Your SlideShare is downloading. ×

Vfa bc hoi thao hoi chan nuoi

398

Published on

Published in: Education
0 Comments
1 Like
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
398
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
10
Comments
0
Likes
1
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Thức ăn chăn nuôi BIỆN PHÁP HÀNG ĐẦU PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2010-2020 KS. Lê Bá L ịch Chủ tịch Hiệp hội TACN Việt NamI. ĐẶT VẤN ĐỀ Động vật cũng giống như con người không có ăn là chết đói, ăn không đủchỉ có thể duy trì, không lớn được. Vì vậy khác với trồng trọt coi giống là biệnpháp hàng đầu thì giai đoạn này chăn nuôi động vật phải coi thức ăn là biệnpháp số một. Trong chăn nuôi hàng hóa, thức ăn chiếm 65-70% giá thành cácloại sản phẩm động vật. Thực phẩm động vật có an toàn hay không có nhiều yếutố chi phối nhưng đầu tiên phải xem xét thức ăn chăn nuôi có an toàn haykhông? Thức ăn chăn nuôi không an toàn thì thực phẩm khó mà an toàn. Vị tríthức ăn chăn nuôi quan trọng số một trong phát triển chăn nuôi nên nhiều nướcChâu Âu giành 50-60% diện tích nông nghiệp trồng cỏ nuôi động vật gia súc. ởChâu á, nhiều nước dành 40-50% tổng sản lượng lương thực làm thức ăn chănnuôi tiểu gia súc, gia cầm như: Trung Quốc, Thái Lan. Theo tiếng Anh: “Food”có nghĩa bao hàm cả lương thực (tinh bột) và thực phẩm (thịt, cá, trứng, sữa,tôm, rau, đậu, quả, vitamin). Theo tôi cách hiểu chính xác của “food security” là“an ninh lương thực và thực phẩm”. Không nên hiểu phiến diện, cục bộ chữ“Food” chỉ có nghĩa là “lương thực” để rồi tập trung lương thực, lãng quên thựcphẩm. Khi đã là an ninh thực phẩm, thì các nhà hoạch định chính sách vĩ mô cầncân đối kế hoạch biện pháp thức ăn chăn nuôi hàng năm như cân đối lương thựccho người. Các nước quanh ta hàng năm vẫn có lập kế hoạch sản xuất nguyênliệu thức ăn chăn nuôi trong nước, kế hoạch nhập khẩu nguyên liệu nước ngoài… không bỏ ngỏ, phó mặc doanh nghiệp tự lo nguyên liệu như hiện nay.II. HIỆN TRẠNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI Chưa có con số kế hoạch, con số thống kê hàng năm giành bao nhiêulương thực sản xuất trong nước, thiếu bao nhiêu lương thực để chủ động nhậpkhẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, giành bao nhiêu đất trồng cỏ nuôi bò sữa,bò thịt.? Đây là vấn đề cần đặt ra để thống nhất nhận thức, thay đổi tư duy, hànhđộng đúng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế, giải 1
