Cong tac-xa-hoi-voi-tre-em-119526600544659-2

2,800 views
2,712 views

Published on

1 Comment
3 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
2,800
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
62
Comments
1
Likes
3
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Cong tac-xa-hoi-voi-tre-em-119526600544659-2

  1. 1. 1 ĐẠI HỌC MỞ BÁN CÔNG TP. HCM Khoa Xã hội họcCÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM VÀ GIA ĐÌNH ThS Nguyễn Ngọc Lâm biên tập Năm 2005
  2. 2. 2 MỤC LỤCDẫn nhập – Mục tiêu môn họcPhần 1 : Khái niệm và sự hình thành công tác xã hội với trẻ em và gia đình 1. Khái niệm Công tác xã hội với trẻ em và gia đình 2. Sự hình thành công tác xã hội với trẻ em và gia đìnhPhần 2 : Bối cảnh công tác xã hội với trẻ em 1. Chính sách chăm sóc trẻ em, quyền trẻ em và đạo luật trẻ em 2. Chế độ gia trưởng và bảo vệ trẻ em của các nước phương TâyPhần 3 : Tiến trình phát triển tuổi thơ 1. Sự phát triển ở trẻ em là gì ? 2. Trẻ em ở giai đoạn tiền học đường 3. Trẻ ở tuổi đi học 4. Tuổi thanh thiếu niênPhần 4 : Trẻ em, gia đình và các nhu cầu đặc biệt 1. Nhận biết nhu cầu của trẻ 2. Các phương diện đa dạng của sự phát triển ở trẻ emPhần 5 : Công tác xã hội với gia đình 1. Làm việc với gia đình như là một nhóm nhỏ 2. Sự rối loạn trong vai trò làm cha mẹ 3. Vấn đề của gia đình 4. Chu kỳ sống của gia đình 5. Một số vấn đề của trẻ trong gia đìnhPhần 6 : Tiến trình công tác xã hội với trẻ em và gia đình 1. Tìm hiểu trẻ và gia đình của trẻ 2. Các bước tìm hiểu trẻ và gia đình của trẻ 3. Các nguyên tắc hành động trong công tác xã hội với trẻ em và gia đìnhKết luận – Phụ lục
  3. 3. 3 DẪN NHẬP MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC Công tác xã hội với trẻ em và gia đình là một bộ phận trong ngành công tácxã hội chuyên nghiệp. Nó được hình thành trong bối cảnh mạng lưới phát triển củahệ thống an sinh xã hội nói chung và an sinh nhi đồng và gia đình nói riêng. Môn học này sẽ cung ứng một số hướng dẫn về lý thuyết và thực hành đểnhân viên xã hội có được ý nghĩa rõ ràng về : • Nhân viên xã hội cần biết gì trước khi làm việc với trẻ em. • Nhân viên xã hội cần biết gì trước khi làm việc với đứa trẻ đặc biệt trong những hoàn cảnh đặc biệt này. • Nhân viên xã hội và trẻ có thể cùng làm gì với nhau. • Làm thế nào để trở thành người làm việc tốt hơn với trẻ. • Quan điểm lịch sử về mối quan hệ giữa trẻ em, gia đình và quốc gia. Sự phân tích về bản chất của dịch vụ an sinh của đứa trẻ mô tả phong trào từ sự cứu vớt đứa trẻ cho đến quyền trẻ em và những bình luận về lịch sử thực hành công tác xã hội chăm sóc trẻ em trong công tác với trẻ em. • Những nguyên tắc, kỹ năng cơ bản và kỹ thuật làm việc với trẻ em có thể ứng dụng rộng rãi trong nhiều tình huống công tác xã hội. • Vai trò của công tác xã hội với trẻ em có nhu cầu và trẻ em cần được bảo vệ. Công tác với trẻ em là một phần của mạng lưới phức tạp về hoạt động công tác xã hội liên quan tới mạng lưới của nhân viên chuyên nghiệp và các gia đình có con. • Đối với những trẻ em không còn sống với gia đình và được chính quyền địa phương chăm sóc tại trung tâm nuôi dưỡng hay nhà nuôi hộ, nhu cầu đối với
  4. 4. 4 đứa trẻ hiểu về sự mất mát của trẻ và tham gia vào các kế hoạch tương lai sẽ có tác động quan trọng đối với trọng tâm công tác.• Phương pháp và kỹ năng liên quan để làm việc với trẻ em được chăm sóc.
  5. 5. 5 PHẦN MỘT♣ Khái niệm và sự hình thành Công tác xã hội với trẻ em và gia đình1. Khái niệm “Công tác xã hội với trẻ em và gia đình” Công tác xã hội với trẻ em và gia đình là một phần trong các lãnh vực chuyênbiệt của ngành công tác xã hội với mục tiêu đem lại sự hỗ trợ cho trẻ em trong hoàncảnh khó khăn, giúp bảo vệ trẻ em và gia đình và góp phần vào nền an sinh cho trẻem và gia đình. Công việc của Công tác xã hội là huy động các nguồn lực giúp đỡ gia đìnhthực hiện vai trò trong khả năng giới hạn của họ. Theo Beatrice Pompy, nhân viên xãhội có trách nhiệm xác định những rối loạn của trẻ, của cha mẹ, đánh giá cho đượckhả năng và hạn chế của họ và qua đó, nhân viên xã hội phải làm việc bằng các giácquan, trực giác, bằng quan sát cá nhân, với sự hiểu biết và kinh nghiệm trong quátrình nghề nghiệp, về nhận thức vấn đề. Nhân viên xã hội khi can thiệp giúp đỡ trẻem và gia đình trẻ có vấn đề thường mang theo những quá khứ thời thơ ấu xa xưacủa mình , tình cảm, cảm xúc riêng tư của mình bên cạnh những kỹ năng chuyênnghiệp. Vì thế mà công tác xã hội với nói chung và công tác xã hội với trẻ em và giađình nói riêng là một công tác vô cùng khó khăn, một công tác đòi hỏi phải luônđược đào tạo mỗi khi tiếp xúc với đối tượng. 1. Công tác xã hội với trẻ em Công tác xã hội với trẻ em bao gồm những nội dung như sau :♣ D ựa theo”Social Work with children c ủa Marian Brandon, Gillian Schofield v à Liz Trinder, Mac. PressLTD, 1998
  6. 6. 6 - Các chức năng của công tác xã hội và các nhu cầu đặc biệt của trẻ em : trị liệu, hỗ trợ, phục hồi, bảo vệ liên quan đến trẻ em có nhu cầu đặc biệt. - Các lãnh vực thực thi công tác xã hội với trẻ : cộng đồng, trường học, bệnh viện, các cơ sở xã hội. - Các vai trò của nhân viên xã hội trong công tác xã hội với trẻ em 2. Công tác xã hội với gia đình Công tác xã hội với trẻ em được thực thi trong bối cảnh gia đình, môi trường sống toàn diện của trẻ, do đó công tác xã hội với gia đình gắn bó chặt chẻ với các vấn đề của trẻ em: - Thực hành công tác xã hội lấy gia đình làm trọng tâm : con người trong bối cảnh toàn diện ( môi trường sống ). - Công tác xã hội trước các vấn đề của gia đình : Gia đình đơn thân, gia đình bạo lực, gia đình tội phạm, gia đình lạm dụng trẻ em.. - Các vai trò của nhân viên xã hội trong các dịch vụ gia đình. - An sinh nhi đồng và gia đình.2. SỰ HÌNH THÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM VÀ GIA ĐÌNH Làm việc với trẻ em có thể là một thách thức lớn nhất nhưng cũng là phầnthưởng xứng đáng nhất của vai trò nhân viên xã hội trong lĩnh vực an sinh nhi đồng.Làm việc với trẻ em bao gồm mối quan hệ trực diện khi nhân viên xã hội ở bên cạnhtrẻ, lắng nghe trẻ bày tỏ ý kiến và cảm xúc, tìm cách trao đổi phù hợp và tôn trọngtrẻ, và lôi kéo trẻ tham gia đầy đủ vào những quyết định cần thiết có ảnh hưởng đếntrẻ. Làm việc với trẻ em cần đến khả năng lắng nghe mà không bị tràn ngập bởi cảmxúc và tạo mối quan hệ với trẻ em dễ bị tổn thương lẫn thù hằn hoặc là đa nghi. Nócó thể liên quan tới việc quan sát một trẻ bé có những quan tâm về ai, dùng nhữngvật liệu vui chơi với một trẻ khuyết tật ở tuổi tiền học đường, làm tác phẩm truyện kểvề cuộc đời cùng với trẻ được chăm sóc ở gia đình nuôi tạm hay tham vấn cho mộttrẻ gái trẻ có thai. Những công việc như thế chắc chắn rất là đòi hỏi tài nguyênchuyên nghiệp lẫn cá nhân của người nhân viên xã hội. Nó cũng đòi hỏi kiến thức,
  7. 7. 7kỹ năng, và một bối cảnh cơ quan ủng hộ nó. Mặc dầu có nhiều cách mà trong đónhân viên xã hội làm việc vì trẻ em hay nhân danh trẻ em một cách phù hợp nhưngnhững cách này sẽ không là trọng tâm chính của quyển sách này. Thay vào đó nhânviên xã hội cần tập trung vào tiềm năng rộng lớn hơn để làm việc với trẻ. Điểm khởiđầu phải là cái nguyên tắc như nữ thẩm phán Elizabeth Butler-Sloss đã nói là trẻ emphải được đối xử như là “con người” chứ không phải như là “đối tượng của sự quantâm”. (HMSO, 1988) 1 Sự cam kết chuyên nghiệp đối với công tác trực tiếp với trẻ em được củng cốbằng cả Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em và Đạo luật về Trẻ em năm 1989. Trẻem không những có quyền được bảo vệ về an sinh mà còn có quyền có ý kiến và kểcả có ước mơ và cảm xúc. Quyền an sinh và quyền có tiếng nói cũng không thể đạtđược do trẻ em nếu không có sự dấn thân và cam kết của người lớn. Đối với trẻ emcần sự bảo vệ được chuyển tới sở dịch vụ xã hội thì chính người nhân viên xã hộiphải có trách nhiệm để đảm bảo rằng cả sự an sinh của trẻ phải được bảo vệ và tiếngnói của trẻ phải được lắng nghe. Nhân viên xã hội sẽ biện luận rằng hai điều nàykhông thể tách rời nhau. Tuy nhiên, nhiều nhiệm vụ quan trọng đang cạnh tranh đểdành tài nguyên giới hạn đó - thời gian của nhân viên xã hội - và công tác xã hội vớitrẻ em rất dễ bị bỏ quên hoặc là có thứ tự ưu tiên thấp. Như vậy điều cần thiết là cósự quan tâm tỉ mỉ đến những cách định nghĩa và bảo vệ các nguyên tắc và thực hànhcông tác với trẻ em. Nếu nhân viên xã hội bắt đầu từ khởi điểm thì một số tranh luận chủ yếu để ủnghộ công tác với trẻ em đáng được trình bày :• Cũng giống như người lớn, trẻ em có quyền và nhu cầu có quan điểm và cảm xúc được người lớn lắng nghe và đối xử với sự tôn trọng. Trẻ cần được trò chuyện với người lớn mà các trẻ tin tưởng.1 HMSO (1988) Báo cáo về cuộc điều tra về nạn ngược đãi trẻ em ở Cleveland, Com 412, (Luân Đôn :HMSO)
  8. 8. 8• Chính trẻ em nói rằng chúng muốn có cơ hội để có tiếng nói.• Nếu trẻ em có thể trao đổi với nhân viên xã hội thì nhân viên xã hội sẽ trở nên hiểu biết hơn về kinh nghiệm và cái nhìn của trẻ về thế giới của trẻ. Đây là một khởi điểm cho bất kỳ sự đánh giá hay can thiệp nào trong đời sống của một đứa trẻ.• Trẻ em đã trải qua sự chia lìa và mất mát, ngược đãi hay thiếu chăm sóc, hay không được lớn lên trong gia đình riêng của mình có thể cần sự giúp đỡ thêm của nhân viên xã hội để hiểu được cái gì đã xảy ra với chúng. Hầu hết trẻ em này cũng sẽ cần được hỗ trợ tình cảm để quen với những kinh nghiệm như thế.• Trẻ em có khó khăn trầm trọng trong cuộc sống, thí dụ như dính líu tới phạm pháp hay dùng thuốc sai lầm cần biết rằng có người sẵn sàng để gặp trẻ trò chuyện và lắng nghe.• Trẻ em cần phát triển lòng tự trọng và sự hiểu biết về phẩm chất. Trẻ em cần phải biết rằng quan điểm của chúng phải được biết đến khi lấy quyết định.• Trong một thế giới phức tạp, một số trẻ em cần đến những người lớn nhiệt tình và có kỹ năng để biện hộ cho các trẻ. Không phải tất cả công việc này có thể hoặc phải được nhân viên xã hội thựchiện trong mọi trường hợp. Một số trẻ sẽ đến với nhân viên chăm sóc nuôi hộ; sốkhác có thể cần đến sự giúp đỡ chuyên môn của những nhân viên chuyên nghiệpkhác như nhà trị liệu tâm lý hay nhà tâm lý học. Tuy nhiên, tất cả trẻ em đều sẽ cầntới nhân viên xã hội, người có thể trao đổi một cách có hiệu quả với các trẻ và xâydựng được mối quan hệ tốt với các trẻ. Không có kỹ năng cơ bản này, nhân viêncông tác xã hội sẽ không thể đáp ứng được trách nhiệm của mình đối với trẻ.
