Your SlideShare is downloading. ×
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com                                     LỜI NÓI ĐẦU1. Tí...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comgiai đoạn tiếp theo, đồng thời tìm một số giải pháp v...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comCHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ GẠO XUẤT KHẨU TRÊN THẾGIỚI VÀ ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtấn/ha. Đây là một tiến bộ vượt bậc, nhờ sử dụng nhữn...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnăng sản xuất và phụ thuộc vào số dân toàn cầu nên nh...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com1.1.1.3. Những nước sản xuất và tiêu thụ gạo chính tr...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com      Là nước đông dân thứ hai trên thế giới, Ấn Độ c...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com      Biểu đồ 1.1. Dân số và tiêu thụ gạo của 3 nước ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com      - Trên thế giới có rất nhiều loại gạo mậu dịch ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchế biến, vận tải, bao gói và điều kiện giao hàng thí...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Nam Á                        2.765            110.41...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com  2) Iran     Trong nhiều năm qua, Iran thường xuyên ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtriệu tấn và 12,1 triệu tấn. Đến năm 1998, số lượng g...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comĐối với thương mại và thị trường, Thái Lan áp dụng tr...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comLan. Trong những năm đầu thập niên 90, Mỹ cung cấp kh...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnhiều thiên tai. Hoạt động xuất khẩu gạo của Ấn Độ đa...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthiết bị tiên tiến, hiện đại, đầu tư vào đào tạo nguồ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comdân tăng cường, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchúng ta hiểu rõ hơn về nhu cầu người tiêu dùng và kh...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comxuống, chỉ còn 3,47 triệu tấn, kim ngạch thu về đạt 6...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com     Về thị trường, khách hàng thường xuyên của gạo V...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com      - Sức cạnh tranh trên thị trường thế giới của g...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comCHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆTNAM THEO Q...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comGiao hàng        Đại lý độc quyền         Quan hệ với...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com                                                  MM ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđều có ảnh hưởng đến quá trình Marketing và đều có nh...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com58, IR 64 và các giống lúa lai Trung Quốc. Từ đó đã c...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkhẩu song lại không quan tâm nhiều đến việc nâng cao ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comhạt thóc phải được xay xát, chế biến, bảo quản tốt nh...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com      Nhìn chung, công đoạn sau thu hoạch ở Việt Nam ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com      Năm 1989 là năm đầu tiên Việt Nam xuất khẩu gạo...
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix

4,650

Published on

Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix • Chương 1: Tổng quan về gạo xuất khẩu trên thế giới và tại Việt Nam. • Chương 2: Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix. • Chương 3: Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu gạo. Trong khuôn khổ của khoá luận tốt nghiệp của sinh viên, đề tài nhằm: • Khẳng định lại vai trò của xuất khẩu gạo đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam • Phân tích thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam • Nêu ra một số định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Nguyễn Văn Thoan,các cô chú cán bộ của Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại cùng các thầycô và bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.http://luanvan.forumvi.com

Published in: Education

Transcript of "Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix"

  1. 1. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com LỜI NÓI ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài Qua 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã cónhững thay đổi tích cực, làm thay đổi đến mọi khía cạnh của đời sống xãhội. Chúng ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong Ngoại thương, đặcbiệt trong xuất khẩu gạo. Những con số báo cáo hàng năm là kết quả thậtđáng tự hào của ngành nông nghiệp nước ta, thể hiện quyết tâm của nhândân và đường lối chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Vị thế của ViệtNam đã được nâng lên, sánh vai cùng các nước xuất khẩu gạo lớn trên thếgiới. Tuy nhiên, do những yếu tố chủ quan và khách quan, thực tiễn tại ViệtNam trong thời gian qua cho thấy, hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta vẫncòn nhiều bất cập, tồn tại nhiều vấn đề bức xúc trước những biến động thấtthường của tình hình chính trị và thị trường thế giới như định hướng, tổ chứcquản lý, tìm đầu ra cho sản phẩm, nâng cao giá và khả năng cạnh tranh... Kếtquả là, tuy khối lượng và kim ngạch xuất khẩu có tăng nhưng nhìn chungtiềm năng vẫn chưa được khai thác một cách tối ưu, mang lại hiệu quả caonhất. Trong tình hình đó, nghiên cứu Marketing để tìm ra các giải pháp nhằmnâng cao hoạt động xuất khẩu gạo là một đòi hỏi cấp thiết và đáng quan tâmnhằm đẩy mạnh hơn nữa sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài đi sâu vào phân tích đặc điểm, tình hình xuất khẩu gạo củaViệtNam hiện nay theo quan điểm Marketing-mix đồng thời nêu lên các điểmmạnh, điểm yếu theo mô hình SWOT. Qua thực tiễn hoạt động xuất khẩugạo của Việt Nam, đề tài đưa ra giải pháp dưới góc độ vĩ mô và theo quanđiểm Marketing-mix nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu gạo, phù hợp với tiếntrình phát triển kinh tế của nước ta.3. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng những kiến thức đã tích luỹ trong suốt quá trình học tậpvới những quan sát, thu thập trong thực tế, kết hợp giữa việc tổng hợp sáchbáo, tài liệu với việc đi sâu vào phân tích thực tiễn, tham khảo ý kiến nhằmtìm ra hướng đi hợp lý nhất.4. Mục đích, nội dung nghiên cứu Trên cơ sở tập trung phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và xuấtkhẩu của mặt hàng gạo, khoá luận đưa ra một số định huớng phát triển chohttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 4
  2. 2. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comgiai đoạn tiếp theo, đồng thời tìm một số giải pháp về Marketing nhằm củngcố, đẩy mạnh và phát triển mặt hàng xuất khẩu chủ lực này. Để đạt đượcmục đích trên, về mặt lý luận, khoá luận đã tổng hợp, thống nhất, đúc kết vàphát triển những vấn đề đã và đang được nghiên cứu, đồng thời xem xét trêncơ sở thực tiễn hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm củaMarketing để tìm ra hướng đi đúng đắn trong thời gian tới.Tên đề tài: Đẩy mạnh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix • Chương 1: Tổng quan về gạo xuất khẩu trên thế giới và tại Việt Nam. • Chương 2: Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam theo quan điểm Marketing-mix. • Chương 3: Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu gạo. Trong khuôn khổ của khoá luận tốt nghiệp của sinh viên, đề tài nhằm: • Khẳng định lại vai trò của xuất khẩu gạo đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam • Phân tích thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam • Nêu ra một số định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Nguyễn Văn Thoan,các cô chú cán bộ của Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại cùng các thầycô và bạn bè đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 5
