Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533

on

  • 4,265 views

 

Statistics

Views

Total Views
4,265
Views on SlideShare
4,265
Embed Views
0

Actions

Likes
2
Downloads
148
Comments
2

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel

12 of 2

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533 Tim hieu ve_lam_phat_o_viet_nam_trong_nhun_nam_gan_day_va_lien_he_tac_dong_cua_chinh_sach_5533 Document Transcript

    • LỜI NÓI ĐẦU Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thaycủa nền kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tếthị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợinhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như cácdoanh nghiệp phải nhanh chóng để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nềnkinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đềnổi cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát.Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hếtsức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trí tuệ mới có thể mong muốnđạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc của các nhàdoanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ. Lạm phát ảnh hưởng toànbộ đến nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động ởnước ta hiện nay, chống lạm phát giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định,cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nângcao đời sống nhân dân. Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người quantâm, nghiên cứu và đề xuất các phương án khác. Đã từ lâu tiền giấy xuấthiện và chẳng bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạmphát. Nét đặc trưng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cảcủa hầu hết các hàng hóa đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày cànggiảm nhanh. Bài viết này với đề tài: “ Tìm hiểu về Lạm phát ở Việt Nam trongnhững năm gần đây và liên hệ tác động của chính sách” Xuất phát từ vấn đềnghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc biệt thấy được tầm quantrọng của lạm phát. Vì vậy, với lực lượng kiến thức còn hạn chế, em thiết
    • nghĩ nghiên cứu đề tài này cũng là một phương pháp để hiểu nó một cáchthấu đáo hơn, sâu sắc hơn tài chính tiền tệ NỘI DUNG CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT I/ Định nghĩa lạm phát - Quan niệm cổ điển cho rằng “Lạm phát là phát hành tiền vượt quá sốlượng tiền cần thiết trong lưu thông”. Tuy nhiên định nghĩa này không giảithích được hiện tượng lạm phát chi phí đẩy (xuất hiện trên thế giới từ nhữngnăm 70 hoặc ở Việt nam năm 2005) do loại lạm phát này vẫn có thể xảy ratrong khi cung tiền tăng ổnđịnh. Nếu chỉ coi là lạm phát khi sự tăng giá làkết quả của việc tăng mạnh cung tiền thì sẽ dẫn đến coi thường các nguy cơlạm phát có thể xảy ra. - Một quan điểm phổ biến khác cho rằng: Lạm phát là hiện tượng tănglên của mức giá chung (mức giá bình quân, mức giá tổng hợp) theo thờigian. Tuy nhiên không phải mọi sự tăng lên của mức giá đều đáng lo ngại.Nếu giá cả chỉ tăng tạm thời,trong ngắn hạn, chẳng hạn như dịp gần TếtNguyên đán ở Việt nam, sau đó lại giảm xuống thì đó là kết quả của nhữngbiến động cung cầu tạm thời, nhiều khi có tác dụng tích cực hơn là tiêu cựctới nền kinh tế. Những trường hợp như vậy mà đã coi là lạm phát thì sẽ dẫnđến sự cường điệu hoá nguy cơ lạm phát.- Các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu làMilton Friedman đã định nghĩa “lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh vàliên tục trong một thời gian dài”. Theo trường phái này, sự tăng lên của mức