  • 2. quyết an ninh thực phẩm, việc làm cho lao động nông nghiệp trong khi dân sốsống bằng nghề nông còn 60-70%. Theo ước tính, chi phí thức ăn để sản xuấtthực phẩm động vật trong hai năm 2007-2008. Bảng 1: Dự ước chi phí thức ăn tinh chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản STT Năm 2007 2008 Chí phí thức ăn 1 Sản xuất thịt lợn (triệu tấn) 11.180 11.638 2 Sản xuất thịt và trứng gia cầm (triệu tấn) 1.657,5 1.877 3 Sản xuất sữa bò (nghìn tấn) 93,7 104 4 Nuôi cá, tôm nước ngọt, nước lợ (triệu tấn) 1.800,0 2.987 Tổng cộng (triệu tấn) 14.731 16.606 Để sản xuất ra khối lượng thực phẩm (thịt, cá, tôm, trứng, sữa) đủ tiêudùng cho 86,7 triệu dân trong nước và lại có cá, tôm nuôi trồng xuất khẩu đạt2,6 tỷ USD chiếm 57,7% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản dự ước tiêutốn 14,7 và 16,6 triệu tấn thức ăn tinh năm 2007 và năm 2008.A. NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI:1. Thiếu nguyên liệu: Hàng năm giá trị nhập khẩu trên dưới 2 tỷ USD nguyên liệu thức ăn chănnuôi. Trong đó: gần một triệu tấn ngô; trên dưới một triệu tấn mỳ mạch, cámchích ly, dầu thực vật, mỡ động vật; 2-2,5 triệu tấn khô dầu đậu tương từ Mỹ,Ấn Độ, Achentina, Braxin…; hàng trăm nghìn tấn bột cá từ Peru, Chile,Mehico…; Bột xương thịt từ Hungari, Balan, Paragoay; Nhập gần trăm nghìntấn chất khoáng DCP (đi canxi phốt phát) từ Vân Nam Trung Quốc. Chất phụgia bổ sung thức ăn, các loại vi khoáng, vitamine, mùi, màu, vị đều chưa sảnxuất được, phải nhập khẩu từ khắp các châu lục, 40 nước và vùng lãnh thổ trênthế giới.2. Thiếu công nghệ sản xuất: Ngoài các đề tài thử nghiệm tiêu hóa lẻ tẻ, vụn vặt chưa có kết quả nghiêncứu nào thành chuỗi công nghệ phổ biến đại trà ứng dụng vào sản xuất thức ănchăn nuôi của doanh nghiệp. Nhiều vấn đề các doanh nghiệp cần được hướngdẫn như: các công thức sản xuất premix, công thức phối chế thức ăn lợn con, 2
  • 3. những giống men chịu nhiệt, các probiotic, prebiotic, synbiotic sử dụng thay thếkháng sinh... Trong nước chưa có kết quả nghiên cứu, các doanh nghiệp đã phảinhập từ nước ngoài để sử dụng vào sản xuất. Môi trường chăn nuôi đủ thứ bệnhtật, hết cúm gia cầm lại đến lợn tai xanh, lở mồm long móng; dịch tả vịt, lợncon… Nhưng phải nêu cao “food safety - An toàn thực phẩm”. Đây là vấn đềkhó, đặt ra cho doanh nghiệp nhiều trăn trở: không bổ sung kháng sinh thì dânkhông mua vì phòng dịch bệnh kém, rủi ro dịch bệnh xảy ra triền miên ở nhiềunơi; bổ sung kháng sinh thì lại vi phạm lệnh cấm kị vì không an toàn thực phẩm.Hiện tại làm thế nào “an toàn dịch bệnh”? và ai làm? đang là câu hỏi lớn.3. Thiếu thiết bị: Nhu cầu sử dụng thiết bị nhà máy có công suất 10-20-40 tấn/giờ, trongnước chưa sản xuất được, doanh nghiệp phải nhập khẩu từ Châu Âu và TrungQuốc với chi phí đắt đỏ. Các doanh nghiệp Việt Nam không đủ sức cạnh tranhvới công ty có vốn đầu tư nước ngoài vì vốn nhỏ, nguyên liệu nhập ngoại thiếungoại tệ, nguyên liệu hàm lượng chất