PhanVăn Minh
MSSV:DPN042348
Lớp:DH5PN
   XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CHO GẠO VIỆT NAM

I. Đặt vấn đề:

         Nhìn chung nền nô...
300USD/tấn (1990), cùng chủng loại giá chưa tới 200USD/tấn. Đây chính là giá trị của thương hiệu.
 Cũng theo Võ Tòng Xuân,...
chương trình IPM, ICM. Đồng thời, phải đào tạo nông dân về kỷ thuật canh tác theo tiêu chuẩn GAP
(Good Agricultural Practi...
Thành lập thương hiệu là điều cần thiết, nó cũng là một thứ vũ khí để cạnh tranh, để đưa
lúa gạo Việt Nam đi xa, thâm nhập...
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Thuong Hieu Gao Viet Nam

3,100 views

Published on

Published in: Education, Business
0 Comments
1 Like
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
3,100
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
36
Comments
0
Likes
1
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Thuong Hieu Gao Viet Nam

  1. 1. PhanVăn Minh MSSV:DPN042348 Lớp:DH5PN XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU CHO GẠO VIỆT NAM I. Đặt vấn đề: Nhìn chung nền nông nghiệp Việt Nam vẫn phải đóng vai trò quyết định làm nền tảng cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đồng thời, chúng ta phải tiếp tục giữ vị trí hàng đầu trong các quốc gia xuất khẩu lúa gạo trên thế giới để vừa đảm bảo an toàn lương thực của cả nước, vừa chia sẽ sẻ với các nước không đủ gạo ăn. Hiện nay chúng ta hội nhập với thế giới, muốn thành công trong thị trường châu Á, tiến đến thị trường châu Âu-Mỹ thì sản phẩm nông nói chung, lúa gạo nói riêng của chúng ta phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Để thực hiện được đều điều đó đòi hỏi chúng ta phải có được sản phẩm cạnh tranh, không có cách nào khác phải xây dựng thương hiệu cho gạo Việt Nam, nhằm cạnh tranh với các nước trong khu vực và thâm nhập sâu vào một số nuớc khó tính. Xung quanh vấn đề xây dựng thương hiệu có rất nhiều câu hỏi cần phải được giải quyết: làm thế nào để xây dựng thương hiệu?, xây dựng thương hiệu để làm gì?, tại sau sao phải xây dựng thương hiệu?... II. Mục tiêu: Đánh giá nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và ngoài nước về phẩm chất và hình thức cuả gạo có (và không có?) thương hiệu. Tìm hiểu tình hình khó khăn của việc xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam. III.Tình hình nghiên cứu Thương hiệu là nhãn hiệu hàng hóa, là cái tên để giao dịch thương mại, là chỉ dẫn địa lý, là tên gọi của xuất xứ hàng hóa và nó cũng là công cụ trong chiến lược cạnh tranh mạnh chứ không đơn thuần là cạnh tranh về giá và chất lượng. Như chúng ta đã biết, đời sống của người nông dân sản xuất lúa gạo vẫn còn nghèo. Đặc biệt là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, hơn nữa vùng còn là trọng điểm lúa số một của cả nước, xuất khẩu (cung cấp hơn 90% sản lượng lúa xuất khẩu). Nhưng cơ sở vật chất còn thấp mức sống còn nghèo, trình độ thấp, thiếu vốn. Chính vì lẽ đó nông dân sản xuất lúa theo kinh nghiệm, từ khâu canh tác, cắt gơm, phơi mớ và khâu bảo quản, xay xát chế biến, trình độ tổ chức còn yếu kém, mang tính truyền thống, giản đơn thủ công lạc hậu. Từ đó ảnh hướng đến chất lượng hạt lúa kém đi. Hiện nay, nông dân Việt Nam vẫn đang đứng trước nổi lo lớn trong việc tiêu thụ nông sản hiện nay, càng trúng mùa sản phẩm càng khó bán và giá cả bấp bên có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên và một trong số đó là nông dân Việt Nam chưa tạo dựng được thương hiệu cho mình. Gạo là một thực phẩm chính của người Việt Nam đều này không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh doanh, mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội. Xây dựng thương hiệu gạo Việt cho người Việt cũng chính là góp phần lưu giữ và phát triễn những tình cảm tốt đẹp. GS.TS. Võ Tòng Xuân. Gạo Việt Nam-vấn đề chất lượng, thị trường và thương hiệu (trực tuyến). Đọc từ: http://www2.thanhnien.com.vn/kinhte/2005/5/31/111445.tno (đọc ngày 20/03/2007) Theo GS.TS. Võ Tòng Xuân xây dựng thương hiệu cho gạo Việt Nam không phải là vấn đề mới. Doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gạo đi nước ngoài với thương hiệu Việt là ARI, giá lên đến
