• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
Tieu luan kinh te phat trien tai nguyen thien nhien
 

Tieu luan kinh te phat trien tai nguyen thien nhien

on

  • 8,812 views

Tuấn Nghĩa, Ngọc Hưng và các thành viên khác...

Tuấn Nghĩa, Ngọc Hưng và các thành viên khác...

Statistics

Views

Total Views
8,812
Views on SlideShare
8,812
Embed Views
0

Actions

Likes
3
Downloads
135
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Tieu luan kinh te phat trien tai nguyen thien nhien Tieu luan kinh te phat trien tai nguyen thien nhien Document Transcript

    • MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1 PHẦN 1: TỔNG QUAN ............................................................................................... 2 PHẦN 2: NỘI DUNG .................................................................................................... 3 1. Tìm hiểu về tài nguyên thiên nhiên (TNTN): ................................................... 3 1.1. Tài nguyên thiên nhiên là gì? ........................................................................... 3 1.2. Phân loại TNTN: ............................................................................................... 4 1.2.1 Phân loại theo công dụng: ........................................................................ 4 1.2.1.1 Nguồn năng lượng:.............................................................................. 4 1.2.1.2 Các loại khoáng sản: ........................................................................... 6 1.2.1.3 Nguồn tài nguyên rừng: ...................................................................... 6 1.2.1.4 Nguồn đất đai: ..................................................................................... 7 1.2.1.5 Nguồn nước: ........................................................................................ 7 1.2.1.6 Biển và thủy sản: ................................................................................. 8 1.2.1.7 Khí hậu: ............................................................................................... 8 1.2.2 Phân loại theo khả năng tái sinh:.............................................................. 8 2. TNTN với phát triển kinh tế: ............................................................................. 9 3. Tài nguyên thiên nhiên với phát triển bền vững: ........................................... 10 3.1 Phát triển bền vững: ......................................................................................... 10 3.1.1 Phát triển bền vững là gì ? ...................................................................... 10 3.1.2 Mặt tích cực và hệ lụy: ............................................................................ 10 3.2 Vai trò của TNTN với phát triển bền vững: .................................................... 11 4. Sử dụng TNTN trong tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay:.......................................................................................................................... 12 4.1. hiện trạng TNTN ở Việt Nam hiện nay:......................................................... 12 4.1.1 Hiện trạng tài nguyên đất ở VN: ............................................................. 12 4.1.2 Hiện trạng tài nguyên nước ở VN: ......................................................... 13 4.1.3. Hiện trạng tài nguyên biển ở VN: .......................................................... 15 4.1.4. Hiện trạng tài nguyên năng lượng ở VN: ............................................... 18
    • 4.1.5 Hiện trạng khoáng sản ở VN hiện nay: ................................................... 20 4.1.6. Thực trạng bảo vệ rừng và phát triển rừng ở VN: ................................. 23 4.2. Chính sách sử dụng TNTN:............................................................................ 25 4.2.1 Một số vấn đề về sử dụng TNTN để phát triển kinh tế: ........................... 25 4.2.2 Bảo vệ tài nguyên môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững: ............. 27KẾT LUẬN ................................................................................................................... 33TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 34
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM LỜI MỞ ĐẦU TNTN là các sản phẩm của tự nhiên, do tự nhiên sinh ra và là có hạn. Trong quátrình khai thác sử dụng cho mục đích của mình con người đã lấy đi những tài nguyênnày để khai thác, chế biến tạo thành những sản phẩm vật chất phục vụ cho cuộc sống.Nhưng trong thời đại ngày nay, kinh tế thế giới phát triển và dân số gia tăng chóngmặt. Cuộc sống con người ngày càng khó khăn. Con người càng ra sức khai thác thìnhững nguồn lực này càng cạn kiệt. Bởi vì nhu cầu của con người là vô hạn trong khiTNTN lại có hạn. Liệu chúng ta có nghĩ tới một ngày nào đó những nguồn lực của tựnhiên này sẽ không còn nữa? Phải chăng đã đến lúc nghĩ khác đi cho một tương laikhác cho con người – nơi mà có những nguồn năng lượng sạch và không sử dụngTNTN một cách lãng phí, gây ô nhiễm và nhiều những hệ lụy khác… Hơn nữa thiếtnghĩ con người cũng là sinh ra từ thiên nhiên, nếu cứ tiếp tục hủy hoại thiên nhiên thìsẽ có lúc thiên nhiên quay ngược trở lại với con nguời chúng ta. Có nhiều nỗ lực vớimôi trường và TNTN được đưa ra, nhưng chỉ là một số nhỏ so với sự hủy hoại mà conngười đang làm. Rõ ràng vấn đề bây giờ là phải tìm ra các nguồn năng lượng mới vàsạch để thay thế nhằm giảm tải ô nhiễm và giúp cân bằng lại môi trường thiên nhiên. Những điều nêu trên là một trong những vấn đề cốt yếu của chính sách phát triểncủa các quốc gia. Phát triển chưa đủ mà phải là phát triển bền vững. Vấn đề này thiếtnghĩ không phải chỉ là “nhiệm vụ” của các nhà làm chính sách hay chỉ đơn thuần củacác nguyên thủ quốc gia mà còn là của mọi công dân, từ trong ý thức của mỗi người. Bài tiểu luận được cố gắng hoàn thành trong thời hạn sớm nhất có thể. Quantrọng hơn có tinh thần làm việc có trách nhiệm từ các thành viên của nhóm. Tiều luậnnày được chia thành nhiều phần cụ thể có khái niệm, hạn chế, phân loại, và ý nghĩa đốivới phát triển,… Tuy nhiên thành viên nhóm luôn lưu ý tới một điều là con nguời thìchắc hẳn là không thể thiếu được những sai lầm khó tránh khỏi. Do vậy những sai sótlỗi lầm không đáng có mong được giảng viên bỏ qua và đánh giá bài làm này trên cơsở khách quan nhất. Xin cảm ơn thầy.NHÓM KTPT 7B Trang 1
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Phần 1: TỔNG QUAN  Giới thiệu đề tài và lí do chọn đề tài: Vấn đề của các TNTN đã có từ lâu trên các phương tiện báo đài là một vấn đề hết sức bức xúc hiện nay. Đã nghe nói đến từ lâu, nay trong học phần kinh tế phát triển này nhóm mới có cơ hội để thực hiện ý tưởng. Vì vậy ngay khi được giao chọn đề tài, nhóm đã chọn đề tài này.  Đối tượng nghiên cứu: Khái niệm TNTN, phân loại, công dụng, vai trò của TNTN với phát triển kinh tế và đặc biệt là phát triển bền vững. Cuối cùng là tình hình ở VN hiện nay.  Phạm vi nghiên cứu: Ngoài giới hạn của giáo trình Kinh tế phát triển, trường Đại học Công Nghiệp Tp HCM, các thành viên còn tham khảo nhiều tài liệu trên nhiều kênh khác nhau. Cụ thể sẽ được liệt kê chi tiết trong phần Tài liệu tham khảo.  Phương pháp nghiên cứu: 1. Phân tích chủ đề tiểu luận thành các phần nhỏ để nghiên cứu 2. Tổng hợp từ các ý kiến đưa ra để thống nhất thành một bài làm hoàn chỉnh 3. Sử dụng nguồn tài liệu từ nhiều phương tiện. Trong đó Internet là một phương tiện hữu hiệu nhất.NHÓM KTPT 7B Trang 2
