tieu luan de an mon hoc 64+ (16).doc

258 views

Published on

1 Comment
0 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và CAO HỌC (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ. DỊCH VỤ LÀM SLIDE: 10.000VNĐ/1SLIDE
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
258
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
2
Comments
1
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

tieu luan de an mon hoc 64+ (16).doc

  1. 1. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com A. ĐẶT VẤN ĐỀDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  2. 2. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Trong khoảng thời gian mười năm trở lại đây qua các phương tiện thông tin đại chúng mà mọi người được làm quen với khái niệm kiểm toán nói chung và kiểm toán Nhà nước, kiểm toán nội bộ, các công ty dịch vị tư vấn kế toán- kiểm toán nói riêng. Việc hình thành và phát triển dịch vụ kiểm toán là nhu cầu không thể thiếu của nền kinh tế thị trường nhằm thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập quốc tế, hoạt động kiểm toán ở nước ta đã nhanh chóng hình thành và phát triển.Vậy kiểm toán là gì? “Kiểm toán là quá trình mà theo một cá nhân độc lập, có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin số lượng đó với các chuẩn mực đã được xây dựng". Cũng như mọi hoạt động có ý thức khác của con người, đặc biệt với tinh chấtcủa một hoạt động chuyên sâu cao về nghề nghiệp, kiển toán cũng có chức năng hoạtđộng của riêng mình nhằm tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và giám sát quátrình sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện trêncác báo cáo tài chính(BCTC). Vì vậy, chất lượng kiểm toán BCTC không những làthước đo về tính hiệu quả của hoạt động kiểm toán mà chất lượng BCTC còn dược thểhiện bằng việc đưa ra lời nhận xét đúng đắn về tính trung thực hợp lý và hợp pháp cácthông tin được kiểm toám trên BCTC nhằm phục vụ cho công tác quản lý và điều hànhngân sách Nhà nước của các cấp chính quyền, các hoạt động quản trị doanh nghiệp,đối với các nhà quản lý, các hoạt động đầu tư tài chính và các quan hệ giao dịchkhác.Như vậy chất lượng BCTC có vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết địnhtrong quản lý kinh tế, nếu kết quả kiểm toán đưa ra những nhận xét không phù hợp vềcác thông tin dược kiểm toám trên BCTC sẽ dẫn rới những hậu quả khó lường tronghoạt động kinh tế, tài chính đặc biệt trong thời gian vừa qua nhất là trên các phươngtiện thông tin đại chúng đề cập tới các vụ đổ bể của không ít doanh nghiệp (kể cả mộtsố doanh nghiệp Nhà nước) dẫn tới tình trạng không bảo toàn vốn sản xuất kinhdoanh, thất thoát nghiêm trọng về tài chính cà tài sản, hàng năm lao động bị mất việclàm hoặc việc làm không ổn định gây nên những xáo động dư luận xã hội.Không ítnhững bài báo thực hiện“ đòi hỏi“ công ty kiểm toán có trách nhiệm như thế nào đốivới kiển toán chất lượng BCTC ?Vì vậy trách nhiệm của kiểm toán viên (KTV) có vịtrí rất quan trọng trong chất lượng BCTC và đòi hỏi phải nắm vữg chức năng hoạtđộng nghề nghiệp của mình.Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  3. 3. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Do dó, với tính chất như vậy em xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài“ Mối quanhệ giữa chức năng kiển toán với trách nhiệm của kiển toán viên về chất lượngkiểm toán báo cáo tài chính.Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  4. 4. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com B.NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận: 1. Chức năng của kiểm toán Hoạt động kiểm toán thực hiện hai chức năng cơ bản xác minh và bày tỏ ý kiếnvề đối tượng kiểm toán. Đối tượng kiểm toán nói chung và đối tượng kiểm toán nóiriêng luôn chứa đựng nhiều mối quan hệ về kinh tế, về pháp lý phong phú và đa dạng.Do đó chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến cần được xác định thật khoa học. Hơn nữatrong kiểm toán tài chính ý kiến hay kết luận kiểm toán không phục vụ cho người lậphay người xác minh mà phục vụ cho người quan tâm đến tính trung thực và hợp phápcủa BCTC. Do đó kết luận này phải dựa trên bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực với chiphí kiểm toán thấp nhất. Do vậy việc xác định mục tiêu kiểm toán khoa học trên cơ sởcác mối quan hệ vốn có của khách thể kiểm toán sẽ giúp KTV thực hiện đúng hướngvà có hiệu quả hoạt động kiểm toán. Đặc điểm cơ bản trong triển khai chức năngchung của kiểm toán trong kiểm toán BCTC là thu nhập bằng chứng từ (hay xácminh), để hiểu rõ hơn chức năng này chúng ta đi tìm hiểu: 1.1/ Chức năng xác minh Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tínhpháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các BCTC. Xác minh là chứcnăng cơ bản gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán. Bảnthân chức năng này không ngừng phát triển và được thể hiện khác nhau tuỳ từng đốitượng cụ thể của kiểm toán là BCTC hay nghiệp vụ kinh tế cụ thể hoặc toàn bộ tài liệukế toán. Đối với các BCTC việc thực hiện chức năng xác minh này trước hết được thểhiện ở sự xác nhận của người kiểm tra độc lập ở bên ngoài. Ngay từ thời Trung cổnhững KTV độc lập mà Edword Đệ nhất và các nam tước tuyển dụng cũng chỉ ghimột chữ " chứng thực " trên BCTC. Cho đến ngày nay, do quan hệ kinh tế ngày càngphức tạp và yêu cầu pháp lý ngày càng cao nên việc xác minh các BCTC được cụ thểhoá thành các mục tiêu. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 - khoản 11 quyđịnh "mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ýkiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở các chuẩn mực và chế độ kế toánhiện hành hoặc được chứng nhận có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánhtrung thực và hợp lý tình hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không ?"Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  5. 5. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Mục tiêu kiểm toán tài chính còn giúp cho các đơn vị được kiểm toán thấy rõnhững tồn tại sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính củađơn vị. Trong đó các khái niệm trung thực, hợp lý, hợp pháp được hiểu: - Trung thực là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng sự thật nội dung, bản chất và giá trị của NVKTPS. - Hợp pháp là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng pháp luật, đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận). - Hợp lý là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh trung thực cần thiết và phù hợp về không gian thời gian và sự kiện được nhiều người thừa nhận. Để đạt được mục tiêu tổng quát nói trên cần cụ thể hoá hơn nữa cơ sở để thunhập thông tin cấu thành và tiến trình thực hiện các yêu cầu trung thực, hợp lý, hợppháp trong chức năng xác minh, cơ sở để thu nhập thông tin xuất phát từ đặc điểm đốitượng kiểm toán tài chính. Có thể thấy đặc điểm nổi bật là BCTC được hình thành quacông nghệ xử lý thông tin kế toán. 1.1.1/Cơ sở công nghệ thông tin kế toán với việc xác định mục tiêu kiểm toán Trong quá trình xử lý thông tin kế toán các phương pháp kĩ thuật riêng có củakế toán như chứng từ, tính giá, đối ứng tài khoản và tổng hợp – cân đối kế toán kết hợpchặt chẽ và tạo thành quy trình có tính liên hoàn để tạo ra sản phẩm cuối cùng làBCTC. Do vậy tính trung thực và hợp lý của BCTC với ý nghĩa là mục tiêu chung phảiđược xác định cụ thể từ chính các yếu tố đó đã được thể chế qua các văn bản pháp lýcụ thể. Để có cơ sở và xác định các mục tiêu này cần xem xét chức năng hình thức củamỗi phương kế toán và yêu cầu quản lý vốn và tài sản từ mỗi phương pháp kế toán. Đầu tiên, chứng từ kế toán là phương pháp thông tin và minh chứng về sự hìnhthành của các nghiệp vụ kinh tế tài chính. Để thực hiện được những chức năng này đòihỏi mỗi bản chứng từ phải được ghi chép đúng về số lượng, đơn giá và tính toán chínhxác thành tiền qua các phép toán số học. Đồng thời, mỗi bản chứng từ cần tạo ra mốiliên kết có tính liên hoàn với các sổ tổng hợp (qua định khoản kế toán) và các sổ chitiết thông qua việc xác định và ghi đủ các yếu tố giúp cho việc phân loại chi tiết cácnghiệp vụ phát sinh. Về mặt pháp lý, bước công nghệ chứng từ còn đòi hỏi tuân thủDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  6. 6. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comcác thủ tục về chứng từ kể cả việc xác định và ghi chép qua kiểm soát và xét duyệt đếnluân chuyển và lưu trữ chứng từ. Thứ hai, tính giá là phương pháp biểu hiện giá trị của các loại tài sản, dịch vụkhác nhau thành thước đo chung (tiền tệ) để tổng hợp chúng theo đơn vị đo lườngthống nhất. Trong kế toán, giá của tài sản, dịch vụ là giá trị thực mà đơn vị kế toán (tổchức kinh tế và cơ quan) bỏ tiền ra mua (giá trị thực tế). Do đó tính giá phải tôn trọngmột trong những nguyên tắc cơ bản của kế toán là nguyên tắc "hoạt động liên tục".