• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
QT169.doc
 

QT169.doc

on

  • 292 views

 

Statistics

Views

Total Views
292
Views on SlideShare
292
Embed Views
0

Actions

Likes
0
Downloads
1
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    QT169.doc QT169.doc Document Transcript

    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1. KKĐTTN = Khuyến khích đầu tư trong nước 2. TSCĐ = Tài sản cố định . 3. DA = Dự án . 4. KCX = Khu chế xuất . 5. KCN = Khu công nghiệp . 6 . TƯ = Trung ương . 7. XHCN = Xã hội chủ nghĩa . 8. NĐ = Nghị định .http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 1
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com LỜI NÓI ĐẦU Đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả đầu tư nói chung, đầu tư trongnước nói riêng, là một nội dung quan trọng của quá trình đổi mới kinh tế theohướng kinh tế thị trường ở nước ta. Ngay sau khi kết thúc các cuộc chiếntranh biên giới phía Bắc và Tây Nam, năm 1979, với Nghị quyết Hội nghịTrung ương lần thứ 6 (Khoá IV), Đảng ta đã khởi xướng những quan điểmđầu tiên về giải phóng tiềm năng trong nước, bước đầu gỡ bỏ những trì hãmcủa cơ chế cũ, tạo tiền đề cho nhân tố mới và cơ chế mới ra đời và phát triển.Tư tưởng chỉ đạo của các chính sách của Đảng và nhà nước ta từ đó đến nay,đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá VIII), đề cao việc khaithác và phát huy tốt những tiềm năng nội lực, coi đó như là một yếu tố cốt lõibảo đảm cho sự phát triển đất nước diễn ra một cách bền vững lâu dài và đúnghướng. Để thực hiện tư tưởng chính sách đó, chúng ta đã thực thi nhiều biệnpháp, một mặt nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài; mặt khác khơidậy các nguồn vốn, các nguồn nhân tài, vật lực trong nước, thu hút chúng vàocác dòng đầu tư thông qua nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau. Trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp, đề tài: "Một số giải phápnhằm tiếp tục khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước", hướng trọngtâm vào các nội dung sau: Một; đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách khuyến khích đầu tưtrong nước trong thời gian qua, nhất là từ khi Quốc hội ban hành Luật Khuyếnkhích đầu tư trong nước (có hiệu lực pháp lý từ 22 tháng 6 năm 1994). Hai, chỉ rõ những kết quả bước đầu cũng như các vướng mắc cần tháogỡ trong việc thi hành chính sách khuyến khích đầu tư trong nước. Ba, kiến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục khuyến khích các hoạtđộng đầu tư trong nước để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn,http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 2
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước góp phần phát triểnkinh tế - xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Luận văn tốt nghiệp này sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếunhư: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tư duy logic, thống kê, phân tíchhoạt động kinh tế. Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn kết cấugồm ba phần: Phần I: Một số vấn đề chung về đầu tư và khuyến khích đầu tư trongnước. Phần II: Thực trạng hoạt động khuyến khích đầu tư trong nước nhữngnăm qua. Phần III: Những giải pháp chủ yếu tiếp tục khuyến khích các hoạt độngđầu tư trong nước. Qua đây em xin gửi lời cảm ơn đến GS. TS .Đỗ Hoàng Toàn, TS.Nguyễn Lê Trung , các thầy cô giáo trong Khoa và các cô chú trong Vụ doanhnghiệp - Bộ kế hoạch Đầu tư đã giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp củamình. Vì thời gian có hạn và sự hiểu biết còn hạn chế nên luận văn tốt nghiệpcủa em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ýcủa các thầy cô giáo trong khoa Khoa học quản lý và các cô chú công tác ởVụ doanh nghiệp để luận văn của em được hoàn thiện hơn. Em xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện,không sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác. Nếu saiphạm em xin chịu kỷ luật với nhà trường. Hà Nội 01/06/2001 Sinh viên: Trần Công Khanhhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 3
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com PHẦN I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC 1. Đầu tư và các hình thức đầu tư Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động kinh doanh thì điềukiện không thể thiếu là phải có tiền. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh ,dịch vụ mới hình thành, tiền được dùng để xây dựng nhà xưởng, mua sắmtrang thiết bị... nhằm tạo ra các cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu, mua sắmnguyên vật liệu, trả lương cho người lao động, tiền được dùng để mua sắmthêm các máy móc thiết bị, xây dựng thêm nhà xưởng, tăng thêm vốn lưuđộng nhằm mở rộng quy mô hoạt động hiện có, sửa chữa hoặc mua sắm cáctài sản cố định (TSCĐ) mới thay thế các TSCĐ đã bị hư hỏng, bị hao mònhữu hình (do quá trình sử dụng và do các tác động của khí hậu, thời tiết) vàhao mòn vô hình (do tiến bộ của khoa học kỹ thuật làm cho nhiều TSCĐnhanh chóng trở nên lạc hậu, không còn thích hợp với điều kiện mới, tiếp tụcsử dụng sẽ không có hiệu quả). Số tiền cần thiết để tiến hành các hoạt động như trên gọi là tiền đầu tư.Và hành vi của các chủ thể trong việc bỏ tiền ra, tổ chức sử dụng chúng theonhững chuẩn mực nhất định nhằm mưu cầu những lợi ích cụ thể được gọi làhoạt động đầu tư. Cũng có thể nói, hoạt động đầu tư là quá trình sử dụng cácnguồn lực nhằm duy trì tiềm lực sẵn có hoặc tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống , các nguồn lực phục vụ chohoạt động đầu tư đối với các trường hợp cá biệt có thể nhiều ít khác nhau,nhưng nhìn tổng thể, quy mô của các nguồn lực, trong đó có nguồn lực bằnghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 4
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtiền, là rất lớn. Do đó để đảm bảo cho các hoạt động đầu tư diễn ra bìnhthường thì không thể dùng nguồn tiền trích ra cùng một lúc từ các khoản chitiêu thường xuyên của các chủ thể kinh doanh của xã hội, của Chính phủ vìđiều này sẽ làm xáo động các hoạt động kinh tế bình thường và sinh hoạt xãhội. Nguồn tiền sử dụng cho các hoạt động đầu tư đòi hỏi phải được tích luỹtừ nhiều nguồn khác nhau và chỉ có thể là tiền tích luỹ của xã hội, của các chủthể kinh doanh, của phần chi cho đầu tư phát triển thuộc ngân sách Chínhphủ, là tiền tiết kiệm của dân và tiền huy động từ nước ngoài. Quá trình sử dụng tiền đầu tư, xét về mặt bản chất, là quá trình thực hiệnsự chuyển hoá vốn bằng tiền (vốn đầu tư) thành vốn hiện vật để tạo nênnhững yếu tố cơ bản của quá trình tái sản xuất. Đó cũng chính là quá trìnhhoạt động đầu tư hay quá trình đầu tư vốn. Đầu tư trong nước, theo cách diễn đạt của Luật Khuyến khích đầu tưtrong nước năm 1994 là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh tại Việt Namcủa các tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam (Điều 2 - Luật Khuyến khích đầutư trong nước năm 1994). Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) số03/1998/QH10 cũng có quan niệm về đầu tư trong nước tương tự. Đầu tư trực tiếp nước ngoài, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm1996, diễn đạt như sau: "là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốnbằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theoquy định của luật này". Đối tượng của luật đầu tư nước ngoài là tổ chức kinhtế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Đối tượng của Luật Khuyếnkhích đầu tư trong nước gồm: tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài (hay còn gọi là thườngtrú) tại Việt Nam. Các đối tượng tham gia hoạt động đầu tư có yếu tố nướcngoài thì có thể lựa chọn một trong hai Luật.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 5
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Tuỳ theo góc độ đề cập, hoạt động đầu tư trong nước có thể được phântheo các tiêu thức sau: - Theo tính chất của các đối tượng đầu tư, hoạt động đầu tư gồm: + Đầu tư cho đối tượng vật chất: nhà xưởng, máy móc thiết bị, côngtrình hạ tầng... là điều kiện tiên quyết, cơ bản làm tăng tiềm lực của nền kinhtế. + Đầu tư cho đối tượng tài chính: mua cổ phần, cổ phiếu... là điều kiệnquan trọng để thu hút mọi nguồn vốn từ mọi tầng lớp dân cư cho đầu tư vàocác đối tượng vật chất. + Đầu tư cho đối tượng phi vật chất: tài sản trí tuệ, nguồn nhân lực,. .. làđiều kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư các đối tượng vật chất tiến hànhthuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao. - Theo cơ cấu tái sản xuất: hoạt động đầu tư gồm: + Đầu tư theo chiều rộng: là quá trình tăng quy mô đầu tư của các chủthể kinh doanh. Quá trình được xem xét ở hai góc độ: trên phạm vi nền kinhtế, đó là việc thành lập doanh nghiệp mới; ở góc độ doanh nghiệp, đó là việctriển khai dự án đầu tư mới hoặc mở rộng quy mô của các dự án hiện có. Xéttrên tổng thể, cách thứ nhất đòi hỏi vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư dài,vốn khê đọng lâu, thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn phải lớn, tínhchất kỹ thuật phức tạp và độ thoả hiệp cao. + Đầu tư theo chiều sâu: là hoạt động làm tăng nguồn lực đầu tư gắn vớiviệc làm tăng khả năng sinh lợi của các dự án đầu tư, của các doanh nghiệp.So với cách thứ nhất, cách thức này thường thu hút khối lượng vốn đầu tư íthơn, thời gian thực hiện đầu tư nhanh hơn, độ mạo hiểm thấp và khả năng thuhồi vốn nhanh chóng. - Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: hoạt động đầu tư có thể phânthành:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 6
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com + Đầu tư gián tiếp: trong đó người bỏ vốn không nhất thiết tham gia trựctiếp điều hành, quản lý quá trình thực hiện và vận hành các yếu tố đầu tư. Mộtloại chủ thể thực hiện hình thức này có thể là các Chính phủ, thông qua cácchương trình tài trợ không hoàn lại hoặc có hoàn lại với lãi suất thấp củamình, cung ứng tiền hoặc nguồn lực khác cho Chính phủ của các nước khácđể các nước đó phát triển kinh tế xã hội, điều chỉnh cơ cấu. Một loại chủ thểkhác, giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có khi là then chốt, là các cá nhân, tổchức mua các loại chứng chỉ có giá trị như cổ phiếu, trái phiếu để hưởng lợitức (còn gọi là đầu tư tài chính). + Đầu tư trực tiếp: ở đây người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý hoặcđiều hành quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Đầu tư trực tiếplại được phân thành: đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát triển. ++ Đầu tư chuyển dịch là loại đầu tư trong đó, người có tiền mua lại mộtsố cổ phiếu đủ lớn để nắm quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Trongtrường hợp này, việc đầu tư không làm gia tăng tài sản của doanh nghiệp, màchỉ làm thay đổi quyền sở hữu các cổ phần của doanh nghiệp. ++ Đầu tư phát triển là loại bỏ vốn đầu tư để tạo nên những năng lực sảnxuất phục vụ mới (cả về chất và lượng). Đây là loại đầu tư để tái sản xuất mởrộng, là biện pháp chủ yếu để tạo việc làm cho người lao động, là tiền đề đểthực hiện đầu tư tài chính và đầu tư chuyển dịch. - Căn cứ vào thời gian thực hiện và thời gian phát huy tác dụng, hoạtđộng đầu tư có thể phân chia thành: + Đầu tư thương mại: là hoạt động đầu tư là thời gian thực hiện đầu tưvà hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi đủ vốn đầu tư ngắn hạn, vốnvận động nhanh, mức độ mạo hiểm thấp do trong một thời gian ngắn, tính bấtđộng không cao, lại dễ dự đoán và độ chính xác của dự đoán khá cao.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 7
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com + Đầu tư sản xuất: Là loại đầu tư dài hạn, vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm,thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, vì tính chất kỹ thuật của hoạtđộng đầu tư phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trongtương lai không dự đoán trước được hoặc chất lượng dự đoán khó chính xác(về nhu cầu, giá cả đầu vào, cơ chế, chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹthuật, thiên tai, sự ổn định về chính trị...). Loại đầu tư này phải được chuẩn bịkỹ, phải cố gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả củahoạt động đầu tư trong tương lai xa, xem xét các biện pháp xử lý khi các yếutố bất định xảy ra để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãi suất khi hoạt động đầutư kết thúc, khi các kết quả đầu tư đã hoạt động đến hết vòng đời của mình. - Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: các hoạt động đầu tưđược phân thành: + Đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định + Đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sảnxuất kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tăng thêm tài sản lưu động cho cáccơ sở hiện có, duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật không thuộccác doanh nghiệp. Trong hai loại đầu tư đó thì đầu tư cơ bản quyết định đầu tư vận hành.Đầu tư vận hành tạo điều kiện cho các kết quả của đầu tư cơ bản phát huy tácdụng. Không có đầu tư vận hành thì các kết quả của đầu tư cơ bản không hoạtđộng được, ngược lại, không có đầu tư cơ bản thì đầu tư vận hành chẳng đểlàm gì. Đầu tư cơ bản có đặc điểm kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi vốn lớn, thời hạnthu hồi dài. Còn đầu tư vận hành chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầutư, đặc điểm kỹ thuật của quá trình thực hiện đầu tư không đến nỗi phức tạpso với đầu tư cơ bản và thời gian thu hồi vốn tương đối nhanh. Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ở mức cần thiết, ViệtNam cần một lượng vốn đầu tư khá lớn (thời kỳ kế hoạch 5 năm 1996-2000vào khoảng từ 40-42 tỷ USD), trong đó hơn một nửa là đầu tư trong nước.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 8
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comNguồn vốn bên ngoài là không thể thiếu và có ý nghĩa rất quan trọng, nhất làtrong thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, khi nhucầu đầu tư rất lớn mà nguồn tích luỹ nội địa chưa đủ đáp ứng. Trước năm1987, trong tổng vốn huy động cho đầu tư, nguồn vốn huy động từ ngân sáchNhà nước chiếm vị trí chủ yếu. Từ 1988 đến nay, với chính sách mở cửa, pháttriển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, nền kinh tế nước ta đang từng bướchoà nhập với khu vực và trên thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng tamở rộng dần diện huy động vốn trong nước, đồng thời thu hút thêm cácnguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. Cho đến nay, nguồn vốn cho đầu tư ở nước takhá phong phú hơn trước và chủ yếu được huy động từ các nguồn chính: * Vốn huy động trong nước: - Vốn ngân sách tập trung: đây là nguồn có ý nghĩa đặc biệt quan trọngđối với các hoạt động đầu tư trong nước. Nguồn này hiện nay chủ yếu đượctập trung cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, đầu tư pháttriển một số công trình công nghiệp then chốt, bảo đảm giữ các cao điểmtrong nền kinh tế quốc dân, các công trình liên quan đến An ninh - Quốcphòng. - Vốn của các doanh nghiệp Nhà nước: nguồn vốn này luôn có vai tròquan trọng rất lớn và có tác dụng trực tiếp nhất đối với tốc độ tăng trưởnghàng năm tổng sản phẩm trong nước. Đây chính là nguồn vốn mà các chínhsách kinh tế vĩ mô xem là một đối tượng hàng đầu tác động vào nền kinh tế,có vai trò rất lớn trực tiếp tác động tới tốc độ tăng trưởng bình quân trong cácnăm sắp tới. - Vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: nguồn này chủ yếu dùngvào các định hướng đầu tư phát triển chiều sâu, đổi mới công nghệ, đa dạnghoá sản phẩm và mở rộng quy mô doanh nghiệp hiện đang hoạt động cũngnhư mở rộng thêm doanh nghiệp mới do thị trường trong và ngoài nước mởhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 9
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comrộng thêm và do xuất hiện nhu cầu mới hoặc do yêu cầu phân tán rủi ro, tăngthêm khả năng cạnh tranh. - Vốn tiết kiệm trong dân cư: có thể nói đây là nguồn vốn khá lớn, cókhả năng đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động đầu tư trong tương lai nhưngchưa được tổ chức khai thác huy động tốt. Nhiều kết quả tính toán cho thấy,nếu khoảng 40-45% số vốn trong dân cư đầu tư vào sản xuất và dịch vụ thìcũng là một yếu tố đáng kể làm lên tốc độ phát triển GDP hàng năm đáng kểcủa các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vu. Nếu chúng ta có chínhsách huy động thoả đáng số vốn tiết kiệm trong dân thì sẽ có khả năng tăngnhanh cả về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng số các nguồn đầu tư trongnước. Nguồn vốn tiết kiệm trong dân cư có thể coi là nền tảng của các hoạtđộng đầu tư xét về lâu dài, là cơ sở của việc hình thành ba tầng hoạt độngkinh doanh trong nền kinh tế nước ta: tầng hoạt động kinh doanh không phảiđăng ký kinh doanh; tầng hộ kinh doanh cá thể; tầng kinh doanh của cácdoanh nghiệp. * Vốn huy động từ nước ngoài: - Vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA): đây là nguồn vốn do cácnước và các tổ chức quốc tế viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi (lãisuất, thời hạn vay...). Nguồn vốn này được tập trung vào ngân sách và có thểsử dụng trực tiếp để Nhà nước đầu tư hoặc cho vay lại (nhưng phải bảo đảmnguyên tắc hoàn trả). - Vốn của các tổ chức phi chính phủ (NGO). Nguồn vốn này chủ yếudùng vào mục đích nhân đạo, nhưng cần có cơ chế thu hút thích hợp và sửdụng, có hiệu quả hơn, đặc biệt trong việc cải thiện và phát triển các vấn đềxã hội. - Vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của tư nhân nước ngoài: đây là nguồn vốnkhá lớn và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một mặt, nó tạo điều kiện thuận lợicho quá trình chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật nghiệp vụ và tìm thịhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 10
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtrường tiêu thụ hàng hoá ổn định trong điều kiện Việt Nam còn thiếu kinhnghiệm kinh doanh trên trường quốc tế. Mặt khác vốn FDI gắn với tráchnhiệm bảo toàn và phát triển vốn của bên nước ngoài đỡ được gánh nặng nợnần của Chính phủ. - Vốn của Kiều dân Việt Nam làm ăn, sinh sống ở nước ngoài: NgườiViệt Nam định cư ở nước ngoài nói chung không có nhiều vốn như Kiều dâncủa một số nước khác như Trung Quốc, ... nhưng không phải là không có. Dođó một mặt phải xây dựng được chính sách thích hợp để thu hút đầu tư củahọ; mặt khác cần phát huy tiềm năng của Việt kiều làm cầu nối để thu hút vốncủa các quốc gia nơi họ sinh sống đầu tư vào Việt Nam. Thực tế ngày càng chứng tỏ rằng, nếu không huy động tốt và đủ cácnguồn vốn đầu tư trong nước thì rất khó có thể khai thác và sử dụng có hiệuquả những nguồn đầu tư lớn từ bên ngoài nhằm phục vụ định hướng phát triểnđất nước. Chính vì vậy trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế theođường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, chiến lược lâu dài củanước ta là tăng nhanh tiết kiệm nội địa, huy động tối đa nguồn vốn trongnước, nâng dần tỷ trọng vốn trong nước trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xãhội. 2 - Khuyến khích đầu tư trong nước 2.1. Nhận thức Khuyến khích đầu tư trong nước là việc sử dụng các cơ chế, chính sách,biện pháp, nhằm kích thích quá trình đầu tư các nguồn lực vào các ngành, lĩnhvực, địa bàn trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xãhội trong từng thời kỳ của đất nước. Để khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước, Nhà nước phải xâydựng, hoàn thiện một hệ thống các công cụ pháp lý và các biện pháp kinh tế,xã hội nhằm bảo hộ, bảo đảm đối xử bình đẳng với tất cả các chủ thể tham giahttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 11
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comhoạt động đầu tư, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầutư, quy định thủ tục hành chính, đơn giản tiện lợi cho các tổ chức, cá nhân đầutư vào các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội trên lãnh thổ theo những khungpháp lý cụ thể và theo các lĩnh vực, kế hoạch xác định cụ thể. Mục đích sự khuyến khích của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư là tạo cơhội cho các chủ thể tham gia đầu tư có thể huy động và sử dụng có hiệu quảnhất các nguồn vốn, tài nguyên, lao động... tạo thêm việc làm cho xã hội,nhằm thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đồngthời bảo hộ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, của người góp vốn đầu tư, tăngcường hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư, cải thiện ngàymột tốt hơn môi trường kinh doanh, định hướng và tụ hội các ý đồ đầu tư củacác chủ thể tập trung vào các ngành, vùng, lĩnh vực cần khuyến khích pháttriển, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, cơ cấu vùng theo hướngtiến bộ. Tuy các ý đồ cụ thể có khác nhau, song trên bình diện chung hầu hếtcác quốc gia đều hướng tới các mục đích đó. Để tạo khung pháp lý khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nướctrong điều kiện thực thi nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý và định hướng của Nhànước, ngày 22/6/1994 Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luậtkhuyến khích đầu tư trong nước (KKĐTTN). Luật này có hiệu lực thi hành từngày 1/1/1995. Để hướng dẫn thực hiện Luật này, ngày 12 tháng 5 năm 1995,Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/CP quy định chi tiết thi hành LuậtKKĐTTN. Đây là những văn bản pháp luật đầu tiên ở cấp Luật và cấp Nghịđịnh nhằm điều chỉnh các quan hệ chủ yếu về KKĐTTN ở nước ta. Tuy mớiđược triển khai thực hiện từ 1/1/1995, Luật KKĐTTN đã có những đóng gópđáng kể cho sự phát triển kinh tế đất nước đem lại những luận điểm, kết quảđáng mừng, góp phần thúc đẩy đáng kể hoạt động đầu tư trong nước.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 12
