Bh01
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Bh01

on

  • 175 views

 

Statistics

Views

Total Views
175
Views on SlideShare
175
Embed Views
0

Actions

Likes
0
Downloads
0
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Bh01 Bh01 Document Transcript

    • LỜI MỞ ĐẦU Như mọi quốc gia trên thế giới, BHXH Việt Nam trong những năm qua được xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà nước, luôn được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước; điều này có thể dễ dàng lý giải bởi BHXH không chỉ liên quan đến hàng triệu lao động mà còn bởi nó có ý nghĩa rất lớn đối với cả những người phụ thuộc vào các đối tượng trên. BHXH chẳng những có ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội mà còn có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc, chính sách này thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực kinh tế và khả năng tổ chức quản lý của Nhà nước. Khi đất nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì việc bao cấp toàn bộ cho hoạt động BHXH tỏ ra không còn phù hợp với tình hình mới. Để từng bước đổi mới công tác tổ chức quản lý BHXH, chính phủ đã ra Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 về việc ban hành điều lệ BHXH và Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 về việc thành lập BHXH Việt Nam và các quyết định khác kèm theo về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam. Với mục đích thống nhất việc quản lý và thực hiện các chế độ BHXH nhằm đảm bảo tốt hơn lợi ích của người lao động thì BHXH Việt Nam đã được thành lập trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH ở trung ương và địa phương thuộc hệ thống Bộ Lao động - TB&XH và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam nhằm giúp Thủ tướng chính phủ chỉ đạo công tác quản lý quỹ BHXH và thực hiện chế độ chính sách BHXH theo pháp luật hiện hành. Và để giải quyết tốt vấn đề trên đảm bảo nguồn quỹ chi trả các chế độ BHXH cho các đối tượng được hưởng trợ cấp BHXH thì việc nâng cao hiệu quả thu quỹ đồng thời duy trì và phát triển nguồn quỹ là đòi hỏi bức bách khiến em đi đến lựa chọn nghiên 1
    • cứu đề tài: "Thực trạng thu nộp quỹ BHXH và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu nộp quỹ BHXH Việt Nam hiện nay" Những nội dung chính của đề tài: Lời mở đầu Phần I. Khái quát chung về BHXH và quỹ BHXH Phần II. Thực trạng công tác thu nộp quỹ BHXH Việt Nam trong thời gian qua. Phần III. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu nộp quỹ BHXH Lời kết Mặc dù em đã rất cố gắng nghiên cứu nhưng do trình độ và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý, xây dựng của các thầy cô giáo và các bạn Em xin chân thành cảm ơn ./. Hà Nội, ngày 4 tháng 11 năm 2000 Tác giả Nông Hữu Tùng 2
    • PHẦN THỨ NHẤT KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BHXH VÀ QUỸ BHXH I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN BHXH 1. Sự tồn tại khách quan của BHXH Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại v.v... Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó, người ta phải lao động để làm ra những sản phẩm cần thiết. Khi sản phẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc thoả mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khả năng lao động của họ. Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn, bất ngờ bị ốm đau hay bị tai nạn trong lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm v.v... Khi rơi vào những trường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: cần được khám chứa bệnh và điều trị ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi dưỡng v.v... Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ công đồng; đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v.v... Rõ ràng, những cách đó là hoàn toàn thụ động và không chắc chắn. 3
    • Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tại nạn, thai sản v.v... Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ không phải chi ra một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng. Khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày càng đảm bảo. Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động. Như vậy BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc 4
    • gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu của người lao động và được thừa nhận là nhu cầu tất yếu khách quan. 2. Quá trình phát triển của BHXH 2.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển chính sách về BHXH trên thế giới BHXH đã có từ lâu và thực sự trở thành hoạt động mang tính xã hội từ đầu thế kỷ 19. Bộ luật đầu tiên về chế độ bảo hiểm được hình thành ở Anh vào năm 1819 với tên gọi "Luật nhà máy" và tập trung vào bảo hiểm cho người lao động làm việc trong các xưởng thợ. Vào năm 1883, luật bảo hiểm ốm đau hình thành ở Đức. Cũng tại Đức, một số các luật khác được hình thành, sau đó chẳng hạn luật tai nạn lao động hình thành năm 1884; luật bảo hiểm người già và tàn tật do lao động hình thành năm 1889. Đến nay BHXH được thực hiện trên rất nhiều nước và trở thành một bộ phận quan trọng trong hoạt động của Liên hợp quốc. Một tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới hiện nay. Trong tuyên ngôn của Liên hợp quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 có ghi: "Tất cả mọi người, với tư cách là thành viên của xã hội, có quyền hưởng BHXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người".. Để thể chế hoá tinh thần đó, tổ chức lao động quốc tế ILO (một tổ chức cơ cấu trong liên hợp quốc) đã đưa ra Công ước 102 quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của BHXH và những khuyến nghị các nước thành viên về việc thực hiện các tiêu chuẩn này. 2.2. Khái quát về sự hình thành và phát triển chính sách BHXH ở Việt Nam 5
    • Như ở phần trên, BHXH phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ở Việt Nam trong gần một thế kỷ cai trị, bọn thực dân Pháp hầu như không đề ra được những gì để bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Không thực hiện được chế độ chính sách về BHXH đối với người lao động Việt Nam. Ngay sau cách mạng tháng 8 thành công trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước (có Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950). Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể hiện trong Hiến pháp năm 1959. Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH. Quyền này được cụ thể hoá trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ. Suốt trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược, chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước. Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Sự thay đổi về cơ chế kinh tế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng. Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ: "Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với công chức Nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động". Trong văn kiện Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ, cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành 6
    • phần kinh tế đều có nghĩa vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách. Tiếp đến Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII cũng đã nêu lên "Mở rộng chế độ BHXH đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế". Như vậy, các văn bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường. Ngay sau khi Bộ luật lao động có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 về Điều lệ BHXH đối với người lao động trong các thành phần kinh tế. Nội dung của bản điều lệ này góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra, góp phần thực hiện công bằng và sự tiến bộ xã hội, góp phần làm lành mạnh hoá thị trường lao động và đồng thời đáp ứng được sự mong mỏi của đông đảo người lao động trong các thành phần kinh tế của cả nước. II. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA BHXH 1. Khái niệm BHXH Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước. Chính sách BHXH đã được thể chế hoá và thực hiện theo Luật. BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả năng làm việc. "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội". Chính vì vậy, đối tượng của BHXH chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị 7
    • giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người lao động tham gia BHXH. Đồi tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao động. Tuy vậy, tuỳ theo sự phát triển kinh tế – xã hội cuả mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó. Dưới giác độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật, hoặc chết. Quỹ bảo hiểm xã hội dành chi trả các chế độ trợ cấp và quản lý phí được hình thành từ đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và nguồn hỗ trợ của Nhà nước. Quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ để tồn tại và phát triển. Mục đích chính của các chế độ BHXH là trợ cấp vật chất cho người bảo hiểm khi gặp rủi ro đã được quy định trong luật. 2. Những nguyên tắc của BHXH 2.1. BHXH là sự bảo đảm về mặt xã hội để người lao động có thể duy trì và ổn định cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động v.v... ). Đây là nguyên tắc đảm bảo ý nghĩa và tính chất của bảo hiểm. Nó vừa mang giá trị vật chất, vừa mang tính xã hội. Điểm này được thể hiện trước hết là sự bảo đảm bằng vật chất (qua các chế độ BHXH). Mức bảo đảm về vật chất cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới yếu tố tham gia vào BHXH và vì vậy ảnh hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp này. Về mặt xã hội, theo nguyên tắc này, BHXH lấy số đông bù số ít, lấy quãng đời lao động thực 8
    • tế có thu nhập là cơ số để bảo đảm cho quãng đời không tham gia vào lao động (mất sức lao động hay cao tuổi). 2.2. BHXH vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện Tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ tham gia tối thiểu (thời gian mức đóng bảo hiểm v.v...). Như vậy, Nhà nước đóng vai trò tổ chức, định hướng để người lao động và người sử dụng lao động hiểu được nghĩa vụ và trách nhiệm hợp lý tham gia vào các quan hệ về BHXH. Điều này được thể chế hoá trong Bộ luật Lao động và các văn bản pháp quy khác về BHXH. Tính tự nguyện có ý nghĩa khuyến khích mức tham gia, các loạI hình và chế độ bảo hiểm, mà người lao động có thể tham gia trên cơ sở sự phát triển của hệ thống BHXH của một số nước trong từng giai đoạn nhất định. Nguyên tắc này cho phép BHXH có điều kiện để phát triển và mở rộng hơn. 2.3. Xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ BHXH Vấn đề này có quan hệ trực tiếp đến các khía cạnh có liên quan đến việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng chế độ BHXH. Mức tối thiểu của các chế độ BHXH là mức đóng định kỳ (hàng tháng), mức thời gian tối thiểu để tham gia và được hưởng các chế độ BHXH cụ thể. Các mức tối thiểu này, khi thiết kế thường dựa vào tiền lương tối thiểu, tiền lương bình quân, quảng đời lao động v.v... Mặt khác, mức tối thiểu còn phải tính đến giá trị của các chế độ BHXH mà người tham gia được hưởng. Nguyên tắc này liên quan trức tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng quỹ BHXH, và khuyến khích người lao động và các tầng lớp xã hội tham gia. 2.4. BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của người lao động Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong cơ chế thị trường, trong đó sự di chuyển và biến động lao động có thể xảy ra, thậm trí mang tính thường xuyên. Sự thay đổi nơI làm việc 9
    • và thay đổi hợp đồng lao động cả vể nội dung đối, tác v.v… tạo ra những giai đoạn có thể vệ thời gian và không gian của quá trình làm việc. Điều này có thể xảy ra trong cả các quan hệ về BHXH. Việc đảm bảo cho người tham gia BHXH có thể duy trì quan hệ một cách liên tục theo thời gian có tham gia và thống nhất về các chế độ sẽ tạo ra sự linh hoạt cần thiết và thuận tiên cho người lao động tham gia vào các quan hệ BHXH tốt hơn, đầy đủ và tích cực hơn. Do vậy, mức tham gia và thời gian thực tế tham gia là căn cứ chủ yếu nhất đẻ duy trì quan hệ BHXH đối với người lao động. 2.5. Công bằng trong BHXH Đây là nguyên tắc rất quan trọng songcũng rất phức tạp trong chính sách BHXH. Quan hệ BHXH được thực hiên trong một thời gian dài, cả trong và ngoài quá trình lao động. Trong quá trình đó có thể có sự thay đổi diễn ra. Mức và thời gian tham gia của từng người và mức hưởng lương của họ cũng có thể không giống nhau. Việc theo rõi và ghi nhận các vấn đề này không đơn giản nhất là trong điều kiện một hệ thống BHXH đang còn có những khác biệt về đối tượng thành phần và khu vực tham gia ở nước ta hiện nay. Do vậy đảm bảo công bằng trong BHXH là rất cần thiết nhưng rất khó đảm bảo tính tuyệt đối . Sự công bằng, trước hết là phải đặt trong trong quan hệ giữa đóng góp và được hưởng. Điều này được thể hiên trong nội dung và điều kiên tham gia trong từng chế độ về BHXH. Xét trên góc độ khác, công bằng còn đặt trongcác quan hệ xã hội giữa những người tham gia BHXH trong từng khu vực hay giữa các vùng, địa bàn, ngành nghề khác nhau v.v… dựa trên nguyên tắc tính xã hội của bảo hiểm. Trên đây là những nguyên tắc phải tính đến khi thiết kếvà thực hiện các quan hệ và các chế độ về BHXH. 10
    • 3. Bản chất của BHXH Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây: - BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. - Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động. Bên BHXH (Bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết. - Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp... Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v.... Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động. - Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. - Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu 11
    • nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau: + Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ. + Chăm sóc sức khoản và chống bệnh tật. + Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em. Với những mục tiêu trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 10/12/1948 rằng: "Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển con người". Ở nước ta, BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm xã hội. Ngoài BHXH, chính sách bảo đảm xã hội còn có cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống khác đối với mọi thành viên trong xãhội, trong nhưng trường hợp bị bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, khôngđủ khả năng để tự lo cuộc sống tối thiểu của bản thânvà gia đình. Sự giúp đỡ này dược thể hiện bằng các nguồn quỹ dự phòng của Nhà nước, bằng tiền hoặc hiện vật đíng góp của các tổ chức xã hội và những người hảo tâm. Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt về cả vật chất và tinh thần của Nhà nước, của xã hội nhằm đền đáp công lao đối với những người hay một bộ phận xã hội có nhiều cống hiến cho xã hội. Chẳng hạn những người có công với nước, liệt sỹ và thân nhân liệt sỹ, thương binh,bệnh binh v.v... đều là những đối tượng được hưởng sự đãi ngộ của Nhà nước, của xã hội, ưu đãi xã hội tuyệt nhiên không phải là sự bố thí, ban ơn, mà nó là một chính 12
    • sách xã hội có mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội, góp phần củng cố thể chế chính trị của Nhà nước trước mắt và lâu dài, đảm bảo sự công bằng xã hội. Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về đối tượng và phạm vi, song BHXH, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội đều là những chính sách xã hội không thể thiếu được trong một quốc gia. Những chính sách này luôn bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau và tất cả đề góp phần đảm bảo an toàn xã hội. 4. Chức năng của BHXH BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây: - Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo các điều kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH. - Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà cả những người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp. Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với 13
    • những người ốm yếu phải nghỉ việc v.v... Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội. - Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, người lao động được chủ sử dụng lao động trả lương hoặc tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội. - Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động v.v... Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn. 5. Tính chất của BHXH BHXH gắn liền với đời sống của người lao động, vì vậy nó có một số tính chất cơ bản sau: - Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội 14
