có nhược điểm là chúng tạo thành các phức hòatan nhuộm màu qua phản ứng của các cation sắt với một số chất hữu cơ ( trang285, [13] ). Trong quá trình tạo bông keo của hiđroxit nhôm hoặc sắt, người tathường thêm các chất trợ đông như: tinh bột, các ete, xenlulozơ,…, với liềulượng 1-5mg/l, hay chất trợ đông tụ tổng hợp nhất là polyarylamit nhằm giảmliều lượng chất đông tụ, giảm thời gian đông tụ và nâng cao tốc độ lắng của cácbông keo ( trang100, [15]). b. Keo tụ: Keo tụ là quá trình kết hợp các hạt lơ lửng khi cho các hợp chất caophân tử vào nước. Khác với quá trình đông tụ, khi keo tụ sự kết hợp diễn rakhông chỉ do tiếp xúc trực tiếp mà còn do tương tác lẫn nhau giữa các phân tửchất keo tụ bị hấp phụ trên các hạt lơ lửng. c. Keo tụ điện hóa:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 40
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Keo tụ không có tác chất hay keo tụ điện hóa diễn ra bằng cách dẫnnước qua các tấm nhôm được xếp cách nhau 10-20 mm. Bản chất của quátrình là hòa tan anot của các tấm nhôm được nối lần lượt với các cực dương vàcực âm của nguồn điện có cường độ cao và hiệu điện thế thấp. Khi đó ion nhômsẽ chuyển vào nước và tạo thành hydroxit. Ưu điểm của quá trình này là hìnhthành và lắng nhanh các sợi bông dai và không cần điều chỉnh pH. Nhược điểmcủa nó là chi phí điện năng cao. Phương pháp này có thể được dùng để xử lý nước phù sa ở các tỉnhthuộc đồng bằng Sông Cửu Long, nhưng do mạng lưới điện chưa được lắp đặtđầy đủ và chi phí điện cao nên còn bị hạn chế. II.5. Tuyển nổi: Phương pháp tuyển nổi dựa trên nguyên tắc: các phần tử phân tántrong nước có khả năng tự lắng kém, nhưng có khả năng kết dính vào các bọtkhí nổi lên trên bề mặt nước. Sau đó người ta tách bọt khí cùng các phần tửdính ra khỏi nước. Thực chất đây là quá trình tách bọt hay làm đặc bọt. Ngoàira, quá trình này còn để tách các chất hòa tan như các hoạt động bề mặt (trang100, [15]). Trong công nghiệp, tuyển nổi được áp dụng để xử lý chất khoáng, táisinh nguyên liệu từ nước rửa, làm sạch nước thải, xử lý bùn và thu hồi khoángsản quí. Trong xử lý nước cấp, quá trình tuyển nổi được kết hợp với quá trìnhkeo tụ tạo bông, đặc biệt là đối với chất mùn và tảo sau quá trình keo tụ tạobông được tách ra khỏi nước bằng tuyển nổi ( trang 85, [20] ). Phương pháp này được thực hiện nhờ thổi không khí thành bọt nhỏvào trong nước thải. Các bọt khí dính các hạt lơ lửng lắng kém và nổi lên trênmặt nước. Khi nổi lên các bọt khí tập hợp thành bông hạt đủ lớn, rồi tạo thànhmột lớp bọt chứa nhiều hạt bẩn ( trang 100, [15]). Tuyển nổi bọt nhằm tách các hạt lơ lửng không tan và một số chấtkeo hoặc hòa tan ra khỏi pha lỏng. Kĩ thuật này có thể dùng cho xử lý nước thảiđô thị và nhiều lĩnh vực công nghiệp như: chế biến dầu béo, dệt thuộc da, chếbiến thịt, v.v… ( trang 100, [15] ). Ngoài ra, tuyển nổi ion và phân tử là một phương pháp mới để táchcác chất tan ra khỏi nước, được sử dụng trong những năm gần đây ( trang 74,[10] ). Hiệu suất của phương pháp tuyển nổi phụ thuộc vào kích thước vàsố lượng bong bóng khí, kích thước các tạp chất trong nước thải. Kích thước tốiưu của bong bóng khí là 15 ÷ 30µm, kích thước hạt tạp chất là 0,2 ÷ 1,5µm (trang 33, [3] ). Có nhiều phương pháp tuyển nổi để xử lý nước thải:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 41
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào 1. Tuyển nổi từ sự tách không khí từ dung dịch; 2. Tuyển nổi với sự phân tán không khí bằng cơ giới; 3.Tuyển nổi nhờ các tấm xốp; 4. Tuyển nổi bằng phương pháp tách phân đoạn bọt; 5. Tuyển nổi hóa học, sinh học và ion; 6. Tuyển nổi điện. Phương pháp này có ưu điểm là hoạt động liên tục, phạm vi ứng dụngrộng rãi, chi phí đầu tư và vận hành không lớn, hiệu quả xử lý cao, thiết bị đơngiản, thu cặn có độ ẩm nhỏ và có thể thu hồi tạp chất trong cặn. Ngoài ra, nướcthải được xử lý bằng phương pháp tuyển nổi sẽ được thông khí, giảm đượchàm lượng chất hoạt động bề mặt, chất dễ bị oxy hóa. Tuyển nổi từ sự tách không khí từ dung dịch: Phương pháp này được áp dụng để làm sạch nước thải chứahạt ô nhiễm rất mịn. Bản chất của phương pháp này là tạo dung dịch quá bãohòa không khí. Khi giảm áp suất các bọt không khí sẽ tách ra khỏi dung dịch vàlàm nổi chất bẩn. Tùy thuộc vào biện pháp tạo dung dịch quá bão hòa, người tachia ra: tuyển nổi chân không, áp suất và bơm dâng ( trang 91, [11]). Tuyển nổi với sự phân tán không khí bằng cơ khí: Sự phân tán khí trong máy tuyển nổi được thực hiên nhờ bơmturbin kiểu cánh quạt, đó là đĩa có cánh quay hướng lên trên. Thiết kế kiểu nàyđược ứng dụng để xử lý nước có nồng độ các hạt lơ lửng cao ( lớn hơn 2 g/l ).Khi quay cánh quạt trong chất lỏng xuất hiện một số lượng lớn các dòng xoaynhỏ và được phân tán thành các bọt khí có kích thước xác định, mức độ phântán càng cao bọt khí càng nhỏ quá trình càng hiệu quả. Tuy nhiên, nếu vận tốcquay cao sẽ làm tăng đột ngột dòng chảy rối và có thể phá vỡ tổ hợp hạt - khí,do đó làm giảm hiệu quả xử lý ( trang 92, [11]). Tuyển nổi nhờ các tấm xốp: Phương pháp này có ưu điểm là: kết cấu buồng nổi đơn giản,chi phí năng lượng thấp. Khuyết điểm: các bọt mau bị bẩn và dễ bị bịt kín, khócho vật liệu có lỗ giống nhau để tạo bọt khí nhuyễn và có kích thước bằng nhau.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 42
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Hiệu quả tuyển nổi phụ thuộc vào lỗ xốp, áp suất không khí, lưulượng không khí, thời gian tuyển nổi, mực nước trong thiết bị tuyển nổi ( trang93, [11]). . Xử lý bằng phương pháp tách phân đoạn bọt ( tách bọt ): Phương pháp tách phân đoạn bọt dựa trên sự hấp phụ chọn lọcmột hay nhiều chất tan trên bề mặt bọt khí nổi lên trên xuyên qua dung dịch.Quá trình này ứng dụng để loại chất hoạt động bề mặt ra khỏi nước thải, nótương tự quá trình hấp phụ trên chất rắn. Trong quá trình phân riêng, bọt tạo thành có nồng độ chất tanhoạt động bề mặt khá cao. Việc tách nó ra khỏi bọt rất khó khăn. Vì vậy, trongđa số các trường hợp nó là chất thải. Như vậy, quá trình xử lý nước thải khỏi chất hoạt động bề mặtbằng phương pháp tách bọt có nhược điểm: _ Tạo thành chất ngưng giàu chất hoạt động bề mặt, bị phân hủychậm. _ Khi nồng độ chất hoạt động bề mặt trong nước thải tăng hiệuquả xử lý giảm. Do đó, người ta đề nghị phương pháp xử lý chất hoạt động bềmặt kết hợp với phương pháp tách bọt rồi xử lý bức xạ, loại trừ hoàn toàn chấtthải dạng bọt. Theo sơ đồ này, chất thải chứa chất hoạt động bề mặt được choliên tục vào tháp. Không khí cũng được sủi bọt vào thùng này. Bọt tạo thànhtrong tháp được đưa qua thiết bị bức xạ, chiếu bằng tia γ. Nhờ đó, chất hoạtđộng bề mặt bị phân hủy còn bọt ngưng tụ. Theo sơ đồ khác, bọt không đi ra khỏi tháp mà bị phân hủy ngaytrên đỉnh tháp bằng tia γ . Phương pháp này cho phép xử lý nước thải có nồng độ chấthoạt động bề mặt cao. Tuy nhiên, sự phân hủy hoàn toàn chất hoạt động bềmặt thành H2O và CO2 không kinh tế. Thích hợp nhất là phân hủy chúng thànhcác chất dễ bị oxy hóa sinh học Các phương pháp tuyển nổi khác: Đó là tuyển nổi hóa học, sinh học và ion. a. Tuyển nổi hóa học:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 43
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Trong quá trình xử lý nước có thể diễn ra các quá trình hóa họcvới sự phát sinh các khí như: O2, CO2, Cl2,…Bọt của các khí này có thể kết dínhvới các chất lơ lửng không tan và đưa chúng lên lớp bọt. Nhược điểm củaphương pháp này là tiêu hao nhiều tác chất. b. Tuyển nổi sinh học: Phương pháp này được ứng dụng để nén cặn từ bể lắng đợt Ikhi xử lý nước thải sinh hoạt. Trong phương pháp này cặn được đun nóng bằnghơi nước đến 35-550C và nhiệt độ này được giữ cả ngày đêm. Do hoạt độngcủa các vi sinh vật, các bọt khí sinh ra và mang các hạt cặn lên lớp bọt, ở đóchúng được nén và khử nước. Bằng cách này, trong vòng 5-6 ngày đêm độ ẩmcủa cặn có thể giảm đến 80% và đơn giản hóa quá trình xử lý cặn tiếp theo. c. Tuyển nổi ion: Quá trình này được tiến hành như sau: người ta cho không khí vàchất hoạt động bề mặt vào nước thải. Chất hoạt động bề mặt trong nước tạothành các ion có điện tích trái dấu với điện tích của ion cần loại ra. Không khí ởdạng bọt có trách nhiệm đưa chất hoạt động bề mặt cùng chất bẩn lên lớp bọt. Phương pháp này có thể áp dụng để tách ra khỏi nước các kimloại ( Mo, W, V, Pt, Ce, Re,…) quá trình hiệu quả khi nồng độ ion thấp 10-3-10-2mol.ion/l. Trong trường hợp cần tiến hành đồng thời quá trình tuyển nổi vàoxi hóa chất ô nhiễm, nên bão hòa nước bằng không khí giàu oxi hoặc ozone.Để hạn chế quá trình oxi hóa thì thay không khí bằng khí trơ ( trang 93, [11]). Tuyển nổi điện: Biện pháp này dựa trên nguyên tắc: khi có dòng diện một chiềuqua nước thải, ở một trong các điện cực ( catot ) sẽ tạo ra khí hydro. Kết quảnước thải khí được bão hòa bởi các bọt khí đó sẽ kéo theo các chất bẩn khôngtan khác nổi lên bề mặt nước. Ngoài ra, nếu trong nước thải còn chứa nhiềuchất bẩn khác là các chất điện phân thì dòng điện đi qua sẽ làm thay đổi cácthành phần hóa học và tính chất của trạng thái các tạp chất không tan do có cácquá trình điện ly, phân cực, điện chuyển và oxy hóa khử…. xảy ra. Trong nhiều trường hợp những thay đổi có lợi cho qua trình xửlý nước thải và trong những trường hợp khác cần phải điều khiển các quá trìnhđó để đạt được hiệu suất xử lý một loại chất bẩn nào đó. Khi sử dụng các điện cực tan ( sặt hoặc nhôm ) thì ở cực anotsẽ diễn ra quá trình hòa tan kim loại: Kết quả sẽ có các cation ( nhôm hoặc sắt)chuyển vào nước. Những cation này sẽ cùng nhóm hydroxyl tạo thành hydroxitlà những chất keo tụ phổ biến trong thực tế xử lý nước thải. Do đó, trong khôngĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 44
