Your SlideShare is downloading. ×
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Tieu luan tctt  ly thuyet ve danh muc dau tu
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×
Saving this for later? Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime – even offline.
Text the download link to your phone
Standard text messaging rates apply

Tieu luan tctt ly thuyet ve danh muc dau tu

8,899

Published on

1 Comment
1 Like
Statistics
Notes
  • cái này rộng quá co hẹp lại sẽ tốt hơn. nhưng bạn cũng rất tài khi đưa cả model Lu Zhang vào. Fama&French; Carhart chỉ nêu vậy thôi thì không áp dụng được đâu. Nó dính tới chọn phân chia danh mục theo mẫu quan sát nữa.
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total Views
8,899
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
330
Comments
1
Likes
1
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật MỤC LỤCCHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ DANH MỤC ĐẦU TƢ I. Tổng quan về danh mục đầu tƣ .............................................................................. 3 1. Khái niệm ..................................................................................................... 3 2. Các loại tài sản trong danh mục đầu tƣ ...................................................... 3 II. Lợi nhuận và rủi ro của danh mục đầu tƣ ............................................................ 4 1. Lợi nhuận của danh mục đầu tƣ. ................................................................ 4 2. Rủi ro của danh mục đầu tƣ ........................................................................ 5 2.1 Khái niệm ................................................................................................... 5 2.2 Đo lƣờng rủi ro ......................................................................................... 5 2.2.1 Lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn: ................................................... 5 2.2.2 Hệ số biến đổi (coefficient of variation) ................................................ 7 2.2.3 Đo lƣờng rủi ro của danh mục đầu tƣ ................................................... 8 2.2.4 Một số rủi ro của danh mục đầu tƣ chứng khoán: ............................ 9 3. Đa dạng hóa danh mục để giảm thiểu rủi ro............................................... 11CHƢƠNG 2: ĐA DẠNG HÓA VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐẦU TƢ I. Đa dạng hóa đầu tƣ .................................................................................................. 12 II. Các mô hình lý thuyết đầu tƣ ............................................................................... 13 1. Xác lập danh mục đầu tƣ thông qua mô hình Markowitz ......................... 13 1.1 Các bƣớc để thiết lập một danh mục đầu tƣ hiệu quả theo mô hình Markowitz: 14 1.2 Mô hình Fama-French ............................................................................. 20 2.Mô hình 4 nhân tố của Carhart (1997): .............................................................. 23 3. Mô hình 3 nhân tố của Lu Zhang (2010) ........................................................... 25CHƢƠNG 3 CUNG CẦU VÀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TÀI CHÍNH I. Định nghĩa vể tài sản tài chính ............................................................................. 27 II. Cung cầu và định giá tài sản tài chính ................................................................ 27 1. Cung cầu và định giá trái phiếu .................................................................... 27 1.1 Định nghĩa trái phiếu .................................................................................... 27 1
  • 2. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật 1.2 Phân loại trái phiếu ....................................................................................... 27 1.3 Cung và cầu trên thị trƣờng trái phiếu ...................................................... 28 1.3.1 Đƣờng cầu trái phiếu ...................................................................... 28 1.3.2 Đƣờng cung trái phiếu ..................................................................... 30 1.4 Định giá trái phiếu ....................................................................................... 31 1.4.1 Trái phiếu không có thời hạn .......................................................... 31 1.4.2 Trái phiếu có kỳ hạn đƣợc hƣởng lãi định kỳ ............................... 32 1.4.3 Trái phiếu có kỳ hạn không hƣởng lãi định kỳ .............................. 33 2. Định giá cổ phiếu ..................................................................................... 34 2.1 Định nghĩa cổ phiếu ...................................................................................... 34 2.2 Phân loại cổ phiếu: ........................................................................................ 34 2.3 Định giá cổ phiếu ........................................................................................... 35 2.3.1 Phƣơng pháp chiết khấu luồng thu nhập (DCF) ........................... 35 2.3.2 Phƣơng pháp chiết khấu luồng cổ tức. ........................................... 36 2
  • 3. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ DANH MỤC ĐẦU TƢ I. Tổng quan về danh mục đầu tƣ 1. Khái niệm Danh mục đầu tư (Investment Portfolio) là sự kết hợp nắm giữ các loại chứngkhoán, hàng hóa, bất động sản, các công cụ tương đương tiền mặt hay các tài sản khácbởi một cá nhân hay một nhà đầu tư thuộc tổ chức. Như vậy một danh mục đầu tư (DMĐT) đơn giản bao gồm một hoặc nhiều tài sảnđầu tư khác nhau. Tài sản đầu tư (Investment Assets) là các tài sản được các nhà đầu tưnắm giữ chủ yếu với mục đích đầu tư. Ngược lại tài sản tiêu dùng (Consumption Assets)là các tài sản được nắm giữ chủ yếu với mục đích tiêu dùng như xe cộ, quần áo, nhà ở,thiết bị gia đình, trang sức, thực phẩm… 2. Các loại tài sản trong danh mục đầu tƣ Theo cách phân loại của CFA Instiue các loại tài sản đầu tư chủ yếu thường đượcnắm giữ bởi các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân bao gồm: - Cổ phiếu (Equity Investment) + Cổ phiếu nội địa (Domestic equities) + Cổ phiếu quốc tế (International equities) - Các công cụ đầu tư có lợi suất cố định (fix-Income Investment) + Cổ phiếu ưu đãi (Prefered Stock) + Trái phiếu + Các công cụ có nguồn gốc từ các tài sản được chứng khoán: chứng khoán cónguồn gốc từ các khoản vay bất động sản và các nghĩa vụ nợ có đảm bảo. + Các công cụ thị trường tiền tệ (Money market Instruments): tín phiếu kho bạc,chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu… - Các công cụ tài chính phái sinh (Derivatives): hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tươnglai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi. 3
  • 4. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật - Các hình thức đầu tư khác: bao gồm các hình thức đầu tư như bất động sản, vốncổ phần riêng lẻ, vốn đầu tư mạo hiểm, quỹ phòng hộ, các loại hàng hóa ngoại tệ.II. Lợi nhuận và rủi ro của danh mục đầu tƣ 1. Lợi nhuận của danh mục đầu tƣ. Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là trung bình có trọng số của các lợinhuận kỳ vọng của từng tài sản hay chứng khoán cá biệt trong danh mục đầu tư. Trọng số ở đây chính là tỷ trọng của từng loại tài sản hay chứng khoán cá biệttrong danh mục đầu tư. Gọi Ep(R) là lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư, công thứctính lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư như sau: Ep(R) = Trong đó: Wj là tỷ trọng của chứng khoán j, Ej(R) là lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán j, n là tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư.Ví dụ 2: Minh họa cách tính tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của một danh mục đầu tư chứngkhoán. Giả sử bạn xem xét đầu tư vào danh mục bao gồm hai chứng khoán A và B có tỷsuất lợi nhuận kỳ vọng như sau: Chứng khoán A Chứng khoán B Lợi nhuận kỳvọng 14,0% 11,5% Hỏi tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là bao nhiêu nếu bạn đầu tư 40% trị giá vào chứng khoán A và phần còn lại vào chứng khoán B? Trả lời: Tỷ trọng đầu tư của bạn vào chứng khoán A và B lần lượt là 0,4 và 1 – 0,4 = 0,6. 4
