QT116.doc

204
-1

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
204
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
2
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

QT116.doc

  1. 1. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com LỜI MỞ ĐẦU Xi măng là một sản phẩm luôn đi kèm với đời sống của con người. Khiđời sống của con người được nâng cao hơn thì nhu cầu sử dụng xi măng cũngtăng theo. Con người sử dụng xi măng để xây dựng các cơ sở hạ tầng chomình từ nhà cửa, trường học, bệnh viên, đường xá đến các công trình côngcộng lớn đều phải sử dụng đến xi măng. Xi măng tạo sự kết dính chắc chănđem lại tuổi thọ lâu dài cho các công trình có thể tới hàng thế kỷ. Do vậy ngành xi măng là một ngành có tiềm năng phát triển rất lớn, gópphần xây dựng công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước trong thếkỷ mới. Từ khi nhà nước mở rộng chính sách đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi chongành xi măng phát triển thì số lượng các nhà máy, cơ sở sản xuất xi măngtăng lên cả về số lượng và chất lượng. Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng là đơn vị thành viên trong Tổng côngty Xi măng Việt Nam được Tổng công ty giao nhiệm vụ lưu thông, tiêu thụ ximăng bình ổn giá cả thị trường trên các địa bàn được phân công. Như vậyviệc tiêu thụ xi măng là công việc chủ yếu, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hoànthành vượt mức kế hoạch Tổng công ty giao luôn là nhiệm vụ hàng đầu củaCông ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng. Vì vậy em đã chọn chuyên đề thực tập tốt nghiệp "Một số giải phápnâng cao sản lượng tiêu thụ xi măng đối với Công ty Vật tư Kỹ thuật Ximăng giai đoạn 2001 - 2005". Ngoài lời mở đầu và kết luận, chuyên đề gồmba phần: - Phần một: Sự cần thiết phải nâng cao sản lượng tiêu thụ xi măngcủa Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng. - Phần hai: Phân tích thực trạng tiêu thụ xi măng của Công ty Vậttư Kỹ thuật Xi măng. - Phần ba: Một số giải pháp nâng cao sản lượng tiêu thụ xi măng đốivới Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng trong giai đoạn 2001 - 2005. Hà Nội, 14/4/2003. SV: Phạm Bá Dũng.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 1
  2. 2. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Phần một. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ XI MĂNG CỦA CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG I. THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNGHÀNG HOÁ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. 1. Thị trường: 1.1. Khái niệm về thị trường. Thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sảnxuất hàng hoá vừa được hình thành trong lĩnh vực lưu thông. Người có hànghoá hoặc dịch vụ đem ra trao đổi được gọi là bên bán, người có nhu cầu chưathoả mãn và có khả năng thanh toán gọi là bên mua. Trong quá trình trao đổi đã hình thành những mối quan hệ nhất định, đólà quan hệ giữa người bán và người mua. Từ đó thấy sự hình thành của thị trường đòi hỏi phải có: - Đối tượng trao đổi: sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ. - Đối tượng tham gia trao đổi: Bên bán và bên mua. - Điều kiện thực hiện trao đổi: Khả năng thanh toán. Theo nội dung trên, điều quan tâm nhất của doanh nghiệp là tìm ra nơitrao đổi, tìm ra nhu cầu và khả năng thanh toán những sản phẩm, dịch vụ mànhà sản xuất dự định cung cấp , còn đối với người tiêu dùng, họ lại quan tâmđến việc so sánh những sản phẩm dịch vụ mà nhà sản xuất cung ứng thoảmãn, đúng yêu cầu và thích hợp với khả năng thanh toán của mình đến đâu: Từ những nội dung trên ta có thể định nghĩa một cách tổng quát thịtrường như sau: - Thị trường là biểu hiện của quá trình mà trong đó thể hiện cái quyếtđịnh của người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ cũng như quyết định củacác doanh nghiệp về số lượng chất lượng mẫu mã của hàng hoá. Đó là nhữngmối quan hệ giữa tổng số cung và tổng số cầu với cơ cấu của từng loại hànghoá cụ thể. - Thị trường là nơi người mua với người bán tự mình đến với nhau quatrao đổi tham dò tiếp xúc để nhận lấy lời giải đáp mà mỗi bên cần thiết. - Các doanh nghiệp thông qua thị trường mà tìm cách giải quyết các vấnđề: - Phải sản xuất hàng hoá, dịch vụ là gì? cho ai? - Số lượng bao nhiêu? - Mẫu mã, kiểu cách chất lượng như thế nào? Còn người tiêu dùng thì biết được. - Ai sẽ đáp ứng nhu cầu của mình.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 2
  3. 3. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Nhu cầu được thoả mãn đến mức nào? - Khả năng thanh toán ra sao? Tất cả những câu hỏi trên chỉ có thể được trả lời chính xác trên thịtrường. Trong công tác quản lý kinh tế, xây dựng kế hoạch mà không dựavào thị trường để tính toán kiểm chứng số cung, cầu thì kế hoạch sẽ không cócơ sở khoa học và mất phương hướng, mất cân đối. Ngược lại, việc tổ chứcmở rộng mà thoát ly sự điều tiết của công cụ kế hoạch hoá thì tất yếu sẽ dẫnđến sự rối loạn trong kinh doanh. 1.2. Vai trò chức năng của thị trường: Sở dĩ thị trường có vai trò to lớn nói trên là do các chức năng sau: - Chức năng thừa nhận. Thị trường là nơi gặp gỡ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng trong quátrình trao đổi hàng hoá. Nhà doanh nghiệp đưa hàng hoá của mình ra thịtrường với mong muốn chủ quan là bán được nhiều hàng hoá với giá cả saocho bù đắp được chi phí và có lợi nhuận. Người tiêu dùng tìm đến thị trườngđể mua những hàng hoá đúng công dụng, hợp thị hiếu và có khả năng thanhtoán theo mong muốn của mình. Quá trình diễn ra sự trao đổi, thị trường chấpnhận, tức là đôi bên đã thuận mua, vừa bán là quá trình tái sản xuất được giảiquyết và ngược lại - Chức năng thực hiện. Chức năng thực hiện thể hiện ở chỗ thị trường là nơi diễn ra các hành vimua bán. Người ta thường cho rằng thực hiện về giá trị là quan trọng nhất.Nhưng thực hiện về giá trị chỉ xảy ra khi giá trị sử dụng được thực hiện. Vídụ: Hàng hoá dù sản xuất với chi phí thấp mà không hợp mục tiêu tiêu dùngthì vẫn không bán được. Thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá hình thànhnên các giá trị trao đổi của mình, làm cơ sở cho việc phân phối các nguồnlực. - Chức năng điều tiết. Ta biết rằng số cung được tạo ra từ nhà sản xuất và số cầu được hìnhthành từ người tiêu dùng, giữa hai bên hoàn toàn không có quan hệ với nhauvà quan hệ ấy chỉ thể hiện khi diễn ra quá trình trao đổi, quan hệ số cung vàsố cầu nhằm bảo đảm quá trình tái sản xuất được trôi chảy, được thực hiệnthông qua sự định giá trên thị trường giữa đôi bên. Trong quá trình định giá,chức năng điều tiết của thị trường được thể hiện thông qua sự phân bổ lựclượng sản xuất từ ngành này sang ngành khác, từ khu vực này sang khu vựckhác đối với mỗi người sản xuất, đồng thời hướng dẫn tiêu dùng và xây dựngcơ cấu tiêu dùng đối với người tiêu dùng.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 3
  4. 4. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Chức năng thông tin. Chức năng thông tin thể hiện ở chỗ nó chỉ ra cho người sản xuất biết nênsản xuất hàng hoá nào, khối lượng là bao nhiêu, nên tung ra thị trường ở thờiđiểm nào; nó chỉ cho người tiêu dùng biết nên mua một hàng hoá hay muamột hàng hoá thay thế nào đó hợp với khả năng thu nhập của họ. Chức năng này hình thành là do trên thị trường có chứa đựng các thôngtin về tổng số cung, tổng số cầu, quan hệ cung, cầu của từng loại hàng hoá,chi phí sản xuất, giá trị thị trường, chất lượng sản phẩm, các điều kiện tìmkiếm và tập hợp các yếu tố sản xuất và phân phối sản phẩm. Đấy là nhữngthông tin cần thiết để người sản xuất và người tiêu dùng ra quyết định phùhợp với lợi ích của mình. Tóm lại, các chức năng nói trên của thị trường có mối quan hệ gắn bómật thiết. Sự cách biệt các chức năng đó chỉ là những ước lệ, mang tính chấtnghiên cứu. Trong thực tế, một hiện tượng kinh tế diễn ra trên thị trường thểhiện đầy đủ và đan xen lẫn nhau giữa các chức năng trên. 1.3. Các quy luật của thị trường và cơ chế thị trường. 1.3.1. Các quy luật của thị trường. Trên thị trường có nhiều quy luật kinh tế hoạt động đan xen nhau và cóquan hệ mật thiết với nhau. Dưới đây là một số quy luật quan trọng. - Quy luật giá trị: Quy luật này quy định hàng hoá phải được sản xuất vàtrao đổi trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, tức là chi phí bình quântrong xã hội. - Quy luật cung cầu: Nêu lên mối quan hệ giữa nhu cầu và khả năngcung ứng trên thị trường. Quy luật này quy định cung và cầu luôn có xu thếchuyển động xích lại với nhau để tạo ra sự cân bằng trên thị trường. - Quy luật giá trị thặng dư: Yêu cầu hàng hoá bán ra phải bù đắp đượcchi phí sản xuất và lưu thông đồng thời phải có một khoản lợi nhuận để táisản xuất sức lao động và tái sản xuất mở rộng. - Quy luật cạnh tranh: Quy định hàng hoá sản xuất ra phải ngày càng cóchi phí thấp hơn, chất lượng ngày càng tốt hơn, để thu được lợi nhuận caohơn và có khả năng cạnh tranh với các hàng hoá khác. Trong các quy luật trên, quy luật giá trị là quy luật cơ bản của sản xuấthàng hoá. Quy luật giá trị được biểu hiện quá giá cả thị trường. Quy luật giátrị muốn biểu hiện yêu cầu của mình bằng giá cả thị trường phải thông qua sựvận động của quy luật cung - cầu. Ngược lại, quy luật này biểu hiện yêu cầucủa mình thông qua sự vận động của quy luật giá trị là giá cả. 1.3.2. Cơ chế thị trường. Khi xuất hiện sản xuất và trao đổi hàng hoá thì phải có thị trường. Nềnkinh tế mà trong đó có sản xuất và trao đổi hàng hoá diễn ra một cách tựhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 4
