Phần I                Lời giới thiệuNgay từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước .Đảngta chủ trương từng bư...
Phần II             Nội dungI . Những vấn đề lí luận về kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩ 1-LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ ...
kinh tế thị trường là phát minh riêng của chủ nghĩa tư bản là không có      căn cứ. Việc đồng nhất kinh tế thị trường với ...
nhiều tệ nạn xã hội, quá coi trọng đồng tiền xem thường đạo đức truyềnthống.Vậy để phát triển kinh tế thị trường cần phải ...
việc Nhà nước ta quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa cho nền kinh tế thị trường là điều đương ...
Sự điều tiết của Nhà nước thể hiện ở các mặt sau đây:Một là, Nhà nước tạo môi trườg pháp lý thuận lợi cho các cá nhân, các...
Có một số người cho rằng, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì Nhànước đừng có can thiệp vào kinh tế và kế hoạch hoá...
quản lý nền kinh tế thị trường, quản lý Nhà nước về kinh tế, xã hội cònnhiều yếu kém.Trong những năm tới, cần tiếp tục nân...
nghệ, vốn. Các công ty trong nước được tự do hơn trong hoạt động SXKDvà theo thị trường điều tiết. Qua các năm tiến hành đ...
Hiện nay ở nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu: Toàn dân, tập thể, tưnhân, sở hữu hỗn hợp. Do có nhiều hình thức sở...
Với mục tiêu thu được nhiều lợi từ thị trường mang lại, nhà sản xuấtphải tích tụ tập trung sản xuất dẫn đến quá trình phân...
1) Mục tiêu phát triển KTTTMục tiêu phát triển KTTT ở nước ta khác so với những nước khác ở mụctiêu về kinh tế và chính tr...
ăn. Hiện nay ở Việt Nam thành phần kinh tế nhà nước vẫn giữ được vai tròchủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân.Hàng n...
ra các kế hoạch tương ứng. Kế hoạch và thị trường không thể tách rời nhaumà luôn luôn phụ thuộc nhau, nếu tách rời thị trư...
a) Tình hình phát triển KTTT còn ở giai đoạn sơ khai, yếu kémNguyên nhân thứ nhất là do cơ sở vật chất của chúng ta còn ở ...
phát hiện làm cho ngân sách nhà nước thất thu lớn, hơn nữa nó còn làm chothị trường trong nước bị lũng đoạn.Thị trường hàn...
khoảng 50% - 60% như vậy cho thấy tình trạng thất thoát vốn khá nghiêmtrọng. Đó là điểm yếu của các chính sách thực hiện v...
các nhà KT cũng ưu tiên đầu tiên là tình hình chính trị và pháp luật củanước được đầu tư phải ổn định.Xoá bỏ cơ chế tập tr...
Tác giả: Trần Minh ChâuTạp chí: Lý luận chính trị 1 –20014. Bài: Nền KTTT cần có một nhà nước hiệu quả, bài học từ nước Ng...
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

[Luanvandaihoc.com]xây dựng kinh tế thị trường định hướng xhcn ở việt nam

11,782 views

Published on

[Luanvandaihoc.com]xây dựng kinh tế thị trường định hướng xhcn ở việt nam

0 Comments
2 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
11,782
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
3
Actions
Shares
0
Downloads
217
Comments
0
Likes
2
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

[Luanvandaihoc.com]xây dựng kinh tế thị trường định hướng xhcn ở việt nam

  1. 1. Phần I Lời giới thiệuNgay từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước .Đảngta chủ trương từng bước chuyển sang nên kttt địn hướng XHCN ,đồngthời coi đây là một phương hướng mang tính chiến lược trên lĩnh vựckinh tế .Sự chuyển biến đó là nguyên nhân trực tiếp đưa đất nước rakhỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tăng trưởng với tốc độ cao ,tạotiền đề cần thiết để chuyển sang thời kì đẩy mạnh CNH_HDH đấtnước .thực tế đã khẳng định vai trò quan trọng và cần thiết của môhình kttt định hướng XHCN không chỉ với sự phát triển kinh tế màcòn với quá trình xây dung cơ sơ vật chất kỹ thuật cho XHCN KTTT hình thành và phát triển từ trong lòng TBCN .Còn KTTT cóđịnh hướng XHCN ở việt nam lại là một vấn đề hết sức mới mẻ chưahề có tiền lệ trong lịch sử.Vấn đề càng quan trọng thì càng được quan tâm , nghiên cứu vấn đềcàng mới mẻ thì càng có sức hấp dẫn kich thích ham muốn tìm hiểu vàkhám phá của mọi người . Chính vì vậy em quyết định chọn đềtài :”xây dung kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam” chođề án kinh tế chính trị đầu tay của mình .Nội dung cua đề tàI này sẽ cung cấp các kiến thức cơ bản nhất ,tạo nềntảng để có thể tiếp tục đI sâu nghiên cứu phát triển va hoàn thiệnnhững lí luận về kttt định hướng XHCN và đưa lí luận ứng dụng vàothực tiễn một cách có hiệu quả ở nước ta.Mặc dù đã rất cố gắng , nhưng bài viết còn nhiều thiếu sót , rất mongnhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn đọc và các thầy cô.http://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 1
  2. 2. Phần II Nội dungI . Những vấn đề lí luận về kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩ 1-LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:1.1 Như đã biết, vào cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ, đầu thời kỳ xã hộinô lệ loại người đã có một bước tiến nhảy vọt trong lĩnh vực sản xuất racủa cải vật chất. Trong sản xuất đã bắt đầu có sản xuất thặng dư, tức làphần sản phẩm nhảy vọt quá phần sản phẩm tất yếu do người sản xuất tạora. Mặc dù lúc đầu sự dư thừa đó chỉ là ngẫu nhiên nhưng cùng với chế độtư hữu được xác lập, người lao động đã có thể làm chủ những sản phẩm dưthừa đó, mang trao đổi với nhau để nhận lại những sản phẩm mà mình thiếudo kết quả phân công chuyên môn hoá đưa lại thị trường sơ khai xuất hiệntừ đó.Tuy nhiên, phải trải qua quá trình phát triển lâu dài, mãi đến giai đoạn cuối xã hội phong kiến đầu xã hội TBCN kinh tế thị trường mới được xác lập, và phải đến cuối giai đoạn phát triển của CNTB tự do cạnh tranh thì kinh tế thị trường mới được xác lập hoàn toàn. Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá với những đặc trưng riêng của nó là người làm ra sản phẩm với mục đích đi bán (để trao đổi) chứ không phải tiêu dùng hay ngẫu nhiên như trước. Đặc trưng đó ngày càng được bổ sung phong phú thêm.Như vậy kinh tế thị trường phát triển từ sơ khai đến hiện đại là một công trình sáng tạo của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi đó là trình độ văn minh mà nhân loại đạt được. Do đó mọi quan điểm cho rằnghttp://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 2
