Tai chinh cong
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Tai chinh cong

on

  • 175 views

 

Statistics

Views

Total Views
175
Views on SlideShare
174
Embed Views
1

Actions

Likes
0
Downloads
4
Comments
0

1 Embed 1

http://www.slideee.com 1

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Tai chinh cong Tai chinh cong Presentation Transcript

  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 230 Chương 8. Tài chính công 1. Khái niệm và bản chất của Ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước (NSNN) là dự toán (kế hoạch) thu – chi bằng tiền của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm). Năm ngân sách (hay còn gọi là năm tài chính hoặc tài khoá) là giai đoạn mà trong đó dự toán thu – chi tài chính đã được phê chuẩn của Quốc hội có hiệu lực thi hành. Ở hầu hết các nước, năm ngân sách có thời hạn bằng 1 năm dương lịch, nhưng thời điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách ở mỗi nước có khác nhau. Ở đa số các nước (trong đó có Việt nam), năm ngân sách trùng năm dương lịch (bắt đầu 1/1, kết thúc 31/12) như Pháp, Bỉ, Hà lan, Trung quốc. Một số nước như Anh, Nhật, năm ngân sách bắt đầu từ 1/4 năm trước và kết thúc vào 31/3 năm sau. Úc thì từ 1/7 năm trước đến 30/6 năm sau, Mỹ từ 1/10 năm trước đến 30/9 năm sau. Việc quy định năm ngân sách là hoàn toàn do ý chí chủ quan của từng nhà nước. Về mặt bản chất, NSNN là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng của nhà nước. Các quan hệ kinh tế này bào gồm: - Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ - Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các tổ chức tài chính trung gian - Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các tổ chức xã hội - Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các hộ gia đình - Quan hệ kinh tế giữa NSNN và thị trường tài chính - Quan hệ kinh tế giữa NSNN với hoạt động tài chính đối ngoại Hệ thống ngân sách nhà nước được tổ chức theo một trong hai mô hình sau: - Mô hình nhà nước liên bang: NSNN được tổ chức theo 3 cấp • Ngân sách liên bang • Ngân sách bang • Ngân sách địa phương - Mô hình nhà nước thống nhất: NSNN gồm 2 cấp • Ngân sách trung ương • Ngân sách địa phương Tại Việt nam, theo tinh thần Luật Ngân sách nhà nước, được thông qua ngày 20 tháng 3 năm 1996 và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 1997, hệ thống NSNN bao gồm 4 cấp: - Ngân sách trung ương Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 231 - Ngân sách cấp tỉnh (tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương) - Ngân sách cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) - Ngân sách cấp xã (xã, phường, thị trấn) Cơ quan quản lý quỹ của NSNN là Kho bạc Nhà nước. Hệ thống Kho bạc Nhà nước Việt nam được thành lập theo quyết định QĐ 07/HĐBT ngày 4/1/90 và chính thức đi vào hoạt động ngày 1/4/90. 2. Vai trò của ngân sách nhà nước trong nền kinh tế Ngân sách nhà nước là công cụ quản lý vĩ mô mà nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc ổn định, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và góp phần thực hiện công bằng xã hội. 2.1. NSNN – Công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của nhà nước Hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định. Các nhu cầu chi tiêu này được thoả mãn bằng các nguồn thu ngân sách nước, mà chủ yếu là thuế (trung bình chiếm 80-90% tổng thu). Đây là vai trò truyền thống của NSNN, tồn tại trong bất cứ thời đại, chế độ xã hội nào kể từ khi nhà nước ra đời. Nó xuất phát từ sự cần thiết khách quan của việc ra đời nhà nước với chức năng quản lý kinh tế xã hội. 2.2. NSNN – Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội của nhà nước Vai trò này xuất hiện trước nhu cầu phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường, giúp nền kinh tế - xã hội phát triển cân đối và hợp lý hơn. Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô của mình thông qua các hoạt động thu, chi ngân sách. Cụ thể, vai trò này được thể hiện trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội như sau: 2.2.1. Về mặt phát triển kinh tế NSNN được sử dụng để kích thích nền kinh tế phát triển hoặc hình thành cơ cấu kinh tế mới, thông qua các hoạt động như: - Dùng vốn NSNN để đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như giao thông, điện, nước thuỷ lợi… Đây là những lĩnh vực rất cần cho sự phát triển kinh tế xã hội nhưng tư nhân không muốn đầu tư (do tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn chậm) hoặc không đủ khả năng (về vốn và trình độ) để đầu tư. - Thực hiện những ưu đãi về tín dụng hoặc thuế nhằm khuyến khích phát triển những ngành nghề hoặc vùng cần phát triển, ví dụ các ngành kinh tế mới (công nghệ sinh học, tin học), các ngành trọng điểm (sản xuất hàng xuất khẩu), các vùng
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 232 kinh tế ở vùng sâu vùng xa cần hỗ trợ phát triển để đảm bảo đời sống người dân ở đó. - Thông qua việc áp dụng thuế suất cao đối với những mặt hàng xa xỉ có tác dụng định hướng tiêu dùng nhằm tiết kiệm nguồn vốn có hạn của xã hội, để dành cho phát triển kinh tế. - Khi nền kinh tế suy thoái, nhà nước có thể tăng chi ngân sách cho đầu tư, cắt giảm thuế nhằm kích cầu, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi sớm. - Thông qua các khoản chi đầu tư từ vốn ngân sách và ưu đãi thuế để thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế mới, hợp lý hơn, qua đó phát huy các nguồn lực trong xã hội một cách có hiệu quả. 2.2.2. Về mặt ổn định kinh tế xã hội Vai trò này của NSNN được thể hiện qua các hoạt động như: - Lập quỹ dự trữ nhà nước về hàng hoá, vật tư thiết yếu, các quỹ dự phòng tài chính (kể cả bằng vàng và ngoại tệ) để ổn định kinh tế xã hội khi có sự biến động do thiên tai, tai hoạ lớn mà Nhà nước cần can thiệp. - Hỗ trợ các quỹ bình ổn giá, quỹ bảo hiểm xã hội. - Cấp tín dụng ưu đãi hoặc mua lại các doanh nghiệp có vị trí quan trọng đang gặp khó khăn, có nguy cơ giải thể hoặc phá sản. - Lập quỹ dự trữ ngoại tệ để ổn định tỷ giá. - Sử dụng các chính sách tài khoá thắt chặt hoặc mở rộng nhằm điều tiết kinh tế vĩ mô (giảm nhiệt nền kinh tế, chống lạm phát, phục hồi tổng cầu). - Ngoài ra, các hoạt động nhằm cân bằng ngân sách cũng có ảnh hưởng lớn tới các cân bằng vĩ mô của nền kinh tế như cán cân thanh toán… 2.2.3. Về mặt thực hiện công bằng xã hội - Chi phúc lợi công cộng như giáo dục, y tế, văn hoá… nhằm tạo điều kiện nâng cao mặt bằng xã hội. - Chi trợ cấp đối với những người có hoàn cảnh khó khăn như trẻ em mồ côi, người già không nơi nương tựa, những gia đình có công với đất nước. - Chi trợ cấp thất nghiệp nhằm giúp ổn định xã hội. - Chi hỗ trợ việc làm cho người nghèo, người tàn tật qua tín dụng ưu đãi. - Thông qua thuế thu nhập, thuế lợi tức nhằm điều tiết thu nhập cao để phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập thấp, góp phần giảm bớt khoảng cách giầu nghèo. 3. Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách bao gồm những khoản tiền nhà nước huy động vào ngân sách để thoả mãn Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 233 nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thoả mãn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. 3.1. Các nguồn thu của NSNN Thu NSNN được hình thành từ các nguồn sau: 3.1.1. Thuế Thuế là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập của cá nhân, doanh nghiệp cho Nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế có những đặc trưng sau: - Là hình thức động viên một phần thu nhập của các cá nhân, doanh nghiệp cho Nhà nước. Các cá nhân, doanh nghiệp là người được hưởng các lợi ích từ chi tiêu NSNN và họ có thu nhập nên phải có nghĩa vụ trích một phần thu nhập nộp cho ngân sách Nhà nước, có thể bằng hình thức trực tiếp (thuế đánh vào thu nhập) hoặc gián tiếp (thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu…). - Là khoản đóng góp mang tính bắt buộc vì thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN cho nhu cầu chi tiêu cho Nhà nước nhưng do tính chất không hoàn trả trực tiếp nên người chịu thuế không tự giác nộp. - Không hoàn trả trực tiếp mà hoàn trả gián tiếp và không tương đương dưới hình thức người chịu thuế được hưởng các hàng hoá, dịch vụ Nhà nước cung cấp không mất tiền hoặc với giá thấp và không phân biệt giữa người nộp thuế nhiều hay ít. 3.1.2. Lệ phí Lệ phí là khoản thu do Nhà nước quy định để nhà nước phục vụ công việc quản lý hành chính nhà nước theo yêu cầu hoặc theo quy định của pháp luật. Việt nam có khoảng 15 loại lệ phí như lệ phí trước bạ, lệ phí đăng ký kinh doanh, lệ phí chứng thư, công chứng, lệ phí cấp quota. Đây là khoản thu do những cơ quan hành chính thực hiện. Đó là những đơn vị dự toán ngân sách, tức là toàn bộ thu chi của nó gắn với thu chi ngân sách hay thu chi của nó là một bộ phận của thu chi ngân sách. Tiền lệ phí thu được dùng để bù đắp các khoản chi phí phát sinh khi giải quyết công việc của bộ phận quản lý trực tiếp và gián tiếp. Ví dụ tiền lệ phí trước bạ nhà, đất không chỉ để đảm bảo hoạt động của bộ phận trước bạ mà còn đảm bảo hoạt động của cả hệ thống cơ quan quản lý nhà đất như Tổng cục địa chính, Sở nhà đất với các công việc như lập hồ sơ địa chính, lập quy hoạch… Do đó một số lệ phí có số tiền thu lớn như lệ phí trước bạ nhà đất lên tới 2% giá trị nhà đất.