  9. 9. 9 Làm việc với trẻ em có vẻ như là một ưu tiên đương nhiên đối với nhân viên xãhội chăm sóc trẻ, tuy vậy nó lại là lĩnh vực gây tranh luận và hơi khó định nghĩa. Đặcbiệt, có những lo lắng khi trò chuyện với trẻ em để hiểu cảm xúc của trẻ hay khidùng những kỹ thuật vui chơi với trẻ em và trị liệu đối với nhân viên xã hội đứngtrước những khó khăn liên quan đến thế giới thường ngày của đứa trẻ, trường học,vấn đề nhà ở, sắp xếp các buổi tiếp xúc. Để đáp ứng với sự lưỡng nan như thế, ClareWinnicott đã đưa ra định nghĩa về vai trò đặc biệt và rõ ràng về công tác xã hội vớitrẻ em như sau : Nhân viên xã hội khởi sự như một người thực sự có quan tâm tới những conngười và biến cố bên ngoài trong đời sống của trẻ. Trong tiến trình làm việc với trẻ,nhân viên xã hội cố gắng lấp khoảng trống giữa thế giới bên ngoài và cảm xúc củađứa trẻ về thế giới xung quanh và để làm như thế nhân viên xã hội cũng đi vào thếgiới bên trong của đứa trẻ. Là một người có thể di chuyển từ thế giới này đến thếgiới khác, nhân viên xã hội có thể có một giá trị đặc biệt hoàn toàn của riêng mìnhđối với đứa trẻ và một mối quan hệ đặc biệt. (Winnicott 1964 : 45). Nhân viên xã hội có thể điều hành có hiệu quả cái thế giới bên ngoài của đứa trẻ,có thể nói chuyện với cha mẹ và thầy cô giáo, có thể lo lắng về nhà ở tồi tàn, có thểđến thăm bệnh viện hay nhà của trẻ em, có mặt ở trạm cảnh sát nếu cần. Nhân viênxã hội cần phải có hiểu biết thật tốt về những hệ thống như thế. Tuy nhiên, cùng lúcnhân viên xã hội cần phải suy nghĩ về và suy nghĩ với đứa trẻ, cố gắng để nhìn thếgiới này qua cặp mắt của đứa trẻ và khám phá không thế giới bên ngoài ảnh hưởngđến đứa trẻ theo khách quan mà cả thế giới đó được trải qua theo chủ quan. Chínhtiến trình này cần đến toàn bộ kỹ năng phụ thêm. Nó đòi hỏi nhân viên xã hội ănkhớp với đứa trẻ, bằng những cách phù hợp với tuổi tác, sự hiểu biết và hoàn cảnhcủa đứa trẻ. Nó cần người nhân viên xã hội có sự hiểu biết đúng đắn về trẻ em pháttriển ra sao và trẻ em nhìn thế giới như thế nào, những gì mà trẻ em cần từ môitrường của chúng và cách thức chúng phản ứng nếu những nhu cầu đó không đượcđáp ứng.
  10. 10. 10 Những gì nhân viên xã hội biết được từ hai thế giới khác nhau này, thế giới bêntrong và bên ngoài, giúp nhân viên xã hội nối kết lại và tạo điều kiện cho họ làm việcvới đứa trẻ để làm rõ những trải nghiệm của trẻ và bắt đầu trả lời một số những câuhỏi phức tạp nhất. Đứa trẻ nhận ra điều gì đảo lộn nhất về sự ly dị của cha / mẹ. Cáigì có thể là lý do đối với việc hành vi ăn cắp của đứa trẻ hay cha mẹ từ bỏ đứa trẻ.Một khi đã làm được sự nối kết này thì lúc đó nhân viên xã hội và đứa trẻ có thểhướng đến việc làm rõ điều gì là có ích nhất trong cả hai thế giới. Những gì đứa trẻcần làm về mặt tình cảm để quen dần với sự ly hôn và nỗi buồn vì mất mát, sự chuẩnbị thực tế gì để tiếp xúc tạo thuận lợi cho tiến trình này. Phần lớn, công tác xã hội với trẻ em diễn ra trong bối cảnh toàn bộ môi trườngđứa trẻ - gia đình, nhóm bạn chơi, trường học, góc phố. Nó cũng diễn ra trong giớihạn thủ tục của cơ quan công tác xã hội và ranh giới chuyên môn của vai trò công tácxã hội. Từ quan điểm của trẻ em, sự kiện mà nhân viên xã hội biết và hiểu về thế giớicủa chúng và làm việc trong thế giới đó. Nhân viên xã hội không những có thể giúptrẻ nối kết quá khứ và hiện tại và hiểu được nguyên do mà chính mình là sự nối kếtgiữa các thế giới khác nhau. Qua tiến trình này, đứa trẻ là một người tham gia tích cực. Chính trách nhiệm củanhân viên xã hội là làm tăng tối đa khả năng của đứa trẻ để nói lên mong ước và cảmxúc của chính trẻ không chỉ về những quyết định chính yếu như đã được giải thíchtrong đạo luật trẻ em 1989 mà còn trong các lĩnh vực công tác ảnh hưởng đến đứatrẻ. Nói chuyện với đứa trẻ, lắng nghe trẻ và để ý đến cảm xúc của trẻ cùng với ýkiến và các nguồn thông tin khác trong một trường hợp là một tiến trình phức tạp cầncó sự cam kết dấn thân xử lý một cách tinh tế và có hiệu quả từ phía nhân viên xãhội.
  11. 11. 11 PHẦN II♣ BỐI CẢNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM1. CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC TRẺ EM, QUYỀN TRẺ EM VÀ ĐẠO LUẬTTRẺ EM Khởi đầu từ thế kỷ 19 và được tăng cường vào thế kỷ 20, quyền trẻ em đượcbảo vệ ngày càng được làm sáng tỏ, mang tính cưỡng chế. Trong những năm qua,quan điểm bảo vệ này đã được bổ sung bằng sự thúc đẩy quyền trẻ em để trẻ thamgia vào những quyết định ảnh hưởng đến đời sống của trẻ. Trong câu nói nổi tiếng đương thời của nữ thẩm phán Butler Sloss, có một sựchuyển hướng trong việc đối xử với trẻ như “một con người chứ không phải là đốitượng của sự quan tâm”. Mục đích của chương này là đặt thực hành công tác xã hội hiện tại trong bốicảnh luật pháp và lịch sử. Chương này có 2 phần: 1. Tìm hiểu sự phát triển của chính sách đối với trẻ em và quyền trẻ em trên 2 thế kỷ qua, xem xét công tác xã hội với trẻ em trong bối cảnh của khuynh hướng chính sách rộng lớn hơn. 2. Những hiểu biết đương đại về quyền trẻ em làm nền tảng cho công tác xã hội với trẻ em.1.1. Trẻ em và quyền trẻ em :♣ D ựa theo”Social Work with children” c ủa Marian Brandon, Gillian Schofield v à Liz Trinder, Mac. PressLTD, 1998
  12. 12. 12 Trẻ em có nghĩa là gì, tuổi thơ là gì, đều được hình thành do xã hội, và mỗi xãhội hình thành những ý nghĩa này một cách khác nhau. Mặc dù các sự kiện sinh họccơ bản của đời người có thay đổi chút ít theo thời gian nhưng không có gì cố địnhtrong cách mà xã hội ứng phó với những khác biệt về sinh học này. Theo James vàProut (1990) : Sự non nớt của trẻ em là một sự kiện sinh học của đời người nhưng những cách hiểu biết sự non nớt này và làm cho nó quan trọng lại là một sự kiện văn hóa. Sự giải thích của Disneyland Western của người da trắng về tuổi thơ an toànkhác với thực trạng của từng quốc gia . Mọi xã hội đều có những tư tưởng và luật lệkhác nhau về thời gian của tuổi thơ. Các xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tham gia vàoviệc lấy các quyết định về chúng đều khác nhau. Có một số xã hội không bao giờbằng lòng cho trẻ tham gia. Vì thế sự hiểu biết về sự hình thành tuổi thơ cũng khácnhau, tạo ra những mong đợi và diễn dịch khác nhau về hành vi của trẻ em. Trongquá khứ, các nhà sử học về tuổi thơ đã tranh luận mạnh mẽ về ý nghĩa của tuổi thơ.Nhà sử học pháp Philippe Aries khởi xướng cuộc tranh luận trong những năm 1960bằng cách tuyên bố rằng tình trạng tách biệt của tuổi thơ không thực sự tồn tại trướcthế kỷ 17, mà trẻ em được đối xử như người lớn thu nhỏ. Trên thực tế, có thể cónhiều dạng tuổi thơ, với những khác biệt ở ý nghĩa thế nào là trẻ em giữa các tầnglớp và khu vực. Các thái độ mâu thuẫn đối với trẻ em vẫn còn phổ biến, trẻ em lầnlượt được xem như những thiên thần nhỏ ngây thơ và những quỷ nhỏ từ bản chất cóthể làm những điều tệ hại nhất cho đến khi được người lớn xã hội hóa đầy đủ. Việc thay đổi ý nghĩa của tuổi thơ, đôi khi mâu thuẫn, rõ ràng trong tài liệu xãhội học và lịch sử được phản ảnh trong sự phát triển chính sách chăm sóc trẻ em, vừaphản ảnh vừa đưa ra những giải thích khác nhau về tuổi thơ. Sự hiểu biết về quyềntrẻ em có liên quan chặt chẽ tới các khuynh hướng tri thức và chính trị rộng lớn hơn.Thí dụ như một trong những chủ đề quan trọng nhất của thời đại là tăng quyền lực,
  13. 13. 13và điều này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự diễn dịch đương đại về quyền trẻ em nhưquyền tham gia. Trong phần sau đây nhân viên xã hội sẽ xem xét hai yếu tố này - bối cảnhchính trị xã hội và những tư tưởng khác nhau về trẻ em và tuổi thơ - đã tạo ra nhữnghiểu biết khác nhau về quyền trẻ em trong luật pháp và thực tế.1.2. Quan điểm ban đầu: Trẻ lao động tự do và cứu trợ trẻ em Ở thế kỷ 19, một khái niệm phổ biến và giống nhau hơn về tuổi thơ đã hìnhthành. Lúc đó, số trẻ em đã đóng góp vào lợi tức gia đình thông qua việc trả lương vàkhông trả lương. Trái lại, tuổi thơ “lý tưởng” đã hình thành từ từ trên nền tảng trên“lý tưởng trong khuôn khổ” của gia đình trung lưu đầu thế kỷ thứ 19 (Hendrick1990). Lý tưởng này là thời tuổi thơ mà trẻ em được xem như khác với người lớn vềtính chất và bản chất vì nếu không trẻ em có thể dễ dàng trở nên hung bạo, và nguyhiểm nếu như chúng được phép trở thành như người lớn và bước vào thế giới củangười lớn. Khi thế kỷ thứ 19 đã phát triển, một loạt các biện pháp bảo vệ trẻ emđược đưa ra để trả lại cho trẻ em sự phụ thuộc và đưa chúng ra khỏi thế giới côngviệc của người lớn sang thế giới trường học và gia đình của đứa trẻ. Luật pháp kiểm soát lao động trẻ em và việc giới thiệu giáo dục phổ cập ở thếkỷ thứ 19 đã nhận ra nhu cầu cần được bảo vệ của trẻ và hiểu rằng trẻ em có quyềnđó. Học tập làm cho mối liên kết giữa tuổi thơ và lao động yếu đi. Vì trường học dầndần chiếm chỗ của lao động và học tập chính quy trở thành bắt buộc (khoảng 1900khắp Châu Âu), thái độ về vị trí và vai trò của trẻ em cũng thay đổi. Tuổi thơ có thểkéo dài lâu hơn và trẻ em có thể trở nên phụ thuộc hơn. Lần đầu tiên đối với các bậccha mẹ là có thể không xem trẻ là người đóng góp cho gia đình và tài sản kinh tế.Lúc bấy giờ hàng hóa được mong đợi là sẽ từ cha mẹ đến con cái thay vì từ con cáiđến cha mẹ.
