16 hoangnamhai
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

16 hoangnamhai

on

  • 267 views

 

Statistics

Views

Total Views
267
Views on SlideShare
267
Embed Views
0

Actions

Likes
0
Downloads
0
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

16 hoangnamhai 16 hoangnamhai Document Transcript

  • TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(41).2010 SỬ DỤNG ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SUY LUẬN THỐNG KÊ CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGHIỆP USING GRAPHS AND CHARTS TO DEVELOP THE CAPACITY OF STATISTICAL REASONING FOR PROFESSIONAL STUDENTS Hoàng Nam Hải Trường Cao đẳng GTVT II TÓM TẮT Đồ thị thống kê được sử dụng khá phổ biến trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội khácnhau nhằm cung cấp hình ảnh trực quan sinh động giúp người xem nhanh chóng nắm bắt,phân tích và xử lý thông tin thống kê một cách thông minh và hữu hiệu nhất. Tuy nhiên phươngpháp giảng dạy thống kê hiện nay cho sinh viên nói chung chỉ chú trọng vào trang bị công thức,quy trình tính toán cồng kềnh nhưng những điều đó lại không giúp ích được nhiều cho sinh viêntrong việc phát triển năng lực suy luận thống kê. Bài báo trình bày hướng nghiên cứu sử dụngcác biểu diễn toán để phát triển năng lực suy luận thống kê cho sinh viên chuyên nghiệp ở ViệtNam. Thông qua các đồ thị, biểu đồ rèn luyện cho sinh viên khả năng nhận biết, suy luận cótính thống kê về xu hướng và quy luật phát triển cũng như biến động của hiện tượng nghiêncứu, từ đó có những lựa chọn hợp lý đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh, trong cácquyết định chiến lược của bản thân và doanh nghiệp. ABSTRACT Statistical graphs have been widely used in many various socio-economic fields toprovide vivid and visual images for learners so that they can quickly obtain, analyze andprocess statistical information intelligently and effectively. However, the method of teachingstatistics merely focuses on providing formulas and cumbersome computable processes.However, this does not enable students to develop their capacity of reasoning in statistics. Thisarticle presents a research and uses of mathematical performances to develop the capability ofstatistical reasoning for professional students in Vietnam. Through graphs and charts, students’ability in identification and statistical reasoning of development trends and rules as well asresearch work changes can be developed. Thus, the reasonable choices for high efficiency inbusiness production and in the strategic decisions of individuals and enterprises are improved.1. Vai trò đồ thị, biểu đồ trong thống kê Nếu như bảng thống kê chỉ trình bày số liệu và cung cấp những thông tin chi tiếtthì đồ thị thống kê lại kết hợp chúng với các hình vẽ, đường nét để mô tả có tính quyước hiện tượng nghiên cứu. Đồ thị thống kê là công cụ hữu hiệu để trình bày một cáchkhái quát đặc điểm chủ yếu về bản chất, quá trình và xu hướng phát triển của hiện tượngnghiên cứu. Mặt khác với lợi thế về màu sắc phong phú, đa dạng nên đồ thị thống kê rấtsinh động, cuốn hút, hấp dẫn giúp người xem nhận thức một cách cụ thể có sức thuyếtphục mạnh mẽ về xu hướng và quy luật phát triển, biến động của hiện tượng nghiên cứuđồng thời thấy rõ mức độ phát triển hơn kém, cao thấp của chúng qua thời gian. Đặc100
  • TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(41).2010biệt các công dân mặc dù ít hiểu biết về thống kê vẫn có thể nhận ra được nội dung chủyếu của vấn đề qua mô tả bằng đồ thị, biểu đồ thống kê. Hơn nữa đồ thị thống kê cònđược coi là một hình thức quảng bá, tuyên truyền cổ vũ cho phong trào thi đua rất hiệuquả.2. Một số đồ thị, biểu đồ thường được sử dụng để biểu diễn số liệu thống kê2.1. Biểu diễn số liệu thống kê Số liệu thống kê thu nhận được chưa thể sử dụng ngay mà chúng ta phải trìnhbày chúng dưới những hình thức phù hợp. Thông thường người ta dùng những phươngpháp sau để biểu diễn số liệu thống kê: Bảng tần số, tần suất. Bảng tần số, tần suất chia lớp. Hàm phân phối thực nghiệm. Dùng biểu đồ, đồ thị2.2. Một số đồ thị, biểu đồ thường được sử dụng để biểu diễn số liệu thống kê Căn cứ vào nội dung phản ánh của đồ thị thống kê mà người ta chia đồ thị thốngkê thành các loại sau: Đồ thị kết cấu Đồ thị phát triển Đồ thị hoàn thành kế hoạch Đồ thị liên hệ Đồ thị so sánh Đồ thị phân phối Ví dụ: Để tăng tính thuyết phục cho bản báo cáo người ta đã sử dụng các loạibiểu đồ để mô tả kim ngạch xuất khẩu thay vì sử dụng bảng số liệu thống kê:Biểu đồ 1 Theo dự báo của đơn vị phân tích CafeF trong báo cáo Source: Seafood trading magazinegiữa năm, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam 2008 (Thương Mại thủy Sản), VASEP, magazine sẽ đạt khoảng 4,38 tỉ USD. (Nguồn: Theo CafeF) No 110, 2/2009 101
  • TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(41).2010 Hình thức thể hiện của các đồ thị trên rất phong phú và đa dạng, thông thườngđược biểu hiện qua các dạng sau: Đường gấp khúc: Loại biểu đồ này dùng độ dốc của đường gấp khúc để biểu diễn quá trình phát triển của hiện tượng nghiên cứu. Biểu đồ hình cột: Dùng các cột với độ cao thấp, dài ngắn khác nhau để biểu diễn đặc trưng về lượng của hiện tượng nghiên cứu. Biểu đồ này dùng để phản ánh biến động về quy mô và kết cấu của hiện tượng nghiên cứu qua thời gian. Cũng có thể dùng để so sánh giữa số liệu thực tế với số liệu kế hoạch. Biểu đồ diện tích: Dùng diện tích các loại hình để phản ánh mặt lượng của hiện tượng kinh tế xã hội. Biểu đồ hình quạt: Dùng diện tích lớn nhỏ của hình quạt để biểu diễn mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu. Biểu đồ tượng hình. Bản đồ thống kê.3. Sử dụng đồ thị, biểu đồ để phát triển năng lực suy luận thống kê cho sinh viêncao đẳng chuyên nghiệp3.1. Suy luận thống kê Suy luận thống kê có thể được xác định như là cách con người suy luận với cácý tưởng thống kê và làm cho các thông tin thống kê trở nên có ý nghĩa. Điều đó liênquan đến việc đưa ra các lý giải dựa trên các tập dữ liệu, các biểu diễn dữ liệu, hay cáctóm tắt dữ liệu thống kê. Suy luận thống kê có thể liên quan đến việc gắn kết một kháiniệm này với khái niệm khác, hay có thể kết hợp những ý tưởng về dữ liệu với cơ hội.Suy luận có ý nghĩa là hiểu và có thể giải thích các quá trình thống kê, có thể lý giải đầyđủ các kết quả thống kê. Trên thế giới có rất nhiều nhà giáo dục quan tâm đến lĩnh vựcnày. Trong đó phải kể đến Garfield và Gal (1999, [2]; 2004, [3]) đã mô tả suy luậnthống kê như là một mục đích bao quát trong giáo dục thống kê với nhiều loại suy luậncụ thể mà sinh viên cần phải được quan tâm phát triển khi các em học thống kê. Nhữngloại suy luận thống kê đó là: − Suy luận với dữ liệu: Nhận ra hay phân loại các dữ liệu như là định lượng hay định tính, rời rạc hay liên tục và biết ý nghĩa của những con số thống kê. − Suy luận với các biểu diễn của dữ liệu: Biết phân biệt dữ liệu nào thì cần loại đồ thị nào để biểu diễn. Hiểu cách thức ở đó một hình vẽ có nghĩa để thể hiện một mẫu, hiểu cách đọc và giải thích một đồ thị, biết làm thế nào để mô phỏng một đồ thị tốt hơn để thể hiện một bộ các dữ liệu và có khả năng thấy được các yếu tố ngẫu nhiêu trong một phân bố để nhận ra các đặc trưng chung như là hình dáng, tâm và mở rộng. − Suy luận với các số đo thống kê: Hiểu các số đo về tâm, mở rộng và vị trí có ý102
  • TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(41).2010 nghĩa như thế nào đối với một tập dữ liệu; biết cái gì là tốt nhất để sử dụng dưới những điều kiện khác nhau và chúng thể hiện hay không thể hiện một tập các dữ liệu như thế nào; hiểu được việc sử dụng các tóm tắt về các dự đoán sẽ chính xác hơn đối với những mẫu lớn hơn là những mẫu nhỏ; biết rằng một tổng kết tốt các dữ liệu bao gồm một số đo của tâm cũng như là một số đo mở rộng và biết rằng các tổng kết về tâm và mở rộng có thể hữu ích cho việc so sánh các tập dữ liệu. − Suy luận với các sự kiện không chắc chắn: Hiểu và sử dụng các ý tưởng của sự ngẫu nhiên, cơ hội và dường như để đưa ra các đánh giá về các sự kiện không chắc chắn; biết rằng tất cả các khả năng xảy ra là không đồng đều như nhau; biết làm thế nào để xác định tính giống nhau của các sự kiện khác nhau bằng cách dùng một phương pháp phù hợp. − Suy luận với các mẫu: Biết các mẫu liên quan đến các nhóm đối tượng như thế nào và những gì có thể ảnh hưởng đến một mẫu; biết mẫu lớn hơn. Chọn mẫu tốt sẽ thể hiện chính xác hơn một nhóm đối tượng và có những cách chọn mẫu mà có thể không đại diện cho nhóm đối tượng và cảnh giác khi đưa ra những kết luận dựa trên những mẫu nhỏ hay thiên vị. − Suy luận với sự kết hợp: Biết đánh giá và lý giải một mối quan hệ giữa hai biến số như thế nào, biết xác định và giải thích một bảng số 2-cách khi xem xét mối quan hệ song phương và biết rằng một quan hệ tương hỗ giữa hai biến số không có nghĩa là biến này tác động lên biến kia. Để phát triển khả năng suy luận thống kê như đã nêu ở trên, nhiều nhà giáo dụctoán đã tìm cách phát triển tư duy thống kê thay vì dạy các kiến thức riêng lẻ. Mục đíchcủa giáo dục toán hiện đại là quan tâm đến việc sử dụng càng nhiều dữ liệu và kháiniệm, giảm bớt lý thuyết, kỹ thuật và nuôi dưỡng cách học tích cực với mục đích dànhcho suy luận thống kê.3.2. Năng lực suy luận thống kê mà sinh viên cao đẳng chuyên nghiệp cần được rènluyện Phát triển khả năng suy luận thống kê cho sinh viên chuyên nghiệp là để đào tạonên những công dân biết áp dụng các kỹ năng toán học, kỹ năng nghề nghiệp cơ bảnvào việc giải quyết các vấn đề thực tế bắt gặp trong cuộc sống, trong công việc mộtcách chính xác và hiệu quả cao. Vì vậy để rèn luyện khả năng suy luận thống kê củasinh viên chuyên nghiệp chúng ta cần dựa vào các năng lực sau của chính sinh viên: Ứng dụng những kiến thức học tập được vào thực tế cuộc sống. Các em có thể sử dụng những hiểu biết nghề nghiệp, những mô hình toán cũng như thống kê để phân tích, lý giải và hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn cũng như xã hội có liên quan về mặt thống kê. Mô hình hóa được những thông tin thống kê qua công thức, bảng biểu và các dạng biểu đồ. 103
  • TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(41).2010 Đọc, giải thích và rút ra kết luận từ các mô hình toán học biểu diễn thông tin thống kê như là công thức, biểu đồ, bảng biểu. Ước lượng và kiểm tra những câu trả lời đối với những vấn đề thực tiễn cuộc sống nẩy sinh có liên quan về mặt thống kê để xác định tính hợp lý và nhận dạng được nhiều khả năng, từ đó lựa chọn những phương án hợp lý nhất, tối ưu nhất. Sử dụng những phương pháp toán, thống kê cũng như kỹ năng chuyên ngành để giải quyết mọi vấn đề chuyên môn có liên quan về mặt thống kê và có thể thấy được những hạn chế của chúng trong đời sống lao động sản xuất.3.3. Một số đề xuất về việc giảng dạy thống kê cho sinh viên cao đẳng chuyên nghiệp Để đổi mới phương pháp giảng dạy thống kê, trong đó tập trung theo hướng pháttriển năng lực suy luận thống kê hơn là quy trình, tính toán khô khan như hiện nay,chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp đã từng được kiểm chứng qua công tác giảng dạymang lại hiệu quả cao nhằm góp phần đổi mới việc dạy và học thống kê cho sinh viênchuyên nghiệp như sau: − Kết hợp với nhiều số liệu và khái niệm. − Dựa hẳn vào các số liệu thực tế phù hợp với chuyên ngành mà các em đang theo học. − Tập trung vào việc phát triển năng lực hiểu biết, suy luận và tư duy thống kê. − Bất kỳ ở chỗ nào có thể, xử lý các tính toán và biểu diễn đồ thị dựa vào khoa học công nghệ. − Nuôi dưỡng việc học tích cực, thông qua những phương pháp giảng dạy khác nhau. − Khuyến khích những thái độ khác nhau, bao gồm việc đánh giá cao tiềm năng của các quá trình thống kê, may rủi, ngẫu nhiên, khảo sát nghiêm ngặt và một thiên hướng để trở thành một người đánh giá có tính phê phán đối với các tuyên bố có tính thống kê. − Sử dụng các phương pháp đánh giá thay thế khác nhau để hiểu và ghi lại được việc học của sinh viên.3.4. Thực hành giảng dạy phát triển năng lực suy luận thống kê thông qua sử dụngcác biểu diễn toán Sau đây chúng tôi xin đưa ra một số ví dụ cụ thể nhằm thực hành giảng dạy pháttriển năng lực suy luận thống kê cho sinh viên chuyên nghiệp. Bài toán 1 Biểu đồ sau cho biết các nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớnnhất của Việt Nam trong 6 tháng/2009 và 6 tháng/2010. Câu hỏi 1: Từ biểu đồ, em hãy cho biết nhóm hàng dệt may có kim ngạch xuấtkhẩu tăng bao nhiêu phần trăm so với cùng kỳ năm trước (2009) và làm thế nào để tínhđược tỷ lệ đó?104
  • TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(41).2010 Câu hỏi 2: Theo biểu đồ, em hãy cho biết những nhóm hàng nào giảm so vớicùng kỳ năm trước (2009) và giảm bao nhiêu phần trăm, hãy chỉ ra cách tính toán thểhiện làm thế nào bạn thu được các con số đó. Câu hỏi 3: Hai bạn Kiệt và Đăng đã thảo luận là nhóm hàng có kim ngạch xuấtkhẩu tăng ở mức cao nhất. Mỗi bạn đi đến một kết luận khác nhau dựa vào biểu đồ trên.Hãy đưa ra câu trả lời đúng cho câu hỏi này và giải thích bằng cách nào bạn tìm ra câutrả lời đó.Phân tích Biểu đồ thống kê trên cung cấp cho mọi công dân một tổng quan của 9 nhóm hàngcó kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong 6 tháng/2010 so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiênkhông phải ai cũng có thể hiểu và bóc tách được thông tin thống kê ẩn dấu trong biểu đồ.Nhiều sinh viên chưa nhận xét được xu hướng biến động của kim ngạch xuất khẩu 9nhóm hàng trên so với cùng kỳ năm trước, mặt hàng nào tăng cao nhất và tăng so vớicùng kỳ năm trước bao nhiêu phần trăm, mặt hàng nào giảm và giảm bao nhiêu phầntrăm. Câu hỏi 1 giúp sinh viên nhận biết được hàng dệt may có kim ngạch xuất khẩu caonhất và rèn luyện kỹ năng tính toán tỷ lệ tăng, giảm bao nhiêu phần trăm so với cùng kỳnăm trước. Cũng như vậy câu hỏi 2 rèn luyện cho các em năng lực nhận biết từ biểu đồ sốmặt hàng nào có kim ngạch xuất khẩu giảm và tính toán giảm bao nhiêu phần trăm. Câuhỏi 3 đòi hỏi các em một khả năng suy luận ở mức cao hơn để nhận biết được nhóm hàngcó kim ngạch xuất khẩu tăng, giảm ở mức cao nhất. Qua bài toán cũng luyện tập cho cácem năng lực mô hình hóa thông tin thống kê thu nhận được bằng biểu đồ thống kê để tăngtính thuyết phục, lôi cuốn cho một vấn đề được nhiều người quan tâm. 105
  • TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(41).2010 Bài toán 2: Biểu đồ dưới đây cho biết thông tin về xuất khẩu của Việt Nam (đơnvị: tỷ USD) Câu hỏi 1: Cho nhận xét về tình hình xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2005 đếnnăm 2009. Câu hỏi 2: Năm nào Việt Nam có tổng giá trị xuất khẩu lớn nhất và tổng giá trịxuất khẩu năm đó là bao nhiêu? Câu hỏi 3: Giá trị điện – điện tử xuất khẩu của Việt Nam vào năm 2008 là baonhiêu? A. 12,934 tỷ USD. C. 16,924 tỷ USD. B. 16,249 tỷ USD. D. 17,321 tỷ USD. Xuất khẩu của Việt Nam Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu 2005 – 2009 chủ yếu năm 2008 70 62,68 56,5 60 Cơ khí Khác 48,56 C.nghiệp 8.40% 50 1.30% 39,82 ch.biến 40 32,66 10% Hàng dệ t may 30 và giày dép Hàng mộc 43% 20 10,30% 10 0 Điện-Điện tử 2005 2006 2007 2008 2009 27% N ăm Nguồn: Tổng cục Thống kê và Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2009Phân tích Câu hỏi 1, câu hỏi 2 của bài toán rèn luyện cho sinh viên năng lực đọc, giải thíchvà rút ra các nhận xét, đánh giá về xu hướng chung của số liệu thống kê được mô hìnhhóa dưới dạng biểu đồ. Trước hết giúp các em nhận xét theo hàng ngang: Theo thời gianyếu tố A nào đó tăng hay giảm, tăng giảm như thế nào, bao nhiêu phần trăm,… mứcchênh lệch tăng, giảm giữa các yếu tố. Sau đó nhận xét qua hàng dọc: yếu tố nào xếphạng nhất, nhì, ba,…Trường hợp biểu đồ có hai yếu tố trở lên chúng ta cho sinh viênnhận xét từng yếu tố một, sau đó rèn luyện cho các em so sánh, tìm mối liên hệ giữa cácyếu tố. Câu hỏi 3 chính là câu hỏi rèn luyện năng lực liên kết để từ đó phát triển nănglực suy luận thống kê cho sinh viên, dựa trên năng lực này các em sẽ tính toán và lựachọn ra kết quả đúng. Bài toán 3 Cước phí EMS từ Đà Nẵng đi các vùng trong nước dựa vào trọnglượng của bưu phẩm (đến gram gần nhất) cho trong bảng sau (đã có thuế VAT):106
  • TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(41).2010 Mức cước (đơn vị tính: đồng) VÙNG I VÙNG II VÙNG IIINấc trọng lượng 11 tỉnh Miền trung Hà Nội, TP HCM Các tỉnh còn lại Nội tỉnh Trong Vùng Trong Vùng Trong Vùng vùng xa vùng xa vùng xa Đến 50gram 8.800 10.450 12.540 11.000 13.200 11.000 13.200 Trên 50-100gr 8.800 13.750 16.500 15.400 18.480 15.400 18.480 Trên 100-250gr 11.000 18.150 21.780 22.000 26.400 22.000 26.400 Trên 250-500gr 13.750 25.300 30.360 29.150 34.980 29.150 34.980 Trên 500-1000gr 16.500 35.750 42.900 42.350 50.820 42.350 50.820Trên 1000-1500gr 19.800 44.000 52.800 54.450 65.340 54.450 65.340Trên 1500-2000gr 23.100 52.250 62.700 65.450 78.540 65.450 78.540 Mỗi nấc 500gr tiếp theo 1.760 3.850 4.620 6.600 7.920 7.700 9.240 Nguồn: Ban hành theo quyết định số 235/QĐ-KDTT ngày 17/03/2010 Của TGĐ Công ty CP CPN Bưu điện, Áp dụng từ ngày 01/05/2010. Câu hỏi 1: Đồ thị nào sau đây là biểu diễn tốt nhất cho giá cước bưu phẩm EMStừ Đà Nẵng đến Thành phố Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị? (Trục hoành chỉ trọng lượngtheo gram, trục tung chỉ giá cước theo VND). A B 60 60 50 50 40 40 30 30 20 20 10 10 0 0 0 500 1000 1500 2000 2500 0 500 1000 1500 2000 2500 C D 6060 5050 4040 3030 2020 1010 0 0 -100 100 300 500 700 900 1100 1300 1500 1700 1900 2100 2300 2500 0 500 1000 1500 2000 2500 Câu hỏi 2: Bạn Tuấn Kiệt ở Đà Nẵng muốn gửi hai bưu phẩm theo con đườngEMS có trọng lượng nặng tương ứng là 60gram và 300gram cho một người bạn ởThành phố Huế. Từ bảng giá cước ở trên, hãy quyết định giúp bạn Tuấn Kiệt nên gửihai bưu phẩm cùng một gói rẻ hơn hay gửi hai bưu phẩm riêng lẻ nhau. Trình bày tínhtoán về giá cước cho mỗi trường hợp. 107
  • TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(41).2010Phân tích Đây là một bài toán xuất phát từ bối cảnh thực tế thường hay gặp. Tuy nhiêntrong cuộc sống thường ngày các công dân chỉ việc đưa bưu phẩm vào bưu điện và hỏicước phí hết bao nhiêu. Nhưng ở đây các nhà giáo dục trông đợi những công dân cóhiểu biết suy luận một chút về cấu trúc của hệ thống cước phí cũng như những cấu trúctương tự. Các em sẽ thấy rằng sự tăng cước phí lúc đầu là khá cao, nhưng nếu tăngtrọng lượng thì sự tăng cước phí sẽ giảm lại. Cấu trúc này cũng khá thông dụng. Nếusuy luận được điều đó thì dễ dàng sinh viên sẽ có lý giải cho câu hỏi 2 và trình bày tínhtoán tương đối đơn giản cho giá cước trong mỗi trường hợp.4. Kết luận Thế kỷ XXI có thể nói là “thế kỷ số”, số liệu thống kê tràn ngập trên mọi lĩnhvực của cuộc sống. Các nhà thuyết trình, những người lãnh đạo trên mọi lĩnh vực kinhtế xã hội đều sử dụng đồ thị, biểu đồ để trình bày số liệu thống kê hay một ý tưởngkinh doanh nào đó nhằm lôi cuốn người nghe hoặc nhấn mạnh một vấn đề có chủđịnh. Vì vậy mọi công dân trong xã hội luôn luôn phải tập làm quen với những lậpluận, lý giải từ biểu đồ thống kê và rút ra những kết luận có ý nghĩa phục vụ cho nhucầu bản thân cũng như doanh nghiệp. Do đó phát triển năng lực suy luận thống kê chosinh viên chuyên nghiệp – những chủ thể tương lai của Đất nước là một trong nhữngnhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục. Nghiên cứu của chúng tôi có thể giúp ích choviệc đưa ra những điều chỉnh cần thiết về nội dung chương trình cũng như góp phầnđổi mới phương pháp giảng dạy thống kê cho sinh viên chuyên nghiệp trong đótập trung theo hướng phát triển năng lực suy luận thống kê và nuôi dưỡng cách họctích cực. TÀI LIỆU THAM KHẢO[1] Cobb,G.W. (1992). Report of the joint ASA/MAA committee on undergraduate statistics. In American Statistical Association 1992 Proceedings of the Section on Statistical Education. Alexandria,VA: ASA.[2] Garfield, J., & Gal, I. (1999). Teaching and assessing statistical reasoning. In L. Stiff & F. R. Curcio (Eds), Developing mathematical reasoning in grades K-12. Reston, VA: National Council of Teachers of Mathematics.[3] Garfield, J., & Ben-Zvi, D. (2004). Research on statistical literacy, reasoning, and thinking: Issues, challenges, and implications. In J. Garfield & D. Ben_Zvi (Eds.), The Challenge of Developing Statistical Literacy, Reasoning and Thinking. Dordrecht: Kluer Academic Publishers.[4] Moore,D.S. (1990). Uncertainty. In Lynn Steewn (Ed.), On the shoulders of giants: A new approach to numeracy. National Academy of Siences.108
  • TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 6(41).2010[5] Moore,D. (1997). New pedagogy and new content: The case of statistics. International Statistical Review.65, 123-137.[6] Wallman,K.K.(1993). Enhancing statistical literacy: Enriching our society. Journal of the American Statistical Association,88,1-8.[7] Programme for International Student Assessment (PISA), The PISA 2003 Assessment Framework, Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD). 109