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đàogian các điện cực sẽ diễn ra quá trình tạo bông keo tụ và tạo các bọt khí, tạođiều kiện để bọt khí bám vào bông cũng như quá trình keo tụ chất bẩn, quátrình hấp phụ, kết dính…. diễn ra mạnh và hiệu suất tuyển nổi cao hơn. Cường độ của tất cả quá trình quá trình phụ thuộc vào các yếutố sau: _ Thành phần hóa học nước thải. _ Vật liệu các điện cực ( tan hoặc không tan ). _ Các thông số của dòng điện: điện thế, cường độ, điện trởsuất…. Đối với các trạm tuyển nổi điện có công suất lớn thì nên xâydựng hai ngăn gồm một ngăn điện cực ( ngăn keo tụ ), và một ngăn tuyển nổi (trang 78-81, [10]). II.6. Hấp phụ: Phương pháp hấp phụ được dùng rộng rãi để làm sạch triệt để nướcthải khỏi các chất hữu cơ hòa tan sau khi xử lý sinh học cũng như xử lý cục bộkhi trong nước thải có chứa một hàm lượng rất nhỏ các chất đó. Những chấtnày thường không phân hủy bằng con đường sinh học và thường có độc tínhcao. Nếu các chất này bị hấp phụ tốt và khi chi phí riêng lượng chất hấp phụkhông lớn thì việc ứng dụng phương pháp này là hợp lí hơn cả ( trang 132-133,[13] ). Trong xử lý nước thải công nghiệp, hấp phụ được ứng dụng để khửđộc nước thải khỏi thuốc diệt cỏ, phenol, thuốc sát trùng, các hợp chất hữu cơvòng thơm, chất hoạt động bề mặt, thuốc nhuộm, màu hoạt tính ( trang 33, [3] ). Các chất hấp phụ thường dùng là: than hoạt tính, đất sét, silicagen,keo nhôm, một số chất tổng hợp hoặc chất thải sản xuất như: xỉ, mạtsắt,…Trong số này, than hoạt tính là được dùng phổ biến nhất. Than hoạt tínhcó hai dạng: hạt và bột đều được dùng để hấp phụ. Các chất hữu cơ, kim loạinặng và các chất màu dễ bị than hấp phụ. Lượng chất này tùy thuộc vào khảnăng hấp phụ của từng chất và hàm lượng chất bẩn có trong nước. Phươngpháp này có khả năng hấp phụ được 58-95% các chất hữu cơ và màu. Cácchất hữu cơ có thể bị hấp phụ được tính đến là phenol, alkylbenzen, sunfonicaxit, thuốc nhuộm, các hợp chất thơm. Đã có những ứng dụng dùng than hoạttính để hấp phụ thủy ngân và những thuốc nhuộm khó phân hủy, nhưng tốnkém và làm cho quá trình không kinh tế. Để loại bỏ các kim loại nặng, các chấthữu cơ, vô cơ độc hại, người ta dùng than bùn để hấp phụ và nuôi bèo tây trênmặt hồ ( trang 100, [15] ).Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 45
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Phương pháp hấp phụ có tác dụng tốt trong việc xử lý nước thải chứacác chất hữu cơ, các kim loại nặng và màu. Để loại bỏ các kim loại nặng, cácchất vô cơ và hữu cơ độc hại hiện nay người ta có thể sử dụng than bùn hoặcmột số loại thực vật nước như lục bình. Ưu điểm của phương pháp này là hiệu quả cao, có khả năng xử lýnhiều chất trong nước thải và có thể thu hồi các chất này. Xử lý nước hấp phụcó thể tái sinh, tức thu hồi và tận dụng chất thải; phân hủy và tiêu hủy chất thảicùng với chất hấp phụ II.7. Trao đổi ion: Trao đổi ion là quá trình tương tác của dung dịch với pha rắn có tínhchất trao đổi ion chứa nó bằng các ion khác có trong dung dịch. Bằng cách nàyngười ta có thể loại đi một số ion trong dung dịch nước. Phương pháp này được ứng dụng để làm sạch nước hoặc nước thảikhỏi các kim loại như: Zn, Cu, Cr, Pb, Ni, Hg, Cd, V, Mn,…, cũng như các hợpchất của asen, photpho, xyanua và các chất phóng xạ, khử muối trong nướccấp, cho phép thu hồi các chất có giá trị và đạt mức độ làm sạch cao. Vì vậy, nóđược ứng dụng rộng rãi để tách muối trong xử lý nước và nước thải. • Cơ sở của quá trình trao đổi ion: Trao đổi ion theo tỉ lệ tương đương và trong phần lơn các trườnghợp là phản ứng thuận nghịch. Phản ứng trao đổi ion xảy ra do hiệu số thế hóahọc của các ion trao đổi. Phương trình trao đổi tổng quát có dạng:( trang 143,[13]) mA + RmB ↔ RmA + mB ( trang 37, [19]). Quá trình trao đổi ion có thể tiến hành qua một số giai đoạn sau: 1. Vận chuyển các ion A từ trong dòng chất lỏng đến mặt ngoài màng biên bao quanh hạt ionit. 2. Khuếch tán các hạt qua lớp biên. 3. Vận chuyển các ion qua bề mặt phân chia pha vào hạt nhựa. 4. Khuếch tán ion A vào trong hạt đến bề mặt phân chia pha. 5. Phản ứng trao đổi ion A và B. 6. Khuếch tán ion B bên trong hạt đến bề mặt phân chia pha.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 46
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào 7. Chuyển ion B qua bề mặt phân chia pha đến mặt trong màng biên. 8. Khuếch tán ion B qua màng. 9. Khuếch tán ion B vào trong dòng lỏng. ( trang 103, [11]). • Các chất trao đổi ion (nhựa trao đổi ion ): Các chất có khả năng trao đổi ion được gọi là các ionit. Tùy theoloại trao đổi mà nhựa có tên là cationit hay anionit. Ngoài ra do khả năng traođổi với các ion H+ hay có nhóm OH- mà nó sẽ có tính axit hay bazơ. Nhìn chungcấu tạo của các chất trao đổi ion gồm hai phần: phần gốc và phần mang nhómion được trao đổi. Một số chất trao đổi ion: zeolic, silicagen, than đá,…( trang 37,[3]). II.8. Thẩm thấu ngược: Là quá trình lọc dung dịch qua màng bán thấm dưới một áp suấtcao hơn áp suất thẩm thấu ( trang 153, [13]). • Cơ chế của quá trình: Có nhiều cơ chế giải thích quá trình thẩm thấu ngược. Một trongnhững cơ chế đó giải thích như sau: màng bán thấm không có khả năng hòatan. Nếu như chiều dày của lớp phân tử nước bị hấp phụ bằng hoặc lớn hơnmột nửa đường kính mao quản của màng thì dưới tác dụng của áp suất chỉ cónước sạch đi qua, mặc dù kích thước của nhiều ion nhỏ hơn kích thước cuảphân tử nước. Lớp hiđrat của các ion này cản trở không cho chúng đi qua maoquản của màng. Kích thước màng hiđrat của các ion khác nhau sẽ khác nhau.Nếu chiều dày của lớp phân tử nước bị hấp phụ nhỏ hơn nửa đường kính maoquản thì các chất hòa tan sẽ chui qua màng cùng với nước. Ưu điểm của phương pháp thẩm thấu ngược là: _ Không có pha chuyển tiếp trong tách tạp chất cho phép tiếnhành quá trình với chi phí năng lượng thấp. _ Có thể tiến hành quá trình ở nhiệt độ phòng không có bổ sunghoặc bổ sung ít hóa chất. _ Đơn giản trong kết cấu ( trang 159, [13]).Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 47
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Nhược điểm của phương pháp thẩm thấu ngược: _ Năng suất, hiệu quả làm sạch và thời gian làm việc của mànglọc giảm khi nồng độ chất tan trên bề mặt màng lọc tăng (trang 105, [11]). _ Quá trình hoạt động dưới áp suất cao, do đó cần có vật liệu đặcbiệt làm kín thiết bị. Thẩm thấu ngược được ứng dụng rộng rãi để tách muối khỏinước trong hệ thống cấp nước nhà máy nhiệt điện và các ngành công nghiệpkhác ( như công nghiệp bán dẫn, đèn hình, dược…). Những năm gần đây,phương pháp này được sử dụng để làm sạch một số nước thải công nghiệp vàđô thị (trang 159, [13]). II.9. Siêu lọc: _ Cả siêu lọc và thẩm thấu ngược đều phụ thuộc vào áp suất,động lực của quá trình và đòi hỏi màng cho phép một số cấu tử thấm qua, giữlại một số cấu tử khác. _ Sự khác biệt giữa hai quá trình là ở chỗ siêu lọc thường đượcsử dụng để tách dung dịch có khối lượng phân tử trên 500 và có áp suất thẩmthấu nhỏ ( như vi khuẩn, tinh bột, protêin, đất sét,…). Còn thẩm thấu ngượcthường được sử dụng để khử các vật liệu có khối lượng phân tử thấp và có ápsuất thẩm thấu cao. _ Siêu lọc thường được sử dụng để khử đất sét, vi sinh vật, cácchất thực vật, tách nước cho bùn . _ Cơ chế của quá trình siêu lọc hoàn toàn khác so với cơ chế củaquá trình thẩm thấu ngược. Chất tan bị giữ trên màng lọc vì kích thước phân tửcủa chúng lớn hơn đường kính lỗ xốp hoặc do ma sát phân tử với thành lỗ xốpcủa màng. Quá trình này phức tạp hơn nhiều. Khi sử dụng kết hợp thẩm thấu ngược và siêu lọc có thể làm đậmđặc và phân tách các chất hòa tan hữu cơ và vô cơ trong nước thải. Ví dụ theosơ đồ dưới đây, thì sau quá trình siêu lọc ta nhận được phần đậm đặc chứa cácchất hữu cơ, còn trong quá trình thẩm thấu ngược sẽ nhận được phần đậm đặccủa các chất vô cơ và nước sạch.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 48
