New microsoft office word document
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

New microsoft office word document

on

  • 2,317 views

 

Statistics

Views

Total Views
2,317
Slideshare-icon Views on SlideShare
2,316
Embed Views
1

Actions

Likes
0
Downloads
48
Comments
0

1 Embed 1

http://www.techgig.com 1

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    New microsoft office word document New microsoft office word document Document Transcript

    • Cơ bản về VoIPVoIP viết tắt bởi Voice over Internet Protocol, hay còn được gọi dưới các tên khác như: Internettelephony, IP Telephony, Broadband telephony, Broadband Phone và Voice over Broadband.VoIP là 1 công nghệ cho phép truyền âm thanh thời gian thực qua băng thông Internet và các kếtnối IP. Trong đó tín hiệu âm thanh (voice signal) sẽ được chuyển đổi thành các gói tệp ( datapackets) thông qua môi trường mạng Internet trong môi trường VoIP , sau lại được chuyển thànhtín hiệu âm đến thiết bị người nhận.VoIP sử dụng kỹ thuật số và yêu cầu kết nối băng thông tốc độ cao như DSL hoặc cáp. Có rấtnhiều nhà cung cấp khác nhau cung cấp VoIP và nhiều dịch vụ khác. Ứng dụng chung nhất củaVoIP cho sử dụng cá nhân hoặc gia đình là các dịch vụ điện thoại dựa trên Internet có chuyểnmạch điện thoại. Với ứng dụng này, bạn vẫn cần có một số điện thoại, vẫn phải quay số để thựchiện cuộc gọi như sử dụng thông thườngII. Các kiểu kết nối sử dụng VoIPComputer to Computer:Với 1 kênh truyền Internet có sẵn, Là 1 dịch vụ miễn phí được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thếgiới. Chỉ cần người gọi (caller) và người nhận ( receiver) sử dụng chung 1 VoIP service(Skype,MSN,Yahoo Messenger,…), 2 headphone + microphone, sound card . Cuộc hội thoại làkhông giới hạn.Computer to phone:Là 1 dịch vụ có phí. Bạn phải trả tiền để có 1 account + software (VDC,Evoiz,Netnam,…). Vớidịch vụ này 1 máy PC có kết nối tới 1 máy điện thoại thông thường ở bất cứ đâu ( tuỳ thuộcphạm vi cho phép trong danh sách các quốc gia mà nhà cung cấp cho phép). Người gọi sẽ bị tínhphí trên lưu lượng cuộc gọi và khấu trừ vào tài khoản hiện có.Ưu điểm : đối với các cuộc hội thoại quốc tế, người sử dụng sẽ tốn ít phí hơn 1 cuộc hội thoạithông qua 2 máy điện thoại thông thường. Chi phí rẻ, dễ lắp đặt Nhược điểm: chất lượng cuộcgọi phụ thuộc vào kết nối internet + service nhà cung cấpPhone to Phone:Là 1 dịch vụ có phí. Bạn không cần 1 kết nối Internet mà chỉ cần 1 VoIP adapter kết nối với máyđiện thoại. Lúc này máy điện thoại trở thành 1 IP phone.
    • III. Các thành phần trong mạng VoIP:Các thành phần cốt lõi của 1 mạng VoIP bao gồm: Gateway, VoIP Server, IP network, End UserEquipmentsGateway: là thành phần giúp chuyển đổi tín hiệu analog sang tín hiệu số (và ngược lại)- VoIP gateway : là các gateway có chức năng làm cầu nối giữa mạng điện thoại thường ( PSTN) và mạng VoIP.- VoIP GSM Gateway: là các gateway có chức năng làm cầu nối cho các mạng IP, GSM và cảmạng analog.VoIP server : là các máy chủ trung tâm có chức năng định tuyến và bảo mật cho các cuộc gọiVoIP .Trong mạng H.323 chúng được gọi là gatekeeper. Trong mạng SIP các server được gọi là SIPserver.Thiết bị đầu cuối (End user equipments ) :Softphone và máy tính cá nhân (PC) : bao gồm 1 headphone, 1 phần mềm và 1 kết nối Internet.Các phần mềm miễn phí phổ biến như Skype, Ekiga, GnomeMeeting, Microsoft Netmeeting,SIPSet, ..Điện thoại truyền thông với IP adapter: để sử dụng dịch vụ VoIP thì máy điện thoại thông dụngphải gắn với 1 IP adapter để có thể kết nối với VoIP server. Adapter là 1 thiết bị có ít nhất 1 cổngRJ11 (để gắn với điện thoại) , RJ45 (để gắn với đường truyền Internet hay PSTN) và 1 cổng cắmnguồn.IP phone : là các điện thoại dùng riêng cho mạng VoIP. Các IP phone không cần VoIP Adapterbởi chúng đã được tích hợp sẵn bên trong để có thể kết nối trực tiếpvới các VoIP serverIV. Phương thức hoạt động:VoIP chuyển đổi tín hiệu giọng nói thông qua môi trường mạng (IP based network). Do vậy,trước hết giọng nói (voice) sẽ phải được chuyển đổi thành các dãy bit kĩ thuật số ( digital bits) vàđược đóng gói thành các packet để sau đó được truyền tải qua mạng IP network và cuối cùng sẽđược chuyển lại thành tín hiệu âm thanh đến người nghe.Tiến trình hoạt động của VoIP thông qua 2 bước:Call Setup: trong quá trình này , người gọi sẽ phải xác định vị trí ( thông qua địa chỉ của người
    • nhận) và yêu cầu 1 kết nối để liên lạc với người nhận.Khi địa chỉ người nhận được xác định làtồn tại trên các proxy server thì các proxy server giữa 2 người sẽ thiết lập 1 cuộc kết nối cho quátrình trao đổi dữ liệu voiceVoice data processing: Tín hiệu giọng nói (analog) sẽ được chuyển đổi sang tín hiệu số ( digital)rồi được nén lại nhằm tiết kiệm đường truyền (bandwidth) sau đó sẽ được mã hóa (tính năng bổsung nhằm tránh các bộ phân tích mạng _sniffer ). Các voice samples sau đó sẽ được chèn vàocác gói dữ liệu để được vận chuyển trên mạng. Giao thức dùng cho các gói voice này là RTP(Real-Time Transport Protocol).1 gói tin RTP có các field đầu chứa dữ liệu cần thiết cho việcbiên dịch lại các gói tin sang tín hiệu voice ở thiết bị người nghe. Các gói tin voice được truyềnđi bởi giao thức UDP . Ở thiết bị cuối, tiến trình được thực hiện ngược lạiV. Các giao thức của VoIP (VoIP protocols) :VoIP cần 2 loại giao thức : Signaling protocol và Media Protocol.Signaling Protocol điều khiển việc cài đặt cuộc gọi. Các loại signaling protocols bao gồm:H.323, SIP, MGCP, Megaco/H.248 và các loại giao thức dùng riêng như UNISTIM, SCCP,Skype, CorNet-IP,…Media Protocols: điều khiển việc truyền tải voice data qua môi trường mạng IP. Các loại MediaProtocols như: RTP ( Real-Time Protocol) ,RTCP (RTP control Protocol) , SRTP (Secure Real-Time Transport Protocol), và SRTCP (Secure RTCP)Signaling Protocol nằm ở tầng TCP vì cần độ tin cậy cao, trong khi Media Protocol nằm trongtầng UDP.Các nhà cung cấp có thể sử dụng các giao thức riêng hay các giao thức mở rộng dựa trên nền của1 trong 2 giao thức tiêu chuẩn quốc tế là H.323 và SIP. Ví dụ Nortel sử dụng giao thứcUNISTIM (Unified Network Stimulus) Cisco sử dụng giao thức SCCP ( Signaling ConnectionControl Part) Những giao thức riêng này gây khó khăn trong việc kết nối giữa các sản phẩm củacác hãng khác nhau.VI. Bộ giao thức H.323 :H.323: là giao thức được phát triển bởi ITU-T ( International Telecommunication UnionTelecommunication Standardization Sector). H.323 phiên bản 1 ra đời vào khoảng năm 1996 và1998 phiên bản thế hệ 2 ra đời. H.323 ban đầu được sử dụng cho mục đích truyền các cuộc hộithoại đa phương tiện trên các mạng LAN, nhưng sau đó H.323 đã tiến tới trở thành 1 giao thứctruyền tải VoIP trên thế giới. Giao thức này chuyển đổi các cuộc hội thoại voice, video, hay cáctập tin và các ứng dụng đa phương tiện cần tương tác với PSTN. Là giao thức chuẩn, bao trùmcác giao thức trước đó như H.225,H.245, H.235,…
    • Các thành phần hoạt động trong giao thức H.323: có 4 thành phần :Terminal: là 1 PC hay 1 IP phone đang sử dụng giao thức H.323Gateway: Là cầu nối giữa mạng H.323 với các mạng khác như SIP, PSTN,…Gateway đóng vaitrò chuyển đổi các giao thức trong việc thiết lập và chấm dứt các cuộc gọi, chuyển đổi các mediaformat giữa các mạng khác nhau.GateKeeper: đóng vai trò là những điểm trung tâm ( focal points) trong mô hình mạng H.323.Các dịch vụ nền sẽ quyết định việc cung cấp địa chỉ (addressing),phân phát băng thông(bandwidth),cung cấp tài khoản, thẩm định quyền ( authentication) cho các terminal vàgateway…Mutipoint control unit (MCU): hỗ trợ việc hội thoại đa điểm (conference)cho các máy terminal (3 máy trở lên )trong mạng H.323Phương thức hoạt động của H.323 network:Khi 1 phiên kết nối được thực hiện, việc dịch địa chỉ (address translation) sẽ được 1 gatewayđảm nhận. Khi địa chỉ IP của máy đích được xác nhận, 1 kết nối TCP sẽ được thiết lập từ địa chỉnguồn tới người nhận thông qua giao thức Q.931 ( là 1 phần của bộ giao thức H.323). Ở bướcnày, cả 2 nơi đều tiến hành việc trau đổi các tham số bao gồm các tham số mã hoá ( encodingparameters) và các thành phần tham số liên quan khác. Các cổng kết nối và phân phát địa chỉcũng được cấu hình. 4 kênh RTCP và RTP được kết nối, mỗi kênh có 1 hướng duy nhất. RTP làkênh truyền dữ liệu âm thanh (voice data) từ 1 thực thể sang 1 thực thể khác. Khi các kênh đãđược kết nối thì dữ liệu âm thanh sẽ được phát thông qua các kênh truyền này thông qua cácRTCP instructions.VII. Bộ giao thức SIP :SIP: (Session Initiation Protocol) được phát triển bởi IETF ( Internet Engineering Task Force) MMUSIC (Multiparty Multimedia Session Control) Working Group (theo RFC 3261). Đây là 1 giao thức kiểu diện kýtự ( text-based protocol_ khi client gửi yêu cầu đến Server thì Server sẽ gửi thông tin ngược về choClient), đơn giản hơn giao thức H.323. Nó giống với HTTP, hay SMTP. Gói tin (messages) bao gồm cácheader và phần thân ( message body). SIP là 1 giao thức ứng dụng ( application protocol) và chạy trêncác giao thức UDP, TCP và STCP.Các thành phần trong SIP network :Cấu trúc mạng của SIP cũng khác so với giao thức H.232. 1 mạng SIP bao gồm các End Points, Proxy,Redirect Server, Location Server và Registrar. Người sử dụng phải đăng k{ với Registrar về địa chỉ củahọ. Những thông tin này sẽ được lưu trữ vào 1 External Location Server. Các gói tin SIP sẽ được gửithông qua các Proxy Server hay các Redirect Server. Proxy Server dựa vào tiêu đề “to” trên gói tin đểliên lạc với server cần liên lạc rồi gửi các pacckets cho máy người nhận. Các redirect server đồng thờigửi thông tin lại cho người gửi ban đầu.
    • Phương thức hoạt động của SIP network :SIP là mô hình mạng sử dụng kiểu kết nối 3 hướng ( 3 way handshake method) trên nền TCP. Ví dụtrên, ta thấy 1 mô hình SIP gồm 1 Proxy và 2 end points. SDP ( Session Description Protocol) được sửdụng để mang gói tin về thông tin cá nhân ( ví dụ như tên người gọi) . Khi Bob gửi 1 INVITE cho proxyserver với 1 thông tin SDP. Proxy Server sẽ đưa yêu cầu này đến máy của Alice. Nếu Alice đồng ý, tínhiệu “OK” sẽ được gửi thông qua định dạng SDP đến Bob. Bob phản ứng lại bằng 1 “ACK” _ tin báonhận. Sau khi “ACK” được nhận, cuộc gọi sẽ bắt đầu với giao thức RTP/RTCP. Khi cuộc điện đàm kếtthúc, Bob sẽ gửi tín hiệu “Bye” và Alice sẽ phản hồi bằng tín hiệu “OK”. Khác với H.232, SIP không có cơchế bảo mật riêng. SIP sử dụng cơ chế thẩm định quyền của HTTP ( HTTP digest authentication), TLS,IPSec và S/MIME ( Secure/Multipurpose Internet Mail Extension) cho việc bảo mật dữ liệu.MGCP và Megaco/H.248MGCP ( Media Gateway Control Protocol) được sử dụng để liên lạc giữa các thành phần riêng lẻ của 1VoIP gateway tách rời. Đây là 1 protocol được bổ sung cho 2 giao thức SIP và H.323. Với MGCP, MGCserver có khả năng quản lý các cuộc gọi và các cuộc đàm thoại dưới sự hỗ trợ của các dịch vụ (services).MGCP là 1 giao thức master/slave vớic các ràng buộc chặt chẽ giữa MG ( end point) và MGC ( server ).MEGACO/H.248 : (còn được gọi là Gate way Control Protocol)Có nguồn gốc từ MGCP và được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp. Sự phát triểnMEGACO/H.248 bao gồm việc hỗ trợ đa phương tiện và các dịch vụ hội thoại nâng cao đa điểm (multipoint conferencing enhanced services ) , các cú pháplập trình được nâng cao nhằm tăng hiệu quảcho các tiến trình đàm thoại, hỗ trợ cả việc mã hoá text và binary và thêm vào việc mở rộng các địnhnghĩa cho các packets.Megaco đưa ra những cơ cấu bảo mật ( security mechanisms) trong các cơ cấu truyền tải cơ bản nhưIPSec. H.248 đòi hỏi sự thực thi đầy đủ của giao thức H.248 kết hợp sự bổ sung của IPSec khi hệ điềuhành (OS) và mạng truyền vận ( transport network) có hỗ trợ IPSec.VIII. Tính bảo mật của VoIP:VoIP được đưa vào sử dụng rộng rãi khi công nghệ tích hợp giọng nói và dữ liệu phát triển. Do sử dụngchung các thành phần thiết bị chung với môi trường truyền dữ liệu mạng ( data network), VoIP cũngchịu chung với các vấn đề về bảo mật vốn có của mạng data. Những bộ giao thức mới dành riêng củaVoIP ra đời cũng mang theo nhiều vấn đề khác về tính bảo mậtNghe lén cuộc gọi ( EavesDropping of phone conversation): Nghe lén qua công nghệ VoIP càng có nguycơ cao do có nhiều node trung gian trên đường truyền giữa 2 người nghe và người nhận. Kẻ tấn côngcó thể nghe lén được cuộc gọi bằng cách tóm lấy các gói tin IP đang lưu thông qua các node trung gian.Có khá nhiều công cụ miễn phí và có phí kết hợp với các card mạng hỗ trợ chế độ pha tạp (promiscuous mode) giúp thực hiện được điều này như Cain&Abel, Ethreal, VoMITTruy cập trái phép ( Unauthorized access attack) : Kẻ tấn công có thể xâm phạm các tài nguyên trên
    • mạng do nguyên nhân chủ quan của các admin. Nếu các mật khẩu mặc định của các gateway và switchkhông được đổi thì kẻ tấn công có thể lợi dụng để xâm nhập. Các switch cũ vẫn còn dùng Telnet đểtruy cập từ xa, và clear-text protocol có thể bị khai thác 1 khi kẻ tấn công có thể sniff được các gói tin.Với các Gateway hay switch sử dụng giao diện web server (web server interface) cho việc điều khiển từxa ( remote control) thì kẻ tấn công có thể tóm các gói tin HTTP trong mạng nội bộ để lấy các thông tinnhạy cảm này thì kẻ tấn công còn có thể sử dụng kỹ thuật ARP cache poisoning để tóm lấy các gói tinđang lưu chuyển trong 1 mạng nội bộCaller ID spoofing :Caller ID là 1 dịch vụ cho phép user có thể biết được số của người gọi đến. Caller IDspoofing là kỹ thuật mạo danh cho phép thay đổi số ID của người gọi bằng những con số do user đặtra. So với mạng điện thoại truyền thống, thì việc giả mạo số địên thoại VoIP dễ hơn nhiều, bởi có khánhiều công cụ và website cho phép thực hiện điều này, ví dụ nhưwww.spooftel.com,www.telespoof.com, www.callnotes.net,www.spoofcard.com.IX. Hướng khắc phục và biện pháp giải quyết :Việc mã hoá các gói tin theo công nghệ IPSec sẽ giúp tránh được các cuộc nghe lén. Công nghệ SRTPđang dần thay thế cho RTP để bảo vệ các tín hiệu âm thanh và hình ảnh lưu thông trên mạngĐối với Gateway và switch, công nghệ SSH nên được thay thế cho clear-text protocol, và HTTPs nênđược dùng thay cho HTTP, và tốt nhất là các mật khẩu mặc định nên được thay đổi một khi hệ thốngđược triển khai. Việc nâng cấp hệ thống định kz cũng nên được xem xét một cách chính đáng.Mô hình mạng trong công ty có sử dụng VoIP cần phải được xem xét. Vấn đề tốt nhất có thể làm làphân chia các máy sử dụng VoIP và data ra làm 2 mạng khác nhau. Đối với các voice gateway ( nơi có sựnối ghép giữa PSTN và IP ) cần phải chặn các gói SIP, H.323 hoặc bất cứ gói dữ liệu nào được gửi đếntừ mạng data. Việc mã hoá các gói tin tại Router và Gateway sử dụng IPSec là 1 lựa chọn tốt cho việcbảo mật.Không nên sử dụng Softphone khi mà vấn đề về virus và worm đang một ngày một đáng quan tâm. Liêntục nâng cấp phần mềm – Nếu hãng phần mềm cung cấp các bản vá cho hệ điều hành thì bạn nên càiđặt chúng ngay lập tức. Việc đó sẽ ngăn chặn được các tấn công đang lợi dụng yếu điểm trong lỗ hổngphần mềm .Sử dụng và cập nhật phần mềm chống virus – Phần mềm chống virus có thể nhận ra và bảo vệ máytính chống lại các virus đã được định nghĩa. Mặc dù vậy kẻ tấn công luôn tìm mọi cách để viết ra cácvirus mới, chính vì vậy bạn phải thường xuyên cập nhật phần mềm virus .Tận dụng triệt để các tùy chọn bảo mật – Nhiều nhà cung cấp có thể cung cấp dịch vụ cho phép mãhóa. Nếu công việc của bạn liên quan đến nhiều vấn đề riêng tư và bảo mật thì cũng nên cân nhắc đếncác tùy chọn có sẵn này.Cài đặt và kích hoạt tường lửa –Tường lửa có thể ngăn chặn nhiều kiểu xâm nhập bằng việc khóa lưulượng nguy hiểm trước khi chúng xâm nhập vào máy tính của bạn.Đánh giá các thiết lập bảo mật – Cả máy tính của bạn và các thiết bị/phần mềm VoIP cung cấp nhiềutính năng khác nhau có thể trang bị cho yêu cầu của bạn. Mặc dù vậy, việc cho phép các tính năng cụthể có thể để lại cho bạn nhiều lỗ hổng dễ bị tấn công. Vì vậy vô hiệu hóa một số tính năng nếu bạn
    • cảm thấy không cần thiết. Kiểm tra các thiết lập của bạn, thiết lập bảo mật riêng và chọn các tùy chọnmà bạn cần để tránh mang lại những rủi ro không đáng có.X. Tổng kết :- VoIP viết tắt bởi Voice over Internet Protocol - VoIP là 1 công nghệ cho phép truyền âm thanh thờigian thực qua băng thông Internet và các kết nối IP VoIP có 3 dạng sử dụng : Computer to computer,computer to phone và phone to phone. - Các thành phần cốt lõi của 1 mạng VoIP bao gồm:+ Gateway: là thành phần giúp chuyển đổi tín hiệu analog sang tín hiệu số+ Voice Server : là các máy chủ trung tâm có chức năng định tuyến và bảo mật cho các cuộc gọi VoIP.http://vi.wikipedia.org/wiki/Wikiped...1c_gi%E1%BA%A3+ End User Equipments: bao gồm PC, điện thoại để bàn có IP adapter, IP phone,..- Phương thức hoạt động của VoIP : tín hiệu voice sẽ được chuyển thành tín hiệu số, được nén lại, rồimã hoá. Sau đó các gói data này đến người nhận qua môi trường IP, được giải nén, rồi chuyển thànhtín hiệu âm thanh đến tai người nghe. - VoIP cần 2 loại giao thức :+ Signaling Protocol điều khiển việc cài đặt cuộc gọi. Các loại signaling protocols bao gồm: H.323, SIP,MGCP, Megaco/H.248 và các loại giao thức dùng riêng như UNISTIM, SCCP, Skype, CorNet-IP,…+ Media Protocols: điều khiển việc truyền tải voice data qua môi trường mạng IP. RTP ,RTCP , SRTP vàSRTCPSignaling Protocol nằm ở tầng TCP vì cần độ tin cậy cao, trong khi Media Protocols nằm trong tầngUDP. - Có 2 bộ giao thức VoIP được dùng rộng rãi trên thế giới là : H.323 và SIP - Vấn đề bảo mật củaVoIP gắn liền với vấn đề bảo mật mạng Internet thông thường kết hợp với các nguyên tắc cẩn trọngcủa người sử dụng. Các nhà cung cấp ngày càng ra sức xây dựng các mạng VoIP an toàn và chất lượngcao hơn.