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Phần 2: NỘI DUNG1. Tìm hiểu về tài nguyên thiên nhiên (TNTN): 1.1. Tài nguyên thiên nhiên là gì? o Định nghĩa Tài nguyên thiên nhiên là một bộ phận quan trọng trong môi trường tự nhiên. Nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm những yếu tố vật chất của tự nhiên mà con người có thể nghiên cứu, khai thác, sử dụng và chế biến để tại ra sản phẩm, của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội. Vật chất mà tài nguyên thiên nhiên là một dạng cụ thể của nó, được con người biến đổi mà không làm biến mất nó trong quá trình hoạt động. Vật chất đề cập ở đây cần phải hiểu cả hai dạng : hữu hình và vô hình. Có thể nói rằng tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức, thông tin được con người sử dụng để tạo ra của cải vật chất hay tạo ra giá trị sử dụng mới. Xã hội loài người càng phát triển thì số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người sử dụng, khai thác càng gia tăng. o Hạn chế: - Loại tài nguyên không khôi phục được bao gồm các loại khoáng sản đang được khai thác để sử dụng trong công nghiệp. Sự hình thành các tài nguyên khoáng sản phải mất hàng triệu năm; vì vậy, các tài nguyên này khi hao kiệt thì không phục hồi được. Do đó, đối với tài nguyên khoáng sản, phải sử dụng thật tiết kiệm, sử dụng tổng hợp và cần sản xuất các loại vật liệu thay thế (ví dụ, sản xuất các chất dẻo tổng hợp để thay thế các chi tiết bằng kim loại…) . - Tài nguyên không bị hao kiệt như năng lượng Mặt Trời, không khí, nước… Không khí và nước có lượng rất lớn đến mức con người không thể sử dụng làm cho chúng cạn kiệt được. Tuy nhiên, tài nguyên nước không phân bố đều giữa các vùng trên Trái Đất: có nhiều vùng đangNHÓM KTPT 7B Trang 3
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM phải đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt, đặc biệt là thiếu nước an toàn. Không khí và nguồn nước đang bị đe doạ ô nhiễm nghiêm trọng làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của con người. 1.2. Phân loại TNTN: 1.2.1 Phân loại theo công dụng: 1.2.1.1 Nguồn năng lượng:  Nguồn năng lượng lại có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Theo tính chất thương mại là nguồn năng lượng được sử dụng phổ biến ở các nước (đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển) bao gồm các nguồn năng lượng mới: dầu hỏa, khí đốt, than đá, thủy điện, uraniom, địa nhiệt, mặt trời, sức nước, sức gió. Năng lượng phi thương mại là năng lượng được sử dụng để tạo ra nhiệt năng và chỉ còn được sử dụng ở các nước đang phát triển bao gồm củi đốt và năng lượng sinh khói (rơm rạ, thân cây các loại, phân súc vật…). Ở Việt Nam, hiện nay bình quân mỗi năm ở các vùng nông thôn, miền núi sử dụng khoảng 22 triệu tấn củi cho việc đun nấu. Tuy nhiên, tỷ trọng năng lượng phi thương mại ở các nước đang phát triển sẽ giảm dần cùng với sự phát triển của nền kinh tế.  Toàn bộ nguồn năng lượng được sử dụng trong hoạt động giao thông, sản xuất điên năng, phục vụ các ngành sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, từ điện năng, nguồn năng lượng lại tiếp tụ đi vào phục vụ cho tất cả các lĩnh vực hoạt động khác nhau của nền kinh tế cuãng như đời sống con người. Có thể nói năng lượng có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Năng lượng là cơ sở cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Việt Nam hiện nay.  Để phản ánh quy mô nguồn năng lượng và khả năng đóng góp của nguồn năng lượng vào hoạt động kinh tế, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu như: Trữ lượng tài nguyên năng lượng (than, dầu, khí…), trong khi đó bao gồm trữ lượng tham dò và trữ lượng có khả năng khai thác; khả năng khai thác/ năm.  Mức độ đánh giá chính xác quy mô nguồn năng lượng là sự phản ánh khác nhau giữa trữ lượng thăm dò và trữ lượng có khả năng khai thác. Khả năng khaiNHÓM KTPT 7B Trang 4
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM thác/năm là chit tiêu phản ánh sự đóng góp trực tiếp của nguồn năng lượng vào kết quả hoạt động của nền kinh tế.  Trong các nguồn năng lượng, thủy năng là nguồn năng lượng có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển. Trên 45% điện năng tiêu thụ ở các nước đang phát triển được sản xuất ở các nhà máy thủy điện. Ở VN, tỷ lệ này hiện nay là 63% với Nhà máy thủy điện Hòa Bình có công suất là 1920 MW và hiện đang triển khai xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La với công suất 3600MW.  Dầu hỏa là nguồn năng lượng có giá trị lớn nhất trên thế gời hiện nay. Ưu điểm của nguồn năng lượng này là sử dụng thuận lợi, dễ vận chuyển (bằng đường ống, tầu biển) và ít gây ô nhiễm hơn than. Tổ chức OPEC bao gồm 13 nước sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ trên thế giới, hiện đang kiểm soát khoảng 80% lượng dầu thô trên thị trường thế giới. Các nhà khoa học dự đoán dầu mỏ có thể khai thác được trong vòng 60 năm nữa. Dầu khí của VN theo đánh giá của WB, trữ lượng có khả năng khai thác là 1 tỷ tấn, đứng thứ tư khu vực châu Á – TBD.  Sau hàng trăm năm được coi là thứ nhiên liệu độc hại, vừa khó khai thác lại vừa gây ô nhiễm khi sử dụng, bây giờ than đá lại bắt đầu được sử dụng ưa chuộng trở lại nhờ giá rẻ và nhờ kỹ thuật sử dụng hoàn toàn mới. Lợi thế đầu tiên của than đá là trữ lượng dồi dào, bảo đảm giá cả ổn định. Theo ước tính của các chuyên gia, nếu không tìm thấy mỏ mới thì nhân loại cũng đủ lượng than để dùng trong hai thế kỷ nữa, trong khi các mỏ dầu hỏa và khí đốt đang cạn dần, Lợi thế thứ hai là các mỏ than phân bố tương đối đều giữa các vùng lãnh thổ trên trái đất. Chỉ trừ ở Chây Âu là đã bị khai thác gần cạn, còn than có mặt ở khắp mọi nơi: châu Á, châu Úc, châu Mỹ, chây Phi… Nhược điểm chính của than đá là gây ô nhiễm do khói than có nhiều chất đột hại như CO2…Nhưng những nhược điểm này đang dần biến mất do những kỹ thuật lọc khí đang được thí nghiệm và đặc biệt là có hai quy trình kỹ thuật có nhiều triển vọng là biến than đá từ thể rắn sang thể khí đang được tính đến trong những dự án xây dựngNHÓM KTPT 7B Trang 5
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM nhà máy nhiệt điện. Do những ưu thế trên, than đá có khả năng trở thành nguồn năng lượng chính của thế kỷ 21.  Việt Nam có trữ lượng than lớn, chủ yếu nằm ở khu vực Quảng Ninh chạy từ đảo Cái Bầu trên vịnh Hạ Long cho tới Phả Lại với chiều dài 150km. Theo đánh giá, trữ lượng thăm dò khoảng 3,5 tỷ tấn. 1.2.1.2 Các loại khoáng sản:  Các loại khoáng sản là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp khai thác và công nghiệp sản xuất các loại vật liệu như công nghiệp luyện kim, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thủy tinh, sành sứ. Trong số 16 loại khoáng sản chủ yếu được sản xuất trên thế giới hiện nay, các nước đang phát triển dẫn đầu thế giới về sản xuất bô-xít, phốt phát và chiếm tỷ trọng lớn về sản xuất coban, cromit, thiếc, đồng. trong khi đó các nước công nghiệp phát triển cung cấp các loại khoáng sản chủ yếu: kiềm, lưu huỳnh, quặng sắt, niken và kẽm.  Việt Nam được đánh giá là có nguồn khoáng sản đa dạng như bô-xit, thiếc, đồng, cromit, quặng sắt, đá vôi… Trong đó có thể nói triển vọng nhất là nguồn bô-xit, trải dọc theo biên giới phía bắc với trữ lượng 5 tỷ tấn và ở vùng Tây Nguyên là 7 tỷ tấn. Một số cơ sở khai thác quặng sắt ở Thái Nguyên, apatit ở Lào Cai và thiếc ở Cao Bằng đều có quy mô còn nhỏ. 1.2.1.3 Nguồn tài nguyên rừng:  Rừng vừa có giá trị kinh tế vừa phải có giá trị bảo vệ môi trường. Về mặt kinh tế, rừng cho sản phẩm gỗ, ngoài ra rừng còn cho chúng ta các sản phẩm động thực vật: thịt thú rừng, những cây dược liệu quý, những loại cỏ có hương thơm, dầu thực vật, vỏ cây quý, hoa quả có giá trị thương mại. Những sản phẩm này của rừng là một nguồn thu nhập quan trọng của những người dân nông thôn ở vùng rừng núi của các nước đang phát triển. Rừng còn có giá trị bảo vệ môi trường: chống xói mòn, lụt lội, điều hòa khí hậu, chống sự thiêu đốt của mặt trời, tạo môi trường rất quan trọng nhưng khó định lượng hơn giá trị kinh tế. Hai mặt này thường có mâu thuẫn với nhau. Từ xưa đến náy con người thường cóNHÓM KTPT 7B Trang 6