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Nước thải Siêu lọc Phần đậm đặc chứa Nước chứa các các chất hữu cơ chất vô cơ Thẩm thấu ngược Phần đậm đặc chứa Các chất vô cơ Nước không có muối Sơ đồ kết hợp siêu lọc và thẩm thấu ngược ( trang 159-160, [13]). II.10. Thẩm tách và điện thẩm tách ( TT và ĐTT ): Phép thẩm tách là quá trình phân tách chất rắn bằng sử dụngkhuếch tán không bằng nhau qua màng. Điện thẩm tách được thực hiện bằng cách đặt các màng có tínhchọn lọc với cation và anion luân phiên nhau dọc theo dòng điện. Khi đưa dòngđiện vào, các cation được gắn điện đi qua màng trao đổi cation về một hướng,còn các anion sẽ đi qua màng trao đổi ion về một hướng khác. Kết quả là muối giảm trong khoang của một cặp màng và tăngtrong khoang bên cạnh. Nước khi đó có thể đi qua một số màng cho đến khi đạtđến độ mặn cần thiết theo yêu cầu. Phương pháp thẩm tách đã được dùng để thu hồi axit, muối kimloại và các hydroxit. Phương pháp điện thẩm tách đã được nghiên cứu như mộtphương pháp khử nitơ trong nước thải nông nghiệp, nó cũng được ứng dụngrộng rãi để làm ngọt nước. Phương pháp này cũng đã được dùng để thu hồicác axit, lignin từ nước thải của sản xuất giấy, crôm từ nước thải của mạ điện (trang 161-162, [13]). II.11. Các phương pháp điện hóa : Người ta sử dụng quá trình oxy hóa cực anot và khử của catot,đông tụ điện,…để làm sạch nước thải khỏi các tạp chất hòa tan và phân tán lớn.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 49
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào _Tất cả các quá trình này đều xảy ra trên điện cực khi cho dòngđiện một chiều đi qua nước thải. _ Các phương pháp điện hóa cho phép lấy từ nước thải các sảnphẩm có giá trị bằng các sơ đồ công nghệ tương đối đơn giản, tự động hóa màkhông cần sử dụng các tác nhân hóa học. Các phương pháp này còn đượcdùng để xử lý nước thải chứa nhiều xyanua trong công nghệ mạ điện. _ Nhược điểm chính của các phương pháp này là tiêu hao nănglượng điện nặng lớn. Tuy nhiên, việc làm sạch nước thải bằng các phương pháp nàycó thể tiến hành gián đoạn hoặc liên tục. II.11.1. Oxy hóa của anot và khử của catot: _ Trong thùng điện phân, trên điện cực dương diễn ra quá trìnhoxy hóa điện hóa ( các ion cho anot điện tử ), còn trên catot điện cực âm diễn rasự kết hợp các điện tử ( phản ứng khử ), ( trang 106, [11] ). _ Các quá trình này được nghiên cứu để làm sạch nước thải khỏicác tạp chất xyanua, sunfoxyanua, các amin, alcol, các alđêhit, hợp chất nitơ,thuốc nhuộm azo, sunfit, mecaptan,…. Trong quá trình oxy hóa điện hóa, cácchất trong nước thải bị phân rã hoàn toàn thành CO2 , NH3 và nước hay tạothành các chất không độc và đơn giản hơn để có thể tách bằng các phươngpháp khác. _ Anot được làm từ các vật liệu không hòa tan khác nhau ( Pt,titan, thép không gỉ, than,….). _ Catot được làm bằng Mo, hợp kim của Vonfram với sắt hayniken, graphit, thép không gỉ,… • Cơ chế oxy hóa của anot ( oxy hóa điện hóa ): + Oxy hóa anot của xyanua xảy ra theo phản ứng : CNO- + 2H2O → NH4+ + CO32- hay quá trình oxy hóa có thể dẫn đến sự tạo thành nitơ: 2CNO- + 4OH- - 6e → 2CO2 + N2 + 2H2O. + Quá trình phá hủy xyanua xảy ra do sự oxy hóa điện hóa ở anotvà oxy hóa bằng clo được giải phóng ở anot từ sự phân tách NaCl được mô tảnhư sau :Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 50
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Cl- - 2e → Cl2 CN- + Cl2 + 2OH- → CNO- + 2Cl- +H2O 2CNO- + 3Cl2 + 4OH- → 2CO2 + N2 + 6Cl- +2H2O + Các sunfoxyanua được phân hủy theo sơ đồ sau : CNS- + 10OH- - 8e → CNO- + SO42- +5H2O _ Các ion sunfit ở pH=7 bị oxy hóa tới sunfit. Khi pH nhỏ hơn lưuhuỳnh có thể được tạo thành. Oxy hóa phenol khi có clorua trong nước ( khihàm lượng phenol không lớn ) xảy ra theo các phản ứng sau: 4 OH- - 4e → 2 H2O + O2 2 H+ + 2e → H2 2 Cl- - 2e → Cl2 Cl2 + H2O → HClO + HCl HClO + OH- → H2O + ClO- 12 ClO- + 6 H2O - 12e → 4 HCO3- + 8HCl +3 O2 C6H5OH + 14 O → 6 CO2 + 3 H2O • Cơ chế khử điện hóa: Người ta ứng dụng quá trình khử điện khóa để loại các ion kimloại ra khỏi nước thải với sự tạo thành cặn, nhằm chuyển các cấu tử gây ônhiễm thành các hợp chất ít độc hơn hoặc về dạng dễ tách khỏi nước như cặn,khí. Qúa trình này có thể được sử dụng để làm sạch nước thải ra khỏi các ionkim loại nặng như: Pb2+, Sn2+, Hg2+, Cu2+, As2+ và Cr2+. Quá trình khử củacatot đối với các kim loại nặng xảy ra như sau: Men+ + ne → Me Ở đây các kim loại bám trên catot và có thể thu hồi chúng. _ Phản ứng khử hợp chất Crom: Cr2O72- + 14 H+ + 12e → 2 Cr + 7 H2OĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 51
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào _ Để xử lý nước thải chứa một số, kim loại nặng, người ta tiếnhành quá trình làm sạch nước thải khỏi các ion Pb2+, Cd2+, Hg2+, Cu2+ bằngquá trình khử trên catot được làm từ hỗn hợp cacbon và lưu huỳnh. Các ion nàylắng trên cực ở dạng sunfua hoặc bisunfua và có thể tách chúng bằng phươngpháp cơ học. _ Quá trình khử NH4NO3 trên điện cực than chì xảy ra nhưsau: NH4NO3 + 2 H+ + 2e → NH4NO2 +H2O NH4NO2 → N2 + 2 H2O ( trang 162-165,[13] ). II.11.2. Tuyển nổi điện: Trong quá trình làm sạch nước thải bằng phương pháp này, việctách các hạt lơ lửng là nhờ các bọt khí tạo thành trong điện phân nước. Ở anotlà nhờ các bóng khí oxy, còn ở catot là hyđro. Khi sử dụng các điện cực tan (sắt hoặc nhôm ) thì ở catot sẽ diễn ra quá trình hòa tan kim loại. Kết quả là sẽcó các cation ( sắt hoặc nhôm ) chuyển vào nước cùng với nhóm hyđroxyl tạothành hyđroxit là những chất keo tụ phổ biến trong thực tế xử lý nước thải. Dođó, không gian các điện cực sẽ đồng thời diễn ra quá trình tạo bông keo tụ vàtạo bọt khí, tạo điều kiện để bọt khí bám vào bông cũng như quá trình keo tụchất bẩn, quá trình hấp phụ, dính kết,…, diễn ra mạnh, hiệu suất tuyển nổi caohơn ( trang 78-79, [10] ). II.11.3. Đông tụ điện: Để làm sạch nước thải công nghiệp chứa các tạp chất phân tántrong nước có độ bền cao, người ta tiến hành quá trình điện phân với việc sửdụng điện cực bằng Al. Dưới tác dụng của dòng điện xảy ra quá trình hòa tancác điện cực, dẫn đến các cation nhôm chuyển vào nước gặp nhóm hydrôxyltạo thành hydrôxit của các kim loại đó ở dạng bông và quá trình đông tụ xảy ramãnh liệt. Ưu điểm của phương pháp này là thiết bị gọn và điều khiển đơngiản không sử dụng tác nhân hóa học, ít nhạy cảm với sự thay đổi điều kiện tiếnhành quá trình làm sạch, không có các chất độc; bùn cặn có tính chất hóa họcvà cấu trúc tốt. Nhưng phương pháp này có nhược điểm là tiêu tốn kim loại vàchi phí điện năng cao. Phương pháp đông tụ điện được ứng dụng nhiều trong côngnghệ thực phẩm, hóa chất, giấy, bột giấy, lọc nước phù sa, phẩm màu phân tán. III. Các phương pháp hóa học:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 52
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Các phương pháp hóa học dùng trong xử lý nước thải gồm có: trung hòa,oxy hóa và khử. Tất cả các phương pháp này đều dùng các tác nhân hóa họcnên là phương pháp đắt tiền. Người ta sử dụng các phương pháp hóa học đểkhử các chất hòa tan và trong các hệ thống cấp nước khép kín. Đôi khi cácphương pháp này được dùng để xử lý sơ bộ trước xử lý sinh học hay sau côngđoạn này như là một phương pháp xử lý nước thải lần cuối để thải vào nguồnnước ( trang169, [13] ). III.1. Phương pháp trung hòa: Nước thải chứa các axit vô cơ hoặc kiềm cần được trung hòa pH vềkhoảng 6,5 ÷ 8,5 trước khi thải vào nguồn nước hoặc sử dụng cho công nghệxử lý tiếp theo. Trung hòa nước thải có thể được thực hiện bằng nhiều cách khácnhau: _Trộn lẫn nước thải axit với nước thải kiềm: Phương pháp này được sử dụng khi nước thải của xí nghiệp là axitcòn xí nghiệp gần đó có nước thải là kiềm: Cả hai loại nước thải này đều khôngchứa các cấu tử gây ô nhiễm khác ( trang 169, [13]). _ Trung hòa bằng bổ sung các tác nhân hóa học: Để trung hòa nước axit , có thể sử dụng các tác nhân hóa học nhưNaOH, KOH, Na2 CO3 , nước amoniac NH4OH, CaCO3, MgCO3 , đolomit (CaCO3 . MgCO3 ) và xi măng. Tác nhân rẻ nhất là sữa vôi 5 đến 10% Ca(OH)2 ,tiếp đó là sođa và NaOH ở dạng phế thải . Đôi khi người ta sử dụng các chấtthải khác nhau của sản xuất để trung hòa nước thải. Để trung hòa nước thải kiềm người ta sử dụng các axit khác nhauhoặc khí thải mang tính axit như CO2 ,SO2, NO2,…(trang 169, [13] ). _ Trung hòa nước thải bằng cách lọc qua vật liệu có tác dụng trunghòa: Người ta thường dùng các vật liệu như manhêtit (MgCO 3 ), đolomit ,đá vôi, đá hoa,…và các chất thải rắn như xỉ, xỉ tro làm vật liệu lọc. Quá trìnhtrung hòa được tiến hành trong các thiết bị lọc - trung hòa đặt nằm ngang hoặcđứng. Các thiết bị lọc này dùng để trung hòa nước axit có nồng độ không vượtquá 1,5mg/l và không chứa muối của kim loại nặng. _ Trung hòa bằng các khí axit : Để trung hòa nước thải kiềm, trong những năm gần đây, người tađã dùng khí thải chứa CO2 ,SO2, NO2,… Việc sử dụng khí axit không những choĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 53