    • Giao thức SIP trong VoIPTrước đây khi đề cập đến VoIP, tiêu chuẩn quốc tế thường được đề cập đến là H.323. Giao thứcH.323 là chuẩn do ITU-T phát triển cho phép truyền thông đa phương tiện qua các hệ thống dựatrên mạng chuyển mạch gói, tập giao thức H.323 bao gồm rất nhiều giao thức con bên trong nónhư H.245, H.225, Q.931...hoạt động dựa trên H.323 là rất chặt chẽ và phức tạp. Nhưng nhữngnăm trở lại đây thì giao thức SIP lại chiếm ưu thế và dần dần thay thế hẳn H.323, tôi mở topicnày với hi vọng mọi người sẽ cùng bàn luận để có thể hiểu rõ ràng hơn về giao thức này, vì VoIPlà một trong những dịch vụ sẽ rất phát triển trong tương lai.Đầu tiên tôi xin tổng quan về SIP:I-Tổng quan về SIP1) SIP là gì:SIP (Session Initiation Protcol ) là giao thức báo hiệu điều khiển lớp ứng dụng được dùng đểthiết lập, duy trì, kết thúc các phiên truyền thông đa phương tiện (multimedia). Các phiênmultimedia bao gồm thoại Internet, hội nghị, và các ứng dụng tương tự có liên quan đến cácphương tiện truyền đạt (media) như âm thanh, hình ảnh, và dữ liệu. SIP sử dụng các bản tin mời(INVITE) để thiết lập các phiên và để mang các thông tin mô tả phiên truyền dẫn. SIP hỗ trợ cácphiên đơn bá (unicast) và quảng bá (multicast) tương ứng các cuộc gọi điểm tới điểm và cuộc gọiđa điểm.2) Các thành phần trong mạng SIP:Nói chung SIP gồm 2 thành phần lớn là SIP client (là thiết bị hỗ trợ giao thức SIP như SIPphone), và SIP server (là thiết bị trong mạng xử lý các bản tin SIP). Trong SIP server có cácthành phần quan trọng như: Proxy server, Redirect server, Location server, Registrar server...+ Proxy Server: là thực thể trong mạng SIP làm nhiệm vụ chuyển tiếp các SIP request tới thựcthể khác trong mạng. Như vậy, chức năng chính của nó trong mạng là định tuyến cho các bản tinđến đích. Proxy server cũng cung cấp các chức năng xác thực trước khi cho khai thác dịch vụ.Một proxy có thể lưu (stateful) hoặc không lưu trạng thái (stateless) của bản tin trước đó. Thôngthường, proxy có lưu trạng thái, chúng duy trì trạng thái trong suốt transaction (khoảng 32 giây).+ Redirect Server: trả về bản tin lớp 300 để thông báo thiết bị là chuyển hướng bản tin tới địa chỉkhác – tự liên lạc thông qua địa chỉ trả về.+ Registrar server: là server nhận bản tin SIP REGISTER yêu cầu và cập nhật thông tin từ bảntin request vào “location database” nằm trong Location Server
    • + Location Server: lưu thông tin trạng thái hiện tại của người dùng trong mạng SIPII-Các bản tin SIP, mào đầu và đánh sốDưới đây là các bản tin của SIP :INVITE : bắt đầu thiết lập cuộc gọi bằng cách gửi bản tin mời đầu cuối khác tham giaACK : bản tin này khẳng định máy trạm đã nhận được bản tin trả lời bản tin INVITEBYE : bắt đầu kết thúc cuộc gọiCANCEL : hủy yêu cầu nằm trong hàng đợiREGISTER : đầu cuối SIP sử dụng bản tin này để đăng k{ với máy chủ đăng k{OPTION : sử dụng để xác định năng lực của máy chủINFO : sử dụng để tải các thông tin như âm báo DTMFGiao thức SIP có nhiều điểm trùng hợp với giao thức HTTP. Các bản tin trả lời các bản tin SIP nêu trêngồm có :1xx – các bản tin chung2xx – thành công3xx - chuyển địa chỉ4xx – yêu cầu không được đáp ứng5xx - sự cố của máy chủ6xx - sự cố toàn mạngCác bản tin SIP có khuôn dạng text, tương tự như HTTP. Mào đầu của bản tin SIP cũng tương tự nhưHTTP và SIP cũng hỗ trợ MIME (một số chuẩn về email)III-Thiết lập và hủy cuộc gọi SIPTrước tiên ta tìm hiểu hoạt động của máy chủ ủy quyền và máy chủ chuyển đổi+ Hoạt động của máy chủ ủy quyền (Proxy Server)
    • Hoạt động của Proxy server được trình bày như trong hình ….Client SIP userA@yahoo.com gửi bản tinINVITE cho userB@hotmail.com để mời tham gia cuộc gọi.Các bước như sau:+ Bước 1: userA@yahoo.com gửi bản tin INVITE cho UserB ở miền hotmail.com, bản tin này đến proxyserver SIP của miền hotmail.com (Bản tin INVITE có thể đi từ Proxy server SIP của miền yahoo.com vàđược Proxy này chuyển đến Proxy server của miền hotmail.com).+ Bước 2: Proxy server của miền hotmail.com sẽ tham khảo server định vị (Location server) để quyếtđịnh vị trí hiện tại của UserB.+ Bước 3: Server định vị trả lại vị trí hiện tại của UserB (giả sử là UserB@hotmail.com).+ Bước 4: Proxy server gửi bản tin INVITE tới userB@hotmail.com. Proxy server thêm địa chỉ của nótrong một trường của bản tin INVITE.+ Bước 5: UAS của UserB đáp ứng cho server Proxy với bản tin 200 OK.+ Bước 6: Proxy server gửi đáp ứng 200 OK trở về userA@yahoo.com.+ Bước 7: userA@yahoo.com gửi bản tin ACK cho UserB thông qua proxy server.+ Bước 8: Proxy server chuyển bản tin ACK cho userB@hostmail.com+ Bước 9: Sau khi cả hai bên đồng ý tham dự cuộc gọi, một kênh RTP/RTCP được mở giữa hai điểmcuối để truyền tín hiệu thoại.+ Bước 10: Sau khi quá trình truyền dẫn hoàn tất, phiên làm việc bị xóa bằng cách sử dụng bản tin BYEvà ACK giữa hai điểm cuối.+ Hoạt động của máy chủ chuyển đổi địa chỉ (Redirect Server):
    • Hoạt động của Redirect Server được trình bày như hình .Các bước như sau:+ Bước 1: Redirect server nhân được yêu cầu INVITE từ người gọi (Yêu cầu này có thể đi từ một proxyserver khác).+ Bước 2: Redirect server truy vấn server định vị địa chỉ của B.+ Bước 3: Server định vị trả lại địa chỉ của B cho Redirect server.+ Bước 4: Redirect server trả lại địa chỉ của B đến người gọi A. Nó không phát yêu cầu INVITE nhưproxy server.+ Bước 5: User Agent bên A gửi lại bản tin ACK đến Redirect server để xác nhận sự trao đổi thành công.+ Bước 6: Người gọi A gửi yêu cầu INVITE trực tiếp đến địa chỉ đượctrả lại bởi Redirect server (đến B). Người bị gọi B đáp ứng với chỉ thị thành công (200 OK), và người gọiđáp trả bản tin ACK xác nhận. Cuộc gọi được thiết lập.Ngoài ra SIP còn có các mô hình hoạt động liên mạng với SS7 (đếnPSTN) hoặc là liên mạng với chồng giao thức H.323.IV-Tính năng của SIPGiao thức SIP được thiết kế với những chỉ tiêu sau:Tích hợp với các giao thức đã có của IETFĐơn giản và có khả năng mở rộngHỗ trợ tối đa sự di động của đầu cuốiDễ dàng tạo tính năng mới cho dịch vụa) Tích hợp với các giao thức đã có của IETFCác giao thức khác của IETF có thể xây dựng để xây dựng những ứng dụng SIP. SIP có thể hoạt độngcùng với nhìu giao thức như :- RSVP (Resource Reservation Protocol) : Giao thức giành trước tài nguyên mạng.- RTP (Real-time transport Protocol) : Giao thức truyền tải thời gian thực- RTSP (Real Time Streaming Protocol) : Giao thức tạo luồng thời gian thực- SAP (Session Advertisement Protocol) : Giao thức thông báo trong phiên kết nối- SDP (Session Description Protocol) : Giao thức mô tả phiên kết nối đa phương tiện- MIME (Multipurpose Internet Mail Extension - Mở rộng thư tín Internet đa mục đích) : Giao thức thưđiện tử- HTTP (Hypertext Transfer Protocol) : Giao thức truyền siêu văn bản
    • - COPS (Common Open Policy Service) : Dịch vụ chính sách mở chung- OSP (Open Settlement Protocol) : Giao thức thỏa thuận mởb) Đơn giản và có khả năng mở rộngSIP có rất ít bản tin, không có các chức năng thừa nhưng SIP có thể sử dụng để thiết lập những phiênkết nối phức tạp như hội nghị… Đơn giản, gọn nhẹ, dựa trên khuôn dạng văn bản, SIP là giao thức rađời sau và đã khắc phục được điểm yếu của nhiều giao thức trước đây.Các phần mềm của máy chủ ủy quyền, máy chủ đăng kí, máy chủ chuyển đổi địa chỉ, máy chủ định vị…có thể chạy trên các máy chủ khác nhau và việc cài đặt thêm máy chủ hoàn toàn không ảnh hưởng đếncác máy chủ đã có. Chính vì thế hệ thống chuyển mạch SIP có thể dễ dàng nâng cấp.c) Hỗ trợ tối đa sự di động của đầu cuốiDo có máy chủ ủy quyền, máy chủ đăng k{ và máy chủ chuyển đổi địa chỉ hệ thống luôn nắm được địađiểm chính xác của thuê bao. Thí dụ thuê bao với địa chỉ ptit@vnpt.com.vn có thể nhận được cuộc gọithoại hay thông điệp ở bất cứ địa điểm nào qua bất cứ đầu cuối nào như máy tính để bàn, máy xáchtay, điện thoại SIP… Với SIP rất nhiều dịch vụ di động mới được hỗ trợ.d) Dễ dàng tạo tính năng mới cho dịch vụ và dịch vụ mới.Là giao thức khởi tạo phiên trong mạng chuyển mạch gói SIP cho phép tạo ra những tính năng mới haydịch vụ mới một cách nhanh chóng. Ngôn ngữ xử lý cuộc gọi (Call Processing Language) và Giao diệncổng kết nối chung (Common Gateway Interface) là một số công cụ để thực hiện điều này. SIP hỗ trợcác dịch vụ thoại như chờ cuộc gọi, chuyển tiếp cuộc gọi, khóa cuộc gọi… (call waiting, call forwarding,call blocking…), hỗ trợ thông điệp thống nhất… Các Kỹ Thuật Nén Dùng Trong VoipKỹ thuật dò tìm thoại VAD (Voice Activity Detection)Ðể giảm tối thiểu băng thông sử dụng cho thoại, các bộ mã hoá thoại (vocoder) trong hệ thôngVoIP sử dụng kỹ thuật nén các khoảng im lặng vốn có trong các cuộc đàm thoại thông thường(Silence Suppression). VAD loại bỏ lưu lượng gói khi không có tín hiệu thoại thực sự được gởi.Khi bộ mã hoá thoại phát hiện mức tín hiệu rớt xuống mức nhiễu nền, nó dừng phát các gói chođến khi mức tín hiệu trong băng thoại được phát hiện trở lại. Kỹ thuật này cho phép hệ thốngVoIP giảm tối thiểu lưu lượng trên mạng trong khi vẫn duy trì cuộc gọi với chất lượng cao. Kỹthuật này cho phép giảm đến 50% băng thông sử dụng.Kỹ thuật đóng gói khungTín hiệu thoại khi được gửi lên mạng IP sẽ được bộ mã hoá thoại cắt thành các gói chứa từ10 - 50 ms thoại (trong khoảng 9 byte đối với giải thuật nén 4.8kbps ECELL đến 60 bytes đốivới thuật nén 32 kbps ADPCM). Sau đó các gói này sẽ gắn được các header của giao thức IP(khoảng 33 bytes) để gởi lên mạng. Nếu mỗi gói thoại được đóng gói trong gói IP thì việc sửdụng băng thông sẽ không hiệu quả do header của gói IP lớn. Do đó để giảm thiểu header củaUDP/IP, hệ thống VoIP cho phép đóng gói nhiều gói thoại trong một gói IP bằng cách sử dụngkỹ thuật đóng gói khung (frame Packing). Kỹ thuật này cho phép lựa chọn chế độ đóng gói từ 1đến 5 gói thoại trong một gói IP, do đó gia tăng hiệu quả sử dụng băng thông và lưu lượng dữliệu trên mạng. Việc sử dụng kỹ thuật này lại làm gia tăng thời gian trễ giữa hai đầu kết nối (endto end delay), mỗi gói thoại khi được thêm vào gói IP sẽ tăng thời gian trễ thêm 15ms trên mạchthoại (vì các gói thoại trong thuật toán mã hoá thoại được phát tại các khoảng thời gian 15ms).