  • 5. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư sẽ là: (0,4)14,0 + (0,6)11,5 = 12,5%.2. Rủi ro của danh mục đầu tƣ 2.1 Khái niệm Rủi ro được định nghĩa là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳvọng. Giả sử bạn mua trái phiếu kho bạc để có được lợi nhuận là 8%.Nếu bạn giữ tráiphiếu này đến cuối năm bạn sẽ được lợi nhuận là 8% trên khoản đầu tư của mình.Nếu bạnkhông mua trái phiếu mà dùng số tiền đó để mua cổ phiếu và giữ đến hết năm, bạn có thểcó hoặc có thể không có được cổ tức như kỳ vọng. Hơn nữa, cuối năm giá cổ phiếu có thểlên và bạn được lời cũng có thể xuống khiến bạn bị lỗ. Kết quả là lợi nhuận thực tế bạnnhận được có thể khác xa so với lợi nhuận bạn kỳ vọng. Nếu rủi ro được định nghĩa là sự sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳvọng thì trong trường hợp trên rõ ràng đầu tư vào trái phiếu có thể xem như không có rủiro trong khi đầu tư vào cổ phiếu rủi ro hơn nhiều, vì xác suất hay khả năng sai biệt giữalợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng trong trường hợp mua trái phiếu thấp hơntrong trường hợp mua cổ phiếu. Rủi ro của danh mục đầu tư là sự sai biệt của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuậnkỳ vọng của một danh mục đầu tư và được đo lường bởi độlệch chuẩn của danh mục đầutư. 2.2 Đo lƣờng rủi ro Rủi ro như vừa nói là một sự không chắc chắn, một biến cố có khảnăng xảy ra vàcũng có khả năng không xảy ra. Để đo lường rủi ro người ta dùng phân phối xác suất vớihai tham số đo lường phổ biến là lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn. 2.2.1 Lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn:Về mặt thống kê, lợi nhuận kỳ vọng, ký hiệu là E(R), được định nghĩa nhưsau: 5
  • 6. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật Trong đó: Ri lợi nhuận ứng với biến cố i, Pi là xác suất xảy ra biến cố i n là số biến cố có thể xảy ra. Như vậy lợi nhuận kỳ vọng chẳng qua là trung bình gia quyền của các lợi nhuậncó thể xảy ra với trọng số chính là xác suất xảy ra. Về ý nghĩa, lợi nhuận kỳ vọng chưaxảy ra, do đó, nó là lợi nhuận không chắc chắn hay lợi nhuận có kèm theo rủi ro. Ví dụ 3: Minh họa cách tính lợi nhuận kỳ vọng Lợi nhuận (Ri) Xác suất (Ri)(Pi) [Ri– E(R)]2(Pi) (Pi) - 0,10 0,05 - 0,0050 (-0,10–0,09)2(0,05) - 0,02 0,10 - 0,0020 (-0,02–0,09)2(0,10) 0,04 0,20 0,0080 (0,04–0,09)2(0,20) 0,09 0,30 0,0270 (0,09–0,09)2(0,30) 0,14 0,20 0,0280 (0,14–0,09)2(0,20) 0,20 0,10 0,0200 (0,20–0,09)2(0,10) 0,28 0,05 0,0140 (0,28–0,09)2(0,05) Tổng = Lợi nhuận kỳ vọng Phương sai σ2=0,00703 1,00 E(R) = 0,090 Để đo lường độ phân tán hay sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳvọng, người ta dùng phương sai (σ2) hoặc độ lệch chuẩn (σ). Về mặt thống kê, phương saiđược định nghĩa như sau:Độ lệch chuẩn chính là căn bậc 2 của phương sai: 6
  • 7. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật Trong ví dụ trên nếu chúng ta lấy căn bậc 2 của phương sai σ2= 0,00703 thì sẽ cóđược giá trị của độ lệch chuẩn là 0,0838 hay 8,38%. Điều này cóý nghĩa là sai biệt giữalợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng là 8,38%. Lợi nhuận kỳ vọng là 9% với độlệch chuẩn là 8,38% có nghĩa là thực tế lợi nhuận có thể biến động trong khoảng từ 9 –8,38 = 0,62% đến 9 + 8,38 = 17,38%. 2.2.2 Hệ số biến đổi (coefficient of variation) Độ lệch chuẩn đôi khi cho chúng ta những kết luận không chính xác khi so sánhrủi ro của hai dự án nếu như chúng rất khác nhau về quy mô. Ví dụ xem xét hai dự án đầutư A và B có phân phối xác suất như sau: Dự án A Dự án BLợi nhuận kỳ vọng, E(R) 0,08 0,24Độ lệch chuẩn, σ 0,06 0,08Hệ số biến đổi, CV 0,75 0,33 Nếu nhìn vào độ lệch chuẩn chúng ta thấy rằng độ lệch chuẩn của dự án B lớn hơnA. Liệu có thể kết luận rằng dự án B rủi ro hơn A hay không? Nếu chỉ đơn thuần nhìnvào độ lệch chuẩn có thể kết luận như vậy, nhưng vấn đề ở đây là cần so sánh xem quymô lợi nhuận kỳ vọng của hai dự án này như thế nào. Dự án B có độ lệch chuẩn là 8%trong khi dự án A chỉ có 6% nhưng lệch 8% của quy mô lợi nhuận kỳ vọng là 1000$ sẽrất nhỏ so với lệch 6% của quy mô lợi nhuận kỳ vọng 1 triệu $. Để khắc phục tình trạngnày chúng ta dùng chỉ tiêu hệ số biến đổi CV (coefficient of variation). Về thống kê, hệsố biến đổi được định nghĩa như sau : CV= Trong ví dụ trên, dự án A có CV(A) = 0,06/0,08 = 0,75 trong khi dự án B cóCV(B) = 0,08/0,24 = 0,33. Có thể nói dự án A rủi ro hơn dự án B. Tóm lại rủi ro là sự 7
  • 8. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtkhông chắc chắn, nó chính là sai biệt giữa giá trị thực tế hay giá trị quan sát so với giá trịkỳ vọng. Trong phạm vi bài này chúng ta quan sát lợi nhuận. Rủi ro ở đây chính là saibiệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng. Để đo lường được rủi ro trước hếtchúng ta phải xác định được lợi nhuận kỳ vọng, kế đến xác định độ lệch chuẩn của lợinhuận so với lợi nhuận kỳ vọng. Ngoài ra, cần lưu ý loại trừ sự ảnh hưởng của yếu tố quimô bằng cách sử dụng hệ số biến đổi CV để so sánh mức độ rủi ro khác nhau khi quy môlợi nhuận kỳ vọng khác nhau đáng kể. 2.2.3 Đo lƣờng rủi ro của danh mục đầu tƣ Rủi ro của danh mục đầu tư được đo lường bởi độ lệch chuẩn của danh mục đầutư. Khi kết hợp nhiều chứng khoán trong một danh mục đầu tư chứng khoán, lợi nhuậncủa các chứng khoán cá biệt có quan hệ với nhau. Đồng phương sai (covariance) là đạilượng thống kê dùng để đo lường mức độ tác động qua lại lẫn nhau giữa tỷsuất lợi nhuậncủa hai tài sản cá biệt. Nói cách khác, độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư phụ thuộc vàomức độ quan hệ hay mức độ tương quan giữa các chứng khoán trong danh mục đầu tư.Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư được xác định bởi công thức: σp = Trong đó: m là tổng số chứng khoán có trong danh mục đầu tư, Wj là tỷ trọng của chứng khoán j trong danh mục, Wk là tỷ trọng của chứng khoán k trong danh mục, j,k là đồng phương sai giữa lợi nhuận của chứng khoán j và k. Đồng phương sai lợi nhuận của hai chứng khoán là chỉ tiêu đo lường mức độ quanhệ tuyến tính giữa hai chứng khoán. Đồng phương sai được xác định bởi công thức: σj,k = rj,kσj σk Trong đó rj,k(đôi khi ký hiệu ρj,k) là hệ số tương quan kỳ vọng giữa lợi nhuận củachứng khoán j và chứng khoán k, σj là độ lệch chuẩn lợi nhuận của chứng khoán j, và σklà độ lệch chuẩn lợi nhuận của chứng khoán k. Khi j = k thì hệ số tương quan r j,k= 1 và rj,kσj σj = σj2 8
  • 9. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật Ví dụ 4: Minh họa cách tính lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn của một danhmục đầu tư chứng khoán bao gồm hai cổ phiếu. Cổ phiếu 1 có lợi nhuận kỳ vọng hàng năm là 16% với độ lệch chuẩn 15%.Cổphiếu 2 có lợi nhuận kỳ vọng là 14% với độ lệch chuẩn là 12%. Hệ số tương quan giữahai cổphiếu này là 0,4. Nếu bạn đầu tư tiền bằng nhau vào hai cổ phiếu này thì tỷ suất lợinhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư là bao nhiêu? Cổphiếu 1 Cổphiếu 2 Cổphiếu 1 W1W1σ1,1 = W1W1r1,1 W1W2σ1,2 = W1W2r1,2 σ1σ1 σ1σ2 Cổphiếu 2 W2W1σ2,1 = W2W1r2,1 W2W2σ2,2 = W2W2r2,2σ2σ2 σ2σ1 Cổ phiếu 1 Cổ phiếu 2 Cổphiếu 1 (0,5)(0,5)(1)(0,15)(0,15) (0,5)(0,5)(0,4)(0,15)(0,12) Cổphiếu 2 (0,5)(0,5)(0,4)(0,12)(0,15) (0,5)(0,5)(1)(0,12)(0,12)σp = [(0,5)(0,5)(1)(0,15)(0,15)] + [(0,5)(0,5)(0,4)(0,15)(0,12)] +[(0,5)(0,5)(0,4)(0,12)(0,15)] + [(0,5)(0,5)(1)(0,12)(0,12)] = 11,3% 2.2.4 Một số rủi ro của danh mục đầu tƣ chứng khoán - Rủi ro hệ thống (systematic risk): rủi ro biến động lợi nhuận của chứng khoánhay của danh mục đầu tưdo sựthay đổi lợi nhuận trên thịtrường nói chung. Bao gồm cácloại rủi ro sau: + Rủi ro thị trường: Những thay đổi trong mức sinh lời đối với phần lớn các loạicổ phiếu là do sự hy vọng của các nhà đầu tư gọi là rủi ro thị trường. Rủi ro thị trườngxuất hiện do có những phản ứng của các nhà đầu tư đối với những sự kiện hữu hình vềkinh tế, chính trị, xã hội hay các sự kiện vô hình do yếu tố tâm lý của thị trường. 9
