Your SlideShare is downloading. ×
Tuyến điểm du lịch miền tây sông nước
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×

Saving this for later?

Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime - even offline.

Text the download link to your phone

Standard text messaging rates apply

Tuyến điểm du lịch miền tây sông nước

2,591
views

Published on


0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
2,591
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
55
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Bài Thuyết Minh TP.Hồ Chí Minh - Tiền Giang - Đồng Tháp - An Giang – - ( 246 Km ) Dzoãn Tiến Đạt IA. Tp.HCM – Tx.Tân An ( 47 Km ) : . Năm 1698, Nguyễn Phƣớc Chu - tức chúa Minh - sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính (thƣờng đọc là Cảnh) vào Nam kinh lý và lập phủ Gia Định. Nhƣng trƣớc đó, có lẽ hàng thế kỷ, nhiều sử liệu cho thấy ngƣời Việt Nam đã tới buôn bán và khẩn hoang lập ấp rải rác trong đồng bằng sông Mê Kông ở châu thổ miền Nam và sông Mê Nam bên Xiêm rồi. Biên niên sử Khơ Me chép:Năm 1618, vua Chey Chettha II lên ngôi. Ngài liền cho xây cung điện nguy nga tại U Đông, rồi cử hành lễ cƣới trọng thể với một công chúa Việt Nam rất xinh đẹp con chúa Nguyễn (ngƣời ta phỏng đoán đó là công nữ Ngọc Vạn con chúa Sãi, Nguyễn Phƣớc Nguyên). Hoàng hậu Sam Đát Việt Nam cho đem nhiều ngƣời đồng hƣơng tới Campuchia, có ngƣời đƣợc làm quan lớn trong triều, có ngƣời làm các nghề thu công và có ngƣời buôn bán hay vận chuyển hàng hóa. Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhƣng cũng là địa điểm qua lại và nghỉ ngơi của thƣơng nhân Việt Nam đi Campuchia và Xiêm La. Chẳng bao lâu, hai đồn thu thuế trở thành thị tứ trên bến dƣới thuyền, công nghiệp và thƣơng nghiệp sầm uất. Giáo sĩ Ý tên Christoforo Boni sống tại thị trấn Nƣớc Mặn gần Qui Nhơn từ năm 1681 đến năm 1622, viết hồi ký "Chúa Nguyễn phải chuyên lo việc tập trận và gởi quân sang giúp vua Campuchia - cũng là chàng rể lấy con gái hoang của chúa! Chúa viện trợ cho vua cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại vua Xiêm". Borri cũng tả khá tỉ mỉ về sứ bộ của chúa Nguyễn đi Campuchia hồi 1620: "Sứ thần là ngƣời sinh trƣởng tại Nƣớc Mặn, một nhân vật quan trọng đứng sau chức tổng trấn. Trƣớc khi lên đƣờng, ông đã để nhiều ngày giờ bàn bạc và nhận lệnh của chúa. Sứ bộ gồm khá đông ngƣời, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh U Đông, thì dân chúng Khơ Me, thƣơng nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản và Trung Hoa đã tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh. Vì sứ thần đây là ngƣời quan thuộc, đã lui tới nhiều lần, từng làm đại diện thƣờng trú từ lâu, chứ không phải sứ giả mới tới lần đầu. Borri còn cho biết tòa sứ bộ khá quan trọng và đông đúc, nào là thê thiếp, ngƣời hầu kẻ hạ của sứ thần, nào binh sĩ giữ an ninh và phục dịch sứ bộ. Một giáo sĩ khác ngƣời Pháp tên là Chevreuil tới thăm Colompé (tức Pnom Penh, Nam Vang) hồi 1665 đã thấy "hai làng An Nam nằm bên kia sông, cộng số ngƣời đƣợc độ 500 mà kẻ theo đạo Công giáo chỉ có 4 hay 5 chục ngƣời". Ngoài Nam Vang, tại các nơi khác cũng có nhiều ngƣời Việt Nam sinh sống, ở thôn quê thì làm ruộng, gần phố thì buôn bán, làm thủ công hay chuyên chở ghe thuyền, kể hàng mấy ngàn ngƣời. Nhƣ ở Đất Đỏ, Bà Rịa, Bến Cá, Cù lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên, v.v...
  • 2. Ngoài đồng bằng sông Mê Kông, ngƣời Việt Nam còn đến làm ăn và định cƣ rải rác trong đồng bằng sông Mê Nam. Lịch sử cho biết: dân tộc Thái mới lập quốc từ thế kỷ VII sau công nguyên ở giữa bán đảo Đông Dƣơng và chủ yếu trên lƣu vực sông Mê Nam. Nƣớc này gọi là Xiêm hay Xiêm La (Siam), đến năm 1939 mới đổi tên là Thái Lan. Kinh đô Xiêm xƣa ở Ayuthia, xây dựng thừ năm 150 trên một khúc quanh của sông Mê Nam cách biển gần 100 km. Theo bản đồ Loubère vẽ năm 1687, thì kinh đô Ayuthia nằm trong một hòn đảo lớn, giữa hai nhánh sông Mê Nam. Đƣờng sá, cầu cống, phố chợ, lâu đài... đƣợc ghi khá rõ ràng. lại có thêm chú chích minh bạch nhƣ: A=Thành phố, B=cung điện, C=bến cảng, D=xƣởng thủy hải quân, E=xƣởng thủy ghe thuyền, F=phố thị, G=chủng viện... Chung quanh hòn đảo chính có những khu vực dành riêng cho dân Xiêm hay ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú: ngƣời Xiêm ở phía Bắc và Tây Bắc, ngƣời Hoa ở phía Đông, ngƣời Việt Nam, Mã Lai, Nhật Bản, Hòa Lan, Bồ Đào Nha ở phía Nam. Nơi ngƣời Việt ở cũng là một cù lao khá rộng, qua sông là tới phố thị kinh đô, việc đi lại giao dịch rất thuận lợi. Nhìn cách bố trí thôn trại chung quanh Ayuthia, ta có thể phỏng đoán cộng đồng ngƣời Việt ở đây khá đông và là một trong mấy nhóm ngoại quốc tới lập nghiệp sớm nhất. Trên bản đồ có ghi rõ chữ Cochinchinois nơi thôn trại Việt. Đƣơng thời, địa danh này chỉ ngƣời Đàng Trong và cũng có thể chỉ chung ngƣời VIệt Nam, vì trƣớc đó - trong thời gian chƣa có phân ranh Trịnh Nguyễn, Tây phƣơng dùng địa danh ấy, biến dạng bởi Giao Chỉ - Cauchi - Cauchinchina - Cochinchine để gọi chung Việt Nam. Đa số ngƣời Việt ở đây là ngƣời Đàng Trong, song cũng có ngƣời Đàng Ngoài. Họ tới định cƣ và lập nghiệp có lẽ từ thế kỷ XVI hay đầu thế kỷ XVII tồi, nghĩa là từ thời nhà Mạc khi trong nƣớc rất xáo trộn là loại ly. Theo ký sự của Vachet thì cả nam nữ già trẻ. Ngoài Ayuthia, ngƣời Việt còn tới làm ăn định cƣ tại Chân Bôn (Chantaburi) và Bangkok là những thƣơng điếm trung chuyển từ Hà Tiên tới kinh đô Xiêm. Sử Việt Nam và sử Khơ Me cùng nhất trí ghi sự kiện:Năm 1674, Nặc Ong Đài đánh đuổi vua Nặc Ong Nộn. Nộn chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa liền sai thống suất Nguyễn Dƣơng Lâm đem bính đi tiến thảo, thâu phục luôn 3 lũy Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang (trong sử ta, địa danh Sài Gòn xuất hiện từ 1674 vậy). Đài thua chạy rồi tử trận. Chúa Nguyễn phong cho Nặc Ong Thu làm Cao Miên quốc vƣơng đóng đô ở U Đông, cho Nặc Ong Nộn làm phó vƣơng. Sử ta còn ghi rõ:năm 1679, chúa Nguyễn Phƣớc Tần tức Hiền Vƣơng cho "nhóm ngƣời Hoa" muốn "phục Minh chống Thanh" là Dƣơng Ngạn Địch tới Mỹ Tho, Trần Thƣợng Xuyên tới Biên Hòa và Sài Gòn để lánh nạn và làm ăn sinh sống. Những nơi đó đã có ngƣời Việt tới sinh cơ lập nghiệp từ lâu. Nhƣ Trịnh Hoài Đức đã chép: các chúa Nguyễn "chƣa rảnh mƣu tính việc ở xa nên phải tạm để đất ấy cho cƣ dân bản địa ở, nối đời làm phiên thuộc ở miền Nam, cống hiến luôn luôn". Nhƣng năm 1658, "Nặc Ong Chân phạm biên cảnh", Hiền Vƣơng liền sai "phó tƣớng Tôn Thất Yên đem ngàn binh đi 2 tuần đến thành Mô Xoài (Bà Rịa), đánh phá kinh thành và bắt đƣợc vua nƣớc ấy". Sau đƣợc tha tội và đƣợc phong làm Cao Miên quốc vƣơng "giữ đạo phiên thần, lo bề cống hiến, không xâm nhiễu dân sự ở ngoài biên cƣơng. Khi ấy địa đầu Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai đã có lƣu dân của nƣớc ta đên ở chung lộn với ngƣời Cao Miên khai lhẩn ruộng đất". Nhƣ vậy là từ trƣớc 1658, Mô Xoài và Đồng Nai đã thuộc "biên cảnh" của Việt Nam.
  • 3. Bốn mƣơi năm sau (tức 1698), chúa Nguyễn mới sai Nguyễn Hữu Kính vào "kinh lý" miền Nam. Đó là cuộc kinh lý miền biên cảnh - khi ấy "đất đai đã mở rộng khắp miền đông Nam Bộ nay. Trên cơ sở lƣu dân Việt Nam tự phát tới "khẩn hoang lập ấp", Nguyễn Hữu Kính đã lập phủ Gia Định và 2 huyện Phƣớc Long, Tân Bình (một phần nay là TPHCM). Đúng là dân làng đi trƣớc, nhà nƣớc đến sau. Và miền biên cảnh Nam Bộ sáp nhập vào cƣơng vực Việt Nam một cách thật êm thắm và hòa hợp dân tộc vậy. Hình ảnh đầu tiên tạo nên địa thế Sài Gòn chính là vùng Bến Nghé – Sài Gòn. Vùng này xƣa kia là rừng rậm đầm lầy, hoang vắng, "mênh mông rừng tràm, bạt ngàn rừng dừa", song cũng nổi tiếng là vùng đất màu mỡ phì nhiêu có đƣờng giao thông thuận tiện. Năm 1698Chúa Nguyễn sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền biên cảnh phía Nam, lập phủ Gia Định và thời điểm này đƣợc ghi vào lịch sử nhƣ cột mốc thời gian để tính tuổi cho thành phố Năm 1896, thành phố đổi tên từ "Gia Định Tỉnh" thành Sài Gòn và từ đây tên tuổi này ngày càng rực sáng trên trƣờng quốc tế qua những hình ảnh và trang sử rất gợi nhớ: "Là trung tâm thƣơng mại sầm uất, có thƣơng cảng thuận tiện cho giao lƣu kinh tế với nƣớc ngoài"; "Sài Gòn hòn ngọc của Viễn Đông", "Sài Gòn có cảng Nhà Rồng, nơi Bác Hồ đã ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc"; Sài Gòn còn là điểm khởi đầu của Nam Bộ kháng chiến oanh liệt. Trong kháng chiến chống Mỹ, Sài Gòn luôn đi đầu trên mọi trận tuyến, lịch sử Sài Gòn gắn liền với những trang sử đấu tranh hào hùng của công nhân, lao động, trí thức, học sinh, sinh viên và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã tô thắm thêm cho bản anh hùng ca dựng nƣớc và giữ nƣớc của ngƣời Sài Gòn, của dân tộc Việt Nam kiên cƣờng. Từ đây lịch sử đã sang trang mới, "Sài Gòn" đƣợc Quốc Hội đổi tên thành "Thành phố Hồ Chí Minh" (tháng 07/1976), và một thời kỳ mới đã bắt đầu - Thời kỳ xây dựng xã hội mới vì mục tiêu: Dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Địa danh: Gia Định – Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh - 1698 – 1802: Phủ Gia Ðịnh - 1790 – 1802: Gia Ðịnh Kinh - 1802 – 1808: Gia Ðịnh Trấn - 1808 – 1832: Gia Ðịnh Thành - 1836 – 1867: Tỉnh Gia Ðịnh - 1889 – 1975: Tỉnh Gia Ðịnh (Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh) - 1976 đến nay: Thành phố Hồ Chí Minh Địa danh Gia Định đã xuất hiện từ 300 năm qua, nhƣng khi là phủ, là tỉnh, là toàn xứ Nam bộ, lại chỉ định những địa bàn hành chính to nhỏ rất khác nhau. Thật là phức tạp, chúng ta cần xem xét cho thấu đáo. Phủ Gia Định từ 1698 đến 1802. Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền Nam, thấy nơi đây đất đã mở mang "hàng ngàn dặm và có dân trên 4 vạn hộ". Để chấm dứt tình trạng lƣu dân tự khẩn hoang lập ấp đó, Cảnh bèn lập phủ Gia Định để coi hai huyện: Phƣớc Long (Biên Hòa) và Tân Bình (Sài Gòn, từ sông Sài Gòn đến sông Vàm Cỏ Đông). Diện tích rộng khoảng 30.000 km2. Năm 1708, Mạc Cửu xin cho trấn Hà Tiên thuộc quyền Chúa Nguyễn. Năm 1732,
  • 4. chúa Nguyễn cho lập châu Định Viễn và dựng dinh Long Hồ (sau là Vĩnh Long). Năm 1756, tổ chức cai trị đạo Trƣờng Đồn (sau là Định Tƣờng). Năm 1757, chúa Nguyễn cho lập các đạo Đông Khẩu, Tân Châu, Châu Đốc. Từ đó toàn miền Nam thuộc về lãnh thổ và chính quyền Việt Nam. Từ 1779, phủ Gia Định bao gồm cả: Dinh Phiên trấn (Sài Gòn) Dinh trấn Biên (Biên Hòa) Dinh Trƣờng Đồn (Định Tƣờng) Dinh Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang). Trấn Hà Tiên. Nhƣ vậy, diện tích phủ Gia Định là diện tích toàn Nam bộ rộng khoảng 64.743 km2. Gia Định kinh từ 1790 đến 1802 Sau khi thâu hồi đất Gia Định, Nguyễn Ánh cho xây thành Bát Quái rộng lớn theo cách bố phòng Vauban, theo định hƣớng phong thổ Aá Đông, theo mỹ thuật dân tộc Việt Nam và mệnh danh là Gia Định kinh. Gia Định trấn từ 1802 đến 1808. Năm 1802, Nguyễn Ánh thâu phục kinh thành Phú Xuân rồi lên ngôi và lấy đế hiệu Gia Long. Gia Long bèn hạ cấp Gia Định kinh xuống làm Gia Định trấn thành. Cải tên phủ Gia Định làm trấn Gia Định và đặt "trấn quan" để cai quản cả ngũ trấn là: trấn Phiên An, trấn Biên Hòa, trấn Định Tƣờng, trấn Vĩnh Long, trấn Hà Tiên. Gia Định thành từ 1808 đến 1832 Gia Định thành thay cho Gia Định trấn. Gia Định thành là đơn vị hành chính lớn cũng nhƣ Bắc thành cai quản cả xứ Bắc gồm nhiều trấn. Có lẽ phải đổi tên Gia Định trấn ra Gia Định thành để khỏi lẫn với 5 trấn dƣới quyền cai quản. Từ đó, thành cai quản trấn. Để dễ phân biệt. Khi Trịnh Hoài Đức viết Gia Định thành thông chí là có ý nghiên cứu toàn hạt 5 trấn đã kể trên. Tỉnh Gia Định từ 1836 đến 1867. Năm 1832, sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng liền cải ngũ trấn thành lục tỉnh là Phiên An, Biên Hòa, Định Tƣờng, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đổi thành Gia Định - nơi trú đóng của Tổng trấn - làm tỉnh thành Phiên An - nơi trị sở của Tổng đốc coi riêng Phiên An thôi. Năm 1835, sau vụ Lê Văn Khôi, Minh Mạng cho phá thành Bát Quái và xây dựng Phụng thờ nhỏ, gọi là tỉnh thành Phiên An. Năm 1936, cải tỉnh Phiên An ra tỉnh Gia Định. Tỉnh thành Phiên An cũng đổi ra tỉnh thành Gia Định. Tỉnh Gia Định đƣơng thời rộng khoảng 11.560 km2. Năm 1859, Pháp tới chiếm Sài Gòn và phá bình địa thành Gia Định (Pháp gọi là thành Sài Gòn). Sau Hòa ƣớc 1862 mất đi ba tỉnh miền Đông, Pháp vẫn chia tỉnh Gia Định làm 3 phủ nhƣ cũ: Tân Bình, Tân An, Tây Ninh. Hạt Gia Định từ 1885 đến 1889. Từ năm 1867, Pháp bỏ tên tỉnh Gia Định mà gọi là tỉnh Sài Gòn. Tỉnh Sài Gòn cũng là địa bàn tỉnh Gia Định trƣớc, song không chia ra phủ huyện, mà chia ra 7 hạt tham biện (inspection), trong đó có hạt Sài Gòn (không kể thành phố Sài Gòn). Hạt Sài Gòn gồm 2 huyện Bình Dƣơng và Bình Long. Nhƣng từ năm 1872, hạt Sài Gòn gồm thêm huyện Ngãi An (Thủ Đức) nguyên thuộc tỉnh Biên Hòa.
  • 5. Năm 1885,đổi tên hạt Sài Gòn thành hạt Gia Định (có lẽ để phân biệt rõ với thành phố Sài Gòn). Tỉnh Gia Định từ 1889 đến 1975. Năm 1889,bỏ danh xƣng hạt (arrondissement), lấy tên tỉnh cho thống nhất với toàn quốc Việt Nam. Tỉnh Gia Định là 1 trong 20 tỉnh của cả Nam Kỳ lục tỉnh cũ. Tỉnh Gia Định (thu hẹp) này chia ra 18 tổng với 200 xã thôn, rộng khoảng 1.840 km2. Năm 1944,thiết lập tỉnh Tân Bình trên một phần đất của tỉnh Gia Định (bắc Sài Gòn nhƣ Phú Nhuận, Phú Thọ, Hạnh Thông, Tân Sơn Nhì..., vùng Thủ Thiêm và một phần Nhà Bè). Tỉnh này chỉ tồn tại đến cuộc Cách mạng 5-1945 rồi giải thể. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, một phần không nhỏ của địa phận tỉnh Gia Định đã là căn cứ Cách mạng kháng chiến. Năm 1956,vùng Củ Chi đƣợc trích ra để lập thêm 2 tỉnh Hậu Nghĩa và Bình Dƣơng, Hậu Nghĩa lấy phần đất phía tây vẫn gọi là quận Củ Chi. Bình Dƣơng lấy phần đất phía đông gọi là quận Phú Hòa. Sau vụ chia cắt, Củ Chi cho 2 tỉnh Hậu Nghĩa và Bình Dƣơng, tỉnh Gia Định (1970) còn chia ra 8 quận với 74 xã, rộng 1.499 km2. Tình hình đó tồn tại đến ngày Giải phóng 1975. Từ năm 1975đến nay, địa danh Gia Định không còn dùng để chỉ bất cứ một đơn vị hành chính nào. Song nhân dân miền Nam vẫn nhớ tên đó với nhiều ấn tƣợng sâu sắc và tốt đẹp, Sử sách Thành phố và toàn Nam Bộ luôn nói đến Gia Định từ suốt 300 năm qua để ghi dấu bao chiến công và thành tích phát triển vƣợt bậc của phần đất phía Nam của Tổ quốc. . Ngay cái nhìn đầu tiên, Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh đã để lại ấn tƣợng sâu sắc của một đô thị lớn nhất, náo nhiệt nhất và năng động nhất trong cả nƣớc. Những phố xá đèn sáng choang, sinh hoạt và vui chơi giải trí kéo dài đến tận khuya. Những dòng xe cộ hối hả trên khắp các ngả đƣờng nhƣ không bao giờ dứt. Dãy dãy cửa hiệu với hàng hóa phong phú đủ màu, đủ loại góp phần làm nên danh tiếng "Sài Gòn - thiên đƣờng mua sắm". Nhan nhãn những quán ăn, cửa tiệm, nhà hàng với thực đơn rất đa dạng khiến ẩm thực trở thành một cái thú không thể thiếu đối với du khách đến nơi đây. Nhƣng đàng sau sự sôi nổi ấy là một cuộc sống phóng khoáng mà hài hòa, với những phong tục tập quán lâu đời của một nền văn hóa truyền thống đã thích nghi với cuộc sống khai hoang mở đất ở một vùng đồng bằng sông nƣớc, và sớm giao thoa với các nền văn hóa trong khu vực và phƣơng Tây. Hàng trăm chùa chiền, hàng trăm ngôi đình thờ phụng các anh hùng đất nƣớc và các tiền hiền có công mở cõi vẫn quanh năm nhang khói. Các chứng tích của sự nghiệp giải phóng thành phố và đất nƣớc đƣợc trân trọng bảo tồn. Ngoài các lễ tết chính thức, ngƣời dân thành phố tổ chức rất trọng thể nhiều lễ hội theo truyền thống "uống nƣớc nhớ nguồn" nhƣ Lễ hội Nghinh Ông, Ngày giỗ tổ nghề, Ngày Thầy thuốc, Ngày Nhà giáo, Ngày Báo hiếu, Ngày Phụ nữ… Các kiến trúc của Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông xƣa đƣợc giữ gìn và tôn tạo, trở thành những điểm tham quan lý thú. Bên cạnh đó là những công trình hiện đại phát huy từ cảm hứng trong kiến trúc truyền thống Việt Nam. Ởû nơi đất hẹp ngƣời đông này, du khách sẽ bất ngờ với những đại lộ rợp bóng cổ thụ trăm năm, những công
  • 6. viên rộng rực rỡ hoa lá, những khu biệt thự thanh bình. Bên cạnh những tòa cao ốc mới ở trung tâm thành phố, khách sẽ có dịp ghé thăm Chợ Lớn của ngƣời Hoa với những khu phố cổ nhộn nhịp, hoạt động thƣơng mại và sản xuất luôn nhộn nhịp ngày đêm. Là trung tâm du lịch và cửa ngõ du lịch lớn nhất trong cả nƣớc, thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống cơ sở vật chất và dịch vụ du lịch khá phát triển, từ những điểm vui chơi giải trí cho đến khách sạn, nhà hàng. Khí hậu thành phố dễ chịu, nắng không quá nóng và mƣa không kéo dài nên mùa nào cũng có thể là mùa du lịch. Ngƣời dân thành phố, thân thiện và phóng khoáng, luôn mong đƣợc tiếp đón du khách từ mọi phƣơng trời. . Để chuyến du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh trọn vẹn, có những điểm tham quan tiêu biểu mà bạn không thể bỏ qua. Với hệ thống 11 bảo tàng, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số bảo tàng nhiều nhất so với các tỉnh, thành trong cả nƣớc. Nội dung trƣng bày của các bảo tàng khá phong phú, và không chỉ về lịch sử và văn hóa địa phƣơng, mà của cả Nam bộ, quốc gia và khu vực Đông Nam Á, cung cấp nhiều kiến thức lý thú. Trên 1.000 ngôi chùa, đình, đền và miếu đƣợc xây dựng qua nhiều thời kỳ cũng là những tài sản quý về văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật. Bạn sẽ tìm thấy những chùa Phật giáo Nam bộ tiêu biểu, những ngôi đình xƣa gắn liền với lịch sử khẩn hoang mở đất. Bên cạnh đó là những chùa "cách tân" lớn nhất và đẹp nhất trong cả nƣớc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong cách hiện đại với kiến trúc chùa cổ truyền. Thành phố có đến nửa triệu ngƣời Hoa sống tập trung nên số chùa Hoa cũng nhiều nhất so trong nƣớc, kiến trúc đa dạng và phong phú, nhiều chùa đã đƣợc công nhận di tích lịch sử - văn hóa của thành phố và quốc gia. Ngƣời Pháp đã để lại nhiều công trình đẹp và đa dạng. Có thể nói hiếm có đô thị nào ở Đông Nam Á lại có nhiều dạng kiến trúc, nhiều trƣờng phái, phong cách nghệ thuật phƣơng Tây nhƣ Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh. Điển hình nhƣ trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố theo phong cách Đệ Tam Cộng hòa Pháp, Ngân hàng Nhà nƣớc chịu ảnh hƣởng trào lƣu Tân Nghệ thuật, Nhà Thiếu nhi với phong cách Tân Cổ điển, Nhà Rồng phong cách Đông Dƣơng, Bƣu điện với trƣờng phái Chiết Trung, nhà thờ Đức Bà với nghệ thuật Rôman, nhà thờ Huyện Sĩ theo Tân Gôtic… Mảng kiến trúc đƣơng đại, đang bùng nổ, trăm màu trăm vẻ, tạo cho thành phố một diện mạo vui mắt, trong đó có một số tòa nhà đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao. Nhƣng điểm du lịch độc đáo nhất của thành phố vẫn là Địa đạo Củ Chi, một công trình độc đáo trong lịch sử quân sự thế giới, biểu tƣợng của ý chí sắt đá và thông minh mƣu trí của quân dân thành phố trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc. Lẫy lừng không kém là rừng ngập mặn Cần Giờ với những trận chiến phá tàu giặc trên cửa sông Sài Gòn, nay là một điểm du lịch sinh thái tuyệt vời với những cánh rừng đƣớc xanh vô tận. 1.4. . Là trung tâm của vùng đất phƣơng Nam trù phú, sản vật dồi dào, nên món ăn Sài Gòn rất đa dạng. Lại thêm là nơi hội tụ của cƣ dân từ mọi miền đất nƣớc và cửa ngỏ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nên thành phố đã tiếp nhận thêm các dòng ẩm
  • 7. thực của cả nƣớc và thế giới, chọn lọc tinh hoa thành một nền ẩm thực phong phú và hấp dẫn. Ngày nay, ngƣời ta dễ dàng tìm thấy ở Sài Gòn vô số đặc sản Bắc, Trung, Nam hay quốc tế, theo đúng nguyên bản cũng có, nhƣng phổ biến hơn vẫn là những món đã đƣợc "Sài Gòn hóa" để hƣơng vị thêm phong phú, đậm đà. Chất Sài Gòn thƣờng thể hiện ở vị ngọt, nhiều rau xanh và nhiều thủy hải sản tƣơi sống. Chẳng hạn nhƣ món canh chua Sài Gòn đã kết hợp cả cái chua- mặn của miền Bắc, cái cay nồng ớt tƣơi của miền Trung và cái ngọt xởi lởi của miền Nam. Món bún bò Huế đƣợc "cải biên" để bớt cay, thêm ngọt, thêm béo và thêm rau. Món bò bít tết của phƣơng Tây thì mỏng hơn, chín hơn, nhiều gia vị hơn và kèm rau sống, đồ chua nhiều hơn… Khuynh hƣớng gần đây tìm về những món dân dã chốn đồng quê, món ăn của thời khẩn hoang mở cõi. Kể cả thực đơn của các nhà hàng sang trọng nay có cả món chuột đồng rô ti, châu chấu chiên giòn, lƣơn hấp trái bầu, ếch xào lăn, cá rô kho tộ, cá bống dừa kho tiêu… Món lẫu sành điệu phải đủ hai mƣơi mấy thứ rau đồng nội nhƣ cù nèo, tai tƣợng, càng cua, bông so đũa, bông điên điển… Món nƣớng thì nào là nƣớng than hồng, nƣớng trui, nƣớng mọi, nƣớng lu, nƣớng đất sét… Và ngƣời Sài Gòn vẫn không ngừng sƣu tầm để bổ sung vào thực đơn của mình những món ăn đã một thời bị quên lãng cũng nhƣ những món mới từ khắp bốn phƣơng trời. Từ bình dân đến cao cấp, mỗi nhà hàng tạo một ấn tƣợng riêng. Tuy nhiên, khuynh hƣớng chung vẫn là tìm về với phong cách dân tộc và địa phƣơng. Nhà hàng máy lạnh nhƣng trang trí mây tre lá và gốm sứ Việt Nam, ngƣời phục vụ trong áo dài khăn đóng. Lại có nhà hàng thiết kế cột gỗ mái ngói, hoành phi câu đối, dàn nhạc dân tộc cùng cung cách phục vụ của cung đình. Bên cạnh đó là những nhà hàng hải sản trang trí lƣới cá dăng dăng và dãy dãy bể rộng đủ loại tôm, cua, cá. Nhƣng có lẽ đƣợc yêu thích nhất vì phù hợp với khí hậu miền nhiệt đới, với tâm tình của con ngƣời Nam bộ, là những làng nƣớng mái lá đơn sơ bốn bề rộng mở, với gốc chuối, ao sen, khăn rằn, áo bà ba và những món ăn có nguồn gốc dân dã nhƣng đã đƣợc nâng cấp từ hình thức đến hƣơng vị thành những đặc sản tuyệt vời. Đi đầu trong phong cách này phải nói đến Làng Du lịch Bình Quới với chƣơng trình Buffet Ẩm thực Khẩn hoang. Không kể món Hoa gốc Chợ Lớn vốn đƣợc xem nhƣ một bộ phận của ẩm thực Sài Gòn, bạn sẽ có dịp thƣởng thức ẩm thực thế giới trong các khách sạn sang trọng hay tại các nhà hàng Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Pháp, Ý, Đức, Tiệp, Mỹ… do chính những đầu bếp bản quốc nấu nƣớng. Bên cạnh đó, bạn có thể thƣởng thức những bữa tiệc chay với các món ăn trang trí đẹp mắt và hƣơng vị đậm đà, thật sự làm ngạc nhiên thực khách. Sở thích của người Sài Gòn là ngồi nơi thoáng đãng, ăn uống lai rai, tán gẫu với bạn bè, vừa ngắm cảnh người qua lại tấp nập trên đường phố. Vì thế mà hàng quán bán thức ăn nhẹ, thức ăn chơi hiện diện khắp mọi nơi. Có đến hàng trăm thức ăn nhẹ, như bánh mì, phở, hủ tiếu, mì, cháo, bún, xôi, cơm tấm, bánh cuốn, bánh bao… Mỗi thức lại có vài chục món, như riêng xôi, bạn có thể chọn xôi vò, xôi bắp, xôi gấc, xôi vị, xôi mặn, xôi gà, xôi lạp xưởng, xôi đậu đen, xôi đậu xanh, xôi đậu phụng... Mỗi món, tùy theo quán, lại có khẩu vị riêng, của miền Nam, Trung, Bắc, kể cả những khẩu vị đặc trưng của người Hoa.
  • 8. Lại có những quán ăn chơi bên vỉa hè mà khách hàng chính là các bạn trẻ, nhưng cũng không hiếm những người lớn tuổi thích tìm một chút "bụi bụi" hay những gia đình đưa con nhỏ đi dạo chơi và ghé vào. Quán đơn lẻ cũng nhiều, nhưng nổi tiếng vẫn là những khu phố bán đủ các món ăn chơi hoặc nguyên một khúc đường chỉ bán một món duy nhất. Chẳng hạn như bột chiên đường Võ Văn Tần, gỏi bò khô Đinh Tiên Hoàng, thạch chè Nguyễn Đình Chiểu, chè 3 màu – xôi mặn Bùi Thị Xuân, hột vịt lộn – nghêu sò Pasteur, bò bía Bà Huyện Thanh Quan, cocktail sữa Nguyễn Tri Phương, bánh canh cua Ngã Sáu… Cũng thật là những nơi thú vị cho du khách sau một vòng dạo phố ban đêm, ngồi lai rai ngắm cảnh. Cho nên thật không có gì quá đáng khi nói rằng ẩm thực Sài Gòn thuộc loại hàng đầu trong cả nƣớc. Xin đừng quên thƣởng thức những món ngon Sài Gòn khi đến với thành phố này. . Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 641 khách sạn với 17.646 phòng. Hệ thống khách sạn bao gồm từ những khách sạn cao cấp do các tập đoàn quốc tế hàng đầu nhƣ Accor, Furama, Mariot hay Shareton quản lý, các khách sạn đã có quá trình hoạt động cả trăm năm mà dịch vụ đƣợc ngay cả các vị nguyên thủ quốc gia, các doanh nhân tầm cỡ khen ngợi, đƣợc các tổ chức quốc tế về du lịch trao tặng nhiều giải thƣởng và danh hiệu về chất lƣợng cao cho đến các khách sạn bình dân đáp ứng nhiều nhu cầu linh động và đa dạng của khách. Phần lớn các khách sạn đều chiếm những vị trí đẹp nhất trong trung tâm thành phố, gần các khu thƣơng mại, cận kề sân bay, nhà ga, bến xe… Và đặc điểm chính là các khách sạn đều có tính chuyên nghiệp cao, từ cơ sở vật chất và trang thiết bị cho đến các dịch vụ và phong cách phục vụ. Mỗi khách sạn thƣờng lựa chọn một ấn tƣợng riêng: Caravelle là khách sạn thƣơng nhân tuyệt hảo, Rex là "Ngôi nhà Việt Nam", Majestic với vẻ thanh lịch cổ điển phƣơng Tây, Bông Sen gây ấn tƣợng bằng ẩm thực "buffet gánh", Đệ Nhất nổi tiếng với dịch vụ tiệc cƣới… Ngay những khách sạn nhỏ cũng tạo phong cách nhƣ sự phục vụ tận tâm, thân tình nhƣ trong gia đình, hay những dịch vụ đáp ứng mọi yêu cầu nho nhỏ của khách. Ngành khách sạn của thành phố Hồ Chí Minh có thể tự hào khi so sánh với các nƣớc trong khu vực. : . Long An là một trong những địa bàn của Nam Bộ từ lâu đã có cƣ dân sinh sống. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở An Sơn, đông bắc tỉnh này các di chỉ hậukỳ đồ đámới cách đây 3.000 năm và Rạch Núi đông nam tỉnh di chỉ đồ sắtcách đây 2.700 năm. Đáng chú ý là trên địa bàn Long An có tới 100 di tích văn hoá Óc Eovới 12.000 hiện vật, đặc biệt là quần thể di tích Bình Tả, gồm ba cụm di tích: Gò Xoài, Gò Đồn và Gò Năm Tƣớc. Đây là quần thể di tích văn hoá Óc Eo - văn hoá Phù Namcó niên đại từ thế kỷ thứ 1đến thế kỷ thứ 7. Quần thể di tích Bình Tả cho thấy vào thời cổ đại, vùng đất Long An ngày nay đã từng là trung tâm chính trị, văn hoá và tôn giáo của Nhà nƣớc Phù Nam- Chân Lạp. Ngoài các khu di tích lịch sử văn hoá kể trên, Long An còn có 40 di tích lịch sử cách mạng và nhiều công trình kiến trúc cổ khác. Tính chung, Long An có 186 di tích lịch sử văn hoá, trong đó đã có 7 di tích đƣợc xếp hạng cấp quốc gia.
  • 9. Đến đời vua Minh Mạng, nhà Nguyễnđổi các trấn thành sáu tỉnh là: Định Tƣờng, Biên Hòa, Gia Định, Vĩnh Long, An Giangvà Hà Tiên. Sau khiPhápchiếm trọn miền Nam, đã chia 6 tỉnh này thành 21 tỉnh, tỉnh Định Tƣờng tách ra để thành lập 3 tỉnh mới là Tân An, Mỹ Thovà Gò Công. Đất đai của Long An ngày nay khi đó thuộc tỉnh Tân An , Hậu Nghĩa và Chợ Lớn. Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhân dân Long An đã tham gia các cuộc kháng chiến dƣới sự lãnh đạo của Võ Duy Dƣơng, Trƣơng Định, Nguyễn Hữu Huân,Nguyễn Trung Trựcđánh các đồn bốt của ngƣời Pháp. Nguyễn Đình Chiểuđã làm bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để biểu dƣơng tinh thần của các nghĩa sĩ Cần Giuộc. . Mảnh đất Long An, cửa ngõ của đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích 4.338 km2, với 1.300.100 ngƣời dân sinh sống ở thị xã Tân An và các huyện: Mộc hóa, Tháp Mƣời, Lai Vu, Châu Thành. Long An hấp dẫn khách du lịch chủ yếu do giá trị nhân văn của nền văn hóa ốc Eo, một nền văn hóa đã hình thành và phát triển ở châu thổ sông Cửu Long từ thế kỷ thứ nhất đến thứ 6 sau Công nguyên do tiếp nhận tinh hoa văn hóa ấn Ðộ. Ở LONG AN CÓ gần 20 di tích tiền sử và gần 100 di tích văn hóa ốc Eo đƣợc phát hiện, thu thập 12 nghìn hiện vật. Long An còn có trên 40 di tích lịch sử cách mạng, kiến trúc và danh lam thắng cảnh quan trọng nhƣ: Cụm di tích Bình Tả (Ðức Hòa), di tích lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Ðức (thị xã Tân An), di tích lịch sử Văn Nhựt Tảo, di tích đồn Rạch Cát, ngôi nhà trăm cột (ấp Trung, xã Long Hiệu Ðông, huyện Cần Ðƣớc), di tích lịch sử khu vực Ngã tƣ Ðức Hòa. Diện tích: 4.338 km2 (1694 sq miles). Dân số(01/04/1999): 1,306,202 ngƣời. Tỉnh ly: Thị xã Tân An. Các huyện: Bến Lức, Cần Đƣớc, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Tân Trụ, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Vĩnh Hƣng, Tân Hƣng. Dân tộc: Việt (Kinh), Khmer. Cách Sài Gòn 47 km (30 miles), Long An là cửa ngõ của đồng bằng sông Cửu Long, phía Bắc giáp Tây Ninh và các nƣớc Cam-Pu-Chia, phía Đông giáp Sài Gòn, phía Nam giáp Tiền Giang và phía Tây giáp Đồng Tháp. Là một tỉnh nông nghiệp, đất Long An màu mỡ trải ra trên hai triền sông của hai con sông lớn sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Ở phía Bắc tỉnh có một số gò, đồi thấp, còn lại thì bằng phẳng. Phần đất phía Tây thuộc vùng trũng của Đồng Tháp Mƣời. Long An có một mạng lƣới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nối liền nhau, chia cắt địa bàn tỉnh thành nhiều vùng. Thực ra Long An chƣa phải là đồng bằng sông Cửu Long, mà chỉ là đồng bằng sông Vàm Cỏ giữa hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long. Khí hậu: nhiệt đới gió mùa, hai mùa mƣa và khô rõ rệt nhiệt độ trung bình 27,4 ° C, mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, lƣợng mƣa trung bình 1.620 mm/năm (64 in/năm). Long An đông dân chủ yếu là ngƣời Việt (Kinh) và đồng bào gốc Khmer ở phía Tây tỉnh. Long An có 4 tôn giáo đƣợc đông ngƣời theo là Phật, Kitô, đạo Cao Đài và đạo Tin Lành. . Cụm di tích Bình Tả: Cụm di tích kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Bình Tả (gồm Gò Xoài, Gò Đồn và Gò Năm Tƣớc) cách thị xã Tân An 40 km (25 miles) về phía Đông
  • 10. Bắc, tại ấp Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Nằm trong một quần thể di tích thời tiền sử đƣợc phân bố theo các trục lộ cổ và sông Vàm Cỏ Đông, cụm di tích này thuộc nền văn hóa Óc Eo - Phù Nam có niên đại từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 7 sau công nguyên. Có ba di tích trong cụm đã đƣợc khai quật: di tích Gò Năm Tƣớc, Gò Xoài và Gò Đồn đƣợc phân bố trên một địa bàn tƣơng đối gần nhau. Ngôi đền Gò Xoài nằm ở độ sâu 1,70 - 1,90 m (5,4 - 5,7 ft) có thể coi là địa điểm hành lễ của dân Phù Nam. Đặc biệt trong bộ sƣu tập 26 hiện vật bằng vàng phát hiện ở Gò Xoài có một bản bằng 646 chữ Phạn cổ khắc trên một lá vàng mỏng ghi câu kinh Phật giáo. Nhiều hiện vật đƣợc khai quật tại đây có giá trị nhƣ các tƣợng thần Siva, thần giữ đền, tƣợng Vinu, các linh vật Linga, Yoni. Nhiều mảnh gốm mịn Óc Eo, mảnh kim loại, đá quí, sa thạch và hàng loại di chỉ khác về con ngƣời từ thời tiền sử xung quanh ngôi đền, trong khoảng bán kính 10 km (6 miles) đã đƣợc phát hiện. Các kiến trúc đƣợc phát hiện tại cụm di tích Bình Tả là các đền thờ thần Siva, thuộc tôn giáo Bà La Môn, xuất hiện ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ nhất trƣớc công nguyên đƣợc truyền bá mạnh mẽ vào miền Nam Đông Dƣơng từ đầu công nguyên. Nằm trong tổng thể di chỉ khảo cổ ở Đồng Tháp Mƣời và vùng phù sa cổ Đức Hòa (Long An), di tích Óc Eo đƣợc xây dựng nhằm mục đích tôn giáo đồng thời cũng đóng vai trò là một trung tâm chính trị, văn hóa của nƣớc Phù Nam - Chân Lạp thời cổ đại. Chùa Linh Sơn (chùa Núi): Chùa nằm trên khu di chỉ khảo cổ Rạch Núi. Chùa do Hòa thƣợng Minh Nghĩa khai sáng vào giữa thếkỷ 19. Chùa đƣợc trùng tu sửa chữa vào các năm 1926, 1970 và 1988. Kiến trúc ngôi chính điện hiện nay do Hòa thƣợng Thiên Lợi sửa chữa năm 1970. Trong chùa còn lƣu giữ trên 100 bức tƣợng, trong đó có nhiều pho tƣợng cổ bằng gỗ quí nhƣ tƣợng cổ Tiêu Diện, cao 0,40 m (1,2 ft). Ngoài ra trong khuôn viên chùa có tháp Hòa thƣợng Quảng Trí và Hòa thƣợng Thiện Lợi. Nhà bảo tàng Long An: Ở ngay trung tâm thị xã Tân An, thuộc phƣờng 4. Bảo tàng Long An trƣng bày nhiều cổ vật quí hiếm có ý nghĩa văn hóa nghệ thuật, trong đó có nhiều hiện vật đƣợc khai quật từ các di chỉ văn hóa tại địa phƣơng, rất thú vị cho khách đến tham quan nghiên cứu. Ngôi nhà 120 cột: Thuộc xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đƣớc, cách thị xã Tân An khoảng 50 km (31 miles). Ngôi nhà làm bằng gỗ quí (cẩm lai, gõ đỏ), đƣợc xây dựng trên 100 năm với vẻ rêu phong cổ kính, với kiến trúc độc đáo, chạm khắc tinh vi trong trang trí nội thất từ những bàn tay khéo léo, điêu luyện của 15 ngƣời thợ tài hoa ở miền bắc vào. Hoa văn ở đầu kèo, đầu cột làm cho bạn có cảm giác nhƣ mình đang đứng giữa một khu rừng có hoa lá, cỏ cây, chim muông... Bạn sẽ hết sức thú vị với những đƣờng nét pha trộn sự tinh tế của điêu khắc mang đặc điểm của ba miền. Ngôi nhà đã thu hút nhiều nghệ nhân các vùng lân cận đến nghiên cứu về kỹ thuật xây dựng, cũng nhƣ nhiều khách du lịch đến đây để tham quan. Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mƣời: Ngƣợc dòng sông Vàm Cỏ Tây, thuyền du lịch sẽ đƣa du khách đến trung tâm Đồng Tháp Mƣời, vùng du lịch sinh thái đặc trƣng của vùng đất trũng Nam Bộ, cách Tân An khoảng 50 km (31 miles) thuộc các huyện Mộc Hóa, Vĩnh Hƣng, Thạnh Hóa và Tân Thạnh. Đến đây du khách tận mắt nhìn thấy những cánh rừng tràm bạt ngàn, thoang
  • 11. thoảng hƣơng thơm với từng đàn ong mật lƣợn quanh, những cánh đồng sen rộng lớn với muôn vàn đóa hoa sen khoe sắc dƣới ánh nắng. Có nhiều loại động vật quí hiếm đang đƣợc bảo vệ tại vùng Đồng Tháp Mƣời nhƣ: Cò, Sếu đỏ, Rùa, Rắn... làm tăng vẻ đẹp vùng sinh thái. Đặc biệt khách có thể thƣởng thức các món ăn Nam Bộ nhƣ canh chua bông điên điển, gỏi ngó sen, cá lóc nƣớng trui chấm muối ớt với vài ly rƣợu đế đặc trƣng của đồng bằng Nam Bộ. Cụm vƣờn Thanh Long (Châu Thành): Khoảng 5km (3 miles) xuôi về phía Nam thị xã Tân An là huyện Châu Thành, huyện nổi tiếng về trái thanh long và dƣa hấu. Thanh long là loại trái cây đặc sản đƣợc trồng phổ biến ở vùng này, có giá trị dinh dƣỡng và kinh tế cao. Cành Thanh long đƣợc thả leo trên cây dông uốn mình nhƣ những con rồng xanh ngậm quả chín mọng đỏ rất hấp dẫn khách tham quan và thƣởng thức nét đẹp của vƣờn cây, vị ngọt mát của loại trái cây này. Vƣờn hoa kiểng Thanh Tâm: Vƣờn hoa nằm tại trung tâm thị xã Tân An, là vƣờn hoa cây kiểng bon sai nhiều loại, có loại trên 100 tuổi. Nhiều loại cây đạt huy chƣơng vàng hội chợ hoa xuân các tỉnh phía Nam. Với tài nghệ của các nghệ nhân, các kỳ quan thế giới đƣợc thu nhỏ trong vƣờn: núi Phú Sĩ, đền Angco, Kim Tự Tháp, thành nội Huế... DI TÍCH LỊCH SỬ ''VÀM NHỰT TẢO'' Là nơi giao hội giửa sông Vàm Cỏ Đông và sông Nhựt Tảo, Vàm Nhựt Tảo là một vùng sông nƣớc phẳng lặng hiền hòa thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Nhƣng vào ngày 10/12/1861, vàm Nhựt Tảo đã dậy sóng căm hờn nhấn chìm tàu L' Espérance của quân xâm lƣợc Pháp. Ngƣời đã làm nên sự kiện mà nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi là ''oanh thiên địa'' ấy chính là ngƣời anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực. Ông sinh năm 1839 tại xóm Nghề, làng Bình Nhựt, tổng Cửu Cƣ Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An (nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định, ông đã tham gia vào đội nghĩa binh kháng chiến dƣới quyền chỉ huy của Trƣơng Định và đƣợc cử về hoạt động chống Pháp trên địa bàn phủ Tân An. Đƣợc sự giúp đở của hƣơng chức làng Nhựt Tảo ông đã bố trí một kế hoạch táo bạo, thông minh để đánh tàu L' Espérance, một tiểu hạm chủa Pháp đang hoành hành trên vùng sông nƣớc huyện Cửu An.Sáng ngày 10/12/1861, sau khi bố trí lực lƣợng phục kích trên bờ và dụ cho một bộ phận địch rời khỏi tàu, Nguyễn Trung Trực đã cùng 59 nghĩa quân lên 5 chiếc ghe giả làm ghe buôn lúa tiến sát tàu địch. Trong lúc trình giấy thông hành, ông đã bất ngờ giết tên lính Pháp rồi cùng nghĩa quân tấn công lính Pháp trên tàu L' Espérance. Không kịp trở tay, toàn bộ địch trên tàu bị tiêu diệt ( chỉ có 5 tên chạy thoát). Nghĩa quân dùng dầu và đồ dẩn hỏa đốt cháy tàu L' Espérance. Ngọn lửa bốc cao từ từ nhấn chìm tàu xuống đáy sông sâu. Tin chiến thắng Nhựt Tảo bay đi làm nức lòng quân dân cả nƣớc. Triều đình Huế đã thăng Nguyễn Trung Trực lên chức Quản Cơ, hậu thƣởng cho nghĩa quân, cấp tử tuất và hổ trợ tiền cho làng Nhựt Tảo (bị quân Pháp triệt hạ). Thực dân Pháp cũng hết sức bàng hoàng vì chúng không thể ngờ rằng nghĩa quân có thể gây cho chúng tổn thất lớn nhƣ thế. Để ghi dấu kỷ niệm ''đau thƣơng'' này, Thực dân Pháp đã cho xây dựng một bia tƣởng niệm bên bờ sông Nhựt Tảo .Thời gian lặng lẽ trôi, vàm Nhựt Tảo vẫn còn đó nhƣ gợi lại trong lòng khách vãng lai một
  • 12. niềm hoài cổ. Tàu L' Espérance sau gần 120 năm nằm yên dƣới đáy sông sâu đã đƣợc khai quật. Tổng số hiện vật thu đƣợc là 89, trong đó có 78 hiện vật gỗ, 8 hiện vật sắt, 2 h iện vật đồng và 1 hiện vật thủy tinh. Qua nghiên cứu các hiện vật gỗ ta còn thấy đầy đủ các bộ phận để hợp thành bộ khung của tàu nhƣ cong đà, be, lƣờn, cột buồm. Tuy đã bị đục để lấy đi phế liệu nhƣng tàu L' Espérance vẩn còn một số mảnh gỗ bọc đồng hiện rõ vết cháy loang lỗ. Tất cả những hiện vật nêu trên đã đƣợc bảo quản và trƣng bày tại Bảo Tàng Long An nhằm giới thiệu khách tham quan trong và ngoài nƣớc những bằng chứng cụ thể về chiến công oanh liệt của ngƣời anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực cách nay hơn một thế kỷ. Ngày nay, nếu xuôi dòng Vàm Cỏ Đông đến địa phận xã An Nhựt Tân, du khách sẽ đƣợc ngắm nhìn vùng sông nƣớc hữu tình vàm Nhựt Tảo. Sông nơi đây khá rộng, dòng nƣớc trong xanh, hai bên bờ là những mái nhà xinh xắn nép mình dƣới rặng dừa nƣớc và một số loài cây hoang dại nhƣ vẹt, bần, đƣớc, mắm. Cách vàm 200m là chiếc cầu treo bắc qua sông Nhựt Tảo nối liền 2 xã An Nhựt Tân và Bình Trinh Đông. Những buổi bình minh đứng trên cầu treo nhìn ra vàm sông ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp nhƣ tranh nơi đây. Sƣơng tan là đà trên mặt sông dài nhƣ đƣợc nhuốm hồng bởi ánh bình minh, đó đây văng vẳng tiếng hò khoan dìu đặt của ngƣời dân chài lƣới. Gần vàm là ngôi chợ khá lâu đời, hiện vẩn còn 2 dãy phố lợp ngói khá cổ kính. Đối diện chợ là trụ sở ủy ban nhân dân xã An Nhựt Tân. Khuôn viên ủy ban có bia kỷ niệm chiến thắng Nhựt Tảo đƣợc xây dựng năm 1980. Nói chung dƣới sự tác động của thiên nhiên và con ngƣời hơn một thế kỷ qua, di tích vàm Nhựt Tảo đã có sự thay đổi nhất định so với thời điểm xảy ra trận đánh ngày 10/12/1861. Tuy nhiên những gì còn hiện hữu ở vàm Nhựt Tảo cũng đã minh chứng tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực- ngƣời đầu tiên duy nhất đánh chìm đƣợc một tiểu hạm trong cuộc kháng chiến chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX. Chiến thắng Nhựt Tảo cũng cho thấy rằng ta có thể đánh bại quân xâm lƣợc bằng mƣu trí và lòng dũng cảm dù chỉ đƣợc trang bị vũ khí thô sơ. Mặt khác ''trận hỏa hồng Nhựt Tảo'' chính là biểu tƣợng của tinh thần yêu nƣớc, bất khuất trƣớc ngoại xâm của nhân dân ta. Chính những ngƣời ''dân ấp, dân lân'' chỉ vì ''mến nghĩa'' mà đứng lên đánh Pháp đã làm nên chiến thắng vang dội Nhựt Tảo trong khi Triều đình Huế vì yếu hèn đã vội cầu hòa, cắt đứt một phần giang sơn gấm vóc cho quân xâm lƣợc. 135 năm sau ngày Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu L' Espérance, vàm Nhựt Tảo đã đƣợc Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích Quốc gia năm 1996 bởi những giá trị, ý nghĩa sâu sắc chứa đựng trong đó. Một dự án tôn tạo di tích quy mô đã đƣợc Ủy ban nhân dân tỉnh Long An phê duyệt và bƣớc đầu thực hiện. Trong tƣơng lai, đền thờ, tƣợng đài anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực và những hạng mục công trình khác sẽ đƣợc xây dựng bên bờ vàm Nhựt Tảo, sẽ làm cho vùng sông nƣớc nên thơ này không những có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị tham quan du lịch. Tour du lịch Tân An - Mộc Hóa (Đồng Tháp Mƣời): Đây là tuyến du lịch sinh thái là chủ yếu, có thể kết hợp bằng cả hai phƣơng tiện bộ và thủy. Tuyến du lịch này có thể tham quan một số điểm nhƣ sau: Lăng mộ Cụ Nguyễn Huỳnh Đức-Bảo Tàng Long An-Cảnh quan sông Vàm Cỏ Tây-Khu Núi Đất Mộc Hóa-Cửa khẩu Bình Hiệp-Chùa Nổi-Hệ sinh thái Rừng Tràm-Cảnh quan đầm
  • 13. sen-Chiến khu Nhơn Hòa Lập-Di tích khảo cổ Gò Bắc Chiêng, Gò Bảy Liếp-Trung Tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển dƣợc liệu Đồng Tháp Mƣời.,v..v ... Hiện nay, Công ty Du lịch Long An mở tuyến du lịch đi Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển dƣợc liệu Đồng Tháp Mƣời. Đây là tuyến du lịch sinh thái khám phá thiên nhiên Đồng Tháp Mƣời với những nét đặc trƣng nhƣ sau: + Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển dƣợc liệu Đồng Tháp Mƣời thuộc xã Bình Phong Thạnh, huyện Mộc Hóa-cách thành phố Hồ Chí Minh 110 km, cách thị xã Tân An 60 km đƣờng bộ và 45 phút chạy tàu du lịch-có diện tích 1.041 ha, trong đó có 800 ha rừng tràm nguyên sinh, hồ nƣớc rộng 100 ha (vào mùa khô). Trung tâm nghiên cứu các dƣợc liệu từ cây cỏ vùng Đồng Tháp Mƣời nhƣ dầu tràm, mật ong, v..v... + Sản phẩm du lịch chính tại đây là ngắm chim, cò với mật độ dày đặc, nhất là trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 3 (cao điểm trong tháng 11), đi tắc ráng trong kênh, rạch tìm hiểu về thực vật (đặc biệt các cây thuốc) và địa lý Đồng Tháp Mƣời. Đến Trung tâm, quý khách sẽ đƣợc phục vụ những món ăn dân dã đặc trƣng của vùng Nam bộ từ nguyên liệu có sẵn tại chỗ, du khách có thể mua sắm các sản vật của Trung tâm nhƣ mật ong, cá khô, dƣợc phẩm,.v.v... Nếu có nhu cầu quý khách cũng có thể nghỉ lại qua đêm để thƣởng thức cảnh quan thiên nhiên vùng Đồng Tháp Mƣời về đêm đầy thơ mộng. Sau khi tham quan Khu Trung tâm, quý khách sẽ đƣợc đến tham quan Cửa khẩu Bình Hiệp (tiếp giáp nƣớc bạn Campuchia). 2/. Tour du lịch Tân An - Cần Giuộc - Cần Đƣớc: Đây là tour du lịch mang tính lịch sử nhân văn, phƣơng tiện đi lại có thể cả đƣờng bộ và đƣờng thủy với cự ly ƣớc khoảng 50 km. Tour du lịch này sẽ tham quan một số điểm nhƣ sau: Lăng mộ Cụ Nguyễn Huỳnh Đức-Bảo Tàng Long An-Khu lƣu niệm Cụ Nguyễn Trung Trực (Nhật Tảo)-Nhà Trăm cột-Chùa Tôn Thạnh-Đồn Rạch Cát-Chùa Núi-Hệ sinh thái Rừng ngập mặn.v.v... 3/. Tour du lịch Tân An - Đức Hòa - Đức Huệ: Các điểm du lịch chủ yếu là: Lăng mộ Cụ Nguyễn Huỳnh Đức-Bảo Tàng Long An- Ngả Tƣ Đức Hòa-Di chỉ khảo cổ Óc-Eo-Khu di tích lịch sử cách mạng Bình Thành- Cửa khẩu Tho Mo,.v..v.. Sông Vàm Cỏ Đông Chảy từ biên giới Campuchiatại xã Biên Giới, huyện Châu Thànhrồi qua các huyện Châu Thành, Bến Cầu, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng. Chiều dài hơn 150 km. Tại Tây Ninh, Vàm Cỏ Đông chảy từ phía tây bắc hƣớng Bến Cầu có cảng Bến Kéo qua Gò Dầu Hạ, rồi xuôi hƣớng đông nam chảy qua thị trấn Bến Lức của tỉnh Long An. Sông Vàm Cỏ Đông và Sông Vàm Cỏ Tâyhợp lƣu vào cửa Soài Rạpđổ ra biển. Vì có nhiều nhánh sông nhỏ của Vàm Cỏ Đôngnên nó rất thuận tiện cho việc lƣu thông bằng đƣờng thủy để vận chuyển hàng hóa từ các nơi về Tây Ninh hay ngƣợc lại từ Tây Ninh đến những nơi khác (chủ yếu là các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long), điển hình là tại cảng Bến Kéo (huyện Hòa Thành) rất tấp nập. Sông này nổi tiếng với bài hát cùng tên là bài "Vàm Cỏ Đông" (Sáng tác:Trƣơng Quang Lục, thơ: Hoài Vũ) Lời bài hát Vàm Cỏ Đông Ở tận sông Hồng em có biết Quê hƣơng anh cũng có dòng sông. Anh mãi gọi, với
  • 14. lòng tha thiết. Vàm Cỏ Ðông, ơi Vàm Cỏ Ðông. Ơi, ơi Vàm Cỏ Đông! Ơi hỡi dòng sông! Nƣớc xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng, Ðuổi Pháp đi rồi nay đuổi Mỹ xâm lăng. Giặc đi đời giặc, sông càng xanh trong. Giặc đi đời giặc, sông càng xanh trong. Ơi, ơi Vàm Cỏ Đông! Ơi hỡi dòng sông! Có anh du kích dũng cảm kiên cƣờng, Lẫn ánh trăng mờ băng lửa đạn qua sông, Diệt tan tàu giặc, giữ gìn quê hƣơng. Diệt tan tàu giặc, giữ gìn quê hƣơng. Vàm Cỏ Ðông đây! Vàm Cỏ Đông đây! Ta quyết giữ từng chiếc xuồng tấm lƣới cây dầm. Từng con ngƣời làm nên lịch sử và dòng sông trong mát quanh năm. Vàm Cỏ Ðông đây! Vàm Cỏ Ðông đây! Ta quyết giữ từng mái nhà nép dƣới rặng dừa. Từng thuở ruộng ngƣời đen màu mỡ tình hò hẹn sớm trƣa. Ở tận sông Hồng em có biết, Quê hƣơng anh cũng có dòng sông. Anh mãi gọi với lòng tha thiết. Vàm Cỏ Ðông, ơi Vàm Cỏ Ðông. Vàm Cỏ Ðông, ơi Vàm Cỏ Ðông. LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC Cách Thị xã Tân An 3,5km về phía Tây, lăng Nguyễn Huỳnh Đức là một trong những kiến trúc lăng mộ cổ nhất ở Long An còn tồn tại gần nhƣ nguyên vẹn cho đến ngày nay. Đây là một quần thể kiến trúc bao gồm các công trình chính nhƣ cổng, lăng mộ, đền thờ Kiến Xƣơng Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, một công thần khai quốc của Triều Nguyễn. Khuôn viên lăng Nguyễn Huỳnh Đức có diện tích hơn 3000m2, đƣợc giới hạn bởi tƣờng rào, có cổng tam quan mở về hƣớng Đông, trên cổng đắp nổi dòng chữ ''Tiền quân phủ''. Lăng Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức đƣợc xây dựng năm 1817 (trƣớc khi ông mất) bằng đá ong và vữa tam hợp theo hƣớng bắc-nam. Lăng đƣợc xây dựng theo lối cổ, đăng đối nghiêm ngặt, có vòng thành hình chữ nhật dài 35m, rộng 19m, cao1,2m, dày 0,4m bao quanh. Án ngữ lối vào mộ ở phía bắc tƣờng thành là bình phong đá ong cao 3m có đắp nổi hoa văn mai - lộc. Từ bình phong có đƣờng thần đạo dài 17m dẩn đến phần chính của mộ gồm biểu thành, các trụ biểu, hai bình phong và bia mộ. Trên hai bình phong có khắc 2 bài văn tế Nguyễn Huỳnh Đức của Trịnh Hoài Đức và Trấn thủ Định Tƣờng Nguyễn Văn Phong. Toàn bộ ngôi mộ đƣợc trang trí hoa văn rồng, hoa lá, mặt trời, mây, hoa sen và nhiều câu đối chữ Hán. Nổi bật trong ngôi mộ là bia đá cao 1,56m, rộng 0,95m đƣợc mang vào từ Huế. Mặt bia có dòng chử hán: ''Việt Cố Khâm Sai Gia Định Thành Tổng Trấn, Chƣởng Tiền Quân, Tặng Thôi Trung Dực Vận Công Thần, Phụ Quốc Thƣợng Tƣớng Quân, Thƣợng Trụ Quốc, Thái Phó Nguyễn Huỳnh Quận Công Chi Mộ''. Phía sau bia là nơi chôn cất thi hài Nguyễn Huỳnh Đức với một nấm mộ phẳng dài 3,4m, rộng 2,7m, cao 0,3m. Xung quanh mộ là những cây sứ cổ thụ tỏa hƣơng ngào ngạt tạo nên vẻ thâm nghiêm cho nơi an nghĩ của một đại thần khai quốc. Nói chung lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức đƣợc xây dựng theo lối kiến trúc đầu đời Nguyễn: giản dị mà hùng tráng. Cách mộ 20m về phía Nam là đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức. Từ năm 1819 đến 1959, gia tộc thờ ông trong ngôi nhà xƣa do Vua Gia Long sai ngƣời dựng cách ngôi mộ khoảng 500m. Vào năm 1959, để tiện cho việc thờ cúng, gia tộc đã xây dựng ngôi đền thờ mới này theo kiểu tứ trụ, 2 tầng mái, cửa gỗ trông ra hƣớng Đông. Ngay sau cửa chính đền thờ có đặt hƣơng án chạm rồng, phụng, hoa lá sơn son thếp vàng, phía trên có bức họa truyền thần Tiền quân
  • 15. Nguyễn Huỳnh Đức đƣợc vẽ năm 1802. Phía sau hƣơng án có bộ ván độc mộc dài 3,4m - rộng 1,8m- dày 0,14m có niên đại hơn 300 năm vốn là di vật của ngƣời đã khuất. Trong cùng là bàn thờ chính với khánh thờ đặt trên hƣơng án và chiếc hộp sơn son đựng 8 bản chiếu, chỉ, chế, sắc của các triều Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức phong tặng cho tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức. Bên trong đền thờ còn bố trí 3 bộ lỗ bộ, tàn lọng và 4 cặp liễn đối ca ngợi sự nghiệp của Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức do Vua Gia Long ngự ban. Ngoài ra những hiện vật cổ có niên đại thế kỷ XVIII và XIX còn đƣợc lƣu giữ trong đền thờ nhƣ: đoản kỷ Vua Xiêm tặng năm 1798, Khánh lệnh đồng Vua Gia Long tặng năm 1819, bức hoành ''Vạn Lý Danh'' Vua Tự Đức tặng năm 1854. Phía sau đền thờ là ngôi chánh điện lợp ngói lƣu ly xanh đƣợc gia tộc xây dựng năm 2000 theo bản vẽ của Kiến trúc sƣ Nguyễn Bá Lăng (nguyên viện trƣởng Viện khảo cổ Sài Gòn). Trƣớc đây vào năm 1972 gia tộc đã cho xây dựng 2 cổng lớn ở hai đầu con đƣờng vòng cung dẫn vào lăng với thiết kế giống nhau theo kiểu cổng tam quan truyền thống. Trên cổng có hàng chữ Hán ''Tiền quân phủ'' và ''Lăng Nguyễn Huỳnh Đức'' bằng đồng. Nhìn từ xa, cổng lăng toát lên vẻ đƣờng bệ, uy nghi nhƣ chào đón khách tham quan. Trong dân gian và sử sách, cuộc đời của Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức đã trở thành huyền thoại. Ông có tên thật là Huỳnh Tƣờng Đức, sinh năm 1748 tại làng Tƣờng Khánh- huyện Kiến Hƣng (nay là xã Khánh Hậu - Thị xã Tân An) trong một gia đình võ tƣớng đã 3 đời. Ông theo phò Nguyễn Ánh từ năm 1780 lập nhiều công trạng lớn, đƣợc ban họ vua và giữ nhiều chức vụ quan trọng nhƣ: Chƣởng Hậu Quân, Chƣởng Tiền Quân, Tổng Trấn Gia Định Thành, Tổng Trấn Bắc Thành, tƣớc Quận Công. Tƣơng truyền ông là ngƣời trung cang, nghĩa khí, võ nghệ cao cƣờng, mọi ngƣời đều gọi là ''Hổ tƣớng''. Ông mất vào ngày 9/9/1819, đƣợc dân gian xem nhƣ một vị thần. Hằng năm vào 3 ngày 7-8-9 / 9 âm lịch, nhân dân trong vùng tề tựu cùng gia tộc làm lễ cúng ông hết sức trọng thể. Truyền thống này đã đƣợc kế tục từ năm 1819 cho đến nay. Đến tham quan di tích lăng Nguyễn Huỳnh Đức chúng ta đƣợc chiêm ngƣỡng nghệ thuật kiến trúc lăng mộ đầu đời Nguyễn và những cổ vật quý giá cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Ta còn đƣợc biết đến cuộc đời và sự nghiệp của một ''Hổ tƣớng'' lừng danh đất Ba Giồng và cũng là ngƣời có công khai phá Giồng Cai Én (Khánh Hậu), đƣợc nhân dân tôn thờ nhƣ một vị Tiền Hiền. Với những ý nghĩa ấy, ngay từ đầu thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa đã liệt hạng lăng Nguyễn Huỳnh Đức là 1 trong 404 cổ tích ở Đông Dƣơng. Bộ Văn hóa Thông tin nƣớc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đã ra quyết định công nhận lăng Nguyễn Huỳnh Đức là di tích Quốc gia ngày 11/5/1993 (số quyết định 534-QĐ/BT). Gạo Nàng thơm Chợ Đào Chợ Đào thuộc xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đƣớc, tỉnh Long An. Gạo Nàng thơm chợ Đào hạt thon dài, chà trắng ra, bên trong có hột lựu hồng hồng. Gạo mới gặt, chà xong nhƣ có một lớp dầu, đƣa tay vào bao gạo, giở tay lên gạo bòn bám trên tay mình. Gạo có mùi rất thơm, vào bao nylon để 4 đến 5 tháng mang ra nấu vẫn thơm lừng. Nhƣng để đến 10 tháng thì mùi thơm sẽ nhạt, hạt gạo cứng dần, độ dẻo và độ xốp không cao nữa. Gạo Nàng thơm chợ Đào một năm cấy đƣợc một mùa. Lúa gieo tháng 6, 7 đến ngày đông chí thì đồng loạt trổ bông, đến 20 tháng Chạp thì gặt đƣợc. Lúa cho dù
  • 16. có cấy sớm trƣớc 1, 2 tháng thì nó cũng chờ đến ngày tiết đông chí mới trổ. Do vậy, mỗi năm chỉ trồng đƣợc một vụ. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Năm 1858, thực dân Phápnổ súng xâm lƣợc Việt Nam. Sau khi chiếm đƣợc thành Gia Địnhvào đầu năm 1859, quân Pháp bắt đầu một quá trình mở rộng tấn công ra các vùng lân cận nhƣ Tân An, Cần Giuộc, Gò Công v.v. Nhân dânNam Bộcăm phẫn và sục sôi tinh thần chống Pháp. Đêm ngày 16 tháng 12năm 1861, đúng rằmtháng 11năm Tân Dậu, theo diễn tả trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, mặc dù "chỉ là dân ấp, dân lân", "ngoài cật có một manh áo vải", "trong tay cầm một ngọn tầm vông" nhƣng những nghĩa sĩnông dânđã quả cảm tập kíchđồn giặc ở Cần Giuộc, tiêu diệt đƣợc một số quan quân của Pháp và tri huyện"tay sai". Khoảng hai mƣơi nghĩa sĩ hi sinh. Tấm gƣơng đó đã gây nên niềm xúc động lớn trong nhân dân. Đỗ Quang, tuần phủ Gia Định, giao cho Nguyễn Đình Chiểu làm bài văn tế để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ hi sinh trong trận này. Vẻ đẹp bi tráng mà giản dị của hình tƣợng ngƣời nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc và thái độ cảm phục, xót thƣơng của tác giả đối với họ. Với nội dung chân thật và tình cảm xót xa, bài văn tế có một sức truyền cảm mạnh mẽ, đƣợc Bộ Lễ của triều đình Huế cho sao và truyền đi khắp nƣớc để động viên tinh thần chiến đấu của ngƣời dân chống thực dân Pháp. Qua do khich le co vu cho cac tang lop dau tranh gianh doc lap sau nay. Tính chất trữ tình, thủ pháp tƣơng phản,phức tạp hóa và việc sử dụng ngôn ngữ. Tác phẩm là một bản anh hùng ca vừa thiêng liêng vừa hùng hồn Hai câu đầu của bài văn tế khái quát khung cảnh bảo táp của thời đại - phản ánh biến cố chính trị lớn lao chi phối toàn bộ thời cuộc. Đó là cuộc đụng độ giữa thế lực xâm lăng tàn bạo của thức dân Pháp và ý chí chiến đấu kiên cƣờng để bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta. Hiện lên trên cái nền tảng ấy là hình ảnh của động quân áo vãi đƣợc khắc họa hoàn toàn bằng bút pháp hiện thực, không theo ƣớc lệ của văn học trung đại, không bị chi phối bởi kiểu sáng tác lý tƣởng hóa. Điều đáng chú ý là những chi tiết chân thực đều đƣợc chọn lọc rất tinh tế, nên đậm đặc chất sống, mang tính chất khái quát đặc trƣng cao: "Vốn chẳng phải quân cờ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ. ... Ngòai cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm đao tu, nón gõ. Chính với những hình ảnh trên mà bức tƣợng đài ánh lên một vẻ đạp mộc mạc, chân chất và hết sức độc đáo. Cao Văn Lầu Ông Cao Văn Lầu tức Sáu Lầu sinh ngày 22/12/1892 tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, sau sát nhập với làng Thuận Lễ trở thành xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Năm 1901, ông Cao theo gia đình đến lập nghiệp tại Bạc Liêu rồi ở luôn tại đây cho đến hết đời (ông qua đời ngày 13/8/1976). Thuở nhỏ, ông học chữ nho rồi học chữ quốc ngữ đến "lớp nhì năm thứ hai" (Cours moyen 2e année) tức lớp 4 ngày nay; sau đó quy y tại chùa Vĩnh Phƣớc - Bạc Liêu. Sau khi rời cửa Phật, ông học nhạc lễ và là một trong những môn đệ giỏi về nhạc lễ của nhạc sƣ Lê Tài Khị (Nhạc Khị). Ông sử dụng rành rẽ đàn tranh, cò, kìm và trống lễ. Nhắc đến ông, ngƣời ta nhớ ngay đến bản Dạ cổ hoài lang (1919) đƣợc xem là tiền thân của bản vọng cổ ngày nay. Ông viết bản nhạc trên gồm 20 câu, nhịp 2 để trút cạn nỗi niềm tâm sự.