    • Tuy nhiên, điều này không tác động lớn đến chất lượng thoại được cảm nhận.Kỹ thuật khôi phục gói bị mấtCác gói thoại khi truyền trên mạng IP sẽ sử dụng giao thức UDP/ IP nên tăng khả năng vậnchuyển nhanh qua mạng do không cần kiểm soát lỗi. Nếu có gói tin trên đường truyền thì hệthống VoIP sẽ tái tạo lại thông tin của các gói bị mất này bằng phương pháp nội suy từ các góicận kề, điều này sẽ tối thiểu việc giảm chất lượng thoại. Thuật toán của bộ mã hoá thoại trong hệthống VoIP được thiết kế để thích ứng với khả năng mất gói và có thể chịu đựng được tỷ số lỗilên đến 10 mà không cảm thấy méo tín hiệu.Kỹ thuật nén thoạiMột số các kỹ thuật nén thoại tiên tiến ứng dụng trong VoIP được tuân theo các tiêu chuẩn như:Với các kỹ thuật nén này, chất lượng cuộc gọi đạt tỷ lệ 7/8 so với chất lượng toll truyền thống.Việc hỗ trợ nhiều công nghệ nén khác nhau cho phép hệ thống VoIP mềm dẻo trong việc lựachọn và cấu hình băng thông truyền tải. Các hệ thống VoIP có thể cấu hình các cổng thoại (voiceport) ở các tốc độ mã hoá khác nhau mà không bắt buộc phải cùng tốc độ nhờ đặc điểm dàn xếptốc độ của bộ mã hoá thoại (Vocoder Rate Negotiation). Ðặc điểm này cho phép các cổng thoạigởi và nhận có thể hoạt động tương thích với nhau ở các tốc độ mã hoá khác nhau. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thoại Trên VoIPVoIPChất lượng của âm thanh được khôi phục qua mạng điện thoại là mục tiêu cơ bản của dịch vụ,mặc dù các chỉ tiêu chuẩn đã được ITU phát triển. Có 3 nhân tố có thể ảnh hưởng sâu sắc tới chấtlượng của dịch vụ thoại:• Trễ:Hai vấn đề gây ra bởi sự trễ đầu cuối trong một mạng thoại là tiếng vang và chồng tiếng. Tiếngvang trở thành vấn đề khi trễ vượt quá 50 ms. Đây là một vấn đề chất lượng đáng kể, nên các hệthống VoIP phải kiểm soát và cung cấp các phương tiện loại bỏ tiếng vang. Hiện tượng chồngtiếng (giọng người này gối lên giọng người kia) trở nên đáng kể nếu trễ một chiều (one-waydelay) lớn hơn 250 ms.• Sự biến thiên độ trễ (Jitter ):Jitter là sự biến thiên thời gian trễ gây nên bởi sự trễ đường truyền khác nhau trên mạng. Loại bỏjitter đòi hòi thu thập các gói và giữ chúng đủ lâu để cho phép các gói chậm nhất đến để đượcphát lại (play) đúng thứ tự, làm cho sự trễ tăng lên.• Mất gói:Mạng IP không thể cung cấp một sự bảo đảm rằng các gói tin sẽ được chuyển tới đích hết. Cácgói sẽ bị loại bỏ khi quá tải và trong thời gian tắc nghẽn. Truyền thoại rất nhạy cảm với việc mấtgói, tuy nhiên, việc truyền lại gói của TCP thường không phù hợp. Các cách tiếp cận được sử
    • dụng để bù lại các gói mất là thêm vào cuộc nói chuyện bằng cách phát (play) lại gói cuối cùng,và gửi đi thông tin dư. Tuy thế, sự tổn thất gói trên 10% nói chung là không chấp nhận được.Sự duy trì chất lượng thoại chấp nhận được bất chấp sự thay đổi trong hoạt động của mạng (nhưtắc nghẽn hay mất kết nối) đạt được nhờ những kỹ thuật như nén tiếng, triệt im lặng . Một số sựphát triển trong những năm 90, nhất là trong xử lý tín hiệu số, các chuyển mạch mạng chất lượngcao đã được phối hợp để hỗ trợ và khuyến khích công nghệ thoại trên mạng dữ liệu.Quá trình tiền xử lý bằng phần mềm của cuộc điện đàm cũng có thể được sử dụng để tối ưu hoáchất lượng âm thanh. Một kỹ thuật, được goi là triệt im lặng, sẽ xác định mỗi khi có một khoảngtrống trong lời thoại và loại bỏ sự truyền các khoảng nghỉ, hơi thở, và các khoảng im lặng khác.Điều đó có thể lên tới 50-60% thời gian của một cuộc gọi, giúp tiết kiệm băng tần đáng kể. Bởilẽ sự thiếu các gói được hiểu là sự im lặng hoàn toàn ở đầu ra, một chức năng khác được yêu cầuở đầu nhận để bổ sung các tiếng động ở đầu ra.SIP - Session Initiation Protocol – là gì?SIP, từ viết tắt của Session Initiation Protocol (Giao thức Khởi tạo Phiên) là một giao thức tínhiệu điện thoại IP dùng để thiết lập, sửa đổi và kết thúc các cuộc gọi điện thoại VOIP. SIP đượcphát triển bởi IETF và ban hành trong tài liệu RFC 3261.SIP mô tả những giao tiếp cần có để thiết lập một cuộc điện thoại. Chi tiết của những giao tiếpnày được mô tả rõ hơn trong giao thức SDP.SIP đã chiếm lĩnh thế giới VOIP nhanh như vũ bão. Giao thức này giống như giao thức HTTP, làgiao thức dạng văn bản, rất công khai và linh hoạt. Do vậy, nó đã thay thế rộng rãi cho chuẩnH323.SDP - Session Description Protocol – là gì?SDP, từ viết tắt của Session Description Protocol (Giao thức Mô tả Phiên), là một định dạng đểmô tả các thông số khởi tạo dòng thông tin phương tiện (streaming media). SDP được ban hànhbởi IETF trong tài liệu RFC 4566. Dòng thông tin phương tiện là những nội dung được xem hoặcnghe trong khi truyền.RTP - Real Time Transport Protocol – là gì?RTP – từ viết tắt của Real Time Transport Protocol (Giao thức Vận chuyển Thời gian Thực) đặctả một tiêu chuẩn định dạng gói tin dùng để truyền âm thanh và hình ảnh qua internet. Tiêuchuẩn này được khai báo trong RFC 1889. Nó được phát triển bởi nhóm Audio Video TransportWorking và được ban hành lần đầu tiên vào năm 1996.
    • RTP và RTCP liên kết rất chặt chẽ với nhau – RTP truyền dữ liệu thực trong khi RTCP đượcdùng để nhận thông tin phản hồi về chất lượng dịch vụRTCP - Real Time Transport Protocol – làgì?RTCP là từ viết tắt của Real Time Transport Protocol (Giao thức Vận chuyển Thời gian Thực)và được đặc tả trong RFC 3550. RTCP làm việc song hành với RTP. RTP thực hiện chuyển giaodữ liệu thực trong khi RTCP được dùng để gửi các gói tin điều khiển cho những bên tham dự vàocuộc gọi. Chức năng chính của nó là thu nhận được thông tin phản hồi về chất lượng dịch vụ củaRTP.Hệ thống Điện thoại PBX là gì?PBX là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh Private Branch Exchange (Tổng đài Nhánh Riêng), làmột mạng điện thoại riêng được sử dụng trong phạm vi một công ty. Những người sử dụng hệthống điện thoại PBX dùng chung một số đường điện thoại ngoài để thực hiện các cuộc gọi rabên ngoài.Hệ thống PBX kết nối các điện thoại nội bộ trong một doanh nghiệp đồng thời cũng kết nốichúng vào mạng điện thoại chuyển mạch công cộng (PSTN). Một trong những khuynh hướngmới nhất trong sự phát triển của hệ thống điện thoại PBX là VoIP PBX, hay còn được gọi là IPPBX, sử dụng Giao thức Internet để truyền dẫn các cuộc gọi.Ngày nay có bốn tùy chọn về hệ thống điện thoại PBX khác nhau: PBX PBX Thuê/Ảo IP PBX IP PBX Thuê/ẢoIP PBX là một giải pháp hệ thống điện thoại PBX chạy bằng phần mềm giúp thực hiện một sốnhiệm vụ nhất định và cung cấp những dịch vụ mà khi sử dụng hệ thống PBX phần cứng truyềnthống có thể khó thực hiện và tốn kém.Hệ thống Điện thoại 3CX chạy trên Windows là một ví dụ điển hình của một hệ thống điện thoạiIP PBX.Tiếng nói qua IP (Voice over IP) là gì?Tiếng nói qua IP hay còn gọi là Tiếng nói qua Giao thức Internet, hay còn có một cách gọi phổbiến hơn nữa là VoIP.
    • Nói đến công nghệ Tiếng nói qua IP là nói đến việc truyền dẫn tiếng nói qua các mạng lưới hoạtđộng dựa trên mạng internet. Ban đầu Giao thức Internet (Internet Protocol - IP) được thiết kế đểnối mạng dữ liệu và sau khi vận hành thành công, giao thức đã được áp dụng vào việc nối mạngtiếng nói.Công nghệ Tiếng nói qua IP (VoIP) có thể dễ dàng hỗ trợ các nhiệm vụ và đáp ứng các dịch vụmà khi sử dụng hệ thống PSTN truyền thống có thể sẽ phức tạp hay tốn kém: Nhiều cuộc điện thoại có thể được truyền dẫn trên cùng một đường dây điện thoại băng thông rộng. Theo cách này, công nghệ tiếng nói qua IP có thể hỗ trợ việc bố trí thêm các đường điện thoại cho các doanh nghiệp. Môt số tính năng thường bị các công ty viễn thông thu thêm cước phí, ví dụ như chuyển tiếp cuộc gọi, hiển thị số người gọi đến hay tự động gọi lại, thì lại là những điều đơn giản đối với công nghệ tiếng nói qua IP. Công nghệ truyền thông hợp nhất kết hợp chặt chẽ với công nghệ tiếng nói qua IP, vì nó cho phép tích hợp với những dịch vụ khác hiện có trên mạng internet ví dụ như đàm thoại hiển thị hình ảnh, nhắn tin, v.v.Những lợi thế này và nhiều lợi thế khác mà công nghệ tiếng nói qua IP có thể mang đến, đangdẫn các doanh nghiệp chuyển sang dùng Hệ thống Điện thoại VoIP với một tốc độ chóng mặt.H323 là gì?H323 là một tập các tiêu chuẩn từ ITU-T, nó định nghĩa một tập các giao thức dùng để liên lạcbằng âm thanh và hình ảnh qua mạng máy tính.H323 là một giao thức tương đối cũ và hiện đang được thay thế bởi giao thức SIP – SessionInitiation Protocol. Một trong những điểm ưu việt của SIP là nó ít phức tạp hơn rất nhiều vàtương tự như giao thức HTTP / SMTP.Vì vậy, hầu hết các thiết bị VOIP hiện có ngày nay đều theo chuẩn SIP. Chỉ có những thiết bịVOIP cũ theo chuẩn H323.FAX hoạt động như thế nào trong môitrường VOIP?FAX được thiết kế cho mạng tín hiệu tương tự và không thể nào làm việc tốt được với các mạngVOIP. Nguyên nhân của việc này là truyền thông bằng FAX sử dụng tín hiệu theo cách khác sovới truyền thông bằng tiếng nói thông thường.Khi các công nghệ VOIP số hóa và nén tín hiệu tiếng nói ở dạng tương tự, quy trình này chỉđược tối ưu hóa đối với TIẾNG NÓI và không đối với FAX. Hệ quả là nếu bạn kết nối máy Faxvới mạng VOIP thông qua bộ chuyển đổi ATA thì nó sẽ làm việc được, nhưng nhiều khả năng là
    • bạn sẽ gặp trục trặc trong khi truyền nhận fax. Nếu bạn bắt buộc phải làm theo cách này, hãychắn chắn rằng bạn sử dụng bộ codec G 711, bộ codec này có tỉ số nén thấp nhất.Để làm việc với máy fax, bạn có những lựa chọn sau đây: 1. Cách dễ nhất để xử lý việc này là kết nối trực tiếp máy fax với đường dây điện thoại tín hiệu tương tự sẵn có và bỏ qua môi trường VOIP của bạn. 2. Thay thế máy fax bằng một nhà cung cấp dịch vụ fax. Hiện có rất nhiều nhà cung cấp và chi phí hàng tháng là rất rẻ (rẻ hơn tiền thuê bao điện thoại) 3. Triển khai T38. Nếu vậy cần phải có một gateway tương thích với T38 và một máy fax, thẻ điều khiển fax hoặc phần mềm fax tương thích với T38.Cos’è il T38?T38 là một giao thức mô tả cách gửi fax thông qua mạng dữ liệu máy tính. Cần có T38 vì dữ liệufax không thể được gửi qua mạng dữ liệu máy tính như dữ liệu điện đàm. Xem FAX hoạt độngtrong môi trường VOIP như thế nào? để biết thêm thông tin về giao thức này.T38 được mô tả trong RFC 3362 và định nghĩa cách các thiết bị giao tiếp với dữ liệu fax. Trongbức ảnh trên, cả gateway và máy fax ở sau gateway đó đều phải có khả năng làm việc với T38.Đối với máy fax G3 trên đường tín hiệu tương tự, quá trình này sẽ phải là thông suốt. Máy faxtương tự không cần phải biết về T38.Thông tin về VOIP gateway – Tìm hiểu vềVOIP gatewayVOIP gateway là thiết bị chuyển đổi tín hiệu điện thoại sang dạng IP để truyền trên mạng dữliệu. Chúng được dùng bằng 2 cách:1. Để chuyển đổi các cuộc gọi trên đường dây PSTN/điện thoại sang VOIP/SIP:
    • Theo cách này, VOIP gateway cho phép gọi và nhận cuộc gọi trên mạng điện thoại thôngthường. Trong nhiều trường hợp trong thương mại, người ta thích tiếp tục sử dụng đường điệnthoại truyền thống hơn vì họ có thể đảm bảo chất lượng cuộc gọi và sự sẵn có hơn.2. Để kết nối một hệ thống PBX/Điện thoại truyền thống với mạng IP:Theo cách này, VOIP gateway cho phép gọi qua VOIP. Các cuộc gọi có thể được thực hiệnthông qua máy cung cấp dịch vụ VOIP, hoặc trong trường hợp các công ty có nhiều văn phòng,chi phí gọi giữa các văn phòng với nhau có thể được giảm bằng cách chuyển đường các cuộc gọira Internet. VOIP gateway có ở dạng thiết bị ngoài hoặc bộ điều khiển PCI. Hầu hết các thiết bịVOIP gateway là ở dạng thiết bị ngoài. VOIP gateway có một đầu nối mạng IP và một hoặcnhiều cổng để nối dây điện thoại.VOIP gateway tương tự của MediatrixCác loại VOIP gateway1. Tương tự: thiết bị tương tự dùng để kết nối đường điện thoại tương tự thông thường với nó.Các VOIP gateway tương tự thường có từ 2-24 cổng cắm dây điện thoại.2. Kỹ thuật số: thiết bị số cho phép bạn kết nối các đường dây số, có thể là một hoặc nhiềuđường BRI ISDN (châu Âu), một hoặc nhiều đường PRI/E1 (châu Âu) hoặc một hoặc nhiềuđường T1(Mỹ).Các nhà sản xuất VOIPHiện nay, có rất nhiều loại VOIP gateway và do nhu cầu tiêu thụ đang tăng nhanh, giá cả củachúng đã giảm đáng kể. Giá VOIP gateway tương tự bắt đầu ở mức 200 đô-la Mỹ. Dưới đây làmột vài nhà sản xuất VOIP gateway: Patton Electronics: http://www.patton.com Audiocodes: http://www.audiocodes.com Vegastream: http://www.vegastream.com Mediatrix: http://www.mediatrix.comCó thể mua chúng trực tuyến thông qua một trong các cửa hàng bán sản phẩm VOIP trực tuyến.