    • Như ở phần trên đã trình bày, trong quá trình lao động sản xuất người lao động có thể gặp nhiều biến cố, rủi ro khi đó người sử dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không cảm như: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng lao động và hợp đồng lao động luôn phải được đặt ra để thay thế v.v... Sản xuất càng phát triển, những rủi ro đối với người lao động và những khó khăn đối với người sử dụng lao động càng nhiều và trở nên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ - thợ ngày càng căng thẳng. Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH. Và như vậy, BHXH ra đời hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước. - BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian. Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của BHXH. Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ BHXH. Từ những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đến mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho người lao động v.v... - BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ. Tính kinh tế thể hiện rõ nhất là ở chỗ, quỹ BHXH muốn được hình thành, bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên phải được tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại cuả tập hợp người lao động tham gia BHXH. Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho người lao động theo các điều kiện của BHXH. Thực chất, phần đóng góp của mỗi người lao động là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với người sử dụng lao động việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho người lao động mà mình sử dụng. Xét dưới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang thải cho những người lao động bị mất hoặc giảm khả năng lao động. Với Nhà 15
    • nước BHXH góp phầm làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ nét. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động. Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính chất xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao. 6. Những quan điểm cơ bản về BHXH Khi thực hiện BHXH, Các nước đều phải lựa chọn hình thức, cơ chế và mức độ thoả mãn các nhu cầu BHXH phù hợp với tạp quán, khả năng trang trải và đình hướng phát triển kinh tế - xã hội của nước mình. Đồng thời, phải nhận thức thống nhất các quan điểm về BHXH sau đây: 6.1. Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là bộ phần quan trọng nhất trong chính sách BHXH Mục đích chủ yếu của chính sách này nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, khi người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm. Ở nước ta, BHXH nằm trong hệ thống các chính sách và xã hội của Đảng và Nhà nước. Thực chất, đây là một trong những loại chính sách đối với người lao động nhằm đáp ứng một trong những quyền và nhu cầu hiển nhiên của con người , nhu cầu an toàn về việc làm,an toàn lao động,an toàn xã hội v.v... Chính sách BHXH còn thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia. Trong một chừng mực nhất định,nó còn thể hiện tính ưu việt của một chế độ xã hội. Nếu tổ chức và thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ là động 16
    • lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 6.2. Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho người lao động Người sử dụng lao động thực chất là các tổ chức, các doanh nghiệp và các cá nhân có thuê mướn lao động. Họ phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH và có trách nhiệm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động mà mình sử dụng theo đúng luật pháp quy định. Người sử dụng lao động muốn ổn định sản xuất kinh doanh thì ngoài việc phải chăm lo đầu tư để có thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sống cho người lao động mà mình sử dụng. Khi người lao động làm việc bình thường thì phải trả lương thoả đáng cho họ. Khi họ gặp rủi ro, bị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp v.v... trong đó có rất nhiều trường hợp gắn với quá trình lao động với những điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có như vậy, người lao động mới yên tâm, tích cực lao động sản xuất, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. 6.3. Người lao động được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối với BHXH, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp v.v... Điều đó có nghĩa là mọi người lao động trong xã hội đều được hưởng BHXH như tuyên ngôn dân quyền đã nêu,đồng thời bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi trợ cấp BHXH. Người lao động khi gặp rủi ro không mong muốn và không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro của bản thân. Vì thế, muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác hỗ trợ cho mìnhlà dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì tự mình phải gánh chịu trực tiếp và trước hết. Điều 17
    • đó có nghĩa là người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình. Tuy nhiên, nghĩa vụ và quyền lợi của người lao động về BHXH còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, vào các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội ổn định thì người lao động tham gia và được hưởng trợ cấp BHXH ngày càng đông. 6.4. Mức trợ cấp BHXH phụ thuộc vào các yếu tố - Tình trạng mất khả năng lao động - Tiền lương lúc đang đi làm - Tuổi thọ bình quan của người lao động - Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Tuy nhiên, về nguyên tắc trợ cấp BHXH phải thấp hơn lúc đang đi làm, nhưng thấp hơn cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu. Quan điểm này vừa phải phản ánh tính cộng đồng xã hội, vừa phản ánh nguyên tắc phân phối lại quỹ BHXH cho những người lao động tham gia BHXH. Trợ cấp BHXH là loại trợ cấp thay thế tiền lương. Mà tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện được những công việc hoặc định mức công việc nào đó. Nghĩa là, chỉ người lao động có sức khoẻ bình thường, có việc làm bình thường và thực hiện được nhất định mới có tiền lương. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không làm việc được mà trước đó có tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH và trợ cấp đó không thể bằng tiền lương do lao động tao ra được. Mức trợ cấp bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một người lao động nào phải có gắng tìm kiếm việc làm và tích cực làm việc để có lương, mà ngược lại sẽ lợi dụng BHXH để được nhận trợ cấp. Hơn nữa cách lập quỹ BHXH theo phương thức dàn trải rủi ro cũng không cho phép trả trợ cấp BHXH bằng lúc đang làm việc. Và như vậy thì chẳng khác gì 18
    • người lao động bị rủi ro và qua rủi ro của mình dàn trải hết cho những người khác. Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm. Tuy nhiên, do mục đích bản chất và phương thức BHXH thì mức trợ cấp thấp hơn cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu. 6.5. Nhà nước quản lý thống nhất chính sách BHXH, tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHXH Bởi vì, BHXH là một bộ phần cấu thành các chính sách xã hội, nó vừa là nhân tố ổn định, vừa là nhân tố động lực phát triển kinh tế - xã hội. Cho nên, vai trò của Nhà nước là rất quan trọng. Thực tế đã chỉ rõ, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước, nếu không có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thì mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ không được duy trì bền vững, mối quan hệ ba bên trong BHXH sẽ bị phá vỡ. Hơn nữa, BHXH được thực hiện thông qua một quy trình, từ việc hoạch định chính sách, đảm bảo vật chất đến việc xét trợ cấp v.v... Vì vậy, Nhà nước quản lý toàn bộ quy trình này, hay có những giới hạn về mức độ và phạm vi. Trước hết, phải khảng định rằng việc hoạch định chính sách BHXH là khâu đầu tiên và quan trọng nhất. Sự quản lý của Nhà nước về vấn đề này thể hiện ở việc xây dựng các dự án luật, các văn bản pháp quy về BHXH và ban hành thực hiện. Sau đó là hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra các tổ chức, cá nhân thực hiện chính sách. Đối với việc đảm bảo vật chất cho BHXH thì vai trò của Nhà nước phụ thuộc vào chính sách BHXH do Nhà nước quy định. Có những mô hình về bảo đảm vật chất cho BHXH do ngân sách Nhà nước cung cấp thì vai trò quản lý Nhà nước là trực tiếp và toàn diện, nếu nguồn đảm bảo trợ cấp do người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước đóng góp thì Nhà nước tham gia quản lý. 19
    • Để quản lý BHXH, Nhà nước sử dụng các công cụ chủ yếu như luật pháp và bộ máy tổ chức. Nhìn chung, hầu hết các nước trên thế giới, việc quản lý vĩ mô BHXH đều được Nhà nước giao cho Bộ Lao động hoặc bộ xã hội trực tiếp điều hành. III. QUỸ BHXH 1. Khái niệm Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia vào điều kiện lịch sử trong thời kỳ nhất định của đất nước. Trình độ kinh tế - xã hội càng phát triển thì các chế độ BHXH dược áp dụng càng mở rộng, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao động càng được nâng cao và khi kinh tế phát triển,người lao động có thu nhập cao, càng có điều kiện tham gia BHXH. Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung giữ vị trí là khâu tài chính trung gian trong hệ thống tài chính quốc gia. Nó ra đời tồn tại và gắn với mục đích bảo đảm ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động, mà không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời. Như vậy, Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nước. 2. Nguồn quỹ BHXH Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây: - Người sử dụng lao động đóng góp. - Người lao động đóng góp - Nhà nước đóng góp và hỗ trợ thêm. - Các nguồn khác như: cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi... Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho người lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở quan hệ lao động. Điều này 20
    • không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê mướn. Đồng thời nó góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ - thợ. Về phía người lao động, đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ. Mối quan hệ chủ - thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước. Trước hết là các luật lệ của Nhà nước về BHXH là những chuẩn mực pháp lý cho cả người lao động và người sử dụng lao động đều phải tuân theo, những tranh chấp chủ - thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sở vững chắc để giải quyết. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biện pháp và mức độ can thiệp khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH, mà còn chở thành chỗ dựa để đảm bảo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định. Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn trên. Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau. Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện vẫn còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức lương và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp. Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao 21
    • động, Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH v.v... Mức đóng góp BHXH ở một số nước trên thế giới Tên nước Chính phủ Tỷ lệ đóng góp của người lao động so với tiền lương (%) Tỷ lệ đóng góp của người sử dụng lao động so với quỹ lương (%) CHLB Đức Bù thiếu 14,8 ÷ 18,8 16,3 ÷ 22,6 CH Pháp Bù thiếu 11,82 19,68 Inđônêxia Bù thiếu 3,0 6,5 Philipin Bù thiếu 2,85 ÷ 9,25 6,85 ÷ 8,05 Malaixia Chi toàn bộ chế độ ốm đau, thai sản 9,5 12,75 (Nguồn: BHXH ở một số nước trên thế giới) Mức đóng góp BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi quỹ BHXH. Vì vậy, quỹ này phải được tính toán trên cơ sở khoa học. Trong thực tế, việc xác định mức đóng góp BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. Khi xác định mức đóng góp BHXH, có thể có những căn cứ tính toán khác nhau: - Dựa vào tiền lương và thang lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có cơ sở để xác định mức đóng góp. - Quy định mức đóng góp BHXH trước rồi từ đó xác định mức hưởng. - Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng, rồi từ mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức đóng góp. Mặc dù chỉ thuần tuý mamg tính kỹ thuật nhưng xác định mức đóng góp BHXH lại khá phức tạp vì nó liên quan tới cả người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và kiều kiện phát triển 22
    • kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, khi xác định mức đóng góp BHXH vẫn phải đảm bảo nguyên tắc: cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng. Mức đóng góp xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cấu BHXH và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất. Mức đóng góp BHXH được cấu thành từ 3 bộ phận và được xác định theo công thức: P = f1 + f2 + f3 Trong đó: P - Mức đóng góp BHXH f1- Đóng góp thuần tuý trợ cấp BHXH f2- Đóng góp dự phòng f3- Đóng góp quản lý Đóng góp thuần tuý trợ cấp BHXH cho cả các chế độ ngắn hạn và dài hạn. Đối với các chế độ BHXH ngắn hạn việc đóng và hưởng BHXH xảy ra trong thời gian ngắn (thường là 1 năm) như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động nhẹ... Vì vậy, số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với các chế độ BHXH dài hạn như: Hưu trí mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp nặng v.v... quá trình đóng góp và quá trình hưởng tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Cho nên, sự công băng giữa đóng góp và hưởng BHXH phải được dàn trải trong cả thời kỳ dài. Vì thế, ngoài đóng góp thuần tuý phải có đóng góp dự phòng để đảm bảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn. Như vậy, để xác định được mức đóng góp và mức hưởng BHXH phải dựa vào nhiều yếu tố và nhiều thông tin khác nhau về nguồn lao động, cơ cấu nguồn lao động theo tuổi, giới tính, ngành nghề v.v... ngoài ra còn phải xác định và dự báo được tuổi thọ bình quân của quốc gia; xác suất ốm đau, tai nạn, tử vong của người lao động v.v... 3. Mục đích sử dụng quỹ BHXH 23
    • Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau đây: - Chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH - Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH. 3.1. Các chế độ BHXH được áp dụng phổ biến trên thế giới Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH được sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH nhằm mục đích ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp rủi ro. Thực chất là trợ cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lên trong Công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ: 1. Chăm sóc y tế 2. Trợ cấp ốm đau 3. Trợ cấp thất nghiệp 4. Trợ cấp tuổi già 5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 6. Trợ cấp gia đình 7. Trợ cấp sinh đẻ 8. Trợ cấp khi tàn phế 9. Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng) 9 chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH. Tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ. Trong đó, ít nhất phải có một trong 5 chế độ: (3); (4); (5); (8); (9). Mỗi chế độ trong hệ thống trên khi xây dựng đều dựa trên những cơ sở kinh tế xã - hội; tài chính; thu nhập; tiền lương v.v... Đồng thời, tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải tính đến yếu tố sinh học; tuổi thọ bình quân của quốc gia; nhu cầu dinh dưỡng; xác xuất tử vong v.v... Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây: + Các chế độ được xây dựng theo luật pháp mỗi nước. + Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính. 24
    • + Mỗi chế đọ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH. + Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ. + Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyết toán. + Chi trả BHXH là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH. + Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định. Tuy nhiên, cơ sở để xác định điều kiện hưởng BHXH phải tính đến một loạt các yếu tố liên quan đến toàn bộ hệ thống các chế độ cũng như tựng chế độ BHXH cụ thể. Chẳng hạn, khi xác định điều kiện trợ cấp BHXH tuối già phải dừa vào cơ sớ sinh học là tuổi đời và giới tính của người lao động là chủ yếu. Bởi vì tuổi già để hưởng trợ cấp hưu trí của mỗi giới, mỗi vùng, mỗi quốc gia có những khác biệt nhất định. Do đó, có những nước quy định: Nam 60 tuổi và nữ 55 tuổi sẽ được nghỉ hưu. Nhưng cũng có những nước quy định: Nam 65 tuổi và nữ 60 tuổi v.v... Hoặc khi xác định điều kiên hưởng trợ cấp cho chế độ tai nan lao động và bệnh nghề nghiệp phải tính đến các yếu tố như: điều kiên và môi trương lao động; bảo hộ lao động v.v... Các yếu tố này thường có quan hệ và tác động qua lại với nhau ít nhiều ảnh hưởng tới điều kiện BHXH của từng chế độ và toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH. Thời gian hưởng trợ cấp và mức hưởng trợ cấp BHXH nói chung phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể và thời gian đóng bảo hiểm của người lao động, trên cơ sở tương ứng giữa đóng và hưởng. Đồng thời mức trợ cấp còn phụ thuộc vào khả năng thanh toán chung của từng quỹ tài chính BHXH; mức sống chung của các tầng lớp dân cư và người lao động. Nhưng về nguyên tắc, mức trợ cấp này không cao hơn mức tiền lương hoặc mức tiền công khi người lao động đang làm việc và nó chỉ bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với tiền lương hay tiền công. Ở các nước kinh tế phát triển do mức lương cao, nên tỷ lệ này thường thấp và ngược lại ở 25