  5. 5. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnhiên gọi là nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạtđộng sản xuất và trao đổi hàng hoá giữa người sản xuất và người tiêu dùngđược vận hành theo một cơ chế do sự điều tiết của quan hệ cung cầu quyđịnh. Cơ chế ấy được gọi là cơ chế thị trường. Thực chất cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đócác quy luật kinh tế tác động lên mọi hoạt động của nhà sản xuất và ngườitiêu dùng trong quá trình trao đổi. 1.4. Phân loại thị trường và phân khúc thị trường. 1.4.1. Phân loại thị trường. Các doanh nghiệp muốn thành công trong kinh doanh cần phải hiểu cặnkẽ về thị trường. Để hiểu rõ các loại thị trường và phục vụ tốt cho công táctiếp thị cần phải phân loại chúng. Có nhiều cách phân loại thị trường: - Căn cứ vào mức độ xã hội hoá của thị trường. Dựa vào căn cứ này người ta chia thị trường ra thành: Thị trươnàg địaphương, thị trường toàn quốc, thị trường quốc tế. Do quá trình quốc tế hoáhiện nay, thị trường quốc tế có ảnh hưởng nhanh chóng và mức độ ngày càngnhiều đến thị trường trong nước. - Căn cứ vào mặt hàng mua bán. Có thể chia thị trường thành nhiều loại khác nhau: Thị trường kim loại,thị trường nông sản, thực phẩm, thị trường cà phê, ca cao… Do tính chất vàgiá trị sử dụng của từng mặt hàng, nhóm khách hàng khác nhau, các thịtrường chịu sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng với mức độ khác nhau.Sự khác nhau này đôi khi chi phối cả phương thức mua bán, vận chuyểnthanh toán. Ngoài ra, còn dựa vào nhiều căn cứ khác, như căn cứ dựa vào phươngthức hình thành giá cả thị trường, khả năng tiêu thụ hàng hoá, tỷ trọng hànghoá. 1.4.2. Phân khúc thị trường. Có nhiều phương pháp phân khúc thị trường, tuỳ từng loại sản phẩm vàdịch vụ khác nhau mà phương thức phân khúc sẽ khác nhau. Có thể phânkhúc thị trường theo khu vực, theo đơn vị hành chính, theo kinh tế xã hội vànhân khẩu học, theo đặc điểm tâm sinh lý, theo lợi ích… 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường h àng hoá kinh doanh củadoanh nghiệp. Các nhân tố này có thể được mô tả với hệ thống các lượng cấu thànhnhư sau:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 5
  6. 6. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Nhân tố Nhân tố chính trị Kinh tế luật pháp Đối thủ tiêu Đối thủ hiện dùng đại Người cung ứng Doanh Khách hàng nghiệp Người môi Sản phẩm thay giới thế Nhân tố Nhân tố VH - XH KH - KT Qua mô hình tả trên, sự mở rộng hoặc thu hẹp sản xuất kinh doanh, ổnđịnh hay không ổn định của thị trường là hệ quả của những tác động từnhững nhân tố này. Nếu phân loại theo khả năng kiểm soát của doanh nghiệpvới những nhân tố trên thì có thể chia chúng thành 2 nhóm: - Nhóm các nhân tố chủ quan. - Nhóm các nhân tố khách quan. 2.1. Nhóm các nhân tố chủ quan. Đó là các nhân tố nội tại của doanh nghiệp, các kênh phân phối thịtrường, khách hàng, người cạnh tranh, người cung cấp, các tổ chức trunggian… Trong chừng mực nhất định doanh nghiệp có thể tác động để cải thiệnthị trường của mình. - Khả năng tài chính đảm bảo cho các yếu tố đầu vào cho quá trình sảnxuất kinh doanh để tạo ra các yếu tố đầu ra đáp ứng nhu cầu thị trường. Vớicác chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp dựa vào khả năng tài chính củamình đưa ra các quyết định về mọi yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất cảvề ngắn hạn và dài hạn. - Trình độ quản lý. Yếu tố này thể hiện ở quá trình hoạch định chiến lược, chính sách, biệnpháp quản lý và quá trình thực thi các quyết định đó trong sản xuất kinhhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 6
  7. 7. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comdoanh. Trong điều kiện cạnh tranh các vấn đề thị trường đều được giải quyếtdựa theo chiến lược phát triển của doanh nghiệp, khả năng phản ứng nhanhcủa doanh nghiệp trước sự thay đổi của thị trường đều phụ thuộc vào trình độquản lý. - Những người cung ứng. Đó là các doanh nghiệp, các cá nhân đảm bảo cung ứng các yếu tố cầnthiết cho doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh để có thể sản xuất và kinhdoanh những loại hàng hoá dịch vụ nhất định. Bất kỳ một sự biến đổi nào từhọ đều ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Dovậy, nhà quản lý kinh doanh phải luôn có những thông tin đầy đủ chính xácvề tình trạng, số lượng chất lượng, giá cả… Hiện tại và tương lai của các yếutố nguồn lực cho sản xuất kinh doanh. Thậm chí họ còn phải quan tâm đếnthái độ của các nhà cung cấp đối với doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh đểcó phương án đối phó. - Các trung gian môi giới. Đó là các tổ chức dịch vụ các doanh nghiệp và cá nhân giúp cho doanhnghiệp tổ chức tốt việc tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ của mình tới người tiêudùng cuối cùng. Người trung gian và các hãng phân phối chuyên nghiệp đóng vai tròquan trọng giúp doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường tiêuthụ và thực hiện công tác bán hàng cho họ. Đó là các đại lý phân phối độcquyền, đó là các cửa hàng bán buôn bán lẻ… Lựa chọn và làm việc với ngườitrung gian và các hãng phân phối là công việc không hề đơn giản. Do vậydựa vào mặt hàng sản xuất kinh doanh của mình mà doanh nghiệp đưa ranhững chính sách thích hợp. - Khách hàng. Đây là đối tượng để doanh nghiệp phục vụ đồng thời là yếu tố quyếtđịnh đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạonên thị trường, quy mô khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Vì vậy doanhnghiệp muốn có thị trường và đứng vững trên thị trường thì phải thườngxuyên nghiên cứu khách hàng mà mình phục vụ. - Đối thủ cạnh tranh. Nhìn chung mọi doanh nghiệp đều phải đối đầu với đối thủ cạnh tranh,nó bao gồm những đối thủ cạnh tranh sơ cấp (cùng tiêu thụ sản phẩm đồngnhất), các đối thủ cạnh tranh thứ cấp (sản xuất và kinh doanh những mặt hàngthay thế). Mọi hoạt động của đối thủ cạnh tranh đều có ảnh hưởng trực tiếphay gián tiếp đến quyết định của doanh nghiệp. Để đứng vững trên thị trườngdoanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi những đối thủ cạnh tranh để bảo vệnhư phát triển thị phần của mình.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 7
  8. 8. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 2.2. Nhóm nhân tố khách quan. Sự tác động của những nhân tố này lên thị trường của doanh nghiệpkhông phụ thuộc vào doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể phản ứng lại nhữngtác động này bằng cách lợi dụng chúng để duy trì và phát triển thị trườnghoặc có những biện pháp làm tối thiểu hoá những ảnh hưởng bất lợi đến thịtrường kinh doanh của mình. Các nhân tố khách quan bao gồm: - Đường lối phát triển kinh tế của Nhà nước, luật pháp chính sách chế độcó liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đường lối phát triển kinh tế của Nhà nước khi ưu tiên phát triển vàongành nào thì các doanh nghiệp ngành đó sẽ có cơ hội phát triển, mở rộng thịtrường kinh doanh của mình và ngược lại. Vì vậy, doanh nghiệp ngoài nhiệmvụ kinh doanh của mình còn có nhiệm vụ đối với Nhà nước, theo dõi cácchính sách mới, luật pháp mới về ngành nghề kinh doanh của mình. - Bối cảnh chung của nền kinh tế. Bối cảnh chung của nền kinh tế trước hết phản ánh tốc độ tăng trưởngkinh tế chung về cơ cấu ngành, cơ cấu vùng, tạo nên sức hấp dẫn về thịtrường và sức mua khác nhau đối với các thị trường hàng hoá khác nhau. Cácquan hệ kinh tế giữa các ngành, các doanh nghiệp với các lực lượng khác sẽbị thay đổi khi mà chính các lực lượng đó bị biến đổi. Trong thời kỳ suy thoái kinh tế, các doanh nghiệp hầu hết bị giảm hoạtđộng sản xuất kinh doanh, thị trường bị co lại. Còn trong thời kỳ phát triển,điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh. - Nhân tố khoa học kỹ thuật công nghệ. Ngày nay nhân tố này có ảnh hưởng rất sâu sắc tới hoạt động sản xuấtkinh doanh của mọi doanh nghiệp. Đưa doanh nghiệp vừa phải đạt hiệu quảcao trong kinh doanh vừa phải cạnh tranh quyết liệt với các doanh nghiệpkhác trên thị trường. - Nhân tố văn hoá xã hội. Đó là các chuẩn mực, lối sống xã hội phong tục… Thường thì nhữngyếu tố này có tính ổn định tương đối. Doanh nghiệp muốn tồn tại và pháttriển trên thị trường nào đó thì cũng phải phân tích làm sáng tỏ yếu tố này. 3. Tiêu thụ sản phẩm và những vấn đề liên quan đến tiêu thụ sảnphẩm. 3.1. Tiêu thụ sản phẩm. Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinhdoanh. Nếu như thời kỳ bao cấp trước đây khi mà một người bán vạn ngườimua thì việc tiêu thụ trở nên dễ dàng. Ngày nay trong sự cạnh tranh khốc liệtcủa nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải lăn lộn đến bạc mặt mớihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 8