    • Hệ thống thông tin di động toàn cầuBách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới: menu, tìm kiếm Tiêu chuẩn truyền thông di động 3GPP: GSM / UMTS Family 2G GSM GPRS EDGE (EGPRS) o EDGE Evolution HSCSD 3G UMTS (3GSM) HSPA o HSDPA o HSUPA o HSPA+ UMTS-TDD o TD-CDMA o TD-SCDMA FOMA Pre-4G UMTS Revision 8 o LTE o HSOPA (Super 3G) 3GPP2: cdmaOne / CDMA2000 Family 2G cdmaOne 3G
    • CDMA2000 EV-DOPre-4G UMBCác công nghệ khác0G PTT MTS IMTS AMTS OLT MTD Autotel / PALM ARP1G NMT AMPS / TACS / ETACS Hicap CDPD Mobitex DataTAC2G iDEN D-AMPS PDC CSD PHS WiDENPre-4G iBurst HIPERMAN WiMAX WiBro (Mobile WiMAX)
    • Hệ thống thông tin di động toàn cầu (tiếng GAN (UMA)Anh: Global System for MobileCommunications; tiếng Pháp: Groupe Spécial Dải tần sốMobile; viết tắt: GSM) là một công nghệ dùngcho mạng thông tin di động. Dịch vụ GSMđược sử dụng bởi hơn 2 tỷ người trên 212 quốc SMRgia và vùng lãnh thổ. Các mạng thông tin di Cellularđộng GSM cho phép có thể roaming với nhau PCSdo đó những máy điện thoại di động GSM củacác mạng GSM khác nhau ở có thể sử dụngđược nhiều nơi trên thế giới.GSM là chuẩn phổ biến nhất cho điện thoại di động (ĐTDĐ) trên thế giới. Khả năng phú sóngrộng khắp nơi của chuẩn GSM làm cho nó trở nên phổ biến trên thế giới, cho phép người sửdụng có thể sử dụng ĐTDĐ của họ ở nhiều vùng trên thế giới. GSM khác với các chuẩn tiền thâncủa nó về cả tín hiệu và tốc độ, chất lượng cuộc gọi. Nó được xem như là một hệ thống ĐTDĐthế hệ thứ hai (second generation, 2G). GSM là một chuẩn mở, hiện tại nó được phát triển bởi3rd Generation Partnership Project (3GPP) Đứng về phía quan điểm khách hàng, lợi thế chínhcủa GSM là chất lượng cuộc gọi tốt hơn, giá thành thấp và dịch vụ tin nhắn. Thuận lợi đối vớinhà điều hành mạng là khả năng triển khai thiết bị từ nhiều người cung ứng. GSM cho phép nhàđiều hành mạng có thể sẵn sàng dịch vụ ở khắp nơi, vì thế người sử dụng có thể sử dụng điệnthoại của họ ở khắp nơi trên thế giới.Mục lục[ẩn] 1 Giao diện vô tuyến 2 Lịch sử 3 Cấu trúc mạng GSM o 3.1 XEM THÊM[sửa] Giao diện vô tuyếnGSM là mạng điện thoại di động thiết kế gồm nhiều tế bào do đó các máy điện thoại di động kếtnối với mạng bằng cách tìm kiếm các cell gần nó nhất. Các mạng di động GSM hoạt động trên 4băng tần. Hầu hết thì hoạt động ở băng 900 MHz và 1800 MHz. Vài nước ở Châu Mỹ thì sửdụng băng 850 MHz và 1900 MHz do băng 900 MHz và 1800 MHz ở nơi này đã bị sử dụngtrước.Và cực kỳ hiếm có mạng nào sử dụng tần số 400 MHz hay 450 MHz chỉ có ở Scandinavia sửdụng do các băng tần khác đã bị cấp phát cho việc khác.
    • Các mạng sử dụng băng tần 900 MHz thì đường lên (từ thuê bao di động đến trạm truyền dẫnuplink) sử dụng tần số trong dải 890–915 MHz và đường xuống downlink sử dụng tần số trongdải 935–960 MHz. Và chia các băng tần này thành 124 kênh với độ rộng băng thông 25 MHz,mỗi kênh cách nhau 1 khoảng 200 kHz. Khoảng cách song công (đường lên & xuống cho 1 thuêbao) là 45 MHz.Ở một số nước, băng tần chuẩn GSM900 được mở rộng thành E-GSM, nhằm đạt được dải tầnrộng hơn. E-GSM dùng 880–915 MHz cho đường lên và 925–960 MHz cho đường xuống. Nhưvậy, đã thêm được 50 kênh (đánh số 975 đến 1023 và 0) so với băng GSM-900 ban đầu. E-GSMcũng sử dụng công nghệ phân chia theo thời gian TDM (time division multiplexing), cho phéptruyền 8 kênh thoại toàn tốc hay 16 kênh thoại bán tốc trên 1 kênh vô tuyến. Có 8 khe thời giangộp lại gọi là một khung TDMA. Các kênh bán tốc sử dụng các khung luân phiên trong cùng khethời gian. Tốc độ truyền dữ liệu cho cả 8 kênh là 270.833 kbit/s và chu kỳ của một khung là4.615 m.Công suất phát của máy điện thoại được giới hạn tối đa là 2 watt đối với băng GSM 850/900MHz và tối đa là 1 watt đối với băng GSM 1800/1900 MHz.Mã hóa âm thanhGSM sử dụng khá nhiều kiểu mã hóa thoại để nén tần số audio 3,1 kHz vào trong khoảng 6.5 and13 kbit/s. Ban đầu, có 2 kiểu mã hoá là bán tốc (haft rate -5.6 kbps)và toàn tốc (Full Rate -13kbit/s)). Để nén họ sử dụng hệ thống có tên là mã hóa dự đoán tuyến tính (linear predictivecoding - LPC).GSM được cải tiến hơn vào năm 1997 với mã hóa EFR (mã hóa toàn tốc cải tiến -Enhanced FullRate), kênh toàn tốc nén còn 12.2 kbit/s. Sau đó, với sự phát triển của UMTS, EFR được tham sốlại bởi kiểu mã hóa biến tốc, được gọi là AMR-Narrowband.Có tất cả bốn kích thước cell site trong mạng GSM đó là macro, micro, pico và umbrella. Vùngphủ sóng của mỗi cell phụ thuộc nhiều vào môi trường. Macro cell được lắp trên cột cao hoặctrên các toà nhà cao tầng, micro cell lại được lắp ở các khu thành thị, khu dân cư, pico cell thìtầm phủ sóng chỉ khoảng vài chục mét trở lại nó thường được lắp để tiếp sóng trong nhà.Umbrella lắp bổ sung vào các vùng bị che khuất hay các vùng trống giữa các cell.Bán kính phủ sóng của một cell tuỳ thuộc vào độ cao của anten, độ lợi anten thường thì nó có thểtừ vài trăm mét tới vài chục km. Trong thực tế thì khả năng phủ sóng xa nhất của một trạm GSMlà 35 km (22 dặm).Một số khu vực trong nhà mà các anten ngoài trời không thề phủ sóng tới như nhà ga, sân bay,siêu thị... thì người ta sẽ dùng các trạm pico để chuyển tiếp sóng từ các anten ngoài trời vào.[sửa] Lịch sử
    • Vào đầu thập niên 1980 tại châu Âu người ta phát triển một mạng điện thoại di động chỉ sử dụngtrong một vài khu vực. Sau đó vào năm 1982 nó được chuẩn hoá bởi CEPT (EuropeanConference of Postal and Telecommunications Administrations) và tạo ra Groupe SpécialMobile (GSM) với mục đích sử dụng chung cho toàn Châu Âu.Mạng điện thoại di động sử dụng công nghệ GSM được xây dựng và đưa vào sử dụng đầu tiênbởi Radiolinja ở Phần Lan.Vào năm 1989 công việc quản lý tiêu chuẩn vá phát triển mạng GSM được chuyển cho viện viễnthông châu Âu (European Telecommunications Standards Institute - ETSI), và các tiêu chuẩn,đặc tính phase 1 của công nghệ GSM được công bố vào năm 1990. Vào cuối năm 1993 đã cóhơn 1 triệu thuê bao sử dụng mạng GSM của 70 nhà cung cấp dịch vụ trên 48 quốc gia.[sửa] Cấu trúc mạng GSMCấu trúc mạng GSMMột mạng GSM để cung cấp đầy đủ các dịch vụ cho khách hang cho nên nó khá phức tạp vì vậysau đây sẽ chia ra thành các phần như sau: chia theo phân hệ :- Phân hệ chuyển mạch NSS: Network switching SubSystem- Phân hệ vô tuyến RSS = BSS + MS : Radio SubSystem- Phân hệ vận hành và bảo dưỡng OMS : Operation and Maintenance SubSystem BSS Base Station Subsystem= TRAU + BSC + BTS
    • + TRAU : bộ chuyển đổi mã và phối hợp tốc độ + BSC : bộ điều khiển trạm gốc + BTS : trạm thu phát gốc MS: chính là những chiếc di động gồm: ME và SIM + ME Mobile Equipment : phần cứng và phần mềm + SIM : lưu trữ các thông tin về thuê bao và mật mã / giải mật mã.Chức năng của BSC : - điều khiển một số trạm BTS xử lý các bản tin báo hiệu - Khởi tạo kếtnối. - Điều khiển chuyển giao: Intra & Inter BTS HO - Kết nối đến các MSC, BTS và OMCChức năng của BTS : - Thu phát vô tuyến - Ánh xạ kênh logic vào kênh vật lý - Mã hóa và giảimã - Mật mã / giải mật mã - Điều chế / giải điều chế.BSS nối với NSS thông qua luồng PCM cơ sở 2 Mbps Mạng và hệ thống chuyển mạch Network and Switching Subsystem (phần này gần giống với mạng điện thoại cố định). Đôi khi người ta còn gọi nó là mạng lõi (core network). Phần mạng GPRS (GPRS care network) Phần này là một phần lắp thêm để cung cấp dịch vụ truy cập Internet. Và một số phần khác phục vụ việc cung cấp các dịch vụ cho mạng GSM như gọi, hay nhắn tin SMS... Máy điện thoại - Mobile Equipment Thẻ SIM (Subscriber identity module)Modul nhận dạng thuê bao (Subscriber identity module)Một bộ phận quan trọng của mạng GSM là modul nhận dạng thuê bao, còn được gọi là thẻ SIM.SIM là 1 thẻ nhỏ, được gắn vào máy di động, để lưu thông tin thuê bao và danh bạ điện thoại.Các thông tin trên thẻ SIM vẫn được lưu giữ khi đổi máy điện thoại. Người dùng cũng có thểthay đổi nhà cung cấp khác, nếu đổi thẻ SIM. Một số rất ít nhà cung cấp dịch vụ mạng ngăn cảnđiều này bởi việc chỉ cho phép 1 máy dùng 1 SIM hay dùng SIM khác, nhưng do họ sản xuất,được gọi là tình trạng Khóa SIM. Ở Australia, Bắc Mỹ và Châu Âu, một số nhà khai thác mạngviễn thông tiến hành khóa máy di động họ bán. Lý do là giá của các máy này được những nhàcung cấp đó tài trợ, và họ không muốn người dùng mua máy đó để xài cho hãng khác. Ngườidùng cũng có thể liên hệ với nhà sản xuất để đăng ký gỡ bỏ khóa máy. Số được khóa theo máy diđộng là số Nhận dạng máy di động quốc tế IMEI (International Mobile Equipment Identity), chứkhông phải số thuê bao.Một vài nước như Bangladesh, Belgium, Costa Rica, India, Indonesia, Malaysia, và Pakistan tấtcả các máy di động đều được bỏ khóa (Tất nhiên, cả Việt Nam nữa).Dịch vụ vô tuyến gói tổng hợp
    • Bách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới: menu, tìm kiếm Tiêu chuẩn truyền thông di động 3GPP: GSM / UMTS Family 2G GSM GPRS EDGE (EGPRS) o EDGE Evolution HSCSD 3G UMTS (3GSM) HSPA o HSDPA o HSUPA o HSPA+ UMTS-TDD o TD-CDMA o TD-SCDMA FOMA Pre-4G UMTS Revision 8 o LTE o HSOPA (Super 3G) 3GPP2: cdmaOne / CDMA2000 Family 2G cdmaOne 3G CDMA2000 EV-DO Pre-4G
    • UMBCác công nghệ khác0G PTT MTS IMTS AMTS OLT MTD Autotel / PALM ARP1G NMT AMPS / TACS / ETACS Hicap CDPD Mobitex DataTAC2G iDEN D-AMPS PDC CSD PHS WiDENPre-4G iBurst HIPERMAN WiMAX WiBro (Mobile WiMAX) GAN (UMA)Dải tần số
    • Dịch vụ vô tuyến gói tổng hợp (tiếng Anh:General Packet Radio Service (GPRS)) là một SMRdịch vụ dữ liệu di động dạng gói dành cho Cellularnhững người dùng Hệ thống thông tin di động PCStoàn cầu (GSM) và điện thoại di động IS-136.Nó cung cấp dữ liệu ở tốc độ từ 56 đến 114kbps.GPRS có thể được dùng cho những dịch vụ như truy cập Giao thức Ứng dụng Không dây(WAP), Dịch vụ tin nhắn ngắn (SMS), Dịch vụ nhắn tin đa phương tiện (MMS), và với các dịchvụ liên lạc Internet như email và truy cập World Wide Web. Dữ liệu được truyền trên GPRSthường được tính theo từng megabyte đi qua, trong khi dữ liệu liên lạc thông qua chuyển mạchtruyền thống được tính theo từng phút kết nối, bất kể người dùng có thực sự đang sử dụng dunglượng hay đang trong tình trạng chờ. GPRS là một dịch vụ chuyển mạch gói nỗ lực tối đa, tráivới chuyển mạch, trong đó một mức Chất lượng dịch vụ (QoS) được bảo đảm trong suốt quátrình kết nối đối với người dùng cố định.Các hệ thống di động 2G kết hợp với GPRS thường được gọi là "2.5G", có nghĩa là, một côngnghệ trung gian giữa thế hệ điện thoại di động thứ hai (2G) và thứ ba (3G). Nó cung cấp tốc độtruyền tải dữ liệu vừa phải, bằng cách sử dụng các kênh Đa truy cập theo phân chia thời gian(TDMA) đang còn trống, ví dụ, hệ thống GSM. Trước đây đã có suy nghĩ sẽ mở rộng GPRS đểbao trùm những tiêu chuẩn khác, nhưng thay vào đó những mạng đó hiện đang được chuyển đổiđể sử dụng chuẩn GSM, do đó GSM là hình thức mạng duy nhất sử dụng GPRS. GPRS đượctích hợp vào GSM Release 97 và những phiên bản phát hành mới hơn. Ban đầu nó được Việntiêu chuẩn Viễn thông châu Âu (ETSI) đặt tiêu chuẩn, nhưng nay là Dự án Đối tác Thế hệ thứ ba(3GPP).Mục lục[ẩn] 1 Cơ bản o 1.1 Bảng mã 2 Dịch vụ và phần cứng o 2.1 Modem USB GPRS 3 Tính sẵn có 4 Cách cài đặt GPRS tại Việt Nam o 4.1 Miễn phí o 4.2 Mất phí 5 Xem thêm 6 Tham khảo 7 Liên kết ngoài[sửa] Cơ bản
    • Thông thường, dữ liệu GPRS được tính theo kilobyte thông tin truyền nhận, trong khi kết nối dữliệu theo dạng chuyển mạch được tính theo giây. Cách tính sau không phù hợp vì ngay cả khikhông có dữ liệu truyền dẫn, những người dùng tiềm năng khác vẫn không thể tận dụng đượcbăng thông.Phương pháp đa truy cập dùng trong GSM kết hợp GPRS dựa trên song công chia theo tần số(FDD) và đa truy cập theo phân chia thời gian (TDMA). Trong suốt một phiên kết nối, ngườidùng được gán cho một cặp kênh tần số tải lên và tải xuống. Cái này sẽ phối với hợp với ghépkênh thống kê theo miền thời gian, có nghĩa là liên lạc theo chế độ gói tin, điều này sẽ giúp chovài người dùng có thể chia sẻ cùng một kênh tần số. Các gói này có độ dài cố định, tùy theokhoảng thời gian GSM. Tải xuống sử dụng định thời gói theo cơ chế tới trước làm trước (FIFO),trong khi tải lên sử dụng mô hình rất giống với reservation ALOHA. Điều này có nghĩa là slottedAloha (S-ALOHA) được dùng để tham vấn chỗ trống trong bước tranh chấp, và sau đó dữ liệuthật sự được truyền bằng cách sử dụng TDMA động với định thời đến trước làm trước.GPRS ban đầu hỗ trợ (theo lý thuyết) Giao thức Internet (IP), Giao thức điểm-điểm (PPP) và kếtnối X.25. Cái cuối cùng đã được dùng cho các ứng dụng như thiết bị đầu cuối để thanh toánkhông giây, mặc dù nó đã bị bỏ ra khỏi tiêu chuẩn. X.25 vẫn có thể được hỗ trợ trên PPP, haythậm trí IP, nhưng để làm điều này cần phải có một bộ định tuyến (router) để thực hiện việc kếthợp hoặc cơ chế thông tin được tích hợp vào thiết bị đầu cuối như UE(User Equipment). Trênthực tế, khi điện thoại di động có tích hợph trình duyệt được sử dụng, IPv4 đã được tận dụng.Trong chế độ này PPP thường không được nhà sản xuất điện thoại di động hỗ trợ, trong khi IPv6còn chưa phổ biến. Nhưng nếu điện thoại di động được dùng làm modem kết nối với máy tính,PPP được dùng để gắn IP vào điện thoại. Điều này cho phép DHCP gán một địa chỉ IP và sau đósử dụng IPv4 vì địa chỉ IP do thiết bị di động sử dụng thường là địa chỉ động.Loại A Có thể kết nối vào dịch vụ GPRS và dịch vụ GSM (thoại, SMS), cùng lúc cả hai. Những thiết bị như vậy đã có mặt trên thị trường.Loại B Có thể kết nối vào dịch vụ GPRS và dịch vụ GSM (thoại, SMS), nhưng chỉ dùng một trong hai dịch vụ vào một thời điểm. Trong khi dùng dịch vụ GSM, dịch vụ GPRS bị nguenh, bsg sau đó sẽ tự động được tiếp tục sau khi dịch GSM kết thúc. Phần lớn thiết bị di động GPRS thuộc Loại B.Loại C Được kết nối với hoặc dịch vụ GPRS hoặc dịch vụ GSM (thoại, SMS). Phải được chuyển bằng tay giữa hai dịch vụ.Một thiết bị Loại A đúng nghĩa có thể cần phải truyền tải trên hai tấn số khác nhau cùng một lúc,và do đó sẽ cần hai sóng vô tuyến. Để tránh yêu cầu quá tốn kém này, một thiết bị di động GPRScó thể hiện thực tính năng chế độ truyền tải kép (DTM). Một điện thoại tương thích DTM có thểdùng đồng thời thoại và dữ liệu dạng gói, cùng với sự hỗ trợ từ mạng để đảm bảo rằng khôngnhất thiết phải truyền tải trên hai tần số khác nhau cùng một lúc. Những điện thoại như vậy đượcxem là Loại A "giả", đôi khi còn được gọi là "loại A đơn giản". Bộ giao thức TCP/IP
    • Tầng ứng dụngBGP · DHCP · DNS · FTP · GTP · HTTP · IMAP ·IRC · Megaco · MGCP · NNTP · NTP · POP · RIP · RPC · RTP · RTSP · SDP · SIP · SMTP · SNMP · SOAP · SSH · Telnet · TLS/SSL · XMPP · Tầng giao vận TCP · UDP · DCCP · SCTP · RSVP · ECN · Tầng mạngIP (IPv4, IPv6) · ICMP · ICMPv6 · IGMP · IPsec · Tầng truy nhập mạng ARP · RARP · NDP · OSPF · Tunnels (L2TP) · PPP · Media Access Control (Ethernet, MPLS, DSL, ISDN, FDDI) · Device Drivers · Hộp này: xem • thảo luận • sửaGPRS là một công nghệ mới mà tốc độ của nó phụ thuộc trực tiếp vào số khoảng thời gianTDMA được cung cấp, nó sẽ nhỏ dần tùy vào (a) điện thoại đó hỗ trợ đến đâu và (b) khả năng tốiđa của điện thoại di động, được gọi là GPRS Multislot Class.[sửa] Bảng mã Dạng Tốc độ mã (kbit/s) CS-1 8,0 CS-2 12,0 CS-3 14,4 CS-4 20,0Tốc độ truyền tải cũng phụ thuộc vào kênh mã hóa đang dùng. Bộ mã ít mạnh nhất, nhưng nhanhnhất (CS-4) được sử dụng gần một trạm truyền nhận cơ sở (BTS), trong khi bộ mã mạnh nhất(CS-1) được dùng khi trạm di động cách quá xa BTS.Sử dụng CS-4 có thể đạt được tốc độ người dùng là 20,0 kbit/s trên một khoản thời gian. Tuynhiên, sử dụng bộ mã này độ bao phủ di động chỉ bằng 25% bình thường. CS-1 có thể đạt đượctốc độ người dùng chỉ 8,0 kbit/s trên một khoản thời gian, nhưng có 98% độ bao phủ thôngthường. Thiết bị mạng mới hơn có thể tự động thay đổi tốc độ truyền dẫn tùy vào vị trí của điệnthoại.