    • những nước đanh phát triển do mức tiền lương còn thấp nên phải áp dụng một tỷ lệ khá cao. Ví dụ: ở Pháp, mức trợ cấp hưu trí chỉ bằng 50% của mức lương bình quân 10 năm cao nhất (với điều kiện đóng BHXH đủ 37,5 năm). Ốm đau được trợ cấp bằng 50% tiền lương, thời gian nghỉ ốm được hưởng trợ cấp không quá 12 tháng. Sinh con được hưởng trợ cấp bằng 90% tiền lương trong vòng 16 tuần v.v... Còn ở Philipin, mức trợ cấp hưu trí từ 42% đến 102%tuỳ thuộc vào nhóm lương khác nhau. Ốm đau được hưởng 65%, sinh con được nghỉ 45 ngày và được hưởng bằng 100% tiền lương v.v... Tuy vậy, việc các nước qui định trợ cấp BHXH bằng tỷ lệ phần trăm tiền lương so với tiền lương hay tiền công thường dẫn đến bội chi quỹ BHXH. Vì vậy, một số nước đã phải tìm cách khắc phục như: trả ngay một lần khi nghỉ hưu (Nhật bản một lần khi nghỉ hưu là 15 triệu yên; Ấn Độ, Malaixia, Inđônêxia trả một lần bằng tổng số tiền mà chủ và thợ đã đóng góp cộng với lãi) hoặc suốt đời đóng theo tỷ lệ phần trăm của một mức thu nhập quy đinh và hưởng cũng theo tỷ lệ phần trăm của mức quy định. Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn được sử dụng cho chi phí quản lý như: tiền lương chi trả cho ngũng người làm việc trong hệ thống BHXH; khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác v.v... Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lời. Mục đích đáu tư quỹ BHXH là nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Qúa trình đầu tư quỹ BHXH phải đảm bảo nguyên tắc: an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích kinh tế - xã hội. 3.2. Các chế độ BHXH đang được thực hiện ở Việt Nam hiện nay Theo điều 2 của Điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5 chế độ: 1. Chế độ trợ cấp ốm đau 2. Chế độ trợ cấp thai sản 26
    • 3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp 4. Chế độ hưu trí 5. Chế độ tử tuất So với trước đây, chế độ trợ cấp mất sức lao động bị loại bỏ. Nội dung của 5 chế đọ nêu trên được quy định thống nhất trong chương II của Điều lệ. Mỗi chế độ BHXH khi xây dựng đều căn cứ vào một loạt những cơ sở như: sinh học; kinh tế - xã hội; điều kiện và môi trường lao động v.v... 4. Cơ chế quản lý quỹ BHXH 4.1. Một số nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và quản lý quỹ BHXH Để thực hiện tốt mục đích của quỹ BHXH, trong quá trình quản lý điều hành hoạt động quỹ BHXH cần quán triệt những nguyên tắc cơ bản sau đây: - Tài chính BHXH là một quỹ tồn tại và hoạt động độc lập, cơ chế thu, chi của quỹ phải luôn bảo đảm cân đối, phải bảo toàn và phát triển quỹ để bảo đảm quyền lợi cho người tham gia BHXH. Vì thế, tổ chức quản lý điều hành quỹ BHXH phải được tổ chức độc lập thống nhất trong phạm vi cả nước trên cơ sở pháp luật của Nhà nước đã ban hành và chịu sự kiểm tra, giám sát, quản lý của Nhà nước về chấp hành pháp luật BHXH đối với các bên tham gia BHXH. Tổ chức BHXH Việt Nam có hoạt động độc lập thì mới có điều kiện theo dõi, kiểm tra, giám sát công việc thu, chi của quỹ, tăng cường công tác quản lý quỹ và mới có điều kiện để quản lý, sử dụng vốn nhàn rỗi trong cơ chế thị trường có lợi nhất, không ngừng tinh giảm biên chế gọn nhẹ, giảm chi phí quản lý hành chính, nghiệp vụ hoạt động BHXH. Để bảo vệ quyền lợi cho người lao động, Nhà nước cần phải luật pháp hoá việc đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH, tạo điều kiện tự chủ và tự chịu trách nhiệm của tổ chức BHXH về kết quả đầu tư bảo toàn và phát triển vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH, phù hợp với cơ chế thị trường. Việc quản lý điều hành tăng trưởng quỹ phải đảm bảo nguyên tắc bảo toàn được vốn, không làm vốn bị tổn thất, còn phải làm cho vốn sinh lợi. Việc đầu tư vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH phải đảm bảo các yêu cầu sau: 27
    • + Bảo đảm chắc chắn, an toàn tuyệt đối, có khả năng thanh khoản cao. + Phải có lãi. + Phải đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên việc chi trả các chế độ BHXH phát sinh. Vì thế, các hình thức đầu tư phải linh hoạt, đa dạng nhưng phải chặt chẽ theo những nguyên tắc và yêu cầu nêu trên. Thực hiện tốt việc đầu tư vốn nhàn rỗi , quỹ BHXH không chỉ có tác dụng bảo toàn và phát triển vốn mà còn bảo đảm quyền lợi cho người lao động trên thực tế. Tổ chức quản lý quỹ đầu tư tăng trưởng vốn nhàn rỗi của quỹ BHXH phải tuân theo nguyên tắc hạch toàn kinh doanh. - Phải bảo đảm quyền lợi của người lao động tương ứng với nghĩa vụ đóng góp của họ. Trong nền kinh tế thị trường, người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng hưởng chế độ BHXH. Song người lao động muốn được hưởng quyền lợi về BHXH thì họ phải có nghĩa vụ đóng góp BHXH theo các phương thức thích hợp (bắt buộc hay tự nguyện, ít chế độ hay nhiều chế độ BHXH...) thường xuyên đều đặn trong những tháng, năm còn tuổi lao động. Quyền lợi được hưởng phải phù hợp với mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXH của từng người lao động theo quy định của pháp luật. Vì thế, để tạo nguồn tài chính ổn định cho quỹ BHXH, ngoài sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động Nhà nước cũng phải đóng góp vào quỹ BHXH. Trong trường hợp Nhà nước thay đổi chính sách kinh tế - xã hội làm mất cân đối quỹ, hoặc do các rủi ro bất khả kháng, Nhà nước phải có trách nhiệm trợ giúp quỹ BHXH để đảm bảo chi trả có các đối tượng hưởng chế độ BHXH. Số tiền đóng góp phảo được tính trên cơ sở số tiền lương hoặc thu nhập và được hạch toán vào giá thành sản phẩm. Do vậy, những đơn vị sử dụng lao động trốn tránh nghĩa vụ đóng góp BHXH, phải xử lý thật nghiêm túc. Vì họ trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH không những xâm phạm đến quyền lợi BHXH của người lao động, mà còn gây ra bất bình đẳng với các đơn vị sử dụng lao động thực hiện nghiêm túc đóng BHXH. Thực hiện nguyên tắc này sẽ xoá bỏ được bao cấp trong chế độ BHXH, tạo ra sự bình đẳng giữa người lao động trong các thành phần kinh tế, tạo ra khả năng cân đối thu, chi quỹ BHXH, xoá bỏ được sự thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp nâng lương bừa bãi cho người lao động trước khi về hưu để được hưởng trợ cấp hưu trí cao hơn. 28
    • - Hoạt động BHXH không mang tính chất kinh doanh mà mang tính chất của quỹ tương hỗ bảo hiểm. Mục đích hoạt động của quỹ BHXH trước hết nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động khi gặp rủi ro BHXH, sau nữa bảo đảm an toàn cho xã hội và nền kinh tế. Hoạt động BHXH chủ yếu dựa trên nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” mang tính chất cộng đồng, tính chất xã hội giữa những người lao động, trừ chế độ bảo hiểm hưu trí và tử tuất là dựa chủ yếu trên nguyên tắc hoàn trả trực tiếp. Các khoản đóng góp vào quỹ BHXH phụ thuộc vào mức độ sử dụng chi trả của các chế độ BHXH, nếu quỹ không đủ bù đắp thì phải nâng mức đóng góp hoặc hạ thấp mức chi trợ cấp BHXH để bảo đảm quỹ luôn luôn cân đối giữa thu và chi. Nguyên tắc cơ bản quản lý quỹ BHXH là phải cân đối thu với chi, chính vì vậy đòi hỏi cơ quan quản lý quỹ BHXH phải tổ chức công tác kế toán, kiểm tra sử dụng một cách chặt chẽ, đúng pháp luật, sử dụng tiền nhàn rỗi đầu tư sinh lợi có hiệu quả, quỹ được bảo toàn và phát triển để có điều kiện bảo đảm quyền lợi cho người lao động hoặc giảm được sự tài trợ của Nhà nước. - Việc đổi mới, hoàn thiện cơ chế tạo và sử dụng quỹ BHXH phải trên cơ sở thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý kinh tế - xã hội của đất nước. Phải tiến hành đồng bộ với việc đổi mới, hoàn thiện cách chính sách, cơ chế quản lý kinh tế - xã hội có liên quan như chính sách lao động và việc làm, chính sách thu nhập, tiền lương, tiền công, chăm sóc y tế, kế hoạch hoá gia đình và các chính sách kinh tế - xã hội khác. Bởi vì, chính sách cơ chế quản lý kinh tế - xã hội của đất nước, nó phải phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với mức độ phát triển của từng loại lao động (ít hay nhiều chế độ BHXH). Đặc biệt lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, lao động tự do, có như vậy BHXH mới tồn tại và phát triển vững chắc, phù hợp với sự phát triển của các thành phần kinh tế của đất nước. Mặt khác, Nhà nước chỉ bảo trợ quỹ BHXH khi Nhà nước có những thay đổi các chính sách kinh tế xã hội làm mất cân đối thu, chi quỹ BHXH hoặc do các rủi ro bất khả kháng làm mất cân đối thu, chi quỹ BHXH. Trên đây là một số nguyên tắc cơ bản cần phải quán triệt trong tổ chức và quản lý quỹ BHXH làm cơ sở cho việc cải tiến, hoàn thiện các chế độ, chính sách BHXH ở nước ta trong thời gian tới. 4.2. Cơ chế quản lý quỹ BHXH ở nước ta 29
    • 4.2.1. Giai đoạn trước 1995 Quỹ BHXH hoạt động dưới sự quản lý của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đây chính là 2 cơ quan trực tiếp quản lý BHXH. Cơ chế quản lý quỹ BHXH do 2 ngành đảm nhiệm được thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến điạ phương theo 3 cấp: Cấp Trung ương : Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Cấp tỉnh : Sở Lao động - Thương binh & Xã hội; Liên hiệp Công đoàn tỉnh, thành phố. Cấp huyện : Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội; Các Công đoàn cơ sở. Cơ quan thứ hai cùng phối hợp quản lý quỹ BHXH là cơ quan Tài chính các cấp. Cơ quan này có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của quỹ BHXH. Vì cơ quan Tài chính có nhiệm vụ cung cấp đầy đủ và kịp thời nguồn kinh phí để 2 ngành là Bộ Lao động thương binh và xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phân phối chi trả cho các đối tượng được hưởng. Cơ quan Tài chính cũng được chia ra làm 3 cấp tương ứng là: Cấp Trung ương : Bộ Tài chính Cấp Tỉnh : Sở Tài chính Cấp Huyện : Phòng Tài chính Ngoài 2 ngành có liên quan chính đến hoạt động của quỹ BHXH chúng ta còn thấy vai trò rất quan trọng của các cấp chính quyền địa phương. Đó là UBND tỉnh, huyện và xã. Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội và Công đoàn Việt Nam muốn quản lý tốt các đối tượng được hưởng BHXH thì phải thông qua UBND ở từng địa phương. Tất cả các cơ quan nêu trên đều có vai trò nhất định trong công tác quản lý quỹ BHXH. Các cơ quan này cùng phối hợp hoạt động với nhau nhằm thực hiện mục tiêu chung là quản lý quỹ BHXH có hiệu quả nhất đem lại lợi ích cho người lao động. 30
    • Sơ đồ cấp phát kinh phí 4.2.2. Giai đoạn từ 1995 - đến nay Để triển khai thực hiện chế độ, chính sách BHXH trong thời kỳ đổi mới, ngày 16/2/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP về việc thành lập tổ chức BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất và tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh & Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý, để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chính sách, chế độ BHXH theo pháp luật của Nhà nước. Và bắt đầu từ 1/10/1995, hệ thống tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam từ Trung ương đến địa phương đã chính thức đi vào hoạt động. BHXH Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ , chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Lao động - Thương 31 ` (3) (2) (1) (3) (1) (1) (1) (3) (1) (1) 1. Cấp phát kinh phí 2. Thống nhất dự toán 3. Dự toán Bộ LĐTBXH và Tổng LĐLĐVN Bộ Tài chính Sở LĐTBXH và Liên hiệp công đoàn tỉnh Sở Tài chính Phòng LĐTBXH và Công đoàn cơ sở Phòng Tài chính Đối tượng
    • binh & Xã hội , các cơ quan Nhà nước về lĩnh vực có liên quan và sự giám sát của Tổ chức Công đoàn. Hệ thống BHXH Việt Nam hiện nay gồm : - Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam, là cơ quan quản lý cao nhất của BHXH Việt Nam. Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau: Chỉ đạo và giám sát, kiểm tra việc thu, chi, quản lý quỹ BHXH; quyết định các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH; thẩm tra quyết toán và thông qua dự toán hàng năm; kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan bổ sung sửa đổi các chính sách, chế độ BHXH; giải quyết các khiếu nại của người tham gia BHXH; đề xuất việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Các thành viên Hội đồng quản lý là đại diện có thẩm quyền của Bộ Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội, Bộ Tài chính, và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng quản lý là Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam. Các thành viên này do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ Trưởng, Trưởng ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ. - BHXH Việt Nam, là cơ quan điều hành trực tiếp cao nhất của hệ thống BHXH Việt Nam, do Tổng giám đốc trực tiếp điều hành và các Phó Tổng Giám đốc giúp việc. - Cơ chế quản lý quỹ BHXH Việt Nam được tổ chức thành hệ thống ngành dọc từ trung ương đến địa phương theo 3 cấp: + Ở Trung ương là cơ quan BHXH Việt Nam + Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là BHXH tỉnh). + Ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là các BHXH quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là BHXH huyện). 32
    • Tuy nhiên, để BHXH Việt Nam hoạt động có hiệu quả thì ngành BHXH còn phải kết hợp với Bộ Tài chính, Chính quyền, UBND các cấp và mạng lưới các ban chi trả BHXH ở các địa phương. Sơ đồ hệ thống tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam (Xem phụ lục) Quỹ BHXH Việt Nam được hình thành từ các nguồn sau: - Nguồn sử dụng lao động đóng bằng 15% tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị. - Người lao động đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng của mình. - Ngân sách Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động. - Các nguồn thu khác. Quỹ BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước và được Nhà nước bảo hộ quỹ BHXH được sử dụng để chi cho 5 chế độ mà điều lệ BHXH đã qui định. Đồng thời được sử dụng để chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp, các ngành. Phần nhàn rỗi được phép đầu tư để bảo tồn giá trị và tăng trưởng quĩ theo qui định của Chính phủ. 33
    • PHẦN THỨ HAI THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THU NỘP BHXH Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA I. GIAI ĐOẠN TRƯỚC 1/10/1995 1.Tình hình thu nộp và quản lý quỹ BHXH do Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý Trong suốt gần 34 năm quản lý BHXH, Liên đoàn Lao động Việt Nam thu không đủ bù chi, Nhà nước thường xuyên phải hộ trợ và đây chính là gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước trong một thời gian dài. Đặc điểm nổi bật của hoạt động BHXH trong giai đoạn này là tổng thu BHXH đạt được rất thấp. Những năm trước 1987 tỷ lệ đóng BHXH là 4,7% quỹ lương, trong đó tỷ lệ trích nộp chi trả lương hưu chỉ là 1%, chính vì vậy tỷ trọng Ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho chế độ này là rất lớn. Trong thời kỳ này, phần thu dùng để chi trả cho lương hưu luôn thấp hơn phần chi trả các chế độ BHXH tức thời (ốm đau, thai sản...). Sau này việc nâng tỷ lệ nộp BHXH lên 15% tổng quỹ lương thì phần dành cho chi trả lương hưu cũng đã tăng lên. Tuy vậy, do số người được hưởng lương hưu tăng nhanh, cộng thêm vào đó là khó khăn của nền kinh tể trong những năm bao cấp, tình trạng thiếu việc làm diễn ra ở nhiều nơi nên kết quả thu nộp BHXH đạt được thấp, Ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ ở mức cao, đặc biệt là từ năm 1990 với việc thực hiên Nghị định số 176/CP và 11/CP về giảm biên chế. Để phân tích cụ thể hơn tình hình thực tế công tác thu và quản lý quỹ BHXH trong suốt thời kỳ trước năm 1995 khi Tổng Công đoàn Việt Nam quản lý chia thành 3 giai đoạn sau: - Giai đoạn từ 1962 đến 1963. 34
    • - Giai đoan từ 1964 đến 1986. - Giai đoan từ 1987 đến tháng 9 năm 1995. 1.1. Giai đoạn 1962 - 1963 Ngày 27/12/1961 Chính phủ ban hành Nghị định số 218/CP quyết định giao cho Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam (sau này là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) quản lý các chế độ thu chi BHXH; theo đó quy định mức thu BHXH là 4,7% tổng quỹ lương cán bộ công nhân viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước, riêng đối với công nhân viên chức và quân nhân phục vụ trong lực lượng vũ trang thì không thu BHXH nhưng vẫn thuộc diên hưởng các chế độ, chính sách BHXH vì bộ phận này được Ngân sách Nhà nước đài thọ hoàn toàn. Nguồn thu này dùng để chi trả trợ cấp cho 6 chế độ BHXH: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, mất sức lao động, khoản thiếu hụt sẽ được Ngân sách Nhà nước bù thiếu. Trên cơ sở Nghị định 218/CP, Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam đã ra quyết định số 364/CP ngày 2/4/1962 xây dựng các nguyên tắc quản lý phân cấp thu chi các chế độ BHXH. Theo quyết định thì việc quản lý quỹ BHXH được thực hiện ở 3 cấp quản lý: - Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam là cấp tổng dự toán thu và chi BHXH. - Liên hiệp Công đoàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và một số Công đoàn ngành là bộ phận dự toán cấp 1. - Công đoàn cơ sở là đơn vị dự toán cấp 2. Công tác quản lý thu chi được quy định cụ thể cho từng cấp theo nguyên tắc cấp trên duyệt dự toán quý và năm cho cấp dưới. 35
    • Việc thu nộp BHXH từ các cấp công đoàn cơ sở lên các đơn vị dự toán cấp 1 được tính theo phương thức chênh lệch giữa số phải thu nộp với số tạm ứng chi cho các chế độ BHXH tại các đơn vị dự toán cấp 2 theo quy định. Cơ chế hạch toán trên đáp ứng được yêu cầu quản lý kinh tế, phù hợp với tình hình tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ ở các thời điểm này và vì vậy công tác thu BHXH đã đạt được tỷ lệ khá so với kế hoạch đề ra, ta có thể thấy điều đó qua bảng 1 sau: Bảng 1: TÌNH HÌNH THU BHXH CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1962 – 1963 Năm Kế hoạch thu Bảo hiểm xã hội (1000 đồng) Số thu Bảo hiểm xã hội (1000 đồng) Thực hiện so kế hoạch (%)Tổng số Thực thu (Thu 4,7%) NSNN hỗ trợ (1) (2) (3) (4) (5) (6)=(4): (2) 1962 1963 19.975 22.021 13.055 20.597 13.055 20.597 - - 65,36 93,53 (Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Trong giai đoạn này, Ngân sách Nhà nước không phải hỗ trợ cho việc chi trả các chế độ BHXH. Điều này là do việc thực hiên BHXH đang ở trong giai đoạn đầu, nên việc chi trả thấp, chủ yếu là chi trả cho những chế độ ngắn hạn. Tỷ lệ thu nộp BHXH đạt mức 65,36% và 93,53% tương ứng với các năm 1962 và 1963 1.2. Giai đoạn 1964 - 1986 36