  • 17. Nỗi niềm ấy đã nhiều lần ông thổ lộ với bạn tri âm: "Tôi đặt bài này bởi tôi rất thƣơng vợ. Năm viết bản Dạ cổ hoài lang, tôi đã ăn ở với vợ tôi đƣợc 3 năm mà không có con. Tam niên vô tử bất thành thê. Vợ chồng ăn ở với nhau trong 3 năm, vợ không sinh con, chồng đƣợc quyền bỏ để cƣới ngƣời khác hầu có con nối dõi tông đƣờng. Thời phong kiến có những quan niệm chƣa đúng. Ngƣời ta cho rằng vợ chồng không sinh con là do lỗi của ngƣời đàn bà. Tiếng ra, tiếng vào của gia đình buộc tôi phải thôi vợ, nhƣng tôi không đành. Tôi âm thầm chống lại nghiêm lệnh của gia đình, không đem vợ trả về cho cha mẹ mà đem gởi đến một gia đình có tấm lòng nhân hậu, xót thƣơng cho vợ chồng tôi gặp phải cảnh đau lòng mà cho ở đậu qua ngày, với hy vọng vợ chồng tôi sẽ có con và chiến thắng cái quan niệm khắc nghiệt, lạc hậu, chịu ảnh hƣởng nặng đạo lý thời phong kiến”. Trong thời gian dài, phu thê phải cam chịu cảnh “Đêm đông gối chiếc cô phòng", tâm tƣ nặng trĩu u buồn nên nhạc sĩ Sáu Lầu đêm đêm mƣợn tiếng đàn nắn nót đôi câu bớt cơn phiền muộn. Ông thừa hiểu ngƣời bạn đời cũng đau xót nhƣ ông. Bản Dạ cổ hoài lang ra đời trong bối cảnh nhƣ thế. Trong thời gian tác phẩm chƣa hoàn chỉnh, nhạc sĩ Sáu Lầu cùng anh em tài tử địa phƣơng đàn tới đàn lui bản này, lấy ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp về phƣơng diện sáng tác. Chuông, trống "công phu" ngân vang khiến anh em nhạc sĩ đất Bạc Liêu nhớ lại hồi chín, mƣời tuổi, ông Sáu Lầu quy y làm "Sa di" tại chùa Vĩnh Phƣớc. Chú tiểu từng đánh trống, dộng chuông công phu hai buổi sớm chiều. Do đó, anh em đề nghị thêm hai chữ "Dạ cổ" (tiếng trống về đêm) cho ý nghĩa thêm sâu đậm. Ông Sáu hoan nghênh nên bản nhạc có tên hoàn chỉnh là "Dạ cổ hoài lang", tức "Đêm nghe tiếng trống nhớ chồng". Dạ cổ hoài langkhởi điểm từ nhịp 2. Đó là đứa con của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Nhƣng khi Dạ cổ hòa nhập vào sân khấu cải lƣơng thì hai soạn giả tiền phong góp công đầu để biến bản nhạc này từ nhịp 2 trở thành nhịp 4 là Huỳnh Thủ Trung (tức Tƣ Chơi) và Mộng Vân (Trần Tấn Trung). Tiếng nhạn kêu sươnglà bản Vọng cổ hoài lang nhịp 4 đầu tiên do soạn giả Huỳnh Thủ Trung (1907-1964) sáng tác vào năm 1925. Trên những chặng đƣờng phát triển, khi Vọng cổ hoài lang đƣợc nâng lên nhịp 8 (từ khoảng năm 1934 đến 1944) thì nó có tên mới là Vọng cổ, không còn đuôi hoài lang. Từ khoảng 1944-1954, vọng cổ tăng lên nhịp 16; thời kỳ kế tiếp: 1955 - 1964: tăng lên nhịp 32 rồi nhịp 64 từ năm 1965 đến nay. Hậu thế đã nhận định nhƣ sau: Nhạc sĩ Cao Văn Lầu là cha đẻ Dạ cổ hoài lang khởi điểm từ nhịp 2. Bản Vọng cổ từ nhịp 4 trở đi, trên những chặng đƣờng phát triển, thuộc công trình chung của tài tử tứ phƣơng. Còn ông tổ cải lƣơng dứt khoát không phải là Cao Văn Lầu. Bản Dạ cổ hoài lang chào đời năm 1919, trong khi sân khấu cải lƣơng ra đời khoảng năm 1916. Sài Gòn - Mỹ Tho, con đƣờng sắt xƣa nhất Đông Dƣơng Ngay sau khi xâm chiếm xong Việt Nam, ngƣời Pháp đã nhanh chóng hoạch định xây dựng tuyến đƣờng sắt đi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhằm khai thác vùng đất giàu có này. Ý đồ ban đầu của họ là xây dựng tuyến đƣờng sắt đến Vĩnh Long, sau đó nối tiếp tới Phnom Penh, Campuchia. Tuy nhiên sau những cuộc tranh luận kéo dài về hiệu quả kinh tế và sự cần thiết xây dựng tuyến đƣờng sắt, ngƣời Pháp đã quyết định, trƣớc mắt chỉ xây dựng đƣờng
  • 18. sắt từ Sài Gòn tới Mỹ Tho – con đƣờng sắt đầu tiên của Đông Dƣơng. Đầu năm 1881, chuyến tàu thuỷ đầu tiên chở nguyên vật liệu từ Pháp sang xây dựng tuyến đƣờng cập cảng Sài Gòn. Vào giữa năm, công trƣờng hình thành với 11.000 lao động đƣợc huy động. So với công trƣờng làm đƣờng bộ cùng thời gian này, công trƣờng đƣờng sắt Sài Gòn – Mỹ Tho là công trƣờng đƣợc tổ chức quy mô hơn, tiến hành rất khẩn trƣơng, và có mặt nhiều sĩ quan công binh tại chỗ cùng nhiều kỹ sƣ từ Pháp sang. Để đƣa tàu hoả vƣợt qua các con sông lớn vì lúc này chƣa xây dựng đƣợc cầu, biện pháp kỹ thuật đƣợc kỹ sƣ Têvơnê, giám đốc Sở Giao thông công chánh Nam Kỳ lúc đó đề xuất là dùng phà. Chiếc phà khổng lồ máy hơi nƣớc chở đƣợc 10 toa xe (tƣơng tự nhƣ phà mà Pháp đã làm để đƣa tàu vƣợt sông Gianh sau này), đƣợc lắp đặt đƣờng ray và một thiết bị để nối đƣờng ray trên mặt đất với ray phà. Chiều rộng đƣờng sắt khổ 1 mét, là khổ đang đƣợc sử dụng rộng rãi thời bấy giờ trong ngành đƣờng sắt Anh, Pháp. Ngƣời Pháp dự tính tuyến đƣờng sắt này là một phần của tuyến Sài Gòn - Cần Thơ (để sau đó sẽ nối tuyến đi tiếp qua Phnom Penh , Campuchia). Nhƣ vậy ngay từ đầu ngƣời Pháp đã có ý niệm rõ ràng về xây dựng tuyến đƣờng sắt nối đô thị trung tâm là Sài Gòn với các đô thị khác ở đồng bằng sông Cửu Long để hình thành nên vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, và trên diện rộng là nối kết các vùng kinh tế của các nƣớc thuộc địa với nhau. Những năm tiếp sau, các tuyến đƣờng sắt đƣợc xây dựng là: Sài Gòn - Hà Nội, Sài Gòn - Lái Thiêu - Thủ Dầu Một - Lộc Ninh và Sài Gòn - Gò Vấp - Hóc Môn. Rộng hơn, Sài Gòn – Mỹ Tho là tuyến đầu tiên của kế hoạch hình thành hệ thống đƣờng sắt nối vào hệ đƣờng sắt quốc tế, dự định nhƣ sau: Sài Gòn - Mỹ Tho - Cần Thơ - Bạc Liêu - Cà Mau ; tuyến Cần Thơ - Châu Đốc - Phnom Penh - Bat Đom boong - Bangkok - Miến Điện - Ấn Độ và các nƣớc Trung Đông (tuyến này đã có sẵn đƣờng quốc tế) ; tuyến Bangkok - Mã Lai và tuyến Bangkok-Nakhon (Thái Lan) - Vientiane. Đặc biệt tuyến cuối cùng này sẽ qua Udon của Thái Lan là nơi rất nhiều ngƣời Việt sinh sống. Tuyến này có lợi cho phát triển kinh tế của Việt Nam , đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời giữ quan hệ thân hữu với Lào và Campuchia (họ sẽ có đƣờng thoát ra biển ở Cần Thơ và Sài Gòn). Thế nhƣng do chiến tranh nên các tuyến liên vận quốc tế này đã không đƣợc xây dựng. Theo nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, công ty Eiffel trực tiếp thi công, sau bốn năm, tuyến đƣờng sắt Sài Gòn – Mỹ Tho dài 70 km đã hoàn thành sau khi tiêu tốn 11,6 triệu franc. Ông Đầu cho biết, khó khăn khi làm tuyến đƣờng này không thuộc về đền bù đất đai nhƣ bây giờ, vì lúc đó nhà nƣớc có chế độ đất công, đất tƣ rất rõ ràng. Theo ông Đầu, khó nhất là do những yếu tố thuộc tâm linh. Tuyến đƣờng chạy qua gò bãi, bãi tha ma, dân sợ động long mạch, nhà cầm quyền mất nhiều thời gian để giải thích cho dân thông. Điểm khởi đầu xuất phát từ ga Sài Gòn (tại vị trí nay là công viên 23-9) tuyến đi theo các đƣờng : Cống Quỳnh - Phạm Viết Chánh – Hùng Vƣơng – Hồng Bàng – Kinh Dƣơng Vƣơng – Ngã ba An Lạc - Quốc lộ 1 (đi bên trái và sát QL1 theo hƣớng Sài Gòn – Cần Thơ). Đến khu vực Bình Điền (Bình Chánh) tuyến tách xa QL1 và vƣợt sông Chợ Đệm ở vị trí cách cầu Bình Điền đƣờng bộ về phía hạ lƣu khoảng 300 m,
  • 19. sau đó tuyến lại cặp sát bên trái QL1 cho đến khu vực Bến Lức thuộc tỉnh Long An. Sau khi vƣợt sông Vàm Cỏ Đông, tuyến cắt qua QL1, sang bên phải và tiếp tục đi cặp sát QL1 cho đến thị xã Tân An, vƣợt sông Vàm Cỏ Tây bằng cầu đƣờng sắt Tân An, cắt qua QL1 về bên trái và tiếp tục đi cặp sát QL1, cắt qua ngã ba Trung Lƣơng, chạy dọc theo tỉnh lộ 62 và kết thúc tại ga Mỹ Tho nằm sâu trong thành phố, sát cạnh chợ. Tổng cộng có 15 ga đã đƣợc xây dựng trên tuyến gồm: Sài Gòn, An Đông, Phú Lâm, An Lạc, Bình Điền, Bình Chánh, Gò Đen, Bến Lức, Bình An, Tân An, Tân Hƣơng, Tân Hiệp, Lƣơng Phú, Trung Lƣơng, Mỹ Tho. Nhƣ vậy bình quân 4,7 km có một ga, cự ly ngắn giữa các ga thể hiện tính chất vận tải khách ngoại ô của tuyến đƣờng sắt này. Vị trí ga Mỹ Tho đƣợc ngƣời Pháp lựa chọn tạo nên đầu mối giao thông sắt - thuỷ - bộ. Chuyến tàu đầu tiên-Ngày 20-7-1885 chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ ga Sài Gòn, vƣợt sông Vàm Cỏ Đông bằng phà tại Bến Lức, đến ga cuối cùng tại trung tâm thành phố Mỹ Tho đánh dấu sự ra đời của ngành đƣờng sắt Việt Nam. Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu cho biết, trong chuyến tàu khai trƣơng, ngƣời Pháp dùng đầu máy mang tên Vaico, tức là Vàm Cỏ (nhƣng khi phiên ra tiếng Pháp đã bị viết sai). Mỗi ngày có bốn cặp chạy trên tuyến đƣờng này, chuyến đầu tiên xuất phát từ Mỹ Tho lúc 1 giờ 30 sáng, đến Sài Gòn 5 giờ sáng. Ở Sài Gòn, chuyến Sài Gòn – Mỹ Tho cũng sẽ xuất phát trùng giờ. Chuyến thứ 2 lúc 9 giờ sáng, chuyến thứ ba lúc 1 giờ chiều và chuyến 6 giờ tối. Vì phải vƣợt phà, mỗi chuyến chạy mất ba tiếng rƣỡi. Đến tháng 5-1886 cầu trên tuyến đƣờng sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đã hoàn thành cho phép tàu chạy một mạch tới Mỹ Tho, thời gian chạy rút xuống còn 2 tiếng rƣỡi. Số lãi thu đƣợc từ tuyến đƣờng sắt này tính đến năm 1896 là 3,22 triệu franc, đến năm 1912 là hơn 4 triệu franc. Lý do, theo ông Nguyễn Đình Đầu, là trƣớc đây, tuyến này rất lãi, nhƣng thập kỷ 50 của thế kỷ 20, xe hơi phát triển cùng với hệ thống đƣờng bộ Sài Gòn - Mỹ Tho đƣợc đầu tƣ gần nhƣ xa lộ nên ngƣời ta chuyển sang đi đƣờng bộ. Có những ngày toàn đoàn tàu chỉ có vài chục ngƣời, lỗ quá nên nhà nƣớc bỏ tuyến đƣờng này đi. Sau 73 năm tồn tại, năm 1958, tuyến đƣờng sắt này đã bị chính quyền Sài Gòn cũ cho ngƣng chạy tàu. Hiện nay toàn bộ tuyến đƣờng sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đã bị tháo dỡ, ngay cả ga Sài Gòn cũng bị dời ra Hoà Hƣng. Trên đại lộ Hùng Vƣơng thỉnh thoảng còn lộ ra vài đoạn đƣờng ray cũ chƣa bị tháo dỡ. Nền đƣờng sắt dọc Quốc lộ 1 từ thành phố Hồ Chí Minh đến Mỹ Tho nhƣờng chỗ cho việc mở rộng QL 1 hoặc đã bị những khu dân cƣ, khu công nghiệp dọc tuyến lấn chiếm. Cầu cống dọc tuyến bị tháo dỡ hoàn toàn, tại vị trí các cầu lớn nhƣ cầu Bình Điền, cầu Bến Lức, cầu Tân An chỉ còn các mố hai bên bờ sông, các trụ cầu đã bị phá bỏ để nhƣờng chỗ cho giao thông thuỷ. Sau 125 năm, chỉ còn một nhà ga duy nhất tên Gò Đen (xã Long Hiệp, Bến Lức, Long An) sát Quốc lộ 1A và đang nằm trong kế hoạch giải toả. . Lễ Cầu Mƣa: Những năm hạn hán nhân dân tại các vùng sản xuất nông nghiệp của Long An thƣờng tổ chức cầu mƣa, tế lễ trời đất, mong thần linh ban cho mƣa xuống. Lễ cầu mƣa có hai phần: phần lễ theo nghi thức truyền thống và phần hội là các cuộc đua ghe trên sông rạch, cũng có nơi làm lễ rƣớc rồng. Sau khi đua ghe, dân chúng kéo về đình làng làm lễ cúng thần linh
  • 20. và tổ chức ăn mừng vui chơi. . Công ty Du lịch Long An: Địa chỉ: 748 Quốc lộ 1, khu phố Bình Quân II, phƣờng 4, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.826718 - 072.826425 - Fax: 072.826227. Công ty Cổ phần Du lịch Bông Sen. (đƣợc công nhận 1 sao): Địa chỉ: Số 7 Võ Công Tồn, phƣờng 1, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.821321 - Fax: 072.822985. Công ty có 2 nhà hàng, 33 phòng ngủ, khu massage đƣợc trang bị hiện đại. Khách sạn Phƣơng Nga: Địa chỉ: Số 1/7C đƣờng Hùng Vƣơng, phƣờng 2, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.827288. Khách sạn có 39 phòng. Khách sạn Huỳnh Thảo: Địa chỉ: Số 80 đƣờng Hùng Vƣơng, phƣờng 2, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.827168. Khách sạn có 21 phòng. Nhà hàng - Khách sạn Nhựt Long: Địa chỉ: Số 368 đƣờng Hùng Vƣơng, phƣờng 3, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.833735. Khách sạn có 1 nhà hàng và 35 phòng nghỉ. Nhà hàng - khách sạn Hoài Thƣơng: Địa chỉ: Số 24 đƣờng Lê Văn Tao, phƣờng 2, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.823597. Khách sạn có 1 nhà hàng và 8 phòng nghỉ. Công ty Du lịch lữ hành nội địa ATC: Địa chỉ: 85 Quốc lộ 1, phƣờng 5, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.829336. Điện thoại: 072.850216. Khách sạn có 1 nhà hàng và 20 phòng nghỉ. IB. Tx.Tân An – Trung Lƣơng ( 18 Km ) : . Nằm ở Hạ lƣu sông Tiền (một nhánh lớn của sông Cửu Long), tỉnh Tiền Giang có quá trình hình thành và phát triển về địa chất tƣơng tự nhƣ khu vực Nam bộ, với 3 thời kỳ chính: Paleozoi muộn (Cổ sinh muộn), Mesozoi (Trung sinh) và Kainozoi (Tân sinh). Vào cuối Kainozoi, do hoạt động Tân kiến tạo, vỏ đất ở khu vực bị nứt nẻ ở nhiều nơi, sụt lún làm chênh lệch các lớp đá. Hậu quả của chuyển động này là hai khối đƣợc nâng lên. Ở Việt Nam, có khối nâng Nam Trung bộ. Ở Campuchia, có khối nâng Đông Campuchia. Giữa hai khối nâng là khối sụt, gồm những trũng rộng lớn. Sông Cửu Long và những phụ lƣu của nó chảy qua đây, mang theo các vật liệu bùn, sét, cát lấp đầy các trũng để hoàn thành lớp trầm tích Plio-Pleistoxen cách nay khoảng 700.000 năm.(1) Sau đó diễn ra các giai đoạn biển tiến và biển lùi. Cách ngày nay khoảng 6.000
  • 21. năm, có đợt biển tiến, làm cô lập các giồng cao. Di tích còn lại là giồng Tân Hiệp (huyện Châu Thành).(2) Cách nay khoảng 5.000 năm có hiện tƣợng biển lùi. Mực nƣớc biển rút dần. Trong khoảng 4.000 năm đến 2.700 năm cách ngày nay, dao động biển khá rõ rệt, các cồn cát duyên hải lộ hẳn ra khỏi mặt nƣớc, các thảm thực vật khá đa dạng và thế giới động vật giàu lƣợng loại. Do tác động của sóng và dòng hải lƣu, các đống sò điệp tụ lại các cồn mới nổi lên. Khảo cổ học đã phát hiện tại huyện Cai Lậy các vỉa sò điệp, dấu vết của bờ biển xƣa. (3) Từ khoảng 2.700 năm trƣớc, vùng Tiền Giang đi vào thế ổn định.Vào khoảng trƣớc hoặc đầu Công Nguyên (trên dƣới 2.000 năm trƣớc), những ngƣời đầu tiên đã đến vùng châu thổ sông Cửu Long, trong đó có Tiền Giang để sinh sống. Đây là các tộc ngƣời Indonésien, ngƣời Nam Á hải đảo, thuộc vùng châu Á gió mùa, có cùng nguồn gốc với một số tộc ngƣời ở Tây Nguyên - Việt Nam.(3) Địa bàn cƣ trú chính của họ là vùng châu thổ sông Cửu Long, gồm một phần của miền Đông Nam bộ, một phần nhỏ Nam Campuchia, vùng đất ven vịnh Thái Lan và phía bắc bán đảo Mã Lai. Họ lập nên nhà nƣớc cổ đại đầu tiên ở Đông Nam Á đất liền, đó là vƣơng quốc Phù Nam.(4) Tỉnh Tiền Giang vào những thế kỷ đầu Công Nguyên thuộc vƣơng quốc Phù Nam. Định chế chính trị ban đầu của Phù Nam còn mang nhiều tính chất thị tộc. Triều đại thứ nhất theo truyền thuyết là sự kết hợp giữa hai thị tộc: Mặt trăng của Liễu Diệp và Mặt trời của Hỗn Điền. Dần dần xã hội có sự phân cực giữa các tầng lớp nông dân, thợ thủ công và thƣơng nhân. Tầng lớp tăng lữ là chỗ dựa của triều đình Phù Nam(5). Theo Lương Thư, tộc ngƣời Phù Nam nguyên là “sống trần truồng, xăm mình, tóc buông xuống lƣng, không biết đến y phục, cả(6) trên lẫn phía dƣới”. Cho đến đầu thế kỷ thứ III “họ vẫn trần truồng” trừ phụ nữ đã biết mặc áo đơn sơ, làm bằng một tấm vải có lỗ để chui đầu. Về sau, “đàn ông đóng khố, con nhà quyền quý làm khố bằng gấm”. Khi thiết triều, vua ngồi nghiêng một bên “chân phải co lên, chân trái buông xuống đất”. Ngƣời Phù Nam chịu ảnh hƣởng của Ấn Độ giáo và Phật giáo, hai tôn giáo đƣợc truyền bá dƣới dạng tín ngƣỡng dân gian và trong hình thức định chế hóa (đền thờ, stupa, cung đình…). Xã hội Phù Nam có các tầng lớp nông dân, thợ thủ công, thƣơng nhân và giới tăng lữ(7) Ngƣời Phù Nam có chữ viết. Các minh văn ở Gò Xoài (ấp Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) và minh văn ở Gò Thành (xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) cho thấy minh văn đƣợc viết bằng ngôn ngữ Pali lai (Hybrid-Pali), có dấu vết Sanskrit và bằng một thứ văn tự Deccan (Nam Ấn).(8) Phù Nam đƣợc coi là cƣờng quốc thƣơng nghiệp. Từ giữa thế kỷ thứ III, Phù Nam khống chế nền thƣơng nghiệp hàng hải ở Đông Nam Á và bành trƣớng lãnh thổ, đem quân đi chinh phục hơn “10 vƣơng quốc” làm phiên thuộc, trong đó có Lâm Ấp. (9) Nền thƣơng nghiệp phát triển và sự bành trƣớng nhanh chóng về lãnh thổ của Phù Nam đã dẫn đến việc các tiểu vƣơng ở xa dựa vào các thƣơng nhân giàu có để củng cố thế lực tạo ra nạn cát cứ, khiến cho Phù Nam bƣớc vào thời kỳ suy thoái từ giữa thế kỷ thứ VI, hoàn toàn sụp đổ vào khoảng thế kỷ thứ VII. Vùng châu thổ sông
  • 22. Cửu Long thuộc Phù Nam khi đó trở nên hoang vu. Ngƣời Chân Lạp trƣớc sự bành trƣớng của đế quốc Khmer đã đến vùng Tiền Giang, vùng rìa của Thủy Chân Lạp, gần nhƣ hoang vu, dân cƣ rất thƣa thớt.(10) Một số di tích của ngƣời Phù Nam tại Tiền Giang đƣợc ngƣời Khmer sử dụng, nhƣng hầu hết bị phá bỏ. Có lẽ do chiến tranh kéo dài nhiều thập kỷ giữa hai vƣơng quốc ở giai đoạn Phù Nam suy tàn, ngƣời Chân Lạp đã phá bỏ các vết tích văn hóa của ngƣời Phù Nam, vì thế nhiều kiến trúc lớn đã hoàn toàn sụp đổ. Do dân số quá ít, kỹ thuật canh tác lạc hậu, lại sống trên một vùng đất khắc nghiệt “dƣới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”, ngƣời Chân Lạp chƣa tạo đƣợc dấu ấn văn hóa đậm nét trên vùng đất ở phía Bắc sông Tiền. Vào đầu thế kỷ XVII, Jayajettha II lên ngôi ở Chân Lạp(11). Để chấm dứt việc thuần phục nƣớc Xiêm, ông tìm đến chúa Nguyễn tạo ra một thế lực và liên minh mới đối trọng với nƣớc Xiêm qua cuộc hôn nhân với công chúa Ngọc Vạn(12) Nhờ sự hỗ trợ của chúa Nguyễn, Batom Reachea trở thành vua Chân Lạp. Trong lúc châu thổ sông Cửu Long gần nhƣ hoang vu, Batom Reachea cho ngƣời Việt định cƣ, đƣợc quyền sở hữu đất đai mà ngƣời Việt khai phá. Từ thế kỷ XVII, vùng Tiền Giang đƣợc ngƣời Việt, từ miền Trung và miền Bắc, trong đó phần lớn là từ vùng Ngũ Quảng, đến khai hoang và định cƣ. Lịch sử vùng Tiền Giang của 16 thế kỷ sau Công Nguyên vẫn còn ẩn giấu trong lòng đất Tiền Giang. Những cố gắng của ngành khảo cổ học trong việc khảo sát, khai quật một số di tích khảo cổ trong những năm 80, 90 của thế kỷ XX, mới cung cấp đƣợc một số tƣ liệu quí, nhƣng còn ít ỏi về các nền văn hóa cổ tại Tiền Giang. . Tiền Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch. Hàng năm, lƣợng du khách đến đạt hơn 331.500 lƣợt. Thế mạnh của du lịch Tiền Giang chủ yếu nhờ vào các di tích văn hóa lịch sử và sinh thái nhƣ: di tích văn hóa Óc Eo, Gò Thành thế kỷ I đến thế kỷ VI sau công nguyên); di tích lịch sử Rạch Gầm- Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, lũy Pháo Đài; nhiều lăng mộ, đền chùa: lăng Trƣơng Định , lăng Hoàng Gia, lăng Tứ Kiệt, chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, chùa Sắc Tứ… các điểm du lịch sinh thái mới đƣợc tôn tạo nhƣ: vƣờn cây ăn quả ở cù lao Thới Sơn, Ngũ Hiệp, Trại rắn Đồng Tâm, khu sinh thái Đồng Tháp Mƣời, biển Gò Công. Mạng lƣới viễn thông Tiền Giang đƣợc hiện đại hóa và triển khai đồng loạt trong toàn tỉnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong nƣớc và quốc tế. Điện lƣới quốc gia đến toàn bộ trung tâm các xã, phƣờng, thị trấn. Lƣợng nƣớc sạch cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt đạt 55.000m3/ngày đêm cho các khu đô thị và nhiều vùng nông thôn. Mạng lƣới giao thông đƣờng bộ khá hoàn chỉnh. Mạng lƣới đƣờng thủy thuận lợi. Trục chính là sông Tiền, chiều dài 120km chảy ngang qua tỉnh về phía Nam và 30km sông Soài Rạp ở phía Bắc, tạo điều kiện cho Tiền Giang trở thành điểm trung chuyển về giao thông đƣờng sông từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đi TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông. Về phía Đông, đƣờng biển từ huyện Gò Công Đông đến Bà Rịa- Vũng Tàu khoảng 40km – ( 25 Km ) : . Thành phố Mỹ Tho hiện là đô thị loại II, trực thuộc tỉnh Tiền Giang (đƣợc Thủ tƣớng
  • 23. Chính phủ công nhận vào ngày 07 tháng 10 năm 2005), là đô thị tỉnh lỵ, nằm ở bờ bắc hạ lƣu sông Tiền. Phía đông và bắc giáp huyện Chợ Gạo, phía tây giáp huyện Châu Thành, phía nam giáp sông Tiền và tỉnh Bến Tre, có diện tích tự nhiên 49,98 km2, trong đó phần diện tích nội thị là 9,17 km2. Dân số thƣờng trú và tạm trú khoảng 215.000 ngƣời, có 15 đơn vị hành chính cơ sở (gồm 11 phƣờng và 04 xã). Thành phố Mỹ Tho có lịch sử hình thành khá sớm. Từ năm 1623 - một bộ phận ngƣời Việt từ Miền Bắc và Miền Trung vào lập nghiệp ở vùng tả ngạn sông Bảo Định (Phƣờng 2, 3, 8 và xã Mỹ Phong, Đạo Thạnh, Tân Mỹ Chánh, hiện nay còn di tích lƣu lại), chủ yếu sống bằng nghề nông và buôn bán. Vào cuối thế kỷ 17, Nam Bộ có hai trung tâm mua bán lớn là Mỹ Tho và Biên Hòa. Thế mạnh của phố chợ Mỹ Tho là mua bán, đặc biệt là hàng nông thủy sản rất dồi dào, chiếm ƣu thế cả vùng. Từ đó đến nay, Mỹ Tho đã không ngừng phát triển, mặc dù đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, nhất là đối với ngành thƣơng mại, đã hơn 300 năm giữ vai trò chợ đầu mối điều phối hàng hóa cho các nơi trong tỉnh cũng nhƣ khu vực đồng bằng sông Cửu Long với thành phố Hồ Chí Minh. Trong chiến tranh, để bảo đảm cho sự chỉ đạo kịp thời của Trung ƣơng với chiến trƣờng trọng điểm Mỹ Tho ngày càng ác liệt, theo đề nghị của Khu 8, năm 1967 - Trung ƣơng Cục Miền Nam đã chuẩn y nâng thị xã Mỹ Tho lên cấp thành phố ngang với cấp tỉnh và trực thuộc Khu 8. Về phía địch, Mỹ Tho cũng là thành phố. Từ ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nƣớc, Mỹ Tho trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Tiền Giang (đƣợc nhập lại từ tỉnh Mỹ Tho - tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho). Do có nhiều đóng góp trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nƣớc, sau ngày giải phóng, Nhà nƣớc đã quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng cho nhân dân và lực lƣợng vũ trang thành phố Mỹ Tho. Ngày nay thành phố Mỹ Tho là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh Tiền Giang, là một trong những đô thị đặc trƣng vùng sông nƣớc đồng bằng sông Cửu Long. . Do vị trí hết sức thuận lợi về giao thông thủy - bộ, nằm gần thành phố Hồ Chí Minh và là cửa ngõ về các tỉnh Miền Tây, từ ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, Mỹ Tho trở thành tỉnh lỵ và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các vùng của tỉnh và khu vực phát triển. Thành phố là vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh với cơ cấu công nghiệp, xây dựng chiếm tỷ trọng 36,9%, thƣơng mại - dịch vụ chiếm 47,5% và nông, ngƣ nghiệp chiếm 15,6% (số liệu năm 2004), trong đó ngƣ nghiệp chiếm khoảng 20% với đoàn tàu đánh bắt 400 phƣơng tiện, đƣợc trang bị khá hiện đại các thiết bị đánh bắt và phục vụ đánh bắt. Về kinh tế: tốc độ tăng trƣởng GDP bình quân từ năm 1995 đến nay trên 10%; giá trị công nghiệp xây dựng trên địa bàn đến năm 2006 khoảng 1.000 tỷ đồng, thu ngân sách 150 tỷ đồng, đầu tƣ xây dựng trên 110 tỷ đồng. Thành phố có thế mạnh về thƣơng mại - dịch vụ và tiềm năng du lịch, đặc biệt là du lịch xanh miệt vƣờn, sông nƣớc. Số lƣợng khách tham quan du lịch hàng năm đều tăng (năm 2001: 350.000 khách, năm 2002: 400.000 khách đến tham quan du lịch
  • 24. thành phố Mỹ Tho). Thành phố Mỹ Tho là đầu mối giao thông thủy - bộ rất thuận lợi đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, có sông Tiền là một trong hai nhánh của sông Cửu Long. Đây là tuyến giao thông quan trọng mang tính đối ngoại của thành phố Mỹ Tho, rất tiện lợi vận chuyển, lƣu thông hàng thủy sản, nối liền Mỹ Tho với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ra biển Đông về thành phố Hồ Chí Minh. Về đƣờng bộ có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 50, Quốc lộ 60 là những tuyến giao thông đối ngoại quan trọng của thành phố. Thành phố Mỹ Tho có bề dày truyền thống văn hóa và lịch sử đấu tranh cách mạng hết sức vẻ vang, là đơn vị đƣợc Nhà nƣớc tuyên dƣơng Anh hùng lực lƣợng vũ trang trong kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc. Thành phố có trƣờng Trung học Nguyễn Đình Chiểu là một trong những trƣờng trung học lớn nhất và sớm nhất Nam bộ, là cái nôi đào tạo nhân tài cho đất nƣớc suốt hơn 120 năm qua. Hiện nay trên địa bàn thành phố có rất nhiều trƣờng đào tạo văn hóa, nghiệp vụ của trung ƣơng và tỉnh. Trong suốt 30 năm qua, Mỹ Tho luôn là lá cờ đầu của tỉnh về phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa - thể dục thể thao. Những năm qua, dƣới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, sự giúp đỡ nhiệt tình của các ban ngành tỉnh, đặc biệt là sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, nhân dân, lực lƣợng vũ trang thành phố, nên Mỹ Tho đã hoàn thành cơ bản nội dung các tiêu chí của đô thị loại II mà Chính phủ quy định, và ngày 07 tháng 10 năm 2005 đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ công nhận là đô thị loại II. Đƣợc tỉnh hỗ trợ đầu tƣ về vốn cho yêu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng nên bộ mặt đô thị Mỹ Tho đã có thay đổi phát triển khang trang hơn: hệ thống đƣờng giao thông nội thị, ngoại thành, điện chiếu sáng, điện sinh hoạt, cấp nƣớc đƣợc nâng cấp; vệ sinh môi trƣờng đƣợc chú ý hơn; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đƣợc cải thiện so với trƣớc đây. Việc xây dựng thành phố lên đô thị loại II nhằm để củng cố vị trí trung tâm của tỉnh, hỗ trợ cho các vùng trong tỉnh và phụ cận, phát huy hết tiềm năng của thành phố đóng góp cho tỉnh, cho vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nƣớc. Đồng thời việc phát triển thành phố lên đô thị loại II nhằm để thực hiện tốt Nghị quyết của Tỉnh ủy, Nghị quyết đại hội VIII của Đảng bộ thành phố; đáp ứng nguyện vọng thiết tha của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân thành phố, với mong muốn thành phố Mỹ Tho ngày càng văn minh, hiện đại hơn. . Chƣơng trình tham quan + Tham quan chùa Vĩnh Tràng. + Tham quan trại rắn Ðồng Tâm. + Du thuyền trên sông Tiền, tham quan chợ nổi cảng cá. + Tham quan 1 trong 3 điểm sau : - Khu Du Lịch Thới Sơn : Tham quan vƣờn hoa kiểng, vƣờn trái cây, lò nấu rƣợu, nhà dân, thƣởng thức trái cây, uống trà và rƣợu mật ong, kẹo, mứt dừa . nghe ca nhạc tài tử. Ði đò chèo trong rạch nhỏ. - Cồn Phụng : Tham quan khu di tích Ðạo Dừa và khu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Về khu du lịch Thới Sơn 3 tham quan nhà dân, vƣờn cây ăn trái và thƣởng thức trái cây.
  • 25. - Thới Sơn 4 : Tham quan vƣờn trái cây, nhà dân, nghe ca nhạc tài tử, thƣởng thức trái cây, đi đò chèo trong rạch nhỏ. - Khách có thể đặt ăn tại Nhà hàng Thới Sơn hoặc Nhà hàng Trung Lƣơng với những món ăn đặc sản Việt Nam. Khu di tích lịch sử Ấp Bắc Khu di tích lịch sử quốc gia Ấp Bắc thuộc xã Tân Phú (huyện Cai Lậy-Tiền Giang) cách trung tâm huyện lỵ 10 km về hƣớng đông. Tại đây, bia kỷ niệm có ghi: Chiến thắng Ấp Bắc ngày 02/01/1963 đã đánh bại các chiến thuật: bủa lƣới, phóng lao, trực thăng vận và thiết xa vận mà đế quốc Mỹ cho là tân kỳ. Chiến thắng Ấp Bắc nói lên đầy đủ ý chí quật cƣờng của dân tộc Việt Nam; sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân; là tiếng chuông báo hiệu sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm cùng chiến lƣợc chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ. Từ trụ sở Uỷ ban Nhân dân xã Tân Phú đến khu di tích chừng 500 m. Chính tại nơi đây hơn 40 năm về trƣớc, đã diễn ra trận đánh ác liệt, dồn dập, đi vào lịch sử nhƣ một Bạch Đằng, Đống Đa hay Chi Lăng. Khu di tích là một quần thể kiến trúc nằm trong khuôn viên chừng 2 ha bao gồm: tƣợng đồng 3 chiến sĩ gang thép, xe bọc thép, máy bay lên thẳng những chiến lợi phẩm sau trận đánh, pháo 105 ly, mộ 3 chiến sĩ gang thép, nhà quản trang, xen kẻ trong khu vƣờn hoa lúc nào cũng khoe sắc và toả hƣơng thơm ngát. Cạnh vƣờn hoa là những ao nhỏ, bên dƣới trồng hoa súng đỏ. Từng đàn cá rô phi, điêu hồng vô tƣ lội tung tăng dƣới làn nƣớc trong vắt. Du khách có thể ngồi trên những chiếc băng đá phóng tầm mắt ngắm nhìn cảnh vật nơi đây. Có lẽ ấn tƣợng nhất trong khuôn viên này là tƣợng đồng 3 chiến sĩ gang thép cao sừng sửng, nặng 18 tấn: ngƣời cầm súng, ngƣời cầm thủ pháo hiên ngang đứng trên xe tăng địch, làm cho ta phảng phất hình ảnh của những chiến sĩ cầm cờ Tổ quốc trên nóc hầm tƣớng De Castrie ở trận Điện Biên Phủ năm nào. Tác giả là nhà điêu khắc Nguyễn Hải, do cơ sở đúc đồng Phƣơng Nam(Thủ Đức - TPHCM) thực hiện, khánh thành nhân kỷ niệm 35 năm chiến thắng Ấp Bắc. Hình ảnh uy nghi của các anh nhƣ đƣa chúng tôi trở về cảnh súng nổ, bom rền hơn 40 năm về trƣớc. Sáng sớm ngày 02/01/1963, khi Tỉnh Uỷ đang họp tại xã Hƣng Thạnh(thuộc huyện Tân Phƣớc Tiền Giang ngày nay) thì đƣợc tin địch mở cuộc càn quét do Bộ Tƣ lệnh sƣ đoàn 7 và chiến đoàn bảo an thuộc tiểu khu Định Tƣờng đảm trách. Cuộc càn quét diển ra trong phạm vi xã Tân Phú(thuộc vùng giải phóng liên hoàn nối liền hai huyện Cai Lậy Châu Thành, tiếp giáp vùng căn cứ của tỉnh) để vây diệt trung đội địa phƣơng của ta mà chúng phát hiện đang trú quân tại đó. Điểm cụ thể mà chúng đổ quân bao vây diệt lực lƣợng ta là Ấp Bắc. Lực lƣợng của ta chỉ có đại đội 1 tiểu đoàn 514 và đại đội 1 tiểu đoàn 261. Năm giờ sáng ngày 2/1/1963, tiểu đoàn A của địch chia làm 2 cánh tiến vào Ấp Bắc bị ta chặn đánh buộc chúng phải gọi tăng viện. Cùng thời gian này, trận địa công binh của ta dùng thủy lôi đánh chìm một tàu tại Vàm kinh 3 và bắn hỏng 2 chiếc khác. Đến 9g30 bọn chúng đã cho trực thăng đổ bộ xuống Ấp Bắc. Dƣới sự chỉ huy của đại đội trƣởng Bảy Đen, đại liên ta đƣợc lệnh nổ súng vào đội hình địch. Số chết, số bị thƣơng, số còn lại chạy tán loạn. Địch tiếp tục tăng quân tấn công vào đội hình đại đội I/514. Đợi địch tới gần, toàn đại đội nổ súng diệt hơn 50 tên, số sống sót tháo chạy trở lại. Đến 13g30, tiểu đoàn B và xe M113 của địch mở đợt tiến công vào đội hình đại đội I/261. Tình hình lúc này khá
  • 26. gay go, ba xe M113 và một tốp bộ binh tiến tới sát công sự. Do địa hình lồi lõm nên hoả lực của ta chi viện không kết quả. Trận địa có nguy cơ bị địch chọc thủng. Anh Nguyễn Văn Đừng, một tiểu đội trƣởng của đại đội I/261, cùng hai bạn chiến đấu bí mật bò cặp bờ ranh rồi cả 3 áp sát vào ngôi mộ cổ. Anh Đỗ Xuân Chinh ngƣời phụ trách khu di tích chỉ vào ngôi mộ cổ chằng chịt vết đạn, phía dƣới chân tƣợng đồng, kể: Theo những cụ cao niên ta kể lại thì đây là ngôi mộ của một bà Cả. Ba chiến sĩ Nguyễn Văn Đừng, Đỗ Văn Trạch và Hùng (không biết họ) đã nấp ở ngôi mộ này cầm cự suốt, không cho địch tiến vào trận địa rồi bất ngờ nhảy lên xe M113 ném thủ pháo phá huỷ 1 xe, diệt 5 tên địch trên xe, 2 xe còn lại hốt hoảng tháo chạy trở ra. Khi 3 đồng chí quay về công sự thì bị địch chặn đánh và đã hy sinh anh dũng. Nhân dân đặt cho tổ cái tên trìu mến và đầy tự hào Tổ gang thép Nguyễn Văn Đừng, riêng 3 chiến sĩ ấy tôn vinh Ba chiến sĩ gang thép. Địch tiếp tục tăng quân tiến công nhiều đợt nữa và dùng máy bay L19 bay trên trận địa gọi ta ra hàng. Đích thân tên Cao Văn Viên, tƣ lệnh lữ đoàn dù, ngồi trên trực thăng quan sát cuộc tiến công. Tiều đoàn dù đƣợc 16 chiếc Dacota thả xuống trận địa đại đội I/514. Đợi địch xuống thật gần, toàn đại đội nổ súng, một số tên bị diệt ngay trên không. Ta, địch xen kẻ cách nhau từng bờ mƣơng, liếp chuối. Bọn lính dù đứa bị mắc lủng lẳng trên ngọn cây, đứa bị kẹt trên mái nhà bị nhân dân ta phát hiện báo cho chiến sĩ ta tiêu diệt. Đến 20 giờ, địch tổ chức thêm một đợt tiến công nữa nhƣng cũng bị ta đẩy lùi. Rời khu vực tƣợng đài, anh Chinh dẫn chúng tôi đến khu mộ 3 chiến sĩ gang thép. Ba ngôi mộ nằm song song nhau, phía trên lúc nào cũng nghi ngút khói hƣơng của khách tham quan, các anh đều đƣợc phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lƣợng vũ trang. Sát ngôi mộ là bảng thành tích của trận đánh Ấp Bắc: 450 tên ngụy quân Sài Gòn chết và bị thƣơng, 3 cố vấn Mỹ chết và 4 tên khác bị thƣơng, 8 máy bay trục thăng bị bắn hạ, 3 xe lội nƣớc M113 bị cháy, 1 tàu chiến bị đánh chìm. Về thăm Ấp Bắc, nguyên chỉ huy phó Bộ Chỉ huy quân sự TP.HCM Trần Xuân Trí đã xúc động viết nên những vầng thơ, trong đó có đoạn: Những Ấp Bắc, Củ Chi, Bến Cát Địa danh này đƣợc Bác biểu dƣơng. Đã rộn ràng những bài ca, câu hát Tên tuổi anh cả nƣớc biểu dƣơng. Từ khi khu di tích đƣợc khánh thành đến nay đã đón hàng ngàn lƣợt du khách trong và ngoài nƣớc đến tham quan, tìm hiểu. Đây cũng là nơi giáo dục cho học sinh trong tỉnh về truyền thống đấu tranh bất khuất của tổ tiên trong sự nghiệp giữ nƣớc. Rời khu di tích, nhìn hai bên đƣờng, chúng tôi không khỏi vui mừng trƣớc những cánh đồng lúa trĩu hạt, những rẫy dƣa chi chít quả căng tròn. Lác đác trên cánh đồng, nhiều mô hình bằng xi -măng xác máy bay, xe M113 bốc cháy. Tất cả nhƣ minh chứng cho một sức sống mới trên mảnh đất anh hùng. . HỦ TÍU MỸ THO Hủ tíu là món ăn quen thuộc của ngƣời Hoa, du nhập vào đất Mỹ Tho từ hàng trăm năm nay. Nhƣng đƣợc "Mỹ Tho hóa" theo cách riêng, trở thành món ăn ngon có tiếng của địa phƣơng.
  • 27. Hủ tíu Mỹ Tho làm bằng bánh bột gạo chan nƣớc súp (nấu bằng xương hầm, khô mực nướng, tôm khô cùng một số gia vị đặc trưng) bên trên mặt bày miếng sƣờn non, con tôm bổ đôi cùng với thịt và lòng, ăn với nƣớc tƣơng và rau giá. Dân bán hủ tíu Mỹ Tho có lối tiếp thị khá độc chiêu. Họ thƣờng bày thùng nƣớc lèo ngay trƣớc cửa hàng để mỗi khi giở nắp chan, hƣơng thơm ngào ngạt sẽ rủ rê ngƣời qua lại. Theo những ngƣời cố cựu, hủ tíu Mỹ Tho ngon nhất thƣờng làm bằng gạo Gò Cát, trong và chắc hạt (thuộc xã Mỹ Phong - ngoại thành Mỹ Tho) nên cọng bánh hơi dai, khi trụn sơ nƣớc sôi, rƣới một ít mỡ hành trông rất bắt mắt. . Khách sạn Chƣơng Dƣơng Ðến với Khách sạn Chƣơng Dƣơng quí khách sẽ đƣợc chiêm ngƣỡng những hình ảnh sinh động , nhộn nhịp của những chiếc ngƣ thuyền qua lại trên dòng sông Tiền. Địa chỉ: Số 10, Đƣờng 30/4,Thành phố Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang. Tel: (073) 870875/ 870876 Fax: (073) 874250 Giá phòng: 28$ - 38$ Khách sạn Hồng Phúc Nhà hàng khách sạn Hồng Phúc diện tích trên 8000 mét vuông, có sân vƣờn, có khung cảnh thoáng mát đƣợc trang trí hoa kiểng và hòn non bộ đẹp. Địa chỉ: 246/8 Ấp Bắc, P5, TP. Mỹ Tho - Tiền Giang. Tel: (073) 876260/ 872548 Fax: (073) 874532 Giá phòng: 10$ - 12$ Khách sạn Sông Tiền Địa chỉ: 101 Trƣng Trắc, P.1, Mỹ Tho, Tiền Giang. Tel: (073) 872009 Fax: (073) 884745 Giá phòng: 10$ - 18$. Khách sạn Hƣớng Dƣơng Địa chỉ: 33, Trƣng Trắc, P.1, Mỹ Tho, Tiền Giang. Tel: (073) 872011 Giá phòng: 10$ - 16$ Khách sạn Rạng Đông Địa chỉ: 25 đƣờng 30/4, Tp. Mỹ Tho, Tiền Giang. Tel: (073) 874400 Fax: (073) 873480 Giá phòng: 9$ - 22$ – ( 33 Km ) Du : – . Cái Bè là một huyện của tỉnh Tiền Giang, nằm phía tả ngạn sông Tiền. Dân số hiện nay khoảng 275.000 ngƣời. Cái Bè đã từng là một trong những trung tâm hành chính - kinh tế - chính trị của Nam Bộ với tên gọi "Cái Bè Dinh" (1732 - 1757), sau gọi là Long Hồ Dinh. Ngày nay, Cái Bè là một trong những trung tâm quan trọng phân phối nông sản, đặc biệt là trái cây cho cả nƣớc và các nƣớc trong khu vực.
  • 28. Thiên nhiên trù phú, hiền hòa, lòng ngƣời đôn hậu, mến khách, một hệ sinh thái đặc trƣng sông nƣớc Nam bộ cùng một chợ nổi náo nhịêt, những nét Văn hóa rất riêng mà rất chung đã làm cho Cái Bè trở thành một Ðồng bằng sông Cửu Long thu nhỏ, là một điểm đến an toàn và hấp dẫn đối với mọi Du khách LỄ HỘI TẮM CỒN Nhiều du khách đã có dịp thƣởng thức cái gọi là thú "Tắm biển", "tắm suối nƣớc nóng", "Tắm hơi", "tắm bùn" . Tuy nhiên "tắm cồn" là thú tắm đặc biệt ít tốn kém lại rất thú vị chỉ có ở điểm du lịch miệt vƣờn Tân Phong-Tiền Giang "Tắm cồn" là cách gọi tự nhiên của bà con miệt vƣờn để chỉ thú vui tắm trên sông nƣớc cù lao, điểm đặc biệt ở đây là du khách vừa tắm vừa bắt ốc Hàng năm vào dịp Tết Ðoan Ngọ ( mùng 5 tháng 5 âm lịch) tại Cù lao Tân Phong nằm giữa sông Tiền thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Lúc khoảng 13h - 16h giờ chiều khi con nƣớc ròng, những bãi cù lao nổi lên,hàng ngàn ngƣời từ những vùng lân cận cù lao, đặc biệt là những trai gái trong vùng lũ lƣợt kéo nhau đến đây để tắm cồn. Hàng trăm ghe thuyền chạy ngƣợc chạy xuôi náo nhiệt cả một khúc sông. "Ai đi tắm cồn mà chƣa bắt ốc gạo thì chƣa thƣởng thức hết cái thú tắm cồn !". Theo một số ngƣời dân địa phƣơng đã định cƣ lâu đời nơi đây cho biết cách bắt ốc gạo nhƣ sau : lặn xuống nƣớc lấy tay gom ốc lại mà bắt. nếu lặn không đƣợc thì lấy chân cào rồi dùng hai ngón chân kẹp ốc lên, Thật vậy vừa tắm vừa bắt ốc thật là vui, do vị trí thuận lợi với cát bồi bao phủ quanh năm, nƣớc ở cù lao là nƣớc từ sông Cửu Long nên du khách có thể tự do tung tăng trên sông nƣớc cả ngày mà không ai biết chán. Du khách có thể chế biến món đặc sản ốc gạo hấp ngay tại chỗ nếu có đem theo bếp gas và nƣớc mắm đã làm sẵn. Ðể ca ngợi món ăn đặc sắc này ngƣời xƣa đã lƣu lại câu: " Ốc cồn tre, một ngƣời đè hai ngƣời lể". Vào dịp Tết Ðoan Ngọ là thời gian ốc gạo ngon nhất. Ốc mập thịt dai, luột chín . lể ra bên trong ruột trắng phếu, lấy thịt ốc cuốn bánh tráng nhúng nƣớc kèm dừa khô nạo, rau sống, chấm nƣớc mắm tỏi ớt thì trở thành món ăn "độc nhất vô nhị" nơi đây. LỄ HỘI CÚNG THỦY THẦN TẠI MIẾU CẬU Miếu Cậu còn gọi là "Hà Dƣơng Thủy Phủ Chi Thần hay Miếu Thờ Thần Bão Tố" tọa lạc tại vàm Mân ( vàm sông Hoà Khánh) làng Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Theo tƣơng truyền thì khúc sông này ngày xƣa rất nguy hiểm do dòng nƣớc xoáy mỗi khi có gió lốc hay giông bão. Vì lý do đó mà dân trong làng cùng nhau quyên góp tiền của để lập nên ngôi miếu để thờ thần chế ngự giông bão. Cứ mỗi lần ghe xuồng qua đây đều phải đốt pháo hay bóp còi ngụ ý để chào vị thần giông bão nơi đây. Sau đó có một vị quan tri phủ tên là Hồ Trung Dinh trên đƣờng kinh lý ngang qua đây thì thuyền ông bị sóng lớn làm chao đảo thuyền, ông liền ra lệnh cho dừng thuyền lại và tìm hiểu nguyên nhân thì mới phát hiện ra nơi đây có một ngôi miếu hoang vắng, trên cổng có đề "Phong Ba Miếu" ông liền khấn vái lập tức sau đó sóng gió liền ngƣng hẳn. Sau đó ông cho trùng tu lại ngôi miếu hoang này và thay đổi tên nhƣ ngày nay là: "Hà Dƣơng Thủy Phủ Chi Thần" thay vì Phong ba miếu. Về sau này ngôi miếu đƣợc dân thƣơng hồ cùng ngƣời dân địa phƣơng cho mở rộng nhƣ hiện nay.