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM nhu cầu sử dụng gỗ và đất đai. Do khai phá rừng để trồng trọt, diện tích đất rừng tự nhiên đang bị giảm dần, những dải rừng đang bị đe dọa. Nguồn tài nguyên thường được đánh giá qua các chỉ tiêu: Diện tích có rừng chê phủ (triệu ha); Tổng trữ lượng gỗ rừng (triệu m3); trữ lượng gỗ/ha có rừng che phủ.  Ở Việt Nam, diện tích đất đai có rừng che phủ đã giảm từ 15-16 triệu ha (năm 1945) xuống chỉ còn 8-9 triệu ha, tức là giảm từ 45% tổng diện tích xuống còn 28% diện tích đất có rừng chê phủ. Trong khi tỷ kệ này ở Thái Lan là 52%, ở Philippin là 58% và ở Indonesia là 67%. 1.2.1.4 Nguồn đất đai: Đất đai có ý nghĩa quan trọng trong phát triển nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu cho các công trình xây dựng nhà ở và các tuyết giao thông trên bộ. Ở VN, đất có khả năng canh tác là 9,5 triệu ha, trong đó đã sử dụng 7 triệu ha, thực tế đất có thể huy động thêm từ 2 đến 2,5 triệu ha, nhưng phần lớn là đất dốc bị xói mòn và thoái hóa. Hệ số sử dụng đất trồng cây còn thấp, mới chỉ đạt chỉ số trung bình trong cả nước là 1,3. Bên cạnh đó, thời gian qua do nhiều khu công nghiệp và đô thị mới đang hình thành nên đất canh tác bị xâm lấn, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng bị co hẹp nhanh chóng. 1.2.1.5 Nguồn nước: Nước là nguồn tài nguyên không thể thiếu trong sản xuất và đời sống, là cơ sở để xây dựng hệ thống thủy điện, vận tải thủy, tạo bể chứa, đập tràn phục vụ tưới tiêu, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho đời sống con người. Việt Nam có nguồn nước phong phú, có 9 hệ thống sông ngòi với lưu lượng dòng chảy 840 tỷ m3/năm, ngày mưa bình quân 100 ngày/năm. Bên cạnh đó còn có nhiều hồ, đầm lầy và các mạch nước ngầm. Tuy vậy, mặt hạn chế là mưa theo mùa và tài nguyên nước phân bố không đồng đều giữa các vùng. Ở các vùng núi nước rất hiếm, ở các vùng ven biển lại thiếu nước ngọt vào mùa khô. Mặt khác, nhiều nguồn nước đã bị ô nhiễm, việc cung cấp nước sạch ở nhiều vùng nông thôn và đô thị đang gặp rất nhiều khó khăn.NHÓM KTPT 7B Trang 7
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM 1.2.1.6 Biển và thủy sản: Với hơn 3200 km bờ biển chạy suốt chiều dài đất nước đã tạo điều kiện thuận lời cho Việt Nam trong vận tải biển. Hoạt động nuôi và đánh bắt hải sản cũng có ý nghĩa to lớn, vừa tạo ra nguồn thu nhập, vừa là nguồn dinh dưỡng của đa số nhân dân. Một số sinh vật biển như cá, tôm, cua, sò, hến có giá trị cao trên thị trường thế giới. Ngoài ra cá vùng ven biển còn có điều kiện phát triển nghề làm muối, trồng và sản xuất các sản phẩm từ cói. Trữ lượng hải sản cho phép đánh bắt mỗi năm ở VN là 1,5 triệu tấn cá và 5-6 vạn tấn tôm. 1.2.1.7 Khí hậu: o Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, gió mùa nóng và ẩm, độ ẩm bình quân hàng năm là 87%, rất thuận lời cho trông cây nông nghiệp và hoa quả nhiệt đới. Điều kiện khí hậu kết hợp với nguồn nước và đất đai đã cung cấp các loại nông sản có giá trị xuất khẩu: lúa gạo, cao su, cà phê, chè, thuốc lá, tơ tằm, thịt và các sản phẩm chăn nuôi.  Tuy vậy, một vấn đề đang đặt ra với Việt Nam hiện nay là phải hạn chế tình trạng ô nhiễm không khí từ các chất thải công nghiệp, khí thải từ các phương tiện giao thông, ô nhiễm do tàn phá rừng… 1.2.2 Phân loại theo khả năng tái sinh:  Nhóm tài nguyên không thể tái tạo là những tài nguyên có quy mô không thay đổi như đất đai và những tài nguyên khi sử dụng sẽ mất dẫn hoặc biến đổi tính chất hóa, lý như các loại khoáng sản kim loại, phi kim loại, than đá, dầu mỏ…Khi chúng ta khai thác lên một thùng dầu thì cũng có nghĩa là trữ lượng dầu thế giới bị giảm đi một thùng. Còn nếu như có thể tái tạo thì cũng phải trải qua một quá trình hàng triệu năm.  Nhóm tài nguyên có thể tái tạo, bao gồm nguồn rừng, thổ nhưỡng, các loại động, thực vật trên cạn và dưới nước… Nguồn tài nguyên này, sau khi khai thác có thể được tái sinh, phục hồi, tiếp tục sinh sôi, nảy nở dưới những tác động tích cực của cong người.NHÓM KTPT 7B Trang 8
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM2. TNTN với phát triển kinh tế: Giữa tài nguyên và kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ qua lại với nhau, đó là mốiquan hệ tương tác, thường xuyên và lâu dài.  Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố nguồn lực quan trọng: Tài nguyên thiên là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất. Xét trên phạm vi toàn thể giới, nếu không có tài nguyên , đất đai thì sẽ không có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người. Tuy nhiên, đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, tài nguyên thiên nhiên chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Trên thực tế, nếu công nghệ là cố định thì lưu lượng của TNTN sẽ là mức hạn chế tuyệt đối về sản xuất vật chất trong ngành công nghiệp sử dụng khoáng quặng làm nguyên liệu đầu vào như nhôm, thép…TNTN chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng một cách hiệu quả. Thực tế đã cho thấy nhiều quốc gia mặc dù có trữ lượng tài nguyen phong phú, đa dạng, điều kiện thuận lợi, song vẫn là nước nghèo và kém phát triển, ví dụ như Cô-oét, Arập-Sêút, Vê nê zuê la, Chi lê. Ngược lại nhiều quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản nhưng lại trở thành những nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Anh, Pháp, Italia… Có thể nói, TNTN là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, các nước đang phát triền thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn TNTN của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế. Nguồn TNTN cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, công nghiệp chế biên, các ngành công nghiệp năng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thủy tinh, sành sứ…  Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định: Đối với hầu hết nước, việc tích lũy vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, gian khổ liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia, nhờ những ưu đãi của tự nhiên có nguồn tài nguyên lớn, đa dạng nên có thể rút nhắn quá trình tích lũy vốn bằng cáchNHÓM KTPT 7B Trang 9
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hóa nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Như trên chúng ta đã thấy, nguồn TNTN thường là cơ sở để phát triển một số ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh tế khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước. Sự giàu có về tài nguyên, đặc biệt về năng lượng giúp cho một quốc gia ít bị lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc lập khi thị trường tài nguyên thế giới bị rời vào trạng thái bất ổn.  Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển: TNTN là cơ sở để phát triển nông nghiệp và công nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển ở thời kỳ đầu công nghiệp hoá như Việt Nam. Tuy vậy, cần đề phòng tình trạng khai thác quá mức TNTN để xuất khẩu nguyên liệu thô.3. Tài nguyên thiên nhiên với phát triển bền vững: 3.1 Phát triển bền vững: 3.1.1 Phát triển bền vững là gì ? Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. 3.1.2 Mặt tích cực và hệ lụy: Hệ thống pháp luật về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đang được hoàn thiện theo hướng tiếp cận với các mục tiêu phát triển bền vững. Các nguồn lực cho công tác bảo vệ tài nguyên môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững đã và đang được tăng cường mạnh mẽ. Hợp tác quốc tế về tài nguyên và môi trường thu được nhiều kết quả tốt. Tốc độ gia tăng ô nhiễm đã từng bước được hạn chế. Chất lượng môi trường tại một số nơi, một số vùng đã được cải thiện, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, cũng như quá trình phát triển bền vững của đất nước.NHÓM KTPT 7B Trang 10
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Hiện nay, tình trạng sử dụng đất tăng mạnh, tài nguyên nước ngày càng bị lạm dụng, rừng tự nhiên bị khai thác lấy gỗ, trữ lượng cá cho hoạt động đánh bắt bị cạn kiệt, và tài nguyên khoáng sản ngày càng bị khai thác nhiều hơn. Không có gì sai nếu sử dụng tài nguyên thiên nhiên để tăng trưởng kinh tế. Nhưng để phát triển bền vững cần phải đảm bảo các tài nguyên có thể tái tạo được khai thác ở mức thích hợp. 3.2 Vai trò của TNTN với phát triển bền vững:  Ưu điểm: - Chống thoái hóa, thực hiện sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất. - Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước. - Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản. - Bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển. - Bảo vệ và phát triển rừng. - Giảm ô nhiễm không khí ở các đô thị và khu công nghiệp. - Quản lý có hiệu quả chất thải rắn và chất thải nguy hại. - Bảo tồn đa dạng sinh học. - Giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, góp phần phòng, chống thiên tai.  Nhược điểm:  Các vấn đề môi trường như ô nhiễm môi trường đất, nước.  Không khí nhiều nơi còn nặng nề.  Suy giảm đa dạng sinh học.  Khai thác khoángsản và quản lý chất thải rắn đang gia tăng, gây bức xúc trong nhân dân.  Hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường còn chưa đồng bộ.  Lực lượng cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng.  Nhận thức về bảo vệ môi trường và PTBV ở các cấp.NHÓM KTPT 7B Trang 11