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đàophép trung hòa nước thải mà đồng thời tăng hiệu suất làm sạch chính khí thảikhỏi các cấu tử độc hại. Việc sử dụng CO2 để trung hòa nước thải kiềm có nhiều ưu điểm vớiviệc dùng H2SO4 hay HCl và cho phép giảm rất đáng kể chi phí cho quá trìnhtrung hòa. Do độ hòa tan CO2 kém nên mức nguy hiểm do oxy hóa quá mứccác dung dịch được trung hòa cũng giảm xuống, các ion CO32- được tạo thànhcó ứng dụng nhiều hơn so với ion SO42- , Cl- , ngoài ra tác động ăn mòn và độchại của ion CO32- trong nước nhỏ hơn các ion SO42- , Cl- (trang 174,[13]). III.2. Phương pháp oxy hóa và khử: Để làm sạch nước tự nhiên và nước thải người ta có thể dùng cácchất oxy hóa như Clo dạng khí và dạng lỏng, điclooxit, CaOCl2, Ca(ClO)2 và Na,KMnO4, K2Cr2O7, H2O2, O2 , O3 ,MnO2 … Trong quá trình oxy hóa, các chất độc hại trong nước thải chuyểnthành các chất ít độc hơn và tách ra khỏi nước. Quá trình này tiêu tốn mộtlượng lớn các tác nhân hóa học, do đó oxy hóa hóa học chỉ được dùng để loạicác tạp chất gây nhiểm bẩn trong nước mà không thể tách bằng phương phápkhác như khử xyanua hay hợp chất hòa tan của As (trang 175,[13]). III.2.1. Oxy hóa bằng Clo : Clo và các chất chứa Clo hoạt tính là chất oxy hóa thông dụng nhất,thường được dùng để tách hydrosunfua, hydrosunfit, các hợp chất chứametylsunfit, phenol, xyanua ra khỏi chất thải. Ví dụ: Quá trình tách xyanua ra khỏi nước thải được tiến hành ở môitrường kiềm (pH = 9 ). Xyanua có thể bị oxy hóa tới N2 và CO2 theo phươngtrình sau: CN- + 2 OH- + Cl2 → CNO- + 2Cl- + H2O 2CNO- + 4 OH- + Cl2 → CO2 + 6Cl- + N2 + H2O ( trang 176,[13]) III.2.2. Oxy hóa bằng hydro peoxit: H2O2 được dùng để oxy hóa các nitrit, xyanua, phenol, các chấtthải chứa lưu huỳnh và các chất nhuộm mạnh. Trong môi trường axit, H2O2 thể hiện rõ chức năng oxy hóa, còntrong môi trường kiềm là chức năng khử. Trong môi trường axit, H2O2 chuyểnFe2+ thành Fe3+ , HNO2 thành HNO3, SO32- thành SO42-, CN- bị oxy hóa trongmôi trường kiềm ( pH= 9÷12 ) thành CNO-.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 54
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Ngoài tính oxy hóa, người ta còn dùng tính khử của H2O2 để loạiClo ra khỏi nước: H2O2 + Cl2 → O2 + 2 HCl H2O2 + NaClO → O2 + NaCl + H2O III.2.3. Oxy hóa bằng oxy không khí: _ O2 trong không khí được dùng để tách Fe ra khỏi nước theophản ứng: 4 Fe2+ + O2 + 2 H2O → 4 Fe3+ + 4 OH- Fe3+ + 3 H2O → Fe(OH)3 ↓ + 3 H+ _ O2 trong không khí còn được dùng để oxy hóa sunfua trongnước thải của các nhà máy giấy, chế biến dầu mỏ và hóa dầu. Quá trình oxyhóa hydrosunfua thành sunfua lưu huỳnh diễn ra như sau: S-2 → S → SnO62-→ S2O32- → SO32- → SO42- Khi nhiệt độ tăng, tốc độ phản ứng và mức oxy hóa sunfua vàhydrosunfua tăng ( trang 177, [13] ). III.2.4. Oxy hóa bằng MnO2: MnO2 được dùng để oxy hóa As3+ đến As5+ theo phản ứng sau: H3AsO3 + MnO2 + H2SO4 → H3AsO4 +MnSO4 + H2O Khi tăng nhiệt độ ( nhiệt độ tối ưu 70-800 ) thì mức oxy hóa tăng.Quá trình oxy hóa này thường được tiến hành bằng cách lọc nước thải qua lớpvật liệu MnO2 hoặc trong thiết bị có khuấy trộn với vật liệu đó ( trang 178, [13] ). III.2.5. Ozon hóa: Oxy hóa bằng ozon cho phép các tạp chất nhiễm bẩn, màu, mùi vịlạ đối với nước, hay có thể làm sạch nước thải khỏi phenol, sản phẩm dầu mỏ,H2S, các hợp chất của As, chất hoạt động bề mặt, xyanua, chất nhuộm,hiđrocacbon thơm, thuốc sát trùng. Trong xử lý nước bằng ozon, các hợp chất hữu cơ bị phân hủy vàxảy ra sự khử trùng đối với nước. Các vi khuẩn chết nhanh hơn so với xử lýnước thải bằng Clo vài nghìn lần. Ozon có thể oxy hóa tất cả các chất vô cơ và hữu cơ.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 55
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Ví dụ: oxy hóa Fe2+, Mn2+ tạo thành kết tủa hyđroxit hay đioxitpermanganat không tan: 2 FeSO4 + H2SO4 + O3 → Fe2(SO4)3 + H2O +O2 MnSO4 + O3 + 2 H2O → H2MnO3 + O2 +H2SO4 2 H2MnO3 + 3 O3 → 2 HMnO4 + 3 O2 +H2O Oxy hóa NH3 trong môi trường kiềm như sau: NH3 + 4 O3 → NO3- + 4 O2 + H2O + H+ III.2.6. Làm sạch bằng khử: Phương pháp này được ứng dụng rộng rãi để xử lý các hợp chấtthủy ngân, crom, asen. Trong phương pháp này, hợp chất thủy ngân vô cơđược khử đến thủy ngân kim loại và tách ra khỏi nước nhờ lắng, lọc hoặc keotụ. Các hợp chất thủy ngân đầu tiên được oxy hóa phân hủy, sau đó các cationthủy ngân được khử đến kim loại. Để khử thủy ngân và các hợp chất của chúngcó thể dùng sunfat sắt, hydroxit natri, bột sắt, H2S, bột nhôm,… Phương pháp phổ biến để khử asen là cho nó lắng dưới dạng cáchợp chất khó tan, còn các hợp chất chứa crom hóa trị 6 người ta khử nó đếncrom hóa trị 3 và cho nó lắng dưới dạng hydroxit trong môi trường kiềm. Chấtkhử có thể là than hoạt tính, sunfat sắt, bisunfat natri, hydro, dioxit lưu huỳnh,các phế thải hữu cơ. Khử bằng dung dịch bisunfat natri: 4 H2CrO4 + 6 NaHSO3 + 3 H2SO4 → 2 Cr2(SO4)3 + 3 Na2SO4+ 10 H2O Để lắng Cr(III), người ta ứng dụng tác chất kiềm Ca(OH)2, NaOH (giá trị tối ưu là pH= 8-9,5 ): Cr3+ + 3OH- → Cr(OH)3 Sử dụng sunfat sắt sẽ thu được kết quả tốt. Trong môi trường axit: 2 CrO3 + 6 FeSO4 + 6 H2SO4 → 3 Fe2(SO4)3 + Cr2(SO4)3+ 6 H2O Trong môi trường kiềm:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 56
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào 2 Cr2O3 + 6 FeSO4 + 6 Ca(OH)2 + 6 H2O → 2 Cr(OH)3 + 6Fe(OH)3 +6 CaSO4 ( trang 121, [11] ). Có thể lắng Cr(III) bằng axetat bari ( Cr(VI) lắng dưới dạng cromatbari ). Ưu điểm của phương pháp này là có thể xử lý đồng thời Cr(VI) và ionSO42-. III.3. Loại các ion kim loại nặng: Các ion kim loại nặng như thuỷ ngân, crom, cadimi, kẽm, chì,đồng, niken, asen được loại ra khỏi nước thải bằng phương pháp hoá học. Bảnchất của phương pháp này là chuyển các chất tan trong nước thành không tan,bằng cách thêm tác chất vào và tách chúng ra dưới dạng kết tủa. Chất phản ứng dùng là hydroxit canxi và natri, cacbonat natri, sulfitnatri, các chất thải khác nhau như xỉ sắt – crom chứa: CaO – 51,3%, MgO –9,2%, SiO2 – 27,4%, Cr2O3 – 4,13%, Al2O3 – 7,2%, FeO – 0,73%. a. Xử lý hợp chất thuỷ ngân: Nước thải bị ô nhiễm thuỷ ngân và các hợp chất thuỷ ngân đượctạo thành trong sản xuất clo, NaOH, trong các quá trình điện phân dùng điệncực thuỷ ngân, do sản xuất thuỷ ngân, điều chế thuốc nhuộm, các hidrocacbon,do sử dụng thủy ngân làm chất xúc tác. Thuỷ ngân trong nước có thể tồn tại ởdạng kim loại, các hợp chất vô cơ: oxit, clorua, sunfat, sunfua, nitrat, xianua (Hg(CN)2 ), thioxanat ( Hg(NCS)2 ), xianat ( Hg(OCN)2 ). Thuỷ ngân kim loại được lọc và lắng. Các hạt không lắng đượcoxy hoá bằng clo hoặc NaOCl đến HgCl2. Sau đó, xử lý nước bằng chất khử (NaHSO4 hoặc Na2SO3 ) để loại chúng và clo dư. Thuỷ ngân có thể được tách ra khỏi nước bằng phương pháp khửvới các chất khử là sunfat sắt, bisunfit natri, bột sắt, khí H2S, hydrazin. Để lắng thuỷ ngân trước tiên cho vào nước thải sulfat natri,bisunfit natri hoặc khí H2S. Sau đó xử lý nước bằng clorua natri, kali, magiê,canxi hoặc sunfit magiê với lượng 0,1 g/l. Khi đó, thuỷ ngân sẽ lắng ở dạng hạt.Để loại các hạt keo phân tán cao, dùng chất keo tụ Al2(SO4)3. 18H2O, FeSO4.7H2O… Các hợp chất thuỷ ngân trước tiên bị phân huỷ bằng oxy hoá (bằng khí clo ), sau khi loại clo dư, cation thuỷ ngân được khử đến Hg kim loạihoặc chuyển sang dạng sunfua khí, rồi loại cặn. b. Xử lý các hợp chất kẽm, đồng, niken, chì, cadimi, coban:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 57