    • Để phù hợp với yêu cầu quản lý mới theo Quyết định số 62/CP ngày 10/4/1064 của Hội đồng Chính phủ (nay là Thủ tướng Chính phủ) giao bớt nhiệm vụ quản lý một phần của quỹ BHXH cho Bộ Nội vụ (sau này là Ngành lao động - Thương binh & Xã hội) với số thu 1% trong số 4,7% quỹ lương. Trong đó, Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam quản lý ba chế độ BHXH ngắn hạn là: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Bộ Nội vụ quản lý ba chế độ BHXH dài hạn là: chế độ hưu trí, chế độ tử tuất, chế độ mất sức lao động. Thực hiện Quyết định này, Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam đã cùng Bộ Nội vụ ra Thông tư số 13-NV ngày 23/4/1964 hướng dẫn công tác bàn giao nhiệm vụ thu từ quý III năm 1964 cho Bộ Nội vụ. Các khoản thu BHXH trong quý I và quý II năm 1964 thuộc phần quản lý của Bộ Nội vụ sẽ được Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam bàn giao phần chênh lệch còn lại sau khi đã trừ đi các khoản trợ cấp thuộc trách nhiệm thanh toán của Bộ Nội vụ. Bảng 2: TÌNH HÌNH THU NỘP BHXH DO TỔNG CÔNG ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TỪ NĂM 1964 – 1986 Năm Kế hoạch thu Bảo hiểm xã hội (1000 đồng) Số thu Bảo hiểm xã hội (1000 đồng) Thực hiện so kế hoạch (%)Tổng số Thực thu (Thu 3,7%) NSNN hỗ trợ (1) (2) (3) (4) (5) (6)=(4): (2) 37
    • 1964 1965 1966 1967 1968 1969 1970 1971 1972 1973 1974 1975 1976 1977 1978 1979 1980 1981 1982 1983 1984 1985 1986 20.806 22.692 26.000 28.030 29.721 33.086 34.151 35.779 34.398 36.216 43.290 42.376 53.650 63.684 73.402 76.082 79.160 121.474 239.499 294.693 410.261 203.315 812.900 19.915 18.590 21.149 26.294 27.364 37.044 49.310 57.639 48.659 51.946 54.180 65.884 69.199 85.764 59.019 92.112 96.547 163.417 240.878 380.303 497.857 227.547 1.050.842 19.915 18.590 21.149 23.294 21.364 25.044 29.310 30.639 31.159 34.946 39.180 42.884 47.199 64.764 73.019 79.112 81.547 127.417 219.878 310.303 445.857 208.147 940.842 - - - 3.000 6.000 12.000 20.000 27.000 17.500 17.000 15.000 23.000 22.000 21.000 22.000 13.000 15.000 36.000 21.000 70.000 52.000 19.400 110.000 95,72 81,92 81,34 83,10 71,88 75,69 85,82 85,63 90,58 96,49 90,51 101,20 87,98 101,70 99,48 103,98 103,02 104,89 91,81 105,30 108,68 102,38 115,74 (Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Trong quá trình bàn giao nhiệm vụ, Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam đã làm tốt nhiệm vụ hạch toán chi tiết từng khoản thu - chi BHXH, tách từng phần thu 1% và 3,7% theo yêu cầu của Nghị định 218/CP nên việc bàn giao nhìn chung không gặp khó khăn. Trong năm 1964 Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam đã bàn giao cho Bộ Nội vụ 1 triệu đồng, với công tác chi cho ba chế 38
    • độ từ khoản thu 1% tổng quỹ lương công nhân viên chức Nhà nước. Việc thực hiện công tác thu của Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam đã gắn trách nhiệm chi cụ thể cho các cơ sở được sử dụng quỹ BHXH để chi cho công tác quản lý. Vì vậy, kết quả thu 3,7% đạt khá cao, năm thấp nhất về thu BHXH cũng đạt 71,88% (1968) kế hoạch đặt ra, năm cao nhất đạt 115,74% (1986) kế hoạch, bình quân cả giai đoạn (1964 - 1986) đạt 94,12% kế hoạch thu hàng năm. Qua bảng 2 ta có thể thấy, tình hình thu nộp BHXH so với kế hoạch đặt ra được thực hiện khá tốt, hầu hết các năm đều đạt được ở mức trên 90%, đặc biệt là những năm cuối thập niên 70 và đầu 80 có nhiều năm vượt năm mức chỉ tiêu đặt ra (trên 100%). Tuy có những năm vượt mức kế hoạch nhưng có thể thấy rõ là việc quy định tỷ lệ đóng BHXH cho các chế độ ngắn hạn chưa hợp lý bởi những năm mà vượt chỉ tiêu thu nộp BHXH cũng chính là những năm mà Ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ rất lớn. Đơn cử năm 1986 vượt mức kế hoạch 15,74% (là năm vượt mức kế hoạch cao nhất) nhưng cũng chính là năm Ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ tới 110 triệu đồng. Thực tế này đã đặt ra vấn đề phải thay đổi trong tỷ lệ đóng góp để giảm nhẹ gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước, đồng thời cần có sự tổ chức hợp lý hơn để nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH. 1.3. Giai đoạn từ 1986 đến tháng 9/1995 Theo Quyết định số 181/HĐBT ngày 30/10/1986 của Hội đồng Bộ trưởng, mức đóng góp vào quỹ BHXH nâng từ 3,7% lên 5% tổng quỹ lương. Mục đích của việc tăng tỷ lệ thu BHXH nhằm giảm bớt phần trợ cấp của Ngân sách Nhà nước cho Tổng Công 39
    • đoàn Lao động Việt Nam trong việc thực hiện các chế độ BHXH cho người lao động. Ngoài ra, để nâng cao trách nhiệm đóng góp BHXH của các đơn vị tham gia BHXH, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã có công văn ra ngày 26/4/1989 về việc phân cấp quản lý quỹ BHXH. Trên cơ sở công văn này, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã giao quyền chủ động cho công đoàn cơ sở trong việc quyết định chi các chế độ BHXH. Thông qua phân cấp quản lý tỷ lệ chi các chế độ BHXH nên đã quy định cụ thể việc quản lý quỹ BHXH, xây dựng các định mức trích nộp kinh phí BHXH lên công đoàn cấp trên. Hơn thế nữa, để khuyến khích các công đoàn cơ sở trong việc thực hiện thu nộp BHXH nhanh chóng kịp thời, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã đề ra chế độ trích thưởng 1% số thu được để làm quỹ khen thưởng cho đơn vị cơ sở đã thực hiện tốt công tác thu nộp BHXH. Tình hình thu BHXH trong giai đoạn này được thể hiên qua bảng 3: Bảng 3: TÌNH HÌNH THU BHXH HÀNG NĂM CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TỪ NĂM 1987 ĐẾN THÁNG 9/1995 Năm Kế hoạch thu Bảo hiểm xã hội (1000 đồng) Số thu Bảo hiểm xã hội (1000 đồng) Thực hiện so kế hoạch (%) Tổng số Thực thu (Thu 5%) NSNN hỗ trợ (1) (2) (3) (4) (5) (6)=(4):(2) 40
    • 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 4.354.431 22.476.380 66.328.865 68.328.865 66.545.000 21.011.9000 212.073.000 280.797.000 4.847.600 16.572.170 56.738.666 58.638.660 60.130.000 159.736.000 201.395.000 250.395.000 4.742.600 16.427.170 56.738.666 58.638.660 60.130.000 159.736.000 196.019.000 250.395.000 105.000 100.000 - - - - 5.376.000 - 108,91 73,08 85,54 85,82 90,36 76,02 92,43 89,17 (Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Qua bảng trên ta thấy, việc nâng mức thu từ 3,7% lên 5% tổng quỹ lương trong giai đoạn này do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý đã có những kết quả bước đầu. Nếu như trong giai đoạn 1964 - 1986 Ngân sách Nhà nước thường xuyên phải cấp bù với số tiền không nhỏ thì đến giai đoạn 1987 - 1995 sự hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước đã giảm, mặc dù phần trăm hoàn thành chỉ tiêu thu nộp còn ở mức khiêm tốn. Thực tế này cho thấy, trong các giai đoạn công tác kế hoạch thu dường như chưa sát với thực tế (năm có tỷ lệ thu cao thì Ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ nhiều và ngược lại). Cụ thể, năm 1987 thu BHXH đạt 108,91% kế hoạch, Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 105 triệu đồng trong khi đó năm 1989 thu đạt 85,54% kế hoạch nhưng Ngân sách Nhà nước không phải hỗ trợ. Bảng 4: TỔNG HỢP TÌNH HÌNH THU BHXH DO TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM QUẢN LÝ TỪ 1962 – 1995 Năm Thực thu (1000 đồng) Tỷ lệ thu so với chi (%) Cân đối thu - chi (1000 đồng) 1962 1965 1970 13.055 18.590 29.310 87,62 97,36 58,51 -1.845 -504 -20.785 41
    • 1975 1980 1985 1990 1991 1992 1993 1994 9-1995 42.884 81.847 208.147 58.638.660 60.130.000 159.736.000 196.019.000 250.395.000 152.530.000 68,06 84,28 115,08 158,63 68,67 113,36 92,47 84,34 90,11 -20.121 -15.267 27.283 21.673.232 -27.435.033 18.827.672 -15.970.616 -46.945.810 -16.740.891 (Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Qua bảng 4 trên ta có thể dễ dàng nhận thấy tình hình thu BHXH trong thời kỳ 1962 – 1995 thường không đủ bù chi; đặc biệt là những năm 1991 và 1994 số thu chỉ đạt tương ứng là 68,67% và 84,34% so với số chi. Kết quả trên cũng có nghĩa là trong các năm đó Ngân sách Nhà nước đã phải chuyển sang cho chi trả các chế độ BHXH những khoản tiền không nhỏ. ∗Nhận xét: Qua các số liệu tình hình thu BHXH do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý ta có một số nhận xét sau: - Công tác thu BHXH do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong thời gian dài có kết quả tương đối tốt (trong thời kỳ 1964 - 1986 đều đạt kết quả ở mức khá cao, trong đó có những năm vượt kế hoạch đặt ra). Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một thực tế là những năm có tỷ lệ thu cao so với kế hoạch đề ra cũng lại là những năm Ngân sách Nhà nước phải trợ cấp lớn do quy định về tỷ lệ đóng BHXH trên tổng quỹ lương cho các chế độ ngắn hạn chưa hợp lý và vì vậy việc thay đổi tỷ lệ đóng BHXH cho các chế độ trên là một thực tế khách quan. 42
    • - Chúng ta nên ghi nhận tính chủ động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong việc kiến nghị với Nhà nước về vấn đề nâng mức thu BHXH từ 3,7% lên 5% tổng quỹ lương để bảo đảm cân đối thu - chi cho quỹ BHXH. Kết quả thu BHXH trong giai đoạn 1987 đến 9/1995 đã được cải thiện rõ rệt thể hiện ở con số trợ cấp từ Ngân sách Nhà nước đã giảm đi đáng kể. 2. Tình hình thu nộp và quản lý quỹ BHXH do Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội quản lý Để phù hợp với mục tiêu và yêu cầu quản lý mới, ngày 10/4/1964 Hội đồng Chính phủ (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã có Quyết định số 62/CP giao cho Bộ Nội vụ (sau này là Bộ Lao động -Thương binh & Xã hội) quản lý một phần quỹ BHXH, cụ thể là quản lý 3 chế độ dài hạn: - Chế độ hưu trí - Chế độ tử tuất - Chế độ mất sức lao động Trong giai đoạn này, tỷ lệ thu nộp BHXH được quy định ở mức thấp là 1% tổng quỹ lương, hơn nữa còn thực hiện trong một thời gian dài (từ năm 1964 đến giữa năm 1986) vì vậy việc chi trả trợ cấp BHXH cho ba chế độ trên thực sự trở thành gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước. Nhận thức được vấn đề không hợp lý trong việc quy định tỷ lệ đóng 1% tổng quỹ lương cho các chế độ dài hạn (hưu trí, tử tuất, mất sức lao động) và không có ý nghĩa thực tiễn trong cân đối thu - chi và đặc biệt không nâng cao được vai trò, trách nhiệm của các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh. Hội đồng Bộ trưởng đã sửa đổi tỷ lệ trích nộp BHXH do Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội quản lý từ 1% lên 10% 43
    • tổng quỹ lương, trong đó 2% dành để lại cơ sở làm trợ cấp khó khăn cho công nhân viên chức. Như vậy, con số chính thức mà Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội thu là 8% tổng quỹ lương, song trên thực tế mức thu này đạt tỷ lệ thấp hơn mà nguyên nhân là do tình hình sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn và do ý thức đóng BHXH của các đơn vị và doanh nghiệp chưa cao. Sau Đại hội VII của Đảng, đi đôi với cải cách một bước chế độ tiền lương, chế độ chính sách về BHXH, ngày 22/6/1993 Chính phủ đã ra Nghị định 43/CP nâng mức thu BHXH do Bộ lao động - Thương binh & Xã hội quản lý từ 8% lên 15% tổng quỹ lương. Trong gần 32 năm quản lý 3 chế độ BHXH, Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội thu BHXH đạt tỷ lệ thấp và ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ với số tiền lớn, với mức trợ cấp bình quân hàng năm chiếm 74,74% so với chi. Thời gian Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội quản lý, tình hình thực tế công tác thu và quản lý quỹ BHXH được chia thành 2 giai đoạn lớn sau: - Giai đoạn từ 1964 đến 1987 - Giai đoàn từ 1988 đến tháng 9/1995 2.1. Giai đoạn 1964 - 1987 Trong giai đoạn từ 1964 đến 1987 áp dụng mức thu 1% tổng quỹ lương cho các chế độ: trợ cấp hưu trí, tử tuất, mất sức lao động. Khi đi vào hoạt động ngành đã nhận bàn giao kinh phí từ Tổng Công đoàn Lao đông Việt Nam chuyển sang là 1 triệu đồng của năm 1963 và năm 1964 đã thu được 4,418 triệu đồng. Trong 2 năm đầu thu BHXH theo quy định của Nhà nước đã đảm bảo chi 44
    • trả gần đủ cho 14.933 đối tượng được hưởng lương hưu, chi trả trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp tuất cho công nhân viên chức từ trần. Trong những năm tiếp theo, số thu từ khoản trích nộp 1% tổng quỹ lương của các đơn vị tăng rất chậm, việc thực hiện nộp tiền BHXH theo quy định không được chấp hành nghiêm chỉnh, đồng thời số người được hưởng các chế độ BHXH ngày càng tăng. Chính vì vậy, phần hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước cũng ngày càng tăng lên. Để phân tích cụ thể hơn ta xem xét các thời kỳ sau: 2.1.1. Thời kỳ 1964 - 1975 BHXH được thực hiện trong giai đoạn này với ý nghĩa nhằm bảo đảm các chính sách xã hội của hậu phương lớn để thực hiện nhiệm vụ giải phóng Miền nam thống nhất đất nước, số thu BHXH so với mức dự kiến thu từ tổng quỹ lương đạt kết quả khá, có những năm như 1975 đạt 93,46% kế hoạch thu. Đạt được kết quả này là do Ngân sách Nhà nước bao cấp về tiền lương, về cung cấp vật tư và tiêu thụ sản phẩm, số thu 1% không đáng kể và được Nhà nước cho phép tính vào chi phí sản xuất nên các đơn vị sản xuất kinh doanh đều có điều kiện thực hiện. Ngoài ra, đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp việc kiểm soát chi chặt chẽ, việc chấp hành các chế độ tài chính được thực hiện nghiêm túc, các khoản chi tiền lương do Bộ Tài chính duyệt và cấp phát theo từng khoản mục chi cụ thể nên khoản thu 1% cơ bản đạt yêu cầu đề ra. 2.1.2. Thời kỳ 1976 - 1987 Sau khi đất nước thống nhất, Miền bắc tiếp tục thực hiện mức thu BHXH bằng 1% tổng quỹ lương, nguồn thu này vẫn được nộp vào quỹ BHXH của Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội. Miền nam trong giai đoạn này thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa, 45
    • về cơ bản các doanh nghiệp quốc doanh không thực hiện việc thu nộp BHXH theo quy định, chỉ đến những năm đầu thập kỷ 80 mới thực hiện công việc này. Từ năm 1981, tình hình kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, mức thu BHXH giảm hàng năm: năm 1981 đạt 79,65%, 1987 chỉ còn 33,18% so với kế hoạch thu BHXH. Do thu nộp BHXH đạt kết quả thấp, trong khi đó mức trợ cấp BHXH ngày càng tăng, vì vậy năm 1976 Ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ cho quỹ BHXH là 83,16% và đến năm 1987 mức hỗ trợ này lên tới 97,66% tổng số chi. Trong một thời gian dài áp dụng tỷ lệ thu 1% không phù hợp nên năm 1973 Bộ Nội vụ đã có tờ trình số 988/NV đề nghị nâng mức thu từ 1% lên 7% tổng quỹ lương nhưng không được Nhà nước chấp thuận vì có những quan điển cho rằng cơ quan hành chính sự nghiệp, đơn vị kinh doanh vẫn được Nhà nước bao cấp. Ngành tài chính thì quan niệm cho rằng chế độ BHXH như một chế độ tiền lương do Nhà nước bảo đảm nên đã có những văn bản quy định chi BHXH theo chế độ cấp phát dự toán hàng tháng, hàng quý như đối với cơ quan hành chính sự nghiệp khác. Với cơ chế cấp phát kinh phí BHXH mang nặng tính bao cấp, ỷ lại vào Ngân sách Nhà nước nên hạn chế tính tích cực trong việc thực hiện thu BHXH của Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội. Tuy vậy, những tồn tại trên không thể duy trì lâu dài và đến cuối thập kỷ 80 Nhà nước đã quyết định sửa đổi lại các quy định về hoạt động BHXH. 2.2. Giai đoạn từ 1988 đến tháng 9/1995 46
    • Trước những tồn tại trong công tác thu BHXH, năm 1988 Chính phủ quy định mức thu BHXH bằng 10% quỹ tiền lương do cơ quan, xí nghiệp Nhà nước trích nộp. Tuy vậy, do cuộc sống của công nhân viên chức gặp nhiều khó khăn nên trích lại 2% trong số 10% tổng quỹ lương để chi trợ cấp khó khăn cho công nhân viên chức Nhà nước. Do tình hình kinh tế Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ 80 gặp khủng hoảng, mức lạm phát cao vì vậy thu BHXH luôn đạt thấp hơn so với chi. Đến năm 1993 Chính phủ phải tăng mức thu BHXH từ 8% lên 15% quỹ tiền lương, trong đó: - Cơ quan, xí nghiệp trích nộp vào quỹ BHXH 10% quỹ tiền lương. - Cán bộ công nhân viên chức phải nộp BHXH là 5% tiền lương của bản thân. Việc quy định người lao động phải nộp BHXH từ tiền lương của bản thân mình là một bước ngoặt trong thực hiện các chế dộ BHXH của Nhà nước, giúp cho công tác BHXH của chúng ta có thể hoà nhập với các nước khác trên thế giới. Tổ chức thu và quản lý thu BHXH trong giai đoạn này được thể hiện bởi các tổ chức sau: 2.2.1. Từ năm 1988 đến tháng 6/1989 Trong thời gian này hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước gặp rất nhiều khó khăn và ý thức chấp hành nộp BHXH chưa nghiêm túc, Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội không đủ điều kiện đôn đốc, kiểm tra thu nộp nên số thu BHXH mức 8% tổng quỹ lương đạt rất thấp. Tình hình trên đã gây ảnh hưởng rất nhiều đến nguồn kinh phí chi trả cho các đối tượng 47
    • hưởng BHXH bởi vì Bộ Tài chính chỉ thực hiện hỗ trợ phần chênh lệch sau khi đã trừ đi kế hoạch giao cho Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội. Trước tình hình đó Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội đã phải vay ngân hàng với lãi suất cao dưới sự bảo lãnh của Bộ Tài chính và hậu quả là các khoản nợ tồn đọng nhiều năm mới thanh toán được. 2.2.2. Từ tháng 6/1989 đến tháng 9/1995 Thực hiện Thông tư liên Bộ Tài chính - Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội số 22TT/LB, Bộ Tài chính nhận trách nhiệm thu BHXH là 8% trên tổng quỹ lương. Mục đích của việc chuyển đổi cơ chế quản lý thu BHXH này là nhằm gắn trách nhiệm của Bộ Tài chính trong việc đảm bảo kinh phí chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng được hưởng một cách kịp thời. Chính phủ phân cấp nhiệm vụ thu BHXH cho Bộ Tài chính như sau: - Bộ Tài chính trực tiếp trích nộp vào quỹ BHXH số phải nộp BHXH cho các cơ quan, đơn vị hành chính do Trung ương quản lý. - Sở Tài chính vật giá các tỉnh, thành phố trích nộp vào quỹ BHXH của các đơn vị hành chính sự nghiệp do địa phương quản lý. - Các cục, các vụ quản lý thu các doanh nghiệp quốc doanh Trung ương và địa phương đóng trên địa bàn. Từ năm 1993, Bộ Tài chính lại giao nhiệm vụ thu BHXH cho Tổng cục thuế nhằm gắn trách nhiệm vừa đôn đốc thu nộp thuế, vừa đôn đốc giám sát thu BHXH. Sự thay đổi tổ chức thu BHXH như trên, đã giúp công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao hơn. Cụ thể, sau khi bàn giao nhiệm vụ 48