  • 29. Hàng năm cứ vào ngày 22, 23 tháng 3 âm lịch và ngày 9, 10 tháng 10 âm lịch thì dân thƣơng hồ từ mọi nơi kéo về đây cúng bái nhằm tỏ lòng tôn kính thần linh và cũng nhằm xin thần linh bảo trợ cho họ trong những ngày bôn ba trên sông nƣớc mênh mông. * Tuy . CÁC NGÔI NHÀ CỔ TẠI CÁI BÈ Nếu đi ngƣợc dòng lịch sử của Cái Bè, tính từ lúc Chúa Nguyễn Phúc Chu cho dựng Cái Bè Dinh vào năm 1732 cho đến cuối thời Pháp thuộc (1945), tại vùng đất Cái Bè đã có hai dòng họ rất lớn và danh tiếng thuộc hàng thƣợng lƣu với nhiều quyền lực và tài lực thời bấy giờ. Ðó là họ PHAN và họ TRẦN. Vì vậy, đa số các ngôi nhà lớn, cổ kính và kiên cố, đƣợc xây dựng từ trƣớc 1945 còn lƣu lại trên phần đất Cái Bè ngày nay đều thuộc hai dòng họ trên. Hiện những ngôi nhà này đƣợc xem nhƣ là tài sản vô giá của gia đình nói riêng, và của địa phƣơng nói chung. Nó là dấu ấn của nhiều giai đoạn lịch sử, góp phần tô đẹp thêm cho nền Văn hoá bản địa. Sau đây là một vài ngôi nhà cổ tiêu biểu và danh tiếng tại Cái Bè hiện nay: Nhà Cổ Ba Ðức: (1938. Ấp An Lợi - Ðông Hòa Hiệp - Cái Bè - Tiền Giang) Nằm trong khuôn viên rộng trên 2 héc-ta, bao quanh ngôi nhà là một vƣờn cây cảnh và một vƣờn cây ăn trái đa chủng loại đặc sản của địa phƣơng nhƣ: xoài cát Hoà Lộc, cam sành, bƣởi da xanh, nhãn, sa-pô; tất cả đều đƣợc bố trí một cách hài hoà, là một trong những vƣờn cây trái đẹp nhất trong vùng rất thích hợp cho du khách tham quan và thƣởng thức trái cây đặc sản. Ngôi nhà đƣợc xây dựng với sự kết hợp hài hòa 2 lối kiến trúc Á-Âu. Nhìn từ bên ngoài, nó có hình dáng nhƣ một ngôi nhà thời Thuộc Ðịa (Maison dÉpoque Coloniale). Nhà đƣợc cất trên nền cao 0,5m so với mặt đất, vì vậy vào mùa nƣớc lũ, nhà không thể ngập. Ðƣợc biết, những ngôi nhà đƣợc xây dựng cùng thời thƣờng không có nền cao nhƣ thế, đây chính là một điều rất tinh tế về mặt kiến trúc của ngôi nhà. Ngôi nhà đƣợc chia làm 2 phần rõ rệt (Nhà Trƣớc & Nhà Sau). Giữa hai gian nhà là một khoảng sân, đƣợc gọi là Thiên Tĩnh (giếng trời) với mục đích đƣa ánh sáng vào làm ấm áp trong cả hai gian nhà. Nhà Trƣớc: còn đƣợc gọi là nhà thờ, vì đây là nơi thờ cúng tổ tiên của gia đình. Trƣớc khi vào bên trong nhà, chúng ta bắt gặp một hành lang khá rộng có lan can kiên cố (Véranda). Khi bƣớc vào cửa chính (Cửa cái), chúng ta không thể không ngỡ ngàn trƣớc vẽ đẹp của các cổ vật Nhà sau: trƣớc kia là một gian nhà khá rộng, trong đó bao gồm nhà bếp, nhà ăn và nhà kho dùng để chứa lúa gạo và công cụ sản xuất,. Tuy nhiên, do chiến tranh đã làm hƣ hại gần hết. Hiện nay, chỉ còn lại một phần nhỏ dùng làm nhà bếp. Khi bƣớc vào bên trong thì du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng trƣớc những đồ vật đƣợc bày trí bên trong. Trong số đó có: 3 bộ tủ thờ đƣợc cẩn ốc xà cừ óng ánh (1924) đựơc bày trí theo nguyên tắc "Ðông bình - Tây quả", trong đó bên tay phải có chiếc hộp gỗ đƣợc cẩn hình rồng bên trong có bản Sắc phong thần đƣợc vua Tự Ðức ban vào 1848 - 1860. Chính giữa nhà có 4 cột to bằng gỗ căm xe càng làm nổi bật lên sự vững chắc và trƣờng tồn của ngôi nhà. Bộ liễn đƣợc cẩn xà cừ tuyệt đẹp càng làm tô điểm thêm vẻ đẹp cổ kính của ngôi nhà. Nội dung của hai câu đối nhƣ sau: (từ phải sang trái) "Tích đức thắng di kim - Xử thế đƣơng kiêm Tƣ Mả huấn"
  • 30. " Di thiện dỉ di bảo - Trì thân nhi tĩnh Sở thơ ngôn" Xung quanh nhà có hình 9 bức tranh tuyệt đẹp đƣợc vẽ trên 3 bức tƣờng chính, trên mỗi bức tranh là cảnh một làng quê bình dị bên cạnh một dòng sông hữu tình. Ðƣợc biết, 9 bức tranh này tƣợng trƣng cho dòng sông Cửu Long hiền hóa (hình ảnh con rồng đƣợc thể hiện qua bố cục độc đáo từ dòng sông thơ mộng). Nhà Cổ ông Cai Huy: (1860, ấp Hoà Phúc - Hoà Khánh - Cái Bè - Tiền Giang) Nhà đƣợc xây dựng vào năm 1860 do ông Cai Tổng Huy xây cất tọa lạc tại làng Hòa Khánh, Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Ngôi nhà đƣợc xây dựng theo lối kiến trúc cung đình Huế và đƣợc chạm trỗ rất công phu và tốn rất nhiều thời gian. Hiện nay, ngôi nhà đƣợc ông Trần Quang Mẫn (ngƣời dân nơi đây thƣờng gọi là ông Mƣời Mẫn) là cháu đời thứ năm của Ông Cai Huy. Cũng nhƣ các ngôi nhà cổ khác trong vùng nhà cổ Cai Huy cũng còn lƣu trữ khá nhiều cổ vật có giá trị về mặt lịch sử cũng nhƣ nhân văn trong đó có những mẫu vật đƣợc mang từ Pháp sang thể hiện rõ nét đặc trƣng của thời thuộc Pháp. Nhà cổ anh Kiệt: (1924. Ấp Phú Hoà - Ðông Hòa Hiệp - Cái Bè - Tiền Giang) Nhà do ông Trần Văn Bính thừa kế đƣợc xây cất với diện tích 1000m2 tọa lạc giữa vƣờn cây ăn trái 1,8ha tại ấp Phú Hòa xã Ðông Hòa Hiệp, Cái Bè tỉnh Tiền Giang. Nhà gồm 5 gian hình chữ Ðinh với hơn 100 cột gỗ quí, theo nhận xét của các chuyên gia Nhật Bản nhà đƣợc xây dựng cách đây 150 năm , theo cấu trúc nhà truyền thống Nam Bộ. Các hoa văn chạm khắc, trang trí trên các bộ vì kèo, xiên và vách rất công phu mang nét rất đặc trƣng theo phong cách nhà cổ Nam Bộ. Trãi qua nhiều thế kỷ và do chiến tranh tàn phá nhƣng chủ nhân vẫn còn lƣu giữ đƣợc một số đồ vật có giá trị mang giá trị lịch sử cao. Ðặc biệt là bộ bao lam đƣợc chạm lộng Mai, Lan, Cúc, Trúc đƣợc cách điệu hài hòa, các họa tiết mềm mại thể hiện trình độ và tài nghệ thƣởng thức nghệ thuật của ngƣời xƣa. Trong chƣơng trình hợp tác giữa hai nƣớc Việt Nam - Nhật Bản. Tổ chức JICA đã tài trợ cho dự án khảo sát và trùng tu một số ngôi nhà cổ giân gian Nam Bộ tại Việt Nam. Dự án bắt đầu vào năm 1998 do trƣờng Ðại Học Nữ Chiêu Hoàng phối hợp cùng Ðại Học Kiến Trúc Thành Phố Hồ Chí Minh. Tổng cộng có 09 ngôi nhà, trong đó miền Nam có 02 ngôi nhà (tại Biên Hoà và Cái Bè). Qua khảo sát 355 nhà tại Tiền Giang, ngôi nhà tại xã Ðông Hòa Hiệp đã đƣợc chọn để phục chế với kinh phí 1,5 tỉ đồng bao gồm toàn bộ kiến trúc của ngôi nhà và vật dụng trang trí bên trong theo nguyên bản. Ngôi nhà đƣợc Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Tiền Giang ký quyết định là di tích cấp tỉnh ngày 04/03/2002. CHỢ NỔI CÁI BÈ Chợ nổi là gì Chợ nổi là hình thức trao đổi, buôn bán trên sông nƣớc giữa thuyền này với thuyền kia. Hình thức họp chợ nhƣ thế đã đƣợc định hình và phát triển cùng với những thăng trầm của lịch sử hàng trăm năm trƣớc của vùng miền Tây - Nam bộ. Tại sao lại có Chợ nổi Có thể hiểu một cách đơn giản nhƣ sau: Trƣớc và trong thời Pháp thuộc, điều kiện sinh sống của con ngƣời ở ÐBSCL rất khó khăn và phức tạp, vì đây là vùng đất thấp, thƣờng xuyên bị lũ lụt, nhiều ngƣời phải sinh sống trên các bè gỗ, bè tre. Vào thời điểm đó giao thông đƣờng bộ rất thô sơ, có nơi hầu nhƣ không có... Chính vì thế, ngƣời xƣa đã tận dụng chủ yếu là xuồng ghe để phục vụ
  • 31. cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Trong bối cảnh đó: nhiều ngƣời sinh sống trên sông nƣớc, ngƣời đi bán bằng xuồng ghe, ngƣời đi mua cũng bằng xuồng ghe, thì việc mua bán diễn ra trên sông nƣớc là phù hợp và hữu hiệu nhất. Và nhƣ thế việc mua bán trên sông nƣớc đã trở thành một nghề, và đƣợc lƣu truyền cho tới ngày nay. Những ngƣời chuyên sống bằng nghề này, từ ngày xƣa đƣợc mệnh danh là "Dân thƣơng hồ", họ sinh sống trên ghe xuồng và không ở cố định một nơi nào. Xƣa có câu ca dao: "Ðạo gì vui bằng cái đạo đi buôn Xuống biển, lên nguồn, gạo chợ, nƣớc sông" Vào thời Pháp thuộc, để tránh việc bắn giết, đi phu, xu cao thuế nặng, nên các Chợ nổi lúc bấy giờ thƣờng xuyên đƣợc hợp vào ban đêm, ngƣời ta đã dùng đèn cầy hay đuốc để thấp sáng. Ngày nay, chợ nổi đã trở thành một nét Văn hoá đặc trƣng của ngƣời dân vùng sông nƣớc ÐBSCL. Nhằm tạo điều kiện cho việc buôn bán dễ dàng, thuận lợi. Chính quyền địa phƣơng đã và đang thực hiện một số việc chính sách nhằm lập lại trật tự cho khu vực chợ gồm: lập ra các khu vực riêng dành cho Chợ nổi và các điểm đăng ký tạm trú đối vơi các "Hộ mặt nƣớc", không tính thuế đối với hàng hóa trên sông. Chợ nổi Cái Bè là một trong nhiều Chợ nổi ở khu vực ÐBSCL. Trong đó nhộn nhịp và sung túc nhất là các Chợ nổi Cái Răng, Phong Ðiền, Phụng Hiệp (Chợ Ngã Bảy) và Cái Bè. Cho đến ngày nay, vẫn chƣa có ai biết rõ Chợ nổi Cái Bè đƣợc hình thành bắt đầu từ năm nào, có lẽ nó đã đƣợc nhen nhóm từ khi có bƣớc chân của lƣu dân ngƣời Việt (chủ yếu đến từ vùng Ngũ Quảng) vào khai phá vùng đất này vào khoảng cuối TK 17 đầu TK 18. Theo sách sách Gia Ðịnh Thành Thông Chí, thì vào năm 1732, Chúa Nguyễn hạ chỉ cho dựng Dinh Long Hồ tại Cái Bè (gọi là Cái Bè Dinh), lúc bấy giờ, vàm Cái Bè đƣợc miêu tả là nơi "Sông sâu nƣớc chảy", có rất nhiều ghe xuồng từ khắp nơi đổ về tập trung buôn bán rất nhộn nhịp. Chợ nổi Cái Bè nằm tại vàm Cái Bè (là nơi tiếp giáp giữa sông sông Cái Bè và sông Tiền), trải dài trên 500m, là nơi trao đổi buôn bán của hơn 400 xuồng ghe mỗi ngày. Việc mua bán diễn ra từ khoảng 4 giờ sáng cho đến 15 giờ hàng ngày, tuy nhiên nhộn nhịp nhất là vào khoảng từ 5 giờ đến 8 giờ sáng, bao gồm mua bán sỉ và lẻ. Một điều đặc biệt thú vị ở Chợ nổi là trên mỗi ghe bán hàng đều có dựng một cây xào tre, mà trên đó có treo một hoặc nhiều món hàng mà ngƣời ta muốn bán (treo thứ gì thì bán thứ ấy). Một số dân địa phƣơng mang sản phẩm của họ đến bán sỉ cho dân Thƣơng hồ (thƣờng là trái cây.) sau đó mua lẻ lại những sản phẩm mà họ cần trong cuộc sống hàng ngày. Một số ngƣời khác đến mua sỉ từ dân Thƣơng hồ, và mang về bán lẻ trong các làng quê hẻo lánh. LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Nghề làm bánh cốm: nghề này đã có từ rất lâu và đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở Cái Bè. Khu làng nghề làm bánh cốm tọa lạc tại ấp An Ninh, xã Ðông Hòa Hiệp, Cái Bè. Ðể làm đƣợc bánh cốm phải trãi qua nhiều công đoạn sau: rang cốm (hay nổ cốm), nấu gia vị, cuối cùng là công đoạn trộn cốm và đóng gói. Tùy theo khẩu vị và đơn đặc hàng mà ngƣời thợ trộn thêm hƣơng vị của sầu riêng hoặc vani để làm tăng thêm vị thơm ngon cho cốm Cái Bè. Bánh cốm tại Cái Bè gồm nhiều loại nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách
  • 32. gồm: cốm mì, cốm nếp, cốm gạo, cốm bắp. cốm Cái Bè có mặt trên thị trƣờng với những thƣơng hiệu nổi tiếng nhƣ: cốm Ngọc Lợi, cốm Cái Bè.đã từ lâu chinh phục đƣợc khẩu vị của nhiều ngƣời. Nghề làm bánh tráng: nghề làm bánh tráng cũng đã xuất hiện từ rất lâu tại Cái Bè, để làm đƣợc bánh tráng dẽo và ngon cần phải mất nhiều công đoạn. Cách làm bánh tráng cũng đòi hỏi phải mất nhiều thời gian. Nguyên liệu và dụng cụ chính để làm thành chiếc bánh tráng gồm: gạo tẻ dùng để xay thành bột, lò nung, nồi lớn dùng để nấu nƣớc và dụng cụ bằng tre dùng để gỡ bánh. Quy trình làm bánh tráng bao gồm các công đoạn sau: đầu tiên là ngâm gạo tẻ 01 hoặc 02 ngày rồi xay bột bằng cối đá có pha thêm nƣớc và muối (độ muối vừa phải để tạo độ dẽo cho bánh), đợi cho nƣớc trong nồi sôi lên phía trên nồi có miếng vải căng dùng làm khuôn, sau đó tráng một lớp bột lên miếng vải sao cho thật mỏng, đậy nắp làm từ lá dừa bao phủ lên miếng vải và đợi khoảng 10 giây rồi dùng thanh tre để lấy bánh tráng ra. Công đoạn sau cùng là công đoạn phơi, nếu thời tiết tốt thì phơi khoảng 03-04 tiếng. Bánh tráng Cái Bè đƣợc dùng nhiều trong món ăn thƣờng ngày của ngƣời Việt, ta có thể dùng bánh tráng để gói với cá và rau xanh, có thể chấm nƣớc mắm để làm tăng thêm hƣơng vị của bánh tráng. Nghề làm bánh phồng: Nghề làm bánh phồng ở Cái Bè đã có từ năm 1940, chủ yếu sản xuất để tiêu thụ trong những dịp lễ Tết. Về sau nghề làm bánh phồng ngày càng phát triển về quy mô cũng nhƣ về thị trƣờng tiêu thụ. Hiện nay ở tại khu 4 thị trấn Cái Bè và ấp An Hiệp xã Ðông Hòa Hiệp có khoảng trên 400 hộ sản xuất ra loại bánh phồng trong đó có các thƣơng hiệu từ lâu đã đƣợc sự tin dùng của khách hàng nhƣ: Ông Mập, Hải Ký, Ba Mập, Thanh Tuyền. Nguyên liệu chính để làm bánh phồng là khoai mì, dừa có sẵn tại địa phƣơng với các loại công cụ còn thô sơ lúc ban đầu dần dần đã đƣợc thay thế bằng máy, để nhằm tăng năng suất đủ để đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng. Năm 2004, Phòng kinh tế huyện Cái Bè đã thành lập dự án phát triền làng nghề Bánh Phồng Cái Bè ở khu vực ấp An Hiệp và khu 4 thị trấn Cái Bè với diện tích 490,46ha gồm 1.185 hộ với 5.609 nhân khẩu trong đó có 327 hộ với 1.684 lao động đang làm bánh phồng. Dự án này còn nhằm hỗ trợ kinh phí cho việc đăng ký thƣơng hiệu, cải tạo đƣờng giao thông, hệ thống điện, trang bị máy móc bị để nhằm tạo vị thế cho làng nghề bánh phồng Cái Bè ngày càng cao trên thƣơng trƣờng. (nguồn: Huỳnh Thanh Tâm - Ban tuyên giáo Huyện Ủy Cái Bè). Nghề làm kẹo dừa: Nghề làm kẹo dừa tại Cái Bè đƣợc hình thành hơi muộn hơn so với nghề làm bánh phồng và tránh tráng nhƣng về mặt chất lƣợng cũng đã chinh phục đƣợc ngƣời tiêu dùng tại đại phƣơng cũng nhƣ các tỉnh lận cận. Nguyên liệu chính để làm kẹo dừa gồm: dừa khô, mạch nha với phụ gia là lá dứa, cacao, đậu phộng. quy trình sản xuất kẹo dừa gồm các bƣớc nhƣ sau: chuẩn bị nguyên liệu, ngào kẹo và đóng gói. Ðiều đặc biệt là kẹo dừa đƣợc gói bằng 2 lớp: bánh tráng và giấy. Do đó ta có thể giữ đƣợc trong một thời gian dài và có thể dùng mọi lúc, mọi nơi. Nghề làm gạch: những lò gạch tại Cái Bè nằm rãi rác dọc theo vàm Hòa Khánh và rạch Bà Hợp thuộc làng Hòa Khánh, thị trấn Cái Bè. Gạch ngói, gạch tàu và gạch xây là mặt hàng chủ lực của những cơ sở sản xuất gạch nơi đây. Nguyên liệu chính để sản xuất gạch là từ đất sét, đất sét đƣợc lấy từ sông, từ ruộng lúa trong khu vực
  • 33. Ðồng Bằng Sông Cửu Long... chất lƣợng đất sét cũng cần phải đƣợc xem xét để nhằm đảm bảo chất lƣợng của gạch. Nghề làm nhãn sấy: vào khoảng năm 2000 phong trào làm nhãn sấy xuất khẩu đã phát triển mạnh tại Cái Bè cũng nhƣ một số tỉnh lân cận. Vì lý do đó những nhà vƣờn lần lƣợt đốn bỏ những loại cây tạp để trồng tập trung chuyên canh cây nhãn đặc biệt là cây nhãn da bò (loại nhãn này cho năng suất cao và đủ tiêu chuẩn xuất khẩu). Ða phần chủ nhân của những lò sấy nhãn đến từ Miền Bắc do họ tìm đƣợc đầu ra cho nhãn sấy, họ chọn những khu vực nào có diện tích trồng nhãn rộng là họ đầu tƣ cho xây dựng lò sấy nhãn. Tùy từng thời điểm và tùy theo mùa mà họ mở rộng quy mô sản xuất. Sau khi thu gom tại các khu vƣờn, nhãn đƣợc chuyển về lò bằng ghe, sau đó đƣợc tuyển sơ một lƣợt sao cho kích cỡ đều nhau. Than đá là nguyên liệu chính để sấy nhãn, khoảng 7 ngày nung liên tục, nhãn sẽ đƣợc bốc vỏ và cơm. Nguồn nhân lực chính cho các lò nhãn sấy là ngƣời dân địa phƣơng sinh sống xung quanh để nhằm tạo thêm việc làm nhàn rỗi và nhằm giảm bớt chi phí sản xuất. Vỏ nhãn đƣợc tận dụng dùng để làm chất đốt, hạt nhãn đƣợc xay nhuyễn để làm thức ăn gia súc. Nghề chằm lá: đến với vùng đất Nam Bộ, đƣợc thƣởng thức các món đặc sản Nam Bộ và đƣợc ở trong những ngôi nhà lá đặc trƣng của Nam Bộ là cái thú đối với rất nhiều ngƣời, đặc biệt là những ngƣời sau nhiều ngày làm việc căng thẳng muốn tìm lại bầu không khí trong lành khoáng đãng của vùng làng quê song nƣớc Cửu Long. Ngôi nhà lá đƣợc ngƣời dân địa phƣơng xây dựng từ nguyên liệu tre để làm cột kèo, lá từ cây dừa nƣớc dùng để lợp thành mái nhà. Các loại nguyên liệu này hầu nhƣ có sẵn khắp nơi trong vùng, đầu tiên lá dừa nƣớc đƣợc tách ra khỏi bẹ dừa và đƣợc ngƣời dân địa phƣơng lợp lại thành từng tấm dài khoảng 1-1,5m tùy từng vùng. Công đoạn chằm lá đƣợc thực hiện rất công phu bởi những bàn tay khéo léo của ngƣời thợ, hầu hết những ngƣời thợ này đều đƣợc truyền nghề từ những thế hệ đi trƣớc trãi qua . Trung bình một ngày một ngƣời thợ có thể làm ra đƣợc khoảng 300 tấm. TRÁI CÂY TẠI CÁI BÈ Xoài cát Hoà Lộc: là một loại trái cây đã gắn liền với địa danh Hòa Lộc. Nhắc đến xoài cát Hoà Lộc thì không ai có thể quên đƣợc hƣơng vị đậm đà, thơm ngon của nó. Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Thƣơng thì xoài cát Hoà Lộc là ngon nhất trong 120 loại mà viện cây ăn quả Long Ðịnh đã nghiên cứu và đạt danh hiệu "quả xoài vƣơng hậu" trong các kỳ thi xoài. Cây xoài tổ hiện nay vẫn còn ở nhà bác Hai Cống, xã Hòa Hƣng, huyện Cái Bè. Và từ đó viện cây ăn quả Long Ðịnh nhân giống ra nhiều cây giống bán rẻ cho nông dân cả nƣớc. Quả xoài cát Hoà lộc rất dễ chọn, da hơi có cám, thịt ngon và thơm, đứng đầu trong các loại trái cây xuất khẩu. Cam Cái Bè: là một trong những cây ăn quả đƣợc trồng trong vƣờn lâu nhât vàphổ biến nhất. Những quả cam sành còn đƣợc gọi là cam King (King Orange) và cam mật đƣợc trồng nhiều ở vùng Cái Bè - An Hữu. Khi du khách một lần đến với Tiền Giang mà chƣa thƣởng thức cam Cái Bè thì chƣa hiểu hết đƣợc vùng đất này. Cam Cái Bè đƣợc trồng nhiều ở cù lao Tân Phong thuộc huyện Cai Lậy và khu thị trấn Cái Bè.
  • 34. . Nhà Hàng Xẻo Mây Tọa lạc cạnh bên bờ sông Tiền thơ mộng, đƣợc bao quanh bởi vƣờn cây ăn trái trĩu quả. Ðến với Nhà Hàng Xẻo Mây du khách sẽ có đƣợc một cảm giác ấm cúng và dân dã. Với các món ăn thuần túy Nam Bộ nhƣ : canh chua cá linh bông điên điển, mắm kho ăn với bông lục bình, cá rô kho tộ, cá lóc nƣớng trui, cá tai tƣợng chiên xù, ốc hấp tiêu. Nhà Hàng Xẻo Mây có thể phục vụ 600 khách cùng lúc và có thể đảm nhận việc tổ chức liên hoan, sinh nhật, hội nghị khách hàng. Cùng với đội ngũ nhân viên nhiều năm kinh nghiệm, nhiệt tình sẽ làm hài lòng quý khách. – ( 37 Km ) : * . Do đặc điểm hình thành, tỉnh Đồng Tháp là sự hợp nhất của 2 vùng Nam và Bắc Sông Tiền, tƣơng ứng với 2 địa danh Sa Đéc và Cao Lãnh. : Theo nhà văn Sơn Nam, ngƣời đƣợc mệnh danh là Nhà Nam bộ học thì vùng đất phía Nam của tỉnh Đồng Tháp mà trung tâm là Sa Đéc có một vị trí cực kỳ quan trọng. Ông viết, “ Bản lề giữa sông Tiền và Sông Hậu, giữa vùng đồng bằng và cảng Sài Gòn, giữa đồng bằng và nƣớc Campuchia, lần hồi hình thành một vùng đất mà mãi đến nay ngƣời dân địa phƣơng vẫn tự hào”. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, ít nhất từ đầu thế kỷ XVII hay cuối thế kỷ XVI đã có lƣu dân Việt đến vùng Sa Đéc khẩn hoang, lập ấp. Sa Đéc là từ tiếng Khơme, có nghĩa là “chợ Sắt”. Bán dụng cụ nông nghiệp rèn bằng Sắt hay nhà lồng chợ bằng sắt ? Chƣa có cách lý giải nào đƣợc cho là thuyết phục nhất về địa danh này nhƣng có thể nói vùng Sa Đéc là phần đất mới nhất trên đƣờng mở nƣớc dứt điểm vào năm 1757 của Nguyễn Cƣ Trinh, một vị quan từng lập thành tích an dân ở Quảng Ngãi, ông vào Nam khi mới 37 tuổi. Việc khẩn hoang tiến hành ở Sa Đéc bấy giờ còn thô sơ, nhân công ít ỏi. Ngƣời dân đất mới an cƣ lạc nghiệp chƣa đƣợc bao lâu thì lại phải đối phó với cuộc nội chiến giữa Nguyễn Ánh và anh em nhà Tây Sơn. Gần 10 năm, quân sĩ hai bên truy nã nhau ờ vùng Sa Đéc mà di tích quan trọng nhất vào thời này ta còn tìm thấy là Bảo Tiền, Bảo Hậu ở Long Thắng và đập Đá Hàn ở Long Hậu (Lai Vung). Sau thời nội chiến, Sa Đéc đi vào ổn định. Gia Long lên ngôi, vùng Sa Đéc là một phần của huyện Vĩnh An. Với vị trí địa lý thuận lợi, khu vực bên sông Tiền là Tân Châu, Hồng Ngự xuống Sa Đéc đƣợc Gia Long quy hoạch là trung tâm kinh tế. Suốt một thời gian dài sau đó, Sa Đéc trở thành chợ sung túc nhất ở đồng bằng Sông Cửu Long chỉ thua Sài Gòn, Chợ Lớn, mãi cho đến khi Cần Thơ hình thành. Có thể nói, suốt thời Gia Long – Minh Mạng, Sa Đéc phát triển hết sức mạnh mẽ nhờ kinh tế thị trƣờng, giao lƣu hàng hoá với các khu vực trong vùng và cả Campuchia. Đến khi Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, năm 18 . Thời này, Nam Kỳ chia thành 20 tỉnh đến Chính quyền Sài Gòn lại cắt Nam Bộ thành 26 tỉnh. Tỉnh Sa Đéc cắt phần đất nằm ở tả ngạn sông Tiền để lập tỉnh Kiến Phong mới. * Vùng Cao Lãnh : Nằm ở phía Bắc sông Tiền cũng có một quá khứ không kém
  • 35. hào hùng. Sử sách còn ghi, vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, một số lƣu dân thôn Bả Canh ( nay thuộc xã Đập Đá, thị trấn Đập Đá, tỉnh Bình Định) vào khai hoang, định cƣ ven bờ con sạch Cái Sao Thƣợng hình thành nên xóm Bả Canh. Ngƣời có công lớn trong việc quy dân khai phá lập nên thôn ấp là Nguyễn Tú, ông đƣợc tôn làm Tiền Hiền của làng, nay bia Tiền Hiền còn tìm thấy ở gần khu vực cầu Đình Trung, phƣờng II, thành phố Cao Lãnh. Trong buổi đầu khai hoang, lập ấp, khu vực này thuộc quyền quản lý của Khố trƣờng Bả Canh. Khố trƣờng lúc bấy giờ chƣa phải là phân hạt hành chính mà là một nơi thu thuế bằng hiện vật do các chúa Nguyễn thiết lập ở những nơi thôn, ấp còn rời rạc chƣa liền ranh để có thể thành lập các cấp hành chính khác. Khố trƣờng đặt nơi nào thì lấy tên thôn xóm đó làm tên. Từ năm 1732, khố trƣờng Bả Canh thuộc châu Định Viễn (dinh Long Hồ) Cuộc đo đạc địa chính năm 1836 cho thấy trên địa bàn thành phố Cao Lãnh ngày nay có 8 thôn nhƣng 3 thôn Mỹ Trà, Mỹ Nghĩa, Tân An thuộc tổng Phong Thạnh, phân huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tƣờng còn 5 thôn thuộc tổng An Tịnh, huyện Vĩnh An, tỉnh An Giang là Phú An Đông, Tân Tịch, Tịnh Thới, Tân Thuận và Hoà An. Đến năm 1838 lập huyện Kiến Phong và Phủ Kiến Tƣờng, huyện lỵ Kiến Phong và Phủ lỵ Kiến Tƣờng đều đặt tại thôn Mỹ Trà. Hoà ƣớc 1862, công nhận sự chiếm đóng của thực dân Pháp trên 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tƣờng, chúng chia các tỉnh thành các tham biện. Khu tham biện Cần Lố quản lý cả huyện Kiến Phong, chúng dời Phủ Kiến Tƣờng từ Mỹ Trà về vàm Cần Lố và sáp nhập tham biện Cần Lố vào khu tham biện Tân Thành (Sađéc) Đến đầu thế kỷ, bằng Nghị định toàn quyền, thực dân Pháp quy định kể từ ngày 1/1/1900 các tham biện ở Nam Kỳ thống nhất gọi là tỉnh. Theo đó, địa bàn Cao Lãnh thuộc tỉnh Sađéc. Đến đầu năm 1914, quận Cao Lãnh đựơc thành lập. Đây là lần đầu tiên Cao Lãnh, một tên chợ đƣợc chọn làm tên cho một quận. Khu hành chánh nằm ở bờ sông Cao Lãnh, phía Hoà An, bên kia sông là khu thƣơng mại với nhà lồng chợ khá sầm uất, kề bên là bến tàu ngày đêm tấp nập. Đến thời chính quyền Sài Gòn, tỉnh Kiến Phong đƣợc thành lập vào ngày 22/10/1956, Cao Lãnh trở thành tỉnh lỵ. Nếu xét về quy mô, Cao Lãnh là một tỉnh lỵ nhỏ nhƣng do vị trí đặc biệt và điều kiện khách quan, mỗi giai đoạn lịch sử quan trọng của Nam bộ đều ghi dậm dấu ấn nơi đây. Đầu tiên là sự xuất hiện của Khố trƣờng Bả Canh đánh dấu thành công bƣớc đầu của công cuộc khai hoang ở thế kỷ XVII, XVIII. Bƣớc sang thế kỷ XIX, trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Mỹ Trà đã là chiến trƣờng ác liệt của nghĩa quân Thiên Hộ. Trong vài thập niên đầu của thế kỷ XX, Cao lãnh là một trong những địa phƣơng có phong trào Đông Du rầm rộ ở Nam Kỳ mà nổi bật là nhà cách mạng Nguyễn Quang Diêu, đƣợc coi là một lãnh đạo của phong trào Đông Du. Cao lãnh còn là nơi dừng chân của các nhà yêu nƣớc nhƣ Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Sinh Sắc… Phát huy truyền thống đó, nhiều thanh niên vùng Hoà An, Cao Lãnh sớm giác ngộ gia nhập tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội rồi trở thành những Đảng viên Đảng cộng sản đầu tiên. Chi bộ đầu tiên đã đƣợc thành lập tại làng Hoà An vào cuối năm 1929. Từ ấy, dƣới ánh sáng của Đảng soi đƣờng, ngƣời dân Cao Lãnh đã kiên cƣờng đấu tranh, góp phần cùng cả miền Nam giành thắng lợi hoàn toàn trong
  • 36. chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất đất nƣớc và cũng kể từ ngày 30/4/1975, vùng Cao Lãnh đƣợc sát nhập với Sađéc thành tỉnh Đồng Tháp ngày nay. Trong giai đoạn đầu, Sađéc đƣợc chọn là thị xã Tỉnh lỵ. Đến năm 1989, nhằm mục tiêu đẩy mạnh phát triển vùng Đồng Tháp Mƣời đầy tiềm năng, trung tâm tỉnh lỵ đƣợc dời về Cao Lãnh. Đƣợc sự đầu tƣ của Trung ƣơng, nỗ lực của chính quyền và ngƣời dân địa phƣơng cùng chung tay góp sức, Cao Lãnh không ngừng phát triển và đã đƣợc công nhận là thành phố vào năm 2006 vừa qua. Ngƣời dân Đồng Tháp hôm nay không khỏi tự hào với một thành phố trẻ, bên dòng sông Tiền đang từng ngày, từng giờ vƣơn mình đi lên cùng đất nƣớc. . Nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long trù phú, cách thành phố Hồ Chí Minh 165 km về phía Tây Nam, tỉnh Đồng Tháp có diện tích tự nhiên 3.374 km2, đƣợc chia thành 11 đơn vị hành chính gồm 9 huyện, 1 thị xã cổ vốn là trung tâm kinh tế, văn hoá có tiếng trong vùng và 1 thành phố trẻ đang vƣơn mình đi lên cùng cả nƣớc trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá… Với đƣờng biên giáp nƣớc bạn Campuchia dài hơn 48 km và 7 cửa khẩu, trong đó có 2 cửa khẩu Quốc tế Thƣờng Phƣớc và Dinh Bà. Đồng Tháp đang tập trung đầu tƣ khai thác, lợi thế kinh tế biên giới để góp phần phát triển thƣơng mại, dịch vụ đƣa nền kinh tế tỉnh nhà ngày một đi lên. Điều kiện tự nhiên, địa lý thuận lợi, Đồng Tháp có hai nhánh sông Cửu Long hiền hòa chảy qua, hàng năm bồi đắp phù sa cho vùng đất này bốn mùa cây xanh, trái ngọt và hệ thống giao thông thủy thông suốt. Hai bến cảng Cao Lãnh và Sađéc nằm bên bờ sông Tiền giúp vận chuyển hàng hóa thuận tiện với biển Đông và nƣớc bạn Campuchia. Đồng Tháp cũng là tỉnh có nhiều Quốc lộ đi qua địa bàn. Quốc Lộ 30, Quốc Lộ 80, Quốc Lộ 54 hiện hữu cùng với đƣờng Hồ Chí Minh qua trung tâm tỉnh lỵ vƣợt sông Tiền nối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tạo lợi thế về giao thông bộ nối với thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ và các tỉnh trong khu vực. Nghề trồng nấm rơm cũng khá phát triển ở nhiều vùng nông thôn Đồng Tháp với hơn 250ha, sản lƣợng khoảng 2.400 tấn/năm, cung cấp nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trong vùng. Sen vốn là loài cây đặc trƣng của vùng Đồng Tháp Mƣời, nay cũng đƣợc đầu tƣ trồng tập trung để lấy hạt xuất khẩu. Đến nay, Đồng Tháp đã có sản lƣợng hạt sen xuất khẩu trên 1.000 tấn/năm. Đồng Tháp còn nổi tiếng với nghề trồng hoa kiểng với trên 150 ha cung cấp hàng trăm loại hoa và kiểng quý cho khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh và cả nƣớc. Làng hoa kiểng Sađéc (Đồng Tháp) đang đƣợc đầu tƣ phát triển không chỉ để nâng cao chất lƣợng các loài hoa mà trong tƣơng lai không xa nơi đây còn là một địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn đối với khách tham quan trong và ngoài nƣớc. Trái cây Đồng Tháp cũng nức tiếng trong vùng với Xoài Cao Lãnh, Quýt hồng Lai Vung… những loại cây đang mang lại giá trị kinh tế cao cho nhà vƣờn. Trong tổng số 30.000 ha diện tích cây ăn trái cho sản lƣợng khoảng 150.000 tấn/năm trong toàn tỉnh hiện đã có không ít những vƣờn cây kiểu mẫu đƣợc sản xuất theo hƣớng chuyên canh, sản phẩm đạt chất lƣợng và độ đồng đều cao để tiến tới xây dựng
  • 37. thƣơng hiệu, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Với địa hình sông nƣớc, thủy sản đƣợc coi là thế mạnh thứ hai sau cây lúa. Nghề nuôi thủy sản phát triển rộng khắp trên địa bàn, trong đó chủ lực là cá tra, cá ba sa, tôm càng xanh.Năm 2007, diện tích mặt nƣớc nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 5.300 ha, nông dân tập trung nuôi tôm trên ruộng lúa, nuôi cá bãi bồi ven sông Tiền, sông Hậu. Đây là một tiềm năng lớn để phát triển thành vùng nuôi trồng thủy sản trọng điểm. Là vùng đất đƣợc mệnh danh là chim trời cá nƣớc, tỉnh còn có tiềm năng phát triển du lịch. Về Đồng Tháp, du khách sẽ vô cùng thú vị với những cảnh thiên nhiên tƣơi đẹp và có dịp thƣởng thức nhiều món ăn đặc sản. Du khách sẽ đƣợc đến với Khu du lịch Xẻo Quýt, vốn là khu căn cứ của tỉnh uỷ Kiến Phong năm xƣa, nơi đây còn nổi tiếng với rừng tràm nguyên sinh và các di tích tái hiện lại một giai đoạn lịch sử của quê hƣơng đất Tháp anh hùng. Du khách còn đƣợc đến khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, nơi đƣợc mệnh danh là lá phổi xanh giữa vùng Đồng Tháp Mƣời. Cách đó không xa là vƣờn Quốc Gia Tràm chim, nổi tiếng với đàn Sếu đầu đỏ. Hàng ngàn hecta rừng tràm và đồng cỏ hoang sơ của một Đồng Tháp Mƣời thu nhỏ, hàng trăm loài động vật quí hiếm của vùng đất ngập nƣớc đang đƣợc gìn giữ, bảo tồn . Khu di tích Gò Tháp nằm ở trung tâm của Đồng Tháp Mƣời lại là địa chỉ đầy thú vị cho những ai muốn tìm về một nền văn hóa cổ. Mỗi mãnh gốm, mỗi viên gạch, mỗi phiến đá…. đang đƣợc khai quật là một tín hiệu đầy bí ẩn về nền văn hóa Ốc Eo của dân tộc Phù Nam cách đây 1.500 năm. Nơi đây còn có nhiều ngôi chùa cổ với mỗi năm 2 lần lễ hội thu hút hàng ngàn khách thập phƣơng. Ở trung tâm thành phố Cao Lãnh còn có khu di tích cụ Nguyễn Sinh Sắc thân sinh chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng Tháp có nhiều ngôi chùa cổ, mà nổi tiếng nhất là chùa Kiến An Cung. Một công trình văn hóa Tôn Giáo tiêu biểu. . Xẻo Quýt - từ căn cứ cách mạng đến điểm du lịch sinh thái . Đồng Tháp có khá nhiều di tích lịch sử mà Xẻo Quýt là một trong những điểm du lịch về nguồn độc đáo, để lại nhiều ấn tƣợng đẹp đẽ trong lòng du khách. Khu căn cứ Xẻo Quýt rộng khoảng 50 ha, trong đó có 20 ha rừng tràm nguyên sinh, thuộc 2 xã Mỹ Hiệp và Mỹ Long, huyện Cao Lãnh, cách thị xã Cao Lãnh hơn 30 km. Để đến Xẻo Quýt bạn có thể đi bằng đƣờng bộ hoặc đƣờng thủy. Thông thƣờng, du khách đi qua ngã ba An Hữu thuộc huyện Cái Bè (Tiền Giang) đến cầu Long Hiệp, rồi từ đó đón đò đi Xẻo Quýt, hoặc có thể đi đƣờng bộ từ quốc lộ 1 rồi rẽ vào quốc lộ 30, đến thẳng Xẻo Quýt. Đến đây bạn sẽ cảm nhận ngay một môi trƣờng thiên nhiên tuyệt đẹp, gió mát trong lành nằm giữa vùng đất trũng với nhiều loại cây : tràm, gáo, sậy, trâm bầu, sen, súng… Khi xƣa, nơi này hoang vu cỏ dại, kênh rạch chằng chịt, lau sậy mịt mùng nên từ năm 1960-1975 đã đƣợc Tỉnh ủy Kiến Phong (nay là Đồng Tháp) chọn làm căn cứ chiến lƣợc để lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Thăm Xẻo Quýt vào mùa khô, bạn sẽ len lỏi theo những con đƣờng mòn ngoằn ngoèo dƣới tán tràm mát rƣợi, nếu mỏi chân có thể mắc võng, ngả lƣng ngắm nhìn
  • 38. cây lá. Mùa nƣớc lên, trên chiếc xuồng ba lá, những cô du kích áo bà ba đen, khăn rằn, nón tai bèo đƣa bạn luồn lách qua những con rạch nhỏ hoang sơ để vào những di tích nằm khuất trong rừng tràm mênh mông. Tiếng nƣớc róc rách, cá quẫy và chim hót trên những hàng cây cao vút, xanh rì, bao phủ bởi lớp dây leo mềm mại đem lại những giây phút thƣ thái, bình yên cho khách tham quan. Ngoài ra, môi trƣờng sinh thái ở đây hết sức đa dạng với hơn 170 loài thực vật và 200 loài động vật hoang dã, trong đó có 13 loài đƣợc ghi vào Sách đỏ Việt Nam nhƣ trăn mốc, rắn hổ trâu, rái cá, rùa hộp… Vì vậy mà ngƣời ta gọi Xẻo Quýt là Đồng Tháp Mƣời thu nhỏ cũng không sai. Không những vậy, bạn còn đƣợc sống lại khung cảnh của chiến khu xƣa khi chứng kiến những công sự, hầm tránh bom, hầm bí mật… đƣợc phục chế nguyên vẹn nhƣ trƣớc. Thời kì chống Mĩ, xung quanh đây có trên 10 đồn bót địch tạo thành một vòng tròn khép kín. Thế nhƣng nhờ sự chở che, đùm bọc cuả nhân dân nên dù bị càn quét dữ dội, biết bao lần bị B.52 ném bom rải thảm, căn cứ vẫn hiên ngang đứng vững cho đến ngày toàn thắng. Vì thế mà Xẻo Quýt đƣợc gọi là “Căn cứ của lòng dân”. Đến với Xẻo Quýt anh hùng và kì thú, bạn sẽ đƣợc tận mắt quan sát thế trận của quân và dân ta, đó là những công sự chiến đấu cá nhân hình chữ L, công sự chiến đấu hình chữ Z đƣợc đào đắp bằng đất và tràm dùng để chiến đấu chống càn từ bãi đỗ trực thăng của địch… Ngoài ra còn có những “bãi ngù – tử địa” có gài lựu đạn chống trực thăng và xe tăng bộ binh, nhà đón khách Tỉnh ủy, các nơi hội họp, làm việc và sinh hoạt của cán bộ, bộ đội trong suốt thời kì chiến đấu ác liệt. Điều đặc biệt của khu căn cứ này là không có bê tông, không có tƣờng vôi, gạch đá mà hầu hết các công trình đều đƣợc phục chế bằng gỗ, tre, tràm, đƣng, lá dừa nƣớc.. rất tài tình. Thật khó có thể hình dung đƣợc bằng cách nào xây dựng nên một căn cứ cách mạng vững chãi nhƣ thế giữa nơi đồng hoang ngập nƣớc nếu không nhờ vào tài trí thao lƣợc, lòng kiên trì dũng cảm, chịu đựng gian khổ của quân dân ta. Hiện nay, phần lớn các công ty du lịch đều có chƣơng trình đi Xẻo Quýt kết hợp thăm thị xã Cao Lãnh và viếng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc. Cảnh quan hấp dẫn, không khí trong lành của đồng ruộng đã khiến Xẻo Quýt trở thành điểm sáng du lịch lý tƣởng trênn quê hƣơng “Đất Tháp anh hùng”. . Ai đã một lần đến thăm Văn Thánh Miếu chắc không khỏi ngỡ ngàng, vì nơi vùng đất mới khai phá của châu thổ sông Cửu Long, lại có một công trình văn hóa thờ đức Khổng Tử, có cách nay gần 150 năm. Văn Thánh Miếu đầu tiên đƣợc xây dựng tại thôn Mỹ Trà, Tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tƣờng (nay thuộc phƣờng III thành phố Cao Lãnh) do Hồ Trọng Đính là quan Tri Phủ huyện Kiến Tƣờng đề xƣớng và đứng ra xây cất. Khởi công xây dựng từ ngày 04 tháng 06 âm lịch năm Đinh Tỵ (1857) đến ngày 28 tháng 10 cùng năm thì hoàn tất. Văn Thánh Miếu lúc bấy giờ giữa chính điện đặt bàn thờ to rộng, trên bàn thờ bài vị sơn son thếp vàng đề danh hiệu Đức Khổng Tử là Vạn Thế Sƣ Biểu. Tả hữu là bài vị của tứ thánh (Tăng Tử, Nhan Hồi, Tử Tƣ và Mạnh Tử). Còn bên tả vƣu, hữu vƣu thì thờ tiền hiền và hậu hiền, trên cột có treo nhiều câu liễn. Năm Mậu Dần 1878, Văn Thánh Miếu đƣợc dời đến vị trí hiện nay (Đƣờng Lý
  • 39. Thƣờng Kiệt, phƣờng I, thành phố Cao Lãnh) và đƣợc tái thiết với qui mô bề thế. Khoảng từ năm 1935 đến năm 1940, Văn Thánh Miếu đƣợc trùng tu, việc thờ phƣợng đƣợc sắp xếp lại trong chính điện tả vƣu làm thƣ viện, hữu vƣu làm nơi hội họp. Tại đây, một hội tao đàn đƣợc thành lập, tập hợp những ngƣời ham chuộng thơ văn để xƣớng họa, luận bàn đạo lý phƣơng Đông, tìm ra phƣơng hƣớng bảo tồn tinh hoa của Nho học đang bị chao đảo trƣớc sự du nhập của nền văn hóa phƣơng Tây. Năm 1951 do hoàn cảnh chiến tranh, Văn Thánh Miếu ngƣng hoạt động và hoang phế từ đó. Việc ra đời Văn Thánh Miếu Cao Lãnh là sự kiện văn hóa lớn của địa phƣơng nhằm khuyến khích mọi ngƣời tham gia học tập, nâng cao trí thức, đào tạo nhân tài cho xã hội đồng thời khôi phục, bảo tồn những tinh túy của Nho học, đã ảnh hƣởng sâu sắc vào nền văn hóa và tâm tƣởng con ngƣời Việt Nam qua nhiều thế hệ. Ngày nay, Văn Thánh Miếu là di tích lịch sử của tỉnh. Nơi đây đƣợc chọn làm thƣ viện tỉnh để lƣu trữ và phổ biến kho tàng tri thức của nhân loại. Trong xu thế hòa nhập, mở cửa để phát triển kinh tế, văn hóa xã hội nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc hiện nay, Văn Thánh Miếu sẽ phát huy tốt hiệu quả trong giáo dục truyền thống cho các thế hệ, góp phần đẩy mạnh khuyến học, đào tạo nhân tài phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng đất nƣớc ngày càng văn minh, tiến bộ và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. . Bên cạnh Trung tâm chợ Cao Lãnh, trên đƣờng Lê Lợi thuộc phƣờng 2, thành phố Cao Lãnh có một ngôi đền đƣợc kiến tạo cân đối hài hòa, cổ kính trang nghiêm, đẹp rực rỡ đó là đền thờ ông bà Đỗ Công Tƣờng hay còn gọi ông bà Chủ chợ Cao Lãnh. Ông bà Đỗ Công Tƣờng tục danh là Lãnh. Ngƣời sinh quán ở miền Trung đến lập nghiệp tại làng Mỹ Trà dƣới triều Gia Long vào năm Đinh Sửu (1817). Với đức tính cần cù, chịu khó, ông bà đã khai khẩn đất hoang, trồng đƣợc một vƣờn quít khá lớn, cây trái sum suê. Nơi đây thuận chổ đƣờng sông, đƣờng bộ nên dân làng thƣờng tụ họp để trao đổi, mua bán cây trái và hàng hóa ngày càng đông, lâu ngày thành chợ “vƣờn quít”. Gia đình ông bà khá giả dần lên. Với đức tính cƣơng trực, thẳng thắn nên đƣợc dân làng chọn giữ chức Câu đƣơng, phân xử những vụ tố tụng trong làng. Năm 1820 đất trời biến động, bệnh dịch tả phát lên dữ dội làm chết rất nhiều ngƣời trong làng, chợ vƣờn quít trở nên thƣa vắng, không khí trong làng bao trùm cảnh tang tóc, lo âu. Với tấm lòng nhân từ, bác ái, đọng lòng trắc ẩn, thƣơng cảm dân tình trong làng lâm vào đại nạn, ông bà đã lập bàn hƣơng án, cầu nguyện phật trời xin chết thay cho dân chúng. Qua ba ngày cầu khẩn, chay lạt thì bà chết, ngày sau ông cũng chết theo vì dịch bệnh. Nhân dân trong làng lo an táng xong thì dịch bệnh cũng chấm dứt. Ghi nhớ công ơn và tấm lòng nghĩa hiệp, bác ái, nhân từ của ông bà nhân dân lập đền thờ (năm 1820) ngay ngôi mộ ông bà để thờ phƣợng, lấy ngày mùng 9 và mùng 10 tháng 6 (âm lịch) hàng năm làm ngày giỗ. Sau đó, chợ vƣờn quít đƣợc ghép chức trong làng của ông Câu đƣơng với tục danh của ông là Lãnh thành chợ Câu Lãnh. Chợ Câu Lãnh ngày càng sung thịnh, ngƣời Việt, ngƣời Hoa, ngƣời Khơme đến buôn bán tấp nập, âm trại Câu Lãnh dần dần phát âm thành Cao Lãnh. Địa
  • 40. danh Cao Lãnh ra đời từ đó và lƣu truyền đến ngày nay. Tên tuổi ông bà Đỗ Công Tƣờng gắn liền với địa danh ấy. Hàng năm, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Cao Lãnh long trọng tổ chức ngày giỗ cho ông bà, đồng thời góp công, góp của để trùng tu, tôn tạo đền thờ. Nhiều doanh nhân, các tổ chức xã hội và cá nhân đã tặng nhiều cây kiểng quý nhƣ: mai vàng, mai chiếu thủy, thiên tuế… trang điểm cho đền thờ thêm đẹp và trang nghiêm. Du khách có dịp về thăm quê hƣơng Cao Lãnh, xin mời đến tham quan đền thờ ông bà Đỗ Công Tƣờng, một di tích lịch sử gắn liền với địa danh Cao Lãnh, đã ngự trị mãi mãi trong lòng nhân dân Đồng Tháp. ) . Đền thờ Thƣợng tƣớng Trần Ngọc tọa lạc tại phận ấp Nam, xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, Cách trung tâm thành phố Cao Lãnh khoảng 24km theo hƣớng Tây Nam. Tuy nằm trong vùng nông thôn, nhƣng cả hai phƣơng tiện thủy bộ đều thuận lợi cho du khách đến tham quan, lễ bái. Thƣợng tƣớng Trần Ngọc tục danh là Đốc Binh Vàng, dƣới triều vua Minh Mạng giữ chức Tổng Binh kiêm nhiệm chức Chánh Giải Quân Lƣơng. Năm 1837 lúc quân xâm lăng lật ngƣợc tình thế động quân quyết chiếm ba tỉnh miền Tây, ngài đƣợc giao nhiệm vụ chỉ huy đoàn quân thuyền giải lƣơng đến biên thùy An Giang. Trên đƣờng đi, đƣợc tin báo Thành An Giang thất thủ trƣớc khí thế rất mạnh của giặc. Quyết không để quân lƣơng lọt vào tay giặc, ngài ra lệnh thiêu hủy đoàn thuyền, giải giáp binh sĩ sau đó rút gƣơm tự vẫn. Sau khi mất, triều đình ban tặng ngài chức Thƣợng tƣớng Quận công. Dân chúng nhớ ơn và thƣơng tiếc vị anh hùng của dân tộc bèn đặt tên con rạch nơi đoàn thuyền của ngài cập bến thành rạch Đốc Binh Vàng và cùng nhau lập dinh thờ ngài tại địa điểm hiện nay. Trải qua bao thời cuộc chiến tranh cùng tuế nguyệt phong sƣơng, ngôi đền thờ bị hƣ hỏng nặng, đến năm 1965 đền thờ đƣợc kiến trúc xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố đẹp và rực rỡ, hài hòa với khung cảnh thiên nhiên nơi đây. Hàng năm vào các ngày 15-16/2 âm lịch, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân xã Tân Thạnh tổ chức lễ kỷ niệm và quí tế ngài rất long trọng, khách đến cúng kiến lễ bái rất đông có trên hàng chục ngàn ngƣời nhƣng không kém phân tôn kính và trang nghiêm. Đền thờ Thƣợng tƣớng Trần Ngọc là một trong những di tích lịch sử của tỉnh. Thật tự hào biết bao khi trên khắp nẻo đƣờng quê hƣơng, đất nƣớc nơi nào cũng có nhƣng anh hùng sáng ngời truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc. ) . Bửu Lâm Tự là một trong những ngôi chùa cổ đựơc xây dựng vào cuối thế kỷ XVII, toạ lạc tại ấp 3, xã Bình Hàng Trung, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp. Nằm bên bờ kinh Cái Bèo, Bửu Lâm Tự phong cảnh thật hữu tình. Hàng cây dầu cổ thụ vƣơn vút trời xanh, tiếng chim ríu rít trên nhánh gừa trái vừa chín rộ hoà quyện với tiếng gió rì rào đung đƣa trên cành dƣơng liễu. Tiếng chuông chùa ngân nga. Hƣơng trầm, hƣơng huệ từ hàng miễu Bà Chúa Xứ, miễu Ngũ Hành tạo cho ta cảm giác lâng lâng, những muộn phiền ƣu tƣ nhƣ đƣợc rũ bỏ bởi chốn thiền môn cổ kính. Giữa sân chùa là Phật đài lộ thiên đứng trên bệ toà sen cao 3m. Tƣợng màu trắng tuyết, ngự giữa trời mây, gƣơng mặt từ bi, nụ cƣời hoan hỉ, tay cầm nhành
  • 41. dƣơng liễu, mắt hƣớng về đông nhƣ quan sát trần thế để cứu rổi chúng sanh. Bao quanh tƣợng đài muôn hoa đua nở hƣơng thơm ngạt ngào, uy nghi và đĩnh đạt. Bên phải ngôi tam bảo là tháp cổ khai sáng Bửu Lâm tự đặt trong khuôn viên có lan can. Tháp hình bát giác, ba từng trang trí sen, rồng, cá hoá long, chóp tháp là nơi an vị ngọc xá lợi của tổ. Nhìn qua phía trái có bốn ngôi tháp, bốn bảo đồng có tạc chữ Hán ghi dấu ngày viên tịch của các hòa thƣợng kế nghiệp tổ trụ trì. Đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ, chốn thiền môn cổ kính này từng vận động tăng ni đầu quân, ủng hộ nhiều đồ đồng để cách mạng rèn vũ khí, nuôi dƣỡng, bảo vệ, che chở cách mạng (xung quanh chùa có nhiều hầm bí mật). Ngoài ra, chùa còn là nơi nhân dân tập trung đấu tranh khi có giặc đàn áp, ruồng bố. Hàng năm chùa cúng thƣờng lệ ba rằm lớn: tháng giêng, tháng bảy, tháng mƣời và một lần giỗ tổ vào rằm tháng hai. Khách thập phƣơng từ khắp nơi đến hành hƣơng lễ bái tấp nập, đông vui. Bửu Lâm tự thật xứng danh là di tích lịch sử văn hoá, cách mạng và danh thắng của quê hƣơng đất Tháp kiên cƣờng. ) . Phƣớc Hƣng Cổ tự là một trong những ngôi chùa cổ kính, khang trang, tọa lạc tại trung tâm thị xã SaĐéc. Chùa này do nhóm ngƣời Hoa thuộc hội Minh Hƣơng đến đất SaĐéc sanh cơ lập nghiệp dựng nên cách nay hơn một thế kỷ để thờ Phật. Thời gian sau đƣợc đồng bào Hoa-Việt trùng tu lại đầy đủ và tiện nghi hơn, nay còn gốc hai chữ chùa Hƣơng. Chùa Hƣơng đẹp rực rỡ, kiến trúc hài hòa giữa nội và ngoại thất. Chùa có 08 mái và 02 cấp, đƣợc lợp ngói âm dƣơng tạo gợn sóng, chót mái lơi ra nhƣng không quá nhọn và cong vút lên cao. Nóc và các bức phù điêu trên mái chùa đƣợc cẩn miểng gốm màu, tạo dáng hình long, lân, qui, phụng, ánh lên những sắc màu rực rỡ khi tiếp xúc nắng mặt trời. Qua cửa Đông Lang để vào chánh điện du khách sẽ gặp hai câu đối nghe nhƣ âm vang chí nguyện của ngƣời xƣa. Bên trong Đông Lang là phòng tiếp đón khách thập phƣơng, kế đến là tổ điện gồm 05 gian bố trí 3 đƣờng để chƣ tăng thọ trai mỗi ngày. Giữa tổ điện phía trong trai đƣờng là bàn thờ chƣ liệt vị tổ sƣ và các vị trụ trì. Những di ảnh, linh vị đều nằm trong chiếc khánh bằng gỗ sơn son, thếp vàng chạm trỗ hoa văn rất sắc sảo. Trƣớc tổ điện treo một bức hoành phi cạm trỗ rất công phu, giữa là 03 chữ Bát Nhã Đƣờng nổi bật trên nền mai, lan, trúc, bƣớm, quạt, cuốn thƣ, giấy bút… Phía trái của chánh điện là Tây Lang vừa để tiếp tăng khách và cũng là nơi lƣu giữ các sách kinh. Trƣớc Tây Lang là một hồ sen trắng tỏa hƣơng, sau là khu tháp mộ của các vị trụ trì. Cách thức thờ phƣợng của chùa theo lối cổ, tôn nghiêm gồm hai bộ Tam Thánh Tây Phƣơng cực lạc (Phật A-Di-Đà và Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí), đặc biệt có một pho tƣợng A-Di-Đà bằng đất sét thếp vàng có niên đại hơn trăm năm, không nung nhƣng vẫn chắc chắn tới nay. Trong số các pháp khí có giá trị phải nói đến chiếc mõ tụng kinh chạm hình song ngƣ tuyệt đẹp và một chiếc mõ khác nặng khoảng 15kg đƣợc Hòa Thƣợng Vĩnh Tràng phát nguyện ra đến Hà Nội thỉnh về… Sa Đéc hiền hòa, cây lành trái ngọt, nƣớc sông trong mát, hoa kiểng thanh lịch. Có dịp về đây mời du khách đến với cổ tự Phƣớc Hƣng nằm trên đƣờng Hùng Vƣơng, con đƣờng chính đẹp nhất giữa lòng thị xã.
  • 42. Chùa Bà . Tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, nơi nào cũng có ngôi chùa Bà. Đặc biệt, ngôi chùa Bà ở thị xã Sa Đéc có trên 100 năm nay vẫn còn nguyên vẹn mặc dù trải bao thời cuộc chiến tranh, cũng nhƣ phong sƣơng tuế nguyệt. Nhóm ngƣời Hoa của tỉnh Phúc Kiến, sau khi định cƣ tại Sa Đéc đã chung góp tiền của để xây dựng ngôi chùa thờ Bà. Chùa đƣợc kiến trúc theo kiểu chữ thiện, mái ngói lợp âm dƣơng tạo dợn sóng, không có kèo chỉ có đòn tay ráp mộng chịu lực trên những cột gỗ tròn, tƣờng cao nóc cổ, rực rỡ khang trang. Gian chánh điện của ngôi chùa Bà Thiên Hậu Ngƣơn Quân, sắc phong đời nhà Hán ở Trung Hoa, là Thiên Hậu Thánh Mẫu hộ quốc, tế dân. Vì Bà có công cứu độ những ngƣời đi ghe, thuyền ngoài biển bị sóng gió đánh chìm. Tƣởng niệm đến danh hiệu của Bà thì đƣợc Bà hộ trì tai qua nạn khỏi, vì thế ngƣời Trung Hoa tôn sùng Bà nhƣ vị cứu tinh của họ. Bên hữu của giang chánh điện thờ Bà Kim Huê (Bà mẹ sanh), bên tả thờ ông Địa và ông Hổ (Bạch Hổ Sơn Thần). Ngoài ra chùa còn thờ Phật Di Đà, Quan Âm Bồ Tát và Quan Thánh Đế Quân. Hàng năm, Ban trị sự hội tổ chức lễ cúng long trọng và tôn nghiêm vào các ngày 23/3 và mùng 9/9 âm lịch. Dân chúng đến chiêm bái ra vào tấp nập, nhất là giới Hoa Kiều túc trực dâng hƣơng cúng kiến rất thành tâm. Du khách đến Sa Đéc, nếu tâm hồn lâng lâng khoái cảm, muốn thƣởng thức những danh lam cổ sái, tƣởng không gì bằng dừng chân ghé lại ngôi chùa Bà cổ kính nhƣng không kém phần uy nghi lộng lẫy, tọa lạc ngay trong lòng thị xã Sa Đéc. . Bên dốc cầu Đình Trung thuộc làng Mỹ Trà (nay là Phƣờng 2, thành phố Cao Lãnh) về phía phải có tấm bia đá lộ thiên cao 1,65m, ngang 1,10m, dầy 0,53m dựa theo nội dung khắc bằng chữ Hán thì đây chính là bia của Tiền Hiền, làng Mỹ Trà. Nguyễn Tú quê ở Qui Nhơn (Bình Định) đến Cao Lãnh lập nghiệp rất sớm. Lúc bấy giờ đất Nam Kỳ còn chƣa phân định hành chánh rõ ràng, từ sông Đồng Nai đến sông Cửu Long tạm chia làm 09 khố trƣờng để trông coi việc thu thuế là: Hoàng lập, Tam Lịch, Qui Hóa, Qui An, Thiên Mụ, Cảnh Dƣơng, Tân Thạnh, Quản Thảo và Bả Canh. Nguyễn Tú có công trong việc khai hoang lập ấp tạo dựng nên hai thôn Mỹ Trà và An Bình trên địa bàn khố trƣờng Bả Canh. Lúc mất, ông bà Nguyễn Tú không có ngƣời thừa tự nhƣng đƣợc dân làng an táng tử tế bên bờ sông Cái Sao Thƣợng. Đến năm 1876, nhân khi làm đƣờng nối liền chợ Mỹ Trà và thôn An Bình, hai ngôi mộ này đƣợc phát hiện nằm ngay trên tuyến phóng. Nhà chức trách tìm thân nhân để lo việc di dời, mới biết đƣợc lai lịch và công đức của Nguyễn Tú đối với địa phƣơng nên cho sửa sang lại hai ngôi mộ và dựng bia để lƣu niệm cho ngƣời đời sau. Nội dung bia do cử nhân Nguyễn Giảng Tiên và giáo thọ Nguyễn Bỉnh Khuê soạn thảo. Nhờ có bia này chẳng những ngƣời ta có thể phỏng đoán đƣợc địa bàn của khố trƣờng Bả canh là ở khu vực Cao Lãnh. Hay rộng hơn là cả Đồng Tháp Mƣời, mà còn giúp ta xác định đƣợc vùng đất thành phố Cao Lãnh là một trong những nơi đƣợc khai thác sớm nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (thôn Mỹ Trà vào năm 1808 dƣới triều Gia Long đã là huyện lỵ của huyện Kiến Đăng thuộc trấn Định Tƣờng). Bia Tiền Hiền làng Mỹ Trà là một di tích có giá trị về lịch sử - văn hóa. Sắp tới ngành
  • 43. Văn hóa Thông tin sẽ trùng tu, tôn tạo để phát huy tác dụng giáo dục truyền thống cho thế hệ mai sau và là nơi cho khách du lịch, tham quan tìm hiểu văn hóa ở thành phố Cao Lãnh. Lăng cụ Phó bảng Nguyễn Sin 2 ) Gò Tháp - Khu di tích lịch sử văn hoá độc đáo . Khu di tích Gò Tháp nằm trên địa bàn hai xã Mỹ Hòa và Tân Kiều, huyện Tháp Mƣời, tỉnh Đồng Tháp, cách huyện lỵ Tháp Mƣời khoảng 11 km về hƣớng Bắc, cách thị xã Cao Lãnh về hƣớng đông bắc 43 km (theo đƣờng bộ và đƣờng thủy). Đây là khu di tích cấp quốc gia đƣợc Bộ VH-TT công nhận từ năm 1998, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa-lịch sử của dân tộc và nhân loại. Đến Gò Tháp, bạn sẽ bất ngờ bởi đây không chỉ là khu di tích mà còn có cảnh quan thiên nhiên đẹp với môi trƣờng sinh thái còn mang nhiều dấu vết hoang sơ. Chiều dài gần 500m, ngang 200m, ở đây mủa khô nhiều gò cát lớn nhỏ uốn lƣợn quanh co, tạo thành khu gò nổi, trên gò có nhiều cây cổ thụ trăm tuổi xoè bóng mát, sừng sững vƣơn cao. Mùa nƣớc nổi thì đồng nƣớc mênh mông xen lẫn màu xanh cây cỏ, tạo thành phong cảnh thiên nhiên kì vĩ. Nơi đây vốn là vùng đất mới đƣợc cƣ dân nguời Việt từ đàng ngoài vào khai hoang lập nghiệp, mở mang bờ cõi đất nƣớc từ cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII, khi vùng đất này còn hoang vu với rừng rậm sình lầy, thiên nhiên khắc nghiệt “muỗi kêu nhƣ sáo thổi, đỉa lội nhƣ bánh canh”. Tính từ con lộ Mỹ Hoà đi vào, quần thể di tích Gò Tháp gồm có 5 di tích tiêu biểu : Gò Tháp Mƣời, tháp Cổ Tự, mộ và đền thờ cụ Đốc Binh Kiều, gò Minh Sƣ, miếu Bà Chúa Xứ. Tại đây, giới khảo cổ học phát hiện đƣợc nhiều di vật cổ rất giá trị, chứng tích của nền văn minh Óc Eo xƣa. Phải chăng khoảng 1500 năm về trƣớc, một thành phố cổ của vƣơng quốc Phù Nam đã từng tồn tại nơi đây? Ở cực Nam của quần thể di tích Gò Tháp là Gò Tháp Mƣời, cũng chính là gò cao nhất (5,046m). Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, di tích Gò Tháp Mƣời từng là căn cứ của các cơ quan ở Nam Bộ, Khu 8, trƣờng Quân chính khu 8… Cách Gò Tháp Mƣời 100 m về phía Bắc là tháp Cổ Tự, tƣơng truyền rằng đã có từ đời Thiệu Trị (1841-1847), trƣớc đó là ngôi tháp thờ Chân Lạp. Trải qua nhiều thế kỉ thăng trầm, ngôi chùa giờ đây đƣợm màu hoang phế, những dấu vết chiến tranh cỏn in đậm trên vách tƣờng và các bức tƣợng thờ thần, Phật… Qua khỏi chùa, bạn sẽ gặp đền thờ cụ Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều và Thiên hộ Võ Duy Dƣơng. Hai cụ đã chọn Gò Tháp làm căn cứ địa cách mạng của nghĩa quân yêu nƣớc trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp với những trận đánh làm quân địch kinh hồn bạt vía. Đi tiếp về hƣớng Bắc, bạn sẽ đến đƣợc gò Minh Sƣ và miếu Bà Chúa Xứ-nơi khách thập phƣơng luôn kéo về rất đông. Hằng năm, hai kì lễ hội truyền thống dân gian : vía Bà Chúa Xứ (rằm tháng 3 âm lịch) và tƣởng niệm hai vị anh hùng dân tộc Thiên hộ Dƣơng, Đốc binh Kiều (rằm tháng 11 âm lịch) đã thu hút hàng trăm ngàn lƣợt khách hàng hƣơng về Gò Tháp để chiêm ngƣỡng những kiến trúc cổ của nền văn hoá Óc Eo, thƣởng ngoạn sinh họat “học trò lễ”, “nhạc lễ”, “múa lân” và các hoạt động văn hoá nghệ thuật khác. Với những giá trị truyền thống ấy, tỉnh Đồng Tháp đã có kế hoạch xây dựng Gò Tháp thành một khu du lịch sinh thái mang đậm bản sắc của vùng Đồng Tháp Mƣời.
