Your SlideShare is downloading. ×
NHỮNG TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 46 , BỘ
LUẬT HÌNH SỰ LÀ TÌNH TIẾT ĐỊNH TỘI, TÌNH TIẾT ĐỊNH KHUNG
GIẢM NHẸ ...
CHƢƠNG 1. LÍ LUẬN CHUNGVỀ TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ VỪA LÀ TÌNH TIẾT
ĐỊNH TỘI ĐƢỢC QUY ĐỊNH TRONG CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ
1.1.
Một số...
biến tâm lý bên trong của mặt chủ quan trong cấu thành tội phạm, giúp chúng ta hình dung
được mức độ nguy hiểm của hành vi...
- Một tình tiết định tội có thể phản ánh trong nhiều cấu thành tội phạm và mỗi cấu thành
tội phạm khác nhau phải có ít nhấ...
1.1.4. Phân biệt tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết định tội với tình tiết
định khung hình phạt khi quyết...
Tiêu chí

Là tình tiết định tội

Về hình thức

- Được nêu ở tên điều luật
và nằm ở phần mô tả tội
danh tại Khoản 1, quy đị...
luật áp dụng), định khung hình phạt (xác định khoản của điều luật áp dụng). Cụ thể theo sơ đồ
dưới đây:

Hành vi phạm tội
...
i) Phạm tội vì bị người khác đe dọa cưỡng bức
j) Phạm tội do lạc hậu
k) Người phạm tội là phụ nữ có thai
l) Người phạm tội...
- Khoản 3: “Các tình tiết giảm nhẹ đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định
khung thì không được coi là tình t...
1.3.1.2.
95, Điều 105
- Khoản 1, Điều 95 quy định: “Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh do h...
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động
mạnh” thì là tình tiết gi...
+ Mức độ đáng kể tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm và
phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy...
 Vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
- Từ những phân tích về việc xác định thế nào là phòng vệ chính đáng và theo quy đ...
1.3.2.3. Xác định trƣờng hợp áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
trƣờng hợp làm tình tiết định tội
- Nếu h...
- Phạm tội do lạc hậu là tinh tiết giảm nhẹ. Theo đó thì người nào do có những tư tưởng
lạc hậu, nhận thức còn hạn chế, th...
1.3.3.3. Xác định trƣờng hợp áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
trƣờng hợp làm tình tiết định tội
46. Trư...
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ LÀ TÌNH TIẾT ĐỊNH TỘI QUY ĐỊNH TRONG
CÁC TỘI PHẠ...
thẩm và giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm đối với Nông Văn Lanh với nhận định
Yên vô cớ đập phá tài sản, đánh v...
+ Hành vi của Hưng đã gây ra cái chết cho Thân
+ Công cụ: dao gọt trái cây
+ Hoàn cảnh phạm tội: Thân sàm sỡ Trang. Hưng c...
2.1.1.3 Tội giết con mới đẻ (Điều 94, BLHS)
a. Khái niệm
Điều 94 Bộ luật Hình sự 1999 quy định về Tội giết con mới đẻ như ...
+ Chủ thể phạm tội phải có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 16 tuổi trở lên và là
người mẹ đã sinh ra nạn nhân, con mới...
2.2. Một số vƣớng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật
- Điều 46 BLHS quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình...
dấu hiệu định tội, còn vượt bao nhiêu chỉ là tình tiết giảm nhẹ)? đây là vẫn đề rất khó xác
định cần phải có hướng dẫn của...
KẾT LUẬN
Các “tình tiết hình sự” có vai trò quan trọng trong việc xác định và xử lí tội
phạm.được sử dụng để phân biệt các...
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

các tình tiết giảm nhẹ được xem là tình tiết định khung giảm nhẹ, tình tiết định tội quy định trong các tội danh cụ thể của Bộ Luật Hình Sự

5,986

Published on

Bài tiểu luận

0 Comments
3 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
5,986
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
82
Comments
0
Likes
3
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Transcript of "các tình tiết giảm nhẹ được xem là tình tiết định khung giảm nhẹ, tình tiết định tội quy định trong các tội danh cụ thể của Bộ Luật Hình Sự"

  1. 1. NHỮNG TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ THEO QUY ĐỊNH TẠI ĐIỀU 46 , BỘ LUẬT HÌNH SỰ LÀ TÌNH TIẾT ĐỊNH TỘI, TÌNH TIẾT ĐỊNH KHUNG GIẢM NHẸ ĐƢỢC QUY ĐỊNH TRONG CÁC TỘI DANH CỤ THỂ MỞ ĐẦU Bộ luật hình sự quy định các tình tiết tại Điều 46 để áp dụng đối với các trường hợp phạm tội có chứa các hành vi đó sẽ được xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cũng theo quy định tại Khoản 3, Điều 46: “Các tình tiết giảm nhẹ đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt”. Đây chính là vấn đề hiện còn nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hinh sự … : Làm sao để phân biệt được đâu là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư, đâu là tình tiết định tội danh cụ thể, như thế nào là tình tiết giảm nhẹ định khung?Và trong quy định của BLHS có những tội danh nào có chứa tình tiết giảm nhẹ được lấy làm tình tiết định tội, tình tiết định khung giảm nhẹ? Đó chính là nội dung mà nhóm 6 tiến hành phân tích dưới đây! Qua đó góp phần làm rõ hơn vấn đề đặt ra để có một cái nhìn thấu đáo trong việc vận dụng pháp luật trong thực tiễn, có cơ sở trong việc đưa ra hướng xử lí đúng đắn, đúng người, đúng tội trong từng trường hợp.