  3. 3. kinh tế thị trường là phát minh riêng của chủ nghĩa tư bản là không có căn cứ. Việc đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản rồi nó tránh, hoặc sử dụng nó như một công cụ tạm thời, hoặc coi việc áp dụng kinh tế thị trường là mặc nhiên chấp nhận con đường TBCN.... Đều có thể dẫn đến sai lầm đáng tiếc. Ngay trong văn kiện đại hội VIII Đảng ta đã khẳng định “sản xuất hàng hoá là thành tựu văn minh chung của nhân loại”, chúng ta không chỉ kiên định “không bỏ qua kinh tế hàng hoá ” mà còn khẳng định kinh tế hàng hoá còn tồn tại khách quan cho đến khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng . lần này trong dự thảo văn kiện đại hội IX tiếp tục khẳng định “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nói gọn là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.1.2. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và những yêu cầu củanó.a. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.- Kinh tế thị trường khác hẳn với nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp trước kia sự cạnh tranh nghiên cứu dưới góc độ quan điểm toàn diện chúng ta nhận thấy rằng một mặt nền kinh tế thị trường làm cho cạnh tranh thúc đẩy khoa khọc phát triển, tiếp thu được các công nghệ và bí quyết mới. Nhưng mặt khác cạnh tranh cũng làm cho hàng loạt Xí nghiệp doanh nghiệp bị phá sản. Đó là do kinh tế thị trường bao hàm cả hai mặt tích cực và tiêu cực.- Về mặt tích cực: Kinh tế thị trường tạo ra được những con người năngđộng, quyết đoán có được nhiều kinh nghiệm sau những lần cạnh tranhthắng lợi hay thất bại từ đó thúc đẩy lực lượng sản xuất, nâng cao năng suấtlao động đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, quá trình xã hộihoá lực lượng sản xuất.- Về mặt tiêu cực và hạn chế: phân hoá giầu nghèo quá xa, dẫn đến mọi cânbằng xã hội, xuất hiện mâu thuẫn xã hội. Sự phát triển mù quáng của cácdoanh nghiệp mang lẻ tất yếu dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Xuất hiệnhttp://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 3
  4. 4. nhiều tệ nạn xã hội, quá coi trọng đồng tiền xem thường đạo đức truyềnthống.Vậy để phát triển kinh tế thị trường cần phải có sự tác động của Nhà nướcđể tiếp tục phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực. Điều đó đã được thểhiện rõ trong đường lối kinh tế ở nước ta là Nhà nước quản lý kinh tế theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa gọi tắt là nền kinh tế định hướng xã hội chủnghĩa.Trong lịch sử hình thành Nhà nước, chức năng hành chính công, lúc đầuchỉ “mờ nhạt” đơn thuần là thu thuế của các tầng lớp dân cư hoạt động sảnxuất kinh doanh nhưng do tính tự phát của kinh tế thị trường đã gây ranhững hậu quả ngày càng nặng nền mà xã hội phải gánh chịu, Nhà nướcphải can thiệp sâu hơn vào kinh tế từ đó, chức năng kinh tế của Nhà nướccũng dần được xác định. Học thuyết của JMKên (nhà kinh tế học Anh,1884-1946) là điển hình về sự kêu gọi phải có bàn tay “hữu hình” của Nhànước can thiệp vào thị trường để hạn chế tính tự phát, tiêu cực của cơ chếthị trường.Tiếp sau học thuyết của Kên là nhiều học thuyết kinh tế với tên gọi khácnhưng chỉ tập trung bàn về việc Nhà nước nên can thiệp vào kinh tế nhưthế nào mức độ, thời điểm sao cho hiệu quả cao. Do đó, việc can thiệp vàoquá trình kinh tế (quản lý kinh tế vĩ mô) đã được coi là đương nhiên, mangtính quy luật của kinh tế thị trường và việc định hướng phát triển của nềnkinh tế đó cũng hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất giai cấp của Đảng cầmquyền.Chúng ta biết rằng, Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, là côngcụ của giai cấp cầm quyền, Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường ngaytừ buổi bình minh của nó để đẩy nhanh quá trình tích luỹ nguyên thuỷ và tưbản, nhằm hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản, ngay cả sau này, khiNhà nước tư bản chủ nghĩa ban hành các đạo luật chống độc quyền cũngquyết không phải vì lợi ích của giai cấp cần lao, mà vẫn là vì lợi ích toàncục của chế độ TBCN nói chung vì các tập đoàn tài chính nói riêng. Vì thếhttp://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 4
  5. 5. việc Nhà nước ta quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa cho nền kinh tế thị trường là điều đương nhiên, phù hợp với tínhquy luật đã hình thành trong thực tiễn. Ngay trong nghị quyết trung ương 4khoá VIII Đảng ta đã khẳng định: Đổi mới và tăng cường quản lý Nhànước vè kinh tế – xã hội coi đó như là một chính sách lớn để đảm bảo chođịnh hướng xã hội chủ nghĩa được thực hiện.Kinh tế thị trường định hướng Xí nghiệp chủ nghĩa thực chất là kiểu tổchức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thịtrường, vừa dựa trên những nguyên tắc bản chất của chủ nghĩa xã hội. Dođó kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có 2 nhóm nhân tố cơbản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là nhómnhân tố của kinh tế thị trường đóng vai trò như là “động lực” thúc đẩy sảnxuất xã hội đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng vai trò hướng dẫn, chỉđạo sự vận đọng của nền kinh tế theo những mục tiêu đã được xác định.Kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế mở. Đểmở cửa nền kinh tế tuỳ thuộc vào: thứ nhất, bối cảnh quốc tế, khu vực vànăng lực nội sinh của nền kinh