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Muốn khuyến khích một hoạt động nào đó, trước hết phải hình thànhđược ý tưởng khuyến khích. Khâu tiếp theo là phải thiết kế được cơ chế vậnhành cụ thể rồi tiến hành pháp lý hoá chung. Nói đến chính sách khuyếnkhích là nói trên tổng thể, trên những nét khái quát nhất thuộc lĩnh vực ýtưởng khuyến khích. ý tưởng đó có vào được cuộc sống hay không và mức độchấp nhận, thái độ của đông đảo quần chúng trong việc đón nhận ý tưởng đónhư thế nào phần nhiều phụ thuộc vào khâu thiết kế cơ chế vận hành và tínhchính xác, tính khách quan của khâu pháp lý hoá. Trong việc khuyến khíchđầu tư trong nước cũng vậy, muốn đạt được mục tiêu phát triển nào đó, trongnhững điều kiện lịch sử cụ thể thái độ khuyến khích cần được xác định rõràng. Đây cũng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo yêu cầu về tính nhất quáncủa chính sách. Khâu tiếp đến hết sức cơ bản là việc thiết kế cơ chế vận hànhcủa chính sách. Công việc này thường do các nhà chuyên môn kịp ra chínhsách thực hiện dưới sự chỉ đạo của các nhà chính trị. Khâu này phải bảo đảmthoả mãn 3 yêu cầu cùng một lúc: thể hiện được thái độ chính trị của nhànước trong việc khuyến khích, quy phạm hoá các quan hệ khuyến khích cầnđiều chỉnh bằng luật pháp và cuối cùng là bảo đảm khả năng chấp nhận củaquần chúng số đông (khía cạnh tâm lý xã hội). Thông thường khi ý tưởng chính sách khuyến khích phù hợp với lợi íchcủa đại đa số quần chúng nhân dân thì có thể khâu thể chế hoá chưa thực sựtốt thì khả năng đi vào cuộc sống của chính sách vẫn có thể bảo đảm. Đó làtrường hợp đã từng diễn ra trong đổi mới nông nghiệp Việt Nam thời kỳ"Khoán 100", và "Khoán 10", chỉ cần Đảng có chỉ thị cho phép, chưa đợi đếnsự pháp lý hoá đầy đủ của nhà nước thì khoán nông nghiệp đã diễn ra trêndiện rộng, như một trào lưu xã hội - kinh tế không thể đảo ngược. Tất nhiên,khi các quan hệ lợi ích ngày càng phức tạp thêm, đa dạng hơn, muốn tư tưởngkhuyến khích ngày càng tiếp tục đi vào cuộc sống mà không bị khúc xạ, thìtất yếu phải làm tốt khâu thể chế hoá. Và nói chung trong xã hội công nhân,Nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường thì không thể làm thiếu, làm yếuhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 13
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkhâu thể chế hoá. Sự thiếu nhạy cảm với những vấn đề có tính nguyên tắc nhưvậy trong quy trình quản lý nói chung, quản lý bằng pháp luật nói riêng đềulàm hạn chế tác dụng tích cực của chính sách khuyến khích. Hơn nữa trongtrường hợp do chỗ những đối tượng mà Nhà nước cần khuyến khích trongtừng thời kỳ không phải bao giờ cũng trùng hợp với nguyện vọng của mọingười dân (sự lệch pha nhất định giữa lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội và lợiích của cá nhân công dân) nên nếu không có sự thể chế tốt, sát hợp thì khó cóthể sử lý hài hoà các xung đột về lợi ích có thể có khi thực hiện chính sáchkhuyến khích, chính sách ưu đãi của Nhà nước. 2.2. Một số nội dung hỗ trợ và ưu đãi chủ yếu của Luật Khuyến khíchđầu tư trong nước năm 1994 Xét về mặt thời hiệu pháp lý, quá trình thực hiện các quy định pháp lý vềkhuyến khích đầu tư trong nước ở Việt Nam bao gồm hai giai đoạn chủ yếu:Một là từ 22/6/1994, ngày Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua LuậtKKĐTTN cho đến ngày 01/01/1999 ngày có hiệu lực của Luật KKĐTTN(sửa đổi) số 03/QH10; Hai là từ ngày 01/01/1999 đến nay. Trong thời kỳ thứnhất cũng có thể chia thành hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn thực hiện Nghị địnhsố 29/CP ngày 12/5/1995 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành LuậtKKĐTTN cho đến ngày 30/01/1998 ngày mà Nghị định số 07/1998/NĐ-CPthay thế Nghị định số 29/CP chính phủ; giai đoạn từ Nghị định 07 có hiệu lựcđến ngày 01/01/1999 tức là ngày Luật KKĐTTN (sửa đổi) số 03/QH10 cóhiệu lực - thực hiện Nghị định số 51/1999/NĐ-CP- cho đến nay. Xét về mặtkỹ thuật của vấn đề pháp lý có thể có một số điểm không giống nhau quy địnhtại các văn bản quy phạm, song xét về tư tưởng chính sách thì những nội dungvề khuyến khích, hỗ trợ, ưu đãi không cách nhau quá xa. Nhiều nội dung quyđịnh tại Luật KKĐTTN năm 1994 đã được các văn bản quy phạm pháp luậtsau đó hoàn thiện và bổ sung dần. Dưới đây là một số nội dung về hỗ trợ vàưu đãi mà Luật KKĐTTN đề cập.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 14
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Mục đích của Luật KKĐTTN được xác định rõ ràng ở căn cứ ban hànhLuật. Đó là, để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn, tài nguyênlao động và các tiềm năng khác của đất nước nhằm góp phần phát triển kinhtế xã hội, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. CảLuật 1994 và Luật 1998 đều quy định như vậy. Đồng thời cả hai Luật đềukhẳng định sự bảo hộ, sự khuyến khích của Nhà nước đối với mọi tổ chức,công dân đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên Luật 1998 còn nói rõ vàkhẳng định một sự "đối xử bình đẳng", "sự tạo điều kiện thuận lợi" của Nhànước đối với các chủ thể tham gia đầu tư. 2.2.1. Luật quy định ba loại hình đầu tư được áp dụng theo Luật Khuyếnkhích đầu tư trong nước bao gồm: a - Dự án đầu tư thành lập và phát triển cơ sở sản xuất kinh doanh mớithuộc mọi thành phần kinh tế. b - Đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh ,nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ của các cơ sở sản xuất kinh doanhhiện có. c - Mua cổ phần của các doanh nghiệp, góp phần vốn vào các doanhnghiệp, kể cả doanh nghiệp Nhà nước được phép đa dạng hoá hình thức sởhữu. 2.2.2.Đối tượng khuyến khích đầu tư trong nước Trên cơ sở đó, Nghị định 29/3 CP, Nghị định số 07/1998/NĐ-CP cụ thểhoá các đối tượng khuyến khích đầu tư của Luật KKĐTTN gồm: a - Các doanh nghiệp được thành lập theo Luật Công ty, Luật Doanhnghiệp tư nhân, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệpcủa các tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp và cá nhân, nhóm kinhdoanh hoạt động theo Nghị định số 66/HĐBT ngày 2 tháng 3 năm 1992 củaHội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 15
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com b - Tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam mua cổ phần hoặc góp vốn vàocác doanh nghiệp trong nước kể cả các doanh nghiệp Nhà nước được đa dạnghoá sở hữu hoặc các quỹ đầu tư tự chủ tài chính. c - Doanh nghiệp do người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư trựctiếp tại Việt Nam. d - Doanh nghiệp do người nước ngoài cư trú lâu dài tài Việt Nam đầu tưtrực tiếp tại Việt Nam. e - Doanh nghiệp do công dân Việt Nam cùng thành lập với người ViệtNam định cư ở nước ngoài, với người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam. 2.2.3 - Các biện pháp hỗ trợ đầu tư: gồm 7 biện pháp: a - Giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai. b - Xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp (KCN) để cho thuêlàm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh. c - Lập và khuyến khích các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay đầu tư trunghạn và dài hạn. Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của các quỹ hỗtrợ đầu tư. d - Góp vốn thông qua các quỹ hỗ trợ đầu tư, Ngân hàng Thương mại,Công ty Tài chính, vào các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phầnkinh tế trên cơ sở cùng có lợi. e - Quy định việc bảo lãnh tín dụng đầu tư của các Ngân hàng, Tổ chứctín dụng và Công ty tài chính. g - Phổ biến và chuyển giao công nghệ; tạo điều kiện cho các chủ đầu tưđược sử dụng với mức phí ưu đãi các công nghệ mới, tạo ra từ vốn ngân sáchNhà nước.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 16
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com h - Hỗ trợ việc tổ chức thực hiện các chương trình, dịch vụ khuyến khíchđầu tư gồm: Tư vấn quản lý kinh doanh, tư vấn pháp lý, tổ chức dạy nghề vàđào tạo cán bộ kỹ thuật, đào tạo và nâng cao kiến thức quản lý cung cấp thôngtin kinh tế. 2.2.4 - Các dự án đầu tư được hưởng ưu đãi: Luật KKĐTTN dành một chương quy định về các nội dung ưu đãi đầu tưbắt đầu bằng việc xác định rõ các loại dự án được hưởng ưu đãi. LuậtKKĐTTN còn quy định các dự án đầu tư được hưởng ưu đãi như: 2.2.4.1 - Các dự án đầu tư Đầu tư vào các lĩnh vực: a) Trồng rừng, trồng cây trên đất chưa sử dụng, tận dụng, khai thác đấttrống, đồi núi trọc vào mục đích kinh doanh; nuôi trồng thuỷ sản ở các vùngnước chưa được khai thác, đánh bắt hải sản ở vùng biển xa bờ, chăn nuôi đạigia súc tập trung. b) Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, phát triển vận tải công cộng đô thị;phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá dân tộc; nghiên cứu khoahọc, công nghệ. c) Chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản, các dịch vụ kỹ thuật trực tiếpphục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. d) Sản xuất hàng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu. e) Các ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển (trong thời kỳ1995-2000), ngoài các ngành nghề đã nêu ở trên. g) Đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghiệp cao. 2.2.4.2 - Các dự án đầu tư ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hảiđảo,quy định tại danh mục B (danh mục B ban hành kèm theo các Nghị địnhhướng dẫn của Chính phủ). 2.2.4.3 - Đầu tư vào các vùng khó khăn theo quy định tại danh mục C.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 17
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 2.2.4.4 - Đầu tư thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng công nghệhiện đại, ít nhất có một trong các tiêu chuẩn quy định dưới đây: a) Công nghệ tạo ra sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm thay thế hàng nhậpkhẩu. b) Công nghệ áp dụng có khả năng tạo ra sự đổi mới công nghệ, thiết bịcủa các ngành khác. c) Công nghệ sử dụng nguyên vật liệu trong nước để làm ra sản phẩmđạt các chỉ tiêu chất lượng cao hơn so với các sản phẩm đã có cùng loại. d) Công nghệ sạch, công nghệ sử dụng các chất phế thải rắn, lỏng, khí. 2.2.4.5 - Đầu tư vào các dự án sản xuất, kinh doanh sử dụng số lao độngbình quân trong năm ít nhất là: a) ở đô thị loại 1 và loại 2: 100 người. b) ở các vùng, huyện thuộc vùng dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo vàcác vùng khó khăn khác (được quy định tại danh mục B và C Nghị định07/1998/ND-CP): 20 người. c) Các vùng khác: 50 người. 2.2.5 - Các nội dung ưu đãi chủ yếu theo Luật Khuyến khích đầu tưtrong nước: Từ 2 và 1 xác định các loại dự án được hưởng ưu đãi, Luật KKĐTTN vàcác văn bản Nghị định của Chính phủ quy định và cụ thể hoá các nội dung ưuđãi chủ yếu theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, đó là: 2.2.5.1 - Ưu đãi về thuế: Luật KKĐTTN quy định việc miễn, giảm đối với các loại thuế như: thuếdoanh thu, thuế lợi tức, thuế tài nguyên (Nghị định số 07 quy định thêm trêncơ sở quy định của Luật thuế tài nguyên), thuế thu nhập cá nhân, kể cả thuếhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 18
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthu nhập bổ sung đối với người có thu nhập cao, thuế chuyển lợi nhuận ranước ngoài, và thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị. 2.2.5.2 - Ưu đãi về đất đai: Một số dự án được Nhà nước giao đất thì không phải trả tiền sử dụngđất, còn những dự án phải thuê đất thì có các chế độ miễn giảm tiền thuê đấttheo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. 2.2.5.3 - Ưu đãi về vay vốn từ Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia, bảo lãnh tíndụng và vay tín dụng xuất khẩu. Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia thực hiện chức năng hỗ trợ thông qua việccho vay vốn trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi cho các dự án đầu tư thuộcdanh mục B và danh mục C. Chủ đầu tư có thể dùng tài sản mua bằng vốnvay để thế chấp cho các dự án đầu tư thuộc danh mục A, danh mục B và danhmục C được bảo lãnh tín dụng đầu tư. Luật cũng quy định cho Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia nhiệm vụ trợ cấpmột phần lãi suất cho các khoản vay từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển và cácNgân hàng Thương mại Quốc doanh đối với các dự án đầu tư vào các ngànhnghề thuộc danh mục A. 2.2.5.4 - Ưu đãi đối với riêng những doanh nghiệp sản xuất hàng xuấtkhẩu được xác định thêm các ưu đãi: Những doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được quyền trực tiếp xuấtkhẩu hàng hoá do mình sản xuất; tuỳ lĩnh vực hoạt động có thể được giảmmức vốn lưu động và được bảo lãnh cho vay hoặc cho vay tín dụng xuất khẩu. Như vậy những nội dung hỗ trợ và ưu đãi đầu tư quy định tại LuậtKKĐTTN và các văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành là khá phong phú.Vấn đề còn lại là việc tổ chức triển khai những nội dung trong thực tế như thếnào để mọi chủ đầu tư có dự án thuộc diện khuyến khích, hỗ trợ có thể nhậnhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 19
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđược sự ưu đãi một cách nhanh nhất, đúng đắn nhất theo quy định và tinhthần khuyến khích của Luật. 3 - Kinh nghiệm một số nước về khuyến khích đầu tư trong nước Chính sách đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua đã bướcđầu khơi dậy được những tiềm năng, động lực to lớn trong nhân dân, phát huynghị lực, kinh nghiệm, trí sáng tạo của người dân để kinh doanh thúc đẩy sựphát triển kinh tế xã hội của đất nước. Chính sách đó đã được sự ủng hộ vàđồng tình của đông đảo quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, kết quả quan trọng đó vẫn còn nhiều mặt hạn chế, còn thấpxa so với tiềm năng có thể và cần khai thác, cũng như chưa tương xứng vớiyêu cầu của công cuộc phát triển. Đất nước ta đang chuyển sang một giaiđoạn phát triển mới, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng đòi hỏisự phát triển phải có tính ổn định vững chắc hơn và nhịp độ tăng trưởng phảiduy trì được ở mức cần thiết. Điều đó đòi hỏi bên cạnh việc tìm mọi biệnpháp thu hút tốt hơn các nguồn vốn từ bên ngoài phải hết sức coi trọng việckhơi thông các nguồn vốn đầu tư trong nước bảo đảm cho các nguồn vốn nàyngày càng có vị trí quan trọng trong hoạt động đầu tư, thể hiện rõ dần vai tròquyết định trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kinh nghiệm thành công của nhiều nước trên Thế giới cho thấy, khôngmột nước nào đã phát triển kinh tế thành công mà chỉ duy nhất dựa vào nguồnvốn từ nước ngoài. Nếu như trong giai đoạn đầu, khi đất nước còn nghèo vàchưa phát triển, tỷ lệ vốn nước ngoài có thể cao, song trong toàn bộ quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với quá trình phát triển, tỷ lệ vốn nướcngoài thường thấp hơn so với tỷ lệ vốn trong nước và theo thời gian, cácnguồn vốn trong nước ngày càng chiếm vị trí quyết định. Đó là thực tế và làyêu cầu khách quan của sự phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm được sựđộc lập của nền kinh tế trong quá trình phát triển và hội nhập. Đó cũng còn làđiều kiện khách quan cho sự độc lập về thể chế chính trị của một đất nước.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 20
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Xuất phát từ luận điểm trên và đáp ứng ý nguyện của nhân dân trongnước và Việt kiều ở nước ngoài, nhất là của giới kinh doanh, Nhà nước ViệtNam đã và đang cho xúc tiến mạnh mẽ quá trình chuẩn bị khung pháp lý cầnthiết để tạo môi trường thu hút mọi nguồn vốn tiềm tàng trong dân đầu tư vàosản xuất kinh doanh. Nhằm phục vụ mục tiêu đó, bên cạnh việc điều tranghiên cứu hiện trạng trong nước, việc nghiên cứu những kinh nghiệm quốctế, đặc biệt là kinh nghiệm về xây dựng pháp luật về khuyến khích đầu tư củacác nước là hết sức quan trọng và cần thiết. Đầu tư là một trong những yêu cầu quan trọng và cần thiết nhất của tăngtrưởng và phát triển kinh tế nên chính phủ của nhiều nước đặc biệt là cácnước đang phát triển luôn quan tâm đến việc huy động vốn và chuyển nguồnvốn huy động được vào đầu tư phát triển. Những công cụ hay biện pháp huyđộng vốn vào đầu tư mà các nước thường sử dụng là ban hành và thực thiLuật về thúc đẩy hay khuyến khích đầu tư. Nhìn chung các đạo luật này đềunhằm mục đích thúc đẩy hoạt động đầu tư trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế,đồng thời nó cũng hướng đầu tư vào một số lĩnh vực ưu tiên phát triển nhấtđịnh của đất nước. Cho đến nay, có thể nói, hầu hết các nước Châu á đã ban hành các đạoluật thúc đẩy đầu tư. Chẳng hạn như: 3.1 - Luật thúc đẩy đầu tư của Malaysia: ra đời năm 1986 quy định: chếđộ khuyến khích và ưu đãi đầu tư cho từng lĩnh vực công nghiệp, nôngnghiệp, du lịch. Ngoài ra, trong ưu đãi đối với từng ngành, có các biện phápưu đãi khuyến khích đầu tư chung và ưu đãi đầu tư theo mục tiêu. Ví dụ: Đối với ngành công nghiệp, các biện pháp ưu đãi đầu tư chungbao gồm: miễn thuế lợi tức tối đa 10 năm cho các dự án thuộc lại ưu tiên;được hưởng chế độ trợ cấp đến 100% số vốn đầu tư thực hiện trong 5 nămđầu, kể từ khi thông qua dự án, trợ cấp cho tái đầu tư với mức tối đa là 40%số vốn tái đầu tư.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 21
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Ngoài ra Malaysia còn có biện pháp khuyến khích đầu tư cho xuất khẩu(như cấp tín dụng xuất khẩu và lãi suất ưu đãi, khấu trừ ra khỏi thuế lợi tứcmột khoản bằng 5% giá trị nguyên liệu trong nước được sử dụng để sản xuấthàng xuất khẩu, tính gấp đôi phí bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, trợ cấp xuấtkhẩu...) . Quy định các biện pháp khuyến khích đầu tư nghiên cứu và phát triểnnhư khấu trừ mọi chi phí liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học docông ty thực hiện hoặc được thực hiện nhân danh công ty, nhằm mục đíchphục vụ cho hoạt động đầu tư kinh doanh của công ty ra khỏi lợi tức chịuthuế. Các biện pháp khuyến khích cho đào tạo gồm: trợ cấp xây dựng nhàxưởng phục vụ cho công tác đào tạo, tính gấp đôi chi phí đào tạo công nhân ởcác Viện đào tạo được Nhà nước công nhận. Đối với ngành Nông nghiệp, các biện pháp ưu đãi chung bao gồm: miễnthuế lợi tức tối đa 10 năm cho các công ty chế biến sản phẩm nông nghiệphoặc đủ các điều kiện do Bộ Thương mại và Công nghiệp quy định, được trợcấp cho đến 100% chi tiêu đầu tư thực hiện trong 5 năm đầu. Ngoài ra lĩnh vực này cũng có các biện pháp khuyến khích xuất khẩu,khuyến khích nghiên cứu và phát triển và khuyến khích đào tạo giống nhưcông nghiệp. Đối với ngành du lịch các biện pháp ưu đãi chung giống như ngành côngnghiệp, đồng thời những người thực hiện du lịch lữ hành hàng năm đưa vàoMalaysia ít nhất 500 khách du lịch thì được miễn thuế thu nhập đối với phầnthu nhập thu được từ kinh doanh du lịch theo hình thức này. Ngoài chế độ ưu đãi riêng cho từng ngành như trên, đạo luật thúc đẩyđầu tư của Malaysia còn quy định một số biện pháp khuyến khích đầu tưchung cho tất cả các ngành như: miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị nhậpkhẩu phục vụ cho các dự án đầu tư, các nguyên liệu, vật liệu để sản xuất, chếbiến hàng xuất khẩu, hoàn thuế doanh thu đối với nguyên liệu, vật tư sản xuấthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 22
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtrong nước được sử dụng sản xuất hàng xuất khẩu hoặc đóng gói hàng xuấtkhẩu. 3.2 - Luật thúc đẩy đầu tư của Thailand Năm 1977, Luật thúc đẩy đầu tư của Thailand được ban hành và nó đượcsửa đổi vào năm 1992. Luật này có điểm khác so với Luật của các nước kháclà nó áp dụng cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Luật này quy định các tiêu chuẩn chủ yếu để được cấp ưu đãi đầu tư nhưsố vốn, loại sản phẩm dịch vụ, mức độ sử dụng nguyên liệu trong nước, mứcđộ sử dụng công nhân và chuyên gia trong nước, bảo vệ môi trường... Cácbiện pháp ưu đãi chủ yếu như miễn thuế lợi tức tối đa 8 năm, chế độ miễngiảm thuế nhập khẩu, miễn thuế thu nhập cổ phần... Ngoài ra, còn có các ưu đãi đặc biệt thêm cho các dự án đầu tư vào cácvùng ưu tiên đầu tư và các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu. 3.3 - Hai đạo luật đầu tư riêng rẽ của Indonesia Đó là Luật đầu tư nước ngoài (1967) và Luật đầu tư trong nước (1968).Đây là các đạo luật điều chỉnh các quan hệ chủ yếu về đầu tư của Indonesia.Các biện pháp ưu đãi chủ yếu quy định trong Luật về đầu tư trong nước củaIndonesia bao gồm: - Miễn thuế tài sản đối với vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên. - Vốn đầu tư thực hiện trong 5 năm đầu không bị điều tra về nguồn gốc,không phải là đối tượng đánh thuế. - Thời hạn miễn thuế lợi tức tối đa cho một dự án là 6 năm và tối thiểu là2 năm. - Miễn phí thuế thu nhập đối với lợi tức cổ phần trong thời hạn tươngứng. - Hoàn thuế lợi tức đối với lợi nhuận tái đầu tư.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 23