    • Giống như CSD, HSCSD cũng hình thành mạch và thường được tính theo phút. Đối với một ứngdụng như tải xuống, HSCSD có thể được ưa thích hơn, vì dữ liệu chuyển mạch thường được ưutiên hơn là dữ liệu chuyển mạch gói trên mạng di động, và có chỉ có khoảng vài giây là không códữ liệu nào được truyền tải. Công nghệ Tải xuống (kbit/s) Tải lên (kbit/s) Cấu hình CSD 9,6 9,6 1+1 HSCSD 28,8 14,4 2+1 HSCSD 43,2 14,4 3+1 GPRS 80,0 20,0 (Loại 8 & 10 và CS-4) 4+1 GPRS 60,0 40,0 (Loại 10 và CS-4) 3+2 EGPRS (EDGE) 236.8 59.2 (Loại 8, 10 và MCS-9) 4+1 EGPRS (EDGE) 177.6 118.4 (Loại 10 và MCS-9) 3+2GPRS dựa theo gói. Khi TCP/IP được dùng, mỗi điện thoại có thể có một hoặc nhiều địa chỉ IPđược thiết lập. GPRS sẽ lưu trữ và chuyển các gói IP đến điện thoại khi đổi điện thoại (khi bạnchuyển sang sử dụng điện thoại khác). Thời gian ngưng do nhiễu vô tuyến có thể được TCP diễndịch thành mất mát gói tin, và gây ra tình trạng thắt cổ chai tạm thời đối với tốc độ truyền tải.[sửa] Dịch vụ và phần cứngDịch vụ dữ liệu GSM nâng cấp lên GPRS cung cấp: Dịch vụ nhắn tin đa phương tiện (MMS) Push to talk trên điện thoại PoC / PTT Nhắn tin nhanh và Presence -- Làng không dây Ứng dụng Internet dành cho Thiết bị thông minh thông qua Giao thức Ứng dụng Không dây (WAP) Dịch vụ Điểm-điểm (PTP): làm việc thông qua internet (giao thức IP) Dịch vụ tin nhắn ngắn (SMS) Khả năng tăng cường trong tương lai: dễ thêm các chứng năng mới, như có dung lượng cao hơn, nhiều người dùng hơn, các truy cập mới, các giao thức mới, các mạng vô tuyến mới.[sửa] Modem USB GPRSCác modem USB GPRS sử dụng giao diện tương tự như thiết bị đầu cuối USB 2.0 về sau, địnhdạng dữ liệu V.42bis, và RFC 1144 và ăng-ten gắn ngoài. Modem có thể được gắn vào cạc (dànhcho laptop) hoặc thiết bị USB gắn ngoài tương tự như chuột máy tính về hình dạng và kíchthước.GPRS có thể được dùng như sóng mang SMS. Nếu SMS trên GPRS được dùng, tốc độ truyền tảiSMS có thể đạt đến 30 tin nhắn SMS một phút. Tốc độ nhanh hơn nhiều so với SMS thôngthường trên GSM, khi đó tốc độ truyền tải SMS chỉ khoảng 6 đến 10 tin SMS một phút
    • [sửa] Tính sẵn cóỞ nhiều khu vực, như Pháp, nhà điều hành điện thoại đã tính cước HPRS khá rẻ (so với truyềndữ liệu GSM trước đây, CSD và HSCSD). Một vài nhà cung cấp điện thoại di dộng đề nghị mộtmức giá cố định khi truy cập Internet, trong khi một số khác tính tiền dựa theo dữ liệu truyềnnhận, thường tính tròn theo 100 kilobyte.Trong thời hoàng kim của GPRS ở những nước phát triển, khoảng năm 2005, giá chuẩn thay đổitừ €0,24 mỗi megabyte đến hơn €20 mỗi megabyte. Ở những nước đang phát triển, giá cả chênhlệch nhiều, và thay đổi thường xuyên. Một số nhà cung cấp mạng cho truy cập miễn phí trongkhi họ đã quyết định mức giá, như Togocel.tg ở Togo, Tây Phi, một số khá tính giá quá cao, nhưTigo của Ghana tới một dollar Mỹ một megabyte hay Indonesia là $3 một megabyte. MeroMobile của Nepal tính tiền người dùng tới lượng trần, sau đó miễn phí. Vào năm 2008, truy cậpdữ liệu ở Canada vẫn khá mắc. Ví dụ, Fido tính $0.05 một kilobyte, hoặc $50 một megabyte.[1]Thẻ SIM trả trước cho phép khác du lịch mua truy cập Internet trong thời hạn ngắn.Tốc độ tối đa của kết nối GPRS trong năm 2003 tương đương với kết nối modem trong mạngđiện thoại tương tự có dây, khoảng 32 đến 40 kbit/s, tùy vào điện thoại sử dụng. Độ trễ là rất cao;một ping đi vòng mất khoảng 600 đến 700 ms và thường đạt đến 1s. GPRS nói chung có độ ưutiên thấp hơn thoại, và do đó chất lượng kết nối cũng thay đổi lớn.Để thiết lập một kết nối GPRS cho một modem không dây, người dùng phải xác định một APN,có thể là tên người dùng và mật khẩu, và rất hiếm, địa chỉ IP, tất cả đều do nhà cung cấp dịch vụcung cấp.Các thiết bị được cải tiến ngầm/RTT (như thông qua tính năng chế độ UL TBF mở rộng) hiện đãxuất hiện rộng rãi. Tương tự, sự nâng cấp các tính năng mạng đã có một vài nhà cung cấp. Vớinhững sự cải tiến này thời gian đi vòng có thể giảm xuống, dẫn đến tăng đáng kể tốc độ truyềndẫn ở mức ứng dụng.[sửa] Cách cài đặt GPRS tại Việt Nam[sửa] Miễn phí Thuê bao Mobifone: 1. Soạn tin "DK" gửi 994 để đăng ký với mạng mobifone. 2. Soạn tin "GPRS TênmáyĐờimáy" gửi 994. Mạng sẽ gửi về 2 tin nhắn, tin đầu tiên cho số PIN 1234, tin sau gửi cấu hình cài đặt.Ấn SAVE (hoặc LƯU) để lưu cấu hình.Nội dung bản tin nằm giữa hai dấu ngoặc kép ở trên.
    • [sửa] Mất phíEDGEBách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới: menu, tìm kiếm Tiêu chuẩn truyền thông di động 3GPP: GSM / UMTS Family 2G GSM GPRS EDGE (EGPRS) o EDGE Evolution HSCSD 3G UMTS (3GSM) HSPA o HSDPA o HSUPA o HSPA+ UMTS-TDD o TD-CDMA o TD-SCDMA FOMA Pre-4G UMTS Revision 8 o LTE o HSOPA (Super 3G) 3GPP2: cdmaOne / CDMA2000 Family 2G cdmaOne 3G
    • CDMA2000 EV-DOPre-4G UMBCác công nghệ khác0G PTT MTS IMTS AMTS OLT MTD Autotel / PALM ARP1G NMT AMPS / TACS / ETACS Hicap CDPD Mobitex DataTAC2G iDEN D-AMPS PDC CSD PHS WiDENPre-4G iBurst HIPERMAN WiMAX WiBro (Mobile WiMAX)
    • EDGE (Enhanced Data Rates for GSM GAN (UMA)Evolution), đôi khi còn gọi là EnhancedGPRS (EGPRS), là một công nghệ di động Dải tần sốđược nâng cấp từ GPRS cho phép truyền dữliệu với tốc độ có thể lên đến 384 kbit/s chongười dùng cố định hoặc di chuyển chậm và SMR144kbit/s cho người dùng di chuyển tốc độ cao. CellularTrên đường tiến đến 3G, EDGE được biết đến PCSnhư một công nghệ 2.75G. Thực tế bên cạnhđiều chế GMSK, EDGE dùng phương thứcđiều chế 8-PSK để tăng tốc độ dữ liệu truyền. Chính vì thế, để triển khai EDGE, các nhà cungcấp mạng phải thay đổi trạm phát sóng BTS cũng như là thiết bị di động so với mạng GPRS.[sửa] Đặc điểmEDGE cung cấp cho chúng ta một dung lượng dữ liệu gấp 3 lần GPRS. Khi sử dụng EDGE nhàđiều hành có thể quản lý được hơn gấp 3 lần số thuê bao đối với GPRS, và gấp 3 lần giá trị dữliệu trên một thuê bao, thêm một dung lượng đáng kể cho truyền thông thoại. EDGE sử dụng cấutrúc khung dữ liệu, kênh lô-gic,và băng thông sóng mang 200kHz giống như TDMA (Xử-lý-nhân-chia-thời-gian) dùng trong mạng GSM hiện nay, cho phép nó phủ sóng trực tiếp trên nềnGSM hiện có. Đối với một số mạng GSM/GPRS hiện nay, EDGE thực chất chỉ là một sự nângcấp phần mềm.EDGE cho phép truyền tải các dịch vụ di động tiên tiến như tải video, clip nhạc, tin nhắn đaphương tiện hoàn hảo, truy cập internet, e-mail di động tốc độ cao.Đa truy cập phân chia theo mãBách khoa toàn thư mở Wikipedia(đổi hướng từ CDMA)Bước tới: menu, tìm kiếmCDMA (viết đầy đủ là Code Division Multiple Access) nghĩa là đa truy nhập (đa người dùng)phân chia theo mã. Khác với GSM phân phối tần số thành những kênh nhỏ, rồi chia sẻ thời giancác kênh ấy cho người sử dụng. Trong khi đó thuê bao của mạng di động CDMA chia sẻ cùngmột giải tần chung. Mọi khách hàng có thể nói đồng thời và tín hiệu được phát đi trên cùng mộtgiải tần. Các kênh thuê bao được tách biệt bằng cách sử dụng mã ngẫu nhiên. Các tín hiệu củanhiều thuê bao khác nhau sẽ được mã hoá bằng các mã ngẫu nhiên khác nhau, sau đó được trộnlẫn và phát đi trên cùng một giải tần chung và chỉ được phục hồi duy nhất ở thiết bị thuê bao(máy điện thoại di động) với mã ngẫu nhiên tương ứng. Áp dụng lý thuyết truyền thông trải phổ,CDMA đưa ra hàng loạt các ưu điểm mà nhiều công nghệ khác chưa thể đạt được.Mục lục
    • [ẩn] 1 Ứng dụng 2 Ưu điểm o 2.1 Sử dụng bộ mã hóa ưu việt o 2.2 Chuyển giao mềm o 2.3 Điều khiển công suất 3 Liên kết ngoài[sửa] Ứng dụngHiện nay ở Việt Nam có 7 nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động. Trong đó, S-Telecom (S-Fone), EVN Telecom sử dụng công nghệ CDMA, Mobifone, Vinaphone, GTel và Vietel sử dụngcông nghệ GSM, Hà Nội Telecom(HT Mobile) chuyển từ công nghệ CDMA sang eGSM.Mạng sử dụng chuẩn GSM đang chiếm gần 50% số người dùng điện thoại di động trên toàn cầu.TDMA ngoài chuẩn GSM còn có một chuẩn khác nữa, hiện được sử dụng chủ yếu ở Mỹ Latin,Canada, Đông Á, Đông Âu. Còn công nghệ CDMA đang được sử dụng nhiều ở Mỹ, Hàn Quốc...Công nghệ đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA là công nghệ truyền sóng kỹ thuật số,cho phép một số người dùng truy nhập vào cùng một kênh tần số mà không bị kẹt bằng cáchđịnh vị những rãnh thời gian duy nhất cho mỗi người dùng trong mỗi kênh. Công nghệ này đòihỏi vốn đầu tư ban đầu ít tốn kém hơn CDMA. Còn công nghệ đa truy nhập phân chia theo mãCDMA là công nghệ trải phổ cho phép nhiều tần số được sử dụng đồng thời; mã hóa từng gói tínhiệu số bằng một mã khóa duy nhất và gửi đi. Bộ nhận CDMA chỉ biết nhận và giải mã. Côngnghệ này có tính bảo mật tín hiệu cao hơn TDMA. Theo các chuyên gia CNTT Việt Nam, xét ởgóc độ bảo mật thông tin, CDMA có tính năng ưu việt hơn.[sửa] Ưu điểm[sửa] Sử dụng bộ mã hóa ưu việtNhờ hệ thống kích hoạt thoại, hiệu suất tái sử dụng tần số trải phổ cao và điều khiển năng lượng,nên nó cho phép quản lý số lượng thuê bao cao gấp 5-20 lần so với công nghệ GSM. Áp dụng kỹthuật mã hóa thoại mới, CDMA nâng chất lượng thoại lên gần bằng với hệ thống điện thoại hữutuyến.[sửa] Chuyển giao mềmĐối với điện thoại di động, để đảm bảo tính di động, các trạm phát phải được đặt rải rác khắpnơi. Mỗi trạm sẽ phủ sóng một vùng nhất định và chịu trách nhiệm với các thuê bao trong vùngđó. Với CDMA, ở vùng chuyển giao, thuê bao có thể liên lạc với 2 hoặc 3 trạm thu phát cùngmột lúc, do đó cuộc gọi không bị ngắt quãng, làm giảm đáng kể xác suất rớt cuộc gọi.[sửa] Điều khiển công suất
    • Một ưu điểm khác nữa của CDMA là nhờ sử dụng các thuật toán điều khiển nhanh và chính xác,thuê bao chỉ phát ở mức công suất vừa đủ để đảm bảo chất lượng tín hiệu, giúp tăng tuổi thọ củapin, thời gian chờ và đàm thoại. Máy điện thoại di động CDMA cũng có thể sử dụng pin nhỏhơn, nên trọng lượng máy nhẹ, kích thước gọn và dễ sử dụng.Trong thông tin di động, thuê bao di động di chuyển khắp nơi với nhiều tốc độ khác nhau, vì thếtín hiệu phát ra có thể bị sụt giảm một cách ngẫu nhiên. Để bù cho sự sụt giảm này, hệ thốngphải điều khiển cho thuê bao tăng mức công suất phát. Các hệ thống analog và GSM hiện nay cókhả năng điều khiển chậm và đơn giản, thuê bao không thể thay đổi mức công suất đủ nhanh, dođó phải luôn luôn phát ở công suất cao hơn vài dB so với mức cần thiết. Tuy nhiên, để sử dụngmạng điện thoại di động CDMA, người dùng phải trang bị thiết bị đầu cuối phù hợp với côngnghệ của mạng. Chi phí cho thiết bị đầu cuối CDMA hiện nay khoảng 200-1.000 USD tùy côngnăng của máy, trong tương lai giá sẽ thấp hơn. Trong vấn đề bảo mật, CDMA cung cấp chế độbảo mật cao nhờ sử dụng tín hiệu trải băng phổ rộng. Các tín hiệu băng rộng khó bị rò ra vì nóxuất hiện ở mức nhiễu, những người có ý định nghe trộm sẽ chỉ nghe được những tín hiệu vônghĩa. Ngoài ra, với tốc độ truyền nhanh hơn các công nghệ hiện có, nhà cung cấp dịch vụ có thểtriển khai nhiều tùy chọn dịch vụ như thoại, thoại và dữ liệu, fax, Internet...Không chỉ ứng dụng trong hệ thống thông tin di động, CDMA còn thích hợp sử dụng trong việccung cấp dịch vụ điện thoại vô tuyến cố định với chất lượng ngang bằng với hệ thống hữu tuyến,nhờ áp dụng kỹ thuật mã hóa mới. Đặc biệt các hệ thống này có thể triển khai và mở rộng nhanhvà chi phí hiện thấp hơn hầu hết các mạng hữu tuyến khác, vì đòi hỏi ít trạm thu phát.Tuy nhiên, những máy điện thoại di động đang sử dụng chuẩn GSM hiện nay không thể sử dụngchuẩn CDMA. Nếu tiếp tục phát triển GSM, hệ thống thông tin di động này sẽ phải phát triển lênWCDMA mới đáp ứng được nhu cầu truy cập di động các loại thông tin từ mạng Internet với tốcđộ cao, thay vì với tốc độ 9.600 bit/giây như hiện nay, và so với tốc độ 144.000 bit/giây củaCDMAHệ thống viễn thông di động toàn cầuBách khoa toàn thư mở Wikipedia(đổi hướng từ UMTS)Bước tới: menu, tìm kiếm Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. Nếu không, những câu hay đoạn văn không có chú giải nguồn gốc có thể bị thay thế hoặc xóa đi bất cứ lúc nào.Hệ thống viễn thông di động toàn cầu (UMTS) là 1 trong các công nghệ di động 3G. UMTSdựa trên nền tảng CDMA băng rộng (WCDMA), được chuẩn hóa bởi Tổ chức các đối tác pháttriển 3G (3GPP), và là lời đáp của Châu Âu cho yêu cầu phát triển 3G đối với hệ thống di độngtổ ong của tổ chức ITU IMT2000. UMTS đôi khi còn được gọi là 3GSM, để chỉ sự kết hợp vềbản chất công nghệ 3G của UMTS và chuẩn GSM truyền thống.