tế trong quá trình vươn ra tiếp cận với nềnkinh tế thế giới, thứ hai, năng lực tổ chức, quản lý, điều hành của Nhà nướcxã hội chủ nghĩa và khả năng nội sinh hoá có hiệu quả các yếu tố “ngoạisinh” (vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, trí thức kinh doanh...) du nhậpvào nước ta.Như vậy, sự hiện diện của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa với tư cách là bộ phận cấu thànhtrọng yếu (kinh tế Nhà nước ), vừa với tư cách là chủ thể tổ chức, xây dựngquan hệ quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường.Quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường là thực hiện chức năngquản lý Nhà nước về kinh tế một đặc trưng của kinh tế hiện đại. Đối vớikinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chức năng đó được thựchiện bởi Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảngcộng sản.http://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 5
  6. 6. Sự điều tiết của Nhà nước thể hiện ở các mặt sau đây:Một là, Nhà nước tạo môi trườg pháp lý thuận lợi cho các cá nhân, cácdoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoạt động. ở nước ta hiện naycác cá nhân, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được quyền tựchủ sản xuất kinh doanh; các cá nhân, các doanh nghiệp khi lựa chọnphương án sản xuất kinh doanh đều lấy lợi nhuận làm thước đo hiệu quảđồng thời làm mục tiêu định hướng các hoạt động kinh tế của mình, tấtnhiên, tự chủ kinh doanh theo pháp luật và mọi hành vi đều phải tuân theopháp luật. Do đó, Nhà nước phải xây dựng và ban hành một hệ thống phápluật đầy đủ và đồng bộ như: luật về các quyền (sở hữu, chiếm hữu, sửdụng, thừa kế, chuyển nhượng....); luật hợp đồng; luật về sự bảo đảm củaNhà nước đối với các điều kiện khung của nền kinh tế (bảo hộ lao động,bảo vệ môi trường, chống hạn chế cạnh tranh, chăm sóc môi trường, chốnghạn chế cạnh tranh, chăm sóc những người không có khả năng lao động,bảo hiểm xã hội...), luật thương mại,.....Hai là, Nhà nước tạo môi trường kinh tế – xã hội ổn định bằng cách xâydựng kết cấu hạ tầng sản xuất (trong đó quan trọng nhất là phát triển hệthống giao thông vận tải, thông tin liên lạc) và kết cấu hạ tầng xã hội (trongđó quan trọng nhất là phát triển hệ thống giáo dục- đào tạo, y tế), cùng vớicác dịch vụ công cộng khác, như đảm bảo an ninh, dịch vụ tiêu dùng...Ba là, Nhà nước soạn thảo kế hoạch, quy hoạch, các chương trình phát triểnkinh tế – xã hội và ban hành các chính sách để hướng các chủ thể thịtrường thực hiện các kế hoạch, quy hoạch và chương trình ấy thông qua cácchính sách tài chính, tiền tệ, sử dụng các đòn bẩy kinh tế như: ưu đãi vềthuế, về lãi suất cho vay cho những ai đầu tư vào lĩnh vực mà Nhà nướckhuyến put the boot in.Một vấn đề quan trọng là, Nhà nước ta quản lý nền kinh tế thị trường địnhhưỡng xã hội chủ nghĩa “theo nguyên tắc kết hợp thị trường với kế hoạchhoá, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thịtrường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân”.http://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 6
  7. 7. Có một số người cho rằng, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì Nhànước đừng có can thiệp vào kinh tế và kế hoạch hoá vĩ mô của Nhà nướccũng không còn cần thiết nữa. Quan niệm đó là giản đơn, hoàn toàn sai lầmvà không có căn cứ lý luận và thực tiễn. Mọi người đều thấy rằng, trong tấtcả các mô hình kinh tế được đúc kết đến nay trrên thế giới đều có cả haidạng điều tiết kinh tế, một là, điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch hoá và cácbiện pháp hành chính; hai là, điều tiết gián tiếp thông qua thị trường, vậndụng cơ chế thị trường để tác động đến các hoạt động của các doanhnghiệp, dùng các đòn bẩy kinh tế để khuyến khích hoặc gây áp lực buộccác doanh nghiệp phát triển trong khuôn khổ theo hướng kế hoạch do Nhànước đề ra. Hai dạng điều tiết kinh tế này chỉ khác nhau ở mức độ, liềulượng và hình thức trong cơ chế chung. Sở dĩ như vậy là vì, với tư cách làcông cụ điều tiết vĩ mô, là biện pháp, thủ đoạn kinh tế, cả kế hoạch hoá vàthị trường đều có những ưu thế và khuyết tật của nó.Thực chất của vấn đề kế hoạch hoá và thị trường – xét từ góc độ Nhà nước– là sự kết hợp giữa điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch và điều khiển giántiếp thông qua cơ chế thị trường đối với các hoạt động trên thị trường, cũngnhư đối với các hoạt động kinh tế trong xã hội. Thực tế ngày càng chứng tỏrằng, sẽ hợp lý hơn và hiệu quả hơn nếu thông qua kế hoạch hoá của Nhànước điều tiết thị trường để thị trường điều tiết sản xuất và điều chỉnh hànhvi của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, quản lý nền kinh tế theo nguyên tắc kết hợp kế hoạch với thị trườngsẽ càng có thêm điều kiện giải phóng lực lượng sản xuất, đẩy nhanh sự pháttriển kinh tế xã hội.Qua 14 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta đã đóngvai trò rất quan trọng trong việc tạo các điều kiện để chuyển đổi nền kinh tếsang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quản lýNhà nước nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã đemlại nhiều kết quả. Song, nhìn chung, ta còn thiếu tri thức và kinh nghiệmhttp://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 7