  • 44. Ngoài việc đầu tƣ xây dựng hệ thống đƣờng sá từ thị xã Cao Lãnh vào đến khu di tích, chỉnh trang cơ sở hạ tầng, tỉnh sẽ xây dựng một đài sen cao 79m với đầy đủ các dịch vụ nhƣ nhà hàng, khu vui chơi giải trí… Ngoài ra, các di tích liên quan đến hoạt động của Xứ Uỷ Nam Kì và Ủy ban Nam Bộ kháng chiến đều sẽ đƣợc phục hồi. Tƣơng lai không xa, đến đây bạn sẽ đƣợc lên tháp mƣời tầng, ngắm nhìn toàn cảnh Đồng Tháp Mƣời bao la, thƣởng thức các món ăn đặc sản, tham gia các lễ hội truyền thống và nghỉ ngơi trên các nhà sàn đơn sơ nhƣng hiện đại tại khu di tích Gò Tháp, nơi mà vẻ đẹp thiên nhiên hoà quyện cùng với bề dày lịch sử văn hoá truyền thống dân tộc. Nghề làm nem ở Lai Vung “Lai Vung là xứ lạ lùng Nem chua mà ngọt, thơm nồng mà say”. Nếu Sa Đéc có làng hoa Sa Đéc thì huyện Lai Vung cũng nổi tiếng khắp vùng đồng bằng Nam Bộ với nghề làm nem truyền thống. Nằm ở phía Bắc sông Hậu, làng nghề làm nem ở Lai Vung đƣợc hình thành hơn 60 năm nay và là một trong những làng nghể lâu đời nhất ở địa phƣơng, nằm trong số gần 30 làng nghề đƣợc tỉnh Đồng Tháp công nhận. Đặc sản nem Lai Vung từ lâu đã nổi tiếng với hƣơng vị ngon đặc biệt. Thong thả mở từng lớp lá chuối, chắc chắn bạn không thể cầm lòng trƣớc miếng nem tƣơi đỏ hồng điểm xuyết những hạt tiêu đen, vài lát tỏi trắng mỏng. Nem chua khi ăn có vị ngọt của thịt và vị chua của nem, còn nem nƣớng cũng là loại nem chua nhƣng dùng khi nem chƣa lên men, nƣóng trên vỉ than đỏ hồng, ăn kèm với bún, rau thơm, nƣớc chấm… Nghề làm nem cũng lắm công phu, làm ra một chiếc nem phải trải qua rất nhiều công đoạn. Thịt làm nem là thịt heo đƣa vào cối đá quết nhuyễn, da heo đƣợc lạng nhỏ thành từng miếng. Trộn lẫn các thứ thịt, bì, tiêu, ớt, lót kèm lá vông xong nguời ta gói lại bằng lá chuối tƣơi để từ 3 đến 4 ngày cho lên men ở nhiệt độ khoảng 27- 300C. Nem làm ngon và đúng cách phải đủ 8 phần thịt, 2 phần bì, thịt lợn phải tƣơi, gia vị phải cân đối, gói thật đều tay. Vì vậy mà ở Lai Vung có câu vè : “Từng gói, từng gói nếu ai không giỏi thì gói không đều, từng lá nhỏ tươi bao tròn viên thịt, để lá ít thì nem lâu chua, để thịt vừa vừa thì nem lâu chín…” Tƣơng truyền rằng, những ông tổ của nghề làm nem lúc đầu làm ra món ăn này chủ yếu để cúng kiến, giỗ tiệc, lễ tết. Sau này thấy ăn ngon miệng, dễ làm nên nhiều nguời Lai Vung quyết định học cách làm nem để bán. Ban đầu chỉ là bán nhỏ, lẻ, rồi sau đó truyền miệng cho nhau nên việc buôn bán nem cũng phát triển theo những chuyến xe đò, chuyến phà miền Tây và tới thập niên 1980-1990 đã trở thành mặt hàng bình dân đƣợc ƣa chuộng. Đến năm 2000, Lai Vung đã có hàng chục lò nem tên tuổi nhƣ Út Thẳng, Tƣ Minh, Năm Thơ… Huyện Lai Vung cũng đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá cho làng nghề mình với tên gọi “nem Lai Vung”, mỗi ngày sản xuất ra hơn 300 ngàn chiếc nem lớn nhỏ, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động… Một khi đã tới địa phận Đồng Tháp hẳn bạn không thể quên mua vài chục nem Lai Vung về làm quà cho bạn bè và nguời thân. Giá 1 chục nem nhỏ khoảng 4.000đ, nem lớn 1 chục 8.000đ, các loại nem đặc biệt từ 10.000-15.000đ. Mùi vị đậm đà của
  • 45. chiếc nem Lai Vung chắc chắn sẽ làm khách thập phƣơng lƣu luyến mãi khi nhớ về một Đồng Tháp hiền hòa. Nghề chế biến bánh phồng tôm . Nói về đặc sản miền Tây, sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến bánh phồng tôm Sa Giang. Hằng năm, con sông Tiền thơ mộng đã cung cấp cho Sa Đéc một lƣợng tôm cá dồi dào, nguyên liệu chính của bánh phồng tôm Sa Giang nổi tiếng khắp trong và ngoài nƣớc. Từ con tôm nƣớc ngọt nhƣ tôm tích, tép mòng, tép ròng… qua bàn tay chế biến khéo léo của con ngƣời đã trở thành bánh phồng tôm Sa Giang, sản phẩm truyền thống đặc trƣng của địa phƣơng Đồng Tháp. Bánh đƣợc làm từ bột, thịt tôm xay nhuyễn và một ít hạt tiêu giã nhỏ. Các thành phần nguyên liệu sau khi trộn với nhau sẽ đƣợc nhồi vào những chiếc túi vải dạng hình ống dài. Sau khi hấp chín, ngƣời ta cắt ra từng lát tròn mỏng rồi đem phơi khô. Đem chiên giòn với dầu ăn nóng, bánh sẽ nở to ra, có độ giòn, xốp, béo ngậy. Những chiếc bánh tròn vành vạnh ngả màu vàng đục tựa nhƣ ánh trăng rằm, có hƣơng vị nồng thơm, cay cay, đậm đà văn hoá ẩm thực của dân tộc sẽ khiến bạn ăn rồi lại muốn ăn thêm chiếc nữa…Có lẽ vì vậy mà trên những bàn tiệc, liên hoan, lễ tết… đĩa bánh phồng tôm thƣờng đƣợc đặt ở trung tâm mâm cỗ. Nổi tiếng là món ăn đặc sản nên từ bánh phồng tôm Sa Giang, các sản phẩm bánh phồng tôm ở Sa Đéc ngày nay đều đƣợc các nhà sản xuất lấy chữ “Giang” đặt cho sản phẩm nhƣ bánh phồng tôm Linh Giang, Trƣơng Giang, Trung Giang, Vĩnh Giang…; có khả năng cung cấp cho thị trƣờng hơn 2.000 tấn bánh phồng tôm/ năm. Hiện nay, công ty cổ phần xuất nhập khẩu Sa Giang, tiền thân là xƣởng sản xuất bánh phồng tôm Sa Giang đã đầu tƣ sản xuất thêm nhiều sản phẩm mới, đa dạng nhƣ : bánh phồng cá, bánh phồng mực, bánh phồng cua v.v… đƣợc ngƣời tiêu dùng ƣa chuộng về chất lƣợng, bảo đảm tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Thƣơng hiệu “Sa Giang” đang khẳng định tên tuổi và ngày càng lớn mạnh với 80% thị phần trong nƣớc và tiếp tục có mặt tại các thị trƣờng châu Á, Tây Âu, Mỹ… Nghề làm bột ở Sa Đéc . Thị xã Sa Đéc là một trong những đầu mối trung chuyển lƣơng thực lớn nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long và là địa phƣơng nổi tiếng với làng nghề làm bột gạo. Hình thành và phát triển từ nửa thế kỉ nay, có lẽ do điều kiện tự nhiên thuận lợi : nguồn nƣớc ngọt quanh năm, thổ nhƣỡng, thời tiết phù hợp nên sản phẩm bột gạo ở đây có những giá trị riêng, khó có nơi nào sánh kịp. Với trên 2000 lao động và sản lƣợng trên 30.000 tấn bột gạo/năm, làng bột Sa Đéc là nơi cung ứng chủ yếu cho nhu cầu tiêu thụ của TP.HCM và khắp vùng Đông, Tây Nam Bộ, xuất khẩu ra cả các nƣớc Đông Nam Á. Sản phẩm bột gạo ở đây đƣợc chia thành 2 loại : bột tƣơi, ƣớt, đƣợc cung cấp trực tiếp cho các nhà máy, cơ sở chế biến thực phẩm; bột khô dùng để dự trữ, chế biến dần. Từ bột gạo, ngƣời ta chế biến ra hàng chục mặt hàng thực phẩm rất hấp dẫn, không thể thiếu trong đời sống hằng ngày nhƣ phở, hủ tiếu, bún, các loại bánh, các sản phẩm ăn liền… Bột lọc Sa Đéc còn nổi tiếng với bí quyết sản xuất gia truyền, độc đáo. Các thực phẩm đƣợc chế biến tử bột lọc Sa Đéc có chất lƣợng tuyệt vời, dai mà mềm, thơm ngon đặc trƣng, khiến bạn ăn một lần nhớ mãi. Chính vì thế mà hủ tiếu Sa Đéc –
  • 46. một trong những món ăn đƣợc làm từ bột gạo Sa Đéc- từ lâu đã là đặc sản nổi tiếng, đến nay vẫn luôn đƣợc mọi nguời ƣa chuộng với sợi hủ tiếu có độ dai vừa phải, kết hợp với nƣớc lèo thơm lừng, ngọt đậm đà. Hiện nay, nhà máy bột Bích Chi ở số 45 quốc lộ 80 thị xã Sa Đéc là nhà máy sản xuất bột lớn nhất tại Đồng Tháp, với sản phẩm mang nhãn hiệu “bột Bích Chi” đã có uy tín trên thị trƣờng trong và ngoài nƣớc từ những năm trƣớc 1975. Công suất hiện tại của nhà máy là 1200 tấn bột và 3000 tấn ngũ cốc/ năm. Đóng ở địa thế thuận lợi, nằm trong vùng nguyên liệu dồi dào cùng với đội ngũ công nhân lành nghề, nhà máy bột Bích Chi đang xúc tiến việc liên doanh với các đối tác đầu tƣ trong và ngoài nƣớc nhằm đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao công suất, đƣa thƣơng hiệu “bột Bích Chi” đứng vững và tiếp tục khẳng định tên tuổi trên thị trƣờng trong nƣớc và thế giới. Chợ chiếu đêm Định Yên . Làng chiếu Định Yên nằm cạnh sông Hậu, thuộc xã Định Yên, huyện Lấp Vò, là địa chỉ không thể thiếu trong các điểm tham quan hấp dẫn của tỉnh Đồng Tháp với nghề dệt chiếu nổi tiếng cách đây gần một trăm năm. Từ thị xã Sa Đéc theo quốc lộ 80 đi chừng 30 km là đến thị trấn Lấp Vò, sau đó đi thêm 3 km nữa sẽ đến làng chiếu Định Yên. Ngƣời dân ở đây sau khi làm ra thành phẩm sẽ mang ra bán tại chợ đầu mối Định Yên. Nét văn hóa độc đáo của chợ chiếu này là chợ đƣợc họp vào ban đêm trong thời gian khoảng 2 tiếng đồng hồ và đƣợc ngƣời dân ở đây gọi là “chợ ma”. Do bà con suốt ngày bận rộn với công việc đồng áng hoặc miệt mài bên khung dệt nên chỉ có đến Định Yên vào ban đêm bạn mới thấy đƣợc cảnh họp chợ nhộn nhịp, mỗi nguời chong một đèn quây quần trƣớc sân chùa An Phƣớc. Giờ họp chợ không cố định, đêm sau thƣờng sớm hơn đêm trƣớc 1 giờ và cứ thế xoay vòng. Hằng năm chợ chiếu Định Yên tiêu thụ hàng triệu sản phẩm các loại khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Chiếu thƣờng bán chạy nhất vào khoảng tháng chạp, tháng giêng và tháng hai. Chợ chiếu không cần có quầy, sạp kinh doanh mà vẫn tấp nập nguời mua kẻ bán. Một điểm đặc biệt khác với những phiên chợ khác là ở đây nguời bán thì đi, đứng, trong khi ngƣời mua lại ngồi (thay vì nguời bán ngồi, nguời mua đi). Ngƣời mua chiếu tìm một chỗ ngồi chờ còn nguời bán ôm hoặc vác chiếu trên vai đến chào hàng, ngã giá. Nơi đây nhộn nhịp những cô gái trẻ ngƣợc xuôi mời chào sản phẩm chiếu đủ loại, đa dạng về màu sắc, hoa văn, từ chiếu trắng thƣờng cho đến chiếu vảy ốc, chiếu Trà Niên, chiếu con cờ, chiếu cƣới trang trí lộng lẫy… Chiếu đƣợc bán sỉ và lẻ với giá cao thấp khác nhau tuỳ theo mẫu mã và độ dày-mỏng, thƣa-khít… Nếu nhƣ trên bờ có rừng chiếu đầy màu sắc rực rỡ, chen nhau dƣới ánh đèn thì dƣới bến, ghe, xuồng của cả trăm nguời buôn chiếu từ các tỉnh đến chọn hàng cũng kề nhau san sát. Thông thƣờng, mỗi nguời buôn chiếu đậu ghe tại bến sông vài đêm, mua chứng 500-1000 chiếc là nhổ neo, đi bỏ mối hoặc bán lẻ khắp vùng sông nƣớc Cửu Long; còn ngƣời bán đƣợc hàng cũng trở về tiếp tục công việc hàng ngày. Ngoài ra chợ chiếu dầu mối, Định Yên còn là nơi tập trung của tàu thuyền khắp mọi nơi nhƣ Sa Đéc, Vĩnh Long… về bán trân, bố, lác, phẩm màu… là những nguyên
  • 47. liệu phục vụ cho sản xuất chiếu, khiến chợ đêm càng thêm nhộn nhịp trong ánh đèn rực rỡ, để lại ấn tƣợng khó phai trong lòng du khách trên bƣớc lữ hành. . “ Ai về Tịnh Thới quê ta Xoài thơm, quít ngọt đậm đà tình quê” Câu ca dao vang lên nhƣ một lời chào đón ân cần từ tấm lòng ngƣời dân quê hiền hoà, cởi mở và không chỉ có thế, nhiều địa danh ở Đồng Tháp còn gắn liền với nhiều thứ cây trái đặc sản nổi tiếng nhƣ: xoài Cao Lãnh, nhãn Châu Thành, quít Lai Vung, bƣởi Phong Hoà… Thiên nhiên ƣu đãi, nhất là sông Tiền và sông Hậu - nhƣ dòng sữa mẹ quanh năm chở nặng phù sa bồi đắp cho miệt vƣờn ngày thêm xanh tƣơi, trù phú. Đặc ân quý giá đó đã tạo cho cây trái vùng này có hƣơng vị thơm ngon riêng biệt ít đâu sánh bằng. Vì vậy, con ngƣời và thiên nhiên ở đây có sức hấp dẫn mãnh liệt với du khách mọi miền đất nƣớc. Trƣớc khi nếm thử vị ngon ngọt của từng loại cây trái bạn đã cảm thấy khoan khoái dễ chịu với không khí trong lành, mát rƣợi, nụ cƣời tƣơi tắn của các cô thôn nữ da trắng mịn màng và duyên dáng. Cách mua bán hào phóng của nhà vƣờn sẽ làm bạn ngạc nhiên. Chủ nhà không ngần ngại đãi tặng bạn một bữa thoả thích bởi tấm lòng rộng mở, hiếu khách vốn có của ngƣời dân vùng sông nƣớc miền Tây Nam bộ. Và bạn có thể ăn thử trƣớc, nếu vừa ý mới tính đến giá cả, rồi “thuận mua vừa bán” nên có câu ca dao rằng: “ Ai ơi qua xứ Hoà An Dừa xanh, mận đỏ chứa chan nghĩa tình” Xã Hoà An nằm dọc bờ sông Cao Lãnh, đƣờng đi rợp mát bóng dừa. Dừa Hoà An trái nhỏ, da xanh mƣớt, nƣớc nhiều, ngọt thanh sẽ làm mát dạ khách đƣờng xa. Mận Hoà An nổi tiếng xƣa nay. Đặc biệt là loại mận da đỏ hồng, đặc ruột, hột nhỏ, vị ngọt nhƣ đƣờng phèn, lại có hậu chua chua, mận này chấm với nƣớc mắm Phú Quốc ăn hoài không biết chán. Không chỉ thế, miệt Cao Lãnh này còn nổi tiếng với nhiều thứ cây trái đặc sản quí của vùng nhiệt đới nhƣ: chuối, cam…đặc biệt là xoài Cao Lãnh. “Muốn ăn xoài cát thơm ngon Thì về Tân Thuận, Hoà An quê mình” Mùa xoài ở đây bắt đầu từ lúc ra giêng kéo dài cho đến cuối tháng 4 âm lịch là khoảng thời gian xoài chín rộ. Đến mùa thu hoạch trên bến dƣới thuyền tấp nập kẻ mua ngƣời bán. Thƣơng lái đến tận vƣờn hái, phân loại rồi đem đi bán khắp nơi. Xoài Cao Lãnh rất đa dạng, phong phú về chủng loại: nào là xoài thơm, xoài hòn, xoài khoai, xoài voi, xoài tƣợng, thanh ca, rẻ quạt, xoài đá, xoài gòn, cát chu, Hoà Lộc… Mỗi loại có hƣơng vị thơm ngon riêng biệt, nhƣng ngon nhất vẫn là xoài cát Hoà Lộc. Xoài này trái to, vỏ mỏng, thịt nhiều, mùi thơm lựng ngọt thanh. Những buổi trƣa thƣ giãn, mắc võng đung đƣa dƣới bóng râm của tán xoài, thƣởng thức vị thơm ngon của xoài cát Hoà Lộc thì không gì có thể sánh bằng. Nếu đến Cao Lãnh chƣa đúng mùa xoài chín, thì xoài sống cũng đủ “tạm ứng” cho những bạn thích tìm hiểu vị ngon của trái cây đồng bằng. Xoài sống đập bể, để cả vỏ chấm với muối ớt thật cay hoặc xắt lát chấm với nƣớc mắm đƣờng thiệt là hết ý. Còn nếu bạn dùng một bữa cơm với cá kho lạt hay lai rai với món chuột nƣớng mà thiếu đĩa xoài sống
  • 48. bầm thì thật là tiếc … Bằng phƣơng tiện tắc ráng băng qua sông Tiền để đến cù lao An Hoà-cái nôi của nhãn Đồng Tháp. Những ngôi nhà mái ngói đỏ au, ẩn hiện trong một màu xanh bao la của vƣờn nhãn: Nhãn long tuy hạt to nhƣng mọng nƣớc, thơm ngào ngạt; nhãn da bò ngọt gắt; nhãn tiêu hột nhỏ vừa ngọt vừa thanh. Gió sông Tiền lồng lộng, đƣa hƣơng nhãn thoang thoảng bay xa, khiến cho bạn có cảm giác lâng lâng khó tả và quên đi những ƣu tƣ, phiền muộn khi đặt chân đến vƣờn nhãn nơi đây. Sẽ là một thiếu sót lớn, nếu nói cây trái đặc sản ở Đồng Tháp mà không nhắc tới trái quít hồng Lai Vung. Theo chân các cô gái miệt vƣờn đến thăm vƣờn quít hồng, bạn nhƣ lạc vào “vƣờn cấm” bởi những chùm quít trĩu quả, đu đƣa ngang tầm tay với. Nhất là vào dịp lễ Noel hay vào dịp tết Nguyên đán, vƣờn quít ở đây mới thật hấp dẫn. Những trái quít màu vàng anh, căng bóng đung đƣa trong bóng nắng, sẽ làm mê lòng bao khách phƣơng xa. Thƣởng thức vị ngọt đậm đà, ngất ngây của nó, bạn càng thêm khâm phục tài chăm sóc của các nhà vƣờn ở đây. Một chục quít hồng giá trị kinh tế chẳng là bao, nếu đƣợc tặng bạn đừng có ngại, bởi đây là đặc sản của quê hƣơng. Miệt vƣờn Đồng Tháp có rất nhiều loại cây trái đặc sản thơm ngọt, nhƣng có lẽ chính tấm lòng thơm thảo, hiếu khách của ngƣời dân Đồng Tháp mới là vị ngọt khó quên đối với du khách gần xa. Vƣờn trái cây Đồng Tháp . Hai con sông Tiền và sông Hậu với dòng nƣớc ngọt ngào hằng năm đã bồi đắp phù sa cho Đồng Tháp, khiến nơi đây đất đai màu mỡ, xóm làng trù phú, vƣờn cây trái xanh tƣơi trĩu quả. Trái cây Đồng Tháp từ xa xƣa đã vang danh khắp mọi miền đất nƣớc, gắn liền với những địa danh rất đỗi quen thuộc : xoài Cao Lãnh, nhãn Châu Thành, bƣởi Phong Hoà, quýt Lai Vung… Xoài Cao Lãnh là đặc sản quý của Đồng Tháp. Ngƣời dân Đồng Tháp đã tặng cho huyện Cao Lãnh cái tên “vƣơng quốc của xoài” vì nơi đây có hơn 4000 ha vƣờn cây ăn trái, trong đó hơn một nửa là diện tích trồng xoài và trồng nhiều nhất là xoài cát Hoà Lộc và xoài cát Chu. Xoài cát Hoà Lộc và xoài cát Chu nơi đây vừa thơm ngon vừa ngọt lịm không nơi nào sánh bằng. Ở đây còn có rất nhiều loại xoài khác, nào là xoài Thơm, xoài Tƣợng, xoài Gòn, xoài Cóc, xoài Thanh Ca… Độ tháng 4 vào mùa xoài chín rộ, đi trong vƣờn xoài bạn sẽ ngỡ nhƣ đang dự một đêm lễ hội, bởi những chùm xoài vàng ƣơm bụ bẫm treo trên cành tựa nhƣ pháo hoa ngập trời rực rỡ. Mỗi loại xoài có màu sắc và hƣơng vị riêng mà ai đã nếm thử thì không thể nào quên đƣợc hƣơng thơm, vị ngọt đậm đà chỉ riêng trái xoài ở miền châu thổ sông Cửu Long mới có. Chính vì vậy mà dân gian có câu ca : “Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh – Vú sữa nào ngọt bằng vú sữa Cần Thơ”. Rời Cao Lãnh đến Châu Thành, ghé vƣờn trái cây, bạn sẽ thấy bao nhiêu loại trái cây ngon Nam Bộ dƣờng nhƣ hội tụ về đây, này là chôm chôm, vú sữa, chuối cau… Thế nhƣng có một loại trái cây làm nên danh tiếng của Châu Thành đó là nhãn. Vƣờn nhãn Châu Thành bạt ngàn, vàng rực vào mùa trái chín, hái trái cây trên cành thƣởng thức ngay quả thật tuyệt vời. Bạn sẽ không thể quên nhãn tiêu Châu Thành trái to hạt lép, hƣơng thơm, cơm dày trắng ngần ngọt lịm – thứ đặc sản có thể sánh ngang với nhãn lồng Hƣng Yên… Ngoài ra, đến với Đồng Tháp, bạn sẽ đƣợc nghe nhắc nhiều đến đặc sản quýt hồng
  • 49. Lai Vung hiếm địa phƣơng nào ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long trồng đƣợc. Nơi này có thổ nhƣỡng đặc thù riêng với loại đất có màu mỡ gà và nguồn nƣớc ngọt quanh năm nên quýt hồng ở đây không chỉ cho nhiều quả mà đặc biệt là quả to, vàng óng, nhiều nƣớc, vị ngọt thanh tao. Toàn huyện Lai Vung có hơn 1000 ha trồng quýt hồng. Mỗi độ xuân về, Lai Vung nhƣ bừng sáng với vƣờn quýt hồng trĩu quả, chín mọng rực rỡ, nhộn nhịp khách phƣơng xa ghé về tận hƣởng cảm giác đi trong vuờn quýt hồng thơ mộng, nhìn trái vàng óng ả và đƣợc tận tay hái trái ngọt đầu mùa. Hãy tham gia một chuyến du hành trên sông, vừa thƣởng thức các loại trái cây vừa ngắm nhìn sông nƣớc hữu tình, những cù lao xanh mƣợt trải dài, thấp thoáng vƣờn cây ăn trái… bạn sẽ cảm thấy vừa thích thú vừa thêm lƣu luyến mảnh đất Đồng Tháp trù phú, yên bình. Làng hoa kiểng Sa Đéc . Nói đến hoa và cây kiểng, ngƣời ta không thể không nghĩ đến địa danh Sa Đéc Hơn một trăm năm qua, Sa Đéc nổi tiếng khắp cả nƣớc với nghề trồng hoa kiểng, cây cảnh truyền thống. Sản phẩm hoa, cây cảnh của Sa Đéc hiện đang cung cấp cho các tỉnh ĐBSCL, TP.HCM, các tỉnh miền Trung, thị trƣờng Campuchia và đang hƣớng đến những thị trƣờng xuất khẩu khác. Có dịp về thăm Đồng Tháp, bạn nhớ đến thăm làng hoa kiểng Sa Đéc- một trong những trung tâm hoa kiểng của miền Nam, nằm trên địa phận xã Tân Quy Đông, thị xã Sa Đéc, trƣớc đây rộng khoảng 60 ha, với 600-3.600 lao động chuyên trồng hoa và cây cảnh. Trong mấy năm gần đây, diện tích trồng hoa kiểng ở Sa Đéc ngày tăng nhanh, hiện nay đã lên đến 177 ha, sản lƣợng trên 10 triệu chậu các loại, bình quân mỗi năm tăng 10 ha. Vào làng quê hiền hoà Tân Quy Đông, vào bất cứ tháng nào trong năm bạn cũng có cảm giác nhƣ lạc vào thế giới của màu sắc và hƣơng thơm kỳ ảo. Thƣợc dƣợc; tú cầu; lan; cau bình rƣợu; mai chiếu thủy; tùng Nhật; vạn thọ Pháp; hoa dâm bụt vàng, đỏ, tím; ớt kiểng; mãn đình hồng; cúc kim… có mặt khắp nơi, đua nhau khoe hƣơng, khoe sắc. Nhƣng nhiều nhất về số lƣợng, chủng loại ở đây chính là hoa hồng. Dƣờng nhƣ các nàng hồng kiêu sa, lộng lẫy nhất đều đã tụ hội về đây. Làng hoa hiện nay còn lƣu giữ đƣợc trên 50 giống hoa hồng : hồng nhung đỏ thắm, hồng Grada tím sen, hồng Cleopatre màu hồng phấn, hồng Korokit màu gạch tôm nhạt, hồng Masseille màu trắng, hồng Elizabet phơn phớt hồng, hồng Comfidence màu vàng hột gà, hồng Maccasa màu cam… Không những vậy, làng hoa Tân Quy Đông bên bờ sông Tiền quanh năm lộng gió, màu mỡ phù sa còn là xứ sở của nhiều loại cây kiểng qu ý hiếm, tuổi thọ hàng trăm năm. Mỗi thế cây, dáng đứng đều thắm đƣợm nền văn hoá và triết học phƣơng Đông. Có những loại cây rất bình dị, gần gũi với đời sống hằng ngày nhƣ khế, cau, bùm sum, si, mai… qua bàn tay khéo léo tài hoa của các nghệ nhân đã trở thành những cây kiểng quý, có hình dáng đẹp, lạ. Ngôi làng có 4 mùa xuân này với mô hình trồng hoa, cây kiểng tập trung từ lâu đã thu hút đông đảo khách du lịch về tham quan cũng nhƣ mang lại lợi nhuận và góp phần đáng kể trong việc nâng cao đời sống cho bà con Sa Đéc. 1 ha hoa kiểng ở đây có thể mang lại cho nguời trồng hoa thu nhập từ vài chục đến vài trăm triệu đồng một năm. Phát huy tiếng tăm và truyền thống vốn có, làng hoa kiểng Sa Đéc
  • 50. đang tiếp tục đƣa thƣơng hiệu hoa Sa Đéc vƣơn cao, vƣơn xa hơn nữa, trở thành một điểm du lịch hấp dẫn mà bạn không thể bỏ qua khi đến với tỉnh Đồng Tháp sen hồng. Đến với làng hoa kiểng Sa Đéc, bạn đƣợc đắm mình trong thế giới của muôn hoa với vô vàn hƣơng thơm thanh cao, quyến rũ, bao nhiêu mệt mỏi tan biến, chỉ còn lại cảm giác thanh thản yên bình. - "lá phổi xanh" của vùng Đồng Tháp Mƣời Thuộc ấp 6, xã Gáo Giồng, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng (hay mọi nguời thƣờng quen gọi là vƣờn chim Gáo Giồng) từ lâu đã nổi tiếng là “ốc đảo xanh” với cảnh quan thiên nhiên quyến rũ, đặc trƣng cho vùng đất trũng Đồng Tháp Mƣời. Theo quốc lộ 30 tới thị xã Cao Lãnh, tiếp tục chạy cặp sông qua các xã Mỹ Trà, Mỹ Tân rồi chạy vô xã Tân Nghĩa (huyện Cao Lãnh), mất 5 phút qua con đò nhỏ rồi tiếp tục đi theo con đƣờng quê thêm 7 km nữa là khu du lịch sinh thái Gáo Giồng đã ở trƣớc mặt bạn. Đƣợc xem là lá phổi của Đồng Tháp Mƣời, rừng tràm Gáo Giồng có diện tích khoảng 1.700 ha, trong đó có 250 ha rừng nguyên sinh, với những bƣng trấp, lung, bàu đầy sen, súng, lau sậy, cà na, gáo… Đến đây chắc chắn bạn sẽ ngợp mắt trƣớc sân chim rộng gần 40 ha cùng nhiều loài chim muông bay rợp cả một góc trời. Trên những vạt rừng rộng mênh mông, hàng chục loài chim nƣớc sinh sống và làm tổ quanh năm nhƣ : trích mồng đỏ, cồng cộc, le le, diệc, vịt trời… ; nhiều hơn hết vẫn là đàn cò trắng hàng chục nghìn con khiến rừng tràm này đƣợc xem là vƣờn cò lớn nhất hiện nay ở vùng Đồng Tháp Mƣời. Xuống xuồng ba lá, bồng bềnh xuôi theo những con rạch nhỏ, bạn có thể thấy tận mắt các loài diệc mộc, diệc lửa với sải cánh dài hơn 1m, những con nhan điển với cái cổ thon dài vừa bay cao vừa bơi lặn và bắt cá rất giỏi… Vào mùa nƣớc nổi, trên các cánh đồng vừa thu hoạch, hàng nghìn cánh cò trắng điểm xuyết trên nền tràm xanh tƣơi tạo thành một khung cảnh ngoạn mục. Còn các lung sen lại là nơi quy tụ hàng nghìn con trích mồng đỏ về đây thƣ thả nhổ những cọng năn tƣơi non, thỉnh thoảng cất tiếng gáy kèm theo những vũ điệu tuyệt đẹp. Đến với Gáo Giồng, không những nghe chim hót trên cây, bạn còn đƣợc nghe tiếng cá quẫy đuôi mời chào dƣới nƣớc. Những câu thơ : Xin mời ghé chốn quê tôi xứ này Quê tôi vừa đẹp vừa hay Dưới sông cá lội, chim bay trên trời Quả thật không sai. Thuỷ sản ở đây vô cùng phong phú với nhiều loài cá nhƣ cá lóc, cá bông, cá sặc, cá chốt, cá lăng, cá bống, cá nhái… ; đặc biệt là loài cá linh từ Biển Hồ Campuchia vào mỗi mùa nƣớc lên lại lũ lƣợt kéo về từng đàn đông vui… Gáo Giồng đẹp nhất vào mùa nƣớc nổi. Lúc ấy, nƣớc từ sông Mêkông kéo về phủ ngập cánh đồng, biến Gáo Giồng thành một ốc đảo giữa trời nƣớc mênh mông, rực lên màu vàng hoa điên điển, màu tím hoa súng pha lẫn sắc hồng của những cánh sen, màu xanh mƣớt của rừng tràm… Mùa này cá tôm phong phú, đánh bắt về cộng với các loại rau đồng, bạn có thể chế biến thành những món ăn dân dã nhƣng vô cùng phong phú và hấp dẫn nhƣ cá lóc nƣớng trui cuốn lá sen, cháo cò, cháo rắn nấu với đậu xanh, rắn bông súng nƣớng mọi, chuột đồng nƣớng, cơm huyết
  • 51. rồng hấp lá sen, canh chua bông điên điển, ốc lác hấp tiêu… Thƣởng thức những món ăn đậm chất Nam Bộ, nhâm nhi rƣợu đặc sản từ rƣợu nếp pha với mật ong tràm, ngả mình trên chiếc võng đong đƣa, đón những luồng gió mát rƣợi, bạn sẽ cảm nhận hết sự thanh bình, yên ả nhƣng cũng không kém phần độc đáo của khu du lịch sinh thái Gáo Giồng. Vƣờn quốc gia Tràm Chim . Nằm lọt thỏm giữa vùng đất trũng ngập nƣớc của Đồng Tháp Mƣời, Tràm Chim Tam Nông có diện tích tự nhiên 7.612 ha, thuộc địa phận 5 xã : Tân Công Sinh, Phú Đức, Phú Thọ, Phú Thành, Phú Hiệp và thị trấn Tràm Chim– huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Sau thời gian quy hoạch, phát triển và mở rộng, đầu năm 1999, nơi này chính thức đƣợc chính phủ công nhận là “Vƣờn quốc gia Tràm Chim”- niềm vui và tự hào lớn của nhân dân Đồng Tháp. Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp với bao la sông nƣớc, rừng tràm xanh ngút ngàn và thảm thực vật phong phú với hơn 130 loài khác nhau. Vùng đầt “sáu tháng đồng khô cỏ cháy, sáu tháng nƣớc ngập trắng đồng” này cũng chính là nơi cƣ trú của hàng trăm loài động vật có xƣơng sống, hàng chục loài cá và hơn 198 loài chim nƣớc, chiếm khoảng 1/4 số loài chim có ở Việt Nam. Vào mùa nƣớc lên từ tháng tám đến tháng mƣời một, đi tắc ráng chạy vòng quanh, bạn sẽ cảm nhận đƣợc hết vẻ đẹp mà thiên nhiên đã hào phóng ban cho nơi này khi trải ra trƣớc mắt ta là sen, súng, luá trời, năng, lác… cùng các loài động vật lƣơn, rắn, rùa, trăn; các loài cá đồng và chim muông nhƣ cò, diệc, vịt trời, cồng cộc… Trong số đó có nhiều loài chim quý hiếm trên thế giới nhƣ ngan cánh trắng, te vàng, bồ nông, già đãy Java và đặc biệt là sếu cổ trụi, hay còn gọi là sếu đầu đỏ. Chúng đƣợc xếp vào những loài động vật cần đƣợc bảo vệ vì đang có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới. Hằng năm từ cuối tháng 12 đến đầu tháng 5 là lúc đàn sếu bay về Tràm Chim cƣ trú. Đến đây vào thời gian này, bạn sẽ chứng kiến từng đàn sếu đầu đỏ bay về hòa cùng các loài chim khác để kiếm ăn - một cảnh tƣợng kì thú làm mê đắm lòng ngƣời. Nhiều con sếu cao đến gần 2m, bộ lông xám mƣợt, chân và cổ cao, đôi cánh dang rộng khi bay, dáng đi khoan thai, đủng đỉnh. Chúng tụ tập ngoài đồng năn, bay lƣợn chấp chới, xoè cánh múa nhịp nhàng, cất lên những tiếng kêu lảnh lót. Chắc chắn bạn sẽ bị hút hồn theo nhịp điệu cuả bầy sếu cùng khung cảnh huyền hoặc trong ánh hoàng hôn của buổi chiều tà… Chính vì thế mà từ lâu cái tên Tràm Chim đã trở nên quen thuộc với báo chí và nhiều tổ chức quốc tế. Đã có rất nhiều đoàn khách nƣớc ngoài vào nƣớc ta để đến Tràm Chim tham quan, nghiên cứu. Hiện nay, vƣờn quốc gia Tràm Chim đƣợc Nhà nƣớc đầu tƣ, nâng cấp mở rộng thành một bảo tàng thiên nhiên, một trung tâm du lịch sinh thái hấp dẫn. Nhiều tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế cũng đã tài trợ để duy trì và bảo vệ Tràm Chim-vốn quý của nƣớc ta nói chung và của Đồng Tháp nói riêng. Về Đồng Tháp, đến Tràm Chim Tam Nông ngắm đàn sếu múa đôi, nghe rừng tràm xào xạc, chắc chắn sẽ là những kỉ niệm mà bạn không thể nào quên. Hoa sen (Phật giáo) Hoa sen (tiếng Phạn: padma; tiếng Nhật: renge) trong Phật giáo là biểu tƣợng của sự thuần khiết và sinh hóa hồn nhiên (svayambhu). Theo kinh Lalitavistara, phần
  • 52. tâm linh của con ngƣời thì vô nhiễm, giống nhƣ hoa senmọc trong bùn mà không bị hôi tanh bởi bùn. Còn theo Phật giáo Mật tông thìtrái tim con ngƣời giống nhƣ đóa sen hàm tiếu, khi Phật tính phát triển bên trong thì đóa sen sẽ nở. Đây chính là ý nghĩa của việc Phật ngồi trên tòa sen. Trong Phật giáo Tantra, đóa sen biểu thị cơ quan sinh dục nữ và đó chính là nguyên lý âm trong vũ trụ. Trong thai tạng giới Mạn-đà-la, đóa sen trắng ở trung tâm Mạn-đà-la, biểu thị tử cung (Thai tạng) của thế giới. Các đoá hoa sen có màu khác nhau biểu thị những liên kết khác nhau. Hoa sen có mặt trong các công trình Phật giáo nhƣ cây hoa sen thực trong các hồ ở chùa, có mặt ở các toà sen của các vị chƣ Phật, chƣ thần. Trên các bức tranh lụa Phật giáo cũng có hình tƣợng hoa sen nhƣ trong tranh lụa Tây Tạng có dấu chân của Thanh-đa-la trên hoa sen. Trong các tranh ảnh về cảnh Cực lạc Phật giáo, ngƣời ta tin rằng, những linh hồn kém đức hạnh thì đƣợc tái sinh vào những đoá sen còn khép và phải đợi cho đến khi hoa nở mới nhận đƣợc sự giúp đỡ của A-di- đà. Sen trắng Sen trắng tƣợng trƣng cho sự thuần hóa của nhân tính, bồ đề tâm hay còn gọi là giác tâm, thƣờng có 8 cánh ứng với Bát chính đạo. Nó là đặc trƣng của phái Mật tông và là đoá sen của các vị Phật. Sen đỏ Sen đỏ tƣợng trƣng cho bản chất nguyên thuỷ của trái tim, là đoá hoa của tình yêu, đam mê và sự năng động. Đây là loại sen của Quan Thế Âm. Sen xanh Sen xanh là biểu tƣợng của trí tuệ, tri thức của chiến thắng của tinh thần đối với các cảm quan. Đây là loại sen của Văn Thù Sƣ Lợi, hiện thân của trí tuệ viên thành. Sen hồng Sen hồng là loại sen tối thƣợng, thƣờng đƣợc dành cho các vị tối cao, là đoá sen của vị Phật lịch sử. Sen tím thẫm Sen tím thẫm là đóa sen huyền diệu, biểu thị những ảnh tƣợng của phái Mật tông. Các đoá hoa có thể đang còn e ấp hoặc đã đƣợc nở bung hết. Chúng có thể đƣợc nâng đỡ bởi một cọng hay ba cọng hoa (tƣợng trƣng cho ba phần của Garbhabatu: Vairocana, hoa sen và vajra) hoặc năm cánh hoa tƣợng trƣng cho Năm tri thức của Vajradhatu. Trong một số ngôi chùa có những quả chuông nhƣ chuông chùa Liên Phái,Hà Nội thƣờng có cụm từ "Án ma ni bát mê hồng" (Om mani padme hum), dịch ra là "chân linh trong hoa sen". Chùa Một Cột, Hà Nội có biểu tƣợng một bông hoa sen mọc trên hồ. Tháp Cửu phẩm liên hoa có ở chùa Bút Tháp, Bắc Ninh là một tổ hợp kết cấugỗ dạng tháp, có chín tầng chồng lên nhau. Mỗi tầng có một đài sen rộng chừng 2 m, cao 50 cm. Cả tháp cao 7,8 m, phía ngoài tháp các cánh sen bằng gỗ sơn đỏ tạo thành tầng tầng lớp lớp so le nhau, tháp có thể quay tròn quanh một trục, có gắn tƣợng Phật và chạm những cảnh dân gian hay lấy đề tài trong Phật thoại. Chùa Tây Phƣơng, Hà Tây có các đầu cột đƣợc làm thành hình bông hoa sen hoặc làm thành cả hồ sen. Chùa Kim Liên, Hà Nội có tổng mặt bằng đƣợc cô gọn lại thành hình tƣợng một
  • 53. bông sen. Khi lễ Phật, hai bàn tay chắp lại làm thành hình hoa sen chƣa nở, kiểu lễ này gọi là "Liên hoa hợp chƣởng". Bộ áo cà sa của tỳ-khƣu đƣợc gọi là "Liên hoa y" hay "Liên hoa phục". Cõi cực lạc của A-di-đà còn đƣợc gọi là "Liên bang", là một cõi có nhiều hoa sen. Do vậy, Tịnh độ tông đƣợc gọi là "Liên tông"; nhóm bạn cùng tịnh nghiệp đƣợc gọi là "Liên xã"; thời gian đƣợc dùng để niệm Phật gọi là "Liên liêu". Hoa sen trắng có 8 cánh nằm trên vòng tròn viền trắng, nền màu xanh lá mạ là huy hiệu của gia đình Phật tử. Ba cánh hoa dƣới tƣợng trƣng cho Tam bảo - Phật, Pháp, Tăng. Năm cánh hoa phía trên của tƣợng trƣng cho 5 đức hạnh theo thứ tự từ trái qua phải, từ ngoài nhìn vào là: trí tuệ, hỷ xả, tinh tấn, thanh tịnh, từ bi. Trong sách "Tánh mạng khuê" có bài thơ về hoa sen nhƣ sau: Sen nở trong đầm đỏ trắng phơi, Bùn nhơ không nhiễm sắc thêm tươi. Thân ngay, ngó rỗng, gương đầy hột. Cái lý tu hành cũng thế thôi. Sếu đầu đỏ, Hay còn gọi là chim Hạc, , sếu cổ trụi, có tên khoa học là Grus antigone là một loài chim quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và của thế giới (Sách đỏ IUCN). Hình dạng Trong các loài chim biết bay sếu đầu đỏ là loài chim cao nhất thế giới. Sếu đầu đỏ có bộ lông màu xám, đầu và cổ trụi lông, màu đỏ. Chim non có bộ lông màu sẫm hơn. Loài phụ Ấn Độ có kích thƣớc nhỏ hơn sếu đầu đỏ phƣơng Đông và thiếu vòng trắng ở cổ. Sếu đầu đỏ cao tới 1.5m, nặng 8-10kg, là loài lớn nhất trong các loại sếu. Tiếng kêu của nó vang xa tới 2km. Sinh sản Chúng sinh sản mỗi năm một lần, mỗi lứa có hai trứng. Tổ làm trên mặt đất. Sinh thái Sếu đầu đỏ sống trong các vùng ngập nƣớc cạn và ăn tạp. Hiện có ba phân loài đƣợc biết đến: Sếu đầu đỏ Ấn Độ (Grus antigone antigone) đƣợc tìm thấy ở miền bắc Ấn Độ,Pakistan và Nepal. Có vào khoảng 10.000 con Tiểu loài Australia (Grus antigone gilliae) đƣợc tìm thấy ở Queensland,Australia. Có khoảng 5.000 con. Sếu đầu đỏ phƣơng Đông (Grus antigone sharpii) trƣớc đây từng xuất hiện trên khắp Đông Nam Á nhƣng hiện nay chỉ còn lại ở Campuchia và Việt Nam. Ở Việt Nam hiện sếu chƣa sinh sản, chỉ trở lại trong mùa khô với số lƣợng khoảng 800 đến 1.000 con ở các vùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long nhƣ Hòn Chông (huyện Kiên Lƣơng, tỉnh Kiên Giang) và Vƣờn quốc gia Tràm Chim(Tam Nông-Đồng Tháp). Riêng tại Vƣờn quốc gia Tràm Chim, do việc quản lý thủy văn chƣa phù hợp đã làm thu hẹp diện tích đồng cỏ năng không còn nguồn thức ăn cho chim sếu dẫn đến mật độ cá thể của loài chim này bị giảm theo hàng năm. . Hội đình Tân Phú Trung . Cách thị trấn Châu Thành 17 km, đình Tân Phú Trung tọa lạc trên khuôn viên rộng 3.000 m2, giữa một vùng quê trù phú, cây trái xum xuê của xã Tân Phú Trung, tỉnh
  • 54. Đồng Tháp. Là một trong những ngôi đình cổ của Đồng Tháp, đình đƣợc xây dựng vào giữa thế kỉ XIX và đƣợc vua Tự Đức phong sắc Thành Hoàng Bổn Cảnh vào ngày 16/04/1858 âm lịch. Đình có kiến trúc theo kiểu cổ, mái xây theo hình chữ “Đại”, lợp ngói kiểu ống xƣa, trên ngói có hình tƣợng lƣỡng long tranh châu. Cột kèo của đình làm bằng gỗ quý, đƣợc chạm trổ tinh vi. Trong đình có nhiều bức liễn đối, hoành phi đƣợc chạm khắc công phu, sơn son thếp vàng, nét chữ sắc sảo. Nghi thờ trƣớc thở Quan Thánh Đế, nghi thờ sau ở giữa thờ Thánh Hoàng Bổn Cảnh và hai bên thờ những nguời đã đóng góp công lao cho đình làng. Hằng năm, hội cúng đình đƣợc tổ chức vào các ngày từ 10 đến 17 tháng 4 âm lịch (năm chẵn) hoặc các ngày 12, 13 tháng 5 âm lịch (năm lẻ) để suy tôn Thành Hoàng và những ngƣời có công lập làng. Vào dịp này, nhân dân trong xã và các xã lân cận đến dự rất đông vui, tấp nập, cùng nhau cầu nguyện mƣa thuận gió hoà, mùa màng thắng lợi. Hội đình Định Yên . Đình Định Yên đƣợc xây dựng vào năm Canh Tuất 1909 tại ấp An Lợi A, xã Định Yên, huyện Lấp Vò để ghi nhớ công ơn ông Phạm Văn An, ngƣời đầu tiên khai hoang lập ấp nơi đây. Đình đƣợc lợp ngói đại ống, các kỳ, kèo, cột đƣợc chạm trổ hoa văn đầu rồng, lân lộng lẫy. Đến đây, bạn sẽ đƣợc chiêm ngƣỡng các câu đối, cân liễn, bao lam sơn son thếp vàng rực rỡ, cẩn ốc xà cừ, chạm hoá long, lƣỡng sen, mẫu đơn và các bức tranh sơn thuỷ ca ngợi đất nƣớc và con ngƣời… Chánh điện của đình thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh, hai bên tả, hữu thờ các vị Tiền hiền. Trƣớc sân đình là những bồn hoa, cây dƣơng cổ thụ cao vút, làm cho khung cảnh nơi đây thêm phần thơ mộng. Thế nhƣng điều hấp dẫn nhất đang chờ du khách thập phƣơng khám phá chính là hội cúng đình Định Yên. Hằng năm vào các ngày 16,17 tháng 4 và 15, 16 tháng 11 âm lịch, tại đây diễn ra lễ cúng đình rất long trọng để tƣởng nhớ ông Phạm Văn An và những ngƣời có công khai hoang, lập nên làng xã. Nếu đến thăm đình Định Yên vào đúng dịp này, bạn sẽ đƣợc chứng kiến đầy đủ những nghi thức truyền thống của một hội cúng đình nhƣ : đội kỵ mã, đội lân, đội lính hầu, học trò lễ, chiêng, trống, nhạc, lễ… Một lần tham dự hội cúng đình Định Yên chắc chắn sẽ mở ra trƣớc mắt bạn nhiều điều thú vị, làm phong phú thêm vốn hiểu biết về lễ hội cổ truyền dân tộc. Lễ hội Gò Tháp. Lễ hội Gò Tháp là lễ hội lớn và quy mô nhất Đồng Tháp, tổ chức mỗi năm 2 lần vào tháng 3 và tháng 11 âm lịch. Từ 10 năm nay lễ hội Gò Tháp đã trở thành một lễ hội tầm cỡ ở các tỉnh Nam Bộ. Cứ mỗi độ lễ hội, dƣờng nhƣ nhịp sống của ngƣời dân huyện Tháp Mƣời cũng khác đi, cũng hối hả, nhộn nhịp theo từng đoàn khách thập phƣơng từ các nơi lũ lƣợt kéo về với đủ mọi phƣơng tiện : tàu, ghe, xe lam, xe khách… Về dự lễ hội đặc sắc Gò Tháp, trƣớc hết bạn có thể thăm các di tích cổ : Gò Tháp Mƣời, Tháp Cổ tự, miếu Bà Chúa Xứ… sau đó còn đƣợc hoà mình vào không khí lễ
  • 55. hội dân gian, đƣợc thƣởng thức các hoạt động văn hoá nghệ thuật. Hai lễ hội đầu và cuối năm ở Gò Tháp đều tấp nập hàng chục ngàn du khách từ TP.HCM và các tỉnh lân cận về đây cầu tài, cầu lộc và hành hƣơng đi lễ. Từ chiều 14 đến rạng sáng 16 tháng 3 âm lịch là lễ hội tƣởng niệm Bà Chúa Xứ, tƣơng truyền là nguời có công lao khai phá, tạo dựng và phát triển vùng này. Từ chiều 14 đến rạng sáng 16 tháng 11 âm lịch là lễ tƣởng niệm hai vị anh hùng dân tộc Thiên hộ Dƣơng (Võ Duy Dƣơng) và Đốc binh Kiều (Nguyễn Tấn Kiều). Lễ hội ở Gò Tháp có 2 phần rõ rệt : phần nghi thức cúng lễ và phần hội hè. Ngoài các lễ cúng chính trong mỗi kì hội nhƣ cúng Bà chúa xứ, cúng Thiên hộ Dƣơng, Đốc binh Kiều còn có một số lễ phụ khác nhƣ : cúng Thần nông, lễ cầu an, lễ thỉnh sinh… Mỗi nội dung lễ cúng có nghi thức hành lễ không giống nhau nhƣng có nét chung nhất là đều có bài văn tế do bô lão chánh bái vừa đọc vừa diễn; kèm theo là các tiết mục lễ nghi phụ họa nhƣ : dàn nhạc lễ réo rắt, dâng trà, rƣợu, hƣơng… Nội dung văn tế là ca ngợi công đức của các bậc tiền nhân hay cầu khẩn đất trời cho quốc thái dân an, mƣa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Trong khi đó, phần hội hè có nhiều tiết mục vui chơi giải trí rất hấp dẫn nhƣ múa hát, trò chơi dân gian, hát bội, đấu võ… khiến bạn nhƣ quên đi những lo toan của cuộc sống hằng ngày để hoà vào không khí lễ hội nô nức, rộn ràng vui tƣơi… Điều lý thú ở lễ hội Gò Tháp là bạn có thể đƣợc ăn cơm chay miễn phí trong nhà chùa nhờ có đội ngũ tình nguyện viên phục vụ và hàng tấn gạo, rau quả do khách thập phƣơng mang đến. Điều này đã tạo điều kiện cho rất nhiều bà con nghèo và ở những nơi xa về đây tham dự. Ngoài ra, tại khu hội chợ, bạn còn có thể mua đƣợc nhiều đặc sản hay hàng hoá của địa phƣơng về làm quà cho gia đình, bè bạn… Nhờ sự tổ chức chu đáo của chính quyền, ý thức của nguời đi lễ và tính tự quản của nhân dân địa phƣơng mà lễ hội Gò Tháp đông hàng chục vạn nguời hằng năm vẫn luôn diễn ra yên ổn và trật tự. Đáp ứng đƣợc nhu cầu tâm linh của mọi tầng lớp, du lịch văn hoá tín ngƣỡng tại lễ hội Gò Tháp là hình thức du lịch hấp dẫn, độc đáo mà bạn không nên bỏ qua. Đến với lễ hội Gò Tháp là bƣớc vào hoạt động văn hoá tổng hợp, đan xen và hòa lẫn vào nhau : giữa vật chất và tinh thần, giữa tín ngƣỡng và văn hoá, giữa cái thiêng liêng và cái đời thƣờng, giữa cổ xƣa và đƣơng đại… Lễ hội Gò Tháp mang đậm tính chất dân gian và in dấu ấn một thời mở cõi, phản ánh những khát vọng và ƣớc mong tha thiết của ngƣời nông dân Đồng Tháp Mƣời. Đƣợc đến thăm các di tích kiến trúc, đƣợc cầu nguyện, đƣợc chứng kiến các sinh hoạt văn hoá văn nghệ truyền thống, đó chính là nguyên nhân cuốn hút ngày càng đông khách đến tham dự lễ hội Gò Tháp từ xƣa đến nay. Đặc sản Đồng Tháp Mƣời . Đồng Tháp Mƣời những ngày đầu mới khai phá bạt ngàn rừng cây với nhìều loài động vật nhƣ cá sấu, rắn, trăn, rùa, chuột… tha hồ sinh sôi nảy nở. Quá trình khai hoang lập ấp nơi đây cũng gắn liền với những món đặc sản đồng ruộng thể hiện tính sáng tạo trong văn hoá ẩm thực của ngƣời dân. Ngoài những món ăn phổ biến từ các loại cá và rau đồng, bà con còn sáng tạo ra nhiều món ăn ngon, “độc” với những nguyên liệu đặc trƣng cho vùng Đồng Tháp Mƣời trù phú. Cách chế biến tuy đơn giản nhƣng hƣơng vị của những món đặc sản này chắc chắn sẽ làm ngạc nhiên nhiều thực khách sành ăn.
  • 56. Chuột xào xả ớt Sau khi săn chuột về, ngƣời ta đun nƣớc cho sôi, trụng chuột vào chảo nƣớc, lột da cho sạch, lộ ra lớp thịt chuột trắng phau đem treo lên cho ráo nƣớc, chặt bỏ đầu, đuôi, chân... Sau đó, chặt thịt chuột thành từng miếng vừa miệng, ƣớp tỏi, bột ngọt, đƣờng, muối, ngũ vị hƣơng, nƣớc tƣơng... độ chừng 5 phút cho thấm. Xong đâu đó, bắc chảo lên bếp, để thật nóng, cho mỡ, phi tỏi thật vàng, thơm, đổ sả ớt giã nhuyễn vào xào liên tục đến khi se lại mới cho thịt vào đảo đều tay. Khi thịt chín múc ra dĩa, rắc tiêu, đậu phộng lên. Dùng khi thịt còn nóng thì càng ngon tuyệt. Cháo dậu xanh nấu với rắn hổ đất Đồng Tháp Mƣời nổi tiếng có nhiều rùa, rắn. Khi bắt đƣợc rắn hổ đất, đem đập đầu cho chết, dùng nƣớc sôi cạo vẩy thật sạch. Kế đến mổ lấy ruột gan, rồi chặt rắn thành từng khúc dài khoảng tấc tây, đem hầm cho nhừ mới vớt ra. Sau đó, đổ gạo và đậu xanh vào nồi nƣớc hầm rắn. Cháo chín nêm nếm vừa miệng, xé thịt rắn hổ đất nhỏ nhƣ thịt gà, trộn chanh, rau răm. Múc mỗi tô cháo cho vào một ít thịt rắn, có rắc tiêu hành trộn đều, ăn đến đâu mát đến đó vì cháo đậu xanh rắn hổ đất có tác dụng làm mát gan, giải nhiệt, vừa ngon vừa giàu dinh dƣỡng. Dồi lƣơn rim nƣớc cốt dừa Đây là món ăn khoái khẩu của ngƣời dân vùng Đồng Tháp Mƣời. Dồi lƣơn có hƣơng vị đặc trƣng của nƣớc dừa, hành và đậu phộng, thơm, béo rất hấp dẫn. Để chế biến món dồi lƣơn, trƣớc hết phải làm cho lƣơn chết rồi dùng tro hoặc cám tuốt sạch nhớt, moi bỏ ruột rồi đem rửa sạch. Dùng dao sắc cắt phần thịt ở phía cổ lƣơn mà không làm đứt rời da lƣơn, đảm bảo da đƣợc liền từ đầu tới đuôi. Thịt lƣơn băm nhuyễn rồi trộn với thịt nạc, nấm mèo, bún tàu cũng đã đƣợc băm nhuyễn cùng với gia vị, đƣờng, nƣớc mắm, tiêu sọ để nguyên hạt. Dùng thìa nhỏ trộn đều và múc hỗn hợp thịt băm cho vào đầy da thân lƣơn đã lột ra trƣớc đó nhƣ làm dồi lợn, dồi chó. Dồn thịt xong khoanh tròn nguyên con lƣơn đặt vào nồi lấy củ hành tàu lột bỏ vỏ lụa, cắt đứng làm tƣ nếu là hành nhỏ, hoặc làm tám nếu là hành to xếp lên trên. Đổ nƣớc cốt dừa ngập thân lƣơn rồi bắc lên bếp, để lửa liu riu. Khi nƣớc cốt dừa sôi lên vài lƣợt thì nêm gia vị, đƣờng, nƣớc mắm cho vừa ăn, xong nhấc xuống múc ra đĩa rắc đậu phộng giã giập lên trên. Hãy thử món dồi lƣơn rim nƣớc cốt dừa ăn kèm với bánh mỳ hoặc nhậu lai rai với rƣợu mạnh, đó quả là món ăn tuyệt vời khiến bạn ăn rồi khó thể nào quên. Tắc kè xào lăn Vùng Đồng Tháp Mƣời bao la ngút ngàn còn là địa danh có nhiều tắc kè, rắn mối. Đây là món ăn khá phổ biến của nhân dân quanh vùng. Sau khi bắt tắc kè, ngƣời ta chặt bỏ đầu, nhúng nƣớc sôi, cạo cho sạch lớp vẩy. Trƣớc khi ƣớp, chặt tắc kè ra từng mếng, ƣớp với đại hồi, tiểu hồi, bắc chảo phi mỡ tỏi, rồi đổ thịt tắc kè vào xào cho săn lại; sau đó vắt nƣớc cốt dừa vào xâm xấp, chụm lửa liu riu để thịt hoà quyện với gia vị và nƣớc cốt, nhƣng đừng để lửa nóng quá sẽ mất ngon. Hễ thấy nƣớc cốt dừa sắc xuống, ta bắc chảo ra, rắc đậu phộng lên là xong. Thịt tắc kè thơm ngon lạ lùng, đặc biệt là phần đuôi béo ngậy, tập trung mỡ và xƣơng sụn, bồi bổ cho ngũ tạng, lục phủ rất tốt. Nếu có thêm rƣợu đế nhâm nhi thì quả là không còn gì tuyệt bằng! Những món ngon từ mắm .