  2. 2. 300USD/tấn (1990), cùng chủng loại giá chưa tới 200USD/tấn. Đây chính là giá trị của thương hiệu. Cũng theo Võ Tòng Xuân, gạo Việt Nam vấn đề về chất lượng, thị trường và thương hiệu. Nhược điểm gạo xuất khẩu của Việt Nam thường xuyên bị lẫn lộn nhiều giống, hạt có màu và thời gian giao hàng thường trậm trễ, chất lựợng gạo vụ Đông Xuân khác vụ Hè Thu. Liên quan đến vấn đề chất lượng gạo, ông Trương Thanh Phong, đã nêu ra một ví dụ làm nhiều người thầm tiếc. Năm 2004, Việt Nam xuất khẩu được 1 triệu tấn gạo thơm với giá từ 360-380USD/tấn cao hơn gạo “không tên” trên 100USD/tấn. Thấy hiệu quả cao, năm 2005, nông dân đổ xô vào trồng gạo thơm từ diện tích 60.000 ha lên 180.000 ha và chất lượng gạo thì có đến 40% bị lẫn giống khác. Qua đó cho thấy nông dân chỉ nghỉ đến lợi nhuận, không nghỉ đến tính lâu dài trong kinh doanh. Như vậy cho thấy gạo không sạch, chất lượng không đồng nhất thì sẽ rất khó đi xa trong tương lai, vì xu hướng người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khẻo và đòi hỏi về chất lượng. GS.TS. Bùi Chí Bửu. Đến lúc xây dựng thương hiệu cho ngành gạo. Thông tin xúc tiến thương mại. Đọc từ: http://www.vietrade.gov.vn/old/news.asp?cate=77&article=8108&lang=vn (đọc ngày: 22/03/2007). Theo GS.TS. Bùi Chí Bửu, đối với lúa chất lựợng cao, việc hàng sáo mua qua trung gian đến doanh nghiệp lúa đã lẫn rất nhiều giống khác nhau đến khi xuất khẩu với tên chung là “gạo trắng Việt Nam”. Cũng theo Bùi Chí Bửu, nếu so sánh với hạt gạo Thái Lan 5 năm trước đây, một tấn gạo Việt Nam thua khoảng 20USD/tấn, thậm chí có lúc tới 40USD/tấn. Như vậy gạo Việt Nam muốn tạo được sức cạnh tranh mạnh, muốn tìm thị trường (thế giới) cao cấp cần phải nâng cao chất lựợng sản phẩm, phải xây dựng bằng được thương hiệu cho gạo Việt Nam. IV.Giải pháp cho vấn đề: Qua nghiên cứu cho thấy kho khăn trong việc xây dựng thương hiệu c hính là tình hình sản xuất manh mún, thiếu liên kết, dẫn đến nguyên liệu không đồng đều, chất lựợng không ổn định, thiếu kỹ thuật, thiếu giống tốt, thiếu chử tín… Theo Phạm Đức Thông, gần đây nói đến phát triển nông nghiệp người ta thường nhắt đến cái bắt tay của ba nhà: nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhưng thực tế cái bắt tay này còn rất lỏng lẻo. • Về phía doanh nghiệp: Việt Nam đứng hàng thứ hai về xuất khẩu gạo nhưng chưa có thương hiệu, nhãn hiệu nổi tiếng. • Về phía nhà khoa học: chưa gắn với nhu cầu của thị trường để nghiên cứu ra giống chất lượng. • Phía nông dân: Thuyết phục bà con bỏ thói quen canh tác theo lối truyền thống, manh mún không phải đơn giản họ sẳn sàng bỏ hợp đồng. Thông tin từ website thuonghieunongsan, ở Việt Nam mãi đến năm 2005, ta vẫn còn sử dụng hơn 7 triệu ha để trồng lúa, chiếm 74% diện tích canh tác của cả nước. Tuy nhiên,chúng ta vẫn còn lổ hỏng lớn về: công nghệ sau thu hoạch, chất lượng măyh hàng và khâu an toàn vệ sinh, đặc biệt nhất là tai nghề của thành phần sản xuất. Hiện nay chúng ta đang gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), do đó chúng ta phải chấp nhận luật chơi chung của thế g iới: luật chơi về an toàn thực phẩm (mặt hàng này luôn an toàn vệ sinh ), luật chơi về chất lượng (nguồn gốc giống chất lượng cao , bổ dưởng), và luật chơi về số lượng. Thông qua dó đòi hỏi chúng ta có những bước đi, giải pháp thích hợp, cụ thể nhằm để thành lập được thương hiệu trong thời gian mới: 1/ Nghiên cứu tìm ra giống lúa chất lượng cao có giá trị thương phẩm tốt đối với thị trường nội địa và xuất khẩu, nhưng phải được xem xét trên cơ sở của một nền nông nghiệp bền vững. Đó chính là đòi hỏi áp dụng các qui trình thâm canh tổng hợp, 3 giảm 3 tăng; một phải năm giảm;
