• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
Lam phat 3059
 

Lam phat 3059

on

  • 4,795 views

lam phat

lam phat

Statistics

Views

Total Views
4,795
Views on SlideShare
4,795
Embed Views
0

Actions

Likes
4
Downloads
182
Comments
3

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel

13 of 3 previous next Post a comment

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • thanks
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • tai ve may nhu the nao ban oi
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
  • thanks
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Lam phat 3059 Lam phat 3059 Document Transcript

    • iTRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH KHOA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ LẠM PHÁT- TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM (CUỐI 2007-2008) NHÓM 6 Thái Hoàng Duy Vũ Bích Hằng Nguyễn Thanh Bình Nguyễn Thị Thùy Trang Lê Thị Lan Phương Vũ Bảo Trung Ngô Quang Tuấn Lê Trọng Tấn Nghiêm Vũ Hoàng TP.HỒ CHÍ MINH, 12/2008
    • LỜI MỞ ĐẦU Trên thế giới,hầu như tất cả các quốc gia đều theo đuổi bốn mục tiêuchung - tăng trưởng cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có sốdư. Trong các mục tiêu này, tăng trưởng cao và lạm phát thấp là hai mục tiêucó tầm quan trọng hàng đầu, quan hệ chặt chẽ với nhau “khống chế” lẫn nhau. Như chúng ta đã biết trong khoảng thời gian cuối năm 2007 đầu năm2008 lạm phát ở nước ta đã tăng đến mức báo động, buộc các nhà hoạch địnhchính sách phải quyết định lựa chọn tăng trưởng kinh tế hay lạm phát- một bàitoán kinh tế cơ bản nhưng hết sức nan giải. Để hiểu rõ thêm về điều này nhóm 6 quyết định chọn đề tài lạm phát –tăng trưởng kinh tế cũng như mối quan hệ giữa chúng ở Việt Nam những thángcuối năm 2007 và 6 tháng đầu năm 2008 Vì điều kiện thời gian cũng như mức độ hiểu biết của nhóm còn hạnchế,bài tiểu luận khó tránh khỏi những sai sót.Mong thầy và các bạn thôngcảm.Rất mong nhận được ý kiến đóng góp để bài tiểu luận được hoàn thiệnhơn.Xin chân thành cảm ơn!1. Tăng trưởng kinh tế 1.1 Định nghĩa Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặctổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trênđầu người (PCI) trong một thời gian nhất định 1.2 Tình hình thực tế: 1.2.1 Năm 2007 Năm 2007, tăng trưởng kinh tế nước ta có những bước tiến thần kỳ, đạtđược mức cao của mục tiêu do Quốc hội đề ra, thuộc loại cao so với các nước vàvùng lãnh thổ trên thế giới. Tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần làm cho quy môkinh tế lớn lên. GDP tính theo giá thực tế đạt khoảng 1.143 nghìn tỉ đồng, bình quânđầu người đạt khoảng 13,42 triệu đồng, tương đương với 71,5 tỉ USD và 839USD/người! Đây là tín hiệu khả quan để có thể sớm thực hiện được mục tiêu thoátkhỏi nước nghèo và kém phát triển có thu nhập thấp vào ngay năm tới. Theo Tổng cục Thống kê ngày 31-12, tổng sản phẩm trong nước (GDP)năm 2007 ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, đạt kế hoạch đề ra (8,2-8,5%).Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tăng trưởng kinh tế năm 2007 củanước ta đứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực.Phải nói rằng nền kinh tế Việt nam tăng trưởng một cách toàn diện
    • Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ướcđạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP (đạt kế hoạch đề ra 40% GDP) và tăng15,8% so với năm 2006. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng khá, ước tính năm 2007 đạt 20,3tỷ USD, tăng 69,3% so với năm 2006 và vượt 56,3% kế hoạch cả năm, trong đó vốncấp phép mới là 17,86 tỷ USD. Giá trị sản xuất của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2007 theo giáso sánh năm 1994 ước đạt gần 200 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm 2006, trongđó nông nghiệp tăng 2,9%; lâm nghiệp tăng 1% và thuỷ sản tăng 11%. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước tính tăng 17,1% so với năm2006.Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng 21,5% sovới năm 2006, trong đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng. Giá trị xuất, nhập khẩu dịch vụ cả năm 2007 ước đạt 12,4 tỷ USD, tăng21,6% so với năm trước, trong đó giá trị xuất khẩu dịch vụ đạt 6 tỷ USD, tăng 18,2%và giá trị nhập khẩu dịch vụ, gồm cả phí vận tải và bảo hiểm hàng nhập khẩu đạt 6,4tỷ USD, tăng 24,9%. Năm 2007 hoạt động bưu chính, viễn thông tiếp tục phát triển mạnh. Số thuêbao điện thoại phát triển mới trong năm 2007 ước đạt 18,5 triệu thuê bao (gần bằngsố thuê bao phát triển trong 3 năm 2004, 2005, 2006) nâng tổng số thuê bao trên cảnước tính đến hết tháng 12/2007 đạt 46 triệu thuê bao. Số thuê bao internet (quy đổi)phát triển mới năm 2007 ước đạt 1,18 triệu thuê bao. Đến nay đã có 18,2 triệu ngườisử dụng internet, chiếm 21,4% dân số cả nước. Lượng khách quốc tế đến nước ta trong năm 2007 ước tính đạt 4,23 triệu lượtngười, tăng 18% so với năm 2006. kinh tế tăng trưởng cao nhất trong 11 năm TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM(tỷ lệ %) 9 8.2 8.4 8.2 8.5 8 7.8 7 7.1 7.3 6.8 6.9 6.5 6 5.6 5 4.8 4 3 2 1 0 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 1.2.2 Năm 2008
    • Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2008 tăng 6,5% so vớicùng kỳ năm 2007. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7%; dịch vụtăng 7,6%; khu vực nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,04%. Tổng thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm nay đạt 60,6%, tổng chi ngânsách nhà nước đạt 51,8% mức dự toán cho cả năm. Sản xuất công nghiệp: Tính chung 6 tháng đầu năm 2008, giá trị sản xuấtcông nghiệp theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 16,5% so với cùng kỳ năm 2007,trong đó, khu vực kinh tế nhà nước tăng 6,9%; khu vực ngoài nhà nước tăng 22,3%;khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,4%. Trong tổng giá trị sản xuất côngnghiệp, ngành công nghiệp chế biến tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước; ngànhcông nghiệp khai thác mỏ giảm 4,2% do sản lượng dầu thô giảm 7,9% và sản lượngthan sạch tăng 8% (thấp hơn mức tăng 12,4% của 6 tháng đầu năm 2007)... Thương mại, giá cả và dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêudùng 6 tháng đầu năm 2008 theo giá thực tế ước đạt 447,3 nghìn tỉ đồng, tăng 30%so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì còn tăng 8%). Như vậy,mức tăng này thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm trước 15%. Giá tiêu dùng tháng6-2008 đã chững lại ở mức tăng 2,14% so với tháng 5-2008. Đây là tháng có mứctăng thấp nhất trong 6 tháng đầu năm nay, nhưng là mức tăng cao nhất so với chỉ sốgiá tháng 6 của một vài năm gần đây. Giá vàng và đô-la Mỹ tăng, giảm không ổnđịnh trong 6 tháng đầu năm nay. Tình hình đầu tư: Vốn đầu tư thực hiện 6 tháng đầu năm 2008 theo giá thực tếước đạt 265,4 nghìn tỉ đồng( tăng 21,1% so với cùng kỳ năm ngoái), bao gồm vốnkhu vực nhà nước đạt 106,1 nghìn tỉ đồng, tăng 15,2%; vốn khu vực ngoài nhà nướcđạt 80 nghìn tỉ đồng, tăng 15,1%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 79,3 nghìn tỉđồng, tăng 37,7%. Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng cao, tính từ đầunăm đến ngày 20-6-2008, có 478 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp phép với sốvốn đăng ký 30,9 tỉ USD. Tuy giảm so với cùng kỳ năm ngoái 29,5% về số dự án,nhưng tăng 324,3% về số vốn. Mức vốn đăng ký bình quân một dự án đạt 64,7 triệuUSD, cao hơn cùng kỳ năm trước 53,9 triệu USD so với một dự án. Nếu tính cả661,2 triệu USD cấp bổ sung của 158 lượt dự án đã được cấp phép trước đây thì tổngsố vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nước trong 6 tháng đầu năm đạt 31,6 tỉUSD, gấp hơn 3,7 lần so với cùng kỳ năm trước, vượt xa con số 21,3 tỉ USD đầu tưnước ngoài vào Việt Nam của cả năm 2007. Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2008 theo giáso sánh 1994 đạt 93,1 nghìn tỉ đồng, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó,nông nghiệp tăng 3,4%; lâm nghiệp tăng 0,9% và thủy sản tăng 8,7%. Kim ngạch xuất - nhập khẩu hàng hóa tháng 6-2008 ước tính đạt 5,5 tỉ USD,giảm 4,4% so với tháng trước, nhưng tăng 32,9% so với cùng kỳ năm 2007. Tínhchung 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 29,7 tỉ USD, tăng31,8% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của 6 tháng đầunăm ước đạt 44,5 tỉ USD, tăng 60,3% so với cùng kỳ năm 2007.
    • (nguồn Tình hình kinh tế vĩ mô 6 tháng năm 2008-BIDV) (bảng số liệu so sánh với các nước trên thế giới) --đánh giá:2.Lạm phát: 2.1Tình hình lạm phát Việt Nam năm 2007, 6 tháng đầu năm 2008 2.1.1 Năm 2007 Hiện tượng lạm phát phi mã gần đây ở VN có tất cả những dấu hiệu của lạmphát ở các nước chậm tiến hay đang phát triển, đã được nhiều chuyên gia và các tổchức quốc tế đề cập đến và cảnh báo khá nhiều Theo đó CPI tháng 2/2007 so với tháng 1/2007 chỉ là 2,17% và lạm phát 2tháng đầu năm 2007 chỉ ở 1 con số là 6,5%. Hiện tượng giá cả thị trường tăng nhanh trong 6 tháng đầu năm 2007 đã gâynên nhiều lo ngại. Sau hai năm liên tục ở mức cao (9,5% năm 2004 và 8,4% năm2005), lạm phát dường như đã có dấu hiệu suy giảm và chỉ còn 6,6% năm 2006. Tuynhiên, áp lực lạm phát lại bùng phát ngay từ đầu năm 2007. Trong 6 tháng đầu năm,chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 5,2%. Nếu so với 6 tháng năm 2006, chỉ số giá tiêu dùngtăng 7,8%. Hầu hết các nhóm hàng đều có mức tăng giá cao so với cùng kỳ nămngoái, trong đó nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,34%, nhóm hàng ăn - dịchvụ ăn uống tăng 6,8%. Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam và các nước trong khu vực
    • Đây được coi là mối quan ngại lớn về kinh tế vĩ mô hiện nay bên cạnh cácdấu hiệu tích cực như tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP), xuất khẩu, đầu tưtrực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài. Nếu so sánh với các nước trong khu vực, tỷlệ lạm phát của Việt Nam cao hơn khá nhiều. ** Trong 6 tháng cuối năm 2007, lạm phát tiếp tục gia tăng ở mức báođộng. lạm phát phi mã tưởng chừng không thể nào dừng lại được. Hầu hết 11 nhómhàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đều tăng.  Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ, nhóm thực phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất trong "rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) giá tăng cao nhất (tháng 12 tăng tới 4,69%, cả năm tăng tới 21,16%).  Nhóm lương thực (nhóm chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong "rổ" hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) có giá tăng cao thứ ba (tháng 12 tăng 2,98%, cả năm tăng 15,4%).  Giá nhà ở và vật liệu xây dựng (gồm tiền thuê nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng) tháng 12 tăng 3,28%, cả năm tăng tới 17,12% (cao thứ hai sau nhóm thực phẩm).  Giá vật liệu xây dựng tăng cao đã làm cho giá bất động sản tăng kép (tăng do giá đất tăng, tăng do giá xây dựng tăng), khác với các lần sốt trước chỉ có giá đất tăng.  Giá phương tiện đi lại, bưu điện tháng 12 tăng 4,38%, nhưng nếu không kể giá bưu điện giảm (- 0,77%) thì giá phương tiện đi lại còn tăng cao hơn nữa, do giá xăng dầu tăng cao. Đây mới là tháng 12 giá xăng dầu trực tiếp tăng (vào cuối tháng 11)  Đáng lưu ý là tốc độ tăng giá tiêu dùng đã cao hơn nhiều so với lãi suất huy động tiết kiệm, nhất là lãi suất huy động tiết kiệm của các ngân hàng thương mại nhà nước (lãi suất cả năm chỉ dưới 8%); ngay các ngân hàng thương mại cổ phần có lãi suất trên dưới 9%/năm thì cũng thấp hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng.