  9. 9. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtìm được khách hàng mua sản phẩm của mình. Và nếu như trước đây, kháchhàng phải chạy chọt, thậm chí van xin mới được một ít hàng nhiều khi chấtlượng chẳng ra gì thậm chí là những thứ cungx chẳng cần dùng thì bây giờ họđã có thể cao ngạo chọn lựa cái mình thích, cái mình cần. Họ được coi là ânnhân của các nhà sản xuất. Thay vì phải chạy vạy, xin xỏ họ đã trở thànhnhững "ông vua", "bà chúa" thậm chí cao hơn họ là "thượng đế" có quyềnphán xét và trả giá mặt hàng này, mặt hàng kia. Cho nên như người ta đã nóithời buổi này, sản xuất ra sản phẩm đã khó, nhưng tiêu thụ được nó lại càngkhó khăn hơn. Thực tế kinh doanh cho thấy, không thiếu những sản phẩm của một sốdoanh nghiệp rất tốt nhưng vẫn không tiêu thụ được, bởi không biết cách tổchức tiêu thụ, không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Thế mớibiết sự nghiệt ngã của cơ chế thị trường, sản xuất "cái đầu" đã xuôi nhưngtiêu thụ "cái đuôi" chắc gì đã lọt. Vì vậy để tiêu thụ được sản phẩm, trang trải được các khoản chi phí bảođảm kinh doanh có lãi thật sự không phải là vấn đề đơn giản. Nó đòi hỏi cácnhà doanh nghiệp suy nghĩ, trăn trở chứ không thể bình thản trước sự đời. 3.2. Tiêu thụ sản phẩm - nguyên nhân thất bại. Tiêu thụ sản phẩm là công việc hàng ngày của các doanh nghiệp đồngthời cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh. Trong thời đạibùng nổ thông tin, thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, sản phẩmcần tiêu thụ có tới hàng trăm, hàng ngàn loại khác nhau. Có những sản phẩmvừa mới ra đời thậm chí vẫn còn trong trứng nước thì đã có những sản phẩmkhác ưu việt hơn xuất hiện, làm cho nhu cầu tiêu dùng cũng thường xuyênthay đổi. Vì sao lại có tình trạng như vậy? Thực tiễn kinh doanh trên thươngtrường quốc tế cũng như ở nước ta từ khi chuyển đổi cơ chế quản lý cho thấy,những nguyên nhân dẫn đến sản phẩm không tiêu thụ được bao gồm: - Sản phẩm kém chất lượng. - Sản phẩm không hợp thị hiếu và xu thế tiêu dùng của thời đại. - Định giá bán sản phẩm quá cao không phù hợp với mức thu nhập (khảnăng thanh toán) của người tiêu dùng. - Không tính đúng nhu cầu của thị trường, nên đã sản xuất quá nhiều sảnphẩm tạo ra khủng hoảng thừa. - Sản phẩm không tiếp cận được với người tiêu dùng (người có sảnphẩm muốn bán không gặp được người mua). - Chưa làm cho người tiêu dùng hiểu rõ giá trị sử dụng của sản phẩm.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 9
  10. 10. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Để khắc phục được những nguyên nhân trên, giải quyết tốt vấn đề tiêuthụ sản phẩm, bảo đảm quá trình sản xuất tiến hành bình thường, các doanhnghiệp đặc biệt quan tâm đến những vấn đề sau đây: - Phải nghiên cứu nắm bắt được tình hình thị trường sản phẩm, hàng hoáđể kịp thời chuyển hướng sản xuất thay đổi sản phẩm nhằm chiếm lĩnh thịtrường. - Không ngừng cải tiến mẫu mã hình thức, nâng cao chất lượng sảnphẩm tạo ra những mẫu mã, kiểu dáng kích cỡ phù hợp với xu thế phát triểncủa khoa học kỹ thuật và lối sống hiện đại. - Phải bằng mọi cách cải tiến tổ chức quản lý, nâng cao năng suất laođộng, hạ giá thành sản phẩm để tạo điều kiện giảm giá bán nếu thực sự sảnphẩm không có cải tiến gì về hình thức và chất lượng. - Tăng cường việc quảng cáo, giới thiệu sản phẩm gây tiếng tăm thu hútkhách hàng. Đồng thời phải thực hiện việc hướng dẫn tiêu dùng để có thểthay đổi tập quán và lối sống của xã hội. - Mở rộng mạng lưới tiêu thụ với nhiều hình thức phong phú, đa dạngnhất là hệ thống các trung gian tạo thành cầu nối vững trắc giữa sản xuất vàtiêu dùng. - Áp dụng linh hoạt các hình thức và các hình thức thanh toán, kết hợpvới việc sử dụng hệ thống linh hoạt, mềm dẻo nhằm mục đích tối đa hoá sựtiện lợi cho khách hàng mua bán trên cơ sở đó kích thích nhu cầu tiêu dùngvà tạo điều kiện khai thác triệt để các nhu cầu tiềm năng. - Tạo dựng và giữ gìn tín nhiệm của khách hàng đối với sản phẩm nóiriêng và doanh nghiệp nói chung. - Phải đón bắt được nhu cầu tiềm năng của khách hàng đối với từng loạisản phẩm cụ thể của doanh nghiệp để chuẩn bị cho tương lai. II. ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG XI MĂNG. 1. Công nghệ sản xuất xi măng. Hiện tại ở Việt Nam tồn tại ba phương pháp công nghệ sản xuất xi măngkhác nhau: - Phương pháp ướt với tổng công suất thiết kế 2.85 triệu tấn/năm(18,4%). - Phương pháp khô với tổng công suất thiết kế 9,62 triệu tấn/năm(62,1%) - Phương pháp bán khô với tổng công suất thiết kế 3,02 triệu tấn/năm(19,5%). Trong đó công nghệ tiên tiến sản xuất xi măng theo phương pháp khôđóng vai trò chủ đạo trong sản xuất xi măng ở Việt Nam hiện nay. Các dâytruyền công nghệ được đầu tư về sau càng hiện đại với các hãng nổi tiếng thếhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 10
  11. 11. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comgiới như: F.L.Smith, KruppPolysius, Fuller… Việc sử dụng các công nghệtiên tiến này đã giúp chúng ta có thể tăng sản lượng cung cấp, hạn chế đượcsự ô nhiễm môi trường đồng thời tăng sự phát triển của công nghiệp hoá tiếntới tự động hoá dây truyền sản xuất. 2. Sản lượng và chất lượng xi măng. Sản phẩm xi măng được sử dụng trong việc xây dựng nhà cửa, trườnghọc, các công trình lớn bé… tạo nên sự kết dính rắn chắc chịu đựng được vớithiên nhiên, t hời gian dài có thể tới hàng trăm năm. Điều kiện yếu của sảnphẩm này là không để được lâu sau khi sản xuất ra (khoảng 3 tháng) nếu bảoquản không tốt sẽ làm chất lượng sản phẩm giảm đáng kể. Với sự phát triển của công nghệ sản xuất thì sản lượng xi măng của ViệtNam có mức tăng trưởng khá mạnh thể hiện qua bảng theo dõi dưới đây: Năm 1991 2000Chỉ tiêu (%)Sản lượng (triệu tấn) 3,24 12,7 100Trong đó:- Xi măng lò quay (Bộ xây dựng) 2,93 6,6 52- Xi măng lò quay (Liên doanh) - 3,9 31- Xi măng lò đứng 0,31 2,2 17 Sản phẩm chính của các cơ sở lò quay là các loại xi măng Pooc - lăngPC - 30; xi măng Pooc - lăng hỗn hợp PCB - 40, PCB - 30 trong đó xi măngmác cao đạt >70%. Sản phẩm của các cơ sở xi măng nhà nước và liên doanhdo được trang bị công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, hệ thống kiểm tra chặtchẽ, nên chất lượng xi măng sản xuất đạt TCVN (các chủng loại xi măngPooc-lăng PC: TCVN 2683-1999, xi măng Pooc-lăng hỗn hợp PCB: TCVN6260-1997) và tương đương với chất lượng xi măng của nước trong khu vựcvà trên thế giới. Cho tới nay, đa số các cơ sở sản xuất xi măng lò quay đãđược cấp chứng chỉ ISO-9002. Các loại xi măng lò quay có hàm lượng caotựdo < 15, hàm lượng kiềm thấp, độ mịn cao và các chủng loại xi măng đặc biệtít toả nhiệt đã và đang được sử dụng rộng rãi trong các công trình vĩnh cửu ởkhắp mọi miền đất nước như thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Yaly, cầu MỹThuận, đường Hải Vân… Trong đó các cơ sở sản xuất xi măng lò đứng chủyếu sản xuất xi măng Pooc-lăng PCB-30, phù hợp với các công trình khôngyêu cầu khắt khe về kỹ thuật như kênh mương, thuỷ lợi, đường bê-tông nôngthôn, nhà ở thấp tầng… 3. Nhu cầu xi mănghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 11