  14. 14. 14 Khi các tổ chức công tác xã hội / an sinh nhi đồng đang phát triển thì mốiquan tâm nổi bật là “cứu vớt” trẻ em để trẻ em có thể hưởng được tuổi thơ. Tất cảcác hội thiện nguyện, như TS. Barnardos đã dành hết thời gian cho việc cứu trẻ emra khỏi môi trường xấu, ảnh hưởng xấu của người lớn và cha mẹ không tốt và cungứng cho chúng một sự khởi đầu thuận lợi nơi mà chúng đáng được gọi là trẻ em(Cleaver và Fretrean 1995 ; Colton và các đồng tác giả 1995). Mục đích của việc cứugiúp trẻ em là tái xã hội hóa trẻ em trong tầng lớp lao động ra khỏi tình trạng suy đồivề mặt đạo đức. Mặc dù thế kỷ 19 đã chứng kiến một sự chuyển biến quan trọng trong tưtưởng về trẻ em và tuổi thơ nhưng mức độ thúc đẩy chuyển biến còn hạn chế. Vềchính sách chăm sóc trẻ, thế kỷ thứ 19 được mô tả là tốt nhất bằng cái mà LorraineFox Harding (1991) gọi là “quan điểm gia trưởng và tự do”, dựa vào sự bảo đảm tínhriêng tư của gia đình và sự can thiệp tối thiểu của nhà nước vào gia đình. Từ quanđiểm này đã có một chỗ nhỏ cho chính sách an sinh : tất cả trách nhiệm trao cho giađình. Cleaver và Fretrean (1995) tranh luận rằng sự can thiệp phần lớn thu hẹp trongnhững tình huống bên ngoài gia đình. Vai trò của nhà nước trong chăm sóc trẻ bị chiphối bởi Luật người nghèo đã minh họa cho giá trị tự do của sự can thiệp tối thiểu,điều này nhằm giảm chi phí và cũng nhằm gìn giữ sự thiêng liêng của đời sống giađình. Khi sự can thiệp xảy ra là nó nhằm cứu giúp trẻ em khỏi sự khốn đốn và nghèokhó tuyệt đối (Cleaver và Fretrean 1995). Mãi cho đến năm 1889, Hội quốc giaphòng ngừa bạo lực đối với trẻ em được thành lập thì gia đình và những điều vụn vặtriêng tư thuộc về mối quan hệ gia đình có thể là mục tiêu của sự xem xét phần nào.Trong gia đình, các quyết định của nội bộ gia đình về nuôi nấng trẻ v.v... là tráchnhiệm của những thành viên có quyền lực nhất trong gia đình, đó là cha mẹ, nhất làngười cha. Thật ra, mãi cho tới 1886 lần đầu tiên luật pháp Anh đặt sự an sinh củađứa trẻ lên hàng đầu, trước sự thực hiện và mong ước của cha mẹ (Hoggest 1993). Cho đến cuối thế kỷ 19, đời sống đối với đa số trẻ em rất khác với trẻ emtrước đó. Sự phát triển chính trị và khoa học, y khoa đã đảm bảo cuộc sống đối vớiphần lớn trẻ em chứ không chỉ đấu tranh cho sự sống còn. Năm 1901 số trẻ em chết
  15. 15. 15là 161 trên 1000 đứa trẻ sinh ra và giữa 1928 và 1931 thì hạ xuống còn 66 trên 1000trẻ sinh ra (Hardymart 1983).2. CHẾ ĐỘ GIA TRƯỞNG CỦA NHÀ NƯỚC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CỦAPHƯƠNG TÂY Khoảng cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở phương Tây đã có một thay đổi lớn,dù không hoàn toàn, từ các cách tiếp cận tự do đến an sinh nhi đồng với một kháiniệm mới về tuổi thơ kèm theo. Về chính sách chăm sóc trẻ, Fox Harding (1991) gọilà “chế độ gia trưởng của quốc gia và bảo vệ trẻ em” đã đặt cơ sở trên sự can thiệprộng lớn của nhà nước vào gia đình nhằm bảo vệ trẻ em khỏi sự thiếu chăm sóc củacha mẹ (như các nhà chuyên nghiệp đã giải thích). Xây dựng trên sự phát triển củathế kỷ 19, tuổi thơ được xem như một giai đoạn riêng biệt và dễ bị tổn thương trongđời sống, cần đến sự bảo vệ và quyết định của người lớn. Một quan điểm chung vềtrẻ em là trẻ có khả năng hạn chế về tự quyết và lấy quyết định. Sự khác biệt chủ yếutrong thế kỷ 20 là sự tham gia của các nhân viên xã hội và những nhà chuyên mônkhác, ngày càng ở bên cạnh các bậc cha mẹ như những người quyết định và bảo vệcủa trẻ em, vì nhà nước và các chuyên gia chăm sóc trẻ em ngày càng đòi quyềnchỉnh đốn gia đình. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học xã hội và y khoa đãcung ứng kiến thức an sinh nhi đồng để làm nền tảng cho công tác này. Các nhà xãhội học, nhất là những người từ ngành tâm lý trẻ em đang nổi lên, càng ngày càng tỏra quan trọng trong việc giải thích những hạn chế của đời sống gia đình “bìnhthường” và tuổi thơ “bình thường”. Bất chấp nhiều sự bất đồng ý kiến, tác phẩm củaBurt, Isaacs, Klein, Winnicott và Bowlby rất có ý nghĩa vì lần đầu tiên làm nổi bật sựquan trọng của đời sống tâm lý của đứa trẻ và vai trò của gia đình và cha mẹ(Hendrick 1990). Đạo luật trẻ em 1948 đã quy định bổn phận của chính quyền địa phương trongviệc thúc đẩy những lợi ích tốt nhất cho trẻ em và cung ứng những “cơ hội để pháttriển nhân cách và khả năng của trẻ”. Công tác của Sở trẻ em đã được thành lập,chuyển đổi từ dịch vụ cứu vớt, chửa trị của thế kỷ 19 sang sự cổ vũ gần như vô hạn
  16. 16. 16về việc thúc đẩy sự an sinh của trẻ em bằng cách làm việc với gia đình như một tổngthể (Colton và các đồng tác giả 1995 : 7). Khái niệm “phòng ngừa“ đã được hìnhthành trong thập niên 1950 đã được đẩy mạnh qua công tác xã hội cá nhân, đã chứngtỏ rằng hầu hết các Sở Trẻ em đang cố gắng ngăn cản việc nhận trẻ em vào nhà chămsóc đặc biệt (Packman 1993). Đạo luật Thiếu niên và trẻ em 1963 giao cho chínhquyền địa phương bổn phận giúp đỡ gia đình của những trẻ em không ở trong nhàchăm sóc đặc biệt của chính quyền địa phương.2.1. Sự tham gia và phương thức tham gia Thập niên 1970 có lẽ là thời kỳ cao độ chế độ gia trưởng của nhà nước trongan sinh nhi đồng. Từ lúc đó, công tác xã hội an sinh nói chung đã phải tự định nghĩalại nhằm đáp ứng những thách thức và phê phán từ bên trong lẫn bên ngoài. Sự pháttriển lũy tiến trong chi phí cộng đồng bị cắt giảm bất ngờ do khủng hoảng kinh tếgiữa thập niên 1970. Từ đó trở đi an sinh nhi đồng được cơ cấu trong bối cảnh thiếuthốn về mặt kinh tế.. Quyền lực của chế độ an sinh và chủ nghĩa tập thể đã đượcthiết lập sau thế chiến thứ 2 đã bị đẩy lùi bởi đợt thủy triều của chủ nghĩa tự do và cánhân mới tràn tới. Càng ngày sự can thiệp giúp đỡ càng quan liêu và áp đặt. Quyềnđược tranh luận ngày càng nhiều để ủng hộ cho tự do cá nhân và gia đình. Công tác xã hội với trẻ em trên 20 năm qua được nổi bật nhờ tăng cường tậptrung vào chi tiết thủ tục chặt chẽ, tìm hiểu chấn thương hay ngược đãi là chủ đềchính. Từ những cái chết của trẻ do bạo hành trong gia đình đã đưa đến những cuộctranh luận khởi đầu cho sự phê phán về công tác xã hội “hỗ trợ”. Ngược đãi trẻ emđược “nhận diện, tiên đoán và ngăn ngừa” (Parton 1991 : 58) theo phương cách khoahọc hơn. Đồng thời, phương hướng của phần lớn công tác với trẻ em được chuyển từcông tác phòng ngừa trẻ em tại gia đình sang việc đảm bảo an toàn cho “cha mẹ vềmặt tâm lý”. Cuộc điều tra Cleveland khi đánh giá sự can thiệp của nhà chuyên môn trongtrường hợp nghi ngờ có sự lạm dụng tình dục trẻ em không giống như cuộc điều tra
  17. 17. 17về cái chết của trẻ, qua đó người ta cho rằng hoạt động của nhà chuyên môn quánhiệt tình và kết quả là sự than phiền của cha mẹ. Trẻ em cần được bảo vệ khi có sựcan thiệp sai lầm. Sự bảo vệ trẻ em phải được tiến hành theo cách thức không viphạm quyền của cha mẹ và nếu không thì những đau buồn không cần thiết sẽ đến vớichính đứa trẻ mà nhân viên xã hội muốn giúp đỡ. (Minister of State Tong Newton,Parton 1991 : 114). Báo cáo Cleverland về sau đưa đến sự thay đổi quan trọng trong công tác đốitác với cha mẹ. Cư xử với trẻ em “như một con người” thay vì như là một “đối tượngcủa sự quan tâm”, sự hiểu biết chủ quan của đứa trẻ về thế giới của riêng trẻ trướctiên phải được thăm dò và được hiểu rõ. An sinh của trẻ em không thể chỉ được thúcđẩy bằng sự ứng dụng tiến trình khoa học và sự đánh giá. Trái ngược với bối cảnh mà nhân viên xã hội hiểu biết về sự xuất hiện của haiquan điểm chăm sóc trẻ em khác được nhận ra bởi Fox Harding, cả hai đều nhấnmạnh sự tham gia. Giống như quan điểm tự do bỏ mặc, “quan điểm quyền cha mẹ”coi trọng sự toàn vẹn của ranh giới gia đình và chống lại sự can thiệp bên ngoài vàocác vấn đề của gia đình. Không giống quan điểm tự do, quan điểm này nhấn mạnh ởvai trò giúp đỡ tiềm ẩn của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ hỗ trợ cho chamẹ thực hiện vai trò của họ. Trọng tâm đặt vào đơn vị gia đình như một tổng thể hơnlà phần chia nó ra nhiều thành viên hình thành gia đình. Sự đòi lại quyền quyết địnhcho cha mẹ từ các nhân viên chuyên nghiệp được coi trọng hơn sự tôn trọng tính độclập của đứa trẻ. Quan điểm thứ 4 là một quan điểm hiểu biết nhiều về cuộc tranh cãi đươngthời về quyền trẻ em được Fox Harding gọi là “quyền của trẻ em và sự giải phóngcủa trẻ em”. Trọng tâm chuyển đổi từ nhu cầu của trẻ em cần được sự bảo vệ của chamẹ sang quyền trẻ em tham gia và độc lập. Quan điểm này nói lên một khái niệmtuổi thơ trái ngược. Trẻ em được xem như là nhóm bị áp bức, bị phân biệt đối xử(một cách sai lầm) trên cơ sở tuổi tác. Thay vào đó, các tác giả trong quan điểm nàynhấn mạnh đến sự hợp lý, khả năng và sức mạnh của trẻ em và giảm thiểu sự khác