    • Mục lục[ẩn] 1 Lịch sử 2 Đặc trưng 3 Công nghệ 4 Kiến trúc mạng UMTS[sửa] Lịch sửNgay từ đầu những năm 90 của thế kỷ 20, Hiệp hội Tiêu chuẩn Viễn thông châu Âu (ETSI) đãbắt đầu trưng cầu phương án kỹ thuật của tiêu chuẩn3G và “vội vàng” gọi chung kỹ thuật 3G làUMTS (Universal Mobile Telecommunications Systems) có nghĩa là các hệ thống thông tin diđộng đa năng. CDMA băng rộng (WCDMA) chỉ là một trong các phương án được khuyến nghị(băng rộng lên tới 5MHz).Sau đó sự tham gia tích cực của Nhật Bản vào việc xây dựng các tiêu chuẩn này đã thúc đẩynhanh chóng sự phát triển của công nghệ3G trên phạm vi toàn cầu. Năm 1998, châu Âu và Nhậtđạt được sự nhất trí về những tham số chủ chốt của Khuyến nghị CDMA băng rộng và đưa nó trởthành phương án kỹ thuật dùng giao diện không gian FDD (ghép tần số song công - FrequencyDivision Duplex) trong hệ thống UMTS. Và từ đó phương án kỹ thuật này được gọi là WCDMAđể nêu rõ sự khác biệt với tiêu chuẩn CDMA băng hẹp của Mỹ (băng rộng chỉ có 1,25 MHz).Tiếp tục phát triển một cách logic, UMTS trở thành một trong những tiêu chuẩn 3G của tổ chứctiêu chuẩn hoá thế giới 3GPP (Tổ chức những người bạn hợp tác về 3G) và không chỉ định nghĩagiao diện không gian; chủ thể của nó bao gồm các khuyến nghị về các giao diện và một loạt cácquy phạm kỹ thuật về các mạch kết nối và mạch phân nhóm nòng cốt củaCDMA.UMTS là viết tắt của Universal Mobile Telecommunication System. UMTS là mạng di động thếhệ thứ 3 (3G) sử dụng kỹ thuật trãi phổ W(wideband)-CDMA. UMTS được chuẩn hóa bởi tổchức 3GPP. UMTS đôi khi còn được gọi là 3GSM để chỉ khả năng "interoperability" giữa GSMvà UMTS. UMTS được phát triển lên từ các nước sử dụng GSM. UMTS sử dụng băng tầng khácvới GSM.[sửa] Đặc trưngUMTS, dùng công nghệ CDMA băng rộng WCDMA, hỗ trợ tốc độ truyền dữ liệu lên đến21Mbps (về lý thuyết, với chuẩn HSPDA). Thực tế, hiện nay, tại đường xuống, tốc độ này chỉ cóthể đạt 384 kbps (với máy di động hỗ trợ chuẩn R99), hay 7.2Mbps (với máy di động hỗ trợHSPDA). Dù sao, tốc độ này cũng lớn hơn khá nhiều so với tốc độ 9.6kbps của 1 đơn kênh GSMhay 9.6kbps của đa kênh trong HSCSD (14.4 kbit/s của CDMAOne) và một số công nghệ mạngkhác.
    • Nếu như thế hệ 2G của mạng tổ ong là GSM, thì GPRS được xem là thế hệ 2.5G. GPRS, dùngchuyển mạch gói, khác so với chuyển mạch kênh (dành kênh riêng) của GSM, hỗ trợ tốc độ dữliệu cao hơn (lý thuyết đạt: 140.8 kbit/s, thực tế, khoảng 56 kbit/s). E-GPRS hay EGDE, đượcxem là thế hệ 2.75G, là sự cải tiến về thuật toán mã hóa. GPRS dùng 4 mức mã hóa (codingschemes; CS-1 to 4), trong khi EDGE dùng 9 mức mã hóa và điều chế (Modulation and CodingSchemes; MCS-1 to 9). Tốc độ truyền dữ liệu thực của EDGE đạt tới 180 kbit/s.Từ năm 2006, mạng UMTS được nhiều quốc gia nâng cấp lên, với chuẩn HSPDA, được xemnhư mạng 3.5G. Hiện giờ, HSPDA cho phép tốc độ truyền đường xuống đạt 21Mbps. Dài hơihơn, một nhánh của tổ chức 3GPP lên kế hoạch phát triển mạng 4G, với tốc độ 100 Mbit/s đườngxuống và 50 Mbit/s đường lên, dùng công nghệ giao diện vô tuyến dựa trên Ghép kênh tần sốtrực giao.Mạng UMTS đầu tiên triển khai năm 2002 nhấn mạnh tới các ứng dụng di động như: TV di độnghay thoại Video. Tuy nhiên, kinh nghiệm triển khai ở Nhật và một số nước khác cho thấy rằng,nhu cầu người dùng với thoại Video là không cao. Hiện tại, tốc độ truyền dữ liệu cao của UMTSthường dành để truy cập Internet.[sửa] Công nghệMột bộ phát của UMTS đặt trên nóc tòa nhàUMTS kết hợp giao diện vô tuyến WCDMA, TD-CDMA, hay TD-SCDMA, lõi Phía ứng dụngdi động của GSM (MAP), và các chuẩn mã hóa thoại của GSM.UMTS (W-CDMA) dùng các cặp kênh 5Mhz trong kỹ thuật truyền dẫn UTRA/FDD. Ban đầu,băng tần ấn định cho UMTS là 1885–2025 MHz với đường lên (uplink) và 2110–2200 MHz chođường xuống (downlink). Ở Mỹ, băng tần thay thế là 1710–1755 MHz (uplink) và 2110–2155MHz (downlink), do băng tần 1900MHz đã dùng.
    • UMTS là một mạng RAN (mạng truy nhập vô tuyến) thay vì GERAN như của GSM/EGDE.UMTS và GERAN có thể dùng chung mạng lõi CN, và cho phép chuyển mạch thông suốt giữacác RAN nếu cần. Mạng lõi CN có thể kết nối đến nhiều mạng đường trục khác nhau như củaInternet và ISDN. UMTS (cũng như GERAN) gồm 3 lớp thấp nhất của mô hình truyền thôngOSI. Lớp mạng (OSI 3) gồm giao thức Quản lý tài nguyên vô tuyến RRM, quản lý các kênh sóngmang (bearer channels) giữa máy di động và mạng.[sửa] Kiến trúc mạng UMTS Bài chi tiết: Kiến trúc hệ thống viễn thông di động toàn cầuKiến trúc mạng UMTSKiến trúc hệ thống viễn thông di động toàncầuBách khoa toàn thư mở WikipediaBước tới: menu, tìm kiếm Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. Nếu không, những câu hay đoạn văn không có chú giải nguồn gốc có thể bị thay thế hoặc xóa đi bất cứ lúc nào. Bài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và văn phong Wikipedia. Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp khác.Hệ thống viễn thông di động toàn cầu là 1 trong số các chuẩn di động 3G, phát triển lên từEGDE 2.75G; GPRS 2.5G và mạng tổ ong GSM 2G
    • [sửa] Kiến trúc UMTSKiến trúc mạng UMTSNhư hình vẽ thể hiện, Mạng UMTS bao gồm 2 phần, phần truy nhập vô tuyến (UMTS TerrestrialRadio Access Network- UTRAN) và phần mạng lõi (core). Phần truy nhập vô tuyến bao gồmNode B và RNC. Còn phần core thì có core cho data bao gồm SGSN, GGSN; Phần core chovoice thì có MCS và GMSC.•Node B: Chức năng chính của Node B là xử lý lớp vật lý (L1) ở giao diện vô tuyến như mã hóakênh, đan xen, trải phổ, điều chế... Nó cũng thực hiện một chức năng tài nguyên vô tuyến nhưđiều khiển công suất vòng trong,...•RNC: Trong trường hợp Node B chỉ có một kết nối với mạng thì RNC chịu trách nhiệm điềukhiển Node B được gọi là CRNC. Ngược lại, khi Node B có hơn một kết nối mạng thì các RNCđược chia thành hai loại khác nhau theo vai trò logic của chúng.- RNC phục vụ (Serving RNC): Đây là RNC kết nối cả đường lưu lượng và báo hiệu RANAP vớimạng lõi.SRNC cũng kết cuối báo hiệu điều khiển tài nguyên vô tuyến giữa UE và UTRAN, xửlý số liệu lớp 2 (L2) từ/tới giao diện vô tuyến. SRNC của Node B này cũng có thể là CRNC củamột Node B khác.- RNC trôi (Drift RNC): Đây là RNC bất kỳ khác với SRNC, để điều khiển các ô được MS sửdụng. Khi cần, DRNC có thể thực hiện kết hợp và phân chia ở phân tập vĩ mô. DRNC khôngthực hiện xử lý ở lớp 2 đối số liệu từ/tới giao diện vô tuyến mà chỉ định tuyến số liệu một cáchtrong suốt giữa các giao diện Iub và Iur. MộtUE có thể không có hoặc có một hay nhiều DRNC.
    • [sửa] Các Giao diện trong mạng: Giao diện IubGiao diện Iub là một giao diện quan trọng nhất trong số các giao diện của hệ thống mạng UMTS.Sở dĩ như vậy là do tất cả các lưu lượng thoại và số liệu đều được truyền tải qua giao diện này,cho nên giao diện này trở thành nhân tố ràng buộc bậc nhất đối với nhà cung cấp thiết bị đồngthời việc định cỡ giao diện này mang ý nghĩa rất quan trọng. Đặc điểm của giao diện vật lý đốivới BTS dẫn đến dung lượng Iub với BTS có một giá trị quy định. Thông thường để kết nối vớiBTS ta có thể sử dụng luồng E1, E3 hoặc STM1 nếu không có thể sử dụng luồng T1, DS-3 hoặcOC-3. Như vậy, dung lượng của các đường truyền dẫn nối đến RNC có thể cao hơn tổng tải củagiao diện Iub tại RNC.Chẳng hạn nếu ta cần đấu nối 100BTS với dung lượng Iub của mỗiBTS là2,5 Mbps, biết rằng cấu hình cho mỗi BTS hai luồng 2 Mbps và tổng dung lượng khả dụng củagiao diện Iub sẽ là 100 x 2 x 2 = 400 Mbps. Tuy nhiên tổng tải của giao diện Iub tại RNC vẫn là250 Mbps chứ không phải là 400 Mbps. Giao diện IurTa có thể thấy rõ vị trí của giao diện Iur trong cấu hình của phần tử của mạng UMTS. Giao diệnIur mang thông tin của các thuê bao thực hiện chuyển giao mềm giữa hai Node B ở các RNCkhác nhau. Tương tự như giao diện Iub, độ rộng băng của giao diện Iur gần bằng hai lần lưulượng do việc chuyển giao mềm giữa hai RNC gây ra. Giao diện IuGiao diện Iu là giao diện kết nối giữa mạng lõi CN và mạng truy nhập vô tuyến UTRAN. Giaodiện này gồm hai thành phần chính là:• Giao diện Iu-CS: Giao diện này chủ yếu là truyền tải lưu lượng thoại giữa RNC và MSC/VLR.Việc định cỡ giao diện Iu-CS phụ thuộc vào lưu lượng dữ liệu chuyển mạch kênh mà chủ yếu làlượng tiếng.• Giao diện Iu-PS: Là giao diện giữa RNC và SGSN. Định cỡ giao diện này phụ thuộc vào lưulượng dữ liệu chuyển mạch gói. Việc định cỡ giao diện này phức tạp hơn nhiều so với giao diệnIub vì có nhiều dịch vụ dữ liệu gói với tốc độ khác nhau truyền trên giao diện này. Giao diện UuĐây là giao diện không dây (duy nhất) của mạng UMTS. Tất cả giao diện khác đều có dây dẫnhết. Liên lạc trên giao diện này dựa vào kỹ thuật FDD/TDD WCDMA. Thật ra, nếu nhìn trêntổng thể kiến trúc mạng UMTS ta sẽ thấy là "nút cổ chai" của mạng UMTS chính là ở capacitycủa giao diện Uu này. Nó sẽ giới hạn tốc độ truyền thông tin của mạng UMTS. Nếu ta có thểtăng tốc độ data rate của giao diện này thì ta có thể tăng tốc độ của mạng UMTS. Thế hệ tiếptheo của UMTS đã sử dụng OFDMA kết hợp MIMO thay vì WCDMA để tăng tốc độ....
