Your SlideShare is downloading. ×
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Buddhism and sustainable development
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×
Saving this for later? Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime – even offline.
Text the download link to your phone
Standard text messaging rates apply

Buddhism and sustainable development

574

Published on

0 Comments
1 Like
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
574
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
7
Comments
0
Likes
1
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide
  • Khi mới bắt đầu xuất hiện cách nay khoảng 30 năm, khái niệm  phát triển bền vững  (sustainable development, PTBV) được định nghĩa như là khả năng phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Có thể nói, nền tảng của sự bền vững nằm ở việc bảo đảm cho công lý, lẽ công bằng được hiển hiện. Dễ hiểu rằng mọi sự bất công đều tiềm ẩn những bất ổn dẫn đến sụp đổ. Sự công bằng và bình đẳng cần được tôn trọng: - không chỉ ở những người đang sống trong cùng một thời đại (intra-generational justice, tất cả mọi người trên hành tinh này, ít nhất về mặt nguyên tắc, có được quyền lợi bình đẳng) - mà còn giữa thế hệ chúng ta đang sống với những thế hệ kế thừa (inter-generational justice, không làm tổn hại đến môi trường và vẫn để dành được tài nguyên cho các thế hệ tương lai). Khái niệm PTBV giờ đây bao hàm và xoay quanh nhiều vấn đề của phát triển như xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, nhân quyền, hòa bình, an ninh lương thực, bảo tồn đa dạng văn hóa, đa dạng sinh học, nước sạch và vệ sinh, phát triển năng lượng tái tạo, bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên…  PTBV hướng đến bảo đảm chất lượng cuộc sống của tất cả mọi người trên thế giới hôm nay và muôn đời sau . Sustainability is thinking about forever Bền vững về xã hội, tương ứng với hòa bình và công bằng. 2. Bền vững về sinh thái, tương ứng với bảo tồn môi trường, đa dạng sinh học (mở rộng ra, con người cũng cần tôn trọng quyền sống và phát triển của muôn loài, những người anh em cùng chia sẻ mái nhà chung Trái Đất với chúng ta). 3. Bền vững về kinh tế, tương ứng với sự phát triển hợp lý. 4. Bền vững và ổn định chính trị, tương ứng với dân chủ. - Con người yêu thương hỗ trợ nhau và cùng trân trọng công bằng xã hội, hòa bình. - Con người biết yêu quý, bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài nguyên hợp lý hơn mà không hoang phí. - Xã hội phát triển đúng mực và bảo đảm chất lượng cuộc sống cơ bản cho tất cả. - Những quyết sách của xã hội được đưa ra và thực thi trên tinh thần dân chủ, bình đẳng.
  • Sự khác biệt, đa dạng làm cuộc sống thêm phong phú. Vốn xã hội (social capital). Hỉ xả. Khu vườn với nhiều loài hoa cỏ khác nhau.
  • - Con người yêu thương hỗ trợ nhau và cùng trân trọng công bằng xã hội, hòa bình. - Con người biết yêu quý, bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài nguyên hợp lý hơn mà không hoang phí. - Xã hội phát triển đúng mực và bảo đảm chất lượng cuộc sống cơ bản cho tất cả. - Những quyết sách của xã hội được đưa ra và thực thi trên tinh thần dân chủ, bình đẳng.
  • “ Doanh nhân xã hội ” (DNXH) là khái niệm khá phổ biến trên thế giới nhưng còn mới mẻ ở Việt Nam. Đó là người sử dụng những phẩm chất, kỹ năng như các doanh nhân để trực tiếp xây dựng các tổ chức/doanh nghiệp xã hội nhằm giải quyết một vấn đề xã hội hay môi trường cụ thể. Khác với doanh nhân kinh tế, DNXH đánh giá thành công của mình không phải qua lợi nhuận mà bằng những tiến bộ xã hội mà họ đóng góp cho cộng đồng. Đặc biệt, DNXH là người có đầu óc sáng tạo khi luôn đưa ra cách thức mới, sản phẩm mới để giải quyết vấn đề. Họ không ngừng mở rộng hoạt động để mang lại những thay đổi cho cộng đồng.