    • thu BHXH trong quý III năm 1989 Bộ Tài chính đã thực hiện tương đối tốt công tác thu: kết quả thu cả năm đạt 85,15% kế hoạch trong khi năm 1988 Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội quản lý chỉ đạt 40,43% kế hoạch thu. Bảng 5: TÌNH HÌNH THU BHXH DO NGÀNH LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH & XÃ HỘI QUẢN LÝ TỪ NĂM 1964 ĐẾN THÁNG 9/1995 Năm Số thu Bảo hiểm xã hội Ngân sách Nhà nước cấp Thực thu (1000 đồng) So với chi (%) Thực cấp (1000đồng) So với chi (%) 49
    • 1964 1965 1966 1967 1968 1969 1970 1971 1972 1973 1974 1975 1976 1977 1978 1979 1980 1981 1982 1983 1984 1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991 4.418 4.586 5.680 5.979 6.765 7.699 7.955 8.636 7.987 9.016 9.885 10.705 12.521 13.749 19.192 20.560 23.125 30.796 40.661 54.632 78.936 153.417 98.555 306.400 14.686.000 90.403.000 95.259.000 117.963.000 100,00 62,60 58,44 52,54 45,20 41,24 29,72 19,65 15,63 15,70 15,82 15,48 16,84 16,76 20,96 17,87 15,80 10,80 8,09 6,05 6,43 3,03 3,22 2,34 29,04 32,60 24,93 23,34 - 2.740 4.039 5.400 8.202 10.971 18.813 35.323 43.117 48.409 52.592 58.469 61.819 68.304 72.393 94.499 123.246 254.375 462.006 848.037 1.148.988 4.916.266 2.959.122 12.770.000 35.891.000 186.877.000 286.877.000 387.420.000 0,00 37,40 41,56 47,46 54,80 58,76 70,28 80,35 84,37 84,30 84,18 84,52 83,16 83,24 79,04 82,13 84,20 89,20 91,91 93,95 93,57 96,97 96,78 97,66 70,96 67,40 75,07 76,66 Qua bảng 5 ta có thể thấy, tình hình thu BHXH của Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu chi trả cho các chế độ BHXH mà ngành quản lý. Số thu BHXH hàng năm luôn nhỏ hơn rất nhiều so với số chi trả cho 3 chế độ BHXH 50
    • và nhiều năm số thu này có thể coi là không đáng kể so với số chi: đơn cử năm 1987 số thu chỉ đạt 2,34% so với chi và Ngân sách Nhà nước bù thiếu tới 97,66%. Đây thực sự là gánh nặng quá lớn cho Ngân sách Nhà nước trong một thời gian dài. ∗Nhận xét: Việc thực hiện thu BHXH bằng 1% tổng quỹ lương trong một thời gian dài (1964 - 1987) đã làm cho Ngân sách Nhà nước phải bù thiếu rất lớn cho chi trả các chế độ hưu trí, trơ cấp tuất và mất sức lao động do Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội quản lý. Tính ỷ lại vào Ngân sách Nhà nước thể hiện khá rõ trong kết quả thu: thường xuyên đạt thấp so với kế hoạch đề ra và thấp hơn nhiều so với thực chi. Điều này càng thể hiện rõ hơn khi mà Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội yêu cầu nâng mức thu lên nhưng không được chấp nhận. Công tác thu BHXH trong giai đoạn Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội quản lý chỉ dừng lại ở hình thức tự nguyện của các đơn vị, cơ quan chưa thực sự có tính bắt buộc. Vì vậy, ngay cả với các doanh nghiệp Nhà nước cũng chưa tự giác đóng BHXH. Trong thời gian dài, công tác thu BHXX chỉ dựa chủ yếu vào sự tự giác của các cơ quan, doanh nghiệp thông qua việc chuyển số thu BHXH vào tài khoản của Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội. Ngoài ra, việc không lập danh sách đơn vị sử dụng lao động và số lao động mà chỉ căn cứ vào tổng quỹ lương để xác định kế hoạch nộp nên gây khó khăn cho công tác giải quyết các chế độ BHXH cho người lao động. Do mang nặng tư tưởng ỷ lại vào sự bảo đảm của Ngân sách Nhà nước cho nên chưa phát huy được tính tự chủ và nâng cao 51
    • trách nhiệm của Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội. Trong một thời gian dài, ngành chưa kiến nghị được với Chính phủ những biện pháp tổ chức, thực hiện cụ thể về vấn đề: thu, lệ phí thu và những hình thức thu nộp BHXH khác nên có lúc đã giao lại cho ngành Tài chính. 3. Đánh giá chung Có thể nhận thấy rằng, trong giai đoạn từ 1962 đến 1/10/1995 cả Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam (sau này là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) cùng với Ngành Lao động - Thương binh & Xã hội đã có nhiều cố gắng trong việc hoàn thành nhiệm vụ thu nộp BHXH. Trong chừng mực nhất định, chính sách BHXH lúc đó đã có tác dụng góp phần đảm bảo ổn định đời sống và động viên khuyến khích đội ngũ công nhân viên chức, lực lượng vũ trang làm việc, chiến đấu, tạo ra sự gắn kết giữa người lao động và xã hội, góp phần vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên thì quá trình thực hiện các chế độ chính sách BHXH trong cơ chế cũ không tránh khỏi những bất cập, hạn chế cần khắc phục, cụ thể: - Do cách tính mức đóng góp BHXH không tương xứng với mức chi trả cho các chế độ BHXH. Do vậy, trong một thời gian dài Ngân sách Nhà nước thường xuyên phải hỗ trợ cho các cơ quan trên trong chi trả BHXH dẫn tới việc chưa xây dựng và hình thành được quỹ BHXH độc lập với Ngân sách Nhà nước, nguồn hình thành thực chất là do Ngân sách Nhà nước cấp phát. Trong khi đó, đối tượng tham gia và được hưởng các chế độ BHXH chỉ 52
    • áp dụng đối với công nhân viên chức và lực lượng vũ trang nên thực sự chưa thể hiện tính xã hội cao, có sự phân biệt giữa người lao động làm việc trong khu vực Nhà nước và ngoài khu vực Nhà nước, gây tâm lý chỉ lao động trong khu vực Nhà nước mới có vị trí trong xã hội và chưa thể hiện sự công bằng khi tuổi già. - Tổ chức quản lý BHXH phân tán, không có một cơ quan đặc trách riêng quản lý Nhà nước về BHXH cũng như không có một cơ quan đặc trách riêng về quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH mà có sự lẫn lộn giữa hai chức năng này ở cả hai cơ quan quản lý trên. Việc có nhiều cơ quan cùng quản lý các chế độ BHXH đã gây ra sự chồng chéo không thống nhất trong điều hành, quản lý thu nộp BHXH đồng thời cũng tạo ra sự không đồng bộ trong các chế độ chính sách BHXH, theo đó là sự nhận thức không đầy đủ về BHXH từ người quản lý đến người lao động đã dẫn tới thiếu chủ động trong kiến nghị, đề xuất của từng cơ quan với Chính phủ về các thay đổi trong mức đóng góp, phạm vi các đối tượng tham gia và được hưởng BHXH v.v... cho phù hợp với tình hình thức tế. - Ngoài ra, việc trông chờ vào sự bao cấp của Ngân sách Nhà nước và sự thiếu chủ động của các cơ quan quản lý BHXH cũng đã tạo ra thói quen, tâm lý ỷ lại, thiếu tự giác của cả chủ sử dụng lao động và người lao động, họ chưa thấy rõ hết trách nhiệm cũng như quyền lợi trong việc tham gia BHXH. Bên cạnh đó, các chế độ BHXH của ta chưa áp dụng được hầu hết các chế độ BHXH do Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đề ra và còn có sự đan xen kẽ của các chế độ ưu đãi và trợ cấp xã hội vào đó. Điều này đã gây hết sức khó khăn cho việc thực hiện công tác BHXH khi chuyển sang cơ chế mới. 53
    • Chính tất cả những bất cập, hạn chế trên mà việc ra đời một cơ quan duy nhất giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật của Nhà nước là một thức tế khách quan trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm hướng hoạt động sự nghiệp BHXH Việt Nam theo đúng nội dung, bản chất vốn có của nó. II. GIAI ĐOẠN TỪ 1/10/1995 - ĐẾN NAY 1. Các căn cứ pháp lý Trong tiến trình cải cách kinh tế - xã hội thì các chế độ, chính sách BHXH trước đây không còn phù hợp nữa. Nó đã và đang được đổi mới cho phù hợp với tình hình thực tế, thể hiện: - Ngày 15/6/1996, Bộ Luật lao động được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 5, có hiệu lực từ 1/1/1995 trong đó có chương IX về BHXH đã chính thức ghi nhận sự đóng góp của ba bên vào quỹ BHXH. Để cụ thể hoá các quy định của Bộ Luật lao động, Chính phủ đã có các Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và số 45/CP ngày 15/7/1995 ban hành Điều lệ BHXH áp dụng đối với công chức, công nhân viên chức Nhà nước và mọi người lao động theo loại hình BHXH bắt buộc và Điều lệ BHXH đối với sỹ quan quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân nhằm đảm bảo đời sống vật chất, góp phần ổn định cuộc sống cho những người và gia đình tham gia BHXH. - Để đưa những nội dung của Bộ Luật lao động và các Nghị định nêu trên vào triển khai thực hiện trong thực tế, ngày 16/2/1995 Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP về việc thành lập tổ chức BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức 54
    • BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh & Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với chức năng, nhiệm vụ chính là: tổ chức thu BHXH; giải quyết chế độ, chính sách BHXH; chi trả cho đối tượng hưởng BHXH; đầu tư, bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH. Nhưng trên thực tế do phải tiếp nhận bàn giao tổ chức và nhân sự từ hai ngành nên trong phạm vi toàn quốc, BHXH chính thức đi vào hoạt động từ 1/10/1995. - Sau hơn 7 tháng ban hành Nghị định 19/CP, ngày 26/9/1995 Thủ tướng Chính phủ lại ra Quyết định số 606/QĐ/TTg về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam. Tiếp đến là Quyết định số 20/1998/QĐ-TTg ngày 26/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam. - Cũng với mục đích giúp cho hoạt động của ngành BHXH tiến hành được thuận lợi, ngày 24/7/1995 Bộ Tài chính đã ra Thông tư số 58/TC/HCSN “Hướng dẫn tạm thời về quản lý thu - chi BHXH thuộc hệ thống BHXH’’. Cho đến ngày 30/12/1996, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam lại có Quyết định số 177/BHXH về việc ban hành quy định về quản lý thu BHXH thuộc hệ thống BHXH Việt Nam. Trên đây là một số văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh công tác quản lý BHXH nói chung, quỹ BHXH và công tác thu nộp BHXH nói riêng. Nó được thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau đây: 2. Những nội dung cơ bản về BHXH và quỹ BHXH 55
    • 2.1. Đối tượng tham gia BHXH Theo Điều II - Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người sử dụng lao động và người lao động (kể cả người được cử đi học, đi thực tập, điều dưỡng, công tác ở trong, ngoài nước vẫn thuộc danh sách trả lương hoặc tiền công của cơ quan và đơn vị) làm việc trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức sau đây: - Các doanh nghiệp Nhà nước - Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên. - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp. - Các doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ thuộc lực lượng vũ trang. - Các tổ chức kinh tế, dịch vụ thuộc cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan đảng, đoàn thể. - Các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế đặt tại Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. - Các đơn vị sự nghiệp gắn thu bù chi, đơn vị sự nghiệp hưởng nguồn thu bằng viện trợ nước ngoài (kể cả viện trợ của tổ chức phi chính phủ) để trả lương cho công nhân viên chức trong đơn vị. - Các cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan đảng, đoàn thể, hội quần chúng, dân cử từ trung ương đến cấp huyện (sau này được mở rộng ra đối với cấp xã, 56
    • phường, thị trấn theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 09/1998/ NĐ - CP ngày 23/1/1998). - Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) và Ban Cơ yếu Chính phủ (chi tiết, cụ thể xem thêm Điều 3, Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 45/ CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ). Cùng với đối tượng tham gia BHXH được mở rộng hơn so với trước đây, thì loại hình tham gia BHXH cũng được thống nhất: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Vấn đề này bước đầu đã tạo ra sự bình đẳng giữa những người lao động thuộc các thành phần kinh tế. Với đối tượng đã được quy định như ở trên, hiện nay cả nước ta đã có khoảng 10% lực lượng lao động tham gia BHXH. 2.2. Nguồn hình thành quỹ BHXH Quỹ BHXH được hình thành từ các nguồn sau đây: - Đóng góp của các đối tượng tham gia BHXH theo quy định trên. - Ngân sách Nhà nước chuyển sang gồm: + Tiền để chi trả cho các đối tượng đang hưởng các chế độ BHXH trước ngày Điều lệ BHXH có hiệu lực (1/1/1995). + Tiền đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động sau ngày ban hành Điều lệ BHXH. + Đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng các chế độ BHXH. - Tiền lãi, tiền sinh lời từ việc thực hiện phương án bảo toàn và phát triển quỹ BHXH. - Thu từ nguồn tài trợ, viện trợ quốc tế, trong nước. 57
    • - Giá trị tài sản của BHXH được đánh giá theo quy định của Chính phủ. - Thu khác. 2.3. Quản lý thu nộp BHXH 2.3.1. Căn cứ để quản lý thu nộp BHXH Để quản lý và thực hiện việc thu nộp BHXH phải căn cứ vào bảng thanh toán lương (hoặc sổ lĩnh lương) cuả đơn vị sử dụng lao động, trong đó có danh sách lao động, mức lương và các khoản phụ cấp trả cho người lao động trong tháng (trừ lao động hợp đồng phụ việc, lao động hợp đồng ngắn hạn). 2.3.2. Mức thu và nguồn kinh phí để trích nộp BHXH a. Mức thu nộp BHXH Mức thu nộp BHXH là 20% tổng quỹ lương hàng tháng, trong đó: - Cơ quan, đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH. - Người lao động (người tham gia BHXH) đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng. b. Tiền lương và quỹ tiền lương hàng tháng làm căn cứ trích nộp BHXH - Đối với khu vực hành chính sự nghiệp, tổ chức đảng, đoàn thể, hội quần chúng, dân cử và lực lượng vũ trang thì quỹ tiền lương làm căn cứ trích nộp BHXH gồm: Tiền lương chính theo ngạch, bậc, theo cấp hàm, chức vụ do bầu cử và các khoản phụ cấp chức vụ, khu vực, đắt đổ, thâm niên, phụ cấp thâm niên tái cử, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) theo quy định tại Nghị định số 35/NQ-UBTVQHK9 ngày 17/5/1993 của Uỷ ban Thường vụ Quốc 58
    • hội Khoá 9; Quyết định số 09/QĐ-TW ngày 17/5/19993 của Ban Bí thư; Nghị định số 25/CP ngày 17/5/1993 của Chính phủ; Quyết định số 574/TTg ngày 25/11/1993 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 05/CP ngày 26/1/1994 của Chính phủ. - Đối với khu vực sản xuất kinh doanh gồm: Các doanh nghiệp quy định tại điểm 1, 2, 3, 4, 5 mục 2.1 - đối tượng tham gia BHXH nêu ở trên thì tổng quỹ lương làm căn cứ trích nộp BHXH là tổng tiền lương tháng của những người tham gia BHXH gồm: Tiền lương cấp bậc, chức vụ, hợp đồng, hệ số chênh lệch bảo lưu và các khoản trợ cấp chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp đắt đỏ... (nếu có) theo đúng Nghị định số 26/CP ngày 25/3/1993 và Nghị định số 05/CP ngày 26/1/1994 của Chính phủ. Các doanh nghiệp nếu đã ký hợp đồng lao động thì trích nộp BHXH tính trên tổng quỹ tiền lương theo hợp đồng đã ký kết. - Đối với các đơn vị quy định tại điểm 6, 7 mục 2.1 - đối tượng tham gia nêu ở trên thì tổng quỹ lương để làm căn cứ trích nộp BHXH là quỹ lương hợp đồng. c. Nguồn trích nộp và hạch toán kế toán - Khoản đóng góp BHXH bằng 15% quỹ tiền lương thuộc trách nhiệm đóng góp của cơ quan, đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động: + Đối với đơn vị hưởng lương từ nguồn Ngân sách Nhà nước cấp, tính trong dự toán kinh phí hàng quỹ, năm và hạch toán vào mục 68: chi BHXH theo chương, loại, khoản và hạng tương ứng. + Đối với đơn vị sản xuất kinh doanh - dịch vụ thì tính vào chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ và hạch toán vào mục "trích bảo hiểm xã hội". 59
    • + Đối với các đơn vị gắn thu bù chi, đơn vị hưởng nguồn viện trợ của nước ngoài thì trích từ nguồn thu, nguồn viện trợ để nộp BHXH và hạch toán vào chi phí quản lý. - Khoản đóng BHXH của người lao động: Cơ quan, đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động trích từ tiền lương hàng tháng của từng người, nộp vào quỹ BHXH cùng một lúc với 15% đóng góp của cơ quan, đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động. 2.3.3. Phân cấp quản lý thu nộp BHXH Giám đốc BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là BHXH tỉnh) có trách nhiệm tổ chức thực hiện và chỉ đạo BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là BHXH huyện) thu BHXH của tất cả các đơn vị, tổ chức, cơ quan của Trung ương và địa phương (sau đây gọi chung là đơn vị) có tài khoản và trụ sở đóng trên địa bàn của tỉnh theo phân cấp quản lý như sau: - BHXH tỉnh thu BHXH của các đơn vị có trụ sở và tài khoản tại tỉnh, bao gồm: + Các đơn vị thuộc Trung ương quản lý đóng trên địa bàn tỉnh (riêng lực lượng vũ trang hưởng BHXH theo Nghị định số 45/CP có hướng dẫn ở văn bản khác). + Các đơn vị do tỉnh trực tiếp quản lý. + Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. + Các đơn vị, tổ chức quốc tế có trên địa bàn tỉnh, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác. + Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có sử dụng 50 lao động trở lên. 60