xám cao như: premix, phụ gia bổ sung, ếphải mua của doanh nghiệp nước ngoài, thuế nhập khẩu, thuế V A T, thu thunhập doanh nghiệp… thuế chồng thuế. Thức ăn chăn nuôi không phải mặt hàngthiết yếu, khi ngân hàng có biến động, doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi khôngđược vay, không được đổi đô la…4. Thiếu nhân tài Nước ta thực sự thiếu khuyết nhân tài tâm huyết nghề nghiệp, thiếu từ cánbộ nghiên cứu đến cán bộ quản lý sản xuất, kinh doanh và thị trường. Lao độngphổ thông, lao động bình thường thừa nhưng lao động chất lượng cao, hàmlượng chất xám lớn, bám thực tế sản xuất rất ít.5. Thiếu đồng cỏ Về thức ăn đại gia súc phải khẳng định ta không có đồng cỏ lớn. Mặc dùthống kê Nhà nước vẫn ghi có trên 300.000 ha nhưng thực tế chưa thấy, cònđồng cỏ nhỏ, bãi chăn cũng bị thu hẹp, thậm chí nhiều nơi không còn bãi chănthả tập trung. Quỹ đất đã bố trí kín cho cây trồng, ngoài 4,0 triệu ha trồng lúanước, 1 triệu ha ngô, 1 triệu ha cây ăn quả, vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên bốtrí 500 nghìn ha cà phê, 600 nghìn ha cao su, 400 nghìn ha điều. Về cơ bảnkhông còn diện tích đồng cỏ, chỉ còn bãi chăn thả tận dụng vùng đồi núi, nơikhông thể trồng trọt, không có nguồn nước thì dùng thả trâu bò. 3
  • 4. Phụ phế phẩm nông nghiệp hàng năm có trên 40 triệu tấn. Trong đó: nguồnrơm rạ có trên dưới 30 triệu tấn; thân ngô, vỏ bắp ngô: 4,6 triệu tấn; phụ phẩmmía đường: 2,8 triệu tấn; khoai lang: 1,45 triệu tấn. Nhưng không đầu tư mộtchương trình kinh tế xã hội tận thu, chế biến nguồn phụ phẩm này đủ nuôi 10triệu bò thịt. Dân nhiều vùng chủ yếu đốt rơm rạ, thân cây ngô, dây lang, dây lạc.6. Về quản lý: Ngoài Nghị định 15/NĐ-CP ngày 19/3/1996 của Thủ tướng Chính phủcách đây gần 14 năm, chưa thành pháp lệnh hoặc pháp luật về quản lý thức ănchăn nuôi. Hiện tại dựa vào nhiều văn bản hướng dẫn chung của nhiều ngành,nhiều cấp quản lý, thanh tra, kiểm tra chất lượng, quản lý thị trường các cấp,kiểm tra nhãn mác hàng hóa. Nhiều người, nhiều ngành có quyền lực do chứcnăng ban cho, nhưng thực sự không có chuyên môn, ít hiểu biết, gây nhiều khókhăn cho doanh nghiệp. Tổ chức quản lý ngành thiếu chặt chẽ: premix là “máy cái” của ngànhthức ăn chăn nuôi, chất phụ gia bổ sung thức ăn hàm chứa lượng chất xám rấtcao cần được quy định và quản lý chặt lại phân cấp cho tỉnh quản lý. Trong khimạng lưới chăn nuôi cấp tỉnh, huyện rất yếu (yếu đủ mọi mặt). Thậm chí có nơichưa có tổ chức chăn nuôi giao cho Thú y quản lý mà không có cơ sở vật chấtkỹ thuật kiểm soát, không được huấn luyện nghiệp vụ, kiến thức mới, cũng gâyquá nhiều khó khăn cho doanh nghiệp.7. Hệ thống chế biến thức ăna. Hệ thống chế biến thức ăn cho gia súc, gia cầm Hiện