  • đầu tư vào CSR đồng nghĩa với việc nâng cao khả năng cạnh tranh và sự trường tồn của doanh nghiệp. Ngày nay, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao hàm nhiều khía cạnh hơn. Một doanh nghiệp hiện đại chỉ được xem là có trách nhiệm xã hội khi: 1) Doanh nghiệp đó phải đảm bảo hoạt động của mình không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất của mình. Đây là một tiêu chí rất quan trọng đối với người tiêu dùng châu Âu hiện nay. Họ tẩy chay những sản phẩm mà họ cho là có ảnh hưởng tới môi trường sinh thái như đồ gỗ chẳng hạn vì gỗ chắc chắn được lấy từ rừng, mà phá rừng để lấy gỗ tức là đã làm nguy hại đến môi trường sinh thái của địa phương và toàn cầu. 2) Doanh nghiệp đó phải biết quan tâm đến người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần. Buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động của mình là điều hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. 3) Doanh nghiệp đó phải tôn trọng quyền bình đẳng nam nữ, tức là không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người. 4) Doanh nghiệp đó không được phân biệt đối xử về mặt sắc tộc, không được phân biệt đối xử giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ, tức là doanh nghiệp không được từ chối hoặc trả lương thấp vì lý do sắc tộc hoặc vì lý do khiếm khuyết/lành lặn về mặt cơ thể hay quá khứ của người lao động. 5) Doanh nghiệp đó phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khỏe người tiêu dùng. Những doanh nghiệp sản xuất nước tương “đen” bị vạch mặt chỉ tên vừa qua đã thiếu vắng hoàn toàn trách nhiệm xã hội khi chỉ vì lợi nhuận mà bất chấp sức khỏe của người tiêu dùng. 6) Doanh nghiệp đó phải biết dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng, bởi doanh nghiệp luôn tồn tại trong lòng một cộng đồng nào đó nên không thể chỉ biết có bản thân mình. 7) Doanh nghiệp đó còn phải tham gia việc kiến tạo hòa bình và an ninh của quốc gia cũng như thế giới, tức doanh nghiệp không được dùng một phần lợi nhuận của mình để tài trợ các cuộc chiến tranh hoặc các hoạt động gây mất an ninh trật tự tại địa phương cũng như trên thế giới.
  • Tư duy cho PTBV cần một tầm nhìn sâu sắc hơn những lợi ích hạn hẹp trước mắt mà tiềm ẩn nguy hại lâu dài về sau. Sự bền vững hướng đến những giá trị tốt đẹp, chân thực, mãi trường cửu với thời gian.
  • Tư duy hệ thống là phương pháp tư duy hướng đến mở rộng tầm nhìn để hiểu mối liên hệ tồn tại giữa mọi sự vật, nhận thức được nguyên nhân sâu xa ẩn dưới bề nổi của những hiện tượng tưởng chừng như riêng rẽ. Tầm nhìn hệ thống về cuộc sống nhìn thế giới qua các mối liên quan tương tác, kết nối lẫn nhau của mọi hiện tượng vật lý, sinh học, tâm lý xã hội, văn hóa. Phân tích – chia chẻ và tổng hợp là hai cách tiếp cận bổ túc, khi được sử dụng trong cân bằng chừng mực, sẽ giúp ta có được tri kiến sâu sắc hơn về hiện thực. Trong những hệ thống phức tạp như xã hội con người, nhân và quả không ”nhãn tiền” mà thường cách xa nhau trong thời gian và không gian. Do đó