  • 10. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật + Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất là khả năng biếnđộng của lợi nhuận do thay đổilãi suất trên thị trường. Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường vàsố tiền thu nhập trong tương lai. Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuốngcủa lãi suất trái phiếu chính phủ, khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng củacác loại cổ phiếu và trái phiếu công ty. + Rủi ro sức mua: rủi ro sức mua là biến cố của sức mua củađồng tiền thu được, làtácđộng của lạm phát đối với các khoản đầu tư. Nếu khoản đầu tư là một khỏan tiêu dùngngay, khi bạn mua cổ phiếu bạn đã bỏ mất cơ hội mua hàng hóa hay dịch vụ trong thờigian sở hữu cổ phiếu đó. Nếu giá cả hàng h óa tăng nhà đầu tư đã mất đi một phần sứcmua, điều đó đòi hỏi thu nhập đối với chứng khoán cũng phải tăng lênvà nó tác động lêngiá của chứng khoán. -Rủi ro phi hệ thống: (unsystematic risk) rủi ro xảy ra đối với một công ty hay mộtngành kinh doanh nào đó, nó độc lập với các yếu tốnhưtình hình kinh tế, chính trịhaynhững yếu tốmang tính chất hệthống có ảnh hưởng đến toàn bộcác chứng khoán có trênthịtrường. Gồm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính: + Rủi ro kinh doanh: rủi ro kinh doanh là do tình trạng hoạt động của công ty, khicó những thay đổi trong tình trạng này công ty có thể bị giảm sút lợi nhuận và cổ tức.Mức độ thay đổi so với xu hướng dự kiếnđược gọi là rủi ro kinh doanh. Rủi ro kinhdoanh cònđược chia làm 2 loại bên ngoài và nội tại. Rủi ro kinh doanh nội tại phát sinhtrong quá trình vận hành hoạtđộng của công ty. Rủi ro kinh doanh bên ngoài là nhữngtrường hợp xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát của công ty và làmảnh hưởngđến tình trạnghoạtđộng của công ty. + Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính liên quan đến việc công ty tài trợ cho hoạtđộng của mình. Người ta thường tính toán rủi ro tài chính bằng việc xem xét cấu trúc vốncủa một công ty. Một công ty không vay nợ sẽ không có rủi ro tài chính. Bằng việc đi vaycông ty đã thay đổi dòngthu nhậpđối với cổ phiếu thường. Cụ thể việc sử dụngđòn bẩyvay nợ có 3 hệ quả quan trọngđối với những người nắm giữ cổ phiếu thường, ảnhhưởngđến dự kiến của họ vềthu nhập và làm tăng rủi ro của họ. Tổng rủi ro= Rủi ro hệ thống + Rủi ro không hệ thống 10
  • 11. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật 3. Đa dạng hóa danh mục để giảm thiểu rủi ro. Trong phần này chúng ta xem xét chiến lược đầu tư đa dạng hoá nhằm cắt giảmrủi ro. Phương châm ở đây dựa vào câu phương ngôn “Đừng bỏ tất cảcác quả trứng củabạn vào cùng một giỏ” (Don’t put all your eggs in one basket). Đa dạng hóa danh mụcđầu tưnhằm cắt giảm rủi ro ở đây có nghĩa là kết hợp đầu tư vào nhiều loại chứng khoánmà các chứng khoán này không có tương quan cùng chiều với nhau một cách hoàn hảo,nhờvậy biến động giảm lợi nhuận của chứng khoán này có thể được bù đắp bằng biếnđộng tăng lợi nhuận của chứng khoán kia. Ngoài ra, người ta còn đa dạng hóa nhằm cắtgiảm rủi ro bằng cách đầu tưvào thị trường chứng khoán quốc tếthay vì chỉ tập trung đầutư vào thịtrường chứng khoán của một quốc gia nào đó. Cụ thể hơn, giả sử bạn đang xem xét đầu tư vào một đảo quốc, ở đó có hai mùamưa và nắng, và có hai công ty hoạt động: một công ty chuyên sản xuất và kinh doanh áođi mưa và một công ty chuyên sản xuất và kinh doanh kem chống nắng. Hệ số tươngquan lợi nhuận của hai công ty này là = - 1, vì sáu tháng mùa nắng công ty sản xuấtkem chống nắng thu được lợi nhuận cao trong khi công ty sản xuất áo đi mưa không cólợi nhuận. Ngược lại, sáu tháng mùa mưa, công ty sản xuất áo đi mưa thu được lợi nhuậncao trong khi công ty sản xuất kem chống nắng không có lợi nhuận. Là nhà đầu tư khôn ngoan, thay vì dồn toàn bộ vốn đầu tư vào một trong hai côngty, bạn nên đầu tư vào một danh mục gồm 50% cổ phiếu công ty sản xuất kem chống 11
  • 12. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtnắng và 50% cổ phiếu công ty sản xuất áo đi mưa. Như vậy, quanh năm dù mùa mưa haymùa nắng bạn đều cócơ hội kiếm được lợi nhuận từ danh mục đầu tư trên. CHƢƠNG 2: ĐA DẠNG HÓA VÀ CÁC MÔ HÌNH ĐẦU TƢI. Đa dạng hóa đầu tƣ Chúng ta có thể đo lường các yếu tố không ổn định cho một chứng khoán riêng lẻhay cho cả một danh mục các chứng khoán. Đương nhiên là mức độ biến động của mộtchứng khoán riêng lẻ có thể cao hơn một danh mục đầu tư trên thị trường. Để đo lường được mức độ rủi ro của chứng khoán, chúng ta dùng độ lệch chuẩn đểđánh giá mức độ biến động của chứng khoán đó. Để làm rõ quan điểm đa dạng hóa đầutư làm giảm rủi ro ra sao, chúng ta lấy số liệu về độ lệch chuẩn của cổ phiếu các công tynổi tiếng thế giới (từ năm 1973 đến năm 1998), cụ thể như sau: Cổ phần Độ lệch chuẩn Cổ phần Độ lệch chuẩn AT&T 22,6 General Electric 18,8 Cocacola 19,7 Mac Donald’s 20,8 Compaq 42,2 Microsoft 29,4 Điều dễ dàng nhận ra ở đây là cổ phiếu của các công ty có độ biến động rất cao,bởi độ lệch chuẩn của danh mục thị trường trong giai đoạn này chỉ vào khoảng 14%,trong khi đó hầu hết các cổ phiếu trên đều có độ lệch chuẩn cao hơn rất nhiều. Điều này thể hiện rõ khi ta so sánh độ lệch chuẩn của cổ phiếu với các chỉ số thịtrường tương ứng (Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1998) Cổ phiếu Độ lệch chuẩn Chỉ số thị trường Độ lệch chuẩn Bp 16,2 Anh 12,2 Duetche Bank 23,2 Đức 11,3 Nestlé 18,9 Thụy sỹ 14,6 Hudson Bay 26,3 Canada 11,7 Ta có thể thấy được rằng độ lệch chuẩn của các cổ phiếu riêng biệt luôn luôn lớnhơn độ lệch chuẩn của các chỉ số thị trường. Vậy một danh mục được thiết lập từ các cổ 12
  • 13. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtphiếu riêng biệt nhưng tại sao độ biến động của nó lại không được phản ánh đúng bằngđộ biến động bình quân của các cổ phần thành phần. Lý do được đưa ra ở đây là do tácđộng của đa dạng hóa đã làm giảm đi độ biến động Đa dạng hóa sẽ làm giảm thiểu rủi ro nhanh chóng ở những cổ phần đầu tiên sauđó giảm dần khi số cổ phần tăng lên.Việc giảm thiểu sự biến động của cổ phần được thểhiện rõ khi số lượng cổ phần đủ lớn . Đa dạng hóa phát huy tác dụng làm giảm thiểu rủi ro bởi giá của các cổ phần khácnhau thì không thay đổi giống nhau. Thực tế cho thấy hiếm khi giá các cổ phần khácnhau lại có sự tương quan với nhau về mặt biên động . Giá cổ phần của các công ty luôncó sự biến động lên xuống thất thường và đôi khi sự lên giá của cổ phiếu công ty này lạilà sự giảm giá của cổ phần công ty khác.Thông qua đó, chúng ta có thể giảm thiểu rủi robằng cách đa dạng hóa đầu tư. Để đánh giá được một cách chính xác tác động của đa dạng hóa đối với việc giảmthiểu rủi ro thi ta cần tính toán được rủi ro của danh mục.II. Các mô hình lý thuyết đầu tƣ 1. Xác lập danh mục đầu tƣ thông qua mô hình Markowitz Chúng ta thấy rằng ngay cả khi danh mục đầu tư được tạo thành từ các tài sảnngẫu nhiên thì việc đa dạng hóa như thế cũng đã góp phần giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên,Markowitz đã phát triển lý thuyết danh mục đầu tư một cách khoa học hơn bằng cáchđịnh lượng hóa việc đa dạng danh mục đầu tư. Mô hình của Markowitz dựa trên những giả thuyết chính nhƣ sau: - Đầu tư trong khoảng thời gian đơn (ví dụ: 1 năm). - Quy định đầu tư dựa trên tỷ suất lợi tức kỳ vọng và rủi ro đầu tư (được đo lường bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất lợi tức). - Ở một mức rủi ro xác định, NĐT thích khoản đầu tư mang lại lợi tức kỳ vọng cao hơn. Tương tự, ở mức lợi tức kỳ vọng được xác định, NĐT sẽ chọn khỏan đầu tư có mức rủi ro thấp hơn. Vậy, một tài sản đầu tư hoặc danh mục đầu tư được xem là hiệu quả khi không cóbất kỳ tài sản hoặc danh mục đầu tư nào khác cùng mức rủi ro nhưng có tỷ suất lợi tức 13