  12. 12. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Từ năm 1991 tới 1997, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đượcduy trì ở mức độ cao ổn định 8-9,5%, nên nhu cầu sử dụng xi măng tăng khámạnh. Trong thời gian này trên thị trường xi măng lúc nào "cầu" cũng caohơn "cung". Từ 1997 tới nay, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước 7%,song nhu cầu xi măng vẫn giũ ở mức cao. Chính vì vậy, sản lượng xi mănghàng năm luôn tăng, hầu hết các nhà máy xi măng lò quay đã đạt công suấtthiết kế nhưng vẫn không đáp ứng nhu cầu sử dụng xi măng của xã hội. Vìthế hàng năm Nhà nước vẫn phải nhập một lượng Clanke và xi măng khá lớn. Hiện nay với dân số nước ta đã hơn 80 triệu người, bình quân đầu ngườivề xi măng của Việt Nam là 162kg/người, còn rất thấp so với các nước kháctrên thế giới như Hàn Quốc 1022kg/người, Đài Loan 964kg/người, HồngKông 724kg/người, Nhật Bản 538kg/người, Thái Lan 535kg/người, Malaixia584kg/người. Mặt khác đất nước chúng ta đang phát triển. Các cơ sở hạ tầng, côngtrình công cộng, nhà ở còn rất thiếu nên nhu cầu sử dụng xi măng vẫn sẽ rấtlớn. 4. Khả năng cung cấp xi măng. Trước đây xi măng là mặt hàng do Nhà nước độc quyền sản xuất vàcung ứng, toàn ngành xi măng hoạt động theo sự chỉ đạo và quản lý của Nhànước, dưới hình thức thống nhất mà đứng đầu là Tổng Công ty xi măng ViệtNam. Hiện nay quyền sản xuất và cung ứng xi măng đã được mở rộng tới cácđối tác khác. Từ năm 1997 tới nay thị trường sản xuất xi măng đã có sự thay đổi vềchất. Ngoài các cơ sở sản xuất xi măng của Nhà nước chiếm 42,2% còn cócác cơ sở của liên doanh với nước ngoài chiếm 38,2% và xi măng lò đứngchiếm 19,5%. Điều này đã tạo nên sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường,đồng thời cũng làm cho khách hàng khó lựa chọn nhãn mác. Hiện nay trên thị trường cung cấp xi măng bao gồm: Danh mục Công suất thiết kế Công nghệ (triệu tấn/năm) sản xuất I. Cơ sở của Bộ xây dựng 6.55 1. Công ty xi măng Hải Phòng 0.35 Ướt 2. Công ty xi măng Hoàng Thạch 2.4 Khô 3. Công ty xi măng Bút Sơn 1.4 Khô 4. Công ty xi măng Bỉm Sơn 1.2 Ướt 5. Công ty xi măng Hà Tiên (I + II) 1.3 Khô + ướt II. Cơ sở liên doanh 5.93 1. Công ty xi măng ChinFong 1.4 Khô 2. Công ty xi măng Nghi Sơn 2.27 Khô 3. Công ty xi măng Sao Mai 1.76 Khôhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 12
  13. 13. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 4. Công ty xi măng Vân Xá 0.5 Khô III. Các cơ sở của địa phương, tư 3.02 nhân. 1. Các cơ sở xi măng lò đứng 3.02 Bán khô Tổng cộng 15,5 5. Giá cả xi măng. Xi măng là một trong những mặt hàng được Nhà nước quản lý trongquá trình sản xuất, nhập khẩu, phân phối và quy định giá thông qua BộThương mại, Tổng Công ty xi măng Việt Nam và Ban Vật giá Chính phủ. Trong những năm gần đây, do tình trạng cung cầu mất ổn định, nguyênnhân: Các nhà máy sản xuất công suất lớn đi vào hoạt động làm cho sảnlượng xi măng tăng lên một cách nhanh chóng trong khi đó nhu cầu lại tăngkhông đáng kể. Đến năm 2000 "cung" vượt quá "cầu" 1,4 triệu tấn (sản xuất12.6 triệu tấn, tiêu thụ 11,2 triệu tấn). Đây là nguyên nhân làm cho giá cả ximăng tiếp tục giảm. Giá bán lẻ xi măng PC - 30 Hoàng Thạch tại Hà nội giảm từ 844 - 850đ/kg năm 1999 xuống 760đ/kg năm 2000. Mặc dù vậy, giá xi măng ở Việt Namhiện nay vẫn bị đánh giá cao so với thị trường khu vực. Giá bán xi măng hiệntại khoảng 55USD/ tấn ở thị trường Hà Nội trong khi đó giá nhập khẩu chínhngạch chỉ khoảng 41-42 USD/ tấn. Như vậy trong tương lai, nếu như Việt Nam trở thành thành viên chínhthức của AFTA, WTO thì khi đó xi măng nội địa sẽ phải cạnh tranh gay gắtvới hàng nhập của khẩu tràn lan do Chính Phủ lệnh cấm nhập khẩu, giảmthuế nhập khẩu đối với các quốc gia là thành viên AFTA xuống 5%, bãi bỏcác hàng rào thương mại phi thuế quan … làm cho giá cả xi măng sẽ còngiảm mạnh trên thị trường trong nước. III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SẢN LƯỢNG TIÊU THỤXI MĂNG ĐỐI VỚI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG . 1. Nhu cầu thị trường và sự cạnh tranh. Theo phần 3 trong II thì hiện nay mức tiêu dùng xi măng của người dânViệt Nam vẫn còn rất thấp (162kg/ người/ năm). So với các nước trong khuvực và trên thế giới. Mặt khác Việt Nam đang trên đà phát triển kinh tế, tiếntới năm 2020 trở thành một nước công nghiệp. Do vậy việc xây dựng các cơsở hạ tầng tạo tiền đề cho một đất nước công nghiệp là rất cần thiết dẫn đếnnhu cầu tiêu dùng và sản xuất phải tăng cao. Sự phát triển của kinh tế Việt Nam được thể hiện thông qua nhiều chỉtiêu trong đó chỉ tiêu nâng cao đời sống cho nhân dân là quan trong hàng đầu.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 13
  14. 14. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comKhi đời sống của nhân dân được nâng cao lên sẽ thúc đẩy quá trình tiêu dùngxi măng. Tạo tiền đề phát triển Công ty trong thời gian tới. Để tồn tại, phát triển và duy trì được hoạt động kinh doanh như hiện naythì Công ty cũng trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm trên thương trường.Hiện nay trên thị trường xi măng đã xuất hiện nhiều nhãn hiệu nhiều nhãnmác xi măng của các nhà máy sản xuất xi măng khác nhau tạo nên sự cạnhtranh mạnh mẽ. Cùng một lượng khách hàng nhất định trong một vùng địa lýnhất định mà có nhiều nhà cung cấp cùng một mặt hàng thì sản lượng cungcấp của những người này sẽ khác nhau. Điều này dẫn đến một thực trạngmuốn tồn tại và phát triển Công ty phải luôn luôn, không ngừng nâng caomức sản lượng tiêu thụ trên các địa bàn được phân công.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 14
  15. 15. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 2. Thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng. Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng là đơn vị cầu nối giữa người sản xuấtvà người tiêu dùng xi măng. Phương thức kinh doanh của Công ty là "mua đứt bán đoạn", tức là muaxi măng của các nhà máy sản xuất sau đó bán lại cho người tiêu dùng tại cácđịa bàn mà Tổng Công ty Xi măng Việt Nam phân công. Quá trình này cóbiểu hiện bằng sơ đồ sau: Các nhà máy sản Công ty Vật tư Kỹ Người tiêu xuất xi măng thuật Xi măng dùng Hàng năm căn cứ vào nhu cầu thị trường và khả năng sản xuất Tổngcông ty Xi măng Việt Nam giao nhiệm vụ cho các đơn vị thành viên sản xuấtvà cung ứng một mức sản lượng cụ thể: Để đáp ứng nhu cầu trong địa bàn được phân công, Công ty thườngxuyên phải theo dõi mức sản lượng tiêu thụ, tình hình thị trường để lên kếhoạch tiêu thụ cho từng địa bàn. Như vậy trong việc cung ứng của công ty tạo lên một động lực thúc đẩycác công ty sản xuất. Mối quan hệ giữa công ty với các công ty sản xuất làmối quan hệ thuận chiều. Việc nâng cao sản lượng tiêu thụ xi măng của côngty sẽ tạo điều kiện cho các công ty sản xuất thực hiện quá trình tái sản xuấtmở rộng. 3. Đảm bảo hiệu quả trong kinh doanh. Tất cả các công ty khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì đềumuốn công ty mình kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất, trong đó lợi nhuận làmục tiêu kinh tế trực tiếp. Đối với Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng, nhiệm vụ mua bán xi măng lànhiệm vụ chủ yếu. Do vậy để đảm bảo quá trình mua - bán được liên tục(đảm bảo nhiệm vụ được giao) và CBCNV có việc làm đầy đủ với mức thunhập ổn định thì đòi hỏi công ty kinh doanh phải đạt hiệu quả, phải có lãi(Lợi nhuận) còn lại sau khi lấy giá bán trừ đi giá mua và các chi phí trước khibán (chi phí vận chuyển, chi phí bốc dỡ, chi phí bảo quản, chi phí quản lý…). Đời sống của CBCNV có được nâng lên hay không? Ngân sách củacông ty có tăng lên hay không? Phụ thuộc chủ yếu vào việc tiêu thụ xi măng.Khối lượng tiêu thụ xi măng tăng lên thì đồng nghĩa với hiệu quả kinh doanhcủa công ty cũng tăng theo.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 15
  16. 16. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Như vậy muốn đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh đối với công tyVật tư Kỹ thuật Xi măng thì phải nâng cao mức sản lượng tiêu thụ trên cácđịa bàn được phân công. 4. Địa bàn phân công Hiện nay địa bàn phân công của Công ty tương đối rộng, đây là điềukiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của Công ty, giúp Công ty phục vụđược nhu cầu khách hàng một cách tốt hơn. Đây là yếu tố giúp Công ty có khả năng nâng cao mức sản lượng tiêuthụ của mình. Sự phát triển hệ thống các cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống củadân cư ở trong và ngoài thành phố Hà Nội của Đảng và Nhà nước, đã tạođiều kiện phát triển mạng lưới cửa hàng, các trung tâm, các đại lý của Côngty. 5. Tăng tài sản vô hình cho Công ty. Đó chính là việc tăng uy tín của Công ty, việc linh hoạt trong phwongthức bán hàng, củng cố và phát triển mạng lưới cửa hàng, thái độ người bánhàng sẽ tạo điều kiện nâng cao uy tín của Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măngvà là nhân tó ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao mức sản lượng tiêu thụ.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 16