    • Biểu đồ thể hiện chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam qua các năm: 2.1.2 Sáu tháng đầu năm 2008 Lạm phát ở Việt Nam đến thời điểm này, hiện đang cao nhất khu vực, bấtchấp các nước khác có cùng điều kiện quốc tế khách quan chung, nhưng dù cao nhưTrung Quốc cũng chỉ nhỉnh hơn 1/3 của Việt Nam (8,5% của Trung Quốc so với25% của VN so cùng kỳ), phần lớn các nước khác như Hàn Quốc, Thái Lan,Singapore…tính đến nay CPI của họ chỉ “cao” bằng ¼ của Việt nam!  CB Richard Ellis Group, công ty môi giới bất động sản lớn nhất thế giới, tháng 2/2008 công bố giá thuê văn phòng tại Việt Nam cao nhất châu Á.  Đến hết tháng 5/2008, lạm phát ở Việt Nam đã là 15,96% so với 31/12/2007 và 25% so cùng kỳ năm trước - Mức cao nhất trong 15 năm quakểtừ1993!... Tuy nhiên, sau nhiều gói biện pháp hạn chế lạm phát của chính phủ và ngânhàng nhà nước, tình hình lạm phát ở Việt Nam đã có phần “giảm nhiệt”. Lạm pháttháng 6/2008 đã giảm mạnh: Tháng 6 chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,14%, là mức thấpnhất trong 6 tháng qua và không có cơn sốt giá nào xảy ra, 6 tháng đầu năm chỉ sốgiá tăng 18,44%. Yếu tố làm chỉ số giá tăng thấp có nguyên nhân quan trọng là giáhàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng 6 chỉ tăng 3,29%, đây là nhóm hàng quyết định tớikhoảng 80% mức tăng chỉ số giá.  Chỉ số giá tiêu dùng các tháng đầu năm 2008: tháng 1 là 2,38%; Tháng2: 3,56%; Tháng3: 2,99%; Tháng4: 2,2% và tháng 5 là 3,91%
    • lạm phát 20 15 10 lạm phát 5 0 1 2 3 4 5 6 Tình hình lạm phát 6 tháng đầu năm 2008(đơn vị%) 2.2 Nguyên nhân: 2.2.1Các nguyên nhân chính từ bối cảnh kinh tế toàn cầu: Thứ nhất: Giá dầu và giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào của sản xuất liêntục gia tăng: Trong 4 năm từ 2003-2006 kinh tế toàn cầu liên tục tăng trưởng cao,đặc biệt là nhóm các nước “mới nổi” ở khu vực Châu á, nhất là Trung Quốc đã đẩynhu cầu năng lượng toàn cầu tăng cao đột biến, cùng với những bất ổn và xung độtchính trị quân sự tại khu vực Trung Đông là các nguyên nhân trực tiếp đẩy giá dầulên cao chưa từng có trong lịch sử 110 USD/thùng trong tháng 3/2008, đồng thời giácác nguyên vật liệu đầu vào khác như sắt thép, phân bón, xi măng cũng liên tục giatăng. Như vậy, giá dầu đã tăng 72%, sắt thép tăng 114%, phân bón tăng 59,6%, khíhoá lỏng tăng 95% kể từ đầu năm 2007 đến tháng 3/2008 và đây cũng là mức tăngcao nhất từ trước tới nay. Thứ hai: Giá lương thực, thực phẩm liên tục gia tăng: xuất phát từ quá trìnhbiến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai dịch bệnh diễn ra liên tiếp, cùng với những nămtăng trưởng kinh tế mạnh trên thế giới - là những năm quá trình công nghiệp hoáđược đẩy mạnh khiến diện tích đất sử dụng cho trồng trọt, chăn nuôi bị thu hẹp. Tấtcả những điều trên làm sản lượng lương thực - thực phẩm ngày càng giảm mạnh.Ngoài ra, giá năng lượng tăng cao đã khiến nhiều nước sử dụng một sản lượng lớnngũ cốc chuyển sang sản xuất nhiên liệu sinh học càng làm cho nguồn cung lươngthực đã giảm càng giảm sút. Thứ ba: Một khối lượng tiền lớn được đưa ra nền kinh tế toàn cầu: Trướcviệc giá dầu và giá lương thực - thực phẩm liên tục leo thang đã tạo nên cú sốc cungrất lớn đẩy lạm phát toàn cầu tăng cao, tình hình này đã buộc các NHTW phải tăngcác mức lãi suất chủ chốt để kiềm chế lạm phát, cụ thể: Nhật Bản tăng 1 lần từ0,25%- 0,5%/năm; khu vực đồng Euro tăng 2 lần từ 3,5%-3,75%-4,0%/năm; Anhtăng 3 lần từ 5%-5,5%/năm (trong đó có 1 lần giảm); Thuỵ Điển tăng 4 lần từ3,0%-4,0%/năm; Trung Quốc tăng 6 lần từ 6,12-7,47%/năm. Việc các nước thực hiện thắt chặt tiền tệ thông qua tăng lãi suất chủ đạocùng với việc giá dầu, giá lương thực - thực phẩm tiếp tục tăng cao chính là nguyên
    • nhân cơ bản đã đẩy nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái vào những tháng đầu năm2008, mà biểu hiện là cuộc khủng hoảng cho vay dưới tiêu chuẩn của Mỹ bắt đầu từtháng 7/2007. Trước bối cảnh lạm phát gia tăng và kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái,các NHTW không còn cách nào khác là phải bơm một lượng tiền khổng lồ để cứuvãn nền kinh tế, trong đó riêng Mỹ từ tháng 8/2007 đến nay đã phải đưa ra nền kinhtế trên 2.300 tỷ USD, trong đó có 800 tỷ USD tiền mặt để cứu vãn hệ thống ngânhàng, NHTW Châu Âu, Nhật Bản, Anh cũng phải đưa một lượng tiền lớn để cứu vãnnền kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng; cùng với việc một số NHTW