  2. 2. CHƢƠNG 1. LÍ LUẬN CHUNGVỀ TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ VỪA LÀ TÌNH TIẾT ĐỊNH TỘI ĐƢỢC QUY ĐỊNH TRONG CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ 1.1. Một số khái niệm cơ bản 1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự  Khái niệm: - Bộ luật hình sự 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009, cũng như một số văn bản pháp luật khác không có một quy định nào về khái niệm “tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” là gì. Khoa học pháp lí nước ta quan niệm về vấn đề này cũng chưa thống nhất. Nhìn chung có nhiều ý kiến cho rằng “tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự” là những tình tiết được quy định tại Điều 46, Bộ luật hình sự hay các tình tiết mà Tòa án công nhận đó là “tình tiết giảm nhẹ” được ghi trong bản án (Khoản 2, Điều 46, BLHS). Đồng thời căn cứ vào đó, Tòa án sẽ đưa ra mức hình phạt thấp hơn so với hành vi không có các tình tiết giảm nhẹ của người phạm tội. Đây có thể được xem là cách hiểu thông dụng, tuy nhiên vẫn chưa thực sự thể hiện rõ được bản chất của “tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”. - Qua tìm hiểu của nhóm từ những nguồn tài liệu, chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng: Bản chất của tình tiết giảm nhẹ là biểu hiện về hoàn cảnh, tình huống có ảnh hướng đến việc phạm tội, phảm ánh mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội, và là cơ sở để người phạm tội có thể chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn. Tình tiết giảm nhẹ là tình tiết mà người có thẩm quyền xử phạt cần đánh giá, xem xét để quy định mức chịu hình phạt thấp hơn so với hành vi cụ thể mà tội phạm thực hiện. Việc pháp luật quy định những tình tiết giảm nhẹ thể hiện được tính nhân đạo trong pháp luật việt nam cũng như tạo điều kiện cho những người phạm tôi biết ăn năn hối cải quay đường trở lại với cái thiện. - Từ đó có thể kết luận về khái niệm sau: Tình tiết giảm nhẹ là những biểu hiện hoàn cảnh, tình huống xảy ra có ảnh hưởg và phản ánh mức độ nguy hiểm ít hơn của hành vi phạm tội, được quy định trong BLHS hay được tòa án xem xét đánh giá ghi trong bản án. Căn cứ vào đó tòa án sẽ áp dụng những mức hình phạt nhẹ hơn so với hành vi có cùng tính chất nhưng không có các tình tiết gảm nhẹ, thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật đối với những người phạm tội.  Đặc điểm: - Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự rất phong phú về mặt số lượng: Ngoài 18 điều được quy định tại khoản 1, điều 46, BLHS, còn có khoản 2, điều 46 cũng quy định việc Tòa án có thể tự mình xem xét, cân nhắc coi những tình tiết khác làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phải ghi rõ trong bản án. Ngoài ra, tình tiết giảm nhẹ TNHS còn được ghi nhận tại điểm c, mục 5 nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4/8/2000 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về phần chung của BLHS năm 1999. - Tình tiết giảm nhẹ là căn cứ để tòa án xem xét, cấn nhắc áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn của người phạm tội: phản ánh các diễn biến bên ngoài của mặt khách quan cũng như diễn
  3. 3. biến tâm lý bên trong của mặt chủ quan trong cấu thành tội phạm, giúp chúng ta hình dung được mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. - Tình tiết giảm nhẹ TNHS ảnh hưởng như thế nào đến việc quyết định hình phạt là do tòa án cân nhắc, xem xét: Pháp luật không quy định cụ thể sự hiện diện của tình tiết giảm nhẹ sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc quyết định hình phạt, sự hiện hữu của tình tiết nào được giảm TNHS đến đâu, điều đó phụ thuộc vào sự xem xét và cân nhắc của Tòa án. - Ảnh hưởng của từng tình tiết đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không giống nhau: Có tình tiết thì ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt và đối với mọi trường hợp phạm tội, nhưng có tình tiết thì ảnh hưởng ít hơn. Có tình tiết chỉ có ý nghĩa đáng kể với một số tội phạm, còn đối với những tội phạm khác thì chỉ có ý nghĩa rất hạn chế. Ví Dụ: Trong điều 94 quy định tội giết con mới đẻ. Nếu có tình tiết phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức (điểm i, khoản 1, điều 46) hoặc có tình tiết người phạm tội tự thú (điểm o, khoản, điều 46 BLHS) thì việc áp dụng mức hình phát có tình tiết giảm nhẹ tại điểm e sẽ nhẹ hơn rất nhiều so với điểm o. 1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của tình tiết định tội  Khái niệm: - Tình tiết định tội là một loại của tình tiết hình sự. Trong khoa học luật hình sự nước ta chưa có quy định cụ thể nào quy định về khái niệm tình tiết định tội. Nhưng về phương diện thì các dấu hiệu được quy định trong BLHS cũng chính là các tình tiết. Từ đó có thể suy ra trong cấu thành tội phạm cơ bản chỉ có dấu hiệu định tội hay nói cách khác đó cũng chính là tình tiết định tội. Định tội là việc xác định một hành vi cụ thể đã thực hiện, thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm nào đó trong BLHS. Định tội cũng là một hoạt động tư duy do người tiến hành tố tụng - chủ thể định tội thực hiện. Nếu tình tiết của một hành vi phạm tội thỏa mãn với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS thì được xem là tình tiết định tội. - Các tình tiết định tội luôn gắn liền với sự kiện phạm tội, phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm. Ngoài ra các tình tiết định tội cho phép phân biệt giữa tôi này với tội khác. Khi các tình tiết phù hợp và thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm cơ bản của tội phạm cụ thể trong BLHS sẽ cho phép xác định được người phạm tội đã phạm tội gì, theo điều nào trong bộ luật hình sự, để từ đó áp dụng và giải quyết. - Từ đó ta có thể hiểu: Tình tiết định tội là những tình tiết thực tế của vụ án cụ thể được sử dụng để xác định người phạm tội trong vụ án đó đã phạm tội gì, hay hiểu một cách cụ thể là những tình tiết được phản ánh bởi các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm cơ bản dùng để mô tả một loại tội. Chúng được quy định ở cả phần chung và phần các tội phạm cụ thể.  Đặc điểm: - Tình tiết định tội phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm cơ bản. Hay nói một cách khái quát cụ thể thì nội dung của cấu thành cơ bản chỉ bao gồm những tình tiết định tội (dấu hiệu định tội).
  4. 4. - Một tình tiết định tội có thể phản ánh trong nhiều cấu thành tội phạm và mỗi cấu thành tội phạm khác nhau phải có ít nhất một tình tiết định tội khác nhau. 1.1.3. Tình tiết định khung giảm nhẹ 1.1.3.1. Tình tiết định khung hình phạt - Tình tiết định khung hình phạt là những tình tiết của tội phạm phù hợp và thoả mãn dấu hiệu định khung hình phạt (CTTP giảm nhẹ hoặc tăng nặng) của những tội cụ thể trong BLHS. -Các tình tiết định khung hình phạt là những tình tiết làm tăng nặng hoặc giảm nhẹ một mức độ đáng kể tính chất nguy hiểm của một loại tội. Khi chúng xảy ra ở một loại tội nào đó làm cho tính chất nguy hiểm của loại tội thay đổi hẳn(hoặc nặng thêm, hoặc nhẹ đi) dựa vào đó mà nhà làm luật ghi thành một cấu thành khác, với một khung hình phạt riêng. - Đây là những tình tiết mà nhà làm luật dự định nếu có thì Tòa án phải áp dụng ở khung hình phạt mà điều luật quy định có tình tiết đó đối với người phạm tội. Ví dụ: Một người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới là thuộc trường hợp phạm tội quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 154 BLHS chứ không phải ở Khoản 1, Điều 154 BLHS. Tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” trong trường hợp phạm tội cụ thể này đã là dấu hiệu định khung hình phạt, nên khi quyết định hình phạt, Tòa án không được áp dụng tình tiết này làm tình tiết tăng nặng đối với bị cáo nữa. - Do tính đa dạng của tội phạm, bên cạnh Cấu thành tội phạm cơ bản (của một loại tội) nhà làm luật còn quy định thêm các dấu hiệu phản ánh tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội Những dấu hiệu đó được gọi là dấu hiệu (yếu tố) định khung hình phạt. Và dấu hiệu định khung hình phạt ở đây có 2 loại: cấu thành tội phạm tăng nặng và cấu thành tội phạm giảm nhẹ. 1.1.3.2. Tình tiết định khung giảm nhẹ - Các tình tiết giảm nhẹ là những tình tiết do Bộ Luật Hình Sự quy định, theo đó trong các trường hợp phạm tội cụ thể của người cùng phạm một tội(cùng tội danh) có những tình tiết đó, thì cần phân biệt nhau về mức độ nguy hiểm(trở nên bớt nguy hiểm hơn) của tội phạm đó. -Cấu thành giảm nhẹ là cấu thành có một hoặc một số tình tiết khác ngoài những tình tiết đã được quy định trong cấu thành cơ bản và những tình tiết này làm cho tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ít nguy hiểm hơn so với trường hợp bình thường quy định tại cấu thành cơ bản. Ví dụ:Khoản 1, Điều 90 BLHS (tọi chống phá trại giam) là cấu thành cơ bản có khung hình phạt từ mười năn đến hai mươi năm từ hoặc tù chung thân. Nhưng nếu người phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 90 là cấu thành giảm nhẹ, có khung hình phạt từ ba năm đến mười năm tù.