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 234 Thu lệ phí là nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc thu theo khả năng đóng góp trong chính sách động viên vào ngân sách Nhà nước và công bằng trong việc hưởng thụ các lợi ích từ chi tiêu của ngân sách. Vì vậy người nộp lệ phí là người được hưởng lợi ích từ hoạt động quản lý của Nhà nước và số tiền lệ phí phù hợp với khả năng đóng góp của họ nên Nhà nước không cần trợ giúp để giảm gánh nặng cho người nộp thuế. Một số lệ phí là bắt buộc. Trong đó quan trọng là lệ phí trước bạ, vì Nhà nước cần quản lý quyền sở hữu, quyền sử dụng một số tài sản là nhà đất, tầu thuyền, ôtô, xe máy, súng săn, súng thể thao nhưng nhiều người không muốn nộp lệ phí nên không chịu trước bạ những tài sản này. Nếu Nhà nước quy định số tiền nộp lệ phí nào đó lớn nhằm tăng thu ngân sách thì không gọi là lệ phí mà gọi là thuế hay thuế mang tính chất lệ phí như thuế môn bài. Tóm lại, lệ phí vừa mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí về việc thực hiện một số thủ tục hành chính, vừa mang tính chất động viên đóng góp cho NSNN. 3.1.3. Phí Phí là khoản thu do nhà quy định nhằm bù đắp một phần chi phí của NSNN mà nhà nước đã dùng để: - đầu tư xây dựng, mua sắm, bảo dưỡng và quản lý tài sản, tài nguyên hoặc chủ quyền quốc gia, - tài trợ cho các tổ chức, cá nhân hoạt động sự nghiệp, hoạt động công cộng hoặc lợi ích công cộng theo yêu cầu, không mang tính kinh doanh. Khác với lệ phí, việc thu phí chỉ nhằm bù đắp một phần chi phí và gắn với hoạt động sự nghiệp, hoạt động công cộng và chỉ thu theo yêu cầu. Các dịch vụ của hoạt động sự nghiệp như giáo tục, y tế… hoạt động công cộng như giao thông, vệ sinh đô thị… rất cần phát triển nhưng một bộ phận dân cư không có khả năng mua nếu Nhà nước không hỗ trợ một phần chi phí. Do thu không đủ bù đắp chi phí nên đơn vị sự nghiệp là đơn vị dự toán ngân sách. Người trả tiền phí (mua dịch vụ) là người được hưởng một phần số tiền chi tiêu của Nhà nước nên phải tuỳ vào loại hoạt động sự nghiệp và sức sống của dân và khả năng chi của ngân sách mà xác định mức phí cho phù hợp. Như vậy, phí là một khoản thu mang tính chất bù đắp và bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân do được hưởng một lợi ích hoặc được sử dụng một dịch vụ (công cộng) nào đó do nhà nước cung cấp. Phí có tính hoàn trả trực tiếp. Do đặc điểm của thuế, lệ phí và phí khác nhau dẫn đến hình thức văn bản pháp luật điều chỉnh và cơ quan ban hành chúng cũng khác nhau. Thuế cần được Quốc hội quyết định và ban hành dưới dạng luật, riêng thuế mang tính chất lệ phí thì chỉ cần Chủ tịch nước quyết định. Do Việt nam mới tiếp cận kinh tế thị trường nên một số thuế tạm thời do Uỷ Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 235 ban thường vụ quốc hội ban hành dưới dạng pháp lệnh để thuận tiện cho quá trình hoàn thiện. Lệ phí, phí do Chính phủ, Bộ Tài chính và Uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trung ương ban hành dưới dạng nghị định, quyết định. So sánh thuế với phí và lệ phí172 : Giống nhau: - Là khoản thu của NSNN - Là khoản đóng góp (nộp) của thể nhân và pháp nhân - Mang tính bắt buộc, gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước - Mang tính ổn định tương đối - Đều được lượng hoá thông qua tiền tệ Khác nhau: THUẾ PHÍ VÀ LỆ PHÍ - Là luật định, dưới hình thức luật hoặc pháp lệnh do cơ quan lập pháp (quốc hội) ban hành việc ấn định, ban hành, bãi bỏ hoặc sửa đổi một số sắc thuế phải trải qua những trình tự lập pháp chặt chẽ do hiến pháp quy định. - Cũng do nhà nước quy định nhưng ở cấp độ khác, dưới hình thức văn bản do cơ quan hành pháp ban hành. Trình tự ban hành không chặt chẽ, phức tạp như thuế. - Không có đối phần cụ thể. - Có đối phần cụ thể - Thuế là khoản thu chủ yếu của NSNN, công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế và điều hoà thu nhập trong xã hội. - Phí, lệ phí là những khoản thu để giảm chi ngân sách, nhằm mục tiêu duy nhất là bù đắp một phần chi phí nhà nước đã đầu tư vào các dịch vụ công cộng của nhà nước. - Không mang tính hoàn trả trực tiếp, một phần được hoàn trả gián tiếp thông qua các khoản trợ cấp xã hội và phúc lợi công cộng. - Mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp. - Mang tính chất nghĩa vụ đóng góp của các tổ chức kinh tế và dân cư đối với nhà nước. - Chỉ khi có hưởng lợi ích hoặc được sử dụng dịch vụ công cộng mới phải nộp phí, lệ phí. - Mức thu về thuế thường được quy định bằng tỉ lệ phần trăm (%) so với cơ sở tính thuế đồng thời có thể được quy định bằng con số tuyệt đối hay tỉ lệ (%) luỹ tiến hoặc luỹ thoái. - Mức thu về lệ phí, phí là một loại giá cả đặc biệt, nó không giống như giá cả hàng hoá và dịch vụ phải chịu sự chi phối bởi quy luật cung cầu trên thị trường; mà mức thu lệ phí được đặt ra trên cơ sở đáp ứng yêu cầu bù đắp chi phí của dịch vụ công cộng. 3.1.4. Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước - Thu lợi tức từ hoạt động góp vốn liên doanh, cổ phần của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế như lãi từ cổ phần Nhà nước giữ lại tại các doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hoá. 172 Trang 104, sách Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ, TP. HCM
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 236 - Thu tiền sử dụng vốn ngân sách Nhà nước từ các doanh nghiệp Nhà nước. Khoản thu này trích từ lợi nhuận của doanh nghiệp theo tỷ lệ từ 0,2 - 0,5% vốn NSNN cấp/tháng. Vốn NSNN cấp gồm có vốn do ngân sách nhà nước cấp và vốn có nguồn gốc từ ngân sách (như viện trợ trực tiếp cho doanh nghiệp, các khoản lợi nhuận phải nộp ngân sách được phép giữ lại bổ sung vốn). - Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, ví dụ tiền thu từ việc bán cổ phần tại các doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hoá, bán doanh nghiệp Nhà nước làm ăn yếu kém mà không cần thiết giữ lại. - Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi) từ các các tổ chức, cá nhân trong nước vay qua Tổng cụ đầu tư phát triển hoặc qua hệ thống ngân hàng (ngân hàng hưởng phí dịch vụ) và từ chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế. 3.1.5. Thu từ hoạt động sự nghiệp - Các khoản thu do bán sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp như thu tiền bán sản phẩm sản xuất thử cuả các đơn vị nghiên cứu khoa học, bán sách do trường tự in ấn… Các đơn vị sự nghiệp có cơ chế tài chính là dự toán ngân sách nên toàn bộ các khoản thu phải nộp vào ngân sách. - Khoản chênh lệch giữa thu và chi của các đơn vị hoạt động sự nghiệp có thu, sau khi đơn vị đã trích lập vào các quỹ theo chế độ (quỹ đầu tư phát triển, dự trữ tài chính, khen thưởng, phúc lợi). Đơn vị sự nghiệp có thu là đơn vị cung cấp dịch vụ công cộng theo giá Nhà nước quy định, nhưng thu nhập không phụ thuộc nhiều vào chi phí phát sinh. Vì vậy để khuyến khích các đơn vị này tích cực thu nên đã áp dụng cơ chế tài chính gắn thu bù chi. Đơn vị sự nghiệp có thu là một dạng của doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích. 3.1.6. Tiền bán hoặc cho thuê tài sản không dùng (thuộc sở hữu Nhà nước) tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp. 3.1.7. Thu tiền bán hàng hoá, vật tư từ quỹ dự trữ Nhà nước. 3.1.8. Tiền thu sử dụng đất khi Nhà nước giao quyền sử dụng đất, tiền thuê mặt đất, mặt nước. 3.1.9. Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân bổ sung cho vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng tại địa phương (cấp xã, thị trấn). Do khả năng chi của ngân sách địa phương có hạn và người dân muốn đóng góp để xây dựng các công trình phục vụ trực tiếp cho họ. 3.1.10. Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân ở trong và ngoài nước như đóng góp cho quỹ an ninh, quỹ phòng chống thiên tai, ủng hộ đồng bào bão lụt… 3.1.11. Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ hoặc trực tiếp cho các cơ quan, doanh nghiệp Nhà Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 237 nước. 3.1.12. Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bù đắp bội chi cho đầu tư phát triển và khoản vay của chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Vay trong nước được tiến hành dưới hình thức phát hành trái phiếu nhà nước, gồm: - Trái phiếu chính phủ, có 3 loại: tín phiếu kho bạc (có thời hạn dưới 1 năm), trái phiếu kho bạc (có thời hạn từ 1 năm trở lên) và trái phiếu công trình. Vay trái phiếu công trình do cơ quan chính phủ quản lí và sử dụng cho đầu tư một công trình nhất định. Trái phiếu, tín phiếu có thể phát hành qua hệ thống Ngân hàng Nhà nước hoặc kho bạc Nhà nước. - Trái phiếu chính quyền địa phương: dùng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc phần trách nhiệm của địa phương. Nước nào có mức độ phân cấp quản lý ngân sách cao thì trái phiếu địa phương phát triển hơn. - Công trái: nhà nước phát hành khi đất nước gặp khó khăn do chiến tranh, khủng hoảng kinh tế… nên cần sự ủng hộ của người dân để vượt qua. Công trái có lãi suất thấp hơn thị trường và thời hạn vay dài. Vay nước ngoài dưới các hình thức sau: - Vay vốn ODA của chính phủ nước ngoài (song phương), của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế (đa phương). Viện trợ phát triển chính thức (ODA) thường gồm một phần không hoàn lại, phần còn lại là vay ưu đãi. Phần vay ưu đãi được tính vào khoản vay nước ngoài để theo dõi và có kế hoạch trả nợ. - Phát hành trái phiếu chính phủ quốc tế (tại các thị trường vốn quốc tế). - Vay của các thương nhân, tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài. Hai khoản vay sau từ nước ngoài theo lãi suất thị trường và điều kiện vay khó hơn nên Việt Nam rất ít sử dụng. 3.1.13. Các khoản thu khác như: khoản tiền phạt, tài sản tịch thu, di sản Nhà nước được hưởng… Khi lập dự toán thu hàng năm, ngoài các khoản thu trên còn có thu kết dư ngân sách năm trước. Tuy nhiên đây không phải là một hình thức động viên hay nguồn thu của ngân sách Nhà nước. 3.2. Phân loại thu ngân sách Phân loại thu ngân sách nhà nước là sự sắp xếp các nguồn thu thành những nhóm, theo những tiêu thức nhất định nhằm đáp ứng những yêu cầu về nghiên cứu, phân tích kinh tế và quản lý ngân sách. Có 4 cách phân loại phổ biến như sau: 3.2.1. Căn cứ vào tính chất kinh tế của các nguồn thu, thu ngân sách nhà nước được