    • [sửa] Lõi mạng Core NetworkBác nào chèn hộ hình từ nguồn này cái. Thanks.Tập tin:Http://i119.photobucket.com/albums/o140/nvqthinh/umts arch.pngTrong phần mạng lõi (core) có 2 phần, mạng lõi data (gồm 2 thực thể chính là SGSN và GGSN)và mạng lõi cho voice (gồm GMSC và MSC). Ngoài 4 thực thể vừa nêu, chúng ta còn có cácthành phần khác như là HLR (HSS), VLR, AuC, EiR, BG. Vài trò, và các chức năng chính củatừng thành phần sẽ được miêu tả ngắn gọn trong bài viết này. SGSN = Serving GPRS Support Node. Trong mạng lõi GPRS của 1 operator có nhiều SGSN chứ không phải chỉ có 1. Mỗi SGSN kết nối trực tiếp với 1 số RNC. Mỗi RNC lại quản lý 1 số Node B, và mỗi node-B sẽ có một số UE đang nối kết. SGSN quản lý tất cả các UE đang sử dụng dịch vụ data trong vùng của nó. Vài trò của SGSN là- Authenticate (xác minh) các UE đang dùng dịch vụ data nối kết với nó- Quản lý việc đăng ký của 1 UE vào mạng GPRS (data)- Quản lý quá trình di động của UE. Cụ thể là SGSN phải biết là UE hiện đang nối kết với thằngNode-B nào tại một thời điểm. Tùy theo UE đang ở mode active (đang liên lạc) hay idle (khôngliên lạc) mà độ chính xác của thông tin liên quan đến vị trí UE sẽ khác nhau. SGSN sẽ phải quảnlý và theo dõi sự thay đổi vị trí (location area identity/ routing area identity) của UE theo thờigian.- Tạo dựng, duy trì và giải phóng các "PDP context" (các thông tin liên quan đến connection củaUE mà nó cho phép/qui định việc gửi và nhận thông tin của UE)- Nhận và chuyển thông tin từ ngoài mạng data (Internet chẳng hạn) đến UE và ngược lại.- Quản lý việc tính tiền (billing) đối với các UE- Tìm và đánh thức idle UE khi có cuộc gọi tìm đến UE (paging)- etc... GGSN= Gateway GPRS Support Node . Như đúng tên gọi của nó, nó là một cái gateway giữa mạng GPRS/UMTS và các mạng ở ngoài (external network, như Internet chẳng hạn, các mạng GPRS khác). Vài trò của nó- Nhận và chuyển thông tin từ UE gửi ra ngoài mạng external và ngược lại từ ngoài đến UE.Packet thông tin từ SGSN gửi đến GGSN sẽ được "decapsulate" trước khi gửi ra ngoài vì thôngtin truyền giữa SGSN và GGSN là truyền trên GTP tunnel.
    • - Nếu thông tin từ ngoài đến GGSN để gửi đến một UE trong khi chưa tồn tại PDP context, thìGGSN sẽ yêu cầu SGSN thực hiện paging và sau đó sẽ thực hiện quá trình PDP context đểchuyển cuộc gọi đến UE.- Trong suốt quá trình liên lạc thông qua nối kết mạng UMTS, UE sẽ chỉ connect với 1 GGSN(mà GGSN đó nối kết với dịch vụ mà UE đang dùng). Dù có di chuyển đi đâu đi nữa, GGSN vẫnkhông đổi. Dĩ nhiên là SGSN, RNC và Node-B sẽ thay đổi. GGSN cũng tham gia vào quản lýquá trình di động của UE.SGSN và GGSN đều có 1 địa chỉ IP cố định (có thể là private IP).4G, hay 4-G, viết tắt của fourth-generation, là công nghệ truyền thông không dây thứ tư, chophép truyền tải dữ liệu với tốc độ tối đa trong điều kiện lý tưởng lên tới 1 cho đến 1,5Gb/giây. Tên gọi 4G do IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers) đặt ra để diễnđạt ý nghĩa "3G và hơn nữa" 4G còn được hiểu như là ngôn ngữ sử dụng thứ tư trong công nghệ vi tính. Công nghệ 4G được hiểu là chuẩn tương lai của các thiết bị không dây. Các nghiên cứu đầu tiên của NTT DoCoMo cho biết, điện thoại 4G có thể nhận dữ liệu với tốc độ 100 Megabyte/giây khi di chuyển và tới 1 Gb/giây khi đứng yên, cho phép người sử dụng có thể tải và truyền lên hình ảnh động chất lượng cao. Mạng điện thoại 3G hiện tại của DoCoMo có tốc độ tải là 384 kilobyte/giây và truyền dữ liệu lên với tốc độ 129 kilobyte/giây. NTT DoCoMo hy vọng đến năm 2010 sẽ có thể đưa mạng 4G vào kinh doanh. WiMAX (viết tắt của Worldwide Interoperability for Microwave Access) là tiêu chuẩn IEEE 802.16 cho việc kết nối Internet băng thông rộng không dây ở khoảng cách lớn. Theo Ray Owen, giám đốc sản phẩm WiMax tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương của tập đoàn Motorola: WiMax hoàn toàn không phải là phiên bản nâng cấp của Wi-Fi có tiêu chuẩn IEEE 802.11, WiMax và Wi-Fi tuy gần gũi nhưng là 2 sản phẩm khác nhau và cũng không phải phát triển từ WiBro (4G), hay 3G. WiMAX là kỹ thuật viễn thông cung cấp việc truyền dẫn không dây ở khoảng cách lớn bằng nhiều cách khác nhau, từ kiểu kết nối điểm - điểm cho tới kiểu truy nhập tế bào. Dựa trên các tiêu chuẩn IEEE 802.16, còn được gọi là WirelessMAN. WiMAX cho phép người dùng có thể duyệt Internet trên máy laptop mà không cần kết nối vật lý bằng cổng Ethernet tới router hoặc switch. Tên WiMAX do WiMAX Forum tạo ra, bắt đầu từ tháng 6 năm 2001 đề xướng việc xây dựng một tiêu chuẩn cho phép kết nối giữa các hệ thống khác nhau. Diễn đàn này cũng miêu tả WiMAX là "tiêu chuẩn dựa trên kỹ thuật cho phép truyền dữ liệu không dây băng thông rộng giống như với cáp và DSL." Khoá họp Hội đồng thông tin vô tuyến 2007 (RA-07) của Liên minh viễn thông thế giới (ITU), được tổ chức tại Gennève, Thụy Sĩ từ ngày 15-19/10/2007, đã thông qua việc bổ sung giao diện vô tuyến OFDMA TDD WMAN (WiMAX di động) vào họ giao diện vô tuyến IMT-2000 (thường vẫn được biết dưới tên 3G). Chuẩn IMT-2000 hiện có 5 giao diện vô tuyến CDMA Direct Spread (thường được biết dưới tên WCDMA), CDMA Multi-Carrier (thường được biết dưới tên CDMA 2000),
    • CDMA TDD, TDMA Single-Carrier, FDMA/TDMA. Sau khi được bổ sung, chuẩn giaodiện OFDMA TDD WMAN sẽ là chuẩn giao diện vô tuyến thứ 6 của họ IMT-2000.Các chỉ tiêu về đặc tính phát xạ (phát xạ giả, phát xạ ngoài băng) của các trạm thu phát(BTS) và máy di động (MS) của WiMAX di động cũng đã được bổ sung vào các chuẩnhiện áp dụng cho IMT-2000.RA-07 cũng thông qua khuyến nghị về việc sử dụng băng tần 2500-2690 MHz cho IMT-2000. Theo đó có 3 phương án (C1, C2, C3) sử dụng băng tần. Phương án C1 và C2 dành2x70 MHz (đoạn 2500-2570 MHz và 2620-2690 MHz) sử dụng cho phương thức songcông FDD để phù hợp với các công nghệ di động truyền thống như HSPA, LTE. Phươngán C3 cho phép dùng linh hoạt giữa FDD và TDD, tạo thuận lợi cho việc sử dụng côngnghệ TDD như WiMAX di động. Đây sẽ là cơ sở quan trọng cho việc quy hoạch tần sốcho băng tần 2500-2690 MHz của các nước, cũng như ở Việt Nam.Sở dĩ Diễn đàn WiMAX và các công ty ủng hộ WiMAX ra sức vận động để đưa WiMAXdi động vào IMT-2000 là do WiMAX di động được phát triển dựa trên chuẩn 802.16ecủa IEEE và sản phẩm phải phù hợp với các bộ tiêu chí (profile) của Diễn đàn WiMAX(mỗi profile gồm nhiều tiêu chí, trong đó có băng tần sử dụng, phương thức song công).Tuy nhiên, cả IEEE lẫn Diễn đàn WiMAX lại không có vai trò trong việc đưa ra cácquyết định liên quan đến băng tần số được sử dụng.Trong khi đó băng tần 2500-2690 MHz, băng tần chính của WiMAX di động, lại đượcITU phân bổ và hiện được nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là Châu Âu dành cho IMT-2000. Dự kiến đây sẽ là băng tần của các công nghệ mới phát triển từ công nghệ di độngthế hệ 2 (GSM, CDMA) lên như HSPA, LTE, UMB sử dụng phương thức song côngFDD. Vì vậy, WiMAX ít có hoặc không có cơ hội được sử dụng tại các nước đó.Do đó, việc được kết nạp vào họ tiêu chuẩn IMT-2000 của ITU, sẽ giúp gạt bỏ các trởngại pháp lý, mở ra cơ hội để WiMAX di động có thể được sử dụng các băng tần dànhcho IMT-2000, được tham gia vào một thị trường rộng lớn.Tuy nhiên, tại RA-07, Trung quốc, Đức và một số nhà sản xuất viễn thông cho rằngWiMAX di động chưa đáp ứng được các tiêu chí kỹ thuật cần thiết của IMT-2000 nhưcác tham số về đặc tính phát xạ, hệ số dò kênh lân cận (ACLR), chất lượng các dịch vụcủa mạng chuyển mạch kênh, yêu cầu về chuyển vùng (seamless handover),.. Vì vậy,mặc dù thông qua việc bổ sung WiMAX di động, nhưng RA-07 yêu cầu cần tiếp tụcnghiên cứu gấp về các vấn đề còn tồn tại này.Hơn nữa, việc được kết nạp vào họ IMT-2000 không nghĩa sẽ đảm bảo được thành côngvề mặt thương mại cho WiMAX di động. Ngay trong 5 chuẩn của họ IMT-2000 trướcđây, chỉ có WCDMA là đang có sự thành công tương đối trên thị trường, 4 chuẩn còn lạivẫn còn rất ít được sử dụng trong thực tế.Bên cạnh vấn đề kết nạp WiMAX, RA-07 đã thông qua cách gọi liên quan đến IMT-2000, các hệ thống sau IMT-2000 và IMT tiên tiến (IMT-2000 Advanced). Do định nghĩavề IMT-2000 (3G) của ITU đã được xây dựng từ nhiều năm trước, nhiều công nghệ saunày như HSDPA, HSUPA, LTE, WiMAX di động có khả năng cung cấp tốc độ kết nốicao hơn so với tốc độ do ITU định nghĩa, nên nhiều hãng đã tận dụng để quảng cáo cáchệ thống của mình là 3.5G, 3.9G thậm chí là 4G.Trong khoá họp lần này, RA-07 đã quyết định cải tổ lại cơ cấu các nhóm nghiên cứu vềthông tin vô tuyến. Theo đó ITU thành lập nhóm nghiên cứu 5 về các nghiệp vụ thông tinvô tuyến mặt đất trên cơ sở sát nhập 2 nhóm nghiên cứu Nhóm nghiên cứu 8 về cácnghiệp vụ thông tin vô tuyến di động, Nhóm nghiên cứu 9 về nghiệp vụ cố định. Các hoạt
    • động nghiên cứu liên quan đến vệ tinh nằm rải rác ở Nhóm nghiên cứu 6, 8, 9 cũng được gom về nhóm nghiên cứu 4 để thành Nhóm nghiên cứu về các nghiệp vụ vệ tinh. Nhiệm vụ chính của các Nhóm nghiên cứu vô tuyến là nghiên cứu các vấn đề đặt ra trong lĩnh vực thông tin vô tuyến, quản lý phổ tần từ đó xây dựng các khuyến nghị (ITU-R Recommendation), các Báo cáo (Report), các Sổ tay (Handbook). Các Nhóm nghiên cứu của ITU-R còn đống vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị nội dung cho các Hội nghị thông tin vô tuyến thế giới. Ngay sau khi kết thúc RA-07, Hội nghị thông tin vô tuyến thế giới 2007 (WRC-07) sẽ được tổ chức từ ngày 22/10 đến 16/11/2007 tại ITUWi-Fi viết tắt từ Wireless Fidelity hay mạng 802.11 là hệ thống mạng không dây sử dụngsóng vô tuyến, giống như điện thoại di động, truyền hình và radio.Hệ thống này đã hoạt động ở một số sân bay, quán café, thư viện hoặc khách sạn. Hệ thống chophép truy cập Internet tại những khu vực có sóng của hệ thống này, hoàn toàn không cần đến cápnối. Ngoài các điểm kết nối công cộng (hotspots), WiFi có thể được thiết lập ngay tại nhà riêng.Tên gọi 802.11 bắt nguồn từ viện IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers). Việnnày tạo ra nhiều chuẩn cho nhiều giao thức kỹ thuật khác nhau, và nó sử dụng một hệ thống sốnhằm phân loại chúng; 3 chuẩn thông dụng của WiFi hiện nay là 802.11a/b/g.Mục lục[ẩn] 1 Hoạt động 2 Sóng WiFi 3 Adapter 4 Router 5 Xem thêm 6 Liên kết ngoài[sửa] Hoạt động
    • Máy tính xách tay cắm thêm thẻ adapter ở cổng PC card đang liên lạc với router có hai ăng-tennằm đằng sau.Truyền thông qua mạng không dây là truyền thông vô tuyến hai chiều. Cụ thể: Thiết bị adapter không dây (hay bộ chuyển tín hiệu không dây) của máy tính chuyển đổi dữ liệu sang tín hiệu vô tuyến và phát những tín hiệu này đi bằng một ăng-ten. Thiết bị router không dây nhận những tín hiệu này và giải mã chúng. Nó gởi thông tin tới Internet thông qua kết nối hữu tuyến Ethernet.Qui trình này vẫn hoạt động với chiều ngược lại, router nhận thông tin từ Internet, chuyển chúngthành tín hiệu vô tuyến và gởi đến adapter không dây của máy tính.[sửa] Sóng WiFiCác sóng vô tuyến sử dụng cho WiFi gần giống với các sóng vô tuyến sử dụng cho thiết bị cầmtay, điện thoại di động và các thiết bị khác. Nó có thể chuyển và nhận sóng vô tuyến, chuyển đổicác mã nhị phân 1 và 0 sang sóng vô tuyến và ngược lại.Tuy nhiên, sóng WiFi có một số khác biệt so với các sóng vô tuyến khác ở chỗ: Chúng truyền và phát tín hiệu ở tần số 2.5 GHz hoặc 5GHz. Tần số này cao hơn so với các tần số sử dụng cho điện thoại di động, các thiết bị cầm tay và truyền hình. Tần số cao hơn cho phép tín hiệu mang theo nhiều dữ liệu hơn. Chúng dùng chuẩn 802.11: o Chuẩn 802.11b là phiên bản đầu tiên trên thị trường. Đây là chuẩn chậm nhất và rẻ tiền nhất, và nó trở nên ít phổ biến hơn so với các chuẩn khác. 802.11b phát tín hiệu ở tần số 2.4 GHz, nó có thể xử lý đến 11 megabit/giây, và nó sử dụng mã CCK (complimentary code keying). o Chuẩn 802.11g cũng phát ở tần số 2.4 GHz, nhưng nhanh hơn so với chuẩn 802.11b, tốc độ xử lý đạt 54 megabit/giây. Chuẩn 802.11g nhanh hơn vì nó sử dụng mã OFDM (orthogonal frequency-division multiplexing), một công nghệ mã hóa hiệu quả hơn. o Chuẩn 802.11a phát ở tần số 5 GHz và có thể đạt đến 54 megabit/ giây. Nó cũng sử dụng mã OFDM. Những chuẩn mới hơn sau này như 802.11n còn nhanh hơn chuẩn 802.11a, nhưng 802.11n vẫn chưa phải là chuẩn cuối cùng. o Chuẩn 802.11n cũng phát ở tần số 2.4 GHz, nhưng nhanh hơn so với chuẩn 802.11a, tốc độ xử lý đạt 300 megabit/giây. WiFi có thể hoạt động trên cả ba tần số và có thể nhảy qua lại giữa các tần số khác nhau một cách nhanh chóng. Việc nhảy qua lại giữa các tần số giúp giảm thiểu sự nhiễu sóng và cho phép nhiều thiết bị kết nối không dây cùng một lúc.[sửa] Adapter
    • Một adapter cắm vào khe PCI cho máy tính để bàn.Các máy tính nằm trong vùng phủ sóng WiFi cần có các bộ thu không dây, adapter, để có thể kếtnối vào mạng. Các bộ này có thể được tích hợp vào các máy tính xách tay hay để bàn hiện đại.Hoặc được thiết kế ở dạng để cắm vào khe PC card hoặc cổng USB, hay khe PCI.Khi đã được cài đặt adapter không dây và phần mềm điều khiển (driver), máy tính có thể tự độngnhận diện và hiển thị các mạng không dây đang tồn tại trong khu vực./.[sửa] RouterNguồn phát sóng WiFi là máy tính với: 1. Một cổng để nối cáp hoặc modem ADSL 2. Một router (bộ định tuyến) 3. Một hub Ethernet 4. Một firewall 5. Một access point không dâyHầu hết các router có độ phủ sóng trong khoảng bán kính 30,5 m về mọi hướng.Bluetooth là một đặc tả công nghiệp cho truyền thông không dây tầm gần giữa các thiết bịđiện tử. Công nghệ này hỗ trợ việc truyền dữ liệu qua các khoảng cách ngắn giữa các thiết bịdi động và cố định, tạo nên các mạng cá nhân không dây (Wireless Personal Area Network-PANs).Bluetooth có thể đạt được tốc độ truyền dữ liệu 1Mb/s. Bluetooth hỗ trợ tốc độ truyền tải dữ liệulên tới 720 Kbps trong phạm vi 10 m–100 m. Khác với kết nối hồng ngoại (IrDA), kết nốiBluetooth là vô hướng và sử dụng giải tần 2,4 GHz.Thuật ngữ "Bluetooth" (có nghĩa là "răng xanh") được đặt theo tên của một vị vua Đan Mạch,vua Harald Bluetooth, người Viking nổi tiếng về khả năng giúp mọi người có thể giao tiếp,thương lượng với nhau. Vào thế kỷ thứ 10, chính vị vua này đã mang đạo Tin lành vào ĐanMạch trong khi Ericsson là công ty đầu tiên phát triển đặc tả cho công nghệ hiện đang ngày càngthông dụng trong cuộc sống hiện đại.