  8. 8. quản lý nền kinh tế thị trường, quản lý Nhà nước về kinh tế, xã hội cònnhiều yếu kém.Trong những năm tới, cần tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả quản lýkinh tế củ Nhà nước theo hướng: “Nhà nước thực hiện tốt các chức năng,định hướng sự phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để cần đạt nổlực phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập khuôn khổ luậtpháp, có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định và thuậnlợi cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt, khắc phục, hạn chế mặt tiêu cựccủa cơ chế thị trường, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, quảnlý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội. Thực hiện đúng chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và chức năng chủ sở hữu tài sản công của Nhà nước. Cán bộ và các cấp chính quyền không can thiệp vào chức năng quản lý kinh doanh và quyền tự chủ hạch toán của doanh nghiệp2.Tính tất yếu khách quan và sự cần thiết phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước taa. Phát triển KTTT là sự lựa chọn đúng đắn.Qua quá trình đổi mới và thực tế những thành tựu mà chúng ta đạt được đãchứng minh điều đóở thời kì 1975-1986 nước ta còn theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, nóđược phổ biến ở các nước CNXH thời bấy giờ. Nền kinh tế dựa vào các kếhoạch và sự chỉ huy từ nhà nước, chúng ta sản suất hàng hoá tự cung tự cấpđóng cửa nền kinh tế. Tình hình kinh tế Việt Nam thời bấy giờ lâm vàokhủng hoảng trầm trọng, lạm phát với tốc độ phi mã trở thành quốc nạn đãđe doạ đến cả nền KT nói chung. Nhà nước không đủ khả năng cung cấphàng hoá cũng như kiểm soát giá cả thị trường điều đó cho thấy sự bất lựccủa chính phủ. Từ đại hội VI tháng 12 năm 1986 Đảng ta đã tiến hành đổimới nền KT, chuyển từ nền KT tập trung quan liêu bao cấp sang nền KTTTcó sự quản lý của NN và theo định hướng XHCN, đây là sự khác nhau củanền KTTT ở các nước XHCN và các nước TBCN nói chung.Từ sau năm 1986 chúng ta đã cho nhiều thành phần KT cùng tồn tại và SXphụ thuộc vào yêu cầu của thị trường, chúng ta đã mở cửa với thế giới vớikhẩu hiệu “Việt Nam mong muốn làm bạn với các nước trên thế giới”. Ngaylập tức chính sách này đã làm hồi phục nền KT vốn yếu kém và đang hấphối. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào VN giúp chúng ta cônghttp://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 8
  9. 9. nghệ, vốn. Các công ty trong nước được tự do hơn trong hoạt động SXKDvà theo thị trường điều tiết. Qua các năm tiến hành đổi mới bộ mặt nền KTVN đã thay đổi hoàn toàn và bước đầu có tăng trưởng, đỉnh điểm là năm1995 với mức tăng trưởng GDP là 9,5%. Vào những năm 1997 khi xảy rakhủng hoảng KT Châu á Việt Nam đã nhanh chóng thoát gia trong khi cácnước khác như: Nhật, Thái Lan, Malaysia... chịu hậu quả nặng nề. Nhữngnăm gần đây VN và TQ là hai nước phát triển nền KTTT định hướngXHCN luôn có mức tăng trưởng cao và là hai nền KT phát triển nhanh nhấtkhu vực Châu á thái bình dương, khu vực phát triển KT năng động nhất thếgiới. Tình hình đời sống của nhân dân đã được cải thiện đáng kể, các thànhtựu trong nông nghiệp, giáo dục... đã giúp cho thế giới biết đến VN nhiềuhơn.KTTT là thành tựu mà các nước TBCN là những người đi tiên phong vàphát triển nó. Ngày nay nó càng khẳng định tính đúng đắn và ưu việt củamô hình KT này. Nó đã chứng minh sự phát triển KTTT là một xu hướngtất yêu của thế giới và đến nay đã được toàn thế giới chấp nhận. Một ví dụđiển hình cho sự phát triển của nền KTTT định hướng XHCN thành công làTrung Quốc. Từ năm 1979 chính phủ Trung Quốc đã tiến hành cải cách nềnKT theo nền KTTT định hướng XHCN do ĐCS Trung Quốc đề ra. Từ đóđến nay nề KT Trung Quốc có nhiều khởi sắc và khiến cả thế giới phải họctập.Nhiều thành tựu về KT, KH, giáo dục của Trung Quốc đã và đang đứng đầuthế giới. Sự phát triển nhanh và bền vững của nền KT Trung Quốc đã đưanước này trở thành một cường quốc và là một đối tác quan trọng trong nềnKT toàn cầu. Trong vòng 14 năm trở lại đây GDP của Trung Quốc đã tănggấp 6 lần do giữ được tốc độ phát triển cao trung bình trên 9% trên mộtnăm. Trung Quốc đã gia nhập vào CLB các nước có GDP trên 1000 tỷ USD/năm và hiện nay là nước đứng thứ 6 thế giới về GDP.Qua các nội dung trên đã khẳng định cho luận điểm “Phát triển KTTT là sựlựa chọn đúng đắn”.b. KTTT không những tồn tại khách quan mà còn cần thiết cho công cuộcxây dựng XHCN.Nền KTTT tồn tại khách quan và càng phát triển:Do sự phát triển của KHKT ngày càng phục vụ đắc lực cho SXHH để pháttriển KT cho nên trình độ lao động của con người đòi hỏi ngày càng cao. Dođó trong SX cần phân công theo từng công đoạn của cả một quy trình khépkín. Nhờ đó mà phân công lao động XH ngày càng phát triển mạnh, nó tạonăng suất lao động cao hơn, HH làm ra ngày càng đạt được chất lượng vàmẫu mã hơn, thu nhập của người lao động tăng làm cho đời sống được cảithiện rõ rệt.http://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 9
  10. 10. Hiện nay ở nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu: Toàn dân, tập thể, tưnhân, sở hữu hỗn hợp. Do có nhiều hình thức sở hữu nên tồn tại nhiều chủthể KT có lợi ích riêng, hoạt động riêng và quan hệ giữa họ được thực hiệnbằng quan hệ HH – TT. Họ mang tiền mua hàng rồi lại bán hàng thu tiền về,giữa các chủ thể KT ngày càng quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc vào nhaunhiều hơn.Nước ta hiện nay tuy vẫn phổ biến KT NN và KT tập thể, chúng cùng mộthình thức sở hữu nhưng giữa hai hình thức KT này vẫn có nhiều sự khácnhau: Tổ chức SX, tự chủ KD và cả trình độ KHCN, quản lý vẫn có nhữngkhoảng cách nhất định dẫn đến chi phí SX và hiệu quả SXKD cũng khácnhau.Với xu hướng toàn cầu hoá KT hiện nay, quan hệ HH – TT ngày càng cấpthiết trong các quan hệ KT đối ngoại. Các nước cần cạnh tranh khốc liệt dođó HH của mỗi nước đưa ra thị trường cạnh tranh phải dựa trên trao đổingang giá và tiền là công cụ cho trao đổi, thị trường sẽ quyết định mức giá.Vì thế KTTT ở nước ta tồn tại là một tất yếu khách quan. Nếu như chúng tamuốn hội nhập với KT thế giới chúng ta không thể dùng ý chí chủ quan đểxoá bỏ nó được.Qua những lợi ích của KTTT đem lại thì sự cần thiết phát triển KTTT ởnước ta là một yêu cầu khách quan và rất cần thiết để chúng ta