  18. 18. 18biệt giữa trẻ em và người lớn hoặc sự lệ thuộc và sự dễ bị tổn thương của trẻ em. Ởđây trẻ em trở thành tác nhân độc lập, với những lợi ích riêng biệt trong gia đình. Trẻem không thể và không cần dựa vào cha mẹ hay nhân viên chuyên nghiệp để hànhđộng vì lợi ích tốt nhất của chúng mà phải nói và hành động vì chính trẻ. Ở cấp độ chính sách và thực hiện, quan điểm quyền trẻ em càng ngày rõ ràngtrong thập niên 1980. Một loạt các phát triển dẫn đến trẻ em được có quyền như làcon người đúng nghĩa. Hệ thống “người giám hộ” đã cung ứng một nhân viên làmviệc độc lập nhân danh trẻ em làm việc ở tòa án. Do vậy trẻ em được công nhận nhưnhững con người độc lập với những quyền lợi của mình cần đến sự đại diện và tưvấn. Những kỹ thuật trị liệu bằng vui chơi và xây dựng mối quan hệ được phổ biếnqua các tài liệu như bộ tài liệu giảng dạy BAAF “Tiếp xúc với trẻ em” (1984) và quacác tác giả như Fahlberg (1988) và Oaklander (1978). Mục đích của những tài liệunày là khuyến khích nhân viên đóng vai trò tích cực nhiều hơn nữa trong việc giúpđỡ trẻ em bày tỏ những cảm xúc bên trong của chúng (Aldgate và Simmonds 1988 :14). Trong khi Những quyết định của Công tác xã hội trong chăm sóc trẻ emkhông có chỗ đặc biệt cho quan điểm của trẻ em vào năm 1985 thì 3 năm sau đó mộthướng dẫn Đánh giá bảo vệ trẻ em tiếp theo của sở y tế Bảo vệ trẻ em : sách hướngdẫn cho nhân viên xã hội thực hiện sự đánh giá toàn diện (1988) có nhiều tuyênbố rõ ràng hơn về nhu cầu tư vấn trẻ em và về quyền của chúng : Trẻ em và thanh thiếu niên đến với nghề nghiệp giúp đỡ vì họ và gia đình họ trải qua những khó khăn, họ có quyền nhận sự can thiệp và giúp đỡ nhạy bén. Họ có quyền được tư vấn và quan điểm của họ phải được quan tâm, cũng như tuổi tác, sự hiểu biết của họ về những vấn đề và những quyết định có ảnh hưởng đến đời sống của họ. (Sở y tế : 1988 : 9). Tuy nhiên trong thực hiện, đa số nhân viên xã hội đã dành ít thời gian với trẻem. Trong khi một số nhân viên xã hội thời trước Đạo luật trẻ em 1989 đã thực hànhnhững kỹ năng công tác xã hội cá nhân với trẻ em thì hầu hết các nhân viên xã hộihiếm khi nhìn trẻ em như chúng nó là. Quyết định của công tác xã hội trong chăm
  19. 19. 19sóc trẻ (HMSO 1985) đã bình luận rằng nhân viên xã hội dường như thiếu thời gianvà kỹ năng để làm việc trực tiếp với trẻ em và công việc này được dành cho nhữngngười khác : Hầu như không có chứng cớ rõ ràng để thấy rằng nhân viên xã hội tham gia nhiều trong tiếp xúc trực tiếp với trẻ em ... Những người chăm sóc ban đầu của trẻ em, cha mẹ nuôi hộ và nhân viên ở các trung tâm nuôi dưỡng được xem là có nhiều cơ hội hơn. Trường hợp nào cần đến những kỹ năng này thì nhân viên xã hội thường chuyển đến cho một nhà chuyên môn có hiểu biết về phát triển trẻ em, sức khỏe hay giáo dục (văn phòng Trẻ em quốc gia, trong HMSO 1985 : 14). Do vậy, cho tới thập niên 1980 một loạt vấn đề và mối quan tâm đã ảnhhưởng đến chính sách chăm sóc trẻ em và công tác xã hội với trẻ em. Một loạt nhữngtư tưởng đã hình thành về cách thức làm thế nào để có cách bảo vệ trẻ em tốt nhấtcùng lúc với những nguồn lực chịu sức ép nghiêm trọng và nhân viên xã hội chịu sựgiám sát kỹ càng của quần chúng. Tiến đến cuối thế kỷ, sáng kiến về quyền của chamẹ và quyền của trẻ em xuất hiện không mấy dễ dàng cùng với sự nhấn mạnh về thủtục hóa trong công tác xã hội.2.2. Về quyền trẻ emTrong khoảng thời gian của thập niên 1970 và 1980, đã có một sự phát triển đầy ýnghĩa về quyền trẻ em. Ở cấp độ lý thuyết, các tác giả bắt đầu xem xét khái niệmquyền của trẻ em : ở cấp độ chính quyền hai sự triển khai quyền trẻ em có nhiều ýnghĩa vào cuối thập niên 1980 là Công Ước Quốc Tế và Quyền Trẻ em và Đạo LuậtTrẻ em 1989. Thảo luận về quyền trẻ em có vẻ bị mắc trong vòng lẩn quẩn : giữa trẻ em cókhả năng, không có khả năng, giữa sự giải phóng và chế độ gia trưởng, giữa sự độclập và an sinh, giữa người giải phóng và người chăm sóc. Đối với “những người giải
  20. 20. 20phóng”, sự khác biệt giữa người lớn và trẻ em ít được nói ra, kết quả dẫn đến là trẻem cần phải được đối xử tương tự như người lớn. Tự quyết định là tất cả. Đối với“người chăm sóc” trẻ em được xem là khác với người lớn về tính chất. Trẻ có ít khảnăng và dễ bị tổn thương hơn người lớn và do vậy đòi hỏi sự bảo vệ đặc biệt và cácquyết định được những người lớn chăm sóc trẻ đưa ra. (Archad 1933 : 55). Trẻ em nhiều khi được định nghĩa và đối xử như thể chúng là người lớn thu nhỏ chứ không có những đặc điểm trẻ em. Sự phức tạp và nhạy cảm về phát triển tình cảm, thể chất và trí tuệ trở nên đơn giản hóa trong nhận thức và việc hướng dẫn lấy quyết định theo kiểu thông thường (King và Piper 1995 : 144). Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tuổi thơ ngày càng nhận thức sự phức tạpvề đời sống của trẻ em và mức độ trẻ em nhìn cũng như được nhìn về thế giới xã hộicủa chúng (xem thí dụ James và Prout 1996). Trẻ em khác nhau về tuổi tác, giới,chủng tộc và khuyết tật. Khả năng của trẻ em để định hình thế giới của chúng cũngkhác nhau tùy thuộc vào tình huống mà đứa trẻ sống. Cơ sở của trẻ em khác nhau vềthế giới vui chơi theo kiểu trẻ bị áp đặt và có cái nhìn theo đời sống trong lớp họchay trong gia đình (James và Prout 1996). Tuy nhiên, ngay cả trong gia đình cuộcnghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy những mong đợi khác nhau của cha mẹ về trẻ em cùnglứa tuổi tạo ra nhiều mức độ độc lập rất khác nhau ở trẻ em (Solberg 1990).2.3. Các thuyết về quyền hội nhập Hai thuyết nổi tiếng về quyền trẻ em thuộc về Michael Fretrean (1983) vàJohn Eekelaar (1986). Dù có những điểm trùng lắp đáng kể giữa hai thuyết nhưng cóthể nêu ra những nét đại cương của cả hai lý thuyết này vì chúng đặc biệt có ích choviệc hình thành những khái niệm cơ bản về quyền. a. Lý thuyết về chủ nghĩa kiểm soát người dân theo kiểu gia trưởng tự do của Michael Fretrean
  21. 21. 21 Fretrean ủng hộ tầm quan trọng của việc nghĩ đến trẻ em như những người cóquyền sở hữu quyền của mình hơn là vì yêu thương hay từ thiện. Lý thuyết về quyềncủa ông được xây dựng trên việc đảm bảo rằng trẻ em cần phải tham gia trong việclấy quyết định càng nhiều càng tốt, kết hợp với chủ nghĩa quyền gia trưởng tự do,dựa trên cơ sở. Với tư cách là trẻ em, loại hành động hay hành vi nào nhân viên xã hội mong muốn được bảo vệ dựa trên giả định rằng nhân viên xã hội muốn thành người lớn độc lập một cách hợp lý và có khả năng quyết định về những hệ thống kết quả như một con người có lý trí và tự do. Nhân viên xã hội sẽ chọn những nguyên tắc khuyến khích trẻ em trở thành người lớn độc lập. (Fretrean 1983 : 57).Trên cơ sở này, Fretrean đưa ra 4 loại quyền :• Quyền an sinh. Đây là loại quyền rõ ràng nhất và chỉ ra một loạt những đòi hỏi “tuổi thơ hạnh phúc” như đã được định ra trong Bản tuyên bố Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em (nay được thay bằng Công ước quốc tế). Những đòi hỏi này bao gồm quyền được học hành, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe, và không phân biệt đối xử.• Quyền được bảo vệ. Trái với quyền an sinh, loại thứ hai này liên quan tới việc bảo vệ trẻ em khỏi sự nguy hại, chẳng hạn như ngược đãi, thiếu chăm sóc và bóc lột, lạm dụng. Quyền được bảo vệ là quyền cho trẻ em được hưởng tiêu chuẩn chăm sóc tối thiểu. Quyền này dựa trên giả định rằng trẻ em là nhóm dễ bị tổn thương cần sự bảo vệ của cha mẹ hoặc của nhà nước nếu cha mẹ không làm được.• Quyền được đối xử như người lớn. Fretrean thuyết phục rằng sự đối xử khác nhau giữa trẻ em và người lớn dựa trên sự khác biệt tuyệt đối về tuổi tác là phân
  22. 22. 22 biệt đối xử. Ông cho rằng trẻ em cần được đối xử như người lớn dựa trên nền tảng công bằng xã hội. Ông không theo lập trường chủ nghĩa giải phóng của các tác giả thập niên 1970, những người đã hủy bỏ tất cả sự phân biệt giữa trẻ em và người lớn. Thay vào đó ông cho rằng sự khác biệt về tuổi tác cần phải được xem xét liên tục, những quyết định về khả năng của từng cá nhân trẻ phải được thực hiện từng trường hợp một. Như nhân viên xã hội sẽ thấy, đây là cách tiếp cận tương tự với sự hình thành khả năng theo Gillick đã được phát triển trên thập kỷ qua.• Quyền chống lại cha mẹ. Loại quyền thứ tư này đặt cha mẹ vào vai trò của người đại diện cho trẻ em. Fretrean cho rằng trong những quyết định chính yếu thì quyết định của cha mẹ cần có quyền lực và ảnh hưởng nhưng chỉ khi nó phù hợp với sự lượng giá “khách quan” xem những quyết định đó có ngang hàng với “sản phẩm xã hội ban đầu” của trẻ em hay không, đó là những gì mà bất cứ một người nào có lý trí cũng muốn theo đuổi. Nếu không thì một cơ quan bên ngoài phải thay thế vai trò đại diện của cha mẹ.b. Lý thuyết về quyền trẻ em của John EekelaarCũng như Fretrean, John Eekelaar (1986) hình thành một khuôn mẫu về quyền dựatrên việc suy đoán “nhìn lại cái gì đứa trẻ đã từng muốn khi nó đạt tới vị trí trưởngthành” (1981 : 170). Eekelaar nhận diện 3 loại quyền lợi làm nền tảng cho quyền :• Quyền lợi cơ bản nói đến tiêu chuẩn chăm sóc tối thiểu (thể chất, tình cảm, trí tuệ). Cha mẹ / người chăm sóc được yêu cầu phòng ngừa để tránh những nguy hại đến sự phát triển của trẻ em. Nơi nào cha mẹ không hoàn thành được trách nhiệm của mình, thí dụ trong những trường hợp ngược đãi hay bỏ bê, thì nhà nước có thể can thiệp.