  5. 5. 1.1.4. Phân biệt tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết định tội với tình tiết định khung hình phạt khi quyết định hình phạt - Trong quá trình áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, người áp dụng pháp luật phải phân biệt rõ tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tiêu chí Khái niệm Phạm vi áp dụng Hình thức Tình tiết giảm nhẹ TNHS Là những biểu hiện hoàn cảnh, tình huống xảy ra có ảnh hưởng và phản ảnh mức độ nguy hiểm ít hơn hành vi phạm tội được BLHS quy định hoặc được Tòa án cân nhắc, đánh giá, xem xét ghi trong bản án Có thể áp dụng cho tất cả các tội hoặc nhiều tội khác nhau Được quy định chung tại Điều 46 BLHS Tình tiết định tội Là những tình tiết thực tế của vụ án, được sử dụng để xác định hành vi phạm tội trong vụ án đó đã phạm tội gì Chỉ áp dụng riêng biệt cho từng loại tội phạm Được phản ánh trong CTTP cơ bản của mỗi loại tội Tình tiết định khung giảm nhẹ Là những tình tiết được quy định trong các khoản giảm nhẹ của điều luật. Theo đó các trường hợp phạm tội cụ thể cùng một tội danh, nếu có những tình tiết này thì có mức độ và tính chất ít nguy hiểm so với trường hợp bình thường Chỉ áp dụng riêng biệt cho từng loại tội phạm Được phản ánh trong CTTP giảm nhẹ của mỗi loại tội - Phân biệt tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào là tình tiết định tội, tình tiết định khung hay là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chung để thấy được mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ giữa chúng với nhau trong một vụ án hình sự. Mặt khác, để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, đối với một vụ án hình sự cụ thể, chỉ sau khi xác định được tình tiết định tội mới xác định được tình tiết định khung. Ngược lại, tình tiết định khung có tác dụng trở lại đối với tình tiết định tội. Tình tiết định khung là căn cứ xác định, đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội một cách cụ thể hơn. Sau khi đã xác định tội danh và khung hình phạt cụ thể mới có cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự 1.1.5. Dấu hiệu để nhận biết tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết định tội hoặc là tình tiết định khung giảm nhẹ đƣợc quy định trong các tội danh cụ thể. Qua tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tình tiết định tội và tình tiết định khung giảm nhẹ ở trênta có thể rút ra được điều kiện để tình tiết giảm nhẹ là tình tiết định tội hoặc là tình tiết định khung giảm khi đủ các điều kiện sau:
  6. 6. Tiêu chí Là tình tiết định tội Về hình thức - Được nêu ở tên điều luật và nằm ở phần mô tả tội danh tại Khoản 1, quy định cấu thành tội phạm cơ bản của tội danh đó. (Trừ Điều 93 có CTTP cơ bản được quy định tại Khản 2) - Dùng để mô tả tội danh cụ thể. - Thỏa mãn các dấu hiệu định tội ở phần cấu thành tội phạm cơ bản. - Cho phép phân biệt giữa tội này với tội khác. - Mục đích là để làm căn cứ định tội danh chứ không phải là để giảm khung hình phạt. Về nội dung Là tình tiết định khung giảm nhẹ - Không thuộc phần mô tả tội danh tại Khoản 1, quy định cấu thành tội phạm cơ bản. - Thường nằm ở Khoản 2 của điều luật. - Trước hết phải thỏa mãn điều kiện là tình tiết định tội - Đồng thời có chứa tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. - Có khung hình phạt thấp hơn so với khung hình phạt được quy định tại cấu thành tội phạm cơ bản. 1.1.6. Quy trình quyết định hình phạt đối với ngƣời phạm tội - Đối với mỗi tội phạm cụ thể, tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không còn được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS. Bởi vì, tình tiết khi đã được sử dụng (và sử dụng một cách triệt để) trong việc xử lí tội phạm thì nó không còn cơ sở để sử dụng cho lần tiếp theo. Nếu mỗi tình tiết của tội phạm lại được sử dụng hai lần hoặc nhiều hơn hai lần thì lần thứ hai và những lần tiếp sau đều là việc sử dụng không có cơ sở. Điều đó dẫn đến hậu quả là giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội một cách không có căn cứ. Và như vậy cũng chính là vi phạm nguyên tắc pháp chế và các nguyên tắc khác của luật hình sự. - Song, điều này không có nghĩa là khi nhà làm luật quy định tình tiết nào đó là tình tiết định khung hình phạt của một tội phạm cụ thể (quy định trong một khung hình phạt cụ thể), thì đương nhiên, trong mọi trường hợp nếu một người thực hiện hành vi phạm tội được quy định tại điều luật đó thì không thể coi tình tiết đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Vấn đề là ở chỗ, tuỳ từng trường hợp phạm tội cụ thể, đối chiếu hành vi thực tế với các quy định của luật hình sự, chúng ta mới có thể xác định tình tiết nào là tình tiết định khung hình phạt và tình tiết nào là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Đế xác định mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt (quyết định hình phạt) chỉ được thực hiện sau khi đã định tội (xác định tội danh, điều
  7. 7. luật áp dụng), định khung hình phạt (xác định khoản của điều luật áp dụng). Cụ thể theo sơ đồ dưới đây: Hành vi phạm tội Tội danh Có tình tiết GNTNHS Thoả mãn dấu hiệu định - tội (CTTP cơ bản). - Là tình tiết định tội.Xác định khung và mức hình phạt cụ thể. Thoả mãn dấu hiệu định tội (CTTP cơ bản) và có thêm các dấu hiệu trong CTTP giảm nhẹ. Là tình tiết định khung giảm nhẹ. Chuyển khung hình từ khung hình phạt của CTTP cơ bản sang khung hình phạt của CTTP giảm nhẹ. Các trường hợp khác. Là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. 1.2. Các trƣờng hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ Luật Hình Sự. Theo quy định tại điều 46 của BLHS, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định như sau: - Khoản 1: Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: a) Người phạm tội đã ngăn chặn, àm giảm bớt tác hại của tội phạm b) Người phạm tội tự nguyện sữa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng d) Phạm tôi trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tính cấp thiết e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinhh thấn do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc khác gây ra f) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
  8. 8. i) Phạm tội vì bị người khác đe dọa cưỡng bức j) Phạm tội do lạc hậu k) Người phạm tội là phụ nữ có thai l) Người phạm tội là người già m) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình n) Người phạm tội tự thú o) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải p) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm q) Người phạm tội đã lập công chuộc tội r) Người phạm tôi là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác - Ngoài các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, thì trong khoản 2 còn quy định “ Khi quyêt định hình phạt, Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rỏ trong bản án” . Vậy điểm lưu ý các tính tiết khác ở đây như sau: + Phải ghi rõ trong bản án tình tiết được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. + Chỉ được áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS (mức độ giảm nhẹ thấp hơn các tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS). + Các tình tiết được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác được hướng dẫn tại điểm mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ- HĐTP, như sau: • Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước: • Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là liệt sỹ; • Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên; • Người bị hại cũng có lỗi; • Thiệt hại do lỗi của người thứ ba; • Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo; • Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản; • Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu. • Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.