  17. 17. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Phần hai PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TIÊU THỤ XI MĂNG CỦA CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TYVẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG 1. Quá trình hình thành và phát triển. - Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng có trụ sở đóng tịa Km 6 đường GiảiPhóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng là một đơn vị thành viên Tổng công tyXi măng Việt Nam. Là một đơn vị kinh tế quốc doanh, hạch toán độc lập cóđầy đủ tư cách pháp nhân. - Ngày 12/02/1993. Bộ xây dựng ra quyết định số 023 A thành lập Xínghiệp Vật tư Kỹ thuật Xi măng trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp xi măngViệt Nam (nay đổi thành Tổng Công ty Xi măng Việt Nam). Ngày 30/09/1993, Bộ Xây dựng quyết định số 445/BXD - TCLĐ đổi tênXí nghiệp Vật tư Kỹ thuật Xi măng thành Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng,trực thuộc Tổng Công ty Xi măng Việt Nam. - Ngày 10/07/1995, theo quyết định só 833 TCT - THQL của chủ tịchhội đồng quản lý Tổng Công ty Xi măng Việt Nam. Công ty được giqonhiệm vụ lưu thông, kinh doanh, tiêu thụ xi măng trên địa bàn thành phố HàNội theo phương thức kinh doanh làm Tổng đại lý cho hai công ty là Công tyxi măng Hoàng Thạch và Công ty xi măng Bỉm Sơn, đồng thời chuển giao tổchức, chức năng nhiệm vụ, tài sản và lực lượng cho Công ty Vật tư Kỹ thuậtXi măng. - Ngày 23/05/1998, theo Quyết định số 606/XMVN - HĐQT, hai trungtâm tiêu thụ xi măng tại địa bàn 3 huyện phía Bắc thành phố Hà Nội (GiaLâm, Đông Anh, Sóc Sơn) của Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng giao choCông ty Vận tải Xi măng quản lý. - Ngày 23/05/1998, theo Quyết định số 606/ XMVN - HĐQT chuyểngiao tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, tài sản và lực lượng cán bộ công nhânviên các chi nhánh xi măng Bỉm Sơn tại Hà Tây, tại Hoà Bình cho Công tyVật tư Kỹ thuật Xi măng quản lý và Công ty đã đổi tên các chi nhánh đóthành: + Chi nhánh Công ty Vật ty Kỹ thuật Xi măng tại Hà Tây. + Chi nhánh công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng tại Hoà Bình. - Ngày 21/03/2000, theo quyết định số 97/XMVN - HĐQT Tổng côngty xi măng Việt Nam, Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng nhận thêm các chinhánh của Công ty Vật tư Vận tải Xi măng tại địa bàn các tỉnh: Thái nguyên,http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 17
  18. 18. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comPhú Thọ, Lào Cai, Vĩnh Phúc được bàn giao cho Công ty đổi tên thành cácchi nhánh đó thành: + Chi nhánh Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng tại Lào Cai. + Chi nhánh Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng tại Thái Nguyên + Chi nhánh Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng tại Phú Thọ. + Chi nhánh Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng tại Vĩnh Phú. + Ngày 27/3/2002 theo QĐ số 85/XMVN của Tổng công ty Xi măngViệt Nam việc chuyển chi nhánh Hà Tây, Hoà Bình sang Công ty xi măngBỉm Sơn quản lý. 2. Nhiệm vụ của Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng. Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng có các nhiệm vụ chính sau: - Tổ chức lưu thông kinh doanh, tiêu thụ xi măng trên địa bàn thành phốHà Nội và các tỉnh được phân công. - Công ty thực hiện việc mua xi măng của các Công ty xi măng: HoàngThạch, Bỉm Sơn, Bút Sơn, Hải Phòng, Hoàng Mai; tổ chức vận chuyển ximăng từ các Công ty sản xuất đó đến các địa bàn tiêu thụ sau: Hà Nội, SơnLa, Lai Châu, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Phú Thọ, Yên Bái, HàGiang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc. - Xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch hàng năm phù hợp với nhiệmvụ được Tổng công ty giao và nhu cầu của thị trường. - Ký kết và tổ chức thực hiện các hợp đồng kinh tế với các đối tác muavà bán hàng hoá. - Thực hiện chỉ đạo điều hành mà Tổng công ty nhằm đảm bảo cân đốibình ổn giá cả thị trường xi măng tại các địa bàn được giao và thực hiện dựtrữ khi cần thiết. - Thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động theo quy định của Bộ Laođộng. - Quản lý các hoạt động về đổi mới hiện đại hoá công nghệ trang thiết bịvà phương thức quản lý để mở rộng sản xuất phù hợp với tình hình kinhdoanh của công ty. - Thực hiện các quy định của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên môitrường, quốc phòng và an ninh Quốc gia. - Thực hiện chế độ báo cáo thống kê, các báo cáo khác theo định kỳ,theo quy định của Nhà nước và Tổng công ty Xi măng Việt Nam, đồng thờichịu trách nhiệm về tính xác thực của bản báo cáo. - Chịu sự kiểm tra của Tổng công ty: tuân thủ các quy định về thanh tracủa cơ quan tài chính và của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy địnhcủa pháp luật.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 18
  19. 19. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Công ty có nghĩa vụ thực hiện chung các chế độ và quy định về quảnlý vốn, tài sản, các quỹ, về kế toán, hạch toán chế độ kiểm toán và các chếđộ khác của Nhà nước và quy chế tài chính của Tổng công ty. - Tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động của đơn vị để tổ chức cácdịch vụ kinh doanh, cung cấp phụ cho các nhà máy xi măng, đại lý tiêu thụmột số mặt hàng, vật tư, vật liệu xây dựng. 3. Tổ chức bộ máy và tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty. 3.1. Tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty có 4 chi nhánh và 1 xí nghiệp vận tải: - Chi nhánh Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng tại Thái Nguyên - Chi nhánh Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng tại Phú Thọ. - Chi nhánh Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng tại Vĩnh Phúc. - Chi nhánh Công ty Vật tư Kỹ thuật Xi măng tại Lào Cai - Xí nghiệp vận tải. Tại thành phố Hà Nội công ty có 5 trung tâm nằm rải ra trên các địa bànquận, huyện sau: STT Tại Cửa hàng của công ty Đại lýTrung tâm số 1 Đông Anh, Sóc Sơn 6 (23 người) 2Trung tâm số 3 Gia Lâm 4 (25 người) 2Trung tâm số 5 Thanh Trì, Thanh Xuân, 28 (97người) 16 Giáp NhịTrung tâm số 7 Vĩnh Tuy, Hoàn Kiếm, HBT 15 (52 người) 8Trung tâm số 9 Tây Hồ, Từ Liêm 9 (28 người) 6Tổng 71 34 Dưới các trung tâm là các cửa hàng của Công ty và đại lý. Các thành phần kinh tế sau có thể trở thành đại lý của Công ty. + Doanh nghiệp Nhà nước. + Công ty TNHH. + Cá nhân + Hợp tác xã. + Tổ sản xuất. Việc tiếp nhận xi măng thông qua 3 tuyến đường: đường bộ, đường sắt,đường thủy. ở mỗi địa điểm có các trạm tiếp nhận. Hệ thống các kho chứahàng gồm: Kho Giáp Nhị 1 + 2, Vĩnh Tuy, Cầu Biêu, Nhân chính, Yên Viên,Cổ Loa, Nghĩa Đô. Tuỳ từng nơi sản xuất mà công ty có thể vận chuyển hàng bằng đườngbộ, đường thủy hay đường sắt, sử dụng phương tiện của công ty hay thuêngoài (riêng đường sắt thì do Tổng cục đường sắt quản lý). Vấn đề đặt ra làphải sử dụng hình thức vận chuyển sao cho đảm bảo hiệu quả trong kinhdoanh.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 19
  20. 20. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 3.2. Tổ chức bộ máy quản lý. Tổng số lao động của công ty tính đến ngày 31/12/2002 là: 944 người. Trong đó: - Bộ phận lao động gián tiếp là 222 người - Bộ phận lao động trực tiếp là 722 người. Bộ máy quản lý của công ty bao gồm: • Ban giám đốc • Văn phòng công ty • Phòng điều độ quản lý kho. •Phòng QLDA & KTĐT • Phòng tổ chức lao động • Phòng quản lý thị trường •Phòng kế toán thống kê tài chính. • Phòng tiêu thụ. • Phòng kinh tế kế hoạch. Có thể hình dung cơ cấu bộ máy của công ty như sau: Giám đốc Phó giám đốcPhó giám đốc kinh doanh ĐTXDCB Phòng Phòng Phòng Phòng Phòng Văn điều Phòng XN tài tổ Phòng Kinh tế điều độ phòng độ Tiêu vận chính chức QLDA kế kho công quản thụ tải kế lao hoạch vận ty lý kho toán động - Các phòng ban xí nghiệp, chi nhánh hoạt động theo chức năng được Giám đốc phân công. Đây là bộ máy tham mưu giúp ban Giám đốc thực hiện mục tiêu kế hoạch đề ra. - Giám đốc, phó giám đốc, Trưởng phòng kế toán do Tổng công ty xi măng Việt Nam bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Tổng công ty về sự hoạt động của công ty mình. * Ban Giám đốc. http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 20