  • 14. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtkỳ vong cao hơn hoặc có dùng tỷ suất lợi tức kỳ vọng nhưng lại có rủi ro thấp hơn. Danh mục đầu tư hiệu quả là danh mục có rủi ro thấp nhất ở bất kỳ một mức tỷsuất lợi tức kỳ vọng xác định trước hoặc có tỷ suất lợi tức kỳ vọng cao nhất ở bất kỳ mộtmức rủi ro được xác định trước. 1.1 Các bƣớc để thiết lập một danh mục đầu tƣ hiệu quả theo mô hìnhMarkowitz Bƣớc 1: Trên cơ sở tỷ suất lợi tức kỳ vọng nào đó trên danh mục đầu tư, giải bàitoán tối ưu hóa để tìm tỷ trọng của mỗi chứng khoán trong danh mục (Mục tiêu là tốithiểu hóa độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư) Bƣớc 2: Sau đó lần lượt thay đổi giá trị được xác định trước đối với tỷ suất lợi tứckỳ vọng trên danh mục, chúng ta sẽ tập hợp danh mục đầu tư có độ lệch chuẩn nhỏ nhất. Tóm lại, môi hình Markowitz xoay quanh vấn đề xác định tỷ trọng của mỗi tài sảntrong danh mục đầu tư. Bởi vì tỷ suất lợi tức kỳ vọng, độ lệch chuẩn của mỗi tài sản, hệsố tương quan giữa các tài sản được xem là đầu vào của mô hình Markowitz, tỷ trọng củamỗi tài sản trong danh mục đầu tư là biến số cần phải giải quyết để tìm ra danh mục đầutư hiệu quả. Bƣớc 3: NĐT lựa chọn danh mục đầu tư phù hợp với đặc điểm ngại rủi ro củamình. Đƣờng cong hữu dụng: Trong phần đầu, chúng ta đã đề cập đến nội dung là thựcthế các NĐT đều có xu hướng ngại rủi ro.NĐT chỉ sẵn sàng chấp nhận rủi ro với điềukiện được đền bù xứng đáng. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào các NĐT địnhlượng cân bằng rủi ro – lợi tức của mình, trong khi đó có tính đến đặc điểm ngại rủi ro, đểtrên cơ sở đó vận dụng nhằm lựa chọn kết hợp rủi ro – lợi tức mong muốn từ các cơ hộisẵn có. Để giải quyết vấnđề này, Lý thuyết đưa rakhái niệm về giá trị hữudụng. NĐT xác định giá 14
  • 15. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậttrị hữu dụng của một cơ hội đầu tư bằng cách điều chỉnh giảm tỷ suất lợi nhận kỳ vọngcủa cơ hội đầu tư đó một tỷ lệ % nhất định, nhằm tính đến rủi ro của bản thân đầu tư đóvà đặc điểm ngại rủi ro của NĐT. Rủi ro càng lớn, tỷ lệ điều chỉnh giảm càng lớn. Tươngtự, NĐT càng ngại rủi ro, tỷ lệ điều chỉnh giảm càng lớn. Một trong những hàm hữu dụngsử dụng phổ biến là dạng U  E  R   0 , 005 A  2 Trong đó: U là giá trị hữu dụng E(R) là tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng (%) A là Hệ số ngại rủi ro của NĐT  là Độ lệch chuẩn (tính theo %) Ví dụ 7: Có 2 cơ hội đầu tư: 1. Cổ phiếu với lãi suất kỳ vọng 22%, độ lệch chuẩn 34%; 2. Tín phiếu kho bạc với lãi suất 5%. Giả sử, NĐT có hệ số ngại rủi ro là 3 thì U=22-0,005*3*342=4,66%<5%. Vậy, NĐT sẽ chọn đầu tư vào trái phiếu thay vì cổ phiếu. Tuy nhiên, nếu A=2 thì U=22-0,005*2*342=10,44%>5%, NĐT sẽ lựa chọn đầu tư cổ phiếu. Chú ý: Đường cong hữu dụng cũng có thể gọi là đường cong bàng quang(indifference curve) với hàm ý trên đường cong này, NĐT có thể chọn bất kỳ danh mụcđầu tư nào vì không có danh mục nào hấp dẫn hơn danh mục nào. - Hệ số ngại rủi ro càng lớn, độdốc của đường cong hữu dụng càng lớn.Với cùng hệ số ngại rủi ro thì các đường 15
  • 16. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtcong hữu dụng không cắt nhau. Tuy nhiên, hai đường cong hữu dụng của 2 NĐT khácnhau sẽ giao nhau (Trường hợp hệ số ngại rủi ro khác nhau). Mỗi NĐT có vố số đườngcông hữu dụng. Bởi vì NĐT muốn tối đa hóa giá trị hữu dụng nếu có cơ hội nên cácđường cong hữu dụng cao hơn luôn được mong muốn hơn các đường cong hữu dụngthấp.Bƣớc 4: Về lựa chọn danh mục đầu tối ưu: a. Trƣờng hợp không tồn tại tài sản phi rủi ro: Chúng ta thấy rằng đường biên hiệu quả bao gồm tập hợp các danh mục đầu tư hiệuquả mà NĐT có thể tiến hành thực hiện. Việc lựa chọn danh mục đầu tư từ đường biênhiệu quả phụ thuộc vào hệ số ngại rủi ro của NĐT. Bên cạnh đó, NĐT cũng luôn muốntối đa hóa hữu dụng có thể có từ cơ hội đầu tư. Hay nói cách khác, các đường cong hữudụng cao hơn luôn được mong muốn hơn đường cong hữu dụng thấp. Kết hợp hai yếu tốnày, NĐT sẽ chọn được danh mục đầu tư nằm trên đường biên hiệu quả và tại đó đườngbiên hiệu quả tiếp xúc với đường cong hữu dụng.Trong đó: X là danh mục đầu tư tối ưu mà NĐT có hệ số ngại rủi ro A2 lựa chọn; Y là danh mục đầu tư tối ưu mà NĐT có hệ số ngại rủi o A1 lựa chọn. Ví dụ : Xác định tỷ trọng danh mục đầu tư tối ưu mà NĐT có thể thực hiện trong phương án đầu tư sau: Tài sản Trọng số Tỷ suất lợi tức kỳ vọng Độ lệch chuẩn Bất động sản W1 (?) E(r1) = 0,2  1 = 0,4 Chứng khoán W2 (?) E(r2) = 0,12  2 = 0,25  1, 2 Hệ số tương quan r1,2 = 0,2; Hiệp phương sai = r1,2*  1 *  2 = 0,02 Tỷ suất lợi tức kỳ vọng là EP = w1E(r1) + w2E(r2)=w1E(r1)+(1-w1)E(r2) 16
  • 17. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật E P  E (r 2) E ( r1)  E P W1  W2  E ( r1)  E ( r 2 ) E ( r1)  E ( r 2 ) => và (1)  1, 2  w 1  1  w 2   2 w1 w 2 2 2 2 2 2 Ta có Hiệp phương sai 2 1, 2 (2) Thay (1) vào (2) ta có : 2 2  E p  E (r 2)   E ( r 1)  E P   E p  E (r 2)   E ( r 1)  E P   1, 2     2     2   2 2 E  E (r 2)  1 E  E (r 2)  2 E  E (r 2)  E  E (r 2)  1, 2  ( r 1)   ( r1)   ( r 1)   ( r1)  E p  E (r 2)  2  2 1  E ( r1)  E P  2  2 2  2 E p  E (r 2)  E ( r1)  E P  1, 2   2 E  1, 2 2 ( r1)  E (r 2)  2 1  2 2  2 1, 2 E 2 P   2 E ( r1) 2 2  E ( r 2 ) 1 2   E ( r 1 )  E ( r 2 )  1, 2 E P   E ( r 1) 2 2 2  E ( r 2 ) 2 2 1  2 E ( r1) E ( r 2 ) 1, 2    2 E  1, 2 2 ( r1)  E (r 2)     2  E ( r1)  E ( r 2 )   E ( r 1 )  E ( r 2 )  2 2 2 2 2 1 1, 2   1 2 1, 2   Đặt E  ( r1) E (r 2)  2 ; E ( r1)  E (r 2)  2 E 2 ( r1)  2 2  E ( r 2 ) 2 2 1  2 E ( r1) E ( r 2 ) 1, 2    E ( r1)  E (r 2)  2  1, 2   E P  2  E P    1 , 2  28 , 52 E P  7 , 91 E P  0 , 60 2 2 2 2 Ta có (4) Thay số ta có : (5) Biểu diễn 5 trên đồ thị trục tọa độ tỷ suất lợi tức kỳ vọng và độ lệch chuẩn ta được đường cong IOS.    E P  rP Với 1, 2 P ; ; 17
  • 18. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật Danh mục đầu tư tối ưu khi đường biên hiệu quả (IOS) tiếp xúc với đường cong hữu dụng cao nhất. Tại tiếp điểm, độ dốc của đường cong hữu dụng và đường biên hiệu quả (IOS) là bằng nhau. Do vậy : dE  1, 2  P d IOS E   Độ dốc của IOS : 1, 2 p Tại tiếp điểm  1, 2  A 1, 2 EP   1  1  EP       A dE  A P 1, 2 d U Độ dốc của đường đẳng dụng 1, 2  1, 2 Thay số ta có : EP=16,79% ; = 27,74% ; và W1=59,8% và W2=40,2%. Biểu diễn trên đồ thị : 18
  • 19. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật b. Trƣờng hợp có cả tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro Tài sản phi rủi ro là tài sản mang lại tỷ suất lợi nhuận chắc chắn. Do vậy, độ lệchchuẩn của tỷ suất lợi nhuận của tài sản phi rủi ro là bằng không (   0 ). Tương tự,phương sai, hiệp phương sai của tài sản phi rủi ro với các tài sản rủi ro khác hoặc danhmục đầu tư bất kỳ đều bằng không. Tỷ suất lợi tức của danh mục đầu tư được tính như sau : E P  yE 1  (1  y ) R f (9) Trong đó : EP là tỷ suất lợi tức kỳ vọng của danh mục đầu tư. y: tỷ trọng tài sản rủi ro trong danh mục đầu tư. E1 : tỷ suất lợi tức kỳ vọng của các tài sản rủi ro trong DMĐT Rf : tỷ suất lợi tức tài sản phi rủi ro. E (RP )  R f  E (R )  R f  C C  Từ đây, ta có : P Chúng ta thấy rằng độ lệch chuẩn và tỷ suất lợi tức kỳ vọng của danh mục kết hợpgiữa tài sản rủi ro và phi rủi ro có mối quan hệ tuyến tính với nhau. 19
  • 20. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật Phụ lục 1: Đầu tƣ bằng cách sử dụng đòn bẩy Có thể đạt được tỷ suất lợitức kỳ vọng cao hơn tỷ suất lợitức kỳ vọng ở tại điểm M haykhông nếu như NĐT sẵn sàngchấp nhận rủi ro cao hơn ? Câutrả lời là : Có. Có hai lựa chọn. 1là đầu tư toàn bộ vốn vào mộtdanh mục nào đó trên đườngbiên Markowitz và nằm phí bên phải của điểm M (điểm D chẳng hạn). 2. Vay theo lãisuất phi rủi ro và đầu tư tất cả vào danh mục tài sản rủi ro M. Giả sử NĐT vay theo lãi suất phi rủi ro một số lượng bằng 50% so với số vốn màông ta hiện có. Bây giờ tỷ trọng đầu tư vào M là 150% (y=1,5) và tỷ trọng đầu tư vào tàisản phi rủi ro là -50%. Tỷ suất lợi tức kỳ vọng và độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư kếthợp giữa danh mục M và việc vay mượn sẽ là : E(Rc)=1,5E(RM)+(-0,5)Rf ;  C  1, 5  M Trên đô thị, danh mục này nằm trên đường thẳng đi qua Rf và M, về phía bênphải của điểm M. Một cách tổng quát, tất cả các danh mục nằm trên đường thẳng đi quaRf và M, đồng thời nằm bên phải điểm M là các danh mục hiệu quả mà NĐT có thể lựachọn trong trường hợp có sử dụng đòn bẩy. Tương tự như vậy các trường hợp trên, việclựa chọn danh mục đầu tư tối tư cụ thể là tùy thuộc vào hệ số ngại rủi ro của NĐT. 1.2 Mô hình Fama-French Năm 1992, Eugene Fama một giáo sư tài chính người Mỹ, cùng với Kenneth Frenchkhám phá ra rằng beta của CAPM không giải thích được suất sinh lợi kỳ vọng của chứngkhoán Mỹ thời kỳ 1963-1990. Fama-French bắt đầu quan sát hai lớp cổ phiếu có khuynhhướng tốt hơn so với toàn bộ thị trường. Thứ nhất là cổ phiếu có vốn hóa nhỏ (smallcaps) hay còn gọi là qui mô nhỏ. Thứ hai là cổ phiếu có tỷ số giá sổ sách trên giá thị 20