  23. 23. 23• Quyền lợi phát triển đòi hỏi cha mẹ và nhà nước đảm bảo rằng tất cả mọi trẻ em đều có cơ hội như nhau để tiếp cận tối đa với những nguồn lực sẵn có trong thời tuổi thơ.• Quyền độc lập nói đến “sự tự do lựa chọn cách sống và quan hệ xã hội theo khuynh hướng không bị kiểm soát bởi uy quyền của thế giới người lớn, dù đó là cha mẹ hay cơ sở chăm sóc”. Eekelaar cho rằng quyền độc lập dù quan trọng cũng phải đi sau quyền phát triển và cơ bản dựa trên cơ sở là trẻ em, khi chúng là người lớn, sẽ ủng hộ quyền căn bản và phát triển trước quyền độc lập nếu có sự xung đột, mâu thuẫn giữa các quyền. Khuôn mẫu quyền trẻ em được hình thành do Fretrean và Eekelaar thật thú vịbởi vì họ nhấn mạnh đến loại quyền mà trẻ em được hưởng. Trẻ em có quyền độc lậpvà tham gia cũng như phát triển và bảo vệ. Cả hai đều nhận ra quyền độc lập vànhững quyền khác có thể đụng nhau và họ cho rằng trong những trường hợp như thếsự quyết định của người lớn về điều tốt nhất cho trẻ sẽ có giá trị hơn ước muốn củatrẻ. Như nhân viên xã hội sẽ thấy Công ước của Liên hiệp quốc và Đạo luật trẻ em1989 sẽ lại cho trẻ em “quyền an sinh” và quyền tham gia, sau cùng thì quyền ansinh là quyền có quyền lực và ảnh hưởng nhất.c. Công ước của Liên Hiệp Quốc Sau 10 năm bàn thảo và cân nhắc, Công ước được Đại Hội Đồng Liên hiệpQuốc chấp thuận vào ngày 20 tháng 10 năm 1989. Cho đến nay, Công ước đã đượcphê chuẩn bởi hơn 150 quốc gia trên khắp thế giới ; đó là một Công ước quốc tếđược phê chuẩn nhanh nhất và rộng rãi nhất. Công ước gồm 41 điều khoản về cácvấn đề ảnh hưởng đến trẻ em. Những quyền này được chia thành 4 nhóm : quyềnđược chăm sóc hay bảo vệ, tham gia, chống phân biệt đối xử và quyền được pháttriển tốt nhất. (Hammarberg 1995).d. Quyền an sinh/được bảo vệ
  24. 24. 24 Điều khoản 3 của Công ước của Liên Hiệp quốc quy định quyền an sinh vàđược bảo vệ của trẻ em. Điều khoản có hai thành phần chủ yếu. Thành phần thứ nhấtnhấn mạnh rằng nhà nước và các định chế tư nhân phải có sự quan tâm trước tiên vìlợi ích tốt nhất của trẻ em trong công tác của họ. Thành phần thứ hai là nhà nướcđảm bảo rằng trẻ em được bảo vệ và chăm sóc đầy đủ, quy định có liên quan tớiquyền và bổn phận của người chăm sóc trẻ. Điều khoản 19 đòi hỏi nhà nước phải cóbiện pháp về pháp luật, quản trị, giáo dục và xã hội thích hợp để bảo vệ trẻ em chốnglại sự bóc lột lạm dụng, ngược đãi, bỏ bê của cha mẹ hay người chăm sóc. Nó cũngđòi hỏi nhà nước phải có các thủ tục hữu hiệu để ngăn ngừa, nhận diện, điều tra vàtrị liệu những trường hợp nêu trên.e. Quyền được phát triển tốt nhất Công ước của Liên Hiệp Quốc còn đi xa hơn những nỗ lực bảo vệ trẻ em,điều khoảng 6.2 đòi hỏi nhà nước thúc đẩy sự phát triển tốt nhất của trẻ em : Các quốc gia thành viên phải đảm bảo đến mức tối đa có thể được sự sốngcòn và phát triển của trẻ em. Công ước nhận ra rằng trẻ em được chăm sóc tốt nhất trong gia đình củachúng (Điều khoản 5 và 18) nhưng đòi hỏi nhà nước phải cung cấp “sự hỗ trợ thíchhợp” cho người chăm sóc và phát triển các dịch vụ chăm sóc trẻ em (Điều khoản18.2). Sự bất bình đẳng to lớn trong an sinh vẫn còn tiếp tục giữa các nước nghèo vànước giàu cho nên không phải nước nào cũng sẽ có thể cung ứng được các chínhsách xã hội hỗ trợ cho trẻ em ; những gì điều khoản 4 đòi hỏi là các chính phủ chịutrách nhiệm có những biện pháp để thúc đẩy quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻem ở “mức tối đa của các tài nguyên sẵn có của họ”.f. Quyền tham gia.
  25. 25. 25 Công ước Liên Hiệp Quốc thúc đẩy mạnh mẽ quyền trẻ em tham gia vào việclấy quyết định, dù rằng mức độ bày tỏ quan điểm của trẻ sẽ thay đổi tùy theo độ tuổivà sự trưởng thành của trẻ. Điều khoản 12 nói rằng : Các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền bày tỏ những quan điểm đó về tất cả mọi vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích đáng phù hợp với độ tuổi và độ trưởng thành của trẻ em. Công ước Liên Hiệp Quốc đưa ra một loạt quyền riêng tư khác, các quyềncủng cố vị thế của đứa trẻ như một chủ thể độc lập hơn là khách thể thụ động, và làmột thành tố cần thiết của quyền trẻ em. Các quyền này gồm quyền có bản sắc (tênvà quốc tịch lúc sinh ra ; Điều khoản 7 và 8), quyền tự do bày tỏ ý kiến và thông tin(Điều khoản 13), quyền tự do tư tưởng và hội họp (Điều khoản 14 và 15), quyềnriêng tư (Điều khoản 16) và quyền về văn hóa (Điều khoản 30).g. Quyền không phân biệt đối xử Công ước Liên Hiệp Quốc đưa ra 2 quy định quan trọng về sự phân biệt đốixử. Đầu tiên đòi hỏi những quyền được tuyên bố trong Công ước Liên Hiệp Quốc ápdụng cho tất cả mọi trẻ em không phân biệt (Điều khoản 2). Để tăng cường sự thựchiện này Công ước Liên Hiệp Quốc đưa ra những quy định cụ thể về những nhóm trẻem đặc biệt chịu thiệt thòi : Các quốc gia thành viên thừa nhận rằng trẻ em khuyết tật về tinh thần hay thể chất cần được hưởng một cuộc sống trọn vẹn và tử tế trong những điều kiện đảm bảo nhân phẩm, thúc đẩy khả năng tự lực, và tạo điều kiện dễ dàng cho trẻ tham gia tích cực vào cộng đồng. (Điều khoản 23.1). và
  26. 26. 26 Ở những quốc gia có tồn tại những nhóm thiểu số về chủng tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ hoặc có những người gốc bản địa, đứa trẻ thuộc một nhóm thiểu số như thế hoặc là người bản địa sẽ không bị khước từ quyền, cùng với những thành viên khác trong cộng đồng của mình, được hưởng nền văn hóa của mình, được tuyên bố và được theo tôn giáo của mình và sử dụng tiếng nói của mình. Đã phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc, chính phủ Anh Quốc buộc phảihành động theo quy định của Công ước. Tuy nhiên, Công ước Liên Hiệp Quốc chưakết hợp với luật pháp trong nước, cho nên những quyền cụ thể quy định trong Côngước không thể thi hành được trong những phiên tòa của quốc gia (Bainham 1993 :607 - 8). Tuy thế, Công ước Liên Hiệp Quốc yêu cầu các chính phủ làm những báocáo về sự tiến bộ của việc thực hiện Công ước cho Ủy ban Liên Hiệp Quốc về quyềntrẻ em. Trong khi chính phủ Anh Quốc làm những báo cáo theo yêu cầu của Côngước Liên Hiệp Quốc năm 1994 thì các tổ chức tự nguyện cũng đã làm việc một cáchhiệu quả để phân tích mức độ chấp hành và tiếp tục vận động hành lang cho việcthực hiện Công ước có hiệu quả (xem CEDRU 1994 về phân tích toàn diện mức độmà Anh Quốc chấp hành Công ước Liên Hiệp Quốc, và cả Newell 1991). Chính phủAnh quốc biện luận rằng Đạo luật trẻ em 1989 chấp hành và phù hợp với Công ướcLiên hiệp quốc nên nhân viên xã hội quay trở lại với Đạo luật trẻ em 1989.h. Đạo luật trẻ em 1989 Giống như Công ước Liên hiệp quốc, Đạo luật trẻ em 1989 xuất hiện sau mộtthời gian dài, thảo luận và cân nhắc dựa vào các nguồn (gồm điều tra quần chúng,Hội đồng luật và quốc hội). Lại cũng giống Công ước Liên hiệp quốc, một số thànhviên có quan tâm gồm các nhóm người chuyên nghiệp và các tổ chức phong trào vàtự nguyện, tham gia vào việc vận động hành lang khi chuyển đạo luật qua quốc hội(xem Parton 1991 về lịch sử chi tiết của Đạo luật). Những nguồn lực khác nhau nàyđược phản ảnh trong những quy định rộng rãi và mâu thuẫn tiềm ẩn của Đạo luật
  27. 27. 27(xem phần dưới). Tuy vậy, Đạo luật đã được chào đón như một bước chính yếu tiếntới quyền trẻ em, nhất là quyền tham gia hay độc lập (Thí dụ Newell 1991 : xiii ;Franklin 1995 : 3). Trong phần này nhân viên xã hội sẽ xem xét Đạo luật trẻ em1989 đối với 4 nhóm quyền - bảo vệ, phát triển tốt nhất, tham gia và không phân biệtđối xử - được Công ước Liên hiệp quốc thúc đẩy.i. Quyền an sinh/được bảo vệ. Một quan tâm chính của Đạo luật trẻ em 1989 là đảm bảo rằng trẻ em cóquyền được chăm sóc và bảo vệ đầy đủ. Điều này được xử lý bằng 2 cách : thứ nhấtlà bằng cách đòi hỏi rằng sự an sinh của trẻ là sự quan tâm hàng đầu khi tòa án lấyquyết định, và thứ hai là bằng cách quy định khung luật pháp để bảo vệ trẻ em. Phần tương ứng của Đạo luật trẻ em với nguyên tắc vì “lợi ích tốt nhất cho trẻem” trong Công ước Liên hiệp quốc là nguyên tắc an sinh đòi hỏi rằng “an sinh củatrẻ phải là quan tâm đầu tiên của tòa” khi nào tòa quyết định những vấn đề chăm sóchay nuôi nấng trẻ. Nguyên tắc an sinh áp dụng trong chăm sóc trẻ và các vụ kiệnnguy cấp, các cuộc tranh chấp giữa cha mẹ. Trong khi tòa án có thể xem xét tớinhững yếu tố khác thì các vấn đề phải được quan tâm đặc biệt là :a) Ước mơ và cảm xúc có thể xác minh được của đứa trẻ (được xem xét theo độ tuổi và sự hiểu biết) ;b) Những nhu cầu học tập, tình cảm và thể chất của trẻ ;c) Tác dụng có thể có đối với trẻ do bất kỳ thay đổi nào trong hoàn cảnh của trẻ ;d) Tuổi tác, giới tính, trình độ và bất kỳ đặc điểm nào của trẻ mà tòa án cho là có liên quan ;e) Bất kỳ sự nguy hại nào mà trẻ phải chịu hoặc có nguy cơ sẽ chịu ;f) Khả năng của mỗi cha mẹ, và bất kỳ người nào khác có liên quan mà tòa án xem xét vấn đề có liên quan, đáp ứng nhu cầu của trẻ như thế nào.g) Các loại quyền lực có sẵn đối với tòa án dưới đạo luật này trong các vụ kiện. [ mục 1 (3) ]