    • Trường hợp BHXH các huyện thuộc tỉnh không đủ điều kiện để thực hiện nhiệm vụ thu BHXH của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh dưới 50 lao động hoặc các đơn vị Trung ương, đơn vị thuộc tỉnh có số lao động không nhiều thì Giám đốc BHXH tỉnh quyết định việc phân cấp thu đối với từng đơn vị cụ thể cho BHXH huyện. - BHXH huyện thu BHXH của các đơn vị có trụ sở và tài khoản tại huyện, bao gồm: + Các đơn vị thuộc cấp huyện trực tiếp quản lý. + Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sử dụng từ 10 lao động đến 50 lao động. + Các đơn vị khác do BHXH tỉnh giao nhiệm vụ thu theo quyết định phân cấp thu. Trường hợp BHXH tỉnh mở rộng đối tượng thu BHXH tự nguyện đối với doanh nghiệp sử dụng lao động dưới 10 lao động phải báo cáo BHXH Việt Nam để trình Hội đồng quản lý xem xét quyết định. - Đối với một số đơn vị có các đơn vị trực thuộc đóng trụ sở và hoạt động ở địa bàn thuộc nhiều tỉnh muốn nộp BHXH cho các đơn vị trực thuộc BHXH tỉnh nơi đóng trụ sở chính thì phải có sự thống nhất của BHXH các nơi có liên quan (nơi có trụ sở các đơn vị trực thuộc đóng) và được BHXH Việt Nam chấp thuận. 2.3.4. Lập kế hoạch thu nộp BHXH a. Đối với các đơn vị sử dụng lao động: - Hàng tháng, căn cứ vào số biên chế và kế hoạch quỹ tiền lương của đơn vị mình lập kế hoạch nộp BHXH trong quý và đăng 61
    • ký ngày nộp tiền từng tháng gửi cho cơ quan BHXH vào ngày 20 của tháng cuối quý trước. b. Đối với cơ quan BHXH tỉnh, huyện: - Hàng tháng, BHXH huyện tổng hợp kế hoạch thu BHXH của các đơn vị do mình chịu trách nhiệm tổ chức thu và ghi sổ BHXH gửi cho BHXH tỉnh vào ngày 25 của tháng cuối quý trước. - Hàng quý, BHXH tỉnh tổng hợp kế hoạch thu BHXH của các đơn vị do BHXH tỉnh trực tiếp thu BHXH. Tổng hợp kế hoạch thu BHXH trên địa bàn toàn tỉnh, nộp cho BHXH Việt Nam vào ngày 30 của tháng cuối quý trước. Riêng kế hoạch thu BHXH của cả năm do BHXH tỉnh lập bao gồm tất cả các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh và tổng hợp theo địa bàn. 2.3.5. Tổ chức thu BHXH và ghi sổ BHXH cho người lao động - Hàng tháng, căn cứ vào kế hoạch nộp tiền BHXH do các đơn vị sử dụng lao động đã đăng ký, BHXH tỉnh, huyện đôn đốc và tổ chức thu BHXH bằng 20% quỹ lương (đơn vị sử dụng lao động đóng 15% so với tổng quỹ lương, người lao động đóng 5% tiền lương tháng) vào ngày của kỳ lương đầu tiên trong tháng. - Tháng cuối quý, đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm lập danh sách nộp BHXH của người lao động thuộc đơn vị mình, tính đủ số tiền phải nộp BHXH theo lương của người lao động trong quý gửi cho cơ quan BHXH 2 bản. - Cán bộ phụ trách thu thuộc cơ quan BHXH có trách nhiêm kiểm tra tiền lương, mức đóng góp của từng người lao động và tổng số tiền phải nộp BHXH của toàn bộ đơn vị sử dụng lao động. Cuối mỗi quý cùng với đơn vị sử dụng lao động đối chiếu với số 62
    • đã nộp với số phải nộp BHXH, lập bản xác nhận về việc nộp BHXH trong quý. Nếu có chênh lệch giữa số đã nộp và số phải nộp thì phải nộp tiếp vào tháng đầu của quý sau (nếu có chênh lệch thiếu) hoặc coi như đã nộp trước cho tháng đầu của quý sau (nếu có chênh lệch thừa). Sau đó, cán bộ phụ trách thu tiến hành ghi sổ BHXH cho từng người lao động và xác nhận vào 2 bản danh sách đóng BHXH của đơn vi sử dụng lao động, trả lại cho đơn vị sử dụng lao động 1 bản, 1 bản lưu tại cơ quan BHXH. - Trường hợp chậm nộp BHXH hàng tháng thì số tiền nộp chậm sẽ phải nộp phạt theo lãi suất tiền gửi ngắn hạn của Ngân hàng tại thời điểm truy nộp là 0,7% tháng. - Người lao động và đơn vị sử dụng lao động cố tình không nộp BHXH theo đúng thời hạn và đủ mức theo quy định, thì cơ quan BHXH thuộc hệ thống BHXH Việt Nam có quyền từ chối việc chi trả các chế độ BHXH của tất cả người lao động thuộc đơn vị đó; đồng thời báo cáo lên cơ quan BHXH cấp trên và thông báo cho các cơ quan hữu quan để có biện pháp giải quyết. - Bộ phận Kế toán - Tài chính thuộc BHXH các tỉnh, các huyện thực hiện chuyển tiền thu BHXH lên BHXH cấp trên đúng thời hạn theo quy định tại công văn số 193 CV/LN ngày 9/9/1995 của liên ngành BHXH Việt Nam và Kho bạc Nhà nước Trung ương. - Chế độ báo cáo thu BHXH: + Đình kỳ 10 ngày 1 lần vào các ngày 5, 15 hàng tháng, cơ quan BHXH các huyện báo cáo về tình hình thu BHXH gửi về BHXH tỉnh. 63
    • Đình kỳ 10 ngày 1 lần vào các ngày 7, 17 hàng tháng, BHXH tỉnh tổng hợp số thu BHXH trên địa bàn báo cáo gửi về BHXH Việt Nam. + Chậm nhất là ngày 28 hàng thàng, BHXH các huyện tổng hợp, lập báo cáo về số thu BHXH trong tháng được xác định từ ngày 26 của tháng trước đến ngày 25 của tháng báo cáo, có xác nhận của cơ quan Kho bạc Nhà nước nơi mở tài khoản gửi về cho BHXH tỉnh. Cơ quan BHXH tỉnh, tổng hợp số thu trên toàn địa bàn trong tháng được xác nhận từ ngày 29 của tháng trước đến ngày 28 của tháng báo cáo có xác nhận của Kho bạc Nhà nước nơi mở tài khoản, gửi về cho BHXH Việt Nam chậm nhất là ngày 30 hàng tháng. Riêng tháng 12 hàng năm số liệu được xác định đến hết ngày 31/12. + Chậm nhất là ngày 5 tháng 1 năm sau BHXH huyện phải nộp báo cáo cho BHXH tỉnh về số thu BHXH năm trước có xác nhận của cơ quan Kho bạc Nhà nước huỵện. BHXH tỉnh tổng hợp báo cáo số thu BHXH trên toàn địa bàn trong năm có xác nhận của cơ quan Kho bạc Nhà nước tỉnh gửi cho BHXH Việt Nam chậm nhất là ngày 10/1 năm sau. 3. Tình hình thu nộp BHXH 3.1. Công tác thu nộp BHXH Đây là nhiệm vụ được xác định là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành và tăng trưởng quỹ BHXH. Vì vậy ngay từ khi mới thành lập, trên cơ sở những văn bản hướng dẫn hoạt động BHXH và danh sách các đơn vị sử dụng lao động nhận bàn giao từ 64
    • cơ quan Lao động – Thương binh & xã hội, Tài chính, Liên đoàn Lao động. BHXH các tỉnh, thành phố đã đã tập trung nắm tình hình hoạt động và sử dụng lao động của các đơn vị có trong danh sách được bàn giao, cũng như các đơn vị ngoài danh sách bàn giao nhưng trong diện phải tham gia BHXH theo quy định của pháp luật. Nhờ có sự cố gắng trên, toàn ngành BHXH Việt Nam đã đạt được những thành tích nhất định, khẳng định được vị trí của mình, khẳng định được sự tồn tại và phát triển thông qua các hoạt động của ngành. Đó là số thu BHXH ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước. Thể hiện: 3.1.1. Tình hình đóng BHXH của các đơn vị sử dụng lao động Theo quy định tại Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ, các cơ quan đơn vị doanh nghiệp thuộc diện đóng bắt buộc phải đóng BHXH bằng 15% tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH. Từ quý IV/1995 đến năm 2000, tổng số tiền đóng BHXH là 14.765.691 triệu đồng, số liệu cụ thể các năm như sau: - Quý IV/1995 : 296.250 triệu đồng. - Năm 1996 : 1.927.300 triệu đồng. - Năm 1997 : 2.584.208 triệu đồng. - Năm 1998 : 2.906.967 triệu đồng. - Năm 1999 : 3.139.541 triệu đồng. - Năm 2000 : 3.911.425 triệu đồng. 3.1.2. Tình hình đóng BHXH của người lao động 65
    • Từ khi BHXH Việt Nam chính thức hoạt động(tháng 10/1995) đến nay, tổng số tiền mà cơ quan BHXH đã thu được từ người lao động là 4.921.896 triệu đồng, trong đó: - Quý IV/1995 : 98.750 triệu đồng. - Năm 1996 : 642.433 triệu đồng. - Năm 1997 : 861.403 triệu đồng. - Năm 1998 : 968.989 triệu đồng. - Năm 1999 : 1.046.513 triệu đồng. - Năm 2000 : 1.303.808 triều đồng. 3.1.3. Nguồn đóng và hỗ trợ thêm từ Ngân sách Nhà nước Trong thời gian từ tháng 10/1995 đến hết tháng 12/2000, tổng số tiền hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước cho quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng nghỉ chế độ BHXH có thời gian tham gia BHXH từ năm 1995 trở về trước là 26.966.679 triệu đồng, cụ thể như sau: - Quý IV/1995 : 1.112.030 triệu đồng. - Năm 1996 : 4.387.903 triệu đồng. - Năm 1997 : 5.163.093 triệu đồng. - Năm 1998 : 5.128.425 triệu đồng. - Năm 1999 : 5.025.620 triệu đồng. - Năm 2000 : 6.159.608 triệu đồng. 66
    • Bảng 6: TÌNH HÌNH THU NỘP BHXH DO BHXH VIỆT NAM QUẢN LÝ TỪ QUÝ IV/1995 ĐẾN NĂM 2000 S T T Chỉ tiêu Đơn vị tính Quý IV/95 1996 1997 1998 1999 2000 1 Số đơn vị SDLĐ Đơn vị 18.566 30.789 34.815 49.628 59.176 61.577 2 Số LĐ tham gia BHXH - % so với năm trước Nghìn người % 2.276 - 2.821 - 3.162 112,1 3.355 106,1 3.579 106,7 3.843 107,4 3 Số thu BHXH - % so với năm trước Tỷ đồng % 395,0 - 2.569,7 - 3.445,6 134,1 3.876,0 112,5 4.186,0 108,0 5.215,2 124,6 4 Tỷ lệ thu so với chi % 34,2 54,4 59,9 65,9 70,2 70,5 5 Chênh lệch thu - chi BHXH Tỷ đồng 353,0 2.186,5 2.852,1 3.124,4 3.245,6 3.974,7 (Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Qua bảng 6 cho ta thấy, kết quả nổi bật trong công tác thu nộp BHXH từ 1/10/1995 đến năm 2000 là số lao động tham gia và số thu BHXH mỗi năm một tăng lên, năm sau cao hơn năm trước. Phân tích các chỉ tiêu cho ta thấy như sau: - Chỉ tiêu số 1 và 2 là: nếu cuối năm 1995 cả nước có 2,2 triệu lao động tham gia BHXH thì đến năm 2000 con số này đã lên tới 3,8 triệu lao động, tăng 1,6 triệu lao động (chưa kể mỗi năm có khoảng 15 vạn người nghỉ việc) và bằng khoảng 10% lực lượng lao động xã hội. Điều đó cho thấy, việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH đến các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có từ 10 lao động trở lên cùng với chính sách thu BHXH phù hợp nên số các đơn vị sử dụng lao động lẫn người lao 67
    • động tham gia BHXH đã ngày một tăng. Tuy nhiên, con số 10% lực lượng lao động tham gia BHXH so với các nước còn ở mức rất thấp, ví dụ: Malaysia : 90%, Mỹ : 95%... cùng với đó là tốc độ gia tăng số lao động tham gia BHXH hàng năm còn chậm và ở mức thấp nhưng có xu hướng tăng lên từ 6,1% năm 1998 lên 7,4% năm 2000. Qua tham khảo số liệu cho thấy, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân ngoài quốc doanh có tốc độ tăng cao nhất, cụ thể là: năm 1995 có 30.063 người, năm 1996 có 56.280 người, năm 1997 có 84.058 người, năm 1998 có 122.685 người, năm 1999 có 125.279 người và năm 2000 có 206.890 người, bình quân tăng 47,1%/năm. Tiếp đến là tốc độ tăng của lao động làm việc trong các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn vốn đầu tư nước ngoài: năm 1995 có 78.791 người, năm 1996 có 125.889 người, năm 1997 có 214.596 người, năm 1998 có 242.108 người, năm 1999 có 361.522 người và năm 2000 có 369.857 người, bình quân tăng 36,2%/năm. - Bên cạnh sự tăng lên về số lao động tham gia BHXH thì cũng chính nhờ chính sách thu BHXH phù hợp với điều kiện thu nhập và tiền lương của người lao động còn thấp mà số thu BHXH ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước được thể hiện rõ nét ở chỉ tiêu số 3. Thông qua chỉ tiêu này ta thấy, nếu năm 1996 số thu đạt 2569,7 tỷ đồng thì sau 5 năm, năm 2000 số thu đã lên tới 5215,2 tỷ đồng, tăng 103% so với năm 1996. Nếu so với năm 1994 là năm trước khi bước vào thời kỳ cải cách chính thức hệ thống BHXH ở nước ta thì các năm 1999 và năm 2000 đều có số thu tăng gấp hơn 10 lần. Tuy vậy, tỷ lệ tăng thu BHXH năm sau so với năm trước giảm dần từ 34,1% năm 1997 xuống còn 8% năm 68
    • 1999 nhưng nhanh chóng được khắc phục bằng tỷ lệ tăng thu 24,6% năm 2000 so với năm 1999. Sự sụt giảm tốc độ tăng thu BHXH giai đoạn 1997 - 1999 phải chăng là do tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực. Mặc dù vậy, thu BHXH hàng năm vẫn đạt vượt mức kế hoạch, điển hình là năm 1997 thu đạt vượt mức 24,4 % kế hoạch đặt ra. Điều đó thể hiện sự nỗ lực vượt bậc của các cán bộ, công chức ngành BHXH, sự quan tâm chỉ đạo sâu sát và kịp thời của BHXH Việt Nam và các cấp uỷ Đảng, Chính quyền từ Trung ương đến địa phương. Cũng nhờ vậy mà tình hình công nợ tuy có phát sinh nhưng ngày càng giảm, đã rút ngắn số ngày chiếm dụng tiền BHXH phải nộp của các đơn vị sử dụng lao động từ 73 ngày năm 1995 (ứng với 20,1% số nợ so với tổng số phải thu) xuống còn 38 ngày năm 2000 (ứng với 10,4% số nợ so với tổng số phải thu theo số liệu báo cáo nhanh của BHXH Việt Nam). Mục tiêu trong những năm tới là phải phấn đấu tiếp tục làm giảm số chiếm dụng này xuống mức thấp hơn nữa. - Chỉ tiêu số 4 đã khẳng định rõ hơn những kết quả đạt được trong công tác thu nộp BHXH thời gian qua, đó là tỷ lệ thu BHXH từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động so với tổng chi ngày càng tăng từ 34,2% của quý IV/1995 lên 70,5% năm 2000. Điều đó nói lên rằng, công tác thu nộp BHXH đã góp phần quan trọng vào việc hình thành được quỹ BHXH tập trung, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước, làm giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước trong việc chi trả các chế độ BHXH đồng thời tạo điều kiền cho cơ quan BHXH Việt Nam chủ động 69
    • trong việc số tiền tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng trong quỹ BHXH vào đầu tư tăng trưởng quỹ. Số tiền này được hình thành từ khoản chênh lệch thu - chi quỹ BHXH hàng năm thể hiện ở chỉ tiêu số 5 và được phản ảnh rõ nét trong đồ thị dưới đây: ĐỒ THỊ CHÊNH LỆCH THU – CHI QUỸ BHXH (từ quý IV/1995 đến năm 2000) Qua đồ thị chênh lệch thu - chi quỹ BHXH ở trên ta thấy, khoản chênh lệch này tăng lên qua các năm từ 2.186,5 tỷ đồng năm 1996 lên 3.974,7 tỷ đồng năm 2000, tăng bình quân hàng năm là 447,1 tỷ đồng. Đây là kết quả rất đáng mừng trong thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý BHXH Việt Nam, nó đã tạo cho quỹ BHXH một khoản tiền tạm thời nhàn rỗi ngày càng lớn, một phần trong đó sẽ được đem vào đầu tư sinh lời và lại tạo ra một nguồn thu mới cho quỹ BHXH. Đạt được những kết quả trên trước hết là nhờ sự cố gắng nỗ lực của công nhân viên chức toàn ngành, mà trước hết là những người trực tiếp làm công tác thu nộp, ngoài ra còn do các nguyên nhân chính sau đây: 70 353 2186.5 2852.1 3124.4 3245.6 3974.7 0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000 IV/1995 1996 1997 1998 1999 2000 Số tiền (Tỷ đồng) Năm
    • - Chỉ thị 15/CP ngày 26/5/1997 của Bộ Chính trị về tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ BHXH đã có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sự quan tâm của cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp đối với công tác BHXH, đặc biệt là công tác thu. Ở hầu hết các địa phương, việc thực hiện nghiêm túc trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động được quy định là một trong các tiêu chuẩn cơ bản để xét danh hiệu Chi bộ, Đảng bộ trong sạch vững mạnh và các hình thức khen thưởng khác. - BHXH các tỉnh, thành phố đã kết hợp công tác giải quyết chế độ, chính sách BHXH với công tác thu nộp theo nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng quyền lợi BHXH, vì vậy đã làm tăng thêm ý thức trách nhiệm của các đơn vị sử dụng lao động trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH. - Việc triển khai công tác cấp sổ BHXH nhằm ghi nhận quá trình làm việc và đóng BHXH của người lao động đã tạo được niềm tin cho người lao động, cũng thông qua công tác này BHXH các tỉnh, thành phố đã phát hiện kịp thời các trường hợp khai giảm số lao động và quỹ tiền lương của đơn vị sử dụng lao động, tạo điều kiện truy thu một số lượng lớn tiền đóng BHXH còn nợ đọng hoặc bỏ sót. - Công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra và thông tin tuyên truyền đã được chú ý đẩy mạnh góp phần nâng cao hiệu quả thu nộp và ý thức thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH của người lao động và người sử dụng lao động. Bên cạnh những kết quả đạt được của công tác thu nộp BHXH như đã nêu ở trên, trong thời gian qua vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục, cụ thể: 71
    • - Chưa có biện pháp hữu hiệu để quản lý toàn bộ số lao động phải tham gia BHXH và nguồn thu theo quy định của pháp luật. Trong thời gian qua, tuy số người đóng BHXH có tăng hàng năm nhưng so với tổng số lao động trong diện phải tham gia BHXH theo quy định mới đạt 86%, riêng số lao động làm việc trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tham gia BHXH mới đạt 40%, còn một lực lượng lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh kể cả người lao động đang làm việc trong khu vực sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa được tham gia BHXH. Kết quả thu BHXH mới chỉ đạt khoảng 90% so với tổng số phải thu, nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn còn có hiện tượng khai giảm quỹ tiền lương, số lao động tham gia BHXH và chốn nộp BHXH dưới nhiều hình thức như: chỉ ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng hoặc không ký hợp đồng lao động... Điều đó cho thấy, mạng lưới BHXH chưa vươn tới được toàn bộ số lao động trong toàn xã hội. Vì vậy trong những năm tới, nước ta cần có nhưng giải pháp để tăng nhanh số người tham gia đóng BHXH, nhằm đảm bảo quyền lợi cho mọi người lao động. - Mức thu BHXH ở nước ta còn thấp so với nhiều nước, cộng với tình trạng nợ đọng tiền BHXH vẫn còn lớn, tính đến nay số nợ đọng lên tới gần 490 tỷ đồng chiếm khoảng 10 - 11% so với tổng số phải thu. Nếu kéo dài tình trạng này sẽ làm nẩy sinh nhiều vấn đề phức tạp và khó khăn, trước hết là thiếu nguồn chi trả cho người hưởng BHXH, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của người lao động. 72
    • - Nhận thức về BHXH của mọi người dân nói chung và người lao động nói riêng còn bị hạn chế, chưa thấy rõ bản chất ưu việt của BHXH, còn có nhiều người nhầm lẫn giữa BHXH với BHTM. - Trình độ của cán bộ, công nhân viên chức trong hệ thống BHXH Việt Nam nói chung, cán bộ làm công tác thu nói riêng còn bất cập; còn hạn chế cả về chuyên môn nghiệp vụ lẫn năng lực công tác; chưa năng động, sáng tạo; còn làm việc theo lối hành chính, chưa quen với cách làm việc như hoạt động của một ngành dịch vụ; còn thiếu cán bộ nghiên cứu, đề xuất chính sách và hoạch định chiến lược phát triển lâu dài, nên chưa đáp ứng kịp với tiến trình đổi mới sự nghiệp BHXH. - Chính sách BHXH trong thời gian qua còn thiếu đồng bộ, thay đổi nhiều lần và vẫn còn một số nội dung chưa hợp lý cho nên cần được tiếp tục nghiên cứu và xây dựng thành luật BHXH để tập trung thống nhất quản lý nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả. - Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành còn nghèo nàn và thiếu thốn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý trong lĩnh vực này hiện nay chưa có, các công việc thuộc nghiệp vụ chủ yếu vẫn làm thủ công là chính, máy vi tính được trang bị còn ít, các công nghệ phần mềm đang còn trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm chưa được áp dụng rộng rãi. - Hệ thống BHXH Việt Nam chưa có mối quan hế chặt chẽ với các nước khác. Điều này làm hạn chế khả năng phát triển, thiếu thông tin, khó khăn trong việc hiện đại hoá ngành. 3.2. Công tác đầu tư tăng trưởng quỹ 73
