QT072.Doc
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

QT072.Doc

on

  • 430 views

 

Statistics

Views

Total Views
430
Views on SlideShare
430
Embed Views
0

Actions

Likes
0
Downloads
2
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

QT072.Doc QT072.Doc Document Transcript

  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com MỤC LỤC TrangMục lục 1Lời nói đầu 5CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC CỔ PHẦN HOÁ DOANH 7NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NÔNG NGHIỆP1. Vị trí, vai trò của kinh tế Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước trong 7nông nghiệp1.1. Khái niệm kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp 81.2. Vị trí, vai trò của kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp 82. Nhận thức cơ bản về cổ phần hoá và Công ty cổ phần 102.1. Khái niệm cổ phần hoá 102.2. Khái niệm về Công ty cổ phần 113. Những đặc điểm cơ bản của cổ phần hoá trong nông nghiệp 113.1. Trong các doanh nghiệp nông nghiệp giá trị của đất đai chiếm một tỷ 12trọng lớn trong giá trị doanh nghiệp3.2. Nông nghiệp từ lâu nay vẫn được coi là ngành sản xuất kinh doanh kém 12hiệu quả đời sống của cán bộ công nhân còn gặp nhiều khó khăn3.3. Trong nông nghiệp có một phần tài sản cố định có nguồn gốc sinh học 134. Sự cần thiết cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp 134.1. CPH cho phép huy động tối đa nguồn vốn từ các tổ chức trong và ngoài 16nước để phát triển kinh tế4.2. CPH để đổi mới công nghệ nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp 174.3. Nâng cao tiềm lực kinh tế Nhà nước 174.4. Do yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà 18nước trong nông nghiệp4.5. Tạo động lực mới trong quản lí doanh nghiệp 185. Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá 19và quá trình thực hiện5.1. Những chủ trương chính sách 195.2. Kết quả sau hơn 10 năm thực hiện 296. Kinh nghiệm cổ phần hoá ở một số nước trên thế giới 356.1. CPH ở Trung Quốc 356.2. CPH ở các nước ASEAN 376.3. Những kinh nghiệm quốc tế về CPH có thể áp dụng trong việc thực 38http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 1
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comhiện CPH DNNN chế biến thực phẩm xuất khẩuCHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ Ở CÔNG 40TY THỰC PHẨM XUẤT KHẨU BẮC GIANGI. Chủ trương của Tỉnh về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà 40nước1. Mục tiêu của tỉnh Bắc Giang về sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà 40nước trên địa bàn Tỉnh quản lý2. Những biện pháp thực hiện 41II. Quá trình thực hiện cổ phần hoá ở Công ty thực phẩm xuất 43khẩu Bắc Giang1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 431.1. Quá trình hình thành và phát triển 431.2. Bộ máy tổ chức 441.3. Hoạt động chính của Công ty hiện nay 441.4. Nguồn lực hiện tại của Công ty 451.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty 472. Những đặc điểm kinh tế kĩ thuật của Công ty có ảnh hưởng đến tiến 47trình CPH2.1. Vị trí địa lí của Công ty 472.2. Đặc điểm về lao động 482.3. Đặc điểm về ngành nghề kinh doanh 492.4. Đặc điểm về bộ máy quản lí 503. Thực trạng quá trình thực hiện cổ phần hoá ở Công ty thực phẩm 50xuất khẩu Bắc Giang3.1. Sự cần thiết phải tiến hành CPH ở Công ty TP XK Bắc Giang 503.2.Quá trình thực hiện CPH 543.3.Những kết quả đạt được, những vướng mắc và những vấn đề đặt ra khi 55thực hiện CPHCHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CỔ PHẦN HOÁ Ở 69CÔNG TY THỰC PHẨM XUẤT KHẨU BẮC GIANGI. Quan điểm, phương hướng, mục tiêu cổ phần hoá của Công ty 691. Quan điểm của Công ty 692. Phương hướng và mục tiêu cổ phần hoá của Công ty 692.1. Phương hướng CPH của Công ty 692.2. Mục tiêu CPH của Công ty 70http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 2
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comII. Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy cổ phần hoá ở Công ty 70thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang1. Nâng cao nhận thức tư tưởng cho cán bộ công nhân viên trong Công ty 702. Lành mạnh hoá vấn đề tài chính của Công ty trước khi cổ phần hoá 722.1. Công khai hoá những vấn đề tài chính 722.2. Cơ cấu lại nợ của doanh nghiệp 732.3. Tiến hành thị trường hoá các khoản nợ 753. Xác định đúng giá trị doanh nghiệp 754. Giải quyết vấn đề lợi ích cho người lao động 785.Tổ chức thực hiện đúng quy trình cổ phần hoá theo các văn bản hiện 80hành6. Hoàn thiện cơ chế chính sách 806.1. Cần làm rõ hơn những ưu đãi với doanh nghiệp và người lao động trong 81các doanh nghiệp CPH6.2.Thay đổi cơ cấu cổ phần trong các doanh nghiệp CPH hiện nay 816.3. Đơn giản hoá quy trình thực hiện CPH 826.4. Chọn hình thức CPH phù hợp 836.5. Tạo môi trường thúc đẩy CPH 837. Coi trọng phát triển doanh nghiệp hậu cổ phần hoá 84Kết luận 88Danh mục tài liệu tham khảo 89http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 3
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com LỜI NÓI ĐẦU Trong tiến trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường, sự đa dạng hoá các hìnhthức sở hữu đã trở thành đòi hỏi tất yếu và ngày càng phổ biến hơn trong toàn xãhội. Những thành tựu của công cuộc đổi mới cho phép đông đảo quần chúngnhận thức ngày càng rõ hơn rằng bên cạnh hình thức sở hữu Nhà nước, các hìnhthức sở hữu khác (tư nhân hay hỗn hợp) nếu được tạo điều kiện thuận lợi cũngphát huy vai trò tích cực trong đời sống kinh tế. Đồng thời việc đa dạng hoá cáchình thức sở hữu cho phép thực hiện triệt để những nguyên tắc kinh tế, nâng caoquyền tự chủ tài chính và khả năng tự chủ quản lý sản xuất kinh doanh, nâng caotinh thần trách nhiệm cũng như óc sáng tạo của người lao động và người quản lýdoanh nghiệp. Trải qua hơn 10 năm thực hiện cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp nhà nước(DNNN) những thành tựu đã đạt được đủ để chúng ta khẳng định rằng CPH làmột chủ trương đúng đắn và phù hợp với yêu cầu khách quan. Tuy nhiên xungquanh vấn đề CPH còn khá nhiều tồn tại như: Cơ chế chính sách chưa đồng bộ,quy trình CPH còn phức tạp, ưu đãi dành cho người lao động và doanh nghiệpCPH chưa thoả đáng, việc xác định giá trị doanh nghiệp trước khi CPH còn gặpkhông ít khó khăn…. Vì vậy trong thời gian tới cần phải có giải pháp hoàn thiệnđể thúc đẩy CPH DNNN.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 4
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Sau một quá trình thực tập tại Công ty thực phẩm xuất khẩu (TPXK) BắcGiang, Công ty đang tiến hành CPH. Từ điều kiện thực tế cộng với kiến thứchiểu biết của mình Em chọn đề tài: “Một số giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phầnhoá ở Công ty thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang” làm luận văn tốt nghiệp đại học. Luận văn cố gắng đi sâu nghiên cứu lí luận và tổng kết kinh nghiệm thựctiễn của cổ phần hoá DNNN đặc biệt là cổ phần hoá trong lĩnh việc nông nghiệp.Đánh giá thực trạng quá trình CPH ở công ty thực phẩm xuất khẩu (TPXK) BắcGiang làm nổi bật nên những thuận lợi và khó khăn của Công ty trong khi tiếnhành CPH. Từ đó mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy CPH ởCông ty. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chủ trương, chính sách của Đảng vàChính phủ về CPH DNNN, tình hình sản xuất kinh doanh và quá trình CPH ởCông ty thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang. Thời gian nghiên cứu của đề tài là từsau đổi mới đến nay. Để đạt được mục đích nghiên cứu người viết đã sử dụng kết hợp nhiềuphương pháp như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê,phương pháp điều tra, phương pháp toán học, phương pháp đọc, phân tích vàtổng hợp tài liệu, phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Ngoài phần mở đầu và kết luận kết cấu của luận văn gồm ba phần:Chương I: Cơ sở khoa học của việc CPH DNNN trong nông nghiệpChương II: Thực trạng quá trình thực hiện CPH ở Công ty TPXK Bắc GiangChương III: Một số giải pháp thúc đẩy CPH ở Công ty TPXK Bắc Giang. Do hạn chế về trình độ kinh nghiệm và thời gian nghiên cứu nên đề tài khótrách khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của cácthầy, cô giáo và các bạn để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 5
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NÔNG NGHIỆP Đổi mới, sắp xếp lại để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, trong đócó CPH, đang là vấn đề nóng bỏng, hết sức bức súc ở Việt Nam. Mặc dù chủtrương tiến hành CPH DNNN đã được đưa ra và thực hiện từ lâu, song đến naytiến độ thực hiện còn rất chậm, ngay cả khi Chính phủ giao chỉ tiêu CPH cụ thểcho từng Bộ, ngành, địa phương. Chính vì vậy việc nghiên cứu về mặt lí luận,tổng kết kinh nghiệm thực tiễn CPH DNNN trong và ngoài nước thời gian qua đểtìm ra giải pháp thúc đẩy tiến trình CPH ở nước ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,không chỉ góp phần thúc đẩy quá trình CPH mà còn góp phần lí giải định hướngđổi mới DNNN và kinh tế Nhà nước nói chung.1. Vị trí, vai trò của kinh tế Nhà nước, DNNN trong nông nghiệp. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng và phức tạp. Nó giữ vaitrò quan trọng, quyết định và không thể thiếu được trong phát triển kinh tế ở tấtcả các nước nhất là các nước đang phát triển. Các nhà kinh tế đã chứng minhđược rằng điều kiện để phát triển kinh tế đất nước là phải tăng được lượng cungvề lương thực, thực phẩm bằng cách trực tiếp sản xuất hoặc có thể nhập khẩu từhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 6
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcác nước khác nếu không thể sản xuất hoặc không có lợi thế trong sản xuất nôngnghiệp. Tuy có vai trò quan trọng như vậy, nhưng lâu nay nông nghiệp vẫn đượccoi là ngành sản xuất kém hiệu quả, vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài, rủi rolớn. Vì vậy, sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp không hấp dẫn được nhiềuthành phần kinh tế tham gia đầu tư, cho nên việc tồn tại của kinh tế Nhà nướctrong lĩnh vực nông nghiệp là yêu cầu khách quan không chỉ vai trò của nôngnghiệp với sự phát triển của nền kinh tế mà còn là sự phát triển của hàng triệu hộnông dân.1.1. Khái niệm kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp Doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước là loại hình doanh nghiệp do Nhànước thành lập, đầu tư vốn và quản lí với tư cách chủ sở hữu, là pháp nhân kinhtế hoạt động theo phát luật, thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nướcgiao.Từ khái niệm cho ta thấy những đặc trưng của kinh tế Nhà nước: + Là một tổ chức được Nhà nước thành lập bằng cánh đầu tư vốn (100%hoặc Nhà nước nắm cổ phần chi phối) để thực hiện những mục tiêu do Nhà nướcgiao. + DNNN do Nhà nước đầu tư vốn cho nên tài sản trong doanh nghiệp thuộcsở hữu Nhà nước. + DNNN có tư cách pháp nhân vì nó hội tụ đủ 4 điều kiện để trở thành phápnhân theo quy định của pháp luật (được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thànhlập; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khácvà tự chụi trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệpháp luật một cách độc lập) + DNNN là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn nghĩa là nó tự chịutrách nhiệm về nợ và cá nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi tài sản do doanhnghiệp quản lí.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 7
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com1.2. Vị trí vai trò của DNNN trong nông nghiệp Trong nông nghiệp chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế mang tính chấthỗn hợp, đa dạng và đan xen của nhiều hình thức sở hữu, nhiều khu vực sản xuấtvà dịch vụ, nhiều thành phần kinh tế cùng bình đẳng tồn tại và phát triển trongmối liên hệ hợp tác, liên kết cạnh tranh cùng nhau phát triển phù hợp với qui địnhpháp luật. Trong đó, thành phần kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp luôn có vaitrò đầu tầu, định hướng phát triển để xây dựng một nền nông nghiệp phát triểnbền vững đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng nên của xã hội đối với các sảnphẩm nông nghiệp và không làm giảm khả năng cho sản phẩm trong tương lai.Kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp hiện nay có vị trí và vai trò chủ yếu sau. - Định hướng, tạo tiềm lực cho Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết đối vớinông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Doanh nghiệp nông nghiệp Nhànước quyết định quỹ đạo phát triển của nông nghiệp nông thôn, đảm bảo duy trìcân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Sự can thiệp của kinh tếNhà nước bằng tiềm lực kinh tế của mình cũng như một số công cụ pháp luật làmcho nền kinh tế thị trường hoạt động được thông suốt, tạo lập những cân đối lớntheo định hướng xã hội chủ nghĩa mà bản thân kinh tế thị trường không thể tựđiều tiết được. Kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp là lực lượng xung kích trongviệc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Để thựchiện vai trò của mình thì bản thân kinh tế Nhà nước phải đủ mạnh, có thực lựcthật sự để dẫn dắt các thành phần kinh tế khác. Chúng ta không thể định hướngnền kinh tế bằng các công cụ phi kinh tế, bằng ý chí chủ quan và ý chí chính trị. - Kinh tế Nhà nước nắm giữ các hoạt động quan trọng của nông nghiệp:Nông nghiệp là ngành cung cấp những sản phẩm tối cần thiết cho nhu cầu củacon người, thiếu những sản phẩm này còn người không thể tồn tại và phát triểnđược. Những sản phẩm của nông nghiệp cho dù khoa học ngày nay rất phát triểnnhưng cũng chưa thể tạo ra sản phẩm thay thế. Đối với nước ta nông nghiệp cànghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 8
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcó vai trò quan trọng hơn khi hơn 70% dân số nước ta vẫn hoạt động trong nôngnghiệp. Trong nông nghiệp có những lĩnh vực rất nhạy cảm chỉ cần một sự tácđộng nhỏ là có thể ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đờisống của hàng triệu hộ nông dân. Những lĩnh vực như vậy không thể để cho cácthành phần kinh tế khác kiểm soát được mà Nhà nước phải quản lí, kiểm soátchẳng hạn như sản xuất giống, phân bón, thuốc thú ý, hoạt động xuất nhập khẩu,thức ăn gia súc, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn… Tuy nhiên cũng khôngnên hiểu cứng nhắc là Nhà nước phải độc quyền trong lĩnh vực này mà nên hiểuNhà nước kiểm soát hoạt động này, kết hợp cùng với các thành phần kinh tế khácphối hợp hoạt động sao cho có hiệu quả cao nhất. - Kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp có vai trò hỗ trợ kinh tế hợp tác,kinh tế trang trại, kinh tế hộ kinh doanh có hiệu quả, phải là đòn bẩy trong xâydựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đưa công nghệ vào sản xuất, phát triển côngnghệ chế biến để tiêu thụ nông sản, phải phát huy được vai trò là trung tâm côngnghiệp dịch vụ, trung tâm chuyển giao công nghệ, trung tâm văn hoá. Hỗ trợ cácthành phần kinh tế khác trong nông nghiệp khi cần thiết. Kinh tế Nhà nước phảilà đầu tầu trong việc đưa nông nghiệp ra khỏi tình trạng sản xuất tự túc, tự cấptiến lên sản xuất hàng hoá, phải nắm giữ cho được đại bộ phận các mặt hàng chủlực thiết yếu cho đời sống, điều tiết và bình ổn giá cả có lợi cho nông dân.2. Nhận thức cơ bản về cổ phần hoá và CTCP2.1. Khái niệm cổ phần hoá CPH DNNN là việc chuyển đổi hình thức sở hữu từ DNNN (doanh nghiệpđơn sở hữu) sang Công ty cổ phần(CTCP) (doanh nghiệp đa sở hữu) đồng thờichuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo luật DNNN sang doanh nghiệp hoạtđộng theo các quy định về CTCP trong luật doanh nghiệp. Do vậy, các lĩnh vựcsản xuất kinh doanh cũng có sự chuyển biến từ Nhà nước độc quyền sang hoạthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 9
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđộng theo các nguyên tắc của kinh tế thị trường tuân theo các quy luật như cungcầu, giá cả, cạnh tranh… Trong quá trình CPH, tài sản của Nhà nước được chuyển đổi sở hữu chonhiều đối tượng khác nhau bao gồm: các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhântrong và ngoài nước, Nhà nước cũng giữ lại một tỷ lệ cổ phần cho chính mình ởdoanh nghiệp đó. Như vậy hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ đơnsở hữu sang đa sở hữu. Với những đặc trưng như vậy, giải pháp CPH là giải pháp quan trọng nhấttrong công cuộc cải cách DNNN đang diễn ra hiện nay; giải tỏa được những khókhăn cho ngân sách Nhà nước, khuyến khích người lao động đóng góp tích cựcvà có trách nhiệm sức lực, trí tuệ, vốn của họ cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp. Nói một cách ngắn gọn CPH là giải pháp khắc phục nhữngvấn đề khó khăn trong khu vực kinh tế Nhà nước.2.2. Khái niệm về Công ty cổ phần Công ty cổ phần với tính cách là kết quả của việc CPH DNNN là công tyđược thành lập trên cơ sở hợp tác của nhiều cá nhân bằng cách phát hành và báncổ phiếu có mệnh giá bằng nhau. Lợi nhuận của công ty được phân phối giữa cáccổ đông theo số lượng cổ phần mà mỗi cổ đông là chủ sở hữu. - Vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau - CTCP có tư cánh pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữuhạn, cổ đông chỉ chịu tránh nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanhnghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người kháctrừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật. - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba vàkhông hạn chế tối đa.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 10
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - CTCP có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định củaphát luật về chứng khoán.3. Những đặc điểm cơ bản của CPH trong nông nghiệp CPH là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là giải pháp trung tâmđể sắp xếp và đổi mới hoạt động của kinh tế Nhà nước. Các DNNN trong nôngnghiệp hầu hết không nằm trong danh mục những DNNN cần nắm giữ 100% vốnhoặc những DNNN cần nắm cổ phần chi phối. Vì vậy, số lượng các doanhnghiệp nông nghiệp cần phải CPH là rất lớn. Để có thể chuyển nhanh các doanhnghiệp này sang hoạt động theo hình thức CTCP thì cần phải nghiên cưú kĩnhững đặc điểm kinh tế kĩ thuật riêng có của các doanh nghiệp nông nghiệp màcó cách làm cho phù hợp.3.1. Trong các doanh nghiệp nông nghiệp giá trị của đất đai chiếm một tỷtrọng lớn trong giá trị của doanh nghiệp. Khác với các ngành kinh tế khác trong nông nghiệp đất đai có vị trí đặc biệtquan trọng nó vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động. Trong nôngnghiệp đất đai là tài sản vô giá, không có đất đai thì không có hoạt động sản xuấtkinh doanh trong nông nghiệp. Điểm đặc biệt của loại tư liệu sản xuất này là nếubiết sử dụng, cải tạo, bảo vệ hợp lí thì chúng chẳng những không bị hao mòn,chất lượng xấu đi, mà còn tốt hơn tức là độ phì của đất tăng lên. Cho nên diệntích đất đai thì có hạn nhưng sức sản xuất của đất đai thì không có giới hạn.Trong nông nghiệp giá trị của đất đai được xác định theo độ mầu mỡ của đất tứckhả năng sinh lời của đất. Chính vì vậy khi xác định giá trị đất đai trong nôngnghiệp không chỉ căn cứ vào diện tích bề mặt mà quan trọng hơn là phải căn cứvào sức sản xuất (khả năng cho sản phẩm) của đất trong tương lai. Trong nôngnghiệp giá trị đất đai thường chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong giá trị doanhnghiệp nên làm nẩy sinh những khó khăn khi CPH. Bởi vì nếu tính giá trị đất đaivào giá trị doanh nghiệp khi CPH sẽ đẩy giá trị doanh nghiệp lên rất cao tronghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 11