  28. 28. 28 Có điều xác đáng vững vàng là tòa án tin rằng trẻ em được chăm sóc và bảovệ tốt nhất trong gia đình của chúng. Khái niệm mới về “trách nhiệm của cha mẹ”nói lên nỗ lực vượt ra khỏi quan điểm xem em trẻ như vật sở hữu theo khái niệm cũvề “quyền của cha mẹ”. Trách nhiệm của cha mẹ được định nghĩa là “tất cả quyền,bổn phận, quyền lực, trách nhiệm, và quyền hành mà luật pháp quy định một ngườicha của đứa trẻ trong quan hệ với đứa trẻ và quyền sở hữu của trẻ. Sự chăm sóc trẻvà quyền riêng tư mà tòa cho là đúng đắn được tăng cường thêm nữa bởi quy định“can thiệp tối thiểu” [mục 1 (5)], để ngăn ngừa tòa án ra những lệnh có liên quan tớitrẻ trừ trường hợp ra những lệnh như thế sẽ tốt hơn cho đứa trẻ.k. Quyền được phát triển tốt nhất Những quy định trong Đạo luật trẻ em 1989 thúc đẩy quyền trẻ em được pháttriển tốt nhất được hình thành hạn chế hơn quyền trẻ em được bảo vệ. Tiếp cận ởnhà, giáo dục, sức khỏe và hỗ trợ thu nhập phần lớn nằm ngoài phạm vi của Đạo luậttrẻ em, dù rằng tiết 27 cho phép chính quyền địa phương yêu cầu sự giúp đỡ của cáccơ quan bao gồm các lĩnh vực giáo dục, nhà ở, y tế cung ứng những dịch vụ hỗ trợtheo phần III của Đạo luật. Như nhân viên xã hội đã thấy cũng giống như Công ướcLiên hiệp quốc, Đạo luật trẻ em nhấn mạnh rằng cha mẹ thường là người chăm sóctốt nhất cho con cái của mình. Đây là một hành động tích cực cho trẻ em. Điều kémvui là vai trò bị hạn chế tiếp nhận các dịch vụ để hỗ trợ những nỗ lực của cha mẹ tạonhững cơ hội phát triển tốt nhất có thể được cho con cái họ. Eekelaar (1991) trongcuộc thảo luận ban đầu về Đạo luật trẻ em đã nêu ra ý nghĩa của “trách nhiệm củacha mẹ” thay đổi như thế nào từ trách nhiệm của cha mẹ làm đầy đủ bổn phận đốivới trẻ sang trách nhiệm chăm sóc trẻ thuộc về cha mẹ thay vì thuộc về nhà nước. Dovậy, trong khi nhà nước nhận ra tầm quan trọng của gia đình đối với trẻ em thì lại ítnhận ra sự quan trọng của các dịch vụ đối với gia đình - Sự chăm sóc của trẻ emphần lớn vẫn là trách nhiệm riêng tư và cá nhân.Bất hạnh được định nghĩa là :
  29. 29. 29a) Trẻ không thể thành đạt hay duy trì hoặc không thể có cơ hội để thành đạt hay duy trì, tiêu chuẩn hợp lý về sức khỏe hay phát triển mà không có sự hỗ trợ các dịch vụ cho trẻ do chính quyền địa phương thuộc khu vực này ;b) Sự phát triển và sức khỏe của trẻ có thể bị tổn thương đáng kể, nhiều sự tổn thương mà không có sự hỗ trợ dịch vụ nào cho trẻ ; hoặcc) Trẻ bị khuyết tật. Đối với trẻ em được xem là không “bất hạnh”, thì Đạo luật không có nhiệmvụ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, dầu vậy chăm sóc ban ngày có thể được cung ứngcho trẻ không bất hạnh dưới 5 tuổi. Trên thực tế, sự thiếu hụt tài nguyên có nghĩa là“bất hạnh” được diễn dịch một cách hạn chế gồm số nhỏ trẻ em có nguy cơ liên quantới việc thực hiện vai trò cha mẹ hơn là những nguy hiểm về kinh tế, xã hội hay môitrường .l. Quyền tham gia Đạo luật trẻ em 1989 được xem như một bước tiến quan trọng trong việc thúcđẩy quyền tham gia của trẻ em. Một cách tổng thể, Đạo luật ủng hộ phong cách lấyquyết định hòa nhập, đặc biệt nhấn mạnh đến sự tham gia của cha mẹ như nhữngngười đồng hành trong việc lấy quyết định. Song song với điều này, có sự nhấnmạnh đến sự tham gia của trẻ em trong những quyết định có ảnh hưởng đến trẻ em.Bainham biện luận rằng Đạo luật “hỗ trợ một cách tổng quát khái niệm lấy quyếtđịnh có tham gia giao cho người trẻ một mức độ tự quyết định. Nguyên tắc chungnày có chú ý đến quan điểm của trẻ em đánh dấu sự điều chỉnh quan trọng trong sựcân bằng quyền lực giữa trẻ em và xã hội người lớn” (1993 : 60). Ngay cả sự mở rộng quyền tham gia trong việc lấy quyết định cũng khôngnhất quán trong suốt đạo luật. Quyền của trẻ em không những chỉ tùy thuộc vàonhững yếu tố chủ yếu như tuổi tác và sự trưởng thành mà còn tùy vào vấn đề có nguycơ.
  30. 30. 30 Những quy định của Đạo luật liên quan tới quyền tham gia tạo cho trẻ em cónhững vai trò và vị thế khác nhau.• Người không tham gia. Trong một số trường hợp, theo Đạo luật trẻ em không có quyền tham gia lấy quyết định. Những thí dụ rõ ràng nhất là những trẻ em mà cha mẹ ly hôn hay ly thân thỏa thuận về sự xếp đặt đối với con cái của họ. Trong các vụ kiện riêng tư không phán quyết, cha mẹ và tòa án không có bổn phận tham khảo ý kiến trẻ em về sở thích của trẻ đối với việc cư trú và gặp gỡ.• Người nhận thông tin. Chính quyền địa phương có bổn phận công bố thông tin về các dịch vụ hỗ trợ gia đình. Cụ thể hơn, có sự mong đợi rằng làm việc với trẻ em không chỉ tìm hiểu quan điểm của trẻ mà còn giải thích cho trẻ bất kỳ quyết định nào được đưa ra.• Người được tham khảo. Đạo luật yêu cầu ý kiến của trẻ em cần phải được nhận biết trong hàng loạt quyết định có ảnh hưởng đến trẻ em. Trong khi Đạo luật đòi hỏi phải lắng nghe tiếng nói của trẻ em nhưng tiếngnói của trẻ thì lại chẳng được lắng nghe chút nào, mà cũng chẳng có ảnh hưởng nào.Quyền mà Đạo luật đưa ra nói chung chỉ là sự tư vấn ; bổn phận “quan tâm” đếnquan điểm của trẻ mà quan điểm thì khác với sự quyết định. Quyền tư vấn là quyềnđi sau quyền tối quan trọng an sinh (dù vậy không có sự loại trừ nhau). Tầm quantrọng được đặt vào quan điểm của trẻ em là phải tùy thuộc vào “tuổi tác và sự hiểubiết”, với mong đợi rằng sự quan trọng sẽ được đặt vào quan điểm của đứa trẻ trưởngthành hơn (nhưng không chỉ đơn giản là trưởng thành theo thời gian).• Người đồng ý. Có nhiều lĩnh vực của đạo luật trong đó trẻ em được trao quyền xác định kết quả thực sự một quyết định. Điều này phải có sự đồng ý và tùy theo sự thẩm định khả năng lấy quyết định của đứa trẻ. Trẻ em được Đạo luật làm tăng năng lực để khước từ cuộc khám nghiệm tâm thần hay y khoa, thẩm định hay
  31. 31. 31 chữa trị nếu được xem như có đủ năng lực. Trẻ em được chăm sóc cũng có thể khước từ sự lựa chọn của chính quyền địa phương về người vãng gia độc lập đối với trẻ em (hay khước từ cuộc hẹn đang diễn ra), tuy nhiên chỉ trong điều kiện trẻ cho là đủ năng lực để đưa ra quyết định có hiểu biết.• Người khởi xướng. Đạo luật trẻ em cho trẻ em quyền được phép có hành động độc lập hợp pháp. Lúc này trẻ em có thể xin phép tòa án để ứng dụng cho các lệnh theo mục 8 (đó là tiếp xúc, cư trú, các vấn đề cụ thể và các bước bị ngăn cấm) hoặc được tham gia như những thành viên đối với các vụ kiện, cũng như thi hành lệnh chăm sóc. Tòa án thỏa mãn chỉ khi nào đứa trẻ có đủ hiểu biết để thi hành chứ không phải vì nguyên tắc an sinh được đáp ứng khi được phép (White và các đồng tác giả 1995 : 1136). Tuy vậy, vấn đề thực sự là nguyên tắc an sinh vẫn là quan trọng.• Người có ý kiến. Trẻ em được chăm sóc, hoặc trẻ em bất hạnh, theo đạo luật, được quyền nói lên hay có ý kiến về các dịch vụ của chính quyền địa phương. Các tổ chức tự nguyện và các nhà nuôi trẻ đã đăng ký cũng được yêu cầu để hình thành phong cách đóng góp ý kiến.Vậy Đạo luật trẻ em ban đặc quyền tham gia cho trẻ em đến mức nào ? Điều rõ rànglà mức độ quyền tham gia tùy thuộc vào hai yếu tố chính : (a) Tuổi tác và sự hiểu biết của trẻ. (b) Vấn đề có tình nguy cơ. Đối với trẻ em lớn hơn có năng lực, đạo luật mở rộng quyền tư vấn thànhquyền có sáng kiến và quyền bày tỏ sự đồng ý. Trong nhiều trường hợp trẻ em không được xem là có khả năng vẫn được hỏiý kiến và thông báo nhưng sẽ ít đặt nặng vào những mơ ước và tình cảm được trẻ
  32. 32. 32bày tỏ. Trẻ em không có năng lực Gillick không thể có sáng kiến của riêng chúng vàkhông thể có sự đồng ý. Ngoài sự trưởng thành, yếu tố quan trọng trong việc xác định quyền tham gialà vấn đề nguy cơ. Những nhóm trẻ em nào đó có nhiều quyền hơn các nhóm khác.Đối với trẻ em mà phẩm chất của cha mẹ bị nghi ngờ và trẻ em lại được chăm sóc ởđó thì việc lắng nghe trẻ được đặt nặng hơn trong những gia đình ly hôn, ly thân nhưnhân viên xã hội đã thấy giả định rằng việc lắng nghe trẻ thuộc về trách nhiệm củacha mẹ thì tiếng nói của trẻ chỉ được lắng nghe trong một số rất ít các trường hợp chamẹ bất đồng. Lyon và Parton biện luận rằng Đạo luật nói lên một bước tiến tới việc nhậnthức rõ trẻ em là chủ thể độc lập hơn là đối tượng của an sinh : “Trẻ em được quyềnnói trong những vấn đề có liên quan đến trẻ nhưng đó không phải là tiếng nói cuốicùng. Những quy định cho trẻ em sự độc lập nhưng lại ngưng đột ngột toàn bộ hậuquả của hành động đó.m. Quyền không phân biệt đối xử Không giống trong Công ước Liên Hiệp Quốc, không có cam kết rõ ràng nàotrong Đạo luật trẻ em 1989 rằng các quyền được áp dụng cho tất cả trẻ em không kểgiới tính, sắc tộc hay khuyết tật. Thay vào đó, suy nghĩ đằng sau đạo luật phản ảnhniềm tin rằng các nhóm trẻ em khác cần những nhu cầu khác phải được tòa án vànhân viên chuyên môn quan tâm. Như vậy, thay vì nhấn mạnh cách đối xử bình đẳngmà có thể dẫn đến chủ nghĩa đồng hóa, một cách tiếp cận nhạy cảm về văn hóa,không để ý đến màu da / giới, thì có sự tập trung vào việc nhận diện và đáp ứng cácnhu cầu cụ thể của từng cá nhân trẻ em (Macdonald 1991). Phần này cho nhân viên xã hội hiểu sự hình thành bối cảnh công tác xã hộivới trẻ em, nhấn mạnh sự năng động và bối cảnh thay đổi của chính sách chăm sóctrẻ em. Hiện nay khung luật pháp trình bày cách tiếp cận “cân bằng” hơn đối với trẻ
  33. 33. 33em và gia đình, kết hợp với quyền tham gia và bảo vệ, không phân biệt đối xử vàphát triển tốt nhất. Những khó khăn hay thách thức đối với nhân viên xã hội là làmsao biết duy trì được sự “cân bằng”này.