  3. 3. chương trình IPM, ICM. Đồng thời, phải đào tạo nông dân về kỷ thuật canh tác theo tiêu chuẩn GAP (Good Agricultural Practice), từ đó mới chứng minh được mặt hàng gạo ta luôn đảm bảo được an toàn vệ sinh. 2/ Không sản xuất quá nhiều giống, nghĩa là chúng phải hình thành vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung, xây dựng những cánh đồng một giống, đòi hỏi phải có một nhóm nông dân liên kết lại, chứ không phải sản xuất riêng rẻ, nhằm để tạo ra khối lượng lúa lớn, đồng bộ, như vậy sẽ thuận lợi cho việt thành lập thương hiệu. 3/ Phải có hệ thống thu mua có lợi cho nông dân, giảm trung gian, có như vậy lúa gạo sẽ không bị lẫn lộn nhiều giống. Muốn như vậy có sự bắt tay hợp đồng tiêu thụ giữa doanh nghiệp và người sản xuất. Thông qua đó những công ty kinh doanh lúa gạo chịu trách nhiệm về thương hiệu của công ty. 4/ Phải phát triển công nghệ sau thu hoạch, vì trong sản xuất lúa phải chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, nên khâu chế biến và bảo quản luôn được quan tâm, nghĩa là lúa phải được sấy khô đúng tiêu chuẩn, bảo quản tốt trong lúc tồn trử, xây dựng lại các nhà máy xay xát, lao bong gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, có như vậy chất lượng lúa mới ổn định, từ đó dể dàng cho việc thành lập thương hiệu. 5/ Thâm dò sở thích thói quen, nhu cầu sử dụng gạo trong nước và nước ngoài, thông qua đó thành lập nhiều thương hiệu đặc sản trong nước: Nàng Nhen, thơm Chợ Đào, Tám Xoan, Jasmine… tiếp theo đó trở thành thương hiệu quốc tế. Đồng thời phải có những chiến lược quảng bá sản phẩm thông qua các khâu đóng gói, mẩu mã của bao bì, khâu thu hoach. 6/ Kệt hợp chặt chẻ giữa bốn nhà: nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nước. Từ đó mới tạo ra được sản phẩm đồng nhất, chất lượng vì có hổ trợ về nguồn giống tốt, kỹ thuật từ các nhà khoa học, doanh nghiệp thu mua lúa từ nông dân. Đồng thời, có sự hổ trợ từ phía nhà nước từ đó nông dân yên tâm sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng phục vụ cho việc thành lập thương hiệu. Khối lượng lớn Mở thị trường Sản phẩm cạnh tranh Chất lượng cao (Tung ra thị trường) Giá cạnh tranh Đóng gói Doanh nghiệp Thương Hiệu Bao bì CN-sau thu hoạch Nhóm nông dân Khoanh vùng Đầu tư của nhà nước (Nguồn:Võ Tòng Xuân, 2006) V . Kết luận:
  4. 4. Thành lập thương hiệu là điều cần thiết, nó cũng là một thứ vũ khí để cạnh tranh, để đưa lúa gạo Việt Nam đi xa, thâm nhập vào một số thị trường khó tính. Đồng thời xây dựng thương hiệu cho gạo Việt Nam, từ đó nâng cao được giá trị hạt gạo, giúp tăng thu nhập cho người nông dân và giúp bà con nông dân, nhà kinh doanh lúa gạo, nhà nước định hướng, qui hoạch trong việc đầu tư và triển khai các giống lúaở các vùng tập trung phù với điều kiện sản xuất lúa xuất khẩu. Qua đó khi thành lập thương hiệu cũng giúp các nhà khoa học nghiên cứu không ngừng tìm ra những giống tốt phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước và ứng dụng khoa học công nghệ vào khâu chế biến, bảo quản đúng qui cách, tiêu chuẩn xuất khẩu. VI. Tài liệu tham khảo: http://www.thuonghieunongsan.org.vn (đọc ngày:2/02/2007) http://www.hptrade.com.vn/tuvan.asp (đọc ngày:02/03/2007) http://www.thuonghieunongsan.org.vn/index.php?p=tt&id=2&idsp=58 (đọc ngày: 14/03/2007) http://www.phuthotrade-tourism.gov.vn/News.asp?Subid=1&LangID=1&NewsID=249&MenuID=0 (đọc ngày: 14/03/2007) http://www.haugiang.gov.vn/W2007/channel.aspx?Code=NEWS&NewsID=166&c=2 (đọc ngày: 14/03/2007) http://www2.thanhnien.com.vn/kinhte/2005/5/31/111445.tno (đọc ngày 20/03/2007) http://cuctrongtrot.gov.vn/?index=k&id=204 (đọc ngày: 20/03/2007) http://www.vietrade.gov.vn/old/news.asp?cate=77&article=8108&lang=vn (đọc ngày: 22/03/2007)

×