Đồng thời để tính giá từng loại tài sản đòi hỏi phải phân loại đúng đối tượng tính giá(đặc biệt là loại dịch vụ, sản phẩm để tính giá) theo yêu cầu quản lý và đặc điểm củađơn vị kế toán để mở sổ chi tiết thích hợp. Thứ ba, đối ứng tài sản là phương pháp phân loại tài sản và (nguồn) vốn đểphản ánh sự vận động từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn theo quan hệ đối ứng "nợ- có" . Dựa vào thông lệ chung của kế toán quốc tế và đặc điểm cùng yêu cầu quản lýcủa mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ cụ thể người ta xây dựng những văn bản pháp lýquy định hệ thống tài khoản cụ thể cùng các quan hệ đối ứng của các nghiệp vụ cơ bảntạo ra "công nghệ chuẩn " cho việc phân loại và phản ánh các nghiệp vụ trong quátrình hoạt động của từng loại đơn vị kết toán (loại doanh nghiệp hoặc đơn vị côngcộng) theo từng hình thức kế toán (loại sổ tổng hợp cùng liên kết giữa sổ tổng hợp vớichứng từ, sổ chi tiết với BCTC). Do vậy, trước hết các đơn vị kế toán phải phân loại vàphản ánh đúng các quan hệ đối ứng đã được quy định. Tuy nhiên, dù cụ thể đến thếnào, các văn bản pháp lý cũng không thể dự kiến hết các nghiệp vụ cụ thể phát sinhcần phân loại cùng các quan hệ đối ứng thích hợp. Do vậy đơn vị kế toán cơ sở phảidựa vào bản chất và các quan hệ vốn có của các nghiệp vụ để phân loại và định khoảnđúng các nghiệp vụ phát sinh để ghi sổ. Đồng thời với các việc ghi chép, phải thựchiện việc xét soát lại các nghiệp vụ để đảm bảo đúng đắn (không khai khống) và đầyđủ (không bỏ sót). Trên cơ sở đó, cuối kỳ kế toán cần cộng số phát sinh và tính ra sốdư chính xác để kết chuyển vào các BCTC cùng các bảng tổng hợp khác. Tổng hợp – cân đối kế toán là phương pháp khái quát các quan hệ kinh tế tàichính theo mối quan hệ vốn có thành bảng tổng hợp – cân đối với những chỉ tiêu(khoản mục) được phân loại nhất quán với loại tài khoản và thống nhất về pháp lý trênnhững nguyên tắc cơ bản. Để có BCTC trung thực, hợp lý và hợp pháp, trước hết cácbảng tổng hợp phải phù hợp về nội dung và số tiền trên từng khoản mục về hệ thốngDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  7. 7. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comtài khoản (tổng hợp và chi tiết) cụ thể số tiền phản ánh trên các tài khoản phải đượcchuyển vào bảng tổng hợp vừa đầy đủ về cơ cấu (trọn vẹn) vừa đúng với thực tế phátsinh của nghiệp vụ và tồn tại của tài sản (hiệu lực). Tiếp đó, mỗi bảng tổng hợp phảithực hiện sự cân đối vốn có giữa các mặt của các mối quan hệ kinh tế trong bảng : cânđối giữa vốn và tài sản, cân đối giữa số dư đầu kỳ và số phát sinh tăng với số phát sinhgiảm và số dư cuối kỳ ; cân đối giữa thu với chi và thu nhập. Đặc biệt, trong bảng cânđối tài sản còn phải phân định giữa quyền sở hữu tài sản với quyền sử dụng tạm thờiđối với tài sản, giữa nghĩa vụ và pháp lý về vốn với các nghĩa vụ hợp đồng ngắn hạn,tạm thời về vốn./ Các bước trên được thực hiện trong quan hệ liên hoàn, kế tiếp nhau để hìnhthành BCTC với những khoản mục cụ thể. Mỗi khoản mục lại chứa đựng cả mặt địnhlượng (số tiền), và mặt định tính (nội dung kinh tế) và được thể chế hoá trên nhữngvăn bản pháp lý cụ thể. Có thể khái quát các bước công việc chính của công nghệ xử lýthông tin kế toán trong quan hệ và việc xác định mục tiêu cụ thể của kiểm toán tàichính qua bảng dưới đây: Yêu cầu quản lý và phương Quy trình công nghệ kế toán hướng Phương Hình thức Mục tiêu cơ bản của xác Chức năng pháp cơ bản minh và điều chỉnh -Thông tin về nghiệp vụ -Ghi đúng số lượng, đơn giá -Minh chứng cho nghiệp và thành tiền. Bản chứngChứng từ vụ -Tuân thủ các thủ tục chứng từ từ -Liên kết với các bước sau -Phản ánh giá trị thực -Phân loại đối tượng tính của tài sản giá Tính giá -Tập hợp chi phí theo Sổ chi tiết -Phản ánh giá trị thực của loại tài sản dịch vụ theo nguyên tắc hoạt động liên tục -Phân loại tài sản và vốn -Phân loại đúng yêu cầu -Phản ánh vận động của quản lýĐối với tài Sổ tổng tài sản và vốn qua từng -Định khoản và ghi sổ đúng, khoản hợp nghiệp vụ cộng dồn số dư và chuyển số chính xácDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  8. 8. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com -Khái quát các quan hệ -Phân tích quyền sở hữu (tài tài chính sản) và nghĩa vụ (vốn) với -Cân đối tổng thể hoặc quan hệ hợp đồng (ngoàiTổng hợp bộ phận bảng) Bảng tổng– cân đối -Cân đối tài sản với vốn, thu hợp kế toán và chi (và số dư) -Chuyển đúng với số dư (hoặt số phát sinh) vào khoản mục tương ứng Bảng 1: Công nghệ kế toán với việc xác định mục tiêu kiểm toán Từ tất cả những điều trình bày trên, có thể thấy mục tiêu xác minh tính trungthực, hợp lý và hợp pháp của BCTC cần được cụ thể hoá theo các yếu tố của hệ thốngkế toán (phương pháp kế toán) trong quan hệ trực tiếp với việc hình thành các bảngnày. Theo đó mục tiêu xác minh cần phải hướng tới là: Tính có thực của các thông tin với ý nghĩa các thông tin phản ánh tài sản hoặcvốn phải được đảm bảo bằng sự tồn tại của tài sản, vốn hoặc tính thực tế xảy ra củacác nghiệp vụ. Tính trọn vẹn của thông tin với ý nghĩa thông tin phản ánh trên bảng khai tàichính không bị sót trong quá trình xử lý. Tính đúng đắn của việc tính giá với ý nghĩa giá tài sản cũng như giá phí (giáthành) đều được hình thành theo phương pháp kế toán là giá thực tế đơn vị phải chi đểmua hoặc thực hiện các hoạt động. Tính chính xác về cơ học trong các phép tính số học cộng dồn cũng như khichuyển số, sang trang trong công nghệ kế toán. Tính đúng đắn trong phân loại và trình bày với ý nghĩa tuân thủ các quy định cụthể trong phân loại tài sản và vốn cũng như các quá trình kinh doanh qua hệ thống tàikhoản tổng hợp và chi tiết cùng việc phản ánh các quan hệ đối ứng để có thông tinhình thành BCTC. Những trường hợp đặc thù đều phải được giải trình rõ ràng. Tính đúng đắn trong việc phản ánh quyền và nghĩa vụ của đơn vị kế toán trênBCTC với ý nghĩa tài sản phản ánh trên báo cáo phải thuộc quyền sở hữu (hoặc sửdụng lâu dài) của đơn vị, còn vốn và công nợ phản ánh đúng nghĩa vụ của đơn vị này.Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  9. 9. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Những hướng xác minh kể trên được dùng cho mọi khoản mục mọi thànhphần(gọi chung là phần hợp thành) kiểm toán như một "khung" chung nên được gọi làmục tiêu chung. Khi áp dụng vào từng phần hợp thành kiểm toán, cần xuất phát từ đặcđiểm riêng của từng phần hợp thành để xây dựng "khung" cụ thể hơn cho từng phần vàgọi là mục tiêu đặc thù. Đây là một trong những nội dung chính trong kiểm toán. Ởđây, cần đặc biệt quan tâm đến quan hệ giữa mục tiêu hợp lý chung của toàn bộ BCTCvới các mục tiêu chung của kiểm toán cho mọi phần hành mà cả các nhà quản lý vàKTV phải cam kết và quán triệt. Cũng như các tài liệu kế toán khác, các bảng tổng hợp kế toán được hình thànhtừ những người làm công tác kế toán và quản lý ở đơn vị được kiểm toán(khách thểkiểm toán) và được gọi chung là nhà quản lý. Trong một tổ chức hoặc cơ quan, ngườiđại diện hợp pháp cao nhất là thủ trưởng (giám đốc, Tổng giám đốc các doanh nghiệpvà thủ trưởng các tổ chức, cơ quan khác). Theo tính phổ biến của pháp lý, thủ trưởngđơn vị phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động trong đơn vị, trong đó có cả tráchnhiệm về quá trình hình thành các BCTC. Quá trình hình thành tài liệu này bao gồm cảcác công việc lập, kiểm tra, kiểm soát theo yêu cầu về pháp lý với từng tài liệu cụ thểvà thuộc trách nhiệm của nhà quản lý. KTV thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ýkiến các đối tượng này. Tất nhiên, kiểm toán tài chính không phải là quá trình xétduyệt lại các nghiệp vụ theo phương pháp kế toán và kiểm tra của các nhà quản lý màbằng phương pháp chuyên môn của kiểm toán với trách nhiệm riêng của KTV để thuđược những sản phẩm riêng theo chuẩn mực của kiểm toán. Tuy nhiên,giữa quá trìnhhình thành các thông tin và quá trình kiểm toán các thông tin đó đều có đối tượngchung và có phần mục đích chung và phục vụ yêu cầu của những người quan tâm. Dovậy các mục tiêu kiểm toán cần được xác định trong quan hệ trong quan hệ về tráchnhiệm giữa nhà quản lý và KTV.Trong quan hệ này nhà quản lý trước hết là thủtrưởng đơn vị kiểm toán phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, hợp lý, hợp phápcủa các thông tin. Trong quản lý hiện đại, trách nhiệm này được chuẩn hoá trong cácvăn bản pháp lý, trong đó quy định nhà quản lý phải lập các giải trình hoặc xác nhậnhay cam đoan về độ tin cậy của các thông tin và tính tuân thủ các chuẩn mực trongviệc lập và trình bày các BCTC. Trên cơ sở đó KTV xác minh lại các thông tin trêntừng phần hoặc khoản mục cũng như trên toàn bộ BCTC. Có thể khái quát các mốiquan hệ cơ bản qua sơ đồ:Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  10. 10. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Người quan tâm Các bộ Xác nhận Xác nhận Bằng Báo cáo phận hợp của nhà của kiểm chứng tài chính thành quản lý toán viên kiểm toán Kiểm toán và kiểm Cam kết về trách nhiệm và Xác định tính hợp soát quan hệ công tác lý chung Tính Tính Tính đầy Tính Tính Tính có đúng đắn đúng đắn đủ của đúng đắn chính xác thực của của việc của thông thông tin của tính cơ học thông tin phân loại, tin trong trong giá tài của việc về tài sản, trình bày phản ánh khoản sản, dịch ghi sổ nghiệp vụ các khoản quyền và mục vụ chuyển sổ mục nghĩa vụ Theo sơ đồ trên bố cục được dùng để triển khai các mục tiêu kiểm toán bao gồmxác nhận (giải trình) của nhà quản lý và các mục tiêu kiểm toán chung và các mục tiêukiểm toán đặc thù. 1.1.2/ Xác nhận (giải trình) của nhà quản lý (giám đốc) Những xác nhận của nhà quản lý trực tiếp liên quan với các nguyên tắc kế toánđã được thừa nhận. Những xác nhận là bộ phận của tiêu chuẩn mà ban giám đốc dùngđể ghi sổ và tiết lộ các thông tin kế toán trên các BCTC. Mặt khác, theo nguyên lýchung về phân định chức năng quản lý, nhà quản lý với đại diện cao nhất là giám đốchay thủ trưởng đơn vị được kiểm toán (khách thể kiểm toán) phải chịu trách nhiệm vềđộ tin cậy hợp lý về các thông tin trên BCTC thông qua việc xây dựng hệ thống kiểmsoát nội bộ nói chung về hệ thống kế toán nói riêng đủ mạnh: KTV có chức năng đưara ý kiến xác minh về sự tin cậy, hợp lý của các thông tin trên BCTC với những bằngchứng thuyết phục. Trong quản lý hiện đại, các nguyên lý được thể chế hoá thành cácDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  11. 11. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comvăn bản pháp lý cụ thể trong đó có hệ thống chuẩn mực kiểm toán. Chuẩn mực quốc tếvà chuẩn mực riêng của từng quốc gia trong hiệp hội kế toán quốc tế đều có nhữngchuẩn mực quy định rõ ràng trách nhiệm của nhà quản lý và của KTV về độ tin cậy,hợp lý của các BCTC. Trong quan hệ đó nhà quản lý cần cam kết trách nhiệm quản lýcủa mình trong việc trình bày các thông tin tài chính cần được kiểm toán. Về nội dungthì các thông tin này rất đa dạng nhưng có ba loại chính sau đây: 1. Những cam kết chung về trách nhiệm của nhà quản lý trong việc trình bày đúng các BCTC. Thuộc loại này có cam kết hoặc giải trình về tính độc lập khách quan và trung thực của những nhà quản lý cấp cao và những người có liên quan trực tiếp đến việc hình thành các thông tin tài chính, cam kết và giải trình về hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ nói chung và hệ thống kế toán nói riêng trong quan hệ với tính trọng yếu của thông tin trong BCTC. 2. Những cam kết về từng mặt, từng yếu tố cấu thành sự trung thực và hợp lý. Các yếu tố cụ thể cần xét trong quan hệ trách nhiệm của nhà quản lý trong tổ chức và thực hiện công nghệ kế toán trong quan hệ với kiểm soát nội bộ. Trong quan hệ với công nghệ xử lý thông tin kế toán, mỗi số dư hoặc số phát sinh ghi trên mỗi khoản mục của BCTC đều phải qua các bước công nghệ từ chứng từ kế toán đến các bảng tổng hợp – cân đối kế toán. Các thao tác cụ thể trong mỗi bước công nghệ này cũng được thể chế hoá trong các văn bản pháp lý về kế toán đòi hỏi nhà quản lý phải tuân thủ theo một quy định công nghệ nào đó, mỗi con số trên các BCTC trong hệ thống bảng tổng hợp – cân đối đều phải lường tới các mục tiêu chung: có thực, trọn vẹn, chính xác cơ học, phản ánh đúng quyền và nghĩa vụ, loại và giá cả tài sản, của vốn và nghiệp vụ theo đúng quy định trong văn bản pháp lý đang có hiệu lực. Vì vậy trong quan hệ với trách nhiệm về sự trung thực hợp lý chung với các BCTC, nhà quản lý cũng phải chịu trách nhiệm ngay từ các yếu tố cụ thể nói trên của đòi hỏi trung thực hợp lý. Chuẩn mực kiểm toán của Mỹ đã phân chia năm loại xác nhận của nhà quản lý chung cho các bộ phận hợp thành của BCTC:Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  12. 12. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Thứ nhất: Xác nhận về sự tồn tại hoặc phát sinh: là sự cam kết về tính có thực của các con số trên BCTC: các số dư trên bảng cân đối tài sản chẳng hạn, nhà quản lý xác nhận mọi số dư về tài sản, về vốn đều tồn tại thực tế vào ngày lập bảng; với các phát sinh (trong báo cáo kết quả kinh doanh) nhà quản lý phải cam kết là thực tế đã xảy ra trong kỳ kế toán. Xác nhận này nhằm tránh tình trạng khai không đúng hoặc khai không các khoản tiền không có thực vào BCTC. Thứ hai: Xác nhận về sự trọn vẹn: Là sự cam kết đã bao hàm trong các BCTC tất cả các nghiệp vụ, các số dư cần và có thể trình bày trong bảng tương ứng. Xác nhận về sự trọn vẹn có quan hệ ngược với xác nhận về sự tồn tại hoặc phát sinh, xác nhân về sự trọn vẹn có quan hệ với khả năng bỏ sót những nghiệp vụ đáng phải phản ánh trong các BCTC. Trái lại xác nhận về sự tồn tại và phát sinh lại quan hệ với khả năng dôi ra của những khoản tiền đáng ra không được ghi vào bảng này. Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, cả hai mặt đối lập này được hợp nhất trong khái niệm "đúng đắn" được ghi trong cam kết số 6 của chuẩn mực 580: "Các yếu tố sau đây được ghi nhận một cách đúng đắn và trong trường hợp cần thiết các thông tin thích hợp đã được nêu ra trong phần thuyết minhBCTC -Số dư và nghiệp vụ được thực hiện với các bên có liên quan -Thua lỗ từ các hợp đồng mua bán -Thoả thuận và các khả năng mua lại tài sản đã được chuyển nhượng trước đây -Các tài sản được đem đi thế chấp" Thứ ba: Xác nhận về quyền và nghĩa vụ: Là sự cam kết trong các BCTC các tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng lâu dài của đơn vị và công nợ thuộc nghĩa vụ thanh toán của đơn vị tại thời điểm lập bảng. Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cam kết số 9 và 10 của chuẩn 580 nêu rõ:"Công ty là chủ sở hữu tất cả các tài sản trên báo cáo tài chính và không có bất kỳ tài sản nào bị cầm cố thế chấp hoặc bị cầm giữ, ngoại trừ những tài sản được nêu trong phần thuyết minh X của báo cáo tài chính. Tất cả các khoản nợ, cam kết vay và các khoản bảo lãnh củaDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  13. 13. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com công ty với bên thứ ba đã được công ty thanh toán và giải trình trong phần X " .(3, 580) Thứ tư: Xác nhận về định giá và phân bổ: Giá trong kế toán được xác định theo nguyên tắc "hoạt động liên tục" và do đó giá trong kế toán biểu hiện giá tài sản do đơn vị thực tế bỏ tiền ra mua hoặc thực hiện dịch vụ. Vì vậy, xác nhận về định giá là sự cam kết về sự thích hợp về giữa số tiền phản ánh trên BCTC với số tiền đơn vị chi ra cho tài sản, vốn, cổ phần, thu nhập,và chi phí ghi trên bảng từ đó các khoản tính vào thu nhập và phân phối cũng phản ánh giá trị thực tế. Thứ năm: Xác nhận về phân loại và trình bày là cam kết về sự phù hợp giữa sự phân loại và trình bày các phần hợp thành của BCTC với những quy định đang có hiệu lực về sự phân loại và thuyết trình các bộ phận này. 3. Những cam kết (giải trình) về mối quan hệ của nhà quản lý với KTV. Tuỳ theo luật định và thực tiễn phát sinh cũng như nhu cầu giải quyết về mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể kiểm toán. Loại cam kết thứ ba này có thể bao gồm các vấn đề về tính độc lập khách quan của giám đốc, của ban kiểm toán nội bộ và KTV bên ngoài; về cách thức làm việc và phối hợp giữa ban quản lý, bộ phận kiểm toán nội bộ với KTV bên ngoài Về hình thức, xác nhận hay giải trình của nhà quản lý có ý nghĩa khác nhau trong quan hệ với bằng chứng kiểm toán cũng rất đa dạng. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 580 khoản 13 xác định: "Các giải trình bằng văn bản được đánh giá là các bằng chứng kiểm toán có giá trị hơn các giải trình bằng lời nói. Các giải trình bằng văn bản được thể hiện dưới các hình thức : - bản giải trình của giám đốc -Thư của KTV liệt kê ra tất cả những hiểu biết của mình về các giải trình của giám đốc và được giám đốc xác nhận là đúng -biên bản họp hội đồng quản trị hoặc báo cáo tài chính đã được giám đốc ký " Về cách thức sử dụng xác nhận hay giải trình, KTV phải thu nhập và lưu vào hồsơ kiểm toán để làm bằng chứng kiểm toán. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cácDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  14. 14. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.combằng chứng này không thể thay thế các bằng chứng khác như hoá đơn, quyết toán, biênbản kiểm kê... Trong trường hợp nhà quản lý từ chối cung cấp giải trình theo yêu cầucủa KTV làm hạn chế phạm vi kiểm toán thì KTV phải đưa ra ý kiến chấp nhận từngphần hoặc ý kiến từ chối. Nếu cam kết của nhà quản lý phải hướng tới bước đòi hỏi của công nghệ kếtoán thì xác minh của KTV trước hết phải tập trung vào việc xem xét độ tin cậy củacác cam kết trên. Hơn nữa trách nhiệm chung của nhà quản lý, và KTV là đảm bảo độtin cậy cảu thông tin trong BCTC. Do vậy giữa xác nhận của nhà quản lý và mục tiêukiểm toán có quan hệ chặt chẽ với nhau về cả nội dung và các yếu tố cấu thành độtrung thực hợp lý của BCTC. Do đó trong hệ thống mục tiêu kiểm toán bao gồm cácmục tiêu kiểm toán chung. 