    • giá chung mới chỉ phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát, bản chất củalạm phát được thể hiện ở tính chất của sự tăng giá đó: đó là sự tăng giá vớitốc độ cao và kéo dài. Chính sự tăng giá cao và liên tục từ thời gian này đếnthời gian khác mới tạo ra những tác động đặc thù của lạm phát. Cũng vì vậy,cái gọi là tỷ lệ tăng giá hàng tháng mà chúng ta có thể nghe trên đài, báo hayvô tuyến chỉ cho biết mức giá cả đã thay đổi bao nhiêu phần trăm so vớitháng trước chứ chưa được coi là biểu hiện của lạm phát. Đó có thể chỉ là sựthay đổi xảy ra duy nhất một lần hoặc chỉ là tạm thời chứ không kéo dài. Chỉkhi nào tỷ lệ tăng giá vẫn duy trì cao trong thời gian dài thì mới được coi làbiểu hiện của lạm phát cao. II/ Phân loại lạm phát 1) Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạmphát dưới 10% một năm 2) Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanhvới tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm. 3) Siêu lạm phát : xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ caovượt xa lạm phát phi mã, siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạmphát trên 200% . CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG LẠM PHÁT ỞVIỆT NAM HIỆN NAY I/ Lịch sử của lạm phát ở Việt NamTốc độ tăng trưởng GDP thống kê qua các năm và ước tính cho 2010. Chitiêu của Nhà nước (so với GDP) đã tăng từ 5% năm 2000 lên trên 8% từ sau
    • năm 2005. Tỉ lệ vốn đầu tư/GDP cũng tăng lên đến 34% năm 2000 và đến40% từ năm 2004 đến nay (2007). Từ đây các nhân tố lạm phát được nuôidưỡng. Đến hôm nay lạm phát quay trở lại. Năm 2004 đã xuất hiện nhữngdấu hiệu của cuộc lạm phát mới và được xác nhận lại vào năm 2005 nhưngđã không có những giải pháp thoả đáng. Thậm chí đến giữa năm 2007 dấuhiệu trở nên rõ ràng hơn thì một lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước vẫn tuyên bốmạnh mẽ “lạm phát không thể đến mức hai con số”. Thực tế cho thấy thì lạmphát năm 2007 khoảng 12%, năm 2008 thi lên đến 22% một con số đáng báođộng cho một nền kinh tế non trẻ như việt nam.Cùng với những biện phápkiềm chế lạm phát bước sang năm 2009 lạm đã giảm chỉ con 6%. Dự báomới nhất cho thấy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2010 ở mức6%. Lạm phát có thể tăng từ 7% trong năm 2009 lên mức hai con số do tăngtrưởng tín dụng mạnh trong thời gian gần đây. Giá hàng hóa thế giới cao trởlại cũng sẽ tác động đến giá cả trong nước. Bên cạnh nguy cơ lạm phát lên 2con số. Đây là một bài toán đau đầu cho các nhà kinh tế làm sao để đạt đượccác mục tiêu kinh tế đề ra. II/Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam khi xảy ra lạmphát Cuộc chiến chống lạm phát của nền kinh tế Việt Nam giúp phát hiệnhai vấn đề: Một về cơ cấu và một về điều hành kinh tế vĩ mô. Về cơ cấu,nền kinh tế của chúng ta đang đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng về sungdụng tài nguyên. Sử dụng tài nguyên không hiệu quả đã làm lãng phí đồngvốn, lãng phí nhân lực, lãng phí tài nguyên thiên nhiên trong một thời giandài. Hệ số ICOR cao (4,5) cho thấy nền kinh tế Việt Nam là một trongnhững nền kinh tế có đầu tư kém hiệu quả nhất trong khu vực, và có năng