có lúc ta dễ tạo ra cái lợi trước mắt mà khó thấy được tác hại lâu dài về sau. Tư duy hệ thống giúp ta thấy bức tranh chính xác hơn của hiện thực được nhìn từ nhiều góc độ, khuyến khích ta suy nghĩ sâu sắc hơn về vấn đề và đưa ra những giải pháp với tầm nhìn xa rộng và bền vững. Vì vậy, nó đặc biệt cần thiết cho những người làm lãnh đạo, nhất là khi phải đưa ra những quyết định, sách lược quan trọng. Tóm lại, tư duy hệ thống là: - Tư duy môi trường - bối cảnh ( environmental thinking, contextual thinking ), tư duy toàn thể ( holistic thinking ), mở rộng sự thấu hiểu về các liên kết tồn tại giữa các hiện tượng, giữa sự vật với môi trường. Để hiểu một sự vật thấu đáo, ta không chỉ chú tâm vào chi tiết mà còn phải cân nhắc đến bối cảnh xung quanh nó. - Tư duy mạng lưới ( network thinking ), chú trọng vào mối quan hệ giữa các sự vật hơn là từng vật thể riêng lẻ, khuyến khích tương tác linh động giữa các cấp bậc trong hệ thống. - Tư duy tiến trình ( process thinking ), hiểu rằng muốn thay đổi kết quả, trước hết phải thay đổi tiến trình dẫn đến kết quả, khuyến khích cách quản lý tập trung vào tiến trình hơn là thành quả (liên hệ đến giáo dục, cách đánh giá học sinh qua quá trình học hơn chỉ là điểm số của bài thi cuối cùng). - Tư duy hồi quy ( backward thinking ), kiểm tra giả thuyết, đặt ra những câu hỏi hồi tiếp để đi đến tận cùng vấn đề, đây là công cụ bổ túc cho dự đoán (foresight). Đặt ra kế hoạch dựa trên tầm nhìn lý tưởng tốt nhất về tương lai (không giới hạn khả năng của mình). Từ đó, suy nghĩ ngược lại để xác định những phương thức có tiềm năng dẫn đến kết quả mong muốn đó. Chọn giải pháp thích hợp nhất và tối ưu hóa tất cả những bộ phận, mối quan hệ trong hệ thống theo đó. Chưa dừng lại ở đây, với những thay đổi mới, vòng lặp sẽ tiếp tục được lập lại để kiểm tra, điều chỉnh theo những phản hồi từ hệ thống. Tư duy hệ thống khuyến khích chúng ta thấy rừng chứ không chỉ từng cái cây, ”see the forest for the trees”. Đứng trong rừng, ta chỉ thấy cây, muốn thấy cả khu rừng ta cần góc nhìn bao quát như từ trên cao xuống. Tương tự, những vấn đề rắc rối mà ta đang mắc kẹt nhiều khi không thể giải quyết bằng chính lối tư duy đã gây ra nó. Những lúc như vậy, ta cứ thư giãn, tĩnh lặng cho tiềm thức hành động, để tư duy của chúng ta được tự do sáng tạo, thoát khỏi lối mòn cũ. Chúng ta thường dính mắc vào chi tiết, mà quên đi cái toàn thể. Như câu chuyện những thầy bói mù xem voi, người sờ tai voi thì bảo con voi giống như cái quạt, người sờ chân voi bảo nó giống như cột nhà… Nhưng hai nửa con voi không phải là một con voi, một hệ thống sống không chỉ gồm tổng thể các bộ phận của nó. Mỗi hệ thống là một toàn thể thống nhất. Tầm nhìn hệ thống về cuộc sống nhìn thế giới qua các mối liên quan tương tác, kết nối lẫn nhau của mọi hiện tượng vật lý, sinh học, tâm lý xã hội, văn hóa. Phân tích – chia chẻ và tổng hợp là hai cách tiếp cận bổ túc, khi được sử dụng trong cân bằng chừng mực, sẽ giúp ta có được tri kiến sâu sắc hơn về hiện thực.