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 238 chia làm 2 loại: - Thu từ thuế và các khoản mang tính chất thuế (như phí, lệ phí) hay còn gọi là thu từ thuế, phí và lệ phí. Đây là các khoản thu có tính chất bắt buộc, không hoàn trả và là nguồn thu chủ yếu của ngân sách. - Các khoản thu không mang tính chất thuế (hay còn gọi tắt là thu ngoài thuế). Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định tỷ lệ động viên từ thuế vào ngân sách hay tỷ suất thuế (tỷ lệ giữa số thuế thu được/GDP) dùng trong việc phân tích đánh giá chính sách động viên vào NSNN từ thuế. Nó còn có ý nghĩa trong việc xác định và đánh giá tỷ trọng nguồn thu thuế trong tổng số thu. 3.2.2. Căn cứ vào khả năng động viên GDP vào NSNN, thu NSNN được chia thành: - Thu trong nước - Vay nợ và viện trợ Chỉ tiêu thu trong nước thể hiện mức động viên từ các cá nhân, doanh nghiệp vào ngân sách, giúp phân tích đánh giá chính sách động viên vào NSNN, đó là tỷ lệ động viên GDP vào NSNN hay tỷ suất thu NSNN, được tính bằng: (Tổng thu trong nước / GDP) x 100%. Tỷ suất thu và thu trong nước thường được quan tâm khi xem xét chính sách thu và thực hiện kế hoạch thu NS nên thu trong nước còn được hiểu là thu NS theo nghĩa hẹp. 3.2.3. Căn cứ vào tính chất thường xuyên của các khoản thu, thu NSNN bao gồm: - Thu thường xuyên: gồm chủ yếu là thuế, lệ phí, phí. Ngoài ra có các khoản thu khác là: + Thu từ sở hữu tài sản ngoài thuế như thu từ hoạt động sự nghiệp, thu sử dụng vốn ngân sách, tiền cho thuê mặt đất, mặt nước… + Thu lãi từ các khoản cho vay. + Các khoản đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong nước. + Thu tiền phạt và tịch thu... - Thu không thường xuyên: có các khoản như thu tiền bán nhà thuộc sở hữu nhà nước, bán cổ phần thuộc sở hữu nhà nước, thu viện trợ, vay nợ... Trên cơ sở mức chi thường xuyên mà chủ yếu căn cứ vào thuế, phí, lệ phí giúp xác định tỉ lệ giữa thu thường xuyên và chi thường xuyên. Tỷ lệ này rất cần khi cân đối NSNN nhằm đảm bảo ổn định chi tiêu dùng thường xuyên và tăng tích luỹ cho nền kinh tế. 3.2.4. Căn cứ vào tính chất vay nợ của khoản thu - Thu từ vay nợ (trong và ngoài nước) - Thu ngoài vay nợ. Khoản thu vay nợ mang bản chất tín dụng nên có tính chất hoàn trả. Trong khi đó tính chất phân phối của hầu hết các khoản chi ngân sách Nhà nước là không hoàn trả. Vì vậy người ta coi nó là khoản bội chi (thâm hụt) ngân sách. Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc xác định mức độ bội chi ngân sách Nhà nước sao cho phù hợp. GDP là nguồn Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 239 mà ngân sách Nhà nước huy động, cho nên cần so sánh số bội chi với GDP. Nếu bội chi quá từ 3% GDP trở xuống báo hiệu tình hình bình thường. Trong Liên minh tiền tệ châu Âu đây là một trong những điều kiện quan trọng để trở thành thành viên. Ở Việt Nam do khả năng thu có hạn và nhu cầu lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng, các ngành kinh tế quan trọng nên quốc hội cho phép mức bội chi trong thời gian tới ở dưới mức 5% GDP. Mức bội chi trong thời gian qua khoảng 3-4% GDP. 3.2.5. Căn cứ vào phạm vi của nguồn thu - Thu nước ngoài, gồm có viện trợ và vay nước ngoài - Thu trong nước và vay nợ trong nước Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ phụ thuộc của NSNN vào bên ngoài và mức độ can thiệp trực tiếp của nhà nước thông qua tỷ trọng chi đầu tư và tiêu dùng của khu vực nhà nước. Ngoài các cách phân loại thu được sử dụng phổ biến ở trên còn có hai cách phân loại khác được quy định trong “Mục lục ngân sách nhà nước” là: - Căn cứ vào ngành kinh tế quốc dân: Việt nam có 20 ngành kinh tế quốc dân cấp một và tương ứng có 20 khoản thu như thu từ y tế, giáo dục đào tạo, xây dựng... Qua đó thấy được mức độ động viên của từng ngành vào ngân sách nhà nước. - Căn cứ vào tổ chức bộ máy nhà nước có các khoản thu như thu từ Bộ giáo dục và đào tạo, Ngân hàng Nhà nước, Toà án nhân dân tối cao... Theo cách phân loại này thì thu của Học viện ngân hàng (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước) thuộc thu của đơn vị dự toán cấp 1 là Ngân hàng Nhà nước, nếu theo cách phân loại trên thì thuộc ngành giáo dục đào tạo. Cách phân loại này có tác dụng trong việc lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán NSNN. 3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỉ lệ động viên GDP vào ngân sách Nhà nước và tỷ suất thuế Nguồn hình thành thu NSNN nói chung và thuế nói riêng là GDP nên để đánh giá khối lượng và cơ cấu thu ngân sách cần dựa vào tỷ lệ động viên GDP và tỷ suất thuế cũng như khi đánh giá lợi nhuận của doanh nghiệp dựa vào tỷ suất lợi nhuận. Nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ bội chi sẽ đề cập trong phần bội chi. Mối quan hệ giữa số thu trong nước, số thu thuế so với GDP thực chất là mối quan hệ phân phối giữa Nhà nước và xã hội. Vì vậy cần xác định đúng tỉ lệ động viên vào ngân sách Nhà nước và tỉ lệ thu thuế. Do nó không chỉ ảnh hưởng đến số thu ngân sách để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà còn có ảnh hưởng tích cực đến quá trình phát triển kinh tế xã hội. Khi xem xét cần dựa vào các nhân tố ảnh hưởng sau đây: 3.3.1. Thu nhập bình quân đầu người
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 240 Chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người (GDP/người) phản ánh mức độ phát triển nền kinh tế và phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước. Mức độ phát triển nền kinh tế hàng hoá tiền tệ luôn là nhân tố quan trọng nhất đối với sự phát triển của mọi khâu tài chính, cho nên nhân tố này cũng là nhân tố quyết định khách quan đến mức động viên của ngân sách Nhà nước và cần phải xem xét nó trong mối quan hệ với dân số. Nếu thoát li chỉ tiêu này khi ấn định mức động viên sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng, đầu tư của khu vực tư nhân. 3.3.2. Tỉ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế Tỉ suất lợi nhuận phản ánh hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp. Nếu khả năng huy động vào ngân sách càng cao. Dựa vào tỉ suất lợi nhuận trọng nền kinh tế để xác định tỉ suất thu sẽ tránh việc huy động của ngân sách gây khó khăn cho họat động kinh doanh của doanh nghiệp. Thời kỳ kinh tế suy thoái, Nhà nước có thể giảm thuế suất để khuyến khích đầu tư, tiêu dùng, phát triển kinh tế. Ở những nước chưa phát triển có tỷ suất lợi nhuận thấp cũng không nên huy động nhiều để bồi dưỡng nguồn thu. Thâm hụt ngân sách được giải quyết bằng vay nợ. 3.3.3. Khả năng xuất khẩu khoáng sản và dầu mỏ Đối với những nước đang phát triển có thu nhập bình quân đầu người thấp nhưng có tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu khoáng sản và dầu mỏ lớn hơn 20% thì đây là nhân tố có ảnh hưởng đáng kể. Nếu có cùng một mức độ phát triển kinh tế, nước nào có tỉ trọng này lớn thì tỉ lệ động viên vào ngân sách Nhà nước lớn hơn, chẳng hạn Venezulla có tỉ suất thuế là 20%, Liberia 22,6%, Tuynidi 29,8%. Ở Việt nam, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu và dầu mỏ tuy không cao như nhiều nước, nhưng cũng đạt mức trên 20% và có đóng góp đáng kể vào việc tăng tỷ lệ động viên vào ngân sách. Trên đây là 3 nhân tố khách quan, còn 2 nhân tố tiếp theo có tính chất chủ quan. 3.3.4. Mức độ và hiệu quả chi tiêu của Nhà nước Mức độ chi tiêu của Nhà nước phụ thuộc vào: - Quy mô bộ máy quản lí Nhà nước - Nhiệm vụ điều tiết nền kinh tế xã hội mà Nhà nước đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử. Nếu 3 nhân tố kể trên như nhau, nhưng nước nào có mức độ chi tiêu của Nhà nước cao và hiệu quả chi tiêu thấp sẽ dẫn đến tỉ lệ động viên cao hơn. Các nước đang phát triển thường rơi vào tình trạng nhu cầu chi tiêu thì nhiều nhưng khả năng thu lại có hạn nên chính phủ thường phải vay nợ. 3.3.5. Tình trạng thất thu thuế Thuế suất không thể quá cao và theo những chuẩn mực chung nhất định. Vì vậy nước nào Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 241 có tình trạng thất thu do trốn lậu thuế càng lớn thì tỉ lệ thu thuế, tỉ lệ thu ngân sách sẽ giảm. 4. Thuế 4.1. Các yếu tố cấu thành của luật thuế Thuế là khoản đóng góp không hoàn trả cho Nhà nước và là công cụ quan trọng thực hiện chính sách kinh tế xã hội nên phải bắt buộc nộp và cần quốc hội phê chuẩn dưới hình thức luật. Luật thuế bao gồm 2 khía cạnh: quản lý thu nộp thuế và chính sách thuế. Chúng tạo nên những yếu tố cần thiết của luật thuế và chia các yếu tố thành 2 phần: phần các yếu tố riêng đặc trưng hay yếu tố cơ bản tạo ra sự khác nhau giữa các luật thuế và phần các yếu tố có nội dung chung cho mọi luật thuế. 4.1.1. Mục đích (ý nghĩa) của luật thuế Bất cứ văn bản luật nào đều có phần lời nói đầu nhằm tuyên truyền cho người có nghĩa vụ thực hiện luật hiểu rõ sự cần thiết phải ban hành để thực hiện tốt các quy định của luật. Luật thuế cũng vậy, lời nói đầu chỉ ra mục đích ban hành của luật thuế, thể hiện bản chất của loại thuế đó và được xây dựng trên cơ sở vai trò (tác dụng) của thuế. Để dễ quản lý, mỗi luật thuế chỉ bao gồm một đối tượng đánh thuế nhất định, do đó mỗi loại thuế có mục đích riêng như thuế tiêu thụ đặc biệt có tác dụng hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, thuế nhập khẩu nhằm bảo vệ sản xuất trong nước, thuế thu nhập cá nhân tạo sự công bằng xã hội… và có mục đích chung là tạo ra nguồn thu đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và để cuối cùng nhằm mục đích phát triển sản xuất kinh doanh, phát triển nền kinh tế. Mục đích, ý nghĩa của luật không phải là những quy định bắt buộc nên không đưa thành các điều khoản mà nó là căn cứ để xây dựng các điều khoản nhằm đạt mục đích đề ra. 4.1.2. Đối tượng đánh thuế (đối tượng chịu thuế) Đối tượng đánh thuế hay đối tượng của thuế là đối tượng mà luật thuế tác động vào nhằm thực hiện vai trò của thuế. Thường người ta chia đối tượng đánh thuế làm 3 nhóm là: thu nhập (của cá nhân, doanh nghiệp), tài sản (nhà, đất, tài nguyên) và hàng hoá dịch vụ (thông thường, đặc biệt, xuất nhập khẩu). Mỗi loại đối tượng đánh thuế có đặc điểm riêng, đã tạo ra phần có nội dung khác nhau giữa các luật và làm cơ sở cho việc quy định các yếu tố quan trọng của luật thuế như người nộp thuế,căn cứ tính thuế, trường hợp ưu đãi. Mỗi đối tượng đánh thuế có tác dụng khác nhau và dẫn đến cách quản lý cũng khác nhau. Cho nên với mỗi đối tượng đánh thuế phải ban hành thành các luật thuế riêng biệt như không thể để chung thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp vào cùng một luật thuế. Chính vì vậy tên của luật thuế bao giờ cũng chỉ rõ đối tượng đánh thuế của luật đó là gì. 4.1.3. Người nộp thuế (đối tượng nộp thuế)