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Miễn, giảm thuế nhập khẩu đối với tư liệu nhập khẩu. 3.4 - Chính sách khuyến khích đầu tư ở Đài Loan Các chính sách khuyến khích đầu tư ở Đài Loan được thực hiện chủ yếubằng các biện pháp khuyến khích về thuế và được quy định trong "quy chếkhuyến khích đầu tư" ban hành năm 1960 Bên cạnh đó ở Hàn Quốc giải pháp chủ yếu để khuyến khích đầu tưtrong nước là phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để thực hiện sách lượcnày, Nhà nước đã ban hành 9 đạo luật có liên quan, trong đó quan trọng nhấtlà "Đạo luật thúc đẩy phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ". Từ việc nghiên cứu các Luật, các quy định pháp lý về khuyến khích đầutư của một số nước Châu á có thể thấy tuỳ theo đặc điểm kinh tế, địa lý, chínhtrị, xã hội, dân tộc, tôn giáo... của từng nước mà chính sách khuyến khích đầutư sử dụng ở mỗi nước mang những sắc thái và đặc thù riêng của mình, nhưngvề bản chất kinh tế, chúng có nhiều nét chung có thể rút ra để tham khảo.Những điểm chung đó là: Thứ nhất: tất cả các nước đều rất coi trọng nguồn vốn trong nước, coiviệc định hướng ưu tiên khuyến khích đầu tư phát triển một số lĩnh vực kinhtế chủ yếu, một số vùng trọng điểm, trong từng thời kỳ là yếu tố đẩy nhanh sựphát triển của đất nước. Hai là: Nhận thức rõ ràng muốn thu hút được vốn đầu tư từ nguồn tiếtkiệm trong dân, thì Nhà nước phải có trách nhiệm tạo lập được môi trườngđầu tư thuận lợi. Môi trường đó bao gồm: sự bảo hộ về pháp lý, bảo đảm antoàn cho đầu tư, sự rõ ràng, ổn định và nhất quán về luật pháp, sự bảo đảm vềđiều kiện hạ tầng cơ bản cho đầu tư (đường sá, cầu cống, bến cảng, điện nước,giáo dục, đào tạo, phát triển và dịch vụ ngân hàng tài chính...) sự hỗ trợ nhiềumặt của Chính phủ.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 24
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Ba là: Các biện pháp "xúc tác “ rất đa dạng và phong phú để thu hút đầutư. Các biện pháp đó có thể quy tụ về hai nhóm chính: Chính sách thuế vàchính sách không phải thuế. Người ta đã liệt kê được gần 30 biện pháp khuyến khích thuế khoá màcác nước châu á đã sử dụng (xem thêm biểu 1) trong đó có 11 biện pháp được5 nước Asean áp dụng. Đó là: 1. Miễn thuế lợi tức . 2. Miễn thuế cổ tức 3. Trợ cấp đầu tư . 4. Chuyển lỗ. 5. Khấu hao nhanh. 6. Miễn thuế nhập khẩu. 7. Trợ cấp tái đầu tư. 8. Dự án ưu tiên. 9. Sử dụng lao động. 10. Mở rộng kinh doanh. 11. Khuyến khích xuất khẩu.. Các biện pháp "không thuế khoá" tuy không đa dạng bằng các khuyếnkhích thông qua thuế, và giữ vị trí ưu tiên khác nhau tại mỗi nước, nhưng nhìnchung cũng rất được coi trọng. Trọng tâm của nhóm giải pháp này là tạo "mặtbằng" pháp lý, "mặt bằng “ đầu tư thuận lợi thông qua việc ban hành và củngcố các văn bản pháp luật kinh doanh, giảm thiểu các thủ tục hành chính, xâydựng kết cấu hạ tầng, củng cố hệ thống Ngân hàng, Tài chính, Kế toán, hỗ trợđào tạo kiến thức kinh doanh, tay nghề, mở rộng dịch vụ thông tin, tư vấn. Lịch sử đã chứng minh thành công trong chính sách khuyến khích đầu tưcủa một số nước trong khu vực và trên thế giới. Những chính sách này đã gópphần không nhỏ vào những thành công của các quốc gia đã biết đặt ra nhữngbiện pháp kích thích đúng đắn, hợp lòng dân.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 25
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Mặt khác một chính sách khuyến khích sai lệch có thể đưa đến nhữngkhoản chi phí khổng lồ, kém hiệu quả hoặc gây tổn thất cho ngân sách Nhànước, tạo điều kiện và tạo những lợi thế không đáng có cho một số đối tượngnhất định dễ đưa đến nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh và đặc biệt có thểtạo ra "mảnh đất" tiêu cực, tham nhũng. Do vậy việc lựa chọn các biện phápkhuyến khích đầu tư phải được cân nhắc thận trọng, kỹ càng. Có thể nói đâylà một bài học kinh nghiệm quý báu cho chúng ta trong quá trình soạn thảo,ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khuyến khích đầu tưnói chung và đầu tư trong nước nói riêng.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 26
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Biểu 1: Tổng hợp các biện pháp ưu đãi đầu tư được sử dụng ở một số nước châu ÁST Loại ưu đãi Indonesia Malaysia Đài Loan Hàn Quốc Thái Lan T1 Miễn thuế lợi tức * * * * *2 Miễn thuế thu nhập đối với lợi tức * * * * * cổ phần3 Trợ cấp đầu tư * * * * *4 Chuyển lỗ trong thời kỳ được * * * * * miễn sang thời kỳ đã hết hạn miễn5 Khấu hao nhanh TSCĐ * * * * *6 Miễn thuế nhập khẩu đối với máy * * * * * móc thiết bị7 Trợ cấp tái đầu tư * * * * *8 Tín dụng xuất khẩu với lãi suất ưu * * * * * đãi9 Hoàn lại thuế đối với nguyên liệu, * * * * * vật liệu được sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu10 Ưu đãi đối với đầu tư N/c Khoa * * * * * học và phát triển11 Khuyến khích đối với đào tạo và * * * * * nâng cao tay nghề12 Ưu đãi đối với đầu tư để phát * * * * * triển những vùng khó khăn13 Khuyến khích phát triển công * * nghiệp vừa và nhỏ14 Miễn thuế TS đối với vốn đầu tư * *http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 27
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Phần IITHỰC TRẠNG KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC Ở NƯỚC TA NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY I. Thời kỳ trước khi có Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994 Sau khi kết thúc hai cuộc chiến tranh biên giới, tình hình đất nước bắtđầu ổn định để có thể tập trung phát triển kinh tế. Nghị quyết Trung ươngĐảng lần thứ 6 (Khoá IV) đã đặt quan điểm nền tảng đầu tiền về chiến lược,chính sách, cơ cấu và cơ chế quản lý kinh tế. Trên cơ sở về những định hướngđó, ở các địa phương xuất hiện nhiều phong trào của quần chúng, của cơ sởsản xuất vừa tự giác, vừa tự phát nhằm thoát khỏi những ràng buộc của cơ chếcũ đồng thời tìm lối ra riêng cho đơn vị mình. Hợp thức hoá phong trào quần chúng và trên cơ sở các định hướng đổimới của Đảng được xác định ở Nghị quyết TƯ 6 (Khoá IV), thời kỳ này, Nhànước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm hạn chế, tiến tới xoá bỏnhững trì hãm của cơ chế cũ, tạo môi trường thuận lợi cho cơ chế mới vànhân tố mới xuất hiện. Có thể nói đây là phong trào mang tính chất toàn dân,diễn ra sôi động theo nhiều khuynh hướng khác nhau và trong tất cả các lĩnhvực của đời sống kinh tế xã hội. Khởi đầu quá trình này là những chuyển biếntrong cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Ngày 13/1/1981 Bộchính trị BCH TƯ Đảng Cộng Sản Việt Nam ra Chỉ thị 100 về khoán sảnphẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động. Đây là bước ngoặt đầu tiên trựctiếp công phá vào thành trì hành chính quan liêu bao cấp trong nông nghiệpđặc biệt là khu vực hợp tác xã. Cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động đã bướcđầu khôi phục lại được động lực lợi ích vật chất của người lao động mà saunhiều năm đã bị thui chột do mô hình hợp tác xã kiểu cũ. Dưới tác động củacơ chế khoán mới, người nông dân bắt đầu thấy được vai trò của mình tronghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 28
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comquá trình tái sản xuất, thấy được lợi ích trực tiếp của mình trên mảnh ruộng domình canh tác. Cùng với khu vực nông nghiệp, khu vực công nghiệp cũng có một vàicải cách trong các xí nghiệp quốc doanh. Quyết định 217/HĐBT;146/HĐBT...khuyến khích việc khai thác các tiềm năng sẵn có trong xí nghiệp thông quacơ chế "3 phần kế hoạch"; "4 nguồn khả năng"; trong chừng mực nhất địnhgiúp các xí nghiệp hoàn thành tốt các khu vực pháp lệnh của Nhà nước giao,mở rộng kế hoạch bổ sung nhằm khai thác tiềm năng của mình và cải thiệnđời sống cho người lao động. Những cơ chế chính sách đó đã bắt đầu mang đến một luồng gió mới,khơi dậy các hoạt động sản xuất kinh doanh vốn đã bị ngưng trệ lâu ngàytrong thiết chế kinh tế hiện vật tập trung. Tuy nhiên sau một thời gian triểnkhai, các chính sách mới cũng bắt đầu bộc lộ nhược điểm, cần phải được điềuchỉnh, bổ sung. Chính vì vậy đến năm 1998. Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 vềđổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp tại đây hộ gia đình xã viên được xác lậplà đơn vị kinh tế chủ quản tự chủ, chứ không còn dừng ở mức độ là hộ nhậnkhoán. Có thể nói, đây là chính sách có ý nghĩa bước ngoặt trong đổi mới,khuyến khích nông nghiệp phát triển. Việc chuyển vai trò từ hợp tác xã sanghộ gia đình xã viên như vậy đã tạo ra một động lực lớn kích thích phát triểnkinh tế nông thôn. Hộ gia đình xã viên được tự chủ tính toán, cân nhắc cácphương án sản xuất kinh doanh trên mảnh ruộng của mình. Đồng thời, khu vực công nghiệp cũng tiến hành một số cải cách theohướng mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh cho đơn vị kinh tế cơ sở.Từ đây các xí nghiệp bắt đầu thực hiện cơ chế hạch toán kinh doanh độc lập,chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vịmình. Hướng đi mới này đã góp phần kích thích các doanh nghiệp phát huyhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 29
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.commạnh mẽ năng lực sáng tạo, không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, tận dụng mọi nguồn lực sẵn có để phát triển sản xuất kinh doanh. Nhìn chung trong bối cảnh cụ thể , các cơ chế chính sách này đã pháthuy tác dụng rất lớn ,giải toả được những ràng buộc của cơ chế cũ , mở ra vàtạo đà cho những cơ hội mới phát triển. Sự khuyến khích , sự kích thích đượcbiểu hiện chủ yếu ở khả năng giải toả từng bước những cản trở của cơ chế cũtoòn tại khá lâu từ trước , chưa đủ điều kiện xác lập đồng bộ cơ chế mới cũngnhư việc định ra các biện pháp cụ thể về kinh tế tài chính. Khuyến khích cáchoạt động đầu tư. Vì vậy cùng với thời gian, nó cũng ngày càng bộc lộ rõnhững hạn chế, những kìm hãm mới đối với sự phát triển kinh tế và trong mộtchừng mực nhất định đã xuất hiện tình trạng phân tán, buông lỏng quản lý,thậm chí vô Chính phủ ở khá nhiều ngành, địa phương, đơn vị kinh tế cơ sở.Có nhiều nguyên nhân của tình trạng này, trong đó nguyên nhân do khuônkhổ pháp lý của cơ chế mới chưa được xác lập đồng bộ, đầy đủ; nhiều quanđiểm về đổi mới, về khuyến khích chưa được xác lập một cách có căn cứ khoahọc vững chắc. Thực trạng đó một mặt đòi hỏi tiếp tục tổng kết thực tiễn,nghiên cứu lý luận làm cơ sở cho việc ban hành cơ chế chính sách có căn cứkhoa học xác đáng; về phía quản lý Nhà nước, phải ban hành các văn bản quyphạm pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý bảo đảm cho quá trình đổi mớidiễn ra an toàn và đúng hướng. II. Từ khi có Luật Khuyến khích đầu tư trong nước đến nay Nhằm tiếp tục tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt độngkinh tế và đầu tư, bên cạnh một hệ thống văn bản pháp luật đã ban hành vàđang đi vào cuộc sống, ngày 22/6/1994, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước(Luật KKĐTTN) đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1 tháng1 năm 1995. Đây là văn bản Luật đầu tiên điều chỉnh các quan hệ chủ yếu vàKKĐTTN ở nước ta. Luật KKĐTTN ra đời bắt nguồn từ sự bức bách củacuộc sống, nên chí ít đã đưa vào môi trường đầu tư trong nước, ở thời buổihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 30
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchuyển trạng thái đó, một yếu tố pháp lý Nhà nước vốn là viên đá tảng đảmbảo cho nền kinh tế thị trường có thể phát triển. Có thể nói, những tư tưởng về phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần, vận hành trong cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng XHCN được biểu hiện khá rõ ràng trong Luật này cũng nhưở một số văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành. Nhờ vậy, Luật KKĐTTN đãđi vào cuộc sống, bước đầu phát huy tác dụng thực tế. Tuy nhiên như đã trìnhbày ở phần trên để thấy rõ hơn mặt kỹ thuật pháp lý của vấn đề có tác dụngnhư thế nào trong việc hướng dẫn, triển khai các quy định và tinh thần củaLuật cần nghiên cứu tiến trình diễn biến thực tế qua các giai đoạn: Giai đoạnthực hiện Nghị định 29/CP (từ 12/5/1995 đến 30/1/1998, tức là thực chất đếnhết năm 1997); Giai đoạn thực hiện Nghị định 07/1998/NĐ-CP (từ 30/1/1998đến ngày 1/1/1999, ngày Luật KKĐTTN (sửa đổi) số 03/1998/QH 10 có hiệulực tức là đến hết năm 1998); Giai đoạn từ 01/01/1999 đến nay (giai đoạnthực hiện Luật KKĐTTN (sửa đổi) và Nghị định số 51/1999/NĐ-CP (ngày8/7/1999). 1. Giai đoạn thực hiện Nghị định 29/CP (12/5/1995 - 30/1/1998) Đây là giai đoạn chúng ta đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu của kế hoạch5 năm 1995-2000, trong xu thế cùng với việc đẩy mạnh các hoạt động hợp tácđầu tư với nước ngoài, chúng ta đặc biệt quan tâm khơi dậy các nguồn lực đầutư trong nước với tư cách là nguồn nội lực, là yếu tố quyết định tốc độ tăngtrưởng cao và bền vững của nền kinh tế. Triển khai chủ trương đúng đắn đó, trong quản lý và điều hành vĩ mô,chúng ta đã thực thi hàng loạt giải pháp mà nổi bật nhất là ba loại giải pháplớn: Thứ nhất: Tiếp tục xác lập và hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạtđộng kinh tế và đầu tư.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 31
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Thứ hai: Đẩy mạnh việc sử dụng lực lượng tài chính của Nhà nước đểcan thiệp và bổ sung thị trường vốn đầu tư. Thứ ba: Cả Nhà nước và nhân dân, các cá nhân và xã hội dấy lên phongtrào hỗ trợ những công dân lập thân, lập nghiệp. Những giải pháp lớn đó được cụ thể hoá thông qua các chương trình kếhoạch và đã đi vào cuộc sống với các mức độ khác nhau. Việc triển khai LuậtKKĐTTN thông qua Nghị định 29/CP được tiến hành trong bối cảnh đó, tuythực tế vận hành khá nhiều vướng mắc xuất hiện, nhưng đã bắt đầu phát huytác dụng trong thời kỳ kế hoạch này. Sau 3 năm thực hiện Luật KKĐTTN, gần 3 năm thực hiện Nghị định 29/CP, tính đến ngày 31/12/1997 trong 55 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngcó báo cáo về tình hình thực hiện Luật KKĐTTN cho thấy Luật KKĐTTN đãđược đón nhận và hưởng ứng một cách tích cực. Việc triển khai thực hiệnLuật KKĐTTN, Nghị định và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, Ngành cóliên quan ở các địa phương là tương đối khẩn trương và đúng quy định. Nhiềutỉnh đã tập trung tập huấn nội dung cơ bản của Luật, Nghị định và các văn bảnhướng dẫn của các Bộ, Ngành, cho cán bộ các Sở, Ban, Ngành cấp Tỉnh,Thành phố, và Giám đốc các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần. Trong điềukiện hệ thống văn bản hướng dẫn chưa đồng bộ, nhiều điểm chưa cụ thể,nhưng nhờ sự tổ chức, phối hợp chặt chẽ các bộ phận chức năng ở địaphương, việc tổ chức cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư được tiến hành theođúng các thủ tục cần thiết. Theo số liệu thống kê của Vụ Doanh nghiệp (đơn vị được giao giúp Bộtrưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện chức năng quản lý Nhà nước vềKhuyến khích đầu tư theo quy định của Luật KKĐTTN và sự phân công củaChính phủ tại các Nghị định có liên quan), tính đến ngày 31/12/1997 cả nướcđã cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư cho hơn 963 dự án với tổng số vốn đầutư hơn 8106 tỷ đồng. Trong đó có 35 dự án thuộc khu vực doanh nghiệp dohttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 32
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comTƯ quản lý, chiếm 3,6% trong tổng số dự án được cấp Giấy chứng nhận ưuđãi đầu tư trong cả nước với tổng số vốn đầu tư của các dự án là 1.299,733 tỷđồng, chiếm 16% trong tổng số vốn đầu tư của các doanh nghiệp được cấpGiấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. 928 dự án thuộc khu vực doanh nghiệp do địaphương quản lý với tổng số vốn đầu tư của các dự án là 6.806,736 tỷ đồng,chiếm 84% trong tổng số vốn đầu tư của các dự án được cấp ưu tiên đầu tưtrong cả nước (xem thêm Biểu 2). Trong đó riêng năm 1997, số dự án được cấp ưu đãi đầu tư gấp 2,36 lần,số vốn đầu tư gấp 5,13 lần năm 96. Cùng với việc khuyến khích các doanhnghiệp trong nước, các địa phương cũng đã cấp iấy ưu đãi đầu tư theo LuậtKKĐTTN cho 107 dự án của người Việt Nam định cư ở nước ngoài và ngườinước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam đầu tư trực tiếp tại Việt Nam với tổngsố vốn đầu tư hơn 105,625 tỷ đồng. Trong đó số dự án thành lập mới doanhnghiệp chiếm 83,17%; mua cổ phần, góp vốn chiếm 16,83% góp phần đángkể hạn chế tình trạng đầu tư chui, của Việt kiều diễn ra ở một số nơi mà Nhànước không kiểm soát được. Biểu 2: Tình hình cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư tính đến 31/12/1997 (thực hiện NĐ 29/CP) Đơn vị tính: Triệu đồng Cấp quản lý D.N Tổng Tổng số Đầu tư mới Đầu tư mở rộng số dự vốn đầu án tư Số DA Số VĐT Số DA Số VĐT DN do TƯ quản lý 35 1.299.733 2 38.329 33 1.261.404 % so với tổng số (%) 3,6 16,0 0,5 0,8 6,3 35,2 DN do địa phương 928 6.806.736 433 4.483.219 495 2.323.516 quản lý % so với tổng số (%) 96,4 84,0 99,5 99,2 93,7 64,8 Tổng số 963 8.106.469 435 4.521.548 528 3.584.920 Nguồn: Tính toán từ báo cáo của 55 Sở KH & ĐT tỉnh thành phố và Vụ Doanhnghiệp, Bộ KH & ĐT năm 1997.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 33
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Để có một hình dung cụ thể hơn về tình hình khuyến khích đầu tư trênphạm vi cả nước, có thể phân tích thêm một số khía cạnh chính của vấn đềliên quan đến cơ cấu đầu tư. 1.1. - Quan hệ giữa đầu tư mới và đầu tư mở rộng. Cơ cấu giữa đầu tư mới và đầu tư mở rộng có một sự chênh lệch khá lớn.Chẳng hạn trong khu vực doanh nghiệp do TƯ quản lý, chỉ có 2 dự án đầu tưmới được hưởng ưu đãi chiếm 5,7% tổng số dự án do TƯ quản lý được cấpGiấychứng nhận ưu đãi đầu tư. Còn số dự án đầu tư mới được cấp ưu đãi do địaphương quản lý tuy tỷ trọng thấp hơn so với các dự án đầu tư mở rộng nhưngkhoảng cách giữa giữa chúng chênh lệch không đáng kể - chiếm 45,2% củatổng số dự án đầu tư được ưu đãi ở địa phương. Mặc dù, số dự án đầu tưchiếm tỷ trọng nhỏ hơn ở cả hai loại cấp quản lý doanh nghiệp nhưng sốvốn bình quân ở mỗi dự án đầu tư mới lại lớn hơn nhiều so với dự án đầutư mở rộng. Thậm chí ở địa phương, với 433 dự án mới đã chiếm 4.483 tỷđồng nhưng 495 dự án đầu tư mở rộng chỉ chiếm 2.323,5 tỷ đồng (biểu 3). Biểu 3: Cơ cấu của dự án đầu tư được ưu đãi và tỷ trọng vốn đầutư giữa đầu tư mới và đầu tư mở rộng Đơn vị tính: %Cấp quản lý doanh nghiệp Cơ cấu dự án đầu tư Tỷ trọng vốn đầu tưDN cho TW quản lý 100 100 - Đầu tư mới 5,7 2,9 - Đầu tư mở rộng 94,3 97,1DN do địa phương quản lý 100 100 - Đầu tư mới 45,2 55,8 - Đầu tư mở rộng 54,8 44,2 Nguồn: Tính toán từ các báo cáo của các Sở KH&ĐT tỉnh/Thành phố vàVụ Doanh nghiệp - Bộ KH&ĐT năm 1997http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 34
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 1.2. Quan hệ ưu đãi đầu tư giữa các doanh nghiệp quốc doanh vàdoanh nghiệp ngoài quốc doanh Các doanh nghiệp quốc doanh có số dự án được cấp giấy chứng nhận ưuđãi đầu tư là 554 dự án chiếm 59,7% trong số các doanh nghiệp được hưởngưu đãi ở địa phương. Nếu gộp cả số doanh nghiệp được hưởng ưu đãi đầu tưdo Trung ương quản lý thì tổng số doanh nghiệp quốc doanh được hưởng ưuđãi lên tới 589 ưu đãi và chiếm tới 61,2% trong tổng số ưu đãi được cấp iấyưu đãi đầu tư trong cả nước. Trong khi đó số doanh nghiệp ngoài quốc doanhđược hưởng ưu đãi là 374 ưu đãi, chiếm 10,3% trong số các doanh nghiệpđược hưởng ưu đãi ở địa phương. Biểu 4: Số dự án được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư của các doanh nghiệpquốc doanh và ngoài quốc doanh ở địa phương Đơn vị tính: Triệu đồng Cấp quản lý Tổng số Tổng số Đầu tư mới Đầu tư mở rộng Tín dụng từ quỹ dự án vốn Số DA Số Số DA Số vốn Số DA Số vốn vay tiền Tổng số 928 6806736 433 4483219 495 2323516 520 66597 - Q. Doanh 554 5481551 190 3451659 364 2029891 275 56561 % 59,7 80,5 43,9 77,0 73,5 87,4 52,9 84,9 - N. Doanh 374 1325185 243 1031560 131 293624 245 10036 % 40,3 19,5 56,1 23,0 26,5 12,6 47,1 15,1 Trong đó: M.Bắc 246 1655147 74 866390,0 172 788756 165 32128 M .Trung 284 18522631 43 1276731 141 575532 151 19065 M .Nam 398 3299325 216 2340098 182 959227 204 15404 Nguồn: Tính toán từ các báo cáo của các Sở KH&ĐT tỉnh/thành phố vàVụ doanh nghiệp Bộ KH&ĐT năm 1997 Ngoài ra tỷ trọng vốn đầu tư của các dự án đăng ký ưu đãi đầu tư của cácdoanh nghiệp quốc doanh cũng lớn hơn hẳn tỷ trọng vốn của các doanhnghiệp ngoài quốc doanh. Trong số 544 doanh nghiệp quốc doanh được cấpđầu tư ưu đãi theo Nghị định 29/CP có tỷ trọng vốn lên tới 80,5% tổng số vốnhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 35