tại cả nước có 225 nhà máy và xưởng sản xuất sản xuất chế biếnthức ăn gia súc Bảng 2: Số lượng và tổng công suất nhà máy chế biến thức ăn gia súc(*) Loại hình sản lượng nhà Số lượng Tổng công suất Tỷ lệ (%) máy (tấn) nhà máy (tấn) Cả nước 225 100 12.317.000 Dưới 5000 tấn/năm 63 28 166.261 Từ 5000-30.000 tấn/năm 84 37,3 1.420.700 Từ 31.000-100.000 t ấn/năm 46 20 3.457.000 Trên 100.000 tấn/năm 32 14 7.273.000 4
  • 5. 12.317.000 * Số liệu của phòng TĂ CN- Cục CN * Thiết bị gần 100% là du nhập nước ngoàib. Hệ thống chế biến thức ăn thủy sản: Theo thống kê chưa đầy đủ, có 89 nhà máy, phân xưởng sản xuất. Ngoàinhà máy chuyên sản xuất thức ăn thủy sản của: tập đoàn CP Group,UniPresident, … các công ty đầu tư nước ngoài có công suất lớn, thị phần nhiều.Các nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản của người Việt Nam phần lớn công suấtnhỏ, thị phần hẹp như Cỏ May, Minh Quân, DABACO ở Đồng Tháp, Công tyChăn nuôi Tiền Giang, Công ty Tấn Lợi (Bến Tre), AFIEX (An Giang)…B. NHẬN ĐỊNH CHUNG Theo đánh giá của chúng tôi, cho đến nay các công ty đầu tư 100% vốnnước ngoài nắm giữ 65-70% thị phần. Hầu như các tập đoàn sản xuất thức ănnhất nhì thế giới đã có mặt ở Việt Nam; CP Group (Thái Lan); Cargill (Hoa Kỳ),NewHope (Trung Quốc)… Nhờ ảnh hưởng của họ, các doanh nghiệp Việt Namcũng đã học tập phương pháp tổ chức sản xuất, kinh doanh, thị trường… nên từnăm 1995 đến nay cũng một số công ty tư nhân và cổ phần chuyên ngành thứcăn chăn nuôi kinh doanh thành đạt như: công ty VINA, Long Châu, Thanh Bình(Đồng Nai), VIC (Hải Phòng), Hà Việt, Quang Minh, Thiên Lý (Hà Nội), côngty Hoàn Dương (Hà Nam), công ty Chăn nuôi Tiền Giang, AFIEX (An Giang),Tấn Lợi (Bến Tre), Cỏ May (Đồng Tháp)... Rất tiếc ở trung ương, nhiều nămđầu tư nhưng thức ăn chăn nuôi không trụ nổi trong cơ chế thị trường, khôngxác định được “máy cái” của ngành thức ăn chăn nuôi là premix. Tồn tại rất lớn của công nghiệp thức ăn hiện nay là premix “máy cái” củangành thức ăn chăn nuôi đều do công ty nước ngoài nắm giữ như: ROSS,BAYER, BIOMIN… Doanh nghiệp của Việt Nam sản xuất: premix, thức ăn lợncon tập ăn, thức ăn tôm… còn quá ít, quá nhỏ bé, chưa tên tuổi, thứ hạng trên thịtrường kể cả Viện nghiên cứu, trường Đại học. Các công ty nước ngoài sản xuấthàng trăm ngàn tấn premix bán trên thị trường Việt Nam, hàng chục năm naykhông có đối thủ cạnh tranh. Họ nắm thị trường, khống chế giá cả. Rất tiếc Nhànước đầu tư hàng chục tỷ đồng nhiều năm về trước để nghiên cứu nhưng đếnnay tất cả còn đang ở phía trước. Chưa có kết quả nghiên cứu về lĩnh vực này đểphổ biến vào sản xuất giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh, chủ động hạ giáthành thức ăn chăn nuôi. Nhà quản lý kêu thức ăn lãi quá. Dân chúng kêu thức 5