  9. 9. - Khoản 3: “Các tình tiết giảm nhẹ đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt”. Nghĩa là các tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được quy định trong khoản 1 điều 46 không còn được xem là tình tiết giảm nhẹ nữa nếu nó là dấu hiệu định tội trong cấu thành tội phạm cơ bản hay là dấu hiệu định khung giảm nhẹ. Ví Dụ: Điều 95, BLHS “ Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” quy định “Người nào giết người ở trạng thái tinh thần bị kich động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Xét tình tiết giảm nhẹ được định tại điểm đ, điều 46, BLHS “phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người gây ra”. Trong trường hợp này thì tình tiết định tội trong điều 95 không được xem là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt. 1.3. Các tình tiết giảm nhẹ đƣợc xem là tình tiết định tội đƣợc quy định trong các tội phạm cụ thể 1.3.1. Tình tiết định tội "Phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh" – Điều 95, Điều 105 (Bộ Luật Hình sự) 1.3.1.1. Tình tiết định tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh  Thế nào là trạng thái tinh thần bị kích động mạnh - Có nhiều quan điểm khác nhau về trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Theo tìm hiểu và nghiên cứu của nhóm, chúng tôi đồng tình với quan điểm: Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng (tâm lý) không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi của mình. Có nghĩa, đây là trạng thái mà tâm lý bị ức chế ở mức độ cao dẫn đến nhận thức bị hạn chế làm giảm đáng kể khả năng điều khiển hành vi, nhưng vẫn còn khả năng điều khiển hành vi của mình. - Người bị kích động mạnh về tinh thần là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Lúc đó họ mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình; trạng thái này chỉ xảy ra trong chốc lát, sau đó tinh thần của họ trở lại bình thường như trước; trạng thái tinh thần bị kích động ở những mức độ khác nhau. Bình thường, họ nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội và nhận thức được điều đó là sai, trái pháp luật, phải gánh lấy trách nhiệm pháp lý nên họ kiềm chế hành vi của mình. Tuy nhiên, trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, mức độ nhận thức của họ giảm đi đáng kể. Họ vẫn có thể nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nào đó, nhận thức một cách khái quát về hậu quả mà họ không quan tâm đến, không nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật cũng như không nhận thức được sẽ phải gánh lấy hậu quả pháp lý từ hành vi của mình. Thực tế đó làm giảm đi đáng kể khả năng tự chủ và điều khiển hành vi của mình (chứ không phải mất hẳn khả năng đó) và kết quả là hành vi phạm tội xảy ra.
  10. 10. 1.3.1.2. 95, Điều 105 - Khoản 1, Điều 95 quy định: “Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.” - Khoản 1, Điều 105 quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn thất cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.” - Từ nội dung trên, có thể thấy, dấu hiệu chung để cho phép xác định điều luật 95 và 105 có chứa tình tiết giảm nhẹ là tình tiết định tội: + Tình tiết giảm nhẹ tại điểm đ, khoản 1, điều 46: “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần hoặc do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra” được quy định rõ tại tên của hai tội danh cụ thể trên. Đồng thời cũng được mô tả rõ tại cấu thành tội phạm cơ bản của cả hai điều luật. + Chính vì tình tiết giảm nhẹ “phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động mạnh” được quy định rõ ngay tại cấu thành tội phạm cơ bản của điều luật 95, 105. Cho nên chức năng đặc trưng của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là để “phản ánh mức độ nguy hiểm khác nhau của các trường hợp phạm tội cụ thể (trong khung hình phạt); phản ảnh mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội, làm căn cứ xem xét để quy định mức chịu hình phạt thấp hơn so với hành vi cụ thể mà tội phạm thực hiện” đã không còn là chính yếu. Mà thay vào đó, nó trở thành tình tiết định tội được quy định trong hai tội danh cụ thể của Bộ Luật Hình Sự, và là căn cứđể xác định người phạm tội trong vụ án đó đã phạm tội gì. Từ đó đưa ra cách thức giải quyết đúng người, đúng tội. 1.3.1.3. Xác định trƣờng hợp áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trƣờng hợp làm tình tiết định tội - Nếu bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người bị hại đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người phạm tội thì thuộc trường hợp phạm tội “giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” quy định tại Điều 95 Bộ luật hình sự hoặc “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” quy định tại Điều 105 Bộ luật hình sự. - Nếu bị kích động chưa mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người bị hại đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người phạm tội hoặc bị kích động mạnh nhưng do người khác (không phải là của người bị hại) thì được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. - Nếu hành vi trái pháp luật của người bị hại và trạng thái tinh thần bị kích động của người phạm tội chưa đến mức thuộc trường hợp quy định tại Điều 95 Bộ luật hình sự (“giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” hoặc Điều 105 Bộ luật hình sự “cố ý gây
  11. 11. thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” thì là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.  Phân biệt tình tiết giảm nhẹ tại điểm g, khoản 1, điều 46 và tình tiết định tội tại hai Điều 95 và Điều 105 Tiêu chí Mức độ của hành vi trái pháp luật Người gây ra hành vi trái pháp luật Người bị hành trái pháp luật tác động Hậu quả Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Điểm đ, Khoản 1, Điều 46 Chưa hẳn là nghiêm trọng. Khoản 1, Điều 95; Khoản 1, Điều 106 Bắt buộc phải là nghiêm trọng. Không nhất thiết, có thể là hành vi Là hành vi của người bị hại. của người bị hại hoặc người khác. Cho một người khác, không nhất thiết là người có hành vi xâm hại hoặc người thân thích của người có hành vi xâm hại. Gây nhiều hậu quả khác nhau, bao gồn cả tổn hại về sức khỏe. Tùy theo từng trường hợp, nếu là hành vi trái pháp luật do hành vi xâm hại của người khác gây ra đối với người có hành vi trái pháp luật đó thì trách nhiệm hình sự giảm nhẹ ít hơn. Là người có hành vi xâm hại hoặc người thân thích của người có hành vi xâm hại. Gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe. Được giảm nhẹ hơn nhiều. Vì là hành vi trái pháp luật do hành vi của người xâm hại hoặc người thân thích của người xâm hại gây ra đối với người có hành vi trái pháp luật đó. 1.3.2. Tình tiết định tội “phạm tội trong trƣờng hợp vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” – Điều 96, Điều 106 (Bộ Luật Hình Sự) 1.3.2.1. Tình tiết định tội trong trƣờng hợp vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng  Thế nào là phòng vệ chính đáng Muốn hiểu được thế nào là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, trước hết cần xác định thế nào là giới hạn phòng vệ chính đáng.Theo quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự thì “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.”Cần phải hiểu cho đúng về trường hợp phòng vệ chính đáng? Hành vi xâm phạm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác được coi là phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm, khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: - Về phía nạn nhân (người bị chống trả): +Phải là người đang có hành vi xâm phạm có tính chất nguy hiểm đáng kể (hành vi đã bắt đầu và chưa kết thúc) đến các lợi ích quy định tại Điều 15 BLHS. Nếu hành vi chưa bắt đầu hoặc đã kết thúc thì hành vi chống trả không được coi là hành vi phòng vệ.