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđầu tư của các dự án đăng ký, còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉkhiêm tốn ở con số 19,5% trong tổng số vốn đầu tư của các dự án đăng kýhưởng ưu đãi đầu tư của các doanh nghiệp ở địa phương. Nếu cộng cả số vốncủa dự án đăng ký ưu đãi đầu tư của doanh nghiệp quốc doanh do Trung ươngquản lý thì các con số này sẽ tương ứng là 83,7% và 16,3% trong tổng số vốnđầu tư của dự án đăng ký ưu đãi đầu tư của cả nước. Với những thông tin đó, có ý kiến cho rằng, ở đây chủ yếu là "Nhà nướckhuyến khích Nhà nước". Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa có đượcnhững chính sách ưu đãi nhất quán so với kinh tế quốc doanh. 1.3. Về cơ cấu dự án được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư giữaba miền Bắc - Trung - Nam. Trong 21 tỉnh, thành phố miền Bắc đã có 246 dự án được cấp ưu đãi đầutư chiếm 26,5% tổng số dự án được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư củadoanh nghiệp do địa phương quản lý trong cả nước. Điều đáng chú ý ở đây làsự chênh lệch giữa số dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộng được cấp ưu đãiđầu tư: số dự án đầu tư mới chỉ chiếm 30% trong tổng số các dự án được cấpưu đãi đầu tư ở miền Bắc. Tuy nhiên về tỷ trọng vốn đầu tư thì ngược lại,tổng số vốn đầu tư của dự án đầu tư mới là 866,3900 tỷ đồng chiếm 52,3%tổng số vốn đầu tư của dự án được cấp đầu tư ưu chứng nhận ưu đãi đầu tư).Tuy số vốn đầu tư của các dự án của các doanh nghiệp ngoài quốc doanhchưa lớn (chỉ chiếm 42,5% tổng số vốn đầu tư mở rộng của tỉnh) nhưng đócũng là kết quả đáng khích lệ, thể hiện sự cố gắng, sự quan tâm của các cơquan chức năng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở địa phương. Trong tổng số 284 dự án dược cấp ưu đãi đầu tư (với 16 tỉnh có báo cáo)chiếm 30,6% tổng số dự án được cấp ưu đãi dự án cho địa phương quản lýtrong cả nước. Đây là khu vực có số dự án đầu tư mới và đầu tư mở rộngđược cấp ưu đãi đầu tư tương đối cân bằng (143 dự án đầu tư mới và 141 dựhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 36
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comán đầu tư mở rộng). Cũng như các vùng khác, ở đây những dự án đầu tư mớithường có vốn lớn hơn rất nhiều so với những dự án đầu tư mở rộng. Trong tổng số 284 dự án được cấp ưu đãi đầu tư của miền Trung có 204dự án là của khu vực kinh tế quốc doanh, chiếm 71,8% số dự án đã cấp ưu đãiđầu tư của khu vực, kinh tế ngoài quốc doanh cấp được 80 dự án chiếm28,2% tổng số dự án đã được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư của vùng.Như vậy cũng giống như miền Bắc, ở miền Trung số dự án được cấp ưu đãiđầu tư nghiêng phần lớn về khu vực quốc doanh. Vì sao lại xảy ra vấn đề đó. Theo em có 3 lý do: Thứ nhất: Doanh nghiệp nhà nước có điều kiện tiếp cận thông tin vềLuật khuyến khích đầu tư trong nước tốt hơn các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh. Thứ hai: Việc chuẩn bị các dự án đầu tư, các hồ sơ xin cấp Giấy chứngnhận ưu đãi đầu tư cũng như việc hiểu biết các quan hệ hành chính, các cơquan hành chính đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh yếu hơn cácdoanh nghiệp nhà nước. Thứ ba: Trong một chừng mực nhất định, thói quen truyền thống giànhphần ưu tiên cho các doanh nghiệp Nhà nước đây đó có thể hiện ít nhiều. Mộtsố nơi, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực sự chưa thể hiện được uy tíncủa mình trên thương trường và trong dư luận xã hội thậm chí còn nhiều hiệntượng kinh doanh chụp dựt, lừa đảo, lừa dối khách hàng cũng ảnh hưởng ítnhiều đến tâm lý của cán bộ thực hiện công tác ưu đãi đầu tư. Đồng thời cũng có thể dễ dàng nhận thấy lý do vì sao ở hai khu vực này,số dự án được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư dưới hình thức mở rộngnhiều hơn hình thức đầu tư mới. Đó là theo quy định của Nghị định số 29/CPvà hướng dẫn của Bộ Tài chính, những dự án đầu tư chỉ xếp vào loại dự ánđầu tư mới nếu dự án đó gắn với việc thành lập mới doanh nghiệp, không kểhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 37
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcác trường hợp chia, tách, sát nhập, hợp nhất doanh nghiệp. Còn các dự ánkhác, dù là đầu tư mới hoàn toàn nhưng nếu doanh nghiệp đã thành lập trướcngày Luật KKĐTTN có hiệu lực nhưng nay mới thực hiện hoạt động đầu tưthì được xếp vào diện đầu tư mở rộng. ở đây có sự bất hợp lý, chưa logic: Đốitượng xét cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư theo quy định của LuậtKKĐTTN là các dự án đầu tư. Như vậy cái gọi là mới hay mở rộng theo logiclà phải gắn với dự án đầu tư chứ không thể gắn với việc thành lập mới haykhông thành lập mới doanh nghiệp. Tuy nhiên lý do chính của sự xem xét dựán này hay dự án kia có là dự án đầu tư mới hay là dự án đầu tư mở rộng haykhông, chính là ở nội dung ưu đãi của các loại dự án gắn với hình thức đầu tư.Dự án đầu tư mới, Nghị định số 29/CP quy định được hưởng nhiều ưu đãihơn đầu tư mở rộng. Điều này các cơ quan chức năng cần phải xem xét lạicho phù hợp với tình hình đất nước và hợp lý hơn. Miền Nam là nơi có số dự án đầu tư được giấy chứng nhận ưu đãi đầu tưlớn nhất trong cả nước với 398 dự án, chiếm 42,9% tổng số dự án được cấpưu đãi đầu tư cho địa phương quản lý trong cả nước, với tổng số vốn đầu tưcủa các dự án lên tới 3.299,325 tỷ đồng. Điểm khác biệt của khu vực này sovới miền Bắc và miền Trung là: Một là: Số dự án được cấp ưu đãi đầu tư dưới hình thức dự án đầu tưmới chiếm đa số, với tổng số vốn đầu tư lớn hơn hẳn so với số vốn của dự ánđầu tư dưới hình thức mở rộng, bằng 70,9% tổng số vốn đầu tư của dự ánđược cấp ưu đãi đầu tư của doanh nghiệp do địa phương quản lý ở các tỉnhmiền Nam. Hai là: Số dự án đầu tư đã được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư củakhu vực các doanh nghiệp ngoài quốc doanh lại nhiều hơn số dự án được cấpGiấy chứng nhận ưu đãi đầu tư của các doanh nghiệp thuộc khu vực quốcdoanh (Số dự án của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 59,5% đốihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 38
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comvới miền Nam trong khi đó ở miền Bắc là 23% và miền Trung chiếm 39%trong tổng số dự án được cấp ưu đãi đầu tư do địa phương quản lý). ở miền Nam, có nhiều tỉnh đã cấp được số dự án đầu tư ưu đãi vượt consố 30 trong số này phải kể đến tỉnh Trà Vinh đã cấp 98 dự án (đứng đầu cảnước) với 25 dự án đầu tư mới, 73 dự án đầu tư mở rộng của các đối tượngnhư doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh theo nghịđịnh 66-NĐBT.Tổng số vốn đầu tư của 98 dự án này là 21393 triệu đồngtrong đó 8812 triệu đồng là vốn tự có của cơ sở và 12581 triệu đồng là vốnvay ưu đãi.Tiếp đến là An giang đã cấp ưu đãi cho 87 dự án. Nhìn chung việccấp ưu đãi đầu tư cho các dự án đầu tư ở các tỉnh phía Nam phần lớn tập trungvào khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.Việc áp dụng các biện pháp đầu tư ưuđãi của các tỉnh phía nam cũng rất đáng quan tâm nghiên cứu để phổ biếnkinh nghiệm rộng rãi ra cả nước. 1.4. Vấn đề vay vốn từ Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia Về vay tín dụng từ Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia trong số 666 tỷ đồng màQuỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia đã cho vay, miền Bắc là nơi có mức vay cao nhấttrong cả nước, 165 dự án được vay với tổng số vốn là 321,2804 tỷ đồng,chiếm 48,2% tổng số tín dụng mà các doanh nghiệp do địa phương quản lýđược vay ưu đãi theo Luật KKĐTTN và Nghị định số 29/CP. Con số này ởmiền Trung là 190,651 tỷ đồng chiếm 28,6% và ở miền Nam là 154,0438 tỷđồng chiếm 23,2%. Nếu tính trung bình trong cả nước, mỗi dự án được vay tín dụng ưu đãikhoảng 1,3 tỷ đồng thì ở miền trung là 1,26 tỷ đồng và miền Nam chỉ khoảng0,755 tỷ đồng. Tuy mức vay của mỗi dự án không lớn song ở miền Nam, sốdự án được vay tín dụng từ Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia đạt tới mức lớn nhấtvà tập trung chủ yếu ở loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Số vốntrung bình được vay của mỗi dự án ở các tỉnh miền Nam là 0,755 tỷ đồng/dựán, miền Bắc là 1,95 tỷ đồng và miền Trung là 1,26 tỷ đồng/dự án.Nhìn chunghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 39
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtrong cả nước số dự án được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư là phù hợpvới đối tượng quy định của Luật KKĐTTN và Nghị định số 29/CP. Trong nộidung ưu đãi đầu tư, chủ yếu là ưu đãi về thuế, nhất là thuế lợi tức, thuế doanhthu, thuế nhập khẩu. Đồng thời sau khi Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia đi vàohoạt động thì một số dự án đã được xét cho vay vốn với lãi suất 1,1% và lãisuất 0,81%/tháng từ Quỹ này. ở phần lớn các địa phương, các nội dung ưu đãiđầu tư đã cấp đều nằm trong khuôn khổ các quy định hiện hành. Riêng tỉnhNinh Thuận đã cho 16 dự án đầu tư được giảm 50% thuế tài nguyên phải nộplà nằm ngoài quy định hiện hành của Luật KKĐTTN và Nghị định số 29/CP. Chính vì vậy, bên cạnh việc xét cấp cho các dự án đầu tư được hưởng ưuđãi, nếu các văn bản được hướng dẫn cụ thể quá trình triển khai Luật cầnđược tiếp tục sửa đổi, bổ sung kịp thời, các Bộ, Ngành chức năng nếu tiếp tụccó thêm nhiều công văn giải đáp, hướng dẫn vướng mắc của các địa phươngcó liên quan đến việc thực hiện Luật KKĐTTN thì việc thực hiện Luật vàNghị định chắc chắn sẽ tốt hơn. 2. Những hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện LuậtKKĐTTN giai đoạn thực hiện Nghị định số 29/CP Nhìn tổng thể, việc thực hiện triển khai một Luật đầu tiên về KKĐTTNở nước ta như em đã trình bày ở trên là tích cực, các cơ quan chức năng cóliên quan đã có nhiều cố gắng, tác dụng của việc khuyến khích đầu tư và ưuđãi đối với các doanh nghiệp và dân cư là khá rõ ràng. Tuy nhiên theo đánhgiá của một số nhà chuyên môn thì thực tế đi vào cuộc sống của LuậtKKĐTTN dù có nhiều nỗ lực nhưng vẫn còn là chậm, chưa đáp ứng được sựmong đợi của các nhà đầu tư. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nổibật là mấy điểm sau: 2.1. Các nội dung hỗ trợ đầu tư chưa được triển khai hoặc chưa đủ sụhấp dẫn. Bảy biện pháp về hỗ trợ đầu tư quy định trong Luật chưa đượctriển khai triệt để. Nhất là các biện pháp về:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 40
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com a) Giao đất và cho thuê đất: Tuy đã được quy định trong Pháp lệnh vềquyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất và chothuê đất, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 85/CP quy định thi hànhpháp lệnh nói trên. Tuy vậy trên thực tế, việc giao và cho thuê đất đối với cáctổ chức trong nước vẫn còn nhiều thủ tục, nhiều đầu mối phức tạp gây lắmphiền hà. Theo thống kê có 30 tỉnh thành phố có cấp đất và giao đất thì có 84 dựán trên tổng số trên 452 dự án được hưởng ưu đãi về giao đất và cho thuê đấtđã được giao đất và cho thuê đất chiếm 18,6% tổng số dự án được cấp ưu đãi.ở miền Bắc có 50 dự án. Miền Trung có 18 dự án và miền Nam có 16 dự ánđã được giao đất hoặc cho thuê đất. Trong đó, đáng chú ý là các dự án phầnlớn chỉ được thuê đất, chiếm 71,4%, số dự án được cấp đất còn rất ít chỉ có 24dự án trên cả nước. Bên cạnh đó các ưu đãi về đất chủ yếu giành cho cácdoanh nghiệp Nhà nước, chiếm 79,8% còn khu vực ngoài quốc doanh chỉchiếm 19,2%. Đây cũng là một biểu hiện về sự thiệt thòi của khu vực kinh tếngoài quốc doanh, sự chưa thực sự bình đẳng giữa khu vực quốc doanh vàngoài quốc doanh được thể hiện ở Biểu 5.Biểu 5: Số dự án được cấp ưu đãi đầu tư có nội dung ưu đãi được cấp vàcho thuê đất của 30 tỉnh/thành phố (Đến 31/12/1997) Miền Tổng số Cấp đất và cho thuê đất Tổng số dự án * Cấp đất Thuê đất dự án ** Q.doanh Dân Q.Doanh Dân doanh doanhMiền Bắc 158 6 0 36 8 50Miền Trung 190 4 1 7 6 18Miền Nam 194 13 0 1 2 16 Tổng số 452 23 1 44 16 84 Nguồn: Báo cáo của Sở KH&ĐT 30 tỉnh thành phố, 1997. Ghi chú : * Tổng số dự án được cấp ưu đãi đầu tư ** Tổng số dự án được cấp ưu về cấp đất và cho thuê đấthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 41
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Tuy nhiên những phiền hà trong trình tự, thủ tục giao đất và cho thuê đất thì không phải chỉ những dự án đầu tư được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, trong đó có nội dung được giao đất và cho thuê đất mới có, mà đây là một tình trạng chung của chế độ giao đất và cho thuê đất đã kéo dài nhiều năm ở nước ta. Nguyên nhân của tình trạng này trước hết phải kể đến khâu văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, nhất là các văn bản quy phạm pháp luật do cấp Bộ trưởng ban hành để hướng dẫn trình tự, thủ tục giao đất và cho thuê đất. Tiếp đến một lĩnh vực không kém phần phức tạp là khâu trực tiếp tiếp nhận, thụ lý các hồ sơ về giao đất, cho thuê đất và những quy định thêm của một số địa phương trong việc thực hiện các thủ tục này. Có một nghịch lý là hầu hết những người đã từng trải qua việc thực hiện các thủ tục về giao đất và cho thuê đất, trực tiếp tiếp xúc giao dịch với cán bộ công chức của cơ quan có thẩm quyền đều thấy rõ những tiêu cực, những điều bất hợp lý của trình tự, thủ tục đó nhưng ít ai nói rõ ra những trường hợp cụ thể. Chính vì thế những bức bách về cải tiến các thủ tục này vẫn còn chậm được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sửa đổi,bổ sung nên thực trạng đó vẫn được tiếp tục kéo dài cho đến tận hôm nay Biểu 6 : Cơ cấu cấp ưu đãi về đất đai ở 30 tỉnh thành phố ( tính đến 31-12-1997) Đơn vị tính : %Chỉ tiêu Miền Miền Miền Cả Bắc Trung Nam nướcSố dự án được cấp, thuê đất / tổng số 33,8 16,4 8,2 18,6dự án được ưu đãi http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 42
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comSố dự án được cấp và thuê đất 100 100 100 100Trong đó : - Số dự án cấp đất / tổng số dự án cấp và cho thuê đất 12,0 27,8 81,3 28,6 - Số dự án thuê đất / tổng 88,0 72,2 18,7 71,4 số dự án cấp và cho thuê đấtSố dự án được cấp và thuê đất . 100 100 100 100Trong đó :- Số dự án quốc doanh được cấp và cho thuê đất / tổng số 84,0 61,1 87,5 79,8 - Số dự án dân doanh được cấp và 16,0 38,9 12,5 20,2 cho thuê đất / tổng số Nguồn : Tính toán từ các báo cáo của các sở KH& ĐT tỉnh / Thành phố và Vụ Doanh nghiệp - Bộ KH& ĐT năm 1997 b) Về biện pháp xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp để cho thuê Những năm gần đây, Chính phủ đã coi trọng việc chỉ đạo vấn đề xây dựng kết cấu hạ tầng cho thuê làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh, đã cho xây dựng nhiều khu công nghiệp và khu chế xuất; mặt khác hàng năm, Chính phủ có kế hoạch chi Ngân sách để xây dựng kết cấu hạ tầng và khuyến khích các thành phần kinh tế bỏ vốn xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp. Tính đến nay tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng lên tới 1,5 tỷ đôla. Tuy nhiên giá thuê nhà đất và chi phí trả cho việc sử dụng hạ tầng cơ sở nhiều khu công nghiệp còn cao, không khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào khu công nghiệp. Thời gian gần đây giá thuê đất đã được điều chỉnh giảm, có khu công nghiệp giảm tới mức hết sức thấp nhưng sức thu hút đầu tư của các khu công nghiệp vẫn chưa đủ mạnh. c) Việc hỗ trợ tổ chức thực hiện các chương trình, dịch vụ khuyến khích đầu tư như: tư vấn kinh doanh, tư vấn pháp lý, tổ chức dạy nghề, và đào tạo kỹ thuật, đào tạo nâng cao kiến thức quản lý, cung cấp thông tin kinh tế, hỗ http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 43
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtrợ việc thực hiện các chương trình, dịch vụ khuyến khích đầu tư, phổ biếnchuyển giao công nghệ... là những biện pháp hỗ trợ đầu tư chưa được thể chếhoá bằng các văn bản, và các dịch vụ nhằm hỗ trợ các nhà đầu tư mới chưađược triển khai. Các dịch vụ hiện có chủ yếu được tiến hành trên cơ sởthương mại. d) Về biện pháp hỗ trợ đầu tư thông qua Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia Biện pháp "Lập và khuyến khích các Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia để chovay đầu tư trung và dài hạn" đã được Chính phủ thể chế hoá và được triểnkhai thực hiện trong thực tế. Tuy nhiên, do số vốn ban đầu quá ít ỏi, cộngthêm mức lãi suất cho vay chưa được khuyến khích cho nên Quỹ này trở lênkhông đủ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong nước. Đến cuối năm 1997 quỹnày đã cho vay 520 dự án với tổng vốn lên tới 665 tỷ đồng và số vốn cho vaytập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp quốc doanh. Để tăng cường vai trò hỗtrợ đầu tư trong nước một cách thực sự của quỹ này, Nhà nước cần có biệnpháp mở rộng nguồn vốn tín dụng cho Quỹ, áp dụng mức lãi suất cho vay ưuđãi thực sự khuyến khích và bổ sung cho Quỹ chức năng bảo lãnh, tái bảolãnh tín dụng và trợ cấp chênh lệch lãi suất. Tuy vậy cơ chế cho vay nguồnvốn và lãi suất cần được nghiên cứu và sửa đổi cho thích hợp. e) Về phổ biến chuyển giao công nghệ: Việc phổ biến chuyển giao côngnghệ, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư được sử dụng mức phí ưu đãi các côngnghệ mới tạo ra bởi vốn vay Ngân sách Nhà nước, ghi tại khoản 7, Điều 7 củaLuật KKĐTTN cũng chưa có văn bản hướng dẫn. Đầu tư mở rộng quy mô và đầu tư theo chiều sâu là những hình thức đầutư mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao được chất lượng sản phẩm và sứccạnh tranh của doanh nghiệp, nhưng các ưu đãi đầu tư cho các hình thức đầutư này, theo em là quá ít và chưa mang tính khuyến khích.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 44
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com g) Biện pháp góp vốn vào các cơ sở sản xuất kinh doanh và bảo lãnh tíndụng và những biện pháp hỗ trợ đầu tư khác được nêu tại điều 7 của Luậtnày cho đến nay chưa có chính sách và cơ chế thực hiện thực hiện cụ thể 2.2. Về nội dung ưu đãi đầu tư của Luật khuyến khích đầu tư trongnước và Nghị định 29/CP Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, nội dung ưu đãi của Luật KKĐTTNvà Nghị định 29/CP thấp hơn nhiều so với các nội dung tương ứng của LuậtĐầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Do đó những doanh nghiệp trong nước cùngngành hàng bị thua thiệt hơn so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài. Chỉ đơn cử chính sách về thế sẽ thấy rõ sự chênh lệch này. Đối với thuế lợi tức (thuế thu nhập doanh nghiệp), thuế suất cho đầu tưtrong nước có 3 mức: 25%, 35%, 45%, trong khi đó cả thuế lợi tức và thuếthu nhập doanh nghiệp áp dụng cho đầu tư nước ngoài đều có 4 mức: 10%,15%, 20% và 25%, tức là mức thuế tối đa cho hoạt động đầu tư nước ngoàichỉ bằng mức thuế tối thiểu đối với hoạt động đầu tư trong nước. Không chỉcó vậy, chế độ miễn giảm thuế cũng có sự khác biệt lớn. Hoạt động đầu tưtrong nước được miễn tối đa là 4 năm và giảm 50% trong thời gian tối đa là 9năm tiếp theo còn hoạt động đầu tư nước ngoài được miễn thuế tối đa là 8năm kể từ khi kinh doanh có lãi. Ngoài ra hoạt động đầu tư trong nước cònphải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung 25% trên phần thu nhập do lợithế khách quan mang lại (Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Điều 10 khoản 1). Đối với thuế nhập khẩu, Luật đầu tư nước ngoài quy định chế độ miễnthuế nhập khẩu đối với nguyên liệu sản xuất trong 5 năm cho các dự án đầu tưở vùng núi, vùng sâu, vùng xa (Nghị định 10 điều 10 khoản 3). Cơ chế ưu đãi đối với các dự án của khu vực doanh nghiệp Nhà nước vàdoanh nghiệp ngoài quốc doanh còn có sự phân biệt đáng kể. Đối với đầu tưtrong nước, khu vực này chưa được khuyến khích, động viên đúng lúc, chưađược hỗ trợ một cách thiết thực và hiệu quả. Đặc biệt trong triển khai thựchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 45
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comhiện, do thói quen của các cơ quan quản lý, khoảng cách đó càng bị dãn ra.Điều này thể hiện qua thực tế cấp ưu đãi đầu tư vừa qua ở hầu hết các địaphương, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung và miền Bắc như đã phân tích ởphần trên. Luật KKĐTTN đã ban hành gần 3 năm, bên cạnh những nỗ lực bướcđầu, thực tế cho thấy còn nhiều việc triển khai quá chậm và nguyên nhânchính là do các ách tắc trong khâu hướng dẫn thi hành. Do vậy còn tiếp tụcthể chế hoá 7 biện pháp hỗ trợ đầu tư nêu ở Điều 7 chương II của Luật vàphân công trách nhiệm từng cơ quan chức năng trong việc hướng dẫn thihành, đặc biệt là các biện pháp chưa có hướng dẫn như: giao đất hoặc chothuê đất, xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp để cho thuê làm mặtbằng xây dựng phổ biến và chuyển giao công nghệ. Trong nội dung ưu đãi về thuế, hiện đang áp dụng 5 loại (quy định tạicác điều từ Điều 12 đến Điều 23 của Nghị định 29/CP): thuế doanh thu, thuếlợi tức, thuế nhập khẩu, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thuế thu nhập,nên xem xét bổ sung thêm các loại thuế: thuế tài nguyên, thuế chuyển quyềnsử dụng đất, thuế trước bạ... để tăng thêm tính hấp dẫn và phù hợp với thực tếtừng dự án cần khuyến khích. Về mức độ khuyến khích sử dụng các nguồn lực. Luật KKĐTTN đã nóirất rõ mục đích của Luật là nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồnvốn, tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác vào sự nghiệp phát triển kinhtế - xã hội. Mức độ khuyến khích đối với từng loại nguồn lực có thể khácnhau. Song đối với nguồn lực lao động cần dược khuyến khích hơn. Quy địnhhiện tại đang có bất hợp lý, cùng thu hút một nguồn lực lao động như nhau,nhưng dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi hơn là dự án đầu tư mở rộng;mức lao động thu hút tối thiểu quy định tại khoản 3 điều 15 của Nghị định 29/CP còn quá cao, ít dự án đầu tư có thể đạt được. Do đó cần giảm mức laohttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 46