  • 21. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậttrường BE/ME (Book to Market Equity) cao. Họ đưa thêm hai nhân tố này vào CAPM đểphản ánh sự nhạy cảm của danh mục đối với hai loại cổ phiếu này. Sau khi được giớithiệu vào năm 1993, mô hình ba nhân tố của hai tác giả Fama-French để lượng hóa mốiquan hệ giữa rủi ro và suất sinh lợi đã được kiểm định là có hiệu quả tại các thị trườngchứng khoán phát triển cũng như mới nổi. Mô hình ba nhân tố Fama-French (1993) cho rằng suất sinh lợi của một danh mục đầutư hoặc một cổ phiếu riêng biệt phụ thuộc vào 3 yếu tố đó là: yếu tố thị trường, yếu tố quimô công ty và yếu tố giá trị sổ sách trên giá trị thị trường BE/ME Mô hình được mô tả như sau: E(Ri) - Rf = c + βi [(E(RM) – Rf ] + si (SMB) + hi (HML) Trong đó: - E(Ri) : Mức lợi nhuận kỳ vọng cho danh mục i - Rf : Mức lợi nhuận không rủi ro. - E(RM) :Mức lợi nhuận kỳ vọng của toàn bộ thị trường. - SMB : Bình quân chênh lệch trong quá khứ giữa lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty nhỏ so với lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty lớn. - HML : Bình quân chênh lệch trong quá khứ giữa lợi nhuận danh mục cổ phiếu công ty có tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường cao so với công ty có giá trị này thấp. - bi: Hệ số hồi qui cho nhân tố thị trường. - si: Hệ số hồi qui cho nhân tố SMB. - hi: Hệ số hồi qui cho nhân tố HML. Mô hình Fama-French 3 nhân tố vẫn cho rằng tỷ suất sinh lợi cao là phần thưởngcho sự chấp nhận rủi ro cao. Hệ số si và hi lần lượt đo lường mức độ ảnh hưởng của hainhân tố SMB và HML đến tỷ suất sinh lợi của danh mục i. Danh mục i bao gồm nhữngcổ phiếu giá trị sẽ có hệ số hi cao và ngược lại đối với danh mục bao gồm những cổ phiếutăng trưởng sẽ có hi thấp. Tương tự, danh mục i bao gồm những cổ phiếu có vốn hóa thịtrường cao thì sẽ có hệ số si thấp và ngược lại đối với những danh mục bao gồm nhữngcổ phiếu có vốn hóa thị trường thấp thì hệ số si cao. 21
  • 22. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật Mô hình trên mẫu của Fama-French ở thị trường Mỹ thời gian 1963-1991 đã chothấy một mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô và TSSL trung bình, và một mối tươngquan cùng chiều mạnh hơn của BE/ME với TSSL trung bình, có nghĩa là BE/ME có tácdụng giải thích TSSL chứng khoán nhất quán hơn so với nhân tố quy mô. Với cùng mộtnhóm danh mục con BE/ME (ngoại trừ nhóm danh mục con có BE/ME thấp nhất), TSSLgiảm khi quy mô tăng, điều này cũng có nghĩa là hệ số của nhân tố SMB là dương. Vớicùng một nhóm danh mục con theo quy mô, TSSL trung bình có xu hướng tăng cùng vớiBE/ME, tức hệ số của nhân tố HML là dương. Fama-French giải thích hệ số của SMB dương là do những doanh nghiệp có quymô nhỏ thường chứa đựng rủi ro cao, hoạt động kém hiệu quả hơn, chi phí đại diện caohơn, do đó NĐT đòi hòi một phần bù rủi ro > 0. Cũng theo Fama-French, những công ty có BE/ME cao thường rơi vào kiệt quệ tàichính nhiều hơn, gây rủi ro cho NĐT, do đó NĐT được phần bù giá trị dương. Tóm lại, một số lƣu ý quan trong về lý thuyết danh mục đầu tƣ củaMarkowitz : - Lý thuyết danh mục đầu tư được đề cập đến như một mô hình chỉ có hai tham số,bởi vì nó giả thiết rằng quyết định đầu tư chỉ xem xét dựa trên 2 tham số : Tỷ suất lợi tứckỳ vọng và độ lệch chuẩn (thể hiện cho rủi ro). - Mô hình Markowitz tạo ra một tập hợp danh mục đầu tư hiệu quả. Trên đườngbiên hiệu quả, không danh mục nào tốt hơn danh mục nào. Lựa chọn danh mục đầu tưhoàn toàn phụ thuộc vào mỗi NĐT cụ thể (hệ số ngại rủi ro). - Mô hình Markowitz không giải quyết vấn đề đầu tư hoặc vay theo lãi suất phí rủiro được bổ sung thêm vào danh mục các tài sản rủi ro. Trong phần trên, chúng ta đã thấyrằng kết hợp tài sản phi rủi ro vào danh mục rủi ro, giá trị hữu dụng của đầu tư tăng lên,đường biên hiệu quả cũng thay đổi (trở thành đường thẳng tiếp xúc với đường biênMarkowitz). - Vì mỗi NĐT có bộ các tham số đầu vào cho mô hình Markowitz ước lượng khácnhau (Tỷ suất lợi nhuận, độ lệch chuẩn, hệ số tương quan), đường biên hiệu quả của mỗiNĐT cũng khác nhau. Đây là vấn đề liên quan đến thực tế là thành công của việc lựa 22
  • 23. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtchọn danh mục đầu tư phụ thuộc vào chất lượng của các tham số đầu vào. - Mô hình Markowitz đòi hỏi phải ước lượng lớn các tham số đầu vào. Ví dụ :muốn xây dựng đường biên hiệu quả của danh mục đầu tư với m=50 chứng khoán, chúngta phải có 50 giá tỷ suất lợi nhuận, 50 giá trị phương sai, 1.225 giá trị hiệp phương sai.Đây là khối lượng công việc nặng nề trong khi thực tế đòi hỏi đa dạng hóa rất sâu danhmục đầu tư. Bên cạnh đó, khả năng sai số rất lớn khi thực hiện nhiều các phép tính nhưvậy. Do đó cũng làm giảm tính chính xác của việc xây dựng đừơng biên hiệu quả. Xuấtphát từ lý do này mà nhiều nghiên cứu để đơn giản hóa việc ứng dụng mô hìnhMarkowitz. Có hai cách đơn giản hóa là : 1. Đơn giản hóa số lượng và loại dữ liệu cầnthiết để phân tích. 2. Đơn giản hóa thủ tục tính toán để xác định danh mục đầu tư hiệuquả./. 2. Mô hình 4 nhân tố của Carhart (1997) Carhart nghiên cứu hai mô hình đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ là mô hìnhCAPM của Sharpe (1964) và Litner (1965) và mô hình 4 nhân tố Carhart (1995). Carhartnhận thấy rằng mô hình 3 nhân tố Fama-French không giải thích được biến động trongTSSL khi phân loại danh mục theo TSSL kỳ trước (theo xu hướng/đà tăng trưởng). ChanJegadessh và Lakonishok cho rằng sự bất thường của nhân tố xu hướng chính là một yếutố của thị trường không hiệu quả do phản ứng chậm với thông tin. Mẫu mà Carhart sửdụng là mẫu không loại trừ những công ty ngưng hoạt động tính tới thời điểm kết thúckhảo sát, đồng thời là mẫu có kích thước lớn nhất tính cho đến thời điểm 1997, do đó cótính tổng quát cao hơn những mô hình trước đó. Mẫu bao gồm dữ liệu tháng của tất cảnhững quỹ từ tháng 1-1962 đến tháng 12-1993, tổng cộng 1892 quỹ và 16109 tổng sốnăm hoạt động. Grinbatt và Titman (1989) và Wermers (1996) thì sử dụng số liệu quý,còn Brown và Goetzmann (1995) đã nghiên cứu mẫu gồm các quỹ rất giống của Carhart,từ 1976 đến 1988, nhưng lại bỏ qua năm đầu tiên của quỹ mới thành lập và năm cuối củaquỹ ngưng hoạt động. Carhart xây dựng mô hình 4 nhân tố dựa trên mô hình 3 nhân tố của Fama vàFrench (1993) và thêm một nhân tố nữa được đưa ra bởi Jegadeesh và Titman (1993) làyếu tố xu hướng bất thường trong một năm. 23
  • 24. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật Ri(t) – RF(t) = αi + bi.[RM(t) – RF(t)] + si.SMB(t) + hi.HML(t) + piPR1YR(t) + e(t) t = 1,2,…, TTrong đó: - RF: Lãi suất phi rủi ro ( theo kỳ quan sát tháng) - RM: TSSL của thị trường - SMB và HML: Các nhân tố mô phỏng quy mô và giá trị, được tính như trong môhình ba nhân tố Fama-French (chia 6 danh mục theo các điểm gãy 50%-50% với quy môvà 30%-40%-30% cho BE/ME) - PR1YR (High minus Low prior-year return, hay Winners minus Losers): Yếu tốxu hướng một năm, được tính bằng TSSL bình quân của các chứng khoán cao giá nămtrước trừ cho TSSL bình quân của các chứng khoán thấp giá năm trước, đo lường lợinhuận tăng thêm của nhà đầu tư khi tiếp tục nắm giữ những chứng khoán cao giá của nămtrước do thực hiện chiến lược đầu tư theo xu hướng. Cụ thể, PR1YR là chênh lệch đượctính bằng TSSL bình quân tháng năm sau của 30% chứng khoán có TSSL năm trước caonhất trừ cho TSSL bình quân tháng năm sau của 30% chứng khoán có TSSL năm trướcthấp nhất. Tỷ suất sinh lợi mà Carhart sử dụng để phân loại chứng khoán là tỷ suất sinhlợi 11 tháng năm trước với độ trễ 1 tháng, tức là bỏ qua tháng liền trước đó. Carhart xây dựng hệ số cho PR1YR trên cơ sở tạo 6 danh mục do phân loại các chứngkhoán theo quy mô (Small,Big – S,B với các điểm gãy 50%-50%) và theo chứng khoáncao giá/mất giá năm trước (Winners, Neutral, Losers – W,N,L với các điểm gãy 30%-40%-30%). Điều này khác với cách làm của Brav, Gezcy và Gompers (2000) là chia cácchứng khoán theo xu hướng thành 2 nhóm Winners-Losers với điểm gãy 50%-50%. Hệsố PR1YR hàng tháng được tính: PR1YR = [(S/W – S/L)+ (B/W - B/L)]/2 Ý nghĩa: không nên đầu tư vào những quỹ có TSSL âm thường xuyên; những quỹ cóTSSL cao năm trước thì năm sau sẽ có TSSL cao hơn TSSL mong đợi trung bình, nhưngnhững năm sau đó thì chưa chắc; tỷ số chi phí quản lý/Tổng tài sản ròng, chi phí giaodịch, chi phí đầu tư có tác động trực tiếp và ngược chiều đến TSSL của quỹ, những chi 24