  3. 3. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comCHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ GẠO XUẤT KHẨU TRÊN THẾGIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM1.1. Tổng quan về thị trường gạo thế giới Vấn đề tập trung của đề tài này là hoạt động xuất khẩu gạo của ViệtNam ra thị trường thế giới. Xét theo quan điểm Marketing là có tính hướngngoại. Để đẩy mạnh xuất khẩu, Việt Nam phải luôn hướng ra môi trườngkinh doanh và lấy thị trường làm cơ sở định hướng. Thị trường ở đây đượchiểu là tập hợp những nhà nhập khẩu gạo hiện tại và tiềm năng. Mặt khác,nhu cầu của thị trường gạo lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên ngoài.Chính vì vậy, các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam không chỉ tập trung vào cácnhà nhập khẩu gạo mà còn phải hướng vào các đối thủ khác để đánh giá kịpthời khả năng cạnh tranh của họ. Nghiên cứu thị trường gạo quốc tế, nghiêncứu các nước xuất, nhập khẩu gạo chủ yếu trên thị trường là một đòi hỏi cấpthiết để ứng dụng vào tình hình cụ thể của Việt Nam, nhằm nâng cao nănglực cạnh tranh của gạo xuất khẩu nước ta trên thị trường thế giới.1.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung cầu gạo thế giới Trong số các loại lương thực bao gồm gạo, lúa mì, ngô, kê, lúa mạch...thì gạo và lúa mì là hai loại thực phẩm chiếm vị trí quan trọng trong khẩuphần ăn hàng ngày của con người. Theo thống kê của Tổ chức Lương thựcvà Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), sản xuất lúa gạo và lúa mì đạt mứctương đương nhau. Nhìn chung, sản lượng lúa gạo có thể duy trì sự sống chohơn 53% tổng số dân trên thế giới. Qua đó cho thấy tầm quan trọng của gạođối với vấn đề an ninh lương thực của loài người, đặc biệt khi đặt trong bốicảnh biến động của yếu tố nhân khẩu học.1.1.1.1. Vấn đề sản xuất gạo trên thế giới Ngành sản xuất lúa gạo bị phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên nhưđất, nước, khí hậu... Sau nhiều năm liên tục tăng trưởng, vào năm 1995, sảnxuất gạo trên thế giới giảm nhẹ với diện tích sản xuất khoảng 146 nghìn ha,sản lượng thóc toàn thế giới đạt 553 triệu tấn, tương đương khoảng 360 triệutấn gạo. Những thành công trong sản xuất gạo là kết quả đạt được do cuộcCách mạng xanh đem lại cùng với việc áp dụng các tiến bộ khoa học và đổimới chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ các nước sản xuất gạo chủ yếu. Theo số liệu của Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại, dự đoán diệntích sản xuất lúa toàn thế giới năm 2001 là 151,9 nghìn ha. Năng suất lúanăm 2000 đạt 3,92 tấn/ ha, gấp 1,6 lần so với năng suất lúa năm 1974 là 2,45http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 6
  4. 4. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtấn/ha. Đây là một tiến bộ vượt bậc, nhờ sử dụng những thành tựu công nghệhiện đại vào sản xuất, đồng thời áp dụng những loại giống lúa mới cho năngsuất cao. Năm 2000 cũng là năm kỉ lục về năng suất và sản lượng lúa toàncầu là 607,4 triệu tấn so với 333,8 triệu tấn năm 1974, tăng 1,8 lần. Qua đócho ta thấy sản lượng lúa tăng chủ yếu do năng suất tăng, là kết quả đángkhích lệ cho sản xuất lúa toàn thế giới, đảm bảo tốt nhu cầu về lương thựcnói chung và lúa gạo nói riêng của loài người. Bảng 1.1. Tình hình sản xuất gạo của thế giới (1998-2001) Đơn vị tính: 1000 tấn Sản xuất 1998 1999 2000 2001(ước) Bắc Mỹ 8.747 8.836 9.795 9.062 Mỹ Latinh 17.225 22.165 21.229 20.204 EU 2.701 2.694 2.637 2.462 Liên Xô cũ 1.108 1.124 1.189 1.026 Đông Âu 56.000 52.000 56.000 56.000 Trung Đông 3.048 3.370 2.905 2.279 Bắc Phi 5.463 4.261 5.889 6.063 Châu Phi còn lại 10.540 10.845 10.950 11.481 Nam Á 165.170 172.526 183.311 179.426 Châu Á còn lại 358.864 358.485 36.281 354.965 Châu Đại Dương 1.324 1.362 1.101 1.761 Nguồn: Vụ Xuất nhập khẩu – Bộ Thương mại1.1.1.2. Vấn đề tiêu dùng gạo trên thế giới Trên thế giới, phần lớn gạo được sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu tiêuthụ trong nước, chỉ 4% sản lượng toàn cầu được đem ra buôn bán, trao đổigiữa các nước với nhau. Lúa gạo được sản xuất tập trung hoá cao độ, trongđó châu Á chiếm tới 90% tổng lượng sản xuất, 50% lượng nhập khẩu và72% lượng xuất khẩu. Mức tiêu thụ gạo toàn cầu hiện nay luôn phụ thuộc vào tình hình canhtác và khả năng cung cấp của các nước sản xuất lúa gạo. Trên quy mô toànthế giới, lượng gạo tiêu dùng tăng đáng kể từ 222,4 triệu tấn năm 1974 lên398,6 triệu tấn năm 2000, tăng 180% và dự đoán năm 2001 là 400,8 triệutấn. Để đảm bảo tiêu thụ ổn định cần đạt mức sản xuất hàng năm gấp 1,5 đến2 lần mức tăng dân số. Như vậy, mức tiêu thụ gạo luôn bị khống chế bởi khảhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 7
  5. 5. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnăng sản xuất và phụ thuộc vào số dân toàn cầu nên nhìn chung nếu tínhtheo đầu người thì không tăng. Trên thế giới, châu Á là khu vực tiêu thụ gạo nhiều nhất với 362,1 triệutấn, tức 90% so với lượng tiêu dùng toàn cầu vào năm 2001 (403 triệu tấn).Điều này được giải thích bằng tập quán coi gạo là lương thực chính yếu ởchâu Á, nơi tập trung trên 60% dân số toàn thế giới. Tuy nhiên, trong nhữngnăm gần, dân số các nước này tăng mạnh trong khi diện tích trồng lúa giảmđáng kể do quá trình đô thị và công nghiệp hoá. Thêm vào nữa, các thiên tainhư lụt, bão, hạn hán... thường hay xảy ra nên các nước này cũng phải nhậpkhẩu gạo phục vụ cho nhu cầu trong nước. Các châu lục khác tiêu thụ 10%số lượng gạo còn lại. Tại châu Mỹ, châu Âu và khu vực Trung Đông, tiêuthụ gạo đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. Cụ thể năm 2000, BắcMỹ tiêu thụ 4,1 triệu tấn, Mỹ Latinh 14,3 triệu tấn, EU 2 triệu tấn. Dự đoánnăm 2001, các khu vực này lần lượt tiêu thụ 4,7 triệu tấn, 14,7 triệu tấn và2,1 triệu tấn. Qua đó, có thể thấy rằng lượng gạo tiêu thụ phân bố khôngđồng đều và phụ thuộc nhiều vào các nước châu Á. Bảng 1.2. Tình hình tiêu thụ gạo của thế giới (1998-2001) Đơn vị tính: 1000 tấn Nhập khẩu 1998 1999 2000 2001(ước)Bắc Mỹ 4,108 4,439 4,718 4,747Mỹ Latinh 13,778 14,085 14,272 14,661EU 2,012 2,066 2,131 2,079Tây Âu còn lại 48,000 50,000 53,000 55,000Liên Xô cũ 1,130 1,119 1,136 1,311Đông Âu 344,000 382,000 360,000 386,000Trung Đông 5,779 6,159 6,499 6,435Bắc Phi 2,982 2,984 3,097 3,177Châu Phi còn lại 10,412 10,973 11,563 12,155Nam Á 104,835 110,412 113,711 114,989Châu Á còn lại 234,508 236,025 241,852 238,692Châu Đại Dương 563,000 608,000 670,000 706,000 Nguồn: Vụ Xuất nhập khẩu – Bộ Thương mạihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 8
  6. 6. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com1.1.1.3. Những nước sản xuất và tiêu thụ gạo chính trên thế giới * Trung Quốc Với số dân đông nhất thế giới (1,26 tỷ người và dự kiến lên tới 1,6 tỷnăm 2030) và diện tích lúa trên 30 triệu ha, Trung Quốc là quốc gia có chủtrương đẩy mạnh sản xuất lúa gạo nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thựctrong nước của mình. Đảm bảo an toàn lương thực quốc gia là chiến lượchàng đầu của chính phủ nước này. Trái với một số nước khác chú trọng tớicác dự án phát triển cây trồng bằng cách tăng cường sử dụng có hiệu quảhơn đất trồng và các nguồn tài nguyên khác như nguồn nước, khí hậu…Trung Quốc tập trung chủ yếu vào công nghệ và khoa học. Trung Quốc đãvà đang đi tiên phong trong các giống lúa lai mới và đang dẫn đầu về thửnghiệm lúa biến đổi gien. Tuy diện tích trồng lúa của Trung Quốc mấy nămgần đây liên tiếp giảm do nhu cầu gạo chất lượng thấp giảm và lợi nhuận từnhững loại cây khác tăng lên, sản lượng gạo Trung Quốc năm 2001 dự kiếnđạt 136,40 triệu tấn, tăng so với 130,9 triệu tấn năm 2000 nhờ năng suấttăng. Từ năm 1992-1993, cùng với công cuộc đổi mới, hiện đại hoá đất nước,Trung Quốc đã có nhiều cố gắng đẩy mạnh sản xuất lúa. Đến năm 2000, tiêuthụ gạo trung bình tính theo đầu người vẫn bình ổn (96 kg/người/năm) mặcdù tổng tiêu thụ tăng do dân số tăng. Nhu cầu về chất lượng cũng ngày càngtăng. Gạo chất lượng cao như Japonica được trồng chủ yếu ở miền Bắc đãngày càng trở nên phổ biến hơn. Tiêu thụ gạo nói riêng và lương thực nóichung sẽ tăng theo xu hướng của nền kinh tế. Gạo chất lượng kém ngàycàng được chuyển sang dùng trong công nghiệp hoặc cho những người cóthu nhập thấp. Một trong những chiến lược của Trung Quốc là phát triểnngành chăn nuôi và gạo vụ sớm sẽ là thức ăn tốt cho gia cầm vì chất lượngphù hợp và giá thành rẻ. Theo số liệu của Bộ Thương mại, năm 2000 Trung Quốc tiêu thụ 137,3triệu tấn gạo chiếm 34% tổng lượng gạo tiêu thụ toàn cầu. Ước tính năm2001 lượng tiêu thụ là 134,3 triệu tấn. Con số này nói chung không thay đổinhiều so với các năm trước. Với dự kiến nhu cầu tiêu thụ sẽ đạt được 220triệu tấn gạo vào năm 2010 và 260 triệu tấn vào năm 2030, Trung Quốc đặtmục tiêu phát triển các giống lúa mới, năng suất cao để đạt trung bình 8 tấn/ha so với 6,5 tấn/ha hiện nay. * Ấn Độhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 9
  7. 7. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Là nước đông dân thứ hai trên thế giới, Ấn Độ cũng là nước sản xuấtgạo lớn thứ hai trên thế giới. Năm 1994, sản lượng lúa của Ấn Độ đạt mứctăng kỷ lục (2,8%) so với các nước khác. Ấn Độ là nước đứng đầu trên thếgiới về diện tích trồng lúa và đang chiếm hơn 22% tổng sản lượng lúa gạotoàn cầu. Sản lượng gạo của Ấn Độ niên vụ 1999/2000 đạt 88,55 triệu tấn sovới 406,57 triệu tấn của thế giới và dự đoán niên vụ 2000/2001 đạt 87,30triệu tấn so với 396 triệu tấn của thế giới. Cuối năm 2000, Chính phủ Ấn Độcó kế hoạch giải toả 3 triệu tấn gạo dự trữ để lấy chỗ chứa gạo mới, gây sứcép tới thị trường gạo thế giới. Bên cạnh đó, Ấn Độ là một trong những nướcđi đầu trong cuộc Cách mạng xanh, chủ yếu về giống lúa. Hiện nay, BộThương mại Ấn Độ thông báo sẽ tiến hành thử nghiệm ADN để bảo đảm sựthuần chủng cho giống gạo mới, khuyến khích sản xuất và xuất khẩu các loạigạo cao cấp. Về tiêu thụ, Ấn Độ cũng là quốc gia tiêu thụ gạo lớn thứ hai trên thếgiới với lượng tiêu thụ là 78,2 triệu tấn (năm 1998), 81,2 triệu tấn (năm1999), 82,5 triệu tấn (năm 2000) và ước tính năm 2001 là 83,5 triệu tấn,chiếm 20,8% so với tổng lượng tiêu thụ toàn thế giới . * Inđônêxia Với sản lượng gạo năm 1999/2000 là 34,08 triệu tấn, dự đoán năm2000/2001 là 34,80 triệu tấn, Inđônêxia hiện đang xếp thứ ba trên toàn thếgiới về nước có sản lượng gạo cao nhất. Năm 2001, nhờ triển vọng đạt sảnlượng cao nên nhu cầu về nhập khẩu của nước này có thể giảm 40% so vớinăm trước. Điều đó chứng tỏ Inđônêxia đã tích cực hơn trong việc sản xuấtlúa gạo nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu trong nước, tránh bị phụ thuộc vào sốlượng gạo nhập khẩu từ các nước bên ngoài. Inđônêxia cũng là nước tiêu thụ gạo lớn thứ ba trên thế giới. Năm 2000,quốc gia này sử dụng hết 35,9 triệu tấn gạo, chiếm 9% lượng tiêu thụ toàncầu. Dự tính tiêu thụ năm 2001 có giảm nhưng không đáng kể là 35,8 triệutấn. Năm 2002, Inđônêxia có kế hoạch nhập khẩu 700 ngàn tấn, trong đó sẽnhập khẩu khoảng 500 ngàn tấn từ Việt Nam để có nguồn gạo đáp ứng đủnhu cầu trong nước. Chính phủ Inđônêxia đang dự kiến vay Ngân hàng pháttriển Hồi giáo 102,5 triệu USD để nhập khẩu số gạo trên.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 10