đưa đấtnước tiến đến mục tiêu XHCN.b.Tác dụng to lớn của sự phát triển KTTT. Nền KTTT phát triển không những đem lại nhiều lợi ích cho nước sởtại mà nó còn có nhiều tác dụng to lớn khác tạo tiền đề cho sự phát triểncủa mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam KTTT sẽ phá vỡ nền KT còn mangnặng tính tự cấp tự túc của một nền KT tự nhiên, thúc đẩy XH hoá sảnxuất. Khi nền KTTT phát triển nó thúc đẩy quá trình XH hoá sản suất, quátrình này cần có một lực lượng sản xuất hùng hậu với trình độ cao do đó mànó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Khi đó năng suất lao động sẽtăng và tạo ra được lượng hàng hoá khổng lồ cung cấp cho thị trường nhằmnhững nhu cầu bức thiết của cuộc sống. Với đời sống mặt bằng chung của XH ngày càng phát triển do đó nhucầu của XH hay những nhu cầu hàng hoá mà thị trường cần cũng ngàycàng có sự chọn lọc về chất lượng mẫu mã. Do đó nếu các nhà cung ứng haycác nhà sản xuất muốn tồn tại hay phát triển cần phải nhạy bén với thịtrường. Nó kích thích sự năng động sáng tạo của chủ thể kinh tế, nó đòi hỏicác chủ thể kinh tế phải luôn luôn phát triển, phải nâng cao chất lượng mẫumã chủng loại hàng hoá tức là thúc đẩy sự cạnh tranh của các nhà sản xuấtlàm cho lực lượng sản xuất phát triển.http://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 10
  11. 11. Với mục tiêu thu được nhiều lợi từ thị trường mang lại, nhà sản xuấtphải tích tụ tập trung sản xuất dẫn đến quá trình phân công lao động XH,chuyên môn hoá sản xuất phát triển. Với tình hình nước ta hiện nay cònđang thiếu rất nhiều nhà quản lý kinh tế giỏi, trình độ lực lượng sản xuấtcòn thấp so với các nước trong khu vực, công nghệ thì lạc hậu, vốn thì thiếu.Tất cả những điều này được giải quyết khi chúng ta xây dựng được một nềnKTTT theo đúng nghĩa của nó. Trên thế giới sự phát triển của KTTT đã phải trải qua 3 giai đoạn: sảnxuất hàng hoá giản đơn, KTTT tự do, KTTT hiện đại nhưng để Việt Namthực hiện thành công KTTT định hướng XHCN chúng ta không cần phảithực hiện theo trình tự này mà chúng ta có thể bỏ qua hai quá trình đầubằng cách đi tắt đón đầu theo kiểu rút ngắn. Để chúng ta thực hiện đượcCNH-HĐH sản xuất đi lên CNXH thì chúng ta rất cần có vai trò chỉ đạo củanhà nước. Nhà nước cần vạch ra những chiến lược phát triển đưa ra nhữngchính sách ở tầm vĩ mô để thực hiện định hướng XHCN. II. Thực trạng nền KTTT định hướng XHCN ở Việt nam Lịch sử phát triển của nền KTTT đã bắt đầu từ cuộc cách mạng côngnghiệp ở Anh và cho đến nay đã phát triển rất nhanh chóng và trở thànhphổ biến ở hầu khắp các nước trên thế giới. Nền KTTT ở các nước kémphát triển như Việt Nam thì mới đang bắt đầu còn ở các nước phát triểnnhư Mỹ, Nhật, Anh, Pháp ... bây giờ đã chuyển sang thành nền kinh tế trithức. Lịch sử đã chứng minh nền KTTT hình thành và phát triển dướiCNTB và CNTB đã biết lợi dụng sự vượt trội của KTTT để thúc đẩy pháttriển kinh tế mà thành công của các cường quốc như Mỹ Anh Nhật đãchứng minh hiệu quả kinh tế của nền KTTT mang lại là rất đáng kể. Thờigian gần đây thì Trung Quốc nổi lên như một cường quốc về kinh tế màthành công của họ cũng nhờ sự phát triển đúng đắn nền KTTT theo cácriêng và theo những đặc thù của chính họ. Như vậy Việt Nam phát triển nền KTTT là một sự lựa chọn đúng đắn.KTTT không chỉ là cái riêng của CNTB mà nó vẫn tồn tại và rất cần thiếtcho công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chúng ta hoàn toàn có thể pháttriển nền KTTT theo cách riêng của chúng ta theo chế độ XHCN và nhữngđặc trưng riêng có của mình. Nhưng muốn phát triển nền KTTT thì cần phải có cơ sở nền tảng cho sựra đời và phát triển của nó bao gồm: - phải có sự phân công lao động xã hội. - Đa dạng hoá hình thức sở hữu. Hiện nay ở Việt Nam cũng đã và đang tạo ra hai điều kiện nền tảng này để phát triển nền KTTT của mình. Những đặc điểm của nền KTTT ở Việt Nam chúng ta sẽ cùng nhau xem xét ở phần dưới đây.http://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 11
  12. 12. 1) Mục tiêu phát triển KTTTMục tiêu phát triển KTTT ở nước ta khác so với những nước khác ở mụctiêu về kinh tế và chính trị.Về kinh tế, mục tiêu của chúng ta là giải phóng sức lao động, tạo công ănviệc làm và thực hiện CNH-HĐH đưa nước ta trở thành một nước côngnghiệp phát triển, đảm bảo được đời sống nhân dân được cải thiện và nângcao.Về chính trị, thì phát triển KTTT theo tư tưởng Hồ Chí Minh là đưa nướcta lên CNXH đảm bảo cho sự công bằng và tiến bộ xã hội cho toàn thể nhândân theo đúng tinh thần mục tiêu của CNXH.ậ một số nước đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế lên hàng đầu, có nước lạinhờ nguồn viện trợ hay vay nước ngoài để cải thiện đời sống nhân dân sauđó mới phát triển kinh tế nhưng ở Việt Nam lấy sản xuất gắn liền với cảithiện đời sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằngxã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp gắn với xoá đói giảm nghèo. Vừaqua thủ tướng chính phủ đã ký quyết định chọn ngày 13-10 hàng năm làngày “Doanh nhân Việt Nam” đã đánh giá đúng vai trò của doanh nhântrong công cuộc phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo. 2) Nền KTTT nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạoHiện nay nước ta còn tồn tại 3 hình thức sở hữu chính: sở hữu toàn dân, sởhữu tập thể và sở hữu tư nhân, tương ứng với các hình thức sở hữu đó là 6thành phần kinh tế đang tồn tại là: - Thành phần kinh tế nhà nước - Thành phần kinh tế tập thể - Thành phần kinh tế tư bản nhà nước - Thành phần kinh tế tư bản tư nhân - Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ - Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàiTuy tồn tại 6 thành phần kinh tế nhưng thành phần kinh tế nhà nước vẫngiữ vai trò đầu tàu chủ đạo. Vì nhà nước ta là nhà nước XHCN cho nên phảiđảm bảo lợi ích của toàn dân trên hết do đó thành phần kinh tế nhà nước vàthành phần kinh tế tập thể phải đóng vai trò chính. Đó chính là sự khác biệtcơ bản của KTTT nhà nước XHCN với nền KTTT của nhà nước TBCN.Tuy chúng ta xác định thành phần kinh tế nhà nước là thành phần kinh tếchủ đạo nhưng nhà nước ta vẫn đảm bảo sự công bằng trong cạnh tranh vàtrong sự phát triển của các đơn vị kinh tế. Các đơn vị kinh tế đều bình đẳngvới nhau trước pháp luật và đều được tạo mọi điều kiện tốt nhất trong làmhttp://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 12