  • 25. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtphí này sẽ lấy đi phần TSSL vượt trội của nhữngngười nắm giữ quỹ có TSSL cao nămtrước trong dài hạn. 3. Mô hình 3 nhân tố của Lu Zhang (2010) Xây dựng mô hình, ý nghĩa các nhân tố và hệ số: Long Chen và Lu Zhang cho rằng mô hình ba nhân tố Fama-French không giải thíchđược mối tương quan thuận giữa TSSL trung bình với TSSL kỳ trước trong ngắn hạn vàmối tương quan nghịch giữa TSSL trung bình với tình trạng kiệt quệ tài chính, phát hànhcổ phần mới và tăng trưởng tài sản. Hai ông đã xây dựng mô hình trên NYSE, Amex và NASDAQ từ tháng 1-1972 đếntháng 12-2006, mô hình gồm ba nhân tố là phần bù thị trường, phần bù đầu tư và phần bùTSSL trên tổng tài sản ROA. Nền tảng cho việc xây dựng này là thuyết Q của JamesTobin về quyết định đầu tư, theo đó q = giá trị thị trường/giá trị vốn góp của công ty,nhayq = ME/BE. Nói cách khác, q chính là hiện giá thuần của dòng tiền tương lai tạo ra từmột đồng vốn tăng thêm. Nếu q >1, công ty nên đầu tư thêm vì việc đầu tư sẽ mang lạilợi nhuận cao hơn chi phí bỏ ra, nếu q <1 thì công ty nên bán bớt tài sản vì chúng khôngtạo ra lợi nhuận và không đạt đến mức hữu dụng tối đa. Trong cả hai trường hợp thì q sẽtiến về 1, là trạng thái cân bằng đầu tư và công ty không cần phải thay đổi gì nữa. Nếu lãi suất dùng để chiết khấu cao thì làm giảm q, do đó giảm đầu tư. Điều nàycó nghĩa đầu tư thấp thì TSSL mong đợi cao. Nếu lãi suất dùng để chiết khấu thấp thì qtăng, công ty tăng đầu tư, cũng có nghĩa là đầu tư cao thì TSSL mong đợi thấp. ROA cũng dự báo TSSL vì một ROA mong đợi cao phải tương ứng với mộtlãisuất chiết khấu cao. Nếu lãi suất chiết khấu (tức TSSL) không cao tương ứng thì nhàđầu tư sẽ nhận thấy rằng giá trị hiện tại của vốn mới cao và sẽ đầu tư nhiều hơn.Trườnghợp ROA thấp thì ngược lại. Mô hình có dạng: E(ri) – rf = αi + βiMKT E(rMKT) + βiINV E(rINV) + βiROA E(rROA) + ei Trong đó: - Rf: TSSL phi rủi ro 25
  • 26. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật - βiMKT, βiINV, βiROA: là các hệ số nhân tố đo lường độ nhạy cảm nhân tố đốivới TSSL chứng khoán - E(rMKT): phần bù rủi ro thị trường - E(rINV): phần bù đầu tư. Đầu tư trên tài sản I/A (Investment on Asset) theo cách tính của Lu Zhang là tổngthay đổi hàng năm trong tài sản cố định và hàng tồn kho chia cho giá trị sổ sách tổng tàisản năm trước. Cách tính này cho thấy được đầu tư trong dài hạn vào tài sản cố định vàtrong ngắn hạn vào hàng tồn kho. Nhân tố đầu tư được tính dựa trên các danh mục mô phỏng đầu tư. Cách tính nàycũng giống như Fama và French. Vào tháng 6 mỗi năm, Long Chen và Lu Zhang chia cácchứng khoán thành 3 nhóm theo I/A với các điểm gãy là 30%-40%-30% (low-middle-high) và chia theo quy mô (vốn hoá thị trường) thành 2 nhóm với điểm gãy 50%-50%(small-big). Điều này dựa trên kết quả của Fama-French năm 2008 rằng độ lớn của tăngtrưởng tài sản thay đổi nhiều với các quy mô khác nhau: tăng trưởng mạnh đối với chứngkhoán vốn hoá nhỏ và hầu như không tăng trưởng đối với chứng khoán vốn hoá lớn, dođó cần xét đến yếu tố quy mô trong nhân tố đầu tư. Với 6 danh mục này, TSSL hàngtháng của mỗi danh mục được tính với trọng số là % vốn hoá mỗi chứng khoán trongdanh mục. RINV được tính là TSSL của hai danh mục có I/A thấp (S/L và B/L) trừ choTSSL của hai danh mục có I/A cao (S/H và B/H). E(rROA): Phần bù TSSL trên tổng tài sản. Long Chen và Lu Zhang chia chứng khoán thành 3 nhóm với các điểm gãy 30%-40%-30% (low-middle-high) theo ROA quý của 4 tháng trước. Chứng khoán cũng đượcchia thành 2 nhóm theo quy mô, điểm gãy 50%-50%. 6 danh mục được hình thành vàTSSL hàng tháng mỗi danh mục được tính. RROA được tính là TSSL của hai danh mụccó ROA cao (S/H và B/H) trừ cho TSSL của hai danh mục có ROA thấp (S/L và B/L). Ý nghĩa: Lu Zhang đã đưa ra được mối quan hệ ngược chiều giữa TSSL mong đợivới đầu tư trên tài sản I/A, đầu tư trên tài sản Lu Zhang tính đến là phát hành cổ phầnmới, tăng trưởng tài sản, tỷ số giá trị ME/BE, tăng trưởng doanh thu dài hạn trong quákhứ, TSSL dài hạn trong quá khứ. Điều này cũng phù hợp với mô hình của Fama French 26
  • 27. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtvề mối quan hệ BE/ME với TSSL: những công ty có BE/ME cao đòi hỏi một TSSL caohơn những công ty BE/ME thấp. Theo lý giải của Lu Zhang dựa trên thuyết Q thì công tycó BE/ME cao cho thấy q<1, công ty đầu tư ít và đạt TSSL trung bình cao hơn nhữngcông ty có BE/ME thấp (lãi suất dùng chiết khấu cao hơn, làm cho q thấp). Đồng thời LuZhang cũng đã đưa ra mối quan hệ cùng chiều của ROA mong đợi với TSSL mong đợi. CHƢƠNG 3 CUNG CẦU VÀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TÀI CHÍNH I. Định nghĩa vể tài sản tài chính Tài sản tài chính là những tài sản có giá trị không dựa vào nội dung vật chất củanó (giống như bất động sản gồm nhà cửa, đất đai) mà dựa vào các quan hệ trên thịtrường. Nó bao gồm các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền gửi ngânhàng, tiền tệ và các giấy tờ có giá khác. Người chấp nhận thanh toán các tài sản tài chính trong tương lai gọi là người pháthành (thường là chính phủ, các tổ chức và công ty). Người sở hữu các tài sản tài chínhgọi là nhà đầu tư. Giá trị của tài sản tài chính gọi là vốn tài chính.II. Cung cầu của tài sản tài chính Trong giới hạn chuyên đề này, chúng tôi chỉ xem xét về việc định giá trái phiếu, cổphiếu, hai sản phẩm phổ biến trong hoạt động của thị trường tài chính. 1. Cung cầu và định giá trái phiếu 1.1 Định nghĩa trái phiếu Trái phiếu (bond) là công cụ nợ dài hạn do chính phủ hoặc công ty phát hànhnhằm huy động vốn dài hạn. Trên trái phiếu bao giờ cũng có ghi một số tiền nhất định,gọi là mệnh giá của trái phiếu. Ngoài việc công bố mệnh giá, người ta còn công bố lãisuất của trái phiếu. Lãi suất của trái phiếu (coupon rate) tức là lãi suất mà trái phiếuđược hưởng, nó bằng lãi được hưởng chia cho mệnh giá của trái phiếu. 1.2 Phân loại trái phiếu Căn cứ vào chủ thể phát hành có thể chia trái phiếu thành 2 loại: trái phiếuchính phủ và trái phiếu công ty. Thông thường trái phiếu chính phủ được phân chia thành các loại sau đây: 27
  • 28. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật • Trái phiếu kho bạc, phát hành bởi kho bạc để tài trợ cho thiếu hụt ngân sáchcủa chính phủ • Trái phiếu đô thị, phát hành bởi chính quyền địa phương nhằm mục đích huyđộng vốn tài trợ cho ngân sách của chính quyền địa phương. Trái phiếu công ty có thể chia thành hai loại sau đây: • Trái phiếu có thể chuyển đổi là loại trái phiếu sau khi phát hành bán cho nhàđầu tư, đến một điểm thời gian nào đó nhà đầu tư đang nắm giữ trái phiếu có thểchuyển đổi nó thành một số cổ phiếu của công ty.1.3 Cung và cầu trên thị trƣờng trái phiếu Thực tế thường thấy trên thị trường tài chính là các loại lãi suất khác nhau tuy mứcđộ biến động khác nhau, nhưng thường biến động cùng nhau. Chính vì vậy, chúng tacó thể đơn giản hóa việc phân tích cung cầu trên thị trường trái phiếu bằng cách giảđịnh trên thị trường chỉ có một loại trái phiếu và một loại lãi suất duy nhất. Cụ thểlà chúng ta sử dụng trái phiếu chiết khấu thời hạn một năm do trái phiếu này có nhiềuđặc điểm tiện lợi: lợi suất đáo hạn của trái phiếu này bằng tỷ suất lợi nhuận dự kiến vàbằng lãi suất. Chúng ta gọi việc phân tích cung cầu trái phiếu là phân tích trong khuôn mẫu tiềnvay do trên thị trường tài chính, việc phát hành (bán) trái phiếu ra thị trường tươngđương với việc đi vay tiền và việc mua trái phiếu đồng nghĩa với việc cho vay tiền. 1.3.1 Đường cầu trái phiếu Chúng ta sử dụng một trái phiếu chiết khấu thời hạn một năm, mệnh giá 1.000đôla. Với loại trái phiếu này chúng ta có:Trong đó: i : lãi suất, lợi suất đáo hạn của trái phiếu Re : tỷ suất lợi nhuận dự tính F : mệnh giá của trái phiếu chiết khấu Pdb : giá mua ban đầu của trái phiếu chiết khấu 28