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkhi đất đai chưa thể phát huy vai trò sinh lời ngay. Giá trị doanh nghiệp cao làmsao có thể hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào doanh nghiệp để sản xuất kinhdoanh như vậy rất khó cho CPH trong nông nghiệp. Nếu giá trị đất đai khôngtính vào giá trị doanh nghiệp CPH thì Nhà nước sẽ mất đi một khoản thu và tạora sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp thấp hơn giá thựctế rất dễ nẩy sinh tiêu cực.3.2. Nông nghiệp từ lâu nay vẫn được coi là ngành sản xuất kinh doanh kémhiệu quả đời sống của cán bộ công nhân viên còn gặp nhiều khó khăn. Đầu tư vào nông nghiệp thường là đầu tư dài hạn cần nhiều vốn, khả năngsinh lời thấp rủi ro cao do sản xuất nông nghiệp phải gắn với đất đai và điều kiệntự nhiên. Kết quả của sản xuất phải thông qua sinh trưởng và phát triển của câytrồng và vật nuôi. Giá của sản phẩm nông nghiệp có tính biến động lớn và ngàycàng giảm so với giá của hàng công nghiệp. Chính vì sản xuất kém hiệu quả chonên nông nghiệp sẽ không mấy hấp dẫn với các nhà đầu tư vì không một nhà đầutư nào lại bỏ tiền vào một lĩnh vực kinh doanh chứa nhiều rủi ro mà hiệu quả lạikhông cao trong khi họ có thể lựa cho được cơ hội đầu tư tốt hơn. Hiệu quả kinhdoanh thấp còn là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng khó khăn trong đờisống kinh tế cán bộ công nhân viên và những người cung cấp nguyên liệu chodoanh nghiệp. Với thu nhập như hiện nay thì chỉ đủ trang trải những chi phí tốicần thiết cho cuộc sống làm sao tạo được tích luỹ. Vì vậy khi CPH nguy cơngười lao động không mua được cổ phần và nằm ngoài quá trình CPH là rất lớncho dù Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi. Nếu như người lao động khôngmua được cổ phần thì mục tiêu CPH có đạt được không, đời sống của người laođộng có được cải thiện không, người lao động có thực sự là chủ doanh nghiệpkhông.3.3. Trong nông nghiệp có một phần tài sản cố định có nguồn gốc sinh họchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 12
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Ngoài những tài sản như máy móc thiết bị, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất…trong nông nghiệp còn có những tài sản có nguồn gốc sinh học như vườn câylâu năm, súc vật sinh sản. Điều đặc biệt của những tài sản này là chúng sinhtrưởng phát triển theo những quy luật nhất định không phụ thuộc vào ý trí chủquan của con người. Trong quá trình sử dụng tài sản này không bị khấu hao, cónhiều trường hợp giá trị đào thải lại lớn hơn giá trị ban đầu. Vì vậy trong quátrình CPH liệu có thể xác định giá trị tài sản này như những tài sản khác khôngkhi mà giá trị hiện tại của nó không chỉ phụ thuộc vào hiện trạng mà còn phụthuộc rất lớn vào khẳ năng cho sản phẩm trong tương lai. Khả năng sinh lời trongtương lai thì khó ai có thể xác định chính xác khi nông nghiệp luôn chứa đựngnhiều rủi do. Như vậy, công tác định giá các doanh nghiệp nông nghiệp sẽ gặpkhó khăn hơn so với doanh nghiệp ở các lĩnh vực khác.4. Sự cần thiết CPH DNNN trong nông nghiệp Trong quá khứ sự hình thành và phát triển của DNNN trong nông nghiệp đãkhẳng định được vị trí vai trò là đầu tầu kinh tế của nó không chỉ đối với nôngnghiệp nói riêng mà còn cho cả nền kinh tế. Kinh tế Nhà nước trong nông nghiệpđóng vai trò trung tâm trong khoa học kĩ thuật, các doanh nghiệp đã kết hợp vớicác doanh nghiệp làm dịch vụ kĩ thuật, các Viện và các Trung tâm nghiên cứuthực nghiệm để sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Các doanh nghiệp là cầu nốigiúp các địa phương chuyển giao khoa học công nghệ cho các thành phần kinh tếkhác. Theo thống kê đến năm 1986 cả nước có 475 doanh nghiệp nông nghiệpsản xuất, hành trăm doanh nghiệp hoạt động dịch vụ kĩ thuật. Các doanh nghiệpsản xuất đã quản lí và sử dụng 1,2 triệu ha đất tự nhiên trong đó chủ yếu là đấtnông nghiệp. Thu hút khoảng 37 vạn lao động. Hệ thống các doanh nghiệp nôngnghiệp được phân bố rộng khắp trên mọi miền của đất nước. Tuy nhiên trong giaiđoạn hiện nay khi trình độ của lực lượng sản xuất đã được cải thiện đáng kể màtheo như Mác thì “quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ củahttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 13
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comlực lượng sản xuất”. Vì vậy, đã đến lúc cần phải “xã hội hoá” vấn đề sở hữu,chuyển từ sở hữu đơn nhất sang sở hữu tập thể đó là yêu cầu khách quan. Sựthành lập một cánh tràn lan các DNNN chỉ chú ý đến số lượng không quan tâmđến chất lượng đã dẫn đến sự hoạt động hiệu quả của khu vực kinh tế Nhà nướcthể hiện: - Quản lí các doanh nghiệp theo cơ chế tập trung bao cấp dẫn đến bộ máyquản lí cồng kềnh nhưng hoạt động không hiệu quả, Nhà nước can thiệp quá sâuvào công việc nội bộ của các doanh nghiệp trong khi lại không chịu trách nhiệmvề kết quả hoạt động của doanh nghiệp đã làm giảm tính chủ động, tăng tính ỷ lạitrông chờ vào Nhà nước. - Do được Nhà nước bao cấp nên các DNNN không có ý thức tiết kiệm làmlãng phí nguồn lực của Nhà nước, làm tăng chi phí sản xuất, hàng hoá làm rakhông có sức cạnh tranh.Bảng 1: Giá một số sản phẩm sản xuất trong nước so với các sản phẩm nhậpkhẩu (quý I năm 1999) Đơn vị: USD/tấn Tên sản phẩm Giá xuất xưởng Giá nhập khẩu Giá xuất xưởng cao hơn(%) Xi măng 50-60 40-50 20-50 Đường RS 360-400 260-300 20-50 Thép xây 300 260-280 10-12 dựng Phân URE 160-180 110-125 30-40 Nguồn: Tạp chí nghin cứu kinh tế số 254/7/1999http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 14
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Do tình trạng trạng độc quyền của các DNNN dẫn đến tình trạng cạnhtranh không lành mạnh, các DNNN ỷ lại trông vào sự bảo hộ của Nhà nước, cácthành phần kinh tế khác bị kìm kẹp làm cho lực lượng sản xuất không phát triểnđược nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế ngày càng hiện rõ. - Do hoạt động không hiệu quả nên các DNNN là gánh nặng cho ngân sách.Hằng năm ngân sách Nhà nước phải chi một khoản không nhỏ đề bù lỗ và duy trìhoạt động của các DNNN trong khi nhiều lĩnh vực khác như y tế, giáo dục lạikhông nhận được sự đầu tư cần thiết. Trong 3 năm 1997-1999, ngân sách Nhànước đã đầu tư trực tiếp cho các doanh nghiệp gần 8000 tỷ đồng, trong đó có6.482 tỷ đồng cấp bổ sung cho doanh nghiệp, 1.464,4 tỷ đồng là bù lỗ, hỗ trợ chocác doanh nghiệp. Ngoài ra Nhà nước còn miễn giảm thuế 2.288 tỷ đồng, xoá nợ1.088 tỷ đồng, khoanh nợ 3.392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ đồng cho vay tín dụngưu đãi 8.685 tỷ đồng. Nhưng đáng chú ý là việc này không mang lại hiệu quảtương ứng, số nộp vào ngân sách Nhà nước ít hơn phần Nhà nước hỗ trợ chodoanh nghiệp. Điều này không chỉ tăng thâm hụt ngân sách nhà nước mà còn tạora sự mất cân đối nghiêm trọng trong đầu tư phát triển kinh tế. Đổi mới sắp xếp lại hoạt động của các DNNN là yêu cầu khách quan phùhợp với điều kiện hoàn cảnh của nước ta và xu thế của thời đại. Có nhiều biệnpháp để sắp xếp đổi mới hoạt động của DNNN như giao, khoán, bán, cho thuênhưng CPH là giải pháp có nhiều ưu điểm hơn cả.4.1. CPH cho phép huy động tối đa nguồn vốn từ các tổ chức cá nhân trongvà ngoài nước để phát triển kinh tế. Vốn là điều kiện tồn tại và phát triển cho mỗi doanh nghiệp nói riêng và chotoàn bộ nền kinh tế nói chung. Hiện nay các DNNN nói chung và các DNNNtrong nông nghiệp nói riêng đang đứng trước thực trạng là gần như không có vốnlưu động để hoạt động. Số vốn lưu động mà các doanh nghiệp có thể tự chủ đượcchỉ chiếm 10 – 30% để đảm bảo cho hoạt động của mình các doanh nghiệp phảihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 15
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthường xuyên vay của các ngân hàng Thương mại. Hiện nay vốn vay các ngânhàng chủ yếu là vốn vay ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu thường xuyên của các doanhnghiệp, các doanh nghiệp cũng không dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn này dothủ tục vay vốn hiện nay còn rất rườm rà. Thiếu vốn là nguyên nhân cơ bản làmgiảm hiệu quả của các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp thìthiếu vốn trong khi các công nhân và nông dân có nguồn vốn dư thừa nhưngchưa biết đầu tư vào đâu để đem lại hiệu quả cao nhất. Đa số vốn này dùng đểtích trữ dưới dạng vàng hoặc ngoại tệ một số ít dành cho gửi tiết kiệm, chỉ có mộtphần nhỏ dùng cho hoạt động đầu tư kiếm lời là đầu tư vào thị trường bất độngsản. Như vậy là có mâu thuẫn người có thể sử dụng vốn có hiệu quả thì không cóvốn trong khi đó người có vốn lại không biết đầu tư vào đâu. CPH là giải pháptốt để giải quyết tốt mâu thuẫn trên. CTCP có ưu thế là có thể huy động từ nhữngnguồn vốn lớn từ các ngân hàng Thương mại, Công ty Tài chính đến nhữngnguồn vốn nhỏ lẻ của công nhân, nông dân. Do vậy CTCP có thể huy động vốn ởtrình độ xã hội hoá cao hơn so với các ngân hàng. Khả năng huy động vốn củaCTCP sẽ được nâng lên khi thị trường chứng khoán nơi diễn ra hoạt động muabán cổ phiếu được hình thành và phát triển.4.2. CPH để đổi mới công nghệ nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Các doanh nghiệp nông nghiệp hiện nay được trang bị máy móc từ nhiềunguồn khác nhau như mua mới, chuyển giao, viện trợ… nhưng hầu hết các máymóc hiện nay các doanh nghiệp đang sử dụng đã rất lạc hậu được sản xuất từnhững năm 50-60 của thế kỉ trước. So với các nước trên thế giới thì công nghệhiện nay của ta đã lạc hậu từ 2-3 thế hệ cá biệt có những doanh nghiệp sử dụngmáy móc đã lạc hậu từ 4-5 thế hệ. Theo một cuộc điều tra của Viện bảo hộ laođộng vào giữa năm 1999 thì trên 70% số máy móc đang sử dụng đã khấu hao hết,http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 16
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com50% đã được tân trang, 38% số máy móc nằm trong tình trạng chờ thanh lí. Vớicông nghệ như vậy làm sao ta có thể tạo ra những sản phẩm có sức cạnh tranhngay trên thị trường trong nước chứ chưa nói đến thị trường nước ngoài nguy cơmất thị trường ngày càng hiện rõ. Thực tế hiện nay giá các mặt hàng nông sảnchế biến của ta hiện nay chỉ bằng 70-80% giá sản phẩm cùng loại của các nướctrong khu vực và trên thế giới. Trong xu thế hội nhập quốc tế, chúng ta lại sắp trởthành thành viên của APTA và WTO nếu duy trì tình trạng như hiện nay thìkhông tránh khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. CPH đưa người lao động lên làmchủ, có quyền quyết định mọi hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả hoạt độngcủa doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ cho nên để tồn tại vàphát triển họ phải đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, giảm giá thành tăng sứccạnh tranh.4.3. Nâng cao tiềm lực của kinh tế Nhà nước Qua bán cổ phần Nhà nước đã huy động được một lượng vốn quan trọng từngười lao động trong doanh nghiệp, trong dân cư để đầu tư phát triển. Tại hơn1000 doanh nghiệp đã CPH tính đến hết ngày 20/11/2003 Nhà nước đã thu hồiđược hơn 4000 tỷ đồng để đầu tư vào các DNNN khác và giải quyết một số chínhsách cho người lao động trong DNNN thực hiện CPH. Vốn và tài sản Nhà nướctrong các CTCP không chỉ được bảo toàn mà còn tăng lên đáng kể. Hàng nămNhà nước thu được lợi tức từ cổ phần Nhà nước tại CTCP, các khoản lãi dongười lao động vay mua cổ phiếu, các khoản thuế từ CTCP. Bên cạnh đó hàngnăm Nhà nước không phải mất một khoản hỗ trợ vốn hoặc bù lỗ cho các doanhnghiệp đã CPH.4.4. Do yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhànước trong nông nghiệp Việc CPH DNNN đã thúc đẩy quá trình chuyển quản lí Nhà nước từ trựctiếp sang gián tiếp thông qua các công cụ pháp luật, chính sách; thúc đẩy củng cốhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 17
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnâng cao hiệu lực quản lí Nhà nước, nâng cao trình độ, năng lực quản lí của độingũ các bộ. Quyền kinh doanh đã được chuyển giao cho doanh nghiệp nên doanhnghiệp có quyền ra mọi quyết định liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh,Nhà nước chỉ tham gia như một cổ đông của công ty.4.5 Tạo ra động lực mới trong quản lí doanh nghiệp CPH DNNN đã biến doanh nghiệp thành có chủ, những người trực tiếp điềuhành và lao động trong chính doanh nghiệp. Quyền lợi của họ gắn với sự thànhbại của doanh nghiệp, vì thế tất cả các thành viên đều rất quan tâm đến công việccủa mình, lao động tích cựu với tinh thần trách nhiệm cao và óc sáng tạo phongphú. Những biểu hiện mới này hầu như không tồn tại trong doanh nghiệp trướckhi CPH. Các CTCP hoạt động theo luật công ty trong đó Đại hội đồng cổ đôngcó quyền quyết định phương hướng của công ty cũng như giám sát hoạt động củaHội đồng quản trị và Giám đốc điều hành. Người lao động đồng thời là cổ đôngcó quyền yêu cầu lãnh đạo doanh nghiệp trình bầy trước Đại hội những vấn đề vềthu chi của doanh nghiệp, có quyền thắc mắc về hiệu quả quản lí…Hơn nữa, dosự thay đổi về cơ chế tổ chức, vai trò trách nhiệm của các bộ phận, các tổ chứcquần chúng được phân định rõ ràng, công đoàn có chức năng độc lập với ngườiquản lí điều hành doanh nghiệp. Vì vậy, các ý kiến đóng góp từ phía nào đềuđược nghiêm túc lắng nghe…Bên cạnh việc quản lí tập trung không khí sinh hoạtdân chủ thực sự được cải thiện ở CTCP.5. Những chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước về CPHvà quá trình thực hiện5.1. Những chủ trương chính sách Chủ trương CPH DNNN đã được hình thành từ cuối những năm 80. Tạiđiều 22 của Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng bộ trưởngnay là Chính phủ đã ghi “Bộ Tài chính nghiên cứu và tổ chức làm thí điểm việchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 18
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.commua bán cổ phần ở một số xí nghiệp (Quốc doanh) và báo cáo lên Hội đồng bộtrưởng vào cuối năm 1998”. Đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn nhưng cólẽ hơi sớm so với điều kiện cụ thể lúc đó bởi vì: - Những tiêu cực, yếu kém của khu vực Quốc doanh chưa bộc lộ một cáchđầy đủ, như là một đòi hỏi bức bách cần phải giải quyết. - Những hiểu biết về kinh tế thị trường, đặc biệt là vấn đề CPH của chúng tacòn ít ỏi chưa đủ sức triển khai. Vì thế chủ trương đúng đắn đó đã bị lãng quên. Đến năm 1989 tức hai năm sau Chính phủ lại có Quyết định số 143/HĐBTngày 10/05/1989 về thí điểm CPH một số DNNN cùng với việc sắp xếp lại khuvực kinh tế Quốc doanh. Khác với lần trước là các doanh nghiệp chưa hiểu hết ýđồ của Chính phủ, dưới chưa chuyển biến kịp với trên, lần này ngược lại trên còndè dặt thì dưới lại rất hăng hái. Trong khi các văn bản của Chính phủ đang dừnglại ở mức dự thảo chưa có quyết định chính thức chưa có hướng dẫn nhưng bêndưới thì đã triển khai. Kết quả là cuộc thí điểm đã không rút ra được kết luậnchính xác và đầy đủ, các doanh nghiệp thì CPH theo ý đồ riêng của từng doanhnghiệp để đối phó với thực trạng lúc đó là các DNNN đang rơi vào tình trạng làmăn thua lỗ, thiếu vốn nghiêm trọng và thất nghiệp tăng lên. Quyết định 202/HĐBT ngày 8/6/1892 của Hội đồng bộ trưởng (nay làChính phủ) về thí điểm chuyển một bộ phận DNNN thành CTCP kèm theo đề ántriển khai. Theo chỉ thị 202 CT CPH nhằm 3 mục tiêu: - Thứ nhất là, phải chuyển sở hữu Nhà nước thành sở hữu của các cổ đôngđể nâng có hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp - Thứ hai là, huy động được một lượng vốn lớn trong và ngoài nước để pháttriển kinh tế - Thứ ba là, CPH là tạo điều kiện cho người lao động thực hiện quyền làmchủ của mình.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 19
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Qúa trình triển khai thực hiện thí điểm CPH DNNN đã được kiểm tra vàtổng kết, bước đầu đã đem lại những ưu điểm và kết quả tốt như đời sống củangười lao động được cải thiện đáng kể, đóng góp cho ngân sách tăng. Bên cạnhđó còn nhiều khó khăn vướng mắc nhất là trong cơ chế chính sách cần tiếp tụcđược hoàn thiện. Chỉ thị số 84/TTG ngày 4/3/1993 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc xúctiến thực hiện thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và đa dạng hoá hìnhthức sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước”. Thông tư số 36/TC-CN ngày 7/5/1993 của Bộ Tài chính, Thông tư số99/LĐTBXH-TT ngày 22/7/1992 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội “Hướng dẫn về lao động và chính sách với người lao động trong thí điểm chuyểnmột số doanh nghiệp nhà nước thành CTCP”. Chỉ thị số 685-TTg ngày 20/8/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thúcđẩy triển khai CPH DNNN. Sau 6 năm từ 1992-1998 mặc dù Chính phủ và các cơ quan chức năng đãban hành nhiều Nghị định, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn thực hiện chủ trươngCPH nhưng xem ra CPH vẫn dậm chân tại chỗ. Trong 4 năm đầu từ 6-1992 đến6-1996 mới CPH được 10 doanh nghiệp, hai năm tiếp theo mới CPH được 28doanh nghiệp. Đứng trước thực trạng trên cần phải có chính sách CPH thôngthoáng hơn hấp dẫn hơn để đẩy nhanh việc sắp xếp và đổi mới DNNN trong đóCPH là giải pháp trung tâm. Đáp ứng yêu cầu đó ngày 29/6/1998 Chính phủ đãban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP “Về việc chuyển doanh nghiệp nhà nướcthành CTCP”. Khác với các văn bản trước đây, Nghị định mới của Chính phủ đãcó sự chuyển biến căn bản tạo ra sức hấp dẫn thực sự với doanh nghiệp và ngườilao động, thủ tục trình tự CPH khá rõ ràng, có sự phân công nhiệm vụ cụ thể chocác ngành, địa phương, doanh nghiệp dễ triển khai5.1.1. Nghị định 44/NĐ-CP quy định một số vấn đề sau:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 20
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com* Hình thức CPH: Theo điều 7 của Nghị định 44/1998/NĐ-CP thì CPH được tiến hành theocác hình thức sau đây: + Giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp pháthành thêm cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp + Bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp + Tách một bộ phận của doanh nghiệp để CPH + Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp đểchuyển thành CTCP* Quy trình CPH: gồm 4 bước Bước 1: Chuẩn bị CPH Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp được thành lập do Giám đốc làmtrưởng ban, Kế toán trưởng làm uỷ viên thường trực, các trưởng phòng ban kếhoạch, sản xuất kinh doanh, tổ chức cán bộ, kĩ thuật làm uỷ viên. Ban đổi mớiquản lí có trách nhiệm tuyên truyền giải thích cho người lao động trong doanhnghiệp mình những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước để người laođộng được biết và tổ chức thực hiện. Ban đổi mới quản lí tại doanh nghiệp phải chuẩn bị ngay các tài liệu về: hồsơ pháp lí thành lập doanh nghiệp, tình hình công nợ, tài chính, nhà xưởng, vậtkiến trúc mà doanh nghiệp đang quản lí, các loại vật tư hành hoá ứ đọng, kémphẩm chất và đưa ra hướng giải quyết Lập danh sách người lao động của doanh nghiệp đến thời điểm quyết địnhCPH: số người lao động, số năm công tác của từng người. Dự kiến số ngườinghèo được mua cổ phần theo giá ưu đãi của Nhà nước trả dần trong 10 nămDự toán chi phí CPH cho đến khi hoàn thành đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất. Bước 2: Xây dựng phương án CPHhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 21
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Ban đổi mới quản lí tại doanh nghiệp tổ chức kiểm kê tài sản, vật tư tiềnvốn, công nợ của doanh nghiệp. Căn cứ trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp vàkết quả kiểm kê đánh giá lại tài sản của doanh nghiệp, phối hợp với các cơ quanquản lí vốn để giải quyết những vướng mắc về tài chính và dự kiến đề nghị giá trịthực tế của doanh nghiệp, giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Ban đổi mới quản lí tại doanh nghiệp lập phương án CPH doanh nghiệp vàdự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của CTCP. - Phổ biến hoặc niêm yết công khai các dự kiến phương án trên để mọingười lao động cùng biết và thảo luận - Tổ chức Đại hội công nhân viên để lấy ý kiến về dự thảo phương án, bànphương hướng biện pháp cụ thể để có cơ sở hoàn thành phương án. - Hoàn thiện phương án trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, hoànthiện dự thảo điều lệ tổ chức và hoạt động của CTCP để trình Đại hội đồng cổđông xem xét quyết định Bước 3: Duyệt và triển khai phương án CPHBan quản lí đổi mới tại doanh nghiệp: - Mở sổ đăng kí mua cổ phiếu của các cổ đông để đăng kí mua tờ cổ phiếutại kho bạc Nhà nước - Thông báo công khai tình hình tài chính của doanh nghiệp cho đến thờiđiểm CPH - Thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng chủ trươngbán cổ phần, tổ chức bán cổ phần của doanh nghiệp cho các cổ đông -Trưởng Ban quản lí đổi mới doanh nghiệp triệu tập Đại hội cổ đông lần thứnhất để bầu Hội đồng quản trị, Ban kiểm sát, thông qua điều lệ tổ chức và hoạtđộng của CTCP. Bước 4: Ra mắt CTCP, đăng kí kinh doanhhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 22