  34. 34. 34 PHẦN III♣ TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN TUỔI THƠ1. Sự phát triển của trẻ em là gì ? Khi nhân viên xã hội quan sát, nói chuyện, lắng nghe hay chơi đùa với trẻ em,họ cần có kiến thức và kỹ năng để xem xét tiến trình phát triển tuổi thơ và đặc biệt lànhìn rõ những thay đổi riêng biệt ở trẻ em, về thế giới của chúng. Đứa trẻ phải đượcxem như một tác nhân trong đời sống của riêng trẻ hơn là một người thụ hưởng thụđộng sự chăm sóc của cha mẹ. Từ lúc sinh ra, đứa trẻ cố gắng hiểu biết về thế giớixung quanh và xây dựng cho mình một mô hình để hiểu và đáp ứng với những sựkiện và các mối quan hệ. Nhân viên xã hội cần tìm hiểu liên tục kinh nghiệm của đứatrẻ. Nó có ý nghĩa gì đối với trẻ ? Trẻ em không chỉ có quyền mà còn có nhu cầu tìnhcảm và tâm lý, cần được đối xử như một con người hơn là một đối tượng của sựquan tâm. Để nhân viên xã hội hiểu được những kinh nghiệm của trẻ và khuyếnkhích chúng bày tỏ ước muốn và tình cảm của chúng có hiệu quả nhất thì họ cầnphải hiểu quan điểm của đứa trẻ về thế giới trong một bối cảnh phát triển. Nhân viên xã hội trong mọi lĩnh vực làm việc trực tiếp với trẻ em đều cần cókhả năng để hiểu sự hiểu biết của trẻ về thế giới của chúng. Bản chất của sự hiểu biếtcủa trẻ có liên quan tới tuổi tác, giai đoạn phát triển, kinh nghiệm và gia đình trongbối cảnh xã hội của thế giới đứa trẻ. Đối với nhân viên xã hội, tuổi tác và giai đoạnphát triển của đứa trẻ sẽ ảnh hưởng đến tính chất công việc mà mình phải thực hiện.Với trẻ em còn bé, nhân viên xã hội sẽ học nhìn thế giới qua cặp mắt đặc biệt của trẻbằng cách quan sát trực tiếp và thu thập thông tin về hành vi của trẻ. Khi trẻ em lớnhơn, chúng sẽ tiếp tục trao đổi qua hoạt động vui chơi, vẽ, nói, viết. Nhân viên xã hội♣ D ựa theo”Social Work with children c ủa Marian Brandon, Gillian Schofield v à Liz Trinder, Mac. PressLTD, 1998
  35. 35. 35cần đặt tất cả những trao đổi này trong bối cảnh phát triển của đứa trẻ. Như vậy nhânviên xã hội bắt đầu bằng cách xem xét một số cách định nghĩa về sự phát triển trướckhi tìm hiểu chi tiết mỗi giai đoạn và độ tuổi. Khái niệm về sự phát triển của trẻ em tự nó thường được chia thành nhiềuloại. Đối với mục đích thực hành công tác xã hội, phát triển có` liên quan đến cácyếu tố được nêu trong Đạo luật trẻ em - phát triển thể chất, tình cảm, hành vi, trí tuệvà xã hội - bởi vì đây là những yếu tố cần thiết được xem xét khi một đứa trẻ có khókhăn hay có nguy cơ bị hại nghiêm trọng. Tuy nhiên, dù các lĩnh vực phát triển nàyđược phân chia ra, điều quan trọng là nhân viên xã hội cần có một bức tranh toàndiện về tình trạng phát triển của trẻ vì tất cả các lĩnh vực phát triển này được nối kếtvới nhau. Thí dụ như sự phát triển ngôn ngữ và những kỹ năng giao tiếp tùy thuộcvào sự phát triển nhận thức, tình cảm và xã hội. Sức khoẻ về thể chất và an sinh tìnhcảm sẽ ảnh hưởng đến khả năng tập trung và gia tăng thành quả trí tuệ. Sự tách rờigiữa các yếu tố khác nhau là để hiểu được các lĩnh vực quan tâm tiềm ẩn khác nhaukhi làm việc với trẻ em. Các vấn đề khác nhau mà nhân viên xã hội cần phải hết sức ý thức là những vấn đềđược nhận ra trong hệ thống “chăm sóc trẻ em” để đánh giá và lên kế hoạch cho trẻem để được chính quyền địa phương chăm sóc. • Sức khỏe • Học vấn • Quan hệ gia đình và xã hội • Vị trí xã hội • Phát triển hành vi và cảm xúc • Kỹ năng tự chăm sóc
  36. 36. 36 Chăm sóc trẻ em trong bối cảnh này gồm có sự quan tâm đến các lĩnh vựccủa đời sống trẻ em ngoài gia đình, chẳng hạn như giáo dục, có thể có ích trongnhững trường hợp đánh giá và giúp hiểu biết hơn trong công tác trực diện của nhânviên và đứa trẻ.1.1. Năm đầu tiên của cuộc sống Ngay cả về mức độ thuần túy thể chất thì cũng có sự khác biệt về phẩm chấtcủa sự khởi đầu cuộc sống của một đứa trẻ. Mức an sinh của người mẹ, kiêng ăn vàsự chăm sóc trước khi sinh trong thời gian thai nghén sẽ ảnh hưởng đến đứa trẻ chưasinh ra. Nghèo đói và sức khỏe kém ảnh hưởng đến khả năng có thể có vấn đề trongkhi có thai và khi sinh. Trong nhiều trường hợp nghiêm trọng hơn, việc sử dụngnhầm thuốc có thể dẫn đến việc đứa bé chịu những triệu chứng cai nghiện và ngườimẹ uống quá nhiều rượu có thể dẫn đến cái gọi là triệu chứng nghiện rượu ở thai nhi.Những yếu tố trước khi sinh như thế có thể ảnh hưởng đến một số lĩnh vực pháttriển. Chẳng hạn như các bé sinh ra với triệu chứng nghiện rượu sẽ có vấn đề về thểchất như yếu tim, cũng như có vấn đề về nhận thức như học hành khó khăn, và cóvấn đề về hành vi như tập trung kém. (Streissguth và các đồng tác giả 1991). Ở Mỹ, triệu chứng thai nhi nghiện rượu là nguyên nhân dẫn đến những dạngtật về học tập ở trẻ em, vượt quá tỷ lệ hội chứng Down (Streissguth và các đồng tácgiả 1991). Hiểu biết về những nguy cơ như vậy cần phải được kèm theo những kỹnăng quan sát tốt để thiết lập cách thức giúp các trẻ bé này phát triển trong bối cảnhchăm sóc của gia đình. Việc trẻ em được sinh ra với những giác quan nhạy bén thông qua kinhnghiệm tương tác với môi trường là điều quan trọng nhất - những người thân xungquanh đáp ứng nhu cầu thực phẩm, áo quần để mặc, nhu cầu bồng bế đụng chạm,ngửi mùi đặc biệt, nghe âm thanh vỗ về, trấn an và những nụ cười. Trẻ em mới sinhra hoàn toàn có kỹ năng nhận biết cao và có khả năng phân biệt mẹ chúng và những
  37. 37. 37người khác bằng cảnh vật, âm thanh và mùi vị khi. Qua những khả năng này mà từban đầu đứa bé đã có khả năng hình thành những mối quan hệ đặc biệt. Những mối quan hệ đó hình thành không chỉ dựa vào khả năng của đứa bé màcòn nhờ vào sự đáp ứng của những người lớn có mặt. Bản chất của tình cảm mà chamẹ dành cho bé lúc mới sinh thường là mối liên kết. Klaus và Kennell (1976), dựatrên nghiên cứu của họ biện luận rằng thời điểm quan trọng là ngay sau khi sinh lúcngười mẹ bắt đầu gần gũi với bé. Sluckin và các đồng tác giả năm 1983 đưa ra ý kiếnlà sự phát triển tình cảm của cha / mẹ dành cho đứa con là một tiến trình từ từ khôngnhất thiết đòi hỏi sự gần gũi về mặt thể chất ngay tức khắc sau khi sinh. Thời giansau khi sinh cần phải được xem là thời điểm nhạy cảm hơn là thời điểm quan trọngđể tình cảm của cha / mẹ dành cho đứa trẻ phát triển. Người mẹ tham gia vào tiếntrình này và người cha cũng vậy (Bee 1997). Có một số trường hợp mối liên kết nàythất bại khi người mẹ cảm thấy dửng dưng hoặc có khi căm ghét đứa bé. Trongnhững trường hợp nghiêm trọng nhất, cần sự can thiệp cực sâu để hình thành mốiquan hệ liên kết trước khi đứa bé tránh né người mẹ. Một khi đứa bé bắt đầu xa cáchngười mẹ thì người mẹ có thể cảm thấy khó khăn hơn nhiều để thiết lập mối quan hệ. Sự nhạy cảm của đứa trẻ đối với những thông điệp mà trẻ nhận được về thếgiới chung quanh là một lĩnh vực rất quan trọng đối với nhân viên xã hội chăm sóctrẻ. Từ những tuần lễ ban đầu, đứa bé phản ứng khác nhau đối với sự biểu lộ củangười mẹ về niềm vui, nỗi buồn hay giận dữ (Haviland và Lelwica 1987). Sự bày tỏtình cảm bằng nét mặt của người mẹ cũng sẽ ảnh hưởng tới khả năng chơi những đồchơi của đứa bé (Harris 1989). Trẻ em chứng kiến bạo lực trong gia đình cũng nhận những thông điệp làmcho chúng sợ hãi hay không tin tưởng vào môi trường chung quanh mà chúng tìmthấy chính mình. Xã hội thường coi thường hậu quả của những lĩnh vực môi trườngchung quanh của trẻ em như thế (Brandow và Lewis 1996).1.2. Sự gắn bó