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 242 Là người có đối tượng chịu thuế nên có nghĩa vụ khai báo, nộp thuế cho Nhà nước và được luật thuế quy định. Họ là những doanh nghiệp và các cá nhân, trong thuế thu nhập là người có thu nhập, trong thuế tài sản là người sở hữu hoặc được Nhà nước giao quyền sử dụng, trong thuế hàng hoá dịch vụ là người bán (tiêu thụ) hàng hoá dịch vụ. Khi xem xét từ khía cạnh tác động của chính sách thuế, cần biết người chịu thuế là ai, đó là người bị giảm thu nhập thực tế. Trong thuế thu nhập, tài sản thì người nộp và chịu thuế là một. Còn trong thuế hàng hoá dịch vụ người chịu thuế là các cá nhân khi tiêu dùng hàng hoá, nếu để người này nộp thuế thì Nhà nước rất khó thu thuế nên để đảm bảo hiệu quả thu thuế thì người nộp thuế lại là người bán hàng hoá dịch vụ và họ là người nộp hộ người tiêu dùng. Riêng trong quan hệ mua bán hàng hoá nhập khẩu, do các nước áp dụng chính sách kiểm soát nhập khẩu nên người nộp thuế nhập khẩu, thuế VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu là người nhập khẩu (người mua hàng). Hơn nữa nếu thu thuế hàng hoá dịch vụ ở khâu cuối cùng thì số thuế phải nộp rất lớn và tập trung ở một số ít doanh nghiệp, chủ yếu ở doanh nghiệp bán lẻ, do đó việc thu thuế rất khó khăn. Luật thuế điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế, vì vậy người chịu thuế không cần chỉ rõ trong luật. Tuy nhiên, chính sách thuế là nhằm tác động đến người chịu thuế để thực hiện vai trò của thuế cho nên các điều khoản về thuế, nhất là đối tượng đánh thuế, thuế suất, ưu đãi thuế được quy định xuất phát từ góc độ người chịu thuế chứ không phải từ người nộp thuế. Trong thuế hàng hoá dịch vụ, tuy người nộp thuế là người bán nhưng mặt hàng nào Nhà nước khuyến khích tiêu dùng thì được hưởng thuế suất thấp, mặt hàng nào không khuyến khích phải chịu thuế suất cao, kể cả dùng cho sản xuất kinh doanh. Thuế hàng hoá dịch vụ tính vào chi phí sản xuất nên người tiêu dùng cuối cùng chịu toàn bộ. Còn nhà đầu tư, căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội mà lựa chọn lĩnh vực đầu tư. Nếu thuế suất đánh vào hàng hoá dịch vụ nào đó lớn làm cho giá cao, người tiêu dùng sẽ mua ít hơn nên ngành sản xuất kinh doanh mặt hàng đó sẽ thu hẹp. Ngược lại thuế suất thấp sẽ khuyến khích tiêu dùng và sản xuất kinh doanh. Vì vậy thuế hàng hoá dịch vụ còn tác động cả đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu một mặt hàng tiêu dùng cuối cùng trải qua nhiều khâu (bộ phận) sản xuất kinh doanh thì bộ phận nào cần ưu tiên phát triển thì được hưởng thuế suất ưu đãi, còn các bộ phận khác vẫn chịu thuế suất thông thường. Ví dụ thức ăn gia súc, gia cầm, phân bón, thuốc trừ sâu hưởng thuế suất ưu đãi trong thuế VAT là 5%, nhưng thực phẩm chế biến là 10%. Trong thuế hàng hoá dịch vụ, người nộp thuế là người tiêu thụ, người chịu thuế là người tiêu dùng cá nhân nên còn gọi là thuế tiêu thụ hay thuế tiêu dùng. 4.1.4. Căn cứ tính thuế Căn cứ tính thuế được thể hiện trong phương pháp (công thức) tính thuế như sau: Số thuế phải nộp = Số lượng đối tượng tính thuế x Thuế suất Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 243 Đối tượng tính thuế là cơ sở để tính số thuế phải nộp và được quy định sao cho phù hợp với mục đích của từng đối tượng đánh thuế. Thuế thu nhập có đối tượng tính thuế là thu nhập của doanh nghiệp và cá nhân, với thuế tài sản là diện tích nhà đất, trong thuế tài nguyên là giá trị tài nguyên khai thác. Với thuế hàng hoá dịch vụ thì phức tạp hơn vì cần có các đối tượng tính thuế khác nhau để thực hiện chính sách điều tiết tiêu dùng của Nhà nước. Với thuế VAT là giá trị gia tăng, thuế doanh thu và thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước là doanh thu tiêu thụ, thuế xuất nhập khẩu là kim ngạch xuất nhập khẩu, với thuế VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu là kim ngạch nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu… Để hạn chế trốn lậu thuế tiêu thụ đặc biệt có thuế suất cao, một số nước quy định đối tượng tính thuế là số lượng hàng hoá tiêu thụ như số lít rượu, số điếu thuốc lá... Đơn vị dùng đo lường đối tượng tính thuế gọi là đơn vị tính thuế. Từ cách quy định đối tượng tính thuế như trên cho thấy có hai loại đơn vị tính thuế là đơn vị đo lường giá trị bằng tiền được dùng chủ yếu và đơn vị đo lường khác biểu hiện bằng lít, m2, cái chiếc như điếu thuốc lá. Để tính số lượng đối tượng tính thuế theo giá trị, luật quy định căn cứ tính là giá tính thuế hoặc giá tính thuế đơn vị: - Đối với thuế VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán chưa có thuế để tránh nhược điểm thuế đánh chồng lên thuế. Căn cứ vào giá bán trên thị trường là giá đã có thuế, nó được tính như sau: Giá bán đã có thuế (giá thanh toán) Giá bán chưa có thuế = ------------------------------------------- 1 + thuế suất - Đối với thuế xuất nhập khẩu là giá xuất nhập tại cửa khẩu, với thuế VAT và thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào hàng nhập khẩu là giá nhập cộng với thuế nhập khẩu. - Đối với thuế tài nguyên là giá bán đã có thuế. - Đối với thuế chuyển quyền sử dụng đất là giá đất do nhà nước quy định. Tránh trốn lậu thuế, trong một số trường hợp giá tính thuế không theo giá hợp đồng mà do nhà nước quy định như trong thuế XNK khi thanh toán không qua ngân hàng mà giá hợp đồng thấp hơn giá thực tế trên thị trường thì áp dụng theo bảng giá tối thiểu của Bộ Tài chính; trong thuế chuyển quyền sử dụng đất do UBND tỉnh thành phố trực thuộc trung ương quy định trong khung giá của Chính phủ. Chúng ta cần phân biệt giá tính thuế và giá tính thuế đơn vị: giá tính thuế là tổng giá và được tính bằng = giá tính thuế đơn vị (x) số lượng hàng hoá dịch vụ. Các luật thuế đánh vào hàng hoá dịch vụ quy định căn cứ tính số lượng đối tượng tính thuế là: giá tính thuế đơn vị và số lượng hàng hoá hoặc chỉ luôn là giá tính thuế dùng trong thuế VAT và thuế
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 244 tiêu thụ đặc biệt. Riêng trong thuế XNK giá tính thuế được hiểu là giá tính thuế đơn vị. Thuế suất là số tiền thuế phải nộp trên 1 đơn vị đối tượng tính thuế. Sau khi xác định đối tượng tính thuế là gì ta có thể xác định nội dung, cách quy định mức thuế suất. Trường hợp đối tượng tính thuế là giá trị, để tiện cho việc so sánh, người ta biểu diễn thuế suất theo % như thuế suất thuế GTGT 5, 10, 20% giá trị gia tăng... Trong luật thuế mà có quá nhiều mức thuế suất thì người ta tập hợp vào một bảng gọi là biểu thuế để thuận tiện cho việc tra cứu. Quy định mức thuế suất bình thường, ưu đãi như thế nào phải đảm bảo được mục tiêu, yêu cầu của chính sách thuế. Thuế suất là linh hồn của thuế, bởi vì phần lớn thông qua nó người ta thực hiện được mục đích đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, ổn định, khuyến khích phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội. Để đạt được điều này không chỉ phải xây dựng mức thuế suất hợp lí cho từng đối tượng mà còn phải lựa chọn loại thuế suất phù hợp. Thường sử dụng 3 loại thuế suất tương ứng với 3 loại đối tượng chịu thuế như sau: - Thuế suất luỹ tiến từng phần Là thuế suất có nhiều mức và tăng dần lên cho từng phần của đối tượng tính thuế. Như vậy đối tượng tính thuế được chia ra thành từng phần, tương ứng với mỗi phần là một mức thuế suất khác nhau và cao dần. Ví dụ một người có thu nhập 15 triệu đồng, số thu nhập này được chia thành 3 phần là 5tr, 4tr và 1tr đ, mỗi phần chịu một mức thuế suất tương ứng là 0%, 10% , 20%; số thuế phải nộp là (5 x 0% + 4 x 10% + 1 x 20%). Loại thuế suất này được sử dụng trong các loại thuế đánh vào thu nhập cá nhân và doanh nghiệp vì có ưu điểm là điều tiết mạnh đối với trường hợp có thu nhập cao mà vẫn đảm bảo sự hợp lý. Ngoài ra còn tự động điều chỉnh thuế suất và số thuế phải nộp theo sự biến động của nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập trong xã hội tăng lên và số thuế Nhà nước cần thu cũng tăng lên, ngược lại khi kinh tế khó khăn thì số thuế phải nộp Nhà nước cũng tự động giảm, qua đó đảm bảo tính kịp thời của chính sách và giảm chi phí điều hành. Để thấy sự điều tiết mạnh mà vẫn hợp lý của loại thuế suất này, chúng ta so sánh với thuế suất luỹ tiến toàn phần - là loại thuế suất tăng theo mức độ tăng của đối tượng tính thuế và thuế suất được áp dụng cho toàn bộ đối tượng tính thuế. Giả sử quy định mức thu nhập cá nhân trên 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng có thuế suất 10%, trên 10 triệu đồng đến 14 triệu đồng có thuế suất 20%, một người có thu nhập 10 triệu đồng thì chịu thuế suất 10%, nhưng một người khác có thu nhập 11 triệu đồng chịu thuế suất 20% là không hợp lý và có thể khuyến khích trốn lậu thuế. - Thuế suất cố định Là thuế suất không đổi khi số lượng đối tượng tính thuế thay đổi. Căn cứ vào loại Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 245 đơn vị tính thuế có: + Thuế suất cố định có đơn vị tính thuế theo giá trị, áp dụng đối với thuế hàng hoá dịch vụ. Ví dụ trong thuế nhập khẩu: với một mặt hàng cụ thể, kim ngạch nhập khẩu nhiều hay ít thì thuế suất vẫn giữ nguyên. + Thuế suất cố định có đơn vị tính thuế không theo giá trị, thường áp dụng trong thuế nhà đất, ngoài ra ở một số nước còn áp dụng trong thuế tiêu thụ đặc biệt. Trong thuế đất, với cùng một vị trí đất thì người sử dụng diện tích đất nhiều hay ít đều có mức thuế suất như nhau được tính trên 1m2 , thuế suất của xăng được tính trên 1 lít xăng. Trong thuế hàng hoá dịch vụ và thuế tài sản không thể áp dụng thuế suất luỹ tiến từng phần vì: khi thu thuế không thể căn cứ vào lượng giá trị hàng hoá mua bán, vào diện tích đất mà xác định người tiêu dùng, người có tài sản đang có thu nhập cao hay thấp để ấn định mức thuế suất tương ứng. Để thực hiện nguyên tắc thu thuế theo khả năng thì áp dụng bằng cách: những mặt hàng xa xỉ, đất có vị trí đẹp chịu thuế suất cao hơn mặt hàng thiết yếu, đất có vị trí xấu. Thuế suất cố định có đơn vị tính thuế không theo giá trị có hạn chế là mỗi khi có sự biến động về giá cả, lạm phát lại phải thay đổi mức thuế suất nên khi thay đổi không kịp thời dẫn đến không đảm bảo tính linh hoạt và sự ổn định nguồn thu cho ngân sách và còn làm tăng chi phí quản lý. Trong khi đó thuế hàng hoá dịch vụ có tỉ trọng thu lớn, vì vậy thuế hàng hoá dịch vụ cần áp dụng thuế suất cố định tính theo giá trị. Còn thuế nhà đất có tỉ trọng thu không lớn và một trong vai trò quan trọng của nó là khuyến khích sử dụng nhà đất tiết kiệm nên có thuế suất cố định tính theo số lượng là phù hợp. Thuế tài nguyên là loại thuế đánh vào địa tô chênh lệch nên thuế suất tính theo giá trị. Đối với hàng hoá tiêu thụ đặc biệt (loại thuế có thuế suất rất lớn), nếu áp dụng thuế suất cố định tính theo số lượng sẽ thuận lợi hơn trong việc quản lý và tránh trốn lậu thuế vì đã loại trừ được nhân tố giá cả trong công thức tính thuế. Một số nước như Thuỵ Điển áp dụng loại thuế suất này đối với hàng hoá tiêu thụ đặc biệt, thuế suất được tính trên 1 lít rượu, bia, 1 điếu thuốc lá... 4.1.5. Các chế độ ưu đãi về thuế Nó thể hiện chính sách điều tiết nền kinh tế của Nhà nước thông qua công cụ thuế. Để tránh trốn lậu thuế và đơn giản trong việc thực hiện có 4 cách quy định ưu đãi từ đơn giản đến phức tạp như sau: - Không thuộc diện đối tượng chịu thuế: Là một dạng miễn thuế dành cho những trường hợp được miễn thuế lâu dài và không cần làm bất cứ thủ tục gì. Riêng trong luật thuế XNK, do đánh thuế từng lần chứ không tính trong một khoảng thời gian và để tránh trốn thuế nên vẫn phải làm hồ sơ xuất trình cho từng lần XNK. Lưu ý, trong một số luật thuế có trường hợp không thuộc diện đối tượng chịu thuế là để