  • 6. ăn đắt quá. Nhưng thị phần của người Việt nhỏ quá chỉ chiếm 20-30%. Doanhnghiệp Việt Nam quản lý yếu, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, chưa đủ mạnh, cạnhtranh được với công ty đầu tư 100% vốn nước ngoài. Tóm lại hiện nay sản xuất thức ăn công nghiệp cho gia súc, gia cầm ướcđạt gần 6 triệu tấn (5 triệu tấn TAHH và 800 nghìn tấn TA đậm đặc). Thức ănchế biến cho nuôi trồng thủy sản ước đạt gần 2,4 triệu tấn trên tổng chi phí gần18 triệu tấn thức ăn. Thức ăn chế biến công nghiệp chiếm xấp xỉ 50%. Nhìn chung: trong gần 20 năm mở cửa, nền công nghiệp thức ăn chănnuôi Việt Nam được khởi sắc, tiếp cận nền khoa học, sản xuất, kinh doanh củathế giới góp phần đáng kể đưa năng suất, chất lượng vật nuôi lên cao, giảm giáthành sản xuất. Tuy nhiên còn những tồn tại cần nhìn thẳng sự thật để khắc phụctrong thời gian tới mới có thể xây dựng nền chăn nuôi bền vững.III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 2010-20201. Quan điểm khẳng định vai trò thức ăn trong chăn nuôi là quyết địnhnăng suất và chất lượng vật nuôi:- Dựa trên chỉ tiêu sản phẩm của các nhà hoạch định chính sách vĩ mô phát triển chăn nuôi để tính nhu cầu thức ăn.- Đề xuất biện pháp2. Chỉ tiêu định hướng Biểu 3: Dự kiến chỉ tiêu định hướng sản phẩm 2010-2020 (Nguồn: Cục chăn nuôi) Năm 2010 2015 2020Chỉ tiêuTổng sản lượng thịt xẻ (nghìn tấn) 3200 4300 5500Trong đó:- Thịt lợn (%) 68 65 63- Gia cầm (%) 27 31 32- Thịt trâu bò, dê cừu (%) 3 3 4Tổng sản lượng trứng (tỷ quả) 7 11 14 6
  • 7. Năm 2010 2015 2020Chỉ tiêuTổng sản lượng sữa (nghìn tấn) 380 700 1000Bình quân sản phẩm chăn nuôi /người- Thịt xẻ (kg/người) 36 46 56- Trứng (quả/người) 82 116 140- Sữa (kg/người) 4,3 7,5 10,2 Biểu 4: Dự kiến chỉ tiêu nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2010-2020 (Nguồn: Cục Nuôi trồng thủy sản) Năm 2010 2015 2020Chỉ tiêuTổng SL nuôi trồng thủy sản (nghìn tấn) 2600 3650 4500Trong đó:- Tôm nước lợ (nghìn tấn) 400 555 700- Cá tra, cá ba sa (nghìn t ấn) 1250 1800 2000- Cá rô (nghìn tấn) 70 100 150- Tôm càng xanh (nghìn tấn) 20 40 60- Cá truyền thống (nghìn tấn) 500 600 850XK SP nuôi trồng thủy sản (tỷ USD) 2,8 3,5-4 5-5,5Nuôi trồng thủy sản giải quyết việc làm 2,8 3 3(triệu lao động) Để thực hiện được các chỉ tiêu ước vọng trên, chúng tôi dự tính phải chiphí lượng thức ăn tinh tương ứng, dù bất cứ phương thức chăn nuôi nào? tậptrung hay phân tán, nuôi tận dụng hay trang trại đều phải cho ăn để duy trì sựsống, để tăng trọng lượng. Biểu 5: Dự ước nhu cầu thức ăn tinh Hạng mục chi phí TĂ ĐVT 2010 2015 2020 7