  8. 8. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Biểu đồ 1.1. Dân số và tiêu thụ gạo của 3 nước tiêu thụ lớn nhất 4% 9% 1 6% Indonªxia 36% 22% Ên § é 58% 22% Trung Q uèc Kh¸ c 33% Dân số Tiêu thụ gạo1.1.2. Cơ cấu của thị trường gạo thế giới1.1.2.1. Đặc điểm và triển vọng của thị trường gạo thế giới * Đặc điểm của thị trường gạo thế giới - Gạo là loại lương thực chủ yếu để nuôi sống hơn 50% dân số toàncầu, tập trung nhiều nhất ở châu Á. Chính vì vậy, thị trường gạo thế giớimang đặc tính nhạy bén vì mỗi khi có sự biến động về nhu cầu ở nhữngnước tiêu thụ gạo chính như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Bănglađét,Pakistan... thì cung cầu và giá gạo trên thị trường thế giới lại thay đổi. ViệcChính phủ Ấn Độ có kế hoạch giải toả 3 triệu tấn gạo vào cuối năm 2001 làmột ví dụ để gây sức ép với thị trường gạo thế giới. Cuối tháng 3/2000,Inđônêxia đã quyết định ngừng nhập khẩu gạo chính ngạch cũng tạo nhữngbiến động không nhỏ tới giá gạo nói chung. Tuy nhiên, độ nhạy cảm của thịtrường gạo còn phải phụ thuộc vào lượng dự trữ toàn cầu và của từng nướccũng như tỷ giá giữa gạo và loại lương thực thay thế gạo như lúa mỳ, ngô... - Gạo không những được buôn bán đơn thuần như một hàng hoá giữacác nước khác nhau mà còn là một trong những mặt hàng chiến lược thựchiện chính sách đối ngoại của các Chính phủ thông qua hình thức viện trợ.Mỹ là nước đã sử dụng hình thức này như một chiến lược ngoại giao nhằmtăng cường sự phụ thuộc của các nước khác vào nước mình trong các quanhệ kinh tế quốc tế. Tương tự như vậy, EU thường nhập khẩu gạo để cungcấp miễn phí cho các nước châu Phi để đổi lại các điều kiện khác về kinh tế.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 11
  9. 9. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Trên thế giới có rất nhiều loại gạo mậu dịch phân loại theo các cáchkhác nhau. Sự phong phú về chủng loại tạo nên sự đa dạng cho thị trườnggạo thế giới. Tương ứng với mỗi loại gạo khác nhau, tuỳ thuộc chất lượngphẩm cấp khác nhau lại hình thành một mức giá cụ thể. Tính đa dạng vàphức tạp của giá cả gạo là biểu hiện sinh động trong buôn bán quốc tế trongsuốt nhiều năm qua. * Triển vọng của thị trường gạo thế giới Trong những năm gần đây, thị trường gạo thế giới có nhiều biến độngphức tạp, cụ thể là nhu cầu của các nước về gạo đặc biệt thấp. Mặc dù cácnước xuất khẩu không ngừng nỗ lực tìm kiếm thị trường nhưng giá gạo củatất cả các xuất xứ đều giảm. Nhu cầu gạo của các nước nhập khẩu lớn nhưBănglađét, Inđônêxia, Braxin... hạn chế do sự phục hồi sản lượng sau 12năm mất mùa. Theo dự báo của FAO và Bộ Nông nghiệp Mỹ, sản lượng gạothế giới đến năm 2005 sẽ có chiều hướng tăng chậm hơn so với những nămtrước, mức tiêu thụ tăng chậm. Do đó, tốc độ tăng của lượng gạo giao dịchtoàn thế giới cũng sẽ giảm. Dự đoán trong tương lai, châu Phi sẽ tham giatích cực hơn vào thị trường gạo, đặc biệt là nhập khẩu. Châu Á vẫn sẽ luônlà khu vực đứng đầu về sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu với nhiều thay đổi vềcơ chế chính sách. Xuất khẩu gạo từ châu Âu và châu Mỹ có xu hướng giảmdo việc thắt chặt các quy định của thương mại thế giới làm hạn chế chínhsách trợ giá xuất khẩu. Xu hướng trong những năm tới sẽ có nhiều nước tham gia vào xuấtkhẩu lúa gạo, tạo sự sôi động và cạnh tranh gay gắt trên thị trường lúa gạothế giới, đặc biệt ở châu Á, do chính sách của nhiều nước cho phép khu vựctư nhân tham gia vào xuất nhập khẩu gạo. Ngoài ra, trong những năm tới,giao dịch các loại gạo có chất lượng cao có xu hướng tăng mạnh trong khigiao dịch gạo phẩm cấp thấp sẽ giảm dần. Gạo một mặt là hàng hoá thiết yếu đối với đời sống và sản xuất, mặtkhác là hàng hoá nhạy cảm và xuất khẩu có tính chiến lược ở một số nước,có xu hướng cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt giữa các nước tham giaxuất khẩu. Các nước xuất khẩu luôn luôn tăng sản lượng lúa gạo không chỉđể thoả mãn cho nhu cầu tăng dân số mà còn nhằm mang lại nguồn ngoại tệđáng kể. Vì vậy, trong tình hình hiện nay, các nước đều đẩy mạnh các hoạtđộng xuất khẩu để giảm hao phí và hư hao, đầu tư chiều sâu để tăng nhanhnăng suất và sản lượng. Để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, cácnước trang bị ngày càng tốt hơn từ việc chọn giống, thu hoạch, bảo quản,http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 12
  10. 10. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchế biến, vận tải, bao gói và điều kiện giao hàng thích hợp với đòi hỏi củathị trường thế giới.1.1.2.2. Tình hình nhập khẩu gạo * Tình hình chung Nhập khẩu gạo của thế giới nhìn chung có xu hướng tăng lên nhưngkhông ổn định trong những năm gần đây, tuỳ thuộc vào sản lượng lươngthực trong năm và khả năng thanh toán của những nước nhập khẩu. Đa sốcác nước xuất khẩu gạo đạt sản lượng cao kỷ lục đã làm giảm mạnh giá gạotrên thị trường thế giới. Lượng nhập khẩu gạo của toàn thế giới cũng như từng nước thườngxuyên biến động và mang tính thời vụ rõ rệt. Vì sản xuất gạo phụ thuộc vàođiều kiện thiên nhiên, tỷ lệ dự trữ, tồn kho lương thực nên thường bất ổn.Năm mất mùa, các nước thường cần gấp, nên nhập khẩu nhiều nhưng nămkhác lại giảm sản lượng nhập đáng kể. Khi giá gạo tăng cao, các nước có thểchuyển sang nhập khẩu hàng thay thế cho gạo như lúa mì hoặc các ngũ cốckhác, gây biến động không nhỏ cho sản lượng nhập khẩu gạo của toàn thếgiới. Trong hơn 10 năm qua, sản lượng nhập khẩu tăng do nhu cầu tăng, đặcbiệt là năm 1998 lên tới 27,67 triệu tấn. Những năm sau đó có giảm nhẹ vìđược mùa ở các nước nhập khẩu. Ước tính toàn năm 2001, thế giới nhậpkhẩu 22,30 triệu tấn gạo. Bảng 1.3. Tình hình nhập khẩu gạo của thế giới (1998-2001) Đơn vị: 1000 tấn Nhập khẩu 1998 1999 2000 2001(ước) Bắc Mỹ 840 4.439 4.718 4.744 Mỹ Latinh 3.357 14.085 14.272 14.661 EU 787 2.066 2.131 2.079 Tây Âu còn lại 60 50 53 55 Liên Xô cũ 321 1.191 1.346 1.311 Đông Âu 313 382 360 386 Trung Đông 3.224 6.159 6.499 6.435 Bắc Phi 188 2.984 3.097 3.177 Châu Phi còn lại 4.188 10.973 11.563 12.155http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 13
  11. 11. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Nam Á 2.765 110.412 113.711 114.989 Châu Á còn lại 10.370 236.025 241.852 238.692 Châu Đại 288 608 670 706 Dương Nguồn: Vụ Xuất nhập khẩu–Bộ Thương mại Châu Á luôn là khu vực nhập khẩu gạo nhiều nhất với khoảng hơn 55%lượng gạo nhập khẩu toàn thế giới nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ tại cácnước này. Châu Phi chiếm tỷ trọng hơn 20% lượng gạo nhập khẩu và cóchiều hướng tăng lên trong thời gian qua tuy mức tăng không lớn. Trên thựctế các nước nghèo ở châu lục này tiêu dùng gạo khá nhiều nhưng khả năngtài chính lại bị hạn chế rất đáng kể. Do vậy, ở các nước này tuy thiếu gạonhưng khả năng nhập khẩu có hạn. Châu Mỹ cũng có khối lượng nhập khẩuchiếm khoảng 20% với nhu cầu ổn định và có xu hướng tăng lên. Nhập khẩu gạo trên thế giới cũng biến động theo nhóm nước. Tuỳ theomức độ thường xuyên, các nước chia theo hai nhóm: nhóm nước nhập khẩugạo thường xuyên và không thường xuyên. Nhóm thứ nhất bao gồm cácnước luôn có nhu cầu nhập khẩu gạo do mất cân đối giữa sản xuất và tiêudùng, sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu về gạo. Nhóm nước này bao gồmMalaixia (hàng năm cần nhập khoảng 400 ngàn tấn), Canađa (180 ngàn tấn),Angiêri (250 ngàn tấn)... Nhóm thứ hai bao gồm những nước sản xuất gạonhưng không thường xuyên cung cấp đủ cho tập quán tiêu dùng trong nước.Lượng gạo nhập khẩu ở các nước này không đều qua các năm. Tiêu biểu chonhóm này là Inđônêxia, Trung Quốc, Nhật Bản... * Một số nước nhập gạo chủ yếu trên thế giới 1) Inđônêxia Hiện nay, nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới là Inđônêxia. Dù đã sảnxuất một lượng gạo không nhỏ cho tiêu dùng nhưng Inđônêxia vẫn phảinhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, đảm bảo an ninh lương thực.Đặc biệt vào năm 1995, nhập khẩu gạo của nước này tăng vọt lên tới 3,2triệu tấn do chính sách dự trữ gạo của Nhà nước và tốc độ tăng nhanh củadân số. Đến năm 1998, Inđônêxia tiếp tục nhập gạo với sản lượng 6,1 triệutấn cho tiêu dùng sau mất mùa. Năm 2000, Chính phủ Inđônêxia tăng thuếnhập khẩu từ 0% lên 35% và cho phép tư nhân tự do nhập khẩu gạo nhưngcấm các loại gạo chất lượng thấp. Tổng số lượng nhập khẩu năm 2000 giảmxuống là 1,3 triệu tấn, bằng 1/3 so với năm 1999 (3,9 triệu tấn). Năm 2001,dự đoán nước này cũng chỉ nhập khẩu khoảng hơn một triệu tấn gạo.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 14