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Giám đốc, Kế toán trưởng doanh nghiệp với sự chứng kiến của Ban đổimới quản lí doanh nghiệp và đại diện cơ quan quản lí vốn và tài sản Nhà nướcbàn giao cho Hội đồng quản trị CTCP: lao động, tiền vốn, tài sản, danh sách hồsơ cổ đông và toàn bộ các hồ sơ tài liệu sổ sách của doanh nghiệp. - Ban đổi mới quản lí tại doanh nghiệp bàn giao những công việc còn lại(nếu có) cho Hội đồng quản trị và công bố giải thể từ ngày kí biên bản bàn giao - Hội đồng quản trị của CTCP hoàn tất những công việc còn lại Nghị định 44/NĐ-CP đã tạo ra sự đột biết tác động tích cực đến quá trìnhCPH nhưng nó vẫn còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn gây cản trở đến tiến độ CPH,vì vậy cần phải có Nghị định mới ra đời thay thế. Ngày 19/6/2002 Chính phủ raNghị định số 64/2002/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 44/1998/NĐ-CP.5.1.2. Nghị định số 64/2002/NĐ-CP quy định một số vấn đề sau1. Mục tiêu và đối tượng CPH* Mục tiêu: Nghị định này quy định rất rõ ràng các mục tiêu CPH theo đúng tinh thầnNQTW3 theo đó CPH nhằm 3 mục tiêu chính: - Góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp;tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo ngườilao động; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lí năng động cho doanh nghiệpđể sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp - Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chứcxã hội trong và ngoài nước để đổi mới công nghệ và phát triển doanh nghiệp. - Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của các cổ đông,tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp: đảm bảo hài hòa lợiích Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư, người lao động.* Đối tượng CPH:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 23
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Đối tượng CPH là các DNNN và các đơn vị phụ thuộc của các doanhnghiệp không thuộc đối tượng mà Nhà nước cần phải nắm 100% số vốn, đượcxác định theo tiêu chí, danh mục phân loại DNNN quy định tại quyết định số58/2002/QĐ-TTg không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Các đơn vị phụ thuộc chỉ được tiến hành CPH khi các đơn vị này có đủ điều kiệnhoạch toán độc lập và không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sảnxuất kinh doanh của các bộ phận còn lại của doanh nghiệp.2. Đối tượng mua cổ phần và quyền mua cổ phần lần đầu Khắc phục những tồn tại của các quyết định trước về giới hạn mua cổ phầnlần đầu của các tổ chức và các cá nhân làm ảnh hưởng không nhỏ tới khả nănghuy động vốn của toàn xã hội. Nghị định mới ra đời đã chính thức xoá bỏ mứckhống chế về quyền mua cổ phần lần đầu đối với các nhà đầu tư trên cơ sở đảmbảo các quy định về số cổ đông tối thiểu và cổ phần chi phối tại các doanhnghiệp mà Nhà nước cần nắm cổ phần chi phối. Riêng các nhà đầu tư nước ngoàiđược mua cổ phần có tổng giá trị không quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệphoạt động trong những ngành nghề do Thủ tướng Chính phủ quy định3. Xử lí những tồn tại về tài chính trước khi CPH Những quy định trước đây về vấn đề này đã gây nhiều cản trở cho việc CPHDNNN chính vì Nghị định lần này quy định vấn đề này rất rõ ràng* Về tài sản: Đối với doanh nghiệp có nhiệm vụ phải chủ động kiểm kê, phân loại và xửlí những tài sản không cần dùng hoặc không thể sử dụng được theo cơ chế hiệnhành. Trong trường hợp đến thời điểm CPH mà doanh nghiệp vẫn chưa xử líxong vấn đề này thì không tính giá trị tài sản này vào tài sản doanh nghiệp CPHvà uỷ quyền cho CTCP tiếp tục quản lí và sử dụng số tài sản này. Đối với tài sảnđược đầu tư bằng quỹ khen thưởng phúc lợi của doanh nghiệp thì được chuyểngiao cho người lao động trong doanh nghiệp quản lí và sử dụng thông qua tổhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 24
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchức công đoàn của doanh nghiệp (đối với tài sản thuộc công trình phúc lợi) hoặcchuyển thành cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp CPH (đối vớinhững tài sản được sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh). Đối với tài sảnđem góp vốn kinh doanh với nước ngoài, nếu doanh nghiệp cổ phần kế thừa hoạtđộng kinh doanh thì toàn bộ tài sản đem góp vốn liên doanh sẽ được tính vào giátrị doanh nghiệp đem CPH, trong trường hợp doanh nghiệp không tiếp tục kếthừa hoạt động kinh doanh thì phải báo cho cơ quan có thẩm quyền để giải quyết,xử lí vốn góp liên doanh theo hướng mua lại vốn góp liên doanh hoặc chuyển sốvốn này cho doanh nghiệp khác có điều kiện quản lí sử dụng làm đối tác mớitrong liên doanh.* Về công nợ: Nghị định mới quy định rõ hơn về trách nhiệm của doanh nghiệp trong việcxử lí các khoản nợ đọng của doanh nghiệp trước khi CPH. Cho phép doanhnghiệp bán nợ hoặc chuyển nợ thành cổ phần thông qua kết quả đấu giá bán cổphần hoặc theo thoả thuận giữa doanh nghiệp với các chủ nợ nhưng giá cổ phầnkhông được thấp hơn giá bán cổ phần cho các đối tượng khác ngoài doanhnghiệp. Các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ quáhạn được nhà nước hỗ trợ thông qua các giải pháp như khoanh nợ, giãn nợ, xoánợ đọng, hỗ trợ vốn đầu tư đối với các khoản nợ ngân sách và nợ thuế, đượckhoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ đọng, giảm lãi suất vay ngân hàng hoặc được chuyểnthành vốn góp cổ phần, được dùng thu nhập trước thuế đến thời điểm CPH để bùlỗ các khoản lỗ luỹ kế của các năm trước. Trong trường hợp đến thời điểm CPHvẫn chưa xử lí xong nợ và tồn đọng thì được giảm trừ vào giá trị phần vốn gópcủa Nhà nước tại doanh nghiệp CPH.4. Cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp Cơ chế định giá doanh nghiệp khi CPH được hoàn thiện theo hướng gắn vớithị trường: Bổ sung thêm các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp là khả nănghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 25
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comsinh lời của doanh nghiệp để tạo điều kiện để tính đúng tính đủ, nhanh chóngtrong việc xác định giá trị doanh nghiệp tại thời điểm CPH. Bổ sung thêm quyđịnh về tính giá trị quyển sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp theo đó trước mắtvẫn áp dụng chính sách thuê đất và giá đất theo những quy định hiện hành. Riêngđối với diện tích Nhà nước giao cho doanh nghiệp để kinh doanh nhà và hạ tầngthì phải tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi CPH. Giá trịđất được xác định theo khung giá chuyển quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩmquyền quy định và không thấp hơn chi phí đã đầu tư cho đất như: chi phí đền bù,giải phóng mặt bằng, san lấp, xây dựng cơ sở hạ tầng…Tuỳ theo đặc điểm ngànhnghề hoạt động sản xuất kinh doanh và điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệpmà cho phép áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để định giá doanh nghiệpCPH. Sửa đổi phương pháp xác định lợi thế kinh doanh: nếu như trước đây giá trịlợi thế kinh doanh của doanh nghiệp được xác định dựa trên cơ sở so sánh tỷ suấtlợi nhuận bình quân của doanh nghiệp trước khi CPH với các DNNN khác cùngngành nghề trên cùng địa bàn. Nay theo Nghị định số 64 giá trị lợi thế kinhdoanh của các doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành nghề đều được xác địnhdựa trên cơ sở: mức chênh lệch của tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn Nhà nướcbình quân 3 năm liền kề trước khi CPH với lãi suất đầu tư Trái phiếu của Chínhphủ ở thời điểm gần nhất (được coi là hoạt động ít rủi do nhất) nhân với giá trịphần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp ở thời điểm định giá. Trong trường hợpdoanh nghiệp có thương hiệu được thị trường chấp nhận thì giá trị lợi thế kinhdoanh do thương hiệu mang lại được xác định theo giá trị thị trường. Nghị địnhnày cũng bổ sung thêm quy chế về tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp. Trướcđó, hoạt động xác định giá trị doanh nghiệp chỉ được thực hiện theo cơ chế Hộiđồng. Nay bổ sung thêm cơ chế thực hiện giá trị doanh nghiệp CPH thông quaCông ty Kiểm toán và các tổ chức kinh tế có chức năng định giá. Tuỳ theo điềuhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 26
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkiện cụ thể, cơ quan quyết định CPH có thể lựa chọn và quyết định việc định giádoanh nghiệp theo Hội đồng hay thuê các tổ chức trung gian.5. Bán cổ phần phát hành lần đầu Xác định ưu tiên bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp vàngười cung cấp nguyên liệu đã đăng kí, sau đó mới bán cổ phần cho người bênngoài. Tại Nghị định số 64 cán bộ quản lí tại DNNN từ phó phòng nghiệp vụ trởnên không bị khống chế mức cổ phần ưu đãi bình quân trong doanh nghiệp.Người lao động trong doanh nghiệp CPH đều có quyền và nghĩa vụ như nhaudựa theo số năm tháng đã làm việc tại khu vực Nhà nước trước khi CPH. Quy định việc bán cổ phần ra bên ngoài phải thông qua các Tổ chức Tàichính trung gian do cơ quan có thẩm quyền quyết định CPH lựa chọn và bằnghình thức đấu thầu, đấu giá hoặc bảo lãnh phát hành theo hướng dẫn của Bộ Tàichính. Bổ sung quy định về thời hạn cho việc bán cổ phần ở các DNNN CPH là 2tháng kể từ ngày có quyết định chuyển đổi mà không bán hết thì cơ quan có thẩmquyền quyết định CPH, quyết định việc bán cổ phần rộng rãi ra bên ngoài.6. Quản lí và sử dụng tiền thu từ bán phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệpCPH Số tiền thu được từ bán phần vốn Nhà nước sau khi trừ đi các khoản chi phíđược chuyển về quỹ hỗ trợ từ Trung ương đến các Tỉnh, Thành phố và các doanhnghiệp thuộc Tổng công ty tuỳ thuộc vào các cấp quản lí doanh nghiệp.Số tiền thu được sẽ được sử dụng theo thứ tự ưu tiên như sau: * Hỗ trợ doanh nghiệp thanh toán trợ cấp cho người lao động thôi việc, mấtviệc ở thời điểm CPH và thời điểm đã chuyển sang CTCP * Hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đào tạo lại lao độnghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 27
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com * Đầu tư cho các doanh nghiệp đã CPH để đảm bảo tỷ trọng chi phối củaNhà nước đối với loại hình DNNN cần nắm giữ cổ phần chi phối * Hỗ trợ các DNNN gặp khó khăn trong việc CPH7. Chính sách với doanh nghiệp CPH và người lao động Nghị định mới bổ sung cho phép doanh nghiệp CPH không bắt buộc phải sửdụng hết lao động hiện có tại doanh nghiệp vào thời điểm CPH Có chính sách ưu đãi mới về thuế cho các doanh nghiệp CPH “Doanhnghiệp nhà nước chuyển thành CTCP được hưởng ưu đãi về thuế theo quy địnhcủa luật khuyến khích đầu tư trong nước áp dụng cho doanh nghiệp thành lậpmới (không phải làm thủ tục cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư)”. Cho phép doanh nghiệp đang thuê nhà cửa, vật kiến trúc của các cơ quanNhà nước và các DNNN khác vẫn được duy trì các hợp đồng hoặc được ưu tiênmua lại theo giá thị trường. Các doanh nghiệp CPH có tính giá trị đất vào giá trịdoanh nghiệp thì được sử dụng đất để nhượng bán, thế chấp, đem góp vốn liêndoanh… Đối với người lao động được mua cổ phần ưu đãi ghi tên và được chuyểnnhượng sau ba năm. Không khống chế tổng giá trị ưu đãi theo % trên giá trị vốnNhà nước thực tế. Đối với lao động dôi dư trong quá trình CPH thì được giảiquyết chế độ theo Nghị định 41/2002/NĐ-CP ngày 11/4/20028. Thẩm quyền quyết định và điều chỉnh giá trị doanh nghiệp Chuyển toàn bộ quyền quyết định và điều chỉnh giá trị doanh nghiệp CPHcho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dânThành phố, Tỉnh trực thuộc Trung ương quyết định, kể cả trường hợp giá trị sổsách đến 500 triệu đồng. Nếu quá mức này thì phải được Bộ Tài chính chấp nhậnbằng văn bản.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 28
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 9. Về thẩm quyền phê duyệt phương án và quyết định chuyển đổi DNNN thànhCTCP. Nghị định này quy định chuyển giao toàn bộ thẩm quyền phê duyệt phươngán CPH và quyết định chuyển DNNN thành CTCP cho Bộ trưởng các bộ, Chủtịch Uỷ ban nhân dân các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương; đối với cácdoanh nghiệp CPH mà Nhà nước cần nắm giữ cổ phần đặc biệt thì báo cáo Thủtướng Chính phủ quyết định. Đi kèm với Nghị định 64 còn có các văn bản khác như Thông tư số76/2002/TT- BTC, Thông tư số 15/2002/TT- LĐTBXH để hướng dẫn thi hànhnhững điều đã quy định tại Nghị định 645.2. Kết quả sau hơn 10 năm thực hiện CPH Từ năm 1992 Đảng và Chính phủ bắt đầu thực hiện một chủ trương lớn làCPH DNNN. Qua nhiều giai đoạn hoàn thiện đến nay kế hoạch tổng thể về sắpxếp và đổi mới đã được định hình và dự tính phải hoàn thiện trong năm 2005.Theo các đề án sắp xếp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, sẽ có 1866doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn và 2923 doanh nghiệp thực hiệnsắp xếp, chuyển đổi sở hữu dưới các hình thức CPH, giao khoán, bán, cho thuê,giải thể, phá sản. Năm 2003 đã kết thúc chúng ta hãy nhìn lại chặng đường CPHchúng ta đã đi qua xem chúng ta đã làm được gì, những gì chưa làm được và cầnphải làm gì trong thời gian tới.5.2.1. Những thành tựu đạt được: + Tiến độ CPH bước đầu được cải thiện: Đã hơn 10 năm trôi qua kể từ khicó chủ trương chuyển DNNN thành CTCP. Tính đến ngày 20/11/2003 cả nướcđã CPH được 12641 doanh nghiệp kết quả cụ thể các năm như sau:1 Nguån t¹p chÝ kinh tÕ ph¸t triÓn sè 5/2004http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 29
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comBảng 2: số doanh nghiệp đã CPH (tính đến ngày 20/11/03) Sè d oanh nghi Ö ® CPH p · 350 31 2 300 250 250 21 2 204 200 1 48 Sè D N 1 50 1 00 1 00 50 0 2 1 3 5 7 0 94 93 98 99 96 97 95 00 02 -92 01 /3 0 20 20 20 90 /1 1Nguồn: tạp chí kinh tế phát triển số 5/2004 20 Trong đó từ tháng 6/1992 đến tháng 4/1996 CPH được 5 doanh nghiệp, từtháng 5/1996 đến tháng 6/1998 CPH được 25 doanh nghiệp, sáu tháng cuối nămsố doanh nghiệp được CPH tăng đột biến lên gần 100 đơn vị. Có sự tăng đột biếnnhư vậy là do ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CPvới nhiều nội dung thông thoáng hơn so với các văn bản trước. Năm 1999 là nămcó số lượng doanh nghiệp được CPH lớn nhất 250 doanh nghiệp nhưng rất tiếc làtốc độ tăng trong các năm tiếp theo không được duy trì mà liên tục giảm từ 212doanh nghiệp năm 2000 xuống 204 doanh nghiệp năm 2001 và chỉ còn 148doanh nghiệp năm 2002 để khắc phục tình trạng chậm trễ trong CPH ngày19/6/2003 Chính phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP “về chuyển DNNN thànhhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 30
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comCTCP” thay thế cho nghị định số 44/1998. Nghị định này như một luồng gió mớithổi vào tạo ra sức hấp dẫn của CPH, những vướng mắc trong quá trình CPH đãđược gỡ bỏ vì vậy chỉ trong 11 tháng đầu năm 2003 chúng ta đã CPH được 312doanh nghiệp. + Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên rõ rệt:Hầu hết các doanh nghiệp đều có chuyển biến tích cực, toàn diện kể cả các doanhnghiệp trước CPH bị thua lỗ, cụ thể như sau1 - Doanh thu bình quân hàng năm tăng trên 25% - Lợi nhuận trước thuế hằng năm tăng bình quân trên 26% có công ty đạtgấp 2-3 lần so với trước khi CPH. - Nộp ngân sách Nhà nước tăng bình quân trên 30% cá biệt có những doanhnghiệp tăng gấp đôi - Lãi cổ tức đạt cao hơn lãi suất tiết kiệm, bình quân 1-2% trên tháng - Thu nhập hàng tháng của người lao động tăng 20% - Số lao động thu hút thêm vào các CTCP tăng 20% + Hình thành cơ chế phân phối mới ở các DNNN CPH theo hướng phát huycác nguồn lực của kinh tế thị trường Nếu như trước kia việc phân phối do Nhà nước quy định mang nặng tínhchất bình quân chủ nghĩa thì nay sau khi chuyển sang CTCP người lao động muacổ phần và trở thành cổ đông của công ty, họ vừa là người chủ doanh nghiệp vừalà người lao động làm thuê. Ngoài tiền lương hưởng theo sự đóng góp vào côngty người lao động còn có thêm một khoản thu nhập nữa đó là lợi tức cổ phần.Không những thu nhập của người lao động tăng lên mà phần thu của Nhà nướccũng tăng do thu được thuế và lợi tức từ cổ phần Nhà nước. Trong các DNNN CPH đã hạn chế được tình trạng lãng phí, thất thoát vốn,giảm các chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng hạ giá thành sản phẩm, nâng cao1 Sè liÖu l y tõ t¹p chÝ Lý luËn chÝnh trÞ sè 1/2001http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 31
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkhả năng cạng tranh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Hình thức phânphối theo cổ phiếu đã hấp dẫn không ít nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp điều nàykhông chỉ thể hiện sự ủng hộ của toàn xã hội đối với CPH mà còn tăng thêmnguồn vốn, góp thêm kiến thức, kinh nghiệm sự giám sát hoạt động của doanhnghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển5.2.2. Một số vấn đề còn vướng mắc Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì quá trình CPH vẫn còn nhiềuvướng mắc, bất cập dẫn đến kết quả CPH chưa được theo ý muốn. + Tốc độ CPH tiến hành còn chậm Trong giai đoạn thí điểm, 4 năm đầu chúng ta mới CPH được 5 doanhnghiệp. Trong giai đoạn mở rộng và thúc đẩy quá trình CPH, tuy CPH có diễn ranhanh hơn nhưng vẫn chưa đạt được tốc độ mong muốn. Theo dự kiến đến năm1999 CPH xong 400 DNNN, đến hết năm 2000 sẽ chuyển khoảng 20% tổng sốDNNN (khoảng 1200 doanh nghiệp) thành CTCP, nhưng đến ngày 30/6/2000 cảnước mới CPH được 450 doanh nghiệp tức 7% tổng số DNNN. Nếu tính đến hết20/11/2003 cả nước mới CPH được 1264 doanh nghiệp, trong khi theo kế hoạchriêng năm 2003 chúng ta sẽ CPH 896 doanh nghiệp nhưng có lẽ chúng ta cũngchỉ CPH được hơn 300 doanh nghiệp. + Các doanh nghiệp đã CPH đa số là doanh nghiệp nhỏ Trong 460 doanh nghiệp đã CPH trong giai đoạn 1992- 2000 vốn Nhà nướcđược đánh giá lại khi CPH là 1920 tỷ đồng. Khi CPH Nhà nước giữ lại 762 tỷđồng, phần còn lại 1128 tỷ đồng bán cho người lao động trong và ngoài doanhnghiệp. Như vậy tính bình quân vốn của các doanh nghiệp đã CPH là 4,17 tỷđồng. Doanh nghiệp đã CPH có số vốn Nhà nước lớn nhất là 92,5 tỷ đồng (CTCPchế biến mía đường Lam Sơn), số vốn nhỏ nhất là 32 triệu đồng (CTCP chế biếnhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 32
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchiếu cói xuất khẩu Kim Sơn). Các doanh nghiệp CPH có số vốn quá nhỏ, khôngphù hợp với loại hình CTCP là loại hình chỉ phát huy thế mạnh khi doanh nghiệpcó quy mô sản xuất lớn. + Mục tiêu huy động vốn của toàn xã hội để phát triển doanh nghiệp đạt kếtquả chưa cao. Theo những quy định mới nhất là mục tiêu của CPH là nhằm thu hút mọinguồn vốn của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước để phát triển kinh tế.Thực tế hiện nay trong số hơn 1000 doanh nghiệp đã CPH thì số doanh nghiệpthu hút vốn từ các cổ đông ngoài doanh nghiệp chỉ chiếm chưa tới 50%. Khôngnhững thế số doanh nghiệp có cổ đông ngoài tham gia thì số vốn góp của các cổđông này còn khiêm tốn chỉ vào khoảng 1-20%. Số doanh nghiệp có cổ đôngnước ngoài chỉ đếm trên đầu ngón tay và tỷ lệ góp vốn của họ cũng rất thấp. + CPH mang tính nội bộ Quá trình CPH một doanh nghiệp từ phương án, các bước thực hiện cho đếnnhững người tham gia đều có tính nội bộ cao. “Toàn bộ quá trình CPH khôngđược công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, thiếu những quy địnhbắt buộc phải công bố công khai từng bước CPH như định giá doanh nghiệp, đấugiá cổ phần, thời điểm bán cổ phần”, nhất là đối với những doanh nghiệp nhiềulợi thế kinh doanh. Danh sách người mua cổ phần được giữ kín cho đến khi bánxong, kể cả sau khi đã hết cổ phần cũng không được tiết lộ. Tỷ lệ bán cổ phầnbán ra bên ngoài quá ít. Các cổ đông ngoài doanh nghiệp bị đối xử phân biệt vềgiá và thường bị gây khó dễ cho các hoạt động chính đáng của họ. Quy định báncổ phiếu cho các cổ đông trong doanh nghiệp và các đối tượng ưu tiên khác theogiá được xác định, còn lượng cổ phiếu được bán ra bên ngoài được bán thông quađấu giá là điều không hợp lý. Giá cổ phiếu cần được xác định khách quan, quađấu giá và là giá chung. Việc giảm giá bao nhiêu phần trăm cho các đối tượng ưutiên phải làm công khai, minh bạch, tách hoàn toàn khỏi việc xác định giá. Có thểhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 33