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 246 tránh đánh thuế trùng lắp hoặc làm cho hệ thống thuế đơn giản, tiết kiệm chi phí thu nộp. Ví dụ như trong thuế thu nhập cá nhân, lợi tức của chủ hộ kinh doanh cá thể không thuộc diện chịu thuế vì đã thuộc diện chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Trong luật thuế lợi tức trước đây, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc diện không thuộc đối tượng chịu thuế vì đã chịu thuế lợi tức theo luật đầu tư nước ngoài. Làm cho hệ thống thuế đơn giản hơn, giảm chi phí quảnlý như trong thuế chuyển quyền sử dụng đất có trường hợp nhà nước giao quyền sử dụng đất không phải nộp thuế; trong thuế VAT hàng hoá tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế VAT ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ nộp ở một khâu). -Tạm thời miễn thuế: Là trường hợp theo quy định vẫn thuộc đối tượng chịu thuế nhưng được miễn thuế không có thời hạn và không phải làm hồ sơ xin miễn. Ví dụ trong thuế thu nhập cá nhân đối với trường hợp lãi cho vay, lãi mua cổ phiếu; trong thuế đất có đất ở của người tàn tật mất khả năng lao động, người chưa đến tuổi thành niên, người già cô đơn không nơi nương tựa, không có khả năng nộp thuế, đất ở của gia đình thương binh nặng, gia đình liệt sĩ đang hưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước... - Thuế suất ưu đãi: Những đối tượng chịu thuế có thuế suất 0% hay có thuế suất thấp hơn mức trung bình là thuộc diện ưu đãi. Khi có thuế suất 0% vẫn phải làm thủ tục kê khai nộp thuế. Cách quy định này được dùng trong thuế hàng hoá dịch vụ, cụ thể là thuế XNK và thuế GTGT cho những trường hợp ấn định được trước trong biểu thuế. - Miễn, giảm thuế được quy định trong chương “Miễn giảm thuế”: Là trường hợp ưu đãi có thời hạn nhất định và xuất hiện trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định. Vì vậy muốn được miễn giảm thuế phải lập hồ sơ xin miễn giảm và chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Ví dụ trong thuế thu nhập doanh nghiệp thì cơ sở sản xuất mới thành lập được miễn thuế 2 năm đầu kể từ khi có thu nhập chịu thuế và được giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp trong thời gian 2 năm tiếp theo. Trong thuế XNK thực hiện xét duyệt cho từng chuyến hàng. Người chịu thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt là người tiêu dùng nên về nguyên tắc vấn đề miễn giảm thuế không đặt ra đối với 2 loại thuế này. Nhưng ở VN tạm thời miễn giảm cho một số trường hợp trong thuế tiêu thụ đặc biệt. Cơ quan có thẩm quyền xét miễn giảm thuế là Tổng cục Thuế. Riêng thuế XNK do Tổng cục Hải quan, thuế đất do Uỷ ban Nhân dân, thuế tiêu thụ đặc biệt và một số trường hợp nhập khẩu cần quản lý chặt hơn thì do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định. Chế độ ưu đãi và mức thuế suất cao trong thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu được quy định như thế nào là xuất phát từ mục đích của luật thuế đó. 4.1.6. Các yếu tố chung của mọi luật thuế - Nghĩa vụ và quyền khiếu nại của người nộp thuế: Trong tất cả các luật thuế, người nộp thuế đều có nghĩa vụ cơ bản là kê khai, nộp thuế đúng, đủ, kịp thời, cung cấp tài liệu liên Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 247 quan đến việc tính thuế nếu cơ quan thuế yêu cầu. Ngoài ra tuỳ luật thuế mà còn có các nghĩa vụ khác như chấp hành nghiêm chỉnh chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ trong luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT. Người nộp thuế có quyền khiếu nại việc cán bộ thuế, cơ quan thuế thi hành không đúng luật thuế. - Thủ tục nộp thuế: Gồm các quy định về nội dung kê khai thuế, căn cứ và thời hạn kê khai, thời hạn nộp thuế và quyết toán thuế. Quy định nghĩa vụ của người nộp thuế và thủ tục nộp thuế là cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm luật thuế. - Trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan thuế: hướng dẫn người nộp thuế thực hiện kê khai, nộp thuế theo quy định; thông báo số thuế phải nộp đúng, kịp thời; kiểm tra, thanh tra việc kê khai, nộp thuế; xử lý các vi phạm hành chính về thuế và giải quyết khiếu nại... Khi việc nộp thuế đi vào nề nếp sẽ giảm thủ tục thông báo thuế nhằm tạo điều kiện cho người nộp thuế ở thế chủ động tính thuế và nộp thuế, giảm chi phí quản lý thuế trong việc tính toán và ra thông báo thuế. - Xử lý vi phạm luật thuế và khen thưởng đối với người nộp thuế, cán bộ thuế và cá nhân khác. Nếu người nộp thuế vi phạm nhẹ, bị xử phạt hành chính, nếu nặng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Xử phạt hành chính có các hình thức như: phạt tiền, cảnh cáo, tước giấy phép... Nộp thuế chậm thì bị phạt tiền, mỗi ngày nộp phạt 0,1% số tiền chậm nộp, so với lãi suất phạt trả chậm cao hơn rất nhiều. Nếu trốn lậu thuế thì tuỳ mức độ bị phạt từ 1 đến nhiều lần số tiền thuế gian lận. Không nộp thuế, nộp phạt thì bị trích từ tài khoản tiền gửi, giữ hàng hoá, kê biên tài sản. Để luật thuế được thực hiện nghiêm minh, chính phủ ban hành Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.Cán bộ thuế vi phạm thì bị xử lý kỉ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. - Khiếu nại: Thời hiệu khiếu nại thường 30 ngày. Đơn khiếu nại phải gửi đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế, nếu vẫn không đồng ý với quyết định của cơ quan giải quyết khiếu nại hoặc quá thời hạn quy định mà vẫn chưa được giải quyết thì có quyền khiếu nại lên cơ quan thuế cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện đến toà án. - Hiệu lực thi hành: Thường sau 1 thời gian kể từ ngày quốc hội thông qua để có thời gian chuẩn bị. 4.2. Phân loại thuế Để xây dựng chính sách thuế hoàn chỉnh, phù hợp và đáp ứng được các nguyên tắc đánh thuế, trong quản lý người ta thường phân loại thuế theo 2 cách sau đây: 4.2.1. Căn cứ vào đối tượng đánh thuế Có 3 nhóm thuế chính là: - Thuế thu nhập, gồm 2 loại thuế cơ bản là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 248 - Thuế tài sản, gồm 3 thuế cơ bản là thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên. - Thuế hàng hoá dịch vụ, có 3 thuế cơ bản là thuế VAT (hoặc thuế doanh thu), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc xây dựng hệ thống thuế hoàn chỉnh và phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của từng đối tượng đánh thuế. Vì mỗi nhóm thuế có tác dụng riêng nên tỉ trọng mỗi nhóm thuế phải hợp lí. Xác định đối tượng chịu thuế là một vấn đề quan trọng để có cơ sở cho việc ban hành các luật thuế và đưa ra các quy định cho phù hợp với đối tượng chịu thuế. Do nhu cầu quản lí thuế của một số nước có điểm riêng nên căn cứ vào đối tượng đánh thuế còn tồn tại một số cách phân loại khác. Những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp thì thuế xuất nhập khẩu có tỉ trọng đáng kể nên nó được tách ra thành một nhóm riêng. Ở Việt nam, theo Quyết định của Bộ Tài chính về Mục lục ngân sách Nhà nước có các nhóm thuế sau: - Thuế thu nhập, gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế chuyển lợi nhuận của chủ đầu tư nước ngoài ở Việt nam ra nước ngoài, của chủ đầu tư Việt nam ở nước ngoài về nước. - Thuế sử dụng tài sản Nhà nước, gồm thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế tài nguyên, thuế chuyển quyền sử dụng đất và thu tiền sử dụng đất, thu giao đất trồng rừng. - Thuế đối với hàng hóa, dịch vụ, gồm thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế môn bài. - Thuế đối với hoạt động ngoại thương, gồm thuế xuất nhập khẩu. Việt nam quy định đất đai là sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý nên thuế tài sản được gọi là thuế sử dụng tài sản Nhà nước. Thu tiền sử dụng đất, thu giao đất trồng rừng có thể hiểu là 1 dạng thuế tài nguyên. Thuế xuất nhập khẩu có số thu đáng kể và có ý nghĩa trong quản lý nhập khẩu, tham gia thương mại quốc tế nên cần theo dõi trong chỉ tiêu riêng. 4.2.2. Căn cứ vào phương pháp tác động đến người chịu thuế Có 2 nhóm: - Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp từ thu nhập của người chịu thuế. Điển hình là thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Trong xã hội có hai chủ thể có thu nhập và cũng là hai chủ thể được hưởng lợi ích từ chi tiêu của nhà nước nên phải có nghĩa vụ đóng thuế, đó là doanh nghiệp và các cá nhân. Thuế trực thu có đặc điểm: người chịu thuế và người nộp thuế là một, người chịu thuế được xác định trước theo địa chỉ, không có khả năng chuyển số thuế ấy sang cho một người nào khác gánh Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 249 chịu và đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế. - Thuế gián thu là loại thuế nhà nước thu gián tiếp từ người chịu thuế là các cá nhân thông qua việc đánh thuế tiêu dùng hàng hoá dịch vụ. Điển hình là thuế VAT, thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. Đặc điểm của nhóm thuế này ngược lại với thuế trực thu: người chịu thuế không đồng thời là người nộp thuế, thuế là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá dịch vụ do người tiêu dùng gánh chịu, còn người sản xuất kinh doanh chỉ là người nộp hộ thuế cho người tiêu dùng; người chịu thuế không xác định cụ thể trước và có khả năngchuyển thuế sang cho người khác bằng cách hạn chế hoặc không tiêu dùng mặt hàng nào đó. Thuế hàng hoá dịch vụ phát sinh ở khâu mua các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh như thuế nhập khẩu là khoản chi phí, vì doanh nghiệp phải ứng trước số tiền thuế này, khi bán hàng mới thu về. Nhưng thuế VAT, xuất khẩu và tiêu thụ đặc biệt phát sinh khi bán hàng nên không hạch toán vào chi phí. Do vị trí quan trọng của thuế xuất nhập khẩu ở các nước đang phát triển nên người ta có khi tách thuế xuất nhập khẩu thành nhóm riêng để nghiên cứu. Cách phân loại này có ý nghĩa trong việc xây dựng cơ cấu thuế, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của từng nhóm thuế. Ở các nước đang phát triển, thuế trực thu cần có tỉ trọng thấp, vì một mặt thu nhập của các cá nhân chưa cao, mặt khác nhà nước muốn khuyến khích tiết kiệm trong dân chúng, thực hiện công bằng trong việc thu thuế, giảm chi phí quản lý, tạo điều kiện ổn định nguồn thu ngân sách và hạn chế trốn lậu thuế. Trong thuế gián thu, người chịu gánh nặng thuế cuối cùng vẫn là các cá nhân cho nên nếu họ tiết kiệm tiêu dùng sẽ chuyển gánh nặng thuế đó sang cho người khác, nhất là thuế đánh vào các mặt hàng cao cấp. 4.3. Hệ thống thuế hiện hành ở Việt nam Hiện nay Việt nam có 11 loại thuế. Trong đó có 1 loại thuế mang tính chất lệ phí, đó là thuế môn bài. Trong mỗi loại thuế, chúng ta sẽ đề cập đến 4 vấn đề cơ bản có tính chất đặc trưng riêng của từng loại thuế: - Đặc điểm của loại thuế đó về đối tượng đánh thuế, đối tượng nộp thuế (giúp chúng ta phân biệt các loại thuế với nhau) - Mục đích hay ý nghĩa ban hành - Căn cứ tính thuế, gồm có đối tượng tính thuế và loại thuế suất - Các chế độ ưu đãi về thuế - chính sách thuế. 4.3.1. Thuế giá trị gia tăng Là thuế đánh vào hàng hoá dịch vụ khi tiêu thụ, do các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh nộp (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và do các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 250 hoá nộp. Có đối tượng tính thuế là giá trị gia tăng, được xác định bằng số chênh lệch giữa giá trị đầu ra (doanh thu) và giá trị đầu vào (giá trị nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, tiền thuê dịch vụ ngoài...). Giá trị gia tăng do cơ sở kinh doanh tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, gồm có tiền lương và lợi nhuận. Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu, chúng có chung mục đích động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách Nhà nước và góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển thông qua thuế suất ưu đãi đối với những sản phẩm cần khuyến khích sản xuất, tiêu thụ. Có bản chất chung nên có nước vẫn gọi tên cũ là thuế doanh thu. Nhưng thuế doanh thu có đối tượng tính thuế là toàn bộ giá trị đầu ra nên có nhược điểm cơ bản là đánh thuế trùng lắp (chồng chéo), vì vậy nhiều nước chuyển từ áp dụng thuế doanh thu sang thuế giá trị gia tăng. Thuế giá trị gia tăng tính trên giá trị gia tăng nên: Thuế GTGT phải nộp = (Giá bán chưa có thuế/đầu ra - Giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào chưa có thuế/đầu vào) x Thuế suất Trong thực tế, để thuận tiện cho việc quản lý thuế người ta áp dụng phổ biến phương pháp khấu trừ thuế: Thuế phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào Thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng (=) giá tính thuế nhân (x) với thuế suất. Giá tính thuế là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng.Thuế giá trị gia tăng đầu vào bằng (=) tổng số thuế giá trị gia tăng đã nộp của hàng hoá dịch vụ mua vào được ghi trên hoá đơn mua hàng (chính bằng giá trị hàng hoá dịch vụ mua vào nhân với thuế suất). Nếu doanh nghiệp chưa nộp hoặc nộp chưa đủ khi mua hàng hoá thì doanh nghiệp phải nộp bù khi bán hàng. Qua đó, kiểm soát được việc nộp thuế của các khâu trước. Để dễ dàng tính toán số thuế phải nộp người ta sử dụng hoá đơn GTGT. Đối với những cơ sở kinh doanh chưa có hoá đơn mua hàng hoặc cả hoá đơn mua và bán hàng thì áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng. Giá trị gia tăng được ấn định trên cơ sở tỉ lệ % giá trị gia tăng tính trên doanh thu, đối với trường hợp không có hoá đơn bán hàng, cơ quan thuế còn ấn định cả doanh thu. Để thuận tiện cho việc quản lý thuế và khuyến khích thực hiện tốt chế độ kế toán hoá đơn chứng từ, doanh thu được tính trên giá bán đã có thuế và sử dụng hoá đơn thông thường. Việc nộp hộ thuế cho người tiêu dùng cuối cùng được minh hoạ qua ví dụ sau: Người sản xuất đồ gỗ bán cho người bán lẻ, hoá đơn ghi như sau: -Giá bán chưa có thuế..........................................170 tr.đ. - Thuế GTGT..........................................................17 tr.đ. - Giá thanh toán....................................................187 tr.đ. Số thuế GTGT mà người bán lẻ phải chịu là 17 tr.đ. và do người sản xuất đồ gỗ nộp hộ. Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 251 Người bán lẻ đồ gỗ bán cho người tiêu dùng, hoá đơn ghi như sau: - Giá chưa có thuế ..................................................200 tr.đ. - Thuế GTGT.............................................................20 tr.đ. - Giá thanh toán.......................................................220 tr.đ. Số thuế GTGT người tiêu dùng phải chịu là 20 tr. đ. Người bán lẻ đồ gỗ đã nộp hộ người tiêu dùng 17 tr.đ. khi mua hàng và là chi phí nên phải thu hồi. Khi thu thuế GTGT từ người tiêu dùng chỉ còn phải nộp 3 tr. đ. Nếu doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng nhưng không tính toán riêng doanh thu cho những mặt hàng có thuế suất khác nhau thì phải chịu thuế suất cao nhất trong số những mạt hàng đó. Quy định này nhằm tránh lậu thuế và được áp dụng trong tất cả các loại thuế hàng hoá dịch vụ. Về mặt lý thuyết, thuế giá trị gia tăng có thể tính bằng (=) tiền lương cộng (+) lợi nhuận, sau đó nhân (x) với thuế suất. Trong thực tế không được áp dụng vì quản lý thuế phức tạp. Nhà nước khuyến khích tiêu dùng một số mặt hàng, qua đó đẩy mạnh sản xuất kinh doanh những mặt hàng này, bằng việc quy định chúng không thuộc diện đối tượng chịu thuế như dạy học, dạy nghề, xuất khẩu dầu thô, than đá, nhập khẩu - máy móc thiết bị chuyên dùng trong nước chưa sản xuất được để làm tài sản cố định... Chính sách thuế giá trị gia tăng còn được thể hiện trong quy định về thuế suất. Đối với hàng xuất khẩu được hưởng thuế suất đặc biệt ưu đãi là 0%, do áp dụng phương pháp khấu trừ nên còn được hoàn thuế đã nộp ở các khâu trước. Thuế suất thấp 5% dành cho hàng hoá dịch vụ thiết yếu mà Nhà nước phần nào khuyến khích như giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập, thuốc chữa bệnh... Hầu hết các hàng hoá dịch vụ chịu thuế suất phổ thông 10%. Thuế suất 20% áp dụng cho một số ít hàng hoá dịch vụ cần điều tiết mạnh từ người tiêu dùng như khách sạn, du lịch, ăn uống, xổ số các loại. Đây không phải là những dịch vụ không khuyến khích tiêu dùng như những dịch vụ trong thuế tiêu thụ đặc biệt, mặc dù có cùng mức thuế suất. Do khả năng quản lí thuế còn chưa tốt nên hàng hoá dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt không phải nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Bản chất 2 loại thuế này khác nhau do mục tiêu, tác dụng của chúng khác nhau, nên có một số nước tách riêng. Xu hướng là càng ngày có nhiều nước áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu vì những ưu điểm nổi bật của nó, đặc biệt cần thiết đối với những nước đang phát triển. Dựa vào giá trị gia tăng để tính thuế nên ưu điểm hơn thuế doanh thu: - Hạn chế trốn lậu thuế và khuyến khích thực hiện tốt chế độ hoá đơn, sổ sách kế toán nhờ áp dụng phương pháp khấu trừ thuế đầu vào. - Tránh được tính trạng đánh thuế trùng lắp, không kìm hãm quá trình chuyên môn hoá
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 252 trong sản xuất kinh doanh. - Khuyến khích xuất khẩu và đầu tư tài sản cố định. Thuế đầu ra nhỏ hơn thuế đầu vào nên được hoàn thuế khi xuất khẩu và đầu tư tài sản cố định, tạo điều kiện cạnh tranh và nhanh thu hồi vốn đầu tư. - Giảm sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu nhờ hạn chế tình trạng trốn lậu thuế nhập khẩu và mở rộng diện hàng nhập khẩu phải chịu thuế (có thêm hàng nhập phi mậu dịch, hàng nhập trực tiếp cho sản xuất kinh doanh). 4.3.2. Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đánh vào hàng hoá dịch vụ mà Nhà nước cần hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng. Đó là những hàng hoá dịch vụ không khuyến khích tiêu dùng do có hại sức khoẻ, tiêu sài xa xỉ. Gồm các nhóm hàng thuốc lá điếu, xì gà, rượu, bia, ôtô, xăng, điều hoà, bài lá, hàng mã, các dịch vụ karaoke, vũ trường, mát xa, chơi golf, vé đặt cược đua, casino. Như vậy, cần đánh cả vào hàng hoá sản xuất trong nước cũng như nhập khẩu. Hiện tại ngành sản xuất ôtô trong nước còn non trẻ và có nhiều khó khăn nên tạm thời được giảm thuế. Khi tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế sẽ không còn điều kiện để phân biệt đối xử như vậy. Thuế suất của thuế tiêu thụ đặc biệt rất cao, mức cao nhất hiện nay là 100% cho ôtô từ 5 chỗ ngồi trở xuống, tiếp đến 75% đối với bia chia, bia hơi. Mức thấp nhất 15% dành cho rượu thuốc, xăng và các chế phẩm pha xăng. Cao như vậy mới phát huy được tác dụng hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng và không chỉ có tác dụng khuyến khích tiết kiệm, hạn chế tiêu dùng mà còn điều tiết thu nhập của người tiêu dùng nói chung, người có thu nhập cao nói riêng một cách hợp lý. Để khuyến khích xuất khẩu thu ngoại tệ, hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB không phải nộp thuế nếu xuất khẩu. Thuế TTĐB thuộc loại thuế hàng hoá dịch vụ nên cách tính thuế như sau: Thuế phải nộp = (Số lượng hàng hoá dịch vụ tiêu thụ hay nhập khẩu x Giá tính thuế đơn vị) x Thuế suất Giá tính thuế đơn vị đối với hàng sản xuất trong nước là giá bán chưa có thuế, đối với hàng nhập khẩu là giá nhập (giá tính thuế nhập khẩu) cộng với thuế nhập khẩu. Mỗi mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB chỉ phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt một lần và do cơ sở sản xuất, nhập khẩu nộp, còn khâu lưu thông nộp thuế GTGT. Nếu phần nguyên liệu cũng phải chịu thuế TTĐB như bia hơi dùng sản xuất bia hộp thì được khấu trừ tiền thuế TTĐB đã nộp cho phần nguyên liệu. Các loại thuế đánh vào hàng nhập khẩu, trong đó có thuế tiêu thụ đặc biệt đều làm thủ tục kê khai thuế tại cửa khẩu. Đối với cơ sở sản xuất nhỏ hoặc vì lý do khách quan mà chưa thực hiện việc kê khai thuế TTĐB thì cơ sở mua hàng nộp thay. Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 253 Số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp rất lớn nên để tránh ứ đọng thuế của Nhà nước mà người tiêu dùng đã nộp, thời hạn nộp thuế ngắn, thường 5-10 ngày, nếu số thuế phát sinh quá lớn phải nộp hàng ngày. Về nguyên tắc, không xét miễn giảm thuế đối với những loại thuế do người tiêu dùng chịu nên năm 1990 lần đầu tiên ban hành luật thuế tiêu thụ đặc biệt không đề cập đến vấn đề này. Sau đó xét thấy những ngành này ở Việt nam còn kém phát triển, năm 1993 cho phép miễn giảm trong một số trường hợp đặc biệt. Luật thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành (ban hành lần thứ 2 áp dụng từ 1-1-1999) quy định các trường hợp miễn giảm như sau: - Cơ sở sản xuất gặp khó khăn do thiên tai, địch hoạ, tai nạn bất ngờ. - Cơ sở sản xuất bia quy mô nhỏ nếu nộp thuế thì bị lỗ vốn, được xét miễn giảm thuế tương ứng với số lỗ, thời hạn không quá 5 năm kể từ ngày luật này có hiệu lực. - Cơ sở lắp ráp, sản xuất ôtô trong nước được giảm 95% mức thuế suất trong thời hạn 5 năm kể từ ngày luật này có hiệu lực. - Cơ sở kinh doanh golf được giảm 30% mức thuế suất trong thời hạn 3 năm kể từ ngày luật này có hiệu lực. 4.3.3. Thuế xuất nhập khẩu Thuế xuất nhập khẩu (XNK) là thuế đánh vào hàng hoá XNK, kể cả phi mậu dịch và làm thủ tục kê khai nộp thuế tại cửa khẩu, nên còn gọi là thuế quan. Ở những nước có khu chế xuất, đối tượng đánh thuế gồm cả hàng hoá từ khu chế xuất đưa vào thị trường trong nước và từ thị trường trong nước đưa ra khu chế xuất. Thuế XNK tạo ra sự tăng giá hàng hoá, nên được sử dụng làm công cụ quản lí và điều tiết vĩ mô hoạt động XNK, phục vụ chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước. Luật thuế XNK được ban hành nhằm mục đích: - Góp phần bảo vệ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu, nhất là những mặt hàng trong nước có thể đáp ứng được nhưng sản xuất đang trong thời kì non trẻ, bảo vệ trước sự cạnh tranh không lành mạnh của nước ngoài như bán phá giá... - Hướng dẫn tiêu dùng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, hạn chế tiêu dùng hàng nhập khẩu cao cấp, không thiết yếu, dành ngoại tệ cho nhập khẩu phục vụ sản xuất. - Khuyến khích xuất khẩu theo hướng có lợi cho sản xuất trong nước : những mặt hàng trong nước có thể chế biến được, được khuyến khích xuất khẩu hơn so với khi xuất khẩu nguyên liệu. Cùng một nhóm hàng, nhưng xuất khẩu sản phẩm qua chế biến được hưởng thuế suất thấp hơn, có khi 0%. - Động viên một phần thu nhập vào ngân sách, chủ yếu thông qua thuế nhập khẩu. Ở hầu hết các nước, tỉ trọng thuế XNK rất thấp và gần như không đánh thuế xuất khẩu.