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđộng tối thiểu quy định trong Nghị định 29/CP và quy định mức ưu đãi nhưnhau đối với mọi dự án được hưởng ưu đãi có thu hút số lao động như nhau. 2.3. Về thủ tục hành chính: Luật KKĐTTN đã bắt đầu cố gắng thể hiện tinh thần "một dấu, một cửa“ trong các quan hệ về thủ tục hành chính giữa các cơ quan Nhà nước và nhàđầu tư. Tuy nhiên trên thực tế việc hướng dẫn thi hành vẫn còn nhiều thủ tụcphiền hà, một mặt là do mỗi ngành địa phương tự ban hành cơ chế riêng chomình; mặt khác một số Luật có liên quan khác chưa được sửa đổi, bổ sung kịpthời. Trên thực tế các dự án đầu được ưu đãi chủ yếu rơi vào hai loại: thuế vàtín dụng (vay từ Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia và vay ở các Ngân hàng thươngmại) trong đó thuế là loại ưu đãi phổ biến. Trong quy trình thực hiện ưu đãiđầu tư, khoản 2 Điều 25 của Nghị định 29/CP giao cho Uỷ ban Kế hoạch nhànước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) giúp Chính phủ thực hiện chức năngQuản lý Nhà nước về KKĐTTN thông qua bốn nhiệm vụ và quyền hạn, trongđó có trình tự quy định trình tự thủ tục, mẫu đơn và giấy chứng nhận ưu đãiđầu tư áp dụng thống nhất trong cả nước; quyết định cấp Giấy chứng nhận ưuđãi đầu tư cho các doanh nghiệp do Chính phủ cho phép thành lập, đồng thờiđiều 24 của Nghị định 29/CP cũng quy định: Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự,thủ tục để xét được hưởng ưu đãi về thuế. Với điều này Bộ Tài chính đã banhành Thông tư số 94 TC/TCT hướng dẫn thủ tục, trình tự, thẩm quyền xétmiễn giảm thuế theo Luật KKĐTTN và Nghị định 29/CP quy định hồ sơ xinmiễn, giảm thuế gửi đến cơ quan thuế có thẩm quyền gồm: Quyết định haygiấy phép đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, giấy chứng nhận ưu đãi đầutư, đơn trình bày của cơ sở kèm theo xác nhận và ý kiến đề nghị cụ thể của cơquan thuế có thẩm quyền, biên bản kiểm tra quyết toán thuế kèm theo quyếtđịnh của năm xét miễn giảm thuế, và những tài liệu liên quan đến dự án đầutư... Nhiều doanh nghiệp và địa phương phàn nàn về thủ tục quy định như vậyhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 47
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comlà quá phức tạp về thủ tục hành chính và có tình trạng chồng chéo giữa các cơquan nhà nước có thẩm quyền. Nhằm thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong việc thành lập doanhnghiệp, Điều 27 của Nghị định 29/CP đã quy định thủ tục xin phép thành lậpdoanh nghiệp theo chế độ "một cửa", xem đó như một biện pháp khuyếnkhích thành lập mới doanh nghiệp. Nhưng điều 26 của Nghị định lại chỉ giớihạn đối với các doanh nghiệp thuộc diện được khuyến khích đầu tư. Cầnkhẳng định thủ tục này được áp dụng cho việc thành lập mới doanh nghiệpcho tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt dự án thành lập doanh nghiệpthuộc diện được khuyến khích đầu tư hay không. Trường hợp thuộc diện đượckhuyến khích đầu tư, việc cấp Giấy phép thành lập doanh nghiệp được thựchiện đồng thời với việc cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. 3.4. Về đối tượng được hưởng ưu đãi Phần lớn vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật KKĐTTN ở các địaphương cũng như ở Trung ương tập trung chủ yếu ở đối tượng khuyến khíchquy định trong Luật KKĐTTN và trong Nghị định 29/CP Luật KKĐTTN sửdụng ba khái niệm để xác định đối tượng khuyến khích đầu tư: trong nước, đólà: tổ chức, cá nhân, cơ sở sản xuất kinh doanh. Nói cách khác đó là ba đốitượng thụ hưởng Luật. Cụ thể hoá các đối tượng này, NĐ-29/CP đã đưa ra 9khái niệm là: Doanh nghiệp, Hợp tác xã, Công ty, đơn vị kinh doanh, tổ chức,cá nhân, cơ sở sản xuất kinh doanh; cơ sở sản xuất, cơ sở vận tải thương mại,dịch vụ, trong đó nhiều khái niệm không được giải thích đã gây lên nhiều sựtranh cãi, nhiều cách hiểu khác nhau, tạo nên sự tuỳ tiện khi vận dụng. Đứng đầu trong số các khái niệm chứa đựng nhiều tính chất mập mờnhất phải kể đến cụm từ "cơ sở sản xuất kinh doanh" và khái niệm "doanhnghiệp" (hay các loại hình doanh nghiệp tương đương). Nghị định 29/CP tuykhông quy định "cơ sở sản xuất kinh doanh" là một pháp nhân kinh tế độc lậpnhưng cũng không quy định rằng nó không phải là pháp nhân kinh tế độc lập.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 48
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comChính ở điểm này đã gây ra rất nhiều khó khăn khi triển khai luật, bởi vì nóliên quan đến đối tượng xét hưởng ưu đãi đầu tư theo tinh thần Luật này,đặcbiệt là ưu đãi về thuế. Đồng thời với việc quy định đối tượng thụ hưởng Luật như vừa nêu trên,Luật KKĐTTN cũng quy định đối tượng được xét ưu đãi đầu tư là dự án đầutư. Khi quy định mức ưu đãi cụ thể về thuế thì Luật phân đối tượng thụ hưởngthành hai loại chính là "cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập" và "cơ sởsản xuất kinh doanh bỏ thêm vốn đầu tư hoặc sử dụng lợi nhuận còn lại để táiđầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ". Chitiết hoá quy định này, NĐ 29/CP đưa ra một danh sách các dự án đầu tư đượcưu đãi về thuế với các loại, mức khác nhau cho hai đối tượng hưởng thụ chínhlà "cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập" (gồm hai loại: cơ sở sản xuất vàcơ sở vận tải, thương mại, dịch vụ) và "cơ sở sản xuất kinh doanh bỏ thêmvốn đầu tư hoặc sử dụng lợi nhuận còn lại để tái đầu tư hoặc sử dụng lợinhuận còn lại để tái đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất, đổimới công nghệ". Trong khi đó Nghị định cũng không đưa ra một quy định rõhơn về các khái niệm trên so với luật . Nhiều văn bản hướng dẫn của cácnghành chức năng liên quan cũng trong tình trạng đó, trừ thông tư của Bộ Tàichính số 94/ TC- TCT. Tuy nhiên Thông tư này cũng chỉ hướng dẫn rằng: “cơ sở mới thành lập ... là cơ sở mới được thành lập và được cấp giấy phépkinh doanh “ tức là cũng không khẳng định nó phải là một pháp nhân kinh tếđộc lập . Thế nhưng không biết từ đâu lại cho ra đời khái niệm “ dự án đầu tưmới “ và “ dự án đầu tư mở rộng “ càng làm tăng thêm sự mập mờ giữa đốitượng thụ hưởng Luật và đối tượng xét ưu đãi đầu tư. Trên thực tế, tất cả các dự án đầu tư của các doanh nghiệp đang hoạtđộng đều bị coi là dự án đầu tư mở rộng, mặc dù có những dự án đầu tư mớihoàn toàn về mặt hàng, công nghệ, thị trường, địa điểm đầu tư... và khác vớingành nghề kinh doanh đã có của doanh nghiệp. Do đó các dự án này chỉhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 49
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđược hưởng ưu đãi theo chế độ của dự án đầu tư mở rộng (chủ yếu là đượcmiễn thuế lợi tức một năm cho phần lợi nhuận tăng thêm do dự án đầu tư mớimang lại). Các dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệptheo đúng ngành nghề kinh doanh đã có , gọi là dự án đầu tư mở rộng đã đành, đằng này các dự án đầu tư mới hoàn toàn về mọi phương diện mà gọi là dựán đầu tư mở rộng thì dù lý giải thế nào thì cũng bất ổn về ý nghĩa kinh tế vàý nghĩa pháp lý. Để lý giải cho sự mập mờ do đồng nhất giữa khái niệm “ dựán đầu tư mới ” với dự án thành lập doanh nghiệp mới , có ý kiến cho rằng ,mục đích của Luật KKĐTTN là khuyến khích việc thành lập mới các loạihình doanh nghiệp, sau đó cơ chế thị trường sẽ sàng lọc để giữ lại nhữngdoanh nghiệp làm ăn tốt. Cách lý giải này có hai điểm không thuyết phục:một là tuyệt đối hoá cơ chế thị trường như vậy hiện không còn là một giảipháp thực tế của sự phát triển không chỉ của nước ta mà còn của hàng loạtnước khác, kể cả những nước kinh tế thị trường đã phát triển. Hai là mục đíchcủa Luật KKĐTTN ngay từ đầu chỉ xác định là "để huy động và sử dụng cóhiệu quả mọi nguồn vốn, tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đấtnước nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, vì sự nghiệp dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng văn minh", chứ không hề nói như ý kiến trên, vàthậm chí nếu ngay cả khi Luật có đề ra mục đích như vậy thì cũng không thểđánh đồng hai khái niệm vốn chứa đựng những nội dung kinh tế hoàn toànkhác nhau. Cũng có cách giải thích rằng, nếu coi như dự án đầu tư mới xét vềthực chất kinh tế là dự án đầu tư mới để được hưởng ưu đãi theo LuậtKKĐTTN thì khó thực hiện vì ngân sách Nhà nước hiện còn gặp nhiều khókhăn. Nhưng còn thấy rằng khi thông qua Luật, hẳn là cơ quan chức năng đãlường kỹ việc này. Đồng thời nếu quả thực là vì thực hiện Luật này mà làmgiảm thu Ngân sách những năm trước mắt tới mức không thể cân đối được thìnên đề nghị cho hoãn thi hành. Không thể vì một vướng víu đâu đó mà làmlệch đi một ý đồ tốt đã xác định từ trước và làm sai đi những thuật ngữ thôngthường của một văn bản pháp quy, gây khó dễ cho người thực hiện.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 50
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Theo mục đích đã được xác định ngay ở phần mở đầu của LuậtKKĐTTN thì mọi dự án đầu tư có ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn hoạt độngthuộc loại được khuyến khích đầu tư theo quy định của Chính phủ thì đều cóthể được hưởng ưu đãi đầu tư. Đó mới chính là điểm cốt lõi kích thích huyđộng mọi nguồn vốn trong nước và mục đích đầu tư, từng bước làm chonguồn vốn đầu tư trong nước giữ vai trò quyết định như định hướng đã đề ratrong nhiều Nghị quyết của Đảng ta. Việc đánh đồng giữa dự án đầu tư mớivà dự án thành lập doanh nghiệp mới trên thực tế đã không khuyến khíchđược sự mong muốn của các doanh nghiệp đã thành lập trước đây có dự ánđầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ.Hơn thế, các doanh nghiệp này muốn được hưởng ưu đãi đầu tư theo chế độ"cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập" đã có xu hướng tổ chức thành lậpcác doanh nghiệp mới trên cơ sở các dự án đầu tư này. Do vậy để khắc phụcnhược điểm này, thực sự khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nước, huyđộng tối đa mọi nguồn lực trong xã hội vào mục tiêu phát triển, cần quy địnhchế độ ưu đãi như nhau đối với các dự án đầu tư thành lập mới doanh nghiệpvà các dự án đầu tư mới ở các doanh nghiệp đã được thành lập, khẳng địnhdứt khoát đối tượng thụ hưởng Luật là doanh nghiệp thuộc mọi thành lập kinhtế, đối tượng xét, cấp ưu đãi đầu tư là dự án đầu tư (cũng có thể phân biệt dựán đầu tư mới và dự án đầu tư mở rộng). 3. Giai đoạn thực hiện luật khuyến khích đầu tư trong nước thôngqua việc triển khai Nghị định số 07/1998/NĐ-CP (Từ 30/01/1998 đến31/12/1998) Ở phần trên đã phân tích cái được và chưa được trong việc thực hiệnLuật KKĐTTN thông qua việc triển khai Nghị định 29/CP. Sự phân tích chothấy những điểm chưa hợp lý của chính văn bản Luật cũng như công tác cụhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 51
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthể hoá, hướng dẫn dưới hình thức Nghị định hoặc Thông tư của Bộ, NgànhTƯ. Trên cơ sở kết quả thực hiện, trong khi khẳng định cố gắng bước đầu,chúng ta cũng thấy rõ được những nhược điểm cần phải tiếp tục khắc phục.Để khắc phục những tình trạng đó ngày 15/1/98 Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 07/1998/NĐ-CP. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kểtừ ngày ký và thay thế Nghị định số 29/CP. Điểm đáng lưu ý của Nghị định số 07 là vẫn trên cơ sở những quy địnhcủa Nghị định số 29/CP nhưng Nghị định đã cụ thể hoá được nhiều tinh thầnkhuyến khích đầu tư cơ bản của Luật, tiến bộ và hấp dẫn hơn nhiều so vớiNghị định số 29/CP. Nói chung Nghị định 07 đã góp phần tạo nên một khôngkhí mới trong việc quan tâm của doanh nghiệp đối với chính sách khuyếnkhích của Nhà nước ta. Mọi kinh nghiệm khác cũng cần nhấn mạnh ở đây làcông tác cụ thể hoá và thi hành hướng dẫn Luật là đặc biệt quan trọng trongđiều kiện cụ thể ở nước ta. Đồng thời, một câu hỏi được đặt ra ở đây là vì saovẫn trên quy định của Luật KKĐTTN mà NĐ 07 lại hấp dẫn hơn NĐ 29/CP.Chắc chắn không thể thừa nhận vai trò của công tác soạn thảo Nghị định,trong đó một thái độ thực tế hơn gần như chi phối toàn diện tính chất hấp dẫncủa Nghị định. Nói như vậy về mặt logic có nghĩa là ở đây em không phântích lại những cái được và chưa được của Luật KKĐTTN đã trình bày ở phầntrên mà chỉ tập trung trình bày những điểm mới của NĐ-07. Trước hết là những quy định về hình thức đầu tư được khuyến khích.Nghị định 07 có thể nói là đã mở rộng khái niệm này, từ chỗ chỉ những dự ánđầu tư gắn với việc thành lập doanh nghiệp mới được xem là dự án đầu tưmới đến chỗ coi tất cả những dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanhngành nghề mới hoặc sản phẩm mới tại cùng một thời điểm, đầu tư phát triểnsản xuất kinh doanh sản phẩm hiện có hoặc sản phẩm mới tại địa điểm mớicũng được xem như là dự án đầu tư mới. Điều này có nghĩa là mức độ ưu đãihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 52
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcho các dự án đầu tư mới thực sự đã được tăng lên. Vì thế mà Nghị định nàyđã hấp dẫn hơn trước đây. Về nội dung đảm bảo và hỗ trợ đầu tư, Nghị định 07 cũng đạt được mộtbước tiến mới: Quy định thêm chức năng bảo lãnh tín dụng và trợ cấp lãi suấtcho Quỹ hỗ trợ đầu tư Quốc gia, quy định những ưu đãi về tín dụng cho cácdoanh nghiệp sản xuất hàng nhập khẩu, cho phép nhà đầu tư là người ViệtNam định cư ở nước ngoài được hưởng giá cước vận chuyển đường thuỷ,đường sắt, đường bộ, đường hàng không và các loại giá dịch vụ về nhà ở,khách sạn, điện, nước, cước phí bưu chính viễn thông như người Việt Nam ởtrong nước. Nghị định cũng quy định thành lập Quỹ phát triển công nghệ đểhỗ trợ cho các hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp. Nghị định điều chỉnh hạ mức lao động tối thiểu bình quân năm của dự ánđược hưởng ưu đãi, đô thị loại 1, loại 2 xuống còn 100 người, các huyệnthuộc danh mục B, C là 20 người, các vùng khác là 50 người. Với quy địnhnày, tiêu thức về lao động mà dự án thu hút được chú ý hơn, tức là quán triệttốt hơn tinh thần khuyến khích đầu tư trong nước của Luật như đã đề cập ởphần trên. Nghị định 07 cũng quy định cho các dự án đầu tư vào khu côngnghiệp, khu chế xuất như là một tiêu thức để hưởng ưu đãi. Trong nội dungưu đãi đầu tư việc miễn thuế nhập khẩu được mở rộng gần như quy định củaLuật đầu tư nước ngoài. Đáng chú ý là, Nghị định này đưa thêm quy định chophép các dự án đầu tư thuộc danh mục A, B, C có khai thác tài nguyên thìđược giảm tối đa là 50% thuế tài nguyên trong ba năm đầu tiên kể từ khi bắtđầu khai thác. Tuy Luật KKĐTTN không quy định loại ưu đãi này, song quyđịnh của Nghị định 07 cũng không trái với quy định của Luật thuế Tàinguyên. Một số ý kiến cho rằng việc quy định thêm của Nghị định 07 là tráiLuật KKĐTTN nhưng theo em đây là điều có thể chấp nhận được, có tácdụng tăng thêm mức độ khuyến khích, tăng thêm tính hấp dẫn của Luật, củaNghị định so với Nghị định số 29/CP, Nghị định 07 đặt vấn đề đề cao hiệu lựchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 53
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.compháp lý của Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. Khoản 4 Điều 44, Nghị định 07quy định: Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư trong đó ghi rõ các khoản ưu đãi làvăn bản có giá trị pháp lý thể hiện của nhà đầu tư được hưởng các mức ưu đãiđầu tư theo quy định của Nghị định này. Trong phần Quản lý nhà nước, Nghịđịnh đã quy định cho các Ban Quản lý khu công nghiệp có thẩm quyền giúpUỷ ban Nhân dân cấp tỉnh trong việc thụ lý hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận ưuđãi đầu tư và Giấy phép thành lập doanh nghiệp cho những dự án đầu tư vàokhu công nghiệp, khu chế xuất. Các quy định về thanh tra, kiểm tra đối vớidoanh nghiệp cũng là những điểm rất đáng ghi nhận ở Nghị định này. Đồngthời để góp phần xử lý những điểm có thể xử lý được Nghị định số 29/CP,phần hiệu lực thi hành, Nghị định 07 cho phép các dự án đã cấp Giấy chứngnhận ưu đãi đầu tư đã cấp theo Nghị định số 29/CP được hưởng các ưu đãi bổsung về miễn giảm tiền thuê đất, ưu đãi về thuế nhập khẩu, ưu đãi về giảmthuế tài nguyên cho thời gian ưu đãi còn lại kể từ ngày Nghị định này có hiệulực thi hành. Trên cơ sở các quy định của Nghị định 07, việc hướng dẫn thi hành củacác Bộ, Ngành TƯ cũng có tiến bộ hơn trước cả về nội dung và tiến độ. Tuynhiên các hướng dẫn về thủ tục hành chính thì vẫn chưa đáp ứng được yêucầu đặt ra. Với những quy định mới của Nghị định 07, các doanh nghiệp càng quantâm hơn về chính sách ưu đãi đầu tư của nhà nước, tạo thêm động lực cho cáchoạt động đầu tư, số các doanh nghiệp đến các cơ quan chức năng có thẩmquyền đăng ký ưu đãi đầu tư tăng lên. Tính đến hết ngày 31/12/1998 theo báocáo của 61 Tỉnh, Thành phố trong cả nước đã cấp Giấy chứng nhận ưu đãiđầu tư cho 1680 dự án với số vốn đăng ký lên tới 30.333 tỷ đồng tăng gấp 2,5lần số dự án đã cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư của ba năm trước đó cộnglại. Kết quả này cũng diễn ra ở cả TƯ và ở địa phương.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 54
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Ở Trung ương từ 01/01/1998 đến 31/12/1998, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đãtiếp nhận 188 dự án, trong đó có 124 dự án của 66 doanh nghiệp được Bộtrưởng cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, không cấp và trả lại 9 hồ sơ vìkhông hợp lệ hoặc không đủ điều kiện ưu đãi theo quy định của Luật và củanội dung, còn 34 dự án đang trong giai đoạn chờ ý kiến của Bộ Tài chính, 21dự án khác đang xem xét xử lý. Trong 124 dự án được cấp ưu đãi có 119 dựán được cấp mới Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư với tổng số vốn đăng ký là4424 tỷ đồng, 5 dự án được cấp bổ sung ưu đãi theo Nghị định 07. Trong 119dự án cấp mới có 63 dự án có hình thức đầu tư theo quy định tại khoản 1, điều2, Nghị định 07 với tổng số vốn đăng ký là 2.936 tỷ đồng, 56 dự án có hìnhthức đầu tư theo quy định tại khoản 2 điều 2 với tổng số vốn đăng ký 1.485 tỷđồng. Trong 119 dự án được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư có 48 dự ánvới số vốn đăng ký 2.030 tỷ đồng đã hoàn thành và đi vào hoạt động từ cácnăm trước, nay doanh nghiệp xin miễn giảm thuế. 71 dự án còn lại đến năm1998 còn đang thực hiện (công trình chuyển tiếp), bắt đầu thực hiện hoặc mớibắt đầu thực hiện. Dù sao cũng phải đánh giá mặt tích cực của Nghị định 07 làdoanh nghiệp có dự án thuộc diện ưu đãi đã thực sự được hưởng ưu đãi, từ đómới có tác dụng khuyến khích. Một điều đáng chú ý khác là số dự án được Bộ KH & ĐT cấp giấy giấychứng nhận ưu đãi đầu tư trong năm 1988 tăng gấp 3 lần số dự án mà Bộ đãcấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư theo Nghị định số 29/CP trong 2 năm1996-1997. Trong số các lý do làm tăng số dự án được cấp Giấy chứng nhậnưu đãi đầu tư đó phải kể đến hai nguyên nhân có tác động lớn là: Một: Thông tin về Luật KKĐTTN đã được phổ cập hơn trước, việc tổchức hướng dẫn của các Bộ, Tỉnh, Thành phố tốt hơn, tích cực hơn. Hai: Nội dung các loại ưu đãi của Nghị định 07 như đã trình bày ở trênhấp dẫn hơn so với Nghị định số 29/CP, nhất là việc mở rộng số dự án dượchưởng ưu đãi theo hình thức đầu tư mới (Khoản 1, Điều 2).http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 55
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Theo quy định của Nghị định 07 thì tất cả các dự án, trước khi cấp Giấychứng nhận ưu đãi đầu tư, Bộ KH & ĐT đều lấy ý kiến Bộ tài chính. Tuy việctrả lời của Bộ Tài chính còn kéo dài so với quy định của Luật và Nghị định,song có một sự thống nhất cao giữa 2 Bộ. Trong 119 dự án đã lấy ý kiến, BộTài Chính đồng ý hoàn toàn 118 dự án, chỉ có 1 dự án Bộ Tài chính đề nghịBộ KH&ĐT cân nhắc thêm một số nội dung ưu đãi. Việc thực hiện các nội dung ưu đãi không có vướng mắc đáng kể nhất lànội dung giảm thuế doanh thu, miễn giảm thuế lợi tức, nhất là sau khi Bộ Tàichính ban hành thông tư số 43/1998/TT-BTC và thực hiện sự phân cấp thì thủtục miễn, giảm thuế nhanh chóng hơn. Riêng hỗ trợ về vốn thì một số doanhnghiệp còn phàn nàn về thủ tục về thời gian đáp ứng về vốn còn chậm. Một sốcông trình triển khai chậm vì thiếu vốn. Tuy thủ tục cho vay ưu đãi còn tiếptục nghiên cứu, cải tiến nhưng cũng cần khẳng định rằng việc các tổ chức chovay phải xem xét lại khả năng hoàn vốn của dự án là việc làm cần thiết. Nếu Thông tư 43 có nhiều tiến bộ thì Thông tư 09/1998/TT-BTM ngày18/7/1998 của Bộ Thương mại cần phải lưu ý thêm về những lỗi không đángcó. Thông tư này quy định thời hạn áp dụng trái với quy định của Nghị định07, đã gây ra những trở ngại không nhỏ cho các doanh nghiệp khi làm thủ tụcmiễn thuế nhập khẩu đối với các dự án đã được Giấy chứng nhận ưu đãi đầutư. Ngoài Thông tư Bộ Tài chính số 02 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộsau cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn: Bộ Tài chính có Thông tư số43/1998/TT-BTC hướng dẫn việc thực hiện miễn giảm thuế; Ngân hàng Nhànước có Thông tư số 04/1998/TT-NHNN ngày 2/5/1998 hướng dẫn thực hiệnhỗ trợ tín dụng; Bộ Lao động thương binh và xã hội có Thông tư số 08/1998/TT-BLĐTBXH ngày 7/5/1998 hướng dẫn cách tính số lao động bình quânnăm; Bộ Thương mại có Thông tư số 09/1998/TT-BTM hướng dẫn việc thựchiện nhập khẩu miễn thuế. Ngoài ra Thủ tướng Chính phủ có Quyết định sốhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 56