  12. 12. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 2) Iran Trong nhiều năm qua, Iran thường xuyên nhập khẩu gạo với số lượngkhá ổn định, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Inđônêxia. Năm 1999, Irannhập 1,0 triệu tấn, năm 2000 tăng lên 1,1 triệu tấn và ước tính năm 2001 sẽlại giảm xuống mức 1,0 triệu tấn. Các số liệu trên đã cho thấy mức nhậpkhẩu tương đối cố định của đất nước này. Với số dân 70 triệu, dự đoán trongtương lai, Iran vẫn là nước nhập khẩu gạo lớn và có khả năng thanh toáncao. Nhà cung cấp gạo chủ yếu của Iran là Thái Lan, Việt Nam, Pakistan. 3) Trung Quốc Là nước sản xuất gạo lớn nhất thế giới nhưng Trung Quốc vẫn phảinhập khẩu nhằm đảm bảo nhu cầu trong nước. Năm 2000, Trung Quốc nhậpkhẩu 238.598 tấn gạo, tăng 42% so với năm 1999, trong đó hầu hết là gạo cóchất lượng cao của Thái Lan. Nhập khẩu tăng do sản lượng gạo Trung Quốcgiảm và tiêu dùng của người dân đối với gạo thơm tăng lên. Khi tham giavào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhập khẩu gạo sẽ tăng nhẹ doTrung Quốc ban đầu phải nhập khẩu gần 3 triệu tấn mỗi năm nếu giá trị thịtrường phù hợp với họ. Đến năm 2004, hạn ngạch nhập khẩu dự kiến sẽ tăngtới 5,38 triệu tấn. 4) Braxin Đây là nước duy nhất ở khu vực Nam Mỹ có mức nhập khẩu gạo khálớn. Tình hình nhập khẩu mặt hàng này ở Braxin trong đối ổn định và có xuhướng tăng trong thời gian qua. Cụ thể năm 1989, lượng nhập khẩu củaBraxin là 0,5 triệu tấn, năm 1998 tăng lên 1,2 triệu tấn. Năm 1999, nước nàytiếp tục là nước nhập khẩu gạo lớn trên thế giới với mức nhập khoảng 1 triệutấn. Năm 2000, sản lượng nhập khẩu giảm xuống còn 0,7 triệu tấn và sẽ tiếptục giảm trong năm 2001.1.1.2.3. Tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới những năm qua * Tình hình chung Theo số liệu của Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại, tổng lượng gạoxuất khẩu của thế giới trong những năm gần đây tăng và tăng khá. Nếu nhưnăm 1975, thế giới xuất khẩu chỉ có 7,7 triệu tấn gạo thì năm 1989 số lượnggạo xuất khẩu đạt 13,9 triệu tấn, mức cao nhất so với các năm trước đó. Tuynhiên, trong hai năm tiếp theo, số lượng gạo xuất khẩu giảm xuống còn 11,6http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 15
  13. 13. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtriệu tấn và 12,1 triệu tấn. Đến năm 1998, số lượng gạo xuất khẩu tăng caonhất là 27,7 triệu tấn. Trong 3 năm qua, sản lượng gạo xuất khẩu có xuhướng giảm xuống: năm 1999 là 24,9 triệu tấn, năm 2000 là 22,9 triệu tấn vàdự báo năm 2001 là 22,2 triệu tấn. Nhìn chung, mức tăng trưởng chưa thậtổn định, có năm giảm so với năm trước và chưa thực sự phản ánh khả năngdư thừa của những nước xuất khẩu và sự biến động không ngừng tình hìnhcung cầu của thị trường gạo trên thế giới. Số lượng xuất khẩu gạo của thếgiới tăng lên nhờ những cải biến về mặt kỹ thuật, giống lúa và các chínhsách mới của các nước xuất khẩu gạo làm cho lượng gạo có xu hướng tănglên trong những năm gần đây. Xuất khẩu gạo thế giới tập trung ở một số nước đang phát triển, chiếm75% đến 80% tổng số lượng xuất khẩu. Là châu lục sản xuất và tiêu thụ gạonhiều nhất, với tiềm năng, điều kiện thời tiết thuận lợi cho việc trồng lúa,châu Á vẫn luôn là khu vực xuất khẩu nhiều nhất. Bình quân hàng năm, châuÁ cung cấp khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu cho thị trường thế giới, đồngthời còn là nơi tập trung hầu hết các nước có thế mạnh về gạo như Thái Lan,Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc.... * Các nước xuất khẩu gạo chính trên thế giới 1) Thái Lan Tuy Thái Lan không phải là nước sản xuất gạo lớn trên thế giới nhưnglại là nước có số lượng gạo xuất khẩu nhiều và ổn định nhất, đồng thời cótốc độ tăng trưởng cao, gần 10%/năm. Từ năm 1977 đến nay, cụ thể vàonăm 1998 Thái Lan xuất khẩu 6,4 triệu tấn, năm 1999 đạt con số kỉ lục là 6,7triệu tấn (25% lượng xuất khẩu toàn thế giới), năm 2000 số lượng xuất khẩuđạt hơn 6,5 triệu tấn, giảm nhẹ so với năm trước do ảnh hưởng của lũ lụt vàbão nhiệt đới tại miền Đông Bắc. Trong tình hình giá cả quốc tế biến độngmà trong nước lại bội thu, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện chương trìnhcan thiệp để ổn định giá gạo trong nước, giúp nông dân duy trì phát triểntrồng lúa. Các tổ chức quốc doanh Thái Lan đã mua gạo lưu kho và thựchiện chính sách cho nông dân vay tín dụng dài hạn với lãi suất thấp. Chínhphủ Thái Lan đã thực hiện kế hoạch để phát triển ngành gạo, đặc biệt tậptrung vào thị trường gạo Jasmine, loại gạo đặc sản và là thế mạnh của TháiLan. Năm 2001, dự kiến tổng xuất khẩu của Thái Lan đạt 6,7 triệu tấn.Chiến lược xuất khẩu gạo Thái Lan gồm 3 điểm chính. Đối với sản xuất,Thái Lan tiến hành nghiên cứu để giảm thất thoát trong quá trình thu hoạch.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 16
  14. 14. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comĐối với thương mại và thị trường, Thái Lan áp dụng triệt để Marketing-mix,tập trung tuyên truyền dùng gạo Hương nhài, xúc tiến bảo vệ và tăng chấtlượng gạo. Đối với chính sách gạo, Nhà nước phối hợp với tư nhân soạnthảo chính sách khép kín từ nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị cho tới chế biến. Với vị trí đứng đầu xuất khẩu gạo, Thái Lan luôn chi phối sâu sắc tìnhhình biến động cung cầu và giá cả trên thị trường thế giới. Về chất lượng,gạo Thái Lan có nhiều loại, đặc biệt là các loại gạo đặc sản được ưa chuộngở khắp nơi và được xuất đi nhiều nước. Thái Lan cũng là đối thủ cạnh tranhmạnh nhất của Mỹ trên thị trường loại gạo hạt dài và chất lượng cao, đồngthời cũng cung cấp cho cung gạo của thế giới gần 1/3 tổng lượng gạo chấtlượng thấp. Thị phần của Thái Lan nhìn chung tương đối ổn định. Giá bánthường cao hơn so với các nước xuất khẩu gạo khác như Việt Nam hayPakistan. Giá chuẩn quốc tế cũng thường căn cứ vào giá gạo của Thái Lan(FOB Băngcốc). 2) Trung Quốc Không chỉ là một nước sản xuất, tiêu dùng, nhập khẩu gạo lớn trên thếgiới, Trung Quốc cũng là nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Trung Quốcnhập khẩu gạo chất lượng cao song xuất khẩu gạo có chất lượng bình thườnghoặc thấp. Năm 2000, mặc dù có hạn hán, quốc gia này đã vươn lên thứ batrong số các nước xuất khẩu gạo với số lượng là 2,95 triệu tấn, chỉ sau TháiLan và Việt Nam, tăng 9% so với năm 1999 (2,7 triệu tấn) nhưng giảm sovới mức 3,7 triệu tấn năm 1998. Vị trí này không ổn định trong các năm dosự biến động thất thường giữa cung cầu gạo của nước này. Dự kiến năm2001, Trung Quốc sẽ tiếp tục giảm số lượng xuất khẩu xuống còn 1,8 triệutấn. Tuy nhiên, với ưu thế giá gạo rẻ và chất lượng ngày một được cải thiện,gạo Trung Quốc đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới, đặc biệt là tại châuPhi và Nhật Bản. 3) Mỹ Năm 2000, số lượng xuất khẩu gạo của Mỹ đạt 2,76 triệu tấn, đứng thứtư trong số các nước xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, những năm trước đây, Mỹvẫn đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan mặc dù chỉ chiếm khoảng 1,5%tổng số lượng lúa toàn cầu và xếp thứ 11 về sản xuất gạo. Là nước xuất khẩu gạo truyền thống với thị trường rộng lớn trên khắpcác châu lục, chất lượng gạo của Mỹ nổi tiếng là cao (loại A), đứng đầu thếgiới và có sức cạnh tranh ưu việt hơn hẳn các loại gạo khác, kể cả của Tháihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 17
  15. 15. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comLan. Trong những năm đầu thập niên 90, Mỹ cung cấp khoảng 20% thị phầngạo thế giới mà chủ yếu là các nước Mỹ Latinh (Mêhicô và Braxin). Xuấtkhẩu gạo của Mỹ có được thành công nhờ vào hai lợi thế: + Thứ nhất, sự phát triển vượt bậc về công nghệ sản xuất, chế biến đếnbảo quản. Mỹ có hệ thống lưu kho dự trữ lớn nên gạo xuất khẩu luôn đượcđảm bảo về mặt chất lượng, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe nhất củacác nước nhập khẩu. Mỹ có thể xuất khẩu gạo ở các giai đoạn khác nhau củaquá trình chế biến, ở mọi chất lượng khác nhau cũng như đáp ứng mọi hìnhthức bao gói hay chuyên chở. + Thứ hai, sức mạnh kinh tế, chính trị và các mối quan hệ với bạn hàng.Gạo xuất khẩu của Mỹ được coi là “nông phẩm chính trị” và nằm trong cơchế bảo hộ của Nhà Trắng với nhiều chính sách như chính sách trợ cấp thunhập, chính sách trợ giá xuất khẩu hay cấp tín dụng xuất khẩu... Chính phủMỹ thực hiện chính sách can thiệp mạnh vào giá gạo, cả trong nước và xuấtkhẩu. Mỹ đã sử dụng gạo như một vũ khí để thực hiện mục tiêu đối ngoạicủa mình trong các quan hệ kinh tế như việc gây áp lực đối với mở cửa thịtrường gạo của Nhật Bản và liên minh châu Âu. Năm 2001, do những biến cố suy thoái kinh tế, đặc biệt vụ khủng bốngày 11 tháng 9 và cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới, dự đoán sốlượng xuất khẩu của Mỹ sẽ giảm xuống còn 2,6 triệu tấn và sẽ gặp khá nhiềukhó khăn trong xuất khẩu mặt hàng này. 4) Pakistan Là quốc gia nằm trong khu vực Nam Á, với số dân gần 150 triệu người,Pakistan có truyền thống xuất khẩu gạo từ nhiều thập kỷ nay, với lượng gạotrung bình trong thời gian gần đây là 2 triệu tấn. Xuất khẩu gạo của nướcnày tương đối ổn định với các loại gạo chất lượng trung bình và khá. Nhữngnăm gần đây, xuất khẩu của Pakistan tăng nhẹ. Cụ thể là năm 1998 số lượnggạo xuất khẩu là 1,8 triệu tấn, 1999 là 1,85 triệu tấn, 2000 là 2 triệu tấn vàdự đoán trong năm 2001 sẽ là 2,25 tấn, chiếm hơn 10% tổng lượng gạo xuấtkhẩu toàn thế giới. 5) Ấn Độ Ấn Độ là một quốc gia luôn ở trong tình trạng thiếu lương thực. Từtrước đến nay, Ấn Độ phải nhập khẩu một lượng gạo lớn chất lượng thấpnhưng đồng thời cũng xuất khẩu gạo Basmati, một loại gạo đặc sản, sang cácthị trường châu Á và châu Phi, đặc biệt là thị trường Trung Đông. Nhữngnăm gần đây, số lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ không ổn định do gặphttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 18