  • 57. Trên đất nƣớc Việt Nam, địa phƣơng nào cũng có món mắm đặc sản của mình, với hai loại mắm chính là mắm đồng và mắm biển (các loại thủy sản). Nhƣng nói đến những chủng loại mắm dồi dào phong phú nhất, phải nói đến miền Nam. Ngƣời Nam Bộ trên bƣớc đƣờng khẩn hoang đã tìm đƣợc nguồn thực phẩm trời cho là những loại cá ngon trên khắp các sông ngòi, biển cả, cá nhiều đến mức tiêu thụ không hết, nên họ đã tìm tòi, sáng tạo nhiều loại mắm độc đáo để làm lƣơng thực dự trữ. Với các món mắm đa dạng, dĩ nhiên cách chế biến món ăn với mắm cũng hết sức đa dạng. MẮM KHO BÔNG SÚNG Muốn ăn bông súng mắm kho Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm. Ở miệt quê Đồng Tháp, không ai lại không biết đến bông súng chấm mắm kho, món ăn dân dã nhƣng hƣơng vị đậm đà khó quên mà không phải nơi nào cũng có. Mỗi năm, hễ ăn tết xong là bà con bắt đầu tát mƣơng, vũng, đìa để bắt cá đồng, con to đem bán, con nhỏ mang về làm mắm, chờ qua mùa nƣớc nổi thì giở ra ăn dần… Muốn kho mắm cho ngon, nhiều ngƣời đổ nƣớc dừa nạo vào xâm xấp, cao hơn mắm cỡ vài phân rồi bắc lên bếp cho tới khi thịt con mắm nhuyễn nhừ rồi mới nhắc xuống lọc kỹ, bỏ xƣơng. Sau đó nêm nếm gia vị và đừng quên ớt, sả - hai thứ không thể thiếu trong món mắm kho, vài trăm gram thịt ba rọi, kho với tép bạc, cá rô, cá trê… càng ngon. Mắm kho ngon nhất là chấm với bông súng ở đìa, mà không phải bông súng nào cũng ngon nhƣ nhau, chỉ có loại bông súng trắng, cọng nhỏ cỡ chiếc đũa ăn cơm, ăn mới mềm, có “hậu” ngọt… Mùa nƣớc về bông súng càng lên nhanh trắng đồng, nhổ về để nguyên cọng rửa sạch, tƣớc vỏ bên ngoài, ngắt mỗi cọng độ dài chừng hai gang tay, để trong rổ cho ráo nƣớc. Mắm dỡ ra có màu đỏ thẫm thơm lừng, bông súng bỏ vào chén, chan nƣớc mắm kho lên trên. Chất cay của ớt, the của sả, ngọt của tép, cái giòn của bông súng tạo thành món ăn tuyệt vời, đơn sơ, ít tốn kém mà vẫn đậm đà hƣơng đồng gió nội. BÚN MẮM Nam Bộ có nhiều món ăn độc đáo nhƣng phổ biến vẫn là món bún. Bún đƣợc chế biến thành nhiều món ăn đa dạng nhƣ bún thịt xào, bún cà ri, bún riêu cua, bún mắm… Trong đó có lẽ hấp dẫn nhất là bún mắm mà Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Đồng Tháp là những nơi có món bún mắm đặc sắc và nổi tiếng hơn cả. Bún mắm đƣợc xem là món ăn chứa đựng đầy đủ tinh hoa của mắm, tiền thân của nó vốn là món mắm kho ăn với rau đồng. Chỉ cần dùng đũa lùa mắm trộn rau và một ít cơm nguội cho vào miệng là đã tạo thành món ăn đơn giản nhƣng thật khoái khẩu. Dần dần món ăn này đƣợc “nâng cấp” lên với nhiều nguyên liệu phong phú nhƣng vẫn giữ cái nền mắm thơm điếc mũi, có gừng, sả làm dịu mùi nồng của mắm, có nƣớc dừa tƣơi làm nƣớc lèo thêm béo, ngọt, kèm thêm các món cá, thịt quay, mực, tôm, nghêu, sò, ốc… từ khắp mọi miền đất nƣớc về hội tụ trong nồi mắm, biến nó thành món ăn thịnh soạn, không ăn với cơm nguội nữa mà dùng chung với bún và đủ các loại rau đồng nhƣ : rau dừa, rau mác, kèo nèo, cọng bông súng, bắp chuối, rau muống chẻ nhỏ, bông điên điển, đọt xoài... Món bún mắm cũng tuỳ theo địa phƣơng mà có nhiều khẩu vị khác nhau, thƣờng thì nƣớc lèo của các quán bún mắm chính gốc miền Tây đậm đà hơn. Khi nồi lẩu mắm
  • 58. sôi đến nƣớc cuối cùng, ngƣời ăn không quen sẽ không chịu đƣợc vì nặng mùi, nhƣng theo những ngƣời sành ăn, đây chính là lúc mắm sắc lại, ăn ngon nhất. Nƣớc lèo của nồi bún mắm đƣợc nấu rất công phu, không dùng bột ngọt và đƣờng, chỉ lấy chất ngọt từ con cá lóc, xƣơng heo cùng chất tinh tuý trong các loại mắm đồng trở mùi đặc biệt nhƣ mắm cá linh, cá lóc, cá sặc… Vì thế bún mắm không những là món ăn ngon mà còn rất giàu dinh dƣỡng. Ăn bún mắm, bạn sẽ cảm nhận đƣợc chất ngọt lạ lùng của cá đồng, chất cay nồng của ớt sống hoà quyện với sả, chất mặn mòi của mắm đồng làm cho tô bún lạ miệng và hấp dẫn vô cùng… . Khách sạn tại Đồng Tháp (Mã vùng:84-67) Khách sạn Sông Trà Địa chỉ: 178 Nguyễn Huệ, Tp. Cao Lãnh, Đồng Tháp Điện thoại: 852504/ 852624 Fax: 852623 Khách sạn Sa Đéc Địa chỉ: 108/5A Hùng Vuơng, thị xã Sa Đéc, Đồng Tháp Điện thoại: 862338 Fax: 862828 Khách sạn Hòa Bình Địa chỉ: Quốc lộ 30, xã Mỹ Trà, Tp. Cao Lãnh, Đồng Tháp Điện thoại: 851469 Khách sạn Xuân Mai Địa chỉ: 33 Lê Quí Đôn, Tp. Cao Lãnh, Đồng Tháp Điện thoại: 852852 Fax: 853058 Khách sạn Thiên Ấn Địa chỉ: Quốc lộ 30, xã Mỹ Trà, Tp. Cao Lãnh, Đồng Tháp Điện thoại: 853041 Khách sạn Cao Lãnh Địa chỉ: 84 Nguyễn Huệ, Tp. Cao Lãnh, Đồng Tháp Điện thoại: 851061 Khách sạn Mỹ Trà Địa chỉ: Đƣờng Lê Duẩn, xã Mỹ Trà, Tp. Cao Lãnh, Đồng Tháp Điện thoại: 855622 Fax: 851457 – Tp.Long Xuyên ( 30 Km ) : . Thời kỳ phong kiến Nhà Nguyễn (TK XVIII – 1867) : An Giang “Xưa là đất Tầm Phong Long, năm Đinh Sửu thứ 19 (1757) đời Thế Tông, quốc vương Chân Lạp Nặc Tông dâng đất nầy, đặt làm đạo Châu Đốc, vì đất ấy có nhiều chỗ bỏ hoang, đầu đời Gia Long mộ dân đến ở, gọi là Châu Đốc Tân Cương” (Đại Nam nhất thống chí). “Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) lấy đất nầy cùng với huyện Vĩnh An tỉnh Vĩnh Long đặt làm phủ Tuy Biên và Tân Thành ; đặt bốn huyện là : Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên và Vĩnh An lập tỉnh An Giang và Hà Tiên, lại đặt hai ty Bố chánh, Án sát” (Đại Nam nhất thống chí). Đến thời Tự Đức, sau nhiều lần tách nhập, thêm phủ, huyện, An Giang có 3 phủ, 10
  • 59. huyện . Dưới chế độ thực dân Pháp (1867 – 1945) : Theo Nghị định ngày 05/01/1876 của Thống đốc Dupré, Pháp bỏ hệ thống Nam kỳ lục tỉnh mà chia thành 4 khu vực : Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bassac ; bao gồm 19 hạt. Tỉnh An Giang (Nam kỳ lục tỉnh) chia thành 5 hạt : Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc. Tỉnh Hà Tiên chia thành 2 hạt : Hà Tiên, Rạch Giá. Khu vực Bassac (Hậu Giang) gồm 6 hạt : Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Trà Ôn, Sóc Trăng, Rạch Giá (hạt Sa Đéc thuộc về khu vực Vĩnh Long). Ngày 20/12/1899, Pháp ra Nghị định bãi bỏ các hạt đổi thành tỉnh. Năm 1917, tỉnh Châu Đốc có 4 quận : Châu Thành, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn (gồm 12 tổng, 98 xã) và tỉnh Long Xuyên có 3 quận : Châu Thành, Thốt Nốt, Chợ Mới (gồm 8 tổng, 58 xã). Năm 1930, tỉnh Châu Đốc nhận thêm quận Hồng Ngự. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954) : Năm 1945, Nam kỳ có 21 tỉnh, trong đó tỉnh Châu Đốc có 5 quận : Tịnh Biên, Tri Tôn, Hồng Ngự, Tân Châu, Châu Phú và tỉnh Long Xuyên có 3 quận : Chợ Mới, Thốt Nốt, Châu Thành. Năm 1953, tỉnh Long Xuyên thành lập thêm 2 quận Núi Sập và Lấp Vò . Đêm 22/9/1945, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ đƣợc thành lập và cuộc Kháng chiến Nam Bộ bắt đầu. Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh thành lập các Chiến khu. Tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên thuộc chiến khu 9. Để thuận lợi cho việc lãnh chỉ đạo kháng chiến, ngày 12/9/1947, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra chỉ thị số 50/CT chia lại địa giới 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc thành 2 tỉnh mới là Long Châu Tiền thuộc khu 8 và Long Châu Hậu thuộc khu 9. Tỉnh Long Châu Tiền có 5 quận : Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Châu Phú B và Lấp Vò. Tỉnh Long Châu Hậu có 6 quận : Tịnh Biên, Tri Tôn, Thốt Nốt, Thoại Sơn, Châu Phú A và Châu Thành (bao gồm 2 tỉnh lỵ Long Xuyên và Châu Đốc). Ngày 07/02/1949, tỉnh Long Châu Hậu giao quận Thốt Nốt về tỉnh Cần Thơ và ngày 14/5/1949, tỉnh Long Châu Tiền giao quận Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc. Cũng vào tháng 5/1949, tỉnh Long Châu Hậu tiếp nhận thêm 3 xã Nam Thái Sơn, Bình Sơn và Thổ Sơn của Quận Châu Thành (Rạch Giá) vào quận Tri Tôn và 2 xã Mỹ Hiệp Sơn (trừ 2 ấp Mỹ Phú, Mỹ Quới), xã Tân Hội cùng 4 ấp của xã Tân Hiệp phía Bắc lộ Cái Sắn vào quận Thoại Sơn. Tháng 6/1949, chia quận Tân Châu của tỉnh Long Châu Tiền thành 2 quận mới Phú Châu và Tân Châu. Ngày 30/10/1950, Thủ tƣớng Chính phủ chấp thuận đề nghị của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, 2 tỉnh Long Châu Hậu và Hà Tiên đƣợc sáp nhập thành tỉnh Long Châu Hà, gồm 8 quận : Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú A, Châu Thành, Thoại Sơn, Thốt Nốt, Giang Châu (quận Giang Thành và Châu Thành của Hà Tiên nhập lại) và Phú Quốc. Tháng 7/1951, sáp nhập 2 quận Tri Tôn, Tịnh Biên thành quận Tịnh Biên ; 2 quận Châu Thành, Thoại Sơn thành quận Châu Thành. Ngày 27/6/1951, theo Nghị định 173/NB51 của Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ, tỉnh Long Châu Sa đƣợc thành lập trên cơ sở nhập tỉnh Sa Đéc vào tỉnh Long Châu Tiền, gồm 7 huyện : Châu Thành (Sa Đéc), Lai Vung, Cao Lãnh, Tân
  • 60. Hồng, Tân Châu, Phú Châu, Chợ Mới. Chia ranh giới 2 huyện Hồng Ngự và Tân Châu thành 2 huyện Tân Hồng và Tân Châu. Tháng 7/1951, nhập huyện Lấp Vò vào tỉnh Long Châu Sa. Ngày 12/10/1951, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ ra Nghị định chia khu Nam Bộ thành 2 phân liên khu . Phân liên khu Miền Đông gồm 6 tỉnh : Gia Định, Thủ Biên, Bà Rịa, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Long Châu Sa. Phân liên khu Miền Tây gồm 6 tỉnh : Bến Tre, Vĩnh Trà, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Châu Hà. Hai tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Sa tồn tại đến năm 1954. Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975) : Năm 1955, tỉnh Châu Đốc có 5 quận : Châu Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, Hồng Ngự với 70 xã. Tỉnh Long Xuyên có 5 quận : Châu Thành, Chợ Mới, Núi Sập, Thốt Nốt, Lấp Vò với 47 xã. Ngày 22/10/1956, Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh 143/VN : Địa phận Nam Việt Nam gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Tỉnh An Giang (tỉnh lỵ Long Xuyên) gồm tỉnh Châu Đốc và tỉnh Long Xuyên cũ, với 8 quận : Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Tân Châu, Thốt Nốt, Tịnh Biên, Tri Tôn, Núi Sập ; 16 tổng ; 96 xã. Đến ngày 06/8/1957, thành lập quận An Phú từ 13 xã của quận Châu Phú. Ngày 08/9/1964, theo sắc lệnh 264/VN của chính quyền Sài Gòn, tỉnh An Giang tách thành 2 tỉnh : Châu Đốc (5 quận, 10 tổng, 57 xã) và An Giang (4 quận, 6 tổng, 38 xã). Tỉnh Long Xuyên đƣợc đặt tên lại là tỉnh An Giang cho đến năm 1975. Về phía chính quyền cách mạng, tháng 10/1954, Xứ ủy Nam Bộ lập lại 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc. Tỉnh Long Xuyên gồm các quận : Châu Thành, Chợ Mới, Lấp Vò, Thốt Nốt, Phong Thạnh Thƣợng. Tỉnh Châu Đốc gồm các quận : Tân Châu, Hồng Ngự, Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu Phú. Giữa năm 1957, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo hợp nhất 2 tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc lại thành tỉnh An Giang, gồm 9 quận : Chợ Mới, Thốt Nốt, Núi Sập, Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn. Giao quận Hồng Ngự về tỉnh Kiến Phong và giao quận Lấp Vò về tỉnh Sa Đéc. Tháng 10/1961, Tỉnh ủy An Giang quyết định thành lập các liên huyện để phù hợp với tình hình. Từ đó có liên huyện Tịnh Biên - Tri Tôn lấy tên Tịnh Biên, liên huyện Châu Thành - Huệ Đức lấy tên Châu Thành, liên huyện Tân Châu - An Phú lấy tên Tân Châu. Cuối năm 1962, tách liên huyện Tịnh Biên - Tri Tôn trở lại 2 huyện nhƣ trƣớc. Năm 1963, tỉnh An Giang giao Thốt Nốt về tỉnh Cần Thơ và nhận huyện Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang. Tháng 12/1965, giao Chợ Mới về tỉnh Kiến Phong và năm 1967 trả Hà Tiên về Kiên Giang . Tháng 8/1971, thực hiện yêu cầu thành lập tỉnh mới để giữ vai trò đầu cầu hành lang từ trung ƣơng về miền Tây Nam Bộ, An Giang chia thành 2 tỉnh An Giang và Châu Hà. Tỉnh An Giang gồm 5 huyện : Châu Phú, Châu Thành X, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, bao gồm 2 nơi mà nay gọi là thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc. Tỉnh Châu Hà gồm 6 huyện : Tịnh Biên, Tri Tôn, Huệ Đức, Hà Tiên, Phú Quốc và Châu Thành A của tỉnh Kiên Giang. Tháng 5/1974, Trung ƣơng Cục chia lại địa bàn các tỉnh An Giang, Châu Hà và Kiến Phong thành 2 tỉnh Long Châu Tiền và Long Châu Hà.
  • 61. Tỉnh Long Châu Tiền gồm 6 huyện : Tân Châu, An Phú, Phú Tân A, Phú Tân B, Hồng Ngự và Tam Nông (nay là huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp). Tỉnh Long Châu Hà gồm 6 huyện : Châu Thành X, Châu Phú, Tri Tôn, Tịnh Biên, Huệ Đức, Châu Thành A (Rạch Giá) và 2 thị xã Long Xuyên và Châu Đốc. Sau ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (1975-2000) : Tại Nghị quyết số 19/NQ.TW ngày 20/12/1975 của Bộ Chính trị Trung ƣơng Đảng, tỉnh An Giang đƣợc thành lập bao gồm 2 tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc (trừ huyện Thốt Nốt) với 8 quận, 84 xã. Tháng 2/1976, Nghị định của Chính phủ cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam giải thể khu hợp nhất tỉnh, bỏ danh xƣng “quận” có từ thời Pháp và lấy danh xƣng “huyện” ; “quận” và “phƣờng” dành cho các đơn vị tƣơng đƣơng với huyện và xã khi đã đô thị hóa. Tỉnh An Giang có 10 huyện, thị xã là : Châu Thành, Huệ Đức, Chợ Mới, Phú Tân, Châu Phú, Phú Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên, thị xã Long Xuyên và thị xã Châu Đốc. Ngày 11/3/1977, Chính phủ ra quyết định 56/CP hợp nhất huyện Huệ Đức và Châu Thành thành huyện Châu Thành, huyện Tri Tôn và Tịnh Biên thành huyện Bảy Núi. Ngày 23/8/1979, Hội đồng Bộ trƣởng ra quyết định 300/HĐBT điều chỉnh địa giới một số huyện thuộc tỉnh An Giang. Huyện Bảy Núi chia thành 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Huyện Châu Thành chia thành 2 huyện Châu Thành và Thoại Sơn. Ngày 01/3/1999, Chính phủ ra Nghị định 09/NĐCP thành lập thành phố Long Xuyên. Đến đây tỉnh An Giang gồm có các đơn vị hành chính trực thuộc: thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và 9 huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân, Tân Châu, An Phú, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, với 150 đơn vị hành chính cơ sở (trong đó có 13 phƣờng và 15 thị trấn, 122 xã, 114 khóm, 649 ấp). . An Giang là tỉnh địa đầu phía Tây Tổ quốc, nơi có sông núi, có những cánh đồng bất tận và các làng bè làm nên huyền thoại. Các tour du lịch đến An Giang thật sự làm ngẩn ngơ du khách gần xa. Đến Châu Đốc, du khách có dịp thăm đền Châu Phú, là ngôi đền thờ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, ngƣời lập ra bộ máy hành chính đầu tiên ở vùng đất phƣơng Nam. Đền Châu Phú có kiến trúc đẹp, đồ sộ, đƣợc xây dựng trên 100 năm. Mái lợp ngói âm dƣơng đỏ, trên nóc gắn tƣợng bát tiên và lƣỡng long tranh châu. Bên trong uy nghi cổ kính bởi hoành phi câu đối, đỉnh đồng và dù lộng thêu rồng phụng đỏ rực. Chính giữa đền thờ có bài vị Nguyễn Hữu Cảnh. Cũng gắn với một thời khẩn hoang mở cõi, từ năm 1819-1824, kênh Vĩnh Tế đƣợc xây dựng với chiều dài hơn 90 km do 80.000 nhân công đào đắp nối Châu Đốc với Hà Tiên rồi chảy ra vịnh Thái Lan. Tƣởng nhớ công ơn của ngƣời có công, ngƣời dân ở đây đặt tên cho ngọn núi Sập là Thoại Sơn, để ghi nhớ công lao Thoại Ngọc Hầu. Ngay triền núi Sam, Thoại Ngọc Hầu đang yên nghỉ trong lăng mộ bên cạnh đền thờ ông. Trở lại Long Xuyên, du khách cũng thƣờng ghé thăm ngôi nhà thời niên thiếu của Chủ tịch Tôn Đức Thắng ở cù lao Ông Hổ (Mỹ Hòa Hƣng, Long Xuyên) và khu lƣu niệm của Ngƣời. Đến đất cù lao, tour “homestay” (tour tham quan và nghỉ lại nhà dân) có công đoạn thăm trại cƣa, xóm nhang, lò rèn... bằng xe đạp thu hút rất đông khách quốc tế. Họ ngẩn ngơ trƣớc những món ăn thôn dã từ con cá basa nuôi bè,
  • 62. cái lẩu mắm nhúng bông so đũa hay một đêm ngủ trên sạp tre trong nhà ngƣời nông dân nào đó, giữa tiếng kẽo kẹt của võng đƣa, tiếng côn trùng rả rích, mùi cá nƣớng và men rƣợu say nồng. Nếu muốn “lên rừng xuống sông”, du khách thƣờng chọn tour đi thuyền dọc sông Hậu, tham quan làng bè nuôi cá, làng dệt thổ cẩm Chăm (Châu Phong), học nghề nấu đƣờng thốt nốt rồi len lỏi trong rừng tràm Trà Sƣ ngắm 62 loại chim, cò sinh sống trong khu rừng tràm nguyên sinh. Chúng tôi từng tháp từng các đoàn du khách quốc tế đi chơi trên sông nƣớc, cùng săn chuột đồng “né lũ”, phụ các cô thôn nữ hái bông điên điển, chài lƣới, kéo cá cùng ngƣời dân vùng Tứ giác Long Xuyên. Sau đó, họ lại đƣa nhau đi tìm hiểu khu di chỉ Óc Eo, tìm lại những dấu tích ở vƣơng quốc Phù Nam xƣa, rồi về lại Châu Đốc viếng Miếu Bà Chúa xứ. Từ đây, du khách có thể nối tour sang Campuchia bằng đƣờng bộ cũng không đắt tiền. Hàng năm, hơn 3 triệu lƣợt khách đến An Giang không chỉ để đến các địa điểm du lịch trên mà còn là để thăm trại cá sấu Tuyết Trọng, thánh đƣờng Mubarak, làng Chăm Châu Giang, chùa Khmer Xà Tón, Tây An cổ tự... : . : - Kênh Thoại Hà do ông Nguyễn Văn Thoại đƣợc vua Gia Long giáng chỉ cho đào vào mùa Xuân năm Mậu Dần (1818). Kênh đào theo lạch nƣớc cũ, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hƣớng Tây Nam, ngang qua chân núi Sập, tiếp với sông Kiên Giang, đổ nƣớc ra biển Tây tại cửa Rạch Giá. Kênh dài 12.410 tầm, rộng 20 tầm, ghe xuồng qua lại thuận lợi. Sau hơn 1 tháng đào xong, vua Gia Long khen và đặt tên kênh là Thoại Hà và ban tên núi Sập là Thoại Sơn, để biểu dƣơng công trạng của quan trấn thủ Nguyễn Văn Thoại. - Kênh Vĩnh Tế bắt đầu đào vào ngày Rầm tháng Chạp năm Kỹ Mão (1819) cũng do Nguyễn Văn Thoại chỉ huy. Kênh đào song song với đƣờng biên giới Việt Nam-Campuchia, bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành (Hà Tiên - Kiên Giang). Kênh đào trong 5 năm với hơn 80.000 dân binh, đào đắp với hàng triệu mét khối đất. Tổng chiều dài của kênh là 205 dặm rƣởi (91km), rộng 7 trƣợng 5 thƣớc (25m) và sâu 6 thƣớc (3m). Nói về lợi ích của kênh Vĩnh Tế, Đại Nam nhất thống chí viết : “Từ đấy đường sông thông, việc biên phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), triều đình cho đúc Cử Đỉnh để làm quốc bảo và tƣợng trƣng cho sự miên viễn của hoàng gia, hình kênh Vĩnh Tế đƣợc chạm vào Cao Đỉnh - Kênh Vĩnh An : Nhà Nguyễn cho đào kênh nầy vào năm 1843, để lấy nƣớc sông Tiền bổ sung cho sông Hậu và tạo ra trục giao thông thủy nối liền giữa 2 trung tâm thƣơng mại Tân Châu và Châu Đốc, thông nối các vị trí quân sự, kinh tế chiến lƣợc quan trọng của biên cƣơng. Kênh dài 17km, rộng 30m và sâu 6m. Song, do cửa đổ của kênh vào sông Hậu đúng vào chỗ giáp nƣớc nên dòng chảy rất yếu, làm cho phù sa bị ứ đọng và bồi lắp dòng kênh. Sau đó vài chục năm, vào mùa khô kênh trở nên cạn kiệt.
  • 63. - Kênh Trà Sư : Theo lời truyền dân gian, kênh nầy đƣợc đào trên cơ sở khai thông con rạch nhỏ có sẵn, vào những năm 1830-1850, để ngăn lũ núi, thau chua rửa phèn và dẫn nƣớc lũ phù sa phục vụ cho khai thác các cánh đồng còn hoang hóa thời bấy giờ thuộc khu vực Thới Sơn – Văn Giáo. Kênh có chiều dài 23km, rộng 10m và sâu trên 2m. - Kênh Thần Nông: Đào năm 1882, chạy dọc giữa huyện Phú Tân, bắt đầu từ xã Phú Vĩnh nối liền kênh Vĩnh An đến rạch Cái Đầm dài 25km, rộng 6m và sâu 3m, để tƣới tiêu cho toàn huyện. - Kênh Vàm Xáng: Thực dân Pháp cho đào từ năm 1914 – 1918. Kênh Vàm Xáng cách kênh Vĩnh An 4km về phía thƣợng lƣu, để lấy nƣớc sông Tiền bổ sung cho sông Hậu, đồng thời tạo ra trục giao thông mới thay cho kênh Vĩnh An. Ban đầu kênh dài 9km, rộng 30m và sâu 6m, sau do cửa đổ nƣớc có lợi thế tạo ra đƣợc độ dốc dòng chảy lớn, nên đến nay kênh có độ rộng trên 100m, sâu trên 20m. Do đó, sau sông Vàm Nao, kênh Vàm Xáng trở thành tuyến kênh quan trọng điều hòa lƣợng nƣớc từ sông Tiền bổ sung cho sông Hậu, tạo lập trục giao thông thủy nối liền 2 con sông nầy cho tàu thuyền lớn nhỏ qua lại dễ dàng quanh năm suốt tháng. - Tiếp đó, trên vùng đất An Giang – Hà Tiên, trong khoảng từ năm 1918 – 1930, thực dân Pháp còn cho đào hệ thống kênh trục bao gồm Rạch Giá – Hà Tiên (chạy song song với bờ biển Tây có 4 kênh nhánh tiêu nƣớc ra biển là : Vàm Răng, Luỳnh Quỳnh, Vàm Rầy và Kiên Lƣơng), Tám Ngàn, Tri Tôn, Ba Thê,Cái Sắn, Mặc Cần Dƣng. Hệ thống kênh trục mới nầy có tầm quan trọng đặc biệt về thủy lợi khai thác vùng đất hoang hóa Tứ giác Long Xuyên, vận tải hàng hóa, phân bổ dân cƣ . . . trên đất An Giang nói riêng và Tứ giác Long Xuyên nói chung thời bấy giờ . - Dƣới chế độ Mỹ-ngụy, từ năm 1957 đến 1960, trên địa bàn An Giang đào thêm đƣợc kênh Mới nối kênh Vĩnh Tế với kênh Tám Ngàn tại Lò Gạch, làm trục tạo nguồn chuyển nƣớc từ kênh Vĩnh Tế vào vùng Bắc Hà Tiên. Năm 1972, kênh Trà Sƣ đƣợc đào thông đoạn từ cầu Trà Sƣ nối với kênh Vĩnh Tế dài 3,2km. - Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (1975): Nhằm khai thác ngày càng có hiệu quả tài nguyên đất và nƣớc, hệ thống thủy lợi của An Giang đƣợc phát triển mạnh mẽ theo qui hoạch toàn diện giữa các vùng, với sự kết hợp nhuần nhuyễn các mục tiêu thủy lợi gắn với giao thông và phân bổ dân cƣ, chống hạn kiệt với tiêu thoát lũ. An Giang đã đào thêm đƣợc kênh 15 (nối kênh Cần Thảo với kênh Mặc Cần Dƣng tại cầu sắt 15 rồi kéo dài đến giáp ranh tỉnh Kiên Giang, song song với kênh Tri Tôn), kênh 10 Châu Phú và kênh núi Chóc Năng Gù (trong Tứ giác Long Xuyên), kênh 7 xã, Cà Mau, Trà Thôn, Ká Tam Bong, Ngã Cạy- Kênh Tròn, kênh Mới, H7 (giữa sông Tiền và sông Hậu). . . Đặc biệt sau các trận lũ lớn liên tục 1994 – 1996, hệ thống tiêu thoá lũ ra biển Tây đƣợc hình thành, trong đó có trục T4, T5 và T6 chuyển nƣớc từ kênh Vĩnh Tế băng qua vùng Bắc Hà Tiên đổ về kênh Rạch Giá – Hà Tiên, mở thêm các kênh nhánh nối kênh Rạch Giá – Hà Tiên với biển Tây nhƣ : Tuần Thống, T6, Lung Lớn ; nạo vét mở rộng kênh Vĩnh Tế, xây dựng các cống ngăn mặn phía biển Tây và các công điều khiển dòng lũ tràn từ Campuchia và từ sông Hậu chảy vào Tứ giác Long Xuyên.
  • 64. Khu Lƣu Niệm Bác Tôn - Cù Lao Ông Hổ Cù lao Ông Hổ thuộc xã Mỹ Hòa Hƣng cách Trung tâm Thành phố Long Xuyên bởi một nhánh sông Hậu chảy qua. Bằng nhiều phƣơng tiện và con đƣờng thủy, bộ khác nhau, chúng ta có thể đến với Cù lao Ông Hổ, nơi đây chúng ta sẽ có dịp thăm lại ngôi nhà lƣu niệm thời niên thiếu của Bác Tôn Đức Thắng và các di vật ngày xƣa của Bác. Ngôi nhà đƣợc xây dựng vào năm 1887, do thân sinh của Bác là cụ Tôn Văn Đề xây dựng với lối kiến trúc hình chữ Quốc, nên sàn lót ván, mái lợp ngói ống, ngang 12 mét, dài 13 mét, rộng hơn 150m2 Vào năm 1984, Bộ Văn Hoá đã ra quyết định công nhận đây là một di tích lịch sử mang tầm cở Quốc gia. Để tƣởng nhớ công lao to lớn của Bác, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 110 của Bác, Nhân Dân tỉnh An Giang đã tiến hành làm lễ khánh thành khu lƣu niệm của Bác với nhiều công trình mới đƣợc xây dựng xung quanh ngôi nhà Bác nhƣ: Đền thờ Bác Tôn đƣợc xây dựng trong khuôn viên 1.600m2 với kiến trúc cổ lầu tam cấp đặc sắc, đối diện với đền thờ là nhà trƣng bày về cuộc đời và sự nghiệp của Bác, nơi đây các hình ảnh, hiện vật, các tƣ liệu và phim hình sống động giúp chúng ta hiểu thêm về Bác, một tấm gƣơng sáng của dân tộc ta. Mê Kông Sông Mê Kông là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông ở Việt Nam. Tính theo độ dài đứng thứ 12 (thứ 7 tại châu Á), còn tính theo lƣu lƣợng nƣớcđứng thứ 10 trên thế giới (lƣu lƣợng hàng năm đạt khoảng 475 triệu m³). Lƣu lƣợng trung bình 13.200 m³/s, vào mùa nƣớc lũ có thể lên tới 30.000 m³/s.Lƣu vực của nó rộng khoảng 795.000 km² (theo số liệu của Ủy ban sông Mê Kông) hoặc hơn 810.000 km² (theo số liệu của Encyclopaedia Britannica 2004). Sông này xuất phát từ vùng núi cao tỉnh Thanh Hải (Qinghai), băng qua Tây Tạng theo suốt chiều dài tỉnh Vân Nam(Trung Quốc), qua các nƣớcMyanma, Thái Lan, Lào, Campuchia trƣớc khi vào Việt Nam. Các quốc gia kể trên (trừ Trung Quốc) nằm trong Ủy ban sông Mê Kông. Giao thông bằngđƣờng thủy trên sông Mê Kông gặp nhiều khó khăn do dòng chảy bị thay đổi nhiều theo mùa, các đoạn chảy xiết và các thác nƣớc cao. So với tiềm năng to lớn nếu đƣợc khai thác đúng mức, hiện nay, chỉ một phần nhỏ của sông đƣợc dùng trong việc dẫn thủy nhập điền và tạo năng lực thủy điện. Tuy nhiên lƣu lƣợng và nhịp độ nƣớc lũ ban phát nhiều lợi ích: biên độ dao dộng cao (sai biệt khoảng 30 lần giữa mùa hạn và mùa nƣớc lũ) đem lại nhiều tốt đẹp cho lối canh tác ruộng lúa ngập cho nhiều vùng rộng lớn. Đặc điểm thủy năng nổi bật của sông Mê Kông là vai trò diều lƣợng dòng nƣớc bởi hồ Tonlé Sap - hồ thiên nhiên lớn nhất Đông Nam Á - ngƣời Việt thƣờng gọi là "Biển Hồ". Ngƣời Tây Tạng cho rằng thƣợng nguồn sông Mê Kông chia ra hai nhánh: nhánh tây bắc (Dzanak chu) và nhánh bắc (Dzakar chu). Nhánh tây bắc đƣợc biết đến nhiều hơn, vị thế gần đèo Lungmug với chiều dài 87,75 km. Nhánh bắc chảy xuống từ rặng núi Guosongmucha. Nhánh này, từ độ cao 5224 m - kinh tuyến đông 94°41'44, vỉ tuyến bắc 33°42'31, gồm hai nhánh phụ có chiều dài 91,12 km và 89,76 km. Đầu nguồn của dòng sông đến nay đã đƣợc xác định rõ qua những cuộc thám hiểm gần đây. Năm 1994, một phái đoàn Trung Quốc và Nhật Bản đã đến nguồn
  • 65. phía Bắc đồng lúc phái đoàn Pháp, do M. Peissel cầm đầu, đến nguồn mạch phía tây với cùng một mụch đích: chứng minh nguồn mạch chính của sông Mê Kông. Sau đó, những cuộc thám hiểm kế tiếp cho đến năm 1999 dƣới sự hợp tác các nƣớc Trung Hoa, Mỹ và Nhật Bản đã chính thức xác minh nguồn mạch sông Cửu Long thuộc nhánh bắc[3]. Các con số về độ dài của sông dao động trong khoảng 4.200 km[4] đến 4.850 km. Gần một nửa chiều dài con sông này chảy trên lãnh thổ Trung Quốc, ở đó đoạn đầu nguồn nó đƣợc gọi là Dza Chu trong tiếng Tây Tạng tức Trát Khúc (扎曲; bính âm: Zā Qū), và nói chung đƣợc gọi là Lan Thƣơng Giang trongtiếng Hán (瀾滄江; bính âm: Láncāng Jiāng; Wade-Giles: Lan-ts'ang Chiang), có nghĩa là "con sông cuộn sóng". Trát Khúc hợp lƣu với một nhánh khác tên là Ngang Khúc (扎曲; bính âm: Áng Qū) ở gần Xƣơng Đô (昌都; bính âm:Chāngdū) tạo ra Lan Thƣơng Giang. Phần lớn đoạn sông này có các hẻm núisâu, và con sông này rời Trung Quốc khi độ cao chỉ còn khoảng 500 m so với mực nƣớc biển. Sau đó, đoạn sông Mê Kông dài khoảng 200 km tạo thành biên giới giữa hai nƣớc Myanma và Lào. Tại điểm cuối của biên giới, con sông này hợp lƣu với sông nhánh Ruak tại Tam giác vàng. Điểm này cũng là điểm phân chia phần Thƣợng và phần Hạ của Mê Kông. Sông Mê Kông sau đó tạo thành biên giới của Lào và Thái Lan, trƣớc khi dòng chảy chạy vào đất Lào. Nó đƣợc ngƣời Lào và ngƣời Thái gọi với tênMènam Khong(Mènam nghĩa là "sông"). Sử Việt Nam thì gọi là Sông Khung. Khoảng sông ở Lào đặc trƣng bởi các hẻm núi sâu, các dòng chảy xiết và những vũng nƣớc sâu khoảng nửa mét vào mùa khô. Nó mở rộng ra ở phía nam Luang Prabang, ở đó nó có thể rộng tới 4 km và sâu tới 100 mét, mặc dù dòng chảy của nó vẫn rất trái ngƣợc nhau. Con sông này sau đó lại làm biên giới của Lào và Thái Lan trong đoạn chảy qua Viêng Chăn, sau đó lại là một đoạn ngắn chảy trên đất Lào. Ở đoạn này có chi lƣu chínhhữu ngạn từ Thái Lan đổ vào: Mènam Mun dài 750 km. Nó bao gồm cả khu vực Si Phan Đôn (bốn ngàn đảo) phía trên thác Khone gần biên giới Campuchia. Thác nƣớc này dài 15 km, cao 18 m khá hùng vĩ và gần nhƣ không thể vƣợt qua đối với giao thông bằng đƣờng thủy. Tại Campuchia, con sông này có tên là sông Mékôngk hay Tông-lê Thơm(sông lớn). Vùng nƣớc chảy xiết Sambor phía trên Kratie là cản trở giao thông cuối cùng. Ở phía trên Phnom Penh nó hợp lƣu với Tông-lê Sáp, con sông nhánh chính của nó ở Campuchia. Vào mùa lũ, nƣớc chảy ngƣợc từ sông Mê Kông vào Tông-lê Sáp. Bắt đầu từ Phnôm Pênh, nó chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Ba Thắc(sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220-250 km mỗi sông. Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là sông Lớn, sông Cái, hay sông Cửu Long. Sự khó khăn về giao thông thủy của con sông này làm chia cắt con ngƣời sống hai bên bờ hơn là liên kết họ. Nền văn minh đƣợc biết sớm nhất là nềnvăn hóa Mã Lai, Ấn Độ hóa hồi thế kỷ 1, của Vƣơng quốc Phù Nam, trong lƣu vực sông Mê Kông. Sự khai quật ở Óc Eo, gần Rạch Giá ngày nay, đã tìm thấy những đồng tiền
  • 66. khác xa với Đế chế La Mã. Vƣơng quốc Phù Nam đƣợc nối tiếp bởi quốc gia Khmer Chân Lạp (Chenla) cho đến thế kỷ 5. Đế chế Khmer Angkor là quốc gia chịu ảnh hƣởng của văn hóa Ấn Độ cuối cùng trong khu vực. Sau khi quốc gia này bị tiêu diệt sông Mê Kông đã là đƣờng biên giới của các quốc gia đối đầu nhau nhƣ Xiêm và Việt Nam, với Lào và Campuchia nằm trong tầm ảnh hƣởng của họ. Ngƣời châu Âu đầu tiên thám hiểm sông Mê Kông là ngƣời Bồ Đào Nha có tên là Antonio de Faria vào năm 1540; bản đồ của ngƣời châu Âu năm 1563có vẽ lại con sông này, mặc dù chỉ có một đoạn nhỏ ở khu vực đồng bằng châu thổ. Sự quan tâm của ngƣời châu Âu không có chung mục đích: nhữngngƣời Tây Ban Nha và ngƣời Bồ Đào Nha chỉ thực hiện những cuộc thám hiểm nhằm mục đích truyền giáo và buôn bán, trong khi đó ngƣời Hà LanGerrit van Wuysthoff đã dẫn đầu một cuộc thám hiểm đến tận Viêng Chăn (1641-1642). Ngƣời Pháp có sự quan tâm đặc biệt tới khu vực này vào giữa thế kỷ 19, sau khi chiếm đóng Sài Gòn năm 1861 và áp đặt sự bảo hộ Campuchia năm 1863. Cuộc thám hiểm có hệ thống đầu tiên diễn ra năm 1866-1868 bởi ngƣời Pháp là Ernest Doudard de Lagrée và Francis Garnier. Họ đã phát hiện ra rằng Mê Kông có quá nhiều thác nƣớc và những chỗ chảy xiết để có thể coi là có lợi trong giao thông thủy. Từ năm 1893, ngƣời Pháp mở rộng quyền kiểm soát của họ đối với con sông này tới tận Lào bằng việc thiết lập ra Liên bang Đông Dƣơng trong những năm đầu tiên của thế kỷ 20. Điều này đã chấm dứt sau Chiến tranh Đông Dƣơng lần thứ nhất kết thúc và ngƣời Mỹ can thiệp vào khu vực. Sau Chiến tranh Việt Nam, những bất đồng giữa Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc khi đó đã hạn chế sự hợp tác của các bên trong việc khai thác tiềm năng của dòng sông này. Tuy nhiên, hiện nay các bên đã xích lại gần nhau hơn trong vấn đề này. Theo tiến sĩ C. Hart Schaaf, cựu ủy viên Ủy ban Mê Kông, "...Đây là ngƣời khổng lồ đang ngủ, chứa trong lòng một khối tiềm năng to tát về thủy điện, về dẫn thủy nhập điền củng nhƣ khả năng phòng lụt, một nguồn năng lƣợng bị bỏ quên...". Có hai vấn đề chính gây mâu thuẫn giữa các bên là việc xây dựng các con đập hay việc phá hủy những chỗ chảy xiết. Một loạt các đập đã đƣợc xây dựng trên các nhánh của dòng sông này, đáng kể nhất là đập Pak Mun tại Thái Lan. Nó bị công kích dữ dội do chi phí cao cũng nhƣ ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng và tới cuộc sống của những khu dân cƣ chịu ảnh hƣởng. Ngƣời Trung Quốc hiện đang tiến hành một chƣơng trình lớn về xây dựng các đập trên sông: họ đã hoàn thành các đập tại Mạn Loan, Đại Triều Sơn Cảnh Hồng,đang tiến hành xây đập Tiểu Loan và khoảng hơn một chục đập khác đang đƣợc nghiên cứu. Ngƣời ta lo ngại rằng các đập này sẽ ngăn cản chuyển động của trầm tích và sẽ gây thiệt hại cho nông nghiệp và nghề cá ở phía hạ lƣu. Sự giảm đi của các dao động mức nƣớc theo mùa cũng sẽ ảnh hƣởng mạnh đến Tông-lê Sáp và Biển Hồ. Các chính phủ Lào và Campuchia cũng có kế hoạch xây dựng các đập ngăn nƣớc, hiện đang bị một số ngƣời phản đối. Chính quyền Trung Quốc cũng thực hiện việc làm sạch các tảng đá và cồn cát từ dòng chảy để tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông, và điều này cũng khuyến khích Lào làm nhƣ vậy. Các nhà môi trƣờng cho rằng điều này sẽ làm tăng sự lƣu thông nƣớc và kết quả của nó là sự gia tăng xói mòn cũng nhƣ gây thiệt hại cho nguồn cá.
  • 67. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên cho biết các nhà khoa học sẽ tìm kiếm các sinh vật nhƣ cá úc, cá trê, cá đuối gai độc khổng lồ, cá nhái răng nhọn, cá chép lớn, cá tầm (để làm trứng cá muối) và cá hồi ăn thịt ở sông Mê Kông – các loài cá này có thể nặng tới hơn 90 kg và dài hơn 1,80 mét. Zed Hogan, phụ trách dự án do WWF và Hội địa lý quốc gia tài trợ cho biết, các động vật này là "độc nhất" và "đang biến mất với tốc độ nhanh chóng". Theo Hogan, khi nghiên cứu cá úc khổng lồ ở sông Mê Kông, Campuchia, các nhà khoa học sẽ theo dõi sự di chuyển của cá với hy vọng hiểu thêm về hƣớng di trú của chúng và nguyên nhân chúng bị chết. Sự biến mất các loài cá này là dấu hiệu đầu tiên cảnh báo tình trạng đánh bắt quá mức hoặc các xáo trộn khác ở các sông, hồ nơi chúng cƣ trú. Một số sinh vật khổng lồ nƣớc ngọt đƣợc ghi vào sách đỏ các loài đang bị đe dọa của Hiệp hội Bảo tồn Thế giới. Cá úc khổng lồ sông Mê Kông đƣợc coi là loài cá nƣớc ngọt lớn nhất cùng họ với loài cá nhám chó, đã đƣợc đƣa vào danh sách những loài bị đe dọa vào năm 2003, sau khi nghiên cứu chỉ ra số lƣợng cá giảm ít nhất 80% trong hơn 13 năm qua. Robin Abell, nhà sinh học của WWF cho biết: "Các loài cá khổng lồ là những sinh vật nƣớc ngọt có trọng lƣợng tƣơng đƣơng với voi và tê giác và nếu chúng biến mất thì thế giới sẽ bất ổn. Cuối cùng, chúng ta sẽ nhận thức tốt hơn về cách quản lý việc đánh bắt và bảo vệ các nơi cƣ trú nhằm cứu vớt các loài trong tƣơng lai". Sông Cửu Long Sông Cửu Long, hay Cửu Long Giang là tên gọi chung cho các phân lƣu của sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ của Việt Nam. Bắt đầu từ Phnom Penh, nó chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Bassac (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằngchâu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220-250 km mỗi sông. Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là sông Lớn, sông Cái, hay sông Cửu Long. Lƣu lƣợng hai sông này rất lớn, khoảng 6.000 m³/s về mùa khô, lên đến 120.000 m³/s vào mùa mƣa, và chuyên chở rất nhiều phù sa bồi đắp đồng bằng Nam Bộ. Sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên(An Giang), Thành phố Cần Thơ, Sóc Trăng (Sóc Trăng) và đổ ra biển trƣớc kia bằng ba cửa: cửa Định An,cửa Ba Thắc, cửa Tranh Đề, cửa Ba Thắc khoảng thập niên 1970 đã bị bồi lấp nên sông Hậu chỉ còn hai cửa biển ngày nay. Sông Tiền có lòng sông rộng với nhiều cù lao ở giữa dòng, chảy qua Tân Châu (An Giang), Hồng Ngự và Cao Lãnh(Đồng Tháp) đến Cai Lậy (Tiền Giang) thì chia làm bốn sông đổ ra biển bằng sáu cửa: Sông Mỹ Tho, chảy qua tỉnh lỵ tỉnh Tiền Giang là thành phố Mỹ Tho và phía nam Gò Công, ra biển bằng cửa Đại và cửa Tiểu qua đƣờng sông Cửa Tiểu Sông Hàm Luông, chảy qua phía nam tỉnh Bến Tre, ra cửa Hàm Luông Sông Cổ Chiên, làm thành ranh giới tỉnh Bến Tre-Trà Vinh (tên cũ Vĩnh Bình), đổ ra biển bằng cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu. Sông Ba Lai chảy qua phía bắc tỉnh Bến Tre (tên cũ Kiến Hòa), ra cửa Ba Lai. Do chín cửa sông nguyên thuỷ này mà sông Mê Kông còn đƣợc gọi là sông Cửu
  • 68. Long, tức "sông chín rồng". Khoảng 90 triệu ngƣời dân có cuộc sống dựa vào con sông này. Sự khó khăn về giao thông thủy của con sông này làm chia cắt con ngƣời sống hai bên bờ hơn là liên kết họ. Nền văn minh đƣợc biết sớm nhất là nền văn hóa Mã Lai, Ấn Độ hóa hồi thế kỷ 1, của Vƣơng quốc Phù Nam, trong lƣu vực sông Mê Kông. Sự khai quật ở Óc Eo, gần Rạch Giá ngày nay, đã tìm thấy những đồng tiền khác xa với Đế chế La Mã. Vƣơng quốc Phù Nam đƣợc nối tiếp bởi quốc gia Khmer Chân Lạp (Chenla) cho đến thế kỷ 5. Đế chế Khmer Angkor là quốc gia chịu ảnh hƣởng của văn hóa Ấn Độ cuối cùng trong khu vực. Sau khi quốc gia này bị tiêu diệt sông Mê Kông đã là đƣờng biên giới của các quốc gia đối đầu nhau nhƣ Xiêm và Việt Nam, với Lào và Campuchia nằm trong tầm ảnh hƣởng của họ. Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (tổng diện tích khoảng 3,3 triệu hecta đất nông nghiệp) khi chảy vào Việt Nam, có khoảng 17 triệu ngƣời đang sinh sống vào thời điểm đầu 2006, tăng 5 triệu so với 16 năm trƣớc đó. Trong số họ, có khoảng 9,5 triệu ngƣời trong độ tuổi lao động (trên 15 tuổi), hay 55%. Sông Tiền Sông Tiền hay Tiền Giang là tên của đoạn chảy trên lãnh thổ Việt Nam của dòng chính của sông Mê Kông. Sông Tiền có bốn phân lƣu và đổ ra biển Đông qua sáu cửa sông, tính từ phía bắc xuống là: Cửa Tiểu và cửa Đại là hai cửa sông của sông Mỹ Tho, chảy qua Mỹ Tho và Gò Công. Cửa Ba Lai của sông Ba Lai chảy qua phía bắc Bến Tre. Cửa Hàm Luông, phía nam Bến Tre, thuộc về sông Hàm Luông. Hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu của sông Cổ Chiên, chảy qua thị xã Trà Vinh. Tiền Giang chảy qua các tỉnh Việt Nam là Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, và Trà Vinh. Sông Hậu Sông Hậu, hay Hậu Giang, là một trong hai phân lƣu của sôngMê Kông. Phân lƣu còn lại là sôngTiền. Mê Kông tách ra thành sông Tiền và sông Hậu tạilãnh thổ Campuchia. Ở Campuchia, sông Hậu đƣợc gọi là sông Bassac (Tonlé Bassactheo tiếng Khmer). Vì thếnó còn cótên gọi nữa là sông Ba Thắc. Sông Hậu đổ ra biển Đông qua cửa Tranh Đề và cửa Định An. Cửa Ba Thắc đã bị đất bồi từ khoảng thập niên 1970 nên không còn nữa. Trên lãnh thổ Việt Nam, sông Hậu chạy qua tỉnh An Giang, làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và Cần Thơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng. Đoạn rộng nhất của con sông nay là giữa huyện Cầu Kè(Trà Vinh) và huyệnLong Phú(Sóc Trăng) khoảng gần 4 km . Mắm Châu Đốc Mắm là một món ăn thuộc loại phổ biến nhất ở miền Tây. Nhƣng ở Châu Đốc, mắm mới thể hiện hết sự phong phú của loại thực phẩm độc đáo này. Mắm Châu Đốc trở thành một sản phẩm “độc chiêu” của An Giang, hàng năm “móc” hàng tỉ đồng từ túi tiền của du khách.
  • 69. Vào chợ Châu Đốc, khách có thể thấy đến hơn 30 loại mắm. Có loại chỉ cần thêm chút nguyên liệu là ăn liền nhƣ: mắm ruốc, mắm thái, mắm ba khía, mắm tôm, mắm tép, mắm còng. Có loại phải qua công đoạn chế biến công phu nhƣ: mắm sặt, mắm trê, mắm lóc, mắm rô, mắm trèn, mắm cá linh, mắm cá chốt, mắm chuột, mắm cá cơm, mắm cá thiểu, mắm cá lòng tong, mắm cá mè vinh, mắm cá trèn lá, mắm cá trèn mỡ, mắm cá trèn bầu... Nhƣng đến Châu Đốc, khách thƣờng tìm mua món mắm ruột. Ban đầu, món này làm từ ruột và trứng cá lóc nên hiếm. Mắm ruột nguyên thủy là quà quý của nơi sản xuất dành cho gia đình, bạn bè cho những mối quan hệ quan trọng. Ngày nay, muốn mua mắm ruột, khách hàng phải đặt trƣớc mới có. Mắm ruột hiện nay chỉ là thịt của mắm cá lóc xé sợi, trộn đu đủ. Mắm đỏ au, thơm lừng bày trên dĩa với thịt ba rọi xắt mỏng, tôm lõi và cá lóc đồng nƣớng trui đã trở thành món ăn đậm đà, giàu tính văn hóa trong ẩm thực Nam bộ. Mắm thái đƣợc làm từ cá bông, cá lóc trộn với đu đủ xanh thái sợi “bắt” cơm đến mức ngƣời ăn đã “no bụng” mà vẫn “đói con mắt”. Mắm lóc, mắm linh, mắm sặt chƣng hoặc nấu lẩu, làm nƣớc lèo thì phong phú vô hạn. Trên bàn ăn gia đình hay trong những buổi họp mặt quan trọng, món mắm bình dị của Châu Đốc chễm chệ “ngự” trên bàn ăn và có thể “đấu” với bất kỳ món “đặc sản” nào. Tại chợ Châu Đốc cũng nhƣ các tiệm bán mắm ven đƣờng có rất nhiều thƣơng hiệu nhƣng nổi danh nhất là thƣơng hiệu mắm 55555 của bà giáo Khỏe, mắm bà giáo Thảo, mắm Hai Xuyến... Chỉ mất khoảng 15.000 - 20.000 đồng cho nửa kg mắm, khách du lịch có thể mang đến cho ngƣời thân, bạn bè một niềm vui nho nhỏ sau chuyến đi. Nhiều khách hàng e ngại khi mua mắm về làm quà là mùi mắm đặc trƣng có thể “lây” sang hành lý, trang phục nhƣ những ngƣời bán hàng. Tuy nhiên, ở đây cách vô bao, đóng gói của ngƣời sản xuất rất kín, kỹ lƣỡng khiến nỗi e dè kia không còn là nỗi bận tâm của du khách. Về An Giang ăn mắm Bà Giáo Khoẻ Mắm Bà Giáo Khoẻ là món ăn nổi tiếng nhất của An Giang. Đối với ngƣời Nam Bộ, trong nhà luôn phải có hũ mắm. Biết bao nhiêu món ăn phải nấu với mắm mới ngon. Mắm cá lóc, cá linh, cá sặc… dùng để nấu lẩu mắm, bún mắm. Mắm ruốc dùng để nấu bún bò, kho quẹt với thịt ba rọi xắt nhỏ. Dƣa mắm ăn với thịt heo luộc, kèm theo rau ghém, ăn với cháo trắng, cơm trắng… Bà nội trợ nào cũng biết cách làm mắm cá, cũng chỉ là cá và các loại phụ liệu cho vào lu, khạp rồi ủ kín. Nhƣng nhờ những bí quyết gia truyền riêng nên vị của Mắm Bà Giáo Khoẻ vẫn thơm và đậm đà hơn. Mắm của bà vừa ngon, vừa đảm bảo vệ sinh nên chẳng mấy chốc đã nức tiếng xa gần. Qua nhiều chục năm, tiếng tăm đó đã vƣợt qua ranh giới của huyện, của tỉnh và bây giờ nó theo chân Việt Kiều đi ra cả nƣớc ngoài. Bà Giáo Khoẻ già mất đã lâu lắm rồi, các con của bà bây giờ cũng đã già, thế hệ thứ ba, thứ tƣ đã bắt tay vào làm mắm. Ƣớc mơ của một bà giáo nghèo chỉ giản dị là có đủ tiền để nuôi con. Nhƣng sự cố gắng của bà không những để lại cho đời sau một nghề quý để có cuộc sống ấm no, mà còn làm rạng danh cả vùng đất Châu Đốc. Thƣơng hiệu Mắm Bà Giáo Khoẻ nhiều đời vẫn đƣợc giữ gìn bây giờ cũng đứng
  • 70. trƣớc sự cạnh tranh khốc liệt của thị trƣờng. Hàng loạt các nhãn hàng có tên gọi na ná cũng xuất hiện làm ảnh hƣởng đến tiếng tăm của Mắm Bà Giáo Khoẻ. Tuy nhiên với ai đã từng ăn Mắm Bà Giáo Khoẻ thì hoàn toàn có cơ sở để tin một điều rằng: cho dù qua muôn đời sau, Mắm Bà Giáo Khoẻ sẽ mãi là một món đặc sản không thể thiếu của đất An Giang. . Khách sạn Đông Xuyên Là loại khách sạn tiêu chuẩn ba sao với sức chứa 60 phòng. 9A Lƣơng Văn Cù, TP. Long Xuyên, An Giang Tel: (076) 942 260, Fax: (076) 942 268 Giá trung bình: 20-40 (US$) Khách sạn Hoà Bình 2 Là loại khách sạn tiêu chuẩn hai sao với sức chứa 36 phòng. 8 Lê Hồng Phong, TP. Long Xuyên, An Giang Tel: (076) 954 955, Fax: (076) 954 964 Giá trung bình: 10-40 (US$) Khách sạn Long Xuyên Là loại khách sạn tiêu chuẩn hai sao với sức chứa 38 phòng. 19 Nguyễn Văn Cƣng, TP. Long Xuyên, An Giang Tel: (076) 841 927, Fax: (076) 843 483 Giá trung bình: 10-17 (US$) Khách sạn Kim Phát Là loại khách sạn tiêu chuẩn hai sao với sức chứa 26 phòng. 311/2 Trần Hƣng Đạo, TP. Long Xuyên, An Giang Tel: (076) 840 333/ 944 333, Fax: (076) 847 052 Giá trung bình: 10-20 (US$) – ( 56 Km ) : . Châu Đốc đƣợc hình thành địa giới hành chính vào năm 1757, khi chúa Nguyễn giao cho Nguyễn Cƣ Trinh vào và thành lập đạo Châu Đốc cùng với đạo Tân Châu và đạo Đông Khẩu ( Sa Đéc ). Sau khi Gia Long lên ngôi, năm 1805 đã đặt lại địa giới hành chính Châu Đốc thuộc huyện Tây Xuyên, trấn Hà Tiên, Châu Đốc lúc này gọi là Châu Đốc Tân Cƣơng. Năm 1808, Châu Đốc thuộc huyện Vĩnh Định, phủ Vĩnh Viễn, trấn Vĩnh Thanh, thuộc Gia Định Thành. Năm 1815, triều Nguyễn cho xây thành Châu Đốc. Đến 1825, Châu Đốc tách riêng thành Châu Đốc trấn. Năm 1832, Minh Mạng đổi trấn thành Tỉnh, phủ Gia Định chia thành Nam Kỳ lục tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tƣờng, Vĩnh Long, Hà Tiên và An Giang. Trấn Châu Đốc đổi thành tỉnh An Giang, tỉnh lỵ đặt tại thành Châu Đốc. Để xứng đáng là tỉnh lỵ, năm 1834 vua Minh Mạng cho triệt phá thành Châu Đốc cũ (1815) xây dựng thành Châu Đốc mới theo hình bát quái. Năm 1868, sau khi Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 24 Hạt Tham Biện. Trong đó, Hạt Châu Đốc trông coi Hạt Đông Xuyên ( Long Xuyên ) và Sa Đéc. Ngày 30/12/1899, Tòan quyền
  • 71. Đông Dƣơng ra Nghị định: đổi Hạt Tham biện thành Tỉnh; chia An Giang thành 2 tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên. Đến cuối năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm sát nhập Châu Đốc với Long Xuyên thành tỉnh An Giang, địa bàn Châu Đốc nằm trên xã Châu Phú thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Phú tỉnh An Giang. Năm 1964, sau khi Chính quyền Sài Gòn tách tỉnh, Châu Đốc thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Phú, tỉnh Châu Đốc cho đến ngày giải phóng 30/4/1975. Trong Cách mạng tháng 8, lực lƣợng cách mạng khởi nghĩa giành chính quyền ngày 24 tháng 8 năm 1945. Đến 20/01/1946, Pháp chiếm lại Châu Đốc. Theo sự phân chia của chính quyền Cách Mạng, 06/3/1948, Châu Đốc thuộc huyện Châu Phú A của tỉnh Long Châu Hậu. Đến cuối năm 1950, huyện Châu Phú A thuộc huyện Long Châu Hà. Từ năm 1957, Châu Đốc thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Đến giữa năm 1966, thành lập thị xã ủy Châu Đốc và mùa nƣớc năm 1967 thực hiện chỉ đạo của Khu ủy khu 8 và Tỉnh ủy An Giang trong hội nghị mở rộng tại núi Tô, Châu Đốc đƣợc chọn làm mặt trận chính của tỉnh trong chiến dịch Xuân 68. Năm 1971, huyện Châu Phú vẫn thuộc tỉnh An Giang sau khi tách tỉnh Châu Hà. Cho đến tháng 5/1974, huyện Châu Phú thuộc tỉnh Long Châu Hà theo Hội nghị thƣờng trực Trung ƣơng Cục cho đến ngày giải phóng. Tháng 2/ 1976, thị xã Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang, gồm 2 xã: Châu Phú A và Châu Phú B. Ngày 27/01/1977, nhận thêm xã Vĩnh Ngƣơn của huyện Châu Phú theo Quyết định số 199/TC.UB của UBND tỉnh An Giang. Ngày 25/4/1979, chuyển 2 xã Châu Phú A, Châu Phú B thành phƣờng Châu Phú A, Châu Phú B và thành lập xã Vĩnh Mỹ theo Quyết định 181/CP của Chính Phủ. Ngày 23/8/1979, nhận thêm xã Vĩnh Tế của huyện Châu Phú theo Quyết định 300/CPcủa Chính Phủ. Từ đó, thị xã Châu Đốc gồm phƣờng Châu Phú A, phƣờng Châu Phú B, xã Vĩnh Ngƣơn, xã Vĩnh Tế và xã Vĩnh Mỹ cho đến nay. Chùa Tây An do Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn (tên thật là Doãn Ôn) xây dựng năm 1847. Qua nhiều đợt trùng tu, chùa trở thành một kiến trúc độc đáo của khu vực núi Sam, đã đƣợc Bộ Văn Hóa xếp hạng. . 1. KHÁCH SẠN VICTORIA CHÂU ĐỐC 32 Lê Lợi, Châu Đốc, An Giang, Việt Nam. Phone: (84 - 76)865010- Fax: (84 - 76)865020 Email:victoriachaudoc@hcm.vnn.vn Khách sạn Victoria Châu Đốc nằm tại thị xã Châu Đốc, thuộc tỉnh An Giang của Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cách thành phố Hồ Chí Minh 285 km theo hƣớng tây nam, gần biên giới Campuchia đây là vùng đất nổi bật tinh thần giàu tryền thống văn hoá. Các phòng họp tại khách sạn Victoria Châu Đốc với các trang thiết bị tiện nghi và hiện đại đƣợc trang bị bên trong phòng, là nơi thuận tiện cho việc tổ chức các hội nghị, hội đàm, các khoá đào tạo. Các trang thiết bị gồm có:Màn hình 3 chân, đầu chiếu Laser, micrô không giây, tivi và điều khiển từ xa, máy quay phim kỹ thuật số, Hệ thống âm thanh cao tầng, máy fax, máy vi tính và máy in, biểu đồ, bảng trắng;.