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com82/1998/QĐ-TTg ngày 15/4/1998 về việc sửa đổi bổ sung Điều 10 và điều 11,Điều lệ Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia (ban hành kèm theo Quyết định số462/TTg ngày 9/7/1996 của Thủ tướng Chính phủ). Các văn bản hướng dẫntrên có ba ưu điểm nổi bật sau: Một: Lĩnh vực cần hướng dẫn đã được hướng dẫn nhiều hơn so với thờikỳ thi hành Nghị định số 29/CP (thời kỳ này có 5 Thông tư được ban hành,thời kỳ Nghị định số 29/CP có Thông tư được ban hành). Hai: Thời hạn ban hành Thông tư tiến bộ hơn so với thời kỳ Nghị địnhsố 29/CP. Sau khi Nghị định có hiệu lực, cơ quan ban hành Thông tư sớmnhất là Bộ KH&ĐT, cơ quan ban hành muộn nhất là Bộ Thương Mại. Ba: Thủ tục hành chính quy định trong Thông tư đã được quy định đơngiản hơn so với trước, loại bỏ được một số giấy tờ không cần thiết tập trung ởBộ về cho các địa phương, nhất là Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tuy vậy vẫn còn nổi bật lên một số thiếu sót. Thứ nhất: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường vẫn chưa ban hànhđược danh mục các lĩnh vực công nghệ đáp ứng yêu cầu để được ưu đãi đầutư quy định tại điều 2 khoản 30 Nghị định 07. Thứ hai: Thông tư 08/1998/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thươngbinh và xã hội chỉ hướng dẫn cách tính số lao động bình quân năm đã thựchiện, không hướng dẫn cách tính số lao động thu hút bởi dự án chưa hoặcđang triển khai như quy định của Nghị định. Thứ ba: Thông tư số 09/1998/TT-BTM ngày 18/7/1998 của Bộ ThươngMại quy định thời hạn miễn thuế nhập khẩu theo điều 37- Nghị định 07 "kể từngày được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư" là không đúng quy định tạiđiều 50 của Nghị định 07. Thứ tư: Thủ tục hành chính quy định tại Thông tư 09 và Thông tư 43 cònbao gồm cả một số yếu tố không cần thiết. Ví dụ, Thông tư 43 quy định hồ sơhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 57
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.commiễn giảm thuế gồm 4 yếu tố trong đó có 2 yếu tố thừa là quyết định thànhlập doanh nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đơn đề nghịđược hưởng các mức ưu đãi về thuế. Hai yếu tố đó đã được cơ quan cấp Giấychứng nhận ưu đãi đầu tư xem xét rồi. So với thời kỳ thực hiện Nghị định số 29/CP, thời kỳ thực hiện Nghịđịnh 07 có thể nói là một bước ngoặt. Tuy vậy Nghị định 07 vẫn chưa giảiquyết dứt điểm được những tồn tại trước đó trong chính sách khuyến khíchđầu tư. Nhiều ý kiến cho rằng quốc doanh vẫn được khuyến khích hơn dândoanh, đầu tư mới vẫn được khuyến khích hơn đầu tư mở rộng mặc dù xét vềmặt kinh tế đầu tư mở rộng có tác dụng trực tiếp tăng hiệu quả nền kinhtế,tăng quy mô vốn cá biệt (đầu tư mở rộng theo cách hiểu của Nghị định số29/CP và Nghị định 07 chính là đầu tư chiều sâu, đầu tư cải tiến công nghệ,hợp lý hoá sản xuất, hợp lý hoá quản lý, làm tăng quy mô và chất lượng sảnphẩm hàng hoá. Điều này thực ra không mấy khó hiểu vì nhiều quy định đãđược Luật KKĐTTN quy định khung, việc thực hiện các chế độ ưu đãi khôngphải chỉ phụ thuộc duy nhất vào Luật KKĐTTN hay Nghị định hướng dẫn nómà còn phụ thuộc vào rất nhiều quy định tại các văn bản quy phạm pháp luậtkhác như Luật đất đai, các Luật thuế, Luật thương mại... thậm chí còn phụthuộc vào các văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, tổchức bộ máy của hệ thống hành pháp. 4. Giai đoạn thực hiện Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửađổi) số 03/1999/QH10 (từ ngày 01/01/1999 đến nay) Gần bốn năm thực hiện Luật KKĐTTN thông qua việc triển khai haiNghị định của Chính phủ, những mặt tích cực, những nhược điểm, thiếu sóttrong công tác khuyến khích đầu tư trong nước đã thể hiện khá rõ. Sau mộtthời gian chuyển bị khá dài và nghiêm túc, Dự Luật KKĐTTN đã được đưa rađệ trình tại Quốc hội khoá X kỳ họp thứ 3. Ngày 20/5/1998, Quốc hội khoá Xkỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật KKĐTTN (sửa đổi). Luật này có hiệu lực thihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 58
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comhành từ 01/01/1999 và thay thế Luật KKĐTTN đã được Quốc hội khoá IX kỳhọp thứ 5 thông qua ngày 22/6/1994. Để cụ thể hoá một số quy định của LuậtKKĐTTN (sửa đổi), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/1999/NĐ-CPngày 08/7/1999 Quy định chi tiết thi hành Luật KKĐTTN (sửa đổi) số03/1998/QH10. Trên cơ sở hai văn bản quy phạm pháp luật này Bộ Kế hoạchvà Đầu tư đã có Thông tư số 02/1999/TT-BKH ngày 24/9/1999 hướng dẫntrình tự thủ tục cấp ưu đãi đầu tư theo Nghị định 51, Bộ Tài chính có Thôngtư số 146/1999/TT-BTC ngày 17/12/1999 hướng dẫn việc thực hiện miễnthuế, giảm thuế theo quy định tại Nghị định 51. Như vậy so với thời điểm cóhiệu lực của Luật và Nghị định thì các văn bản hướng dẫn của các Bộ banhành chậm hơn rất nhiều. Đây là một thiếu xót thường gặp trong việc hướngdẫn thi hành các văn bản quy phạm, pháp luật ở nước ta. Cách xử lý trườnghợp này như thế nào là một câu hỏi đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước. Về mặt cơ sở pháp lý, Luật KKĐTTN (sửa đổi) có hiệu lực thi hành từ01/01/1999 và thay thế Luật KKĐTTN năm 1994. Như vậy những hồ sơ màcơ quan tiếp nhận hồ sơ đã lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan thì tiếp tụccấp ưu đãi đầu tư theo Nghị định 07 hay cấp theo Luật sửa đổi. Đối với cácdự án chưa gửi công văn lấy ý kiến thì có tiếp tục lấy ý kiến theo quy định củaNghị định 07 hay phải chờ chính phủ ban hành Nghị định mới rồi mới dự kiếnưu đãi theo quy định của Nghị định mới. Đối với những hồ sơ nhận từ01/01/1999 đến khi Chính phủ ban hành Nghị định mới thì có được tiếp tụcxử lý bình thường theo Nghị định 07 hay phải chờ Nghị định mới. Trước thực tế đó có ba quan điểm khác nhau : Một là: Luật KKĐTTN ngày 22/6/1994 đã hết hiệu lực thi hành thì cácvăn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành của Chính phủ, của các Bộ,Ngành cũng hết hiệu lực. Tức là từ 01/01/1999 phải cấp Giấy chứng nhận ưuđãi đầu tư theo Luật sửa đổi.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 59
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Hai là: Để đảm bảo tính liên tục và ổn định của quản lý hành chínhtrong khi Chính phủ chưa ban hành Nghị định mới thì vẫn tiếp tục xử lý theoNghị định 07. Tuy nhiên chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy địnhnhư vậy. Ba là: Quan điểm trung hoà giữa hai quan điểm trên là lấy ngày nhận hồsơ chứ không lấy ngày phát hành Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư làm mốctính để chọn căn cứ pháp lý là Luật cũ thay Luật sửa đổi. Theo quan điểm nàynhững hồ sơ đã nhận trước ngày 01/01/1999 thì xử lý theo Nghị định 07, nhậnsau ngày đó thì xử lý theo Nghị định mới. Cân nhắc các căn cứ pháp lý và yêu cầu thực tế, Vụ Doanh nghiệp đãkiến nghị Bộ trưởng Bộ KH&ĐT có tờ trình Thủ tướng Chính phủ đề nghịcho phép thực hiện các biện pháp xử lý giao thời giữa hai Luật (một vướngmắc đã trở thành truyền thống trong quản lý nhà nước bằng pháp luật của talâu nay mà cơ hồ như không khắc phục được thường là tất cả phải "chủ độngngồi chờ"). Sau đó Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho phép Bộ KH&ĐThướng dẫn các địa phương thực hiện các biện pháp xử lý giao thời. BộKH&ĐT cũng có công văn hướng dẫn 61 tỉnh thành phố. Nội dung các biệnpháp xử lý giao thời bao gồm: Một là: Tất cả các hồ sơ hợp lệ gửi đến cơ quan tiếp nhận hồ sơ cho đếnngày 31/12/1998 đều phải được xem xét xử lý theo nội dung ưu đãi quy địnhtại Nghị định 07. Tuy nhiên để đảm bảo tính thống nhất của quyết định hànhchính thì trong Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư phải ghi rõ Giấy chứng nhậnưu đãi đầu tư này có giá trị như các Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư đã cấp đếnngày 31/12/1998. Hai là: Các hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư gửi đến cơquan tiếp nhận hồ từ 01/01/1999 cho đến ngày có Thông tư hướng dẫn Nghịđịnh mới của Chính phủ được xử lý như sau: Hồ sơ thủ tục tạm thời thực hiệntheo quy định của NĐ 07 và Thông tư số 02. Những hồ sơ có nội dung ưu đãihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 60
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđối với địa bàn thì phải chờ thực hiện theo Nghị định mới. Việc xét các ngànhnghề ưu đãi tạm thời căn cứ vào danh mục A ban hành kèm theo NĐ 07. Cácnội dung ưu đãi được vận dụng theo Luật KKĐTTN (sửa đổi). Mẫu giấychứng nhận ưu đãi đầu tư tạm thời theo quy định tại Thông tư số 02 nhưngđiều chỉnh phần ghi căn cứ pháp lý. Việc vận dụng của các địa phương đượcthực hiện theo tinh thần, nếu điểm nào Luật sửa đổi đã quy định rõ thì vậndụng Luật để giải quyết ngay, điểm nào chưa quy định thì chờ NĐ mới củaChính phủ. Với việc hướng dẫn các biện pháp xử lý giao thời như vậy đã khắcphục được sự gián đoạn về mặt hành chính trong thời gian chuyển tiếp giữahai Luật, góp phần bảo đảm cho các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệpdiễn ra bình thường. Đây cũng là một tác động quan trọng góp phần làm chocông tác KKĐTTN năm 1999 thu được một số kết quả đáng ghi nhận. Theo báo cáo của 54 tỉnh , thành phố trong năm 1999, các địa phương đãcấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư cho 586 dự án với số vốn đăng ký của cácdự án gần 7.200 tỷ đồng trong đó các doanh nghiệp nhà nước có 157 dự ánvới tổng số vốn đăng ký là 4.622 tỷ đồng chiếm 26,8% về số dự án và 65% vềsố vốn đăng ký. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 429 dự án được cấpưu đãi với số vốn đăng ký là 2.490 tỷ đồng, chiếm 73,2% về số dự án và 35%về số vốn đăng ký. Số dự án được hưởng ưu đãi đầu tư của các doanh nghiệpngoài quốc doanh nhiều hơn hẳn số dự án của doanh nghiệp nhà nước là nétrất đáng chú ý trong thực tế cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư năm 1999. Cónhiều nguyên nhân của sự thay đổi cơ cấu này trong đó năm 1998, có thể nóilà một năm có số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh được đăng ký kinhdoanh tăng đáng kể do tác động của Thông tư liên tịch số 05 hướng dẫn trìnhtự, thủ tục đăng ký kinh doanh của liên Bộ KH & ĐT và Tư pháp. Mặt khácnhững quy định về nội dung ưu đãi của hai hình thức đầu tư chủ yếu là đầu tưmới và đầu tư mở rộng đã được Luật thu hẹp nên cũng kích thích được cádoanh nghiệp đăng ký ưu đãi đầu tư. Cũng do vậy trong số dự án đã được cấpgiấy chứng nhận ưu đãi đầu tư thì dự án đầu tư dưới hình thức mở rộng chiếmhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 61
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtới 44% về số dự án, 43% về số vốn đăng ký, các dự án đầu tư mới chiếm56% về số dự án và 57% về số vốn đăng ký. Việc thực hiện Luật giữa các vùng có khác nhau đáng kể. Cũng như cácnăm trước, các tỉnh miền Nam có nhiều nét nổi trội, cấp ưu đãi đầu tư chophép được nhiều dự án. Trong tổng số dự án được cấp Giấy chứng nhận ưuđãi đầu tư, 12 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long có 230 dự án, với số vốnđăng ký là 1284 tỷ đồng chiếm hơn 39% của tổng số dự án, hơn 18% tổng sốvốn đăng ký. Các tỉnh Đông Nam Bộ có 158 dự án với số vốn đăng ký là3.906 tỷ đồng chiếm 27% số dự án và gần 55% tổng số vốn đăng ký. Các tỉnhmiền Bắc và miền Trung chiếm một tỷ trọng nhỏ so với các vùng khác. Ví dụ13 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên chỉ có 99 dự án với 706 tỷ đồng vốn đăngký. Các dự án được hưởng ưu đãi đã thu hút một số lượng lao động khá lớn.Riêng 508 dự án được hưởng ưu đãi đã thu hút được gần 163 ngàn lao động,bình quân một dự án thu hút 323 lao động. Đây là những con số thực sự có ýnghĩa. Địa phương có nhiều nỗ lực trong thực thi Luật KKĐTTN là Thành phốHồ Chí Minh. Năm 1999, Thành Phố Hồ Chí Minh đã cấp ưu đãi cho 82 dựán với số vốn đăng ký gần 2.7000 tỷ đồng, các dự án thuộc diện ưu đãi đã thuhút hơn 38 ngàn lao động. Trong 82 dự án được cấp ưu đãi các doanh nghiệpngoài quốc doanh có 75 dự án với số vốn đăng ký gần 900 tỷ đồng chiếm hơn91% số dự án và 33% vốn đăng ký. Tiếp đến là An Giang cấp 95 dự án với sốvốn đăng ký hơn 200 tỷ đồng, khu vực ngoài quốc doanh chiếm 88,4% số dựán và 67% số vốn đăng ký. Với nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng đã đề ra, Luật KKĐTTN đãvà đang tiếp tục phát huy hiệu quả thu hút được nhiều nguồn nhân lực chođầu tư phát triển. Kể từ khi thực hiện Luật KKĐTTN năm 1995 cho đến nay,trên địa bàn cả nước đã có 3000 dự án đầu tư được hưởng ưu đãi với số vốnđầu tư là 1,5 tỷ USD.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 62
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Trong năm 2000 Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm chỉ đạo việc thựchiện Luật KKĐTTN , yêu cầu các cơ quan hữu quan và các địa phương khẩntrương sửa đổi , bổ sung và hướng dẫn các chính sách nhằm thúc đẩy việcthực hiện các biện pháp KKĐTTN . Kết quả đạt được là : Về cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư : Năm 2000 cả nước đã cấp được1.641 Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư với tổng số vốn đầu tư trên 25.893 tỷđồng ; trong đó số dự án do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp là 237 với tổng sốvốn đầu tư là 10.615 tỷ đồng , và số dự án do các địa phương cấp là 1.404 vớitổng số vốn trên 15.278 tỷ đồng . Cơ cấu dự án và cơ cấu vốn đầu tư của các dự án do Bộ Kế hoạch Đầu tưcấp ưu đãi đầu tư được phân bổ như sau : - Nông , Lâm nghiệp : 18 dự án với số vốn đăng ký là 2.239 tỷ đồng , là lĩnh vực thu hút nhiều vốn nhất ( chiếm 21,1% tổng số vốn), trong đó 13 dự án trồng cao su,3 dự án trồng cà phê, 1 dự án tròng chè, 1 dự án khai hoang . - Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật , nhà ở , trung tâm thương mại : 32 dự án với 1.946 tỷ đồng ( chiếm 18.3% tổng số vốn) đầu tư ở nhóm này chủ yếu tập trung phát triển mạng lưới thông tin liên lạc . - Công nghiệp nhẹ : 55 dự án với 1.915 tỷ đồng vốn đăng ký ( chiếm 18% tổng vốn ) . Đây là nhóm có nhiều dự án nhất, các dự án tập trung vào các ngành giấy, dệt, may, sành sứ, thuỷ tinh. - Sản xuất vật liệu xây dựng (xi măn, gạch lát, cấu kiện xây dựng nh ) : 16 dự án với 1.695 tỷ đồng vốn đăng ký ( chiếm 16 % tổng số vốn ) . - Vận tải : 22 dự án với 879 tỷ đồng vốn đăng ký . - Các ngành khác ( xây dựng , cơ khí , điện tử , khai khoáng , phân bón hoá chất ) 104 dự án với 1.941 tỷ đồng vốn đăng ký .http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 63
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Dưới đây là kết quả thực hiện Luật tại các địa phương trong năm 2000 . Theo báo cáo của các tỉnh thành phố , trong số 1.404 dự án được cấpGiấy chứng nhận ưu đãi đầu tư và số vốn 15.278 tỷ đồng nói trên có 291 dựán thuộc khu vực doanh nghiệp nhà nước với số vốn đầu tư đăng ký trên4.917 tỷ đồng ( chiếm 20,7% tổng số dự án , và 32 % tổng số vốn đầu tư ) , và1.113 dự án thuộc khu vực doanh nghiệp dân doanh với số vốn đầu tư trên10.361 tỷ đồng ( chiếm 79,3 % tổng số dự án và 68% tổng số vốn đầu tư ) . Phân loại theo loại dự án , thì trong tổng số 1.404 dự án được cấp Giấychứng nhận ưu đãi đầu tư , có 741 dự án đầu tư mới với tổng số vốn đầu tưtrên 8.417 tỷ đồng ; trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước có 40 dự án vớisố vốn đầu tư trên 908 tỷ đồng , khu vực doanh nghiệp dân doanh có 701 dựán với số vốn đầu tư trên 7.509 tỷ đồng ; số dự án đầu tư mở rộng là 663 , vớitổng số vốn đầu tư trên 6.861 tỷ đồng ; trong đó có 251 dự án của khu vựcdoanh nghiệp nhà nước với số vốn đầu tư trên 4.009 tỷ đồng , còn lại 412 dựán là khu vực doanh nghiệp dân doanh với số vốn đầu tư trên 2.852 tỷ đồng.(Biểu 7) Đi đầu về cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư năm 2000 là thành phố HồChí Minh và tỉnh An Giang cụ thể ,thành phố Hồ Chí Minh đã cấp Giấychứng nhận ưu đãi đầu tư cho 272 dự án với số vốn đầu tư trên 3.251 tỷđồng và số lao động được sử dụng 47.138 người , trong đó khu vực nhà nướccó 28 dự án với số đầu tư trên 599 tỷ đồng và sử dụng 5.680 lao động , khuvực doanh nghiệp dân doanh có 244 dự án với số vốn đầu tư 2.652 tỷ đồngvà sử dụng 41.458 lao động Tỉnh An Giang đã cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư cho 99 dự án vớitổng số vốn đầu tư 420 tỷ đồng , trong khu vực doanh nghiệp nhà nước có 14dự án với số vốn đầu tư 265 tỷ đồng , khu vực doanh nghiệp dân doanh có 85dự án với số vốn đầu tư 155 tỷ đồng .http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 64
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Nhìn chung , các tỉnh phía Nam vẫn là khu vực hưởng ứng Luật nhiềunhất . Vùng V gồm 8 tỉnh thuộc Đông Nam Bộ , có tới 535 dự án , với tổng sốvốn đầu tư trên 6.313 tỷ đồng , chiếm 38.1% tổng số dự án đầu tư và 41.3%ttổng số vốn đầu tư của cả nước . Vùng VI gồm 12 tỉnh Đồng Bằng Sông CửuLong , có 462 dự án với số vốn đầu tư trên 2.622 tỷ đồng , chiếm 33% tổng sốdự án đầu tư và 17,2 % tổng số vốn đầu tư so với cả nước. Tiếp đến là VùngII , gồm 15 tỉnh Đồng Bằng Sông Hồng , có 155 dự án với số vốn đầu tư trên2.440 tỷ đồng ; Vùng III gồm 10 tỉnh miền Trung Nam Bộ có 144 dự án vớisố vốn đầu tư trên 3.083 tỷ đồng ; Vùng I gồm 13 tỉnh miền núi phía Bắc , có73 dự án với tổng số vốn đầu tư trên 658 tỷ đồng ; Vùng IV gồm 3 tỉnh TâyNguyên có 33 dự án với tổng số vốn đầu tư trên 159 tỷ đồng . Như vậy trong năm 2000 Luật KKĐTTN đã góp phần thu hút một lượngvốn đáng kể là 25. 893 tỷ đồng đầu tư vào nền kinh tế , trong khu vực dândoanh đóng góp 15.278 tỷ đồng chiếm 59% , có thể nói mặc dù số vốn nàycòn thấp xa, so với tiềm năng thực sự của khu vực kinh tế dân doanh , nhưngchúng ta đã góp phần hồi phục tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng tích cực trong tình hình giảm phát năm 2000 . Đồng thờiđã tạo việc làm cho 157.766 lao động , như vậy trung bình mỗi dự án sử dụngtrên 112 lao động Biểu 7: Số dự án được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư của cácdoanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh ở địa phương năm 2000 Đơn vị tính: Tỷ đồng Cấp quản Tổng Tổng số Đầu tư mới Đầu tư mở Tín dụng từ lý doanh số dự vốn rộng quỹ Số nghiệp án Số Số DA Số vốn Số vốn DA Số tiền DA vay Tổng số 1.404 15.278 741 8.417 663 6.861 496 1.128http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 65
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Q. Doanh 291 4.917 40 908 251 4.009 193 873 % 20,7 32,0 5,4 10,8 37,9 58,4 38,9 77,4 - D. Doanh 1.113 10.361 701 7.509 412 2.852 303 255 % 79,.3 68,0 94,6 89,2 62,1 41,6 61,1 22,6 Nguồn: Tính toán từ các báo cáo của các Sở KH&ĐT tỉnh/thành phố vàVụ doanh nghiệp Bộ KH&ĐT năm 2000 So với năm 1999, số dự án được hưởng ưu đãi đầu tư năm 2000 tănggấp 2,2 lần và số vốn đầu tư tăng gấp 2 lần. Đặc biệt trong 1.404 dự án đượchưởng ưu đãi năm 2000 có 1.113 dự án thuộc khu vực doanh nghiệp dândoanh với số vốn đầu tư trên 10.361 tỷ đồng chiếm gần 79,3% về số dự án và68% về số vốn đầu tư. Cũng trong năm 2000 tổng số dự án được vay tín dụngưu đãi từ Quỹ Hỗ trợ đầu tư Quốc gia là 496 dự án với tổng số vốn vay là trên1.128 tỷ đồng. Đồng thời cũng đã có gần 44 triệu m2 đất được giao cho cácdự án trong năm 2000 . Biểu đồ (trang sau) Nhìn một cách tổng thể, về số dự án và vốn đầu tư, Luật KKĐTTN (sửađổi) đã thu được những kết quả đáng khích lệ mặc dù, so với kết quả thựchiện trong 2 năm 1997-1998 (giai đoạn thực hiện Luật năm 1994), số lượngdự án và số vốn đầu tư đăng ký tăng không nhiều, thậm chí ở một số địaphương cón bị giảm sút, nhưng có thể thấy xu thế gia tăng đầu tư khá mạnhtrong năm 2000 và sự chuyển biến mạnh về chất trong cơ cấu đầu tư ở nhiềuđịa phương. So với cả năm 1999,số dự án được cấp Giấy chứnh nhận ưu đãiđầu tư trong 6 tháng năm 2000 bằng 72,2% và số vốn đầu tư bằng 64,5%. Cơcấu dự án và vốn đầu tư giữa hai khu vực dân doanh và quốc doanh có sựchuyển biến mạnh, theo su hướng nghiêng về phía khu vực dân doanh (xembiểu 8 ) Biểu 8 : Cơ cấu dự án và vốn đầu tư Đơn vị : % Dân doanh Quốc doanhhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 66
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comSố dự án đầu tư từ năm 1998 về trước 46 54Số dự án đầu tư từ 01 - 01 - 1999 đến 30 -12- 51 492000Số vốn đầu tư từ 1998 về trước 14 86Số vốn đầu tư từ 01 - 01 - 1999 đến 30 - 12 - 2000 58 42 Nguồn : Tính toán từ báo cáo của các sở KH & ĐT tỉnht thành phố vàVụ Doanh nghiệp , Bộ KH & ĐT năm 2000 Mặt bằng sản xuất , kinh doanh là một trong những điều kiện quan trọngcho thành lập và phát triển của các doanh nghiệp. Luật KKĐTTN đã cónhững quy định cụ thể như phát triển các khu công nghiệp , khu chế xuất, quyhoạch đất và công bố các khu quy hoạch kêu gọi đầu tư tại các địa phương,các mức miễn giảm thuế, tiền thuê đất ( Điều 6,7 và Điều 8 Nghị định 51 ). Theo báo cáo của các tỉnh thì trong năm 2000 có 42 tỉnh thực hiện đượcbiện pháp giao đất và cho thuê đất cho 419 dự án . So với năm 1999, số dự ánđược giao đất tăng 3 lần và số dự án thuê đất tăng 2,6 lần. Về giao đất có 72 dự án đầu tư dược giao đất với tổng diện tích là43.990.908 m2; trong đó có 42 dự án thuộc khu vực doanh nghiệp nhà nướcđược giao 42.672.230 m2 chiếm 96,9 % tổng diện tích đất giao; 30 dự ánthuộc khu vực dân doanh được giao 1.318.678 m2 chiếm 3,15 tổng diện tíchđất giao và bình quân một doanh nghiệp dân doanh cũng được giao 4,4 ha. Về cho thuê đất có 343 dự án thuê đất với tổng diện tích là 86.527.383m2 trong đó có 112 doanh nghiệp nhà nước được thuê với tổng diện tích là74.389.755 m2 chiếm 86% tổng diện tích đất được nhà nước cho thuê; khuvực doanh nghiệp dân doanh có 231 dự án với tổng diện tích được thuê là12.137.628 m2, chiếm 14% tổng diện tích đất được nhà nước cho thuê. Qua đây ta thấy các cơ quan nhà nước đã mạnh dạn hơn trong việc giaođất và cho thuê đất cho các nhà đầu tư trong nước, không như tình hình nhữngnăm trước đây. Điều này thể hiện sự cởi mở hơn trong chính sách của nhàhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 67