    • Mục tiêu hoạt động của quỹ là tự cân đối thu - chi do đó quỹ BHXH luôn luôn phải có một lượng tiền tích luỹ để chi trả cho các chế độ dài hạn như: hưu trí, tử tuất, thương tật. Lượng tiền tồn tích này (lượng tiền tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng trong quỹ BHXH) được phép đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH theo quy định tại Mục 2, Điều 17 Quyết định số 20/1998/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam, như sau: - Mua trái phiếu, tín phiếu của Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại của Nhà nước. - Cho vay đối với Ngân sách Nhà nước, quỹ Hỗ trợ Đầu tư Quốc gia, các ngân hàng thương mại của Nhà nước. - Đầu tư vào một số dự án lớn và doanh nghiệp lớn của Nhà nước có nhu cầu về vốn được Chính phủ cho phép và bảo trợ. Thực hiện Quyết định số 20/1998/QĐ-TTg ngày 26/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ, BHXH Việt Nam về tiến hành các hoạt động đầu tư tăng trưởng. Tính đến ngày 31/12/1999, BHXH Việt Nam đã cho vay được 10.628.002 triệu đồng. Cụ thể như sau: Bảng 7: TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ CỦA QUỸ BHXH (tính đến 31/12/1999) STT Đơn vị vay Số tiền (triệu đồng) Cơ cấu đầu tư (%) 1 Ngân sách Nhà nước 1.087.636 10,2 2 Quỹ Hỗ trợ Đầu tư Quốc gia 4.200.000 39,5 3 Ngân hàng đầu tư 2.000.000 18,8 4 Các ngân hàng thương mại 2.425.000 22,8 74
    • 5 Mua tín phiếu, trái phiếu 915.366 8,7 Cộng 10.628.002 100,0 (Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam) Qua bảng số liệu số 7 ta thấy, trong cơ cấu đầu tư vào các lĩnh vực, đơn vị thì đầu tư vào Quỹ Hỗ trợ Đầu tư Quốc gia chiếm tỷ trọng lớn nhất bằng 39,5% so với tổng số tiền đầu tư. Và phần lớn các dự án đầu tư tiền nhàn rỗi của quỹ BHXH đều theo sự chỉ định của Thủ tướng Chính phủ, kể cả tổng mức đầu tư, lãi suất, thời hạn vay... Vì vậy, mức lãi suất thực hiên thấp, bình quân chỉ 6- 7%/ năm, có năm thấp hơn cả tỷ lệ trượt giá (năm 1998 trượt giá 9,2%/ năm). Tổng số tiền lãi thu được tính đến hết năm 1999 là: 1.351.488 triệu đồng. Với kết quả này, quỹ BHXH đã có tác dụng tích cực góp phần vào việc phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước. Về sử dụng lãi đầu tư: Quyết định số 20/1998/QĐ-TTg ngày 26/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ tiền sinh lời do hoạt động đầu tư quỹ BHXH được phân bổ như sau: - Được trích 50% trong 5 năm để bổ xung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của toàn hệ thống BHXH. - Trích 2 quỹ khen thưởng và phúc lợi bằng 3 tháng lương thực tế toàn ngành. - Phần còn lại bổ xung vào quỹ BHXH để bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, BHXH Việt Nam đã sử dụng tiền sinh lời do đầu tư tăng trưởng đúng mục đích là xây dưng cơ sở vật chất của toàn ngành và trích lập quỹ phúc 75
    • lợi, quỹ khen thưởng. Ngoài các khoản chi trên, phần còn lại của lợi nhuận đầu tư được nộp vào quỹ BHXH. Bên cạnh những kết quả đã đạt được của công tác đầu tư tăng trưởng quỹ, trong thời gian qua cũng còn một số vấn đề tồn tại: - Lãi suất đầu tư chưa hình thành và vận động theo quy luật lãi suất của thị trường. Hầu hết lãi suất được hình thành theo sự chỉ định của Chính phủ và thường là lãi suất thấp. Theo em để đảm bảo việc đầu tư tăng trưởng quỹ có hiệu quả, vấn để đầu tư quỹ nên phân ra 2 lĩnh vực như sau: + Nếu cho Ngân sách Nhà nước hoặc Quỹ Hỗ trợ Đầu tư Quốc gia vay theo sự chỉ định của Chính phủ thì có thể thực hiện lãi suất thấp, ưu đãi dưới mức cho vay trên thị trường. Vì Ngân sách Nhà nước hoặc Quỹ Hỗ trợ Đầu tư Quốc gia vay không phải là để kinh doanh, mà để đầu tư vào các dự án phát triển kinh tế quốc dân, hoặc chi tiêu cho mục đích của Chính phủ. + Nếu cho các ngân hàng thương mại vay thì phải theo lãi suất thị trường. Vì các ngân hàng thương mại vay là để kinh doanh lấy lãi. Lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại theo thị trường, trong khi đó lãi suất đi vay của quỹ BHXH lại theo lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất đi vay trên thị trường. Khoản lợi nhuận siêu ngạch đó các ngân hàng thương mại được hưởng, gây thiệt hại đến quỹ BHXH của người lao động. - Việc phân bổ vốn đầu tư vào các dự án cũng không theo yêu cầu của quy luật cung cầu về vốn trên thị trường. Lẽ ra, theo yêu cầu của của quy luật vận động về vốn trên thị trường thì vốn phải vận động từ nơi thừa (quỹ BHXH) đến các nơi thiếu vốn, cần vốn để sản xuất kinh doanh. Nhưng trong các năm qua, vốn đầu tư của 76
    • quỹ BHXH phần lớn lại theo sự chỉ đạo của Chính phủ. Nhiều lĩnh vực đầu tư đang có lợi nhuận cao, khả năng rút vốn thuận lợi thì quỹ lại không được đầu tư. Bản thân các ngân hàng thương mại biết là có biểu hiện đọng vốn, song vì lãi suất vay quá thấp nên vẫn cứ vay của quỹ BHXH, gây nên tình trạng thiếu vốn giả tạo trên thị trường. 4. Đánh giá chung Trên đây là tình hình thu nộp BHXH từ quý IV/1995 - 2000 của BHXH các tỉnh, thành phố và toàn ngành đã đạt được trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Những kết quả trên tuy chưa nhiều nhưng có một ý nghĩa hết sức quan trọng, nó đã chứng minh và khẳng định được việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH theo cơ chế mới, việc tập trung thống nhất cơ quan BHXH vào một đầu mối, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với điều kiện của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Cho nên đã bước đầu hướng hoạt động sự nghiệp BHXH Việt Nam dần dần phù hợp với bản chất của nó trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đồng thời, nó cũng thể hiện được sự đúng đắn trong tư duy đổi mới và bản chất nhân văn, xuyên suốt mọi chính sách, chế độ BHXH của Đảng và Nhà nước ta tất cả là vì con người, vì người lao động nhằm đảm bảo công bằng và an sinh xã hội. Vì vậy, đã thực sự phát huy được tác dụng và đi vào cuộc sống. Để làm tốt hơn nữa những chính sách BHXH theo Chủ trương, Đường lối cả Đảng và Nhà nước đã vạch ra, nhằm đem việc thực hiên các chế độ BHXH đến với mọi người lao động, cần thiết phải có những định hướng chiến lược cũng như các giải pháp 77
    • phù hợp cho từng giai đoạn, từng thời kỳ để khắc phục những tồn tại hạn chế, phát huy những ưu điểm đạt được trong công tác BHXH những năm tới. PHẦN THỨ BA MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU NỘP VÀ QUẢN LÝ QUỸ BHXH I. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN 1. Bài học kinh nghiệm 1.1. Từ hoạt động BHXH của các nước trên thế giới Qua kinh nghiệm của các nước trên thế giới có hoạt động bảo hiểm xã hội phát triển, cũng như ở các nước mà các chính sách về bảo hiểm xã hội được thực hiện tốt chúng ta có thể học hỏi được ở một số vấn đề sau: - Việc xây dựng mô hình bảo hiểm xã hội phải phù hợp với các điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia mình. Hoạt động BHXH có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào độ chặt chẽ và tính hiệu quả của các cơ chế và chính sách và biện pháp thu BHXH.Cũng có thể dễ dàng nhận ra một thực tế đó là trong bất kỳ thể chế kinh tế xã hội nào thì hoạt động BHXH vẫn phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước ở các mức độ khác nhau, vấn đề là phụ thuộc 78
    • ít hay nhiều, điều này còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thực tế ở mỗi giai đoạn phát triển của quốc gia. - Qua kinh nghiệm một số nước phát triển cho thấy việc đề ra các chính sách BHXH phải dựa trên nguyên tắc bắt buộc, để có thể thu hút được ngày càng nhiều hơn các đối tượng tham gia BHXH, vấn đề này ngày càng trở nên quan trọng bởi sự an toàn của quỹ BHXH. Việc chi trả các chế độ BHXH căn cứ vào mức độ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động và đặc biệt là phụ thuộc vào mức lương của người lao động dùng làm căn cứ đóng BHXH trước khi về hưu. - Qua kinh nghiệm của Thuỵ Điển trong việc sử dụng các nguồn thu thuế từ lương của người lao động và chủ sử dụng lao động cho mục đích phúc lợi xã hội, đối với tất cả các công dân sống và làm việc tại Thuỵ Điển và công dân Thuỵ Điển làm việc ở nước ngoài nhưng có đóng thuế cho Chính phủ. Với cơ chế đóng góp như vậy chính phủ Thuỵ Điển cho rằng không cần thiết có một tổ chức riêng biệt để quản lý quỹ BHXH, việc thực hiện chi BHXH mang tính bao cấp với mục đích điều tiết thu nhập cá nhân đảm bảo sự công bằng xã hội, và vì vậy những người được hưởng các chế độ BHXH đều nhận được các khoản phúc lợi xã hội vượt quá mức đóng góp của mình. Mô hình xây dựng hệ thống BHXH theo kiểu Thuỵ Điển chỉ phù hợp với điều kiện của nền kinh tế phát triển, những nước có mức phúc lợi xã hội cao. Trước đây, chúng ta đã xây dựng mô hình BHXH gần tương tự như mô hình của Thuỵ Điển, tuy vậy nó đã tỏ ra không phù hợp với điều kiện hoàn cảnh kinh tế của Việt Nam bởi sự bao cấp quá lớn của ngân sách Nhà nước và bởi mức độ phát triển thấp của nền kinh tế. 79
    • Như vậy, việc xây dựng mô hình BHXH phải phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam trong từng thời kỳ, ngoài ra trong điều kiện đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì việc tăng cường khả năng đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động để có thể giảm nhẹ sự phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước là một trong những hướng chính trong xây dựng và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH ở Việt Nam hiện nay. 1.2. Từ hoạt động BHXH thực tiễn trong nước Thứ nhất: nắm chắc chủ trương chính sách BHXH của Đảng, Nhà nước và quy định quản lý của ngành để tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự phối hợp giúp đỡ của các ngành liên quan, đặc biệt gắn kết chặt chẽ mối quan hệ ba bên: người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan BHXH tạo sự phối hợp đồng bộ, kịp thời trong việc tổ chức thu nộp và giải quyết các chế độ BHXH. Thứ hai: Thực hiện đúng điều lệ BHXH cùng với các văn bản quy định quản lý thu, chi BHXH của BHXH Việt Nam và các Bộ, ngành trung ương. Tổ chức xét duyệt và chi trả các chế độ BHXH kịp thời, đầy đủ, tận tay đối tượng được hưởng, thực sự là chỗ dựa tin cậy của người lao động khi tham gia BHXH. Thứ ba: Tăng cường phối hợp với các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành chức năng trong việc kiểm tra xử phạt những trường hợp vi phạm Bộ luật lao động về BHXH, kiến nghị với các cấp có thẩm quyền có biện pháp ràng buộc đối với các đơn vị sử dụng lao động cố tình né tránh không tham gia BHXH, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. 80
    • Thứ tư: Xét duyệt và thực hiện đúng chế độ chính sách BHXH, tạo sự công bằng giữa những người tham gia BHXH, đảm bảo có đóng BHXH thì được hưởng thụ, không gây phiền hà cho người sử dụng lao động và người lao động, đồng thời tăng cường kiểm tra không để tiêu cực xảy ra làm thất thoát ngân quỹ. Thứ năm: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng chế độ chính sách BHXH đến với người lao động để mọi người hiểu: tham gia BHXH là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi mang tính xã hội nhân đạo sâu sắc. Chính sách BHXH rất đa dạng, phong phú và phức tạp, vì vậy cần nghiên cứu để xem xét, giải quyết những kiến nghị, thắc mắc của đối tượng một cách thoả đáng về chế độ và quyền lợi BHXH, vừa đảm bảo đúng chính sách, vừa đảm bảo quyền lợi của người được hưởng đúng với sự cống hiến của họ, trách quan liêu cửa quyền, sách nhiễu trong việc giải quyết chính sách BHXH. Thứ sáu: Giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ ngành là yếu tố quyết định thắng lợi cho mọi hoạt động; đề cao trách nhiệm và tinh thần phục vụ của ngành, kiện toàn tổ chức, sắp xếp phân công cán bộ hợp lý; chú trọng công tác đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức có đủ phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chăm lo đời sống của cán bộ, viên chức thật sự ổn định, yên tâm công tác, gắn bó với ngành; đẩy mạnh các phong trào thi đua, thực sự tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ việc hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trên giao. 2. Những định hướng cơ bản Trong thời gian tới, BHXH Việt Nam cần được phát triển theo những định hướng sau: 81
    • - Tiếp tục xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống pháp luật về BHXH. Trước mắt cần xúc tiến ngay việc xây dựng Luật BHXH để tiến tới quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này bằng pháp luật. - Mở rộng đối tượng tham gia BHXH tới mọi người lao động, dù họ tham gia lao động trong bất cứ ngành nghề nào, thuộc thành phần kinh tế nào,miễn là họ tham gia đóng góp đầy đủ vào quỹ BHXH như luật định. - Thực hiện đầy đủ các hình thức BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện để khuyến khích những người giầu có tích cực tham gia BHXH, thực hiện một bước phân phối lại thu nhập trong cộng đồng, góp phần đảm bảo công bằng xx hội và an sinh xã hội. - Bộ máy quản lý cần tinh giảm, gọn nhẹ, đa chức năng trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ và quy chế làm việc cụ thể. - Cán bộ, công nhân viên chức của ngành cần được đào tạo và đào tạo lại một cách cơ bản và hệ thống cả về chuyên môn nghiệp vụ, lẫn nhận thức tư tưởng, đạo đức, thấm nhầm sâu sắc quan điểm phục vụ người lao động. Làm tốt công tác cán bộ từ khâu đào tạo, tuyển dụng, sử dụng đến khâu đãi ngộ để phát huy hết năng lực, sở trường của họ. - Áp dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý Nhà nước, đặc biệt là trong quản lý nghiệp vụ sự nghiệp BHXH như quản lý các đối tượng tham gia BHXH, quản lý thu – chi BHXH, quản lý tài chính, thống kê, kế toán BHXH... - Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ cho ngành, đảm bảo nganh tầm thời đại và hoà nhập vào cộng đồng quốc tế. 82
    • - Thực hiện tốt các biện pháp bảo toàn và đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH. - Mở rộng mối quan hệ mật thiết giữa BHXH Việt Nam với các cơ quan hữu quan, với các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, Đoàn thể từ Trung ương đến địa phương. Tăng cường và mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa BHXH Việt Nam với các tổ chức BHXH, An sinh xã hội quốc tế, trước mắt là hội nhập vào các nước trong khu vực. - Tăng cường quyền lực Nhà nước và các chế tài pháp lý cho BHXH Việt Nam trong việc quản lý Nhà nước về BHXH. Đồng thời làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra của Nhà nước về BHXH. III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU NỘP QUỸ BHXH 3.1. Tăng cường công tác quản lý thu nộp BHXH. Kiểm soát chặt chẽ thu, chi BHXH là hết sức cần thiết. Do đó công tác thu phải được hoàn chỉnh từng bước bằng việc theo dõi danh sách đối tượng tham gia đóng BHXH, biến động của đối tượng và mức đóng góp. Cần tiếp tục nghiên cứu, cải tiến phương pháp quản lý thu với các biện pháp đồng bộ nhằm thu đúng, thu đủ và kịp thời tiền đóng bảo hiểm xã hội của người lao động, các đơn vị sử dụng lao động theo đúng pháp luật, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Chỉ có như vậy mới thúc đẩy và cải thiện được tình hình thu BHXH, đáp ứng nhu cầu về BHXH của người lao động trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay. Trên cơ sở thực hiện đổi mới sự chỉ đạo điều hành nền kinh tế - xã hội của chính phủ BHXH Việt Nam cũng cần phải đổi mới sự chỉ đạo, điều hành thì mới đạt được kết quả như mong muốn. Sự đổi mới ở đây chính là sự phân công, phân cấp rõ về chức năng, 83
    • nhiệm vụ giữa cơ quan BHXH ở trung ương và BHXH các tỉnh, thành phố nhằm nâng cao trách nhiệm, chiến lược quản lý và phục vụ ngày càng tốt hơn nhưng vẫn đảm bảo thống nhất về hướng dẫn chính sách, chế độ BHXH của Nhà nước và sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cơ quan BHXH Việt Nam. Trong những năm tới, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quản lý chặt chẽ và không ngừng nâng cao quỹ BHXH; tập trung thu ngoài quốc doanh theo quy định của Bộ luật lao động, kiện toàn bộ máy: sắp xếp, bố trí, sử dụng hợp lý nhân sự, đào tạo và đào tạo lại, hoàn chỉnh cải cách thủ tục hành chính; ứng dụng tin học vào công tác quản lý BHXH, tăng cường công tác thi đua, thanh tra và kiểm tra, tham gia vào phát triển kinh tế; bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Về lâu dài, quỹ BHXH nên được quản lý theo dõi riêng theo từng loại tương ứng với từng chế độ BHXH, kể cả phần tích luỹ từ mỗi quỹ, không sử dụng lẫn lộn quỹ này để bù đắp sự thiếu hụt của quỹ khác. Sở dĩ làm như vậy là nhằm để dễ dàng cho việc theo dõi, phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của từng quỹ mà vẫn đảm bảo sự thống nhất quản lý của cơ quan BHXH Việt Nam. 3.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm xã hội. Xuất phát từ phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới, vấn đề hoàn thành hệ thống pháp luật về BHXH là rất cần thiết tuy nhiên cần thực hiện từng bước cụ thể: - Để có thể có được một hệ thống pháp luật về BHXH đầy đủ và đồng bộ thì trước hết là phải sắp xếp, rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp quy về hoạt động BHXH trước đây và hiện hành với 84