phải thựchiện cắt giảm lãi suất từ tháng 8/2007 trở lại đây như Mỹ, Anh, Canada. Việc cứuvãn nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái bằng biện pháp đưa hàng nghìn tỷ USD ranền kinh tế lại càng đẩy lạm phát toàn cầu tiếp tục tăng cao. Tuy nhiên câu hỏi đặt ra là cùng một bối cảnh thế giới như nhau, tại sao cácnước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia lại có mức lạm phát thấp hơn so vớilạm phát của Việt Nam? Vậy, mức lạm phát của Việt Nam tăng cao trong thời gianvừa qua ngoài những yếu tố thế giới thì còn những nguyên nhân nào khác? 2.2.2 Các nguyên nhân chính từ nội tại nền kinh tế Việt Nam: Thứ nhất: Chi phí sản xuất tăng cao: Trước bối cảnh lạm phát toàn cầu giatăng đã tác động làm giá hầu hết các nhóm hàng nhập khẩu của Việt Nam gia tăngmạnh mẽ như xăng dầu, sắt thép, phân bón, thuốc trừ sâu - là những nguyên nhiênvật liệu đầu vào chính của sản xuất. Mặc dù Chính phủ đã cố gắng kiểm soát giáxăng dầu, nhưng từ đầu năm 2007 đến hết Quý I/08 giá xăng dầu đã phải điều chỉnhtăng 4 lần, tính chung giá xăng dầu đã tăng tới 38%, giá thép tăng 91%, giá điện tăng7,6%; giá than tăng 30%; giá xi măng tăng 15%; giá phân bón tăng 58%. Điều nàyđã tác động làm chi phí sản xuất tăng cao. Thứ hai: Giá lương thực, thực phẩm tăng cao: biến đổi khí hậu toàn cầu trênthế giới không những tác động đến nhiều quốc gia mà Việt Nam cũng bị ảnh hưởngnặng nề. Chỉ trong tháng 10/2007, miền Trung phải hứng chịu 5 cơn bão liên tiếp,trong khi đó dịch bệnh trong chăn nuôi, trồng trọt như cúm gia cầm, lợn tai xanh, lởmồm long móng ở lợn, vàng lùn ở lúa cùng với rét đậm, rét hại khiến cho nguồncung lương thực - thực phẩm bị sụt giảm. Thứ ba: Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ liên tục mở rộng từ2001-2006 nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Trong vòng 3 năm trở lại đây kinh tếViệt Nam liên tục tăng trưởng ở mức rất cao trên 8%, và mục tiêu của giai đoạn nàyđối với Chính phủ Việt Nam là ưu tiên tăng trưởng kinh tế. Với mục tiêu này đãkhuyến khích cho “chính sách tài chính, tiền tệ nới lỏng đã thực hiện trong nhiềunăm liền nhưng quản lý chưa chặt chẽ” nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,và đây cũng là nhân tố góp phần khiến lạm phát bình quân từ 2005 đến 2007 tăngtrên 8,01%. Tín dụng ngân hàng cho nền kinh tế tăng mạnh trong một thời gian dàinhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế là một nguyên nhân quan trong làm giatăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Các ngân hàng cũ mở rộng tíndụng bằng việc nới lỏng điều kiện cho vay, cạnh tranh nhau bằng giảm lãi suất cho
    • vay, tăng lãi suất huy động để tìm kiếm nguồn vốn cho vay,chuyển đổi mô hình, liêndoanh liên kết với các doanh nghiệp, tập đoàn để tăng vốn điều lệ, mở rộng mạnglưới nhanh chóng vượt quá khả năng quản trị, cho thành lập thêm các ngân hàng mớivà tất cả các ngân hàng chủ yếu đua nhau tìm kiếm lợi nhuận từ nghiệp vụ cho vaynên càng làm cho tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng cao trong suốt năm 2007 và3 tháng đầu năm 2008, đó là nguyên nhân rất quan trong gây sức ép rất lớn làm giatăng lạm phát trong thời gian qua. So sánh tốc độ tăng trưởng cung tiền và tăng trưởng GDP của ba nước, lấy mốc năm 2004 bằng 100%. Cung tiền đo bằng M2 (gồm tổng tiền mặt và tiền gửi ngân hàng) (Nguồn: Số liệu Thống kê tài chính quốc tế của Tổ chức Tiền tệ Quốc tế, riêng số liệu tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2007 của Việt Nam và Trung Quốc lấy từ nguồn Economist Intelligent Unit.) Thứ tư: Luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam gia tăng mạnh: bắt đầu từcuối năm 2006 khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thươngmại thế giới (WTO), cùng với những cải cách về cơ chế chính sách và môi trườngđầu tư đã tạo điều kiện cho các luồng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam tăng mạnh.Năm 2007 luồng vốn FDI tăng 20,3 tỷ USD vốn đăng ký, cao hơn nhiều so với mức10,2 tỷ USD của năm 2006, đặc biệt là luồng vốn đầu tư gián tiếp gia tăng mạnh mẽkhoảng trên 6 tỷ, gấp 5 lần con số của năm 2006 mà chủ yếu đổ vào thị trườngchứng khoán, trái phiếu đặc biệt là đổ vào IPO các doanh nghiệp nhà nước lớn.Đứng trước bối cảnh này, Ngân hàng nhà nước đã phải cung ứng một lượng lớn tiềnVND để mua ngoại tệ vào nhằm mục tiêu ổn định và phá giá nhẹ tỷ giá để hỗ trợ
    • xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và điều này làm cho tổng phương tiện thanhtoán tăng cao, tác động làm lạm phát gia tăng. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài(tỷ USD) Vốn đăng ký Vốn giải ngân 35 31.6 30 25 21.3 20 15 10 10.2 6.8 6.6 5 4.5 4.1 5 3.1 2.5 32.6 3.2 .7 2 2.9 3.3 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 6T- 2008 nguồn Tổng Cục Thống kê Tổng vốn ODA ký kết tính đến 20/7/2008 đạt 1389 triệu USD, trong đó vốnvay đạt 1277 triệu USD; vốn viện trợ không hoàn lại đạt 112 triệu USD. Giải ngânvốn ODA 7 tháng đầu năm nay (bao gồm cả vốn được ký kết trước 2008) đạt 1205triệu USD, bằng 63% kế hoạch năm, trong đó vốn vay đạt 1063 triệu USD, vốn việntrợ không hoàn lại đạt 142 triệu USD. Trong tổng vốn giải ngân, vốn vay của 3 nhàtài trợ lớn là WB, JBIC, ADB đạt mức giải ngân cao nhất với 850 triệu USD, chiếm70% tổng vốn giải ngân 3.Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng: Như đã nói ở trên,bất kì quốc qia nào cũng mong muốn tăng trưởng cao,lạmphát thấp.Tuy nhiên,muốn tăng trưởng cao hơn thì phải tăng đầu tư, tăng chi ngânsách, hạ lãi suất cho vay, kích cầu tiêu dùng, đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu…nhưng nếu làm như vậy thì lạm phát sẽ tăng. Muốn lạm phát thấp, thì phải thắt chặt chi ngân sách, thắt chặt đầu tư, tiêudùng, tăng lãi suất cho vay, tăng dự trữ bắt buộc, giảm thuế suất thuế nhập khẩu…nhưng như thế thì tăng trưởng kinh tế sẽ không cao 3.1Vậy thực chất của quan hệ giữa lạm phát với tăng trưởng là gì?
    • 3.1.1 Tác động của tăng trưởng đến lạm phat:Lãi suất Mức giá MS1 MS2 P2R1 P1 AD2R2 AD AD1 Lượng tiền y1 y2 Y -Khi ngân hàng TW tăng lượng cung tiền MS1 lên MS2,lãi suất giảm từ R1xuống R2,khi lãi suất giảm,đầu tư tăng dẫn đến làm cho tổng cầu tăng kéo theo sảnlương tăng-> tăng trưởng kinh tế.Nhưng theo đó giá cả cũng tăng lên dẫn đến lạmphát. p AS P1 P2 AD2 AD1 Y -Để đạt mục tiêu tăng trướng,chính phủ sử dụng biện pháp kích cầu,kíchthích nhu cầu tiêu dùng của người dân,làm cho đường cầu dịch chuyển từ AD1 đếnAD2,khi đó sản lượng tiêu dùng gia tăng,tăng tốc độ tăng trưởng đồng thời giá tăngdấn đến lạm phát.
    • 3.1.2 Ảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng: Trong quan niệm của nhiều người, lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đến tăngtrưởng kinh tế vì làm giảm năng suất lao động. Lạm phát bóp méo mức độ khanhiếm tương đối (phản ánh qua giá cả) của các nguồn lực sản xuất và do đó bóp méocác quyết định đầu tư và sự phân bổ các nguồn lực khan hiếm này. Lạm phát cònlàm giảm mức khấu trừ thực tế cho phép trong thuế doanh nghiệp đối với khấu haotài sản cố định và làm tăng giá thuê tư bản, do đó làm giảm tích lũy vốn, dẫn đếngiảm năng suất. Hàm lượng thông tin liên quan đến biến động giá cả giảm đi kể cảtrong thời kỳ lạm phát ổn định. Tuy nhiên, không ít người lại lập luận rằng lạm phát ở một mức nhẹ lại cótác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Chẳng hạn, nhà kinh tế học nổi tiếngTobin cho rằng lạm phát làm cho nhà đầu tư tái phân bổ danh mục đầu tư của mìnhtừ tiền sang chứng khoán, làm giảm lãi suất thực tế và do đó làm tăng đầu tư và nângcao năng suất lao động. Ông lập luận thêm rằng “một chút lạm phát giúp bôi trơnnền kinh tế” vì nó giúp thị trường lao động điều chỉnh cho phù hợp. Một số kháccũng chỉ ra rằng nhu cầu tăng lên ổn định sẽ gây ra lạm phát ở mức nhẹ, là cái màthực ra lại làm tăng, chứ không phải giảm, năng suất lao động và, do đó, tăng tốc độtăng trưởng. Vì thế, động thái nhằm đạt mức lạm phát bằng 0 chẳng qua là chính sách trảtrước ngay bây giờ cho nhiều thiệt hại hơn sau này. Từ một khía cạnh khác, một số người cho rằng lạm phát có ảnh hưởng tiêucực đến tăng trưởng kinh tế nếu xét đến mối quan hệ giữa tính bất trắc của lạm pháttrong tương lai với tăng trưởng sản lượng. Họ cho rằng tính bất trắc của lạm phátcàng cao thì tăng trưởng sản lượng càng thấp. Sở dĩ có điều này bởi vì nhà sản xuấtkhai thác triệt để tính bất đối xứng về thông tin trên thị trường – thông tin có đượccủa người tiêu dùng bị hạn chế so với nhà sản xuất – để tăng biên độ lợi nhuận, dođó làm tăng doanh thu kể cả cho những nhà sản xuất không thật sự hiệu quả. Việc phân bổ các nguồn lực sản xuất tới những nhà sản xuất không hiệu quảnhư vậy sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng. Nhưng ngược lại với dòng lập luận này,một số nhà kinh tế chỉ ra rằng tính bất trắc của lạm phát lại