    • lực cạnh tranh rất thấp. Những hệ quả tiếp theo của nó càng ngày càng lộ rõnhư thâm hụt cán cân thương mại ngày càng nghiêm trọng (chỉ riêng nămtháng đầu năm 2008, con số này đã lên đến 14,4 tỉ USD), khiếm hụt ngânsách luôn được duy trì ở mức 5% GDP trong nhiều năm, và kết quả tất nhiêncủa nó là tốc độ lạm phát của nền kinh tế ngày càng gia tăng (theo một ướclượng đáng tin cậy, nếu loại trừ tác động tăng giá của thị trường thế giới nhưgiá dầu và giá lương thực, tốc độ lạm phát do tác động nội tại của nền kinhtế mà chủ yếu xuất phát từ vấn đề sử dụng tài nguyên không hiệu quả, đã lênđến từ 8- 10%/năm). Tuy nhiên, giải quyết vấn đề cơ cấu là một việc làm lâudài, đòi hỏi một quyết tâm chính trị rất cao. Bài toán về cơ cấu là bài toánkhông thể có lời giải một sớm một chiều, nhưng đó là một bài toán phải kiêntrì giải quyết ngay từ bây giờ, vì rằng đó là bài toán sinh tử, quyết địnhtương lai phát triển và cường thịnh hay không của nền kinh tế Việt. Về điều hành kinh tế vĩ mô, chúng ta đang gặp phải các vấn đề trongchính sách ngân sách và chính sách tiền tệ. Nếu mục tiêu của chính sáchngân sách vẫn là duy trì một mức khiếm hụt lên đến 5%/GDP tiếp tục trongthời gian dài, những nỗ lực kiểm soát lạm phát nhằm ổn định kinh tế vĩ môsẽ rất khó thành công. Mục tiêu cân bằng ngân sách cần phải là một mục tiêuđược hướng tới kể từ bây giờ. Những nỗ lực chống lạm phát trước hết phảiđược thể hiện bởi một quyết tâm từ phía Chính phủ, cụ thể hóa bởi các hànhđộng tiết kiệm ngân sách: tinh giản bộ máy hành chính, tiết kiệm công chi,giảm đầu tư công. Tất cả những điều đó sẽ giúp cho việc sung dụng tàinguyên quốc gia trở nên hiệu quả hơn, đồng thời khuyến khích phát triểnđầu tư tư nhân trong và ngoài nước ngay trong các lĩnh vực cần nguồn vốnlớn như xây dựng cơ sở hạ tầng. Một ngân sách cân bằng sẽ có tác dụng tíchcực hai mặt: giảm thiểu tốc độ lạm phát và tăng cường hiệu quả của việcsung dụng tài nguyên.
    • Về chính sách tiền tệ, chúng ta đang lúng túng giải quyết bài toán lãisuất và tỷ giá. Sự lúng túng này đang gây khó khăn cho hệ thống ngân hàngvà các doanh nghiệp. Điều đáng quan tâm hơn là nó làm xói mòn niềm tin vàtâm lý lạc quan đã có trước đây của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Mộtnăm trước đây, kỳ vọng lạc quan đã là động lực thúc đẩy đầu tư và sự tăngtrưởng của các thị trường: thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thịtrường bất động sản, thị trường chứng khoán. Tâm lý lạc quan thái quá cóthể tạo ra sự tăng trưởng bong bóng của một số thị trường nhưng một thái độlạc quan vẫn luôn luôn cần thiết để duy trì không những sự tăng trưởng kinhtế mà cả sự ổn định. III/ Nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam Trong các nguyên nhân dẫn đến lạm phát do yếu tố tiền tệ, theo tổng kếtcủa IMF thường xuất phát từ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ(CSTT): Sự thâm hụt ngân sách kéo dài được bù đắp bằng việc in tiền,và/hoặc sự chi tiêu quá mức và thất thoát lớn trong xây dựng cơ bản củachính phủ sẽ là nguyên nhân gây ra lạm phát, hoặc CSTT quá nới lỏng, dẫntới tăng cung tiền, tăng đầu tư tín dụng quá mức v.v. cũng là nguyên nhângây lạm phát. Do vậy, để kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu luôn đòi hỏi sựphối hợp rất chặt chẽ trong điều hành CSTT và chính sách tài khóa. Xéttrong giác độ điều hành CSTT để kiểm soát lạm phát (lạm phát được coi làmục tiêu cuối cùng của CSTT), tùy điều kiện kinh tế, mức độ phát triển củathị trường tiền tệ, khả năng điều tiết tiền tệ của Ngân hàng Trung ương(NHTW) mà NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau để kiểm soátlạm phát. Thực tế hiện nay cho thấy, đối với những nước phát triển, là những