  • Chúng ta thường dính mắc vào chi tiết, mà quên đi cái toàn thể. Như câu chuyện những thầy bói mù xem voi, người sờ tai voi thì bảo con voi giống như cái quạt, người sờ chân voi bảo nó giống như cột nhà… Nhưng hai nửa con voi không phải là một con voi, một hệ thống sống không chỉ gồm tổng thể các bộ phận của nó. Mỗi hệ thống là một toàn thể thống nhất. Tư duy hệ thống là phương pháp tư duy hướng đến mở rộng tầm nhìn để hiểu mối liên hệ tồn tại giữa mọi sự vật, nhận thức được nguyên nhân sâu xa ẩn dưới bề nổi của những hiện tượng tưởng chừng như riêng rẽ. - Tư duy môi trường - bối cảnh ( environmental thinking, contextual thinking ), tư duy toàn thể ( holistic thinking ), mở rộng sự thấu hiểu về các liên kết tồn tại giữa các hiện tượng, giữa sự vật với môi trường. Để hiểu một sự vật thấu đáo, ta không chỉ chú tâm vào chi tiết mà còn phải cân nhắc đến bối cảnh xung quanh nó.
  • Tư duy hệ thống khuyến khích chúng ta thấy rừng chứ không chỉ từng cái cây, ”see the forest for the trees”. Đứng trong rừng, ta chỉ thấy cây, muốn thấy cả khu rừng ta cần góc nhìn bao quát như từ trên cao xuống. Tương tự, những vấn đề rắc rối mà ta đang mắc kẹt nhiều khi không thể giải quyết bằng chính lối tư duy đã gây ra nó. Những lúc như vậy, ta cứ thư giãn, tĩnh lặng cho tiềm thức hành động, để tư duy của chúng ta được tự do sáng tạo, thoát khỏi lối mòn cũ.
  • Trong những hệ thống phức tạp như xã hội con người, nhân và quả không ”nhãn tiền” mà thường cách xa nhau trong thời gian và không gian. Do đó có lúc ta dễ tạo ra cái lợi trước mắt mà khó thấy được tác hại lâu dài về sau. Phương pháp tư duy thông thường là tư duy tĩnh, tuyến tính, tập trung vào sự kiện, kết quả, xem Nhân-Quả là một chiều và mỗi nguyên nhân độc lập với các nguyên nhân khác. Trong khi đó, tư duy hệ thống là tư duy động - nhìn vấn đề dựa trên những kiểu mẫu hành xử (pattern of behaviour) theo thời gian, phi tuyến (tư duy vòng lặp), tập trung vào nguyên nhân, xem nguyên nhân như một quá trình chứ không chỉ là sự kiện chỉ xảy ra một lần, với kết quả phản hồi ảnh hưởng trở lại nguyên nhân và những nguyên nhân ảnh hưởng lẫn nhau.
  • Tư duy hệ thống là phương pháp tư duy hướng đến mở rộng tầm nhìn để hiểu mối liên hệ tồn tại giữa mọi sự vật, nhận thức được nguyên nhân sâu xa ẩn dưới bề nổi của những hiện tượng tưởng chừng như riêng rẽ. Trong những hệ thống phức tạp như xã hội con người, nhân và quả không ”nhãn tiền” mà thường cách xa nhau trong thời gian và không gian. Do đó có lúc ta dễ tạo ra cái lợi trước mắt mà khó thấy được tác hại lâu dài về sau. Tư duy hệ thống giúp ta thấy bức tranh chính xác hơn của hiện thực được nhìn từ nhiều góc độ, khuyến khích ta suy nghĩ sâu sắc hơn về vấn đề và đưa ra những giải pháp với tầm nhìn xa rộng và bền vững. Vì vậy, nó đặc biệt cần thiết cho những người làm lãnh đạo, nhất là khi phải đưa ra những quyết định, sách lược quan trọng.