    • Mục lục[ẩn] 1 Lịch sử phát triển 2 Ứng dụng 3 Xem thêm 4 Chú thích 5 Liên kết ngoài[sửa] Lịch sử phát triểnĐặc tả Bluetooth được phát triển đầu tiên bởi Ericsson (hiện nay là Sony Ericsson và EricssonMobile Platforms), và sau đó được chuẩn hoá bởi Bluetooth Special Interest Group (SIG). Chuẩnđược phát hành vào ngày 20 tháng 5 năm 1999. Ngày nay được công nhận bởi hơn 1800 công tytrên toàn thế giới. Được thành lập đầu tiên bởi Sony Ericsson, IBM, Intel, Toshiba và Nokia, sauđó cùng có sự tham gia của nhiều công ty khác với tư cách cộng tác hay hỗ trợ. Bluetooth còngọi là IEEE 802.15.1.[sửa] Ứng dụngCấu tạo bên trong tai nghe Nokia BH-208Bluetooth cho phép kết nối và trao đổi thông tin giữa các thiết bị như điện thoại di động, điệnthoại cố định, máy tính xách tay, PC, máy in, thiết bị định vị dùng GPS, máy ảnh số, và videogame console.Các ứng dụng nổi bật của Bluetooth gồm: Điều khiển và giao tiếp không giây giữa một điện thoại di động và tai nghe không dây. Mạng không dây giữa các máy tính cá nhân trong một không gian hẹp đòi hỏi ít băng thông.
    • Giao tiếp không dây với các thiết bị vào ra của máy tính, chẳng hạn như chuột, bàn phím và máy in. Truyền dữ liệu giữa các thiết bị dùng giao thức OBEX. Thay thế các giao tiếp nối tiếp dùng dây truyền thống giữa các thiết bị đo, thiết bị định vị dùng GPS, thiết bị y tế, máy quét mã vạch, và các thiết bị điều khiển giao thông. Thay thế các điều khiển dùng tia hồng ngoại. Gửi các mẩu quảng cáo nhỏ từ các pa-nô quảng cáo tới các thiết bị dùng Bluetooth khác. Điều khiển từ xa cho các thiết bị trò chơi điện tử như Wii - Máy chơi trò chơi điện tử thế hệ 7 của Nintendo[1] và PlayStation 3 của Sony. Kết nối Internet cho PC hoặc PDA bằng cách dùng điện thoại di động thay modem.Tường lửaBách khoa toàn thư mở Wikipedia(đổi hướng từ Firewall)Bước tới: menu, tìm kiếmBài này viết về khái niệm trong tin học. Để xem bài viết về khái niệm trong xây dựng, xemTường lửa (xây dựng). Để xem bài viết về các cách dùng khác, xem Tường lửa (định hướng). Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. Nếu không, những câu hay đoạn văn không có chú giải nguồn gốc có thể bị thay thế hoặc xóa đi bất cứ lúc nào.Tường lửa làm nhiệm vụ bảo vệ
    • Tường ngăn phần mềm gián điệpTrong ngành mạng máy tính, bức tường lửa (tiếng Anh: firewall) là rào chắn mà một số cánhân, tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước lập ra nhằm ngăn chặn người dùng mạng Internettruy cập các thông tin không mong muốn hoặc/và ngăn chặn người dùng từ bên ngoài truy nhậpcác thông tin bảo mật nằm trong mạng nội bộ.Tường lửa là một thiết bị phần cứng và/hoặc một phần mềm hoạt động trong một môi trườngmáy tính nối mạng để ngăn chặn một số liên lạc bị cấm bởi chính sách an ninh của cá nhân haytổ chức, việc này tương tự với hoạt động của các bức tường ngăn lửa trong các tòa nhà. Tườnglửa còn được gọi là Thiết bị bảo vệ biên giới (Border Protection Device - BPD), đặc biệt trongcác ngữ cảnh của NATO, hay bộ lọc gói tin (packet filter) trong hệ điều hành BSD - một phiênbản Unix của Đại học California, Berkeley.Nhiệm vụ cơ bản của tường lửa là kiểm soát giao thông dữ liệu giữa hai vùng tin cậy khác nhau.Các vùng tin cậy (zone of trust) điển hình bao gồm: mạng Internet (vùng không đáng tin cậy) vàmạng nội bộ (một vùng có độ tin cậy cao). Mục đích cuối cùng là cung cấp kết nối có kiểm soátgiữa các vùng với độ tin cậy khác nhau thông qua việc áp dụng một chính sách an ninh và môhình kết nối dựa trên nguyên tắc quyền tối thiểu (principle of least privilege).Cấu hình đúng đắn cho các tường lửa đòi hỏi kĩ năng của người quản trị hệ thống. Việc này đòihỏi hiểu biết đáng kể về các giao thức mạng và về an ninh máy tính. Những lỗi nhỏ có thể biếntường lửa thành một công cụ an ninh vô dụng.Mục lục[ẩn] 1 Lịch sử 2 Các loại tường lửa 3 Lý do sử dụng tường lửa 4 Các ngoại tác không mong muốn 5 Cách thức ngăn chặn 6 Né và vượt tường lửa 7 Hiệu quả 8 Nhược điểm khi sử dụng tường lửa 9 Chú thích 10 Tham khảo[sửa] Lịch sửCông nghệ tường lửa bắt đầu xuất hiện vào cuối những năm 1980 khi Internet vẫn còn là mộtcông nghệ khá mới mẻ theo khía cạnh kết nối và sử dụng trên toàn cầu. Ý tưởng đầu tiên được đã
    • hình thành sau khi hàng loạt các vụ xâm phạm nghiêm trọng đối với an ninh liên mạng xảy ravào cuối những năm 1980. Năm 1988, một nhân viên tại trung tâm nghiên cứu NASA Ames tạiCalifornia gửi một bản ghi nhớ qua thư điện tử tới đồng nghiệp rằng: "Chúng ta đang bị một conVIRUS Internet tấn công! Nó đã đánh Berkeley, UC San Diego, Lawrence Livermore, Stanford,và NASA Ames." Con virus được biết đến với tên Sâu Morris này đã được phát tán qua thư điệntử và khi đó đã là một sự khó chịu chung ngay cả đối với những người dùng vô thưởng vô phạtnhất. Sâu Morris là cuộc tấn công diện rộng đầu tiên đối với an ninh Internet. Cộng đồng mạngđã không hề chuẩn bị cho một cuộc tấn công như vậy và đã hoàn toàn bị bất ngờ. Sau đó, cộngđồng Internet đã quyết định rằng ưu tiên tối cao là phải ngăn chặn không cho một cuộc tấn côngbất kỳ nào nữa có thể xảy ra, họ bắt đầu cộng tác đưa ra các ý tưởng mới, những hệ thống vàphần mềm mới để làm cho mạng Internet có thể trở lại an toàn.Năm 1988, bài báo đầu tiên về công nghệ tường lửa được công bố, khi Jeff Mogul thuộc DigitalEquipment Corp. phát triển các hệ thống lọc đầu tiên được biết đến với tên các tường lửa lọc góitin. Hệ thống khá cơ bản này đã là thế hệ đầu tiên của cái mà sau này sẽ trở thành một tính năngkỹ thuật an toàn mạng được phát triển cao. Từ năm 1980 đến năm 1990, hai nhà nghiên cứu tạiphòng thí nghiệm AT&T Bell, Dave Presetto và Howard Trickey, đã phát triển thế hệ tường lửathứ hai, được biến đến với tên các tường lửa tầng mạch (circuit level firewall). Các bài báo củaGene Spafford ở Đại học Purdue, Bill Cheswick ở phòng thí nghiệm AT&T và Marcus Ranumđã mô tả thế hệ tường lửa thứ ba, với tên gọi tường lửa tầng ứng dụng (application layerfirewall), hay tường lửa dựa proxy (proxy-based firewall). Nghiên cứu công nghệ của MarcusRanum đã khởi đầu cho việc tạo ra sản phẩn thương mại đầu tiên. Sản phẩm này đã được DigitalEquipment Corporations (DEC) phát hành với tên SEAL. Đợt bán hàng lớn đầu tiên của DEC làvào ngày 13 tháng 9 năm 1991 cho một công ty hóa chất tại bờ biển phía Đông của Mỹ.Tại AT&T, Bill Cheswick và Steve Bellovin tiếp tục nghiên cứu của họ về lọc gói tin và đã pháttriển một mô hình chạy được cho công ty của chính họ, dựa trên kiến trúc của thế hệ tường lửathứ nhất của mình. Năm 1992, Bob Braden và Annette DeSchon tại Đại học Nam California đãphát triển hệ thống tường lửa lọc gói tin thế hệ thứ tư. Sản phẩm có tên “Visas” này là hệ thốngđầu tiên có một giao diện với màu sắc và các biểu tượng, có thể dễ dàng cài đặt thành phần mềmcho các hệ điều hành chẳng hạn Microsoft Windows và Mac/OS của Apple và truy nhập từ cáchệ điều hành đó. Năm 1994, một công ty Israel có tên Check Point Software Technologies đãxây dựng sản phẩm này thành một phần mềm sẵn sàng cho sử dụng, đó là FireWall-1. Một thế hệthứ hai của các tường lửa proxy đã được dựa trên công nghệ Kernel Proxy. Thiết kế này liên tụcđược cải tiến nhưng các tính năng và mã chương trình cơ bản hiện đang được sử dụng rộng rãitrong cả các hệ thống máy tính gia đình và thương mại. Cisco, một trong những công ty an ninhmạng lớn nhất trên thế giới đã phát hành sản phẩm này năm 1997.Thế hệ FireWall-1 mới tạo thêm hiệu lực cho động cơ kiểm tra sâu gói tin bằng cách chia sẻchức năng này với một hệ thống ngăn chặn xâm nhập.[sửa] Các loại tường lửaCó ba loại tường lửa cơ bản tùy theo: Truyền thông được thực hiện giữa một nút đơn và mạng, hay giữa một số mạng.
    • Truyền thông được chặn tại tầng mạng, hay tại tầng ứng dụng. Tường lửa có theo dõi trạng thái của truyền thông hay không.Phân loại theo phạm vi của các truyền trông được lọc, có các loại sau: Tường lửa cá nhân, một ứng dụng phần mềm với chức năng thông thường là lọc dữ liệu ra vào một máy tính đơn. Tường lửa mạng, thường chạy trên một thiết bị mạng hay máy tính chuyên dụng đặt tại ranh giới của hai hay nhiều mạng hoặc các khu phi quân sự (mạng con trung gian nằm giữa mạng nội bộ và mạng bên ngoài). Một tường lửa thuộc loại này lọc tất cả giao thông dữ liệu vào hoặc ra các mạng được kết nối qua nó.Loại tường lửa mạng tương ứng với ý nghĩa truyền thống của thuật ngữ "tường lửa" trong ngànhmạng máy tính.Khi phân loại theo các tầng giao thức nơi giao thông dữ liệu có thể bị chặn, có ba loại tường lửachính: Tường lửa tầng mạng. Ví dụ iptables. Tường lửa tầng ứng dụng. Ví dụ TCP Wrappers. Tường lửa ứng dụng. Ví dụ: hạn chế các dịch vụ ftp bằng việc định cấu hình tại tệp /etc/ftpaccess.Các loại tường lửa tầng mạng và tường lửa tầng ứng dụng thường trùm lên nhau, mặc dù tườnglửa cá nhân không phục vụ mạng, nhưng một số hệ thống đơn đã cài đặt chung cả hai.Cuối cùng, nếu phân loại theo tiêu chí rằng tường lửa theo dõi trạng thái của các kết nối mạnghay chỉ quan tâm đến từng gói tin một cách riêng rẽ, có hai loại tường lửa: Tường lửa có trạng thái (Stateful firewall) Tường lửa phi trạng thái (Stateless firewall)[sửa] Lý do sử dụng tường lửaMạng internet ngày càng phát triển và phổ biến rộng khắp mọi nơi, lợi ích của nó rất lớn. Tuynhiên cũng có rất nhiều ngoại tác không mong muốn đối với các cá nhân là cha mẹ hay tổ chức,doanh nghiệp, cơ quan nhà nước... như các trang web không phù hợp lứa tuổi, nhiệm vụ, lợi ích,đạo đức, pháp luật hoặc trao đổi thông tin bất lợi cho cá nhân, doanh nghiệp... Do vậy họ (các cánhân, tổ chức, cơ quan và nhà nước) sử dụng tường lửa để ngăn chặn.Một lý do khác là một số quốc gia theo chế độ độc tài, độc đảng áp dụng tường lửa để ngăn chậnquyền trao đổi, tiếp cận thông tin của công dân nước mình không cho họ truy cập vào các trangweb hoặc trao đổi với bên ngoài, điều mà nhà cầm quyền cho rằng không có lợi cho chế độ đó.[sửa] Các ngoại tác không mong muốn
    • Các ngoại tác không mong muốn thường là đồi trụy, gợi dục (sex), chống đối chế độ, hoặc cácliên lạc, giao dịch với đối thủ cạnh tranh gây ra cho đối tượng người dùng được cho là không phùhợp tiếp cận.[sửa] Cách thức ngăn chặnĐể ngăn chặn các trang web không mong muốn, các trao đổi thông tin không mong muốn ngườita dùng cách lọc các địa chỉ web không mong muốn mà họ đã tập hợp được hoặc lọc nội dungthông tin trong các trang thông qua các từ khóa để ngăn chặn những người dùng không mongmuốn truy cập vào mạng và cho phép người dùng hợp lệ thực hiện việc truy xuất.Bức tường lửa có thể là một thiết bị định hướng (Router, một thiết bị kết nối giữa hai hay nhiềumạng và chuyển các thông tin giữa các mạng này) hay trên một máy chủ (Server), bao gồm phầncứng và/hoặc phần mềm nằm giữa hai mạng (chẳng hạn mạng Internet và mạng liên kết các giađình, điểm kinh doanh internet, tổ chức, công ty, hệ thống Ngân hàng, cơ quan nhà nước.Cơ quan nhà nước có thể lập bức tường lửa ngay từ cổng Internet quốc gia hoặc yêu cầu các nhàcung cấp dịch vụ đường truyền (IXP) và cung cấp dịch vụ Internet (ISP) thiết lập hệ thống tườnglửa hữu hiệu hoặc yêu cầu các đại lý kinh doanh internet thực hiện các biện pháp khác nh hog lu[sửa] Né và vượt tường lửaCác trang web bị chận nhất là các trang web sex thường rất linh động thay đổi địa chỉ để tránh sựnhận diện hoặc nhanh chóng thông báo địa chỉ mới một cách hạn chế với các đối tượng dùng đãđịnh.Người dùng ở các nước có hệ thống tường lửa có thể tiếp cận với nội dung bị chận qua các ngõkhác bằng cách thay đổi địa chỉ Proxy, DNS hoặc qua vùng nhớ đệm cached của trang tìm kiếmthông dụng như Google, Yahoo..., hoặc sử dụng phần mềm miễn phí Tor. Nói chung người dùngmạng hiểu biết nhiều về máy tính thì biết nhiều kỹ xảo vượt tường lửa.[sửa] Hiệu quảBức tường lửa chỉ có hiệu quả tốt một thời gian sau đó các trang web bị chận cũng như người sửdụng dùng mưu mẹo, kỹ xảo, kỹ thuật để né và vuợt tường, vì vậy phải luôn luôn cập nhật kỹthuật, nhận điện các địa chỉ mới để thay đổi phương thức hoạt động, điều này làm tốc độ truy cậpchung bị giảm và đòi hỏi phải nâng cấp trang thiết bị, kỹ thuật.[sửa] Nhược điểm khi sử dụng tường lửa Sử dụng tường lửa cần phải xử lý một lượng lớn thông tin nên việc xử lý lọc thông tin có thể làm chậm quá trình kết nối của người kết nối. Việc sử dụng tường lửa chỉ hữu hiệu đối với những người không thành thạo kỹ thuật vượt tường lửa, những người sử dụng khác có hiểu biết có thể dễ dàng vượt qua tường lửa bằng cách sử dụng các proxy không bị ngăn chặn