  13. 13. ăn. Hiện nay ở Việt Nam thành phần kinh tế nhà nước vẫn giữ được vai tròchủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân.Hàng năm góp khoảng 50% GDP của cả nước, luôn đi đầu trong nâng caonăng suất, chất lượng sản phẩm, cải tiến công nghệ và bảo vệ môi trường. 3) Trong nền KTTT định hướng XHCN tồn tại nhiều hình thứcphân phối thu nhập trong đó phân phối theo lao động là chủ yếu.Trong mỗi nền KT thì quan hệ sản xuất luôn quyết định quan hệ phân phốimà sở hữu lại là điều kiện quyết định đến quan hệ sản xuất. Hiện nay nướcta vẫn còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu, mỗi một hình thức sở hữu lại cómột phương pháp phân phối riêng do đó ở thời điểm hiện nay việc tồn tạinhiều hình thức phân phối là tất yếu. Nền KTTT thì phải đa dang sở hữudẫn đến nhiều hình thức phân phối nhưng do Việt Nam là nền KTTT địnhhướng XHCN cho nên về căn bản chúng ta vẫn áp dụng phân phối theo laođộng là chủ yếu. Phân phối theo lao động bao gồm: tài sản, lao động, vốn,quỹ phúc lợi XH.Hình thức phân phối này tồn tại và phổ biến ở Việt Nam là do nền KT nướcta vẫn còn kém phát triển, chúng ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên CNXHmà tăng trưởng KT chỉ là công cụ để chúng ta hoàn thành sự nghiệp XHCN.Vì vậy mỗi bước tăng trưởng KT của chúng ta phải gắn liền với cải thiện đờisống nhân dân, với tiến bộ và công bằng XH. Việc phân phối thông qua cácquỹ phúc lợi XH có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đó. 4) Cơ chế vận hành nền KT là cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước, định hướng XHCN.Nền KTTT ở nước ta cũng vận hành theo cơ chế thị trường với những đặctrưng riêng của thị trường như: quan hệ cung, cầu, giá cả,... và có sự quản lýcủa nhà nước. Nhưng nhà nước của chúng ta là nhà nước XHCN chứ khôngphải là nhà nước TBCN nên nền KT định hướng XHCN. Đây chính là điểmkhác biệt và cũng là đặc trưng riêng có của nền KTTT ở nước ta. Cơ chế thịtrường nó cũng có những khuyết tật của nó cho nên vai trò quản lý của nhànước nhằm khắc phục những thất baị của thị trường để hướng sự phát triểnKT vào các mục tiêu nhân đạo XH, tiến bộ và công bằng mà bản thân cơ chếthị trường không làm được.Vai trò của nhà nước là rất quan trọng, nhà nước đưa ra các chính sách, kếhoạch để điều tiết thị trường. Nhà nước XHCN đảm bảo cho xoá đói giảmnghèo, giảm bớt hố ngăn cách chênh lệch giàu nghèo điều mà các nướcTBCN không thể thực hiện được. Đặc trưng của nhà nước XHCN là đạidiện cho toàn dân còn các nước TBCN là đại diện cho giai cấp mình, cho cáctrùm tư bản.Nhà nước quản lý nền KT thông qua các kế hoạch và các chính sách củamình. Các kế hoạch đề ra đều dựa trên sự vận động, nhu cầu của thị trườngvà cũng từ những tác động của thị trường mà nhà nước làm căn cứ để vạchhttp://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 13
  14. 14. ra các kế hoạch tương ứng. Kế hoạch và thị trường không thể tách rời nhaumà luôn luôn phụ thuộc nhau, nếu tách rời thị trường khỏi kế hoạch thì cáckế hoạch đưa ra sẽ chủ quan duy ý chí không đáp ứng được các nhu cầu bứcthiết. Còn nếu tách kế hoạch khỏi thị trường thì dẫn đến việc phân bổ cácnguồn lực và đầu tư không hiệu quả.Chính vì vậy nền KTTT phải luôn luôn cần sự quản lý của nhà nước và đểtiến tới một XH công bằng và tốt đẹp hơn thì cần sự định hướng XHCN, đóchính là cơ chế vận hành nền KTTT của Việt Nam đang thực hiện. 5) Nền KTTT định hướng XHCN cũng là nền KT mở cửa hội nhậpHiện nay với sự phát triển của nền KTTT ở Việt Nam nước ta cũng tiếnhành mở cửa nền KT, đây chính là sự khác biệt của nền KT hiện nay vớinền KT đóng của ta từ thời ký trước đổi mới.Ngày nay do sự phát triển của KH – CN – KT mà các nước trên thế giớiluôn phải phụ thuộc vào nhau. Không nước nào dù mạnh đến mấy cũngkhông thể có đủ cá nguồn lực để đáp ứng đủ các nhu cầu của nước mình.Chính vì vậy mà các nước cần mở cửa giao lưu để bổ sung thêm những lĩnhvực mà mình còn thiếu, còn yếu do đó tất yếu phải mở cửa hội nhập hợp tácvới các nước khác vì quyền lợi và mục tiêu của mình. Nhất là với nền KTTTsôi động thì việc giao lưu mở cửa nền KT lại càng cấp thiết. Nước ta với xuấtphát điểm rất thấp mà nền KTTT ở nước ta mới đang trong thời kỳ sơ khai,mọi mặt đều thiếu và yếu. Chúng ta rất cần vốn, công nghệ, kinh nghiệmquản lý, lao động trình độ cao,... do đó mở cửa hội nhập ta sẽ có những cơhội tiếp cận được những mặt yếu này dần hoàn thiện mình hơn.Khi hội nhập ta sẽ tận dụng được những nguồn vốn đều tư nước ngoài, đikèm theo đầu tư là những công nghệ sản xuất hiện đại và cả những kinhnghiệm quản lý tốt của những nước đã phát triển KTTT trước chúng tahàng thế kỷ. Khi đó công cuộc xây dựng nền KTTT của chúng ta sẽ được rútngắn lại, sự mở cửa hội nhập sẽ đem lại cho chúng ta nhiều cơ hội phát triểnvà những thử thách mới.Thị trường thế giới là vô tận khi hội nhập chúng ta có thể xâm nhập vào nóvà lợi ích mà nó mang lại là vô cùng to lớn nhưng khi tham gia sân chơi tầmthế giới này chúng ta cũng phải chịu sức ép cạnh tranh từ những cườngquốc mạnh hơn chúng ta nhiều lần. Các quy định, luật lệ và các tiêu chuẩnđặt ra sẽ là những trở ngại lớn nhất , việc thích nghi được sẽ khẳng định vịthế của chúng ta.Bên cạnh đó chúng ta cũng cần đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quanhệ với các nước nhằm tăng cường hợp tác cùng phát triển của mỗi bên. II. Thực trạng và những giải pháp cơ bản để phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.1) Thực trạng nền KTTT ở Việt Nam.http://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 14