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Muối các kim loại này, hoá chất chứa trong nước thải tuyểnquặng, luyện kim, chế tạo máy, chế biến kim loại, hoá chất, dược phẩm, chếbiến sơn, dệt… Xử lý nước thải chứa muối kẽm bằng natri hydroxit: Zn2+ + OH- → Zn(OH)2 Khi pH= 5,4 hydroxit kẽm bắt đầu lắng. Khi pH= 10,5 bắt đầu tancác hydroxit kẽm lưỡng tính. Do đó, quá trình xử lý cần tiến hành với pH= 8-9. Khi sử dụng sođa ta có phản ứng: 2 ZnCl2 + 2 Na2CO3 + H2O → 4 NaCl + (ZnOH)2CO3 ↓+ CO2 Khi pH= 7-9,5 hình thành cacbonat có thành phần 2 ZnCO3, 3Zn(OH)2; khi pH ≥10 thành phần hydroxit tăng. Xử lý nước thải chứa ion đồng bằng hydroxit: Cu2+ + 2 OH- → Cu(OH)2 2 Cu2+ + 2 OH- + CO32- → (CuOH)2CO3 ↓ Có thể dùng feroxianua kali để tách đồng và các ion kim loại nặngra khỏi nước. Để loại đồng và cadimi cho nước thải tiếp xúc với SO2 hoặc cácsunfit và bột kim loại như kẽm, sắt. Khi đó kim loại khử sunfit thành sunfua,cùng với kim loại nặng hình thành sunfua khó tan. Xử lý niken bằng hydroxit, cacbonat: Ni2+ + 2 OH- → Ni(OH)2 ↓ 2 Ni2+ + 2 OH- + CO32- → (NiOH)2CO3 ↓ Ni2+ + CO32- → NiCO3↓ Cation chì trong dung dịch chuyển thành cặn lắng ở một trong badạng dung dịch khó tan: Pb2+ + 2 OH- → Pb(OH)2↓ 2 Pb2+ + 2 OH- + CO32- → (PbOH)2CO3↓ Pb2+ + CO32- → PbCO3↓Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 58
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Hydroxit chì bắt đầu lắng ở pH= 6. Xử lý coban và cadimi trong nước thải bằng sữa vôi đạt kết quả tốiđa. Nước thải có thể chứa nhiều kim loại khác nhau, chúng thường được loạiđồng thời bằng canxi hydroxit. Lắng đồng thời vài kim loại khác nhau có hiệuquả tốt hơn so với khi lắng từng kim loại do hình thành tinh thể hỗn hợp và hấpphụ kim loại trên bề mặt pha rắn. Xử lý nước thải bằng kiềm cho phép giảm nồng độ kim loại nặngđến đại lượng thải vào hệ thống nước thải sinh hoạt. Khi độ sạch yêu cầu caohơn thì phương pháp này không đáp ứng. Để làm sạch hơn xử lý nước thảibằng sunfua natri, vì độ hoà tan của các sunfua kim loại thấp hơn của cáchidroxit và cacbonat rất nhiều. Quá trình lắng sunfua diễn ra khi pH thấp hơn sovới khi lắng hydroxit và cacbonat. Để loại kim loại cũng có thể sử dụng pirit hạthoặc bột, sunfua các kim loại không độc. Nhược điểm của phương pháp này là hình thành cặn khó tách rakhỏi nước. Ngoài ra, nước sau khi xử lý chứa lượng lớn muối canxi, khó sửdụng lại trong hệ thống tuần hoàn nước. c. Xử lý hợp chất asen: Để xử lý asen trong nguồn nước ứng dụng phương pháp phảnứng, hấp phụ, điện hoá, chiết và các phương pháp khác. Lựa chọn phươngpháp xử lý phụ thuộc vào dạng asen hoà tan, thành phần, độ axit và các chỉ sốkhác của nước. Khi nồng độ asen cao có thể ứng dụng phương pháp lắng hoá họcdưới dạng các chất khó tan ( asenat, asenit các kim loại kiềm thổ và kim loạinặng, sunfua và hydroxit asen ). Asen là một chất độc mạnh có tác dụng tích lũy và có khả nănggây ung thư và đây cũng là một chất khó xử lý. Gần đây, các nhà khoa học đãphát hiện ra một phương pháp xử lý asen đạt hiệu quả cao và chi phí thấp. Đólà phương pháp xử lý bằng cây dương xỉ. Một số nhà khoa học Mỹ vừa phát hiện ra một loài dương xỉ có tênlà Pteris vittata có khả năng hút chất asen ra khỏi nước bị nhiễm độc. Loài thựcvật này sẽ làm giảm mức độ ô nhiễm xuống mức giới hạn an toàn, do Cơ quanBảo vệ môi trường Mỹ đặt ra, chỉ trong vòng một ngày. Phương pháp "lọc sinh vật" này sẽ giúp mang lại một phươngthức rẻ tiền để loại bỏ chất asen ra khỏi nguồn nước sinh hoạt. Người ta sẽtrồng loại dương xỉ này trực tiếp trong nước để hút asen, tương tự như việcdùng thảm lau sậy để loại bỏ các chất thải hữu cơ hiện nay.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 59
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Pteris vittata là một loài thực vật hấp thụ asen được phát hiện banăm trước đây. Loài thực vật này có khả năng chứa được tới 22g asen/kg thâncây, đồng thời có khả năng sinh trưởng rất nhanh và khỏe mạnh. Trên những vùng đất không bị ô nhiễm, hàm lượng asen trongdương xỉ thay đổi từ 11,8-64 phần triệu. Tuy nhiên, những cây dương xỉ mọctrong vùng đất ô nhiễm tại miền Trung Florida lại có nồng độ cao từ 1.442-7.526phần triệu. Asen tập trung phần lớn trên những chiếc lá xanh dạng dải hay láhình lược của dương xỉ. Dương xỉ diều hâu xuất xứ từ châu Phi, châu Á và Australia. Hiệnnay chúng đã thích nghi được với các vùng đất ấm hơn ở châu Mỹ. Ông Mark Elless thuộc Công ty Hệ thống Edenspace cùng cácđồng sự đã phân tích một thử nghiệm công dụng của loại dương xỉ này bằngcách đo đạc thời gian và lượng asen mà chúng hút được. Kết quả là trong 24giờ, loại cây này đã giảm được tới 200 microgram asen trong mỗi lít nước.Những cây này có thể được sử dụng nhiều lần. Không giống như một số phương pháp loại bỏ asen khác, phươngpháp lọc sinh học này không tạo ra các chất thải hóa học giàu asen khó xử lý.Thay vào đó, chất nhựa được ép ra từ thân cây dương xỉ này có ¾ là asen, cóthể chiết xuất ra để dùng trong công nghiệp. Ông Andrew Maharg, một chuyên gia nghiên cứu về khả năng hấpthụ chất asen của cây cối tại Đại học Aberdeen (Anh) cho rằng "đây là một côngnghệ thú vị". Nhưng ông cho rằng công nghệ này sẽ có tác dụng tốt nhất nếuđược sử dụng để lọc nước với quy mô nhỏ tại các nước đang phát triển. Nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu được lấy từ tầng nước ngầm bịnhiễm độc asen hiện đang là một mối đe dọa sức khỏe lớn tại Bangladesh vàẤn Độ. Khi nguồn nước bị nhiễm độc này được dùng để tưới tiêu, chất độc sẽtheo nước nhiễm vào ngũ cốc, hoa màu. Theo ước tính, có khoảng ba nghìnngười Bangladesh có thể chết mỗi năm do nhiếm độc asen. Elless và các đồng nghiệp hy vọng rằng khám phá của họ sẽ cóthể giúp làm sạch nguồn nước ở những nước này; đặc biệt, loài dương xỉ tỏ rathích hợp với những vùng khí hậu nóng, ẩm như ở các quốc gia Đông Á này.Nhưng ông Meharg thì thận trọng hơn. Ông chỉ ra rằng loài dương xỉ này có thểsẽ khó mà lọc được một lượng nước tưới tiêu lớn, và ở Bangladesh thiếunhững cơ sở hạ tầng cần thiết để bảo trì những cơ sở lọc nước như vậy. Cho tới nay, phương pháp này tỏ ra có hiệu quả ở những nướcgiàu hơn. Thí dụ, hàng nghìn hệ thống cung cấp nước ở Mỹ đã đạt được tiêuchuẩn mới của EPA (tới tháng 1-2006 mới có hiệu lực) về nồng độ asen trongnước sinh hoạt thấp: chỉ 10 microgram trong mỗi lít nước.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 60
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào (VnExpress, Thứ hai,3/3/2003). d. Xử lý muối sắt: Sắt chứa trong nước thải nhà máy hoá chất, luyện kim, chế tạomáy, chế biến kim loại, dệt, nhuộm, hoá dầu, dược phẩm… Để khử sắt ứng dụng phương pháp sục khí, hoá học, hấp phụ, lọcngược… Quá trình lọc diễn ra như sau: 4 Fe2+ + O2 + 2 H2O → 4 Fe3+ + 4 OH- Fe3+ + 3 H2O → Fe(OH)3↓ + 3 H+ Nếu trong nước có ion bicacbonat: 4 Fe2+ + 8 HCO3- + O2 + 2 H2O → 4 Fe(OH)3 ↓ +8 CO2 Cặn Fe(OH)3 được loại ra khỏi nước bằng lắng hoặc lọc. Khi nồng độ sắt cao, phương pháp sục khí không cho phép loạichúng hoàn toàn, vì vậy phải dùng phương pháp hoá học. Chất phản ứng cóthể là clo, clorat canxi, permanganat kali, ozon, oxit canxi, sođa…Phản ứng liênkết với clo: 2 Fe(HCO3)2 + Cl2 + Ca(HCO3)2 → 2 Fe(OH)3 ↓ + 6 CO2 ↑+ CaCl2 Phản ứng liên kết với permanganat kali: 3 Fe(HCO3)2 + KMnO4 + 2 H2O → 3 Fe(OH)3 ↓ + 5 CO2 + MnO2+ KHCO3 Nếu sắt ở dạng các hợp chất hữu cơ hoặc keo thì ta ứng dụngphương pháp ozon hoá. e. Xử lý các hợp chất mangan: Các hợp chất mangan chứa trong nước thải nhà máy luyện kim,chế tạo máy và hoá chất. Khi nồng độ mangan lớn hơn 0,05 mg/l nước có màutối. Loại mangan ra khỏi nước có thể ứng dụng các phương pháp sau: _ Xử lý bằng permanganat kali.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 61
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào _ Sục khí với sự vôi hoá. _ Lọc nước qua cát mangan hoặc cation mangan. _ Ozon hoá, clo hoá hoặc oxy hoá bằng dioxit clo. Khi xử lý bằng permanganat kali sẽ hình thành dioxit mangan: 3 Mn2+ + 2 MnO4- + 2 H2O → 5 MnO2 ↓ + 2 H2 ↑ Khi pH= 9,5 mangan được loại hoàn toàn, còn khi pH< 7,5 nó gầnnhư không bị oxy hoá bởi oxy không khí. Để kết thúc quá trình oxy hoá sau khisục khí cho thêm vào nước Ca(OH)2 hoặc sođa để tăng pH. Mn(II) có thể loại ra khỏi nước nhờ oxy hoá bởi clo, ozon hoặcdioxit clo. Tiêu hao clo cho oxy hoá 1 mg Mn là 1,3 mg, tiêu hao ClO2 là 1,35 mgvà O3 là 1,45 mg. Tuy nhiên để sử dụng các chất khử này cần xây dựng cácthiết bị phức tạp nên trong thực tế chúng không được ứng dụng. Trong cácphương pháp trên hiệu quả nhất là phương pháp xử lý bằng permanganat kalivì nó không đòi hỏi thiết bị phức tạp và dễ kiểm tra (trang 122-124, [11]). IV. Phương pháp hóa sinh: Phương pháp hóa sinh xử lí nước thải dựa trên khả năng của vi sinh sửdụng đối với các chất này làm chất dinh dưỡng trong hoạt động sống - các chấthữu cơ đối với vi sinh là nguồn cacbon. Phương pháp vi sinh được ứng dụngđể loại các chất hữu cơ hoà tan và một số hữu cơ ra khỏi nước thải sinh hoạtvà nước thải công nghiệp. Khi tiếp xúc với các chất hữu cơ vi sinh phân huỷ chúng một phần thànhnước, khí cacbonic, ion nitric và ion sulfat…. Phần khác tạo thành khối sinh học.Sự phân hủy chất hữu cơ được gọi là oxy hóa sinh học. Có hai phương pháp xử lý sinh hóa là hiếu khí và yếm khí. Phương pháphiếu khí dựa vào việc sử dụng nhóm vi sinh hiếu khí, đối với hoạt động của củachúng cần có dòng oxy cố định và nhiệt độ 20 – 400C. Khi thay đổi chế độ oxyvà nhiệt độ thì thành phần và khối lượng vi sinh thay đổi. Trong xử lý hiếu khícác vi sinh được cất trong bùn hoạt tính hoặc trong màng sinh học. Các phươngpháp yếm khí diễn ra không cần oxy, chúng được ứng dụng chủ yếu để khửchất cặn độc. Bùn hoạt tính là hệ keo vô định hình, khi pH = 4 – 9 thì nó có điện tíchâm. Thành phần bùn hoạt tính của hệ thống xử lý nước thải nhà máy than cốccó công thức C97H199O53N28S2, của nhà máy nitơ C90H167O24N28S8, của hỗn hợpPCV và BCV là C11H212O82N20S và của nước thải đô thị là C54H212O82N8S7.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 62