  • 8. A. Tổng thức ăn nuôi gia súc, gia cầm Triệu tấn 16.577 21.746 26.766Trong đó:- Thức ăn nuôi lợn Triệu tấn 12.434 15.575 18.810- Thức ăn nuôi gia cầm lấy thịt Triệu tấn 2.591 3.808 4.776- Thức ăn nuôi gia cầm lấy trứng Triệu tấn 1.400 2.090 2.800- Thức ăn nuôi bò sữa Nghìn tấn 152 273 380B. Tổng thức ăn nuôi trồng thủy sản Triệu tấn 4.670 6.387,5 7.560Tổng = A+B Triệu tấn 21.247,8 28.133 37.416 Biểu 6: Dự ước nhu cầu thức ăn năng lượngSTT Hạng mục ĐVT 2010 2015 2020A 80% tổng nhu cầu của TA gia Triệu tấn 13.2 17.36 21.4 súc, gia cầm là năng lượngB 70% tổng nhu cầu của TA thủy Triệu tấn 3.2 4.4 5.3 sản là năng lượng Tổng nhu cầu năng lượng = A +B Triệu tấn 16.5 21.7 26.7 Biểu 7: Dự ước nhu cầu thức ăn đạmSTT Hạng mục ĐVT 2010 2015 2020A 15% tổng nhu cầu của TA gia súc, gia Nghìn tấn 2486 3261 4015 cầm là thức ăn đạmB 25% tổng nhu cầu của TA thủy sản là Nghìn tấn 1167 1596 1912 thức ăn đạm Tổng nhu cầu TĂ đạm = A +B Nghìn tấn 3653 4857 5927 Biểu 8: Dự ước tổng hợp nhu cầu hai loại nguyên liệu cơ bản (năng lượng+ đạm) Hạng mục ĐVT 2010 2015 2020Tổng nhu cầu TĂ tinh cho chăn nuôi Triệu tấn 21.247 28.133 34.416gia súc, gia cầmTrong đó- Nhu cầu năng lượng Triệu tấn 16.5 21.7 26.7- Nhu cầu TĂ đạm Triệu tấn 3.6 4.8 5.9 8
  • 9. Biểu 9: Nhu cầu các chất tổng hợp bổ sung thức ăn Hạng mục ĐVT Nhu cầuPremix loại 1% và 4% Nghìn tấn 100-120Dicanxi phốt phát Nghìn tấn 100Các chất bổ sung như: men sinh khối, Nghìn tấn 20-30chất phụ gia* Còn nhiều loại thức ăn bổ sung khác…3. Khả năng nguyên liệu sản xuất trong nướca. Thức ăn giàu năng lượng Theo dự thảo chiến lược phát triển trồng trọt thì sản lượng lúa năm 2010sẽ là 37,2 triệu tấn; năm 2015 sẽ là 38,6 triệu tấn; năm 2020 sẽ là 39,4 triệu tấn.Trừ đi 1,5 triệu tấn lúa giống, nấu rượu còn lại người xay gạo ăn và xuất khẩu. Ngô năm 2010 dự kiến đạt 4,7 triệu tấn; năm 2015 đạt 6 triệu tấn; năm2020 đạt 7,5 triệu tấn. Biểu 10: Khả năng sản xuất nguyên liệu giàu năng lượng trong nướcSTT Hạng mục ĐVT 2010 2015 2020A Tổng sản lượng lúa (*) Triệu tấn 37,2 38,6 39,4 -8% cám xay xát, lúa lấy gạo ăn và XK Triệu tấn 2,8 3,08 3,1B Sản lượng ngô sản xuất trong nước Triệu tấn 4,7 6,0 7,5 - 70% SL ngô dành cho chăn nuôi Triệu tấn 3,8 5,2 6,0C Sản lượng sắn khô Triệu tấn 2,4 2,8 3,3 -50% SL sắn là dùng cho ch ăn nuôi Triệu tấn 1,2 1,4 1,65 Tổng nguồn TĂ năng lượng = A +B Triệu tấn 7,8 9,68 10,75 +Cb. Thức ăn giàu đạm Nguồn thức ăn đạm nước ta cơ bản là thiếu. 9