  12. 12. + Mức độ đáng kể tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm phạm và phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công của nạn nhân. Nếu tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm không đáng kể thì hành vi chống trả không được coi là phòng vệ. + Hành vi xâm phạm phải là hành vi trái pháp luật . + Khi xét hành vi xâm phạm trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải xét trong mối tương quan với hành vi chống trả. Không phải bất cứ hành vi phạm tội nào xảy ra, người có hành vi chống trả lại gây chết người hoặc gây thương tích cho người có hành vi xâm phạm đều là phòng vệ chính đáng. Ngược lại có hành vi xâm phạm chưa phải là phạm tội, nhưng vì nó xâm phạm nghiêm trọng đến các lợi ích cần bảo vệ nên hành vi chống trả lại vẫn được coi là phòng vệ chính đáng. - Về phía người phòng vệ: + Nếu thiệt hại do người có hành vi xâm phạm gây ra có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, nhân phẩm, danh dự hoặc các lợi ích khác, thì thiệt hại do người có hành vi phòng vệ gây ra chỉ có thể là thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe cho người có hành vi xâm phạm. + Nếu không gây thiệt hại cho chính người xâm phạm mà gây thiệt hại cho người khác, hoặc không gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người xâm phạm mà lại gây thiệt hại khác thì không được coi là hành vi phòng vệ. - Yêu cầu về sự cần thiết của hành vi chống trả: + Hành vi chống trả phải là hành vi cần thiết. Tuy nhiên sự cần thiết không có nghĩa là ngang bằng, bên xâm phạm gây thiệt hại thế nào thì bên phòng vệ cũng chỉ được gây thiệt hại như thế đó. Sự chống trả cần thiết trước hết phải căn cứ vào tính chất của các lợi ích bị xâm phạm, tính chất của hành vi xâm phạm và các mối tương quan khác giữa hành vi xâm phạm với hành vi phòng vệ. + Khi đánh giá hành vi chống trả có cần thiết hay không phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể trong mối quan hệ giữa lợi ích được bảo vệ và hành vi chống trả. Đồng thời còn phải căn cứ vào nhiều yếu tô khác như: mối tương quan lực lượng giữa các bên, thời gian, không gian xảy ra sự việc.Trong đó cần đặc biệt chú ý đến tâm lý, thái độ của người phòng vệ khi xảy ra sự việc, họ không có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn chính xác phương pháp, phương tiện thích hợp để chống trả, nhất là trong trường hợp bị tấn công bất ngờ. Ví dụ: “Một nhóm người xông vào đánh B, B bất ngờ bị đánh đau và bỏ chạy; chạy được mấy chục mét vẫn thấy có một số người đuổi theo, B đứng lại, mở dao nhíp có sẵn trong người để đe “đứa nào vào đây, tao đâm”; một trong số những người đuổi theo xông vào để tiếp tục đánh, B dùng dao nhíp dâm bừa một nháp vào ngực người đó làm người đó chết.”Trong ví dụ này, B ở vào tình thế bị một nhóm người tấn công trước, bất ngờ nên phải bỏ chạy. Sự tấn công tuy là bằng chân tay không, nhưng là do đông người gây ra, lại gây ra trong đêm tối, B phòng vệ bằng dao có sẵn trong người, đã răn đe trước, nhưng vẫn bị đối phương ỷ thế đông người tiếp tục tấn công. Hành vi phòng vệ của B… bằng cách dùng dao đâm một trong số những người tấn công, dẫn đến chết người, được coi là tương xứng, là chính đáng, là hợp pháp.
  13. 13.  Vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng - Từ những phân tích về việc xác định thế nào là phòng vệ chính đáng và theo quy định tại Điều 15 Bộ luật hình sự: “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Ta có thể hiểu, người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.”Vậy vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là như thế nào? Theo quy định trên, trường hợp được coi là vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng khi có đủ điều kiện: - Một là, phải có hành vi tấn công thực tế đang xảy ra hoặc đe doạ xảy ra ngay tức khắc làm cơ sở cho việc thực hiện quyền phòng vệ; - Hai là, hành vi phòng vệ đã áp dụng các phương tiện và phương pháp không cần thiết để đạt mục đích phòng vệ và đã gây ra thiệt hại quá đáng cho người tấn công trong khi hành vi vi tấn công của họ chưa đáng phải chịu thiệt hại đến mức như vậy. - Trường hợp hành vi trái pháp luật của người xâm hại quá nhỏ, nhưng người phòng vệ đã nhân cớ này gây thiệt hại quá mức thì hành vi đó bị coi là phạm tội trong trường hợp thông thường, mà không phải là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. 1.3.2.2. 96, Điều 106 - Tại Khoản 1, Điều 96 quy định: “Người nào giết người trong trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cải tảo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm.” - Khoản 1, Điều 106 quy định: “Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn thất cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dân đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tại không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba đến một năm.” - Từ nội dung trên, có thể thấy, dấu hiệu chung để cho phép xác định điều luật 96 và 106 có chứa tình tiết giảm nhẹ là tình tiết định tội: + Tình tiết giảm nhẹ tại điểm c, khoản 1, điều 46: “Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” được quy định rõ tại tên của hai tội danh cụ thể trên. Đồng thời cũng được mô tả rõ tại cấu thành tội phạm cơ bản của cả hai điều luật. + Chính vì tình tiết giảm nhẹ “phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” được quy định rõ ngay tại cấu thành tội phạm cơ bản của điều luật 96, 106. Cho nên chức năng đặc trưng của tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là để “phản ánh mức độ nguy hiểm khác nhau của các trường hợp phạm tội cụ thể (trong khung hình phạt); phản ảnh mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội, làm căn cứxem xét để quy định mức chịu hình phạt thấp hơn so với hành vi cụ thể mà tội phạm thực hiện” đã không còn là chính yếu. Mà thay vào đó, nó trở thành tình tiết định tội được quy định trong hai tội danh cụ thể của Bộ Luật Hình Sự, và là căn cứ để xác định người phạm tội trong vụ án đó đã phạm tội gì. Từ đó đưa ra cách thức giải quyết đúng người, đúng tội.
  14. 14. 1.3.2.3. Xác định trƣờng hợp áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trƣờng hợp làm tình tiết định tội - Nếu hành vi chống trả quá mức cần thiết, không phù hợp, có chênh lệch quá đáng so với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, nghĩa là người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây thiệt hại quá đáng cho người xâm hại, mà tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó, thì người phòng vệ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hay tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Ví dụ: H tổ viên bảo vệ nhà trường, nghe tin có bọn càn quấy đến trường gây sự đánh mình; đáng lẽ trong hoàn cảnh nhà trường có đông người, H có thể cùng mấy người ra đối phó, nhưng H đã một mình vác súng ra cổng trường; hoặc đáng lẽ trong trường hợp có súng để đối phó, H phải răn đe khi bị tấn công, nhưng H đã sử dụng bắn chết ngay một người xông vào tấn công mình. - Bộ Luật Hình Sự quy định rõ, người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự: Thông thường, người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng trong trường hợp này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Điều 106 BLHS, hoặc tội Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo Điều 96 BLHS. - Nếu mức độ thiệt hại do hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng gây ra lớn đến mức cấu thành tội phạm (nhưng không phải hai tội danh đã nêu) thì được coi là phạm tội có tình tiết giảm nhẹ (điểm c, khoản 1, Điều 46 BLHS).  Phân biệt tình tiết giảm nhẹ tại điểm c, khoản 1, điều 46 và tình tiết định tội tại hai điều 96 và điều 106 Tiêu chí Điểm c, Khoản 1, Điều 46 Khoản 1, Điều 96; Khoản 1, Điều 106 Thiệt hại Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Ngoài xâm phạm đến tính mạng, sức khỏa thì còn có thể là các thiệt hại khác như thiệt hại về tài sản. Tùy thuộc vào từng thiệt hại xảy ra và các quan hệ xã hội bị xâm phạm để giảm nhẹ. Xâm phạm đến tính mạng hoặc sức hoặc của người khác. Được quy định tương ứng với khung hình phạt tại mội tội danh. 1.3.3. Tình tiết định tội "Phạm tội do lạc hậu" – Điều 94 (Bộ Luật Hình sự) 1.3.3.1. Tình tiết định tội do lạc hậu  Thế nào là phạm tội do lạc hậu - “Lạc hậu” là không theo kịp đà tiến bộ, đà phát triển chung.
  15. 15. - Phạm tội do lạc hậu là tinh tiết giảm nhẹ. Theo đó thì người nào do có những tư tưởng lạc hậu, nhận thức còn hạn chế, thiếu hiểu biết về pháp luật mà phạm tội thì sẽ được áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ. , họ , không đư . - Pháp luật quy định chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội do lạc hậu” nếu lạc hậu đó là do nguyên nhân khách quan đưa lại, như do đời sống xã hội nên không hiểu biết hoặc kém hiểu biết về pháp luật, không được học tập, không có điều kiện thực tế để nhận biết các đúng sai trong cuộc sống… 1.3.3.2. Điều 94 - . - D 94 1 . - – .