  21. 21. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Giám đốc công ty, là người đứng đầu công ty, có quyền điều hành caonhất, do Hội đồng quản trị Tổng công ty bổ nhiệm. Giám đốc là đại diệnpháp nhân của công ty và chịu trách nhiệm trước Tổng công ty và trước phápluật về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. - Phó giám đốc kinh doanh: Chỉ tiêu trực tiếp việc kinh doanh tiêu thụcủa các chi nhánh, xí nghiệp vận tải và phòng tiêu thụ xi măng. - Công tác điều độ, hợp đồng vận chuyển, định mức kinh tế kỹ thuậttrong khâu vận tải, công tác quản lý kho . - Phó giám đốc phu trách đầu tư xây dựng cơ bản: Chỉ đạo công tác đầutư xây dựng cơ bản. * Phòng kinh tế kế hoạch. Có nhiệm vụ: Xây dựng các kế hoạch hàng tháng, hàng quý, hàng nămcủa công ty. Đôn đốc kiểm tra việc thực hành kế hoạch của các đơn vị .Ngoài ra, phòng kế hoạch còn nắm bắt diễn biến của thị trường để xây dựngđiều chỉnh các cơ chế tiêu thụ xi măng, xây dựng các mức cước phí, trungchuyển v.v… Thực hiện các hợp đồng mua xi măng từ các Công ty sản xuất và giaokế hoạch cho các chi nhánh. Ký các hợp đồng cho thuê các kho chứa hàng của Công ty mà hiện naychưa sử dụng. * Phòng tổ chức lao động. Có nhiệm v: Tổ chức lao động hợp lý và thực hiện các chế độ chínhsách đối với cán bộ công nhân viên, xây dựng đơn giá tiền lương. * Phòng kế toán tài chính. Có nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch chi phí lưu thống, kế hoạch tài chính,chỉ đạo lập chứng từ, lập sổ sách hạch toán, quản lý vốn, tiền hàng, sử dụngvốn có hiệu quả, giám sát chỉ tiêu sản xuất kinh doanh, quyết toán tài chính,lập chế độ báo cáo tài chính. * Phòng quản lý tài chính. Có nhiệm vụ: Giúp Giám đốc công ty nắm bắt được nhu cầu xi măngtrên địa bàn hoạt động của công ty, theo dõi tình hình biến động giá xi măng,tình hình cạnh tranh trên thị trường, kiểm tra việc thực hiện nội quy, quy chếtrong kinh doanh tiêu thụ xi măng. * Phòng tiêu thụ Phụ trách việc tổ chức và quản lý mọi hoạt động của các cửa hàng, đạilý của công ty, đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ, mở rộng mạng lưới bán hàng. * Phòng điều độ kho vận. Phụ trách mạng lưới kho, đảm bảo xuất nhập xi măng thực hiện liên tục,điều phối hàng hoá, đảm bảo mức dự trữ theo quy định.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 21
  22. 22. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com * Xí nghiệp vận tải. Thực hiện tiếp nhận xi măng từ trạm giao nhận, đại diện cho công ty tạicác ga, cảng đầu mối tại Hà Nội về các kho lưu trữ hoặc các cửa hàng bán lẻhoặc các đại lý, hoặc về chân công trình khi có yêu cầu. Có thể nhận vậnchuyển các hàng hoá khác khi không vận chuyển xi măng.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 22
  23. 23. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com * Văn phòng công ty. Phụ trách các hoạt động: Văn thư, lưu trữ hồ sơ, quản lý con dấu, côngtác quản trị, mua sắm văn phòng phẩm, công tác giao dịch đối ngoại, và côngtác tạp vụ. * Phòng kỹ thuật đầu tư. Phụ trách công tác đầu tư xây dựng cơ bản, công tác quản lý chất lượngsản phẩm, thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá trong kho, xử lý cáckhiến kiện về chất lượng sản phẩm, phụ trách về việc sửa chữa mua sắm thiếtbị. 4. Phạm vi hoạt động của công ty. Hiện nay Công ty vật tư kỹ thuật xi măng được Tổng công ty Xi măngViệt Nam giao nhiệm vụ tiêu thụ xi măng trên các địa bàn sau: Hà Nội, SơnLa, Lai Châu, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Phú Thọ, Yên Bái, HàGiang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc. Tại các địa bàn hoạt động trên thì các đơn vị thành viên trong Tổngcông ty không được phép tổ chức hoạt động kinh doanh tiêu thụ xi măng. Tạicác địa bàn được phân công này công ty còn phải có trách nhiệm giữ bình ổnthị trường. II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TIÊU THỤ XI MĂNG CỦACÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG. 1. Công tác mua - bán của Công ty Vật tư Kỹ thuật xi măng. 1.1. Mua hàng - Nguồn hàng: Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng, do là đơn vị thành viên trong Tổngcông ty Xi măng, trực thuộc Tổng công ty quản lý lên vấn đề lựa chọn nguồnhàng cho hoạt động kinh doanh là không có. Nguồn hàng của Công ty đangkinh doanh chịu sự chỉ đạo của Tổng công ty. Hiện nay nguồn hàng được lấytừ các đơn vị trong Tổng công ty. + Xi măng Hoàng Thạch của nhà máy Xi măng Hoàng Thạch + Xi măng Bỉm Sơn của nhà máy Xi măng Bỉm Sơn. + Xi măng Bút Sơn của nhà máy Xi măng Bút Sơn + Xi măng Hải Phòng của nhà máy Xi măng Hải Phòng. - Hình thức mua xi măng. Công ty mua xi măng theo hình thức hợp đồng kinh tế đã ký trước vớicác nhà máy sản xuất hàng năm, sau khi được Tổng công ty giao chỉ tiêu vàCông ty dự đoán nhu cầu xi măng trên các địa bàn được phân công. Công tyxây dựng lên các kế hoạch mua xi măng theo từng tháng, từng quývới cácnhà máy sản xuất. - Hình thức thanh toán.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 23
  24. 24. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Sau khi chuyển sang hình thức mua đứt, bán đoạn với các nhà máy sảnxuất thì công ty phải thanh toán ngay số tiền ứng với số tiền mà mình đãmua, nhưng có thể được chậm trả trong thời gian 45 ngày kể từ ngày mua,đây là điều kiện rất thuận lợi để công ty có khả năng quay vòng vốn tronghoạt động kinh doanh của mình. Việc định giá mua và giá bán được Tổng công ty ban hành xuống từngđơn vị thành viên trong Tổng công ty nên việc mua xi măng cũng không gặpmấy khó khăn. - Hình thức vận chuyển: Căn cứ vào kế hoạch hợp đồng đã ký kết với các nhà máy, công ty cửngười cùng với phương tiện vận tải xuống tận nơi nhận hàng. Với các công tysản xuất khác nhau, công ty có thể sử dụng các phương tiện vận tải khácnhau, như đối với nguồn xi măng Hoàng Thạch công ty có thể tiếp nhận đượcbằng cả ba tuyến đường: đường bộ, đường sắt, đường thủy; đối với loại ximăng Bỉm Sơn công ty vận chuyển theo hai hình thức là đường bộ và đườngsắt; còn đối với loại xi măng Bút Sơn thì công ty vận chuyển bằng ba hìnhthức là đường bộ, đường thủy, đường sắt. Công ty phải thuê phương tiện củaNhà nước và tư nhân, việc sử dụng hai loại phương tiện này vận chuyển vớikhối lượng lớn và chi phí vận chuyển thấp nên công ty phải bố trí kế hoạch từkhi mua về đến khi nhập phải chặt chẽ. Về đường bộ công ty sử dụng một phần phương tiện hiện có và sử dụngcả phương tiện vên ngoài để tham gia vận chuyển. Xi măng nhập từ đầu nguồn có thể nhập vào các kho của các đầu mốihoặc các cửa hàng, hoặc chuyển thẳng đến chân công trình hay giao chokhách hàng tại các địa điểm đó, tùy theo yêu cầu của Công ty và khách hàng. 1.2. Bán hàng Các hình thức bán hàng được công ty áp dụng là: + Bán tại cảng + Bán tại đầu mối (những điểm giao nhận) + Bán tại kho + Bán tại cửa hàng + Bán tại chân công trình Do các hình thức bán hàng của Công ty là khác nhau, do vậy giá báncủa các hình thức đó cũng khác nhau, thường giá bán tại các đầu mối (các ga,các cảng) là giá bán thấp nhất sau đó là gía bán tại các kho, cửa hàng, châncông trình. Công việc bán xi măng là công việc cuối cùng quan trọng nhất đốivới sự tồn tại và phát triển của Công ty, nên nó đòi hỏi phải có sự quản lýchặt chẽ từ khâu tiếp nhận xi măng đến khi giao xi măng và thanh toán. Cáchthức quản lý có thể hình dung theo mạng sơ đồ sau:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 24
  25. 25. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Công ty vật tư kỹ thuật xi măng Phòng TTXM Các trung tâm Các cửa hàng của Các cửa hàng của công ty công ty Người tiêu dùng Việc hình thành lên các trung tâm nhằm giúp cho các cửa hàng, kháchhàng có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thanh toán, tạo điều kiện cho việckinh doanh được trôi chảy hơn.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 25
  26. 26. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 2. Mạng lưới cửa hàng của Công ty Vật tư kỹ thuật xi măng.Khu vực Số trung tâm Tổng số Trong đó STT Tên cửa hàng Cửa hàng Cửa trung bán lẻ của Công hàng tâm ty đại lýI. Hà Nội 108 70 38 1 1 08 06 02 2 2 06 04 02 3 3 11 06 08 4 4 11 06 08 5 6 15 09 06 6 7 23 15 08 7 8 18 12 06 8 9 16 10 06II. Chi nhánh Vĩnh phúc 10 10 0III. Chi nhánh Thái 23 06 17NguyênIV. Chi nhánh Phú Thọ 15 15 0VII. Chi nhánh Lào Cai 04 02 02Tổng cộng Mạng lưới cửa hàng tại thành phố Hà Nội: Phần phụ lục Nhìn chung các cửa hàng của Công ty đều thuê với giá trung bìnhkhoảng 500.000đ/1tháng, cửa hàng có diện tích ít nhất khoảng 15m2, nền nhàcao hơn mặt đường ít nhất 30cm, mái không dột nát, không ẩm ướt, thôngthoáng, không bị mưa hắt vào, tránh xa dầu mỡ và không bị nước tràn vào…Địa điểm đủ điều kiện kinh doanh, không bị kiện tụng, ô nhiễm môi trườngvà có đ ường vận chuyển bốc dỡ thuận tiện. Ngoài ra cửa hàng phải có hệthống chiếu sáng đầy đủ, thực hiện đóng góp tiền vệ sinh, an ninh quốcphòng đối với địa phương sở tại. Việc thuê địa điểm bán hàng (các cửa hàng) là do nhân viên bán hàngưự do chọn lựa trên cơ sở tiêu chí một cửa hàng mà công ty đã xây dựng , sauđó cán bộ công ty đến kiểm tra, nếu thấy đủ hội đủ các điều kiện thì cho phépnhân viên cửa hàng đó được ký kết hợp đồng thêu vơí chủ nhà. Việc phân bổ các cửa hàng nhìn chung vẫn có những chỗ chưa hợp lý.Có một số trung tâm có số lượng cửa hàng cao hơn so với các trung tâmkhác, tại một số cửa hàng chủ cửa hàng thuê với giá thấp, diện tích hẹp làmảnh hưởng tới cơ cấu phân bố mạng lưới cửa hàng, và hoạt động tiêu thụ ximăng của công ty.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 26