  • 10. - Nguồn đạm thực vật: + Đỗ tương: năm 2015 có 300 nghìn ha; năm 2020 có 400 nghìn ha. Năng suất 1-1,5 tấn/ha. Cũng không đủ làm thực phẩm cho người ăn. + Lạc (đậu phộng): Hiện nay có gần 300 nghìn ha. Sản lượng lạc 750.000 tấn. Đến năm 2020 đạt 1 triệu tấn, đủ ăn và có một chút xuất khẩu lạc nhân.- Nguồn đạm động vật + Bột cá chất lượng 50-55% đạm ta có 200.000 tấn/năm. Loại >60% có vài ba chục nghìn tấn, không đáp ứng yêu cầu sản xuất cả số lượng và chất lượng- Nhu cầu đạm Biểu 11: Cân đối giữa nhu cầu và khả năngSTT Hạng mục ĐVT 2010 2015 20201 Năng lượnga Nhu cầu Triệu tấn 16.5 21.7 26.8b Khả năng sản xuất trong nước Triệu tấn 7.8 9.68 10.75 Tỷ lệ (%) 47.2 44,6 40,1 Thiếu = a-b Triệu tấn 9.2 13.1 16.92 Đạm động thực vậta Nhu cầu Triệu tấn 3.6 4.8 5.9b Khả năng sản xuất trong nước Triệu tấn 0.5 0.7 1.0 Tỷ lệ (%) 13 14.5 16.9 Thiếu = a-b 3.1 4.1 4.9 Chỉ cân đối hai loại nguyên liệu cơ bản: năng lượng và đạm đã thấy thiếunghiêm trọng khi phát triển chăn nuôi đi lên. Khẳng định đẩy mạnh phát triểnchăn nuôi ở Việt Nam đồng nghĩa với việc nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chănnuôi. Không chỉ nhập khẩu nguyên liệu giầu đạm mà còn nhập khẩu nguyên liệugiầu năng lượng với khối lượng lớn. Vì quỹ đất của ta đã bố trí kín cơ cấu câytrồng khác. Phải hiểu rằng, Việt Nam nhập nguyên liệu để phát triển chăn nuôilà giải quyết việc làm, để có thu nhập cho hàng chục triệu lao động nông nghiệp, 10
  • 11. ở nông thôn đồng thời giải quyết thực phẩm tươi sống tại chỗ mà tập quán tiêudùng xã hội hàng nghìn năm. Chúng ta có thể xuất khẩu cao su, cà phê… nhưngnhập khẩu khô đậu tương, ngô, cỏ khô về chăn nuôi là việc làm bình thường. Vìcác nguyên liệu đó nông nghiệp nước ta không có thế mạnh.IV . NHỮNG GIẢI PHÁP1. Đổi mới nhận thức: Trước hết nhận thức đúng “Food Security”. Food có nghĩa lương thực (tinhbột) và thực phẩm (sản phẩm động vật, rau, đậu, vitamine…). Như vậy “foodsecurity” là an ninh lương thực và thực phẩm, chứ không chỉ có lương thực. Mấtan ninh về thực phẩm cũng gây ra những biến cố xã hội phức tạp, ví dụ như HànQuốc. Khi mất an ninh thực phẩm khó “food safety- an toàn thực phẩm”. Vìvậy phải đặt đúng “V ai trò, vị trí của chăn nuôi trong cơ cấu sản xuất nôngnghiệp” là giải quyết an ninh thực phẩm cho xã hội. Nếu không giải quyếtnhanh và thỏa đáng thì sau thời hạn cam kết WTO (2012) Việt Nam mất anninh thực phẩm nghiêm trọng, thực phẩm động vật (thịt lợn, thịt gà, trứng…)nước ngoài tràn vào, nông dân mất việc làm. Vì vậy ngày từ nay bằng hành độngcụ thể, bố trí tăng cường cơ cấu đầu tư, sản xuất chăn nuôi nói chung và thức ănchăn nuôi nói riêng.2. Đầu tư nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu những khâu đột phá của ngành thức ăn chăn nuôi theo chuỗi sản phẩm: hóa dược, khoáng vi lượng, premix, vi sinh, enzyme, hoạt chất sinh học, mùi, mùi vị tạo nguồn nguyên liệu mới thức ăn bổ sung trong nước góp phần giảm giá thành. Nghiên cứu và phổ biến rộng rãi các công thức sản xuất thức ăn hàm lượng chất xám cao.3. Đầu tư, hoặc ưu tiên kêu gọi nước