  16. 16. 1.3.3.3. Xác định trƣờng hợp áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trƣờng hợp làm tình tiết định tội 46. Trường hợp phạm tội này có thể là phạm các tội khác nhau nhưng xét ở nguyên nhân là do tư tưởng trình độ lạc hậu mà dẫn đến. Ví dụ: Trường hợp giết người theo quy định tại Điều 93 có áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm k, khoản 1, Điều 46. .  Phân biệt tình tiết giảm nhẹ tại điểm k, khoản 1, điều 46 và tình tiết định tội tại Điều 94 Điểm k, Khoản 1, Điều 46 Điều 94 Là các hành vi nguy hiểm Giết con mới đẻ. cho xã hội khác được quy định trong BLHS, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Chủ thể gây ra hành vi phạm Là các chủ thể khác. Chỉ áp dụng đối với người tội mẹ. Mức độ giảm nhẹ trách Áp dụng để giảm nhẹ trách Lấy tình tiết giảm nhẹ để nhiệm hình sự nhiệm hình sự cho một tội định tội với một khung hình danh được quy định trong phạt tương ứng. Không áp BLHS. dụng 2 lần giảm nhẹ đối với 1 tình tiết giảm nhẹ. Tiêu chí Hành vi phạm tội 1.4. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc xem là tình tiết định khung giảm nhẹ quy định trong các tội phạm cụ thể 1.4.1 Các tội xâm phạm anh ninh quốc gia - Điều 78: Tội phản bội Tổ Quốc - Điều 80: Tội gián điệp - Điều 85: Tội phá hoại cơ sở vật chất- ký thuật của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 1.4.2. Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng - Điều 202: Tôi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - Điều 203: Tội cản trở giao thông đường bộ - Điều 208: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt - Điều 209: Tội cản trở giao thông đường sắt - Điều 212: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy - Điều 213: Tội cản trở giao thông đường thủy - Điều 217: Tội cản trở giao thông đường thủy 1.4.3. Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân - Điều 338: Tội quấy nhiễu nhân dân
  17. 17. CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ LÀ TÌNH TIẾT ĐỊNH TỘI QUY ĐỊNH TRONG CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ 2.1 Thực trạng áp dụng tình tiết giảm nhiệm trách nhiệm hình sự là tình tiết định tôi 2.1.1 Một số vụ án hình sự điển hình có tình tiết giảm nhẹ là tình tiết định tội danh cụ thể 2.1.1.1 Tội giết ngƣời trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95, BLHS) a. Khái niệm: Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi của một người không tự kìm chế được mình trước hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với chính mình hoặc đối với người thân thích của mình nên đã giết chết nạn nhân. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh xâm phạm quyền sống của con người. b. Vụ án cụ thể về tội giết ngƣời trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh:  Tóm tắt vụ án: - Trong vụ án Nông Văn Lanh bị truy tố về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, các cơ quan tiến hành tố tụng đã có những quan điểm, nhận định trái ngược nhau liên quan đến việc xác định “ hành vi trái pháp luật nghiêm trọng” - Diễn biến vụ án cụ thể như sau: Khoảng 9 giờ sáng ngày 22/9/2009 sau khi uống rượu, Hứa Văn Yên đến nhà chị Hồng chơi bi-a, nhưng không có ai chơi với Yên, nên Yên bực tức, vứt gậy bi-a ra đường. Thấy vậy chị Hồng chạy ra nhặt gậy và nói không cho Yên chơi nữa. Yên lại tiếp tục ném quả bi-a ra đường rồi quay lại dùng tay đập vào vai chị Hồng, tiếp đến Yên hất đổ bàn bi-a và dẫm chân lên mặt bàn làm mặt bàn bị vỡ, rồi Yên tiếp tục dùng tay đánh vào đầu chị Hồng. Anh Hải ( hàng xóm) vào can ngăn cũng bị Yên đánh. Nông Văn Lanh đang bế con cách nhà khoảng 20m nghe tin vợ bị đánh, nên đã về nhà lấy súng AK chĩa vào người Yên bắn ba phát, làm Yên bị chết. Sau đó, Lanh cầm súng chạy đến đồn biên phòng tự thú.  Phân tích vụ án: - Về mặt khách thể: quyền sống của anh Hứa Văn Yên, quyền được bảo vệ tính mạng của người thân, quyền bảo vệ tài sản của anh Nông Văn Lanh - Về mặt khách quan: + Hành vi của anh Nông Văn Lanh bắn 3 phát vào người anh Hứa Văn Yên + Hành vi hất đổ, dẫm mạnh lên bàn bi-a và đánh chị Hồng của anh Yên là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng dẫn đến tình trạng tinh thần bị kích động mạnh của anh Lanh, khiến anh Lanh không thể tự chủ, kiềm chế được mình và bắn chết anh Yên. - Về mặt chủ thể: anh Nông Văn Lanh – là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. - Về mặt chủ quan: anh Lanh thực hiện hành động bắn chết anh Yên với lỗi cố ý trực tiếp và đã lấy đi tính mạng của anh Yên.  Kết quả vụ án: Sau khi xét xử sơ thẩm, tòa án kết án Nông Văn Lanh về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện người bị hại kháng cáo, yêu cầu xse xử bị cáo về tội giết người, tăng hình phạt và tăng mức bồi thường. Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm áp dụng khỏa 2 điều 93 BLHS năm 1999 kết án bị cáo về tội giết người. Tại quyết định số 57, gày 5/9/2002, Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy án phúc
  18. 18. thẩm và giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm đối với Nông Văn Lanh với nhận định Yên vô cớ đập phá tài sản, đánh vợ Lanh, đánh cả người can ngăn, là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đã tác động mạnh đến tinh thần của Lanh, nên phải kết án Lanh phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Trong tình huống trên ta thấy cùng là những hành vi phạm tội của Lanh nhưng do không có những hướng dẫn cụ thể xác định hành vi xâm hại của nạn nhân Yên như thế nào thì được coi là “hành vi trái pháp luật nghiêm trọng”, nên tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đã có những nhận định khác nhau trong vấn đề định tội danh với đối với Lanh. Những hành vi của Yên vừa xâm phạm đến quyền được bảo vệ sức khỏe người thân của người phạm tội, vừa xâm phạm tới quan hệ tài sản của người phạm tội – những khách thể được luật hình sự bảo vệ nên có thể xác định hành vi của Yên là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng. 2.1.1.2 Tộigiết ngƣời do vƣợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96, BLHS) a. Khái niệm - Là người có hành vi ngăn chặn hành vi sai trái vi phạm của nạn nhân, bảo vệ lợi ích hợp pháp đang bị tấn công, lại trở thành người phạm tội. b. Vụ án cụ thể về tội danh tại Điều 106 BLHS.  Tóm tắt vụ án - Đêm ngày 31-8-2012, Hưng cùng hai người bạn thuộc xã Xuân Phúc, huyện Phúc , đèo về nhà. Tuy nhiên, Thân không dừng lại mà còn đuổi , sáng hôm sau, Hưng đến công an đầu thú.  Phân tích vụ án. - Về Khách thể : + Hành vi của Hưng đã xâm phạm đến quyền được sống của Thân. - Mặt Khách quan: + Hành vi của Hưng trái pháp luật, có mức độ nguy hiểm đáng kể, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của người phạm tội.