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM  Các ngành và nhân dân chưa đầy đủ.  Tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên vẫn đang diễn ra tương đối phổ biến.4. Sử dụng TNTN trong tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay: 4.1. hiện trạng TNTN ở Việt Nam hiện nay: 4.1.1 Hiện trạng tài nguyên đất ở VN: a/ Thực trạng quy hoạch khai thác và sử dụng tài nguyên đất: Vùng núi nước ta chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ. Sử dụng hợp lý đất đồi núi không chỉ mang lại lợi ích lâu dài cho phát triển kinh tế xã hội miền núi mà còn tạo ra sự bảo hộ cho sản xuất và đời sống dân cư vùng đồng bằng. Đặc trưng cơ bản của vùng núi là địa hình chia cắt mạnh, gây trở ngại lớn cho việc canh tác, phát triển hạ tầng và tiếp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, tỷ lệ diện tích đất có thể canh tác không nhiều. Khoảng 50% diện tích có sườn dốc trên 20 độ. Đất bị xói mòn mạnh, ước tính hàng năm khoảng 15- 350 tấn/ha. Ngoài ra, phần lớn đất bị phong hóa, nghèo dinh dưỡng đặc biệt là các nguyên tố vi lượng.NHÓM KTPT 7B Trang 12
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Qua nghiên cứu trong vòng hai mươi năm qua, có thể nhận thấy tình trạng thoái hóa đất đồi núi đang diễn ra trên quy mô rộng, bao gồm quá trình xói mòn, rửa trôi và sa mạc hóa. Quá trình xói mòn, rửa trôi quan sát được trên cả ba loại đất: Đất canh tác nương rẫy có độ dốc cao; đất một số hệ luân canh điển hình; lâm nghiệp với các thảm thực bì khác nhau b/ Quá trình sa mạc hóa: Sự khô hạn diễn ra phổ biến trên đất đồi núi khi mất rừng hoặc canh tác nông nghiệp quá mức. Kết quả theo dõi chế độ ẩm của đất nương rẫy vùng Tây Bắc trong nhiều năm qua cho thấy tới độ sâu 50cm, độ ẩm trong đất nhỏ hơn độ ẩm cây héo, nghĩa là đất bị thiếu nước nghiêm trọng. Do hậu quả của việc chặt phá rừng, đốt rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền vững qua nhiều thế hệ (du canh, du cư, độc canh, quảng canh) nên đất bị kho hạn nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng sản xuất. Tại Tây nguyên, việc mở rộng diện tích nông nghiệp ồ ạt không có quy hoạch làm đất bị xống cấp nhanh, xuất hiện hiện tượng chua hóa, thiếu nước đặc biệt vào mùa khô. Kết quả nghiên cứu cho thấy trồng chè ở vùng đất bazan đã làm cho đất bị mất khoảng 120 tấn khô/năm, kéo theo sự thất thoát một lượng lớn các chất dinhdưỡng như nitơ, phốt pho, canxi- magiê và các chất hữu cơ. Để hạn chế tình trạng thoái hóa đất, việc áp dụng cả hai nhóm giải páhp công trình và phi công trình rất cần thiết các tài nguyên thiên nhiên khác như: đất, rừng, khoáng sản trong các quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội vùng cao theo hướng bền vững. 4.1.2 Hiện trạng tài nguyên nước ở VN: Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam không phải là quốc gia mạnh về tài nguyên nước bởi hơn 60% lượng nước bề mặt ở Việt Nam có nguồn gốc từ các nước khác. Dù Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực nhưng khoảng một nửa dân số Việt Nam vẫn chưa có đủ nước sinh hoạt. Những vấn đề nảy sinh từ biến đổiNHÓM KTPT 7B Trang 13
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM khí hậu cũng tác động đến tài nguyên nước Việt Nam, làm gia tăng thách thức vốn đã rất nghiêm trọng… Ô nhiễm và suy thoái: Báo cáo đánh giá ngành nước Việt Nam cho thấy, tổng lượng nước mặt hằng năm của nước ta vượt tiêu chuẩn quốc tế, nhưng không đều giữa các mùa. Mùa khô ở Việt Nam kéo dài và khắc nghiệt, lượng nước trong thời gian này chỉ bằng khoảng 30% lượng nước của cả năm. Vào thời điểm này, khoảng một nửa trong số 16 lưu vực sông chính bị thiếu nước - bất thường hoặc cục bộ. Về nước ngầm, Việt Nam có nguồn nước chất lượng tốt với trữ lượng lớn nhưng ở nhiều nơi, nước ngầm bị khai thác tập trung nên đang có mức sụt giảm nghiêm trọng. Không chỉ suy thoái, tài nguyên nước còn ô nhiễm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân. Tại Hà Nội, mỗi ngày thành phố thải ra khoảng 300.000 - 400.000m3 nước thải. Tuy nhiên, lượng nước thải này không qua xử lý hoặc chỉ được xử lý sơ bộ trước khi xả vào tuyến thoát nước chung, do đó nồng độ chất ô nhiễm ở một số điểm xả rất cao. Ở TP Hồ Chí Minh, riêng lượng nước thải công nghiệp xả ra môiNHÓM KTPT 7B Trang 14
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM trường mỗi ngày là 400.000m3. Một số ngành công nghiệp hóa chất, phân bón, khai thác khoáng sản có lượng nước thải lớn, chứa nhiều chất độc hại được thải trực tiếp ra các sông, ao, hồ, kênh, rạch nên đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Trên thực tế, tính trung bình, mỗi người Việt Nam có thể nhận 9.650m3 nước/năm trong khi mức trung bình thế giới là 7.400m3. Tuy nhiên, xét về nguồn nước nội địa, Việt Nam chỉ đạt mức trung bình kém của thế giới với 3.600m3/người/năm, ít hơn mức bình quân toàn cầu (4.000m3/người/năm). Nếu tính theo tiêu chí nguồn nước nội địa, Việt Nam thuộc diện quốc gia thiếu nước. Điều đáng lo là, vì 63% tổng tài nguyên nước mặt của chúng ta là ngoại lai, cụ thể ở lưu vực sông Hồng, nguồn nước ngoại lai chiếm 50% tổng khối lượng nước bề mặt, còn ở lưu vực sông Cửu Long, con số này là 90% nên chúng ta không thể chủ động bảo vệ, khai thác và sử dụng nguồn nước, đặc biệt là khi các quốc gia ở thượng nguồn ngày càng khai thác triệt để nguồn nước này. Trung Quốc đang xây dựng hàng chục hồ chứa lớn trên sông Mê Kông, Thái Lan đã xây 10 hồ chứa vừa và lớn, Campuchia dự kiến giữ nước Biển Hồ ở một mực nhất định để phát triển thủy lợi… 4.1.3. Hiện trạng tài nguyên biển ở VN: Trong bối cảnh thế giới tiến mạnh ra biển ở thế kỷ 21 với các chiến lược biển (và đại dương) của những quốc gia đầy tham vọng thì quy mô phát triển kinh tế biển nước ta như hiện nay hoàn toàn chưa tương xứng với tiềm năng và những giá trị mà biển sẽ đem lại cho dân tộc. Cho nên, muốn tiến ra biển phải chấp nhận đầu tư lớn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phải duy trì được tinh bền vững về mặt tài nguyên - môi trường. Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47-48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế thuần biển đạt khoảng 20-22% tổng GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, thủy sản, hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), du lịch biển. Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biếnNHÓM KTPT 7B Trang 15
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM dầu khí, chế biến thủy sản, thông tin liên lạc,.... bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô còn rất nhỏ bé (chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước). So với các nước , năng lực khai thác biển của Việt Nam chỉ bằng 1/7 của Hàn Quốc, 1/20 của Trung Quốc, 1/94 của Nhật Bản, 1/260 của thế giới. Gần đây, kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển nhờ chinh sách di dân và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên các đảo. Tuy vậy, quy mô kinh tế biển Việt Nam chỉ đạt khoảng hơn 10 tỷ USD; trong khi sản lượng kinh tế biển của thế giới ước đạt 1 .300 tỷ USD, Nhật Bản 468 tỷ USD, Hàn Quốc 33 tỷ USD. Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo còn yếu kém, lạc hậu. Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún, thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp. Các chỉ tiêu hàng thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực. Đến nay Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển, nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn. Các sân bay ven biển và trên một số đảo nhỏ, bé. Các thành phố, thị trấn, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển đang trong thời kỳ xây dựng. Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tếNHÓM KTPT 7B Trang 16