  16. 16. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnhiều thiên tai. Hoạt động xuất khẩu gạo của Ấn Độ đang có khó khăn vìBănglađét, thị trường tiêu thụ gạo phẩm cấp thấp chủ yếu của Ấn Độ, bắtđầu thực hiện thả nổi việc đấu thầu mua gạo từ tháng 1/2000 với điều kiệnthanh toán nghiêm ngặt. Cụ thể là số lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ từ 4,5triệu tấn năm 1998, chiếm 16,2% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới,năm 1999 còn 2,4 triệu tấn, năm 2000 chỉ còn 1,3 triệu tấn. Hiện nay, Bộ Thương mại Ấn Độ thông báo sẽ tiến hành thử nghiệmAND để đảm bảo sự thuần chủng cho giống gạo Basmati Ấn Độ và sẽkhuyến khích xuất khẩu gạo cao cấp này. Bên cạnh đó, Ấn Độ cho phépTổng công ty lương thực quyết định giá xuất khẩu song không được thấphơn giá bán cho người dân Ấn Độ sống dưới mức nghèo khổ. Các nhà xuấtkhẩu Ấn Độ cho rằng gạo Ấn Độ có cơ hội thâm nhập vào các thị trườngnước ngoài nếu như giá thấp như giá các xuất xứ khác. Bộ Thương mại ẤnĐộ cũng đã xem xét kế hoạch xoá bỏ hạn chế xuất khẩu đối với các sảnphẩm như gạo, lúa mì, đường và hành. Gạo xay xát hiện đang được tự doxuất khẩu, mặc dù các tư nhân muốn xuất khẩu vẫn buộc phải đăng ký hợpđồng với Cơ quan phát triển nông nghiệp và xuất khẩu thực phẩm chế biến.Hiện tại, Ấn Độ đang thu hút các nhà nhập khẩu gạo như Nam Phi, Nigiêria,Arập-Xêút. Mục tiêu của Ấn Độ trong những năm tới là giảm bớt chi phí củaChính phủ, khuyến khích xuất khẩu và bảo đảm an toàn lương thực, đặc biệtlà cố gắng xuất khẩu 3 triệu tấn gạo vào niên vụ 2000/2001.1.2. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam1.2.1. Vị trí chiến lược của xuất khẩu gạo trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam là một nước đông dân, trong đó gạo là lương thực chính vàkhó có thể thay thế. Qua đó cho thấy tầm quan trọng của sản xuất gạo đốivới nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh đó, khi đất nước đã có thể đảm bảo anninh lương thực, xuất khẩu gạo trong điều kiện kinh tế hiện nay có ý nghĩaquyết định đối với quá trình hội nhập của nước ta và được thể hiện trênnhiều khía cạnh, mà chủ yếu là:1.2.1.1. Xuất khẩu gạo tăng thu ngoại tệ, tích luỹ vốn cho quá trình Côngnghiệp hoá- Hiện đại hoá (CNH-HĐH) đất nước Quá trình CNH-HĐH đất nước được xác định tiến hành lâu dài và theonhững bước đi thích hợp. Để tiến hành thành công quá trình này, cần huyđộng tối đa mọi nguồn lực của quốc gia, trong đó vốn là một yếu tố vô cùngquan trọng. Có vốn mới có thể xây dựng cơ sở hạ tầng, nhập khẩu máy móchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 19
  17. 17. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthiết bị tiên tiến, hiện đại, đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực... Vốn thườngđược huy động từ nhiều nguồn khác nhau: đầu tư nước ngoài, du lịch, vayvốn trong dân, xuất khẩu... trong đó vốn thu được từ hoạt động xuất khẩu cótác động lớn đến hoạt động nhập khẩu, qua đó đẩy mạnh tiến trình CNH-HĐH đất nước. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta những năm gần đây, kimngạch từ xuất khẩu gạo chiếm một tỷ trọng khá lớn. Gạo đã trở thành mộtmặt hàng chủ lực của nông sản Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế chothấy xuất khẩu gạo từ lâu đã mang lại một nguồn vốn không nhỏ cho nướcta. Theo số liệu mới nhất của Bộ Thương mại, trong suốt 11 năm từ 1989đến 2000, tổng kim ngạch mà xuất khẩu gạo mang lại đạt gần 7 tỷ USD,chưa kể đến xuất khẩu tiểu ngạch sang các nước láng giềng như TrungQuốc, Lào, Campuchia. Như vậy, gạo đã chiếm tới khoảng 16% tổng kimngạch xuất khẩu của cả nước, một tỷ lệ không nhỏ đối với riêng một mặthàng trong rất nhiều mặt hàng xuất khẩu khác. Xuất phát từ vai trò quan trọng của gạo đối với quá trình CNH-HĐHđất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng hơn tới tăng cường áp dụngcông nghệ tiên tiến vào sản xuất, đặc biệt chú ý tới những giống lúa có chấtlượng và cho năng suất cao, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu gạonhằm đem lại nguồn vốn lớn phục vụ công cuộc đổi mới đất nước.1.2.1.2. Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúcđẩy sản xuất phát triển Khi Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu gạo đồng nghĩa với việc tăng cườngsản xuất theo quy mô vùng. Hiện nay, ở nước ta đã và đang hình thànhnhững vùng lúa tập trung chuyên sản xuất gạo xuất khẩu bao gồm cả hai khuvực chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Mỗivùng phù hợp với những loại giống lúa khác nhau. Như vậy, cơ cấu nôngnghiệp sẽ thay đổi phát huy theo lợi thế của từng vùng. Khi đẩy mạnh xuất khẩu gạo, cơ cấu ngành nghề cũng sẽ thay đổi.Hàng loạt các nghề phụ liên quan đến sản xuất và chế biến gạo như xay sát,bảo quản, đánh bóng... cũng phát triển theo. Đây là điều kiện thuận lợi đốivới nền kinh tế dư thừa lao động như nước ta, giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệptrong nông thôn và góp phần cải thiện đời sống nhân dân. Trong những năm gần đây, sản lượng lúa thu hoạch tăng cao. Xuấtkhẩu gạo tạo điều kiện mở rộng tiêu thụ sản phẩm, tránh ứ đọng, tồn kho.Khi khâu tiêu thụ được giải quyết sẽ tạo tâm lý an tâm, khuyến khích nônghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 20
  18. 18. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comdân tăng cường, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Như vậy,xuất khẩu đã tác động ngược trở lại đối với sản xuất, là một tiền đề cho sảnxuất phát triển, tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp và khả năng tiêudùng của một quốc gia như Việt Nam. Khi tham gia xuất khẩu gạo, Việt Nam có điều kiện cạnh tranh, cọ xátvới các sản phẩm cùng loại trên thị trường quốc tế. Đây vừa là thuận lợi, vừalà khó khăn đối với mặt hàng gạo của Việt Nam vì chất lượng của ta cònkém hơn so với các nước xuất khẩu khác, đặc biệt là Thái Lan. Tuy nhiên,để đảm bảo sự tồn tại của gạo Việt Nam trên thị trường, các doanh nghiệpbuộc phải tổ chức, xem xét lại khâu sản xuất, hình thành một cơ cấu sản xuấtthích hợp, hạ giá thành sản phẩm đồng thời nâng cao chất lượng. Các kênhphân phối cũng phải tổ chức lại một cách hợp lý, giảm thiểu chi phí nhằmmang lại lợi nhuận tối đa.1.2.1.3. Xuất khẩu gạo tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việclàm và cải thiện đời sống của nhân dân Như trên đã phân tích, khi xuất khẩu gạo được đẩy mạnh sẽ kéo theonhững ngành nghề khác hỗ trợ cho sản xuất như các hoạt động thương mại,dịch vụ bao gồm các công đoạn tổ chức thu mua thóc từ nông dân, tạo đầuvào cho xuất khẩu. Các hoạt động này nếu được được tiến hành tốt, có sự chỉđạo đúng đắn sẽ tạo ra sự khai thông đầu ra cho sản phẩm thóc của nhân dânở thời vụ thu hoạch, kích thích nông dân canh tác, nâng cao năng suất. Từ đótác động trở lại đối với sản xuất và xuất khẩu. Như vậy, không chỉ sản xuấtgạo xuất khẩu có thể giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho nhiều laođộng mà những ngành nghề khác có liên quan cũng góp phần giảm tỉ lệ thấtnghiệp của nước ta. Xuất khẩu gạo tạo một thị trường trong nước ít biến động, cân bằngđược cung cầu, không còn lượng hàng dư thừa và tồn kho trong nước, giágạo nội địa sẽ ổn định và cao hơn tạo thêm thu nhập cho người nông dân.Khi xuất khẩu gạo thu được thêm ngoại tệ một phần để nhập khẩu các mặthàng tiêu dùng mà trong nước không sản xuất được. Điều đó góp phần cảithiện đáng kể đời sống nhân dân, khuyến khích họ tăng cường sản xuất gạoxuất khẩu nhiều hơn nữa. Xuất khẩu gạo tạo sự phân công lao động hợp lý trên phạm vi toàn thếgiới. Dựa vào lợi thế so sánh tương đối đối với các loại gạo Việt Nam,chúng ta cần biết sản xuất loại gạo nào đạt hiệu quả cao nhất và có khả năngbán với số lượng lớn, giá cao. Tham gia vào thị trường bên ngoài rộng lớn,http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 21