  • 29. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia LuậtNhững yếu tố làm dịch chuyển đƣờng cầu trái phiếu : - Của cải Khi nền kinh tế trong chu kỳ phát triển, của cải của xã hội tăng lên làm cho đườngcầu trái phiếu dịch chuyển sang phải. Trên đường cầu mới, tại mỗi mức lãi suất haymức giá nhất định, lượng cầu trái phiếu tăng so với đường cầu cũ. Kết luận: trong chu kỳ tăng trưởng của nền kinh tế, của cải của xã hội tăng lên, nhucầu trái phiếu tăng lên làm dịch chuyển đường cầu sang bên phải. Khi nền kinh tếtrong giai đoạn suy thoái với sự giảm đi của thu nhập và của cải, nhu cầu trái phiếugiảm đi làm đường cầu dịch chuyển sang trái. - Tỷ suất lợi nhuận dự tính - Đối với trái phiếu chiết khấu thời hạn một năm, lãi suất và tỷ suất lợi nhuận dựtính là giống nhau. Bởi vậy, bất cứ một sự thay đổi nào của lãi suất dự tính cũng làm tỷsuất lợi nhuận thay đổi tương tự. Đối với trái phiếu có thời gian đáo hạn nhiều hơn một năm, lãi suất và tỷ suất lợinhuận dự tính có thể khác nhau. Vì vậy, khi mọi người nghĩ rằng lãi suất trong tươnglai sẽ tăng lên thì họ cũng dự đoán rằng tỷ suất lợi nhuận dự tính của trái phiếu dài hạnsẽ giảm đi, vì vậy, tại mỗi mức lãi suất nhất định nhu cầu về trái phiếu dài hạn sẽ giảmđi. Dự tính về sự tăng lên của lãi suất trong tương lai làm giảm lợi nhuận dự tính củatrái phiếu, làm giảm lượng cầu trái phiếu và dịch chuyển đường cầu sang trái. Ngượclại, dự tính về sự giảm đi của lãi suất trong tương lai làm tăng lợi nhuận dự tính củatrái phiếu, nhu cầu về trái phiếu tăng lên và đường cầu dịch chuyển sang phải. - Rủi ro thị trƣờng Nếu rủi ro trên thị trường trái phiếu tăng lên, ví dụ do khả năng biến động sắp tớicủa lãi suất tăng lên hay rủi ro phá sản tăng lên làm cho trái phiếu trở nên kém hấpdẫn, lượng cầu trái phiếu giảm và đường cầu dịch chuyển sang trái. Ngược lại, nếu như các tài sản khác trở nên rủi ro hơn so với trái phiếu hay nóicách khác là rủi ro tương đối của trái phiếu giảm đi, nhu cầu về trái phiếu tăng lên vàđường cầu trái phiếu dịch sang phải. 29
  • 30. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật - Tính thanh khoản: Tính thanh khoản của trái phiếu tăng lên làm tăng lượng cầu trái phiếu tại mỗimức giá (lãi suất), đường cầu trái phiếu dịch chuyển sang phải. Tương tự như vậy, sựtăng tính thanh khoản của các loại tài sản khác làm giảm tính thanh khoản tương đốicủa trái phiếu và làm đường cầu trái phiếu dịch chuyển sang trái. 1.3.2 Đƣờng cung trái phiếu Giả thiết quan trọng trong việc phân tích đường cung trái phiếu là các yếu tốkhác ảnh hưởng tới cung và cầu trái phiếu luôn giữ nguyên khi lãi suất và giá tráiphiếu thay đổi. Chúng ta sẽ thấy khi lãi suất (tỷ suất lợi nhuận dự tính) giảm đi hay giátrái phiếu tăng lên, lượng cung trái phiếu tăng lên làm cho đường cung trái phiếu dốclên. Trong khuôn khổ phân tích cơ cấu tiền vay, chúng ta có thể giả thích như sau:khi lãi suất giảm đi (giá trái phiếu tăng lên) làm cho nhu cầu đi vay tiền tăng lên (doviệc đi vay trở nên rẻ hơn), những người đi vay tiền sẽ có mong muốn bán ra (pháthành) nhiều trái phiếu hơn để vay tiền, vì vậy lượng cung trái phiếu sẽ tăng lên làmcho đường cung trái phiếu dốc lên trên.Những yếu tố làm dịch chuyển đƣờng cung trái phiếu - Khả năng sinh lợi dự tính của các cơ hội đầu tƣ Khi nhận thấy có nhiều cơ hội đầu tư có lợi, các doanh nghiệp sẽ có khuynhhướng vay mượn tiền nhiều hơn để đầu tư, doanh nghiệp sẽ phát hành nhiều trái phiếuhơn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư của mình. Vì vậy, khi nền kinh tế trong chu kỳ tăng trưởng, cung trái phiếu tăng lên,đường cung trái phiếu dịch chuyển sang phải. Ngược lại, khi nền kinh tế đang trongchu kỳ suy thoái, các cơ hội đầu tư không hứa hẹn mang lại nhiều lợi nhuận, lượngcung trái phiếu giảm đi, đường cung trái phiếu dịch chuyển sang trái. - Lạm phát dự tính Khi lạm phát dự tính tăng lên, lãi suất thực giảm đi làm chi phí thực của việcvay mượn giảm đi. Các doanh nghiệp và cá nhân có khuynh hướng vay mượn nhiềuhơn. Lượng cung trái phiếu sẽ tăng lên tại mỗi mức giá hay lãi suất nhất định. Lạm 30
  • 31. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtphát dự tính tăng lên làm tăng lượng cung trái phiếu, đường cung trái phiếu dịchchuyển sang phải. - Các chính sách của Chính phủ Các chính sách của Chính phủ có thể ảnh hưởng tới lượng cung trái phiếu theonhiều cách. Phổ biến nhất là khi ngân sách bị thâm hụt, Chính phủ phải vay mượn đểbù đắp thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu. Hành động này làm tănglượng cung trái phiếu trên thị trường và làm dịch chuyển đường cung trái phiếu sangphải. Trong khuôn khổ của việc thực hiện chính sách tiền tệ, các hoạt động mua bántrái phiếu trên thị trường mở cửa Chính phủ cũng làm ảnh hưởng đến lượng cung tráiphiếu. 1.4 Định giá trái phiếu Định giá trái phiếu tức là quyết định giá trị lý thuyết của trái phiếu một cáchchính xác và công bằng. Giá trị của trái phiếu được xác định bằng cách xác định hiệngiá của toàn bộ thu nhập nhận được trong thời hạn hiệu lực của trái phiếu. Chúng ta sử dụng các ký hiệu: • I là lãi cố định được hưởng từ trái phiếu • V là giá của trái phiếu • kc là lãi suất của trái phiếu • kd là tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của nhà đầu tư • MV là mệnh giá trái phiếu • n là số năm cho đến khi đáo hạn 1.4.1 Trái phiếu không có thời hạn Trái phiếu không có thời hạn (perpetual bond or consol) là trái phiếu chẳngbao giờ đáo hạn. Giá của trái phiếu vĩnh cửu chính là tổng hiện giá của toàn bộ lãithu được từ trái phiếu. Trong bài 2 chúng ta đã biết cách xác định hiện giá củadòng tiền vô hạn. Vận dụng công thức xác định hiện giá chúng ta có thể định giá trái 31
  • 32. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtphiếu không có thời hạn như sau: Giả sử bạn mua một trái phiếu được hưởng lãi $50 một năm trong thời gian vôhạn và bạn đòi hỏi tỷ suất lợi nhuận đầu tư là 12%. Hiện giá của trái phiếu này sẽ là: V = I/kd = 50/0,12 = 416,67$. Tại sao nhà đầu tư chịu bỏ tiền ra mua một trái phiếu chẳng bao giờ đáo hạn,nghĩa là chẳng bao giờ thu hồi lại được tiền gốc bỏ ra? Lý do, như đã chỉ ra trongmô hình định giá, là số tiền bỏ ra đó được bù đắp bằng số lãi hàng năm nhà đầu tưnhận được mãi mãi. 1.4.2 Trái phiếu có kỳ hạn đƣợc hƣởng lãi định kỳ Trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi (nonzero coupon bond) là loại tráiphiếu có xác định thời hạn đáo hạn và lãi suất được hưởng qua từng thời hạn nhấtđịnh. Khi mua loại trái phiếu này nhà đầu tư được hưởng lãi định kỳ, thường là hàngnăm, theo lãi suất công bố (coupon rate) trên mệnh giá trái phiếu và được thu hồi lạivốn gốc bằng mệnh giá khi trái phiếu đáo hạn. Chúng ta có giá của trái phiếu, bằng hiện giá toàn bộ dòng tiền thu nhập từtrái phiếu trong tương lai, được xác định như sau: Ví dụ: Giả sử bạn cần quyết định giá của một trái phiếu có mệnh giá là 1 triệuđồng hay 1000 nghìn đồng, được hưởng lãi suất 10% trong thời hạn 9 năm trong khinhà đầu tư đòi hỏi tỷ suất lợi nhuận là 12%/năm. Giá của trái phiếu này xác định nhưsau: d 32
  • 33. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia LuậtTrong đó lãi của trái phiếu là I = MV(kc) = 1000(10%) = 100, tỷ suất lợi nhuậnnhà đầu tư yêu cầu là kd = 12% và thời hạn của trái phiếu là n = 9 năm. Sử dụng ⎦công thức tính hiện giá của một số tiền và công thức tính hiện giá của dòng tiềnđều (đã học trong bài 2), bạn xác định được:Từ đó xác định V= 100(5,328) + 1000(0,361) = 893,8 nghìn đồng. Đây là giá trị lý thuyết của trái phiếu, tức là giá trị mà bạn có được khi áp dụngmô hình định giá. Nếu trên thị trường, trái phiếu được giao dịch ở mức giá trên mứcgiá này, điều đó có nghĩa là trái phiếu đang giao dịch trên mức giá trị lý thuyết củanó, bạn nên bán trái phiếu. Ngược lại, nếu trên thị trường trái phiếu đang giao dịchdưới mức giá bạn định ra, có nghĩa là trái phiếu đang giao dịch dưới mức giá trị lýthuyết của nó, bạn nên mua trái phiếu này. Nhiều người cũng định giá và quyết địnhnhư bạn, kết quả là trái phiếu sẽ lên giá và khi đó bạn lại bán trái phiếu ra và kiếm lợinhuận như kỳ vọng. 1.4.3 Trái phiếu có kỳ hạn không hƣởng lãi định kỳ Trái phiếu kỳ hạn không hưởng lãi định kỳ (zero-coupon bond) là loại trái phiếukhông có trả lãi định kỳ mà được bán với giá thấp hơn nhiều so với mệnh giá. Tại saonhà đầu tư lại mua trái phiếu không được hưởng lãi? Lý do là khi mua loại trái phiếunày họ vẫn nhận được lợi tức, chính là phần chênh lệch giữa giá mua gốc của trái phiếuvới mệnh giá của nó. Phương pháp định giá loại trái phiếu này cũng tương tự như cách định giá 33