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnước đối với các nhà đầu tư nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư để phát triểnkinh tế của đất nước . Tuy nhiên vẫn còn bất bình đẳng trong lĩnh vực đất đai,cụ thể là doanh nghiệp nhà nước được giao với diện tích lớn chiếm 96,9%diện tích đất giao năm 2000, trong khi đó phần giao cho các doanh nghiệp dândoanh dân doanh nhỏ bé không đáng kể cả về số dự án lẫn diện tích (chỉ có30 dự án , chiếm 41,7% trong tổng số dự án được giao đất). Tình hình tươngtự cũng thấy trong tương quan diện tích đất thuê, mặc dù tỷ trọng đỡ chênhlệch hơn : doanh nghiệp nhà nước được thuê tới 86% diện tích đất, 14% cònlại cho các doanh nghiệp dân doanh. ( Xem Biểu 9). Đối với người Việt Nam ở nước ngoài Luật KKĐTTN cũng đã tác độngmột cách tích cực . Đến nay đã có 400 Việt kiều đầu tư tại Việt Nam theoLuật KKĐTTN với tổng số vốn đầu tư trên 400 tỷ đồng. Năm 2000, các địaphương đã cấp 16 Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư cho Việt Kiều , với tổng sốvốn đầu tư là 49,3 tỷ đồng. Nhiều nhất là Thành phố Hồ Chí Minh có 12 dựán đầu tư với tổng số vốn đầu tư là trên 42 tỷ đồng, 2 dự án của Bình Định vớitổng số vốn đầu tư là trên 6 tỷ đồng, 1 dự án của Kiên Giang với tổng số vốnđầu tư là trên 1 tỷ đồng, 1 dự án ở Hải Dương với tổng số vốn trên 200 triệuđồng. Như vậy kết quả thực hiện Luật KKĐTTN (sửa đổi) năm 2000 cho thấytình hình đầu tư trong nước năm 2000 có bước phát triển đáng ghi nhận. Luậtnày đã có tác dụng nhất định trong việc động viên nguồn lực trong nước vàocông cuộc phát triển kinh tế đất nước và bắt đầu thu hút sự quan tâm của cácnhà đầu tư tư nhân. Biểu 9: Số dự án được cấp ưu đãi đầu tư có nội dung ưu đãi đượccấp và cho thuê đất của 42 tỉnh/thành phố (Đến 30/12/2000) Đơn vị tính : triệu m2http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 68
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Chỉ tiêu Tổng số Giao đất và cho thuê đất Tổng số dự án * Giao đất Thuê đất dự án ** Q.doanh Dân Q.Doanh Dân doanh doanh 72 42 30 112 231 343 % 100 96,9 3,1 86,0 14,0 100 Diện tích 43,991 42,672 1,319 74,389 12,138 86,527 Nguồn: Báo cáo của Sở KH&ĐT42 tỉnh thành phố, Vụ Doanhnghiệp Bộ KH& ĐT 2000 Ghi chú : * Tổng số dự án được Giao ưu đãi đầu tư ** Tổng số dự án được ưu đãi về cho thuê đất5. Vấn đề đặt ra trong việc thi hành Luật KKĐTTN (sửa đổi) Có hai nhóm vấn đề đặt ra trong việc thi hành Luật Doanh nghiệp: Mộtlà nhóm vấn đề trực tiếp thực hiện các quy định của Luật và các văn bản dướiLuật hướng dẫn thi hành và hai là, những nội dung quy định tại LuậtKKĐTTN và Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật này có liênquan đến quy định tại các luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác. Nhóm vấn đề thứ nhất: Trong đó có các quy định tại Luật KKĐTTN (sửađổi) nói chung nhiều quy định đã được rõ ràng hơn Luật 1994 và đã khắcphục được khá nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật 1994 đặt ra.Tuy nhiên một số vướng mắc kéo dài mà vẫn chưa được xử lý. Ví dụ trong chương về bảo đảm và hỗ trợ đầu tư có quy định: trongtrường hợp do thay đổi quy định của pháp luật mà làm thiệt hại đến lợi ích cácnhà đầu tư thì nhà nước cho nhà đầu tư được hưởng tiếp tục các ưu đãi đã quyđịnh trong thời gian còn lại hoặc nhà nước giải quyết thoả đáng quyền lợi chonhà đầu tư. Về nội dung "tiếp tục hưởng"; Nghị định 51 bước đầu có hướngxử lý nhưng nội dung "giải quyết thoả đáng" thì từ Luật bổ sung sửa đổi đếnnay chưa có hướng xử lý nào, đang là một nội dung còn bỏ ngỏ.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 69
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Nội dung về lập Quỹ hỗ trợ đầu tư đã được Luật sửa đổi quy định riêngQuỹ hỗ trợ của nhà nước (Nghị định 50/1999/NĐ-CP gọi là Quỹ hỗ trợ pháttriển) thì việc triển khai quá chậm. Một số nhiệm vụ quan trọng của quỹ nàyđược xác định từ khi thực hiện Luật 1994, đến nay vẫn chưa được triển khai,như nhiệm vụ về trợ cấp lãi suất, và bảo lãnh tín dụng. Mặt khác cơ chế hoạtđộng của quỹ dường như vẫn dập khuôn cơ chế tín dụng kế hoạch hàng năm,chưa có quy định về sự phối hợp giữa cơ quan cấp ưu đãi đầu tư với quỹ trungương và chi nhánh quỹ ở các địa phương. Phải nói rằng, Luật sửa đổi quyđịnh khá nhiều về quỹ: Quỹ hỗ trợ đầu tư, Quỹ hỗ trợ xuất khẩu, Quỹ hỗ trợphát triển khoa học và công nghệ nhưng rất chậm được triển khai và cụ thểhoá. Luật sửa đổi có hiệu lực từ 01/01/1999 nhưng vấn đề "công khai quyhoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và quỹ đất chưa sử dụng đất đang cónhu cầu giao và cho thuê" dường như không cơ quan nào quan tâm hướngdẫn. Có một thực tế rất đáng quan tâm là hiện ở các thành phố lớn, quỹ đấtchưa sử dụng còn rất ít, nhưng diện tích đất chưa hoặc không sử dụng của cácdoanh nghiệp nhà nước không nhỏ. Nghị định 18/CP chủ trương chuyển giaochế độ giao đất kinh doanh sang chế độ thuê đất nhưng dường như vẫn khôngđược thực hiện làm tăng thêm khó khăn về quỹ đất làm mặt bằng kinh doanh.Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các cơ sở đào tạo giáo dục, y tế dânlập, tư thục phải đi thuê lại đất của các doanh nghiệp nhà nước. Tất nhiên việc thuê lại này không được hưởng chế độ ưu đãi về thuế đấtquy định tại Luật sửa đổi và Nghị định 51. Luật sửa đổi và Nghị định đã quy định và ban hành danh mục, ngànhnghề được hưởng ưu đãi đầu tư, xong chưa đủ cụ thể và chưa đủ rõ. Mặt khác,số ngành mới xuất hiện từ thực tế kinh doanh thì danh mục chưa bao quátđược gây khó khăn cho các cơ quan xem xét cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầutư.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 70
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Chế độ ưu đãi về thuế, Luật sửa đổi và Nghị định quy định khá hấp dẫnnhưng chưa thực sự đủ rõ dẫn đến có các cách hiểu và hướng dẫn của các cơquan rất khác nhau. Quy định về mức hưởng ưu đãi thuế suất, thuế thu nhậpdoanh nghiệp, tuy Nghị định 51 quy định là nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộcdanh mục A hoặc B hoặc C thì được hưởng các mức thuế suất tương ứng quyđịnh tại Điều 20 Nghị định 51 nhưng Thông tư số 146/1999/TT-BTC lại chỉcho phép các dự án thành lập mới doanh nghiệp được hưởng, còn các dự ánđầu tư mở rộng không được hưởng ưu đãi về thuế suất. Trong hướng dẫn Hồsơ làm căn cứ xác định ưu đãi về thuế, có yếu tố không cần thiết chẳng hạnyếu tố Quyết định thành lập và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vì yếu tốnày đã được cơ quan cấp Giấy chứng nhận ưu đãi xem xét. Nhóm vấn đề thứ hai: là quan hệ giữa các nội dung ưu đãi quy định tạiLuật KKĐTTN, các văn bản hướng dẫn thi hành và quy định về các nội dungđó tại các văn bản quy phạm pháp luật liên quan: Trước hết phải kể đến vấn đề thuê đất, Luật sửa đổi và Nghị định đã quyđịnh nội dung ưu đãi này, quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèmtheo Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ đã bỏ chế độcấp giấy phép đầu tư đối với các dự án không sử dụng vốn ngân sách, vốn tíndụng ưu đãi của nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh và vốn đầu tưcủa các doanh nghiệp không phải doanh nghiệp nhà nước nhưng trong thủ tụcthuê đất quy định là phải có dự án khả thi do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnphê duyệt. Thế là toàn bộ việc thuê đất bị tắc lại, cũng tức là nội dung ưu đãivề tiền thuê đất coi như không thực hiện được. Về hình thức đầu tư của dự án đầu tư đăng ký ưu đãi, Nghị định số44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 về chuyển Doanh nghiệp Nhà nước thànhCông ty cổ phần tại điều 13 có quy định: Doanh nghiệp Nhà nước chuyểnthành Công ty cổ phần là hình thức đầu tư mới, được hưởng ưu đãi theo quyđịnh của Luật KKĐTTN (sửa đổi). Trường hợp những Doanh nghiệp khônghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 71
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđủ điều kiện hưởng ưu đãi theo quy định của Luật KKĐTTN (sửa đổi) thìđược giảm 50% thuế lợi tức (Thuế thu nhập doanh nghiệp) trong 2 năm liềntiếp kể từ sau khi chuyển sang hoạt động theo 2 Luật công ty. Cổ phần hoádoanh nghiệp nhà nước là việc chuyển đổi hình thức sở hữu, nhưng tại mục B,hướng dẫn thực hiện miễn thuế, giảm thuế Thông tư số 146/1999/TT-BTCngày 17/12/1999 lại quy định: "Chuyển đổi hình thức sở hữu không thuộc đốitượng được hưởng ưu đãi về thuế theo quy định này “. Như vậy, để Luật sửa đổi có thể triển khai tốt trong thực tế thì sự phốihợp nhất quán trong hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền là vô cùngquan trọng. Và để chủ trương khuyến khích các hoạt động đầu tư trong nướccó thể đi vào cuộc sống đông đảo nhân dân hưởng ứng thì cùng với việc quyđịnh rõ ràng, minh bạch các nội dung ưu đãi và thủ tục đăng ký và thực hiệnưu đãi tại các văn bản pháp lý về khuyến khích đầu tư, việc quy định các nộidung có liên quan đến chế độ ưu đãi tại các văn bản khác cần đảm bảo tínhnhất quán, một cách hiểu với quy định của Luật KKĐTTN, cố gắng tối đa sựchồng chéo, quy định mâu thuẫn nhau nhằm bảo đảm một nội dung chuyênmôn hẹp không để có nhiều cách vận dụng, nhiều cách hiểu khác nhau, gâykhó khăn cho Doanh nghiệp, cho chủ đầu tư.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 72
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com PHẦN III NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC KHUYẾN KHÍCH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC Từ sự tổng hợp, phân tích mặt tích cực và hạn chế của thực trạng hoạtđộng khuyến khích đầu tư trong nước thời gian qua, trên cơ sở những tưtưởng cơ bản về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế mà nhiều Nghị định, Nghịquyết của Đảng ta trong thời gian gần đây đã nêu ra. Em xin kiến nghị một sốđịnh hướng có tính nguyên tắc và một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tụckhuyến khích mạnh mẽ hơn nữa hoạt động đầu tư trong nước những năm tớithông qua việc thi hành các chế độ pháp lý về khuyến khích đầu tư trongnước.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 73
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com I/ Một số định hướng nguyên tắc Một là: Trên cơ sở xác lập và điều chỉnh cơ cấu kinh tế-xã hội theohướng phát huy tốt hơn nội lực phát triển của đất nước để định hướng đúngngành nghề, lĩnh vực, địa bàn cần khuyến khích đầu tư phù hợp với kế hoạchkinh tế quốc dân trong từng thời kỳ. Quá trình này một mặt đòi hỏi phải gópphần tạo động lực phát triển cho các trung tâm công nghiệp, thương mại, cácthành phố. Mặt khác thể hiện sự quan tâm chú ý của Nhà nước trong việctừng bước thúc đẩy hoạt động đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh, pháttriển kinh tế xã hội tại những vùng có điều kiện khó khăn hay đặc biệt khókhăn. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới cho thấy, để một nền tảng kinhtế tăng trưởng nhanh, bền vững không thể chỉ dựa vào một số trung tâm kinhtế thương mại hay một vài thành phố trọng điểm của đất nước tuy sự pháttriển của các trung tâm đó là không thể thiếu. Điều quan trọng là cần phải cómột cơ cấu kinh tế hợp lý, có được những định hướng đúng đắn cho việc pháttriển các ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn sao cho vừa đảm bảo sự phát triểnđồng đều giữa các vùng trong cả nước, vừa tận dụng được lợi thế so sánh củacác ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn để tạo ra được các vùng trung tâm, có tínhhạt nhân tạo động lực kích thích cho sự phát triển các vùng phụ cận. Để làm tốt điều đó, cần xác lập một chế độ ưu đãi hấp dẫn hơn đối vớicác dự án đầu tư ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và vùng đặc biệt khókhăn. Chẳng hạn kéo dài thời gian miễn giảm thuế cho các dự án đầu tư thuộccác địa bàn này. Cần có chính sách đặc biệt hấp dẫn tạo lực hút đủ lớn với cácnhà đầu tư khi họ bỏ vốn đầu tư vào các vùng có điều kiện khó khăn hoặc đặcbiệt khó khăn. Trong thời kỳ kế hoạch, hay từng giai đoạn phát triển của đất nước, phảixác định được những ngành nghề mũi nhọn của nền kinh tế. Đây là một yêucầu hết sức cần thiết nhằm thực hiện tốt quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước. Các tiêu thức về ngành mũi nhọn, trong điều kiện nền kinh tếhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 74
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.commở, tất nhiên không giống các tiêu thức xác định ngành mũi nhọn trong nềnkinh tế hiện vật, tập trung. Có ý kiến cho rằng trong thời đại hoà nhập kinh tếkhu vực và kinh tế thế giới diễn ra mạnh mẽ như hiện nay thì tiêu thức cơ bảnnhất để xác định ngành mũi nhọn là thông qua tính chất khan hiếm của hànghoá mà ngành đó tạo ra. Theo ý kiến này thì một ngành được coi là mũi nhọnđối với một nền kinh tế, nếu trên thị trường thế giới, sản phẩm của ngành đónếu chính phủ có đủ tiền cùng không mua được. Nếu quan niệm như vậy thìvấn đề đã hoàn toàn khác. Trong điều kiện cụ thể của ta, kinh tế thị trường tuyđã được khơi dậy nhưng phát triển chưa đủ mạnh. Sự hoà nhập kinh tế thếgiới tuy đã bắt đầu nhưng chưa xác lập được một địa vị kinh tế đủ mạnh trênthương trường khu vực và thế giới. Phải nói rằng trên nhiều lĩnh vực, khi hoànhập ta đang ở vào thế thua thiệt. Mặt dù thế giới ngày nay, nếu một chínhphủ đủ tiền thì có thể mua được nhiều thứ nhưng không phải mua được tất cả.Các nước lớn luôn duy trì và khống chế các lợi thế công nghệ đối với cácnước có nhu cầu nhập khẩu mặt hàng này. Đặc biệt với chúng ta, tuy khôngkhí làm ăn với các nước đã tốt hơn nhiều so với trước đây nhưng không cónghĩa là sự bao vây, chèn ép, thậm chí là các âm mưu thôn tính không còn.Trước một thực tế như vậy, trên mọi lĩnh vực cần có sự tính toán. Ta khôngthể chỉ duy nhất dựa vào quan niệm trên để xác định ngành nghề mũi nhọn,mà phải có thái độ hết sức thực tế trong vấn đề này. Trước mắt chúng ta cầncó các chính sách đặc biệt ưu tiên để phát triển những ngành công nghiệp chếbiến, nhất là chế biến nông sản, các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuấtkhẩu, hàng thay thế nhập khẩu và các ngành thu hút nhiều lao động. Bên cạnhđó cũng cần lựa chọn để phát triển một số ngành công nghiệp nặng có ý nghĩacấp bách có điều kiện về tài nguyên, có khả năng tìm nguồn vốn và bảo đảmđược hiệu quả để tạo nền tảng cho công nghiệp hoá và cho cả nền kinh tế pháttriển. Tuy nhiên cần hết sức tránh sự ưu tiên tràn lan làm mất ý nghĩa củachính sách ưu tiên, phải xây dựng được những quan điểm, những tiêu thức,thông qua đó, các cơ quan chức năng của Nhà nước có thể lựa chọn đúng cáchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 75
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comngành nghề mũi nhọn. Đồng thời cần phân định rõ những địa bàn được khuyến khích đầu tư,những địa bàn đặc biệt khuyến khích đầu tư và có chính sách ưu đãi thoả đángcho những địa bàn này, có như vậy mới thu hút được nhiều nhà đầu tư bỏ vốnvào kinh doanh. Hai là: Khuyến khích nâng cao trình độ về công nghệ và đẩy mạnh hoạtđộng chuyển giao công nghệ. Muốn vậy cần tổ chức thực hiện các chươngtrình, dịch vụ nhằm hỗ trợ kiến thức, thông tin về công nghệ phổ biến chuyểngiao công nghệ, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư được sử dụng với mức phíưu đãi đối với các công nghệ mới tạo ra bởi vốn Ngân sách Nhà nước, hỗ trợviệc chuyển giao, đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp thông qua quỹphát triển công nghệ. Đồng thời cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước cầnquy định các tiêu chuẩn cho việc đánh giá công nghệ hiện đại và các cơ quancó thẩm quyền có trách nhiệm thực thi công việc này. Có như vậy mới hạnchế bớt các thua thiệt đối với một nước mà kinh nghiệm về chuyển giao côngnghệ còn chưa nhiều như nước ta. Ba là: Đến nay nhu cầu về giải quyết công ăn việc làm cho số lao độngdư thừa vẫn đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội, của mọi nhà, mọi người.Chính phủ đã đề ra nhiều chính sách, biện pháp hỗ trợ nhằm hạn chế nạn thấtnghiệp, thiếu việc trong đó phải kể đến chế độ ưu đãi đối với các dự án thuhút nhiều lao động trong nước. Tuy nhiên trong chính sách ưu đãi cần phảikhuyến khích mạnh mẽ hơn các hoạt động đào tạo, đào tạo lại, đặc biệt là đàotạo nghề cho số lao động đã có nghề nhưng có nhu cầu đào tạo thêm hoặc đàotạo số lao động tăng tự nhiên hàng năm. Bốn là: Một giải pháp lớn góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư trongnước là việc phát triển các khu công nghiệp, các khu chế xuất và đặc khu kinhtế. Đây là địa bàn quan trọng thu hút rất nhiều các doanh nghiệp trong vàngoài nước tham gia đầu tư tạo nên những trung tâm kinh tế , trung tâm cônghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 76
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnghiệp, thương mại của đất nước. Việc xây dựng các khu công nghiệp, khuchế xuất, đặc khu kinh tế có tác dụng rất lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hộivà góp phần thực hiện quy hoạch kế hoạch định hướng của nhà nước. Theokinh nghiệm của một số nước trên thế giới và một số địa phương ở nước tanhư Bình Dương có thể thấy rằng việc phát triển khu công nghiệp (KCN) vàkhu chế xuất (KCX) mang lại lợi ích to lớn. Trước hết KCN, KCX tác độngđến đầu tư, đến sản xuất công nghiệp để tăng hàng hoá nhập khẩu và phục vụtiêu dùng trong nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh. Hai là góp phầnbảo vệ môi sinh . Ba là trình độ tay nghề của lao động công nghiệp được tănglên, sự chuyển giao công nghệ tiên tiến trong công nghiệp sẽ hình thành ởđây. Bốn là việc tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng sẽ góp phần hình thànhnhanh chóng các thành phố mới, giảm bớt khoảng cách giữa các vùng. Ngoàira phát triển KCN, KCX không chỉ mang lại lợi ích kinh tế-xã hội mà còn cóý nghĩa an ninh - quốc phòng. Gần đây hoạt động đầu tư vào các KCN và KCX đang chững lại nhưngcần nghiên cứu kỹ nguyên nhân để có chính sách khuyến khích thích đáng.Việc phát triển các KCN, KCX không có nghĩa chỉ là tăng số lượng mà cáichính hiện nay là tăng sức hấp dẫn đầu tư. Ta đã làm được nhiều việc trongthời gian qua hướng theo yêu cầu này song nhiều việc vẫn còn đang ở phíatrước. Năm là: Mở rộng hoạt động xúc tiến đầu tư cả ở trong nước, trong khuvực và trên thế giới. Tuyên truyền rộng rãi chính sách khuyến khích, ưu đãiđầu tư của nhà nước đến các nhà đầu tư và mọi tầng lớp nhân dân thông quacác phương tiện thông tin đại chúng. Tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho các cánbộ quản lý, kể cả ở Trung ương và địa phương. Xưa nay công tác tập huấnchủ trương chính sách, nghiệp vụ thường chỉ chú ý cho cán bộ địa phương, rấtít chú ý tập huấn cho cán bộ quản lý ở Trung ương. Thực ra đây là một thiếuxót. Khi một văn bản mới được hình thành, tất nhiên là do cấp trung ươnghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 77
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comsoạn thảo nhưng không phải tất cả mọi cán bộ quản lý có liên quan ở cấptrung ương đều nắm chắc, chỉ một bộ phận nhỏ trực tiếp thực hiện công việcnày mới hiểu rõ, đa số cán bộ còn lại thì cũng chỉ như cán bộ ở địa phương.Do vậy cần phân loại cán bộ ở trung ương để có kế hoạch tập huấn thích hợp,bảm đảm tất cả các cán bộ ở các cấp đều nắm chắc nghiệp vụ. Có như vậycông tác tổ chức thực hiện mới đem lại kết quả tốt. Đồng thời cần tăng cườnghỗ trợ về nghiệp vụ và kinh phí hoạt động cho bộ máy trực tiếp thực hiệncông tác này. Tiếp tục cải cách bộ máy hành chính gắn liền với việc cải cách thủ tụchành chính theo hướng rút gọn và hợp lý hoá các quy trình hành chính hìnhthành trong quá trình xác lập các quan hệ hành chính giữa nhà đầu tư và cơquan nhà nước. Quán triệt phương châm một đầu mối tiếp nhận hồ sơ, một cơquan nhà nước đứng ra tổ chức phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhànước khác có liên quan trong việc giải quyết các vấn đề hành chính nhà nướcphát sinh trong quá trình đầu tư. Cần phân biệt rõ một đầu mối tiếp nhận hồsơ và chịu trách nhiệm trước dân, trước nhà đầu tư chứ không phải mọi việcđều chỉ do một cơ quan nhà nước giải quyết. Hiện nay trong thực tế triển khaichủ trương cải cách hành chính đang xuất hiện những cách hiểu sai: đồngnghĩa việc một cơ quan nhà nước tiếp nhận hồ sơ với việc một cơ quan nhànước giải quyết mọi việc. Cùng với việc phân định rõ đâu là đầu mối tiếpnhận hồ sơ, tiếp nhận ý kiến của dân, ý kiến của nhà đầu tư, đâu là đầu mối tổchức giải quyết công việc cần có quy định rõ về các chế độ về lệ phí. Mọikhoản lệ phí (nếu có) mà người đầu tư phải nộp cho cơ quan nhà nước nhằmđáp ứng một số loại hình công vụ nhất định đều phải được công bố công khai,có định mức. Có cơ chế thích hợp bảo đảm cho nhà đầu tư có thể yên tâmkhiếu nại cơ quan nhà nước trong trường hợp các cơ quan này có hành vi viphạm pháp luật.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 78