    • nước có thị trường tiền tệ, thị trường vốn phát triển, đặc biệt là những nướctheo đuổi khuôn khổ CSTT hướng tới mục tiêu lạm phát Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam hiện nayTrên cơ sở nghiên cứu về biến động của giá cả và lạm phát ở Việt Nam,chúng tôi cho rằng lạm phát ở Việt Nam thời gian qua là do những nguyênnhân sau: 1. Về phương pháp tính Phương pháp tính chỉ số CPI của các nước khác với Việt Nam. Một là,các nước thường loại trừ giá lương thực, dầu mỏ ra khi tính toán...; Hai là,giá đó là giá giao dịch mua buôn, bán buôn trên thị trường hàng hóa của cácnhà kinh doanh, còn giá bán lẻ cho người tiêu dùng đối với nhiều mặt hàngthì vẫn ổn định; Ba là, các mặt hàng đó chiếm tỷ trọng nhỏ trong các nhómhàng hóa và dịch vụ tính CPI. 2. Điều tiết vĩ mô kém Một thực tế cần phải thừa nhận là điều tiết vĩ mô của chúng ta trướcnhững biến động bất thường cả từ trong và ngoài nước để nhằm bình ổn thịtrường trong nước là còn nhiều bất cập. Thí dụ, đến khi giá thuốc tân dượcleo thang hàng ngày và được bán ở mức rất cao, gây rối loạn thị trườngthuốc chữa bệnh, lúc đó chúng ta mới nghĩ đến vấn đề dự trữ quốc gia vềthuốc tân dược. 3. Cung ứng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Tổng phương tiện thanh toán, bao gồm tiền mặt trong lưu thông, tiềngửi tại ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng (nội và ngoại tệ). Nhân tốnày về nguyên lý là thường tác động có độ trễ, tức là tổng phương tiện thanhtoán tăng lên trong kỳ này, thì ảnh hưởng của nó phát sinh ở kỳ sau, trongngắn hạn là 6 tháng, trung và dài hạn thường là từ 1 năm trở lên. Trong 14
    • năm qua, mức tăng tổng phương tiện thanh toán bình quân 23%-26%/năm,phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế và không thấy tác động rõ rệt về lạmphát, cũng như giảm phát. 4. Do cầu kéo Trong những năm qua, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường,hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước dồi dào, đa dạng và phongphú. Do đó hầu như không có tình trạng khan hiếm hàng hóa trên thị trườngdẫn tới tăng giá một hay một số mặt hàng nào đó. Song trong năm 2004, doảnh hưởng của dịch cúm gia cầm xẩy ra trên diện rộng và kéo dài, đã làmgiảm mạnh nguồn cung sản phẩm gia cầm, trong khi nhu cầu thực phẩm tiếptục tăng lên, làm cho giá cả mặt hàng gia cầm nói riêng tăng đột biến. 5. Do chi phí đẩy Nhân tố này chủ yếu là do giá cả các mặt hàng mà Việt Nam nhậpkhẩu trên thị trường thế giới tăng lên, tập trung là giá xăng dầu, phôi thép,nguyên liệu nhựa, phân đạm Urê, bột giấy, thuốc chữa bệnh, vật phẩm ytế..., làm cho giá bán lẻ trong nước cũng tăng lên. Chỉ riêng mặt hàng xăngdầu trong năm 2004 đã được điều chỉnh tăng 4 lần. 6. Do tâm lý dân chúng Khi thị trường bất động sản ở Việt Nam đang rối loạn, giá cả một sốmặt hàng đang leo thang hàng ngày, gây tâm lý bất ổn trong dân chúng thìtiếp đó (đầu năm 2004). CHƯƠNG III : LIÊN HỆ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNHSÁCH VÀ GIẢI PHÁP Chính phủ nhất trí điều chỉnh mục tiêu chống lạm phát và mức tăngtrưởng trong năm 2008 thích hợp trong tình hình mới và nêu 5 giải pháp cần