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtăng tỷ lệ cổ phần bán ra bên ngoài qua hình thức đấu giá, lấy mức giá đó làmchuẩn để tính giảm giá cho các đối tượng được ưu đãi.5.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại trên* Khách quan + Trình độ phát triển sản xuất của nước ta còn thấp + Nền kinh tế thị trường đang trong quá trình hình thành và phát triển + Trình độ dân trí thấp, mang nặng tâm lí sản xuất nhỏ* Chủ quan + Nhận thức về vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường chưa thốngnhất + Chưa làm tốt việc tuyên truyền về chủ trương CPH DNNN của Đảng vàChính phủ + Đặt lợi ích cục bộ trên lợi ích quốc gia + Tâm lí sợ mất việc làm của đại bộ phận người lao động trong DNNN, vốnđã quen dựa vào cơ chế bao cấp + Việc điều hành triển khai CPH còn chậm và lúng túng, cơ chế chính sáchcòn chưa thống nhất, thiếu tính thực tế thủ tục phiền hà.5.2.4. Phương hướng và giải pháp trong thời gian tới Theo kế hoạch đề ra đến năm 2005 chúng ta phải hoàn thành việc sắp xếpvà đổi mới hoạt động của các DNNN. Tính đến hết năm 2003 chúng ta mới chỉhoàn thành một nửa công việc vậy là trong 2 năm cuối chúng ta phải làm côngviệc bằng 12 năm qua điều này quả không dễ. Vậy trong thời gian tới chúng taphải làm gì để hoàn thành nhiệm vụ mục tiêu đề ra: - Xây dựng kế hoạch CPH cụ thể giao nhiệm vụ cho từng Bộ, địa phương,Tổng công tyhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 34
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Tăng cương công tác tập huấn về CPH cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo đếnnghiệp vụ của các cơ quan quản lí và doanh nghiệp, đồng thời đẩy mạnh công táctuyên truyền giáo dục để nâng cao nhận thức cho cán bộ công nhân viên trongdoanh nghiệp và người dân trong việc CPH doanh nghiệp. - Rà soát lại tình hình tài chính của các doanh nghiệp, những doanh nghiệpđã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong danh sách CPH nhưng thua lỗ mấthết vốn Nhà nước thì kiên quyết thực hiện phá sản - Tổ chức các hội nghị cả nước hoặc từng vùng để trao đổi kinh nghiệmtrong quá trình thực hiện CPH và đề xuất kiến nghị sửa đổi bổ sung các chínhsách cho phù hợp với thực tiễn. - Hoàn thiện quy trình CPH theo hướng nhanh gọn chính xác đặc biệt làtrong công tác xác định giá trị doanh nghiệp. - Thúc đẩy sự hoạt động của thị trường chứng khoán bằng cách lựa chọn cácCTCP có đủ điều kiện để niêm yết trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán, từ đósẽ có tác dụng trở lại đối với việc CPH DNNN.6. Kinh nghiệm CPH ở một số nước trên thế giới CPH DNNN là vấn đề rất mới đối với Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứukinh nghiệm CPH DNNN của các nước trên thế giới đặc biệt là các nước có điềukiện tương đồng như: Trung Quốc, Nga, các nước ASEAN để tìm kiếm kinhnghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam là vô cùng quan trọng. TuyCPH DNNN mang đặc thù riêng của mỗi nước.6.1. CPH ở Trung Quốc Trung Quốc và Việt Nam không chỉ gần gũi nhau về địa lí mà còn có nhữngtương đồng về mô hình kinh tế Kế hoạch hoá tập trung trước đây và các địnhhướng chuyển đổi hiện nay, vì vậy xem xét CPH ở Trung Quốc là cần thiết choviệc CPH ở Việt Nam.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 35
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com* Quan điểm CPH ở Trung Quốc Trung Quốc dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lê Ninđể tiến hành chuyển hoá DNNN; coi CPH là bộ phận hữu cơ trong tổng thể đổimới DNNN, luôn khẳng định đây là con đường tìm kiếm hiệu quả kinh doanhchứ không phải là tìm kiếm các hình thức sở hữu khác nhau; đổi mới DNNN làkhâu then chốt của cải cách kinh tế, coi tiền đề của cải cách là xây dựng đồng bộcơ chế thị trường.* Mục tiêu CPH ở Trung Quốc - Mở rộng hình thức sở hữu tạo cơ sở cho sự phát triển của kinh tế thịtrường - Điều chỉnh lại vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước nâng cao năng lựcquản lí và hiệu quả kinh doanh của DNNN. - Định hướng năng lực hành chính của Nhà nước giảm bớt tham nhũng vàthói quen dựa dẫm vào Nhà nước, thay đổi mối quan hệ giữa những người quản líhành chính với những người quản lí kinh tế. - Thương mại hoá hành vi quản lí tạo ra chế độ khuyến khích với các nhàquản lí, thay đổi lực lượng lao động, nâng cao thu nhập. Tăng nguồn thu để trảnợ và cho các mục đích khác, cân bằng ngân sách.* Hình thức CPH - Nhà nước cùng với các doanh nghiệp trong nền kinh tế tham gia nắm giữcổ phần để hình thành nên CTCP - Bán cổ phần cho người lao động trong nội bộ doanh nghiệp - CPH DNNN bằng cách phát hành công khai cổ phần ra xã hội* Phương pháp CPH Tiến hành CPH DNNN theo thứ tự doanh nghiệp có quy mô nhỏ trước quymô vừa và lớn sau cùng với hình thành tập đoàn CTCP, coi trọng hình thứchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 36
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comCTCP mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối các doanh nghiệp lớn, ngành kinh tếquan trọng.* Quy trình CPH - Xác định danh sách các DNNN có đủ điều kiện CPH (kinh doanh có lãikhông nằm trong diện DNNN cần phải nắm giữ 100% vốn) - Xác định thực tế tài sản doanh nghiệp - Tuyên truyền quảng cáo hoàn thiện chính sách để mọi người nắm đượcthực chất hoạt động của doanh nghiệp và có quyết định mua cổ phần. - Lựa chọn phương thức bán cổ phần rộng rãi cho công chúng hay bán chocác đối tượng đã xác định trước, mức giá bán cổ phiếu ưu đãi - Giải quyết các vấn đề hậu CPHhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 37
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com6.2. CPH ở một số nước ASEAN Các nước ASEAN có đặc điểm chung là hầu hết nền kinh tế các nước đềucó tốc độ tăng trưởng nhanh và tương đối ổn định. Các DNNN hoạt động theo cơchế thị trường là chính chỉ có một bộ phần nhỏ là hoạt động công ích chính vìvậy hiệu quả kinh doanh được đặt lên hàng đầu, nếu các DNNN mà hoạt độngkhông hiệu quả thì sẽ bị giải thể hoặc phá sản. Mục đích chính của CPH ở cácnước ASEAN là: nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế Nhà nước nói riêng,của toàn bộ nền kinh tế nói chung, xây dựng lại cơ cấu kinh tế theo hướng ưutiên kinh tế tư nhân, tạo môi trường kinh doanh tích cực đảm bảo công bằng giữacác thành phần kinh tế xoá bỏ một phần lối kinh doanh độc quyền kém hiệu quảcủa kinh tế Nhà nước, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước. Singapore vàMalaisia là hai nước tương đối thành công trong CPH DNNN. Tại Singapore Nhà nước đã sớm soạn thảo một chương trình CPH có hệthống phù hợp với đặc điểm tình hình trong nước, một Uỷ ban tư nhân hoá khuvực kinh tế Nhà nước được thành lập đã đề ra chương trình CPH hoàn chỉnh dựđịnh kéo dài trong 10 năm. Các DNNN làm ăn có lãi được chọn là đối tượngCPH trước tiên. Thành công nhất trong CPH ở Singapore là đã không để xẩy ratình trạng thâm hụt ngân sách, vẫn duy trì được mức tăng trưởng và tích luỹ cao.Do vậy mà hầu hết các mục tiêu CPH Singapore đề ra đã đạt được. Malaisia đã thay đổi các chính sách kinh tế theo đó lấy cải cách khu vựckinh tế Nhà nước làm trọng tâm. Chuyển khoảng 20% số DNNN hiện có sangCTCP hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm cơ cấu lại DNNN theo hướnghoạt động có hiệu quả, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, hạ mức nợ củaChính phủ. Tháng 5/1995 Malaisia đã CPH thành công 120 DNNN trong đó cónhững doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực then chốt như: hàng không, điện lực, bưuchính viễn thông… Malaisia đã chấp nhận xoá bỏ một phần sở hữu Nhà nướctheo quan niệm DNNN trong một số ngành thuộc hạ tầng cơ sở hoặc dịch vụhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 38
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtrước đây tư nhân không đầu tư nên Nhà nước phải chịu trách nhiệm. Còn bâygiờ khu vực kinh tế tư nhân đã đủ sức vươn tới những lĩnh vực này thì nên thuhẹp phần DNNN không chỉ các xí nghiệp làm ăn thua lỗ mà còn cả những xínghiệp làm ăn có lãi. Qua kinh nghiệm của các nước ta thấy CPH không bao giờ dễ dàng songnhiều nước đã thành công. Điều kiện của chúng ta hiện nay là tương đối thuậnlợi, vì vậy phải tranh thủ đẩy mạnh CPH, phải mạnh dạn trong suy nghĩ và hànhđộng và có quyết tâm cao thì mới đạt được kết quả như ý muốn.6.3. Những kinh nghiệm quốc tế về cổ phần hoá có thể áp dụng trong việc cổphần hoá doanh nghiệp nhà nước chế biến thực phẩm xuất khẩu Chế biến nông sản thực phẩm xuất khẩu là cơ sở hết sức quan trọng để pháttriển nông nghiệp. Nó góp phần nâng cao chất lượng và giá trị xuất khẩu, tạođiều kiện thuận lợi cho bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Thực tế hiệnnay là ngành chế biến thực phẩm xuất khẩu của ta còn rất yếu kém. Muốn đẩymạnh hoạt động xuất khẩu thì phải nâng cao được năng lực của các nhà máy chếbiến, CPH có lẽ là giải pháp tốt nhất hiện nay dành cho các doanh nghiệp chếbiến thực phẩm xuất khẩu. Trong điều kiện nước ta hiện nay khi thị trường chứngkhoán chưa phát triển, khu vực kinh tế Nhà nước trong nông nghiệp còn chiếm tỷtrọng lớn thì nên học tập kinh nghiệm CPH ở các nước có điều kiện tương đồng.Tuy nhiên sự vận dụng kinh nghiệm này cũng cần chú ý đến tính đặc thù của mỗinước để sàng lọc và thử nghiệm kĩ càng trong điều kiện nước ta. Xuất phát từđiều kiện thực tế hiện nay của các DNNN trong lĩnh vực chế biến thực phẩm xuấtkhẩu và kinh nghiệm CPH của các nước trên thế giới cho chúng ta những bài họckinh nghiệm có thể áp dụng được. + CPH những DNNN trong lĩnh vực chế biến thực phẩm xuất khẩu phảinằm trong chương trình tổng thể về sắp xếp và đổi mới hoạt động của cácDNNN.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 39
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com + CPH những doanh nghiệp có quy mô nhỏ trước quy mô vừa và lớn sau. + Điểm mấu chốt của thành công trong CPH các doanh nghiệp chế biếnthực phẩm xuất khẩu là phải có sự tham gia của cán bộ quản lí doanh nghiệp.Đây chính là cơ sở để thu hút thêm các nhà đầu tư mới. + Nhà nước không nhất thiết phải nắm cổ phần chi phối trong các doanhnghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu. + Không CPH những doanh nghiệp có công nợ quá lớn mà nên áp dụnghình thức phá sản + CPH phải tạo ra được mối quan hệ mật thiết giữa CTCP, người lao độngvà người cung ứng nguyên liệu. + Sau CPH Chính phủ không nên can thiệp trực tiếp vào hoạt động củadoanh nghiệp mà cần tạo điều kiện cho nhà quản lí có đủ quyền tự chủ trong việcra quyết định và vận hành doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 40
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CPH Ở CÔNG TY THỰC PHẨM XUẤT KHẨU BẮC GIANGI. CHỦ TRƯƠNG CỦA TỈNH BẮC GIANG VỀ CPH DNNN Bắc Giang là tỉnh miền núi phía Bắc cách không xa các trung tâm côngnghiệp và đô thị lớn của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Vớitổng diện tích tự nhiên 3816,7 km2 bao gồm 3 vùng địa lí là miền núi, trung du vàđồng bằng. Với những đặc thù khác nhau cùng nhiều nguồn tài nguyên khoángsản và cảnh quan du lịch đa dạng. Bên cạnh đó Bắc Giang còn có hệ thống điện,thông tin liên lạc và mạng lưới giao thông rộng khắp đặc biệt là quốc lộ 1A chạyqua nối liền Bắc Giang với các Tỉnh bạn và khu công nghiệp Đình Trám. Nhữngnhân tố này tạo nên sự đa dạng phong phú và là tiền đề quan trọng cho sự pháttriển công nghiệp của tỉnh Bắc Giang. Tính đến hết năm 1999 Bắc Giang có 54DNNN do tỉnh quản lí và 12 doanh nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn. Vốnbình quân của các DNNN là 1,2 tỉ đồng, số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và hoàvốn chiếm trên 50%, số doanh nghiệp làm ăn có lãi chỉ chiếm khoảng 20% sốcòn lại lúc lỗ, lúc lãi. Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN Bắc Giangđã thực hiện sắp xếp và đổi mới hoạt động của các DNNN trong đó CPH là giảipháp trung tâm.1. Mục tiêu của tỉnh Bắc Giang về sắp xếp và đổi mới DNNN trênđịa bàn Tỉnh quản lí + Tỉnh chủ trương giao khoán bán cho thuê, giải thể, phá sản và CPH toànbộ số DNNN do Tỉnh quản lí hiện nay.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 41
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com + Trong quá đổi mới và sắp xếp thì hướng ưu tiên là CPH vì xét thấy đây làphương pháp có nhiều ưu điểm hơn cả. Thứ nhất là vẫn giữ được doanh nghiệp,thứ hai là đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động, thứ ba không gâynhững xáo trộn lớn về kinh tế xã hội. + Đổi mới DNNN để đưa công nghiệp Bắc Giang trở thành đầu tầu kinh tếthúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề khác đặc biệt là sự phát triểncủa nông nghiệp nông thôn. + Đổi mới DNNN để nâng cao hiệu quả kinh tế phát huy hết tiềm năng lợithế của Tỉnh để phát triển kinh tế xã hội.2. Những biện pháp thực hiện Thứ nhất, Tỉnh đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể để chỉ đạocông tác CPH. Các văn bản được ban hành nhằm mục đích làm cho các cấp cácngành, từ cán bộ lãnh đạo đến cán bộ công nhân viên phải thực sự nắm bắt đượcvà có sự chuyển biến về nhận thức trong việc xác định ý nghĩa, vị trí vai trò củakinh tế Nhà nước và sự cần thiết khách quan phải CPH DNNN. Tỉnh chủ trươngđẩy mạnh việc sắp xếp đổi mới DNNN bằng cách tháo gỡ khó khăn, tổ chứctuyền truyền giáo dục chủ trương CPH, Tỉnh cũng áp dụng các biện pháp mạnhđối với những doanh nghiệp có đủ điều kiện mà cố ý kéo dài không thực hiệnCPH theo chủ trương của Tỉnh. Nhưng cũng không nóng vội chủ quan duy ý chímà CPH gượng ép bắt buộc để tránh hậu quả sau này. Thứ hai, đẩy mạnh công tác tổ chức tuyên truyền học tập chủ trương chínhsách CPH của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh. Vận động khuyến khích tạo điềukiện cho các doanh nghiệp có đủ điều kiện chuyển thành CTCP. Các phương tiệnthông tin đại chúng của Tỉnh như đài phát thanh và truyền hình, báo mở nhiềuchuyên mục bám sát các chủ trương chính sách CPH để tuyên truyền giải thíchcho mọi đối tượng. Ban quản lí đổi mới doanh nghiệp của Tỉnh thường xuyênhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 42
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comphối hợp với các cơ sở để đến từng doanh nghiệp giải thích về cơ chế chính sách,giới thiệu điển hình về các doanh nghiệp đã CPH thành công mang lại hiệu quảcho cả người lao động và doanh nghiệp. Thứ ba, công tác xây dựng phương án, tổ chức thực hiện phương án sắp xếpvà đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc tập trungdân chủ từ cơ sở, ngành, huyện, tỉnh. Sở chuyên ngành phải tự mình phân tíchđánh giá, tự phân loại và xếp hạng các doanh nghiệp làm cơ sở cho Ban quản líđổi mới doanh nghiệp của Tỉnh tổng hợp phân tích đánh giá, tổ chức hội thảo lấyý kiến của các cấp, các ngành sau đó mới hoàn chỉnh phương án và có quyết địnhcuối cùng tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và chủ trương củaTỉnh. Thứ tư, để đẩy nhanh và khuyến khích các tiến độ CPH các DNNN nằmtrên địa bàn Tỉnh quản lí. Tỉnh đã thực hiện đúng đủ các chế độ chính sách ưu đãidành cho người lao động và doanh nghiệp thực hiện CPH. Ngoài các chính sáchhỗ trợ từ cấp trên Tỉnh còn có chính sách hỗ trợ riêng như miễn giảm thuế đất,trợ cấp cho người nghèo mua cổ phiếu, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc sắp xếpvà sử dụng lao động… Thứ năm, Tỉnh đã thực hiện chế độ giao ban định kì hành tuần, Ban quản líđổi mới doanh nghiệp của Tỉnh kịp thời giải quyết những khó khăn vướng mắtcho từng doanh nghiệp, kiểm tra đôn đốc tiến độ của từng cấp từng ngành kịpthời xin ý kiến chỉ đạo của Tỉnh uỷ và Trung ương đối với các vấn đề vượt quáthẩm quyền giải quyết của Ban đổi mới. Thứ sáu, Tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên ở cácdoanh nghiệp thực hiện CPH được hưởng tối đa các quyền lợi mà Nhà nước chophép. Đồng thời Tỉnh cũng thành lập quỹ hỗ trợ sắp xếp và CPH để hỗ trợ về tàichính cho các doanh nghiệp thực hiện CPH gặp khó khăn. Tỉnh cử các cán bộhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 43
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthuộc ngành tài chính xuống từng doanh nghiệp để hướng dẫn và giúp doanhnghiệp đẩy nhanh tiến trình CPH. Nhờ những biện pháp tích cựu trên trong những năm gần đây Bắc Giangluôn là Tỉnh đi đầu trong công tác sắp xếp và đổi mới hoạt động của các DNNN.Năm 2000 sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 103/1999/NĐ-CP Bắc Giang làtỉnh tiên phong trong cả nước thực hiện bán DNNN cho tập thể người lao độngquản lí sau đó chuyển thành CTCP. Bước sang năm 2002 sau khi có Nghị quyếtTW 3 khoá IX Chính phủ và các ngành đã ban hành hành loạt các văn bản chínhsách thông thoáng về công tác CPH như Nghị định 64/2002/NĐ-CP, Nghị địnhsố 44, Nghị định số 69 công tác CPH ở tỉnh Bắc Giang đã có nhiều chuyển biếntích cực. Trong năm 2003 và những tháng đầu năm 2004 đã thành lập được 16CTCP. Tính đến hết ngày 16/1/2004 sau 5 năm thực hiện chuyển đổi hình thứcsở hữu DNNN tỉnh Bắc Giang đã chuyển song 29/57 doanh nghiệp tức 51% sốDNNN cao hơn mức trung bình của cả nước.II. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CỔ PHẦN HOÁ Ở CÔNG TY THỰCPHẨM XUẤT KHẨU BẮC GIANG1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty thực phẩm xuấtkhẩu Bắc Giang1.1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty TPXK Bắc Giang tiền thân là Nông trường quốc doanh Lục Ngạnđược thành lập ngày 05/10/1963 theo Quyết định số 271/CP của Chủ tịch hộiđồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Trải qua một thời gian dài pháttriển đến ngày 20/11/1991 Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Nghị quyếtsố 338/HĐBT về sắp xếp lại DNNN, căn cứ vào Quyết định đó ngày 7/5/1992Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ Nông nghiệpvà Phát triển nông thôn) ra quyết định số 238/NN/TCBB/QĐ thành lập lại Nônghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 44
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtrường Lục Ngạn. Tháng12/1997 Nông trường đề nghị với Tổng công ty rau quảViệt Nam (nay là Tổng công ty rau quả nông sản), Bộ nông nghiệp và phát triểnnông thôn cho đổi tên doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh phù hợp với cơchế mới. Ngày 6/8/1998 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn raQuyết định số 133/1999/QĐ/NN-TCCB về việc đổi tên và bổ sung ngành nghềkinh doanh cho Nông trường. Theo Quyết định đó Nông trường Lục Ngạn đượcđổi tên thành Công ty TPXK Bắc Giang.Tên giao dịch quốc tế: BacGiang foodsufe export companyTrụ sở chính: xã Phượng Sơn huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang1.2. Bộ máy tổ chức Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy quản lí ở công ty thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang Giám đốc công ty Phó giám đốc Phòng Phòng Tổ Phòng Phòng quản lý Phòng chức kinh nguyên sản tài vụ hành doanh liệu xuất chính1.3. Hoạt động chính của Công ty hiện nay + Sản xuất, chế biến, kinh doanh và xuất nhập khẩu trực tiếp: rau quả nôngsản, thực phẩm, đồ uốnghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 45
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com + Bán buôn, bán lẻ các mặt hàng nông sản thực phẩm nước giải khát + Nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Công ty. + Dịch vụ tư vấn phát triển sản xuất, chế biến rau quả, nông lâm sản. + Liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước phục vụcho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.1.4. Nguồn lực hiện tại của Công ty1.4.1. Vốn sản xuấtTổng nguồn vốn của Công ty hiện nay là 22.290.299.610 đ trong đó: + Vốn cố định và đầu tư dài hạn là: 15.166.055.066 đ + Vốn ngắn hạn và đầu tư ngắn hạn: 7.123.794.544 đPhân theo nguồn vốn: + Vốn của Nhà nước là: 8.944.231.937 đ + Vốn tự huy động: 13.346.067.673 đTrong đó: - Vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp là: 510.000.000 đ - Vốn vay tín dụng trong nước dài hạn là : 7.813.573.129 đ - Vốn vay trong nước ngắn hạn: 999.069.112 đVốn khác: 3.023.425.432 đ1.4.2 Tình hình về lao động Hiện nay, ở Công ty thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang có 240 lao động trongđó: + Lao động không xác định thời hạn là 68 người + Lao động có thời hạn từ 1- 3 năm là 172 người Đây là lực lượng lao động thường xuyên tại Công ty, ngoài ra vào vụ sảnxuất vải là vụ sản xuất chính của Công ty còn hợp đồng với khoảng 700 côngnhân thời vụ.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 46