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 254 Do trình độ phát triển của Việt nam còn thấp nên thuế XNK vẫn có vị trí quan trọng để thực hiện các mục đích trên và là nguồn thu đáng kể của ngân sách. Việc tham gia Hiệp định cắt giảm thuế quan trong khối ASEAN sẽ làm giảm một phần tỉ trọng của thuế nhập khẩu trong thời gian tới. Số thuế phải nộp được tính theo công thức sau: Thuế XNK = (Số lượng hàng XNK x Giá tính thuế đơn vị) x Thuế suất Giá tính thuế đơn vị là giá xuất, giá nhập tại cửa khẩu. Nếu vận chuyển bằng đường biển là giá FOB, giá CIF. Giá xuất không bao gồm chi phí vận tải và bảo hiểm tính từ cửa khẩu đi. Giá nhập bao gồm cả chi phí vận tải và bảo hiểm tới cửa khẩu đến. Thuế suất hàng nhập khẩu có 3 loại: - Thuế suất thông thường, áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước không có thoả thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt nam. Được quy định cao hơn không quá 70% so với mức thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng. - Thuế suất ưu đãi, áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ nước mà Việt nam có thoả thuận đối xử tối huệ quốc và được ghi trong biểu thuế. - Thuế suất ưu đãi đặc biệt: áp dụng đối với hàng hoá có xuất xứ từ nước mà Việt nam có thoả thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khâủ. Hàng nhập khẩu còn phải chịu thuế suất bổ sung để chống lại việc bán phá giá và sự trợ cấp của nước xuất khẩu gây khó khăn cho sự phát triển ngành sản xuất hàng hoá tương tự của Việt nam và chống lại sự phân biệt đối xử với hàng hoá của Việt nam. Đối với hoạt động xuất khẩu có nhiều mặt hàng được hưởng thuế suất 0% như hạt điều đã qua chế biến. Nguyên vật liệu cần thiết cho sản xuất trong nước chịu thuế suất cao như phế liệu, mảnh vụn của kim loại thường là 45%. Trong các luật thuế, thuế suất do Quốc hội phê chuẩn, nhưng riêng thuế XNK cần có sự thay đổi kịp thời trước sự biến động của nền kinh tế và quan hệ hợp tác thương mại với các nước nên biểu thuế do Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định; còn thuế suất thông thường, đặc biệt và bổ xung do Chính phủ quy định. Không thuộc diện chịu thuế gồm có: Hàng viện trợ nhân đạo, hàng vận chuyển quá cảnh, mượn đường, chuyển khẩu do không tiêu thụ hàng hoá tại Việt nam. Diện miễn thuế chia làm 2 trường hợp: Thứ nhất được miễn thuế dành cho trường hợp cần ưu tiên và dễ kiểm soát hơn nên thủ tục đơn giản hơn và do cơ quan hải quan quyết định, trường hợp thứ hai là được xét miễn thuế có thủ tục miễn thuế phức tạp hơn và do Bộ Tài chính quyết định. Sửa đổi thuế XNK lần thứ nhất năm 1993 cho phép hàng vật tư nguyên liệu nhập khẩu gia công cho nước ngoài chuyển từ dạng xét miễn thuế chuyển sang dạng miễn thuế. Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 255 Được xét giảm thuế không phải là do ưu đãi mà do hàng hoá bị hư hỏng, mất mát trong quá trình vận chuyển bốc xếp nên không đủ số lượng như khi làm tờ khai thuế. Thuế XNK do người tiêu dùng chịu nên không xét giảm thuế cho trường hợp nào khác. Xét hoàn lại thuế cho những trường hợp trước đó đã nộp thuế XNK, nhưng sau đó lại không xuất hoặc không nhập và cho vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, nó thể hiện chính sách khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước. Vật tư nguyên liệu nhập khẩu để xản xuất hàng XK không thể xếp vào trường hợp miễn, xét miễn thuế vì khó quản lý khi đã vào nội địa. Thời gian ân hạn nộp thuế là 275 ngày . 4.3.4. Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế đánh vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh. Nhằm mục đích góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi thông qua ưu đãi thuế, động viên một phần thu nhập vào ngân sách và đảm bảo sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Thu nhập là toàn bộ khoản tiền mà doanh nghiệp thu được trong một khoảng thời gian. Trong đó, có cả chi phí mà các cơ sở kinh doanh đã bỏ ra để có thu nhập ấy. Bù đắp chi phí để bảo toàn vốn và duy trì quy mô kinh doanh nên không thể đánh thuế vào phần thu nhập là chi phí. Vì vậy, đối tượng tính thuế là phần thu nhập sau khi trừ đi chi phí hợp lý, có liên quan đến thu nhập và trên cơ sở sử dụng vốn doanh nghiệp, nó được gọi là thu nhập chịu thuế. Phải giới hạn chi phí được phép trừ vì một số khoản chi phí tuy doanh nghiệp có bỏ ra nhưng không được trừ như khoản chi không có chứng từ hoặc chứng từ không hợp pháp nhằm tránh lợi dụng trốn lậu thuế, các khoản tiền phạt do không khuyến khích vi phạm pháp luật, hợp đồng, các khoản chi phí về quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại vượt quá mức cho phép... Các khoản chi phí này gọi là chi phí không hợp lý. Các khoản chi phí không dùng vốn của doanh nghiệp mà do nguồn vốn khác đài thọ nên không cần bù đắp cũng không được trừ. Chi tiêu không liên quan đến thu nhập như chi ủng hộ vùng bão lụt không được coi là chi phí và cũng không được trừ. Thuế thu nhập doanh nghiệp được tính theo công thức sau: Thuế TNdoanh nghiệp = Thu nhập chịu thuế x Thuế suất Xét từ góc độ hạch toán kinh doanh, khái niệm lợi nhuận (lợi tức) được hiểu là phần chênh lệch dương giữa thu nhập và chi phí thực tế đã phát sinh. Như vậy, thực chất thu nhập chịu thuế gồm lợi nhuận và các khoản chi phí không hợp lý. Do đó, nếu quy định đối tượng đánh thuế là lợi nhuận sẽ không đảm bảo sự rõ ràng và gây thắc mắc cho ngươì nộp thuế. Tổng lợi nhuận trước thuế trong bảng báo cáo thu nhập là thu nhập chịu thuế nên vẫn gồm cả chi phí bất hợp lý nếu có. Vì khi tính toán chi phí trong bảng báo cáo thu nhập không được tính các chi phí bất hợp lý. Việt nam đã phải sửa đổi tên gọi thuế lợi tức
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 256 thành thuế thu nhập doanh nghiệp. Để khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển và theo định hướng của Nhà nước, có các chế độ ưu đãi thuế sau: - Đối tượng không thuộc diện chịu thuế gồm có hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ, do quản lý thuế phức tạp mà số thuế thu được khôg lớn và các tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp nhằm khuyến khích sự giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất nông nghiệp. - Thuế suất ưu đãi dành cho các dự án đầu tư có 100% vốn Việt nam thuộc các ngành nghề, địa bàn khuyến khích đầu tư là 25, 20,15%. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh được hưởng thuế suất ưu đãi chung là 25%, một số trường hợp được áp dụng mức ưu đãi thấp hơn 20, 15, 10%. - Miễn giảm thuế: được áp dụng cho nhiều trường hợp như các cơ sở sản xuất mới thành lập, phần đầu tư sản xuất mở rộng, đổi mới công nghệ... Đây là thuế trực thu đánh vào thu nhập từ sản xuất kinh doanh nên trong hoàn cảnh cơ cấu ngành, vùng bất hợp lý hiện nay Việt nam quy định trường hợp ưu đãi thuế với phạm vi rộng để khuyến khích những hoạt động kinh doanh mà Nhà nước muốn đẩy mạnh phát triển. Ngoài ra còn cho phép chuyển lỗ sang những năm sau. Trước kia khi áp dụng thuế lợi tức, thời gian chuyển lỗ chỉ được phép 2 năm, nay tăng lên 5 năm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có những chiến lược kinh doanh dài hạn hoặc nhanh vượt qua thời kỳ khó khăn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn được ưu đãi hoàn thuế thu nhập nếu dùng lợi nhuận tái đầu tư. Để đảm bảo đóng góp công bằng hợp lý giữa các cơ sở kinh doanh, cơ sở kinh doanh nào có thu nhập cao do lợi thế khách quan mang lại (địa điểm kinh doanh thuận lợi, ngành nghề kinh doanh ít bị cạnh tranh...) thì ngoài việc nộp thuế thu nhập theo thuế suất 32% còn phải nộp thuế suất bổ sung 25% trên phần thu nhập cao do lợi thế khách quan mang lại. Đó là phần thu nhập vượt quá 1`2% giá trị vốn chủ sở hữu. Như vậy là áp dụng thuế suất luỹ tiến từng phần nhưng chỉ có 2 mức thuế suất 32% và 57%. 4.3.5. Thuế chuyển thu nhập của các chủ đầu tư ra vào Việt nam Thuộc nhóm thuế thu nhập, gồm có thuế chuyển thu nhập của các chủ đầu tư nước ngoài ra khỏi Việt nam và thuế chuyển thu nhập của các chủ đầu tư Việt nam ở nước ngoài về nước. Hiện có vị trí quan trọng là thuế chuyển thu nhập của các chủ đầu tư nước ngoài ra khỏi Việt nam. Nó được quy định trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam đồng thời là một bộ phận của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Đối tượng tính thuế là số thu nhập chuyển ra nước ngoài kể cả số thu nhập có được do chuyển nhượng vốn và thuế thu nhập được hoàn lại. Để khuyến khích bên nước ngoài Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 257 góp vốn pháp định, vốn hợp doanh cao, có 3 mức thuế suất 5, 7, 10% tương ứng với số vốn góp là từ 10 triệu USD trở lên, từ 5triệu đến dưới 10 triệu và dưới 5 triệu USD. Tránh đánh thuế 2 lần nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài, Việt nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với các nước có quan hệ đầu tư với Việt nam. 4.3.6. Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Trên thế giới gọi là thuế thu nhập cá nhân. Vì là lần đầu tiên ban hành thuế thu nhập cá nhân và đây là thuế trực thu, số người có thu nhập chịu thuế không nhiều nên quốc hội đã lựa chọn tên gọi như vậy và mới ban hành dưới dạng pháp lệnh. Mục đích ban hành thuế thu nhập cá nhân là để góp phần thực hiện công bằng xã hội và động viên một phần thu nhập của những cá nhân có thu nhập vào ngân sách. Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập thường xuyên và không thường xuyên. Để điều tiết mạnh và hợp lý, áp dụng thuế suất luỹ tiến từng phần. Độ lớn của thu nhập cá nhân được đánh giá theo năm thì chính xác hơn theo tháng nên thuế thu nhập thường xuyên được tính trên thu nhập bình quân tháng trong một năm và còn dẫn đến thuế thu nhập không thường xuyên có mức khởi điểm chịu thuế cao hơn. Để dễ quản lý và giảm chi phí thu thuế thì ở Việt nam áp dụng cách tính thuế trên đầu người có thu nhập, chứ không căn cứ vào các thành viên trong gia đình. Tạm thời chưa thu thuế đối với các khoản thu nhập là lãi cho vay, mua cổ phiếu để khuyến khích tiết kiệm và phát triển thị trường tài chính. Chưa thu thuế vào quà biếu tặng là kiều hối để thu hút ngoại tệ. Ưu đãi dưới dạng không thuộc diện chịu thuế gồm một số loại phụ cấp, tiền thưởng như phụ cấp làm đêm, độc hại, tiền thưởng về cải tiến kĩ thuật, sáng chế.... và các khoản trợ cấp, bồi thường bảo hiểm. Để tránh trùng lắp, thu nhập của chủ hộ kinh doanh cá thể cũng không thuộc diện chịu thuế vì đã chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Những người có thu nhập dưới mức khởi điểm tính thuế cũng có thể coi là được miễn thuế. Trường hợp được xét miễn giảm thuế khi bị thiên tai, địch hoạ, tai nạn ảnh hưởng đến đời sống của người nộp thuế. Ở Việt nam chưa đánh thuế quà tặng giữa các cá nhân trong nước, trừ tặng biếu tài sản là đất đai và chưa đánh thuế thừa kế, kể cả đất đai (được quy định trong luật thuế chuyển quyền sử dụng đất)... Thu nhập từ thừa kế và quà tặng là không nhỏ ở các nước có nền kinh tế thị trường và nó được quản lý bằng luật thuế riêng. 4.3.7. Thuế chuyển quyền sử dụng đất Đối tượng đánh thuế là thu nhập của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khi chuyển quyền sử dụng đất các loại. Có các mục đích: - Tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả thông qua việc đánh thuế vào trường hợp chuyển quyền sử dụng đất gắn với thay đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp và ngược lại.