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Chất khô của bùn hoạt tính chứa 70 – 90% hữu cơ và 10 – 30% vô cơ.Chất nền trong bùn hoạt tính có thể đến 90% là phần chất rắn của rêu tảo vàcác phần rắn khác nhau. IV.1. Xử lý nước thải trong điều kiện tự nhiên: Các quá trình xử lý sinh học có thể diễn ra trong điều kiện tự nhiên vàtrong các công trình nhân tạo. Trong điều kiện tự nhiên việc xử lý xảy ra trêncác cánh đồng tưới, cánh đồng lọc và các ao sinh học. Các công trình nhân tạolà các bể thông khí (aerotank) và các thiết bị lọc sinh học. Kiểu công trình xử lýđược chọn phụ thuộc vào vị trí nhà máy, điều kiện khí hậu, nguồn cấp nước, thểtích nước thải công nghiệp và sinh hoạt, thành phần và nồng độ chất ô nhiễm.Trong các công trình nhân tạo, các quá trình xử lý xảy ra lớn hơn trong điềukiện tự nhiên. a) Cánh đồng tưới: Đó là khu đất được chuẩn bị riêng biệt để sử dụng đồng thời haimục đích: Xử lý nước thải và gieo trồng. Xử lý nước thải trong điều kiện tựnhiên diễn ra dưới tác dụng của hệ vi thực vật dưới đất, mặt trời, không khí vàdưới ảnh hưởng của thực vật. Trong đất, cánh đồng tưới có vi khuẩn, men, nấm, rêu tảo, động vậtnguyên sinh và động vật không xương sống. Nước thải chứa chủ yếu là vikhuẩn. Trong lớp đất tích cực xuất hiện sự tương tác phức tạp của các vi sinhvật có bậc cạnh tranh. Số lượng vi sinh vật trong cánh đồng tưới phụ thuộc vào thời tiếttrong năm. Vào mùa đông, số lượng vi sinh vật nhỏ hơn rất nhiều so với mùahè. Nếu trên các cánh đồng không gieo trồng cây nông nghiệp và chúng chỉđược dùng để xử lý sinh học nước thải thí chúng được gọi là các cánh đồng lọcnước. Các cánh đồng tưới sau khi xử lý sinh học nước thải, làm ẩm và bónphân được xử dụng để gieo trồng cây có hạt và cây ăn tươi, cỏ, rau cũng nhưđể trồng cây lớn và cây nhỏ (dạng cây bụi, khóm). Cánh đồng tưới có các ưu điểm sau so với các aerotank: 1. Giảm chi phí đầu tư và vận hành. 2. Không thải nước ra ngoài phạm vi diện tích tưới. 3. Bảo đảm được mùa cây nông nghiệp lớn và bền. 4. Phục hồi đất bạc màu. Trong quá trình xử lý sinh học, nước thải đi qua lớp đất lọc, trongđó các hạt lơ lửng và keo được giữ lại, tạo thành màng trong lỗ xốp của đất.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 63
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoSau đó màng được tạo thành này hấp thụ các hạt keo và các chất tan trongnước thải. Oxy từ không khí xâm nhập vào lỗ xốp oxy hóa các chất hữa cơ,chúng chuyển thành các hợp chất vô cơ. Oxy khó xâm nhập và lớp đất dướisâu, vì vậy sự oxy hóa mãnh liệt nhất diễn ra trong lớp đất phía trên (0,2 –0,4m). Nếu không đủ oxy sẽ xảy ra các quá trình yếm khí. Các cánh đồng tướitốt nhất nên bố trí trên cát, đất sét thịt và đất đen. Nước ngầm không được caohơn 1,25m tính từ mặt đất. Nếu nước ngầm cao hơn thì cần phải lắp hệ thốngthoát nước. b) Ao sinh học: Ao sinh học là dãy ao gồm 3 – 5 bậc, qua đó nước thải chảy với vậntốc nhỏ, được lắng trong và xử lý sinh học. Các ao được ứng dụng để xử lý sinhhọc và xử lý bổ sung trong tổ hợp với các công trình xử lý khác. Ao được chiathành 2 loại: ao thông khí tự nhiên và ao nhân tạo. Ao thông khí tự nhiên khôngsâu (0,5 – 1m) được sưởi nóng bằng mặt trời và các vi sinh vật nước. Để hoạtđộng bình thường cần phải đạt pH tối ưu và nhiệt độ không thấp hơn 6oC. Kíchthước ao phải bảo đảm thời gian lưu cần thiết của nước thải và vận tốc oxy hóađược đánh giá theo BOD của chất phân huỷ chậm nhất. IV.2. Xử lý nước thải trong công trình nhân tạo: Việc xử lý nước thải trong điều kiện nhân tạo được tiến hành trong bểthông khí (aerotank) hoặc thiết bị sinh học. a) Xử lý trong bể thông khí: Aerotank là bể chứa bằng beton cốt sắt được thông khí. Quá trìnhxử lý trong aerotank diễn ra theo dòng nước thải được sục khí và trộn với bùnhoạt tính. Nước thải được đưa vào bể lắng, để tăng cường sự lắng các hạt lơlửng có thể đưa vào một phần bùn hoạt tính, sau đó nước trong đi vào bể ổnđịnh - thông khí sơ bộ, đưa thêm vào đây một phần bùn hoạt tính từ bể lắngđợt II. Ở đây nước thải được sục khí trong 15 – 20 phút. Trong trường hợp cầnthiết có thể đưa thêm chất dinh dưỡng vào bể này. Từ bể ổn định nước thảiđược đưa vào bể aerotank, trong đó bùn hoạt tính được tuần hoàn từ ngăn. Các quá trình sinh học được xảy ra trong aerotank được chia thành2 giai đoạn: 1. Hấp thụ các chất hữu cơ trên bề mặt bùn hoạt tính và khoáng hoá các chất dễ bị oxy hoá với sự tiêu thụ mãnh liệt oxy. 2. Oxy hóa bổ sung các chất khó bị oxy hóa, tái sinh bùn hoạt tính. Ở giai đoạn này oxy hóa tiêu thụ chậm.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 64
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Aerotank là bể lộ thiên có chiều sâu 2-5m, được chia thành 2 phần:phần tái sinh (25% thể tính chung) và phần thông khí, trong đó diễn ra quá trìnhxử lý chính. Sự hiện diện của phần tái sinh cho phép xử lý nước thải đậm đặchơn và tăng nămg suất của hệ. Trước bể aerotank nước thải không được chứa hơn 150 mg/l hạt lơlửng và 25 mg/l sản phẩm dầu mỏ. Nhiệt độ nước thải không thấp hơn 60C vàkhông cao hơn 300C, pH= 6,5-9. b. Xử lý trong thiết bị lọc sinh học: Thiết bị lọc sinh học là thiết bị mà bên trong thân của nó có bố tríđệm dạng thỏi và cơ cấu phân phối nước và không khí . Trong thiết bị lọc sinhhọc nước thải được lọc qua lớp vật liệu bao phủ màng vi sinh. Vi sinh trongmàng oxy hóa các chất hữu cơ, sử dụng chúng làm nguồn dinh dưỡng và nănglượng. Như vậy , chất hữu cơ được tách ra khỏi nước còn khối lượng màngsinh học tăng lên. Màng sinh học chết trôi theo nước ra khỏi thiết bị. Vật liệu đệm là vật liệu có độ xốp cao, khối lượng riêng nhỏ và bềmặt riêng lớn như đá dăm, xỉ, đá cuội, keramit, các vòng sứ nhựa hoặc kimloại… Màng sinh học đóng vai trò như bùn hoạt tính, nó hấp thụ và phân huỷcác chất hữu cơ trong nước thải. Cường độ oxy hóa trong thiết bị lọc sinh họcthấp hơn trong aerotank. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý trong thiết bị lọc sinh họclà: BOD của nước thải, bản chất của chất hữu cơ ô nhiễm, vận tốc oxy hóa,cường độ thông khí, chiều dài màng sinh học, thành phần vi sinh, diện tích vàchiều cao. Thiết bị lọc sinh học nhỏ giọt có năng suất thấp nhưng đảm bảo xửlý tuần hoàn. Tải trọng thuỷ lực của chúng là 0,5 – 3m3/(m2.ngày đêm). Chúngđược sử dụng để xử lý nước với năng suất đến 100m3/ngày đêm nếu BOD <200mg/l. Thiết bị sinh học cao tải hoạt động với tải trọng thuỷ lực 10 -30m3/(m2.ngày đêm), lớn hơn thiết bị lọc sinh học nhỏ giọt 10 – 15 lần nhưng nókhông đảm bảo xử lý sinh học tuần hoàn. Để hòa tan oxy tốt hơn tiến hành không khí. Thể tích không khíkhông vượt quá 16m3 trên 1 m3 nước thải. Khi BOD20 > 300 mg/l nhất định phảituần hoàn nước thải. Tháp sinh học cho xử lý nước thải có năng suất đến5000m3/ngày đêm. Thiết bị thông khí lọc - sinh học là các nửa ống hình trụ đường kính80 mm được bố trí nằm ngang xen kẻ nhau. Nước thải đi vào từ trên, đổ đầyvào nửa ống trụ và chảy tràn xuống dưới. Ở mặt ngoài của ống hình thành cácmáy sinh học, còn bên trong ống là khối sinh vật giống như bùn hoạt tính. NướcĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 65