  19. 19. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchúng ta hiểu rõ hơn về nhu cầu người tiêu dùng và khả năng cung cấp củacác nước xuất khẩu khác để điều chỉnh định hướng xuất khẩu cho phù hợpvới hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của nước ta.1.2.2. Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam trong những năm qua1.2.2.1. Tình hình chung Nếu nhìn lại giai đoạn trước đổi mới, khi cả nước ta lâm vào cảnh thiếuđói triền miên, các gia đình luôn phải tích trữ lương thực, trộn lẫn các loạigạo, sắn, khoai... trong mỗi bữa ăn thì mới thấy được thành công to lớn củangành lương thực nước ta trong suốt thời gian qua. Dưới cơ chế tập trungbao cấp, sản xuất nông nghiệp nước ta mang nặng tính tự cấp tự túc, sảnxuất không đủ tiêu dùng, thiếu lương thực trở thành vấn đề quan tâm hàngđầu của Đảng và Nhà nước. Từ khi thực hiện đổi mới sau nghị quyết 10 củaBộ Chính trị về đổi mới kinh tế nông nghiệp đến nghị quyết 6 của Ban chấphành Trung ương khoá VI, cùng với việc ban hành một loạt các chính sáchkinh tế mới, nông nghiệp nước ta đã có nhiều khởi sắc. Cơ chế của nền nôngnghiệp từ tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoá theo hướng CNH-HĐH đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là trong xuất khẩugạo. Năm 1989 là năm đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử xuất khẩu gạo củanước ta, khi Việt Nam đứng ở vị trí thứ 3, sau Thái Lan và Mỹ, trong sốnhững nước xuất khẩu gạo trên thị trường thế giới. Số lượng gạo xuất khẩutăng dần từ 1,327 triệu tấn vào năm 1989 lên tới 1,478 triệu tấn năm 1990,giảm nhẹ vào năm 1991 với 1 triệu tấn do những biến động từ thị trườngNga và Đông Âu sau khi CNXH Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âusụp đổ. Sau năm này, số lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không ngừngtăng. Năm 1995, Việt Nam xuất khẩu 2,025 triệu tấn và xếp vào vị trí thứ 4trong các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Sau quyết định bãi bỏ lệnhcấm vận của Mỹ đối với Việt Nam, khối lượng gạo xuất khẩu có xu hướngtăng nhanh. Việt Nam tiếp tục vươn lên hàng thứ 3 về xuất khẩu gạo vàonăm 1996 với số lượng hơn 3 triệu tấn, vượt qua Mỹ và chỉ xếp sau TháiLan, Ấn Độ. Kết quả này thực đáng ghi nhận vì vào năm này, Việt Nam phảiđối đầu với một loạt các thiên tai như bão nhiệt đới, lũ lụt... Các năm tiếptheo, lượng gạo xuất khẩu vẫn tăng đều mà đỉnh cao là năm 1999 với 4,559triệu tấn, thu về kim ngạch hơn 1 tỷ USD. Đến năm 2000, do những biếnđộng trên thị trường thế giới, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam giảmhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 22
  20. 20. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comxuống, chỉ còn 3,47 triệu tấn, kim ngạch thu về đạt 667 triệu USD. Năm2001, kinh tế thế giới tiếp tục có nhiều khó khăn nên dự đoán Việt Nam chỉxuất khẩu 3,470 triệu tấn. Số liệu về xuất khẩu gạo giai đoạn 1989-2001được thể hiện cụ thể trong bảng sau: Bảng 1.4. Kết quả xuất khẩu (1989-2001) % thay đổi so Trị giá Giá bình quân Năm Số lượng với năm trước (USD/ MT) (USD/MT) 1989 1.372 100 310.249 226,1 1990 1.478 106 275.390 186,3 1991 1.016 -462 229.857 226,2 1992 1.954 938 405.132 207,3 1993 1.649 -305 335.651 203,5 1994 1.962 313 420.861 214,5 1995 2.025 63 538.838 266,1 1996 3.047 1022 868.417 285,0 1997 3.682 635 891.342 242,1 1998 3.793 111 1.005.484 265,1 1999 4.559 766 1.007.847 221,0 2000 3.470 -1089 667.000 192,2 2001 3.700(*) 226 Tổng 30.227 6.990.345(**) (*): Dự kiến; (**): Chưa kể số dự kiến xuất khẩu năm 2001 Nguồn: Vụ xuất nhập khẩu – Bộ Thương mại Kim ngạch xuất khẩu gạo biến động theo các năm, phụ thuộc vào haiyếu tố giá cả và số lượng xuất khẩu. Năm 1999 là năm Việt Nam đạt kimngạch xuất khẩu cao nhất cũng là năm số lượng gạo xuất lớn nhất, tuy giágạo Việt Nam trên thị trường thế giới không cao (221 USD/MT).http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 23
  21. 21. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Về thị trường, khách hàng thường xuyên của gạo Việt Nam phần lớn làcác nước đang phát triển. Một số nước châu Âu mua gạo Việt Nam đểchuyển sang các nước châu Phi dưới hình thức viện trợ nhân đạo. Các nướccòn lại nhập khẩu gạo Việt Nam với mục đích tiêu dùng trong nước. Quanhiều năm, thị phần gạo Việt Nam đã tăng và có những cải thiện đáng kể. Kể từ năm 1989, Việt Nam đã chuyển từ nước nhập khẩu sang xuấtkhẩu gạo, cải thiện đời sống của một bộ phận lớn dân cư, gia tăng sức muaxã hội, giảm bớt thâm hụt thương mại, là tiền đề chống lạm phát có kết quả,từ đó tác động tích cực đến quá trình phát triển kinh tế Việt Nam trongnhững năm sau này. Kết quả trong xuất khẩu gạo là một trong những thànhquả nổi bật nhất về mặt kinh tế trong những năm cuối thế kỷ 20, là bướckhởi đầu cho quá trình chuyển đổi, vững bước tiến lên CNH-HĐH, vận hànhnền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của nước ta. Thành tựu nàyđã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng lương thực, tạo cho nhân dân niềm tin vàosự lãnh đạo và đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, góp phần ổnđịnh tình hình phức tạp và nhiều biến động trong nước. Có được những thành quả nói trên là nhờ vào sự điều chỉnh và đề rachính sách mới đúng đắn, sự năng động của nông dân cùng với những nỗ lựccủa các nhà xuất khẩu, các nhà xay xát, chế biến và cả những thuận lợi, maymắn do hoàn cảnh khách quan. Nhưng yếu tố chủ yếu nhất vẫn là cơ chế,chính sách đã được hoàn thiện trong nhiều năm và sẽ liên tục được phát huytrong những năm tới. Nhìn chung trong thời gian qua, hoạt động xuất khẩu gạo đã có nhữngđóng góp rất quan trọng vào công cuộc phát triển chung của nền kinh tế.Xuất khẩu gạo bước đầu có những thành công nhất định, chứng tỏ đường lốiđúng đắn của Đảng ta khi thực hiện chính sách mở cửa, đẩy mạnh tiến trìnhhoà nhập của Việt Nam trên thị trường thế giới. Xuất khẩu gạo đã mang lạihiệu quả kinh tế xã hội to lớn như đã phân tích là tạo nguồn thu ngoại tệ,kích thích sản xuất lúa phát triển, góp phần đảm bảo an toàn lương thựcquốc gia, tạo việc làm ổn định cho lao động trong khu vực nông nghiệp vàmạng lưới lưu thông phân phối gạo rộng khắp cả nước, cung cấp nguồnnguyên liệu dồi dào cho các ngành lương thực, thực phẩm.1.2.2.2. Những tồn tại trong xuất khẩu gạo của nước ta Ngoài những thành công đáng khích lệ, xuất khẩu gạo Việt Nam còntồn tại những yếu kém mà chúng ta cần xem xét, qua đó đề ra các biện phápcần khắc phục. Cụ thể là:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 24
  22. 22. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Sức cạnh tranh trên thị trường thế giới của gạo Việt Nam vẫn cònkém. Có nhiều nguyên nhân để giải thích song cần nhấn mạnh đến chấtlượng gạo thấp (qua khâu sản xuất và chế biến), cơ sở hạ tầng giao thôngcần thiết theo yêu cầu đã cũ kỹ, lạc hậu. Đây là điểm yếu cần khắc phụcngay của gạo Việt Nam. - Xuất khẩu gạo của Viêt Nam nhìn chung chưa ổn định. Vì thời gianViệt Nam tham gia xuất khẩu còn chưa lâu so với các nước khác nên khôngcó được những bạn hàng truyền thống. Hơn nữa, chính sách bạn hàng của tacòn nhiều bất cập, khó giữ được lòng tin ở khách hàng. Các đối thủ cạnhtranh của Việt Nam có chất lượng gạo tốt hơn song về giá cả, gạo Việt Namthường rẻ hơn dù trong thời gian gần đây đã có những dấu hiệu đáng mừngtrong giá gạo của Việt Nam trên thị trường thế giới. Chính vì thế, chúng tanên tập trung chủ yếu vào một số thị trường nhất định như thị trường cácnước đang phát triển để tìm kiếm nhanh chóng hợp đồng. - Xuất khẩu gạo Việt Nam phần lớn phải tiến hành qua khâu trung gian,rất ít khi nhà xuất khẩu trực tiếp tham gia đấu thầu giành hợp đồng ở cácnước nhập khẩu lớn nên chưa có được những hợp đồng quy mô lớn, giaohàng với giá cả ổn định, dài hạn mà chủ yếu là hợp đồng ngắn hạn, từngchuyến, theo mùa, giá cả bấp bênh và xác suất rủi ro khá cao. - Hiện tượng cạnh tranh không bình đẳng giữa các doanh nghiệp trongnước do tranh mua, tranh bán dẫn đến đội giá mua lên cao, trình độ nắm bắtvà xử lý thông tin của doanh nghiệp vẫn còn yếu nên dễ dẫn đến bị thươngnhân nước ngoài ép giá. Nói tóm lại, đi đôi với những thành tựu đạt được về xuất khẩu gạochúng ta còn rất nhiều khó khăn và thách thức phải vượt qua. Điều đó đòihỏi tất cả các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình này phải nghiên cứu,tìm tòi những giải pháp khắc phục, đồng thời có những đổi mới thích hợpnhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu gạo ở nước ta.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 25