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM biển , các cơ sở quan trắc. dự báo, cảnh báo thời tiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn còn nhỏ bé, trang bị thô sơ. Du lịch biển là một tiềm năng kinh doanh lớn. Tuy nhiên, ngành du lịch biển vẫn thiếu những sản phẩm dịch vụ biển - đảo đặc sắc có tính cạnh tranh cao so với khu vực và quốc tế và chưa có khu du lịch biển tổng hợp đạt trình độ quốc tế. Khai thác hải sản và nuôi trồng thủy sản nước lợ vốn là lĩnh vực kinh tế đặc trưng của biển đã đóng góp khoảng 4,5 tỷ USD trong tổng giá trị thủy sản xuất khẩu (2008); tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động đánh cá trực tiếp, nuôi thủy sản và 50 vạn lao động dịch vụ liên quan. Mức khai thác dầu khí năm 2005 là 18,8 triệu tấn dầu thô và 6,89 tỷ m3 khí, sản phẩm dầu thô gần như xuất khẩu toàn bộ, kim ngạch xuất khẩu dầu đạt 7,44 tỷ USD, là ngành có đóng góp lớn nhất cho GDP kinh tế biển hiện nay. Đối với lĩnh vực kinh tế biển liên quan trực tiếp đến biển như chế biến sản phẩm dầu khí, chế biến thủy sản, đóng và sửa chữa tàu biển, sản xuất muối biển công nghiệp, các dịch vụ kinh tế biển và ven biển (như thông tin, tim kiếm cứu nạn hàng hải, dịch vụ viễn thông công cộng biển trong nước và quốc tế, nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, xuất khẩu thuyền viên,...) hiện mới bắt đầu được xây dựng và hình thành, quy mô còn nhỏ bé. Các nhà chiến lược cho rằng, biển là di sản của nhân loại, là nơi dự trữ cuối cùng của loài người nói chung và của dân tộc ta nói riêng về lương thực, thực phẩm và nguyên, nhiên liệu. Vì vậy, phải cân nhắc đến tính bền vững trong phát triển các kế hoạch và chính sách biển mà nguyên tắc chính là phát triển một nền kinh tế sinh thái biển. Khai thác biển đảo đã đem lại những lợi ích kinh tế - xã hội bước đầu quan trọng, nhưng việc sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững. Trình độ khai thác biển của nước ta đang ở tình trạng lạc hậu nhất trong khu vực. Việt Nam tuy là một quốc gia biển, song đến nay chúng ta van chưa thực sự dựa vào biển để phát huy đúng tiềm năng và thế mạnh.NHÓM KTPT 7B Trang 17
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM 4.1.4. Hiện trạng tài nguyên năng lượng ở VN: Ngành năng lượng Việt Nam hai mươi năm qua đã phát triển mạnh, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội đất nước. Tuy vậy, quy mô và hiệu quả của ngành năng lượng còn thấp. Trạng thái an ninh năng lượng Việt Nam chưa được bảo đảm (cắt điện xảy ra thường xuyên vào thời kỳ cao điểm; dự trữ dầu quốc gia chưa đủ khả năng bình ổn giá khi có khủng hoảng giá dầu trên thị trường quốc tế…). Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn năng lượng trong giai đoạn từ 2015 - 2020 trở đi. Vấn đề năng lượng của Việt Nam sẽ chuyển từ giới hạn trong phạm vi một quốc gia thành một phần của thị trường quốc tế và chịu sự tác động thay đổi của nó. Ngành năng lượng Việt Nam hai mươi năm qua đã phát triển mạnh trong tất cả các khâu thăm dò, khai thác, sản xuất, truyền tải, phân phối và xuất nhập khẩu năng lượng. Điều đó đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển và đổi mới đất nước.NHÓM KTPT 7B Trang 18
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Đến nay, hệ thống năng lượng Việt Nam luôn dựa trên ba trụ cột chính là dầu khí, than đá và điện lực. Thủy điện chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất điện Việt Nam. Về hiện trạng tiêu thụ năng lượng, giai đoạn 2000-2009, tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp của Việt Nam tăng trưởng trung bình 6,54%/năm và đạt 57 triệu TOE vào năm 2009. Tiêu thụ than tăng trung bình 12,12%/năm, xăng dầu tăng 8,74%/năm, khí tăng 22,53%/năm, điện tăng 14,33%/năm, đạt 74,23 tỷ kWh năm 2009. Tuy vậy, quy mô và hiệu quả ngành năng lượng còn thấp, biểu hiện ở chỉ tiêu năng lượng trên đầu người còn thấp xa với trung bình của thế giới, ngược lại, cường độ năng lượng cao hơn gần gấp hai lần trung bình thế giới. Trạng thái an ninh năng lượng Việt Nam chưa được bảo đảm, hiện tượng xa thải phụ tải điện xảy ra thường xuyên vào kỳ cao điểm. Dự trữ dầu quốc gia chưa đủ khả năng bình ổn giá khi xay ra khủng hoảng giá dầu trên thị trường quốc tế.NHÓM KTPT 7B Trang 19
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Nghiên cứu của các nhà khoa học Viện Khoa học Năng lượng đã chỉ ra rằng Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn năng lượng trong tương lai không xa. Chúng ta sẽ trở thành nước nhập khẩu năng lượng trước năm 2020. Nếu không đảm bảo được kế hoạch khai thác các nguồn năng lượng nội địa hợp lý, tình huống phải nhập khẩu năng lượng sẽ xuất hiện vào khoảng năm 2015. Điều đó cho thấy vấn đề năng lượng của Việt Nam sẽ chuyển từ giới hạn trong phạm vi một quốc gia thành một phần của thị trường quốc tế và chịu sự tác động thay đổi của nó. Việc xem xét phát triển các nguồn năng lượng khác bên cạnh các nguồn năng lượng cơ bản ngày càng trở nên quan trọng trong cơ cấu nguồn năng lượng Việt Nam trong tương lai, đặc biệt là các nguồn năng lượng tái tạo. Theo đánh giá của các nhà khoa học Viện Khoa học năng lượng, trong các nguồn năng lượng tái tạo, trong tương lai, nguồn địa nhiệt có thể khai thác tổng cộng khoảng 340 MW; Năng lượng mặt trời, gió, tổng cộng tiềm năng phát triển cả hai loại hình dự báo có thể đạt tới 800- 1000 MW vào năm 2025; Tiềm năng sinh khối được đánh giá vào khoảng 43-46 triệu TOE/năm. Việc phát triển nguồn năng lượng mới này không chỉ giải quyết vấn đề cân bằng cung cầu năng lượng, an ninh năng lượng mà còn góp phần quan trọng giảm phát thải khí nhà kính, chống biến đổi khí hậu toàn cầu. Trong thời gian tới, các nghiên cứu khoa học về phương pháp luận và xây dựng mô hình tối ưu phát triển tổ hợp năng lượng nhiên liệu để cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược, chính sách phát triển năng lượng bền vững và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia cần được đẩy mạnh hơn nữa. 4.1.5 Hiện trạng khoáng sản ở VN hiện nay: Nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng, bao gồm cả kim loại và phi kim loại như đồng, sắt, thiếc, vàng, than, dầu,v.v... Đến nay công tác điều tra khảo sát đã phát hiện và ghi nhận trên lãnh thổ nước ta có khoảng trên 5.000 mỏ và điểm quặng với trên 70 loại khoáng sản khác nhau, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi và vùng cao.NHÓM KTPT 7B Trang 20
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản ở Việt Nam mặc dù còn kém phát triển, nhưng cũng đã đóng góp một phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Trong hơn một thập kỷ qua, tổng sản lượng khai thác khoáng sản hàng năm của cả nước tăng trung bình 10%. Khai thác tài nguyên khoáng sản đem lại lợi ích kinh tế rõ ràng, tuy nhiên phát triển ngành công nghiệp khai khoáng cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường tự nhiên và sức khỏe con người. Chu trình khai thác khoáng sản thường qua 3 bước: mở cửa mỏ, khai thác và đóng cửa mỏ. Mỗi bước bao gồm nhiều công đoạn khác nhau và có những tác động khác nhau tới môi trường. Trong quá trình mở cửa mỏ, vấn đề môi trường nảy sinh khi mở đường vào khu mỏ, khi dọn mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng, khi mở rộng khai thác và đưa lực lượng công nhân, cán bộ kỹ thuật vào khu mỏ. Ở vùng trung du hay miền núi do địa hình hiểm trở, để mở đường phải nổ mìn phá núi gây tiếng ồn, đá văng nguy hiểm tới cư dân và hệ động vật quanh khu mỏ. Ngoài ra, mở đường cũng phát sinh mộtNHÓM KTPT 7B Trang 21