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Về trình độ của người lao động: - Số lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 11 người - Số lao động có trình độ trung và sơ cấp là 23 người - Công nhân kĩ thuật là 139 người - Lao động phổ thông là 67 người1.4.3 Tình hình tài sản của doanh nghiệp Bảng 3: Bảng kiểm kê tài sản cố định Công ty TPXK Bắc Giang (tính đến ngày 31/12/2003) Đơn vị: đồng ST Tên tài sản Nguyên giá Giá trị còn lại T A TSCĐ đang dùng 15.182.113.093 14.138.590.753 1 Nhà cửa kiến trúc 4.685.318.063 4.367.103.755 A Nhà xưởng sản xuất 2.477.491.801 2.438.001.020 B Nhà kho 1.679.727.441 1.489.738.760 C Nhà làm việc 283.685.327 251.127.708 D Vật kiến trúc 244.414.034 188.236.267 2 Máy móc thiết bị 10.496.794.490 9.771.486.998 A Máy móc động lực 310.946.571 201.024.614 B Máy móc thiết bị công tác 8.388.548.672 8.109.562.335 C Máy móc thiết bị dẫn truyền 587.321.099 566.164.574 D Thiết bị và phương tiện vận tải 1.155.317.059 834.793.196 E Máy móc thiết bị văn phòng 94.658.098 59.942.279 B TSCĐ không cần dùng 957.377.557 514.424.849 1 Thiết bị máy móc 279.037.094 57.165.634 2 Nhà cửa thuộc công trình 327 109.043.000 109.043.000 3 Nhà cửa thuộc công trình phúc lợi 219.133.148 26.854.215 4 Vật kiến trúc thuộc công trình 327 317.468.000 317.468.000 5 Vật kiến trúc thuộc công trìnhphúc 32.696.315 3.894.000 lợi Tổng cộng A+B 16.139.490.650 14.653.015.602 Nguồn: Phòng tài vụ công ty TPXK Bắc Gianghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 47
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com1.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong những nămgần đâyBảng 4: Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty những năm gần đây Năm Sản lượng (tấn) Doanh thu (tỷ đồng) Lợi nhuận (triệu đồng) 1998 423 6,8 0 1999 450 9,8 0 2000 827 8.5 30 2001 1100 9,5 50 2002 1138 11,3 86 2003 1341 13,4 150 2004(dự kiến) 2800 26 300 Nguồn: phòng quản lí sản xuất công ty TPXK Bắc Giang2. Những đặc điểm kinh tế kĩ thuật của công ty có ảnh hưởng đếntiến trình CPH CPH nhanh hay chậm ngoài việc phụ thuộc vào các chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo của cấp trên còn phụ thuộc khá lớn vào cácđặc điểm kinh tế kĩ thuật của doanh nghiệp CPH. Khảo sát tại Công ty TPXKBắc Giang chúng ta sẽ thấy rõ điều này.2.1. Vị trí địa lí của Công ty Công ty TPXK Bắc Giang nằm trên địa bàn xã Phượng Sơn huyện LụcNgạn tỉnh Bắc Giang, cạnh quốc lộ 31 là tuyến đường giao thông huyết mạch củahuyện đồng thời là cầu nối giữa Công ty với các vùng nguyên liệu và nơi tiêu thụsản phẩm của Công ty. Công ty TPXK Bắc Giang lằm khá xa các trung tâm củaTỉnh cũng như của các địa phương lân cận tạo nên những khó khăn trong thumua và vận chuyển nguyên liệu cũng như việc tiệu thụ sản phẩm do hao phí lớn,http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 48
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchất lượng bị ảnh hưởng, tăng chi phí, tất cả điều này làm tăng giá thành sản xuấtsản phẩm của Công ty. Nằm trên địa bàn xã miền núi cũng gây khó khăn choCông ty trong việc thu hút nguồn lao động có trình độ cao mà con người là yếu tốquan trọng nhất của mọi quá trình sản xuất. Bù lại vị trí này cũng mang nhiềuthuận lợi cho Công ty trong việc xây dựng, phát triển và thu mua nguyên liệu.Điạ bàn Công ty hiện nay chính là vùng nguyên liệu Vải lớn nhất cả nước, vụ sảnxuất Vải cũng là vụ sản xuất chính của Công ty hàng năm chỉ chiếm khoảng 1/6thời gian nhưng lại mang lại 1/3 tổng doanh thu cả năm của Công ty. Ngoài raviệc quy hoạch vùng nguyên liệu Dứa ở Sơn Động với tổng diện tích 500 ha sẽ lànguồn cung nguyên liệu Dứa chính trong tương lai cho Công ty. Việc đan xengiữa thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng như thế nào đến việc CPH của Công ty.Xét về lâu dài thì thuận lợi vẫn là chủ yếu do khi điều kiện kinh tế phát triển vấnđề giao thông đi lại sẽ giải quyết được, điều kiện kinh tế xã hội sẽ được cải thiện.Lúc đó lợi thế về vùng nguyên liệu sẽ là một lợi thế cạnh tranh chính của Côngty. Điều này tác động thuận lợi đến CPH.2.2. Đặc điểm về lao động Công ty hiện nay có hơn 100 lao động bao gồm cả lao động không xác địnhthời và cả lao động có xác định thời hạn. Trong số đó số lao động có trình độ đạihọc, cao đẳng, công nhân kĩ thuật chiếm tỷ trọng nhỏ số còn lại chủ yếu là laođộng thủ công chưa qua đào tạo. Sự thiếu hụt lao động có chuyên môn tay nghềđang là trở lực lớn cho Công ty khi tiến hành CPH. Khi chuyển thành CTCP tứclà thoát khỏi sự bảo hộ của Nhà nước phải đi bằng đôi chân của mình phải chấpnhận cạnh tranh tranh, tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường. Vì vậy doanhnghiệp cần phải có một đội ngũ cán bộ không những có trình độ chuyên môn tốtmà còn phải am hiểu kinh tế thị trường phải năng động, phải nắm bắt được thờicơ làm việc phải có trách nhiệm và có năng suất cao; đội ngũ công nhân phảithành thạo công việc chuyên môn có tay nghề và làm việc có năng suất cao. Vớihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 49
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comlực lượng lao động như hiện nay sẽ trở thành gắng nặng cho CTCP bởi vì cầnphải có thời gian cho người lao động làm quen với cơ chế mới, phải đào tạo lạitay nghề…2.3. Đặc điểm về ngành nghề kinh doanh Kinh doanh trong nông nghiệp nói chung và trong chế biến nông sản nóiriêng đều có đặc điểm chung là chịu ảnh hưởng của các đặc điểm sản xuất nôngnghiệp. Công ty TPXK Bắc Giang là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực chếbiến nông sản nên nó cũng có những đặc điểm chung của kinh doanh trong nôngnghiệp. + Tính sinh lời của sản xuất kinh doanh của Công ty thấp các doanh nghiệpkhác trên cùng địa bàn. + Năng suất lao động thấp dẫn đến thu nhập của cán bộ công nhân viên chỉđáp ứng được những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Với mức thu nhập bìnhquân hiện nay ở Công ty là khoảng 600.000đ/ tháng thì chỉ đủ trang trải cuộcsống tối thiểu cho bản thân người lao động chứ không có khả năng hỗ trợ giađình và tạo tích luỹ. + Kinh doanh trong nông nghiệp có tính rủi ro cao và kém ổn định kể cảkinh doanh chế biến nông sản bởi ngành này cũng phải sử dụng những sản phẩmcủa nông nghiệp. + Giá cả các mặt hàng nông sản ngày càng bất lợi hơn so với các mặt hàngcông nghiệp điều này ảnh hưởng xấu đến khả năng thu hồi vốn đầu tư của Côngty. Giá các mặt hành chủ lực của Công ty hiện nay là Dứa, Dưa chuột, Vải đangcó xu hướng giảm trong khi đó giá nguyên liệu liên tục tăng đặc biệt là nguyênliệu Dứa trong những tháng gần đây tăng đột biến, Công ty phải sản xuất trongtình trạng giá thành cao hơn giá bán vì hợp đồng đã được kí kết từ trướchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 50
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com + Việc phải thường xuyên mua bán trực tiếp với các hộ nông dân cũng gâykhó khăn trong kinh doanh do không ổn định nhiều hợp đồng bị phá bỏ. Do những đặc điểm như vậy nên tình hình sản xuất kinh doanh của Công tycũng không mấy sáng sửa, lợi nhuận thấp, không ổn định gây khó khăn cho côngtác CPH.2.4. Đặc điểm về bộ máy quản lí Bộ máy quản lí của Công ty hiện nay rất cồng kềnh song hoạt động lạikhông hiệu quả. Quy mô của Công ty tương đối nhỏ nhưng lại có đến 3 phòngnguyên liệu mà tình trạng thiếu nguyên liệu vẫn xẩy ra thường xuyên. Phòngkinh doanh của Công ty chỉ tồn tại dưới dạng hình thức, các mặt hàng của Côngty chủ yếu dành để xuất khẩu nhưng các cán bộ trong phòng kinh doanh không aibiết ngoại ngữ, trình độ vi tính rất hạn chế, nhiệm vụ hiện nay của phòng kinhdoanh là xuất hàng khi có yêu cầu và thanh toán tiền hàng. Với đội ngũ và cơ cấunhư vậy khi chuyển thành CTCP vấn đề tinh giảm bộ máy sẽ giải quyết ra sao.Nếu giữ lại trình độ của họ không đáp ứng được còn nếu cho họ nghỉ thì sẽ xử líra sao trong khi các cán bộ này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc CPH. Vì vậyhọ sẽ là sức ì trong việc đẩy mạnh CPH của Công ty.3. Thực trạng quá trình thực hiện CPH ở Công ty TPXK BắcGiang3.1. Sự cần thiết phải tiến hành CPH ở Công ty TPXK Bắc Giang3.1.1. CPH nhằm thay đổi cơ chế quản lí: Sự thay đổi cơ chế quản lí được thểhiện ở những mặt sau: + Cơ cấu tổ chức quản lí điều hành sản xuất kinh doanh ở Công ty thay đổi;nếu trước đây Giám đốc có quyền quyết định gần như toàn bộ mọi hoạt đông củaCông ty nhưng khi đã là CTCP thì quyền đó sẽ nhường cho các cổ đông. Các cổhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 51
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđông thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua Hội đồng quản trị cơ quan đạidiện cho quyền lực của các cổ đông + Nhà nước không còn là chủ duy nhất nữa mà nay Nhà nước cũng chỉ làmột cổ đông lớn. Thay vì sự can thiệp trực tiếp bằng các mệnh lệnh hành chínhbắt buộc Nhà nước cũng chỉ được thể hiện quyền làm chủ của mình thông quanhững lá phiếu như những cổ đông khác và bằng các công cụ quản lí vĩ mô. Đâylà sự thay đổi có tính chất quyết định đối với sự hoạt động của CTCP. + Đội ngũ cán bộ trong Công ty trước đây có quyền lực rất lớn thì nay cũngchỉ là người làm thuê tại CTCP vì vậy muốn tồn tại được họ phải nâng cao nănglực, trình độ chuyên môn thích nghi với điều kiện mới sẽ không còn những Giámđốc “há miệng chờ sung” thay vào đó là những Giám đốc năng động, nhiệt tình,làm việc có tình thần trách nhiệm và hiệu quả cao. Bộ máy quản lí tại CTCP sẽđược tinh giảm đến mức tối đa sao cho vẫn điều hành tốt mọi công việc mà chiphí cho đội ngũ này là nhỏ nhất. + Sẽ không còn cảnh làm chủ hình thức của người lao động nữa mà thay vàođó là những người chủ thực sự. Người lao động vừa là người làm công ăn lươngvừa là cổ đông trong Công ty. Do đó quyền lợi sẽ gắn liền với trách nhiệm buộcngười lao động phải có ý thức tiết kiệm, thường xuyên trau dồi kiến thức kinhnghiệm làm việc với năng suất cao.3.1.2. Xuất phát từ nhu cầu muốn huy động vốn của toàn thể cán bộ côngnhân viên trong công ty để phát triển sản xuất Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, doanhnghiệp nói riêng. Vốn là điều kiện không thể thiếu của mọi quá trình sản xuấtkinh doanh, thực chất quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình tuần hoàn vềvốn. Vốn từ hình thái tiền tệ chuyển thành các yếu tố đầu vào của sản xuất sau đócác yếu tố sản xuất lại kết hợp với nhau tạo thành sản phẩm hàng hoá đem bánthu lại vốn ban đầu cộng với một khoản lợi nhuận. Vốn cũng cần cho đầu tư mởhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 52
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comrộng sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất hàng hoá, vị thế và uy tín của doanhnghiệp. Vì vậy, vốn và vấn đề huy động vốn có tính chất quyết định đến sự pháttriển kinh tế nói chung và của doanh nghiệp nói riêng. Cơ chế bao cấp vốn chocác DNNN kéo dài trong nhiều năm qua làm cho các DNNN thường ỷ lại, trôngchờ và dựa dậm vào nguồn vốn cấp phát của ngân sách và vốn vay của các ngânhàng thương mại, chưa coi trọng việc huy động các nguồn vốn khác để phát triểnsản xuất kinh doanh. Sử dụng vốn nhà nước thường đi kèm với lãng phí, sử dụngvốn không có hiệu quả, tình trạng thiếu vốn cho sản xuất kinh doanh là rất phổbiến gây ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Tại Công ty TPXK Bắc Giang tình trạng thiếu vốn xẩy ra triền miên, Công ty chỉchủ động được khoảng 10% vốn lưu động phục vụ cho hoạt động của mình sốcòn lại phải huy động từ các nguồn khác trong đó chủ yếu là từ các ngân hàngThương mại, chỉ có một bộ phận nhỏ là huy động được từ cán bộ công nhân viêntrong Công ty. Việc không tạo đủ và chủ động được vốn gây cho Công ty khôngít khó khăn trong việc đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm, thu muavà quy hoạch vùng nguyên liệu, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên…CPHsẽ là giải pháp tốt cho Công ty trong việc đẩy nhanh sự tích tụ và tập trung vốnđể đầu tư phát triển, mở rộng quy mô sản xuất. Việc huy động được vốn củangười lao động cũng như người sản xuất và cung ứng nguyên liệu đồng nghĩa vớiviệc nâng cao hiệu quả quản lí và sử dụng vốn. Bởi họ chính là người chủ thực sựcủa công ty, quyền lợi gắn với trách nhiệm, phân định rõ quyền của người sở hữutài sản, quyền của người sử dụng tài sản và quyền quản lí của Nhà nước. Chắcchắn sau khi CPH với thế và lực mới Công ty sẽ phát triển tốt.3.1.3. CPH ở Công ty TPXK Bắc Giang là góp phần thực hiện chủ trương củađảng và Nhà nước về sắp xếp và đổi mới các DNNN Đặc điểm chung của các DNNN trong nông nghiệp hiện nay là đều khôngthuộc diện các DNNN cần nắm giữ 100% vốn nên việc CPH những doanh nghiệphttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 53
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnày là cần thiết xuất phát từ nhu cầu của công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoánông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp của nước ta trong những năm gần đây đã cónhững bước tiến vượt bậc, từ một nước phải thường xuyên nhập khẩu lương thựcđến nay chúng ta hoàn toàn tự chủ được về lương thực hơn thế nữa hàng nămchúng ta còn xuất khẩu được 3-4 triệu tấn lương thực trở thành nước xuất khẩugạo lớn thứ 2 trên thế giới. Ngoài mặt hàng gạo chúng ta còn có nhiều nông, lâmsản có vị thế trên thị trường thế giới như cà phê, chè, hạt điều, hạt tiêu, cao su…hàng năm giá trị xuất khẩu những mặt hàng này mang lại cho ta nhiều triệu đô la.Nông nghiệp nước ta đang chuyển từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hànghoá quy mô lớn. Nước ta đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hoá quy mô lớnnhư lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng Sông Hồng; chè ở miền núiphía Bắc; cà phê, cao su ở Tây Nguyên. Sản lượng nông sản hàng năm là rất lớncho nên việc phát triển công nghiệp bảo quản và chế biến các sản phẩm này đanglà yêu cầu cấp bách. Hiện nay công nghiệp chế biến của ta chủ yếu do cácDNNN nắm giữ, các doanh nghiệp này có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, phântán. Nên chủ yếu sản phẩm của ta phải xuất thô hoặc ở mức sơ chế các sản phẩmtinh chế còn rất ít do vậy giá trị kinh tế mang lại không cao. Muốn phát triển sảnxuất nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay phải đẩy mạnh công nghiệp chế biếnmở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ tức là phải tăng năng lực và sứccạnh tranh của các doanh nghiệp chế biến hiện nay. Giải pháp tốt cho vấn đề nàylà CPH các doanh nghiệp trong ngành chế biến.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 54
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com3.2 Quá trình thực hiện CPHQuá trình thực hiện CPH ở Công ty TPXK Bắc Giang có thể khái quát theo sơ đồsau Sơ đồ 2: Các bước thực hiện cổ phần hoá ở công ty TPXK Bắc Giang Thành lập Ban đổi mới quản lí doanh nghiệp Chuẩn bị cổ Phổ biến tuyên truyền chủ trương chính sách cổ phần hoá phần hoá Chuẩn bị các tài liệu phục vụ cho cổ phần hoá Lập phương án giải quyết chính sách với người lao độngTriển khai cổ Kiểm kê tài sản và xác định công nợphần hoá Xác định giá trị doanh nghiệp giải quyết các tồn đọng tài chính Xác định phương án kinh doanh và lập dự thảo Thẩm định phương án cổ phần hoá, giải quyếtThẩm định vàquyết định các tồn đọng có liên quan Quyết định chuyển DNNN thành CTCP Thông báo và tổ chức bán cổ phiếu Chuẩn bị đại hội đồng cổ đônghttp://luanvan.forumvi.comRa mắt Công email: luanvan84@gmail.com 55 Đại hội đồng cổ đôngty cổ phần Hoàn tất các thủ tục hành chính cho Công ty cổ phần
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comNguồn: Ban quản lí đổi mới doanh nghiệp3.3. Những kết quả đạt được, những vướng mắc và những vấn đề đặt ra khithực hiện CPH3.3.1. Những kết quả đạt được + Ban CPH của Công ty được thành lập để tuyên truyền, phổ biến, giải đápcho người lao động mọi thắc mắt liên quan đến chủ trương chính sách CPH củađảng và Nhà nước. Ban quản lí đổi mới của Công ty được thành lập do Giám đốc Công ty làmtrưởng ban kết hợp với các đoàn thể trong Công ty hướng dẫn, tuyên truyền, phổbiến, giải thích cho người lao động mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhànước và của Công ty về chính sách CPH đặc biệt là các chính sách liên quan đếnlợi ích của người lao động. Sự đồng tình ủng hộ của người lao động trong việc CPH là yếu tố không thểthiếu trong thành công của công tác CPH. Người lao động chỉ thực sự quan tâmđến CPH khi mà CPH mang lại lợi ích cho họ nhiều hơn những gì họ phải từ bỏkhi còn làm việc cho Nhà nước. Vấn đề khó cho ban quản lí đổi mới doanhnghiệp là người lao động trong công ty trình độ nhận thức còn thấp, sự hiểu biếtvề kinh tế thị trường gần như là không có. Tâm lí của người lao động là thích làmviệc cho DNNN, là công chức suốt đời. Người lao động chỉ quen với tư cách làngười làm thuê chứ chưa có ý nghĩ trở thành nhà đầu tư bỏ vốn ra để kiếm lời cónhiều dủi do. Khó khăn như vậy song nhờ lắm bắt được tâm lí của người laođộng cộng với sự cố gắng của ban đổi mới đến nay việc tuyên truyền đạt kết quảtốt. Tất cả cán bộ công nhân viên trong Công ty đều thấy rõ lợi ích CPH mang lạihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 56
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comvà ủng hộ việc CPH của Công ty. Ban quản lí đổi mới của Công ty đã sử dụngbiện pháp nào mà hiệu quả lại cao như vậy. Thứ nhất, ban quản lí doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho toàn bộ cán bộcông nhân viên trong công ty đọc và tham khảo tài liệu có liên quan đến chủtrương CPH đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến người lao động. Thứ hai, lấy các điển hình tiên tiến của các công ty đã CPH thành công làmbằng chứng sống để người lao động thức sự tin tưởng vào lợi ích của CPH. Thứ 3, việc Công ty sẽ chuyển gần như toàn bộ số lao động hiện nay sangCTCP là một động lực lớn cho người lao động. + Công ty đã hoàn thành lập phương án CPHHình thức CPH: Căn cứ vào điều 7 của Nghị định 44/1998/NĐ-CP và đặc điểmcủa công ty. Công ty TPXK Bắc Giang thực hiện CPH theo hình thức bán mộtphần vốn hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phần để thu hút vốn đầutư.Tên công ty:Tên Việt Nam: Công ty cổ phầnthực phẩm xuất khẩu Bắc GiangTên giao dịch quốc tế: BacGiang foodstufe export joint stock companyNgành nghề kinh doanh: - Sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khẩu trực tiếp: Rau quả nông sản, thựcphẩm đồ uống, nguyên vật liệu, vật tư… - Kinh doanh các lĩnh vực khác: Giao nhận kho, bất động sản, dịnh vụkhách sạn nhà hàng, văn phòng cho thuê - Dịch vụ tư vấn phát triển sản xuất chế biến rau quả nông lâm thuỷ sản - Liên doanh liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước để phát triển sảnxuất của công tyVốn điều lệ của CTCP: 5.000.000.000đhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 57
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Giá trị một cổ phần: 100.000đ Tổng số cổ phần: 50.000Tỷ lệ cổ phần của các cổ đông: Cổ phần Nhà nước 51% tức là: 2.550.000.000 Cổ phần của cán bộ công nhân viên trong công ty: 1.950.000.000đ chiếm39% Cổ phần của người sản xuất và cung cấp nguyên liệu cho côngty:500.000.000đ chiếm 10%Giá trị doanh nghiệp để CPH Tại thời điểm ngày 31/12/2003 theo Quyết định số 2337/QĐ-BNN-TCKTcủa Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ngày 16/7/2003 giá trị doanh nghiệpđược xác định là: 22.290.299.610đ trong đó vốn Nhà nước tại doanh nghiệp là:8.944.231.937đCổ phần được mua ưu đãi: Tổng số cán bộ công nhân viên trong công ty: 240 người (có 20 lao độngmới hợp đồng). Tổng số cán bộ công nhân viên được mua ưu đãi 220 người Tổng số năm công tác: 1950 năm Tổng số cổ phần được mua ưu đãi: 1950*10=19.500 cổ phần trong đó laođộng nghèo có 390 năm công tác, được mua cổ phần ưu đãi trả chậm 3900 cổphần chiếm 20 % tổng số cổ phần được mua ưu đãi.Tổng giá trị ưu đãi: Giá trị ưu đãi tối đa (giảm giá): 19500*30.000 = 585.000.000đ Giá trị bán trả chậm: 3900*70.000 = 273.000.000đ Tổng cộng: 858.000.000đ chiếm 17,16% giá trị vốn Nhà nước tại doanhnghiệphttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 58