    • mục đích loại bỏ hoặc điều chỉnh bổ sung cho phù hợp với nhu cầu quản lý trong điều kiện nền kinh tế thị trường. - Nâng cao khả năng thực thi của các văn bản pháp lý trong lĩnh vực BHXH. Muốn thực hiện được những điều này, ngoài sự đóng góp xây dựng và hoàn thiện của các chuyên gia, cán bộ có kinh nghiệm trong và ngoài ngành thì việc học tập kinh nghiệm xây dựng khung pháp lý trong các văn bản quy định về BHXH của các nước khác cũng là việc nên làm. - Các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực BHXH cần khẩn trương soạn thảo Luật BHXH để có thể tình quốc hội trong thời gian sớm nhất và đưa luật vào áp dụng điều chỉnh, hướng các hoạt động BHXH đi theo đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. 3.3. Công tác thông tin tuyên truyền về BHXH. Việc tuyên truyền, giải thích nhằm nâng cao nhận thức về BHXH của người lao động và chủ sử dụng lao động có ý nghĩa hết sức quan trọng và cấp bách trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế thực hiện chế độ, chính sách BHXH hiện nay. Đây không chỉ là công việc của ngành BHXH mà là nhiệm vụ chung của nhiều ngành, nhiều cấp, của toàn xã hội. Nó bao gồm những nội dung sau: - Trước hết, đó là việc phải xác định rõ nội dung tuyên truyền. Phải tuyên truyền, giải thích về bản chất, nội dung của chính sách BHXH. Từ đó, người lao động hiểu được bản chất nhân văn, nhân đạo của BHXH, họ có thể phân biệt rõ hơn sự khác nhau giữa BHXH và các loại hình BHTM khác. 85
    • - Mặt khác, cũng phải tuyên truyền và giới thiệu cho họ về nội dung các chế độ BHXH mà người lao động tham gia BHXH được hưởng. Đặc biệt cần phải nhấn mạnh nội dung "tham gia BHXH vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của người lao động". Ngoài ra việc giải đáp những vướng mắc của người lao động trong quá trình thực hiện các chế độ BHXH, việc phản ánh tâm tư, nguyện vọng, các kiến nghị bổ sung sửa đổi những bất hợp lý về chế độ BHXH cũng hết sức cần thiết và bổ ích. Những nội dung nói trên cần phải được thể hiện bằng nhiều hình thức, phương pháp phù hợp thì mới đạt được hiệu quả cao. Như chúng ta biết, đối tượng tuyên truyền về BHXH là người lao động và chủ sử dụng lao động nên phải sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền khác nhau mới có thể phù hợp với nhận thức tâm lý và trình độ của họ. Đối với người lao động nên sử dụng nhiều hình thức trực quan sinh động như truyền hình, tạp chí BHXH, sách hỏi đáp về BHXH, tờ gấp giới thiệu về BHXH, các loại ấn phẩm tuyên truyền... Đặc biệt, các nội dung tuyên truyền cần được biên tập cô đọng, dễ hiểu, hấp dẫn. Các ấn phẩm tuyên truyền cần được phổ cập một cách rộng rãi đến tận người lao động và đơn vị sử dụng lao động dưới dạng tặng phẩm tuyên truyền, cần có các biện pháp tăng cường phát hành tạp chí BHXH đến tận cơ sở nhằm góp phần nâng cao nhận thức của người lao động và chủ sử dụng lao động về BHXH. Nhìn chung, việc nhận thức đúng đắn của người lao động và chủ sử dụng lao động về ý nghĩa, tầm quan trọng của BHXH đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền về BHXH cả về bề rộng lẫn chiều sâu của hoạt động này. Nó đòi hỏi 86
    • sự phối hợp đồng bộ có hiệu quả trong công tác tuyên truyền về BHXH giữa BHXH Việt Nam với các cơ quan thông tin đại chúng, hệ thống tổ chức công đoàn và các cơ quan có liên quan trong xã hội. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể đạt được hiệu quả như mong muốn. 3.4. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hiện đại hoá hoạt động ngành BHXH. Việt Nam trên bước đường thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước cần nhanh chóng tích cực đổi mới hiện đại hoá mọi mặt công tác trong đó đặc biệt đáng quan tâm là công tác đào tạo nguồn nhân lực. Đối với ngành BHXH, trong thời gian tới cần cải tiến và đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực theo các hướng sau: - Phương châm trong công tác cán bộ là giảm nhẹ về số lượng nhưng nâng cao về chiến lược để làm việc có hiệu quả hơn đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ khi số lượng đối tượng BHXH tăng lên nhiều. Và để theo kịp được sự phát triển chung của toàn xã hội, ngoài các phương tiện hiện đại, các phương pháp quản lý tiên tiến cần được áp dụng đồng bộ thì ngoại ngữ, tin học cũng là việc cần thiết cho mỗi cán bộ công chức nhằm làm chủ các phương tiện và mở cửa "kho tàng tri thức" của nhân loại nói chung, về BHXH nói riêng. Do đó trên bước đường hiện đại hoá, công tác đào tạo bổ sung, đào tạo nâng cao chắc chắn sẽ có vai trò ngày càng cần thiết. Đặc biệt là đào tạo các chuyên gia giỏi về tin học, nhất là về phần mềm; các chuyên gia về chính sách BHXH; các chuyên gia về pháp lý; các chuyên gia về tính toán BHXH; các cán bộ kiểm tra. Từ đó nhằm nâng cao trình độ cả về chuyên môn và chính trị 87
    • cho cán bộ đảng viên; rèn luyện phẩm chất đạo đức người công chức để mỗi cán bộ, đảng viên thực sự yêu ngành, yêu nghề, có trách nhiệm với công việc được giao và vì sự nghiệp chung của BHXH. - Công tác tuyển dụng cán bộ cần xem xét đến trình độ, học vấn và đặc biệt là những kiến thức đó phải phù hợp với công tác được giao. Ngoài ra, để có thể thu hút những người có phẩm chất đạo đức tốt và năng lực chuyên môn giỏi giúp họ yên tâm công tác thì BHXH cũng nên kiến nghị với Nhà nước có những chế độ đãi ngộ và sự hỗ trợ giáo dục đào tạo thoả đáng hơn. 3.5. Mở rộng đối tượng tham gia và phạm vi BHXH. Bảo hiểm xã hội là một hoạt động sự nghiệp, không mang tính kinh doanh như các loại hình bảo hiểm khác. Vì vậy, việc mở rộng đối tượng tham gia và phạm vi BHXH là một chủ trương mang tính xã hội cao và nhân đạo sâu sắc của Nhà nước ta. Nó bao gồm những vấn đề sau: - Mục tiêu lâu dài của BHXH là mọi người đều được tham gia BHXH nhằm thực hiện bình đẳng xã hội giữa các thành phần kinh tế. Trước mắt, có thể thực hiện BHXH cho lao động trong các doanh nghiệp có dưới 10 lao động, bỏ quy định doanh nghiệp từ 10 lao động trở lên và hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên mới tham gia BHXH bắt buộc, mà quy định doanh nghiệp có thuê mướn lao động và người lao động được trả lương ổn định thì phải tham gia BHXH, từng bước mở rộng diện áp dụng cho lao động tiểu, thủ công nghiệp, lao động trong nông nghiệp và nông thôn, lao động phi kết cấu ... theo các loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện. 88
    • - Để cùng với Đảng, Nhà nước và nhân dân thực hiện có hiệu quả chính sách BHXH, thiết nghĩ ngành BHXH cần sớm ban hành luật BHXH Việt Nam với những điều khoản áp dụng chung cho tất cả các đối tượng lao động, nhanh chóng xây dựng một cơ chế gọn nhẹ thông thoáng, thuận tiện để người lao động làm việc ở mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực, mọi tổ chức đều được tham gia BHXH. Đồng thời từng bước hoàn thiện và bổ sung các chế độ BHXH, đa dạng hóa các hình thức và loại hình tham gia bảo hiểm xã hội. Đặc biệt là việc xác định tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ, tuổi nghỉ hưu giữa các loại lao động có ngành nghề khác nhau, trong đó cần nghiên cứu tuổi nghỉ hưu của lao động "chất xám" của các nhà quản lý và việc nghiên cứu triển khai 2 chế độ BHXH hưu trí, tử tuất cho người lao động ở khu vực nông thôn, chế độ BHXH thất nghiệp cho người lao động trong thời gian tạm thời mất việc nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho họ. 3.6. Nâng cao hiệu quả đầu tư nguồn quỹ nhàn rỗi. Quỹ BHXH hoạt động theo nguyên tắc thu trước - chi sau, nên phải có trách nhiệm bảo đảm an toàn và phát triển quỹ trong một cơ chế luật pháp ít rủi ro nhất. Với tư cách là quỹ của người lao động, quỹ tài chính tập trung, một tổ chức tài chính vô vị lợi, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nguồn vốn của quỹ cần được hoà vào dòng chảy của ngân sách Quốc gia, tham gia tích cực có chọn lọc vào thị trường tài chính: - Trước hết, cần tạo lập những quy định mang tính pháp lý và cơ chế tài chính để ngân quỹ của BHXH có thể tham gia đầu tư tài chính theo phương thức an toàn, ít rủi ro nhất và trong thị trường có sự bảo đảm, đặc biệt là việc duy trì và kiềm chế lạm phát ở 89
    • mức thấp nhằm tránh hiện tượng số tiền đầu tư từ ngân quỹ nhàn rỗi lại nhận được mức lãi suất thấp hơn mức lạm phát hàng năm. Cần phân biệt đầu tư tài chính của BHXH với đầu tư tài chính của BHTM, lợi nhuận thu được từ đầu tư ngân quỹ BHXH hoàn toàn không mang tính lợi nhuận thương mại và được dùng để bảo tồn, phát triển quỹ, không phải là đối tượng chịu thuế. BHXH có thể mua bảo hiểm để bảo hiểm, bù đắp và chia sẽ rủi ro trong đầu tư tài chính. - Thứ hai, cần tính toán một cách có căn cứ khoa học số ngân quỹ tối đa có thể dùng để đầu tư tài chính, thời hạn cần thiết và an toàn cho đầu tư. Cơ quan BHXH nên có những kiến nghị với chính phủ trong việc mở rộng các lĩnh vực đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả. Có thể xem xét tới việc cho một số Bộ, ngành, hoặc tổng công ty lớn trực tiếp vay vốn để thực hiện vào các dự án, phát triển cơ sở hạ tầng xây dựng bởi các nhu cầu này sẽ không ngừng tăng lên trong những năm tới và khả năng thu hồi vốn, có lãi là tương đối cao. Tuy vậy, đối với mỗi dự án luôn cần có sự thẩm định kỹ lưỡng về đơn vị được vay vốn và khả năng thu hồi vốn của dự án. Đối với mỗi quyết định cho vay như vậy sẽ được trình Chính phủ trước khi thực hiện. Còn phần dư của ngân quỹ cần đảm bảo khả năng chi trả cho toàn hệ thống trong mọi thời điểm với mức độ cao nhất. Đây là việc làm khó, nhưng hoàn toàn có thể làm được và phải tính toán thận trọng bằng phương pháp nghiệp vụ và thống kê kinh nghiệm 3.7. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động là một trong những mục tiêu hàng đầu, và đa dạng được các nhà quản lý 90
    • quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý nghiệp vụ BHXH không chỉ có lợi ích giảm chi phí, mà còn giúp thống nhất cách nhìn của nhiều người, nhiều đơn vị, dưới cùng một tiêu chuẩn thống nhất. Tạo ra phong cách làm việc khoa học và hiệu quả, xây dựng các nguyên tắc bảo mật an toàn, có sự kiểm tra và tính toán khoa học khi lưu trữ, xây dựng được sự tin cậy đối với các đối tượng tham gia quan hệ BHXH... từ đó nâng cao chiến lược phục vụ. Để ngày càng ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào nghiệp vụ quản lý BHXH, cần quan tâm đến một số vấn đề sau: - Coi trọng hơn nữa quan hệ giữa các yếu tố cần thống nhất trong nghiệp vụ thu - chi, kế toán, chế độ chính sách. Từ đó cùng với những đổi mới về kỹ thuật, công nghệ, xây dựng được hệ thống xử lý số liệu BHXH có chiến lược, hiệu quả. Muốn vậy, phải có sự phối hợp đồng bộ từ trung ương đến địa phương, giữa các cơ quan BHXH tỉnh, thành phố với nhau. - Để có một mạng máy tính mạnh cho hệ thống BHXH, chúng ta phải mạnh dạn ứng dụng kỹ thuật hiện đại bằng việc quan tâm đầu tư trang bị máy móc, thiết bị hiện đại cho toàn hệ thống, đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu. Điều quan trọng và cần làm trước hết là xây dựng cho được hệ thống các tiêu chuẩn trong các nghiệp vụ BHXH. Chẳng hạn: chuẩn hoá các mã quản lý, danh mục các báo biểu, các chỉ tiêu thống kê và phương pháp tính. - Ngoài ra, còn phải đầu tư cho các phần mềm đáp ứng nhu cầu tự động hoá có khả năng thích ứng với sự thay đổi về chế độ chính sách. Trong tương lai gần, hệ thống thông tin BHXH Việt Nam cần được nối mạng toàn ngành, rút ngắn khoảng cách về 91
    • trình độ phát triển với các ngành nghề khác. Đồng thời thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, nâng cao chiến lược hoạt động BHXH, góp phần đưa ngành BHXH Việt Nam lên một tầm cao mới 3.8. Hợp tác trong nước và quốc tế về BHXH Với đặc thù là hoạt động mang tính xã hội và nhân đạo nên việc hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế là hoạt động hết sức cần thiết đối với cơ quan bảo hiểm xã hội. Trong điều kiện mới được thành lập của BHXH Việt Nam, cộng với sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước còn lớn cho quỹ BHXH, chính vì vậy cần tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế và đẩy mạnh hơn nữa hợp tác với các cơ quan, đoàn thể trong nước tạo điều kiện cho thực hiện các hoạt động BHXH tốt hơn. Đẩy mạnh hơn nữa quan hệ với các tổ chức BHXH, lao động quốc tế với mục đích trao đổi, đào tạo cán bộ, chuyên gia để nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm về công tác BHXH. 92
    • KẾT LUẬN Trong bối cảnh đất nước đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá như hiện nay thì vấn đề người lao động và các chế độ chính sách đối với người lao động ngày càng trở lên quan trọng bởi nó không chỉ có ý nghía về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội sâu sắc. Hơn thế nữa, sự mở ra của nhiều thành phần kinh tế đã và đang gây không ít khó khăn cho các nhà quản lý vĩ mô trong việc chăm lo cuộc sống và điều kiện làm việc của người lao động. Để có thể giải quyết tốt vấn đề này, trong những năm vừa quan Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quan tâm cho công tác BHXH. Từ đó giúp người lao động yên tâm hơn trong công tác. Qua 5 năm từ khi chính thức đi vào hoạt động, những kết quả ban đầu mà BHXH Việt Nam đã làm được là rất đáng trân trọng, góp phần giúp chính phủ giải quyết tốt các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác BHXH cho người lao động. Trong thời gian hoạt động vừa qua, BHXH Việt Nam đã chứng tỏ vai trò quan trọng trong việc góp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, tạo nguồn vốn khá lớn để đầu tư tăng trưởng và phát triển kinh tế. Ngoài ra, từ khi thực hiện cơ chế mới trong thu chi BHXH cũng đã tạo ra một thói quen và nhận thức mới tốt hơn, toàn diện hơn cho người lao động và người sử dụng lao động về BHXH. BHXH Việt Nam luôn được sự quan tâm chỉ đạo của chính phủ và các cơ quan Nhà nước có liên quan nhưng vẫn không tránh khỏi những khó khăn và hạn chế. Những khó khăn trong công tác BHXH có nguyên nhân từ phía người lao động, người sử dụng lao 93
    • động và cả nguyên nhân chủ quan từ phía BHXH Việt Nam. Đó là sự thiết hụt trong nhận thức của khá nhiều người lao động đặc biệt là trong các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, điều này dẫn đến nhiều thiếu hụt cho người lao động khi có rủi ro xảy ra. Bên cạnh đó, nhiều chủ doanh nghiệp không thực sự tuân thủ các quy định trong thực hiện nghĩa vụ về BHXH cho người lao động mà họ sử dụng vì vậy càng làm tăng khó khăn cho quỹ BHXH. Ngoài ra, các cơ chế và quy định cho đầu tư quỹ BHXH chưa thực sự thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho BHXH có thể thực hiện tốt nhiệm vụ bảo toàn và phát triển nguồn quỹ. Tuy có những khó khăn và hạn chế như vậy trong công tác BHXH nhưng có thể khẳng định thuận lợi là cơ bản và nếu có sự hỗ trợ hơn nữa của Chính phủ, các bộ ngành và đặc biệt là sự nỗ lực của bản thân BHXH Việt Nam thì trong thời gian tới chúng ta tin tưởng các chính sách chế độ về BHXH cho người lao động sẽ được thực hiện tốt hơn đáp ứng lòng mong mỏi và trông đợi của hàng triệu người lao động Việt Nam sống trên mọi miền đất nước. Từ đó góp phần tích cực, tạo điều kiện tăng thu cho quỹ BHXH Việt Nam. Hơn thế nữa, việc làm tốt công tác BHXH cũng là sự khẳng định trong tương lai không xa chúng ta có thể bắt kịp các quốc gia khác trên thế giới không chỉ bằng thành tự kinh tế mà còn bằng những giá trị đạo đức trong bảo vệ và tôn trọng quyền lơị của người lao động, một trong những ưu việt của chế độ XHCN mà chúng ta đang quyết tâm xây dựng. Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Kinh tế bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cảm 94
    • ơn thầy giáo Nguyễn Văn Định - Tiến sĩ, chủ nhiệm Bộ môn Kinh tế bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân và các cán bộ nhân viên Trung tâm thư viện - trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đề án này. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân ; NXB Thống kê - Hà Nội - 2000 - 2. Giáo trình Quản trị kinh doanh bảo hiểm - trường Đại học Kinh tế Quốc dân; NXB Giáo dục - 1998 3. Giáo trình Thống kê bảo hiểm trường Đại học Kinh tế Quốc dân; NXB Thống kê - Hà Nội 1996 - 4. Sách Hỏi - Đáp về BHXH; NXB Lao động - xã hội - 1999 5. Hệ thống các văn bản pháp quy về BHXH - BHXH Việt Nam. 6. Tạp chí BHXH - số 1, 4 năm 1999 và các số năm 2000 95
    • MỤC LỤC L I M UỜ Ở ĐẦ ..........................1 PH N TH NH TẦ Ứ Ấ .......................................................................3 KHÁI QUÁT CHUNG V BHXH VÀ QU BHXHỀ Ỹ ...................3 I. TÍNH T T Y U KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH VÀ PHÁTẤ Ế TRI N BHXHỂ ...............................................................................3 1. S t n t i khách quan c a BHXHự ồ ạ ủ ....................................3 4. Ch c năng c a BHXHứ ủ .....................................................13 6. Nh ng quan đi m c b n v BHXHữ ể ơ ả ề ..............................16 III. QU BHXHỸ .......................................................................20 I. GIAI ĐO N TR C 1/10/1995Ạ ƯỚ ..........................................34 II. GIAI ĐO N T 1/10/1995 - Đ N NAYẠ Ừ Ế ...........................54 96