  23. 23. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comCHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆTNAM THEO QUAN ĐIỂM MARKETING-MIX2.1. Các khái niệm cơ bản về Marketing2.1.1. Khái niệm chung về Marketing Hiện nay trong các tác phẩm về Marketing trên thế giới, có đến trên2.000 định nghĩa về Marketing. Các định nghĩa đó về thực chất không khácnhau và mỗi tác giả của các định nghĩa đều có quan điểm riêng của mình.Tuy nhiên, khi nghiên cứu vấn đề xuất khẩu gạo ở tầm vĩ mô, xin nêu ra mộtđịnh nghĩa khá phù hợp với khái niệm và thuật ngữ của Marketing:“Marketing là tập hợp các phương thức (nghiên cứu thị trường, các chiếnlược...) mà một cơ quan, tổ chức sử dụng để gây ảnh hưởng lên thái độ,hành vi của tập hợp người tiêu dùng đáng quan tâm theo chiều hướng thuậnlợi cho việc thực hiện các mục tiêu của cơ quan, tổ chức đó”. Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, ngoài việc cân bằng cán cân thương mại,những mục tiêu này bao gồm: - Thứ nhất, sự ổn định vững chắc của kinh tế đất nước. - Thứ hai, sự phân bố thu nhập đồng đều giữa người sản xuất, nhà xuấtkhẩu.2.1.2. Khái niệm về Marketing-mix và các thành phần cơ bản củaMarketing-mix Theo Kotler, Marketing-mix là tập hợp những công cụ Marketing đượcsử dụng để theo đuổi những mục tiêu Marketing của mình trên thị trườngmục tiêu. Marketing-mix bao gồm bốn yếu tố chính: chiến lược sản phẩm,chiến lược giá cả, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến và hỗ trợ kinhdoanh. Meredith G.G (1991), trang 9 có nói rõ về 4 yếu tố này như sau: Bảng 2.1. Các thành phần của Marketing-mix Sản phẩm Phân phối Xúc tiến Giá cảChủng loại Vị trí các đại lý Quảng cáo Giá cơ sởChất lượng Loại đại lý Tiêu thụ cá nhân Điều kiện tín dụngNhãn hiệu Kho chứa hàng Bán trực tiếp Điều kiện chuyển giao Sử dụng bởi nhàBao bì Xúc tiến bán hàng Bảo hành bán buôn Sử dụng bởi nhàDịch vụ Công cộng Chiết giá và bớt giá bán lẻhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 26
  24. 24. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comGiao hàng Đại lý độc quyền Quan hệ với công chúng Chiết khấu * Chiến lược sản phẩm Chiến lược sản phẩm luôn được coi là quan trọng nhất trong chiến lượcMarketing. Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, chiến lược này bao gồm các nhiệmvụ như phát triển sản xuất, kiểm tra chất lượng, định vị sản phẩm nhằm đápứng hai mục tiêu chính: thứ nhất, mục tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường vàtăng số lượng sản phẩm bán ra; thứ hai, mục tiêu cân bằng hoạt động xuấtkhẩu ra nước ngoài và sự ổn định của thị trường trong nước nhằm đảm bảoan ninh lương thực. * Chiến lược giá cả Giá là một yếu tố rất quan trọng trong Marketing-mix. Chính sách giáphải đảm bảo thu hút các thành phần kinh tế khác nhau tham gia vào thươngmại hoá sản phẩm nhằm mục đích đẩy mạnh xuất khẩu. * Chiến lược phân phối Là chiến lược bao gồm các vấn đề như thiết lập các kiểu kênh phânphối, lựa chọn trung gian, thiết lập mối liên hệ trong kênh và toàn bộ mạnglưới phân phối, các vấn đề dự trữ, kho bãi, phương thức vận chuyển... Hiểutheo nghĩa rộng, phân phối có nghĩa là tập hợp tất cả các phương thức vàhoạt động chuyển hàng hoá và dịch vụ từ người bán đến người mua. Chiếnlược này chú trọng đến các mục tiêu: + Mở rộng thị trường tiềm năng. + Tăng cường chất lượng các kênh thương mại. + Giảm thiểu chi phí trong phân phối. * Chiến lược xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh Là chiến lược bao gồm mọi hoạt động nhằm truyền bá những thông tinvề sản phẩm như quảng cáo, kích thích tiêu thụ và các hoạt động khuyến mạikhác... tới người tiêu dùng. Chiến lược này nhằm đẩy mạnh các luồng thôngtin hai chiều giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Như vậy, Marketing-mix là loại Marketing phối hợp hài hoà các yếu tốcơ bản của nó sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của môi trường kinhdoanh nhằm thu được lợi nhuận tối ưu. Về nội dung có thể đưa ra mô hình sau:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 27
  25. 25. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com MM P1 P2 P4 P3 Đỉnh chóp của Marketing-mix toả ra 4 trục chính xuống các điểm của4P là MM-P1, MM-P2, MM-P3, MM-P4. Như vậy, đỉnh chóp MM đã hìnhthành sự phối hợp giữa các P. Do đó, tại bất kỳ điểm P nào cũng luôn luôncó sự liên kết với các P khác. Mối liên kết giữa các P là mối liên hệ qua lạihai chiều. Nội dung phối hợp hài hoà 4P cần phải thực hiện đồng bộ theo một kếhoạch thống nhất trong một thời gian nhất định nhằm đạt được hiệu quả tốiưu. Muốn có được sự phối hợp thành công phải hiểu rõ vai trò của từng yếutố P, vừa phát hiện kịp thời mối liên hệ, tương tác giữa chúng.2.1.3. Vai trò của Marketing-mix trong kinh doanh Theo định nghĩa về Marketing-mix thì đó là tập hợp những công cụđược sử dụng để tạo sự thích ứng giữa sản phẩm và thị trường mục tiêu. Nhưvậy, mục đích của Marketing-mix là đảm bảo rằng sản phẩm có thể đáp ứngđược thị trường mục tiêu. Theo Kotler, 4P nằm dưới sự kiểm soát của ngườibán (nhà xuất khẩu) và được sử dụng để tác động đến người mua. Theo quanđiểm của người mua (nhà nhập khẩu) thì mỗi công cụ của Marketing đều cóchức năng cung ứng một ích lợi cho khách hàng. Trong xuất khẩu nói chungvà xuất khẩu gạo nói riêng, nếu đáp ứng được nhu cầu của khách hàng mộtcách tinh tế, thuận tiện và thông tin hữu hiệu thì sẽ giành được thắng lợi.Nói một cách khác, để tác động trực tiếp và có hiệu quả tới khách hàng thìcác thành phần của Marketing-mix phải được sử dụng một cách tổng hợp. Marketing-mix được thiết kế theo những thủ tục sau: sản phẩm đượcthu mua để đáp ứng nhu cầu của khách hàng (sản phẩm); địa điểm mà kháchhàng sẽ tìm chúng (địa điểm) và khách hàng sẽ biết nó là loại sản phẩm gì,nó hoạt động như thế nào (xúc tiến bán). Sau đó mức giá sẽ được ước lượngvới sự cân nhắc đến tổng lượng cung cấp cho khách hàng. Quyết định đượcđưa ra liên quan đến cả 4 yếu tố trong Marketing-mix, bởi vì các yếu tố nàyhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 28
  26. 26. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđều có ảnh hưởng đến quá trình Marketing và đều có những đóng góp choviệc bán hàng.2.2. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam theo quan điểmMarketing-mix2.2.1. Sản phẩm Trong 4 yếu tố của Marketing-mix, sản phẩm đóng vai trò quan trọngnhất. Theo đề tài, sản phẩm được hiểu là các loại gạo xuất khẩu, phân tíchtheo các bước cơ bản: quá trình sản xuất, chất lượng và chủng loại...2.2.1.1. Sản xuất lúa gạo - bước khởi đầu cho xuất khẩu Sản xuất lúa gạo đóng một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấplương thực trong nước và tạo ra lượng gạo dư thừa dành cho xuất khẩu. Sảnxuất lúa gạo phụ thuộc vào các yếu tố chính như diện tích đất trồng, khí hậu,nhân công, phân bón... Là một nước nông nghiệp với 80% dân số sống và làm việc bằng nghềnông, Việt Nam coi sản xuất lúa gạo là ngành sản xuất chính. Từ sau Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, với những thay đổi trong đường lốichính sách, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong sản xuấtlương thực nói chung và lúa gạo nói riêng. Từ chỗ thiếu lương thực phảinhập khẩu thường xuyên, sau năm 1989, Việt Nam đã tự túc được lươngthực và có khối lượng xuất khẩu ngày càng tăng, đứng thứ hai, thứ ba trênthế giới. Sản lượng lúa gạo tăng khá ổn định trên cả 3 mặt: diện tích, năngsuất, chất lượng và hiệu quả. - Thứ nhất, về diện tích đất trồng, Việt Nam có gần 7 triệu ha đất dànhcho trồng trọt, chiếm 21% tổng diện tích của cả nước. Hai vựa lúa chính làđồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đã chiếm tới 5,6 triệuha, trong đó đất trồng trọt chiếm diện tích lớn. Cụ thể đồng bằng sông Hồngnăm 1990 chiếm 17,5%, đến năm 1998 có giảm nhưng đồng bằng sông CửuLong tăng từ 42% lên 51,8%. Nhìn chung diện tích đất trồng lúa cả nướctăng từ 5,89 triệu ha năm 1989 lên 7,33 triệu ha năm 1998, trung bình tăng2,33%/năm. - Thứ hai, về năng suất lúa cũng có những thay đổi đáng kể. Từ mức 26,6tạ/ha năm 1976-1980, năng suất lúa bình quân trên cả nước đã lên tới 32,5tạ/ha năm 1981-1988; 34,8 tạ/ha năm 1989-1993; 38 tạ/ha năm 1994-1997và 40 tạ/ha năm 2000, đạt nhịp độ tăng bình quân 4-5%/năm. Như vậy,khoảng 42-44% sản lượng thóc tăng do tăng diện tích, còn lại do tăng năngsuất. Điều đó có được nhờ ứng dụng nhiều tiến bộ KHKT, nhất là những tiếnbộ về giống lúa có năng suất và chất lượng cao như CR 203, OM 80-81, IRhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 29
  27. 27. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com58, IR 64 và các giống lúa lai Trung Quốc. Từ đó đã có những thay đổi trongcơ cấu mùa vụ, tránh né được nhiều thiệt hại do thời tiết gây ra. - Thứ ba, về sản lượng lúa. Do năng suất và diện tích sản xuất tăng vàtăng với tốc độ khá cao nên sản lượng lúa của cả nước cũng tăng. Giai đoạn1995-2000 sản lượng lương thực hàng năm của nước ta đạt trung bình 28,7triệu tấn, cao nhất so với những năm trước. Cụ thể năm 1995 đạt 24,9 triệutấn, năm 1996 đạt 26,4 triệu tấn, năm 1997 đạt 27,6 triệu tấn, năm 1998 đạt29,1 triệu tấn, năm 1999 đạt 31,4 triệu tấn, đặc biệt năm 2000 sản lượng lúalên tới 32,5 triệu tấn. Dự kiến năm 2001 con số này sẽ giảm nhẹ xuống 31,4triệu tấn. Mặc dù tốc độ tăng dân số ở nước ta còn cao nhưng tốc độ tăngtrưởng của sản lượng lúa tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số nên lương thựcbình quân đầu người cũng tăng qua các năm. BiÓu ®å 2.1: S¶n l­ îng lóa qua tõng n¨ m 35000000 S¶n l­îng (tÊn) 30000000 25000000 20000000 S¶n l­ î ng 1 5000000 1 0000000 5000000 0 1 995 1 996 1 997 1 998 1 999 2000 2001 N¨ m Nguồn: Vụ xuất nhập khẩu - Bộ thương mại Nhìn chung, tình hình phát triển sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trongnhững năm qua có những dấu hiệu tích cực với những thành tích đáng kể.Có được thành công đó là do thay đổi kịp thời và đúng đắn trong cơ chếquản lý, đặc biệt là cơ chế “khoán 10” năm 1988. Bên cạnh đó, những tiếnbộ trong các khâu cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá và nghiên cứu sinh học cải tạogiống lúa đã góp phần không nhỏ vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơcấu mùa vụ, tăng diện tích đất gieo trồng, thâm canh tăng năng suất lúa... Tuy nhiên, dù đã có sự tiến bộ vượt bậc so với thời kỳ trước, sản xuấtlúa gạo ở nước ta vẫn còn biểu hiện những hạn chế khó tránh khỏi. Về mặtkỹ thuật, dù đã áp dụng công nghệ mới nhưng nhìn chung vẫn còn lạc hậu,phải sử dụng lao động thủ công trên đồng ruộng. Năng suất lao động, chấtlượng sản phẩm tuy có sự cải thiện rõ nét nhưng vẫn còn thấp so với cácnước trong khu vực và trên thế giới. Chúng ta thường chú trọng đến việc tạora số lượng gạo lớn nhằm đảm bảo an ninh lương thực trong nước và xuấthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 30