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 258 - Đảm bảo công bằng về nghĩa vụ nộp thuế. - Động viên một phần thu nhập của người chuyển quyền sử dụng đất vào ngân sách Nhà nước. Cách tính thuế như sau: Thuế phải nộp = (Diện tích đất x Giá đất tính thuế) x Thuế suất Đối tượng tính thuế là giá trị đất đem chuyển nhượng vì đây là thuế đánh vào thu nhập, được tính bằng diện tích đất nhân với giá đất tính thuế, giá này do Nhà nước quy định. Thuế suất có 3 mức: 5, 10, 20%. Những trường hợp chưa nộp tiền sử dụng đất hoặc Nhà nước ưu tiên không phải nộp thì khi chuyển nhượng phải chịu thuế suất cao 20% để bù đắp tiền sử dụng đất không trả trước đó. Riêng với đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối được ưu tiên hơn, chỉ chịu 10%. Đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Để đảm bảo công bằng, các tổ chức và cá nhân khi được Nhà nước giao đất sử dụng phải nộp tiền sử dụng đất, trừ một số trường hợp được ưu tiên không phải nộp. Trường hợp đã nộp tiền sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất từ lần thứ hai trở đi có mức thuế suất bình thường 5%. Trường hợp chuyển đổi đất cho nhau có chênh lệch về giá trị thì thuế suất 5% trên phần chênh lệch. Đất có nguồn gốc từ thừa kế để lại khi chuyển quyền sử dụng đất thì thuộc trường hợp chuyển quyền sử dụng đất từ lần thứ hai trở đi nên có thuế suất 5%. Nhằm khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả, nếu chuyển quyền sử dụng đất gắn với chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp phải chịu thuế suất thấp nhất 40%, riêng sang đất xây dựng công trình công nghiệp thì dưới 40%. Ngược lại, chuyển từ đất phi nông nghiệp sang đất nông nghiệp có thuế suất 0% để khuyến khích sản xuất nông nghiệp và hạn chế dùng đất nông nghiệp sang mục đích khác, nhất là làm đất ở. Các trường hợp hưởng ưu đãi thuế là: - Không thuộc diện đối tượng chịu thuế khi thừa kế, tách hộ, trả lại đất cho Nhà nước. - Thuế suất 0% cho trường hợp kể trên. - Để tạo điều kiện ổn định đời sống, miễn thuế cho trường hợp di chuyển đến định cư tại các vùng kinh tế mới, miền núi, hải đảo và chuyển chỗ ở do thuyên chuyển công tác hoặc nghỉ hưu. - Giảm thuế cho cá nhân thương bệnh binh nặng, thân nhân liệt sĩ đang hưởng chế độ trợ cấp của Nhà nước... Nhưng chỉ được xét miễn giảm thuế đối với diện tích đất được Nhà nước giao lần đầu. 4.3.8. Thuế sử dụng đất nông nghiệp Là thuế thu từ người được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp ở đây Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 259 được hiểu là đất sử dụng vào mục đích trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng. Thuộc nhóm thuế đánh vào tài sản đất đai nên những người thuê đất không phải là người nộp thuế. Mục đích của thuế sử dụng đất nông nghiệp là: - Khuyến khích sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả. Thông qua nộp thuế buộc người sử dụng đất phải tính toán hiệu quả, vì thu nhập không chỉ phải bù đắp các chi phí bỏ ra mà còn bù được số thuế phải nộp và có lãi. Nếu sử dụng không hiệu quả, cần tìm cách nâng cao năng suất hoặc chuyển nhượng cho người biết cách trồng trọt, chăn nuôi hơn và quản lý tốt hơn. Để tạo điều kiện cho người nông dân, Nhà nước quy định mức thuế suất thấp. - Thực hiện công bằng sự đóng góp của các cá nhân, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp vào ngân sách. Bởi vì bản thân đất có khả năng đem lại thu nhập cho người sử dụng và Nhà nước cũng có những đầu tư nhất định cho nông nghiệp về thuỷ lợi, góp phần tăng năng suất. Thuế sử dụng đất nông nghiệp được tính như sau: Thuế sử dụng đất nông nghiệp = Diện tích đất x Định suất thuế/năm Vì đánh vào thu nhập do đất mang lại nên phải quy định đối tượng tính thuế là diện tích đất. Định suất thuế được quy định cho từng hạng đất, căn cứ vào khả năng đem lại thu nhập. Đất tốt có năng suất cao nhất và vị trí thuận lợi được xếp hạng một. An ninh lương thực chưa được đảm bảo chắc chắn ở Việt nam nên Nhà nước quy định thuế tính bằng thóc, nộp bằng tiền, khi cần thiết mới nộp bằng thóc. Giá thóc do Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương quyết định. Vì diện tích đất không thay đổi theo thời gian trong suốt quá trình nộp thuế nên thuế suất được quy định trong một khoảng thời gian là một năm. Đây là điểm riêng biệt của đối tượng đánh thuế là nhà đất. Để người nông dân an tâm đầu tư thâm canh tăng năng suất, hạng đất tính thuế được ổn định 10 năm. Nếu Nhà nước đầu tư thuỷ lợi lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao thì Nhà nước điều chỉnh lại hạng đất tính thuế. Miễn, giảm thuế cho những trường hợp sau: - Miễn thuế không thời hạn cho đất đồi, núi trọc dùng vào sản xuất nông, lâm nghiệp. - Miễn thuế có thời hạn cho đất khai hoang... - Giảm hoặc miễn thuế khi bị thiên tai, địch hoạ làm thiệt hại mùa màng. - Miễn hoặc giảm thuế cho các hộ nông dân sản xuất ở vùng cao, biên giới, hải đảo có khó khăn, cho các hộ nông dân là dân tộc thiểu số... - Miễn hoặc giảm thuế cho các hộ nộp thuế là gia đình liệt sĩ, thương bệnh binh...
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 260 Trước đây, Việt nam đánh thuế nông nghiệp, là loại thuế kết hợp, gồm thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp. Khi đó, mức thuế suất thấp nên thực chất mới chỉ đánh vào phần sử dụng đất. Khi thuộc sự điều chỉnh của thuế thu nhập doanh nghiệp thì hầu hết người sản xuất nông nghiệp vẫn nằm trong trường hợp miễn thuế. 4.3.9. Thuế nhà đất Thuế nhà đất thu từ người sở hữu nhà và người được giao quyền sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình. Tạm thời Việt nam chưa thu thuế nhà vì quỹ nhà còn nhỏ và mới ban hành dưới dạng pháp lệnh. Mục đích của thuế nhà đất là: - Khuyến khích các tổ chức, cá nhân sử dụng đất tiết kiệm, vì đất đai là nguồn tài nguyên có hạn. - Tăng cường quản lý Nhà nước đối với việc xây dựng và sử dụng nhà ở. - Động viên sự đóng góp của người sử dụng nhà đất vào ngân sách Nhà nước. Người sở hữu nhà và được giao quyền sử dụng đất là người tiêu dùng 2 hàng hoá đặc biệt này và là người có khả năng đóng thuế. Với mức thuế suất thấp trong thời gian qua, thuế đất chưa đạt được mục đích khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm. Cách tính thuế đất như sau: Thuế đất phải nộp = Diện tích đất (m2) x Thuế suất/1 năm Đối tượng tính thuế là diện tích đất để người sử dụng đất càng rộng thì nộp thuế càng nhiều. Có như vậy mới khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm. Giống như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế suất quy định số thuế phải nộp trên 1m2 trong thời gian một năm. Mức thuế suất được xác định căn cứ vào hạng đất và mức thuế nông nghiệp. Để động viên sự đóng góp của người sử dụng đất một cách hợp lý trên cơ sở giá trị thương mại của đất, hạng đất gồm có đất thành thị và nông thôn. Đất thành thị được xếp hạng theo loại đô thị, loại đường phố, khu phố. Để khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, thuế suất còn dựa vào mức thuế nông nghiệp trong vùng. Đất đô thị chịu mức thuế nông nghiệp cao nhất trong vùng, đất nông thôn có mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất trong vùng. Thuế suất được tính bằng bậc thuế theo hạng đất nhân với mức thuế nông nghiệp. Chẳng hạn đất thuộc đô thị loại 1, đường phố loại 1, vị trí loại 1 có thuế suất bằng 32 lần mức thuế nông nghiệp cao nhất trong vùng, vùng nông thôn bằng 1 lần mức thuế nông nghiệp cùng hạng đất trong vùng. Các trường hợp được ưu đãi thuế: - Không thuộc đối tượng chịu thuế gồm: đất sử dụng vì lợi ích công cộng, phúc lợi xã hội hoặc từ thiện, đất chuyên dùng vào việc thờ cúng của các tôn giáo. Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 261 - Tạm miễn thuế đất cho một số trường hợp như đất xây dựng trụ sở cơ quan hành chính sự nghiệp Nhà nước, đất ở thuộc vùng rừng núi cao thuộc diện được miễn thuế nông nghiệp... - Xét miễn giảm thuế cho người nộp thuế có khó khăn do bị thiên tai, địch hoạ, tai nạn bất ngờ. 4.3.10. Thuế tài nguyên Là loại thuế thu từ các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên. Đây là một loại địa tô chênh lệch. Thuế tài nguyên nhằm mục đích: - Khuyến khích khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm, hiệu quả. Vì thuế tài nguyên tính vào chi phí, làm giá bán sản phẩm tăng lên. - Hướng dẫn sử dụng tài nguyên theo hướng có lợi cho nền kinh tế quốc dân, góp phần bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường thông qua đánh thuế suất cao vào những tài nguyên cần hạn chế khai thác. Tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, nếu không sử dụng hợp lý sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt. - Thực hiện công bằng sự đóng góp của các cá nhân, tổ chức, sử dụng tài nguyên vào ngân sách. Vì tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý. Tạo nguồn thu cho ngân sách để thực hiện các biện pháp bảo vệ, tái tạo và thăm dò các nguồn tài nguyên. - Đảm bảo sự cạnh tranh công bằng giữa các đơn vị có khai thác, sử dụng tài nguyên với các đơn vị khác trong nền kinh tế, do đánh thuế làm tăng chi phí và giá bán của các sản phẩm khai thác. Tính thuế theo công thức sau: Thuế tài nguyên phải nộp = (Sản lượng tài nguyên khai thác x Giá tính thuế đơn vị) x Thuế suất Đối tượng tính thuế là giá trị tài nguyên đã khai thác. Giá tính thuế là giá bán thực tế bình quân của tài nguyên nguyên khai của cơ sở khai thác ở thời điểm tính thuế, là giá bán đã có thuế. Thuế suất cao áp dụng đối với những tài nguyên quý hiếm, cần bảo vệ hoặc dễ khai thác như gỗ có thuế suất cao nhất 40%, trầm hương, kỳ năm từ 20-25%... Với mục đích của thuế tài nguyên như kể trên và do người tiêu dùng chịu, nên chế độ ưu đãi ít đặt ra. Chỉ giảm thuế cho trường hợp khai thác trong 3 năm đầu mà gặp khó khăn và trong thời gian tận thu ở nơi đã thôi khai thác. 4.3.11. Thuế môn bài Là loại thuế mang tính chất lệ phí nhằm huy động sự đóng góp của các cá nhân, tổ chức kinh doanh phục vụ cho công tác kiểm kê, kiểm soát thị trường... của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế. Nếu doanh nghiệp có kế hoạch kinh doanh trong năm, không phân biệt kinh doanh tạm thời hay lâu dài, cố định hay lưu động thì đầu năm phải đăng ký kinh doanh và mới phải
  • Ch−¬ng 8. Tμi chÝnh c«ng 262 nộp thuế môn bài. Số thuế nộp được ấn định bằng một số tiền cụ thể, dựa vào loại hình cơ sở kinh doanh và mức thu nhập. * Trước tháng 10/1998, Việt nam áp dụng thuế sát sinh. Là thuế có tính chất lệ phí thu từ người có lợn, trâu, bò giết thịt nhằm phục vụ công tác phòng dịch bệnh của các cơ quan thú y và động viên một phần thu nhập của người chăn nuôi vào Ngân sách. * Thuế thu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh. Về nguyên tắc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh và doanh nghiệp 100% vốn trong nước bình đẳng trong việc nộp thuế. Nhưng để khuyến khích đầu tư nước ngoài, riêng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp này và bên nước ngoài có mức thấp, và được hưởng hoàn thuế từ việc tái đầu tư thu nhập. Việc ưu đãi như thế nào là do Bộ Kế hoạch và đầu tư nghiên cứu đề nghị trên cơ sở trao đổi thống nhất với Bộ Tài chính. Vì vậy nó được đưa vào nội dung của Luật đầu tư nước ngoài, và để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm hiểu hệ thống thuế thì luật thuế thu nhập doanh nghiệp cũng đề cập đến. Bên nước ngoài kinh doanh ở Việt nam khi chuyển lợi nhuận về nước còn chịu thêm một thứ thuế là thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.