  27. 27. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 3. Phân tích thực trạng tình hình tiêu thụ xi măng của Công ty Vậttư Kỹ thuật Xi măng qua một số năm. ĐVT 2000 2001 2002+ Bán ra (tiêu Tấn 1.007.172 1065419 1662083thụ)+ Doanh thu Triệu đồng 695.114 734.739 1147732+ Nộp N. sách Triệu đồng 9393 11200 14.255+Lợi nhuận Triệu đồng 7595 3200 11.259 Nguồn: Phòng Kinh tế kế hoạch Kết quả tiêu thụ năm 2000 Chủng loại Kế hoạch Công ty % so vớiXi măng Hoàng Thạch 560.000 582.500 104Xi măng Bỉm Sơn 135.000 138.900 103Xi măng Bút Sơn 233.000 239.500 103Xi măng Hải Phòng 42.000 46.000 109Tổng số 970.000 1.007.000 103,2 Nguồn: Kinh tế kế hoạch. * So sánh với năm 2001 Kế hoạch Thực hiện % So với năm 2000XM Hoàng Thạch 670.000 720.987 107,6 123,7XM Bỉm Sơn 70.000 82.048 117,2 59,1XM Bút Sơn 150.000 176.116 117,4 73,5XM Hải Phòng 60.000 86.268 143,8 187,5Tổng số 950.000 1.065.419 112,1 105,8 Nguồn: Phòng Quản lý thị trường Kết quả tiêu thụ năm 2002 Kế hoạch Thực hiện % So với năm 2000XM Hoàng Thạch 700.000 934.630 133,5 129,5XM Bỉm Sơn 80.000 63.615 79,5 77,5XM Bút Sơn 480.000 538.503 112,2 305,8XM Hải Phòng 70.000 100.163 143,0 116,2XM Hoàng Mai 20.000 25.172 125,0 -Tổng số 1.350.000 1.662.083 123,1 156,0 (Riêng CNHT, CNHB số lượng thực hiện từ tháng 1 đến 3/2002. Từ 1/4/2002 chuyển giao sang Công ty xi măng Bỉm Sơn quản lý)http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 27
  28. 28. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Qua số liệu trên ta có thể thấy rằng sản lượng xi măng tiêu thụ có chiềuhướng tăng lên. - Đến năm 2002, sản lượng tiêu thụ của công ty đã tăng lên rất lớn, cóthể nói đó là mức tăng đột biến về sản lượng đó là do nhu cầu của thị trườngcó mức tăng trưởng cao. Điều đó đã khẳng định sự nỗ lực, quyết tâm của toànbộ cán bộ, công nhân viên trong toàn công ty, sự giúp đỡ của các đơn vị sảnxuất, Tổng công ty và sự thuận lợi của nền kinh tế phát triển đã giúp công tynâng cao sản lượng tiêu thụ… Qua mức sản lượng tăng giảm qua các năm ta có thể thấy rằng mức tiêuthụ xi măng hay nhu cầu sử dụng xi măng có mối quan hệ chặt chẽ với tốc độtăng trưởng phát triển của nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển (tốc độ tăngtrưởng tăng) thì nhu cầu sử dụng xi măng cũng tăng và ngược lại . - Tại các địa bàn công ty thì Hà Nội nhu cầu xi măng là cao nhất dovậy, công ty phải xác định đây là thị trường trọng tâm và nên tập trung pháttriển cao hơn nữa ở thị trường này. Có thể lấy các tiêu chuẩn về cửa hàng vàcon người, về sự hoạt động trong kinh doanh để xây dựng, phát triển ở các thịtrường khác. 4. Phân tích hiệu quả kinh doanh của công ty. Có rất nhiều phương pháp xác định hiệu quả kinh doanh của một doanhnghiệp, tuỳ từng lĩnh vực, tuỳ từng mục đích nghiên cứu mà người ta có thểphân tích, xây dựng nên các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cho mộtdoanh nghiệp. Ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là phần lợi nhuậnmà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình kinh doanh trong một thời gianxác định. Đối với Công ty Vật tư Kỹ thuật xi măng có thể xác định như sau:giá bán - giá mua - chi phí vận chuyển, trung chuyển và các chi phí khác.Trong quá triành kinh doanh của công ty thì việc xây dựng nên các chỉ tiêucước phí là quan trọng nhất, đòi hỏi phải có sự hiểu biết sâu sắc, qua kinhnghiệm, qua thực tế thì mới xây dựng được các mức chi phí chính xác. Bước 1: Xác định giá mua xi măng. Do xi măng là một mặt hàng được Nhà nước thống nhất quản lý nên giácả xi măng được Tổng công ty Xi măng Việt Nam quyết định khung giá. Đốivới 4 chủng loại xi măng Miền Bắc (Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, Bút Sơn và HảiPhòng), Tổng công ty nên xây dựng khung giá bán xi măng Hoàng Thạch vàBỉm Sơn là bằng nhau tại địa bàn Hà Nội, khung giá xi măng Bút Sơn và HảiPhòng là thấp hơn. Tại các địa bàn khác cho phép Công ty Vật tư kỹ thuật ximăng xây dựng dựa trên giá chuẩn.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 28
  29. 29. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Đối với công ty, khung giá mua còn được tính theo mức sản lượng, nếumua nhiều sẽ được các công ty sản xuất cho hưởng mức ưu đãi. Cụ thể nếumua với khối lượng lớn hơn 10.000 tấn giá mua sẽ như sau:Chủng loại Vận chuyển Vận chuyển Vận chuyển đường sắt đường thủy đường bộC.ty XM Hoàng Thạch 630 625 655C.ty XM Bỉm Sơn 625 - 655C.ty XM Bút Sơn 620 615 640C.ty XM Hải Phòng 635 635 635 Nguồn: Phòng kinh tế kế hoạch Bước 2: Xác định các chi phí. - Chi phí lưu thông: Công ty sử dụng chi phí này để mua hàng về baogồm: chi phí hành chính, lương nhân viên mua hàng, công tác phí, chi phígiao dịch, chi phí vận chuyển hay cước phí… Trong chi phí lưu thông thì chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng lớn nhất.Chi phí vận chuyển từ Công ty Xi măng Hoàng Thạch về Hà Nội bằng đườngbộ là: 67.000đ/tấn. Chi phí vận chuyển từ Công ty xi măng Hoàng Thạch về Hà Nội bằngđường thủy là: 37.000đ/tấn. Ngoài ra còn các chi phí khác như: chi phí quản lý, chi phí bốc dỡ, chiphí bảo quản đồng thời khi xi măng giao vào kho và vận chuyển tới các cửahàng, đại lý… thì còn phải chịu một loại chi phí khác gọi là cước trungchuyển. Ta có thể hình dung theo sơ đồ sau:= Giá mua + + + - Giá bán được Tổng công ty quy định không vượt khung giá trần và sàntại các địa bàn chính. - Do tiếp nhận bằng các phương thức vận chuyển khác nhau (sắt, thủy,bộ) nên khi xây dựng giá bán cũng khác nhau. Chẳng hạn giá bán xi măngHoàng Thạch tại Hà Nội là như sau: Đơn vị: 1000đ/tấn Loại xi măng PCB - 3000 Giá thị trường - Bán tại cảng 745 - Bán tại kho 760 - Bán tại đầu mối 760 - Bán tại cửa hàng 760 - Bán tại chân công trình 760http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 29
  30. 30. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Ví dụ: Xác định giá bán đối với xi măng Hoàng Thạch tại khu vực HàNội, phía nam Sông Hồng như sau:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 30
  31. 31. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comSTT Nội dung Đầu mối Đầu mối Tại Tại chân công trình (Thủy) (Bộ) kho(bộ) Từ cảng Từ kho 1 Chi phí cố định 23.000 23.000 23.000 23.000 23.000 2 Cước vận chuyển (chưa 36.190 63.810 38.095 36.190 38.095 VAT) 3 Rách vỡ, hao hụt trong v/ 300 - - 300 - c 4 Bốc xếp 9.524 - 600 9.524 1.100 5 Chi phí bảo quản - - 1.100 - 21,2 6 Chi phí người bán hàng 21.200 18.400 21.200 21.200 595.455 7 Giá mua (chưa VAT) 568.182 595.455 595.455 568.182 - 8 Chi phí khuyến mãi - - - Giá thành (1 + 2+8) 658.396 - - 680.301 702.380 Giá bán 677.273 700.665 484.850 691.909 690.909 - Giá bán chưa thuế 67.727 69.091 69.090 - Thuế VAT (10%) 745.000 690.909 690.909 760.000 760.000 - Giá thanh toán đã có 69.091 69.091 thuế 760.000 760.000 Lỗ - lãi (10.1 - 9) + 18.877 - 9.756 6.059 10.608 -11.991 Nguồn: Phòng kinh tế kế hoạch Tương tự đối với việc tính toán cho các chủng loại xi măng khác, quabảng tổng kết, kết quả trên cho ta thấy: - Việc kinh doanh của công ty là có hiệu quả, mặc dù có những khi bịthua lỗ (thường thì khi vận chuyển lên các vùng sâu, vùng xa thì bị lỗ). Côngty đã lấy lãi ở vùng "dưới" bù lỗ ở vùng "trên". - Trong ba loại tuyến đường tiếp nhận, thì tiếp nhận bằng đường thủy làđem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất (lãi18,877đồng), sau đó đến đường sắtvà đường bộ. III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2002. 1. Đặc điểm tình hình. Năm 2002 Công ty triển khai thực hiện nhiệm vụ kế hoạch trong điềukiện đặc điểm tình hình có những khó khăn và thuận lợi chủ yếu sau: Thời tiết năm 2002 diễn biến phức tạp, đặc biệt là một số tỉnh miền núichịu ảnh hưởng của mưa, lũ sớm và kéo dài.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 31