    • tập trung chỉ đạo và điều hành nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩmô, đảm bảo an sinh xã hội và duy trì tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế. I/ Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng Chính phủ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng theo nguyêntắc thị trường một cách chặt chẽ, chủ động và linh hoạt, bảo đảm mục tiêuchống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm huy động các nguồn vốnphục vụ phát triển kinh tế. Thời gian gần đây báo chí liên tục đưa tin về việc Ngân hàng Nhànước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, NHTM tăng lãi suất tiền gửi, siếtchặt cho vay... với mục tiêu chung là kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế. Tuynhiên cái giá phải trả cho việc thực hiện những chính sách này không rẻ chútnào. Ngay từ tháng 1-2008, tình hình vốn tiền đồng của các ngân hàngthương mại đã căng thẳng, ngay từ đầu năm mới, lãi suất liên ngân hàng đãcó lúc lên đến 25%. Nhiều ngân hàng đã liên tục điều chỉnh lãi suất theohướng tăng lên, có nơi điều chỉnh biểu lãi suất 2-3 lần trong một tháng. Nhưvậy, quyết định rút tiền ra khỏi lưu thông bằng tín phiếu sẽ tiếp thêm nănglượng cho cuộc đua tăng lãi suất của ngân hàng. Trở ngại cho thu hút vốn gián tiếp,Trong điều kiện thị trường chứngkhoán đầu năm 2008 vẫn chưa mấy khởi sắc, liên tục các quy định thắt chặttiền tệ sẽ tạo ra cảm giác cho nhà đầu tư là NHNN đang “hy sinh thị trườngchứng khoán” để chống lạm phát. Đồng Việt Nam sẽ tiếp tục lên giá Lãi suất tiền đồng (VND) được đẩylên cao trong tình hình lãi suất đô la Mỹ (USD) trên thế giới đang giảm sẽtạo áp lực giảm giá lên đồng USD so với VND. II/ Giảm thâm hụt ngân sách nhà nước
    • Tăng thu gắn liền với thắt chặt, tiết kiệm chi tiêu, nâng cao hiệu quảsử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, hạn chế bội chi ngân sách. Thủtướng yêu cầu hệ thống chính trị phải gương mẫu thực hiện tiết kiệm 10%chi thường xuyên; cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết; thực hiện cácbiện pháp tiết kiệm xăng, dầu; rà soát và giảm các hạng mục, công trìnhchưa thật bức thiết, đồng thời kêu gọi nhân dân thực hành tiết kiệm tiêudùng. Giảm thâm hụt ngân sách bằng cơ chế quản lý đầu tư công Chính sáchgiảm tổng cầu thông qua thắt chặt chi tiêu công là đúng đắn, cần thiết nhưngchưa đủ. Nỗ lực giảm chi tiêu công của Chính phủ chỉ thực sự có hiệu lựcnếu như Chính phủ đồng thời có cơ chế để đảm bảo những khoản đầu tư cònlại có hiệu quả. Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm chi tiêu,Chính phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng ngânsách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn thu không bền vữngtừ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay. Cải cách thuế, đặc biệt là thuếthu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khicon số này ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất độngsản. III/ Cân đối cung cầu trong nền kinh tế Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành phải chịu trách nhiệm đảm bảo cânđối cung cầu các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất như xăng,dầu, gạo, thuốc, xi măng, sắt, thép, phân bón... gắn liền với kiểm soát chặtchẽ giá cả. Khẳng định không tăng giá bán than cho ngành điện, không tănggiá điện và giá xăng dầu. Nhà nước tiếp tục bù lỗ cho các mặt hàng nàynhằm ổn định giá.
    • Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất kinh doanhđể duy trì tăng trưởng. Phấn đấu với tinh thần cao nhất để giải quyết vốn chocác doanh nghiệp, nhất là vốn lưu động. Thủ tướng cũng chỉ đạo các Bộngành tích cực, chủ động hơn nữa trong việc tháo gỡ khó khăn. Đặc biệt, cácBộ trưởng phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ về hoạt động của các tậpđoàn, Tổng công ty thuộc bộ mình quản lí. IV/ Ổn định giá cả thị trường Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, chính quyền các địa phương, hiệphội các ngành hàng tăng cường các biện pháp quản lý thị trường giá cả, tổchức tốt thương mại trong nước, kêu gọi các doanh nghiệp có trách nhiệmvới đất nước không đầu cơ trục lợi và tăng giá các mặt hàng. Chính phủ đãxác định nguyên tắc ưu tiên là từ nay đến cuối năm kiềm chế lạm phát, ổnđịnh kinh tế vĩ mô, tạo đà cho những năm tiếp theo, đảm bảo an sinh xã hội.Và trong việc ổn định giá các mặt hàng thiết yếu, Thủ tướng đã chỉ đạo, vớimặt hàng xăng dầu, trong bất cứ thời điểm nào, địa điểm nào cũng phải đảmbảo nguồn cung tổng thể. Trong trường hợp có diễn biến bất thường, Chínhphủ sẽ nghiên cứu biện pháp hợp lý để giải quyết. Điều này cho thấy Chínhphủ luôn xác định ưu tiên chống lạm phát là mục tiêu hàng đầu, nhất là đốivới xăng dầu – mặt hàng thiết yếu hàng đầu của nền kinh tế. Với mặt hàng than, Bộ Tài chính đang nghiên cứu xây dựng phươngán và lộ trình chặt chẽ về giá than trong thời gian tới, trong đó, quy định giábán than cho từng hộ tiêu thụ lớn. Điện giữ giá ổn định từ nay đến hết năm thì giá than bán cho điệncũng phải ổn định. Đó là điều đương nhiên. Còn than bán cho sản xuất ximăng, cho sản xuất phân bón, và ngành sản xuất giấy cũng đang được BộTài chính tính toán xây dựng lộ trình, bước đi cho phù hợp với điều kiện
    • hiện nay, trên cơ sở kiềm chế tăng giá tiêu dùng và chống lạm phát là mụctiêu hàng đầu. với Hiệp hội xi măng quy định thống nhất cách quản lý giá bán trênthị trường. Vụ trưởng Vụ quản lý vật liệu xây dựng – Bộ Xây dựng, Còn vớimặt hàng thép, trước đề nghị mới đây của Hiệp hội Thép Việt Nam về điềuchỉnh tăng giá bán thép xây dựng trước việc giá phôi thép trên thị trường thếgiới tăng cao, quan điểm của Chính phủ là chưa ủng hộ việc tăng giá thép. Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất phân bón đang tiếp tục thực hiệnnhiều biện pháp để ổn định thị trường phân bón. V/ Đẩy mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu Tìm mọi cách đẩy mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu. Thủ tướngnhấn mạnh, không có xuất khẩu thì không có tăng trưởng nên tập trung đẩymạnh xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh như thuỷ sản, dệt may vàda giầy... Chính phủ sẽ kiểm soát quyết liệt nhập siêu bằng cả biện pháp thịtrường và hành chính vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Bộ Công thươngnghiên cứu hạn chế nhập siêu các mặt hàng không thiết yếu như ô tô nguyênchiếc, phụ tùng xe máy... phấn đấu kiểm soát nhập siêu trong năm 2008tương đương năm ngoái, tiến tới cân bằng cán cân thương mại Trong đó, 11 tỷ USD là con số nhập siêu trong bốn tháng đầu năm,chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu. Do đó, Thủ tướng yêu cầu phải đẩymạnh xuất khẩu, tránh mất cân bằng cán cân thanh toán. Ngoài ra, Thủtướng cũng chỉ đạo Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn tập trung quản lý chặt việc kiểm soát giá các mặt hàng xăng, dầu, lươngthực, thực phẩm. “Bộ Công thương kiểm soát chặt chẽ tình hình giá cả tạicác địa phương, Bộ Công an phối hợp với các cơ quan xử lý nghiêm cáctrường hợp đầu cơ, nâng giá trục lợi