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đàođược bảo hòa oxy khi chảy từ trên xuống. Thiết bị này có năng suất và hiệu quảxử lý cao. c) Phương pháp yếm khí: Phương pháp này được ứng dụng để lên men cặn tạo thành trongxử lý hóa sinh nước thải sản xuất và xử lý bậc một nước thải đậm đặc (BODtp =4 – 5 g/l), chứa các chất hữu cơ bị phân huỷ bởi các vi sinh yếm khí. Tuỳ thuộcvào sản phẩm cuối mà được chia thành các dạng lên men: cồn, axit, sữa,mêtan…Sản phẩm cuối tương ứng là cồn, axit, axeton và khí (CO2, H2, CH4). Quá trình lên men được tiến hành trong thiết bị metanten – là bìnhchứa kín được trang bị cơ cấu nhập và tháo cặn. Phương pháp yếm khí có thể được sử dụng để xử lý chất thải đậmđặc của công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, chế biến len, axit béo tổng hợp. Trong điều kiện lên men ấm thời gian lưu của nước thải trong bểmetanten là 7 – 15 ngày đêm; trong điều kiện không thông thuỷ 15 – 30 ngàyđêm. Sau khi lên men BODtp trong nước thải là 1,5 – 2g/l sẽ được xử lý tiếptrong aerotank. Lượng khí lên men rất lớn, đến 0,5 – 0,7m3/kg BODtp (trang124-133, [11]). Các công trình xử lý phụ khác: I. Khử trùng nước thải: Qua các công trình xử lý cơ học cũng như sinh học không loại trừđược một cách triệt để các loại vi khuẩn, nhất là vi khuẩn gây bệnh, bởi vậynước thải cần được khử trùng trước khi xả vào nguồn. Để khử trùng nước thải,người ta có thể sử dụng hai phương pháp là : phương pháp vật lí và phươngpháp hóa học. I.1. Khử trùng bằng phương pháp vật lý: I.1.1. Phương pháp nhiệt: Đây là phương pháp đơn giản và lâu đời nhất, giết được các vithể gây bệnh như các vi khuẩn, vi trùng, nang , trứng. Đó là biện pháp hiệu quảtrong xử lý phạm vi hộ gia đình, song không khả thi trong xử lý nước cấp chocộng đồng, chỉ sử dụng trong trường hợp khẩn cấp ( trang 121, [19] ). I.1.2. Khử trùng bằng tia cực tím: Là phương pháp khử trùng đối với nước trong, hiệu quả giảmđang kể khi nước đục hoặc chứa các phần tử như nitrat, sunfat và sắt ( trang221, [19] ).Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 66
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Nước làm sạch bằng phương pháp này không bị thay đổi tínhchất và vị của nó. Tuy nhiên, phương pháp này giá thành cao chỉ thấy ở cácnước phát triển ( trang 221, [19] và trang 59, [11] ). I.1.3. Khử trùng bằng siêu âm: Đây là một phương pháp khử trùng triệt để nhưng tốn kém. Dưới tác dụng của sóng siêu âm giết chết các tế bào thực,động vật, các vi sinh và cả những cơ thể lớn hơn rất độc có trong nước uống vànước kỹ thuật ( trang 59, [11] ). I.2. Khử trùng bằng phương pháp hóa học: Cơ sở của phương pháp này là sử dụng các chất oxy hóa mạnhđể oxy hóa men của tế bào vi sinh vật và tiêu diệt chúng. Các hóa chất thườngdùng là các halogen như: clo, brôm, iod, clodioxit và các hợp chất khác của clo,ozon, kali permanganat, hydro, peoxit,…Phương pháp khử trùng hóa học cóhiệu suất cao nên được sử dụng rất rộng rãi và cho mọi quy mô ( trang 168, [20]). I.2.1. Sát trùng nước bằng clo và các hợp chất của clo: Bản chất tác dụng khử trùng của clo là quá trình oxy hóa khửdiễn ra khi tương tác clo và các hợp chất của nó với các chất hữu cơ ở mạng visinh. Axit tham gia vào phản ứng với men khuẩn và phá hủy trao đổi trong mạngkhuẩn. Tẩy trùng bằng clo sẽ diễn ra quá trình phân hủy các hợp chấthữu cơ, thí dụ các chất mùn khoáng thành CO2, sắt(II) oxy hóa thành sắt (III);Mn (II) thành Mn(IV), các chất huyền phù bền vững chuyển thành không bềnvững do sự phân hủy của chất keo bảo vệ. Clo hóa có vai trò to lớn trong việc làm sạch các tạp chất lơlửng phân tán mịn trong nước, khả năng làm mất màu nước và tạo điều kiệnthuận lợi để làm trong nước và lọc nước. Clo hòa tan vào trong nước thành hai axit – clorua và clorat: H2O + Cl2 → HCl + HClO Axit clorat rất yếu và sự phân ly của nó phụ thuộc vào pH củamôi trường. pH càng thấp nồng độ axit clorat càng cao và do có thế oxy hóakhử cao tạo điều kiện khử trùng nước. Vì vậy, khử trùng nước bằng clo và cáchợp chất chứa clo nên tiến hành trước khi cho chất kiềm vào nước ( trang 56-57, [11] ).Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 67
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Sử dụng phương pháp này diệt khuẩn cho nước rất phổ biến vìhiệu quả cao và kinh tế. I.2.2. Khử khuẩn bằng ozon: Phương pháp ozon hóa được dùng ngày càng nhiều để xử lýnước thải và nước uống nhất là ở các nước phát triển, vì nó có hiệu quả trongviệc khử các hợp chất gây mùi vị khó chịu hay màu cho nước. Tuy nhiên, do thiết bị ozon hóa phức tạp, giá thành khử trùngcao nên việc sử dụng ozon ở các nước đang phát triển còn bị hạn chế ( trang222-223, [19] ). I.2.3 Khử khuẩn bằng iod: Khử khuẩn bằng Iod cần liều lượng cao, nhưng không hiệuquả khi nước khử trùng có màu hoặc đục. Do dễ bay hơi trong các dịch thể nênphương pháp này chỉ sử dụng khi khẩn cấp và bị hạn chế nhiều ( trang 222, [19]). I.2.4. Khử khuẩn bằng KMnO4: Là chất oxy hóa mạnh, có hiệu quả chống lại vi khuẩn gâybệnh thổ tả nhưng không hiệu quả đối với các mầm bệnh khác. Nó để lại cácvệt màu trong thùng đựng nên phương pháp này cũng rất ít sử dụng. II. Khử mùi và vị ( tẩy uế ): Tẩy uế là xử lý nước với mục đích khử các mùi hôi và vị gây nênbởi các chất khác nhau có mặt trong nước đôi khi với lượng không xác địnhđược qua phân tích. Mùi trong nước có thể do: H2S, C6H5OH, Cl2, các muối hòatan,…, các chất hoạt động bề mặt trong nước hay các chất độc trong nôngnghiệp đưa đến. Tẩy uế bằng cách lọc qua lớp than hoạt tính. Để khử phenol vàclophenol ứng dụng clo hóa nước, nhận được dẫn xuất polyclo không có mùihôi. Tác dụng khử mùi và vị của clo có thể tăng lên nếu thêm permanganat.Phương pháp ozon hóa cũng là phương pháp làm vị nước tốt hơn. Phươngpháp này được dùng trong làm sạch các chất hoạt động bề mặt có trong nước (trang 61-62, [11]). III. Loại chất phóng xạ: Trong nước tự nhiên có chứa các chất phóng xạ có nguồn gốc tựnhiên hay nhân tạo. Có thể khử hoạt tính của nước bằng hai cách:Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 68
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào _ Giữ nước trước khi đưa đi sử dụng một khoảng thời gian đủ đểphân hủy các đồng vị có thời gian sống ngắn. _ Loại các chất phóng xạ lơ lửng. Loại các chất phóng xạ trong nước bằng cách chưng cất, để lắng,lọc, keo tụ, hấp phụ ( bằng đất sét, than hoạt tính, các chất hấp phụ kim loại vàcác chất khác ) trao đổi ion và kết hợp giữa các phương pháp trên ( trang 75,[11]). Trong ngành công nghiệp xử lý các chất phóng xạ từ trước đếnnay người ta thường chôn chúng trong các hố khoan sâu trong lòng đất ở cácnơi hoang vắng, cách xa các khu dân cư. Đối với các chất thải phóng xạ cócường độ thấp người ta thường pha loãng rồi đổ xuống biển hay đại dương ( !). Trong một số trường hợp nguy hiểm người ta trộn bả thải khô với một số chấtphụ gia rồi nấu chảy thành thủy tinh sau đó cất giữ các khối thủy tinh rắn nàyvào trong các hầm chứa đặc biệt. Hiện nay, người ta cho rằng đây là phươngpháp bảo quản chất thải phóng xạ bảo đảm nhất và an toàn nhất ( trang 97, [6]).Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 69
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoPHẦN VI: KẾT LUẬNĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 70
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Về phương diện khoa học, môi trường là một lĩnh vực liên ngành, đangành; còn về phạm vi ảnh hưởng của nó là một trong những đối tượng mangtính toàn cầu rõ rệt nhất. Nếu sự ô nhiễm môi trường là một tai họa thì “ tai họanày không phải của riêng ai “, mà là chung của tất cả các quốc gia, của toànnhân loại. Vâng ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm nguồn nước nói riêngđang là một vấn đề đáng quan tâm hiện nay. Ngày nay, với sự phát triển công nghiệp, đô thị và sự bùng nổ dân số đãlàm cho nguồn nước tự nhiên bị hao kiệt và ô nhiễm dần. Vì thế, con người phảibiết xử lý các nguồn nước cấp để có đủ số lượng và đảm bảo đạt chất lượngcho mọi nhu cầu sản xuất công nghiệp và sinh hoạt, cho chính mình và giảiquyết hậu quả của chính mình. Vấn đề xử lý nước nói chung đang trở thành vấnđề cấp bách mang tính chất xã hội và chính trị của cộng đồng. Nước ta là một nước đang phát triển, nền công nghiệp mới bắt đầu đượcxây dựng, chưa có những khu công nghiệp lớn và tập trung, giao thông vận tảichưa phát triển, số lượng xe cộ chưa nhiều…cho nên nếu nhìn tổng thể thì mứcđộ ô nhiễm ở nước ta chưa nghiêm trọng, tỉ trọng của các ngành công nghiệptrong các yếu tố gây ô nhiễm chưa cao. Tuy nhiên, nếu xét cục bộ thì ở một sốthành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; một số thị xã, thị trấn vàvùng phụ cận của một số nhà máy, xí nghiệp…tình trạng ô nhiễm đôi khi lànghiêm trọng. Ở các thành phố lớn và các khu đông dân cư, các yếu tố gây ônhiễm chủ yếu là các chất thải sinh hoạt. Mấy năm gần đây, tình hình ô nhiễm ởcác khu vực này ngày càng trở nên trầm trọng hơn vì tốc độ đô thị hóa ngàycàng cao, trong khi sự phát triển cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp. Cũng cầnphải thừa nhận rằng tình trạng nghèo khó, dân trí còn thấp, trình độ quản lý đôthị còn thấp, mật độ dân số cao…cũng là những yếu tố làm cho vấn đề ô nhiễmtrở nên nặng nề hơn. Ở các khu công nghiệp và vùng phụ cận, tuy quy mô không lớn nhưng dohầu hết các nhà máy đều có công nghệ cũ, lạc hậu, không có công đoạn xử lýchất thải, tất cả các chất thải đều được thải trực tiếp vào môi trường, cho nên ởcác khu vực này tình trạng ô nhiễm là nghiêm trọng, đôi khi sự ô nhiễm còn ảnhhưởng cả đến các vùng khác qua các con đường lan truyền tương ứng. … Các chất thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinhhoạt của người dân mà các nguồn nước ở nước ta hiện nay đang bị ô nhiễmvới các mức độ khác nhau, đặc biệt là ở các thành phố lớn, các khu côngnghiệp và các vùng phụ cận… Một trong những mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu của thời kỳ đẩy mạnhCông nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước mà Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ralà: “ dân cư thành thị và 80% dân số nông thôn được cung cấp nước sạch ” vàcần “ xây dựng quy hoạch bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn nước,đáp ứng yêucầu của sản xuất và đời sống”. Để làm được điều đó chúng ta phải “ bằng vàdựa vào khoa học và công nghệ ” ( Nghị quyết Trung ương lần thứ II, khóa III ).Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 71