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU Để có thể thu được nhiều kết quả hơn nữa trong thực hiện LuậtKKĐTTN (sửa đổi ) trong những năm tới , góp phần thực hiện chủ trươngphát huy nội lực của Đảng và Nhà nước , em xin kiến nghị một số giải phápnhư sau : 1. Xác định rõ đối tượng áp dụng luật khuyến khích đầu tư trongnước là doanh nghiệp và cá nhân Doanh nghiệp được hiểu là "tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản có trụsở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luậtnhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh" như quy định tại khoản 1điều 3 Luật Doanh nghiệp. Doanh nghiệp và cá nhân ở đây là những chủ đầutư khác với các cơ quan hành chính nhà nước có thể tham gia hoặc làm chủđầu tư nhưng không phải là đối tượng khuyến khích của Luật KKĐTTN. Quyđịnh như vậy về mặt kinh tế sẽ tránh được những khuyến khích tràn lan (xétvề thực chất là không khuyến khích) và về mặt hành chính là giảm đượcnhững thủ tục chuẩn bị đăng ký ưu đãi của các tổ chức không phải đối tượngáp dụng Luật (như các cơ quan hành chính nhà nước là chủ đầu tư của các dựán xây dựng, cải tạo trụ sở... các tổ chức khác không phải là doanh nghiệpnhưng có hoạt động kinh doanh) như đã từng diễn ra trong thời gian qua.Khẳng định rõ như vậy không ảnh hưởng đến các đối tượng đã từng là đốitượng áp dụng của Luật KKĐTTN như cá nhân và nhóm kinh doanh có vốnđiều lệ khi thành lập thấp hơn mức vốn pháp định quy định tại Nghị định 221/HĐBT, NĐ 222/HĐBT trước đây hay là hộ kinh doanh cá thể theo quy địnhtại NĐ 02/2000/NĐ-CP hiện nay. 2. Luật KKĐTTN chỉ nên đặt trọng tâm khuyến khích các hoạt độngkhuyến khích ở Luật này. Trên thực tế do không phân biệt rõ giữa hoạt động thành lập doanhnghiệp và hoạt động đầu tư đã tạo nên rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệphttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 79
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcũng như cơ quan quản lý nhà nước về KKĐTTN trong việc xác định cácmức ưu đãi đầu tư cụ thể, trong một số trường hợp đã gây nên khiếu kiện màkhông có căn cứ xác đáng để bác bỏ hay ủng hộ. Luật Doanh nghiệp đang đivào cuộc sống và vấn đề khuyến khích thành lập doanh nghiệp về cơ bản đãđược giải toả. Tình hình như vậy là khác với khi ta triển khai NĐ/ 29CP hayNĐ/07. Vấn đề còn lại khuyến khích hoạt động đầu tư như thế nào cho đủ độ,cho đủ mức hấp dẫn. Hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp là nhằm xác lập địa vị pháplý của chủ thể kinh doanh trên thương trường, còn hoạt động đăng ký ưu đãiđầu tư nhằm xác lập những lợi ích mà chủ đầu tư đầu tư vào những ngành, ưulĩnh vực, địa bàn thuộc diện khuyến khích đầu tư được hưởng. Khi thành lậpdoanh nghiệp, tất nhiên người thành lập phải tính toán hoạt động đầu tưnhưng không có nghĩa là ngay sau khi đăng ký kinh doanh, ngay sau khi có tưcách pháp nhân thì doanh nghiệp đã hoạt động đầu tư ngay, nhất là các hoạtđộng đầu tư có phương án, có dự án mà phải một thời gian khá dài sau đó họmới chuẩn bị đủ điều kiện có trường hợp 6 tháng, thậm chí hàng năm. Mặtkhác Luật KKĐTTN 1994 và 1998 phần ưu đãi đầu tư đều lấy dự án đầu tưlàm hình thức chủ yếu. Tức là cơ quan xét ưu đãi đầu tư phải lấy dự án đầu tưlàm đối tượng xét trực tiếp. Nghị định 51 có mở rộng ra các hình thức nhưphương án đầu tư, phương án kinh doanh, song dù có mở rộng đến mức nàothì các dự án, phương án vẫn phải chứa đựng những nội dung nhất định củahoạt động đầu tư. Cơ quan thụ lý hồ sơ đăng ký ưu đãi đầu tư không thểkhông dựa vào những thông tin cơ bản về đầu tư để xem xét khi cấp ưu đãi.Nhưng trong thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanhnghiệp thì không chứa đựng những thông tin này, tức là muốn được ưu đãiđầu tư, người thành lập doanh nghiệp phải cung cấp những thông tin đó chocơ quan thụ lý hồ sơ. Do đó Luật KKĐTTN chỉ nên tập trung khuyến khíchcác hoạt động đầu tư thông qua hình thức dự án đầu tư, phương án đầu tư,hoặc phương án kinh doanh, phương án cổ phần hoá nhưng phải có các nộihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 80
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comdung về đầu tư tương đối dài. Không khuyến khích các hoạt động đầu tư cótính chất buôn chuyến, quá ngắn hạn mặc dù theo cách hiểu của LuậtKKĐTTN, khái niệm về đầu tư trong nước là tương đối rộng ("là việc sửdụng vốn để sản xuất kinh doanh tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân quy địnhtại điều 5 của Luật này" - Điều 2 Luật KKĐTTN sửa đổi). Với hai lý do như đã trình bày (mục đích của việc đăng ký thành lậpDoanh nghiệp và mục đích của việc đăng ký ưu đãi đầu tư; tính chất của hoạtđộng đầu tư cần khuyến khích); chúng ta thấy rằng chỉ những doanh nghiệpđược thành lập để thực hiện những dự án đầu tư, phương án đầu tư xác địnhmà phần vốn đầu tư được sử dụng tối thiểu là phải hơn 50% vốn điều lệ khithành lập doanh nghiệp thì mới được hưởng ưu đãi đầu tư suốt vòng đờidoanh nghiệp (tức là được coi là dự án đầu tư mới hoặc "dự án thành lậpdoanh nghiệp, theo quan niệm hiện nay) Các trường hợp khác thì xét cụ thểcho từng dự án cụ thể được hưởng ưu đãi chứ không phải cho tất cả các hoạtđộng của doanh nghiệp (coi như đầu tư mở rộng). Như vậy sẽ góp phần hạnchế bớt tình trạng ưu đãi đầu tư cho những hoạt động không thuộc diện hưởngưu đãi đầu tư (chẳng hạn như việc thuê đất làm mặt bằng sản xuất được miễngiảm tiền thuê đất, thuế sử dụng đất nhưng đất vẫn để không hoặc cho ngườikhác thuê kinh doanh những lĩnh vực không thuộc đối tượng được hưởng ưuđãi. Nguyên tắc này được vận dụng cho cả trường hợp ưu đãi đầu tư của cácdoanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hoá. 3. Nên quy định thống nhất các nội dung ưu đãi đầu tư trong nướcvào Luật KKĐTTN. Điều này rất thuận tiện cho doanh nghiệp và cho dân chúng khi đối chiếuthực tế hoạt động đầu tư của mình với các nội dung ưu đãi mà hoạt động đầutư đó nếu thực hiện thì sẽ có thể được hưởng. Từ đó, họ có thể tính toán cáchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 81
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comphương án sao cho có lợi nhất. Mặt khác việc quy định thống nhất vào mộtLuật sẽ giúp cho các doanh nghiệp nắm chắc được các loại ưu đãi, góp phầngiám sát các cơ quan có thẩm quyền cấp ưu đãi đầu tư. Đối với các cơ quannhà nước, việc quy định thống nhất có tác dụng giúp họ nắm đầy đủ tình hìnhưu đãi, khuyến khích, tránh được sự chồng chéo hoặc bỏ xót ưu đãi. Để làmđược điều này đòi hỏi phải sửa đổi Luật KKĐTTN hiện hành nhưng khó khănlà, thời gian chuẩn bị để rà soát các loại ưu đãi quy định tại nhiều văn bản quyphạm pháp luật khác nhau mất tương đối nhiều thời gian. Trong khi chưa đủđiều kiện để sửa tổng thể thì trong Luật Sửa đổi có thể quy định cho phép cácdự án thuộc diện ưu đãi của Luật KKĐTTN được hưởng mức ưu đãi tối đa vềcác loại thuế tương ứng quy định tại các văn bản quy phạm về thuế có quyđịnh phần miễn giảm (giống như các quy định về giảm tối đa 50% thuế tàinguyên trong 3 năm đầu tiên kể từ khi bắt đầu khai thác tại Nghị định số07/1998/NĐ-CP). 4. Quy định cụ thể hơn nữa các nội dung ưu đãi. Luật KKĐTTN hiện hành quy định ba loại ưu đãi chủ yếu: ưu đãi về cácloại thuế, ưu đãi về giao - thuế đất, ưu đãi về tín dụng trong đó ưu đãi về cácloại thuế tương đối rõ ràng nhưng ưu đãi về tín dụng thì chưa được triển khaiđược bao nhiêu, ưu đãi về giao và thuế đất thì từ Luật KKĐTTN 1994 đếnnay vẫn còn quá nhiều bất cập như đã phân tích ở phần trên. Ví dụ: Nội dung ưu đãi về tiền sử dụng đất, Điều 17 Luật Sửa đổi quyđịnh: nhà đầu tư có dự án quy định tại điều 15 của Luật này được giảm 50%tiền sử dụng đất, có dự án thuộc địa bàn kinh tế xã hội khó khăn được giảm75% tiền sử dụng đất, có dự án thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn hoặc dự ánthuộc diện quy định tại Điều 15 thực hiện ở địa bàn kinh tế xã hội khó khănđược miễn tiền sử dụng đất trong từng trường hợp được giao đất phải trả tiềnsử dụng đất NĐ51 đã cụ thể hoá các quy định này tại Điều 17 của NĐ. Tươngứng các ưu đãi về tiền thuê đất, thuế sử dụng đất quy định tại các điều 18, 19http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 82
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcủa Luật được NĐ51 cụ thể hoá tại các điều 18, 19 của NĐ. sự cụ thể hoá nàyđã bám sát quy định của Luật. Tuy nhiên việc cụ thể hoá khoản 1 và khoản 3,Điều 7 của Luật và Điều 7 của NĐ (quyền của nhà đầu tư trong việc sử dụngđất) lại gây nên nhiều tranh cãi. Điều 7, NĐ51 quy định: “nhà đầu tư đượcNhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng từngười khác có các quyền theo quy định của pháp luật về đất đai: được miễn,giảm tiền sử dụng đất, miễn, giảm tiền thuê đất, miễn thuế sử dụng đất theoquy định tại các điều 18, 19, 17 của NĐ51. Nhưng quy định tại Điều 17, 18,19 của NĐ 51 không đề cập đến các ưu đãi về miễn, giảm tiền sử dụng đất,miễn, giảm thuế sử dụng đất đối với các trường hợp nhà đầu tư đang có quyềnsử dụng đất nông nghiệp hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nôngnghiệp từ người khác chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tưthuộc diện ưu đãi của Luật KKĐTTN. Điều này làm xuất hiện hai quan điểmvề cách sử lý. Một là: Việc miễn giảm thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất đối vớitrường hợp nhà đầu tư đang có quyền sử dụng đất nông nghiệp hoặc nhậnchuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp từ người có quyền này đểchuyển mục đích sử dụng đất thực hiện dự án thuộc diện ưu đãi được áp dụngtương tự như trường hợp nhà đầu tư được nhà nước giao đất phải trả tiền sửdụng đất để hoạt động sản xuất kinh doanh. Hai là: NĐ 51 không quy định việc miễn, giảm tiền sử dụng đất, miễngiảm thuế sử dụng đất đối với trường hợp nhà đầu tư đang có quyền sử dụngđất nông nghiệp nay chuyển sang sử dụng cho dự án thuộc diện ưu đãi (có thểchuyển mục đích sử dụng hoặc không chuyển mục đích sử dụng) hoặc nhậnchuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp từ người khác có quyền nàyđể thực hiện dự án đầu tư thuộc diện ưu đãi. Cả hai quan điểm trên đều có những căn cứ pháp lý, thực tế xác đáng. Đểtạo căn cứ pháp lý triển khai thực tiễn, cách sử lý thích hợp trong trường hợphttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 83
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnày là phải bổ sung điều khoản này vào NĐ51 hoặc có điều khoản quy địnhrõ là không được hưởng ưu đãi. Tuy nhiên xét về yêu cầu khuyến khích củaLuật KKĐTTN thì những trường hợp như vậy nhà nước cần ưu đãi. Do đóNhà nước cần phải thống nhất những vấn đề sau: - Cần thống nhất một chế độ ưu đãi và nên kéo dài thời gian miễn giảm thuế cho các dự án đầu tư theo Luật KKĐTTN và tăng thời gian ưu đãi, đặc biệt cho vùng sâu vùng xa , vùng đặc biệt khó khăn. - Tăng mức ưu đãi thuế đối với những dự án đầu tư mở rộng, đặc biệt các dự án có số vốn đầu tư lớn gấp nhiều lần số vốn ban đầu . - Tăng thời hạn cho vay vốn đầu tư; giảm nhẹ thủ tục thế chấp tài sản khi cho các doanh nghiệp nhỏ vay vốn; mở rộng diện cho vay vốn và khuyến khích hình thức cho vay trực tiếp; cần có những quy định cụ thể hơn, thông thoáng hơn cho các nhà đầu tư trong nước về bảo lãnh và tái bảo lãnh tín dụng đầu tư. - Bổ sung ưu đãi về thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế tài nguyên. 5. Tiếp tục hoàn thiện sự quản lý nhà nước về KKĐTTN Trước mắt cần tập trung làm tốt ba việc đã tồn tại khá lâu mà vẫn chưađược giải quyết. Đó là: - Chỉ đưa vào Luật, văn bản dưới Luật những nội dung hỗ trợ, ưu đãi mà thực tế có thể thực hiện được. Chẳng hạn nội dung về giải quyết thiệt hai do thay đổi chính sách gây nên đối với nhà đầu tư thuộc diện ưu đãi đã đề cập khá lâu mà không được thực hiện. Việc công khai quy hoạch, cung cấp thông tin về quỹ đất đối với các nhà đầu tư, với tư cách là một biện pháp hỗ trợ đầu tư đến nay vẫn chưa được thực hiện. - Các nội dung hỗ trợ ưu đãi mà Luật, NĐ phân công các cơ quan Trung ương hướng dẫn thì Bộ, ngành cố gắng thực hiện khắc phục tình trạng trì trệ như trong thời gian qua.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 84
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Các cơ quan Nhà nước tăng cường phối hợp với nhau để giải quyết những vướng mắc cho doanh nghiệp, tránh tình trạng đùn đẩy hay tranh dành giải quyết các nội dung liên quan đến cơ chế xin cho mà sao nhãng nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan mình. Giải quyết tốt ba việc tuy có vẻ đơn giản như vậy nhưng cũng sẽ giúpphần hết sức quan trọng đưa những tư tưởng KKĐTTN vào cuộc sống. 6. Rà soát lại tất cả những quy định pháp lý liên quan đến KKĐTTNtừ Luật cho đến Nghị định và các thông tư hướng dẫn. Cần phải thành lập mộtbộ phận liên ngành rà soát lại xem những gì đã thống nhất rồi thì thôi, cái nàocòn chồng chéo, dẫm đạp cần phải sửa lại. 7. Cần phổ biến Luật thật tốt làm sao cung cấp cho doanh nghiệp côngcụ mà họ có thể giám sát được cơ quan nhà nước. Cần quán triệt tinh thần vànội dung Luật KKĐTTN (sửa đổi) đến các địa phương trong cả nước để cónhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của Luật này như một trong những côngcụ phát huy nội lực cho CNH , HĐH ở địa phương , từ đó chú trọng hơn tớiviệc chỉ đạo, triển khai thực hiện Luật KKĐTTN (sửa đổi). Ngoài ra các cơquan đăng ký kinh doanh cần niêm yết các quy đinh của Luật KKĐTTN(sửa đổi) để các nhà đầu tư mới có thể dễ tham khảo. Cần sớm ban hành cơchế phối hợp giữa Sở KH&ĐT và Cục thuế về những vấn đề đang giải quyết,nếu không thống nhất được thì trình lên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thànhphố quyết định. 8. Cần có chế độ về công chức như thế nào để đảm bảo văn bản quyphạm đưa ra họ có năng lực thực hiện, không phải là công chức ngồi đó"hành" doanh nghiệp. Cụ thể là Nhà nước cần có chế độ đối với những cánbộ, những công chức soạn thảo và thi hành Luật, tổ chức đào tạo thườngxuyên đối với những công chức này, cần thiết thì đào tạo lại để họ có trình độchuyên môn cao hơn, hiểu biết hơn, đồng thời phảt đi sát thực tế tránh tìnhtrạng người thi hành Luật cứ thi hành còn như thế nào họ không cần biết, gâyhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 85
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkhó khăn cho các nhà đầu tư. Mặt khác nhà nước cần chú trọng đến nhân cáchvà phẩm chất của những công chức này, vì nếu không những kẻ cơ hội sẽ lợidụng công việc của mình để mưu cầu lợi ích cho mình mà quên đi tráchnhiệm mình đang gánh vác đó là góp phần thúc đẩy đất nước đi nên theo conđường xã hội chủ nghĩa , tiến lên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng vănminh . 9. Cải thiện môi trường Đầu tư kinh doanh để khuyến khích đầu tưtrong nước, mà cụ thể là tập trung vào những điểm sau: - Mức độ khuyến khích đầu tư và ưu đãi đầu tư trong nước cần nâng ngang bằng với đầu tư nước ngoài, đặc biệt ưu đãi về thuế. - Đối với đầu tư trong nước, khu vực kinh tế tư nhân cần được khuyến khích, động viên đúng mực, được hỗ trợ một cách thiết thực và có hiệu quả. - Đất đai làm mặt bằng sản xuất kinh doanh là vấn đề cần khai thông đầu tiên . Việc giảm thiểu thủ tục cấp đất, cho thuê đất, công khai quy hoạch và tạo điều kiện dễ dàng để chủ đầu tư có được mặt bằng kinh doanh là những nội dung quan trọng nhất. Để cho Luật KKĐTTN thực sự đi vào cuộc sống, thì không thể thiếu đượcsự tuyên truyền rộng rãi chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư của nhà nướcđến nhà đầu tư và mọi tầng lớp nhân dân thông qua báo chí, phát thanh,truyền hình... và tổ chức tập huấn cho các cán bộ quản lý địa phường, tăngcường hỗ trợ về nghiệp vụ và kinh phí hoạt động cho bộ máy quản lý Nhànước. Muốn tạo được động lực thực sự thu hút các nhà đầu tư trong nước, Nhànước cần có những biện pháp khuyến khích mạnh hơn nữa và có những cảicách hành chính mạnh hơn nữa. Trông đợi vào sự hào hứng nhiệt tình của cáchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 86
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnhà đầu tư không đủ, mà điều quan trọng là năng lực tổ chức thi hành luậtcủa các cơ quan Nhà nước ở tất cả các cấp. II. KIẾN NGHỊ 1. Đề nghị chính phủ điều chỉnh ổn định lãi suất ngân hàng để nhân dân và các chủ đầu tư có những hình thức đầu tư trong nước tốt hơn. 2. Đề nghị nhà nước nên chú trọng vào những vùng đầu tư có trọng điểm như vùng sâu, vùng xa... Vì những vùng này chỉ có đầu tư trong nước mới có những khả năng đầu tư và có hiệu quả hơnhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 87
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com KẾT LUẬN Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, luận văn tốtnghiệp đã hoàn thành các nhiệm vụ sau: 1. Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận chung về đầu tư và khuyến khíchđầu tư trong nước, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá thực trạng hoạt độngKKĐTTN, tác động của chính sách khuyến khích đầu tư đối với nền kinh tếnước ta các thời kỳ trước và sau khi có Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. 2. Trên cơ sở phân tích thực trạng triển khai chính sách khuyến khíchđầu tư trong nước thông qua việc thi hành các Luật KKĐTTN, luận vănkhẳng định những mặt tích cực từ phía pháp luật, những nỗ lực trong triểnkhai thực hiện của các cấp, các ngành, đồng thời cũng chỉ rõ những mặt hạnchế từ phía pháp luật, những yếu kém trong khâu tổ chức thực hiện từ Trungương đến địa phương. 3. Chỉ ra được những vướng mắc qua các giai đoạn thi hành LuậtKKĐTTN 1994, thi hành các Nghị định 29/CP, NĐ 07/1998NĐ-CP thi hànhluật KKĐTTN (sửa đổi), thi hành NĐ 51/1999/NĐ-CP cũng như nhữngvướng mắc hiện đang đặt ra trong công tác quản lý nhà nước về KKĐTTNhiện nay trên các góc độ: kinh tế, pháp lý... 4. Một số kiến nghị các định hướng nguyên tắc và một số giải pháp chủyếu nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa hoạt động KKĐTTN trong những nămtới. Trong phạm vi một luận văn tốt nghiệp. Dưới sự hướng dẫn của thầygiáo: GS- TS . Đỗ Hoàng Toàn và TS . Nguyễn Lê Trung, Vụ Doanh nghiệp,em đã cố gắng đi sâu vào một số nội dung cơ bản theo mục đích, phạm vinghiên cứu tương ứng với các phương pháp xác định, luôn bám sát theo yêucầu thực tế, phân tích các vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn để có hướng xử lýhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 88
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthích hợp. Tuy nhiên do vấn đề rộng, các nội dung liên ngành đặt ra tương đốiphức tạp mà thời gian có hạn nên luận văn tốt nghiệp này chỉ đề cập đếnnhững nội dung cốt lõi nhất. Em xin chân thành cảm ơn GS - TS .Đỗ Hoàng Toàn, TS. Nguyễn LêTrung , các thầy cô giáo trong Khoa Khoa học Quản lý và Vụ DN BộKH&ĐT đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn này .http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 89
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com MỤC LỤC Bảng kê các chữ viết tắt Lời nói đầu Phần I: Một số vấn đề lý luận chung về đầu tư và khuyến khích đầu tư trong nước 1. Đầu tư và các hình thức đầu tư 2. Khuyến khích đầu tư trong nước 3. Kinh nghiệm một số nước về khuyến khích đầu tư trong nước Phần II: Thực trạng khuyến khích đầu tư trong nước ở nước ta những năm gần đây I. Thời kỳ trước khi có Luật KKĐTTN 1994 II. Từ khi có Luật KKĐTTN đến nay 1. Giai đoạn thực hiện NĐ29/CP 2. Những hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Luật KKĐTTN giai đoạn thực hiện NĐ 29/CP. 3. Giai đoạn thực hiện Luật KKĐTTN thông qua việc triển khai NĐ 07/1998/NĐ-CP 4. Giai đoạn thực hiện Luật KKĐTTN (sửa đổi) số 03/1999/QH 10. 5. Vấn đề đặt ra trong việc thi hành Luật KKĐTTN (sửa đổi) Phần III: Những giải pháp chủ yếu tiếp tục khuyến khích hoạt động đầu tư trong nước I. Một số định hướng nguyên tắchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 90
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com II. Một số giải pháp chủ yếu 1. Xác định rõ đối tượng áp dụng luật khuyến khích đầu tử trong nước là doanh nghiệp và cá nhân. 2. Luật KKĐTTN chỉ nên đặt trọng tâm khuyến khích các hoạt động khuyến khích ở Luật này . 3. Nên quy định thống nhất các nội dung ưu đãi đầu tư trong nước vào Luật KKĐTTN . 4. Quy định cụ thể hơn nữa các nội dung ưu đãi. 5. Tiếp tục hoàn thiện sự quản lý nhà nước về KKĐTTN. 6. Rà soát lại tất cả những quy định pháp lý liên quan đến KKĐTTN. 7. Cần phổ biến Luật thật tốt làm sao cung cấp cho doanh nghiệp công cụ mà họ có thể giám sát được cơ quan nhà nước 8. Cần có chế độ về công chức như thế nào để đảm bảo văn bản quy phạm đưa ra mà họ có năng lực thực hiện 9. Cần cải thiện môi trường đầu tư , kinh doanh để khuyến khích đầu tư Kết luận Danh mục tài liệu tham khảohttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 91
    • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đại học KTQG, H. 1998. Giáo trình lập và quản lý dự án đầu tư. 2. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1997. Các quy định về pháp luật đấtđai. 3. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia . Các văn bản pháp luật về thuế 4. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1994. Luật KKĐTTN, Luật công ty,Luật doanh nghiệp tư nhân. 5. Nhà xuất bản Tài chính, 1998. Chính sách khuyến khích đầu tư trongnước ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế. 6. Nguyễn Đình Tài và Nguyễn Nam Hải: Thực hiện Luật khuyến khíchđầu tư trong nước, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 313 tháng 5/1999. 7. Nguyễn Lê Trung: Những vướng mắc trong triển khai Luật KKĐTTN.Tạp chí Kế toán số 6 (tháng 6/1997) và số 7 (tháng 8/1997). 8. Nguyễn Lê Trung : Chưa thực hiện đúng Luật KKĐTTN Thời báoKinh tế Việt Nam số 25 ngày 26/2/2001. 9. Nguyễn Lê Trung: Vài suy nghĩ về giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tưtrong nước, Báo Nhân dân số 15535 ngày 8/01/1998. 10. Vũ Xuân Thuyên: Đầu tư trong nước bước gian nan. Thời báo Kinhtế Việt Nam số 86 năm 1997. 11. Vũ Xuân Thuyên: Tình hình thực hiện Luật KKĐTTN, Tạp chí Kinhtế và Dự báo tháng 12/1997. 12 Vũ Xuân Thuyên: Các quy định về ưu đãi đầu tư mới củaNĐ51/1999/NĐ-CP. Tạp chí Kinh tế và Dự báo tháng 11/1999.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 92