  19. 19. + Hành vi của Hưng đã gây ra cái chết cho Thân + Công cụ: dao gọt trái cây + Hoàn cảnh phạm tội: Thân sàm sỡ Trang. Hưng chạy đến ngăn cản và đèo Trang về nhà. Tuy nhiên Thân và nhóm thanh niên không buông tha và đã chặn đánh Hưng khiến Hưng vung dao đâm chết Thân - Về Chủ thể: + Theo như vụ án trên Hưng vừa thi đại học xong do đó Hưng đã từ đủ 16 tuổi trờ lên và phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (quy định tại Điều 12 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung 2009) + Hưng có đủ năng lực trách nhiệm hình sự - Mặt chủ quan: +Tội giết người của Hưng được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp. Vì về lý trí: +Hành vi: Hưng nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội + Hậu quả: thấy trước hậu qủa của hành vi đó có thể xảy ra +Về ý chí: người phạm tội không muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Hậu quả xảy ra hay không nguời phạm tội đều chấp nhận + Mục đích, động cơ phạm tội là nhằm bảo vệ nhân phẩm của Trang cũng như phòng vệ cho chính bản thân của Hưng.  Kết quả vụ án - Vì bức xúc với việc sàm sỡ của Thân đối với Trang, nên Hưng đã chạy đến ngăn cản và đèo Trang thoát khỏi nhóm bạn của Thân. Nhưng khi hai người đi được một đoạn, Thân tiếp tục đuổi theo chặn lại và đấm thẳng vào mặt Hưng. Do hoảng sợ nên Hưng đã cầm con dao trong giỏ xe, đồng thời bỏ chạy vào ngõ cut, hành động cầm dao chỉ với mục đích phòng vệ, Hưng hoàn toàn không có ý định giết Thân. Mặc dù vậy, Thân cùng với nhóm thanh niên đi cùng không buông tha. Chúng tiếp tục đuổi theo bắt được Hưng và giữ lại để Thân cùng nhóm thanh niên đánh Hội đồng. Chính hành động đó khiến Hưng vung dao để phòng vệ, không may đâm trúng ngực khiến Thân tử vong tại chỗ. - Hành vi chống trả của Hưng rõ ràng vượt quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi Thân và nhóm bạn dồn đánh Hưng. Vì thế hành vi của Hưng vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (quy định tại Điều 15BLHS).Với hành vi gây tổn hại của Hưng dẫn đến cái chết cho Thân nên đã vi phạm tại khoản 1 Điều 106 BLHS 1999. - Theo kết quả của Hội đồng xét xử, vì bị cáo Hưng đã thành khẩn khai báo việc phạm tội, có thái độ ân hận với những gì mình gây ra, và phạm tội lần đầu, thêm vào đó gia đình cũng bồi thường 15 triệu theo yêu cầu gia đình Thân..căn cứ vào những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 , cùng với việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 106 BLHS 1999 HĐXX đã tuyên phạt Nguyễn Quang Hưng mức án 9 tháng 18 ngày, tức bằng thời gian bị cáo bị tạm giam và Hưng được phóng thích tại phiên tòa.
  20. 20. 2.1.1.3 Tội giết con mới đẻ (Điều 94, BLHS) a. Khái niệm Điều 94 Bộ luật Hình sự 1999 quy định về Tội giết con mới đẻ như sau:“Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ đó dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.” b. Vụ án liên quan đến tội giết con mới đẻ:  Tóm tắt vụ án. Dưới đây là một vụ án cụ thể đã được xét xử tại tỉnh Quảng Ngãi vào sáng ngày 31/05/2013, Tòa án nhân dân huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử lưu động sơ thẩm vụ án hình sự “Giết con mới đẻ” theo quy đinh tại điều 94 Bộ luật hình sự xảy ra ở xã Sơn Tân, huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi đối với bị cáo Đinh Thị Từ sinh năm 1974, thường trú tại xóm Y Ry thôn Ra Nhua. Đây là vụ án khiến dư luận xót xa và phẫn nộ trong thời gian qua. Bị cáo Đinh Thị Từ tại tòa án Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Tây: bị cáo Đinh Thị Từ có quen biết và phát sinh tình cảm với người đàn ông tên là Dũng, công nhân thủy điện Đăk Rin đóng tại xã Sơn Tân huyện Sơn Tây, đến khoảng tháng 02/2012 Đinh Thị Từ đã có thai và báo cho anh Dũng nhưng anh Dũng không quan tâm và đến tháng 06/2012 anh Dũng bỏ về quê nên bị cáo Đinh Thị Từ có ý định bỏ thai nhưng không thành. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 29/01/2013 bị cáo Đinh Thị Từ thấy trong người không bình thường, đau bụng có dấu hiệu muốn sinh con, nên Từ đã đi ra phía sau nhà, ở bụi cây cách nhà khoảng 80m để sinh con. Khi sinh xong Đinh Thị Từ đã dùng chân phải hất ba bốn hòn đá to bằng cổ tay vào mặt và bụng đứa con mới đẻ của mình, sau đó Đinh Thị Từ còn dùng tay phải nắm cổ, tay trái nắm hai bàn chân dơ lên cách mặt đất khoảng 1m đập xuống nền đất đá rồi bỏ về nhà để mặc cho đứa trẻ chết.  Phân tích vụ án. - Về khách thể: + Khách thể là sự xâm phạm đến quyền sống của con người.Tội giết con mới đẻ trong vụ án nêu trên trực tiếp xâm phạm đến quyền sống của con người mà đối tượng bị xâm hại là trẻ mới được sinh ra đồng thời lại chính là con của người phạm tội. - Về chủ thể:
  21. 21. + Chủ thể phạm tội phải có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 16 tuổi trở lên và là người mẹ đã sinh ra nạn nhân, con mới đẻ là trường hợp đứa trẻ phải do chính người phạm tội đẻ ra chứ không phải con nuôi và đứa trẻ mới được sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi trở lại, nếu ngoài 7 ngày tuổi thì không coi là con mới đẻ. Như vậy,trong vụ án nêu trên thì bị cáo Đinh Thị Từ có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nạn nhân là đứa con mà do bị cáo vừa mới sinh ra. - Về mặt chủ quan: + Ở vụ án trên thì bị cáo Đinh Thị Từ sau khi sinh xong Đinh Thị Từ đã dùng chân phải hất ba bốn hòn đá to bằng cổ tay vào mặt và bụng đứa con mới đẻ của mình, sau đó Đinh Thị Từ còn dùng tay phải nắm cổ, tay trái nắm hai bàn chân dơ lên cách mặt đất khoảng 1m đập xuống nền đất đá rồi bỏ về nhà để mặc cho đứa trẻ chết. Như vậy, về mặt chủ quan của tội này thì bị cáo có thể nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm đến tính mạng của đứa con nhưng vẫn mong muốn và cố ý để tước đi tính mạng của đứa trẻ. Tội phạm thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. - Về mặt khách quan: + Về hành vi khách quan của tội phạm này, với hành vi giết con mới đẻ đây là hành động giết con mới đẻ bằng cách tác động trực tiếp đến thân thể nhằm mục đích tước bỏ sự sống của con mình, các hành vi ở dạng này được phản ánh rất đa dạng như hành động bóp cổ, thắt cổ, đâm, chém, chôn sống, cho uống thuốc độc… Như vậy, ở vụ án trên bị cáo đã có những hành vi giết con được thể hiện như hành động bóp cổ, đập đứa con xuống nền đất…  Kết quả xét xử - Do bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số - đối tượng được Trợ giúp pháp lý miễn phí, nên đã được Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi cử Trợ giúp viên pháp lý Đoàn Nhật Nam để bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật. - Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và của những người làm chứng được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy bị cáo phạm tội trong hoàn cảnh cuộc sống khó khăn, hoàn cảnh khách quan đặc biệt, thất học, ảnh hưởng nặng nề tư tưởng lạc hậu, suy nghĩ lệch lạc và thiếu hiểu biết về mặt pháp luật mà dẫn đến hành vi phạm tội giết đứa con mới đẻ của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự tuyên phạt Bị cáo Đinh Thị Từ 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày 31/5/2013. - Đây là một bản án không những trừng trị kẻ phạm tội mà nó còn nhằm răn đe giáo dục, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. - Ở vụ án trên Hội đồng xét xử đã áp dụng các điểm: h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 điều 46 BLHS năm 1999. k) Phạm tội do lạc hậu, cũng là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 điều 46 BLHS năm 1999. Điểm k).Tuy nhiên trong trường hợp này điểm k) lại được xem là tình tiết định tội. - Bị cáo Đinh Thị Từ do ảnh hưởng của những tư tưởng lạc hậu, sinh con ngoài giá thú sợ dư luận dèm pha nên đã có hành vi giết hại chính đứa con mình mới sinh ra.