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM lượng bụi lớn, làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, mất đất lâm nghiệp, thay đổi cảnh quan thiên nhiên hoặc địa hình khu vực khai thác và một số tác động xã hội khác. Quá trình khai thác khoáng sản cũng phát sinh những tác động bất lợi tới môi trường đất, nước và không khí như: Làm biến đổi địa hình khu vực; gây trượt lở đất; gây xói mòn bồi lấp dòng chảy (mỏ mangan Tốc Tác - Cao Bằng); thu hẹp diện tích và làm suy thoái chất lượng đất canh tác, đất rừng hoặc thậm chí cả đất ở (rừng ở Cẩm Phả đã suy giảm chỉ còn 1.147 ha chỉ trong 5 năm từ 1985 đến 1990); làm giảm nguồn nước mặt, nước ngầm và thay đổi chế độ thủy văn, thay đổi chất lượng nước (nước suốit ở mỏ chì- kẽm Lang Hích, nước giếng ở mỏ vàng Hiếu Liêm, các hồ ở khu vực mỏ than Mạo Khê đều có hàm lượng các chất độc hại như kem, đồng, thủy ngân, asen, v.v... vượt tiêu chuẩn cho phép); ô nhiếm không khí do bụi, khí thải độc hại (ở các mỏ kín), tiếng ồn và độ rung lớn (ở các mỏ lộ thiên); ô nhiễm phóng xạ (tại các mỏ titan, đồng sinh quyển và một số mỏ than); gia tăng các sự cố môi trường như sạt lở gây chết người ở mỏ mangan Tốc Tác - Cao Bằng, nổ ở mỏ dầu Lan Tây, sập hầm lò ở mỏ than Mông Dương đầu năm 2006 do hoạt động khai thác than "thổ phỉ", v.v... Có thể nói, khai thác khoáng sản trái phép không chỉ gây lãng phí tài nguyên mà còn tiềm ẩn nhiền nguy cơ tai biến và tình trạng ô nhiễm nước thải và chất thải rắn. Trên thực tế, ngay cả khi đã ngừng khai thác khoáng sản, đóng cửa mỏ thì các tác động bất lợi tới môi trường vẫn tiếp diễn trong thời gian dài. Tác động dễ thấy nhất là tình trạng đất hoang hóa hoặc ô nhiễm môi trường (mỏ cromit ở Cổ Định - Thanh Hóa, mỏ vàng ở Chiêm Hóa). Hiện nay, trước thách thức lớn giữa nhu cầu khai thác phuc vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đi đôi với nó là nguy cơ ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên khoáng sản, Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Kế hoạch hành động quốc gia về bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiều văn bản pháp lý khác liên quan đến ngành khai thác khoáng sản đã được thông qua.NHÓM KTPT 7B Trang 22
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường do khai thác khoáng sản vẫn diễn ra phổ biến ở nhiều nơi xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. 4.1.6. Thực trạng bảo vệ rừng và phát triển rừng ở VN: Theo tài liệu của Maurand thì trước năm 1945, Việt Nam có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên của cả nước, năm 1990 diện tích rừng chỉ còn 28,4 %, Năm 2000 diện tích tăng lên 33,2 % (11 triệu ha) (Niên giám thống kê, 2000), trong đó có 8 triệu ha rừng đã được giao cho chủ rừng (Hà Công Tuấn,2001)… Trên thực tế, rừng vẫn bị xâm hại và chỉ còn khoảng 10 % là rừng nguyên thủy và từ năm 1996 – 2000, mỗi năm vùng Tây Nguyên mất đi 10.000 ha rừng. Trong cả nước thì hiện nay mỗi năm chúng ta trồng được 200.000 ha rừng nhưng diện tích rừng bị mất khoảng 120.000 – 150.000 ha. Do nước ta trải dài từ Bắc xuống Nam và điạ hình có nhiều cao độ khác nhau so với mực nước biển nên rừng phân bố trên khắp các dạng địa hình, với nét độc đáo của vùng nhiệt đới và rất đa dạng: có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên thủy, rừng cây lá rộng, rừng cây hỗn giao lá kim và lá rụng, rừng cây bụi và đặc biệt là rừng ngập mặn...NHÓM KTPT 7B Trang 23
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật rất đa dạng. Có thể nói nước ta là trung tâm du nhập của các luồng thực vật và động vật từ phía Bắc xuống, phía Tây qua, phía Nam lên và từ đây phân bố đến các nơi khác trong vùng. Ðồng thời, nước ta có độ cao ngang từ mực nước biển đến trên 3.000 m nên có nhiều loại rừng với nhiều loại thực vật và động vật quý hiếm và độc đáo mà các nước ôn đới khó có thể tìm thấy được:  Về thực vật: Theo số liệu thống kê gần đây thì có khoảng 12.000 loài thực vật, nhưng chỉ có khoảng 10.500 loài đã được mô tả (Phạm Hoàng Hộ, 1991- 1993), trong đó có khoảng 10% là loài đặc hữu; 800 loài rêu; 600 loài nấm... Khoảng 2.300 loài cây có mạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc. Về cây lấy gỗ gồm có 41 loài cho gỗ quí (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài cho gỗ đồ mộc và xây dựng (nhóm 3)..., loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha. Ngoài ra, rừng Việt Nam còn có loại rừng tre, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng 25 loài đã được gây trồng có giá trị kinh tế cao. Ngoài những cây làm lương thực, thực phẩm và những cây lấy gỗ ra, rừng Việt Nam còn có những cây được sử dụng làm dược liệu gồm khoảng 1500 loài trong đó có khoảng 75% là cây hoang dại. Những cây có chứa hóa chất quý hiếm như cây Tô hạp (Altingia sp.) có nhựa thơm, được tìm thấy ở vùng núi Tây Bắc và Trung bộ; cây Gió bầu (Aquilaria agalocha) sinh ra trầm hương, phân bố từ Nghệ Tỉnh đến Thuận Hải; cây dầu rái (Dipterocarpus) cho gỗ và cho dầu nhựa...  Về động vật: rất đa dạng, ngoài các loài động vật đặc hữu, Việt Nam còn có những loài mang tính chất tổng hợp của khu hệ động vật miền Nam Trung Hoa, Ấn Ðộ, Mã Lai, Miến Ðiện. Hiện tại đã thống kê được khoảng 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài cá nước ngọt và 1.650 loài cá ở rừng ngập mặn và cá biển; chúng phân bố trên những sinh cảnh khác nhau, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩa khoa học. Nhiều loài quý hiếm có tên trong “Sách đỏ của thế giới”.NHÓM KTPT 7B Trang 24
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM 4.2. Chính sách sử dụng TNTN: 4.2.1 Một số vấn đề về sử dụng TNTN để phát triển kinh tế: Phát triển lâm nghiệp bền vững. Quy hoạch và có chính sách phát triển phù hợp các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng với chất lượng được nâng cao. Nhà nước đầu tư và có chính sách đồng bộ để quản lý và phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, đồng thời bảo đảm cho người nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng có cuộc sống ổn định. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng sản xuất; gắn trồng rừng nguyên liệu với công nghiệp chế biến ngay từ trong quy hoạch và dự án đầu tư; lấy nguồn thu từ rừng để phát triển rừng và làm giàu từ rừng. Khai thác bền vững, có hiệu quả nguồn lợi thủy sản, phát triển đánh bắt xa bờ, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường biển. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo quy hoạch, tập trung vào những sản phẩm có thế mạnh, có giá trị cao; xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng nuôi; đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và chế biến, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu vệ sinh, an toàn thực phẩm. Xây dựng ngành thuỷ sản Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Quy hoạch và phát triển có hiệu quả nghề muối, bảo đảm nhu cầu của đất nước và đời sống diêm dân. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án. Các dự án đầu tư xây dựng mới phải bảo đảm yêu cầu về môi trường. Thực hiện nghiêm ngặt lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Hoàn thiện hệ thống luật pháp về bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm. Khắc phục suy thoái, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, nâng cao chất lượng môi trường. Thực hiện tốt chương trình trồng rừng, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng,NHÓM KTPT 7B Trang 25
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM cháy rừng; tăng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên. Quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, nước, khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Hạn chế và tiến tới không xuất khẩu tài nguyên chưa qua chế biến. Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, phát triển các dịch vụ môi trường, xử lý chất thải. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu và đánh giá tác động để chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng, chống thiên tai và Chương trình quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng. Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế. Mặt khác, để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững về mặt môi trường và xã hội thì cần giải quyết tính hiệu quả, sự bền vững môi trường và sự công bằng trong tất cả các lĩnh vực tài nguyên như đất, nước, rừng, tài nguyên biển và tài nguyên khoáng sản. Hiện nay, tăng trưởng kinh tế Việt Nam được “nạp” nhiên liệu từ cường độ khai thác tài nguyên thiên nhiên. Điều này chứng tỏ, tính hiệu quả kinh tế trong quản lý tài nguyên đang tăng lên nhưng vẫn còn tồn tại những cản trở như thực thi quyền sở hữu, quản lý tài nguyên nước chưa hiệu quả, quy hoạch tổng thể mang tính áp đặt, không linh hoạt để cân đối các yếu tố và tối đa hóa hiệu quả kinh tế lâu dài. Để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, sự bền vững môi trường và công bằng xã hội, đề xuất ưu tiên ngắn hạn một số chương trình: tăng cường tính công khai, minh bạch trong các thị trường đất đai; cải tiến việc thu thập dữ liệu về nước; thực thi các tiêu chuẩn dữ liệu nghiêm ngặt trong ngành lâm nghiệp; nâng cấp cơ sở dữ liệu nhằm xác định hiện trạng nghề cá và các mức đánh bắt hợp lý; công bố kết quả đánh giá tác động môi trường từ việc khai thác khoáng sản.NHÓM KTPT 7B Trang 26