có tác động tích cực đếntăng trưởng, nhờ vào động thái tăng tiết kiệm để phòng ngừa lạm phát. Họ cũng chỉra thêm rằng trên thực tế, quan hệ nhân quả giữa hai biến số này là không nhất quánở từng trường hợp nghiên cứu quốc gia. Như vậy có thể nói rằng về lý luận, quan hệnhân quả giữa lạm phát với năng suất lao động và/hoặc tăng trưởng chưa hoàn toànsáng tỏ. Thực tế, kết quả nghiên cứu thực chứng trong nhiều nghiên cứu cấp quốcgia và nhóm quốc gia cũng chỉ ra một quan hệ phức tạp giữa 2 nhóm biến số này.Các nghiên cứu thực chứng ban đầu chỉ tập trung vào nhóm G7, hoặc các nước trongtổ chức OECD, và kết quả nghiên cứu không chỉ ra được một kết luận rõ ràng vềquan hệ này. Tùy theo dữ liệu sử dụng là chuỗi thời gian (cho trường hợp nghiên
    • cứu từng quốc gia cụ thể), hay dữ liệu cho nhóm quốc gia sẽ có các kết quả đốingược nhau. Về sau này, một số tác giả bắt đầu nghiên cứu thêm nhóm các nước ở châuÁ. Kết quả nghiên cứu cũng không khác mấy so với kết quả từ các nghiên cứu trướcđó đối với nhóm OECD hay G7. Cụ thể, ở một số nước như Nhật, Thái Lan, SriLanca, Philippines, và Indonesia, lạm phát và năng suất không hề có quan hệ gì vớinhau. Ở một số nước khác như Malaysia, lạm phát có tác động tiêu cực đến năngsuất. Ở những nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, và Singapore, 2 biến số này tác động lẫnnhau. Căn cứ vào kinh nghiệm của những quốc gia như nêu trên, có thể rút ra một sốbài học cho Việt Nam liên quan đến MTLP ở ta như hiện nay: Ảnh hưởng của lạmphát là không rõ ràng lên tăng trưởng kinh tế. Theo nghiên cứu của một số nhà kinh tế học thì lạm phát và tăng trưởng cómối quan hệ phi tuyến tính: -Lạm phát chỉ tác động tiêu cực lên tăng trưởng khi đạt ngưỡng nhất địnhnào đó(threshold). +Dấu hiệu bất ổn kinh tế vĩ mô. +Tăng sự không chắc chắn của các hoạt động đầu tư. +Lạm phát làm thay đổi giá cả tương đối,làm méo mó quá trình phân bổnguồn lực. +Lạm phát còn được xem như là một loại thuế đánh vào nền kinh tế. -Ở mức dưới ngưỡng,lạm phát không nhất thiết tác động tiêu cực lên tăng trưởng,thậm chí có thể tác động dương như lý thuyết của Keynes đã đề cập. 3.1.3 Với Việt Nam a-Mục tiêu và chính sách tăng trưởng của Việt Nam năm 2008: Về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2008, báo cáo của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư đưa ra dự kiến GDP tăng từ 8,6-8,9% so với năm 2007; tổng giá trị GDPkhoảng 83 tỉ USD, bình quân đầu người tương đương khoảng 956-960 USD, giảm tỉlệ hộ nghèo xuống còn 13%... Để hoàn thành các mục tiêu này, Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh 8 nhóm giảipháp cần tập trung thực hiện. Trước hết là huy động mọi nguồn lực cho đầu tư pháttriển, đặc biệt là đầu tư cho cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Đây là yếu tố có ý nghĩaquyết định cho tăng trưởng. Về điều hành vĩ mô, phải giữ cho được ổn định tỷ giá, chỉ số giá tiêu dùngphải thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế và không vượt mức 8%; tiếp tục đổi mớidoanh nghiệp nhà nước, phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân; đẩy mạnh côngtác cải cách hành chính; tập trung quy hoạch và phát triển đào tạo nguồn nhân lựcđáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập; tăng cường xã hội hoá trong các lĩnh vực y tế,
    • giáo dục và giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội, trong đó ưu tiên xoá đói giảmnghèo; tăng cường an ninh quốc phòng và đấu tranh phòng chống tham nhũng lãngphí. b- Lạm phát và chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ và ngân hàngnhà nước: Những chính sách trợ giá thiếu hiệu quả của nhà nước hiện nay tạo nên một“thuế lạm phát” tác động trực tiếp vào những người nghèo, vô hình chung giúpngười giàu “bóc lột” người nghèo một cách hợp pháp làm cho phân hóa giàu nghèotrở nên trầm trọng hơn. Tình hình lạm phát hai tháng cuối năm và những tháng đầu năm có thể tiếptục tăng cao do cung tiền đô-la tiếp tục tăng cao do lượng ngoại hối sẽ được các ViệtKiều mang về nước tiêu xài trong dịp cuối năm và Tết âm lịch cộng với giá dầu tăngcao sẽ làm cho tình hình lạm phát ngày càng trầm trọng hơn. Theo tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, để đạt được mục tiêu “lạm phát thấp hơn tốcđộ tăng trưởng” (mà trên thực tế không hề có cơ sở khoa học vững chắc) thì khi lạmphát tăng, Chính phủ chỉ có thể có một trong hai lựa chọn: Một là kiềm chế lạm phátbằng cách