  15. 15. a) Tình hình phát triển KTTT còn ở giai đoạn sơ khai, yếu kémNguyên nhân thứ nhất là do cơ sở vật chất của chúng ta còn ở trình độ thấpvề mọi mặt: máy móclạc hậu, theo UNDP máy móc của ta kém thế giới từ 2– 3 thế hệ. Cá trang thiết bị còn lạc hậu do đó năng suất lao động thấp. Kèmtheo là trình độ nhân công của chúng ta còn thấp, lao động chủ yếu là thủcông trình độ tay nghề không có, phần lớn chưa qua các lớp đào tạo nghề.Hiện nay ở Việt Nam thường có câu “thừa thầy, thiếu thợ” chính vì vậy đểnâng cao trình độ và chất lượng lao động nhà nước đã chú trọng khâu đàotạo nghề cho lao động. Vài năm gần đây số lượng các trường đào tạo nghềtăng liên tục và trình độ tay nghề của người lao động Việt Nam đã có nhữngbước tiến bộ. Trong cuộc thi tay nghề Asian năm nay đã vươn lên vị trí sốmột.Nền KT nước ta có những bước phát triển nhưng nói chung vẫn còn nghèodo đó cơ sở hạ tầng còn kém phát triển. Đường xá còn ít, chất lượng đườngcòn kém, hiện nay ở Việt Nam chưa có con đường nao đạt tiêu chuẩn đườngcao tốc theo tiêu chuẩn quốc tế. Về nhà cửa cầu cống còn ít và chất lượngđang ngày một xuống cấp. ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM vấn đềnhà ở cho người có thu nhập thấp vẫn còn là vấn đề chưa giải quyết được.Đa phần các lao động trong các khu công nghiệp vẫn chưa có chỗ ở và phảiđi thuê các căn phòng nhỏ, chật chội, điều kiện vệ sinh, điện nước chưa đảmbảo.Nền KT của Việt Nam vẫn liệt vào danh sách các nước nông nghiệp lạc hậu.Khoảng 70% số lao động là lao động nông nghiệp. Nhưng số lao động nàyvẫn chủ yếu là thủ công, năng suất thấp. Máy nông nghiệp cũng chỉ phổ biếnở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhưng máy móc cũng vẫn chưahiện đại.Từ trình độ lao động thấp, máy móc lạc hậu dẫn đến năng suất lao độngthấp, chất lượng hàng hoá chưa cao, chủng loại không đa dạng, giá thànhsản xuất cao.Do đó khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp còn yếu kémkhông những trên thị trường nước ngoài mà còn ngay cả rhị trường trongnước các doanh nghiệp của chúng ta cũng khó cạnh tranh khi ta mở cửa thịtrường. b. Thị trường dân tộc thống nhất đang trong giai đoạn hình thành nhưng chưa đồng bộCùng sự hoàn thiện dần của nền KTTT thì thị trường hàng hoá cũng đanghình thành. Nhưng một thực trạng về thị trường hàng hoá của Việt Namcũng như các nước đang phát triển nói chung vẫn còn nhiều tiêu cực. Nguyhiểm nhất cho các doanh nghiệp là nạn hàng hoá giả, nó làm cho uy tín cácdoanh nghiệp cũng như sản lượng của các doanh nghiệp giảm xuống. Ngoàira còn nạn trốn thuế lậu thuế và các vụ gian lận thương mại mà chúng tahttp://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 15
  16. 16. phát hiện làm cho ngân sách nhà nước thất thu lớn, hơn nữa nó còn làm chothị trường trong nước bị lũng đoạn.Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, Vài năm gần đây chúng tacũng phát triển các công ty xuất khẩu lao động nhưng còn nhiều khó khănvà khủng hoảng. Người lao động Việt Nam chưa có tác phong công nghiệpcũng như kỷ luật lao động còn yếu. Tình trạng công nhân Việt Nam bỏ làmđi làm ngoài còn rất nhiều khiến cho các doanh nghiệp nước ngoài còn e dètrong việc lựa chọn thuê công nhân Việt Nam.Vài năm gần đây thị trường chứng khoán Việt Nam đã hình thành và đangdần hoàn thiện. Tuy vậy các dao dịch còn yếu còn ít về lượng cho nên huyđộng vốn ở thị trường còn hạn chế. Vốn chủ yếu vẫn do các ngân hàng cungcấp nhưng cơ hội cho vay của các ngân hàng cho các doanh nghiệp tư nhâncòn hạn chế. Ngoài ra các ngân hàng Việt Nam còn quá ít vốn. Theo WTOtổng lượng vốn các ngân hàng Việt Nam chỉ tương đương với lượng vốn củamột ngân hàng trung bình khá của các nước phát triển.c. Nhiều thành phần KT tham gia thị trường.Như đã nêu ở phần I hiện nay nước ta có 6 thành phần KT cùng song songtồn tại do đó thị trường chúng ta có nhiều thành phần KT, KT nước ta cónhiều loại hình sản xuất hàng hoá cùng tồn tại đan xen nhau, trong đó sảnxuất hàng hoá nhỏ phân tán là chủ yếu.d. Sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng KT đối ngoại, hộinhập thị trường khu vực và thế giới trong hoàn cảnh nền KT nước ta cònthấp so với nhiều nước trên thế giới.Tuy vậy với xu thế toàn cầu hoá hiện nay chúng ta vẫn phải tham gia vìquyền lợi và sự phát triển. Tuy so sánh thì khi hội nhập thị trường thế giớithì chúng ta còn nhiều yếu kém do đó sẽ có nhiều bất lợi và khó khăn.Nhưng mỗi nền KT đều có lợi thế so sánh riêng của mình vì thế ta phải thamgia để làm sao có thể phát huy các mặt mạnh. Đa dạng hoá, đa phương hoásao cho tận dụng được ngoại lực để phát huy nội lực nhằm đẩy nhanh CNH–HĐH nền KTQD để định hướng đi lên CNXH như mục tiêu của Đảng đềra.e. Quản lý nhà nước về KTXH còn yếu.Về mặt này văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần IX có nhận định “Hệ thốngluật pháp, cơ chế chính sách chưa đồng bộ và nhất quán, thực hiện chưanghiêm”.Thực trạng đã chứng minh trên đài báo và các phương tiện thông tin đạichúng có nêu tình trạng thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản củanhà nước lên tới 30% giá trị công trình. Nhiều công trình xây không đảmbảo chất lượng cũng như hiệu quả KT chưa cao. Còn nhiều dự án KT kháccủa nhà nước đầu tư cho các địa phương khi vốn về đến nơi chỉ còn lạihttp://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 16