  32. 32. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Tuy nhiên, năm 2002 nền kinh tế của đất nước tiếp tục trên đà tăngtrưởng do vậy nhu cầu tiêu thụ xi măng trên các địa bàn có mức tăng trưởngđáng kể. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện kế hoạch, Công ty luôn được sựquan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Tổng Công ty xi măng Việt Nam, sự hỗ trợcủa các phòng ban Tổng Công ty, các Công ty sản xuất, các đơn vị bạn, cácban ngành trung ương và địa phương đà tạo nhiều điều kiện để Công ty vật tưkỹ thuật xi măng thực hiện nhiệm vụ kế hoạch Tổng công ty xi măng ViệtNam giao. Từ đặc điểm tình hình trên, Công ty đã triển khai thực hiện nhiệm vụ kếhoạch năm 2002 và đã đạt được những kết quả chủ yếu như sau: 2. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2002 a. Sản lượng xi măng mua vào, bán ra: *. Toàn Công ty đạt: Đơn vị tính: tấn Chủng loại Kế hoạch Thực hiện % so với % so với KH năm 2001Mua vào 1.380.000 1.661.995 120,4 154,2- XM Hoàng Thạch 720.000 938.754 130,3 129,0- XM Bỉm Sơn 80.000 64.572 80,7 77,5- XM Hải Phòng 80.000 95.339 119,1 105,5- XM Bút Sơn 480.000 537.097 111,9 304,3- XM Hoàng Mai 20.000 26.233 131,1Bán ra 1.380.000 1.662.083 120,4 156,0- XM Hoàng Thạch 720.000 934.630 129,8 129,5- XM Bỉm Sơn 80.000 63.615 79,5 77,5- XM Hải Phòng 80.000 100.163 79,5 77,5- XM Bút Sơn 480.000 538.503 112,1 305,8- XM Hoàng Mai 20.000 25.172 125,8http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 32
  33. 33. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com *. Sản lượng bán ra của các đơn vị. Đơn vị tính: tấn Đơn vị Kế hoạch Thực hiện % so với % so với KH năm 2001 Tổng số 1.380.000 1.662.083 120,4 156,0 1. Phòng TT xi măng 848.000 1.238.485 146,0 180,8 2. XNVT + P.KTKH 40.956 3. CN Hà Tây (*) 160.000 39.853 24,9 31,0 4. CN Hoà Bình (*) 57.000 12.130 20,2 33,2 5. CN Thái Nguyên 108.000 117.993 109,2 179,6 6. CN Phú Thọ 90.000 95.207 105,7 131,9 7. CN Vĩnh Phúc 87.000 79.751 91,6 140,7 8. CN Lào Cai 30.000 37.708 125,5 176,0 a. Công tác vận tải: *. Khối lượng và kết cấu vận tải: Đơn vị tính: tấn Loại xi Tổng số Đường thuỷ Đường sắt Đường bộ măngTổng cộng 1.661.995 543.232 32,7 230.399 13,9 888,364 53,4H. Thạch 938.754 443.966 47,3 60.065 6,4 434.723 46,3Bỉm Sơn 64.572 20.618 31,9 43.954 68,1Bút Sơn 537.097 83.460 15,5 121.155 22,6 332.482 61,9H. Phòng 95.339 15.806 16,6 28.161 29,5 51.372 53,9H. Mai 26.233 400 1,5 25.833 98,5 Như vậy, việc điều hành kết cấu vận tải chưa thực hiện được tốt mục tiêu, địnhhướng kế hoạch đề ra (đường sắt, đường thuỷ mới đạt 46,6%) *. Vận tải nội bộ: Khối lượng vận chuyển của Xí nghiệp vận tải đạt: 73.805 tấn, so với mục tiêu đề ra bằng 87,8% (bình quân đạt 6.150 tấn/ tháng). Trong đó trung chuyển đạt 21.108 tấn, đường dài đạt 52.697 tấn. b. Công tác lao động tiền lương: - Tổng số lao động bình quân: 944 người, so với kế hoạch bằng 84,8% http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 33
  34. 34. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Thu nhập bình quân: 2.150.000 đồng/ người/tháng, so với mục tiêu đềra bằng 143%. c. Lợi nhuận và nộp ngân sách. - Doanh thu đạt: 1.147,732 tỷ đồng - Nộp ngân sách đạt: 14,255 tỷ đồng - Lợi nhuận đạt: 11,259 tỷ đồng, so với kế hoạch bằng 225%. IV. PHÂN TÍCH THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ NHỮNG VIỆCCÒN TỒN TẠI CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN QUA. 1. Thuận lợi. Trong thời gian gần đây nền kinh tế có bước tăng trưởng, việc xây dựngcác cơ sở hạ tầng tiếp tục được hoàn thiện và nâng cao, các chính sách đầu tưcủa Nhà nước thông thoáng đã làm cho vốn đầu tư trong nước và ngoài nướctăng lên rất nhanh, thu nhập cảu người dân tăng tạo điều kiện khách quanthuận lợi cho công ty. Đội ngũ CBCNV trong công ty đã được tích lũy được kinh nghiệmtrong nghề nghiệp tạo điều kiện thuận lợi phát triển công ty. - Địa bàn được phân công tương đối rộng khắp, trên phạm vi 14 tỉnh nênviệc mở rộng phát triển mạng lưới cửa hàng thuận lợi, tiến tới phục vụ tậnnơi cho người tiêu dùng. - Công ty kế thừa được các cơ sở vật chất, CBCNV do việc sáp nhập.Nên sự đầu tư phát triển mở rộng của công ty không gặp mấy khó khăn . - Công ty có thể đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhờ có đội ngũCBCNV đông đảo và có khả năng đảm bảo về tài chính. - Do công ty làm một đơn vị thành viên trong Tổng công ty xi măngViệt Nam nên công ty nhận được sự quản lý, chỉ đạo sát sao từ Tổng công tyvà sự giúp đỡ của các công ty sản xuất trong Tổng công ty, tạo điều kiệnthuận lợi cho hoạt động kinh doanh của công ty. 2. Khó khăn. - Nhiệm vụ nặng nề. Địa bàn được phân công rộng, có cả vùng sâu, vùng xa nên việc tổ chứccung ứng xi măng tại các địa bàn này rất khó khăn, thường bị lỗ ảnh hưởngtới hiệu quả kinh doanh, thường công ty phải "lấy dưới , bù trên" tức là đemhiệu quả kinh doanh ở dưới xuôi bù lại hoạt động kinh doanh ở vùng sâu,vùng xa (ở đó nhu cầu tiêu thụ xi măng thấp, cước phí vận chuyển cao, khókhăn…). - Việc tổ chức kinh doanh. Hiện nay việc tổ chức kinh doanh của công ty bị phụ thuộc vào nhiềuyếu tố khách quan, như những bất cập trong lĩnh vực vận tải.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 34
  35. 35. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Đường bộ: Sử dụng ô tô vận chuyển, mặc dù trong công ty có XNVTnhưng năng lực vận chuyển chưa đáp ứng được nhu cầu vận chuyển, đặc biệttrong những lúc vào thời vụ, nhu cầu sử dụng nhiều. Vì vậy công ty phải kýkết hợp đồng thêm các đơn vị vận chuyển bên ngoài để bảo đảm công việckinh doanh được nhanh chóng và hiệu quả. Đường sắt: Hệ thống đường sắt Việt Nam do Tổng cục đường sắt quảnlý. Vì vậy khi vận chuyển xi măng từ các công ty sản xuất về các địa bàn,công ty bị phụ thuộc vào năng lực vận chuyển của ngành đường sắt. Đường thủy: Công ty có các trạm nhận tiếp nhận ở các đầu mối nhưngphương tiện vận chuyển thì công ty phải ký hợp đồng với các chủ phươngtiện vận tải đường thuỷ. - Sự cạnh tranh quyết liệt của thị trường. Hiện nay trên thị trường xi măng đang diễn ra sự cạnh tranh quyết liệtgiữa các công ty của Nhà nước với các công ty liên doanh và các cơ sở sảnxuất đặt tại các tỉnh. Hình thức cạnh tranh chủ yếu về giá cả sản phẩm. Đối với Công ty Vật tư kỹ thuật Xi măng thì sự cạnh tranh không chỉvới các đơn vị ở ngoài thị trường mà còn ở ngay trong cả nội bộ trong Tổngcông ty, đặc biệt tại các địa bàn giáp ranh. Sự cạnh tranh quyết liệt đã được trình bày rõ trong phần phân tích thịtrường ở đây chỉ liệt kê các hãng xi măng hiện đang có mặt trên thị trường vàlà đối thủ cạnh tranh của công ty bao gồm: Công ty liên doanh: Chinfon, Nghi Sơn, các công ty: Trung Hải, TamĐiệp, Việt Trung, Hải âu, Sông Đà, Lưu Xá, Tiên Sơn, La Hiên, Sài Sơn, cácđơn vị thuộc quân đội: X18, X77, X78… trong tương lai: Tràng Kênh - HảiPhòng, Hoành Bồ - Quảng Ninh, Làng Bang (Hạ Long) - Quảng Ninh, MinhĐức - Hải Phòng… Qua số liệu liệt kê trên cho thấy, trong thời gian tới sự cạnh tranh cònquyết liệt hơn, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập khối mậu dịch tự do Châuá (AFTA) và giá cả xi măng sẽ giảm mạnh. Đòi hỏi công ty cần phải nhanhchóng nắm bắt thu thập thông tin, nhanh nhạy trong hoạt động kinh doanhtiêu thụ xi măng. - Sự tồn tại của lịch sử. Trong quá trình hình thành và phát triển thì công ty phải chấp nhận sựtồn tại của lịch sử là số lao động rất lớn, sự thay đổi về tổ chức đã ảnh hưởnglớn tới công việc kinh doanh. Vấn đề tạo được đầy đủ việc làm cho lực lượnglao động trong công ty là hết sức khó khăn và bức xúc, đồng thời việc kiểmtra theo dõi, đôn đốc trong công việc cũng gặp nhiều trở ngại. 3. Những mặt còn tồn tại.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 35
  36. 36. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Vai trò nhận thức của một số cán bộ từ Trung tâm, chi nhánh đến cácphòng ban trong công ty còn hạn chế chưa đồng đều thiếu tính năng độngsáng tạo và năng lực tổ chức điều hành còn yếu dẫn đến chưa ngang tầm vớinhiệm vụ công tác quản lý kinh doanh. Một số nhân viên chưa chấp hànhđúng nhiệm vụ của mình cố tìm kẽ hở để móc nối với các đơn vị cung ứngkinh doanh các loại xi măng khác, có thái độ trông chờ ỷ lại muốn thoát ly sựchỉ đạo của công ty. - Mạng lưới cửa hàng trên các địa bàn tuy vẫn giữ được số lượng.Nhưng nhìn chung hệ thống cửa hàng và sự hoạt động của hệ thống này vẫnchưa đáp ứng được yêu cầu. Một số cửa hàng bị xuống cấp, diện tích hẹp, ởvào vị trí không thuận lợi, không đủ sức chứa. Việc củng cố và phát triểnmạng lưới cửa hàng còn chậm. - Năng lực vận tải cần được tu bổ, bổ sung thêm nữa để đáp ứng đượcnhu cầu vận chuyển trong công ty và có thể cho các đơn vị bên ngoài tạothêm thu nhập. - Công tác nghiên cứu thị trường cần được đẩy mạnh hơn nữa, gắn việctiêu thụ xi măng với công tác quy hoạch. - Một số cơ chế kinh doanh của công ty còn chưa linh hoạt. - Việc thực hiện một số chính sách trong công ty còn chưa nghiêm. - Công tác thu đua chưa được đẩy mạnh. - Sự phối hợp với các đơn vị sản xuất và Tổng công ty trong việc xử lýcác diễn biến của thị trường cần được phát triển hơn nữa.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 36

×