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Ngoài ra, các ưu tiên đổi mới khác như hiện đại hóa quản lý địa chính nhằm giảm chi phí giao dịch, tăng hiệu quả tưới, tăng năng suất rừng trồng, cải cách cơ chế trợ cấp cho ngành đánh bắt cá… Bên cạnh đó, các cơ chế chia sẻ lợi ích cộng đồng, đền bù tài sản bị tổn thất theo giá trị thị trường, tăng cường điều kiện tiếp cận thông tin, minh bạch trong quản trị và sự tham gia của công chính. Đây là những đổi mới căn bản để đảm bảo sự công bằng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên. 4.2.2 Bảo vệ tài nguyên môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững: Lịch sử kinh tế thế giới cũng như ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho phép rút ra những bài học đắt giá về chiến lược phát triển kinh tế nặng về khai thác tài nguyên, coi nhẹ tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái. Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của Đảng đã thẳng thắn nêu rõ, môi trường tự nhiên ở nhiều nơi bị huỷ hoại, ô nhiễm nặng, và đề ra nhiệm vụ phải bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên. Vấn đề phát triển kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên và môi trường của nước ta vừa chịu tác động của những vấn đề mang tính toàn cầu, vừa xuất phát từ thực tiễn chiến lược phát triển kinh tế của bản thân nước ta. Những vấn đề môi trường toàn cầu như khí thải gây hiệu ứng nhà kính, thay đổi khí hậu, phá thủng tầng ôzôn, hiệu ứng của El Nino...là những hiện tượng tự nhiên của thế giới mà không nước nào có thể tránh được. Công nghệ sản xuất điện, cơ khí luyện kim, chế biến, kể cả sản xuất nông nghiệp có nhiều chất thải độc hại và phá hoại môi trường của những năm 50 đến 80 của thế kỷ XX trên thế giới cũng được du nhập vào nước ta một cách dễ dàng. Trong quan hệ thương mại quốc tế, nước ta muốn có ngoại tệ để mua máy móc, trang thiết bị nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa thì không có con đường nào khác là khai thác tài nguyên để xuất khẩu. Nước ta tiến hành công nghiệp hóa bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, trong điều kiện chiến tranh chống Mỹ cứu nước, môi trường sinh thái đã bị tàn phá bởi chiến tranh, nhất là hậu quả của chất độc màu da cam (dioxin) do quân đội Mỹ rải xuống, hàng triệu người bị nhiễm chất độc da cam. Nhưng, những sơ suất, sai lầm trong chiến lược và chính sách kinh tế,NHÓM KTPT 7B Trang 27
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM trong ứng dụng khoa học - kỹ thuật lạc hậu vào sản xuất cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên môi trường. Chúng ta đã từng khai thác tài nguyên để xuất khẩu mà không tính đến việc bảo vệ môi trường sinh thái. Trong kế hoạch 5 năm (1976- 1980) đã đề ra chủ trương khai thác thiên nhiên nhiều và nhanh. Trong sản xuất công nghiệp thì không tính đến chất thải độc hại, trong sản xuất nông nghiệp thì lạm dụng chất độc hóa học như DDT, thuốc trừ cỏ 2,4D..., đã gây nhiều bệnh tật hiểm nghèo cho các khu dân cư. Phát triển kinh tế trên quan điểm bảo vệ và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái là vấn đề rộng lớn, mang tính toàn cầu, đối với nước ta, liên quan đến rất nhiều vấn đề phải nghiên cứu giải quyết, chúng tôi xin đề xuất 2 vấn đề sau: o Một là:Đẩy mạnh khai thác năng lượng tái sinh, giảm sản xuất năng lượng từ nhiên liệu khai khoáng. Thế giới đang đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái sinh như điện mặt trời, gió, sinh khối…để thay than, dầu, xăng. Đã có nhiều nhà máy điện chạy bằng sức gió, năng lượng mặt trời, khí từ rác thải, có những khu dân cư sử dụng toàn điện mặt trời, điện gió, đang thử nghiệm và sử dụng xe chạy bằng năng lượng mặt trời…Đối với nước ta, các nguồn năng lượng này có tiềm năng lớn. Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất Đông Nam Á, tổng công suất ước đạt 13.360 MW, bằng hơn 200 lần công suất của Thủy điện Sơn La, hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Việt Nam lại có trên 3 nghìn km chiều dài bờ biển nên rất thuận lợi cho việc phát triển nguồn điện năng từ sức gió. Hiện một số công trình về điện gió đã bước đầu triển khai như: Cột gió ở Bạch Long Vỹ (công suất 850kW), dự án điện gió công suất 15MW ở bán đảo Phương Mai (Qui Nhơn), trang trại điện gió 20MW ở Khánh Hòa(4). Chúng ta có thể khai thác loại năng lượng sạch này không giới hạn, nhưng vấn đề còn lại là thiết bị công nghệ và giá thành. Theo Ngân hàng thế giới, giá thành của năng lượng điện bằng sức gió, nhờ cạnh tranh đã không ngừng giảm. Nếu như năm 1991, giá thành điện gió là 18 cent/kWh thì đến năm 1994 còn khoảng 7 cent và năm 1998 chỉ còn 5,1 cent. Phát triển điện bằng sức gió không chỉ bổNHÓM KTPT 7B Trang 28
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM sung cho mạng điện quốc gia mà rất cần thiết và hiệu quả cho vùng xa như hải đảo, vùng núi, nông thôn, những nơi mà mạng lưới điện quốc gia rất khó tiếp cận. Việc khai thác năng lượng mặt trời để đun nóng nước phục vụ sinh hoạt trong các hộ gia đình cũng rất hiệu quả, giảm tiêu hao năng lượng điện mà giá thành cũng rất tiết kiệm. Hiện ở các thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng đã có 3 triệu bình loại này. Theo các nhà khoa học, thiết bị đun nước nóng bằng bẫy nhiệt mặt trời là ứng dụng hiệu quả nhất của việc sử dụng loại năng lượng này, có thể sánh được với các dạng năng lượng truyền thống khác. Mỗi năm, 1m2 thiết bị đun nước nóng mặt trời có thể tiết kiệm được khoảng 500-900 kWh điện. Các thiết bị như vậy có tuổi thọ trung bình 15 năm. Với giá điện hiện nay, sau thời gian sử dụng 4-5 năm là có thể hoàn vốn. Ngoài ra, 1m2 thiết bị đun nóng bằng năng lượng mặt trời sẽ giảm được 150 kg khí thải CO2 mỗi năm so với khi dùng các loại năng lượng khác. Khai thác và sử dụng năng lượng tái sinh có nhiều cái lợi, muốn phát triển loại công nghệ này, ngoài việc giải quyết những vấn đề khoa học công nghệ, thì cần có cơ chế, chính sách khuyến khích sử dụng, đưa thành chiến lược quốc gia, có quy hoạch, chính sách hỗ trợ và tuyên truyền phổ biến rộng rãi. o Hai là: phát triển nền nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, giành một phần xuất khẩu để thay cho xuất khẩu khoáng sản. Trong những năm qua, nhờ đường lối phát triển kinh tế đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất khẩu nước ta đã có nhiều tiến bộ vượt bậc. Năm 2007 được đánh giá là năm thành công lớn của xuất khẩu Việt Nam, với kim ngạch đạt 48 tỷ USD, tăng 20,5% so với năm 2006, năm 2008 đạt 63,5 tỷ USD, tăng 30,8% so với năm 2007, trong đó đã có tới 20 mặt hàng chủ lực có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD. Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu hàng thô và sơ chế vẫn cao. Trong nhóm hàng xuất khẩu thô và sơ chế đáng chú ý bốn mặt hàng chủ lực: dầu thô, than đá, hàng dệt may và lương thực thực phẩm (gồm gạo và thủy sản). Dầu thô từ năm 2005 đã thu được ngoại tệ 6,9 tỷ USD, nhưng khi nhà máy lọc dầu DungNHÓM KTPT 7B Trang 29