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Để có được nguồn nước sạch để sinh hoạt và sản xuất, thì các nguồnnước thải nói chung cần phải được xử lý qua các công đoạn khác nhau đảmbảo không bị ô nhiễm trước khi đổ vào nguồn. Hiện nay có rất nhiều cácphương pháp xử lý khác nhau. Mỗi phương pháp đều có ưu điểm của nó, tùytheo nguồn nước thải mà ta sử dụng phương pháp thích hợp. Đối với nước ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên hay nước thải sinh hoạtthường chứa các chất hữu cơ hòa tan dễ bị vi sinh vật phân hủy thì ta dùngphương pháp sinh học ( hiếu khí, kỵ khí, thiếu khí ). Nếu lượng nước thải bé vàkhông chứa các thành phần độc hại thì các quá trình tự nhiên như sa lắng, oxyhóa sinh học…đủ sức làm sạch chúng, và do đó người ta có thể thải trực tiếpnước thải vào sông, hồ hay biển. Tuy nhiên, ngày nay ở các thành phố và khucông nghiệp lớn, lượng nước thải sinh hoạt rất lớn (bình quân 200l/người/ngày) và có chứa nhiều thành phần độc hại, mặt khác nguồn nước tựnhiên ngày nay cũng đã bị ô nhiễm nhiều hơn do ảnh hưởng từ các nguồnnước thải sinh hoạt và công nghiệp. Vì vậy chúng cần được xử lý trước khi thảivào môi trường. Quá trình xử lý nước thải trường hợp này thường được chiathành ba giai đoạn sau: giai đoạn xử lý sơ bộ để loại các chất phân tán lớn, giaiđoạn hai là loại bỏ các tạp chất hữu cơ có mặt trong nước ở hàm lượng lớnbằng cách dùng quá trình oxy hóa sinh học, sau cùng là giai đoạn loại bỏ triệtđể các tạp chất có hại đến mức đạt tiêu chuẩn của nước uống, người ta có thểtiến hành các công việc như lọc , keo tụ, loại phot phat, loại các hợp chất củanitơ, sử dụng các phương pháp điện hóa, khử mùi, vị, sát trùng nước. Đối với nước thải công nghiệp thì thường dùng phương pháp hóa lí và hóahọc để loại bỏ các chất khó tan, khó bị vi sinh vật phân hủy hoặc các kim loạinặng từ các nhà máy công nghiệp hóa chất, mạ điện, công nghiệp dệt, sản xuấtthuốc trừ sâu… nên việc xử lý nước thải công nghiệp khó hơn nhiều so với việcxử lý nước thải sinh hoạt. Việc làm sạch các nguồn nước thải công nghiệp được thực hiên cũng gầngiống như đối với nước thải thông thường. Các phương pháp xử lý sơ bộ, lắng,lọc, keo tụ, tuyển nổi, hấp phụ, điện hóa,…cũng được sử dụng một cách rộngrãi, cũng như một số phương pháp sinh hóa sử dụng vi sinh vật đối với một sốhợp chất hữu cơ đặc biệt. Đối với các kim loại độc như Cd, Pb, Hg, As,… haykhông độc hại nhưng cũng nguy hiểm đến sức khỏe con người và sinh vật đượcloại ra bằng cách kết tủa hóa học, trao đổi ion hay chiết bằng dung môi. Đối vớicác muối tan và lơ lửng, người ta dùng các phương pháp như kết tủa, trao đổiion, điện phân, điện thẩm tách, các chất oxy hóa mạnh, điện hóa,…Đối với cácchất phóng xạ thì có thể cô đặc rồi chứa trong những thùng chứa đặc biệt vàcất giữ cẩn thận, nếu các chất phóng xạ có thời gian bán hủy lớn thì có thể phaloãng rồi thải ra biển. Nếu có sự giám sát thường xuyên và không có sự tậptrung các đồng vị phóng xạ bởi các sinh vật thì cách xử lý này hoàn toàn vô hại.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 72
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Tuy nhiên, có một số phương pháp hóa – lí học không có giá trị kinh tếcao, tốn kém năng lượng, hóa chất và thiết bị đắt tiền,…hoặc rẻ tiền nhưphương pháp sinh học nhưng cần có mặt bằng rộng, thời gian xử lý dài.v.v... Do đó, trong thực tế người ta thường kết hợp các phương pháp đó vớinhau sao cho hiệu quả xử lý cao nhất, chi phí thấp nhất là ở các nước đangphát triển như nước ta. Với sự phát triển của khoa học công nghệ ngày nay, có khá nhiều phươngpháp mới đang được nghiên cứu hoặc đã ứng dụng vào quy trình xử lý nhằmlàm sạch nước thải đồng thời có thể thu hồi các chất có giá trị mà em chưa cóđiều kiện cập nhật được. Những phương pháp này có thể khắc phục được mộtsố khuyết điểm khác của các phương pháp trên. Kính mong quý thầy cô hướngdẫn thêm cho em.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 73
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào Tài liệu tham khảo1. Lý Kim Bảng, Hoàng Kim Cơ, Dương Đức Hồng, Lương Đức Phẩm, TrầnHữu Uyển - Kỹ thuật môi trường - Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.2. Th.S. Võ Văn Bé, TS. Huỳnh Thu Hà - Môi trường và con người. Đại họcCần Thơ.3. Võ Thị Diễm Châu - Luận văn tốt nghiệp: Khảo sát một số phương phápxử lý nước thải nhà máy dệt nhuộm - Năm 1999.4. PTS. Nguyễn Ngọc Dung - Xử lý nước cấp - Đại học Kiến Trúc Hà Nội.5. Nguyễn Quang Dương - Kỹ thuật xử lý nước lò hơi. Nhà xuất bản CôngNghệ Kỹ Thuật.6. Vũ Đăng Độ - Hóa Học Và Sự Ô Nhiễm Môi Trường - Nhà xuất bản giáodục - 1997.7. Trần Đức Hạ - Xử lý nước thải sinh hoạt quy mô nhỏ và vừa - Nhà xuấtbản khoa học và kỹ thuật.8. Tô Phước Hải, Văng Văn Khoa, Trịnh Phát, Đỗ Huỳnh Tuấn Trung, ĐặngHoàng Tuấn - Đề tài sưu tầm: “ Ô nhiễm môi trường nước “ – Khoa NôngNghiệp – Tài Nguyên Thiên Nhiên, Ngành Phát Triển Nông Thôn, Đại Học AnGiang.9. PGS. PTS. Hoàng Huệ - Xử lý nước thải - Đại học Kiến Trúc Hà Nội.10. Hoàng Đức Liên, Tống Ngọc Tuấn - Kỹ thuật và thiết bị xử lý chất thảibảo vệ môi trường - Nhà xuất bản nông nghiệp – Hà Nội –2003.11. Lưu Cẩm Lộc - Hóa học xử lý môi trường.12. McGRAW – HILL Book Company ( third edition ) - Wastewaterengineering Treatment, Disposal and Reuse – Metcalf and Eddy.13. Ngô Thị Nga, Trần Văn Nhân - Giáo trình công nghệ xử lý nước thải -Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật – Hà Nội – 1999.14. PGS. PTS. Trần Hiếu Nhuệ - Xử lý nước thải. Nhà xuất bản khoa học vàkỹ thuật.15. PGS. TS. Lương Đức Phẩm – Công nghệ xử lý nước thải bằng biệnpháp sinh học - Nhà xuất bản giáo dục.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 74
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào16. Nguyễn Hữu Phú - Cơ sở và lý thuyết công nghệ xử lý nước tự nhiên.17. PTS. Nguyễn Văn Phước- Kỹ thuật xử lý nước thải công nghiệp - Đại họckỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.18. Trần Minh Quang - Công nghệ mạ điện - Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.19. Nguyễn Duy Thiện - Các công trình cung cấp nước sạch cho thị trấn vàcộng đồng dân cư nhỏ - Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật.20. Nguyễn Thị Thu Thủy - Xử lý nước cấp sinh hoạt và công nghiệp - Nhàxuất bản khoa học và kỹ thuật – Hà Nội – 2000.21. Hội thảo Công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường ngành dệt nhuộm. TrungTâm Công Nghệ Môi Trường ( ECO ).22. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học và công nghệ năm 2001 -Viện Công Nghệ Hóa Học.23. Tạp chí Bảo Vệ Môi Trường ( Số 5 – 2003) - Tạp chí của Cục Bảo VệMôi Trường - Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường. 24. Tạp chí Khoa Học Công Nghệ - Môi Trường ( Số 7 – 2002, số 10 – 2001,số 8 – 2002, số 6 - 2002 ) - Bộ Khoa Học, Công Nghệ Và Môi Trường – Trungtâm thông tin tư liệu khoa học và công nghệ quốc gia.25. Tạp chí Nước sạch vệ sinh môi trường ( số 7 – 12/2000 ) – Ban chỉ ĐạoQuốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường.Đề tài nghiên cứu khoa học Trang 75
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh Đào PHỤ LỤCĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 76
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 77
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 78
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 79
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 80
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 81
    • Một số phương pháp xử lý nước ô nhiễm Phan Anh ĐàoĐề tài nghiên cứu khoa học Trang 82