  • 72. Khách sạn có tổng cộng 93 phòng, trong đó có 33 phòng Victoria Superior, 57 phòng loại Victoria Deluxe và 3 phòng loại Victoria Junior Suites. Khách sạn Victoria Châu Đốc đƣợc thiết kế kết hợp giữa nét thủ công truyền thống của ngƣời Việt Nam và tiện nghi của một khách sạn Quốc Tế các ttran thiết bị trong phòng có: Điều hoà nhiệt độ có điều khiển từ xa Điện thoại trực tiếp quốc tế Truyền hình cáp thu qua vệ tinh CNN, CNBC, TV5, MTV, ESPN, HBO Tủ lạnh Tủ đựng cá nhân trong phòng Phòng tắm riêng có bồn tắm Các vật dụng tắm trong phòng 2. KHÁCH SẠN BẾN ĐÁ NÚI SAM Quốc lộ 91, Phƣờng Núi Sam, Thị Xã Châu Đốc, Tỉnh An Giang, Việt Nam Phone: ( 84 - 76) 861745/ 46 - 861705- Fax: ( 84 - 76) 861530 Email:bendanuisam@hcm.vnn.vn Khách sạn gồm 70 phòng đƣợc thiết kế trang trí với nội thất hiện đại , có phòng dành riêng cho khách đoàn và gia đình. Hệ thống máy điều hoà, truyền hình parapol, điện thoại Quốc tế, mini-bar, phòng tắm với vòi sen, hệ thống máy nƣớc nóng, lạnh. Nhà hàng với sức chứa 500 khách, chuyên phục vụ các món ăn truyền thống Nhà hàng Hoa Sứ Nhà hàng phục vụ tiệc buffet Dịch vụ giặt ủi Tắm hơi Dịch vụ Steamed bath Dịch vụ Sauna Dịch vụ Massage Karaoke Sân tennis Dịch vụ du lịch Phòng hội nghị, hội thảo (sức chứa từ 40 đến 200 khách) 3. KHÁCH SẠN TRUNG NGUYÊN 86 Bạch Đằng, Châu Đốc, An Giang, Việt Nam Phone:( 84 - 76)866158- 561561- Fax: ( 84 - 76)868674 Gồm 25 phòng đƣợc thiết kế sang trọng, đầy đủ tiện nghi hiện đại: - Hệ thống máy điều hoà - Quạt - Truyền hình vệ tinh - Điện thoại Quốc tế - Phòng tắm, vòi sen - Nhà hàng với sức chứa 200 khách chuyên phục vụ các món Á Châu - Dịch vụ giặt ủi
  • 73. - Dịch vụ khác: Tắm hơi, karaoke - Bãi đậu xe rộng, an toàn 4. KHÁCH SẠN SÔNG SAO 12 -13 Nguyễn Hửu Cảnh, Châu Đốc, An Giang, Việt Nam Phone:( 84 - 76) 561777 - 561778- Fax: ( 84 - 76) 868820 Gồm 25 phòng đƣợc thiết kế sang trọng với nội thất, tiện nghi hiện đại: hệ thống điều hoà, quạt, truyền hình vệ tinh, điện thoại Quốc tế và phòng tắm có vòi sen Chƣơng trình giảm giá phòng đặc biệt dành cho khách đoàn, khách ở dài hạn Nhà hàng chuyên phục vụ các món ăn Châu Á với sức chứa 200 khách Dịch vụ giặt ủi - Các dịch vụ khác: tắm hơi – karaoke - Nơi đậu xe rộng, an toàn Thuyết Minh điểm Châu đốc- An Giang Lên núi Ba Thê khám phá nhiều thú vị và bất ngờ Núi Ba Thê còn có tên gọi là Vọng Thê, tên gốc là Hoa Thê Sơn, đời các vua nhà Nguyễn, vì kỵ húy nên đổi tên. Đây là một ngọn núi nằm lẻ loi giữa đồng Tứ giác Long Xuyên, ngày nay thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Qua thị trấn Núi Sập một đỗi, ta sẽ đến chợ Ba Thê, nay có tên mới là thị trấn Óc Eo. Nơi đây đã từng là một thƣơng cảng phồn thịnh thời trung cổ bị vùi lấp dƣới lớp đất phù sa hơn 3m. Ngƣời ta đã phát hiện di chỉ nầy vào năm 1942 và khám phá ra thành cổ Óc Eo vào năm 1944, lúc đào kinh xáng Ba Thê. Có nhiều cổ vật thu đƣợc nhƣ khuôn chế tác vật dụng và nữ trang bằng gốm, đá, vàng, đồng. Các tƣợng đá mang dấu ấn văn hóa Phật Giáo và Hindu giáo rất đa dạng nhƣ tƣợng Phật, linh vật, Yoni và Linga có niên đại cách đây trên dƣới một thiên niên kỷ rƣỡi. Đặc biệt là nhóm tƣợng Ganesa với mình ngƣời đầu voi trông rất ấn tƣợng. Bảo tàng tỉnh An Giang hiện có trƣng bày nhiều hiện vật và phiên bản của nhiều cổ vật, tƣợng, xƣơng thú hóa thạch... Muốn lên núi Ba Thê phải mua vé: 7.000 đồng cho hai ngƣời, một xe. Có một con đƣờng nhỏ lát bê tông bề ngang chừng 3m, ngoằn ngoèo uốn lƣợn chạy quanh co lên đỉnh. Xe hon-đa phải gài số 1, leo núi. Hai bên đƣờng là rừng cây thâm u, vách đá và vực sâu thăm thẳm. Đƣờng lên đỉnh chỉ chừng 2km, nhƣng phải chạy xe độ 15 phút. Bên đƣờng, phía vực, có lan can bảo hiểm, khá an toàn cho ngƣời, xe. Con đƣờng nầy có từ đời Pháp thuộc, đến chế độ cũ đƣợc sửa lại để phục vụ cho mục đích quân sự. Năm 2002, đƣờng lên núi Ba Thê đƣợc Nhà nƣớc đầu tƣ xây dựng tƣơng đối hoàn chỉnh, an toàn để phục vụ cho du lịch. Nhƣng khách ở đây chƣa đông, dù đƣờng đến Ba Thê khá thuận tiện, chỉ cách thành phố Long Xuyên chừng 28km, già nửa đƣờng đi Thất Sơn - Núi Cấm. Trên đỉnh Vọng Thê có ngôi chùa cổ tên Sơn Tiên Tự đƣợc dựng vào năm 1933. Trƣớc sân chùa có tƣợng Phật Quan Thế Âm bồ tát cao chừng 8m, đứng trên tòa sen, khoác áo choàng đỏ, uy nghi, tự tại, sừng sững trên đỉnh núi nhƣ nhìn bao quát khắp thế gian. Ở trên đỉnh núi mây bay là đà mang hơi sƣơng mát lạnh, cỏ cây xanh tốt ngút ngàn. Có nhiều tiếng chim hót líu lo, ríu rít khắp nơi. Thỉnh thoảng tiếng chuông chùa ngân vọng thênh thang, bàng bạc khắp núi rừng làm bâng khuâng, xao xuyến lòng ngƣời. Cạnh ngôi tháp xá lợi cổ bên chùa, có bia kỷ niệm ghi lại
  • 74. chiến công oanh liệt của quân giải phóng Ba Thê - Thoại Sơn, đã tiêu diệt gọn cứ điểm của địch trên đỉnh Hoa Thê Sơn vào ngày 6 tháng 5 năm 1968. Có một di tích rất lạ lùng gợi trí tò mò, thích thú cho khách. Đó là hòn đá hoa cƣơng cao chừng 3m, to cỡ gốc cổ thụ bốn năm ngƣời ôm, nằm bên hông chánh điện của Sơn Tiên Tự. Trên mặt viên đá khổng lồ ấy có dấu bàn chân ngƣời to hơn bình thƣờng, rất rõ. Ngƣời ta cho đó là “bàn chân tiên”. Các sƣ trên núi kể lại: xƣa kia lúc mới tạo sơn, đá núi còn mềm nhƣ đất sét, có một vị tiên đã ấn bàn chân mình lên đá để làm dấu... Đi xuống phía triền núi cách chùa Sơn Tiên chừng 10m sẽ thấy một công trình mới. Đó là nhà trƣng bày, sẽ trƣng bày những cổ vật, hiện vật có liên quan đến lịch sử cũng nhƣ văn hóa của Ba Thê- Óc Eo. Điều đặc biệt là công trình nầy có phong cách kiến trúc rất giống những đền đài của các nƣớc vùng Nam Á, dấu ấn của Hindu giáo thể hiện rất rõ qua kiến trúc mái vòm. Các mặt vách chung quanh công trình đều có tƣợng thần Ganesa mình ngƣời, mặt đầu voi, ngồi với tƣ thế nghiêm trang, nửa nhƣ trầm mặc thiền định, nửa nhƣ răn đe canh giữ. Lan can bao bọc sân trang trí tƣợng nhỏ. Khu nhà trƣng bày có chu vi hình vuông chừng 40m, tam cấp cửa chính ở phía mặt trời mọc, là nơi ngự trị của các thần linh theo quan niệm Ấn Độ giáo. Ở ngọn núi Nhỏ cạnh bên, có một hòn đá trơ vơ, trên đầu có một phiến đá tròn giống cái nón. Truyền thuyết và huyền thoại ở vùng nầy kể rằng: xƣa kia, có một ngƣời lên núi tìm tu, xa lánh thế gian, bụi đời. Nhƣng vị nầy lòng trần chƣa rủ sạch, nên chiều chiều ngóng vọng về phƣơng xa nhớ nhà, nhớ vợ. Sau đó, ông chết đi... Ngƣời ta cho rằng vị sƣ kia đã hóa đá, giống nhƣ chuyện Hòn Vọng Phu ở miền Trung và miền Bắc, nhƣng đây lại là “Vọng Thê”. Phía Bắc núi Ba Thê còn có một tảng đá có dáng hình nhƣ một cây đao vĩ đại. Dân gian gọi đó là Thạch Đại đao, là bửu bối của trời đất, dành để trừng trị bọn gian ác. Nắng đã xế về Tây. Đứng trên đỉnh Ba Thê nhìn xuống đồng bằng xa xa mờ ảo trong khói lam chiều, bạn sẽ thấy tâm hồn nhƣ lắng lại, lòng lâng lâng cảm giác thoát tục, giữa bốn bề sơn thủy hữu tình. Ba Thê là tên một cụm núi nằm trên địa bàn thị trấn Óc Eo và các xã Vọng Thê, Vọng Đông, thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Cụm núi Ba Thê gồm 5 ngọn núi là: núi Ba Thê (núi Lớn), núi Nhỏ, núi Tƣợng, núi Trọi và núi Chóc. Trong đó, núi Ba Thê là lớn nhất với độ cao 221 m, chu vi 4.220 m, thuộc thị trấn Óc Eo. Núi Nhỏ cao 63 m, chu vi 700 m nằm trên địa bàn xã Vọng Thê. Núi Tƣợng cao 60 m, chu vi 970 m, ở xã Vọng Đông. Núi trọi cao 21 m, chu vi 400 m, thuộc xã Vọng Đông. Núi Chóc cao 19 m, chu vi 550 m, thuộc địa bàn xã Vọng Đông. Nguồn gốc tên gọi - Theo sách Đại Nam nhất thống chí: Núi Ba Thê vốn có tên là Hoa Thê Sơn. Núi có 3 chóp đứng, có nhiều cây cổ thụ xanh mát, mặt trƣớc là lung, đầm lầy. Vào triều Minh Mạng, do kỵ húy tên hoàng hậu Hồ Thị Hoa nên Hoa Thê Sơn đổi thành núi Ba Thê. - Nhà nghiên cứu Vƣơng Hồng Sển trong quyển Tự vị tiếng nói miền Nam, cho rằng: "Thê" có nghĩa là cái thang, ngày trƣớc thời các chúa Nguyễn, ngƣời ta cho bắc thang lên núi để quan sát hành động của thổ phỉ. Vƣơng Hồng Sển miêu tả núi
  • 75. nhƣ sau: Núi Ba Thê cao 30 trƣợng, chu vi 30 dặm, cách phía Tây bến Thoại Hà 18 dặm ngoài. Nơi đây có 3 ngọn núi trùng điệp xanh tƣơi, có nhiều cây cao bóng mát…Mặt trƣớc ngó ra chằm lớn, cỏ rậm bùn lầy. Di chỉ khảo cổ học Khu vực núi Ba Thê là nơi phát hiện ra nhiều di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hóa Óc Eo. Du lịch Ba Thê đã đƣợc đƣa vào khai thác du lịch, du khách có thể lên núi bằng ô tô hay xe máy. Có một con đƣờng nhỏ lát bê tông rộng khoảng 3 m, dài chừng 2 km, ngoằn ngoèo uốn lƣợn chạy quanh co lên đỉnh núi. Hai bên đƣờng là rừng cây thâm u, vách đá và vực sâu thăm thẳm. Bên đƣờng, phía vực, có lan can bảo vệ, khá an toàn. Con đƣờng này có từ thời Pháp thuộc, đến thời Việt Nam Cộng Hòa, đƣờng đƣợc sửa lại để phục vụ cho mục đích quân sự. Năm 2002, đƣờng lên núi Ba Thê đƣợc đầu tƣ xây dựng tƣơng đối hoàn chỉnh, an toàn để phục vụ cho du lịch. Trên đỉnh núi Ba Thê có chùa Sơn Tiên đƣợc dựng vào năm 1933. Trƣớc sân chùa có tƣợng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát cao chừng 8 m, đứng trên tòa sen, khoác áo choàng đỏ, uy nghi, tự tại, nhƣ nhìn bao quát khắp thế gian. Bên ngoài chánh điện của chùa có một hòn đá hoa cƣơng cao khoảng 3 m, to nhƣ gốc cổ thụ bốn năm ngƣời ôm. Trên mặt viên đá có dấu bàn chân ngƣời to hơn bình thƣờng. Ngƣời ta cho đó là “bàn chân tiên”. Các sƣ trong chùa kể lại: xƣa kia lúc mới tạo sơn, đá núi còn mềm nhƣ đất sét, có một vị tiên đã ấn bàn chân mình lên đá để làm dấu... Cách chùa Sơn Tiên chừng 10 m về phía chân núi là Nhà trƣng bày cổ vật Óc Eo đƣợc thiết kế theo hình thù của chiếc Linga khổng lồ có chiều cao hơn 20 m, đƣờng kính 10,9 m. Các mặt vách chung quanh công trình đều có tƣợng thần Ganesa mình ngƣời, đầu voi, ngồi với tƣ thế nghiêm trang, nửa nhƣ trầm mặc thiền định, nửa nhƣ răn đe canh giữ. Lan can bao bọc sân trang trí tƣợng nhỏ. Khu nhà trƣng bày có chu vi chừng 40 m, tam cấp cửa chính quay về hƣớng Đông - nơi ngự trị của các thần linh theo quan niệm Ấn Độ giáo. Phía Bắc núi Ba Thê còn có một tảng đá có dáng hình nhƣ một cây đao vĩ đại. Dân gian gọi đó là Thạch Đại đao, là bửu bối của trời đất, dùng để trừng trị bọn gian ác. Sự tích kể lại rằng, sau một trận cuồng phong, sấm sét đã làm vỡ một tảng đá lớn, lộ hình một thanh đao. Ngƣời dân đặt tên là Thạch Đại Đao và dựng trên núi để du khách đến chiêm ngƣỡng. Trên đỉnh cao nhất của dãy núi Ba Thê là Chót Ông Tà - nơi thờ thần Núi. Dƣới chân núi là có đền thờ Phan Thanh Giản, nằm giữa rừng cây xanh, nhìn ra tứ phía là màu xanh ngút ngàn của những cánh đồng lúa vùng tứ giác Long Xuyên. Trên núi Nhỏ có một hòn đá chơ vơ, trên đầu có một phiến đá tròn giống cái nón. Truyền thuyết kể rằng: xƣa kia, có một ngƣời lên núi ẩn tu, nhƣng lòng trần chƣa rủ sạch, nên chiều chiều ngóng vọng về phƣơng xa nhớ nhà, nhớ vợ. Sau đó, ông chết đi... Ngƣời ta cho rằng vị sƣ kia đã hóa đá, giống nhƣ chuyện Hòn Vọng Phu ở miền Trung và miền Bắc, nên gọi núi này là núi Vọng Thê. về vùng thất sơn Nếu nhƣ Hạ Long nổi tiếng với những vịnh đẹp, Hà Nội Với nghìn năm Văn Hiến , Hội An nổi tiếng với phố cổ rêu phong. Phan thiết với những bải tắm đẹp , với hàng
  • 76. trăm Resort nằm ven biển, Tp.HCM với Nhà Thờ Đức Bà, Chợ Bến Thành, bến cảng Nhà Rồng nơi vị cha già kính yêu của chúng ta đã ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc, mang lại độc lập, tự do cho dân tộc… Hà Tiên với hòn Phụ Tử, Thạch Động Thôn Vân, chùa Hang, Đông Hồ Ấn Nguyệt ….. Thì An Giang lại nổi tiếng, đƣợc nhiều ngƣời biết đến với Chùa Bà,chùa ông…. và Thất Sơn(bảy núi) cũng là 1 điểm đến thù vị . Bảy Núi còn có tên là Thất Sơn, các tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hƣơng tôn xƣng là Bửu Sơn, gồm bảy ngọn núi không liên tục, đột khởi trên đồng bằng miền Tây Nam Bộ, thuộc hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam. “Ai ơi về lại An Giang biết bao điều lạ hân hoan đón chờ Thất Sơn hùng vĩ nên thơ Kìa kênh Vĩnh Tế đôi bờ lúa xanh”. Nhắc đến Bửu Sơn Kì Hƣơng vậy Tín đồ Bửu Sơn kì Hƣơng là gì : Giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hƣơng là một tôn giáo nhập thế, một tôn giáo yêu nƣớc có ảnh hƣởng lớn đến lịch sử chính trị và tôn giáo tại Nam Kỳ từ giữa thế kỷ 19. Hậu thân của giáo phái này là các giáo phái Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.. Bửu Sơn Kỳ Hƣơng đƣợc khai sáng năm 1849 bởi một ngƣời tục danh Đoàn Minh Huyên. (14 tháng 11 năm 1807 - 10 tháng 9 năm 1856), thƣờng đƣợc các tín đồ và ngƣời dân nơi vùng miền này, gọi tôn ông là "Phật Thầy Tây An".đạo hiệu: Giác Linh, quê ở Tòng Sơn, Cái Tàu thƣợng, tổng An Thạnh thƣợng, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Các tín đồ và ngƣời dân nơi vùng miền này, gọi tôn ông là "Phật Thầy Tây An". Vụ mất mùa và đại dịch năm 1849 - 1850 ở miền Nam đã làm nhân dân lâm vào cảnh cùng cực, khổ đau và chết chóc. Trong hoàn cảnh ấy, ông Đoàn Minh Huyên từ Tòng Sơn vào Tràm Dƣ, rồi đến vùng Kiến Thạnh (nay là làng Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang) trổ tài trị bệnh cho dân. Từ chỗ chữa trị bệnh có kết quả, ông dìu dắt đƣợc nhiều bệnh nhân và ngƣời thân của họ đến chỗ cải sửa tánh tình, biết điều nhân nghĩa, ngay thảo với mẹ cha, kính thờ Trời Phật. Ngƣời tin theo ông ngày một đông, nên ngay vào năm 1849, ông sáng lập ra đạo Bửu Sơn Kỳ Hƣơng, rồi từ đó cho đến năm 1856, ông đến vùng đất phía tây Thất Sơn và Láng Linh, dựng chùa, lập trại ruộng và đi dạo khắp vùng miền này. Vừa đi vừa rao giảng đạo, lại vừa có những cách trị bệnh kỳ hoặc nhƣ cho bệnh nhân uống nƣớc lã, uống nƣớc tro giấy vàng bạc, ăn bông hoa cúng Phật... nên nhà cầm quyền nghi ngờ ông ngầm hoạt động chính trị hoặc là gian đạo sĩ. Thế là ông bị bắt giam tại Châu Đốc, rồi vì không đủ chứng cứ nên viên quan cai trị phải thả ông, nhƣng buộc ông phải đến tu ở chùa Tây An để dễ kiểm soát. Chùa Thới Sơn, đƣợc coi nhƣ là Tổ đình của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hƣơng. Sách Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức kể thêm chi tiết: Vào khoảng năm 1847, Đoàn Minh Huyên đi hành đạo ở vùng Tòng Sơn (nay thuộc Lấp Vò, Đồng Tháp) và cốc Ông Kiến (nay là Tây An cổ tự, Chợ Mới, An Giang), ông bị triều đình bắt giam rồi đƣa về ở chùa Tây An, Châu Đốc; buộc ông phải chính thức xuất gia thọ giới theo nghi lễ chánh thức của Phật giáo. Vì vậy, ông phải thọ giới tì kheo với thiền sƣ Hải Tịnh, đƣợc ban pháp danh là Minh Huyên, hiệu Pháp Tạng và trở thành vị thiền sƣ thuộc thế hệ thứ 38 của phái thiền Lâm Tế tông.
  • 77. (thời kỳ Thiền sƣ Hải Tịnh Nguyễn Văn Giác trụ trì đời thứ nhất - Thiệu Trị thứ 7 năm 1847, và có thể vì vậy dân chúng gọi tôn ông là "Phật thầy Tây An") cho đến khi ông qua đời. Ông mất lúc 49 tuổi . Hiện mộ ông ở phía sau chùa Tây An, không đấp nấm theo lời dặn dò của ông. Mặc dù mất sớm, nhƣng Đoàn Minh Huyên đã làm đƣợc rất nhiều việc nhƣ: chữa bệnh miễn phí, khẩn hoang thành lập nhiều "trại ruộng" và am tu hành, để có chỗ cho tín đồ hành đạo và tự tay làm lấy miếng ăn, chứ không nên cứ nƣơng nhờ vào bá tánh, và sau này những nơi ấy đều trở thành những căn cứ chống quân Pháp. Đạo Hòa Hảo chịu ảnh hƣởng sâu sắc tƣ tƣởng của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hƣơng Tên giáo phái: Bửu Sơn: núi qúi báu, tức Thất Sơn mà đỉnh linh thiêng nhất là núi Cấm; Kỳ Hƣơng tức là mùi thơm lạ. Chủ trƣơng của giáo phái: Tín đồ lấy đạo Phật làm căn gốc, không cần “ly gia cắt ái”, không đầu tròn áo vuông, không thờ tƣợng cốt, chỉ treo tấm "trần điều" (mảnh vải đỏ, tƣợng trƣng cho tinh thần vô vi, cho ngôi Tam bảo), không ăn chay, không gõ mõ tụng kinh, không xuống tóc cạo râu. Vật phẩm dâng cúng chỉ hƣơng hoa và nƣớc lã đơn sơ. Chỉ cần giảng và nghe giáo lý, chứ không cần ghi chép... Và theo giáo lý của ông thì ngƣời “cƣ sĩ tại gia” cốt tránh ác làm lành, rửa lòng trong sạch, giữ tâm thanh tịnh và hằng thực thi “Tứ ân”: Ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nƣớc, ân Tam bảo, ân đồng bào nhân loại. Nhờ sự canh tân về giáo lý, tín điều nhƣ trên, nên thu hút đƣợc đông đảo lƣu dân thời khẩn hoang nơi vùng đất địa đầu lắm gian khó này. Lại nói về Thất sơn Ngƣợc dòng lịch sử khoảng một triệu năm trƣớc, trong thời kỳ Pleistocene, hàng loạt các hoạt động tân kiến tạo đã làm vỏ trái đất ở khu vực Bảy Núi bị nức nẻ, lún sụt hoặc nhô cao nhiều nơi. Sau đó là những đợt biển tràn ngập cả vùng Nam Bộ khoảng 10.000 đến 11.000 năm thì chấm dứt. Dấu tích của những thời biển tiến này còn để lại các bậc thềm biển cổ ở những vùng quanh núi Cấm, núi Dài, núi Phú Cƣờng... của huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Phần nhô cao tức đồi núi ở An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác nhau, phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km. Khởi đầu từ xã Phú Hữu (huyện An Phú) qua xã Vĩnh Tế (thị xã Châu Đốc), bao trùm lên gần hết hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, về tận xã Vọng Thê, Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập của huyện Thoại Sơn. Đứng trên góc độ địa hình, có thể chia đồi núi An Giang thành hai dạng chính: • Dạng núi dốc: đƣợc hình thành trong thời kỳ tạo sơn mãnh liệt nhƣ đã nói trên, nên chúng thƣờng cao và có độ dốc lớn trên 25 độ và phần lớn là đá cứng với nhiều pha tạp khác nhau (đá núi lửa và đá Granitoit có tuổi Jura thƣợng, đá Granite có tuổi Creta), nhƣ núi Cấm, núi Cô Tô, núi Dài... • Dạng núi thấp và thoải: đƣợc hình thành từ các thành tạo trầm tích và phun trào có tuổi trias và Creta nên có độ dốc nhỏ dƣới 15 độ, độ cao thấp, ít khe suối và bề mặt có khi là đất, nhƣ núi Nam Qui, núi Sà Lon, núi Đất... Và vùng Bảy Núi khi xƣa là đất của Chân Lạp. Rồi trong một cuộc tranh giành quyền lực, Nặc Tôn đƣợc chúa Nguyễn giúp đỡ đã trở lại ngôi vua. Để tạ ơn, Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long, trong đó có Bảy Núi, vào năm 1757. Tên 7 ngọn núi đó là : Núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn)
  • 78. Núi Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn) ØNúi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn) Núi Dài (Ngọa Long Sơn)Ø Núi TƣợngØ(Liên Hoa Sơn) Núi Két (Anh Vũ Sơn) Núi Nƣớc (Thủy Đài Sơn). I. THIÊN CẤM SƠN ( NÚI CẤM ) Núi Cấm còn đƣợc gọi là Núi Ông Cấm hay Thiên Cấm sơn, Thiên Cẩm Sơn; tên Khmer: Pnom ta piel hay Pnom po piêl; là một ngọn núi tại địa phận xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, Việt Nam. Núi Cấm có độ cao 705 m, chiếm chu vi 28.600m, là một ngọn núi cao nhất trong Thất Sơn và cao nhất tỉnh. Núi nằm trên địa bàn xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, cách trung tâm TP Long Xuyên khoảng 90km theo Quốc lộ 91 rẽ qua tỉnh lộ 948, và cách thị xã Châu Đốc không xa. Có nhiều giả thuyết về cái tên núivCấm : Là Đoàn Minh Huyên (tức Phật Thầy Tây An) đã cấm các tín đồ của mìnhülên đó cất nhà lập am, bởi sợ sẽ ô uế chốn núi thiêng. Một giả thuyết khác,üNguyễn Phúc Ánh khi bị quân Tây Sơn truy nã, có lúc phải vào núi này nƣơng thân. Muốn tông tích đƣợc giấu kín, các cận thần phao tin có ác thú, yêu quái, để cấm dân chúng vào núi. Cũng có ngƣời cho rằng tƣớng cƣớp Đơn Hùng Tín (biệt danh của Lê Văn Tín, quê Cao Lãnh) có lúc dùng nơi này làm sào huyệt. Sợ lộ, Tín cấm dân lên núi. Năm vồ ((hoặc non), từ dùng chỉ một chỏm cao trên dãyvnúi.) Vồ Bồ Hong: cao 705 m, cao nhất. Tƣơng truyền vồ có tên này, vì trƣớcüđây có nhiều côn trùng gọi là bồ hong sinh sống. Ở trên vồ cao này có tƣợng thờ Ngọc Hoàng, là nơi đƣợc nhiều ngƣời đến tham quan và lễ bái. Vồ Đầu: đỉnhücao đầu tiên của Núi Cấm tính từ phía Bắc, cao 584 m. Vồ Bà: cao 579 m, cóüđiện thờ Bà Chúa Xứ. Vồ Ông Bƣớm: (hay Ông Voi) cao 480 m tƣơng truyền xƣaükia có hai ngƣời Khmer lƣu lạc tên ông Bƣớm và ông Vôi đến cƣ trú, nên mới có tên nhƣ thế. Vồ Thiên Tuế: cao 541 m, nơi đây trƣớc kia là rừng cây thiênütuế. Thực tế, núi Cấm còn có nhiều vồ hơn nữa, nhƣ Vồ Chƣ Thần, Vồ Cây Quế, Vồ Mồ Côi, Vồ Đá Dựng, Vồ Pháo Binh v.v... Núi Cấm nơi du lịch nổi tiếng của tỉnh An Giang: vì núi có dáng vẻ hùng vĩ, khí hậu mát mẻ, phong cảnh đẹp và cây cối luôn xanh tƣơi. Trên núi có: Chùa Vạn Linh, chùa Phật Lớn, tƣợng Phật Di Lặc, Cao Đài Tự... Ngoài ra, dọc theo những lối mòn từ chân lên tới đỉnh núi có nhiều điểm tham quan nhƣ: suối Thanh Long, suối Tiên, điện Cây Quế, điện Mƣời Ba, điện Tam Thanh, điện Huỳnh Long, hang Ông Thẻ, hang Ông Hổ, hang Bác Vật Lang, động Thủy Liêm. Dƣới chân núi Cấm, về phía Đông là khu du lịch Lâm Viên, với diện tích khoảng 100 ha, có cảnh quan đẹp, có đƣờng tráng bê tông khá rộng lên đến đỉnh. II. NGŨ HỒ SƠN ( NÚI DÀI NĂM GIẾNG ) Núi Dài năm Giếng còn đƣợc gọi là Núi Dài Nhỏ hay Ngũ Hồ Sơn. Với độ cao 265 m, chu vi 8.751 m, đây là ngọn núi cao đứng hàng thứ tƣ trong Bảy Núi. Núi thuộc thị trấn Nhà Bàng, riêng vách phía Tây và phía Đông thuộc địa phận xã An Phú, xã
  • 79. Văn Giáo. Tất cả đều thuộc huyện Tịnh Biên tỉnh An Giang. Sở dĩ có tên Núi Dài Năm Giếng vì trên núi có năm nơi mặt đất trũng sâu nhƣ giếng nƣớc. Ở đây có đồi Ma Thiên Lãnh, có hang rộng chứa hàng nghìn ngƣời. Năm 1969, một tiểu đội tiền tiêu của Ðoàn 61, chủ lực Miền, đóng chặn cửa vào căn cứ Ô Tà Sóc, bị máy bay địch ném bom làm sập miệng hang. Bảy chiến sĩ bị kẹt trong hang, lúc đầu đơn vị tiếp lƣơng thực bằng cách dùng ống tre đƣa cơm cháo, thức ăn... Mấy ngày sau, vì địch càn quét liên tục, đơn vị phải di chuyển về U Minh, nên "chia tay" với các anh. Sự hy sinh dũng cảm ấy đã hơn ba mƣơi năm, nhƣng nhƣ còn là một nỗi đau quặn thắt từng ngày trong lòng mọi ngƣời dân địa phƣơng. Ðể ghi nhớ các anh, và giữ yên chỗ các anh nằm lại mãi mãi. Ngày kỷ niệm 27-7-1997, ngành lao động, thƣơng binh và xã hội tỉnh An Giang, cùng địa phƣơng xã Lƣơng Phi, huyện Tri Tôn mở đƣờng lên chót đồi này xây dựng bia tƣởng niệm các anh. Thời gian qua có biết bao du khách về nguồn đều lên để cúng viếng các liệt sĩ anh hùng. Ðã có nhiều áng văn chƣơng, thơ ca, nhạc cổ ca ngợi sự hy sinh ấy, nhƣ: "Hãy ngồi thêm chút nữa bạn ơi Nhang sắp tàn, thắp thêm tuần nhang nữa Ðồi rộng quá, làn khói thì bé nhỏ Gió có đƣa vào chỗ các anh nằm..." (Thơ Nguyễn Thị Trà Giang) Trong quần thể của căn cứ Ô Tà Sóc có hơn mƣời địa danh từ chân suối lên gần đỉnh nhƣ đội Bảo Vệ, hang Quân Y, Dân Y, hang Tuyên Huấn, Ðiện đài, Phụ Nữ, Cơ Yếu... và điện Trời Gầm làm văn phòng, hội trƣờng Tỉnh ủy chứa gần cả trăm ngƣời ăn ở, sinh hoạt. Ðây cũng là đỉnh cao của căn cứ, nằm trải dài theo lòng suối thiên nhiên cùng hang động kỳ bí, quanh co uốn khúc... Núi tuy hiểm trở nhƣng có nhiều cảnh đẹp, nhiều vƣờn cây trĩu trái quanh năm, nhƣ: ổi, xoài, bƣởi, mận, sầu riêng, thanh long v.v...Cho nên có ngƣời mô tả nhìn theo hƣớng mỏ Két của núi Két, phía trƣớc mặt là dãy Ngũ Hồ Sơn, có thể ví nhƣ một hòn non bộ khổng lồ tuyệt đẹp. Ngoài ra, núi Dài Năm Giếng còn có nguồn tài nguyên là đá xây dựng thuộc nhóm sáng màu mịn hạt và đá ốp lát dùng để trang trí... III. PHỤNG HOÀNG SƠN ( NÚI CÔ TÔ ) Cô Tô nằm trong hệ thống dải Thất Sơn thuộc địa phận huyện Tri Tôn (An Giang), cao 614 m. Núi có cấu tạo giống nhƣ một mâm trứng đá. Những khối đá, hòn đá to, nhỏ xếp chồng lên nhau, còn gọi là “lò ảng”. Tích xƣa kể lại rằng: các nàng tiên thƣờng hay xuống vùng Thất Sơn những đêm trăng sáng để dạo chơi và vui đùa. Một hôm các nàng chơi trò ném đá. Sáng hôm sau, nơi ấy xuất hiện một trái núi nhỏ nằm lẻ loi, đá chồng chất lên nhau thành muôn vạn dáng hình kỳ vĩ! Cũng có sách nói rằng, xa xƣa, núi Tô là nơi trú ngụ của loài chim phƣợng hoàng. Núi Cô Tô cao 614 m, dài 5.800 m, rộng 3.700 m. Vách phía đông bắc ngửa mặt về thị trấn Tri Tôn (Xà Tón ngày xƣa), núi có nhiều danh lam thắng cảnh nhƣ Mũi Hải, Tam Cấp, Vồ Hội, Sân Tiên, Pháo đài... Nổi danh là đồi Tức Dụp (Tức Chóp - nƣớc quanh năm, nghĩa theo tiếng Khmer).Ngày nay còn có tên là ngọn "đồi hai triệu USD" vì Mỹ - ngụy và chƣ hầu đã
  • 80. đánh vào ngọn đồi trong suốt thời gian 128 ngày đêm, nhƣng không chiếm đƣợc căn cứ của huyện Tri Tôn. Chúng tuyên bố đã chi phí vào đây tƣơng đƣơng hai triệu USD. Một ngày nọ, những ngƣời mở đất đến đây. Gặp mùa nắng hạn, khát cháy ruột gan, đêm nằm không ngủ đƣợc bỗng nghe tiếng róc rách chảy và phát hiện ra giữa quả đồi khô hạn có dòng suối mát chảy qua. Tên gọi Tức Dụp (nƣớc đêm) có từ đó. Vào các ngày lễ, sƣ sãi và già làng mang lễ vật đến cúng thánh thần trời đất rồi múc nƣớc suối về phum, sóc. Đồi Tức Dụp đƣợc trời đất ban tặng cho một hệ thống hang động chi chít nhƣ tổ ong vĩ đại, thông nhau bởi muôn nghìn ngõ ngách và kẹt đá. Từ những năm 1940, Tức Dụp đã là nơi ẩn náu của các chiến sĩ cộng sản. Khi bị khủng bố, nhân dân đem bánh trái đến trƣớc cửa hang cúng trời Phật nhƣng thực ra là tiếp tế cho cách mạng. Từ năm 1960, Tức Dụp là căn cứ của Huyện ủy Tri Tôn và Tỉnh ủy An Giang, là chiếc cầu quan trọng đƣa các binh đoàn từ miền bắc vƣợt Trƣờng Sơn qua Cambodia tỏa xuống khắp chiến trƣờng Tây Nam Bộ. Phát hiện Tức Dụp là đầu não của căn cứ cách mạng, đế quốc Mỹ và quân ngụy quyền đã tập trung đánh phá liên tục nhƣ muốn san bằng ngọn đồi. Tức Dụp nhƣ là đất chết. Vậy mà những chiến sĩ cách mạng vẫn kiên trì bám trụ giữ lấy địa bàn. Sau Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968, đế quốc Mỹ và quân ngụy quyền quyết tâm xóa sổ Tức Dụp. Trung tƣớng Escar chỉ huy hơn 18.000 lính Mỹ, Nam Triều Tiên và quân ngụy Sài Gòn với sự tham gia của không quân, pháo binh, thiết giáp, tuyên bố sẽ nghiền nát Tức Dụp trong 3 ngày. Khi đó lực lƣợng cách mạng trong các hang chƣa tới 40 ngƣời. Bình quân mỗi chiến sĩ cách mạng với vũ khí nhẹ phải chống lại gần 500 tên giặc có B52, thiết giáp, pháo binh yểm trợ! Bình quân mỗi mét vuông của đồi Tức Dụp có 9 tên giặc chiếm giữ! Các chiến sĩ giải phóng quân kiên cƣờng bám vào các vách đá, vòm hang, mọi ngõ ngách, với súng trƣờng và lựu đạn tự chế đã giữ vững trận địa suốt 128 ngày đêm, gây cho giặc nhiều tổn thất nặng nề. Tức Dụp ngày nay Đã hơn 30 năm từ ngày Tức Dụp im tiếng súng nhƣng dấu tích các trận đánh phá của kẻ thù vẫn hằn sâu trên các tảng đá bị bắn phá loang lổ. Chỉ có cỏ cây là ngày mỗi trƣởng thành và tƣơi xanh mầu hy vọng. Đồi Tức Dụp thuộc xã An Minh, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, cách biên giới Cambodia 10 km, ngày nay là điểm du lịch kỳ thú. Bốn mùa nƣớc trong xanh và rực rỡ hƣơng sắc của các loài hoa nhƣ trong chuyện cổ tích. Đƣờng lên đồi đƣợc lát đá phẳng và đẹp. Các hang động với hàng trăm ngõ ngách vẫn nguyên vẹn nhƣ xƣa, vẫn mở rộng vòng tay gọi mời bè bạn. Đến với Tức Dụp bạn nhớ ăn mặc gọn nhẹ, đi giày thể thao. Nhớ mang theo đèn pin vì trong hang có nhiều đoạn tối. Mỗi hang một vẻ độc đáo với những khối đá đan xen tài tình đủ kiểu. Riêng hội trƣờng C6 có sức chứa trên 150 ngƣời. Sàn có khi là đá, có khi là ván và tre ghép lại. Khí hậu lúc nào cũng mát rƣợi và thoáng nhƣ có máy điều hòa. Hồ Soài SoNằm ở sƣờn phía Đông núi Cô Tô là một hồ nƣớc có vẻ đẹp hoang sơ, nƣớc lúc nào cũng xanh biếc và phẳng lặng. Hồ rộng chừng 5 ha, có dung tích khoảng 400.000 m3, đƣợc sử dụng tƣới tiêu cho hàng trăm hecta ruộng rẫy và cung cấp nƣớc sinh hoạt cho nhân dân vùng phụ cận.
  • 81. Hiện nay, nơi Núi Tô có nhiều công trƣờng khai thác đá. Và có thể nói số lƣợng đá khai thác đƣợc liệt vào hạng nhiều nhất đồng bằng sông Cửu Long. Vì vậy, không khí nơi đây đầy khói bụi, những vạt núi đẹp đẽ dần dà bị khoét nham nhở và không gian tĩnh mịch vốn có không còn nữa, bởi tiếng thuốc nổ thi thoảng lại vang rền cùng tiếng máy xúc đá, tiếng máy xe vận tải đá thi nhau chạy nhƣ mắc cửi… IV. NGỌA LONG SƠN ( NÚI DÀI ) Núi Dài còn có tên Ngọa Long Sơn (núi rồng nằm), là trái núi dài nhất trong Bảy Núi (khoảng 8.000m), cao 580 m, nằm dọc theo tỉnh lộ 955B thuộc bốn xã Châu Lăng, Lƣơng Phi, Ba Chúc, Lê Trì của huyện Tri Tôn tỉnh An Giang. Núi Dài thuộc dạng núi dốc, đƣợc hình thành trong thời kỳ tạo sơn mãnh liệt nên núi có độ cao và có độ dốc lớn trên 25 độ và phần lớn là đá cứng với nhiều pha tạp khác nhau (đá núi lửa và đá Granitoit có tuổi Jura thƣợng, đá Granite có tuổi Creta). Núi Dài còn nhiều loại gỗ quý nhƣ dầu, căm xe, lăng ổi, bời lời, quế, gõ mật, nính...và còn một số loại chim muông và thú rừng. Tài nguyên ở núi Dài gồm: đá xây dựng, cát núi, đất sét cao-lanh (dùng làm sứ cách điện cao cấp) và nƣớc khoáng thiên nhiên. Đặc biệt, diatomite đƣợc phát hiện ở xã Lê Trì, nằm cách mặt đất từ 1,8m - 2,2m. Bề dày bình quân khoảng 1,7m - 2m, trữ lƣợng dự báo khoảng từ 800.000 đến 1.000.000 tấn. Các loại diatomite có ở đây đều lẫn sắt hoặc chất hữu cơ rất cao, nên thƣờng có màu xám đen hoặc vàng. Do vậy, màu trắng và tính ròng của diatomite núi Dài có thể sử dụng rộng rãi trong công nghiệp lọc hoạt tính, đặc biệt là lọc bia, rƣợu, dầu ăn... Đất sét bentonite cũng đƣợc tìm thấy tại xã này với trữ lƣợng khá lớn. Đây là một loại đất chứa nhiều khoáng montmorillonite. Nên nguyên liệu này rất thông dụng trong công nghiệp, đặc biệt dùng làm chất tẩy rửa dầu nhớt và hút nhờn và làm dung dịch trong các giếng khoan dầu Ngoài ra, núi Dài còn có rất nhiều nƣơng rẫy, vƣờn cây ăn trái và thắng cảnh. Nhƣng đặc biệt hơn cả đó căn cứ Ô Tà Sóc, một di tích cách mạng đã đƣợc xếp hạng. Ô Tà Sóc có nghĩa suối ông Sóc, nằm trên điểm cao của núi Dài, thuộc ấp An Ninh, xã Lƣơng Phi, huyện Tri Tôn, cách thị trấn Tri Tôn 11km. Đây là một vùng sơn lâm hiểm trở, cho nên từ năm 1962 đến năm 1967, nơi này là căn cứ của Tỉnh ủy An Giang với nhiều cơ quan trực thuộc... Ngoài Điện Trời Gầm, nơi đặt cơ quan Tỉnh ủy, còn có Điện Huỳnh Liên, Vồ Cò, Vồ Cỏ Xã...là nơi những cứ điểm quang trọng. Đặc biệt trên đồi Ma Thiên Lãnh, có hang rộng có thể chứa hàng nghìn ngƣời. Từ căn cứ địa này, Tỉnh ủy An Giang đã chỉ đạo quân và dân tỉnh đánh đuổi nhiều nhóm thổ phỉ và nhiều lần kháng lại các cuộc càng quét của quân đội Mỹ, quân đội Việt Nam cộng hòa... Theo lời kể, một lần vào năm 1969, một tiểu đội tiền tiêu của Ðoàn 61, chủ lực Miền, bị máy bay đối phƣơng ném bom làm sập miệng hang. Bảy chiến sĩ bị kẹt trong hang, lúc đầu đơn vị tiếp lƣơng thực bằng cách dùng ống tre đƣa sữa, cháo loãng... Mấy ngày sau, vì đối phƣơng càn quét liên tục, đơn vị đành phải bỏ lại các đồng đội để rút về rừng U Minh... Ðã có nhiều áng văn chƣơng, thơ ca, nhạc cổ ca ngợi sự hy sinh ấy, nhƣ: “Chiều nay bên núi dốc núi Tôi lặng lẽ cúi đầu
  • 82. Thƣơng những ngƣời chiến sĩ Nằm lại dƣới hang sâu. Suốt một ngày bom dội Cây rừng đổ ngổn ngang Đất đá dồn trút xuống Chặn lối vào cửa hang... ...Nay suối rừng vẫn chảy Rừng xanh thêm từng ngày Hồn ngƣời trong hang lạnh Vẫn nhƣ còn đâu đây...” (trích Ở lại Ô Tà Sóc, thơ Trần Quang Mùi) V. LIÊN HOA SƠN ( NÚI TƢỢNG ) Núi Tƣợng còn đƣợc gọi là Liên Hoa Sơn, nằm tại thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, Việt Nam. Núi Tƣợng thấp nhỏ, chỉ cao 145 m và chu vi 3.825 m. Từ xa, hình núi trông giống hình dạng con voi nên có tên là Núi Tƣợng. Trƣớc năm 1870, vùng núi này hãy còn hoang vu, nhƣng kể từ năm này, nhờ ông Ngô Lợi , ngƣời khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa (gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa), dẫn dắt một số đệ tử vào vùng núi Tƣợng khai hoang lập những thôn ấp, mà sau này trở thành làng An Định, An Hòa, An Thành, An Lập; dựng chùa Tam Bảo, chùa Phi Lai khiến nơi đây ngày một trở nên đông đúc. Chỉ tính trong 12 năm (1876 - 1888), quân lính Pháp đã đến đốt phá, bắt bớ, tra tấn, tù dày những tín đồ ở làng An Ðịnh cả thảy bảy lần, tín đồ Hiếu Nghĩa gọi là “đạo nạn”. Đơn cử năm 1885, Ngô Lợi cùng với tín đồ đạo Hiếu Nghĩa kết hợp với nghĩa quân của Hoàng Thân Sivôtha (Campuchia) nổi dậy, nhƣng bị Pháp nhanh chóng đƣa quân vào trấn áp rồi còn cho đóng đồn dọc kênh Vĩnh Tế để dễ theo dõi, chế ngự. Lần đạo nạn này, Ngô Lợi phải cùng với nhiều tín đồ phải chạy sang Vƣờn Dầu, thuộc Campuchia để lánh nạn. Đến khi trở về, nhà cửa, chùa chiền chỉ còn lại những đống tro tàn.Nhƣng bi thảm nhất là vào năm 1887 khi lính Pháp xử bắn 8 ngƣời, đày ra Côn Đảo 13 ngƣời. Ngƣời Pháp giải tán làng An Định (sáp nhập vào làng Ba Chúc), thiêu hủy tất cả chùa chiền, nhà cửa và cƣỡng bức 407 gia đình gồm gần hai ngàn ngƣời già trẻ xuống tàu về quê quán. Ở đây còn bị một đại nạn khác xảy ra vào ngày 18 tháng 4 năm 1978, khi quân Pôn Pốt từ Campuchia tràn vào xã Ba Chúc (nay là thị trấn Ba Chúc). Đông đảo ngƣời dân quanh vùng đã kéo nhau lên Núi Tƣợng, tìm các hang đá sâu và hẻo lánh để ẩn nấp.Mƣời một ngày sau, khi quân Pôn Pốt bị đánh đuổi, tại nhiều nơi trong đó có chùa Tam Bửu, chùa Phi Lai và các hang của Núi Tƣợng nhƣ: Dồ Đá Dựng, Cây Da, Ba Lê, Tám Ất… và những nơi khác đã phát hiện nhiều xác dân thƣờng bị quân Pôn Pốt lùng sục và thảm sát. Do một số xác ngƣời ở hang quá sâu, không thể mang lên, thân nhân phải lấp kín miệng hang. Theo Bia Căm thù Ba Chúc, số ngƣời bị thảm sát là 3.157 dân thƣờng. Hiện nay Nhà Mồ Ba Chúc trƣng bày 1.159 bộ hài cốt nạn nhân cuộc thảm sát này. KÊNH VĨNH TẾ : Kinh Vĩnh Tế là một con kênh đào nổi tiếng, nằm tại địa phận hai tỉnh An Giang và Kiên Giang, thuộc đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Vào năm 1816, khi thành Châu Đốc đƣợc đắp xong, Trấn thủ Vĩnh Thanh Lƣu Phƣớc Tƣờng tâu lên. vua Gia
  • 83. Long xem địa đồ miền đất này liền truyền: Xứ này nếu mở đƣờng thủy thông với Hà Tiên, thì hai đàng nông thƣơng đều lợi. Trong tƣơng lai, dân đến ở làng đông, đất mở càng rộng, sẽ thành một trấn to vậy.. Biết thế, nhƣng vua chƣa ra lệnh đào ngay vì ngại đây là vùng đất mới mở, nhân dân còn cơ cực, nếu bắt làm xâu thêm khổ sở, lòng dân sẽ không yên.Mãi đến tháng 9 năm Kỷ Mão (1819), vua Gia Long mới cho lệnh đào kênh, và công việc đƣợc bắt đầu khởi công vào tháng chạp năm ấy, trải qua mấy giai đoạn trong suốt 5 năm, đến tháng 5 năm Nhâm Thân (1824), dƣới triều vua Minh Mạng mới xong.Kênh đào song song với đƣờng biên giới Việt Nam - Campuchia, bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành, thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Dƣới sự chỉ huy của Trấn thủ Vĩnh Thanh Thoại Ngọc Hầu cùng với 2 ông là Chƣởng cơ Nguyễn Văn Tuyên (1763- 1831), Điều Bát Nguyễn Văn Tồn (1763 – 1820). Sau có thêm Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt (1764 - 1832), Phó Tổng trấn thành Gia Định Trƣơng Tấn Bửu, Phó Tổng trấn thành Gia Định Trần Văn Năng, Thống chế Trần Công Lại góp sức. Ngay trong đợt đầu đã có hơn 10.000 nhân công bao gồm: 5.000 quân dân trong vùng, 500 lính thuộc đồn Uy Viễn, 5.000 dân là ngƣời Khmer.Kênh phải qua nhiều đoạn đất cứng khó đào, lại có khi gặp phải thời tiết, khí hậu bất lợi nên có lúc công việc phải gián đoạn hoặc chậm chạp.Biết vậy, ngay khi lên ngôi (1820), vua Minh Mạng lập tức ra lệnh cho Tổng trấn thành Gia định là Lê Văn Duyệt huy động thêm nhiều dân binh ở các đồn Uy Viễn, Vĩnh Thanh, Định Tƣờng hơn 39.000 ngƣời, trong số đó binh và dân ngƣời Khmer 16.000 ngƣời, chia làm 3 phiên, đào đắp bằng tay với dụng cụ thô sơ hàng triệu mét khối đất đá...và có khi phải thay nhau thi công suốt ngày đêm... Kênh hoàn thành với chiều dài 205 dặm rƣỡi (91km), rộng 7 trƣợng 5 thƣớc (25m), sâu 6 thƣớc(3m) và hiện nay nhờ nhiều lần nạo vét, nên đã sâu hơn nhiều. Ƣớc tính, trong 5 năm, các quan phụ trách đã phải huy động đến hơn 80.000 dân binh. Bởi công việc ở chốn “đồng không mông quạnh”, nhiều “sơn lam chƣớng khí”; việc ăn uống, thuốc men thảy đều thiếu thốn, khiến số ngƣời chết vì bệnh tật, kiệt sức, vì thú dữ nhƣ sấu, rắn rít... quá cao. Và số ngƣời bỏ trốn rồi bỏ mạng cũng lắm, mặc dù luật lệ ràng buộc, nhiều tai ƣơng, nhất là khi phải vƣợt qua sông Vàm Nao. Cho nên khi tin vui về đến Huế, vua Minh Mạng rất đổi mãn nguyện vì nối đƣợc chí cha, liền sắc khen thƣởng, dựng bia ở Núi Sam và ở bờ kênh mới đào để ghi nhớ thành quả to lớn này. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà vua cho đúc Cửu đỉnh để làm quốc bảo và tƣợng trƣng cho sự miên viễn của hoàng gia, hình kênh Vĩnh Tế đƣợc chạm khắc vào Cao đỉnh. Đến bây giờ, kênh vẫn còn giá trị lớn về các mặt trị thuỷ, giao thông, thƣơng mại, biên phòng, thể hiện sức lao động sáng tạo xây dựng đất nƣớc của nhân dân Việt và chính sách coi trọng thủy lợi để phát triển nông nghiệp của triều Nguyễn. Nên ca dao có câu: “Kênh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên, Ghe thuyền xuôi ngƣợc bán buôn dập dìu.” Với ngƣời Khmer Quá trình xây dựng kênh Vĩnh Tế đã để lại trong cộng đồng ngƣời Khmer những câu chuyện về cách đối xử tàn ác của ngƣời Việt đối với ngƣời Khmer. Chẳng hạn chuyện về 3 ngƣời Khmer bị trừng phạt do làm việc chƣa đủ chăm bằng hình thức chôn sống đến cổ, rồi một cái ấm đƣợc đặt lên đầu 3 ngƣời
  • 84. để đun nƣớc pha trà. Câu chuyện này (đã phổ biến từ trƣớc thời Pol Pot) sau này Khmer Đỏ đã sử dụng trong các chiến dịch tuyên truyền khơi dậy lòng hận thù của ngƣời Campuchia đối với ngƣời Việt. VI. ANH VŨ SƠN ( NÚI KÉT ) Núi Két tức Anh Vũ Sơn, ngƣời hành hƣơng thì gọi là Núi Ông Két , là một ngọn núi nhỏ trong Bảy Núi, thuộc xã Thới Sơn huyện Tịnh Biên tỉnh An Giang. Núi Két có hình khối tròn, cao 225m, dài và rộng hơn 1.100m. Núi ở phía đông thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, cách trung tâm thành phố Long Xuyên khoảng 70km về hƣớng tây theo Quốc lộ 91 rồi rẽ qua tỉnh lộ 948. Núi đƣợc bao bọc bởi những ngọn núi khác nhƣ núi Dài, núi Đất, núi Trà Sƣ, núi Bà Đắc. Đƣợc gọi là Núi Két vì ở độ cao khoảng một trăm mét, tính từ chân núi, bên vách phía tây gần trên đỉnh có một tảng đá khổng lồ nằm nhô ra, theo sự mƣờng tƣợng của nhiều ngƣời, nó gần giống mỏ chim Két (tức chim anh vũ). Ở quanh núi có các di tích và thắng cảnh nhƣ: Bửu Sơn Linh Tự, Bửu Minh Tự, Đình Thới Sơn... Đƣờng lên đỉnh núi Két dài khoảng 600 mét, đƣợc xây bậc thang và đều có hành lang an toàn. Đi dần lên núi có các địa điểm đáng tham quan nhƣ: Sân Tiên, Giếng Tiên, điện Chƣ Thần, điện Phật Thầy, điện Phật Mẫu, điện Ngọc Hoàng, điện Huỳnh Long, điện Ba Cô, điện U Minh, điện Chƣ Vị Năm Non Bảy Núi và tiêu biểu nhất là “mỏ ông Két” cùng với nhiều truyền thuyết dân gian... Ngoài ra, còn có một đƣờng lên núi khác, đối diện với đình Thới Sơn... Bên cạnh các nguồn lợi từ du lịch, hành hƣơng, cây trái... núi Két còn có các nguồn lợi khác từ tài nguyên, nhƣ quặng kim loại molipden, đá granit sáng màu mịn hạt, đá quí (thạch anh ám khói, thạch anh tím) đƣợc tìm thấy trong các mạch pecmatic và nhiều mội nƣớc khoáng... Đình Thới Sơn tọa lạc gần chân Núi Két, là nơi đƣợc nhiều ngƣời tìm đến để thăm viếng.Đình do Phật Thầy Tây An tức Đoàn Minh Huyên (1807-1856), giáo chủ đạo Bửu Sơn Kỳ Hƣơng cùng với những tín đồ của ông xây dựng vào năm 1851, khi họ đến làng Xuân Sơn và Hƣng Thới (nay là ấp Sơn Tây, xã Thới Sơn, Tịnh Biên, An Giang) khai hoang và canh tác.Ban đầu đình đƣợc xây cất bằng cây rừng, mái tranh, vách lá, nền đất. Năm 1945 đình bị quân Pháp đốt phá. Năm 1956, đình đƣợc ngƣời dân dựng lại với khung sƣờn bằng gỗ, lợp ngói, nhƣng lại bị bom đạn đánh sập. Sau năm 1975, dân làng góp công, góp của xây dựng lại theo kiến trúc cổ lầu, ba bộ nóc, mái nhị cấp, lợp ngói Phú Hữu, tƣờng xây, nền gạch men, bốn cột chính bằng bê tông cốt sắt có đƣờng kính 60cm biểu trƣng cho tứ chúng. Chung quanh đình còn có các công trình nhà khách, nhà bếp, bồn chứa nƣớc... Trƣớc đình là cổng tam quan có mái che cổ kính. Sân đình có bàn thờ Tổ quốc, Thần Nông và các miếu thờ Sơn Quân, Bạch Mã, Chiến sĩ trận vong. Ngoài cổng là một hồ nƣớc rộng chứa nƣớc sinh hoạt cho cả vùng và cũng chính là nơi theo truyền thuyết, ông Đình Tây (đệ tử thân tín của Đoàn Minh Huyên) lén thả nuôi một con sấu hung dữ có tên Ông Năm Chèo. Nội thất đình trang trí nhiều sắc màu, các khánh thờ chạm khắc công phu, sắc nét với các đề tài: Bát tiên, cuốn thƣ, hoa, điểu thú. Đình thờ Thành hoàng Bổn cảnh, trƣớc hƣơng án có cặp hạc đứng trên lƣng qui chầu thần. Hai bên tả, hữu có các bàn đối xứng thờ Tiền hiền, Hậu hiền. Có võ ca làm chỗ diễn tuồng hát bội trình
  • 85. thần vào các ngày đại lễ Kỳ yên. Trƣớc đây, đình còn là nơi dung chứa nhiều cán bộ cách mạng trong thời gian kháng Mỹ của dân tộc Việt. Đình Thới Sơn đã đƣợc Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia năm 1999. Ngoài đình Thới Sơn, chùa Thới Sơn, chùa Phƣớc Điền (trại ruộng của Đoàn Minh Huyên ), mộ ông Bình Tây, mộ ông Bùi thiền sƣ (cũng là đệ tử của Đoàn Minh Huyên) đều đƣợc nhiều ngƣời viếng thăm, cúng bái khi đến tham quan núi Két VII. THUỶ ĐÀI SƠN ( NÚI NƢỚC ) Núi Nƣớc còn có tên Thủy Đài Sơn, là một ngọn núi nhỏ nhất trong Thất Sơn .Núi cao 54 mét, chu vi 1.070m, nằm giữa những cánh đồng rộng lớn, cách lộ nhựa 955m và núi Tƣợng khoảng 600m. Núi thuộc thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Nhiều ngƣời tin rằng, mặc dù ở vùng miền này có nhiều núi cao hơn, trải dài hơn nhƣng núi Nƣớc đƣợc ngƣời xƣa đặt tên và đƣa vào Thất Sơn, có thể do sự tác động bởi những quan niệm thần bí, siêu nhiên trong dân gian...Khi chƣa có đê bao chống lũ, vào mùa nƣớc nổi (khoảng tháng 8 đến cuối tháng 10 âm lịch), chung quanh núi này là một biển nƣớc mênh mông, đỏ quạch phù sa. Vì lẽ đó, núi có tên là núi Nƣớc.Ngay chân núi có chùa Linh Bửu, do Ngô Lợi, giáo chủ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho xây dựng vào ngày 9 tháng 6 năm Giáp Thân (1884). Tƣơng truyền trên đỉnh núi, thuở xa xƣa ai đó đã chôn sâu một trụ đá khắc chữ Tàu, cốt để trấn ếm long mạch, nhƣng sau này đã đƣợc Ngô Lợi cho đào lên phá hủy, và sau nữa ngƣời ta dựng lên ở đỉnh một con rùa bằng đá và xi măng.Tuy nhỏ và có dáng dấp nhƣ một hòn non bộ lớn, nhƣng núi cũng có một ít cây cổ thụ, một ít hang động nhỏ... Nhƣng nói rằng núi Nƣớc có một hệ thống hang động và nó là núi Trà Sƣ là sai. Núi ở phƣờng Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang, có tên chữ là Vĩnh Tế sơn, do vua Minh Mạng đặt để ghi công cho Thoại Ngọc Hầu trong việc hoàn thành kênh Vĩnh Tế. Đây là một ngọn núi độc lập, cao 228 m, chu vi 5.200 m, nổi lên giữa đồng bằng nhƣ một con sam khổng lồ bám trên mặt ruộng, nên có tên gọi nhƣ vậy. Một cách giải thích khác cho rằng nơi đây xƣa kia từng là hòn đảo nhô lên trên biển, có nhiều sam sinh sống nên đƣợc gọi là Học Lãnh Sơn, tức núi con sam. Có lẽ tên gọi này là biến âm của từ Hậu Lĩnh Sơn - 鱟嶺山, vì thực ra, từ này mới có nghĩa là núi consam. Phía Tây Bắc của núi là kênh Vĩnh Tế chạy dọc biên giới Campuchia. Phía Tây Nam giáp xã Thới Sơn và Nhơn Hƣng thuộc huyện Tịnh Biên. Phía Đông Bắc và Đông Nam giáp phƣờng Châu Phú A, Châu Phú B của thị xã Châu Đốc. Núi Sam có một vị trí chiến lƣợc quan trọng về quân sự, là pháo đài bảo vệ thị xã Châu Đốc, là con đê thiên nhiên ngăn dòng nƣớc lũ. Ngoài ra, đây còn là một khu du lịch nổi tiếng bậc nhất ở tỉnh An Giang. Cảnh quan Núi Sam thuộc loại núi trẻ, có cây xanh bóng mát. Trên núi có nhiều hoa sứ và hoa phƣợng. Dƣới chân núi là một hệ thống kênh rạch, ruộng đồng bao quanh. Những công trình kiến trúc do con ngƣời xây dựng nằm rải rác dƣới chân, trên sƣờn, và
  • 86. trên đỉnh núi tạo thành một quần thể di tích độc đáo nhƣ: miếu Bà Chúa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây An, chùa Hang....và nhiều thắng cảnh nhƣ: đồi Bạch Vân, Vƣờn Tao Ngộ....Toàn bộ khu di tích núi Sam đã đƣợc xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Trong bia Vĩnh Tế Sơn, Thoại Ngọc Hầu đã miêu tả núi Sam nhƣ sau: “Rành rành chân núi trắng phau trơ trọi ngọn tre xanh ngắt, cảnh núi trở nên tƣơi đẹp, sừng sững vọt lên. Ngắm dòng nƣớc biếc bên bờ cao, ruộng vƣờn bao quanh chân núi, hơi tan tuôn cuốn lẫn khói nấu cơm, chùa chiền trên trót hƣơng tỏa mây nồng, thật không kém gì phong cảnh trung châu vậy”. Núi Sam có hai sƣờn Đông và Tây: sƣờn Đông là nơi đầu tiên đón nhận ánh nắng mặt trời, nên cây trái ở đây xanh tốt hơn, hƣơng vị đậm đà hơn so với ở sƣờn Tây. Trên núi có cây giang, lá có vị chua thanh, bùi bùi, là bí quyết chế biến nhiều món ăn độc đáo nhƣ: canh chua thịt gà lá giang, bò xào lá giang.... Chạy ôm vòng quanh chân núi Sam là một con đƣờng nhựa dài khoảng 6 - 7 km dẫn du khách từ ngã ba Đầu Bờ đến Bến Vựa. Bến Vựa là nơi tập trung nhiều mồ mả, gọi là khu nghĩa địa. Từ bên đƣờng, du khách có thể nhìn thấy các ngôi mộ với đủ kiểu cách, nhà giàu xây mộ có mái che, trung lƣu chỉ xây bằng đá, còn nhà nghèo thì chỉ "sè sè nắm đất bên đƣờng". Từ Bến Vựa nhìn lên khoảng hơn trăm mét là các bậc đá ngoằn ngoèo dẫn lên đồi Bạch Vân. Tại đây có những khối đá to và những cây cổ thụ che bóng mát, du khách có thể nghỉ ngơi, thƣ giãn trên những tảng đá này. Tiếp tục đi vòng theo chân núi gặp Bến Đá, nơi đây tập trung ghe tàu để chở đá, cát cung cấp vật liệu xây dựng cho khắp vùng miền Tây. Tiếp tục đi vòng qua Đá Chẹt cũng là nơi khai thác đá nhiều nhất ở núi này, từ đây có một con đƣờng ngoằn ngoèo đến tận đỉnh núi, gọi là đƣờng Tháp, ô tô và xe máy có thể lên đƣợc dễ dàng. Khu vực này có tháp ngắm cảnh đƣợc xây dựng cao hàng chục mét. Công trình này khi hoàn tất sẽ thu hút nhiều khách lƣu trú vì đây là nơi có thể thƣ giãn, nghỉ ngơi rất tốt với không khí trong lành và những buổi hoàng hôn lãng mạn... Nếu có thời gian, du khách có thể leo núi bằng đƣờng mòn ngay sau lăng Thoại Ngọc Hầu. Tiếng là đƣờng mòn nhƣng con đƣờng đã đƣợc tu sửa nhiều: những đoạn dốc cao, trơn trợt đã đƣợc cải tạo thành bậc thang cho dễ đi. Hai bên đƣờng có nhiều chùa chiền và các quán giải khát để du khách dừng chân lễ Phật hay nghỉ ngơi. Ngƣời đi khỏe chỉ mất nửa giờ để lên tới đỉnh; đi chậm thì mất khoảng một giờ hoặc hơn. Mùa hè, hoa phƣợng nở đỏ rực hai bên đƣờng, đâu đâu cũng thấy một màu đỏ của hoa. Trƣớc 1975, trên đỉnh núi Sam có đặt mấy khẩu pháo 155, 105 ly, để phủ hỏa lực yểm trợ cho thị xã Châu Đốc cũng nhƣ các đồn bót và vùng biên giới bên kia kênh Vĩnh Tế. Ngày nay, trên núi có đặt đài truyền tin, nhà mát. Từ trên đỉnh núi, du khách có thể phóng tầm mắt nhìn xuống cánh đồng bất tận và dòng kênh thẳng tắp. Xa xa là thị xã Châu Đốc nhấp nhô mái ngói. Nếu có ống nhòm, bạn có thể nhìn thấy dãy Thất Sơn hùng vĩ và lãnh thổ Campuchia ở cách bờ kênh Vĩnh Tế khoảng 1,5 km. Những năm lũ lớn, cả một vùng đồng lúa bao la chạy tới chân trời bị nhận chìm dƣới màu nƣớc bạc, trắng xoá, mênh mông. Lên đến đỉnh núi, khách sẽ đƣợc tìm hiểu tƣờng tận về gốc tích của Bà Chúa Xứ. Bệ đá nơi đặt tƣợng Bà trƣớc khi hạ sơn vẫn hiện diện tại đây và đƣợc bảo quản rất kỹ, gọi là nơi Bà “ngự” Ngoài các di tích nổi tiếng nhƣ: miếu Bà Chúa Xứ, lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Tây
  • 87. An, chùa Hang, miếu Trƣơng Gia Mô....trên triền núi Sam còn có hàng trăm am, cốc, chùa do ngƣời dân tự lập, tự tín ngƣỡng và thực hiện các hoạt động bói toán, xin xâm, cho số .....Hầu hết đều tấp nập du khách từ mọi miền đất nƣớc đến sùng bái ngƣỡng vọng, vãng lai. Truyền thuyết Hang Thủy tề Trên đỉnh núi Sam có một cái hang sâu, hiện cửa hang đã bị lấp. Ngƣời ta gọi đó là hang Thủy tề. Từ miệng hang nhìn xuống, vách núi dựng đứng sâu hun hút, lác đác vài lỗ thông thiên, đƣờng kính khoảng gần 1 m. Ngƣời ta kể lại rằng, đây chính là nơi ở của con đại bàng, nó đã bắt cóc công chúa và đi vào hang bằng lỗ thông thiên. Trên vách đá của hang in hình ngƣời màu trắng, trên vai quàng con vật hình thù nhƣ đầu chằn tinh, tay trái dìu công chúa, khiến ngƣời ta liên tƣởng đến nhân vật Thạch Sanh trong truyện cổ tích. Năm 1978, Pôn Pốt tràn qua chiếm đóng vùng đất này, chính quyền địa phƣơng đã cho lấp hang lại vì sợ chúng cất giấu vũ khí. Bàn thờ Thủy tề Bên cạnh hang Thủy tề, qua một lối đi lớn sẽ gặp cái hang thứ hai. Theo lời kể trong truyện cổ tích, sau khi Thạch Sanh giết đại bàng, giải thoát công chúa, Lý Thông muốn cƣớp công nên gọi lính lấp miệng hang để giết Thạch Sanh. Không ra khỏi hang đƣợc, Thạch Sanh mới lần tìm lối đi khác, vô tình gặp và giải cứu con gái vua Thủy tề đang bị nhốt ở đây. Hiện trên miệng hang có bàn thờ Thủy Tề, phía bên trong hang có 3 lối đi nhỏ. Ở dƣới hang có loài đá rất lạ, có khả năng hấp thụ ánh sáng, rọi đèn vào ánh sáng bị hút hết. Chỉ có đèn dầu mới thắp sáng đƣợc dƣới này, nhƣng đèn dầu mà không có không khí thì không cháy. Cho đến bây giờ cái hang kỳ lạ này vẫn chƣa đƣợc khám phá. Bức tƣợng đá kỳ lạ Ở một nhánh cửa hang phía Nam, cạnh phiến đá Đại Hồng chung khá nổi tiếng là khối đá hình con sử tử từ trên trời bay xuống. Trên đầu sƣ tử có hình Đức Phật. Theo kinh Pháp Hoa, nhân vật cƣỡi sƣ tử là Bồ Tát Văn Thù - ngƣời có tiếng nói êm dịu - tƣợng trƣng cho trí tuệ, phá đêm tối của vô minh. Tƣơng truyền khối đá có từ khi thạch động xuất hiện và ngày càng lớn dần thêm. Đại hồng chung Đại hồng chung là một cái chuông lớn bằng đá có có tiếng kêu rất thanh. Nhƣng đã nhiều năm trôi qua, kể từ ngày cái dùi đánh chuông bị ngƣời Campuchia mang về xứ, ta có đẽo nhiều cái khác nhƣng đánh vào chuông không kêu MẠN ĐÀM 1 SỐ MÓN ĂN Ở AN GIANG!!! Chúng ta thƣờng nghe câu hát: “Có ai về An Giang xem cây lúa trổ bông, có ai về An Giang xem sắn khoai đầy đồng…”. Lời hát là lời chào mời đến quê hƣơng An Giang – mảnh đất nơi địa đầu phía Tây Nam của Tổ quốc. Nơi ấy có dòng Cửu Long ngàn năm vẫn âm thầm chở nặng phù sa, có dãy Thất Sơn hùng vĩ chứa bao điều kỳ bí, có những cánh đồng bát ngát, những hàng thốt nốt cao vút, quả treo giữa không trung, cây mang dòng mật ngọt của đất trời. An Giang mảnh đất sinh ta ra, nuôi lớn bao ƣớc mơ hoài bão của ta, mảnh đất mang đậm nét lịch sử khẩn hoang, mở cỏi của cha ông ta ngày xƣa. Hơn nữa, nơi còn mang đậm màu sắc văn hoá của vùng sông nƣớc. Trong đó, sẽ thực sự là một thiếu vắng nếu chúng ta không nhắc đến cách ăn uống cũng nhƣ những món ăn quen thuộc và đặc sắc của vùng sông nƣớc An Giang.