giảm tốc độ tăng cung tiền và tín dụng (đặc biệt là đối với các doanhnghiệp nhà nước kém hiệu quả), đồng thời giảm bớt chi tiêu của Chính phủ (bằngcách tăng hiệu quả chi tiêu, giảm lãng phí và thất thoát), hay thậm chí phải điềuchỉnh lãi suất. Hai là phải dồn sức đẩy mạnh tăng trưởng để “đuổi kịp” lạm phát. Có vẻ như cho đến thời điểm này, phương án 1 chưa phải là lựa chọn củaChính phủ; còn phương án 2 nếu được thực hiện sẽ chỉ tiếp tục đổ thêm dầu vàongọn lửa lạm phát. Dưới góc độ quản lý nhà nước, không nên để một mục tiêu thiếucơ sở khoa học như thế này trở thành một chiếc “vòng kim cô” trói buộc các nhàđiều hành vĩ mô. Hiện nay chưa tìm thấy căn cứ khoa học cho luận điểm nêu trên, do đó,chúng ta không nên tự ràng buộc mục tiêu lạm phát vào một giới hạn khá dễ dãi(khoảng 8%), để rồi lại bị cuốn vào nỗi lo con rồng sẽ giật đứt dây xích như hiệnnay” Những diễn biến thực tế của nền kinh tế Việt Nam hiện nay cho thấy mục tiêu“lạm phát thấp hơn tăng trưởng” đang trên đà “phá sản”, việc tiếp tục theo đuổichính sách bất hợp lý và thiếu cơ sở khoa học vững chắc này sẽ làm cho tình trạnglạm phát ngày càng trầm trọng hơn. Hơn bao giờ hết phương án: hy sinh tốc độ tăng trưởng bằng cách giảmcung tiền và tín dụng đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước để giảm lạm phátcần được chính phủ lưu tâm đến. Nếu không với tốc độ lạm phát tăng cao trong những tháng cuối năm sẽ tiếptục tăng cao và khi mà dân nghèo không thể mua “ổ bánh mì” thì sẽ ảnh hưởngnghiêm trọng đến sự ổn định xã hội.
    • (. Chính vì mối quan hệ này, trong khi không thể cùng thực hiện cả hai mụctiêu, muốn ưu tiên mục tiêu nào, các chuyên gia đã dùng các cụm từ “hy sinh mụctiêu tăng trưởng cho mục tiêu kiềm chế lạm phát” hay “hy sinh mục tiêu kiềm chếlạm phát cho mục tiêu tăng trưởng” để nói về chính sách kinh tế - tài chính của mộtnước 3.2 Giải pháp: Nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng cũng như tác độngcủa lạm phát tới đời sống kinh tế - xã hội là việc làm cần thiết để có thể xác định choriêng quốc gia mình một chính sách kiểm soát lạm phát phù hợp. Điều cần khẳngđịnh ở đây là không có liệu pháp nào hoàn hảo, mọi liệu pháp bình ổn lạm phát đềucó cái giá phải trả của nó, vấn đề là chính phủ đang theo đuổi một chiến lược pháttriển vĩ mô nào? Ngành ngân hàng đang trở thành tâm điểm thực hiện các giải pháp kiềm chếlạm phát thời gian qua. Trong những giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ,chính sách tiền tệ là một trọng tâm. Tiến sĩ Dương Thu Hương, Tổng thư ký Hiệphội Ngân hàng Việt Nam đã trao đổi về những tác động của chính sách tiền tệ đếnhoạt động của các ngân hàng nói riêng cũng như kiềm chế lạm phát nói chung. Ngânhàng thực tế cũng là các doanh nghiệp, họ có vốn thì họ đầu tư, đó là chuyện đươngnhiên. Nhưng sự đầu tư ấy ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô, nên Nhà nước phảicó chính sách để kiểm soát. Vào những lúc khó khăn như thế này, càng phải đặt lợiích quốc gia lên trên hết, vì thế cần buộc hoạt động ngân hàng phải ở trong mộtkhuôn khổ. Sự tăng trưởng tín dụng quá nóng của các ngân hàng đã dẫn đến thiếu hụtthanh khoản, các ngân hàng bộc phát tăng lãi suất để thu hút tiền gửi, tăng lượng tiềnmặt. Vì vậy, cuộc chạy đua lãi suất đã được phanh lại, hình thành mặt bằng lãi suấtchung là 12%/năm và sẽ giảm dần. Nhưng các kỳ hạn vẫn còn nơi cao nơi thấp. Dùsao, trước mắt ổn định mặt bằng chung đã là thành công, còn khấp khểnh ở bêntrong cần phải có thời gian. Trong kinh tế thị trường, lãi suất như một giá cả, lúc lênlúc xuống, vì hoàn cảnh lạm phát, thị trường đang có vấn đề, nên cần bàn tay canthiệp của Nhà nước. Theo tôi, mức lãi suất 12%/năm đã là dương rồi, tăng trưởng tíndụng 30% cũng không phải là thấp, vẫn bảo đảm được kế hoạch phát triển cho cácngân hang Trước tình trạng lạm phát cao như thế này, theo lý thuyết kinh điển là phảihút ngay tiền về. Quốc gia nào trong tình thế này cũng đều xử lý như vậy và chúngta đã làm theo phương pháp đó. Phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, tăng dựtrữ bắt buộc đều là động tác để hút tiền về, giảm bớt áp lực giữa tiền và hàng. Haygiải pháp nâng lãi suất để hạn chế tăng trưởng tín dụng, có nghĩa là cũng hạn chếnguồn cung tiền. Mặc dù Chính phủ đã nhanh chóng đưa ra các biện pháp kiềm chếlạm phát nhưng không phải nó có thể ngay lập tức mang lại hiệu quả mà cần có thờigian, ít nhất từ nay đến cuối năm.