  22. 22. 2.2. Một số vƣớng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật - Điều 46 BLHS quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê các tình tiết giảm nhẹ.Điều này khiến việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ có thể thực hiện một cách tùy tiện, dẫn đến không có sự bình đẳng giữa những người phạm tội. - Trong quá trình xét xử, còn rất nhiều trường hợp nhẫm lẫn trong việc lựa chọn áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để định khung hình phạt hay lựa chọn tội danh chứa tình tiết giảm nhẹ được lấy làm tình tiết định tội. + Đơn cử như trường hợp phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các cơ quan tiến hành tố tụng còn lung túng trong việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân vói trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thời điểm hoàn thành của tội phạm này. Trường hợp trạng thái tinh thần của người phạm tội bị kích động mạnh không do nạn nhân gây ra mà do người khác gây ra thì sẽ không áp dụng Điều 95 BLHS 1999 để xử lý. + Tại khoản 1 điều 95 BLHS 1999 cũng đã quy định rất rõ mối quan hệ này: “người nào phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc người thân thích của người đó…”. Tuy nhiên trên thực tế có nhiều trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng đã xác định không đúng mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của người phạm tội dẫn tới việc xác định sai tội danh, không đúng với tính chất, mức độ phạm tội. - Bên cạnh đó, trong hoạt động thực tiễn, các cơ quan tố tụng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn để xác định trường hợp nào là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trường hợp nào là tình tiết định tội hay là tình tiết định khung giảm nhẹ. Có trường hợp có dấu hiệu định tội lại mang tính chất là tình tiết giảm nhẹ hoặc định khung khiến mâu thuẩn giữa lý thuyết và thực tế trong BLHS làm việc giải quyết và áp dụng các chế tài đối với tội phạm đó trở nên khó khăn.Ví dụ như phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng: + Nếu theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Bộ luật hình sự thì “các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt”. Có ý kiến cho rằng việc quy định tình tiết phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là tình tiết giảm nhẹ là không cần thiết. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, việc quy định phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là một tình tiết giảm nhẹ vẫn cần thiết, vì thực tiễn xét xử có một số trường hợp giết người hoặc cố ý gây thương tích thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nhưng căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi chống trả với hành vi phòng vệ chưa thuộc trường hợp quy định tại Điều 106 mà thuộc trường hợp tội phạm giết người quy định tại Điều 93 hoặc cố ý gây thương tích quy định tại Điều 106, thì người phạm tội vẫn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là tội phạm trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. + Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là phải xác định trường hợp nào thì là dấu hiệu định tội của hai tội quy định tại Điều 106 và Điều 96 Bộ luật hình sự, còn trường hợp nào chỉ là tình tiết giảm nhẹ định tại điểm c khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự (vượt bao nhiêu thì là
  23. 23. dấu hiệu định tội, còn vượt bao nhiêu chỉ là tình tiết giảm nhẹ)? đây là vẫn đề rất khó xác định cần phải có hướng dẫn của các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương. 2.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết giảm nhẹ là tình tiết định tội - Các cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, cân nhắc mức độ, điều kiện mà người phạm tội được hưởng, tránh sự tùy tiện khi vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vào việc xét xử . Tránh trường hợp vận dụng không đúng đắn các trình tiết giảm nhẹ sẽ dẫn đến hậu quả là xử phạt bị cáo quá nhẹ không tương xứng với hành vi phạm tội cũng như nhân thân người phạm tội. Ví dụ: Phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, phải xác định rõ hậu quả chết người đã xảy ra chưa. Nếu chưa thì không thể kết án về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được mà phải xem xét các tình tiết đó thỏa mãn cấu thành tội phạm nào , nếu hậu quả chết người đã xảy ra thì xem các tình tiết đó có phù hợp với các dấu hiệu pháp lý của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hay không có như thế mới đảm bảo xét xử đúng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xác định đúng người, đúng tội. -Phải thống nhất giữa Tòa án và Viện kiểm sát vận dụng một số trình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, Điều 46 - Nên có những quy định mô tả cụ thể, chi tiết hơn đối với mỗi loại tội phạm. Nhằm hạn chế việc nhầm lẫn khi có dấu hiệu định tội, định khung hình phạt và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. - Ngoài ra, đối với công tác xây dựng và áp dụng pháp luật, cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết thế nào là kích động và kích động mạnh về tinh thần, thế nào là phòng vệ chính đáng hay vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân, hậu quả chết người xảy ra ngay hay sau một thời gian thực hiện hành vi phạm tội thì phải xác định như thế nào… nếu chỉ quy định chung chung sẽ dẫn đến hiểu sai và xét xử giữa các tòa án là khác nhau, việc định tội sẽ có nhiều sai sót, không đảm bảo được mục đích xét xử là đúng người, đúng tội, oan sai.
  24. 24. KẾT LUẬN Các “tình tiết hình sự” có vai trò quan trọng trong việc xác định và xử lí tội phạm.được sử dụng để phân biệt các tội phạm khác nhau; đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của các trường hợp phạm tội trong cùng loại tội; làm rõ mức độ nguy hiểm cũng như mức độ trách nhiệm hình sự của các trường hợp phạm tội cụ thể. Đồng thời còn được áp dụng làm căn cứ để định tội cũng như quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Nếu thiếu những tình tiết cụ thể, những căn cứ xác đáng có thể dẫn đến việc định tội danh không đúng, không phù hợp, làm cho hình phạt không đạt được mục đích khi áp dụng đối với người phạm tội. Đối với vụ án cụ thể cần phải xác định rõ vị trí, ý nghĩa pháp lí của mỗi “tình tiết hình sự” là tình tiết định tội, định khung hay giảm nhẹ để sử dụng chúng hợp lí.Thứ tự ưu tiên đối với tình tiết định tội, sau đó là tình tiết định khung giảm nhẹ, cuối cùng nếu không thỏa mãn 2 trường hợp trên thì là tình tiết giảm nhẹ TNHS.Vận dụng không đúng các tình tiết này có thể dẫn đến việc định tội hoặc định khung hình phạt sai, có thể dẫn đến hậu quả là hình phạt đã tuyên quá nhẹ đối với người phạm tội.Đối với mỗi tội phạm cụ thể, các tình tiết có ý nghĩa độc lập trong việc phản ánh tội phạm.Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một số tình tiết cụ thể chỉ có ý nghĩa hay thể hiện đầy đủ ý nghĩa của nó khi kết hợp với các tình tiết khác. Ví dụ: tại Điều 95 BLHS, tình tiết “phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” chỉ có ý nghĩa định tội khi kết hợp với tình tiết “do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó”… Chính vì thế, việc nghiên cứu về các tình tiết giảm nhẹ tại Điều 46, BLHS được lấy làm tình tiết định tội hoặc định khung giảm nhẹ trong các tội danh cụ thể, là cơ sở để có cái nhìn rõ ràng và thấu đáo hơn trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Vì mỗi tội phạm đều là thể thống nhất của các tình tiết.Các tình tiết của tội phạm luôn có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau.Các tình tiết phải được xem xét, đánh giá một cách độc lập, riêng rẽ nhưng đồng thời cũng phải cân nhắc, đánh giá chúng trong mối liên hệ biện chứng của toàn bộ vụ án. Khi nào thì xem chúng là căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự? Khi nào xem xét có dấu hiệu định tội? Khi nào cần chuyển khung hình phạt?Có như vậy mới xác định được rõ vị trí, ý nghĩa cũng như ảnh hưởng của chúng đối với tội phạm để từ đó có biện pháp xử lí thoả đáng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

×