  • 88. Lâm Ngữ Đƣờng bảo : “Tình yêu đất nƣớc là sự thƣơng nhớ, thèm thuồng món ăn mà cha mẹ cho mình ăn lúc mình nhỏ tuổi” Cách ăn của ngƣời dân không quá cầu kỳ, chủ yếu là “cây nhà lá vƣờn”. Thức ăn chủ yếu của ngƣời An Giang chính là những sản phẩm từ nông nghiệp, ngƣ nghiệp. Các món ăn chế biến từ sản phẩm nông nghiệp và động thực vật, thủy sản khá nhiều về số lƣợng nhƣng không phong phú về giống loài động thực vật so với các vùng khác. Trong đó chủ yếu là tinh bột của gạo, bắp làm nền tảng. Rau xanh, trái cây, thủy sản, gia cầm, luôn có mặt trong bữa ăn hàng ngày của ngƣời An Giang. Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần lƣu ý rằng tùy theo điều kiện lao động, thu nhập mà thành phần của bữa ăn có những thứ gia giảm khác nhau trong bữa ăn. “Đập con cá lóc nƣớng trui,Làm mâm rƣợu trắng đãi ngƣời phƣơng xa” Nguồn nguyên liệu chính cho món ăn có các loại cá đồng, cá song, chim choc, rắn rùa…Nhiều loại rau xanh nhƣ: cải, sen, súng, rau muống đồng… Nhìn chung nguồn nguyên liệu rất đa dạng và dễ tìm, tùy theo từng nơi với những điều kiện khác nhau mà có những cách chế biến các món ăn cũng khác nhau Trong những ngày bình thƣờng, ngƣời An Giang cũng nhƣ các địa phƣơng khác trong vùng Đồng bằng không cầu kỳ sự ăn uống, chỉ cần ăn đủ no. Không hề kén các món ăn, bữa cơm thƣờng ngày chủ yếu là gạo và cá. Gạo thƣờng dùng là loại gạo trồng ngoài đồng ruộng, những năm trƣớc đây thƣờng sử dụng “lúa mùa” giã ra thành gạo, cơm có màu đỏ. Nhƣng ngày nay, chủ yếu là các loại gạo thƣờng, lắm lúc có những gia đình khá giả ăn gạo Nàng Nhen, Nàng Hƣơng Chợ Đào, hay gạo Thái Lan. Nhƣng tất cả đều giống nhau là họ ăn nhiều cơm. Cơm xuất hiện xuyên suốt trong những mân cơm từ bữa cơm gia đình đến khi đám tiệc giỗ quải. Nhƣng nếu thay cơm bằng các món khác nhƣ bánh hỏi, bánh xèo thì cũng chỉ mang tính nhất thời có khách hay tiệc tùng. Cá thì dƣới sông bắt lên, hay cá trên đồng khi mùa nƣớc nổi. Những loại cá có rất dễ tìm, và rất gần gũi với ngƣời dân, đặc biệt là đối với những ngƣời có kinh tế khó khăn. Trong bữa ăn hàng ngày, các món nhƣ luột, kho, chiên, canh luôn có mặt trên mân cơm. Những món ăn khá đặc sắc của ngƣời dân vùng sông nƣớc nhƣ món mắm cá linh, cá chốt, cá trèn, cá lóc những món này đƣợc chế theo nhiều cách khác nhau nhƣ kho, chƣng hay ăn sống với rau thơm, dƣa leo và các loại trái nhƣ chua nhƣ khê khế, có vị chát nhƣ chuối chát để tăng thêm hƣơng vị đặc sắc của món ăn. Ngƣời dân An Giang thích ăn nhiều rau, cải đƣợc trồng ven nhà hay mọc tự nhiên ở ngoài đồng. Món canh chua nấu với me chín, cá linh, cá lóc, cá rô, cá tra, cá basa…đƣợc kèm thêm các loại rau, nhƣ bạc hà, giá, đậu bắp, khóm, cà chua, dƣa măng, dƣa cải, cùng với các loại rau thơm…Tùy theo điều kiện từng vùng chúng ta thấy có canh chua bông súng, bông điên điển, canh chua rau muống đồng. Không mấy khó khăn để ngƣời dân kiếm đƣợc một nồi canh chua, nhƣ hái bông súng ngoài đồng, có thể giăng vài tay lƣới dƣới sông hay trên đồng vào mùa nƣớc là có đƣợc món ăn ngon, bổ tăng sức đề kháng cho cơ thể. Ngƣời An Giang biết cách chế biến món ăn kết hợp giữa các loại vật liệu khác nhau,. Nhƣ món canh cá nấu với rau đắng dùng để giải nhiệt, hay khổ hoa hầm với chả cá, canh thịt giò heo hầm với măng tre, gà ác tiềm thuốc bắc, cá trê nƣớng chấm với nƣớc mắm gừng, hoặc các món chiên, xào luộc, với nƣớc mắm chanh ớt hay muối tiêu chanh,…bông súng, cơm dừa nạo ăn với mắm kho, gỏi khô cá sặc,
  • 89. khô cá lóc gỏi sầu đâu, bí hầm dừa ăn với cá kho tiêu. Có thể nói nét đặc trƣng của ngƣời An Giang cũng nhƣ ở Đồng bằng sông Cửu Long là dùng nƣớc chấm làm gia vị để tăng thêm ngon miệng trong bữa ăn, tùy theo món mà sử dụng nƣớc chấm riêng nhƣ nƣớc mắm chanh tỏi, ớt, tƣơng xay, nƣớc tƣơng, cơm mẻ, muối sả, nƣớc mắm me, nƣớc mắm gừng, muối tiêu chanh. .. Thói quen dùng các loại rau quả xanh hoặc làm dƣa kèm với món ăn là nét riêng của ngƣời dân nơi đây nhƣ: rau đắng, hẹ, bông súng, cù nèo, giá, chuối xanh, bắp chuối, khế, khóm và các loại rau mùi,…Các loại dƣa chua thƣờng dùng với các món kho để giảm vị mặn tạo nên sự ngon miệng. Nhƣng chúng ta có thể thấy trong điều kiện lao động bữa ăn thƣờng có cơm với một món nhƣ cơm nguội ăn với khô cá sặc, khô cá lóc hay đƣờng tán thốt nốt. Hoặc có những khi tiếp đãi bạn bè, thân thiết họ chỉ dùng một vài món nhƣ cháo gà, cháo vịt, bánh hỏi, bánh xèo… Chế biến một số món ăn chính Mắm cá lóc: cá lóc làm mắm phải có kích cở đạt tiêu chuẩn đƣợc làm sạch vẩy, cho vào lu khạp trộn đều với muối vừa phải, đậy kín, vài tháng sau lấy ra trộn đều với thính ( một loại vật liệu làm từ gạo, nếp rang sau đó xay nhuyển) chao đƣờng, cơm rƣợu, ủ lại thêm thời gian ngắn, cá đã trở thành mắm có màu đỏ ngậy ăn sống hoặc chƣng rất ngon. Ngoài mắm cá lóc ta còn có mắm cá linh, cá sặc, cá chốt, cá trèn, đây là một trong những phƣơng thức bảo quản đạm có giá trị vì mùa nƣớc nổi cá rất nhiều nhƣng đến mùa khô thì lƣợng cá ít đi. Nƣớc mắm: thƣờng dùng cá linh. Cá mua về rửa sạch, trộn cá với 1/3 lƣợng muối, để vào lu, hủ ém chặt bằng nan tre. Lƣu ý đây là quá trình thủy phân protid thành đạm chính vì thế chúng ta cũng cần phải quản lý tốt tránh ruồi vào đẻ trứng tạo thành dòi. Đậy kỹ đem phơi nắng, khoảng 5 đến 6 tháng sau có thể rút đƣợc nƣớc mắm nguyên chất hoặc múc cả xác cá cho vào nồi nấu sôi lọc sạch cho vào chai đƣơc dùng để kho cá, thịt rất ngon Dƣa mắm: nguyên liệu từ dƣa gang non, hay đu đủ. Quả dƣa gang hay đu đủ xẻ đôi, bỏ ruột phơi nắng cho héo, xếp dƣa vào lu, dùng thanh tre gài chặt, lấy vật nặng đè lên, nấu nƣớc muối có nêm đƣờng để nguội đổ vào lu, hủ phủ mặt dƣa, độ 15 ngày vớt ra để ráo nƣớc xếp vào lu khác, đổ nƣớc mắm cá vào lu dƣa để khoảng 25 ngày cho thấm là có thể dùng đƣợc. Ngƣời ta có thể dùng dƣa gang hay đu đủ bào thành sợi sau đó trộn với mắm cá lóc xắt nhỏ nhƣ việc trộn hỗn hợp Các loại dƣa chua: gồm dƣa kiệu, dƣa hành, dƣa môn, dƣa cải, dƣa giá, dƣa măng, dƣa bông điên điển… Nguyên liệu đƣợc đƣa vào hủ, lu đậy chặt, quậy nƣớc muối vừa mặn, hoà với nƣớc vo gạo cho vào hủ, lấy vài lớp lá chuối đậy kín miệng để vài ba hôm là có thể dùng đƣợc. Các loại dƣa khác có thể thay thế bằng nƣớc muối pha loãng. Khi ăn trộn dƣa với tỏi đƣờng hoặc giấm, chanh ăn kèm với các món kho, mắm rất ngon. Món lẩu: thực chất là loại canh thập cẩm với nhiều vật liệu khác nhau nhƣ thịt, cá, tôm, khô mực, nấm, bông cải,…là món ăn nóng dùng để trên lò than hay cù lao dùng than củi. Đây là một cách nâng cao của món mắm kho truyền thống. Bánh xèo: là loại bánh làm bằng bột gạo xay trộn với nghệ tạo màu, cùng với nƣớc cốt dừa, chiên trong chảo với nhân bánh là thịt gà, heo băm nhỏ cùng với giá, bông điên điển, bánh đƣợc ăn chung với rau dƣa chấm nƣớc mắm chanh, ớt, ta cũng có những loại rau sống ăn chung nhƣ rau thơm, dắp cá… Ở An Giang chúng ta thấy
  • 90. món bánh xèo nhiều nhất là ở vùng Thất Sơn đặc biệt là trên triền núi Cấm, phải chăng với món bánh xèo có những loại rau xanh mang chứa nhiều hàm lƣợng Vitamin tăng sức đề kháng của cơ thể nơi vùng sơn cƣớc. Nhìn chung bánh xèo rất phổ biến đối với ngƣời dân Nam Bộ thƣờng xuất hiện trong ngày Tết Đoan Ngọ. Bánh hỏi: dùng ăn với thịt quay, cùng với rau thơm, chuối chát, khóm, khế, nƣớc mắm chua ngọt, chanh ớt, chút đậu phộng rang …sẽ làm hài lòng ngƣời ăn. Món cá lóc: có rất nhiều món từ cá lóc xỏ cây nƣớng trui hay bọc trong bùn non, lá chuối các lóc chiên xù, rang muối, cá lóc hấp bắp cải hay đọt bầu, đọt bí, …gói với bún, bánh tráng thêm rau dƣa, chấm nƣớc mắm chua ngọt ăn thì còn gì bằng Chuột đồng: đƣợc chế thành các món ăn nhƣ: chuột xé phai, chuột rôti ƣớp ngũ vị hƣơng chuột khìa nƣớc dừa, chuột xào lăn. Dơi: có món dơi nấu cháo đậu xanh, dơi xào lăn, rôti nƣớc cốt dừa, huyết dơi hoà rƣợu uống có tác dụng hạ nhiệt, sáng mắt. Ếch, cóc nhái đƣợc dùng nấu cháo, xào lăn, chiên bột, và làm nhiều món khác. Rùa: đƣợc rang muối, hay khìa nƣớc dừa hoặc xé phai cuốn với bánh tráng ăn kèm với đậu phộng rang đâm nhỏ rau râm chấm nƣớc mắm chanh ớt. Lƣơn: xào cari sả ớt, lẩu lƣơn, lƣơn um rau ngổ. Các loại khô: các sặt, cá lóc, cá kìm, .. Nƣớng trên lửa than, hay trộn gỏi sầu đâu, đu đủ chấm nƣớc mắm chanh ớt, hay nƣớc mắm me. Các món ăn đặc sản Mắm thái: nổi tiếng Châu Đốc từ những năm 50 những tên tuổi nhƣ: mắm bà Hai Xuyến, bà Giáo Khoẻ, bà Giáo Thanh, bà Giáo Mãng và ngày nay là các con cháu của họ đƣợc truyền nghề. Nhƣng để làm mắm thái trở thành đặc sản thì phải có bí quyết gia truyền, chọn kỹ loại cá lóc, thịt trắng làm sạch xắt cá thành lát mỏng độ 0.5 -1cm dài thành chỉ, cho thêm khóm, đu đủ, gừng, tỏi, ớt, dƣa gang non…làm cho con mắm biến vị, đổi màu, ngon và thơm hơn. Mắm thái thƣờng đƣợc dùng ăn với bún, rau sống, chuối chát, gừng, khế, thịt ba rọi luộc. Mắm ruột: đƣợc chế từ bộ đồ lòng của cá và trứng non con cá lóc, cá bông. Ngày nay không còn làm nhiều để bán.Ăn mắm có nhiều kiểu, nhiều cách, vừa đơn giản, vừa cầu kỳ: mắm kho với thịt ba rọi chấm bông súng, bông điên điển, rau nhúc, rau dừa là một loại món ăn đặc sắc của ngƣời Nam Bộ. Ngoài ra còn có mắm sống ăn với rau thơm, húng cây, húng dũi, lá quế, đọt vừng, đọt xoài non, các thứ rau ở bờ đìa, bờ ruộng, thêm chuối chát, dƣa leo, gừng, ớt, tỏi, riềng. Ăn mắm ngày nay đƣợc nâng lên thành nghệ thuật từ mắm kho xƣa kia biến thành lẩu mắm, hay thịt bò nhúng mắm. Thịt bò xào lá giang: thịt bò rửa sạch thái nhỏ và mỏng, ƣớp gia vị và nghệ vàng, xào với nƣớc dừa nạo, đến khi gần chín thì cho lá giang vào, xào vừa héo là nhắc xuống, chấm với nƣớc chấm chanh ớt, đậu phộng rang. Gỏi sầu đâu: khô cá lóc, cá sặt, cá kết, cá trèn, hoặc cá lóc nƣớng trui, cá chạc nƣớng và thịt ba rọi, luộc xắt mỏng. Cá khô nƣớng chín, cạo bỏ than tro, xé thịt cá lóc, rọc bỏ xƣơng, lá sầu đâu trụng nƣớc sôi cho héo để cso màu xanh giòn, làm nƣớc chấm chanh, tỏi, ớt trộn đều với khô, cá bày trên đĩa ăn cùng với nƣớc mắm me. Tôm nƣớng: là loại tôm càng xanh, còn sống nƣớng bếp than, thƣờng đƣợc trộn chung với gỏi ngó sen rất thơm ngon và bổ dƣỡng.
  • 91. Khô bò: đƣợc chế biến khá công phu sản xuất nhiều ở Châu Đốc qua nhiều công đoạn: lựa chọn thịt bò, ƣớp gia vị, sấy chin, làm sẵn đóng gói thuận tiện cho ngƣời dùng ngay hay làm quà biếu. Khô cá tra phồng: chọn cá tra tƣơi, sửa sạch, xẻ bụng, bỏ mỡ, bỏ ruột, đem ngâm trong dung dịch khoảng ba giờ rồi xẻ đôi và ngâm cá để ƣơn khoảng một giờ nữa. Sau đó ƣớp muối trong bốn giờ rồi đem rửa sạch phơi nắng làm khô, khi ẩm độ trong cá thích hợp cho quá trình bảo quản chúng ta đóng gói. Món canh chua cá hô: cá đánh bắt bằng cách câu hay lƣới, cá hô có con nặng 50 đến 100 ký, da và thịt cá dày 3 phân, nấu canh chua với đậu bắp, giá, cà chua, bạc hà, me chín cùng các loại rau mùi nhƣ: quế, ngò om, rau cần dày lá, ngò gai…, chấm với nƣớc mấm ớt. Đây là đặc sản của vùng sông Tiền ngày nay rất ít thấy loại cá này. Đƣờng thốt nốt: lấy nƣớc làm đƣờng ở ngọn bông thốt nốt vào lúc ra hoa, nấu khô đặc lại, đổ vào khuôn tròn thành miếng to nhỏ khác nhau. Trung bình 6 lít nƣớc thốt nốt nấu đƣợc 1 kí đƣờng. Dùng 10 miếng đƣờng gói thành ống bằng lá thốt nốt tạo thành cây dài nhƣ đòn bánh tét. Đƣờng thốt nốt có thể ăn với cơm nguội, hay nấu chè dùng nhƣ gia vị làm tăng thêm hƣơng vị cho món ăn. Về An Giang Có ai về An Giang xem cây lúa trổ bông Có ai về An Giang xem sắn khoai đầy đồng Về An Giang nghe cô hai lý...lý con sáo sang sông Hò ơi... là hò ơi ..... Mái chèo thoan thoắt trên sông Sông Tiền sông Hậu cá tôm đầy khoan mau về quê mẹ trái cây đầy vƣờn Long Xuyên ơi, Châu Đốc ơi Em là con gái Tân Châu Đánh giặc giữ nƣớc trồng lúa cũng hay Đánh giặc giữ nƣớc dệt lụa...càng khéo tay An giang ơi! Câu hò bến nƣớc xôn xao Tri Tôn Bảy Núi anh hùng còn đây ai về có nhớ hôm nay riêng ta về ta nhớ ... ngƣời mà ta yêu. Hƣớng dẫn du lịch Long Xuyên Sơ lƣợc Thành phố Long Xuyên là một thành phố thuộc tỉnh An Giang, đồng thời cũng trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố Long Xuyên là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh, nằm bên hữu ngạn sông Hậu. Long Xuyên cách thủ đô Hà Nội 1950 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) 189 km về phía Tây Nam, cách biên giới Campuchia 45 km đƣờng chim bay. Long Xuyên có dân số khoảng 350.000 ngƣời (số liệu năm 2007) và diện
  • 92. tích tự nhiên là 106, 87 km, gồm 11 phƣờng và 2 xã. Tây Bắc giáp huyện Châu Thành Đông Bắc giáp huyện Chợ Mới Nam giáp huyện Thốt Nốt (Thành phố Cần Thơ), Tây giáp huyện Thoại Sơn. Đi đâu, chơi gì?Long Xuyên không là trung tâm liên hợp du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long nhƣ Cần Thơ, nhƣng có những hoạt động đặc thù cá biệt rất hấp dẫn du khách, nhất là ngƣời nƣớc ngoài nhờ có sắc thái du lịch miền núi và tham quan cộng đồng dân tộc Chămpa, Khmer cùng với kết hợp hành hƣơng. Một số tours ngắn ngày nhắm vào tham quan sinh hoạt nuôi cá bè, chƣơng trình du lịch xanh, và tham gia lễ hội ngƣời Khmer, Chămpa cũng nhƣ lễ hội "Vía bà Châu Đốc" ở núi Sam.Ở Long Xuyên có ba di tích đƣợc xếp hạng cấp quốc gia, đó là: Ngôi nhà lƣu niệm thời niên thiếu của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Đình Mỹ Phƣớc và Bắc Đế miếu (tức chùa Ông Bắc).* Cù Lao Ông Hổ và nhà lƣu niệm Chủ tịch Tôn Đức ThắngCù lao Ông Hổ do phù sa sông Hậu bồi đắp. Trên cù lao có ngôi nhà gỗ, nơi gìn giữ những kỷ niệm về Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong khuôn viên hoa trái xum xuê. Cù lao Ông Hổ thuộc xã Mỹ Hoà Hƣng cách Trung tâm Thành phố Long Xuyên bởi một nhánh sông Hậu chảy qua. Bằng nhiều phƣơng tiện và con đƣờng thuỳ, bộ khác nhau, chúng ta có thể đến với Cù lao Ông Hổ, nơi đây chúng ta sẽ có dịp thăm lại ngôi nhà lƣu niệm thời niên thiếu của Bác Tôn Đức Thắng và các di vật ngày xƣa của Bác. Ngôi nhà đƣợc xây dựng vào năm 1887, do thân sinh của Bác là cụ Tôn Văn Đề xây dựng với lối kiến trúc hình chữ Quốc, nên sàn lót ván, mái lợp ngói ống, ngang 12 mét, dài 13 mét, rộng hơn 150m2. Không chỉ có thể, đến với cù lao khách còn đƣợc nghỉ tại nhà dân (Homestay) dể thƣởng thức các loại trái cây, món ăn đặc sản và nghe đàn ca tài tử, làm quen với cuộc sống của ngƣời dân Nam Bộ, thăm các bè cá ven bờ cù lao và hiện đang xúc tiến chƣơng trình “Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng”… Nơi đây, quý khách có thể tận hƣởng đƣợc hƣơng vị cuộc sống của vùng sông nƣớc Nam Bộ. * Đình Mỹ Phƣớc Đình Mỹ Phƣớc là một ngôi đình khang trang, bề thế và là một di tích kiến trúc nghệ thuật của tỉnh An Giang. Ngôi đình nằm trong khuôn viên có diện tích 3800m2, xung quanh có tƣờng gạch bao, có một cửa chính và ba cửa phụ bằng gạch và xi măng. Cổng chính xây theo kiểu tam quan, trên có ba chữ "Mỹ Phƣớc (Phúc) Đình", hai bên có hai con lân bằng đất nung tráng men xanh. Qua cổng tam quan, ở hai bên có hai miếu: miếu Sơn Quân và miếu Hội Đồng. Ngôi đình chính dài 37m, rộng 16,5m (610,5m2), gồm chín gian, có ba cửa chính. Bờ nóc gắn hai con rồng uốn khúc, đuôi xoắn, chầu nậm rƣợu. Nóc nhà võ ca gắn hai con phƣợng và bát tiên ở hai bên. Ở giữa có hình bát quái, hai bên có hai con nai. Mặt trƣớc mái đình giữa đắp hình địa cầu, hai bên có hai con cá hóa rồng. Hai đầu đao có hình nhật nguyệt và hình ngƣời. Mái lợp ngói âm dƣơng, có ba tầng mƣời hai mái, đƣợc đắp tƣợng cá hóa rồng, nhật nguyệt, lƣỡng long tranh châu, phƣợng, lân và bát tiên. Đình là một quần thể gồm nhiều nhà vuông có bốn cột cái, mở rộng ra chung quanh bằng kèo đâm và kèo quyết. Các nhà nối liền theo kiểu trùng thiềm điệp ốc], tạo nên
  • 93. một không gian rộng rãi. Nội điện có khám thờ thần thành hoàng làng. Bàn thờ Hội đồng đƣợc chạm lộng sơn son thiếp vàng. Có hai bộ bao lam chạm trổ hoa lá và bát tiên, sơn son thiếp vàng. Vị thần đƣợc thờ là Nguyễn Hữu Cảnh, một vị tƣớng của Chúa Nguyễn Phúc Chu (1738 - 1795), ngƣời có công chiêu dân khai phá vùng đất miền Tây Nam Bộ. Ngôi đình có sắc phong từ thời Tự Đức năm thứ 5 (1852). Ngoài ra, đình còn thờ Tả ban, Hữu ban, tiền hiền, hậu hiền, Đông hiến, Tây hiến…Và đặc biệt hơn nhiều ngôi đình khác là nơi đây còn thờ thần Thị, tức ông Nguyễn Văn Võ, ngƣời có công lập chợ Long Xuyên. Chùa Ông Bắc Di tích chùa Ông Bắc (Quảng Đông Tỉnh Hội quán) tuy không to lớn, nhƣng là một di tích kiến trúc chính thống của dân tộc Hoa. Di tích này nằm trên đƣờng Phạm Hồng Thái, mặt chính hƣớng ra sông Long Xuyên, cách cầu Duy Tân khoảng 10m, thuộc phƣờng Mỹ Long, T.p Long Xuyên, tỉnh An Giang. Chùa đã đƣợc công nhận di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia vào thánh 6 năm 1987. Hội quán này đƣợc xây dựng cách đây trên 100 năm, khi vùng đất này còn mang tên Đông Xuyên, sau đó thuộc thôn Mỹ Phƣớc, huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Kiên, tỉnh An Giang thời Nhà Nguyễn. Theo những ngƣời cao tuổi và căn cứ vào bia ký kể lai lịch chùa, thì ban đầu chùa khá đơn sơ do những ngƣời Hoa từ tỉnh Quảng Đông đến lập nghiệp xây dựng để làm nơi hội họp, sinh hoạt. Nội thất chùa có cấu trúc cảnh phong thủy, thoáng mát, trên đỉnh cao tứ giác có nhiều bức chạm trổ đẹp, hình tam cấp tƣợng trƣng cho ba cõi: Thiên, địa, nhân. Nhìn chung, chùa đã thể hiện toàn cảnh một mô hình thu nhỏ của các ngôi nhà Quan lại phong kiến Trung Hoa. Ngoài ra, Long Xuyên còn có công viên Nguyễn Du, quảng trƣờng Hai Bà Trƣng, chợ nổi Long Xuyên...đƣợc nhiều du khách tìm đến tham quan. Công viên Nguyễn Durộng khoảng 700 m² cận kề bên sông Hậu. Nơi trung tâm khuôn viên là một hồ nƣớc nhân tạo, khiến phong cảnh nơi đây thêm đẹp và thoáng mát.* Chợ nổi Long Xuyên Là nơi tập trung hàng trăm xuồng, ghe từ khắp nơi đến để mua bán hàng hóa (chủ yếu là hàng nông sản). Ai bán loại nào sẽ treo hàng ("bẹo" hàng) trên cây sào cao để ngƣời mua dễ nhận biết. Chợ nổi chỉ hoạt động từ khoảng 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều mỗi ngày... Ngoài ra khách còn đƣợc thƣởng thức những món ăn, nƣớc uống hết sức là bình dị trên chiếc xuồng chèo của những cô gái miệt vƣờn nhƣ: Bánh canh ngọt, lạt, bánh tầm, bánh bò, hủ tiếu, chè đậu đỏ, cà phê… Búng Bình Thiên ( An Giang) An Giang có nhiều mô hình du lịch độc đáo nhƣ du lịch cộng đồng-nghỉ qua đêm; du lịch làng nghề; du lịch leo núi; tham quan-mua sắm nơi biên giới. Hiện nay, có một điểm đến thật hấp dẫn và khá mới lạ cho những ai thích chiêm ngƣỡng cảnh sông nƣớc hữu tình; thƣởng thức những món ăn dân dã tuyệt vời; nghe những bài ca vọng cổ mùi mẫn đến ngây ngất cõi lòng, đó là: Búng Bình Thiên, một điểm đến hấp dẫn cho du khách.
  • 94. Từ thị xã Châu Đốc (An Giang), du khách qua cầu Cồn Tiên trên sông Châu Đốc, men theo tỉnh lộ 956 hơn 30km, hƣớng về cửa khẩu Khánh Bình là đến Búng Bình Thiên, một địa danh của huyện An Phú. Đây là một hồ nƣớc ngọt tự nhiên mênh mông xanh mát trong khi nƣớc của những kinh-rạch-sông-hồ quanh vùng Búng Bình Thiên vẫn đục. Hồ nằm cặp sông Bình Ghi-một nhánh của sông Hậu nằm sát huyện Preythum của tỉnh Kandal, Campuchia-có khả năng thu hút nhiều khách du lịch. Hồ nằm giữa 3 xã Khánh Bình; Khánh An; Nhơn Hội của huyện An Phú. Mùa khô hạn, diện tích hồ còn khoảng 300ha do nƣớc hạ xuống (từ lâu không bao giờ cạn nƣớc dù thời điểm oi bức nhất). Mùa nƣớc nổi nƣớc dâng lên làm mặt hồ rộng khoảng 900ha. Có thể nói rằng, đây là hồ nƣớc ngọt tự nhiên lớn nhất miền Tây. Hồ hiện nay cung cấp lƣợng nƣớc ngọt rất lớn quanh năm cho cƣ dân cả vùng và cũng là hồ có nhiều cá đồng bậc nhất vùng biên giới. Độ sâu trung bình của hồ khoảng 4 mét và có nhiều cá nên nhân dân sống quanh hồ giăng lƣới, chài lƣới khai thác lƣợng thủy sản nƣớc ngọt tự nhiên nơi đây. Cảnh quan hồ thật khoáng đãng, gió lộng tứ bề. Khi mùa nƣớc nổi đến, nhà sàn của một bộ phận cƣ dân sống ven hồ núp dƣới những rặng cây xanh nhƣng xung quanh ngập nƣớc, tựa nhƣ những chấm phá cỏ - cây - hoa - lá đƣợc thêu trên nền trắng xanh thơ mộng của bức tranh tự nhiên vậy. Hãy đến Búng Bình Thiên ngao du quanh hồ bằng thuyền, thƣởng thức các món ăn dân dã nhƣ chuột nƣớng; lẩu mắm nấu với cá rô đồng chấm với bông súng, bông điên điển; chả cá linh hay cá linh non kho với trái me non... thật ngon bá cháy. Ban đêm bạn sẽ ngủ tại nhà (homestay) của ngƣời đồng bào dân tộc Chăm An Phú với cảm giác mơ màng; lâng lâng... Du lịch văn hóa Óc Eo Đi du lịch về An Giang, ngƣời ta tƣởng ngay đến các núi Sam, núi Cấm, núi Tƣợng, đồi Tức Dụp... vốn có nhiều huyền thoại gắn liền với những ngƣời dân vùng đất phía Tây Nam. Thế nhƣng, bên cạnh những danh thắng nổi tiếng đó, tỉnh An Giang còn có Di chỉ khảo cổ Óc Eo rất hấp dẫn ở núi Ba Thê (huyện Thoại Sơn), là đặc trƣng nền văn hóa vƣơng quốc Phù Nam xa xƣa. TỪ NHỮNG “MỎ VÀNG”... Từ lâu, khu vực Đá Nổi, vùng giáp ranh giữa 2 huyện Thoại Sơn và Thốt Nốt, đƣợc ngƣời dân ở đây coi là “mỏ vàng” lộ thiên bởi đào đâu cũng thấy vàng, bới xuống vài mét là tìm đƣợc nhiều vật dụng trang trí gia đình, với nhiều kiểu dáng khác nhau có giá trị kinh tế và nghiên cứu văn hóa. Ông Trần Văn Hùm, nông dân ở khóm Tây Huề, phƣờng Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, kể lại, những năm trƣớc 1975 ông hay xuống khu vực Đá Nổi để đặt trúm bắt lƣơn, giăng câu lƣới vào mùa nƣớc nổi. Ngày nào cũng có hàng trăm ngƣời từ khắp nơi đổ về đây đào vàng, phần lớn đều là dân nghèo mong gặp cơ may và thực tế cũng kiếm ăn đƣợc lắm. Ông bảo rằng: “Ban đêm nằm ngủ thấy có nhiều tia sáng từ mặt đất vọt lên, ban ngày đến đào là đƣợc vàng, thƣờng gặp những mảnh vụn, đem phân kim đƣợc tỷ lệ rất ít. Nếu không có thì gom đất nát đem đãi cũng đƣợc mạt vàng, cực công một chút nhƣng mỗi ngày cũng kiếm đƣợc vài chục ngàn đồng”. Tin tức lan rộng, lƣợng ngƣời tìm vàng ngày càng đông, mạnh ai nấy đào bới, cứ nghĩ của trời cho! Sau khu vực Đá Nổi, ngƣời ta lại phát hiện ra mỏ vàng tƣơng tự ở khu vực Giồng
  • 95. Xoài, Giồng Cát chạy dài qua 2 huyện Thoại Sơn (An Giang) và Hòn Đất (Kiên Giang), trung tâm là xung quanh chân núi Ba Thê (An Giang) đã tìm thấy đƣợc nhiều hiện vật quý hiếm, pho tƣợng cổ có niên đại từ thế kỷ thứ 1-2 đến thế kỷ thứ 6-7. Năm 1913, nhân dân vùng này phát hiện một tƣợng Phật bốn tay và hai bia đá khắc chữ Phạn, đã lập chùa để thờ tại chân núi Ba Thê và có tên gọi dân gian: chùa Phật Bốn Tay. Năm 1988, tƣợng Phật bốn tay đƣợc Bộ Văn hóa quyết định công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật. Chuyện đi đào vàng ở Óc Eo, Ba Thê luôn hấp dẫn ngƣời nghe và thu hút dƣ luận quan tâm. Anh Tƣ Chậu ở Ba Thê (cũ), xã Tân Hội (huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang) nói: “Những năm còn làm lúa mùa nổi, tôi đem máy cày qua làm mƣớn ở chân núi Ba Thê, thƣờng lƣợm đƣợc những đồ vật ở giữa đồng và có hình dạng rất ngộ. Khi bằng đất nung, có lúc giống nhƣ đồng đen, thậm chí có nhiều món cầm lên cứ ngỡ là vàng thật”. Từ những câu chuyện có thật, mỗi ngƣời kể cho nhau nghe lại thêu dệt đôi chút, làm phong phú thêm về giá trị vùng Di chỉ khảo cổ Óc Eo, vẫn còn nhiều bí ẩn. ... ĐẾN CÁC DI TÍCH Trong nhiều năm qua, Bảo tàng tỉnh An Giang đã phối hợp cùng Viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh và Viện Khảo cổ Hà Nội tiến hành khảo sát và khai quật một số loại hình tại vùng Di chỉ Óc Eo (núi Ba Thê) và một số nơi khác trong tỉnh. Liên tiếp trong 3 năm, từ 1998 đến năm 2000, các nhà khảo cổ khai quật 2 di chỉ ở núi Ba Thê là khu kiến trúc, mộ táng nằm phía Nam chùa Phật Bốn Tay và khu gò Cây Thị nằm dƣới đồng bằng. Kết quả cho thấy, đây là một dạng kiến trúc cung đình mang tính cách tôn giáo, đƣợc xây dựng rất xƣa và tồn tại đến thế kỷ thứ 9. Đặc biệt, qua đợt khai quật cũng phát hiện một chum cải táng bằng gốm thô đƣờng kính 0,67m, cao 0,4m, trong chum có vài mảnh nhỏ chất hữu cơ, 5 hạt chuỗi bằng vàng và một mảnh chuỗi vỡ bằng mã não. Tỉnh An Giang đã hợp đồng với Công ty Tu bổ di tích và Thiết bị văn hóa (Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh) để thiết kế và xây dựng mái che cho 2 di tích này, với tổng kinh phí hơn 1 tỉ đồng, phục vụ du khách tham quan và công tác nghiên cứu khoa học. Trong lần khảo sát điền dã hồi đầu tháng 10 năm 2001, Bảo tàng tỉnh An Giang cũng phát hiện một công trình kiến trúc cổ nằm ở xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn có chiều dài 18m, rộng 12m và cao 3m. Theo nhận định ban đầu của giới chuyên môn, công trình dƣới dạng đền tháp còn khá nguyên vẹn thuộc nền văn hóa Óc Eo, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 7, 9 cách đây hơn 1.000 năm. Ông Dƣơng Ái Dân, Giám đốc Bảo tàng tỉnh An Giang cho biết, ngành đã xúc tiến lập hồ sơ khoa học các khu di tích này để trình lên Bộ Văn hóa - Thông tin năm 2002 và đƣợc công nhận di tích cấp quốc gia trong năm 2003, xem nhƣ góp phần giữ gìn và bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời còn có ý nghĩa to lớn cho việc nghiên cứu về vùng đất và con ngƣời An Giang trong giai đoạn lịch sử đầu Công nguyên… Văn hoá Óc Eo Văn hóa khảo cổ đƣợc đặt tên theo di tích Óc Eo thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Việt Nam. Di tích đƣợc phát hiện vào năm 1942 và đƣợc Malơrê (L. Malleret) khai quật lần đầu tiên vào năm 1944. Trƣớc đó vào thế kỉ 19, những hiện vật trôi nổi của nền văn hoá này đã đƣợc giới nghiên cứu chú ý đến. Qua những cổ vật này, nhiều ngƣời đã liên hệ đến Vƣơng quốc Phù Nam đƣợc ghi chép trong các thƣ tịch cổ, trong minh văn trên bi kí, trên các bệ thờ bằng đá.
  • 96. Từ 1977, các nhà khảo cổ Việt Nam đã nghiên cứu, thám sát và khai quật trên 90 di tích, làm rõ đƣợc phạm vi phân bố, các loại hình di tích, di vật của nền văn hoá này. Văn hoá Óc Eo (VHOE) phân bố chủ yếu trong phạm vi các tỉnh Nam Bộ. Các di tích bao gồm: di chỉ cƣ trú có tầng văn hoá dày trên dƣới 3 m, các công trình kiến trúc tôn giáo và các khu mộ táng. Hiện vật vô cùng phong phú. Nhóm tƣợng thờ có tƣợng Phật, tƣợng thần bằng các chất liệu gỗ, đá, đồng; tƣợng linh vật có yoni và linga, có hiện vật đƣợc làm bằng vàng. Nhóm phù điêu và con dấu khắc trên gốm, đá, thuỷ tinh, kim loại. Nhóm tiền kim khí đúc bằng vàng, đồng, chì thiếc, chì sắt. Nhiều hiện vật bằng vàng và vàng lá có hình chạm khắc, nhiều đồ trang sức bằng đá quý, đá màu, thuỷ tinh, kim loại, nhiều loại đồ gốm và những vật dụng bằng đất nung, đá, gỗ. Những phát hiện mới đã làm rõ thêm vai trò của VHOE và cảng thị Óc Eo theo con đƣờng tơ lụa trên biển đối với vùng Đông Nam Á hải đảo và sang tận Địa Trung Hải. Nhiều tƣ liệu phong phú của VHOE đã đóng góp vào nhận thức về một nền nghệ thuật Phật giáo và Hinđu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long vào thế kỉ 5. VHOE có sự kế thừa và phát triển lên từ các nền văn hoá tiền Óc Eo ngay trên mảnh đất Nam Bộ từ cuối thời đại đồ đồng. Hậu Óc Eo có liên quan đến nhà nƣớc Chân Lạp và Thuỷ Chân Lạp. Lẩu trâu nấu mẻ (Long Xuyên. An Giang) Thịt ăn dễ bị ngán nhƣng thịt trâu lại là món khoái khẩu. Từ xƣa , ông bà kể thịt trâu bị lạc đạn chết ngoài đồng - phần úp xuống nƣớc đem lên dùng ngon gấp mấy lần thịt bò. Bây giờ, nhiều ngƣời sợ thịt chứa hormone tăng trƣởng nên tìm tới thịt trâu nhƣ thực phẩm an toàn. Nào sƣờn, dụm, trâu hầm sả cho đến trâu luộc nhƣng món hẫp dẫn hơn có lẽ là nấu với cơm mẻ. Nói là thịt nhƣng dĩa "nguyên liệu" hội đủ những thịt, nạm, lòng...và cả trâu vò viên. Càng bắt mắt với hàng loạt rau củ quả, cải thảo, củ cải xắt lát, cà rốt, rau cần, mồng tơi, chuối chát, ngò gai, lá quế, dĩa sả, ớt, chén cơm mẻ... Tất cả đƣợc bài trí quanh cái "cù lao" khói cuộn mùi than đƣớc. Đợi lẩu sôi, thực khách tự nêm nếm nƣớc lẩu bằng các gia vị sẵn có. Thịt, lòng, vò viên...dù đã đƣợc sơ chế nhƣng cũng cần phải ngâm lâu một chút cho dậy mùi đặc trƣng, thứ đến cho các loại rau mùi vào lẩu sẽ ra hƣơng vị riêng. Dùng tới đâu trụng rau tới đó để rau còn xanh, giòn. Bạn có thể gọi thêm đĩa bánh phở cho chắc bụng. Ở Cần Thơ, tới quán lẩu trâu không ít ngƣời đòi cho bằng đƣợc đĩa phèo, có ngƣời ăn phèo trâu nhúng mẻ, ngƣời khác lại thích phèo nƣớng. Vấn đề là khả năng "chịu đựng" mùi thơm của món nƣớng vì thời gian nƣớng hơi lâu. Còn ở Long Xuyên thì lạ mắt hơn với trâu vò viên. Nhƣng ăn lẩu trâu phải có thời gian để các miếng thịt mềm hơn một chút. Thịt trâu là đặc sản có dƣợc tính, bổ tỳ, bổ gân cốt, ích huyết... Khi ăn kèm với rau cấn ta (cần nƣớc) vị ngọt, hơi cay,tính mát thêm tác dụng thanh nhiệt,lợi tiểu, giảm đau, cầm máu... Hơn nữa trong rau cần nƣớc còn có chất b pinen, myrcen tác dụng giảm ho, chống viêm, chống nấm. Ngon, rẻ và bổ dƣỡng nên buổi chiều khoảng 4 giờ, quán lẩu trâu Kiều Thu chật cứng khách ngồi. Ngƣời thì tìm bạn chọn nơi này làm nơi "đối ẩm", ngƣời khác đƣa gia đình tới thƣởng thức món hiếm hoi, bởi vì tổng đàn trâu ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long không còn là mấy. N.T
  • 97. Đia chỉ: Quán lẩu trâu Kiều Thu, 122 Phó Đức Chính, Phƣờng Bình Khánh, Tp. Long Xuyên, An Giang Di tích Cột Dây Thép Di tích Cột Dây Thép nằm sát bờ sông Tiền và cũng sát Tỉnh lộ 23, thuộc ấp Long Thuận, xã Long Điền A, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đƣợc xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, theo mục đích ban đầu của thực dân Pháp lúc bấy giờ là làm hệ thống thông tin liên lạc cho chính quyền thực dân ở huyện Chợ Mới. Di tích Cột Dây Thép đƣợc làm từ bốn trụ cột bằng thép gắn kết tạo thành hình tháp, chóp vuông, có chiều cao 30 mét với bốn chân trụ siêng theo bốn hƣớng. Mỗi chân trụ các nhau khoảng 1,5 mét. Các chân trụ đều làm bằng những thanh thép có hình chữ L nối kết không đều nhau để tạo thêm sức tải lực cho tòan khối Cột Dây Thép. Ngày xƣa nó là một trong những công trình bề thế của thực dân Pháp, và nó đã đƣợc những ngƣời Cộng sản chọn làm nơi treo lá cờ Đảng đầu tiên tại An Giang. Nói đúng hơn, di tích Cột Dây Thép là một hệ thống gồm hai cột dây thép. Một ở bên này sông Tiền thuộc xã Long Điền A và một ở bên kia sông thuộc xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới. Hai cột dây thép này đứng đối xứng nhau qua con sông Tiền. Nhiều sợi dây thép to đƣợc giăng từ cột bên này qua cột bên kia sông để tạo thành một mạng lƣới dây thép vƣợt sông Tiền. Và đấy chính là mạng lƣới thông tin đƣợc chính quyền Thực dân lúc ấy dùng để thông tin liên lạc từ các xã bên này sông qua bên kia sông và ngƣợc lại... Chính từ mạng lƣới dây thép đó mới có tên gọi cho hai cột này là cột dây thép. Cuối tháng 3 năm 1930, các đồng chí Lê Văn Sô, Lƣu Kim Phong đƣợc Đặc uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam hồi ấy cử về Long Xuyên phối hợp với đồng chí Nguyễn Văn Cƣng tiến hành tuyển chọn những ngƣời tích cực trong Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội kết nạp vào Đảng. Ban Chấp hành Lâm thời tỉnh cũng đƣợc thành lập và tích cực tiến hành xây dựng các chi bộ Đảng. Tỉnh chọn Chợ Mới làm điểm phát triển tổ chức, vì nơi đây có phong trào cách mạng mạnh, có cơ sở Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng Chí hội rộng, là nơi tập trung đông đảo nông dân, thợ thủ công, trí thức sớm có tinh thần chống Pháp và tay sai. Sau quá trình tìm hiểu, tuyển chọn và bồi dƣỡng. Tháng 4 năm 1930, Đặc uỷ Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành thành lập một Chi bộ Đảng xã Long Điền, Chợ Mới gồm ba đồng chí Lƣu Kim Phong, Bùi Trung Phẩm và Đoàn Thanh Thuỷ. Đây là Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Chợ Mới, đồng thời cũng là Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Long Xuyên hồi ấy (tức An Giang ngày nay). Để chào mừng sự kiện lịch sử đó, lá cờ Đảng đầu tiên tại An Giang đã đƣợc treo trên đỉnh Cột Dây Thép. Tiếp theo đó, một lá cờ thứ hai lớn hơn cũng đƣợc đƣa lên và theo dây thép đƣa ra treo ở vị trí giữa sông. Tất cả những công việc này do ông Lê Văn Đỏ, một quần chúng giác ngộ cách mạng tại địa phƣơng trực tiếp thực hiện cùng với sự hỗ trợ gián tiếp của những quần chúng khác. Cờ đỏ búa liềm phất phới tung bay khiến kẻ thù lo sợ, còn nhân dân thì phấn khởi bàn tán xôn xao. Sau đó, cờ Đảng đƣợc tiếp tục treo ở nhiều nơi trong huyện Chợ Mới. Cột Dây Thép phản ánh giá trị rất cao về lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Chợ Mới nói riêng và tỉnh An Giang nói chung trong những ngày
  • 98. đầu thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, là một dấu ấn trong lòng mọi ngƣời dân An Giang khi tìm hiểu về lịch sử tỉnh nhà. Nơi đây chính là điểm treo lá cờ Đảng lần đầu tiên của phong trào cách mạng tỉnh An Giang và cũng là địa điểm tập hợp quần chúng đấu tranh của Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Chợ Mới năm 1930. Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ở Chợ Mới đã đáp ứng đƣợc nguyện vọng của quần chúng, mở ra cho những ngƣời cách mạng và quần chúng yêu nƣớc ở địa phƣơng con đƣờng giải phóng dân tộc đúng đắn, có ý nghĩa quyết định đối với quá trình phát triển của phong trào cách mạng ở Chợ Mới. Cột Dây Thép vào thời kì ấy còn là nơi tập trung của đông đảo quần chúng nhân dân biểu tình, đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ. Những cuộc tuần hành biểu tình đã tạo nên cuộc đấu tranh rộng lớn ở Chợ Mới, đã có ảnh hƣởng sâu rộng nhất là đối với nông dân ở miền Tây Nam Bộ. Và cũng từ đó Cột Dây Thép đã trở thành địa danh lịch sử cách mạng, tiêu biểu cho phong trào đấu tranh cách mạng từ những ngày đầu thành lập Đảng, cũng nhƣ các cuộc đấu tranh sau này. Thánh đƣờng Mubarak An Giang là tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long có đa tộc bao gồm: Kinh - Khmer - Hoa - Chăm. An Giang có hơn một vạn ngƣời Chăm sinh sống ở các huyện Phú Tân, Tân Châu, Châu Phú, An Phú. Ngƣời Chăm An Giang theo đạo Hồi, thờ thánh Ala, nên hầu nhƣ các nơi đều có thánh đƣờng. Và một trong những thánh đƣờng nguy nga, đẹp mắt với nghệ thuật kiến trúc mang nét đặc thù của đạo Hồi, đƣợc Bộ Văn Hóa xếp hạng đó là thánh đƣờng Mubarak, ở xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, cách trung tâm thành phố Long Xuyên khoảng 62 km, về hƣớng Tây theo Quốc lộ 91 đến thị xã Châu Đốc rẽ qua bến đò Châu Giang. Thánh đƣờng Mubarak đƣợc xây dựng do sự đóng góp của tín đồ. Qua nhiều lần trùng tu, lần cuối cùng là thánh đƣờng hiện nay, đƣợc thiết kế bởi kiến trúc sƣ Mohamet Amin, ngƣời Ấn Độ. Nhìn từ xa, thánh đƣờng giống nhƣ các đền thờ cổ của Ba Tƣ, Ấn Độ, vì thánh đƣờng có cổng chính hình vòng cung, uy nghi trƣớc khoảng sân rộng. Hàng năm, thánh đƣờng tổ chức các kỳ lệ lớn nhƣ: lễ sinh nhật giáo chủ Mahomat (Muhammed) vào ngày 12 tháng 3 Hồi lịch, gọi là lễ Mâulút. Lễ Roja hay còn gọi là lễ hành hƣơng đến thánh địa La Mecque vào ngày 10 tháng 12 Hồi lịch...nối liền theo lễ Ramadan, còn gọi là tháng ăn chay, kéo dài từ ngày 1 tháng 9 đến ngày 30 tháng 9. Trong những ngày lễ lớn này ngƣời Chăm tề tựu về thánh đƣờng thật đông đảo và hành lễ theo đúng ghi thức của đạo. Pháo đài Tại đỉnh Núi Sam vào khoảng năm 1896, Chánh tham biện Pháp đã cho xây dựng ngôi biệt thự kiên cố làm nơi nghỉ mát, vui chơi. Tầng trên là ngôi tháp cao hình tròn ốc để hóng gió. Từ đó đỉnh núi Sam có tên là Pháo Đài. Trong thời kỳ chiến tranh, giặc sử dụng Pháo Đài làm căn cứ pháo binh. Năm 1969, anh hùng Hoàn Đạo Cật đánh sập Pháo Đài. Ngày nay, Pháo Đài vẫn là căn cứ quân sự nhƣng ngôi biệt thự không còn nữa. Khách muốn lên Pháo Đài có hai con đƣờng chính: - Một là phía sau lăng Thoại Ngọc Hầu theo những gộp đá đốc đứng hoặc nấc thang rất dễ đi, dọc hai bên đƣờng có nhiều quán ăn, hàng nƣớc và rất nhiều chùa chiền, am, cốc... Và đặc biệt vào mùa hè, hàng phƣợng dọc theo hai bên đƣờng trổ
  • 99. bông đỏ rực cả một vùng núi tạo nên phong cảnh hấp dẫn. Gần tới Pháo Đài có một ngôi chùa Giác Hƣơng với hậu cảnh rộng, thoáng mát sẽ là điểm nghỉ ngơi, ngắm cảnh khá thú vị. - Hai là từ Châu Đốc vào Núi sam đến ngã ba Đầu Bờ rẽ trái dọc theo đƣờng vòng chân núi, qua khu trƣờng học, nhà Bia liệt sĩ là đƣờng lên núi với hai trụ cổng có lối kiến trúc cổ. Dọc theo đƣờng này có nhiều điểm du lịch nổi tiếng nhƣ: vƣờn Tao Ngộ, nhà bác sĩ Nu, bệ đá nơi phát hiện tƣợng Bà Chúa Xứ núi Sam... Đây là một vị trí khá độc đáo vừa có thể đón gió và đƣợc ngắm toàn cảnh hữu tình vùng đồng quê sông nƣớc. Nhà thờ cổ Cù Lao Giêng Vùng cù lao Giêng thuộc huyện Chợ Mới đƣợc xem là xứ đạo. Nơi đây vào thời thuộc Pháp đã xây dựng nên một nhà thờ thuộc họ đạo thiên chúa và dân địa phƣơng đặt tên là nhà thờ Giêng vì toạ lạc trên đất cù lao Giêng. Đây là công trình kiến trúc địa phƣơng do Pháp xây dựng vào năm 1872, tại xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nơi này còn là cơ sở đào tạo Linh mục (lúc bấy giờ) cơ sở chỉ hoạt động đến 1946. Bên cạnh đó, cũng tại cù lao này còn có dòng nữ tu Providence (Chúa Quan Phòng), cùng do các nữ tu ngƣời Pháp lập ra vào năm 1874. Thời thuộc Pháp tại tu viện này còn là nơi thu nhận trẻ em mồ côi và những ngƣời già bệnh tật. Chính vì vậy, dòng nữ tu Chúa Quang Phòng đã đƣợc nhiều giáo dân ở miền Tây Nam Bộ và kể cả Campuchia đều biết đến. Tuy nhiên, hiện nay phòng chính của dòng nữ tu này đƣợc đặt cơ sở tại thành phố Cần Thơ. Còn cơ sở ở cù lao Giêng chỉ là nơi an dƣỡng của các nữ tu già yếu thuộc dòng này. Vị trí: Cù Lao Giêng thuộc xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đặc điểm: Cù Lao Giêng (hay Diên, Riêng, Den, Ven) mà ngƣời Khmer gọi “Koh- Teng” có một bề dày lịch sử rất tự hào, nơi đã ghi lại dấu son lịch sử của phong trào cách mạng từ những năm 1930 với lá cờ đỏ búa liềm trên cột dây thép xã Long Điền A. Với cảnh quan thiên nhiên đầy sức quyến rũ của một vùng sông nƣớc, cá lội tung tăng cùng vô vàn chủng loại cây trái đặc sản của miền phù sa nƣớc ngọt, Cù Lao Giêng còn có những công trình văn hoá và mỹ thuật tiêu biểu nhƣ Chùa Bà Lê (Phƣớc Hội Tự), một di tích lịch sử cách mạng thuộc xã Hội An, huyện Chợ Mới đã đƣợc Nhà nƣớc công nhận di tích quốc gia. Hiện nay, bên trong còn thờ những bài vị của các anh hùng liệt sĩ cách mạng dƣới hình thức tôn giáo để che mắt giặc trong thời chiến tranh. Cù Lao Giêng còn là quê hƣơng của ngƣời nữ anh hùng liệt sĩ Huỳnh Thị Hƣởng - một "Võ Thị Sáu" kiên cƣờng của An Giang. Trên đất này còn có di tích nhà thờ Cù Lao Giêng (xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới) đƣợc xây cất từ năm 1877, lớn nhất ở Việt Nam và có trƣớc nhà thờ Ðức Bà ở Sài Gòn chừng vài tháng. Tƣơng truyền nơi đây xƣa kia là một trong những nơi đóng binh của nhà Nguyễn. Ðặc biệt trong khu này có danh lam Thành Hoa Tự, một ngôi chùa với lối kiến trúc sinh động, trên tƣờng đƣợc chạm nổi những hoa văn mang nhiều hình ảnh đặc trƣng mô phỏng cảnh yên bình thoát tục đƣợc khắc hoạ bởi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân vùng Chợ Thủ. Thành Hoa Tự còn gọi là "chùa Ðạo Nằm", đƣợc xây
  • 100. dựng vào năm 1953 do sƣ tổ hoà thƣợng pháp danh Tịnh Nghiêm, quê ở làng Hoà An (Tx. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) về đây trụ trì. Ðến năm 1954 thì Ông viên tịch, hƣởng thọ 51 tuổi. Hiện nay, trong Bảo Tháp cạnh chùa có đặt thi hài Ông. Là một tu sĩ phật giáo không sáng tác kinh kệ riêng, cũng không đƣa ra một phƣơng thức tu tập mới, nhƣng hành trang và cuộc đời của ông hầu nhƣ đã gắn với nhiều huyền thoại khá ly kỳ từ cung cách sinh hoạt đến dáng đi, giọng nói đều biểu hiện một cốt cách phi phàm!. Và đặc biệt hơn là... nằm!. Có lẽ ông là ngƣời chiếm kỷ lục về thời gian nằm ở nƣớc ta. Trong suốt 9 năm khổ luyện ông đã nằm quay mặt vào vách theo tƣ thế của Ðức Phật Thích Ca đƣợc gọi là "cửu niên diện bích". Có phải chăng, đây là điều "kỳ lạ" để cho mọi ngƣời từ các nơi đổ về hành hƣơng chiêm bái!. Vào ngày giỗ (từ 15 đến 16 tháng 2 âm lịch và các ngày rằm lớn trong năm) có lúc lên tới 10 ngàn lƣợt ngƣời. Cù Lao Giêng đã từng là cứ địa của Xứ Uỷ Nam Kỳ, nơi phát đi những tín hiệu và mệnh lệnh đấu tranh giành quyền sống cho nhân dân ngay từ thời thuộc Pháp. Và cũng chính nơi đây đã sản sinh ra không ít những ngƣời con anh hùng trung dũng của quê hƣơng An Giang. Phải chăng từ những di tích và di sản truyền thống quí báu tự ngàn xƣa còn để lại cùng những cảnh quan nên thơ hữu tình ấy đã vẫy gọi khách du lịch hành hƣơng từ mọi miền đổ về đây tham quan, thƣởng ngoạn. Khu di chỉ văn hóa Óc Eo - Thoại Sơn Khu di chỉ Óc Eo thuộc vùng núi Sập - Ba Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Thành cổ Óc Eo là một thƣơng cảng thời trung cổ bị chìm dƣới đất, đƣợc phát hiện khi nhân dân đào kênh xáng Ba Thê. Đây là một địa danh đƣợc nhiều ngƣời trong và ngoài nƣớc biết đến: là một khu di tích cổ rộng lớn, gắn liền với vết tích vật chất của vƣơng quốc Phù Nam, một quốc gia hùng mạnh ở vùng Đông Nam Á cách nay khoảng hai nghìn năm. Ngoài khu vực đƣợc xem là “thành phố Óc Eo” có diện tích 4.500 hecta, còn có một vài vùng ở miền Tây Nam Bộ nhƣ: Đồng Tháp Mƣời, Châu Đốc, Kiên Giang...mà cho đến nay vẫn còn nhiều điều bí ẩn đối với các nhà nghiên cứu, khảo cổ. Hiện nay, khu di chỉ Óc Eo không những đón đƣợc rất nhiều nhà sƣu tầm, khảo cổ đến nghiên cứu, tìm hiểu mà còn hấp dẫn đƣợc rất nhiều du khách trong và ngoài nƣớc đến đây để xem di vật, vết tích đƣợc phát hiện để biết thêm về một thời kỳ phát triển rực rỡ của vùng đất An Giang ngày xƣa nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Miếu Bà Chúa Xứ Miếu Bà Chúa Xứ thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Đƣợc lập vào năm 1820, kiến trúc theo kiểu chữ “Quốc”. Trong miếu thờ tƣợng Bà Chúa đƣợc tạc bằng đá xanh. Theo truyền thuyết, miếu Bà do dân xây dựng để cúng bái vì tin vào sự linh thiêng của Bà. Lại có truyền thuyết cho rằng, Thoại Ngọc Hầu đã đứng ra xây dựng theo lời trăn trối của vợ (bà Châu Vĩnh Tế). Lúc đầu miếu cất bằng tre, lá. Năm 1962, miếu lợp ngói âm dƣơng. Đến năm 1972, ngôi miếu đƣợc xây lại, năm 1976 công trình mới hoàn thành. Miếu Bà Chúa Xứ kiến trúc theo kiểu chữ “Quốc”, có bốn mái hình vuông, nóc lợp
  • 101. bằng ngói ống màu xanh. Nhà để tƣợng cũng bốn mái hình vuông. Trong miếu thờ tƣợng Bà Chúa Xứ đƣợc tạc bằng đá xanh có giá trị nghệ thuật cao. Tƣợng tạc vào thế kỷ VI, theo mô típ tƣợng thần Vinus thƣờng thấy ở các nƣớc Lào, Campuchia, Ấn Độ. Hội Bà Chúa Xứ đƣợc tổ chức hằng năm rất lớn vào các ngày cuối tháng 4 âm lịch. Hàng vạn ngƣời đổ về đây dự lễ tắm tƣợng Bà, lễ dâng hƣơng cầu phúc lành... Miếu Bà Chúa xứ là một di tích nổi tiếng ở Núi Sam, hàng năm thu hút gần 2 triệu lƣợc ngƣời đến cúng bái, tham quan. Khách hành hƣơng, du lịch không những đến từ các tỉnh lân cận mà còn từ các tỉnh xa nhƣ miền Đông, miền Trung… tạo nên một mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở núi Sam suốt nhiều tháng Miếu Bà có từ bao giờ? Đến nay chƣa có sử liệu nào ghi lại một cách chính xác. Trong dân gian tƣơng truyền rằng: Cách đây gần 200 năm, núi Sam còn hoang vu, cây cối rậm rạp, nhiều thú dữ, dân cƣ thƣa thớt, giặc biên giới thƣờng sang khuấy nhiễu. Một hôm, có một toán giặc Xiêm leo lên núi Sam phát hiện đƣợc pho tƣợng cổ bằng đá rất đẹp. Động lòng tham, chúng xeo nại, tìm cách khiêng đi nhƣng không thể nào xê dịch đƣợc. Sau hàng giờ vất vả với pho tƣợng, chúng tức giận đập phá làm gãy cánh tay trái pho tƣợng. Sau khi chúng bỏ đi, trong làng có một bé gái đang đùa giỡn bỗng dƣng ngồi lại, mặt đỏ bừng, đầu lắc lƣ, tự xƣng là Chúa xứ thánh mẫu, nói với các bô lão: “T ƣợng bà đang ngự trên núi, bị giặc Xiêm phá hại, dân làng hãy đ ƣa Bà xuống”. Dân làng kéo nhau lên núi, quả thật t ƣợng Bà đang ngự gần trên đỉnh. Họ xúm nhau khiêng t ƣợng xuống làng nhằm mục đích để gìn giữ và phụng thờ. Bao nhiêu tráng đinh lực điền đ ƣợc huy động, các lão làng tính kế để đ ƣa t ƣợng đi, nh ƣng không làm sao nhấc lên đ ƣợc dù pho t ƣợng không phải là quá lớn, quá nặng. Các cụ bàn nhau chắc là ch ƣa trúng ý Bà nên cử ng ƣời cầu khấn. Quả nhiên bé gái hôm nọ lại đ ƣợc Bà đạp đồng mách bảo: “Hãy chọn chín cô gái đồng trinh để đem Bà xuống núi”. Dân làng mừng rỡ tuyển chọn chín cô gái dẫn lên núi, xin phép Bà đƣợc đƣa cốt tƣợng xuống. Lạ thay, chín cô gái khiêng bà đi một cách nhẹ nhàng. Xuống đến chân núi, tƣợng bỗng nặng trịch, các cô phải đặt xuống đất và không nhấc lên nổi nữa. Dân làng hiểu rằng Bà muốn ngự nơi đây nên tổ chức xin keo, đƣợc Bà chấp thuận và lập Miếu thờ. Hôm đó là ngày 25 tháng 4 âm lịch, dân làng lấy ngày này làm lễ vía Bà. Lúc đầu, miếu Bà đƣợc xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lƣng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Sau nhiều lần trùng tu, miếu Bà khang trang hơn. Năm 1870, miếu đƣợc xây lại bằng đá miểng và lợp ngói, thu hút khách thập phƣơng đến chiêm bái, tín ngƣỡng. Đến năm 1972, miếu đƣợc xây dựng mới, đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ kính phƣơng Đông. Mái cong nhiều tầng lợp ngói xanh, tƣờng ốp gạch men bóng láng nhập từ nƣớc ngoài, các khung cửa bằng gỗ quí đƣợc chạm trổ hoa văn công phu, mỹ thuật. Chánh điện cao rộng, thoáng khí, vừ uy nghi vừa ấm cúng. Công trình là một quần thể hoành tráng trên mặt bằng rộng với dãy đông lang, tây lang, nhà khách…bao bọc xung quanh cũng với kiến trúc mái cong, lợp ngói xanh, theo đồ án của kiến trúc sƣ Huỳnh Kim Mãng, nhƣng xây dựng dở dang. Mãi đến năm
  • 102. 1995, Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại. Trƣờng học đƣợc cải tạo thành nhà trƣng bày đồ sộ, hài hòa với miếu. Tƣợng Bà đặt giữa chánh điện, đội mão sặc sỡ, mặc áo bào thêu rồng phụng, kim tuyến lấp lánh. Khách hành hƣơng đã dâng cúng cho Bà hàng ngàn áo mão, không sử dụng hết, có cái đƣợc may từ nƣớc ngoài trị giá vài cây vàng. Tƣợng Bà là một tác phẩm nghệ thuật tạc bằng đá son, có từ thế kỷ thứ 6. Dáng ngƣời ngồi nghĩ ngợi, khoan thai, thuộc loại tƣợng thần Vít-nu, có nhiều ở Ấn Độ, Lào, Campuchia. Trƣớc kia có nhiều hình thức cúng bái mê tín nhƣ xin xăm, xin bùa, uống nƣớc tắm Bà để trị bệnh… Ngày nay, những hủ tục đó không còn nữa. Đa số khách đến viếng thăm để dâng hƣơng cầu tài, cầu lộc, thể hiện lòng tạ ơn Bà bằng nhiều hình thức: Cúng heo quay, cúng tiền, lễ vật lƣu niệm hoặc các tiện nghi phục vụ cho miếu. Các vật lƣu niệm ngày nay quá nhiều, Ban Quản trị đƣa vào khu nhà lƣu niệm để trƣng bày. Tiền hỉ cúng hàng năm lên tới vài tỉ đồng (trong đó có vàng, đô-la). Nguồn tài chánh này ngoài việc trùng tu, xây dựng lăng, miếu còn góp phần vào nhiều công trình thủy lợi xã hội địa phƣơng nhƣ làm đƣờng, xây trƣờng học, bệnh xá, đóng góp quỹ từ thiện, khuyến học… Các lễ cúng ở miếu Bà vẫn đƣợc duy trì theo nghi thức cổ truyền. Vào lúc nửa đêm 23 rạng 24 tháng tƣ âm lịch, lễ tắm Bà đƣợc tiến hành khoảng hơn một giờ đồng hồ nhằm lau sạch bụi bặm sau một năm dài. Lễ đƣợc chuẩn bị từ lúc 23 giờ 30 và bắt đầu lúc 0 giờ. Các vị bô lão trong lễ phục áo dài khăn đóng lên đèn, niệm hƣơng, dâng rƣợng, dâng trà… Xong phần nghi thức, khoảng 4 đến 5 phụ nữ đứng tuổi, có uy tín trong làng tiến hành việc tắm Bà. Sau khi cởi áo mão, các vị dùng nƣớc sạch có ngâm hoa lài tỏa mùi thơm ngào ngạt để lau cốt tƣợng. Xong, xịt nƣớc hoa rồi mặc áo mão mới cho Bà. Mặc dù công việc đƣợc thực hiện sau bức màn che nhƣng có hàng ngàn ngƣời chen chúc nhau đến chứng kiến ngoài vòng rào chánh điện. Lễ túc yết và lễ xây chầu đƣợc tiến hành trong đêm 25 rạng 26 tháng 4 âm lịch, đây là cuộc lễ chính trong lễ hội vía Bà. Từ đầu hôm, hàng chục ngàn ngƣời đã tụ về miếu Bà để đƣợc tham dự cuộc hành lễ này. Trƣớc đó, hồi 15giờ cuộc lễ thỉnh sắc thần đƣợc tiến hành trọng thể trong tiếng trống lân rộn rã. Các bô lão và thanh niên trong lễ phục, xếp hai hàng dƣới bóng cờ, lộng sặc sỡ, hộ tống long đình rƣớc bài vị của ông Thoại Ngọc Hầu và hai vị phu nhân từ lăng về miếu. Đúng 0 giờ, cuộc lễ túc yết bái bắt đầu với sự điều khiển của chánh bái và bốn đào thầy. Lễ vật dâng cúng là một con heo trắng đã cạo mổ xong và một dĩa mao huyết tƣợng trƣng cho con heo sống cùng với các mâm xôi, ngũ quả… trong tiếng nhạc lễ và chiêng trống trỗi lên từng hồi, ông chánh bái và các đào thày dâng hƣơng, dâng rƣợu, đọc văn tế, dâng trà. Lễ xây chầu đƣợc nối tiếp khi ông chánh bái cầm nhành dƣơng vãi nƣớc và đọc: “Nhất xái thiên thanh, nhị xái địa ninh, tam xái nhơn đƣờng, tứ xái quỉ diệt hình” (có nghĩa là thứ nhất vãi lên trên trời xanh mong điều cao đẹp, thứ hai vãi xuống đất cho đƣợc màu mỡ, trúng mùa, thứ ba vãi loài ngƣời đƣợc trƣờng thọ, thứ tƣ vãi diệt loài quỉ dữ). Xong, chánh bái ca công nổi trống ba hồi. Đoàn hát bộ trên sân khấu trong võ ca trƣớc chánh điện đã chuẩn bị sẵn, nổi trống theo và kéo màn trình diễn.