  38. 38. 38 Lý thuyết “gắn bó” của Bowlby (1969, 1979, 1980) đã có một sự đóng gópchủ yếu vào cách thức nhân viên xã hội phân tích về sự phát triển mối quan hệ giữacon cái và cha mẹ. Sự gắn bó này là khái niệm chính trong thực hành công tác xã hộivới trẻ em bởi vì nhân viên xã hội thường cho rằng mối quan hệ gia đình gần gũi củatrẻ em là nguồn gốc của những vấn đề về hành vi và cảm xúc.Ba lãnh vực hành vi ở trẻ thông qua thuyết “gắn bó”• Tìm kiếm sự gần gũi. Đứa trẻ tìm cách duy trì sự che chở bảo bọc của cha / mẹ hoặc một hình ảnh gắn bó khác, nhất là khi cảm thấy lo lắng hay bị đe dọa.• Hiệu quả của nền tảng vững chắc. Qua thời gian, sự sẵn sàng của người gắn bó có thể tiên đoán được cho phép đứa trẻ cảm thấy đủ an toàn để thăm dò, vui chơi và học hỏi.• Phản kháng sự xa cách. Đứa trẻ sẽ phản kháng nếu sự tiếp cận với người gắn bó bị từ chối. Mặc dù nhân viên xã hội biết rằng ngay trong giai đoạn ban đầu này trẻ em cóthể hình thành nhiều mối quan hệ gắn bó nhưng cho tới độ tuổi 6 đến 8 tháng thì hầuhết trẻ em có thể bày tỏ sự ưa thích mạnh mẽ đối với một người lớn đặc biệt đã tạocho trẻ nền tảng tình cảm vững chắc. Nền tảng vững chắc này có tầm quan trọng trong việc tạo thuận lợi cho việchọc tập, là một yếu tố chủ yếu trong sự phát triển xã hội và trí tuệ ở những trẻ cònbé. Trẻ em phát triển khả năng khám phá môi trường của chúng, tin rằng người gắnbó sẽ có mặt khi trẻ cần đến. Tiến trình này làm cho trẻ tự do học hỏi về thế giới màtrong đó trẻ tìm thấy chính mình. Sự vững chắc về tình cảm cũng cho phép đứa trẻvận dụng năng lực của trẻ để học hỏi và phát triển hơn là có nhiều lo lắng. Hơn nữa,
  39. 39. 39Bowlby đã cho rằng mô hình liên kết phát triển thành “mô hình hoạt động nội tại”.Đứa trẻ có một mô hình về bản thân, về người khác và về các mối quan hệ. Vera Fahlberg (1998) mô tả tiến trình hình thành sự gắn bó vững chắc nhưmột chu kỳ tùy thuộc vào sự nhạy cảm của cha / mẹ với những dấu hiệu của đứa trẻkhi trẻ thông tin các nhu cầu thể chất hay tâm lý. Nhu cầu thể chất hay tâm lý Giảm nhẹ Tình trạng căng thẳng kích thích cao An toàn Tin tưởng Gắn bó Thỏa mãn nhu cầu Hình 2.1 : Chu kỳ kích thích - thư giãn Các chu kỳ cho biết thế nào là hình thức “đối thoại” sớm nhất, dẫn đến sựtương đồng giữa người lớn và đứa trẻ. Sự bộc lộ nhu cầu và đáp ứng nhạy cảm, kếđó là sự giảm nhẹ căng thẳng và nhờ vào sự lặp đi lặp lại theo thời gian của nhữngchu kỳ như thế đã dẫn đến sự cảm nhận của đứa trẻ về hình ảnh của cha / mẹ và xemcha / mẹ như một nền tảng vững chắc, một người mà trẻ có thể dựa vào về mặt thểchất cũng như tình cảm, một “cha mẹ đủ tốt” như Winnicott (1965) đã gọi. Quan sátnhững mô hình quan hệ này trong năm đầu tiên của cuộc sống của trẻ cho phép nhânviên xã hội chú ý đến những trục trặc trong những giai đoạn ban đầu của sự pháttriển tình cảm, để hiểu được mối quan hệ cha / mẹ - đứa trẻ và nhận diện được những
  40. 40. 40khó khăn như tình trạng kích thích cao do nhu cầu không được đáp ứng ví dụ khimột đứa bé đang khóc hay đi chập chửng và giận dữ hay một thiếu niên không thể tựchủ bản thân. Khi cha mẹ xao lãng hay chối bỏ trẻ thì đứa trẻ có thể ngưng truyềnđạt những nhu cầu của nó. Khi một đứa trẻ hoàn toàn bị bỏ bê từ lúc mới sinh, chúngcó thể quấy rầy và la khóc nhiều lúc đầu nhưng chúng hoàn toàn có thể nhanh chóngtrở nên cực kỳ thụ động, im lặng và buồn tẻ. Chúng có thể ngủ nhiều ban ngày vàkhông đòi ăn. Một “đứa bé tốt” mà không lên cân cần phải được xem xét và đánh giácẩn thận. Cha hay mẹ hay người chăm sóc cần phải khơi dậy mối tương tác nhằm giúpcho trẻ có cảm xúc tích cực về chính bản thân chúng. (Fahlberg 1988). Cha mẹ khơi dậy mối tương tác tích cực Có giá trị tự trọng Trẻ đáp ứng một cách tích cực Hình 2.2 : Chu kỳ tương tác tích cực Nơi nào mà trẻ không có mối tương tác tích cực với cha mẹ hay người chămsóc thì tính tự trọng của chúng trở nên tồi tệ. Đối với những trẻ thiếu kinh nghiệm vềsự đáp ứng các nhu cầu ở chu kỳ đầu tiên, nhân viên xã hội có thể nhận thấy trẻ từchối tất cả tấm lòng tốt và những lời nói ngọt ngào. Những người chăm sóc nuôi
  41. 41. 41nấng trẻ tại cơ sở cũng nhận ra điều này, và họ thường thất vọng khi một đứa trẻ đếntừ môi trường gia đình có vấn đề không chấp nhận sự chăm sóc chu đáo dành chotrẻ.1.3. Sự lo lắng xa cách và mô hình gắn bó Phần nhiều sự phát triển lý thuyết gắn bó tùy thuộc vào sự xem xét tác độngcủa sự xa cách và bản chất của sự lo lắng về xa cách. Theo Bowlby : Lý thuyết gắn bó là một khái niệm hóa về việc con người có xu hướng tăng cường sự ràng buộc tình cảm đối với những người khác đặc biệt và giải thích nhiều các hình thức đau buồn, rối loạn nhân cách bao gồm lo âu, giận dữ, trầm cảm và xa cách về mặt tình cảm gây ra do xa cách và mất mát miễn cưỡng. (Bowlby 1979 : 127). Lý thuyết gắn bó của Bowlby đã được phát triển như một phương pháp để xácđịnh phẩm chất của sự gắn bó. Mary Ainsworth hình thành phương pháp phân loạimô hình mối quan hệ gắn bó vững chắc và không vững chắc (Ainsworth và các đồngtác giả 1979). Bà đã sử dụng một bối cảnh thử nghiệm, nói lên một “tình huống xalạ”, để xem em trẻ phản ứng khác biệt như thế nào với một sự xa cách tạm thời củangười mẹ và phản ứng với người lạ ra sao. Phương pháp phân loại định nghĩa sự gắnbó vững chắc và 3 loại gắn bó không vững chắc : xa cách / tránh né, kháng cự / mâuthuẫn và không tổ chức / không định hướng. Những mô hình này đòi hỏi sự xem xétchi tiết và đối với nhân viên xã hội làm việc với trẻ em theo phương pháp cá nhân, sẽcó ích lợi để hiểu được dấu hiệu mức độ gắn bó của đứa trẻ. Chẳng hạn như một đứatrẻ cứ bám theo mẹ có thể cho thấy một sự gắn bó không an toàn, trong khi một đứabé chơi đùa một cách thỏa mãn và chỉ thỉnh thoảng quay lại mẹ có thể có sự gắn bóvững chắc. Đây không phải là những phân biệt lúc nào cũng dễ nhận ra. Như Howeđã trình bày :
  42. 42. 42 Hành vi của những trẻ có sự gắn bó không an toàn là sự đáp ứng thích nghi trong bối cảnh mối quan hệ mà trẻ nhận ra chính mình. Hành vi được chấp nhận là một cách thức phòng vệ được hình thành do đứa trẻ để ứng phó với những cảm xúc lo âu, không ổn định và sợ hãi (1995). Trong năm đầu tiên của cuộc sống, trẻ em học hỏi rất nhanh về thế giới chúngđang sống và về vị trí của chúng trong thế giới đó. Những sự kiện tiếp theo có thể vàcó một ảnh hưởng chủ yếu, là kinh nghiệm ban đầu chắc chắn rất quan trọng trongviệc tạo thành cơ sở cho một số kỹ năng cơ bản của đứa trẻ và các mô hình của mốiquan hệ.Tóm lại :• Trẻ mới sinh cực kỳ nhạy cảm với người chăm sóc và các tác nhân của môi trường của chúng. Chúng trao đổi các trạng thái cảm xúc của chúng bằng nét mặt, tâm trạng, hành vi và cũng bằng nhiều cách khác nữa, chẳng hạn lên cân, phát triển đúng theo chuẩn mực vv..• Kiến thức về những kinh nghiệm đầu tiên của trẻ sẽ giúp ích cho việc hiểu hành vi của trẻ lớn hơn trong bối cảnh. Khung lý thuyết liên quan đến sự gắn bó không vững chắc là quan trọng để hiểu phản ứng mâu thuẫn thật sự hay phản ứng phòng vệ ở trẻ em.2. Trẻ ở giai đoạn tiền học đường Đây là giai đoạn chuyển từ lệ thuộc sang độc lập ; trao đổi bằng ngôn ngữ ;biết chơi ; phát triển xã hội ban đầu. Nếu như công việc chính của năm đầu tiên là phát triển sự tin tưởng và gắn bóthì những năm từ 1 tới 3 đứa trẻ chuyển từ sự lệ thuộc sang hình thành một mức độđộc lập. Độc lập ở đây không có nghĩa là tự chủ hoàn toàn mà có nghĩa là đỀ

×