1.1.3/ Mục tiêu kiểm toán chung: Được chia làm hai loại : mục tiêu hợp lý chung và mục tiêu chung khác. 1.1.3.1/ Mục tiêu hợp lý chung: Mục tiêu này bao hàm việc xem xét, đánh giá tổng thể số tiền ghi trên khoảnmục trên cơ sở cam kết chung về trách nhiệm của nhà quản lý và thông tin thu đượcqua khảo sát thực tế ở khách thể kiểm toán trong quan hệ với việc lựa chọn các mụctiêu khác. Do đó đánh giá sự hợp lý chung cũng hướng tới khả năng sai sót cụ thể củacác số tiền trên khoản mục. Trên cơ sở đó có thể đánh giá khả năng đạt được của cácmục tiêu khác. Nếu KTV không nhận thấy mục tiêu hợp lý chung đã đạt được tất yếuphải dùng đến mục tiêu chung khác. Từ đó KTV sẽ lập kế hoạch thu thập những bằngchứng chi tiết hơn trên các khoản mục hay phần hành động cụ thể với những mục tiêuxác định. Việc định vị các bộ phận cấu thành kèm theo định hướng mục tiêu tương ứngnày sẽ giúp ích rất lớn cho kiểm toán nâng cao hiệu suất hoạt động do có được kết luậnđúng đắn, trên cơ sở đó có bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực và chi phí kiểm toán ít. Đồng thời, mục tiêu hợp lý chung đòi hỏi sự nhạy bén, khả năng phán đoáncùng tác phong sâu sát với thực tế ở đơn vị của KTV. 1.1.3.2/ Mục tiêu chung khác: Những mục tiêu chung khác này được đặt ra tương ứng với cam kết của nhàquản lý là hiệu lực, tính trọn vẹn, quyền và nghĩa vụ, chính xác cơ học, phân loại vàtrình bày.Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  15. 15. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Mục tiêu hiệu lực là tính xác minh vào tính có thật của số tiền trên các khoảnmục. Có thể xem mục tiêu này là hướng tới tính đúng đắn về nội dung kinh tế củakhoản mục trong quan hệ với các nghiệp vụ, các bộ phận cấu thành khoản mục đó. Từđó số tiền ghi vào BCTC phải là những con số thực tế, tức là những xác nhận này đềcập tới vấn đề tài sản, nợ và vốn cân đối trong bảng cân đối tài sản có thực vào ngàylập bảng cân đối tài sản hay không. Như vậy mục tiêu hiệu lực là hướng xác minh bổsung vào cam kết về sự tồn tại của nhà quản lý. Mục tiêu trọn vẹn là hướng xác minh về sự đầy đủ về nội dung cấu thành sốtiền ghi trên các khoản mục. Cụ thể mục tiêu này liên quan đến tính đầy đủ của cácnghiệp vụ, tài sản và vốn cần được tính vào khoản mục. Mục tiêu này hướng xác minhbổ sung cho xác nhận về tính trọn vẹn của nhà quản lý. Các mục tiêu trọn vẹn và hiệu lực hướng trọng tâm chú ý vào những quan hệkiểm toán ngược nhau. Mục tiêu hiệu lực có quan hệ đến khả năng phóng đại số tiềnbởi những nghiệp vụ, tài sản vốn không có thực trong khi mục tiêu trọn vẹn lại quanhệ tới nhưng bộ phận thực tế phát sinh nhưng không ghi sổ. Mục tiêu quyền và nghĩa vụ: Những xác nhận này của ban quản trị đề cập đếnliệu tài sản có thuộc quyền sở hữu của công ty hay không và nợ có phải là nghĩa vụcủa công ty vào ngày được xét hay không ? Mục tiêu này bổ sung cho cam kết vềquyền và nghĩa vụ với ý nghĩa xác minh lại quyền sở hữu (hoặc sử dụng lâu dài đượcluật định thừa nhận) của tài sản và nghĩa vụ pháp lý (hoặc hợp đồng dài hạn) của cáckhoản nợ và vốn. Thực chất của mục tiêu này là hướng tới mối quan hệ giữa các bộphận và giữa các khoản mục trong và ngoài bảng cân đối tài sản. Mục tiêu định giá là hướng xác minh vào cách thức và kết quả biểu hiện tài sản,vốn và các hoạt động (chi phí, chiết khấu, thu nhập...) thành tiền. Như vậy, mục tiêunày nghiêng về thẩm tra giá trị thực kể cả cách đánh giá theo nguyên tắc kế toán, thựchiện các phép toán theo nguyên tắc toán học. Tuy nhiên mục tiêu này không loại trừxem xét tới liên hệ về cơ cấu có ảnh hưởng tới số tiền ghi trong BCTC như việc thẩmtra các khoản cổ tức, lãi suất, hối khấu... Đây là những khoản cấu thành chi phí, thunhập, tài sản, vốn. Mục tiêu này được sử dụng để làm rõ hơn cam kết của nhà quản lývề định giá và phân phối. Mục tiêu phân loại là hướng xem xét lại việc xác định các bộ phận, nghiệp vụđược đưa vào tài khoản cùng việc sắp xếp các tài khoản trong các BCTC theo bản chấtDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  16. 16. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comkinh tế của chúng được thể chế bằng các văn bản pháp lý cụ thể đang có hiệu lực.Trong các văn bản này, hệ thống tài khoản là cơ sở ban đầu để thẩm tra phân loại tàisản, nghiệp vụ và vốn của khách hàng. Đồng thời giới hạn về thời gian, đặc biệt lànghiệp vụ xảy ra cuối kỳ kế toán cũng là một trọng tâm rà soát việc ghi vào các tàikhoản. Với nội dung trên mục tiêu này là sự bổ sung cần thiết vào cam kết phân loạivà trình bày. Mục tiêu chính xác cơ học: là hướng xác minh về sự đúng đắn tuyệt đối qua cáccon số cộng sổ và chuyển sổ, các chi tiết trong số dư (cộng số phát sinh) của tài khoảncần nhất trí với các con số trên các sổ phụ tương ứng, số cộng gộp các tài khoản trùnghợp với số tổng cộng trên các số phụ có liên quan, các con số chuyển sổ, sang trangphải thống nhất. Thực tế số dư (tổng phát sinh) của tài khoản được phản ánh vào các khoản mụcxác định của BCTC. Các con số này được minh chứng từ các sổ chi tiết trong các sổphụ được liệt kê từ các bảng kê , nhật ký và các bảng phụ lục do khách hàng lập. Mụctiêu chính xác cơ học sẽ bổ sung cho cam kết này của nhà quản lý với hàm ý khẳngđịnh mức chính xác số tổng cộng của chúng với sổ cái. Mục tiêu trình bày hướng xác minh vào cách ghi và thuyết trình các số dư (hoặctổng số phát sinh của tài khoản) vào các BCTC. Thực hiện mục tiêu này đòi hỏi KTVthử nghiệm chắc chắn là tất cả các tài khoản thuộc bảng cân đối tài sản và báo cáo kếtquả kinh doanh cùng các thông tin có liên quan đã được trình bày đúng và thuyết minhrõ trong các bảng và giải trình kèm theo. Với ý nghĩa đó, mục tiêu này là phần bổ sungcủa KTV vào xác nhận của nhà quản lý về sự trình bày và thuyết minh. Tuy nhiên với KTV việc xác minh không chỉ dừng ở mục tiêu (như đã trình bàyở trên) mà phải cụ thể vào từng khoản mục hay thành phần kiểm toán (gọi là mục tiêuđặc thù). 1.1.4/ Mục tiêu kiểm toán đặc thù: Mục tiêu kiểm toán đặc thù được xác định trên cơ sở mục tiêu chung và đặcđiểm của khoản mục hay phần hành cùng cách phản ánh theo dõi chúng trong hệ thốngkế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ. Theo đó mỗi mục tiêu chung có ít nhất một mụctiêu đặc thù. Tuy nhiên việc xác định mục tiêu đặc thù còn tuỳ thuộc vào tình huống cụthể và phán đoán của KTV. Vì vậy cũng có thể không có mục tiêu đặc thù được ápdụng phổ biến trong trường hợp khác nếu KTV xét thấy mục tiêu đó không thích hợpDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  17. 17. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comhoặc không quan trọng với khoản mục hay chu trình nào đó trong tình huống cụ thểcủa cuộc kiểm toán. Tình huống cụ thể thì rất đa dạng nên kinh nghiệm và khả năngphán đoán của KTV có vai trò quan trọng trong quá trình này. Trong khi đó sự tươngứng giữa mỗi mục tiêu chung với một hoặc nhiều mục tiêu đặc thù thích hợp phảiđược hoạch định trên những luận cứ chung như mục tiêu kiểm toán chung, đặc điểmcủa khoản mục hay phần hành kiểm toán, đặc điểm tổ chức của hệ thống kiểm toán vàkế toán. Mối quan hệ đó có thể khái quát theo sơ đồ sau: éặc điểm của cỏc Mục tiờu kiểm bộ phận cấu thành toỏn chung đối tượng kiểm toỏn Mục tiờu kiểm toỏn đặc thự éặc điểm của hệ thống kế toỏn và kiểm soỏt Trên góc độ xác định mục tiêu đặc thù của kiểm toán cần xem xét những đặcđiểm này trong quan hệ với chức năng các mục tiêu chung của kiểm toán. Như chúngta biết đối tượng chung của kiểm toán tài chính có thể phân thành các phần hành kiểmtoán theo loại khoản mục hoặc theo chu trình:mua hàng và thanh toán, tiền lương vànhân viên, bán hàng và thu tiền... Kiểm toán mỗi chu trình hay loại khoản mục này đềuhướng tới những mục tiêu chung từ tính hợp lý chung đến hiệu lực, trọn vẹn, tính giáquyền và nghĩa vụ, phân loại và trình bày, chính xác cơ học. Tuy nhiên đối tượng cụthể của mỗi phần hành kiểm toán có những điểm khác nhau nên cách cụ thể hoá cácmục tiêu chung vào từng phàn hành cũng khác nhau. Chẳng hạn mục tiêu hiệu lực cóhướng chung là không khai khống. Nếu cụ thể hoá mục tiêu này vào hàng tồn kho cónghĩa là hàng hoá phải còn tồn tại thực tế... Trường hợp các phần hành có liên quan tớicả hai mặt về tài sản và vốn cũng phải cụ thể hoá vào cả hai mặt đó cho sát thực vớimục tiêu kiểm toán. Việc định ra các mục tiêu kiểm toán đặc thù trước hết phải dựavào bản chất của đối tượng kiểm toán cụ thể (từng khoản mục hay từng chu trình).Song thực tế, việc phân định này thường gắn với đối tượng của hạch toán kế toán:tàiDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  18. 18. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comsản, vốn và quá trình tuần hoàn của tài sản. Cụ thể hơn, có thể dựa vào các quy địnhtrong văn bản pháp lý về tài chính, về kế toán... bởi lẽ khi soạn thảo và ban hành cácvăn bản này, các nhà hoạch định chính sách đã quan tâm đến đặc điểm thuộc bản chấtcủa từng đối tượng. Tuy nhiên mọi chính sách đều có thể trở nên lạc hậu tại một thờiđiểm nào đó. Khi đó cần trở lại bản chất của đối tượng và nguyên tắc thông lệ chung.Trong khi xem xét về bản chất của mỗi loại đối tượng trên cần kết hợp xem xét vềhình thức biểu hiện chúng. Có nhiều khoản mục hay phần hành có bản chất giống nhaunhưng do hình thức biểu hiện khác nhau thì hướng kiểm toán cụ thể cũng khác nhau.Ví dụ tài sản có thể là tài sản cố định cũng có thể là hàng hoá, khoản phải thu... Nhưvậy, với mỗi hình thức vật chất đó việc lựa chọn mục tiêu kiểm toán chung cũng nhưviệc cụ thể hoá chúng cũng phải được quan tâm để chọn ra phương sách kiểm toántheo hướng thích hợp Trong việc định ra mục tiêu kiểm toán đặc thù, cùng với bản chất chung của đốitượng kiểm toán cần phân tích sâu hơn cụ thể tính chất của đối tượng. Ví dụ giữa tàisản cố định, hàng hoá, tiền... có độ biến động rất khác nhau, từ đó nội dung, trình tự,cách tính giá của các đối tượng cũng khác nhau. Vì thế việc lựa chọn mục tiêu kiểmtoán đặc thù và cụ thể hoá chúng cho từng loại, từng thứ đã được phản ánh trên BCTCphải quan tâm đầy đủ đến từng mặt thuộc đặc tính của từng đối tượng kiểm toán cụthể. Mục tiêu đặc thù cần được hướng tới từng loại đối tượng kiểm toán để có thể tậptrung chú ý vào các trọng điểm và xác định cách thức, trình tự xác minh chẳng hạn,với doanh thu và chi phí, trọng tâm chú ý của phân loại và trình bày lại là ranh giớigiữa các loại thu, chi với nghiệp vụ thực tế đã xảy ra với nghiệp vụ có thể xảy ra kể cảcác nghiệp vụ kinh tế bất thường chưa xử lý đến cùng như là các vụ kiện chưa xử lýxong, các tổn thất hay thu nhập bất thường chưa có quyết định xử lý đến cùng theonguyên tắc thận trọng với đòi hỏi chỉ ghi những chi phí có thể xảy ra, không ghi nhữngkhoản thu có thể xảy ra . Cùng các vấn đề chung về các quan hệ kinh tế, pháp lý của đối tượng kiểmtoán, việc xác định mục tiêu kiểm toán đặc thù cần phải đặc biệt chú ý đến các đặcđiểm về tổ chức kế toán và kiểm soát từng phần hành hay khoản mục cần xác minh.Tất nhiên, mọi phần hành, mọi khoản mục đều phải dựa trên các nguyên lý, nguyên tắckế toán và kiểm soát nói chung. Tuy vậy nguyên lý hay nguyên tắc được ứng dụngkhác nhau vào từng phần hành cả về số lượng, cơ cấu sổ sách cũng như trình tự ghi sổDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  19. 19. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comvà tổ chức kiểm soát nội bộ kế toán và về quản lý. với nội dung, hình thức và trình tựkế toán khác nhau thì các mục tiêu kiểm toán chung được cụ thể hoá thành các mụctiêu kiểm toán đặc thù cũng khác nhau. Cần chú ý rằng vấn đề đặt ra không phải là số lượng các mục tiêu kiểm toánchung và số lượng các mục tiêu kiểm toán đặc thù tương ứng với mỗi mục tiêu kiểmtoán chung. Điều quan trọng nhất là tính đúng phương hướng và bước đi cho cả cuộckiểm toán cũng như cho từng phần hành kiểm toán cụ thể. Trong quan hệ đó có thể bổsung vào các mục tiêu kiểm toán chung “mục tiêu giới hạn“ để xác minh việc thựchiện nguyên tắc nhất quán về thời hạn tính nhập các khoản thu chi vào cuối kỳ kế toán.Đây là một công việc tất yếu phải làm song có thể tách ra một mục tiêu chung độc lậphoặc có thể gộp vào mục tiêu phân loại và trình bày. Mỗi mục tiêu kiểm toán chung cần có mục tiêu kiểm toán đặc thù tương ứngvào từng khoản mục, từng chu trình song số lượng mục tiêu kiểm toán đặc thù tươngứng lại không phải máy móc là một hoặc nhiều mục tiêu. Tuy nhiên cũng có thể táchriêng những hướng trọng tâm phải xác minh thành những mục tiêu đặc thù độc lập. Như vậy chức năng xác minh của kiểm toán được cụ thể hoá thành các mục tiêunhư trên là một điều hợp lý qua đó có thể nâng cao chất lượng thông tin tài chính. Bêncạnh chức năng xác minh thì một chức năng rất quan trọng nữa và không thể thiếuđược là chức năng bày tỏ ý kiến. 1.2/ Chức năng bày tỏ ý kiến Chức năng này có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượngthông tin và cả pháp lý, tư vấn qua xác minh. Nếu kết luận về chất lượng thông tin cóquá trình phát triển lâu dài từ chỗ chỉ có từ xác nhận đến hình thành báo cáo kiểm toántheo chuẩn mực chung thì kết luận về pháp lý hoặc tư vấn cũng có quá trình phát triểnlâu dài. Trong quá trình đó sản phẩm cụ thể của bày tỏ ý kiên chỉ thấy rõ ở thế kỷ XX. Tuy nhiên ngay ở thời kỳ đầu ngắn ngủi này, cách thức thực hiện chức năng vềbày tỏ ý kiến trách nhiệm và tư vấn cũng rất khác biệt giữa các khách thể kiểm toán vàgiữa các nước có cơ sở kinh tế và pháp lý khác nhau. Ở các khu vực công cộng (bao gồm cả các xí nghiệp công, các đơn vị sự nghiệpvà các cá nhân hưởng thụ ngân sách nhà nước) đều đặt dưới sự kiểm soát của kiểmtoán nhà nước. Trong quan hệ này chức năng xác minh và kết luận về chất lượngDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  20. 20. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comthông tin được thực hiện tương tự nhau. Tuy nhiên, chức năng bày tỏ ý kiến về pháp lývà tư vấn kiểm toán lại rất khác nhau. 1.2.1/ Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính Đây là loại báo cáo bằng văn bản do KTV lập và công bố để nêu rõ ý kiếnchính thức của mình về BCTC của một đơn vị (tổ chức, doanh nghiệp) đã được kiểmtoán. Báo cáo kiểm toán về BCTC có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kiểmtoán và với người sử dụng BCTC. Đối với hoạt động kiểm toán, báo cáo kiểm toán về BCTC là khâu cuối cùngtrong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán BCTC để trình bày kết quả của cuộc kiểmtoán bằng những ý kiến đánh giá của KTV về thông tin định lượng và trình bày BCTCtheo quy định của chuẩn mực hoặc chế độ kế toán hiện hành. Báo cáo Thực Kết thúc Chuẩn bị kiểm toán hiện cuộc cuộc kiểm toán về báo cáo kiểm toán kiểm toán tài chính Hình 2: Trình tự thực hiện cuộc kiểm toán báo cáo tài chính Đối với người sử dụng BCTC, khi sử dụng BCTC có báo cáo kiểm toán vềBCTC đính kèm giúp cho người sử dụng BCTC đánh giá được độ tin cậy của cácthông tin định lượng trên BCTC trên cơ sở đó mà họ có các quyết định kinh tế đúngđắn, hiệu quả trong mối quan hệ kinh tế đối với tổ chức hoặc doanh nghiệp có BCTCnày. Với chức năng hoạt động của mình, ý kiến của KTV trình bày trên báo cáokiểm toán về BCTC nhằm thực hiện chức năng bày tỏ ý kiến : Ý kiến của KTV trình bày trên báo cáo kiểm toán về BCTC là một trong nhữngnội dung quan trọng của báo cáo kiểm toán về BCTC. Ý kiến này đưa ra đánh giá củaKTV trên các phương tiện phản ánh (hoặc trình bày) trung thực và hợp lý trên các khíacạnh trọng yếu các thông tin định lượng của BCTC và sự tuân thủ các chuẩn mực vàDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  21. 21. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comchế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) và việc tuân thủ các quy định pháp lýcó liên quan. Ý kiến đánh giá về BCTC được kiểm toán được kiểm toán phản ánh trung thựcvà hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu. Nghĩa là ý kiến của KTV đưa ra trên báo cáokiểm toán về BCTC một sự đảm bảo chắc chắn rằng BCTC đã phản ánh trung thực vàhợp lý trên khía cạnh trọng yếu nhưng không bảo đảm tuyệt đối rằng không có bất kỳmột sai sót nào trên BCTC đã được kiểm toán. KTV chỉ quan tâm đến các yếu tố trọngyếu của các BCTC. 1.2.2/ Thư quản lý Bên cạnh sản phẩm của "bày tỏ ý kiến" kết quả xác minh về độ tin cậy củathông tin là "báo cáo kiểm toán " thì sản phẩm của bày tỏ ý kiến dạng tư vấn là thưquản lý. Như vậy thư quản lý là hình thức bày tỏ ý kiến của KTV dưới dạng tư vấn. Đâylà hình thức chủ yếu mà KTV đưa ra những kết luận cuối cùng về đối tượng đượckiểm toán và đưa ra những ý kiến tư vấn về các lĩnh vực, các hoạt động mà đơn vịkiểm toán quan tâm. Ở mức độ cao của chức năng này là sự phán quyết như các quan toà. Có thể tìmthấy biểu hiện rõ nét nhất ở toà thẩm kế của cộng hoà Pháp và các nước Tây Âu. ở đâycác cơ quan kiểm toán nhà nước có quyền kiểm tra tài liệu và tình hình quản lý của cáctổ chức sử dụng ngân sách nhà nước để xác minh tính chính xác và hợp lệ của tài liệuthu chi và quản lý ngân sách. Đồng thời các cơ quan này cũng có quyền xét xử nhưmột quan toà bằng các phán quyết của mình. Để đảm bảo cho các cơ quan này thựchiện chức năng của mình, KTV cao cấp được pháp luật thừa nhận những quyền đặcbiệt. chẳng hạn ở cộng hoà Pháp họ được pháp luật thừa nhận quyền "bất năng thuyênchuyển"; hoặc ở cộng hoà liên bang Đức họ có quyền "bất năng thay đổi". Khác với các nước Tây Âu, ở các nước Bắc Mỹ và nhiều nước khu vực châu Á– Thái Bình Dương (đặc biệt là Australia và Singapore) chức năng bày tỏ ý kiến nàylại được thực hiện bằng phương thức tư vấn. Hoạt động tư vấn này trước hết trong lĩnhvực nguồn thu và sử dụng công quỹ. Ngoài ra chức năng tư vấn bao hàm cả việc phácthảo và xem xét những dự kiến về luật trước khi đưa ra quốc hội. Ở khu vực kinh doanh hoặc các dự án ngoài ngân sách Nhà nước, chức năngbày tỏ ý kiến cũng được thực hiện qua phương thức tư vấn. Tuy nhiên do khách thểDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  22. 22. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comchủ yếu là các doanh nghiệp nên chức năng tư vấn chủ yếu được biểu hiện dưới hìnhthức là lời khuyên hoặc các đề án. Do đó trong trường hợp này sản phẩm của bày tỏ ýkiến gồm hai dạng đó là báo cáo kiểm toán và thư quản lý. Như vậy chức năng của kiểm toán là "xác minh" và "bày tỏ ý kiến" có tác dụngnhư thế nào trong trách nhiêm của KTV về chất lượng kiểm toán BCTC ? ta tìm hiểutiếp phần sau. 2/ Trách nhiệm của kiểm toán viên về chất lượng kiểm toán báo cáo tàichính 2.1/ Trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp Với mục đích để đảm bảo tính đúng đắn, hợp lý, hợp pháp của BCTC thì trước hết trách nhiệm của KTV phải: - Luôn coi trọng và chấp hành đúng pháp luật của Nhà nước trong quá trình hành nghề kiểm toán. - Trách nhiệm của KTV trong việc tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp không những được quy định trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 mà còn được quy định trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA quy định: 1. Tính độc lập: là nguyên tắc hành nghề cơ bản của KTV. Trong quá trình kiểm toán, KTV phải thực sự không bị chi phối hoặc bị tác động bởi bất cứ lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng tới sự trung thực khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình. KTV không được nhận làm kế toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế và quyền lợi kinh tế như góp vốn cổ phần, cho vay hoặc vay vốn từ khách hàng, hoặc cổ đông chi phối của khách hàng hoặc có kí kết hợp đồng gia công dịch vụ , đại lý tiêu thụ hàng hoá... KTV không được nhận làm kiểm toán ở những đơn vị mà bản thân có quan hệ họ hàng thân thích với những người trong bộ máy quản lý trong đơn vị được kiểm toán. KTV không được vừa làm dịch vụ kế toán (như trực tiếp ghi chép, giữ sổ kế toán và lập BCTC) vừa làm dịch vụ kiểm toán cho cùng một khách hàng. Trong quá trình kiểm toán, nếu có sự hạn chế về tính độc lập thì KTV phải tìm cách loại bỏ được sự hạn chế này. nếu không loại bỏ được thì KTV phải nêu rõ điều này trong báo cáo kiểm toán. Tính độc lập trong kiểm toán có nghĩa là việc có một quan điểm vô tư khi thực hiện khảo sát kiểm toán, đánh giá các kết quả và côngDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  23. 23. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com bố các báo cáo kiểm toán. Tính độc lập nhất định phải được xem như một trong những phẩm chất chủ yếu nhất của kiểm toán. Lý do mà rất nhiều người sử dụng thuộc nhiều thành phần khác nhau sử dụng báo cáo kiểm toán của kiểm toán viên về tính trung thực của các BCTC là sự tin tưởng của họ vào quan điểm vô tư đó. Điều cơ bản không chỉ là KTV phải giữ thái độ độc lập khi thực thi trách nhiệm của mình mà còn cả những người sử dụng các BCTC phải có niềm tin vào tính độc lập đó. Hai mục đích này thường được gọi là tính độc lập thực sự và tính độc lập bề ngoài. Tính độc lập thực sự có khi KTV thực tế có thể duy trì thái độ vô tư trong suốt quá trình kiểm toán trong khi độc lập bề ngoài là kết quả của những lời giải thích của những người khác về tính độc lập đó. 2. Chính trực: KTV phải thẳng thắn trung thực và có chính kiến rõ ràng. 3. Khách quan: KTV phải công bằng tôn trọng sự thật và không được thành kiến thiên vị. Tức là một KTV không được chú tâm phản ánh sai sự việc và khi hợp đồng thực hiện kiểm toán độc lập (kể cả cung cấp dịch vụ khai thuế và dịch vụ tư vấn cho ban quản trị) KTV không được để sự phán xét của mình lệ thuộc vào người khác. 4. Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: KTV phải thực hiện công việc với đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết, với sự thận trọng cao nhất và tinh thần làm việc chuyên cần, KTV có nhiệm vụ duy trì, cập nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lý và các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc. 5. Tính bí mật: KTV phải đảm bảo bí mật thông tin có được trong quá trình kiểm toán, không được tiết lộ bất kỳ một thông tin nào khi chưa được phép của người có thẩm quyền, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp của mình. 6. Tư cách nghề nghiệp: KTV phải trau dồi và bảo vệ uy tín nghề nghiệp, không được gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp của mình. 7. Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn: KTV phải thực hiện công việc kiểm toán theo những kỹ thuật và chuẩn mực chuyên môn đã quy định trong chuẩn mựcDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  24. 24. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com kiểm toán Việt Nam và các chuẩn mực kiểm toán quốc tế được Việt Nam chấp nhận theo các quy định pháp luật hiện hành. Trên đây là quy định, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà KTV phải tuân thủ trongcông việc của mình. Vậy thì trách nhiệm đối với BCTC thuộc về ai? điều này đượcquy định trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và quốc tế. 2.2/ Trách nhiệm đối với báo cáo tài chính */ Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán chịu trách nhiệm lập, trình bày trung thực, hợp lý BCTC theo đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp thuận) và các quy định có liên quan. KTV và công ty kiểm toán phải chịu trách nhiệm kiểm tra, chuẩn bị và trình bày ý kiến của mình về BCTC. Việc kiểm toán tài chính không làm giảm nhẹ trách nhiệm của giám đốc đơn vị được kiểm toán đối với BCTC. */ Trong chuẩn mực kiểm toán quốc tế: Trách nhiệm lập và trình bày BCTC thuộc về ban giám đốc công ty, chuyên gia kiểm toán chỉ chịu trách nhiệm hoàn thành và diễn đạt ý kiến về BCTC. Việc kiểm toán BCTC cũng không miễn hoàn toàn trách nhiệm của ban giám đốc. 2.3/ Trách nhiệm pháp lý: KTV không những phải tuân thủ trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp mà còn phải tuân thủ trách nhiệm pháp lý của mình. Viêc xác định trách nhiệm pháp lý của KTV tuỳ thuộc vào pháp luật của từng quốc qia gồm: 2.3.1/ Trách nhiệm dân sự Nhìn chung, nguyên nhân chủ yếu của những sai phạm có thể dẫn tới trách nhiệm dân sự thường do KTV thiếu thận trọng đúng mực, hoặc do không tôn trọng các chuẩn mực nghề nghiệp. Lúc này họ có thể chịu trách nhiệm dân sự trước các đối tượng: - Chịu trách nhiệm đối với khách hàng là người thuê kiểm toán BCTC thường liên quan đến việc không hoàn thành hợp đồng kiểm toán và gây thiệt hại cho khách hàng. - Chịu trách nhiệm đối với người sở hữu chứng khoáng của công ty - Chịu trách nhiệm với các bên thứ 3 có liên quan 2.3.2/ Trách nhiệm hình sựDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  25. 25. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com Ngoài trách nhiệm dân sự nếu do gian lận, KTV còn phải chịu trách nhiệm hìnhsự về những sai phạm của mình. Tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam KTV sẽ bịtruy tố và Toà án hình sự sẽ xét xử. Với những trách nhiệm đạo đức, pháp lý ... được trình bày ở phần trên thì nếuKTV tuân thủ đúng đắn sẽ hạn chế không những được rất nhiều sai phạm mà còn tăngchất lượng kiểm toán BCTC. II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1/ Mối quan hệ giữa chức năng kiểm toán với chất lượng báo cáo tài chính 1.1/ Những yếu tố quyết định chất lượng báo cáo tài chính : Đầu tiên là tính độc lập của cơ quan kiểm toán là vấn đề cơ bản cho công táckiểm tra tài chính có hiệu lực và hiệu quả. Kết quả kiểm tra tài chính đối với tất cả cáccơ quan, đơn vị, các tổ chức... nói chung chịu nhiều tác động về nhiều mặt. Tính độclập đầy đủ của cơ quan kiểm toán, cũng như KTV là yếu tố quan trọng trực tiếp tácđộng đến chất lượng kiểm toán bởi vì trong hoạt động kiểm toán mọi ý kiến đánh giá,nhận xét và kết luận của KTV đều dựa vào bằng chứng kiểm toán và tuân thủ phápluật không chịu sự tác động của bất kì sức ép nào nhất là sức ép quyền lực. Thứ hai: trình độ nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của KTV là nhân tố quyếtđịnh đến chất lượng kiểm toán. Nếu tất cả các yếu tố hợp thành tạo nên môi trườngkiểm toán thuận lợi nhưng do KTV thiếu trình độ nghiệp vụ không đáp ứng nhiệm vụđược giao hoặc không trung thực, khách quan hoặc để các lợi ích cá nhân chi phối đếnhoạt động kiểm toán thì kết quả kiểm toán sẽ bị sai lệch, bóp méo. Thứ ba là cơ cấu tổ chức và cơ chế phân cấp phân nhiệm của cơ quan kiểm toáncó tác động đến chất lượng kiểm toán. Nếu cơ cấu tổ chức hợp lý quy định rõ chứcnăng nhiệm vụ của đơn vị theo từng chuyên ngành sẽ tạo điều kiện cho các đơn vịchuyên môn hoá hoạt động kiểm toán theo hướng chuyên sâu thì hiệu quả chất lượngkiểm toán từng bước được nâng cao và ngược lại. Việc bố trí hợp lý và giao việc phùhợp với khả năng chuyên môn nghiệp vụ của từng thành viên trong đoàn là yếu tốquyết định đến chất lượng và hiệu quả kiểm toán. Yếu tố tiếp theo ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC là việc tuyển dụngcán bộ, KTV: KTV là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng kiểm toán, ngoàinhững tiêu chuẩn của một công chức khi tuyển dụng KTV cần đặc biệt chú ý đến haitiêu chuẩn đó là: phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và có kiến thức về pháp luậtDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  26. 26. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comcó nghĩa là người đó đã tốt nghiệp theo một chuyên ngành về mặt pháp lý và kinhnghiệm thực tiễn trong lĩnh vực được đào tạo. Việc đánh giá về phẩm chất đạo đứcđược thực hiện chủ yếu là đánh giá trên hai góc độ đó là về mặt lý lịch về lịch sử cánhân thông qua cơ quan quản lý cán bộ và các tổ chức, đoàn thể mà người đó đã từngtham gia đồng thời phải kết hợp với việc thăm dò dư luận của quần chúng để xác địnhđối chiếu những ý kiến nhận xét đã nêu trong lí lịch. Mặt khác chính sách cán bộ và đào tạo cũng ảnh hưởng đến chất lượng kiểmtoán BCTC. Chính sách này luôn tác động trực tiếp đến tâm lý làm việc của KTV, nếuchính sách cán bộ tốt sẽ khuyến khích KTV hăng say có trách nhiệm trong công việcđược giao và ngược lại. Vì vậy muốn xây dựng, ban hành các chính sách cán bộ đểmọi KTV biết lấy đó làm mục tiêu phấn đấu. Việc đánh giá năng lực để phân loại đềbạt khen thưởng KTV phải được thực hiện thường xuyên, việc đánh giá phải dựa trênkết quả các cuộc kiểm toán mà KTV đó có thực hiện, thông qua hội đồng bình xét theotừng cấp độ để đảm bảo tính dân chủ, khách quan, tránh mọi biểu hiện định kiến cánhân. Vì vậy việc đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán và pháp luật là hết sứcquan trọng nhất là trong giai đoạn hiện nay. Yếu tố thứ sáu ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán BCTC là hệ thống văn bảnquy định chuyên môn nghiệp vụ. Việc hoàn thiện hệ thống văn bản chuyên môn,nghiệp vụ không những là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng kiểm toán màcòn là cơ sở pháp lý đảm bảo tính độc lập khách quan cho hoạt động kiểm toán tạoniềm tin cho những người sử dụng kết quả kiểm toán. Quan hệ với đơn vị được kiểm toán là yếu tố tiếp theo ảnh hưởng tới chất lượngkiểm toán BCTC. Nếu KTV có quan hệ với đơn vị được kiểm toán về lợi ích kinh tếhoặc tình cảm sẽ làm ảnh hưởng đến tính khách quan và chi phối đến các ý kiến nhậnxét, kết luận trong báo cáo kiểm toán. Để đảm bảo tính khách quan cho KTV trong quátrình kiểm toán, Nhà nước và cơ quan kiểm toán phải quy định rõ các trường hợp KTVkhông được vào kiểm toán tại đơn vị, nếu KTV có quan hệ gia đình hoặc có lợi íchkinh tế và các lợi ích khác với đơn vị được kiểm toán. Yếu tố cuối cùng ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán là kiểm tra, giám sát.Kiểm tra là một chức năng của quản lý đối với hoạt động kiểm toán thì chức năng nàycàng phải được đề cao hơn nhằm ngăn chặn biểu hiện làm việc qua loa, đại khái, hoặccó tư tưởng thiên vị vì lợi ích cá nhân ... làm ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán. ĐểDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  27. 27. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comnâng cao chất lượng kiểm toán cơ quan kiểm toán phải có quy chế công khai quy địnhcụ thể việc kiểm tra, giám sát hoạt động kiểm toán theo từng cấp, trách nhiệm củaKTV và cán bộ quản lý đối với nhiệm vụ được giao. Bên cạnh những yếu tố làm ảnh hưởng tới chất lượng của BCTC còn có nhữngyếu tố thuộc về khách hàng và công ty kiểm toán. 1.2/ Các sai phạm thuộc về khách hàng ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán BCTC Như chúng ta đã nghiên cứu ở trên chức năng của kiểm toán là “xác minh“ và“bày tỏ ý kiến“. Vậy với hành vi vi phạm (như gian lận và sai sót...) trên BCTC thìKTV có nên “bày tỏ ý kiến“ với cơ quan pháp luật về hành vi đó hay không sau khixác định được các sai phạm đó trên BCTC ? trong khi một trong những chuẩn mựcnghề nghiệp của KTV là "bảo mật". Câu hỏi này đã được trả lời trong chuẩn mực kiểmtoán Việt Nam số 240:"* KTV và công ty kiểm toán phải thông báo kịp thời những phát hiện của mình chogiám đốc đơn vị được kiểm toán trong thời hạn nhanh nhất trước ngày pháthànhBCTC hoặc trước ngày phát hành báo cáo kiểm toán khi: - KTV nghi ngờ có gian lận, mặc dù chưa đánh giá được ảnh hưởng của gian lận này tới BCTC - Có gian lận - Có sai sót trọng yếu* Khi nghi ngờ có sai phạm hoặc sai sót trọng yếu đã xảy ra hoặc có thể xảy ra KTVphải cân nhắc tất cả các tình huống xem cần thông báo cho cấp nào. Trường hợp cógian lận KTV phải đánh giá khả năng gian lận này liên quan đến cấp quản lý nào.Trong hầu hết các trường hợp xảy ra gian lận KTV và công ty kiểm toán phải thôngbáo cho cấp quản lý cao hơn cấp của người có dính líu đến gian lận đó.* KTV và công ty kiểm toán có trách nhiệm bảo mật các thông tin số liệu của kháchhàng, trừ trường hợp đơn vị được kiểm toán có gian lận và sai sót mà theo quy địnhcủa pháp luật kiểm toán viên và công ty phải thông báo hành vi này cho cơ quan chứcnăng có liên quan ". Như vậy đối với một số doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, BCTC doanh nghiệplập ra chưa đảm bảo thể hiện một cách trung thực và hợp lý thì KTV độc lập sẽ đưa racác yêu cầu điều chỉnh lại các thông tin trên BCTC. Trong trường hợp doanh nghiệpkhông muốn điều chỉnh lại do không thể khắc phục được mà các thông tin này ảnhDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  28. 28. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comhưởng trọng yếu tới thông tin trình bày trong BCTC thì báo cáo của KTV sẽ nêu radưới dạng xác nhận không toàn bộ (có ngoại trừ). Các điểm ngoại trừ có thể được coilà điểm kiểm toán không xác nhận tính trung thực và hợp lý của các thông tin, điềunày trở thành điểm yếu của BCTC làm hạn chế và ảnh hưởng không tốt tới các giaodịch và quan hệ kinh tế với doanh nghiệp. Trong trường hợp báo cáo kiểm toán đượccơ quan quản lý xem xét thì đây cũng là những vấn đề mà nhà quản lý không mấy hàilòng. Do đó khi trên BCTC mà KTV phát hiện ra những sai phạm thì còn tuỳ thuộcvào mức độ sai phạm lớn hay nhỏ làm ảnh hưởng tới BCTC như thế nào thì KTV mớiquyết định báo cáo hoặc không báo cáo với cơ quan pháp luật hoặc để cho khách hàngtự sửa đổi. 1.3/ Những sai phạm ở đơn vị làm ảnh hưởng tới chất lượng của BCTC Trong quá trình hoạt động của một đơn vị, nhiều sai phạm có thể xảy ra và dẫnđến khả năng là các BCTC sẽ phản ánh không trung thực về thực trạng tài chính củahọ. Để xem xét trách nhiệm của KTV đối với các sai phạm diễn ra tại đơn vị, cácchuẩn mực kiểm toán thường đề cập đến ba nhóm hành vi sai phạm bao gồm sai sótgian lận và không tuân thủ luật định: *Các sai sót: -Nhầm lẫn số học, hoặc ghi chép trong dữ liệu kế toán. -Bỏ sót hoặc hiểu sai sự kiện. -Áp dụng sai các phương pháp kế toán *Gian lận như: -Sửa đổi nguỵ tạo tráo đổi sổ sách chứng từ. -Tham ô tài sản. -Che giấu, bỏ sót các nghiệp vụ trên sổ sách hay chứng từ -Ghi chép các nghiệp vụ không có thật -Áp dụng sai các phương pháp kế toán. *Không tuân thủ: là hành vi thực hiện sai, bỏ sót, thực hiện không đầy đủkhông kịp thời hoặc không thực hiện pháp luật và các quy định dù là vô tình hay cố ýcủa đơn vị gồm tất cả những hành vi của tập thể, cá nhân mang danh nghĩa đơn vị gâyra. Sự phân biệt giữa các sai phạm trên không có ranh giới rõ ràng. Giữa gian lậnvà sai sót tuy có sự khác biệt về bản chất nhưng trong thực tế rất khó xác định được,Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  29. 29. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.commặt khác hành vi không tuân thủ chủ yếu là các sai phạm dưới góc độ của đơn vị hơnlà của các cá nhân và không cần phân biệt cố ý hay vô tình. Đối với các sai phạm nêu trên thì người quản lý phải ngăn ngừa và phát hiệnnhững sai phạm đặc biệt là hành vi gian lận và không tuân thủ. Bởi lẽ nếu không thựcthi được điều này thì chắc chắn thông tin sẽ không trung thực và thậm chí đơn vị cóthể sẽ bị giải thể vì những hành vi không tuân thủ. Bên cạnh trách nhiệm của nhà quản lý thì KTV cũng có trách nhiệm với việcphát hiện các loại sai phạm trong quá trình kiểm toán: *Đối với gian lận và sai sót: trách nhiệm của KTV là xem xét rủi ro tồn tại cácsai lệch trong BCTC do những gian lận và sai sót gây ra. *Đối với hành vi không tuân thủ: mặc dù chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số250 quy định hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định nói chung không phảilà trách nhiệm nghề nghiệp của KTV và công ty kiểm toán nhưng KTV cần ghi nhậnvề các hành có thể gây ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC. Như vậy, với những yếu tố thuộc về khách hàng, thuộc về đơn vị (công ty)kiểm toán có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng kiểm toán BCTC thì trên cơ sở chứcnăng của kiểm toán có thể hạn chế hay khắc phục được những sai phạm nhờ đó làmtăng tính trung thực hợp lý, hợp pháp cuả BCTC từ đó nâng cao hơn chất lượng củakiểm toán. vậy thì thực trạng chất lượng kiểm toán BCTC ở nước ta như thế nào ? 2/ Thực trạng và nguyên nhân về chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính hiệnnay ở nước ta 2.1/ Thực trạng: Chất lượng của kiểm toán BCTC ở nước ta bước đầu đã được khách hàng tintưởng và ngày càng có uy tín. Tuy vậy trên thực tế sự phát triển của hoạt động kếttoán, kiểm toán hiện nay vẫn còn nhiều bất cập gây trở ngại không ít đối với quá trìnhhội nhập quốc tế và khu vực. Trình độ, năng lực hành nghề của nhiều công ty kế toán,kiểm toán ở nước ta còn nhiều hạn chế, các loại hình dịch vụ chưa đủ sức cạnh tranhvới các công ty nước ngoài, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các công tytrong nước thông qua việc giảm giá chi phí vẫn còn tồn tại, chất lượng dịch vụ chưađáp ứng được thực tế đòi hỏi. Bên cạnh đó nhận thức của xã hội về các hoạt động kiểmtoán còn nhiều hạn chế. Khuôn khổ hoạt động kiểm toán tuy đã có nhiều đổi mớiDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  30. 30. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comnhưng chưa đồng bộ và đầy đủ, các tổ chức nghề nghiệp chưa đủ khả năng đảm nhậnviệc tổ chức và hướng dẫn quản lý chuyên môn. Mặt khác, chất lượng kiểm toán BCTC phản ảnh nội dung và hệ thống các chitiêu chưa hợp lý với yêu cầu, mục tiêu của nhiệm vụ kiểm tóan, chưa phản ánh nhữngvấn đề cơ bản trọng tâm của tình hình quản lý điều hành, sử dụng ngân sách nhà nướccủa các cấp các ngành. Nội dung kiểm toán BCTC chỉ phản ánh ở tầm vi mô mà chưaphản ánh đúng tầm vĩ mô. Kết quả kiểm toán ở các bộ, ngành Trung ương hoặc ngânsách của một tỉnh (thành phố) còn mang tính liệt kê số liệu, liệt kê tình hình, liệt kênhững sai phạm chính sách, chế độ của các đơn vị thuộc và trực thuộc bộ ngành và địaphương được kiểm toán. Ngoài ra chất lượng kiểm toán BCTC còn mắc nhiều sai phạm về số liệu cáchtrình bày về văn phạm. Thêm vào đó hầu hết cán bộ, KTV tuổi đời còn rất trẻ, có trình độ học vấnnhưng để giữ cương vị chủ chốt nhiều người thiếu sự chuẩn bị kĩ càng, chưa được rènluyện thử thách của thực tiễn, lãnh đạo các đơn vị lại thiếu kiểm tra đôn đốc thườngxuyên nên dễ sinh ra kiêu ngạo lợi dụng quyền hạn coi thường kỉ cương, kỉ luật. 2.2/ Nguyên nhân của thực trạng Trước hết việc xác định mục tiêu kiểm toán hàng năm của các vụ kiểm toánchuyên ngành và kiểm toán nhà nước nhiều khi còn chung chung, mục tiêu kiểm toánchưa gắn kết với hệ thống các chỉ tiêu trọng điểm, chưa gắn kết với đối tượng kiểmtoán. Khi xây dựng kết hoạch kiểm toán việc lựa chọn xác định mục tiêu trọng tâm,trọng điểm của một cuộc kiểm toán là rất quan trọng, giúp cho kết quả kiểm toán đạtchất lượng, hiệu quả cao, nếu tất cả các cuộc kiểm toán đều phản ánh tập trung, thốngnhất vào các chỉ tiêu trọng tâm, trọng điểm của công tác quản lý, điều hành thu - chingân sách của đối tượng được kiểm toán thì sẽ khắc phục được tình trạng kiểm toántràn lan, dàn trải, vụn vặt. Báo cáo kiểm toán không có định hướng, kết luận nhữngvấn đề nội dung không có giá trị ở tầm vĩ mô. Bên cạnh đó việc xác đinh lựa chọn đối tượng kiểm toán hàng năm còn cónhững bất hợp lý, chưa phù hợp với mục tiêu kiểm toán. Đối tượng kiểm toán hằngnăm thường vẫn là lần lượt, thứ tự từ đơn vị có nguồn thu – chi ngân sách lớn đến nhỏ,chưa phải xuất phát từ mục đích kiểm toán hằng năm để chọn đối tượng kiểm toán phùhợp, chưa xác định được mục tiêu kiểm toán trong năm đối với từng đối tượng kiểmDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  31. 31. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.comtoán. Cho đến nay Vụ kiểm toán ngân sách và kiểm toán Nhà nước chưa nắm được cácthông tin cần thiết thông tin chủ yếu về tình hình kinh tế, tài chính – ngân sách của cácBộ, ngành Trung ương và các địa phương để lựa chọn đối tượng kiểm toán có chiếnlược hàng năm phục vụ cho mục đích kiểm toán, chỉ đến khi lựa chọn được đối tượngkiểm toán theo thứ tự lần lượt rồi mới đi khảo sát nắm tình hình và xác định mục tiêukiểm toán. Đồng thời mẫu báo cáo kiểm toán mới sửa đổi, ban hành để sử dụng thống nhấttrong toàn ngành trong năm 2002 còn những bất hợp lý dẫn tới tình trạng chất lượngkiểm toán chưa cao. Mẫu báo cáo kiểm toán của Bộ chưa hướng dẫn kiểm toán viên đivào trọng tâm, trọng điểm của chu trình lập, chấp hành cà quyết toán của đối tượngđược kiểm toán, cụ thể phần kết quả kiểm toán, không yêu cầu kiểm toán theo chutrình vận động của ngân sách: lập, chấp hành, quyết toán mà chỉ có bảng số liệu phảnánh chênh lệch về kinh phí, về tài sản, về hoạt động sự nghiệp giữa báo cáo tài chínhcủa đơn vị và của kiểm toán; sau đó giải thích nguyên nhân chênh lệch, nhưng lại đưanội dung phần lập và chấp hành dự toán vào phần nhận xét, đó là điều không hợp lýlàm cho kết quả kiểm toán đơn điệu, không phản ánh được tính hệ thống và bản chấtcủa vấn đề. Mặt khác trình độ tổng hợp và viết báo cáo của KTV hiện nay còn qúa yếuthêm vào đó việc chỉ đạo, phân công giữa KTV làm công tác kiểm toán tổng hợp củamột cuộc kiểm toán và KTV viết báo cáo tổng hợp lại không đồng bộ, sử dụng chưađúng người đúng việc. Do đó còn nhiều báo cáo kết quả kiểm toán chất lượng yếu vàcòn nhiều sai sót là lẽ đương nhiên. Dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu về chất lượng kiểm toán của một số nước pháttriển. 2.3/ Chất lượng công tác quản lý chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính ởThái Lan Công tác quản lý chất lượng kiểm toán của kiểm toán nhà nước Thái Lan đượcthể hiện trên 7 mặt: 1. Chất lượng của tổ chức quy trình kiểm toán 2. Chất lượng kiểm toán viên 3. Chất lượng của các phương tiện trong kiểm toánDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com
  32. 32. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 4. Chất lượng của các tài liệu trong kiểm toán 5. Chất lượng của việc tổ chức thông tin trong kiểm toán 6. Chất lượng của môi trường kiểm toán 7. Chất lượng của công tác quản lý và giám sát kiểm toán. Việc tổ chức đánh giá chất lượng kiểm toán của cấp quản lý (tổng kiểm toánNhà nước và các KTV ) thông qua các nhóm giúp việc, cụ thể : tại mỗi cơ quan kiểmtoán của Trung ương và mỗi kiểm toán của khu vực bố trí ba KTV thực hiện công táckiểm tra đánh giá chất lượng kiểm toán của các đoàn kiểm toán. Số chuyên viên kiểmtra chất lượng kiểm toán này thực hiện công việc thông qua tiến hành kiểm tra trựctiếp tại các đoàn kiểm toán. Tại kiểm toán nhà nước, giám đốc văn phòng là ngườigiúp tổng kiểm toán nhà nước thực hiện việc kiểm tra đánh giá chất lượng kiểm toánBCTC. Để hạn chế những nguyên nhân khắc phục thực trạng chất lượng kiểm toánBCTC ở nước ta hiện nay mà nguyên nhân chủ yếu là trách nhiệm của KTV trong quátrình hành nghề ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng kiểm toán BCTC. 3/ Giải pháp nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên 3.1/ Giải pháp tổ chức đào tạo: theo các bước sau: 1. Xác định loại hình đào tạo hợp lý: chất lượng kiểm toán nói chung và chất lượng KTV nói riêng phụ thuộc rất lớn vào loại hình đào tạo. Do vậy việc xác định loại hình đào tạo hợp lý sẽ nâng cao chất lượng đào tạo. Ngoài ra còn có các chuẩn để có được chứng chỉ một KTV thực thụ (bằng cấp, kinh nghiệm công tác, sát hạch chuẩn quốc gia... ) 2. Các trường đại học, học viện thuộc khối kinh tế nơi đào taọ căn bản bước đầu làm nền cho việc lập nghề kiểm toán, cung cấp nguồn nhân lực cho các công ty kiểm toán cần mở chuyên ngành đào tạo kiểm toán. Trên thực tế trong những năm qua đào tạo về kiểm toán chỉ là bước đầu trong khối chuyên sâu của kế toán nên chưa phù hợp với những nhà kiểm toán chuyên nghiệp do vậy cần thiết phải có một giáo trình độc lập về kiểm toán nhằm cung cấp cho sinh viên những cái nhìn từ tổng quan đến hệ thống về ngành kiểm toán và nghiệp vụ kiểm toán đi kèm làDownload đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com

×