  • 103. Đến 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 âm lich, lễ chánh tế đƣợc tiến hành nhƣ lễ túc yết nhƣng đơn giản hơn. Và 15 giờ cùng ngày đoàn thỉnh sắc làm lễ hồi sắc, đƣa bài vị ông Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân trở về lăng, kết thúc một mùa vía. Lễ hội miếu Bà Chúa Xứ Thời gian:từ đêm 23/4 đến 27/4 âm lịch Địa điểm: miếu Bà Chúa Xứ, núi Sam, cách thị xã Châu Đốc 7km Đối tƣợng suy tôn: Bà Chúa Xứ Đặc điểm: lễ tắm Bà. Núi Sam nằm cách thị xã Châu Đốc (tỉnh An Giang) 5 km, là nơi có quần thể di tích lịch sử văn hoá với chùa cổ Tây An, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Hang, lăng Thoại Ngọc Hầu... Lễ hội Bà Chúa Xứ ( còn gọi là lễ Vía Bà) đƣợc tổ chức hàng năm bắt đầu từ đêm 23/4 âm lịch đến 27/4 âm lịch. Khách hành hƣơng đến lễ hội có thể đi theo đƣờng bộ từ Long Xuyên lên Châu Đốc theo tỉnh lộ 10, rẽ vào 7km là tới núi Sam; hoặc đi bằng đƣờng thủy từ Cần Thơ, Sóc Trăng lên hay từ Sài Gòn xuống. Đêm 23/4 là lễ tắm và thay xiêm y cho tƣợng Bà. Nƣớc tắm tƣợng là nƣớc thơm, bộ y phục cũ của Bà đƣợc cắt nhỏ ra phân phát cho khách trẩy hội và đƣợc coi nhƣ lá bùa hộ mệnh giúp cho ngƣời khoẻ mạnh và trừ ma quỷ. Tiếp theo là lễ rƣớc bốn bài vị từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà. Lễ Túc Yết đƣợc tổ chức vào lúc 24 giờ ngày 25 rạng ngày 26. Lễ đƣợc tiến hành theo trình tự: dâng hƣơng, chúc tửu, hiến trà, đọc văn tế. Sau đó bài văn tế đƣợc hoá cùng với một ít giấy vàng bạc. Tiếp ngay sau lễ Túc Yết là đến lễ Xây Chầu - Hát Bội do do một ngƣời sành nghi lễ và có uy tín trong ban tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu nguyện cho quốc thái dân an, mƣa thuận gió hoà. 4 giờ sáng ngày 26/4 lễ Chánh Tế đƣợc tiến hành (lễ nghi đƣợc tiến hành giống lễ Túc Yết). Chiều ngày 27/4 bài vị Thoại Ngọc Hầu đƣợc đƣa về lăng. Chƣơng trình hát bội cũng chấm dứt. Kết thúc lễ cúng vía bà. Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phƣơng. Đến với lễ hội hội họ vừa đƣợc tham dự lễ hội dân gian phong phú để xin cầu tài cầu lộc, đồng thời họ có dịp để du ngoạn, chiêm ngƣỡng cảnh trí thiên nhiên ở An Giang Tiếp cận” bí ẩn” ở Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam ? 1-Đặt vấn đề:đã có nhiều tác giả nghiên cứu về tín ngƣỡng dân gian ở Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam; Nhƣng có nhiều lý giải rất khác nhau. Chúng tôi xin tiếp cận những “ bí mật “ này dƣới góc nhìn của văn nghệ dân gian . 2-Tín ngƣỡng dân gian ở Miếu Bà Chúa Xứ nhƣ thế nào ? 2.1 Tại sao có tên Bà Chúa Xứ ? Truyền thuyết quanh Miếu Bà Chúa Xứ đều dẫn giải lời giải thích nhƣ sau : Có cô gái đồng trinh ( chứ không phải bà già ?) nhập đồng xƣng là Chúa Xứ Thánh Mẫu và từ đó thành tên Miếu Bà Chúa Xứ. Còn Nhà văn Sơn Nam thì cho rằng : Những Miếu Trời Sanh làm ở cây to, ruột rỗng , khỏi tốn vật xây cất Miếu ;Thờ Bà Chúa Xứ là dạng tín ngƣỡng tự phát , nhƣng có nguồn gốc từ xa xƣa rất phổ biến ở Miền Trung đƣa vào ( Trang 137 cuốn Đồng Băng Sông Cửu Long nét sinh hoạt xƣa , NXB Trẻ TP. Hồ Chí Minh năm 1997 . Nếu theo Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của do nhà xuất bản Trẻ in theo ấn bản 1895-1896 thì chữ “ Xứ “ đựoc giải
  • 104. thích : Xứ là chốn , sở; nhƣ Xứ sở là đất nƣớc, quê vực, bốn xứ là xứ sở mình , đi khắp xứ là đi khắp nơi; đáo xứ là mới tới trong đất nƣớc ngƣời , còn đột ngột ; đáo xứ hữu anh hùng là đâu đâu cũng có anh hùng ( theo trang 1205). Nhƣ vậy theo chúng tôi tên có đầy đủ ý nghĩa phải goi là : Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam , nhƣng bởi vì Miếu này quá nổi tiếng nên bà con cô bác miền Tây nam Bộ chỉ cần nói tắt bằg chúa Xứ thì ai ai nhiều đời nay vẫn hiểu. 2.2 Miếu này xây từ bao giờ ? Có nhiều truyền thuyết cùng song song tốn tại, có ngƣời kể là do vợ Thoại Ngọc Hầu là Châu Thị Tế lập , có ngƣời thì cho rằng do Thoại Ngọc hầu lập . Tác gải Châu Bích Thuỷ cho là đầu thế kỷ 19 ; Tác gi Hạnh Nguyên cho rằng cha rằng Miếu lập năm 1824 ; Còn tác gải Lê Ngọc Bích thì nhận định Miếu lập vào năm 1824 và chỉ rầm rộ lớn lao vào thế kỷ 20. Có thể dễ nhận thấy các tác giả đều thống nhất là chỉ sau khi hoàn thành kênh ( kinh ) Vĩnh Tế thì mới lập Miếu Bà Chúa Xứ. Tuy khó thẩm định , nhƣng Miếu này có gắn với con kênh vĩ đại Thoại Hà và Vĩnh Tế, còn nên có thể kết luận Miếu ra đời sau khi Thoại Ngọc Hầu về nhận trấn ở đây và Kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất mang lại lợi ích rõ rệt cho dân bản địa . 2.3 Kênh Vĩnh Tế hoàn thành năm nào ? Theo Nguyễn Q. Thắng – Nguyễn Bá Thế trong cuốn Những nhân vật lịch sử Việt nam NXB khoa học xã hội , Hà Nội 1992 , 1400 cuốn, tại trang 709 cho rằng : Năm 1820 vua Minh mạng cho đào con kênh Châu Đốc – Hà Tiên . Năm 1836 Minh Mạng cho đúc cửu đỉnh , trong đó có hình Kênh Vĩnh Tế. Còn nhà văn Sn nam thì viết : Kênh Vĩnh Tế lúc đầu giao cho Thoại Ngọc Hầu đốc suất ( 1818; sau tiếp đến Lê Văn Duyệt 1823, tiếp theo là Trƣng tấn Bửu đốc suất , đến 1924 thì hoàn thành . Nhƣ vậy qua ba Ông mới xong Kênh Vĩnh Tế. Châu Bích Thuỷ cho năm đào kênh là 1818 đào Kênh Thoại Hà nối Thoại Sơn – Rạch giá dàI 30 km rộng 50 mét; và Kênh Vĩnh Tế nối Châu Đốc – Hà Tiên dài 97 km rộng 50 mét ; nhƣng không nói năm nào hoàn thành con kênh này. Hạnh Nguyên viết bắt đầu đào kênh này vào năm 1819 , huy động 8 vạn nhân công đến 1823 thì hoàn thành ; Lê Ngọc Bích thì cho khoảng thời gian từ 1819 đến 1924 . Số liệu có chệnh lệch từ 5-6-7 năm. Nhƣ vậy Kênh Vĩnh Tế đào sau kênh Thoại Hà và nó hoàn tất năm 1824. Điều đó có thể nhận định Miếu bà Chúa Xứ có sau năm 1824. 2.4 Về ảnh hƣởng của Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại đối với Lễ Vía Bà ở Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam? đã thành lệ hàng năm đến Lễ Vía Bà thì bà con cô bác vùng Vĩnh Tế đúng vào ngày 25 tháng 4 âm lich thì thỉnh Sắc Thần ở Sơn Lăng Thoại Ngọc Hầu đến Miếu này dự lễ Vía Bà; Rồi y hẹn đến 16 giờ ngày 27-4 âm lịch lại tổ chức lễ hồi sắc Thần về Sơn lăng Thoại Ngọc Hầu . Sau đó thì Lễ Vía bà Chúa Xứ kết thúc. Đƣợc biết nghi lễ nghiêm trang này đã thực hiện qua nhiều thế hệ . Chúng ta có thể tiếp cận “ bí ẩn “ này qua đoạn văn bia ở Lăng Thoại Ngọc Hầu bên Núi Sam : Ông có chí muốn làm cho vùng đầy cỏ rậm rạp này, biến thành làng xóm trù mật, nên đã vẽ địa đồ dâng lên làm quy hoạch đào kênh rửa mặn… Sau đó cho xây dựng hệ thống thuỷ lợi , khi đào kênh rạch ở đây… đƣợc nhà vua ban cho tên Vĩnh Tế”.
  • 105. Qua đó chúng ta biết ảnh hƣởng của Thoại Ngọc Hầu thật sự thấm sâu vào tâm thức và tín ngƣỡng dân gian lớn lao đến nhƣòng nào ! 2.5 Về pho tƣợng “ bí ẩn “trong Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam ? Hiện nay vẫn tồn tại nhiều cách lý giải trái ngƣợc nhau của các tác giả trên , nhƣng theo tôI độc gia vannghesongcuulong.org có thể đọc thêm cuốn : Lịch sử Việt nam từ khởi thuỷ đến thế kỷ 10 , Nhà xuất bản khoa học xã hội , Hà Nội năm 2001 đã cho rằng Văn hoá Oc eo thuộc Tây Nam Bộ , trong đó có An Giang . Qua khảo cổ học đã xác nhận; Tƣợng bằng đá đã thu nhập đƣợc 8 tiêu bản , có niên đại 6-7 công nguyên; Tƣợng Vínu có 8 tƣợng bằng đá Sa Thạch có niên đại thế kỷ 7-8 công nguyên. Cũng đã phát hiện 22 tiêu bản Linga( Siva) đều bằng đá. Trang 437 viết : Nghề chế tác đá phát triển . Tƣợng thần bằng đá đều tạo hình hoàn thiện. Qua khai quật khảo cổ Oc Eo kết luận : Văn hoá ấn Độ chỉ hoà nhập và giúp văn hoá bản địa phát triển cao. Qua khảo cổ còn phát hiện ra Bệ thờ Linga- Yoni bằng vàng ; đây là một loại minh khí chƣa từng gặp trong làng văn hoá ấn Độ . Các cƣ dân đồng bằng sông Cửu Long trƣớc khi tiếp xúc với văn hoá ấn Độ đã biết chế tác đá có biểu tƣợng tôn giáo. Nhƣ vậy có thể tự tin tự tôn mạnh dạn kết luận : Tác giả chế tác bức tƣợng ở Miếu bà Chúa Xứ chính là cƣ dân của Văn hoá óc Eo. Chúng ta cũng không cần trông cậy vào kết luận của cuốn Kho cổ Châu thổ Cửu Long của Mallẻet L 1960 LAncheologie du delta du MeKong , nhƣ một số tác giả trên có dẫn chứng về nguồn gốc bực tƣợng này. 3- Kết Luận ; Hàng chục năm nay tôi luôn mang trong ngƣòi Lá Bùa xin đƣợc ở Miếu Bà Chúa Xứ , không chỉ là sự mê tín và bởi lòng tự hào về mảnh đất “ địa linh nhân kiệt này “./. Đêm 23 tháng 4 làm lễ tắm và thay xiêm y cho tƣợng Bà. Nƣớc tắm tƣợng là nƣớc thơm, bộ y phục cũ của Bà đƣợc cắt nhỏ ra phân phát cho ngƣời dân hay khách trẩy hội và đƣợc coi nhƣ lá bùa hộ mệnh giúp cho ngƣời khỏe mạnh và trừ ma quỷ. Tiếp theo các lễ: Lễ rƣớc bốn bài vị từ lăng Thoại Ngọc Hầu về miếu Bà Lễ Túc Yết đƣợc tổ chức vào lúc 24 giờ ngày 25 rạng ngày 26. Lễ đƣợc tiến hành theo trình tự: dâng hƣơng, chúc tửu (rƣợu), hiến trà, đọc văn tế. Sau đó bài văn tế đƣợc hóa cùng với một ít giấy vàng bạc Lễ Xây Chầu - Hát Bội do do một ngƣời sành nghi lễ và có uy tín làm tế tại miếu Bà thực hiện cùng đào kép hát bội cầu nguyện cho quốc thái dân an, mƣa thuận gió hòa Lễ Chính Tế vào 4 giờ sáng ngày 26/4, lễ nghi đƣợc tiến hành giống lễ Túc Yết. Chiều ngày 27/4 bài vị Thoại Ngọc Hầu đƣợc đƣa về lăng. Chƣơng trìnhhát bội cũng chấm dứt, kết thúc lễ vía Bà. Lăng Thoại Ngọc Hầu Lăng Thoại Ngọc Hầu thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Lăng Thoại Ngọc Hầu là công trình đồ sộ nhất ở chân núi Sam. Khu lăng có đền thờ ông Thoại Ngọc Hầu, mộ ông cùng hai phu nhân đƣợc xây vào thập niên 30 của thế kỷ XX. Nói đến An Giang, hẳn du khách đã hơn một lần đƣợc chiêm ngƣỡng những công trình tiêu biểu, gắn với một thời đi khẩn hoang, lập làng bảo vệ biên cƣơng Tổ quốc của Thoại Ngọc Hầu - Nguyễn Văn Thoại. Ông là ngƣời có công đào kênh, đắp
  • 106. đƣờng, góp phần xây dựng nên xứ sở An Giang tƣơi đẹp ngày nay, với các công trình nhƣ: lộ núi Sam - Châu Đốc dài 5 km đƣợc đắp từ năm 1826 đến năm 1827, kênh Thoại Hà dài 30 km tại núi Sập đƣợc đào năm 1818. Ngƣời dân nơi đây gọi núi Sập là Thoại Sơn để ghi nhớ công lao Thoại Ngọc Hầu. Từ năm 1819 đến năm 1824, kênh Vĩnh Tế đƣợc xây dựng, với chiều dài hơn 90 km và số nhân công lên đến 80.000 ngƣời, đây là một công trình kiến trúc tƣơng đối qui mô, nối từ Châu Đốc đến Hà Tiên rồi chảy ra vịnh Thái Lan. Để ghi nhận công đức ngƣời vợ đắc lực của Thoại Ngọc Hầu, bà Châu Thị Tế, vua Minh Mạng đã đặt tên con kênh là Vĩnh Tế Hà, va núi Sam đƣợc đổi thành Vĩnh Tế Sơn. Bên triền núi Sam, Thoại Ngọc Hầu cùng hai ngƣời vợ yên nghỉ trong ngôi lăng đƣờng bệ và bên cạnh là ngôi đền thờ ông. Lăng Thoại Ngọc Hầu Vị trí:Lăng Thoại Ngọc Hầu thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc, tỉnh An Giang. Đặc điểm: Lăng Thoại Ngọc Hầu là một trong số nhiều di tích ở chân núi Sam. Tại đây có đền thờ ông Thoại Ngọc Hầu, mộ ông cùng hai phu nhân đƣợc xây vào thập niên 30 của thế kỷ 20. Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại, một danh tƣớng nổi tiếng của triều Nguyễn. Ông sinh ngày 25/11/1761 tại Diên Phƣớc, tỉnh Quảng Nam, đƣợc phong tƣớc Ngọc Hầu. Ông mất ngày 06/6/1829. Khung cảnh uy nghiêm của lăng Thoại Ngọc Hầu gợi cho du khách những hoài cảm về ngƣời xƣa, về công đức của những bậc tiền bối, gây ấn tƣợng sâu xa, luyến tiếc cho những gì không thể tìm lại đƣợc của quá khứ. Phía trƣớc lăng là khoảng sân rộng. Hai bà vợ của ông đƣợc chôn cất tại đây. Bà Nhất phẩm Châu Vĩnh Tế chôn phía tay phải, bà Nhị phẩm Trƣơng Thị Miệt chôn phía tay trái, mộ ông nằm chính giữa. Trong Long Đình là bản sao bia "Thoại Sơn", bia "Vĩnh Tế Sơn". Trƣớc Long Đình là hai con nai đắp bằng xi măng. Hai cửa lớn vào lăng rộng, hình bán nguyệt, kiến trúc theo lối cổ, liền với bức tƣờng kiên cố dày 1m, cao 3m. Sau lăng là đền thờ trên nền cao hơn. Sau lƣng đền thờ là sƣờn núi Sam tạo thành thế vững chắc kiên cố, tôn lên nét cổ kính uy nghi. Vào lăng, du khách sẽ đƣợc chiêm ngƣỡng tƣợng Thoại Ngọc Hầu cao khoảng hai mét cùng những áng văn chƣơng lộng lẫy, với liễn đối, hoành phi, văn bia, văn tế... gợi lại hình ảnh nƣớc non một thời oanh liệt. Thoại Ngọc Hầu đƣợc triều đình nhà Nguyễn phong tƣớc hầu cử vào khai phá trấn giữ An Giang. Ông đã tập hợp lƣu dân hai tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi về ở các vùng Ông Chƣởng (Chợ Mới), Núi Sập (Thoại Sơn), Châu Đốc, Long Xuyên... Ông là ngƣời tổ chức đào kênh Thoại Hà (con kênh có bề ngang 20 tầm - chừng 51m, dài 31.744m) và kênh Vĩnh Tế dài hơn 90km. Đào hai con kênh ấy trong thời kỳ công cụ lao động thô sơ và bằng tay, chân quả là việc làm thần kỳ. Sau khi hoàn tất việc đào kênh, Thoại Ngọc Hầu cho vẽ bản đồ trình triều đình Huế, đƣợc vua khen ngợi ban sắc chỉ cho lấy tên ngƣời mà đặt cho tên kênh là Thoại Hà (kênh Thoại) và lấy tên vợ chính của ông là Vĩnh Tế đặt cho kênh Vĩnh Tế. Để đánh dấu những công trình này, Thoại Ngọc Hầu cho dựng bia làm kỷ niệm: bia Thoại Sơn, Vĩnh Tế Sơn. Đồng thời trƣớc ngày dựng bia, Ông cho nhiều toán ngƣời đi dọc hai bờ kênh, từ Châu Đốc đến Hà Tiên tìm hài cốt những dân binh tử nạn mang về cải táng hai bên tả và hữu khuôn lăng. Trong buổi lễ long trọng dựng bia kỷ niệm có đọc bài "Tế
  • 107. nghĩa trũng văn", do Thoại Ngọc Hầu đứng ra chủ lễ. "Nghĩa trũng văn" là bài thơ tế cô hồn tử sĩ, khắc ghi công lao và sự thƣơng tiếc đối với binh sĩ, sƣu dân đã bỏ mình trong công cuộc đào kênh... Du khách có dịp đến Thất Sơn - An Giang nhớ đến viếng thăm lăng mộ Thoại Ngọc Hầu, ngắm dòng kênh Vĩnh Tế xanh biếc hiền hòa. Nguồn gốc Lăng do chính tay Thoại Ngọc Hầu coi sóc việc xây dựng. Vào năm nào thì chƣa rõ, nhƣng sau khi ông đến Châu Đốc nhận nhiệm vụ án thủ Châu Đốc đồn, kiêm quản quân vụ trấn Hà Tiên vào năm 1821, chỉ mấy tháng sau ngƣời vợ thứ là Trƣơng thị Miệt qua đời, đã đƣợc ông đem an táng tại đây. Vào năm 1826, bà vợ chính là Châu Thị Tế mất, cũng đƣợc ông đem an táng kề cận và dành vị trí chính giữa cho mình. Nhƣ vậy, khu vực đƣợc ông chọn lựa và quyết định cho khởi công xây dựng Sơn lăng chỉ ở khoảng thời gian trên. Kiến trúc Lăng Thoại Ngọc Hầunằm kề bên quốc lộ 91, là một khối kiến trúc to lớn nhƣng hài hòa. Lăng Thoại Ngọc Hầu toàn cảnh Muốn lên lăng, phải qua chín bậc đá ong[1] dài trên trăm mét, xây hình thang rồi mới đến sân. Sân lăng bằng phẳng, rộng thênh thang, có hai tiểu đình do ngƣời đời sau xây dựng. Một, dùng để bản sao tấm bia Thoại Sơn, có hai tƣợng nai, hai tƣợng hổ và một khẩu súng đại bác cổ cỡ nhỏ; hai, dùng để tƣợng ngựa và ngƣời lính hầu... Tiếp đến là vòng thành và 2 cổng vào lăng hình bán nguyệt đƣợc đúc dầy, nên trông lăng thật bề thế, vững vàng. Qua khỏi cổng là phần mộ nằm giữa vuông lăng. Mộ Thoại Ngọc Hầu nằm giữa, bên trái là mộ bà chính thất Châu Thị Tế, bên phải là mộ thứ thất Trƣơng Thị Miệt đƣợc xây lùi lại để tỏ sự kính nhƣờng.[2] Phía đầu mộ là bình phong có đắp chi chít những chữ Hán. Phía chân mộ là bi kí và năm tấm bia đá bị gắn chặt vào tƣờng thành. Nơi tƣờng bia ấy, chính giữa là bia Vĩnh Tế Sơn đƣợc dựng lên từ năm 1828, tức bốn năm sau khi đào xong kênh Vĩnh Tế. Bia cao hơn đầu ngƣời, bằng loại đá sa thạch, khắc 730 chữ. Do để ngoài trời, không chăm sóc nên mặt đá đã bị rạn nứt, bị bào mòn nên chữ đã không còn đọc đƣợc. Bốn tấm bia còn lại cũng đã bị thời gian làm cho nhẵn nhụi, nên không rõ tung tích... Nơi nội lăng và hai bên phải trái vuông lăng còn có hai khu đất rộng, cũng có vòng thành ngăn chắn xung quanh dày cả mét. Ở đây có trên 50 ngôi mộ xây hình vôi phục, có mộ đắp hình bầu dài, có mộ vuông vắn, vật liệu cũng bằng vôi, ô dƣớc nhƣ mộ ông bà Bảo hộ Thoại....Những ngôi mộ này đều vô danh, đa số là những hài cốt của những ngƣời đã bỏ mình trong lúc đào kênh vĩnh Tế đƣợc qui tập về. Theo bậc thang lên cao, ra khỏi vuông lăng là đền thờ nằm bên những bóng cây cao râm mát. Không rõ đền đƣợc xây dựng vào năm nào, nhƣng chắc chắn phải sau khi ông Thoại mất (năm 1829). Trong đền bày trí đẹp, có tƣợng bán thân Thoại Ngọc Hầu với đủ đồ lễ bộ, tạo không gian ấm cúng và trang nghiêm...
  • 108. Nhắc lại sau khi ông Thoại mất, Võ Du ở Tào Hình Bộ đứng ra tố cáo ông đã nhũng nhiễu của dân nhiều khoản. Sau khi triều đình nghị án, ông bị truy giáng chức tƣớc xuống hàm ngũ phẩm, các con ông đều bị lột hết ấm hàm, tất cả điền sản để lại đều bị tịch thu, phát mãi...Đến năm Khải Định thứ 9, tức 85 năm sau, ông Thoại mới đƣợc giải oan. Cho nên ở đền thờ chỉ có duy nhất một sắc phong của vua Khải Định, truy phong ông là Đoan Tức Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần vào năm 1924.[3] . Lăng Thoại Ngọc Hầu thuộc khu danh thắng núi Sam đã đƣợc Bộ Văn hóa - Thông tin do Nguyễn Khoa Điềm ký, công nhận là di tích lịch sử cấp quốc giavào ngày 1 tháng 12 năm 1997 Thoại Ngọc Hầu(chữ Hán: 瑞玉侯), tên thật là Nguyễn Văn Thoại hayNguyễn Văn Thụy (chữ Hán: 阮文瑞)[1] , (1761 - 1829) là một danh tƣớngnhà Nguyễn. Thân thế và sự nghiệp Nguyễn Văn Thoạisinh ngày 26 tháng 11 năm Tân Tỵ (1761) niên hiệu Cảnh Hƣng thứ 22, tại huyện Diên Phƣớc, tỉnh Quảng Nam. Cha ông là Nguyễn Văn Lƣợng, sinh thời làm chức Từ thừa, là một chức quan nhỏ chuyên lo việc tế tự tại các đền miếu do nhà nƣớc lập ra. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Tuyết. Cả hai ông bà đều có tiếng là ngƣời đôn hậu, khéo dạy con. Vào Nam Thời Nguyễn Văn Thoại sinh ra và lớn lên, nƣớc Việt thƣờng xuyên xảy ra loạn lạc, bởi Trịnh với Nguyễn đánh nhau liên miên, tiếp theo nữa là phong trào Tây Sơn nổi dậy. Vì thế, mẹ ông phải dẫn ông chạy nạn vào Nam, định cƣ ở làng Thới Bình, nơi cù lao Dài, trên sông Cổ Chiên thuộc địa phận huyệnVũng Liêm, Vĩnh Long[2] . Võ công Năm Đinh Dậu (1777), 16 tuổi, Nguyễn Văn Thoại đến xin đầu quân Nguyễn tại Ba Giồng (Định Tƣờng). Năm 1778, ông có mặt trong trận chiến đấu chiếm lại thành Gia Định. Năm 1782, Tây Sơn đại phá chúa Nguyễn Phúc Ánh ở cửa Cần Giờ diệt chỉ huy Pháp Manael, ông và chúa Nguyễn phải bỏ chạy. Từ năm 1784 đến năm 1785, ông đã theo chúa Nguyễn sang Xiêm 2 lần để cầu viện. Từ năm 1787 đến năm 1789, Nguyễn Văn Thoại có công trong việc thu lại thành Gia Định nên đƣợc phong chức Cai cơ. Năm 1791, ông đƣợc cử là Trấn thủ hải khẩu Tắc Khái (tức cửa Lấp thuộc Bà Rịa). Năm 1792, ông lại sang Xiêm, trên đƣờng về đã đánh tan bọn cƣớp biển Bồ Đà (Giavanays). Liên tục các năm 1796, 1797, 1799 ông đều đƣợc Nguyễn Phúc Ánh cử sang Xiêm công cán. Năm 1800, Nguyễn Văn Thoại đƣợc phong Khâm sai Thƣợng đạo Bình Tây tƣớng quân, phối hợp với Lào đánh quân Tây Sơn ở Nghệ An. Nhƣng đến năm 1801, thì ông bị giáng cấp, xuống chức Cai đội quản suất Thanh Châu đạo, vì tự ý bỏ về Nam mà không đợi lệnh trên[3] . Năm 1802, chúa Nguyễn thống nhất đất nƣớc, lên ngôi vua hiệu là Gia Long. Trong dịp tặng thƣởng các bề tôi có công, Nguyễn Văn Thoại cũng chỉ đƣợc phong Khâm sai Thống binh cai cơ, nhận nhiệm vụ ra Bắc lo việc thu phục Bắc Thành rồi đƣợc giữ chức Trấn thủ ở nơi đó. Ít lâu sau ông nhận lệnh làm Trấn thủ Lạng Sơn, rồi lại vào Nam nhận chức Trấn thủ Định Tƣờng (1808). Năm 1812, ông sang Cao Miên đón Nặc Chân về Gia Định. Năm 1813, ông hộ tống Nặc Chân về nƣớc và ở lại
  • 109. nhận nhiệm vụ bảo hộ Cao Miên. Ở đó đƣợc 3 năm, ông đƣợc triệu về nƣớc để nhận chức trấn thủ Vĩnh Thanh. Công khai phá Ở trấn Vĩnh Thanh, ông sốt sắng lo việc khẩn hoang lập ấp, đào kinh đắp đƣờng, phát triển và bảo vệ vùng đất Tây Nam. Các công trình lớn của ông còn để lại cho đời sau là: Kênh Thoại Hà: dài hơn 30 km ở núi Sập (Thoại Sơn) vào năm 1818, vớikhoảng 1.500 nhân công. VuaGia Long đã cho phép lấy tên ông đểđặt chotên núi, tên kênh. Kênh Vĩnh Tế: đào theo biên giới Tây Nam nối liềnChâu Đốc-Hà Tiên (tức nối sông Châu Đốc ra vịnhThái Lan). Kênh dài hơn 90 km, huy động đến 80.000 nhân công thực hiện từnăm 1819-1824. Con kênh đƣợc đặt têntheo tên vợchính của ông, phu nhânChâu ThịTế. LộNúi Sam - Châu Đốc, dài 5 cây số, làm từnăm 1826 đến 1827, huy động gần4.500 nhân công. Làm xong, ông cho khắc bia "Châu Đốc Tân LộKiều Lƣơng" dựngtại núi Sam năm 1828 đểkỷniệm. Ngày nay, tấm bia không còn, nhƣng văn bia vănvẫn còn nằm trong sửsách. Năm 1823, ông cho lập 5 làng trên bờkênh Vĩnh Tếlà Vĩnh Ngƣơn, Vĩnh Tế,Vĩnh Điều, Vĩnh Gia, Vĩnh Thông[4] . Những công trình trên đƣợc xem là cơ sở để ngƣời Việt đặt chủ quyền lâu dài trên vùng đất mới này. Nguyễn Văn Thoại mất vào ngày 6 tháng 6 năm Kỷ Sửu (1829) lúc đang tại chức[5] , thọ 68 tuổi. Theo bảng tóm lƣợc của Nguyễn Văn Hầu, trong 52 năm công vụ, Nguyễn Văn Thoại (tứcThoại Ngọc Hầu) đã 7 lần sang Xiêm, 2 lƣợt sang Lào và 11 năm giữ trọng trách bảo hộ Cao Miên.[6] Nỗi oan ức Khu lăng Thoại Ngọc Hầu. Sách Đại Nam chánh biên liệt truyện (tờ 12b), cho biết sau khi Thoại Ngọc Hầu mất rồi, có một viên chức tên Võ Du ở Tào Hình Bộ, đứng ra tố cáo ông đã nhũng nhiễu của dân nhiều khoản. Vua Minh Mạng giao việc nầy cho bộ Hình tra xét. Sau khi triều đình nghị án, ông bị truy giáng chức tƣớc xuống hàm ngũ phẩm, con ông tên Nguyễn Văn Tâm bị lột ấm hàm; tất cả điền sản để lại đều bị tịch thu, phát mãi. Về sau, ngƣời ta không biết Tâm đi đâu và làm gì, riêng Nguyễn Văn Minh, con dòng thứ, cam phận sống cảnh dân dã, nghèo nàn. Còn ngƣời nghĩa tế (con rể) tên Võ Vĩnh Lộc, cƣới con gái nuôi của ông tên (thị) Nghĩa, sau theo Lê Văn Khôi chống lại triều đình. Khi cuộc nổi dậy bị phá tan, vợ chồng Lộc đều bị bắt, bị giết. Nhà vua chỉ dụ cho Bộ Hình điều tra mối quan hệ giữa Vĩnh Lộc và ông... Thời gian sau mọi việc đƣợc phơi bày, phạm tội tố cáo gian, Du bị cách chức, lãnh án lƣu đày đi Cam Lộ. Về phần ông cũng không dính liếu gì với con rể trong vụ biến loạn tại thành Phiên An của họ Lê. Nhƣng chẳng hiểu sao nhà vua chẳng giải oan, phục hồi phẩm tƣớc cho Thoại Ngọc Hầu và quyền lợi cho con cháu ông. Mãi đến ngày 25 tháng 7 năm Giáp Tý (1924), vua Khải Định mới xét và chính thức truy phong ông Thoại là Đoan Tức Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần. Tính đến ngày
  • 110. ấy, nỗi oan mà anh linh Thoại Ngọc Hầu và con cháu ông gánh chịu đã hơn 90 năm[7] . Chánh thất Châu Thị Tế(1766-1826) hay Châu Thị Vĩnh Tế, là vợ chính (chánh thất) của Thoại Ngọc Hầu. Bà sinh ngày Mùi tháng 4, năm Bính Tuất (1766)[8] tại cù lao Dài (cù lao Năm Thôn) thuộc xã Qƣới Thiện, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Bà là con ông Châu Huy (có sách chép là Châu Vĩnh Huy)[9] và bà Đỗ Thị Toán. Có lời đồn đãi bà là ngƣời Khmer, nhƣng trong nhiều sách trong đó có sách của Nguyễn Văn Hầu, là một công trình biên soạn dày công và khá đầy đủ về Thoại Ngọc Hầu (ông Hầu có đi đến cù lao Dài vào ngày 11 tháng 12 năm 1970, nơi vẫn còn dòng tộc bà Châu Thị Tế sinh sống) và ngay cả website chính thức của tỉnh Vĩnh Long cũng không nói đến chi tiết này[10] . Thời chúa Nguyễn, Nguyễn Văn Thoại theo mẹ di cƣ vào Nam sinh sống ở cù lao Dài (Vĩnh Long) nên mới gặp bà ở đây. Ông Thoại cƣới bà năm nào không rõ, nhƣng chắc hai bên có đính ƣớc từ trƣớc. Và khi ông Thoại về đảm nhận chức trấn thủ trấn Vĩnh Thanh, thì việc hôn phối đã trải qua lâu rồi. Châu Thị Tế sống với Nguyễn Văn Thoại, sinh đƣợc 2 ngƣời con trai, chỉ biết tên ngƣời con cả là Nguyễn Văn Lâm. Bà mất vào giờ Ngọ, ngày rằm, tháng Mƣời năm Bính Tuất (1826), đƣợc phong Nhàn Tĩnh phu nhân. Bà có tiếng là ngƣời vợ hiền đức, tận tụy, đảm đang đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp của chồng. Trong bia Phụng đặc tứ danh Vĩnh Tế Sơn bia ký(Bia chép núi Vĩnh Tế do vua đặc biệt ban tên), gọi tắt là bia Vĩnh Tế Sơn có đoạn do chồng bà soạn, và ông đã dành cho vợ những lời lẽ tốt đẹp nhƣ sau: "...Năm trước đây, thần phụng mạng xem sóc việc đàokênh Đông Xuyên, vua đã lấy danh tước thần nêu lên bên bờkênh núi Sập mà đặt tênnúi Thoại (tứcThoại Sơn). Đến nay, hoàng ân lại xét đến lòng thần, cho là biết tềgia hợp hòakhí, lại hạcốđến vợthần là Châu ThịTế[11] , rằng có đức dày trong đường lễgiáo, bêntrong biết giúp đởchồng, một lòng trung thành bền chặt[12] , có chút công lao, nên xuống lệnh ban cho tên núi Sam là Vĩnh TếSơn..." Tú tài Trần Hữu Thường, dịch thơ: ...HọChâu tên Tếvợtôi, Noi bà Thái Dĩ[13] ỷôi khuyên chồng. Thờtrên siêng gắng một lòng, Cũng nhờchút giúp sửa xong nghĩa đời. Bềtrên dùng núi sánh người, Sửa tên Vĩnh Tếngàn ngày đểvinh. Người nhớnúi ấy nêu danh, Tóc trâm móc gội thêm xinh khôn dò. Núi nhờngười đặt hiệu cho, Cỏcây thêm sắc ơn vua thắm nhuần... Ngoài Châu Thị Tế, Nguyễn Văn Thoại còn có một ngƣời vợ thứ tên là Trƣơng Thị Miệt (? - 1821), sanh cho ông đƣợc một trai tên Nguyễn Văn Minh. Ghi nhận công lao Tƣợng Thoại Ngọc Hầu cao hơn 10m tại HồÔng Thoại.
  • 111. Thoại Ngọc Hầu và Châu Thị Tế đƣợc nhiều ngƣời dân ở An Giang cảm mến, nhớ ơn. Ở huyện Thoại Sơn, ngoài đền thờ, bia đá còn có khu du lịch mang tên Hồ Ông Thoại. Tại chân núi Sam, có một làng mang tên Vĩnh Tế. Hai tiếng Vĩnh Tế đời biểu lộ sự nhớ ơn của nhân dân đối với ông bà Bảo hộ Thoại...[14] . Nơi ấy, còn có câu ca dao: Đi ngang qua cảnh núi Sam, Thấy lăng ông lớn hai hàng lụy rơi. Ông ngồi vì nước vì đời, Hy sinh tài sản không rời nước non. Và: Nước kênh Vĩnh Tếlờđờ, Nhớông Bảo Hộdựng cờchiêu an.[15] . Tên Thoại Ngọc Hầu đƣợc dùng để đặt tên cho một đƣờng phố lớn, một trƣờng trung học chuyên tại tỉnh An Giang. Ở phƣờng Phú Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh cũng có một con đƣờng mang tên ông. Tên Châu Thị Tế cũng đƣợc chọn, để đặt tên cho một con đƣờng tại TP. Long Xuyên (An Giang). Đền và khu mộ (gồm mộ: Thoại Ngọc Hầu, Châu Thị Tế và Trƣơng Thị Thiệt), gọi chung là Sơn lăng, tọa lạc ở chân núi Sam (Châu Đốc), đã đƣợc liệt vào hạng di tích lịch sử cấp quốc gia vào ngày 4 tháng 12 năm 1997. Ngày 25 tháng 7 năm 2009 tại thị xã Châu Đốc, UBND tỉnh An Giang và UBND TP Đà Nẵng phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã tổ chức cuộc "Hội thảo khoa học danh nhân Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại, nhân kỷ niệm 180 năm ngày mất" (mùng 6 tháng 6 âl năm 1828- mùng 6 tháng 6 âl năm 2009, nhằm ngày 27 tháng 7 năm 2009). Có 157 đại biểu là các nhà quản lý, nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài tỉnh về tham dự. Kết quả, Các tham luận đều khẳng định Thoại Ngọc Hầu có công lao to lớn đối với vùng đất Nam Bộ. Ông là ngƣời có tâm và tầm với cái nhìn chiến lƣợc, có ý chí kiên định và là ngƣời tài đức vẹn toàn. Ngoài vai trò là một danh tƣớng, nhà doanh điền, nhà quản lý hành chánh, nhà văn hoá và ngoại giao giỏi; ông còn là một ngƣời con luôn nặng tình với nhân dân, với quê hƣơng, với vợ con và bằng hữu (nhƣ việc không muốn đối đầu với Trần Quang Diệutrong trận chiến Phú Xuân năm 1801). Vấn đề án oan của ông sau 90 năm mới đƣợc sáng tỏ nhƣng vẫn chƣa phục hồi tƣơng xứng với chức tƣớc của ông. Đây là sự đố kỵ của vua Minh Mạng và triều đình nhà Nguyễn đối với công thần[16] . Chú thích 1. ^Nguyễn Văn Hầu giải thích: Ở miền Bắc chữ "Thoại" đọc là "Thụy". Thứ nữa, chữ "Thụy" còn là quốc húy nên phải đọc là "Thoại".Thoại Ngọc Hầu: nhà Nguyễn thƣờng lấy tên công thần ghép vào tƣớc phong. Cái tên này nay đã trở thành tên thƣờng gọi. Ngoài ra cũng vì ông giữ chức bảo hộ Cao Miên nên còn đƣợc gọi là Bảo hộ Thoại(Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang. Nxb.Hƣơng Sen, Sài Gòn, không ghi năm xuất bản, tr. 36). 2. ^Không rõ cha ông Thoại có theo cùng vợ con hay không, nhƣng ở khu mộ gọi là lăng Ông Bảo Hộ do chính chính ông Thoại trông coi việc xây dựng, chỉ có mộ mẹ đẻ và mộ cha mẹ vợ.
  • 112. 3. ^Chuyện kể rằng Nguyễn Văn Thoại và Trần Quang Diệu là bạn láng giềng chơi thân với nhau. Sau Nguyễn văn Thoại theo cha mẹ vào Cù lao Dài trên sông Cổ Chiên (Vĩnh Long), và gia đình Trần Quang Diệu cũng bỏ xứ về quê ngoại ở làng Trà Khê, nay thuộc quận Ngũ Hành Sơn. Khi biết tin nhau thì hai ông đã ở hai bên chiến tuyến. Vào năm 1801, lúc Nguyễn Văn Thoại mang quân từ Vạn Tƣợng(Lào) tiến đánh Phú Xuân, nghe tin Trần Quang Diệu từ Quy Nhơn cầm binh ra tiếp cứu; vì không muốn đối đầu với bạn, nên ông Thoại giao binh quyền cho phó tƣớng của mình là Lƣu Phƣớc Tƣờng rồi bỏ vào Gia Định. Vì vậy, ông bị Nguyễn Ánh bắt tội là không có lệnh của vua mà tự tiện về, giáng xuống làm cai đội cai quản đạo Thanh Châu. Năm 1802, trong dịp khen thƣởng những ngƣời có công, rất có thể vì chuyện này, mà ông cũng chỉ đƣợc nhà vua phong làm Khâm Sai Thống binh cai cơ sau mới thăng làm Chƣởng cơ. Tại cuộc "Hội thảo khoa học về danh nhân Thoại Ngọc Hầu nhân kỷ niệm 180 năm ngày mất", đƣợc tổ chức tại Châu Đốc (An Giang) vào ngày 25 tháng 7 năm 2009, hành động “nặng tình vì tình bằng hữu” của ông đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao. Xem: [1]. 4. ^Theo Địa chí An Giang (tập 2) do UBND tỉnh An Giang ấn hành năm 2007, tr. 242. 5. ^Thoại Ngọc Hầu mất trong Thành Bảo hộ tức là thành Châu Đốc. Khi xƣa, tòa thành này nằm ở vị trí ngã ba sông do cồn Tiên chƣa đƣợc bồi nhƣ bây giờ. Nó còn có đƣợc gọi là thành CB vào thời Pháp và Mỹ. Vào khoảng đầu năm 1970, khi sửa chữa thành ngƣời ta bắt gặp nền móng của thành cổ nằm ở bên dƣới. Hiện nay, nơi đây là Doanh trại bộ đội Biên Phòng tỉnh An Giang. 6. ^Theo Nguyễn Văn Hầu, sách đã dẫn, tr.304. 7. ^Theo Nguyễn Văn Hầu, sách đã dẫn, tr 287-296. 8. ^Ngày sinh này căn cứ theo Nguyễn Văn Hầu. Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế ghi bà sanh ngày Thìn. 9. ^Theo Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế trong Tự điển nhân vật lịch sử VN, Nxb.KHXH, 1992. 10. ^Xem [2]. 11. ^Thoại Ngọc Hầu gọi bà là Châu Thị Tế. Và trong tấm bia mộ, do ngƣời con cả tên Nguyễn Văn Lâm lập, cũng ghi tên nhƣ thế: “Hoàng Việt, Hiển tỉ mệnh phụ Châu Thị húy Tế, hiệu Nhàn Tĩnh phu nhân, chi mộ” (Hoàng Việt. Mộ của mẹ, bà mệnh phụ họ Châu, tên húy là Tế, tên hiệu là Nhàn Tĩnh phu nhân). Vậy, có thể tạm suy tên gốc của bà là Châu Thị Tế, còn ghép thêm chữ "Vĩnh" là ghi theo dòng họ Châu Vĩnh của bà. Hiện nay, sách Địa chí An Giang do chính quyền tỉnh ấn hành năm 2003, (tr.234) và tên đƣờng phố trong tỉnh đều ghi Châu Thị Tế. Đền thờ Quản Cơ Trần Văn Thành Vào năm 1897, ông Trần Văn Nhu, con trai của ông Trần Văn Thành đã đứng ra xây dựng Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành tại Láng Linh - Bảy Thƣa thuộc xã Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tình An Giang để tƣởng nhớ ông ngƣời lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Láng Linh - Bảy Thƣa (1867 - 1873) và ghi nhớ nơi tập hợp của nhân dân và các tín hữu đạo Bửu Sơn Kỳ Hƣơng để chờ thời cơ đánh Pháp. Hàng năm, cứ vào rằm tháng giêng, tháng 7, tháng 10; ngày 21, ngày 22, ngày 23 tháng 2 âm lịch (ngày ông Trần Văn Thành hi sinh) và ngày 5 tháng 5 âm lịch (ngày
  • 113. bà Quản Cơ Trần Văn Thành hi sinh) là nhân dân trong và ngoài tỉnh lại tụ hội về đây rất đông để tƣởng nhớ về ngƣời xƣa. Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia Bƣớc tới:menu, tìm kiếm Đền thờQuản cơTrần Văn Thành Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành(gọi tắt là Đền Quản cơ Thành), còn có tên Bửu Hƣơng tự, chùa Láng Linh (gọi tắt là chùa Láng); thuộc ấp Long Châu I, xã Thạch Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; nằm giữa đồng lúa Láng linh[1] , bên bờ kênh xáng Vịnh Tre (kênh Tri Tôn), cách thành phố Long Xuyên khoảng 50 km, là một di tích lịch sử cấp quốc gia Việt Nam[2] . Lịch sử Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thànhdo Trần Văn Nhu, còn gọi là ông Hai Nhà Láng, con trai trƣởng của Quản cơ Thành, đứng ra xây dựng[3] trên nền một trại ruộng của Phật Thầy Tây An vào năm Tân Sửu (1901)[4] , để tƣởng nhớ cha, các nghĩa quân cùng những ngƣời dân đã bỏ mình trong cuộc khởi nghĩa Bảy Thƣa vào những năm 1867 - 1873... Ông Nhu là ngƣời có công lớn trong việc giúp cha điều hành khởi nghĩa và nền đạo Bửu Sơn Kỳ Hƣơng sau khi cha vắng bóng.[5] Nên khi biết ông Nhu sau một thời gian trốn tránh ở Trà Bang (Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang) trở về cho lập thêm trại ruộng, hốt thuốc trị bệnh và phát lòng phái còn gọi là phù điều [6] cho tín đồ ở khắp nơi, thì chính quyền Pháp rất lo ngại cho một cuộc khởi nghĩa mới. MộTrần Văn Nhu. Bia tƣởng niệm tại đền thờ ghi chuyện: Vào ngày 21-22 tháng 2 âm lịch năm 1913, trong lúc tín đồcùng nhân dânđang làm lễtưởng niệm lãnh tụthì quân Pháp đến Bửu Hương Tựbắt giam 83 người.Sau khi kêu án, 76 người bị2 năm tù giam ởChâu Đốc, 7 người bị3 năm tù giamngoài Côn Đảo. Sau đó, Pháp đốt đền. Riêng Trần Văn Nhu, nhờ Trần Văn Chánh, ngƣời con nuôi, cõng chạy thoát. Bị truy nã rất gắt nên ông Nhu phải lẩn trốn nhiều nơi và mất tại Trà Bang (Rạch Giá, Kiên Giang) ngày 25 tháng 3 âm lịch năm 1914.[7] Năm 1942, Trần Văn Tịnh, một đệ tử của ông Nhu, đã đứng ra vận động để xây dựng lại đền thờ tại nền cũ, lợp ngói, xây tƣờng gạch, cột gỗ, nền lát gạch rất khang trang và rộng rãi. Năm 1947, lực lƣợng kháng Pháp từ chùa kéo ra tiêu diệt một đồn Pháp tại xã. Năm sau (1948), Pháp kéo đến khủng bố và đốt đền một lần nữa. Năm 1952, nhân dân quanh vùng chung góp tiền của, công sức xây dựng lại đền khang trang nhƣ ngày hôm nay. Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành, kiến trúc dạng chữ “tam”, kiểu cổ lầu, mái hai cấp lợp ngói đại ống, cột gỗ căm xe và bê tông, tƣờng gạch, nền lát gạch bông. Về nghệ thuật thì đơn giản so với các đình chùa trong vùng. Ở nơi thờ này, hàng năm có nhiều lễ giỗ, nhƣng quan trọng nhất là lễ giỗ ông Trần Văn Thành, đƣợc tổ chức trọng thể vào các ngày 21-22 tháng 2 âm lịch. Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành đƣợc Bộ Văn Hóa Thông Tin xếp hạng di tích Lịch sử - Văn hóa vào ngày 6 tháng 12 năm 1989.
  • 114. Trần Văn Thành(1820[1] - 1873) còn đƣợc gọi là Trần Vạn Thành, Quản Cơ Thành (khi đƣợc thăng Chánh quản cơ), hoặc đƣợc tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hƣơng[2] gọi tôn là Đức Cố Quản; là một lãnh tụ phong trào kháng Pháp ởBảy Thƣa - Láng Linh (1867-1873) vào cuối thế kỷ 19 tại An Giang thuộcNam Bộ, Việt Nam. Thân thế và gia đình Trần Văn Thànhsinh ở ấp Bình Phú (Cồn nhỏ), xã Bình Thạnh Đông, huyệnPhú Tân, tỉnh An Giang, trong một gia đình trung nông. Vợ ông tên Nguyễn Thị Thạnh (1825-1899), quê ở rạch Sa Nhiên, Sa Đéc. Bà là ngƣời vợ nhân hậu, đảm đang, văn võ đều khá giỏi. Trong công cuộc kháng Pháp của chồng, bà và ngƣời con gái thứ năm tên Trần Thị Nên, đã giúp đắc lực, nhất là về việc hậu cần[3] , an ủi và động viên binh sĩ. Ông Thành và bà có tất cả 6 ngƣời con: ba trai, ba gái. Trừ trai út tên Trạng mất năm 7 tuổi, hai trai còn lại đều khá danh tiếng: Một, tên Trần Văn Nhu (1847-1914), còn gọi làCậu hai nhà Láng(người miền Nam gọi con đầu lòng thứhai), ngƣời lập raBửu Hươngtự(tức chùa Láng) và cũng là ngƣời kếtruyền mối đạo Bửu Sơn kỳHƣơng khicha mất. Khi cuộc khởi nghĩa Bảy Thƣa bịđánh dẹp; mẹông, ông và những ngƣờithân tín khác, bịPháp truy nã rất gắt nên phải lẩn trốn nhiều nơi. Năm 1897,ông Nhu trởvềcăn cứcũlập Bửu Hƣơng tự(nay làĐền thờQuản cơTrần Văn Thành), phát hành “lòng phái” đểthu nhận tín đồ. ÔngNhu mất tại Trà Bang (Rạch Giá) ngày 25 tháng 3 âm lịch năm1914. Hai, tên Trần Văn Chái (1855-1873), bịbắt khi chiến đấu và tựsát trongngụcChâu Đốc. Sự nghiệp- Đầu quân nhà Nguyễn Năm 1840, khoảng ngoài 20 tuổi, ông gia nhập quân ngũ giữa lúc Nặc Ông Đôn, em vua Cao Miên khởi quân chống lại cuộc bảo hộ của Việt Nam. Nhờ có sức khỏe, giỏi võ nghệ, khá thông thạo chữ nghĩa, nên đƣợc làm suất đội[4] , từng đóng quân ở Chân Lạp (Campuchia). Sau khi lập đƣợc nhiều công lao, ông đƣợc thăng Chánh quản cơ (1845), chỉ huy khoảng 500 quân, đóng quân ở Châu Đốc, giữ gìn biên giới phía Tây Nam. Năm 1846, Nặc Ông Đôn qui phục Việt Nam, ông Thành đƣợc về nhàn dƣỡng tại quê nhà. Năm 1862, Pháp lấn chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, Trần Văn Thành nhanh chóng hƣởng ứng lời kêu gọi chống giặc của triều đình. Ngày 22 tháng 6 năm 1867, một đoàn tàu chiến Pháp do trung tá hải quân GaLey cầm đầu, đến huy hiếp thành Châu Đốc, khiến tổng đốc Phan Khắc Thân phải đầu hàng. Ngày 30 tháng 8 năm 1867, Phan Thanh Giản tuẫn tiết tại Vĩnh Long, sáu tỉnh Nam Kỳ mất hết vào tay Pháp. Lập căn cứ kháng Pháp Đứng trƣớc tình thế nguy khổn đó, ông tích cực vận động đồng bào, tín đồ Bửu sơn Kỳ Hƣơng[5] cùng quân lính của mình, về Láng Linh - Bảy Thƣa gắp rút xây dựng căn cứ, phất cờ khởi nghĩa lấy hiệu là Binh Gia Nghị. Căn cứ chính của Trần Văn Thành đặt tại Hƣng Trung (gần Nam Long Tự, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú), xung quanh thiết lập các đồn “Hờ” ngăn cản đối phƣơng, nhƣ : Đồn Cái Môn ở Cái Dầu, đồn Giồng Nghệ ở Mặc Cần Dƣng, trạm canh Ông Tà ở Tri Tôn, đồn Hàng Tràm ở Bình Thạnh Đông...Mỗi đồn đều đƣợc trang bị súng thần công, súng điểu thƣơng, hỏa hổ với 150 nghĩa quân phụ trách
  • 115. phòng thủ. Nghĩa quân tổ chức thành nhiều đội. Mỗi đội có ngƣời chỉ huy, nhƣ đội Nhất có Nguyễn Văn Năng, Lê Văn Vang; đội nhì có Nhiều (Lƣợng); đội Tƣ có Đinh Văn Hiệp...Dƣới bóng cờ của ông Thành còn có những nghĩa quân tài giỏi khác, nhƣ: đội sang, hiệp quản Tú [6] , thƣ lại Khuê...Trong Láng Linh có đến 1.200 nghĩa quân, đa số là nông dân yêu nƣớc khắp Nam Kỳ.[7] Bị tấn công Năm 1868, cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực bị dẹp tan, Trần văn Thành trở thành nhân vật bị Pháp truy nã gắt gao, treo giải thƣởng. Năm 1871, một cộng sự của Pháp là Trần Bá Lộc thử hành quân vào mật khu, nhƣng chẳng thâu đƣợc kết quả do sình lầy, bốn phía lau sậy mù mịt, thỉnh thoảng bị phục kích. Mùa khô năm 1872, theo sách Sổ tay hành hương đất phương Nam[8] thì nghĩa quân bắt đƣợc một ngƣời Khmer tên Tol, quê ở Mặc Cần Dƣng (nay là xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, An Giang). Ông Thành tra hỏi thì Tol khai rằng vì mãi rƣợt theo một con heo rừng nên mới lạc vào ngọn rạch Gà Tranh, chứ không phải lẻn vào để do thám. Tuy đƣợc thả về, nhƣng Tol lấy việc đó làm hận, nên đã “bẻ đế, gập sậy” làm dấu và tình nguyện dẫn lính Pháp đang đồn trú ở Đông Xuyên tấn công căn cứ Bảy Thƣa. Nhà văn Sơn Nam kể hơi khác hơn: Tháng 2 năm 1872, Pháp bắt được một nghĩa quân đi mộlính ởLong Xuyên.Và nhờcai tổng Mun theo sát những người đặt lọp, giăng câu phía ngọn Mặc CầnDưng, nên đến gần mật khu. Hắn hoảng hốt khi thấy nghĩa quân tích cực củng cố công sự, lò đúc súng đang hoạt động ngày đêm... Tháng 6 năm 1872, quân pháp mởcuộc tấn công vào Bảy Thưa. Pháp dùngthuyền nhỏtừ Long Xuyên tiến vào rạch Mặc Cần Dưng (nay thuộc xã Bình Hòa, huyện Châu Thành) đánh đồnGiồng Nghệvà chiếm được đồn này trong nửa tháng, nhưng sau phải rút lui vìkhông chịu nổi kiểu đánh du kích của nghĩa quân. Tuy nhiên, trận chiến ác liệt nhất là trận đồn Hƣng Trung xảy ra ngày 19 tháng 3 năm 1873 và kéo dài đến ngày hôm sau. Bài chính:Trận đồn Hưng Trung Hy sinh Tranh mô tảTrần Văn Thành đang đánh trận (tranh treo tạiĐền thờQuản cơTrần Văn Thành). Ông Trần Văn Thành hy sinh vào ngày 21 tháng 2 năm Quý Dậu (tức ngày 19 tháng 3 năm 1873), trong trận đánh tại đồn Hƣng Trung. Sau đó, theo Sơn Nam, thì: Pháp “ đem xác Trần Văn Thành chưng bày tại chợCái Dầu (Châu Phú, ChâuĐốc), thêm xác của đội Văn (Pháp ghi là Vang) đểnhằm ngăn chận những tin đồnthất thiệt cho rằng ông còn sống, đi lánh mặt và tiếp tục kháng chiến. Còn nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, ngƣời ở An Giang, cho biết khác hơn: Ngày 20 tháng 3 năm 1873 (21 tháng 2 âm lịch), quân Pháp tấn công vào đồn Hưng Trung là tổng hành dinh của nghĩa quân do Trần Văn Thành chỉ huy. Ông và các nghĩa quân của mình đã xả thân chiến đấu, nhưng chỉ cầm cự được đến tối thì thất
  • 116. thủ. Giặc Pháp không tìm được thi thể ông, nhưng có lẽ ông đã hi sinh trong trận chiến này.[9] Mặc dù vậy, lâu nay, nhiều ngƣời theo giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hƣơng vẫn tin rằng ông Thành không thể bị Pháp giết chết, mà chỉ tạm lánh đâu đó... [10] Tƣơng truyền, trong năm 1873, có hai ngƣời từ Huế theo ghe bầu vào Nam rồi tìm đến tận căn cứ Bảy Thƣa. Họ mang theo một đạo sắc phong nói là của vua Tự Đức ân ban cho Quản Cơ Thành. Nhƣng họ có ngờ đâu chỉ còn trông thấy mấy đống tro tàn cùng tiếng gió rì rào trên những ngọn bảy thƣa... [11] Nhận xét Nhận xét về con ngƣời Trần Văn Thành, đối phƣơng viết: Vóc to lớn, mạnh khỏe, gương mặt nghiêm nghị, nhìn thấy là phải kínhtrọng và ngưỡng mộ, Ông hăng hoạt động, rất thông minh. Ông lập ra một đạo gọilàđạo Lành. Trong hầu hết các tỉnh ởđấtGia Định đều có tín đồ. Tín đồtừcác nơivì tôn kính ông nên tới mật khu, mang theo nào lúa gạo, sắt (đểrèn khígiới)... Và khi đềcập cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, nhiều sửgia đều đánh giá cao,vì: -Việc tổchức khá khoa học, với công sự, kho lương thực; đặc biệt là đúcsúng ống tại chỗ, tuy súng hãy còn thô sơ, kiểu “ống lói”. -Biết dùng hình thức tôn giáo đểqui tụquần chúng và che mắt thựcdân. -Trần Văn Thành thấy rõ tương lai dân tộc ởhành động cụthểlà phảichống ngoại xâm, không thểngồi khoanh tay chờnúi Cấm nứt ra “ bất chiến tự nhiên thành”. Thái độcủa ông và nghĩa quân là “chiến đấu không thỏahiệp”.[12] Tƣởng nhớ Nho sĩ Cao Văn Cảo, ngƣời cùng thời, có làm bài thơ chữ Hán tƣởng niệm ông. Vô danh dịch: Non sông Hồng Lạc, giặc xâm lăng Thẳng thắng, Trần công cốsức ngăn. Trời đất biết cho lòng sốt sắng, Kiếp đời ghi mãi chí thù hằn. Đền thờtỏdấu dân trong nước, Thơvịnh nêu tình khách viết văn. Những đứa phản thần qua đến cửa, Gục đầu, run mật, cặp m&