    • VI/Chính sách tỷ giá hối đoái và biện pháp thu hút USDtrong việc giảm lạm phát Các công cụ lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở đã không thành côngvà gây nên nhiều biến động khó lường. Lạm phát cần phải có một phươngthuốc mới để điều trị phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay. Cần nhớ rằng,khi tỷ giá giảm thì cái lợi đầu tiên là chúng ta sẽ nhập khẩu nguyên, nhiênliệu với giá rẻ hơn, dẫn đến chi phí sản xuất trong nước giảm làm cho giá cảhàng hóa trong nước giảm. Cái lợi thứ hai là xuất khẩu giảm, nhập khẩutăng cũng sẽ làm tăng tổng cung cho nền kinh tế trong nước. Tác động gộpcủa các yếu tố này có thể làm giảm lạm phát . Em cho rằng các biện pháptrên là thích hợp, lợi ích chúng ta nhận được là giảm lạm phát và chi phí sảnxuất, giảm lượng USD quá nhiều mà nền kinh tế chưa thể hấp thụ hết, ổnđịnh tâm lý của người dân và bảo đảm tính thanh khoản của ngân hàng trongkhi chỉ phải trả một khoản thiệt hại cho thâm hụt cán cân thương mại haygiảm tốc độ tăng trưởng. Như vậy, nền kinh tế vẫn còn lời? KẾT LUẬN Chúng ta nhận thức rằng quá trình đấu tranh chống lạm phát khôngđơn giản ngày một ngày hai.Nó là căn bệnh kinh niên nhưng việc xóa bỏlạm phát hoàn toàn thì cái giả phải trả không tương xứng với lợi ích đemlại.Tình hình diễn biến lạm phát và khắc phục nó tại Việt Nam rất phứctạp. Lạm phát đã hoành hành công khái khi Việt Nam tiến hành cải cáchkinh tế xã hội, xóa bỏ bao cấp, quan liêu. Sự cải cách không đồng bộ giữagiá cả và quản lý kinh tế dẫn đến khủng hoảng trầm trọng. Thành côngtrong cuộc chống lạm phát 1989 và các biện pháp kiềm chế lạm phát năm2008 đưa nước ta vượt lên chính là sự đổi mới trong nhận thức quản lý
    • kinh tế của Đảng và nhà nước ta. Kinh tế ổn định đã làm tiền đề cơ sở cho sựthành công của các thành tựu trong lĩnh vực giáo dục, khoa học, chính trị…những thành tựu to lớn mà chúng ta đạt được trong công cuộc chống lạmphát cũng không vì thế mà chúng ta chủ quan, nới lỏng. Lạm phát luôn rình rập và đe dọa chúng ta bất cứ lúc nào. Chính vìvậy Đảng và nhà nước cần phải luôn thận trọng trong mỗi bước đi của mìnhđể đảm bảo cho nền kinh tế nước ta phát triển vững mạnh làm nền tảng đểphát triên khoa học, giáo dục, đuổi kịp sự phát triển của các nước trong khuvực nói riêng và các nước trên thế giới nói chung. Điều này không chỉ củariêng ai mà một phần không nhỏ dành cho các nhà doanh nghiệp trẻ gópphần làm rạng danh đất nước trong nhiều năm tới này. Lạm phát đang là vấnđề nổi cộm trong lý thuyết Tài chính- Tiền tệ. Em đã cố gắng tới mức caonhất hoàn thành đề án trong khả năng của mình. Bài viết này chỉ là nhữngthu nhặt bước đầu mang tính chất cơ sở cho việc phát triển nhận thức saunày. Em hy vọng đây là cách tiếp cận có hiệu quả trong quá trình tìmhiểu nền kinh tế nói chung và lạm phát nói riêng
    • TÀI LIỆU THAM KHẢO1.Giáo trình Tài Chính- Tiền2.Tiền Tệ Ngân Hàng và thị trường Tài Chính – Mishkin.3.Bài giảng Tài Chính -Tiền Tệ -4.Các trang web:http://dantri.com.vn/http:// tapchicongsan.org.vn/http://taichinhvietnam.com/http://vietbao.vn/