  • 34. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtloại trái phiếu kỳ hạn được hưởng lãi, chỉ khác ở chỗ lãi suất ở đây bằng không nêntoàn bộ hiện giá của phần lãi định kỳ bằng không. Do vậy, giá cả của trái phiếukhông hưởng lãi được định giá như là hiện giá của mệnh giá khi trái phiếu đáo hạn.Ví dụ:Giả sử NH Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam phát hành trái phiếu không trả lãicó thời hạn 10 năm và mệnh giá là 1000 nghìn đồng. Nếu tỷ suất lợi nhuậnđòi hỏi của nhà đầu tư là 12%, giá bán của trái phiếu này sẽ là:Nhà đầu tư bỏ ra 322.000 đồng để mua trái phiếu này và không được hưởng lãiđịnh kỳ trong suốt 10 năm nhưng bù lại khi đáo hạn nhà đầu tư thu về được1000 nghìn đồng hay 1 triệu đồng. 2. Định giá cổ phiếu 2.1 Định nghĩa cổ phiếu Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằngnhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấychứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổphiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổđông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu. 2.2 Phân loại cổ phiếu: Phân chia theo cách nhận cổ tức và vốn sau khi giải thể, phá sản, cổ phiếu đượcchia làm hai loại:- Cổ phiếu thường : Là loại cổ phiếu có thu nhập không cố định, cổ tức biến động tuỳtheo sự biến động lợi nhuận của công ty. Thị giá cổ phiếu lại rất nhạy cảm trên thị trường, 34
  • 35. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtkhông chỉ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty mà còn rất nhiều yếu tố khácnhư: môi trường kinh tế, thay đổi lãi suất, quan hệ cung cầu.- Cổ phiếu ưu đãi: Là loại cổ phiếu có quyền nhận được thu nhập cố định theo một tỷ lệlãi suất nhất định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty. Thị giá của cổ phiếu nàyphụ thuộc vào sự thay đổi lãi suất trái phiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty. 2.3 Định giá cổ phiếu Thị giá của cổ phiếu trên thị trường biến động hàng ngày. Có những loại cổ phiếutăng giá mạnh so với giá ban đầu niêm yết, nhưng cũng có những cổ phiếu liên tục giảmgiá. Sự biến động về giá cổ phiếu tạo ra các cơ hội tìm kiếm lợi nhuận thông qua các hoạtđộng đầu tư. Giá trị thực của cổ phiếu là một khái niệm tương đối và đó cũng chính là đốitượng của các phương pháp định giá. Khi cổ phiếu bắt đầu được phát hành và tham giagiao dịch trên thị trường thì việc định giá mua ( bán) là hết sức quan trọng. Chính vì vậynhu cầu định giá cổ phiếu trở thành một nhu cầu thiết yếu và quan trọng. Có nhiều phương pháp định giá cổ phiếu, mỗi phương pháp có những ưu nhượcđiểm khác nhau. Trong đó có hai phương pháp chiết khấu để định giá cổ phiếu thườngđược sử dụng như sau 2.3.1 Phƣơng pháp chiết khấu luồng thu nhập (DCF)Nguyên lý cơ bản của phƣơng pháp Chiết khấu luồng thu nhập (DCF) được dựa trên nguyên lý cơ bản, đó là giá trị củacổ phiếu được xác định bằng các luồng thu nhập mà cổ phiếu đó thu được trong tương laiđược quy về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu chúng bằng một mức lãi suất chiết khấuphù hợp với mức độ rủi ro của doanh nghiệp n C FiTa có công thức : Po   (1  ri ) n i 1Trong đó : CF : luồng thu nhập công ty trong tương lai r : lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đó. 35
  • 36. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia LuậtXác định luồng thu nhập, tỷ lệ chiết khấu.* Dòng tiền tự do thuộc về vốn chủ sở hữu ( FCFE ) Các nhà đầu tư khi đóng góp vào cổ phần hoá một công ty sẽ nhận được luồng thunhập cuối cùng còn lại sau khi công ty thanh toán mọi nghĩa vụ tài chính và sau khi sửdụng cho nhu cầu tái đầu tư của công ty. Do vậy luồng thu nhập tự do của vốn cổ phầnchính là luồng thu nhập còn lại sau khi thanh toán mọi chi phí cho hoạt động, chi trả lãivà gốc, và mọi chi phí vốn cần thiết để duy trì tỷ lệ tăng trưởng của luồng thu nhập dựtính. Dòng tiền đối với vốn cổ phần = Thu nhập ròng – ( chi tiêu vốn – khấu hao ) –thay đổi trong vốn lưu thông không bằng tiền mặt + ( Nợ phát sinh mới – Nợ đã trả ).Công thức tính toán này có thể được làm đơn giản hoá nếu giả định rằng chi tiêu vốnròng và sự thay đổi vốn lưu động được tài trợ bởi một nguồn hỗn hợp giữa nợ và vốn cổphần. Với  là tỉ lệ giữa chi tiêu vốn ròng và sự thay đổi của vốn lưu động được huyđộng từ nguồn nợ nó tác động đến dòng tiền như sau : Dòng tiền vốn cổ phần liên quan đến đáp ứng nhu cầu chi tiêu vốn = - ( Chi tiêu vốn – Khấu hao ) ( 1 -  ) Dòng tiền vốn cổ phần liên quan đến đáp ứng nhu cầu vốn lưu động = - ( Thay đổi vốn lưu động ) ( 1-  )Như vậy ta có:Dòng tiền vốn cổ phần = Thu nhập ròng – ( Chi tiêu vốn – Khấu hao )* (1-  ) - (thay đổivốn lưu động )* (1 -  ) 2.3.2 Phƣơng pháp chiết khấu luồng cổ tức. Phương pháp đơn giản nhất để định giá vốn cổ phần là phương phấp chiết khấu cổtức - giá trị của cổ phiếu là giá trị hiện tại của cổ tức mong đợi của nó. Giá cổ phiếu = Giá trị quy về hiện tại cảu các dòng thu nhập trong tương lai 36
  • 37. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật Ta có công thức tổng quát  Dt P0   (1  r ) t (1) t 1 Trong đó : P0 : giá trị cổ phiếu Dt : là cổ tức trên mỗi cổ phiếu năm t r : Lãi sất chiết khấu hay chi phí vốn cổ phần. Vấn đề quan trọng nhất trong công thức này là giá trị hiện tại được chiết khấu bởitỉ lệ phù hợp đối với rủi ro của dòng tiền đó. Hai dữ liệu đầu vào rất quan trọng của công thức này, đó là tỉ lệ cổ tức mong đợivà chi phí vốn. Để đạt được tỉ lệ cổ tức mong đợi, chúng ta giả định về tỉ lệ tăng trưởngtương lai và tỉ lệ chi trả cổ tức. Tỉ lệ lợi nhuận yêu cầu đối với cổ phiếu được quyết địnhbởi tỉ lệ rủi ro của nó, được đo lường khác nhau dựa trên những phương pháp khác nhau. D t  D t 1 gt  Nhịp tăng trưởng của cổ tức D t 1 D t  (1  g t ) * D t  1* Mô hình cổ tức không đổi ( zero growth ) Khi đó : D1 = D2 =D3 = .. … = D D0 (1) trở thành : P0  (2) r* Mô hình tăng trưởng đều (Gordon). Mô hình này được sử dụng để định giá những công ty đang trong giai đoạn ổn định vàvới cổ tức tăng trưởng ở một tỉ lệ cố định vĩnh viễn. D1 Khi đó : P0  (3) r  gTrong đó: r : chi phí vốn cổ phần. g : Là tỉ lệ tăng trưởng cổ tức vĩnh viễn 37
  • 38. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luật* Mô hình tăng trưởng cổ tức nhiều giai đoạn. Đầu tiên ta phải chia quá trình phát triển của công ty ra làm các giai đoạn pháttriển khác nhau chủ yếu là 2 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn tăng trưởng khôngổn định, được xác định trong một khoảng thời gian nào đó. Trong giai đoạn này ta cầncăn cứ vào ước tính về thu nhập và chính sách trả cổ tức của công ty để xác định mức cổtức hàng năm. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển lâu dài được giả định là xu thếphát triển không đổi của công ty với mức tăng trưởng không đổi. Khi đó công thức (1) trở thành : D 0 (1  g t ) n t D t 1 P0   (1  r ) t  ( r  g )(1  r ) n t 1Trong đó : n là số năm trong giai đoạn đầu gt: tốc độ tăng trưởng cổ tức năm t trong giai đoạn đầu ( n năm) g: tốc độ tăng trưởng lâu dài của công ty, kể từ năm n+1 trở đi. D : mức chi trả cổ tức. r : lãi suất chiết khấu. Một trong những đặc điểm của mô hình tăng trưởng hai giai đoạn là tỉ lệ cổ tứccủa các công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh thường nhỏ hơn so với công ty đãđi vào hoạt động ổn định, khi đó có thể tỉ lệ tăng trưởng giảm đi nhiều nhưng tỉ lệ chi trảcổ tức lại cao.Ví dụ minh họa: Công ty JVC hiện có mức tăng trưởng 20%/năm trong vài nămnay, dự đoán sẽ duy trì tốc độ này trong 3 năm nữa. Sau đó, mức độ tăng sẽ chậm lạivà ổn định ở mức7%/năm.Giả sử cổ tức hiện được chia 150.000 đồng/cổ phần và tỷ lệ lãi yêu cầu trên cổ phiếulà 16%/năm.a. Tính hiện giá của cổ phiếu trên thị trường? 38
  • 39. Nhóm 4 – Lý Thuyết Về Danh Mục Đầu Tư GVHD: TS Diệp Gia Luậtb. Tính giá trị cổ phiếu 1 và 2 năm sau?Bài giải a.Ta lần lượt tính được hiện giá cổ phiếu trên thị trường như sau:D1= 150.000(1+20%)=180.000D2= 180.000(1+20%)= 216.000D3= 216.000(1+20%)= 259.200D4= 259.200(1+7%) = 277.344P3= 277.344/(16% - 7%) = 3.081.600P0= (D1/(1+16%)) + (D2/(1+16%)^2) + (D3/(1+16%)^3) + (P3/(1+16%)^3)=2.456.005b. Giá cổ phiếu sau 1 năm:P1= (P0 -(D1/(1+16%)))x(1+16%)= 2.668.965.8Giá cổ phiếu sau hai nămP2= (P0-(D1/(1+^%))-(D2/(1+16%)^2))x(1+16%)^2 =3.166.560.38 39

×