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Tổng giá trị cổ phần được mua ưu đãi của cán bộ công nhân viên là:19.500*100.000 =1.950.000.000đ chiếm 39% vốn điều lệ của CTCP.Cổ phần được mua ưu đãi của người sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu:Người sản xuất và người cung ứng nguyên vật liệu được mua ưu đãi 5000 cổphiếu Tổng giá trị ưu đãi: 5000*30.000 =150.000.000đ chiếm 3% giá trị Nhà nướctại doanh nghiệp Tổng giá trị cổ phần được mua ưu đãi tại doanh nghiệp 5000*100.000 =500.000.000đ chiếm 10% vốn điều lệ tại công tyKế hoạch sử dụng tiền thu từ bán cổ phần thuộc vốn Nhà nước: Vốn Nhà nước thực tế tại doanh nghiệp: 8.944.231.937đCác khoản phải trừ: - Ưu đãi giảm giá dành cho người lao động trong Công ty: 585.000.000đ - Ưu đãi trả chậm dành cho người lao động nghèo trong Công ty:273.000.000đ - Ưu đãi giảm giá cho người sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu cho côngty: 150.000.000đ - Vốn Nhà nước để lại tại doanh nghiệp: 2.550.000.000 - Chi phí CPH: 230.000.000đ - Chi phí đào tạo lại lao động: 170.000.000đSố tiền phải hoàn trả lại Nhà nước sau khi CPH: 4.986.231.937đThời gian và cơ quan bán cổ phiếu: Thời gian bán cổ phiếu: sau 30 ngày kể từ khi có Quyết định của cơ quan cóthẩm quyền về việc chuyển Công ty TPXK Bắc Giang thành CTCP TPXK BắcGiang Cơ quan bán cổ phiếu: Công ty TPXK Bắc Giang là cơ quan trực tiếp bán cổphiếuhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 59
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Thời gian Đại hội đồng thành lập CTCP lá quý I năm 2005Phương án sản xuất kinh doanh và đầu tư sau CPH: Sau khi CPH kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư của công ty sẽ chialàm 2 bước. Bước 1: Tiếp tục duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh theo hướng củngcố và nâng cao công suất máy móc thiết bị đã được đầu tư để tăng sả lượng sảnxuất ở 2 năm đầu từ 2800 tấn năm 2004 nên 3200 tấn năm 2005 và 4000 tấn năm2006 Bước 2: Mở rộng cơ sở sản xuất, tăng thêm vốn điều lệ và vay thêm vốn đểtiếp tục tăng sản xuất đưa sả lượng lên 5500 tấn vào năm 2007. Đồng thời khivùng Dứa nguyên liệu ở Sơn Động được thu hoạch đáp ứng đủ nguyên liệu chonhu cầu sản xuất thì sẽ sản xuất thêm một số mặt hàng như dứa cô đặc, nước dứaquả …để tiếp tục tăng sả lượng lên cao vào các năm tiếp theo. Bảng 5: Một số chỉ tiêu chủ yếu thực hiện 3 năm đầu sau cổ phần hoá Stt Chỉ tiêu Đơn vị tính 2005 2006 2007 1. Vốn điều lệ Tỷ 5 5 6.5 2. Doanh thu Tỷ 33 40 48 3. Nộp ngân sách Tỷ 2.9 3.5 4.4 4. Lợi nhuận Triệu 400 520 650 5. Số lao động Người 240 275 310 6. Thu nhập bình quân Đồng 750.000 820.000 1.000.000 người lao động/tháng 7. Cổ tức hàng năm % 6.8 10.3 12.4Nguồn: Phương án cổ phần hoá của Công tyhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 60
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com + Công tác duyệt và triển khai phương án CPH đang được tiến hành khẩntrương Trong quy trình CPH gồm 4 bước đến nay Công ty TPXK Bắc Giang đãhoàn thành được 2 bước khó khăn nhất chiếm nhiều thời gian nhất. Hiện nay hồsơ CPH của Công ty đã được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền quyết định đểphê duyệt và quyết định việc chuyển Công ty TPXK Bắc Giang thành CTCPTPXK Bắc Giang. Nếu không có vướng mắc thì quá trình CPH của Công ty sẽhoàn tất vào tháng 9 năm 2004 và Đại hội đồng cổ đông lần đầu tiên của Công tysẽ được tổ chức vào quý I năm 2005. Như vậy chỉ chưa đầy một năm kể từ khicông ty có quyết định CPH công tác CPH đã hoàn tất thời gian không phải làngắn nhưng nếu xét cụ thể của Công ty thì đây cũng là một thành công lớn.3.3.2 Những vấn đề đặt ra trong khi thực hiện CPH + Về cơ chế chính sách Mặc dù Chính phủ, các bộ ngành có liên quan đã ban hành rất nhiều văn bảnnhằm thúc đẩy tiến trình CPH vẫn đang chậm chễ hiện nay. Xung quanh các vănbản đã ban hành còn nhiều vướng mắt gây khó khăn cho doanh nghiệp trongCPH. - Ưu đãi cho người lao động và doanh nghiệp chưa thoả đáng Theo khoản 2 điều 17 Nghị định số 64/2002/NĐ-CP quy định người nghèotrong doanh nghiệp CPH được mua chịu cổ phần ưu đãi được miễn hoàn trảtrong 3 năm đầu và trả dần tối đa trong 7 năm tiếp theo không phải chịu lãi suất.Số vốn cổ phần mua trả dần cho người lao động nghèo không quá 20% tổng sốcổ phần bán theo giá ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp. Việc quyđịnh như vậy làm nẩy nhiều vấn đề khó khăn cho các doanh nghiệp nông nghiệptrong việc CPH.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 61
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Thứ nhất, quy định như vậy là chưa có sự ưu tiên cho các DNNN trong nôngnghiệp, ngành sản xuất chịu nhiều rủi do, lợi nhuận thấp lại có ý nghĩa hết sứcquan trọng trong việc phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nông thôn nóiriêng Thứ hai, chưa có tiêu chí nào quy định như thế nào là nghèo, mỗi doanhnghiệp tuỳ thuộc vào điều kiện của mình mà có chế độ chi trả cho người lao độngkhác nhau. Như vậy việc người lao động được coi là nghèo ở doanh nghiệp nàycó khi lại giầu hơn người lao động được coi là giầu ở doanh nghiệp khác. Ngườigiàu trong các doanh nghiệp nông nghiệp lại không bằng nghèo trong các doanhnghiệp công nghiệp và dịch vụ. Thứ ba, việc quy định mức không chế cổ phần ưu đãi trả chậm dành cho laođộng nghèo không quá 20% trong tổng số cổ phần ưu đãi Nhà nước dành cho cánbộ công nhân viên trong công ty. Làm cho việc xác định ai thuộc diện ngườinghèo trong doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do hầu hết lao động trong doanhnghiệp là người nghèo, thu nhập thấp chỉ đảm bảo cho cuộc sống tối thiểu chưacó tích luỹ làm sao có thể mua nổi cổ phần. Vì vậy, nên chăng trong các doanhnghiệp nông nghiệp chỉ nên CPH theo hình thức thứ nhất tức là giữ nguyên vốnNhà nước tại doanh nghiệp và phát hành thêm cổ phiếu. Một vấn đề nữa hiện nay các doanh nghiệp đã CPH đều công bố mức thunhập của người lao động tăng nên nhưng liệu các chính sách cho người lao độngnhư học hành, nghỉ mát thăm quan du lịch, tiền thưởng có được bằng các DNNNkhông. Nếu như tất cả mọi thứ đều tốt hơn ở các DNNN thì sao quá trình CPHvẫn diễn ra chậm mặc dù CPH đã trở thành mệnh lệnh, chỉ tiêu bắt buộc. Như vậy, là chính sách ưu đãi với người lao động trong các doanh nghiệpCPH là chưa rõ chưa xét đến tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp. Việc bán cổphần ưu đãi cho người lao động chưa phù hợp với thực tế, bởi lẽ người lao độngmuốn mua được cổ phiếu phải bỏ ra một khoản tiền nhất định điều này vượt quáhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 62
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkhả năng tài chính của nhiều người. Việc quy định mức ưu đãi theo kiểu bìnhquân chủ nghĩa như hiện nay là chưa phù hợp, chưa công bằng. Còn chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp CPH thì sao: các văn bản đãban hành rất rõ ràng là không có sự phân biệt đối xử giữa DNNN và CTCPnhưng thực tế thì lại khác các DNNN vẫn được ưu ái hơn. Đơn cử như trong việcvay vốn ngân hàng Thương mại, các Công ty tài chính, các Tổ chức tín dụngkhác. Các văn bản do Chính phủ ban hành đã quy định rất rõ là các CTCP đượcvay vốn theo cơ chế và lãi suất như DNNN. Thực tế liệu các ngân hàng thươngmại hoặc các tổ chức tín dụng có dễ dãi với các CTCP như vậy không, chắc chắnlà không. Nếu như DNNN làm ăn thua lỗ không có khả năng chi trả ngân hàngthì còn có Nhà nước đứng ra trả thay còn nếu các CTCP làm ăn thua lỗ thì ai trảthay? Chính vì vậy mà các CTCP hiện nay đi vay vốn vẫn phải có tài sản thếchấp, không được ưu đãi về lãi suất như các DNNN. Nhà nước phải sớm có biệnpháp giải quyết vấn đề này, phải tạo ra môi trường, sân chơi thực sự bình đẳnggiữa các loại hình doanh nghiệp có như vậy CTCP mới có thể phát huy hết lợithế của mình. Các ưu đãi cho doanh nghiệp như hiện nay chưa thực sự đủ liều đểcác doanh nghiệp tự nguyện chuyển thành CTCP. - Vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp còn nhiều bất cậpMặc dù các văn bản đã ban hành đã quy định rất rõ giá trị doanh nghiệp là giá thịtrường để đảm bảo lợi ích của cả doanh nghiệp và Nhà nước theo đó có rất nhiềucác cách để xác định giá trị doanh nghiệp nhưng thực tế xung quanh vấn đề nàycòn nhiều điểm chưa hợp lí kể cả phía Nhà nước lẫn phía phải doanh nghiệp. Định giá doanh nghiệp vẫn theo chủ quan không theo thị trường: Trong cácvăn bản hướng dân CPH, các phương pháp định giá được đề cập khá nhiều và chitiết. Nhưng có một vấn đề nảy sinh là chưa xác định rõ ai là người định giá chủsở hữu đích thực hay người đại diện, người bán hay người mua? Quá trình địnhgiá mang tính chủ quan hay khách quan. Người mua luôn muốn mua giá thấp vìhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 63
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comvậy việc định giá doanh nghiệp thấp hơn giá thị trường làm thất thoát tài sản choNhà nước. Điều này rất dễ nhận thấy khi đa số các doanh nghiệp CPH không cócổ đông ngoài tham gia. Trị giá cổ phần là 100.000 nhưng khi được niên yết trênthị trường chứng khoán thì giá của nó đã tăng gấp từ 1,5 – 2 lần. Vì vậy cần cónhững biện pháp làm sáng tỏ vấn đề này để làm giảm thất thoát tài sản của Nhànước. Việc xác định giá trị doanh nghiệp CPH gặp nhiều khó khăn liên quan đếnviệc xác định giá trị còn lại của tài sản, xử lí công nợ, xử lí tài sản không phù hợpvới phương hướng sản xuất kinh doanh của CTCP, xử lí hàng hoá khó tiêu thụ… Trong quá trình định giá thường nảy sinh sự khác biệt ý kiến giữa doanhnghiệp với Hội đồng xác định giá trị doanh nghiệp. Đồng thời việc xác địnhnhững tồn động mà CTCP kế thừa cũng gặp nhiều khó khăn. Cơ quan tài chínhmuốn CTCP kế thừa toàn bộ những tồn đọng tài chính chưa giải quyết đượctrong quá trình CPH trong khi CTCP chỉ muốn kế thừa một số vấn đề có chọn lọckhông ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh chẳng hạn như giá trị tài sản xây dựngcơ bản dở dang. Những vướng mắt trên thường dẫn đến hậu quả là kéo dài thờigian xác định giá trị doanh nghiệp cũng như quá trình CPH doanh nghiệp. Theo quy định của Nghị định 64/2002/NĐ-CP, giá trị doanh nghiệp là giátrị thực tế theo thị trường tức là bao gồm cả yếu tố vô hình như uy tín, lợi thế,thương hiệu..của doanh nghiệp. Nhưng các yếu tố này rất khó mà có thể định giáchính xác được nên tình trạng không thống nhất về quan điểm của doanh nghiệpvà cơ quan định giá thường xuyên xẩy ra. Việc quy định có nhiều cơ quan có chức năng định giá doanh nghiệp cũnglà dào cản trong việc đẩy nhanh tiến độ CPH. Nên chăng Nhà nước chỉ cho côngty kiểm toán là cơ quan duy nhất có chức năng định giá. Như vậy việc xác địnhgiá trị doanh nghiệp sẽ khách quan hơn, nhanh chóng hơn. - Còn có sự phân biệt giữa doanh nghiệp nhà nước và CTCPhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 64
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Bảng 6: So sánh lợi thế và bất lợi thế giữa DNNN và doanh nghiệp CPHTiêu chí so sánh Doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp cổ phần hoá Vốn - Vốn do Nhà nước cấp, lãi - Người lao động phải bỏ DNNN được chia, lỗ Nhà tiền ra góp vốn và tự chịu nước chịu, được Nhà nước rủi ro, tự bảo hiểm bảo hiểm rủi ro - DNNN chưa cổ phần hoá - Khi có quyết định cổ phần được tiếp tục cấp bổ sung vốn hoá Nhà nước ngừng cấp từ ngân sách hoặc vay ưu đãi vốn nhất là vốn lưu động - Tiền thu từ bán cổ phiếu của - Tiền thu từ bán cổ phiếu doanh nghiệp CPH được đầu phải nộp vào tài khoản tập tư cho DNNN trungVay ngân hàng - Không phải thế chấp tài sản -Phải thế chấp tài sảnthương mại NhànướcChế độ kế toán - Công khai tài chính có mức - Hoàn toàn phải công khai độCán bộ quản lí - Được Nhà nước bổ nhiệm - Phải thông qua Đại hộidoanh nghiệp thành viên chức Nhà nước đồng cổ đông bầu cử có hạn không hạn định về thời gian định theo nhiệm kìNgười lao động - Được đảm bảo việc làm, khó - Không yên tâm làm việc, cho thôi việc dễ cho thôi việc, khi doanh nghiệp bị phá sản không chỉ mất việc làm mà còn mất cả vốnBiên pháp xử lí - DNNN được khoanh nợ, Bị xiết nợ, áp dụng Luật phánợ giãn nợ, xoá nợ, sát nhập, hợp sản nhất, ít khi bị áp dụng Luậthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 65
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com phá sảnMục đích hoạt - Mục đích kinh doanh vừa Mục đích kinh doanh rõđộng kinh doanh, mang tính chất kinh tế vừa ràng nhằm tối đa hoá lơiđộng lực phát mang tính chất xã hội nên khó nhuậntriển thống nhất. - Có sự khác biệt lợi ích giữa Lợi ích cá nhân thống nhất chủ sở hữu, người quản lí, với lợi ích doanh nghiệp trở điều hành và người lao động, thành động lực mạnh mẽ nên động lực kinh doanh thúc đẩy hoạt độnh kinh không rõ và khó thống nhất. doanh - Thiếu động lực phát triển do - Động lực phát triển: sức ép ít bị thúc ép bởi nguy cơ phá cạnh tranh, nguy cơ phá sản sản và vẫn còn sự ưu ái của buộc phải giảm giá thành Nhà nước đổi mới công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm.Quan hệ tổ chức - Bộ máy quản lí doanh - Bộ máy đơn giản, gọn nhẹ,và quản lí doanh nghiệp cồng kềnh vì phải có dễ thích ứng với cơ chế thịnghiệp bộ phận giám sát tài sản công trường. nếu không sẽ bị thất thoát. - Quản lí thông qua người đại - Chủ sở hữu quản lí trực diện, có thời hạn, nên rễ nảy tiếp hoặc thuê người khác sinh tâm lí không yên tâm, quản lí. Chủ doanh nghiệp không theo đuổi mục tiêu phát có thể làm quản lí suốt đời, triển dài hạn của doanh nên họ yên tâm gắn bó với nghiệp nghề quản lí.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 66
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comQuan hệ kinh - Là đối tác chính trong hợp - Hạn chế tiếp xúc, hợp tácdoanh tác đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp nước ngoài - Cơ chế quản lí nhà nước chủ - Thường làm vệ tinh cho động chọn DNNN để kí hợp các doanh nghiệp lớn. đồng, tạo ưu thế cho DNNN - Được cung cấp thông tin, tư - Thiếu thông tin, không vấn định hướng đầu tư, tổ được tư vấn, định hướng chức quản lí đầu tư, tổ chức quản lí - Ngân hàng cho vay với lãi - Vay ngân hàng với lãi suất suất ưu đãi hơn Thương mại - Thuế nộp theo luật thếu nên - Thuế khoán nên ít hơn và phải nộp nghiêm chỉnh hơn dễ chốn thuế hơn + Vướng mắc từ phía doanh nghiệp - Nhận thức chưa đúng về chủ trương CPH DNNN của đội ngũ lãnh đạo vàcán bộ trong công ty Công ty TPXK Bắc Giang nằm trong danh sách các DNNN phải CPH củaBộ nông nghiệp và phát triển nông thôn từ năm 2000 nhưng phải đến tận đầunăm 2004 thì quá trình CPH mới triển khai được. Có nhiều nguyên nhân làmchậm quá trình triển khai việc CPH trong đó không thể không kể đến sự nhậnthức chưa đúng, đầy đủ ý nghĩa của CPH của một bộ phận cán bộ tạo Công tyTPXK Bắc Giang. Tâm lí của phần lớn các cấn bộ lãnh đạo doanh nghiệp là thíchlàm việc cho DNNN, thích suốt đời làm công chức. Họ sợ khi chuyển thànhCTCP thì quyền lợi cả về vật chất và tinh thần sẽ không còn được như trước.Điều này cũng rễ hiểu khi còn làm cho DNNN thì cán bộ lãnh đạo có quyền lựcrất lớn. Họ là người quyết định gần như toàn mọi vấn đề của công ty. Còn khilàm việc cho CTCP họ chỉ là người làm thuê.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 67
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Quyền lợi lớn trong khi trách nhiệm đối với Công ty và với Nhà nước lại rấtít cộng thêm với làm việc cho DNNN thì còn ỷ lại trông chờ vào người khácđược. Tất cả những yếu tố này đủ để giải thích tại sao cán bộ trong Công tykhông hào hứng lắm trong việc CPH Công ty. Việc đội ngũ cán bộ lãnh đạo chưamuốn CPH chắc chắn sẽ làm chậm việc CPH khi họ chính là đầu tầu là cầu nốitrong việc tuyên truyền chủ trương chính sách CPH của Đảng và Nhà nước đếnngười lao động. Những người vốn quen với nếp sống dựa vào cơ chế bao cấp,không muốn xáo trộn công ăn việc làm. - Tiềm lực của công ty còn yếu Quá trình CPH diễn ra nhanh hay chậm một phần cũng phụ thuộc vào khảnăng phát triển của công ty trong tương lai. Căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tưquyết định bỏ vốn vào một CTCP chính là khả năng sinh lời của vốn đầu tư trongtương lai. Một nhà đâu tư sẵn sàng trả giá cao để mua cổ phần của một công tycó triển vọng hơn là mua cổ phần với giá thấp ở một công ty mà tương lai chưa aidám chắc. Mà khả năng sinh lời trong tương lai lại phụ thuộc vào tiềm lực hiệntại của công ty, kết quả kinh doanh trong những năm gần đây. Tiềm lực về vốn,thiết bị công nghệ, thị trường đầu ra, đầu vào, lao động của Công ty thực phẩmBắc Giang hiện nay còn yếu và chứa đựng nhiều nhân tố không ổn định thêm vàođó là kinh doanh trong nông nghiệp thường lắm rủi ro. Tình hình sản xuất kinhdoanh của công ty trong những năm gần đây tuy có bước chuyển biến làm ăn bắtđầu có lãi song nhìn chung doanh thu và lợi nhuận còn rất nhỏ. Nếu hoạch cảthuế sử dụng vốn, thuế đất và các nghĩa vụ khác với Nhà nước thì chưa chắc đãcó lãi thực sự. Những nhân tố này chưa thể làm yên tâm các nhà đầu tư trongviệc bỏ vốn ra mua cổ phần của Công ty. Khả năng bán cổ phiếu chậm đồngnghĩa với không thể đẩy nhanh việc CPH lên được. - Nhiều cán bộ công nhân viên không có khả năng mua cổ phiếuhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 68
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Mục tiêu chính của CPH là huy động vốn của toàn xã hội để phát triển sảnxuất kinh doanh trong đó đặc biệt là huy động nguồn vốn của cán bộ công nhânviên trong công ty. Việc huy động vốn của cán bộ công nhân trong công ty nhằmmục đích: đưa người lao động lên làm chủ, tăng mức thu nhập cho người laođộng vì ngoài tiền lương còn có cổ tức, thể hiện sự ưu đãi cho người lao động.Nhưng hiện tại việc huy động vốn của cán bộ công nhân viên trong Công ty thựcphẩm xuất khẩu Bắc Giang gặp nhiều khó khăn. Do mức thu nhập hiện tại củacủa người lao động trong công ty còn thấp bình quân 550.000-600.000đ/tháng.Mức thu nhập này chỉ đủ trang trải cho cuộc sống tối thiểu của bản thân ngườilao động. Như vậy người lao động là sao có tích luỹ, có tiền để mua cổ phần khiNhà nước đòi hỏi người lao động muốn mua cổ phiếu thì cũng phải bỏ ra mộtkhoản tiền. Như vậy nếu người lao động không mua được cổ phiếu thì mục tiêucổ phần không đạt được. Nếu như người lao động không có cổ phần trong côngty thì một điều chắc chắn là họ không muốn CPH họ muốn là cho DNNN vì cónhiều chế độ hơn. - Số lao động dư thừa chưa có phương án giải quyết hợp lí Một trong các vấn đề khó cho Công ty khi thực hiện CPH là phương án sắpxếp và giải quyết việc làm cho lao động hiện có tại Công ty. Muốn CPH nhanhthì phải có tác động tích cực đến người lao động tức là ngoài những lợi ích dochính sách cổ phần mang lại họ cũng cần phải có một vị trí chính thức trongCTCP. Nhưng chuyển sang CTCP là thoát khỏi sự bao cấp của Nhà nước là phảilàm ăn theo cơ chế thị trường lời ăn lỗ chịu. Vì vậy không thể tồn tại trong Côngty những phần tử “ăn không ngồi rồi” trong bộ máy quản lí của doanh nghiệp.Chuyển sang CTCP là phải triệt để tinh giảm bộ máy quản lí, chỉ giữ lại nhữngngười có đủ năng lực, những bộ phận cần thiết. Việc sắp xếp việc làm cho ngườiở lại đó khó khăn nhưng giải quyết số lao động dôi dư còn khó hơn nhiều. Số laođộng dôi dư của công ty khi chuyển thành CTCP là cán bộ phòng ban có thâmhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 69
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comniên công tác và có địa vị trong Công ty nên việc xử lí gặp rất nhiều khó khăn khihọ chưa đủ tuổi về hưu, năng lực trình độ có hạn gây khó khăn cho tìm công việcmới, chuyển sang lĩnh vực khác thì không khả khi do họ không còn trẻ nên ngạihọc hành. Nếu không có phương án xử lí mền dẻo thì thật khó khăn cho việcCPH khi những người này có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả CPH của côngty. CHƯƠNG IIIMỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CPH Ở CÔNG TY TPXK BẮC GIANGI. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU CPH CỦA CÔNG TY1. Quan điểm của công ty + CPH ở Công ty TPXK Bắc Giang được dựa trên chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về sắp xếp và đổi mới hoạt động của các DNNN + CPH là con đường tất yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăngsức cạnh tranh của Công ty trên thị trường + CPH ở Công ty là chuyển từ sở hữu của Nhà nước (đơn sở hữu) sang sởhữu tập thể (đa sở hữu). CPH ở Công ty không phải là tư nhân hoá + Lấy hiệu quả kinh tế xã hội là thước đo cho hiệu quả của công tác CPH.Bên cạnh các mục tiêu giảm gánh nặng cho ngân sách, tăng lợi nhuận, tăng thunhập cho người lao động còn có các mục tiêu khác như nâng cao hiệu quả kinh tếNhà nước, tạo ngày càng nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong nôngnghiệp nông thôn, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệpnông thôn.2. Phương hướng và mục tiêu CPH của công tyhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 70