    • Cũng cần phải thấy rằng, nếu chỉ đơn phương một mình chính sách tiền tệthì không thể kiềm chế lạm phát nổi, mà phải có sự tham gia của chính sách tàichính, đầu tư thậm chí cả chính sách thương mại nữa. Cùng kết hợp nhiều chính sáchvĩ mô hướng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát thì mới có thể đạt hiệu quả mongmuốn. - Nhìn chung các chính sách kiểm soát sự phát triển bao giờ cũng ảnhhưởng đến các đối tượng của nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại không thể chovay thoải mái như ngày xưa, tất nhiên sẽ nảy sinh tâm lý khó chịu khi bị nhà nướckiểm soát, nhưng đó là những hành động cần thiết trong hoàn cảnh này. Nếu khônglàm nghĩa là chúng ta tự hại mình, bao nhiêu công lao xây dựng đất nước, phát triểnkinh tế sẽ bị ngọn lửa lạm phát thiêu rụi. Trong lúc này cũng không thể cầu toàn được, khó có đòi hỏi một lúc thựchiện cả hai mục tiêu vừa tăng trưởng kinh tế cao, vừa kiềm chế được lạm phát. Nếutừ giờ đến cuối năm, tình hình lạm phát không dịu đi thì tăng trưởng chắc chắn sẽ bịảnh hưởng. - Cho đến Công văn 319 của Thủ tướng Chính phủ thì đã là giải pháp trọngói. Trước kia chỉ chính sách tiền tệ sợ rằng không đủ, bây giờ Chính phủ đã đi mộtcách toàn diện rồi. Nhưng để có hiệu quả thì khâu thực hiện phải đi liền với chínhsách, nếu như tất cả các bộ, các ngành đều có ý chí kiềm chế lạm phát quyết liệt,thậm chí ở địa phương cũng phải có tư duy kiềm chế lạm phát thì Công văn 319 mớicó hiệu quả. Ví dụ như Chính phủ quyết định rà soát lại các công trình đầu tư, địaphương cũng phải thực hiện kiên quyết, những dự án nào không hiệu quả, kéo dài,dứt khoát không đưa tiền vào nữa. Lạm phát đã đi sâu vào mọi ngóc ngách của đời sống, ảnh hưởng sâu rộngtới các tầng lớp người dân, vì thế mà tất cả mọi người đều phải thấy phần tráchnhiệm của mình trong đó. - Ảnh hưởng của sức ép từ bên ngoài là không thể kiểm soát được, chỉ cóthể kiểm soát bên trong thôi. Nhưng nếu chính sách kiềm chế lạm phát thực hiện tốt,mặt bằng giá trong nước ổn định thì tác động bên ngoài không thể cộng hưởng mà sẽđược hạn chế đi. Bên ngoài đã không kiểm soát được mà bên trong cũng bùng lên thìhậu quả sẽ rất khó lường. Cũng phải nhìn nhận rằng, năm 2007 chưa lúc nào vốn đầu tư nước ngoàivào nhiều như vậy. Khi ngoại tệ đổ vào, chúng ta phải xuất tiền ra để chuyển đổi,càng đưa tiền ra thì lạm phát càng lên. Vì vậy, cần phải giải quyết câu hỏi: Thôngqua những chính sách kinh tế vĩ mô nào chúng ta hấp thụ lượng vốn đó như thếnào? Thời điểm này, số lượng ngân hàng nhiều hơn, hệ thống ngân hàng pháttriển hơn, thực hiện tự do hóa thương mại do vậy khó có thể sử dụng biện pháp hànhchính, cũng như không thể kiểm soát nhập khẩu được, mà phải theo thị trường, do
    • thị trường quyết định, theo quy luật của kinh tế thị trường. Sự điều tiết của Nhà nướcchỉ thực hiện ở chính sách kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy chúng ta nên tập trung vàothay đổi chính sách kinh tế vĩ mô. Thay đổi theo hướng đúng như lý thuyết đã nêu,nghĩa là càng lạm phát thì càng phải thắt chặt tài chính-tiền tệ, thắt chặt chi tiêucông. Từng giai đoạn một phải đặt ra một mục tiêu, ví dụ năm nay lạm phát chỉ 5%,thì ngân hàng, tài chính và các ngành khác phải theo cái đích đó. Trước nay chúng tavẫn đặt ra mục tiêu nhưng đến khi thực hiện lại không thống nhất. Thực tế thì đợt lạm phát lần này đã bắt đầu từ những năm 2003-2004, cónăm lạm phát đến 9,6% nhưng lúc đó chính sách tiền tệ của chúng ta chưa làm quyếtliệt, còn chậm, nên những gì của thời gian ấy dồn tích đến năm 2007 và đã bục ra.Năm 2006 mọi người cảm thấy đất nước đang đứng trên “đỉnh cao”, chúng ta đã vuivẻ quá trước thành công. Phải nhìn nhận một kinh nghiệm hết sức quan trọng là: Ngay cả khi thắnglợi cũng phải suy nghĩ cho tương lai, để có được dự báo đúng, từ đó mà đưa ranhững quyết định đúng đắn, phù hợp thực tiễn MỤC LỤC: Tài liệu tham khảo Kinh tế vĩ mô 6 tháng năm 2008 Ngân Hàng Đầu Tư Phát Triển ViệtNam(BIDV) Tình hình kinh tế xã hội năm 2007-Tổng Cục Thống Kê http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=507&ItemID=6894 Tình hình kinh tế xã hội 6 tháng năm 2008-Tổng Cục Thống Kê http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=507&ItemID=7221 Lý giải một nguyên nhân lạm phát năm 2007 http://www.vietnamnet.vn/kinhte/2007/12/761574/