  • -> Systems Intelligence is about the betterment and improvement of human life. Có một điều thú vị là, càng nhìn cuộc sống qua cái nhìn hệ thống, càng mở rộng tầm hiểu biết bao nhiêu, chúng ta sẽ càng thấy mình trở nên khiêm tốn, thân thiện, dễ thích ứng, biết cảm thông, biết tôn trọng sự đa dạng, những ý kiến trái chiều, biết lắng nghe với tinh thần đón nhận cởi mở, khuyến khích mà không “phán xét”. Đây là những điều đã được nghiên cứu trong “Trí Khôn Hệ Thống” –  Systems Intelligence , ngành học ứng dụng phương pháp tư duy hệ thống vào những hành xử đời sống hàng ngày. Expand the boundary of caring. The real system is interconnected. No part of the human race is separate either from other human beings or from the global ecosystem. Celebrate complexity and respect diversity. At the system level, the overwhelming force in nature is cooperation , not competition. Think from the perspective of the whole system rather than the individual. Caring for the whole mostly means caring for future generations – for our children. See the big picture – to understand and act upon the interconnectedness of all things – to operate in harmony with others and with nature. -> live a more satisfying and effective life. -> better able to deal with the growing complexity of modern society.
  • Thống nhất trong sự đa dạng Trong những hệ thống sống nhiều bậc, mỗi bộ phận của nó lại là những hệ thống nhỏ (holons). Mỗi holon có hai khuynh hướng đối nghịch nhau: (1)  hợp nhất  với chức năng là thành phần của một tập thể lớn hơn, và (2)  tự khẳng định  để bảo tồn sự tự trị của chúng. Mỗi holon phải khẳng định “bản sắc” - đặc tính riêng của nó, để thực hiện chức năng của riêng mình, đồng thời nó cũng phải tuân theo những yêu cầu chung của cái toàn thể lớn hơn, để cả hệ thống có thể duy trì và tồn tại được. Hai khuynh hướng này tuy đối nghịch nhưng bổ túc cho nhau và đều cần thiết. Một hệ thống lành mạnh khi các bộ phận của nó vận hành hài hòa, khi hiện diện sự cân bằng giữa hai khuynh hướng hợp nhất và tự khẳng định này. Hệ thống sẽ bị phá vỡ, như ẩn dụ về căn bệnh ung thư, khi một số tế bào ích kỷ bành trướng giành quyền phát triển cho mình mà không hề quan tâm đến toàn bộ hệ thống cơ thể, để rồi tự hủy diệt chính nó khi cơ thể suy sụp. Sự khuyến khích cạnh tranh hơn là hợp tác là một trong những biểu hiện chính của khuynh hướng ích kỷ trong xã hội chúng ta. Nó xuất phát từ cái nhìn sai lạc về tự nhiên của những nhà Darwin-xã hội thế kỷ 19, những người tin rằng đời sống là một cuộc đấu tranh sinh tồn (survival of the fittest) và cạnh tranh được xem như nguồn động lực của nền kinh tế. Họ quá nhấn mạnh vai trò đấu tranh và mâu thuẫn mà không nhận ra rằng mọi đấu tranh trong tự nhiên đều diễn ra trong một bối cảnh rộng hơn của sự cộng tác. Ta có thể tìm thấy trong tự nhiên vô vàn những ví dụ về sự phụ thuộc và tương hỗ lẫn nhau. Chim thú họp thành đàn để bảo vệ cho nhau. Phần lớn sự tương hỗ ấy không đơn giản là hai chiều thuận nghịch mà phức tạp trong mạng lưới các liên kết chằng chịt. Một hệ thống càng đa dạng, bảo đảm được nhiều chức năng, càng linh động trước những biến đổi. Chính nhờ sự đa dạng và phức hợp mà xuyên suốt mạng lưới đời sống của hệ sinh thái, những nhu cầu khác nhau của các cá thể khác nhau có thể được đáp ứng. Sự cộng tác hài hòa làm cho các phần tử của hệ thống vận hành phối hợp nhau nhịp nhàng và dễ dàng ở mọi cấp độ.