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com2.1. Phương hướng CPH của công ty + Nhiệm vụ trước mắt là nhanh chóng hoàn thiện công tác CPH + Giải quyết các vấn đề nảy sinh hậu CPH + Tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông vào quý I năm 2005 + Tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh theo phương án của CTCPhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 71
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com2.2. Mục tiêu CPH ở công ty Đại hội Đảng lần thứ VII đã xác định “triển khai tích cực vững chắc việcCPH DNNN để huy động vốn, tạo thêm động lực để thúc đẩy DNNN làm ăn cóhiệu quả làm cho tài sản Nhà nước ngày càng tăng thêm, là sự kết hợp giữa kinhtế Nhà nước và kinh tế của nhân dân để phát triển đất nước chứ không phải là tưnhân hoá. Bên cạnh những DNNN 100% vốn sẽ có nhiều DNNN nắm đa số haycổ phần chi phối, gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho người lao động tạidoanh nghiệp và cho các tổ chức cá nhân ngoài doanh nghiệp tuỳ từng trườnghợp cụ thể. Vốn huy động phải dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.Mục tiêu CPH của Công ty thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang + Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm các cá nhân, các tổ chức kinh tế,tổ chức xã hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việclàm, phát triển doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh. + Tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và đã gópvốn được làm chủ thực sự, thay đổi phương thức quản lý có hiệu quả, tăng tài sảnNhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh tếđất nước. + Phát triển doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của hội nhập của khu vực vàthế giới, tiến tới trở thành đơn vị kinh tế mạnh kinh doanh trong lĩnh vực chếbiến tiêu thụ nông sản phẩm thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệpnông thônII. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY CỔ PHẦN HOÁ Ở CÔNGTY THỰC PHẨM XUẤT KHẨU BẮC GIANG1. Nâng cao nhận thức tư tưởng cho cán bộ công nhân viên trongcông ty về chủ trương chính sách CPHhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 72
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com CPH là một yếu tố khách quan nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả của khuvực kinh tế Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. CPH tạo sức mạnh cho kinh tếNhà nước trong việc hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới. Tuy vậy cho đếnnay vẫn phải thừa nhận việc nhận thức rõ và đầy đủ CPH và loại hình CTCP vẫncòn là vấn đề mới mẻ. Chính vì vậy mặc dù đã trải qua hơn 10 năm thực hiệnviệc chuyển DNNN thành CTCP, trải qua giai đoạn triển khai và mở rộng CPHnhưng cho đến nay có thể nhận định chủ trương CPH vẫn chưa được nhận thứcthông suốt từ Trung ương đến các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Trongcác doanh nghiệp luôn xảy ra tình trạng ngại chuyển sang hình thức CTCP củacán bộ công nhân viên đang làm việc tại công ty. Bởi vì việc duy trì DNNNmang lại cho người đang làm việc tại đó quá nhiều quyền lợi, suốt đời là hợpđồng hoặc biên chế; sự ổn định và cách thức quản lí có tính tình cảm của mọi cấpđiều hành và rất nhiều quyền lợi khác không thể có hình thức tự chịu trách nhiệmkinh doanh như tại CTCP. Khi bản thân những người trong cuộc không muốn thìdù có đưa ra nhiều biện pháp thúc đẩy, nhiều hứa hẹn ưu đãi thì sự chậm trễ vẫncứ xảy ra. Thực tế diễn ra đúng như vậy. Hiện nay còn rất nhiều ý kiến trái ngượcnhau trong việc CPH DNNN. Đây là những nguyên nhân chính dẫn đến tìnhtrạng các doanh nghiệp không muốn CPH hoặc chần chừ trong việc CPH. Vì vậyđể đẩy nhanh tiến trình CPH nói chung và ở Công ty TPXK Bắc Giang nói riênglà phải nâng cao nhận thức về chủ trương CPH DNNN cho toàn thể cán bộ lãnhđạo và công nhân trong doanh nghiệp. Để thực hiện tốt công tác này bên cạnhviệc Nhà nước phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục và giải thích thì Ban quảnlí đổi mới tại doanh nghiệp cũng cần có nhiều biện pháp tuyên truyền sáng tạo rễhiểu cho người lao động. Việc tuyên truyền phải biết tập trung vào tâm lí củangười lao động mà người lao động rất quan tâm đến quyền và nghĩa vụ của họ ởCTCP, vấn đề mua bán và chuyển nhượng cổ phần. Phải có phương thức truyềnđạt rễ nhớ rễ hiểu có thể trước khi CPH các doanh nghiệp nên mở một cuộc thihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 73
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtìm hiểu về chủ trương chính sách của đảng và Nhà nước về CPH DNNN trongtoàn thể cán bộ công nhân viên. Qua quá trình nghiên cứu CPH DNNN và CPH ởCông ty TPXK Bắc Giang thì việc tuyên truyền nên nhằm vào một số luận điểmsau: + Vị trí và vai trò của kinh tế Nhà nước + Thực trạng kinh tế Nhà nước hiện nay + Những vấn đề liên quan đến CTCP và những ưu điểm của CTCP so vớicác loại hình công ty khác + Quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong CTCP Nếu có điều kiện doanh nghiệp nên mời các chuyên gia có uy tín và kinhnghiệm trong lĩnh vực CPH đến giảng dạy cho cán bộ công nhân viên giải đápmọi thắc mắc. Giải quyết tốt công tác tư tưởng hiện nay là rất cần thiết để khắcphục tình trạng chậm trễ trong việc CPH hiện nay. Bên cạnh việc tuyên truyêncũng cần có nhiều chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp và người lao động trongCPH bằng hình thức vật chất chứ chỉ nói thì chưa đủ.2. Lành mạnh hoá vấn đề tài chính trước khi thực hiện CPH Thực chất của CPH là chuyển đổi một phần tài sản Nhà nước hiện có tạidoanh nghiệp cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và các cá nhân, tổchức kinh tế, tổ chức xã hội ngoài doanh nghiệp nhằm huy động vốn của toàn xãhội cho phát triển kinh tế. Một trong các vấn đề khó và chiếm rất nhiều thời giantrong quá trình CPH là công tác xác định giá trị các tài sản Nhà nước đem bán.Công việc này không rễ ràng vì các DNNN hiện nay chưa tuân thủ hoàn toàntheo các quy định của Nhà nước về chế độ hoạch toán kế toán vì vậy việc xácđịnh giá trị doanh nghiệp căn cứ vào sổ sách kế toán xem ra rất khó khăn trongkhi các căn cứ khác phần nhiều mang tính chủ quan. Chính vì vậy cần phải cóhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 74
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comgiải pháp tháo gỡ những khó khăn về tài chính cho doanh nghiệp trước khi thựchiện CPH.2.1. Công khai hoá những vấn đề tài chính Công khai hoá tài chính tức là thông báo cho các nhà đầu tư những thông tinquan trọng về tình hình tài chính để các nhà đầu tư quan tâm xem xét đánh giá vàđưa ra quyết định liệu có nên đầu tư vào doanh nghiệp, liệu đầu tư vào doanhnghiệp có lợi hơn các cơ hội đầu tư khác không. Việc công khai thông tin tàichính của công ty cũng đảm bảo tính công bằng trong mua bán cổ phần, bảo vệnhà đầu tư và hình thành giá cổ phiếu. Hiện nay đa số các doanh nghiệp cũngnhư tại Công ty TPXK Bắc Giang chưa thực hiện việc công khai hoá thông tin tàichính hoặc có công khai nhưng còn hạn chế dẫn đến thường xuyên xác định giátrị doanh nghiệp thấp hơn giá thực tế là trở ngại lớn cho việc huy động vốn củacác nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp và làm thất thoát tài sản của Nhà nước. Vềmặt tài chính, công khai hoá thông tin tài chính bao gồm thông tin về cơ cấu vốn,cơ cấu tài sản, hiệu quả kinh doanh, kết quả thu nhập và phân phối thu nhập, dựđoán xu thế vận động của các chi tiêu trong tương lai. Để thực hiện điều này vềphía Nhà nước phải đưa ra các quy định bắt buộc các doanh nghiệp phải côngkhai tài chính gồm nội dung công khai, hình thức công khai, thời gian công khaivà các chế tài xử lí nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp vi phạm; về phíadoanh nghiệp phải tuyết đối tuân thủ các quy định của Nhà nước, số liệu côngkhai phải được cơ quan kiểm toán công nhận. Các doanh nghiệp phải nhận thấycông khai hoá tài chính doanh nghiệp là tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệpkhi thực hiện CPH. Bên cạnh đó nên hình thành tạp chí về CPH thuộc Bộ Tàichính. Tạp chí là nơi phản ánh đầy đủ nhất về hoạt động các doanh nghiệp trongviệc chuẩn bị cho quá trình CPH cũng như những thông tin chi tiết về tình hìnhtài chính của doanh nghiệp, là diễn đàn trao đổi kinh doanh và quảng bá kiếnthức CPH tới mọi đối tượng quan tâm.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 75
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com2.2. Cơ cấu lại nợ của doanh nghiệp Công nợ của các DNNN hiện nay rất lớn làm cản trở tiến trình CPH, số nợcủa các DNNN hiện nay không ngừng tăng lên. Ước tính các DNNN hiện nay nợkhoảng gần 80 nghìn tỷ đồng chưa kể nợ các ngân hàng Thương mại, riêng Côngty TPXK Bắc Giang số dư nợ lên tới hơn 20 tỷ đồng. Nếu công nợ không đượcgiải quyết được thì không một nhà đầu tư nào lại muốn “ thừa kế” các khoản nợcủa doanh nghiệp. Còn nếu dùng giải pháp trừ vào giá trị DNNN thì sẽ làm thiệthại cho Nhà nước vì trong cơ cấu nợ đó có có nợ do nguyên nhân chủ quan và nợdo nguyên nhân khách quan. Như vậy là cần phải phân loại các khoản nợ củadoanh nghiệp để có các biện pháp xử lí.2.2.1. Đối với các khoản nợ phải thu khó đòi: Do nguyên nhân khách quan: doanh nghiệp phải có đầy đủ giấy từ chứngminh rằng số nợ đó không còn khả năng thu hồi do con nợ đã bị giải thể, bị phásản, con nợ đã bỏ chốn…đối với các khoản nợ này doanh nghiệp được phép dùngquỹ dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi để bù đắp, nếu không đủ thì dùnglợi nhuận trước thuế để bù đắp hoặc giảm giá trị doanh nghiệp trước khi CPH.Các doanh nghiệp sau khi CPH vẫn có trách nhiệm theo dõi và thu hồi các khoảnnợ này nộp về quỹ hỗ trợ CPH DNNN. Đối với các khoản nợ do nguyên nhân chủ quan: doanh nghiệp phải xácđịnh được trách nhiệm bồi thường thuộc về cá nhân, tổ chức nào, mức độ bồithường là bao nhiêu. Nếu như phần bồi thường của cá nhân tổ chức không đủ thìsố còn lại được xử lí như nợ khó đòi do nguyên nhân khách quan.2.2.2. Nợ ngân sách Nhà nước Doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số nợ đọng ngân sáchNhà nước trước khi tiến hành CPHhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 76
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Nếu DNNN hoạt động có hiệu quả nhưng khó khăn trong vấn đề tài chính dođầu tư quá lớn vào tài sản cố định thì doanh nghiệp có trách nhiệm lập phương ántrả nợ, phải huy động hết các nguồn vốn hiện có (qũy đầu tư phát triển, nguồnvốn khấu hao, thu hồi công nợ…) để bù đắp các khoản chiếm dụng của ngânsách Nhà nước. Trong trường hợp nếu đã huy động hết mà vẫn không đủ đểthanh toán hết nợ thì phải báo cáo nên cấp trên có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh làm ăn thua lỗ không còn khả năngthanh toán nợ thì phải báo cho cơ quan có thẩm quyền xem xét cho giãn nợ, xoá nợ.2.2.3. Đối với các khoản nợ ngân hàng thương mại Doanh nghiệp có thể thoả thuận với các ngân hàng thương mại để được giãnnợ, khoanh nợ, giảm lãi suất hoặc chuyển số nợ thành cổ phần của công ty.2.3. Tiến hành thị trường hoá các khoản nợ Chúng ta đang trong tình trạng công nợ “lòng vòng” vì công cụ thươngphiếu và hoạt động chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu chưa phát triển. Vìvậy phải tiến hành pháp chế hoá chi tiết và hướng dẫn cho các doanh nghiệp sửdụng các công cụ thương phiếu để họ thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chínhvà lành mạnh về tài chính khi CTCP đi vào hoạt động. Bên cạnh đó việc hìnhthành các công ty mua bán nợ là giải pháp quan trọng để xử lí triệt để các khoảncông nợ. Thực tế CPH ở Công ty TPXK Bắc Giang cho thấy việc thu và trả nợgặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy khi có công ty mua bán nợ đứng ra làm trung gianmua lại những khoản nợ phải thu còn dây dưa của doanh nghiệp rồi tìm cách thuxếp thanh toán với các con nợ (là doanh nghiệp có nợ phải trả). Việc làm như vậyvừa có lợi cho doanh nghiệp vừa có lợi cho công ty mua bán nợ bởi vì doanhnghiệp sẽ không phải mất thời gian đi thu các khoản nợ tập trung vào giải quyếtcác vấn đề khác còn các công ty mua bán nợ sẽ có khoản thu nhập từ phần trămsố nợ thu hồi được của các doanh nghiệp bán nợ.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 77
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com3. Xác định đúng giá trị doanh nghiệp khi CPH Xác định giá trị doanh nghiệp hiện nay là khâu khó khăn và chiếm nhiềuthời gian nhất trong thực hiện CPH. Thực tế cho thấy thời gian xác định giá trịdoanh nghiệp ở Công ty TPXK Bắc Giang chiếm hơn nửa trong toàn bộ quá trìnhCPH. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao để xác định đúng giá trị doanh nghiệptrong thời gian ngắn nhất để đảm bảo lợi ích cho cả Nhà nước (người bán) và cácnhà đầu tư (người mua). Việc xác định đúng giá trị doanh nghiệp đồng nghĩa vớiviệc xác định đúng giá trị cổ phần tức là mở đường cho sự hoạt động của thịtrường chứng khoán. Theo điều 15,16,17 của Nghị định số 64/2002/NĐ-CP banhành ngày 19/6/2002 “về chuyển DNNN thành CTCP” quy định “giá trị thực tếcủa doanh nghiệp là toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm CPHcó tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà người mua và người bán đềuchấp nhận được. Giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp là giá trịthực tế doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các khoản nợ phải trả và số dư Quỹ khenthưởng, Quỹ phúc lợi”. Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp: + Số liệu trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm CPH + Số lượng và chất lượng tài sản theo kiểm kê phân loại tài sản thực tế củadoanh nghiệp tại thời điểm CPH + Tính năng kĩ thuật của tài sản, nhu cầu sử dụng và giá cả thị trường tạithời điểm thực hiện CPH + Giá trị quyền sử dụng đất, lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp về vị tríđịa lí, uy tín của doanh nghiệp, tính chất độc quyền về sản phẩm, về mẫu mã,thương hiệu nếu có. + Khả năng sinh lời của doanh nghiệp xác định trên cơ sở tỷ suất lợi nhuậntrên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 78
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Việc xác định tài sản căn cứ vào khả năng đảm bảo an toàn trong vận hànhvà sử dụng tài sản; đảm bảo chất lượng sản phẩm và môi trường. Giá trị quyền sửdụng đất vẫn áp dụng chính sách thuê đất và giao đất theo quy định hiện hành.Giá trị lợi thế kinh doanh được xác định trên cơ sở tỷ suất lợi nhuận sau thuế thunhập của doanh nghiệp trên vốn Nhà nước tại doanh nghiệp bình quân ba nămliền kề trước khi cổ phần hóa so với lãi suất của vốn Nhà nước tại doanh nghiệptại thời điểm định giá. Nếu doanh nghiệp có giá trị thương hiệu được thị trườngchấp nhận thì xác định căn cứ vào thị trường. Theo những quy định trên đối chiếu vào trong quá trình CPH của doanhnghiệp làm nảy sinh các vấn đề sau: - Thứ nhất, giá trị doanh nghiệp bao gồm cả các yếu tố vô hình như uy tín,thương hiệu, vị trí địa lí…đây là nhưng yếu tố rất khó xác định giá trị. Hơn thếviệc quy định tất cả những lợi thế kinh doanh đều tính vào giá trị doanh nghiệp làchưa phù hợp gây thiệt thòi cho những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Nênchăng nếu được thì chỉ nên tính giá trị lợi thế kinh doanh mang yếu tố kháchquan vào giá trị doanh nghiệp như vị trí địa lí, độc quyền…còn các yếu tố lợi thếmang yếu tố chủ quan do doanh nghiệp xây dựng lên như do trình độ quản lí giỏi,khả năng và ý thức của người lao động cao, dịch vụ và phong cách hoạt tốt nêncó khách hàng truyền thống làm tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp … thìkhông tính vào giá trị doanh nghiệp. - Thứ hai, các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp khó mà áp dụng đượckhi các tài sản của các doanh nghiệp nông nghiệp hiện nay đã rất lạc hậu khôngcòn lưu thông trên thị trường nên không có căn cứ để xác định. Bên cạnh đó việcquy định tất cả các tài sản của doanh nghiệp hiện có vào thời điểm CPH là chưaphù hợp nên chăng chỉ tính vào giá trị doanh nghiệp những tài sản phù hợp vớiphương án sản xuất kinh doanh của CTCP còn các tài sản không phù hợp vớihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 79
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comphương án sản xuất kinh doanh thì thanh lí hoặc điều chuyển cho các doanhnghiệp khác - Thứ ba, người định giá doanh nghiệp không xác định được là người muahay người bán nên thường xuyên nảy sinh việc xác định giá trị doanh nghiệp thấphơn giá trị thực tế vì tâm lí cho rằng tài sản đem bán là tài sản Nhà nước nênđánh giá thấp một ít cũng không sao. Từ thực tế trên cho thấy việc xác định đúng giá trị doanh nghiệp là không hềđơn giản. Vì vậy trong thời gian tới muốn đẩy nhanh tốc độ CPH thì cũng cầnxây dựng nhiều phương pháp định giá doanh nghiệp làm cho công tác định giádoanh nghiệp linh hoạt hơn và khách quan hơn phù hợp với đặc điểm của từngdoanh nghiệp. Việc có ít phương pháp định giá tuy tạo nên sự thống nhất caonhưng khó áp dụng cho nhiều doanh nghiệp nếu có sai sót thì công việc kiểm tracũng khó. Khi có nhiều phương pháp các doanh nghiệp có thể lấy một phươngpháp phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp mình nhất để xác định giá trị doanhnghiệp, đồng thời sử dụng thêm một số phương pháp khác để kiểm tra xem việcđịnh giá như vậy đã phù hợp chưa, mức chênh lệch có nhiều không. Tiến tới sửdụng phương pháp đấu thầu vì phần lớn các doanh nghiệp CPH hiện nay chưa đủtiêu chuẩn để niêm yết trên thị trường chứng khoán trong khi đó chương trìnhCPH trong thời gian tới sẽ được tiến hành khẩn trương hơn sẽ có sự tham gia củanhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cơ chế định giá phức tạp như hiện nay sẽ gâytốn chi phí và mất nhiều thời gian. Vì vậy việc áp dụng phương pháp đấu thầu đểđịnh giá doanh nghiệp sẽ thúc đẩy quá trình CPH do cơ chế định giá khách quanhơn, chính xác hơn và đơn giản hơn.4. Giải quyết tốt lợi ích cho người lao động Người lao động trong doanh nghiệp là người phải chịu tác động trực tiếpnhất từ chính sách CPH. Họ cũng là lực lượng quyết định việc CPH diễn ranhanh hay chậm. Thực tế đã chứng minh muốn CPH nhanh thì phải giải quyết tốthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 80
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcác vấn đề liên quan đến lợi ích của doanh nghiệp. Lợi ích của người lao độngkhi thực hiện CPH thể hiện chủ yếu ở những mặt sau: quyền được mua cổ phiếuưu đãi, quyền được mua cổ phần ưu đãi trả chậm với lao động nghèo trong doanhnghiệp, quyền được hưởng từ quỹ phúc lợi, vấn đề mua bán chuyển nhượng cổphiếu. Được mua cổ phần ưu đãi là nhu cầu chính đáng của người lao động docống hiến đóng góp của họ trong những năm trước đó và thể hiện sự ưu việt chếđộ của ta. Sự ưu đãi này đã được quy định rất rõ trong Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ban hành ngày 19/6/2002 “người lao động có tên trong danh sách thườngxuyên của doanh nghiệp CPH tại thời điểm quyết định CPH được Nhà nước bántối đa 10 cổ phần cho mỗi năm đã làm việc thực tế tại khu vực Nhà nước với giágiảm 30% so với mệnh giá ban đầu. Trị giá một cổ phần là 100.000 nghìn đồng”.Làm một phép tính đơn giản cũng thấy được quy định như vậy là gây khó khăncho người lao động để mua được hết cổ phần ưu đãi mà Nhà nước dành chongười lao động trong doanh nghiệp. Cứ một năm công tác một người lao độngphải bỏ ra số tiền là: 10*70.000 =700.000đ giả sử một người lao động có thâmniên làm việc trong khu vực kinh tế Nhà nước trong 20 năm thì số tiền phải bỏ rađể mua hết số cổ phần ưu đãi là: 700.000*20 = 14.000.000đ. Việc bỏ ra số tiền14 triệu đồng cùng một lúc để mua cổ phần ưu đãi là quá khó cho người lao độngtrong khi mức thu nhập chỉ 550.000-600.000đ/tháng. Như vậy là đánh đố ngườilao động có ưu đãi mà thực sự trả ưu đãi tí nào. Một điều không hợp lí nữa là sốcổ phần mua ưu đãi trả dần dành cho người lao động nghèo không quá 20% tổngsố cổ phần Nhà nước bán theo giá ưu đãi dành cho người lao động trong doanhnghiệp. Điều này thật khó cho Ban quản lí đổi mới doanh nghiệp ở các doanhnghiệp nông nghiệp khi lên danh sách những người nghèo vì khó có thể nhặt ratrong số toàn thể cán bộ công nhân viên ra số lao động nghèo hơn để được muaưu đãi 20% số cổ phần ưu đãi trả chậm. Nếu được thì Nhà nước cần có chínhsách riêng cho các doanh nghiệp nông nghiệp, Nhà nước đưa ra quy định như thếhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 81