ngoài đầu tư sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi ngay tại Việt Nam như: các amino acid, lyzine, Methionine…các vi khoáng, các chất phụ gia, bổ sung…4. Coi thức ăn chăn nuôi là mặt hàng thiết yếu an ninh thực phẩm được hưởng mọi quyền lợi ưu tiên như lương thực và phân bón trong 10 mặt hàng thiết yếu mà Bộ Công Thương xếp hạng quy định.5. Đầu tư cảng chuyên dùng nhập ngô, đậu tương,… hàng nông sản, vì đặc thù nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu phần lớn là hàng rời, ít hàng container. 11
  • 12. 6. Thống nhất quản lý chất lượng: cơ quan chuyên môn, chuyên ngành chăn nuôi cấp đăng ký chất lượng sản phẩm, giá trị đăng ký của các cơ quan chuyên môn phải được lưu hành toàn quốc như mặt hàng khác: đường, sữa. Riêng thức ăn chăn nuôi tỉnh nào cũng vào cả các đại lý, cửa hàng bán thức ăn … thanh tra, kiểm tra chất lượng. Đoàn Thanh tra vừa ra, đoàn kiểm tra lại đến. Rồi lại quản lý thị trường. Đoàn nào đến, nhà máy và các cửa hàng, đại lý cũng quan trọng, đều phải mềm mỏng đón tiếp. Tất cả đều “trút vào” giá bán cũng như phí tiêu cực vận chuyển đều là chi phí vô hình đẩy giá thức ăn chăn nuôi lên cao. Vì vậy cần xử lý gấp vấn đề này.7. Chính sách:- Miễn thuế V A T cho nguyên li u thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước và ệ nhập khẩu.- Miễn thuế nhập khẩu cho các mặt hàng thức ăn chăn nuôi còn chưa được miễn- Quy hoạch ưu tiên giành đất làm nhà xưởng, kho tàng, sân bãi ở cảng với giá đất thấp như giá giải phóng mặt bằng dất làm công trình công cộng,- Giành khoản kinh phí khuyến nông để làm nhiệm vụ tuyên truyền huấn luyện về kỹ thuật thức ăn chăn nuôi cho các doanh nghiệp thông qua tổ chức xã hội nghề nghiệp.8. Đổi mới chương trình đào tạo ở cấp đại học. Các trường đại học nông nghiệp nên mở các lớp đại học chuyên về dinhdưỡng, đào tạo chuyên gia giỏi về chuỗi công nghệ sản xuất thức ăn, từ khâu lậpcông thức, chọn nguyên liệu, vận hành máy chế biến ra đến sản phẩm, khả năngquản lý chất lượng sản phẩm, làm thị trường,… Các học viên này lâu dài lànhững chuyên gia. Cũng như thế đổi mới nghiên cứu: nghiên cứu một chuỗi sản phẩm luônluôn gắn liền với hiệu quả kinh tế.9. Bộ Nông nghiệp &PTNT phối hợp với Bộ Tài Chính nghiên cứu trình Chính phủ về phương án tăng nguồn dự trữ ngô, sắn, khô đậu tương, đậu tương làm thức ăn chăn nuôi.10. Nên đề xuất với Chính phủ đầu tư một chương trình sử dụng phụ phế phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi bò sữa, bò thịt. Đây là chương trình kinh tế xã hội. 12
  • 13. ****** *** Trên đây là những gợi ý khởi thảo. Mong được các nhà quản lý nghiêncứu. Nếu cần thiết, Hiệp hội Thức ăn Chăn nuôi Việt Nam sẽ gặp riêng trình bàycụ thể./. 13

×