  • Chúng ta kết nối lẫn nhau trên cả phương diện vật chất và ý thức. Mỗi chúng ta là một phần của những chu kỳ trao đổi liên tục năng lượng, vật chất và thông tin với thế giới xung quanh mình. Nghiên cứu của các nhà cận tâm lý học (parapsychologist) cũng đã xác nhận tâm thức có chủ ý của một người có thể ảnh hưởng đến cảm xúc của người khác hoặc lên vật chất. Thiên nhiên trên bình diện vi mô của thế giới lượng tử càng khẳng định tính thống nhất và sự liên hệ kết nối giữa mọi hiện tượng. “ Tính nhất thể của vạn sự ” dưới con mắt của vật lý học hiện đại, đã được Fritjof Capra bàn nhiều trong cuốn “ Đạo của Vật Lý ”. Ý nghĩa tâm linh và triết học của nó không phải là điều gì mới mẻ mà chính là quan điểm bao trùm của những nền Đạo học phương Đông cổ xưa. Mọi sự vật, biến cố là những bộ mặt khác nhau, những hiện thân của một thực tại cuối cùng, không thể phân chia. Ý thức sinh thái sâu xa là ý thức tâm linh. Khi con người thấy mình hòa nhập với thiên nhiên, với vũ trụ như một cái toàn thể, khi thân và tâm thống nhất, khi con người vượt ra khỏi bản ngã của mình, để cảm nhận được tất cả là Một, lúc đó con người đã đạt Đạo và đó chính là cái Chân Như, Thực Tại cuối cùng. Tôi là hạt bụi trong gió, bay đi khắp nơi, say đắm vẻ đẹp diệu kỳ của Tạo Hóa biểu lộ trên vạn vật. Đời sống là những chuỗi tuần hoàn vô tận, hết đêm rồi đến ngày. Xuân, hạ, thu, đông, rồi lại xuân… Tôi là một con người. Sinh ra trên đời là tôi đã mang nặng ân tình của Mẹ Cha, của xã hội. Chiếc áo tôi mặc từ mảnh vải của người thợ dệt, công sức của người thợ may. Hạt cơm tôi ăn chắt chiu từ giọt mồ hôi người nông dân vất vả trên cánh đồng. Tôi không tồn tại một mình. Ngụm nước tôi uống, không khí tôi hít thở, cọng rau con cá tôi ăn, chúng chuyển hóa thành xương thịt tôi hôm nay. Rồi mai kia khi xác thân này nằm xuống, cát bụi lại về với cát bụi. Tôi lại là gió, là mưa, là mây trời, là cành hoa, ngọn cỏ… Hòa mình trong vòng tuần hoàn miên viễn của tự nhiên đó, tôi thấy mình hiện diện trong tất cả, và chứa đựng tất cả ở trong tôi.
  • Transcript

    • 1. Đạo Phật và Phát Triển Bền Vững Buddhism and Sustainable Development Phạm Thùy Dương Ban Mê Thuột, 1.1.2012
    • 2. Phát triển bền vững?
      • Cân bằng Công bằng
      • Balam The Middle Way Bền vững về xã hội, cân bằng sinh thái, phát triển kinh tế nhân bản.
      Balance Equity
    • 3. Yêu thương và chia sẻ Compassion, care & share
      • Con người yêu thương hỗ trợ nhau và cùng trân trọng công bằng xã hội, hòa bình, tôn trọng sự đa dạng.
    • 4. Cân bằng sinh thái Ecological balace – Health & Wellbeing
      • Con người biết yêu quý, bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài nguyên hợp lý. Môi trường được gìn giữ xanh và sạch.
    • 5. Kinh tế xanh A humane and green economy
      • Kinh tế xanh: phát triển kinh tế với ý thức môi trường, tiết kiệm, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, sử dụng nguyên liệu địa phương, tự nhiên, hướng đến sử dụng năng lượng tái tạo.
      • Kinh tế nhân bản: trách nhiệm xã hội của doanh nhân hiện đại và doanh nghiệp xã hội
        • Lợi mình lợi người
    • 6. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Corporate social responsibility
      • Thân thiện với môi trường, không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái
      • Q uan tâm đến người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần
      • Không phân biệt đối xử về giới tính, sắc tộc, khuyết tật…
      • C ung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khỏe
      • D ành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng
    • 7. Quản trị tốt và xã hội dân chủ Good governance, democratic
      • Lãnh đạo có tâm, có tầm nhìn sâu rộng, thương dân.