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnào là nghèo sau đó các doanh nghiệp theo đó mà xem ai thuộc diện nghèo thìcũng được mua cổ phần ưu đãi trả chậm không hạn chế số cổ phần loại này. Mua bán cổ phần là nhu cầu chính đáng của các cổ đông song cũng cần phảilưu ý vấn đề này tránh tình trạng số cổ phần tập trung quá lớn vào một ngườihoặc một nhóm người dẫn đến thay đổi bản chất của CTCP. CTCP phải theo dõikiểm tra việc mua bán cổ phần khuyến khích những người có nhu cầu bán cổphần bán cho những cổ đông trong Công ty. Xung quanh vấn đề ưu đãi dành cho người lao động còn nhiều vấn đề đángbàn và cần có giải pháp tháo gỡ để người lao động yên tâm khi chuyển sang làmviệc cho CTCP. Trước mắt Nhà nước cùng doanh nghiệp tập trung giải quyếtmột số vấn đề sau: Nhà nước nên có quy định riêng mức ưu đãi dành cho lao động trong nôngnghiệp. Chúng ta luôn xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, là lĩnh vực cầnưu tiên phát triển vậy tại sao trong vấn đề này chúng ta lại không thể có nhữngchính sách ưu ái hơn cho các doanh nghiệp nông nghiệp. Việc ưu tiên hơn chocác doanh nghiệp nông nghiệp là tạo điều kiện cho các DNNN trong nông nghiệpsang CTCP tức là chuyển sang loại hình doanh nghiệp làm ăn có hiêu quả hơnđiều đó tác động tích cực đến nông nghiệp nông thôn góp phần vào phát triểnkinh tế xã hội. Bỏ cái lợi nhỏ trước mắt nhưng lại thu được lợi ích lớn hơn nhiềuvề lâu dài điều đó cũng đáng làm lắm chứ. Do trong doanh nghiệp nông nghiệp có một bộ phận đáng kể người lao độngkhông có khả năng mua cổ phần hoặc mua không hết số cổ phần ưu đãi, nguy cơđứng ngoài tiến trình CPH của doanh nghiệp là rất rõ. Vì vậy Nhà nước cùng vớidoanh nghiệp phải có biện pháp tạo vốn ban đầu cho người lao động để họ muacổ phần. Doanh nghiệp có thể đứng ra vay hoặc bảo lãnh cho người lao động vayhình thức này đã áp dụng rất thành công ở một số doanh nghiệp CPH trước đó.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 82
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com5. Tổ chức thực hiện đúng quy trình CPH theo các văn bản hiệnhành Việc tuân thủ đúng quy trình CPH sẽ tạo nên những thuận lợi cho doanhnghiệp trong việc đẩy nhanh tiến độ CPH vì các khó khăn trong quá trình CPH sẽđược tháo gỡ dần, kế hoạch đề ra sẽ được thực hiện, đảm bảo được sự chỉ đạocủa cấp trên. Theo quy định hiện hành thì quá trình CPH được chia làm 4 bước: B1. Chuẩn bị CPH B2. Xây dựng phương án CPH B3. Phê duyệt và triển khai phương án CPH B4. Ra mắt CTCP, đăng kí kinh doanh6. Hoàn thiện cơ chế chính sách Tuy đã có nhiều văn bản được ban hành để hướng dẫn và khắc phục nhữngtồn tại nảy sinh trong quá trình CPH. Nhưng thực tế cho thấy là khi các văn bảnmới được ban hành khắc phục được những tồn tại trước đó lại nảy sinh nhữngvấn đề khó khăn khác. Nội dung của các văn bản chỉ đạo tổ chức thực hiện triểnkhai, thiếu tính đồng bộ nhiều vấn đề chưa khẳng định được như CPH là tựnguyện hay bắt buộc, chưa có các quy định về tránh nhiệm của cán bộ, ngành,địa phương, doanh nghiệp trong triển khai CPH: cho đến nay sau khi có Nghịđịnh số 64/2002/NĐ-CP và hàng loạt các văn bản hướng dẫn kèm theo. Thực tếđã nảy sinh những tồn tại như: xác định giá trị doanh nghiệp vẫn còn nhiềuvướng mắc, chậm và còn nhiều lúng túng kết quả còn mang tính chủ quan chưaphản ánh đúng quan hệ cung cầu và khả năng sản xuất của tài sản trong tươnglai; quy trình CPH phức tạp nhiều thủ tục phiền phức, tốn kém, chậm được triểnkhai; ưu đãi cho doanh nghiệp và người lao động còn chung chung và chưa đủlực…vì vậy việc hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến CPH là cần thiết đểhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 83
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtạo ra một văn bản có hiệu lực cao thúc đẩy quá trình CPH đang chậm chạm hiệnnay.6.1. Cần làm rõ hơn những ưu đãi với doanh nghiệp và người lao động trongcác doanh nghiệp CPH. Một trong những mục tiêu của quá trình CPH là tạo động lực huy động vốnvà nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Việc thực hiện mục tiêu này phụthuộc vào nhiều nhân tố trong đó những ưu đãi về kinh tế được coi là động lựchàng đầu. Song một thực tế hiện nay là các ưu đãi dành cho doanh nghiệp vàngười lao động luôn thay đổi theo hướng ngày càng có nhiều ưu đãi hơn tạo nêntâm lý chờ đợi. Mặt khác hiện nay các quy định về mức ưu đãi là như nhau chomọi doanh nghiệp tạo nên những thiệt thòi cho các doanh nghiệp kinh doanhtrong lĩnh vực nông nghiệp. Vì vậy, nên chăng có các văn bản quy định phân biệtmức độ ưu đãi khác nhau cho người lao động và doanh nghiệp theo ngành nghềvà lĩnh vực kinh doanh.6.2. Là thay đổi cơ cấu cổ phần trong các doanh nghiệp CPH hiện nay Hiện nay các doanh nghiệp nông nghiệp nói chung và Công ty TPXK BắcGiang nói riêng khi thực hiện CPH thì cổ phần của Nhà nước là 51% tức Nhànước nắm cổ phần chi phối. Như vậy xuất hiện tâm lý không phân biệt doanhnghiệp mới là DNNN hay CTCP. Việc nhà nước nắm 51% cổ phần làm cho côngtác bán cổ phiếu gặp nhiều khó khăn do nhà đầu tư cảm thấy thứ họ mua khôngphải là cổ phần mà là “trái phiếu” nhiều rủi ro. Một CTCP Nhà nước lại giữ 51%vốn điều lệ thì Nhà nước hoàn toàn có thể duy trì sự quản lý như cũ, yếu tố đổimới là không thể hay rất khó xẩy ra. Đối với các CTCP Nhà nước giữ cổ phầnchi phối chức danh lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp này như giám đốc điềuhành hầu như vẫn được giữ nguyên… Nhiều giám đốc điều hành đã điều hànhCTCP không khác gì giám đốc DNNN trước đây, cơ quan chủ quản cấp trên vẫnhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 84
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtiếp tục can thiệp vào công việc sản xuất kinh doanh của CTCP với một lý dođơn giản là CTCP Nhà nước giữ cổ phần chi phối vẫn được coi là DNNN. Việc Nhà nước giữ 51% cổ phần làm cho việc CPH mang nặng tính hìnhthức lãnh đạo nhiều doanh nghiệp trong danh sách CPH đã lợi dụng quy định nàyđể tiếp tục giữ doanh nghiệp. Tóm lại, việc xoá bỏ tình trạng “vô chủ” đối với DNNN, tăng cường sựgiám sát của các nhà đầu tư, tạo động lực mới cho sự phát triển của doanh nghiệpphụ thuộc rất nhiều vào tỷ lệ cổ phần mà các cổ đông nắm giữ, nếu tiếp tục CPHkiểu như hiện nay thì mục tiêu tạo động lực mới cho doanh nghiệp khó mà đạtđược.6.3. Đơn giản hoá quy trrình thực hiện CPH Hiện nay thủ tục tiến hành CPH còn phức tạp nên không tránh khỏi việc gâykhó khăn cho Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp. Bởi vì thành phần chỉ đạođổi mới DNNN là các cán bộ lãnh đạo hoạt động có tính chất kiêm nghiệm chưathực sự dành nhiều thời gian thoả đáng cho công tác cổ phần. Ban đổi mới củadoanh nghiệp cùng một lúc phải lo hai nhiệm vụ lớn: Đảm bảo hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp và thực hiện công việc của quá trình CPH. Sựphối hợp với các cơ quan cấp trên có liên quan chưa được thường xuyên chặtchẽ. Vì vậy việc đơn giản hoá quy trình thực hiện CPH là cần thiết. - Xây dựng kế hoạch triển khai quá trình CPH trong đó xác định các bướcchuyển DNNN thành CTCP, các công việc cụ thể trong mỗi bước, tiến độ thờigian và lực lượng thực hiện. Về hình thức kế hoạch này nên xây dựng thành sơđồ hoặc biểu đồ tiến độ. - Xác định những công việc phải thường xuyên quán xuyến trong toàn bộquá trình CPH, những công việc trọng tâm của từng giai đoạn. Từ đó bố trí côngviệc cho hợp lí.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 85
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Phân chia trách nhiệm trong Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp thành banhóm dưới sự điều hành chung của Giám đốc trưởng ban: Nhóm phụ trách cácvấn đề tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp; Nhóm phụ trách việc xác địnhphương án CPH; Nhóm phụ trách các vấn đề liên quan đến người lao động trongdoanh nghiệp CPH. Từ kế hoạch chung Giám đốc trưởng ban sẽ điều hoà phốihợp chung bảo đảm sự đồng điệu trong thực hiện các công việc của quá trìnhCPH. - Đơn giản hoá các thủ tục liên quan đến cấp đăng kí kinh doanh cho CTCPthành lập từ chuyển hoá DNNN. Trong hồ sơ xin đăng kí kinh doanh cần tôntrọng những điểm mà CTCP kế thừa hợp lệ từ DNNN như giấy phép sử dụng đất,đăng kí trụ sở.6.4. Chọn hình thức CPH phù hợp: Một thực tế hiện nay là các DNNN thường CPH theo hình thức bán mộtphần giá trị thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Nhưng thực tế đã chứng minhhình thức này chưa phù hợp với đặc điểm riêng có của các doanh nghiệp nôngnghiệp. Bởi vì các doanh nghiệp nông nghiệp hầu hết làm ăn không hiệu quả, thunhập của người lao động thấp, hoạt động kinh doanh mang tính chất rủi ro caocho nên việc bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp cũng như cácnhà đầu tư ngoài doanh nghiệp gặp khó khăn. Khi không bán hết cổ phần thì sốcổ phần đó lại được chuyển vào vốn Nhà nước như vậy thì khó mà đạt được mụctiêu CPH. Theo kiến nghị của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp thì nên cổ phầndoanh nghiệp nông nghiệp theo hình thức thứ nhất tức là: Giữ nguyên giá trịthuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu thu hútthêm vốn để phát triển doanh nghiệp. Việc phát hành cổ phiếu không chỉ một đợtmà được tiến hành thành nhiều đợt để tăng vốn sản xuất kinh doanh và giảm dầncổ phần của Nhà nước tại doanh nghiệp. Hy vọng hình thức này sẽ sớm được ápdụng để thúc đẩy quá trình CPH trong các DNNN trong nông nghiệp hiện nay.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 86
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com6.5.Tạo môi trường thức đẩy CPH - Hình thành thị trường chứng khoán để thúc đẩy việc mua bán chuyểnnhượng cổ phần của các doanh nghiệp. -Thành lập một số trung tâm tư vấn về CPH DNNN để trợ giúp cho việctriển khai CPH DNNN.7. Coi trọng phát triển doanh nghiệp hậu CPH CPH chậm trễ do nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan, bản chấtcủa vấn đề lại nằm ở chỗ trong quá trình CPH có nhiều cản trở mà chủ yếu lại ởchỗ, bản thân doanh nghiệp chưa nhìn thấy rõ tương lai triển vọng khi chuyểnthành CTCP. Mặc dù cả lí thuyết và thực tế đều chứng minh CPH là giải pháp hữu hiệunhất để DNNN tự cải tổ lại chính mình và nâng cao hiệu quả kinh doanh nhưngkhông mấy doanh nghiệp lại tin vào điều này. Thực tế đã giải thích khá rõ tại saoCPH có lợi như vậy mà rất ít DNNN tự nguyện xin CPH, Chính phủ hàng nămphải giao chỉ tiêu cho các Bộ, ngành, địa phương nhưng năm nào cũng khônghoàn thành kế hoạch. Mặc dù ít được nhắc đến nhưng vấn đề giải quyết hậu CPHở doanh nghiệp lại gặp rất nhiều khó khăn, còn tồn tại nhiều bất cập do cảnguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. + Bài toán đầu tiên doanh nghiệp đã CPH phải đối mặt là vấn đề tiếp cậnnguồn vốn. Giải quyết song vấn đề vốn tự có để sản xuất kinh doanh các doanhnghiệp lại gặp khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng. Quy chế cho vay hiện naydành cho các DNNN quyền vay tín dụng không cần thế chấp tại các ngân hàngquốc doanh (lực lượng kiểm soát gần 80% thị trường tín dụng Việt Nam hiệnnay). Chuyển sang CTCP, Nghị định số 64/2002/NĐ-CP đã quy định rất rõ cácCTCP vẫn được tiếp tục vay vốn theo cơ chế trước đó vẫn áp dụng cho cácDNNN. Cách đánh giá của các ngân hàng thương mại quốc doanh với các CTCPhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 87
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkhông thể thân thiện như họ vẫn làm với các DNNN. Đơn giản là vì trước đó cácDNNN có nợ thì theo quy định hiện hành các ngân hàng có thể đưa vào diệnkhoanh nợ thậm chí xoá nợ. Với các CTCP thì không thể làm như thế. Và do đódù muốn hay không muốn họ không thể tiếp cận nguồn vốn rễ ràng như trước. + Về mặt tổ chức quản lí còn nhiều bất cập chuyển sang CTCP mà hoạtđộng chẳng khác gì một DNNN. Theo quy định hiện nay các CTCP Nhà nướcnắm giữ 51% cổ phần thì vẫn được coi là thành viên của tổng công ty như vậy thìkhông khác mấy so với trước khi CPH. + Một bài toán đau đầu nữa mà khi hoàn thành song CPH công ty phải đốimặt đó là vấn đề giải quyết số lao động dôi dư hậu CPH. Trong quá trình CPH,để mọi sự được diễn ra một cách êm đẹp, công ty đã không tiến hành việc tinhgiảm triệt để bộ máy để chuyển sang CTCP, trừ những trường hợp không thể cònphần lớn số nhân sự trước đây ở DNNN đều được chuyển sang CTCP để mọingười “hài lòng”. Việc làm bất chấp thực tế này dẫn dến sự dôi dư không tránhkhỏi của lực lượng lao động khi công ty chính thức đi vào hoạt động. Khi đã làCTCP thì công ty không thể khắc phục khiếm khuyết này. Điều đó đương nhiênlà phức tạp, tốn thời gian, tốn chi phí và quan trọng hơn nữa là nó ảnh hưởng trựctiếp đến công việc kinh doanh hàng ngày của công ty. + Cũng không thể không nhắc đến nguy cơ làm chủ hình thức của người laođộng trong Công ty. Do đặc điểm của Công ty sản xuất thủ công vẫn là chínhcông việc rất nặng nhọc, lao động chủ yếu là lao động hợp đồng có thời hạn nênlực lượng lao động chủ yếu là lao động trẻ khi cổ phần với số năm công tác ít họsẽ trở thành cổ đông nhỏ tại Công ty. Biểu hiện của tình trạng là chủ hình thứctrước hết là ở chỗ quyền thông tin của các cổ đông hầu như không được tôntrọng. Theo nguyên tắc đồng sở hữu tài sản, các chủ sở hữu vốn của CTCP đượcquyền tham gia quản lí công ty, được công ty cung cấp đầy đủ thông tin về tàisản, tình hình tài chính, cổ phần, tình hình lao động, đầu tư, tình hình sản xuấthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 88
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkinh doanh…nhưng có lẽ các cổ đông nhỏ phải yên vị với những thông tin hếtsức sơ sài được trình bầy trước Đại hội đồng cổ đông hằng năm. Do không đượccung cấp đầy đủ thông tin, hầu hết là các cổ đông nhỏ (chủ yếu là các công nhântrực tiếp sản xuất) không hiểu được CTCP, họ cảm thấy mình là cổ đông thực thụmà phải đứng ngoài Công ty. Như vậy dễ nảy sinh tâm lí cho rằng họ không phảilà chủ Công ty, họ không phải là cổ đông mà là người bị vay vốn. Mặc dù những tồn tại trên không thuộc về bản chất của CTCP, nhưng điềunày rất rễ xẩy ra nên dù muốn hay không muốn nó cũng tạo tâm lí tiêu cực chocán bộ lãnh đạo và cả người lao động trong công ty. Lẽ đương nhiên khi tâm lí bịbi quan thì đương nhiên CPH không thể suôn sẻ được. Vậy thì giải pháp nào làhữu hiệu để phát triển doanh nghiệp hậu CPH. + Cơ chế tín dụng cho các doanh nghiệp CPH cần được thực hiện đúng vớisự hỗ trợ khuyến khích mà các quy định của Nhà nước dành cho họ. Bên cạnh đócác doanh nghiệp cũng cần có biện pháp huy động vốn từ các nguồn khác chứkhông nên chỉ trông chờ vào vốn của các ngân hàng. + Cần có những quy định về quyền thông tin cho các cổ đông dù nhỏ tạiCTCP để khắc phục tâm lí bị đứng ngoài công ty của những cổ đông này. Doanhnghiệp cũng cần thực hiện đúng nghĩa vụ thông tin cho các cổ đông. + Trong quá trình CPH công ty cần phải triệt để tinh giảm bộ máy, chỉ giữlại những người cần cho CTCP, CTCP cần “chất” chứ không phải là “lượng”CTCP phải có một bộ máy thực sự tinh gọn khi bước vào hoạt động sau CPH.Tuy nhiên cũng phải quan tâm đến lợi ích cho người lao động phải có chế độthoả đáng cho những lao động dôi dư trong CPH để họ có thể tìm công việc mới.Nếu như do mở rộng quy mô sản xuất sau này cần tuyển thêm lao động thì cũngcần ưu tiên những người đã từng làm việc cho công ty. + Nhà nước cùng các bộ ngành có liên quan cần có biện pháp hỗ trợ công tyvề mặt tổ chức quản lí (thông qua việc tổ chức các chương trình tập huấn, hoặchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 89
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcử chuyên gia hỗ trợ) để Công ty sau CPH có thể nhanh chóng có một cơ chếquản lí thích ứng với mô hình tổ chức mới. + Quy định mức khởi điểm tối thiểu được mua cổ phần ưu đãi để khuyếnkhích, thu hút vốn. Tạo điều kiện cho người lao động trẻ, nhất là lao động đã quađào tạo (lực lượng quan trọng của doanh nghiệp), có cơ hội được hưởng chế độưu đãi nhất định có lợi hơn so với các cổ đông khác. Nguồn chi này lấy từ quỹ hỗtrợ và sắp sếp DNNN + Các cơ quan hữu trách cần quan tâm chỉ đạo sâu sát, cụ thể, nắm chắc tìnhhình các doanh nghiệp, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc của từngdoanh nghiệp bằng các hình thức hỗ trợ cần thiết nhằm giúp doanh nghiệp CPHđược thuận lợi, ngăn chặn việc gây phiền hà, sách nhiễu, phân biệt đối xử vớidoanh nghiệp CPH, thực hiện đầy đủ những ưu đãi đối với doanh nghiệp vàngười lao động theo quy định tại Nghị định số 64/2002/NĐ-CP .http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 90
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com KẾT LUẬN CPH DNNN là giải pháp hữu hiệu để đổi mới hoạt động của các DNNN nóichung DNNN trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng. CPH là một yêu cầu kháchquan phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay và yêu cầu hội nhập của nền kinhtế. Trong nông nghiệp, do những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp và của cáchoạt động kinh tế gắn liền với sản xuất nông nghiệp mà CPH doanh nghiệp nôngnghiệp Nhà nước mang những đặc điểm riêng, đòi hỏi có phương pháp thực hiệnphù hợp.Từ đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, kinh nghiệm chuyển hoá sở hữu và CPHDNNN ở các nước, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách liênquan đến CPH nhằm tạo ra động lực mới cho các doanh nghiệp nhà nước. Trải qua hơn 10 năm thực hiện CPH tuy còn nhiều vướng mắc khó khănsong về cơ bản chủ trương CPH của Đảng và Nhà nước đã đem lại kết quả tốtđẹp tạo được niềm tim từ phía người lao động và các DNNN. Qua nghiên cứu quá trình thực hiện CPH ở Công ty TPXK Bắc Giang thấynổi nên những khó khăn trong khi thực hiện CPH do cả nguyên nhân khách quanvà chủ quan như: ưu đãi cho doanh nghiệp và người lao động chưa thoả đáng,xác định giá trị doanh nghiệp còn nhiều bất cập, còn có sự phân biệt đối xử giữadoanh nghiệp nhà nước và CTCP, tâm lí ngại chuyển sang CTCP của người laođộng, đặc lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích của tập thể…Từ thực tế đó để thúcđẩy CPH ở Công ty TPXK Bắc Giang Em mạnh dạn đề xuất một số giải phápsau:+ Nâng cao nhận thức tư tưởng cho cán bộ công nhân viên+ Lành mạnh vấn đề tài chính trước khi CPHhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 91
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com+ Xác định đúng giá trị doanh nghiệp+ Giải quyết tốt vấn đề lợi ích cho người lao động+ Tổ chức thực hiện đúng quy trình CPH+ Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh+ Coi trọng phát triển doanh nghiệp hậu CPH DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢOPhần sách:1. PGS.TS. Đỗ Hoài Nam CPH DNNN cơ sở lí luận và kinh nghiệm thực tiễn.Nhà xuất bản Chính trị quốc gia2. PGS.TS. Nguyễn Kế Tuấn. Thực trạng và giải pháp sắp xếp lại các DNNNthuộc thành phố Hà Nội. Nhà xuất bản chính trị quốc gia3. Các văn bản pháp luật về CPH DNNN. Nhà xuất bản chính trị quốc gia4. PGS.TS . Ngô Quang Minh. Kinh tế Nhà nước và quá trình đổi mới DNNN.Nhà xuất bản chính trị quốc giaPhần tạp chí:1.Tạp chí Kinh tế và phát triển số 4/20042.Tạp chí Tài chính doanh nghiệp số 3/20043.Tạp chí lí luận chính trị năm 3/20014.Tạp chí Cộng sản số 1/20025.Tạp chí Ngân hàng số 1/20016.Tạp chí Thị trường chứng khoán số 2/19997.Tạp chí Tài chính số 18 năm 2000Cùng nhiều loại sách báo và tạp chí kháchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 92
  • Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 93