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM Quất đi vào hoạt động từ tháng 2-2009 thì cơ bản không còn dầu thô để xuất khẩu. Hàng dệt may và thủ công mỹ nghệ năm 2005 đã thu được ngoại tệ nhờ xuất khẩu khoảng 4,5 tỷ USD, nhưng do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008, đầu năm 2009 nên đang gặp nhiều khó khăn, nhưng khi kinh tế toàn cầu hồi phục thì đây là một ngành có nhiều lợi thế để thu hút lao động và xuất khẩu. Riêng xuất khẩu than đá từ năm 2000 đến năm 2006 khối lượng xuất khẩu đã tăng nhanh chóng: năm 2000 hơn 2,5 triệu tấn, năm 2001 hơn 6 triệu tấn, năm 2002 hơn 7,2 triệu tấn, năm 2003 hơn 11,6 triệu tấn, năm 2004 gần 18 triệu tấn, năm 2006 khoảng 29 triệu tấn(6). Như vậy, chỉ sau 6 năm lượng than xuất khẩu tăng lên khoảng gần 10 lần. 6 tháng đầu năm 2008, Việt Nam xuất khẩu 13,87 triệu tấn than với mức doanh thu tăng 43% và đạt 728 triệu USD do giá than thế giới tăng, nhưng sang đầu năm 2009 giá than đá đã giảm mạnh xuống còn 45 USD/tấn (giảm 33% so với tháng 12-2008). Việc đẩy mạnh xuất khẩu than làm cho nhu cầu than ở trong nước sẽ không được đáp ứng đủ. Theo tính toán của Tập đoàn Than, khoáng sản Việt Nam, chỉ tính riêng nhu cầu than cho sản xuất điện, đến năm 2012, lượng than tiêu thụ dự kiến vào khoảng 32,5 triệu tấn, thiếu khoảng 7,9 triệu tấn so với khả năng đáp ứng của Tập đoàn. Đến năm 2015, nhu cầu than cho ngành điện dự kiến vào khoảng 44 triệu tấn, thiếu khoảng 11,4 triệu tấn. Như vậy, trong các năm 2012-2017, Việt Nam sẽ thiếu bình quân 10,8-11 triệu tấn than mỗi năm. Từ năm 2012 nước ta sẽ phải nhập khẩu than. Lượng nhập dự kiến là 34 triệu tấn vào năm 2015; 114 triệu tấn vào năm 2020 và đến năm 2025 vào khoảng 228 triệu tấn. Theo chúng tôi, việc khai thác than để đảm bảo hoạt động của ngành than đủ đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế trong nước là rất cần thiết, nhưng không thể tăng xuất khẩu than để thu ngoại tệ, bởi vì nó liên quan đến bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ gìn nguồn tài nguyên không tái sinh cho các đời con cháu về sau, mặc dầu trữ lượng than vùng mỏ Quảng Ninh có thể tới 6-7 tỷ tấn. Không chỉ đối với than đá mà bất cứ tài nguyên khoáng sản nào cũng đều phải được bảo vệ, chỉ khai thác đểNHÓM KTPT 7B Trang 30
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM chế biến sử dụng cho yêu cầu trong nước chứ không nên khai thác để xuất thô hoặc sơ chế để xuất nguyên liệu. Cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng giá trị tổng sản phẩm ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng giá trị và lao động trong nông nghiệp, thì đồng thời phải tăng nhanh giá trị tuyệt đối của ngành nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản). Có như thế mới đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện và nâng cao mức sống của toàn dân, trước hết là nông dân, mặt khác, mới có thể tăng kim ngạch xuất khẩu từ sản phẩm nông nghiệp thay cho khai thác tài nguyên để xuất khẩu. Thực tế, trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm nông nghiệp vẫn duy trì mức độ vừa phải. Ngành nông nghiệp vừa đảm bảo đáp ứng nhu cầu lươmg thực, thực phẩm cho trên 85 triệu dân, vừa xuất khẩu, năm 2008 đạt khoảng 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Từ năm 2009, nếu không còn xuất khẩu dầu thô nữa, và trước cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, các mặt hàng công nghiệp và dịch vụ bị suy giảm xuất khẩu thì vai trò và tỷ trọng xuất khẩu từ nông nghiệp càng cao. Khi kinh tế - tài chính bị suy thoái thì người dân có xu hướng tiết giảm tiêu dùng hàng công nghiệp, dịch vụ chưa thật cần thiết nhưng không thể giảm tiêu dùng lương thực, thực phẩm, bởi đây là những mặt hàng thiết yếu để duy trì cuộc sống. Trong suy thoái kinh tế toàn cầu thì nông nghiệp có chịu ảnh hưởng nhất định nhưng lại là thời cơ vàng để phát triển. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm diễn ra tại Rome ngày 3-6-2008, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon nói rằng, sản lượng nông nghiệp cần phải tăng thêm 50% nữa từ bây giờ cho đến năm 2030 để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ gia tăng. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, trên cơ sở nhận thức đúng vai trò của nông nghiệp trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong việc xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và cải thiện đời sồng nhân dân, nhất là nông dân, từ đó cần có nhiều giải pháp thiết thực, trước hết phải chú trọng đến bảo vệ tài nguyên đất đai, rừng vàNHÓM KTPT 7B Trang 31
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM nguồn nước; quy hoạch sản xuất nông nghiệp một cách hợp lý; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, nhất là hệ thống chế biến và bảo quản; đưa nhanh tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất, áp dụng công nghệ sạch, bảo vệ môi trường trong sản xuất; mở rộng thị trường xuất khẩu nông lâm, thủy sản…Đồng thời, tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế...Đó cũng là những giải pháp thiết thực, cần thiết để phát triển kinh tế bền vững trên cơ sở tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.NHÓM KTPT 7B Trang 32
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM KẾT LUẬN Hiện nay, tăng trưởng kinh tế Việt Nam được “nạp” nhiên liệu từ cường độ khaithác tài nguyên thiên nhiên. Điều này chứng tỏ, tính hiệu quả kinh tế trong quản lý tàinguyên đang tăng lên nhưng vẫn còn tồn tại những cản trở như thực thi quyền sở hữu,quản lý tài nguyên nước chưa hiệu quả, quy hoạch tổng thể mang tính áp đặt, khônglinh hoạt để cân đối các yếu tố và tối đa hóa hiệu quả kinh tế lâu dài. Để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, sự bền vững môi trường và công bằngxã hội, theo báo cáo này đề xuất ưu tiên ngắn hạn một số chương trình: tăng cường tínhcông khai, minh bạch trong các thị trường đất đai; cải tiến việc thu thập dữ liệu vềnước; thực thi các tiêu chuẩn dữ liệu nghiêm ngặt trong ngành lâm nghiệp; nâng cấp cơsở dữ liệu nhằm xác định hiện trạng nghề cá và các mức đánh bắt hợp lý; công bố kếtquả đánh giá tác động môi trường từ việc khai thác khoáng sản. Để thực hiện phát triểnbền vững đất nước, cần xem xét một cách toàn diện mức độ bền vững của phát triểnkinh tế, phát triển xã hội (văn hóa, y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ) và môitrường. Định hướng phát triển bền vững phải đảm bảo duy trì mức tăng và xu hướnggia tăng ổn định, liên tục, nhất là đối với các chỉ tiêu về tăng trưởng kinh tế, việc làm,năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn đầu tư..., cũng như phải đảm bảo duy trì mứcgiảm và xu hướng giảm ổn định, liên tục, nhất là đối với các chỉ tiêu về tiêu tốn nănglượng, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội, tỷ lệ đói nghèo, tỷ lệ thất nghiệp, diện tích đấtbị thoái hóa, ô nhiễm môi trường... Ngoài ra, các ưu tiên đổi mới khác như hiện đại hóa quản lý địa chính nhằmgiảm chi phí giao dịch, tăng hiệu quả tưới, tăng năng suất rừng trồng, cải cách cơ chếtrợ cấp cho ngành đánh bắt cá… Bên cạnh đó, các cơ chế chia sẻ lợi ích cộng đồng,đền bù tài sản bị tổn thất theo giá trị thị trường, tăng cường điều kiện tiếp cận thông tin,minh bạch trong quản trị và sự tham gia của công chính. Đây là những đổi mới căn bảnđể đảm bảo sự công bằng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.NHÓM KTPT 7B Trang 33
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂM TÀI LIỆU THAM KHẢO  CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 2011 - 2020. ( Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam) Link: http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ ThongTinTongHop/noidungvankiendaihoidang?categoryId=10000716&articleI d=10038368  BẢO VỆ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÌ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (GS, TS HỒ VĂN VĨNH) Link: http://www.hanhchinh.com.vn/forum/showthread.php?t=71805&page=1  QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG. (Thu Phương) Link: http://www.baomoi.com/Quan-ly-tai-nguyen-thien-nhien-de-tang-truong-ben- vung/45/6340465.epi  HIỆN TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM. (Viện khoa học năng lượng) Link: http://www.vast.ac.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=1073 %3Ahin-trng-va-trin-vng-nng-lng-vit-nam&catid=37%3Atin-khcn-trong-nc- &Itemid=34&lang=vi  THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ QUẢN LÝ CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG. (KS Hoàng Minh Đạo - Phó Vụ trưởng Vụ Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường) Link: http://cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=6895#ixzz2 ATYFCuD9NHÓM KTPT 7B Trang 34
    • GVHD: TS.GVC. VÕ XUÂN TÂMNHÓM KTPT 7B Trang 35