      • Quản trị minh bạch, tăng cường sự tham gia của người dân, những quyết sách của xã hội được đưa ra và thực thi trên tinh thần dân chủ, bình đẳng.
      • Tư duy cho PTBV cần một tầm nhìn sâu sắc hơn những lợi ích hạn hẹp trước mắt mà tiềm ẩn nguy hại lâu dài về sau.
    • 8. Tư duy hệ thống Systems thinking and the systems view of life
      • hướng đến mở rộng tầm nhìn để hiểu mối liên hệ tồn tại giữa mọi sự vật.
      • nhận thức được nguyên nhân sâu xa ẩn dưới bề nổi của những hiện tượng tưởng chừng như riêng rẽ.
      • Lý duyên sinh & Nhân quả
    • 9. Tư duy hệ thống Holistic thinking –The whole is not sum of the parts
    • 10. Tư duy hệ thống “See the forest for the trees” & Think “out of the box”
      • Muốn thấy cả khu rừng ta cần góc nhìn bao quát như từ trên cao xuống.
      • Những vấn đề mà ta đang mắc kẹt nhiều khi không thể giải quyết bằng chính lối tư duy đã gây ra nó.
      • Thư giãn, tĩnh lặng để tư duy của chúng ta được tự do sáng tạo, thoát khỏi lối mòn cũ.
    • 11. Tư duy hệ thống Process thinking, interaction and relationship of cause & effect
      • Trong những hệ thống phức tạp như xã hội con người, nhân và quả không ”nhãn tiền” mà thường cách xa nhau trong thời gian và không gian.
    • 12. Tư duy hệ thống Systems thinking and the systems view of life
      • giúp ta thấy được bức tranh chính xác hơn của hiện thực được nhìn từ nhiều góc độ
      • khuyến khích ta suy nghĩ sâu sắc hơn về vấn đề
      • giúp ta đưa ra những giải pháp với tầm nhìn xa rộng và bền vững
    • 13. Cái nhìn hệ thống về cuộc sống A philosophy of life, a way out of egocentricity .
      • “ Tầm nhìn hệ thống bắt đầu khi bạn nhìn thế giới qua con mắt của người khác”.
      • Systems approach starts when you see the world through the eyes of another person.
      • Càng nhìn cuộc sống qua cái nhìn hệ thống, càng mở rộng tầm hiểu biết bao nhiêu, chúng ta sẽ càng thấy mình trở nên khiêm tốn, thân thiện, dễ thích ứng, biết cảm thông, biết tôn trọng sự đa dạng.
    • 14. Thống nhất trong sự đa dạng Unity in Diversity
      • Một hệ thống lành mạnh khi các bộ phận của nó vận hành hài hòa.
      • Trong tự nhiên vô vàn những ví dụ về sự phụ thuộc và tương hỗ lẫn nhau.
      • Một hệ thống càng đa dạng, bảo đảm được nhiều chức năng, càng linh động trước những biến đổi.
    • 15. Tất cả là Một All is One – Our interconnection & interdependence
      • Đời sống là những chuỗi tuần hoàn vô tận, hết đêm rồi đến ngày. Xuân, hạ, thu, đông, rồi lại xuân…
      • Hòa mình trong vòng tuần hoàn miên viễn của tự nhiên, ta thấy mình hiện diện trong tất cả, và chứa đựng tất cả ở trong ta.
      “ We are merely a strand in the web of life. Whatever we do to the web, we do to ourselves . “ ~ Chief Seattle
    • 16. “ Nhìn thế giới trong một hạt cát Và Thiên Đàng trong một nhành hoa Giữ vô tận trong lòng bàn tay Và vĩnh cửu trong một giờ ngắn ngủi” “ To see a world in a grain of sand, And a heaven in a wild flower, Hold infinity in the palm of your hand, And eternity in an hour.” William Blake
    • 17. Kính chúc một năm mới vui vẻ, an lành, thành công và hạnh phúc ! Happy New Year 2012!

    ×