  17. 17. khoảng 50% - 60% như vậy cho thấy tình trạng thất thoát vốn khá nghiêmtrọng. Đó là điểm yếu của các chính sách thực hiện và sự quản lý vẫn chưanghiêm.III. Mục tiêu phấn đấu và các giải pháp cơ bản để pháttriển KTTT định hướng XHCN Việt Nam.a) Mục tiêu phấn đấu.Đại hội Đảng toàn quốc lần IX đã đề ra mục tiêu KT – XH giai đoạn 2000 –2020:Thứ nhất, mục tiêu đến năm 2005 là phải hoàn thành kế hoạch 5 năm giaiđoạn 2001 –2005. Tuy vài nưm gần đây KT Việt Nam vẫn phát triển khá sovới khu vực nhưng do nhiều yếu tố bên ngoài đặc biệt là tình hình thế giớiđã kìm hãm tốc độ phát triển làm cho tốc độ phát triển trung bình của cácnăm 2001 – 2003 không đạt yêu cầu đề ra. Tuy vậy với tốc độ phát triển củanăm 2004 ước đạt khoảng 7,5% và năm 2005 là 8,5% thậm trí trên 8,5% thìvề cơ bản kế hoạch 5 năm có thể hoàn thành. Hiện nay nhà nước và chínhphủ đang nỗ lực dàm phán đến năm 2005 Việt Nam sẽ trở thành thành viêncủa WTO.Thứ hai, mục tiêu đến năm 2010 phấn đấu nền KT Việt Nam cơ bản là mộtnước công nghiệp. Tỷ lệ lao động trong các ngành CN và DV chiếm khoảng50% lao động và ngành NN là 50%. Cơ cấu KT chuyển dịch theo hướngcông nghiệp và dịch vụ là chính.Thứ ba, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước côngnghiệp như Thái Lan và Malaysia bây giờ.b) Những giải pháp cơ bản.Nhà nước chủ trương thực hiện nhất quán chính sách KT nhiều thành phầndo đó ta tiếp tục tồn tại nền KT nhiều thành phần. Tạo mọi điều kiện chocác thành phần KT có cơ hội phát triển công bằng và bình đẳng trước phápluật.Đẩy mạnh CNH – HĐH ứng dụng các tiến bộ KHCN trên cơ sở đó đẩymạnh phân công lao động XH.Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường: vốn, KHCN, lao động,thị trường chứng khoán. Đây sẽ là cơ sở vững chắc cho chúng ta thực hiệnCNH – HĐH đất nước.Mở rộng và nâng cao hiệu quả KT đối ngoại, nâng cao hợp tác KT với cácnước trên thế giới mà quan trọng nhất là sớm ra nhập vào WTO.Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đây có thể coi làmục tiêu quan trọng nhất vì có ổn định chính trị và hoàn thiện hệ thốngpháp luật thì mới có thể nói đến phát triển KT. Trong mở rộng quan hệ KT,http://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 17
  18. 18. các nhà KT cũng ưu tiên đầu tiên là tình hình chính trị và pháp luật củanước được đầu tư phải ổn định.Xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản lý KTcủa nhà nước. Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp là một cơ chế đã lỗi thời vàkhông còn phù hợp với thời điểm hiện nay. Đây là mục tiêu phải loại bỏ đầutiên và một mục tiêu cũng quan trọng là sự quản lý KT của nhà nước.Chúng ta đều biết rằng nhà nước quản lý nền KT quá yếu kém dẫn đến tìnhtrạng thất thu vốn, đầu tư kém hiệu quả, thất thu thuế... do đó muốn đạthiệu quả KT cao thì cần phải hoàn thiện cơ chế quản lý KT của nhà nước.IV.Kết luậnNhư vậy qua kết quả, thành tựu của hơn 17 năm đổi mới vừa qua bộ mặtKT của nước ta đã có nhiều khởi sắc, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựumang tầm cỡ thế giới. Tình hình kinh tế, chính trị ổn định, KT tăng trưởngnhanh và bền vững. Các thành tựu đó có được trước tiên là nhờ vào Đảngtrong đó quyết định đổi mới năm 1986 đưa nước ta phát triển theo nềnKTTT là một bước ngoặt lớn. Chính nhờ tình hình KT vững, ổn định đã tạovị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam đã đặt quan hệngoại giao với 171 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Nhiều chính phủ vàcác tổ chức phi chính phủ đang giúp đỡ Việt Nam trong các lĩnh vực KT,giáo dục, y tế.... Vị thế của chúng ta đã và đang ngày càng được cải thiện,củng cố trên trường quốc tế, trong lòng bè bạn và các đối tác trên toàn thếgiới. Qua quá trình thực hiện KTTT đã chứng minh chủ trương đổi mớisang nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là đúng đắn. Tuy nhiên vẫncòn một số tồn tại khách quan và chủ quan cần được khắc phục để ngàycàng hoàn thiện nền KTTT định hướng XHCN theo đúng nghĩa ở Việt Nam.Phần V Danh mục tài liệu tham khảo1. Chương XV KTTT định hướng XHCN ở Việt NamGiáo trình: KTCT Mac – Lê NinTác giả: TS Trịnh Đình BảyNXB: Chính trị Quốc gia 20022. Bài: Một vài kình nghiệm phát triển KTTT của các nước công nghiệpphát triểnTác giả: TS Nguyễn Xuân ThắngTạp chí: Những vấn đề KT thế giới 2 – 20013. Bài: Nhà nước, thị trường và doanh nghiệp trong nền KT Việt Nam hiệntạihttp://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 18
  19. 19. Tác giả: Trần Minh ChâuTạp chí: Lý luận chính trị 1 –20014. Bài: Nền KTTT cần có một nhà nước hiệu quả, bài học từ nước NgaTác giả: Văn TrânTạp chí: Thông tin tài chính số 9 tháng 5 năm 20015. Bài: Nền KTTT nhiều thành phần trong thời kỳ qúa độ lên CNXHTác giả: Vũ Văn PhúcTạp chí: Giáo dục lý luận6. Tiếp tục đổi mới để xây dựng đồng bộ cơ chế quản lý nền KTTT địnhhướng XHCNTác giả: GS – TS Hồ Văn VĩnhTạp chí: Lý luận chính trị số 6 năm 20017. Bài: Mục tiêu và đặc trưng bản chất của nền KTTT định hướng XHCN ởnước taTác giả: GS – TS Chu Văn CấpTạp chí: Lý luận chính trị số 5 năm 20018. Văn kiện đại hội Đảng IX9.Giáo trình kinh tế chính trị mác lê-nin, Bộ giáo dục và đào tạo ,NXB giáodục,HN 2003 tái bản 2004.10. Giáo trình kinh tế chính trị mác lê-nin về thời kì quá độ lên CNXH(dùng cho hệ cử nhân chính trị ), NXB chính trị quốc gia HN 2001 .11.Văn kiện đại hội đảng VIII,IX.12.Văn kiện hội nghị lần thứ 9 ban chấp hành TW khoá IX nxb chính trịquốc gia ,2004.13.Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta của tácgiả TS Vũ Văn Phúc và Trần Thị Minh Châu ,NXB Chính trị quốc gia ,HN2001.14.Tác động của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đối với quátrình xây dung nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam ,TSDương Thị Liễu –NXB chính trị quốc gia ,HN 2001,http://luanvandaihoc.com/0908907113 Page 19

×