  28. 28. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkhẩu song lại không quan tâm nhiều đến việc nâng cao chất lượng sản phẩmđể tạo sức cạnh tranh, nâng cao giá của mặt hàng gạo xuất khẩu trên thịtrường quốc tế. Trong thời gian tới, sản xuất lúa gạo sẽ tập trung thực hiện ba mục tiêu:đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, thoả mãn nhu cầu lươngthực cho tiêu dùng trong bất cứ tình huống nào; đảm bảo đủ nguyên liệu chocông nghiệp chế biến và tăng khối lượng xuất khẩu với hiệu quả cao.2.2.1.2. Chất lượng gạo xuất khẩu * Chất lượng Tuy trong những năm gần đây Việt Nam đạt vị trí cao về số lượng gạoxuất khẩu nhưng về chất lượng thì có nhiều yếu kém. Chất lượng của gạonói chung phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên và tác động của conngười như đất đai, khí hậu, nước tưới, phân bón, giống lúa, chế biến, vậnchuyển, bảo quản... mà quan trọng nhất là giống lúa, các phương pháp sảnxuất và các khâu sau thu hoạch. - Về giống lúa: từ nhiều năm qua, Việt Nam đã nghiên cứu, chế tạo và ápdụng nhiều giống lúa mới cho năng suất cao, chất lượng tốt và có khả năngchống chịu giỏi với tình hình thời tiết, thiên tai, sâu bệnh. Tuy nhiên, cácgiống lúa làm hàng xuất khẩu đòi hỏi những yêu cầu cao hơn các loại khác.Ví dụ như đồng bằng sông Cửu Long - chiếc nôi sản xuất gạo của nước ta -có tới 70 giống lúa khác nhau thì chỉ có 5 giống lúa có thể làm hàng xuấtkhẩu được là IR 9729, IR 64, IR 59606, OM 132, và OM 997-6. Tương tựnhư vậy, ở miền Bắc, lượng giống lúa cũng dừng lại ở con số 5 gồm C70,C71, CR 203, Q5, IR 1832 là đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, trên tổng số lượnggiống lúa gieo trồng khá phong phú. Qua đó cho thấy, giống lúa kém chấtlượng là một nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của gạoxuất khẩu Việt Nam. So sánh với các quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thếgiới như Thái Lan, Ấn Độ thì thấy được rằng họ có những giống lúa có thểcho gạo có chất lượng cao hơn nhiều. Điển hình là Thái Lan, cường quốchàng đầu về xuất khẩu gạo, với giống lúa Khaodaumali chất lượng cao, vớisản lượng xuất một năm là 1,2 triệu tấn. Ấn Độ cũng rất tự hào với gạoBasmati, một loại gạo thơm đặc sản, đang cạnh tranh gay gắt với hàng củaThái Lan và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu gạo củanước này. - Về phương pháp sản xuất và các khâu sau thu hoạch, khâu đóng vai tròkhá quan trọng, quyết định tới chất lượng gạo xuất khẩu cũng còn nhiều bấtcập. Dù đã áp dụng các phương pháp mới vào trong sản xuất nhưng khôngtoàn bộ nên rất dễ ảnh hưởng đến chất lượng khi thu hoạch. Sau khi gặt hái,http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 31
  29. 29. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comhạt thóc phải được xay xát, chế biến, bảo quản tốt nhằm làm tăng giá trị. Tuynhiên, thực tế cho thấy ngành công nghiệp xay xát chế biến lúa gạo ở nướcta còn nhỏ bé và thường áp dụng những công nghệ lạc hậu. Cụ thể, côngviệc ở một số khâu được tiến hành như sau: Phơi sấy: giai đoạn này phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống kho chứa và cáchthức bảo quản, nhất là đối với một nước có khí hậu nhiệt đới như ở ViệtNam. Kỹ thuật phơi nói chung thường rất lạc hậu, nông dân thường làm theocách thủ công. ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi cung cấp tới 90% lượng gạoxuất khẩu thì cũng phải trên 90% phơi thóc trên đường giao thông, bờ kênhrạch, ngay trên ruộng và phơi qua đêm. Cách phơi này rất bị động, lại gâytình trạng lẫn lộn, lẫn tạp và nhất là hạt thóc không khô đều từ ngoài vàotrong nên khi xay xát tỷ lệ gạo gãy, gạo tấm cao làm giảm giá trị hạt gạo.Hiện nay trong nước đã có nhiều loại máy sấy có chất lượng tốt, song vì chiphí cao (cả đầu tư ban đầu cũng như năng lượng cho quá trình sấy), thời giansử dụng lại ngắn, chỉ phù hợp với điều kiện sản xuất hàng hoá lớn nên chưaphát triển. Bảo quản: thóc sau khi phơi khô phải được bảo quản nơi thoáng mát,trong những bao bì sạch, có khả năng hạn chế ẩm, mốc, sâu mọt. Nông dânthường bảo quản tại nhà. Ở đồng bằng sông Hồng, nông dân thường sử dụngcác kho không có hệ thống thông hơi và các thiết bị bảo vệ chống côn trùngvà chuột. Hơn nữa, khí hậu ở khu vực này rất khắc nghiệt với nhiệt độ trungbình là 26-280C và lên tới 36-370C vào mùa hè; độ ẩm là 80%, có lúc tới100% nên khó có thể bảo quản tốt lúa gạo xuất khẩu. Các doanh nghiệp thường có kho lớn hơn. Tuy nhiên, mạng lưới kho từlâu năm, một số không phù hợp, chất lượng kho kém, thiếu phương tiện bốcdỡ và hầu hết vẫn dùng lao động thủ công. Xay xát, tái chế: công nghiệp xay xát đóng vai trò rất quan trọng đối vớichất lượng gạo xuất khẩu. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, hiện nay có hơn 300 cơ sở xay xát quy mô vừa và 6.000 cơ sởquy mô nhỏ có thể xử lý 15 triệu tấn gạo mỗi năm. Phần lớn các cơ sở nàysử dụng máy xát do các doanh nghiệp nhà nước cung cấp, một số khác thìnhập khẩu từ nước ngoài. Tỷ lệ thu hồi gạo ở các cơ sở xay xát tư nhân chỉđạt 60-62% trong đó gạo nguyên 42-45%, tấm 18-20%. Như vậy, khâu xayxát ở khu vực này nghiễm nhiên làm mất đi trên dưới 10% giá trị do chấtlượng gạo giảm. Chỉ các nhà máy thuộc Tổng công ty lương thực và công tylương thực ở các tỉnh được trang bị máy tốt, các công đoạn được thực hiệnhoàn chỉnh từ đầu đến cuối (loại bỏ tạp trước khi xay, bóc vỏ trấu, xát trắng,đánh bóng gạo, phân loại gạo, tách màu và đóng bao) nên đạt tỷ lệ thu hồigạo tới 75-76% (gạo nguyên 52-55%).http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 32
  30. 30. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Nhìn chung, công đoạn sau thu hoạch ở Việt Nam vẫn còn những yếukém. Theo những ghi nhận từ cuộc điều tra của Viện nghiên cứu sau thuhoạch, những khu vực mục tiêu của đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằngsông Hồng và miền Trung thì tỷ lệ thất thoát của gạo là từ 13% đến 16%.Đây là một tỷ lệ cao so với trung bình của thế giới (10%). Do đó thực tiễnđòi hỏi chúng ta cần nâng cao hơn nữa các phương pháp xử lý gạo sau khithu hoạch qua tất cả các công đoạn như trang bị, làm mới công nghệ, cungcấp các thiết bị hiện đại... Như vậy mới có thể giảm tỷ lệ thất thoát, tăng chấtlượng và nâng cao khả năng cạnh tranh của gạo xuất khẩu Việt Nam trên thịtrường quốc tế. * Tỷ lệ tấm và các chỉ tiêu khác Chất lượng gạo xuất khẩu phụ thuộc vào các tiêu thức khác nhau đểđánh giá. Trên thương trường gạo quốc tế, gạo được phân ra 5 loại thị hiếu,mỗi loại có chất lượng khác nhau dựa trên các chỉ tiêu: tỷ lệ tấm, kích thướchạt, độ ẩm, mức độ đánh bóng, tỷ lệ amylaza, tỷ lệ protein, nhiệt hồ hoá, mùithơm... và ứng với mỗi loại chất lượng sẽ có giá mua khác nhau. Trong hoàncảnh cụ thể của Việt Nam là nước mới xuất khẩu gạo từ 1989 thì bước đầucác doanh nghiệp chỉ quan tâm tới tỷ lệ tấm, kích thước hạt và màu gạo. Đốivới chỉ tiêu tỷ lệ tấm, nếu gạo đạt tỷ lệ dưới 10% được coi là chất lượng cao,10-15% là chất lượng trung bình và trên 15% là chất lượng thấp. Bảng 2.2. Chất lượng gạo xuất khẩu (1989-2001) (% so với tổng số lượng xuất khẩu năm đó) Cấp trung bình Cấp thấp (25-30%) Năm/Tỷ lệ % tấm Cấp cao (5-10%) (15%) và loại khác 1989-1995 (*) 41,20 14,15 44,65 1996 45,50 11,00 43,50 1997 41,00 9,00 50,00 1998 53,00 11,00 36,00 1999 34,78 23,34 41,88 2000 42,68 26,24 31,08 2001 (đến 31/8) 39,00 13,20 47,80 Nguồn: Vụ Xuất nhập khẩu-Bộ Thương mạihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 33
  31. 31. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Năm 1989 là năm đầu tiên Việt Nam xuất khẩu gạo, chủ yếu là gạo cấpthấp (97,42%) còn gạo cấp trung bình và gạo cấp cao chiếm tỷ lệ ít. Đó là donhững đầu tư về mặt kỹ thuật và chế biến của chúng ta có nhiều hạn chế dẫnđến tỷ lệ tấm là 35% trong gạo, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khối lượngxuất khẩu, gây ra những thiệt thòi lớn. Xuất khẩu ở thời kỳ này do kém vềchất lượng nên sức cạnh tranh kém dẫn đến việc chúng ta phải bán cho cácnước có truyền thống xuất khẩu gạo để chế biến lại và tái xuất, chịu chi phítrung gian cao. Qua nhiều năm, khi sản xuất được cải thiện, chất lượng gạođã tiến bộ do có nhiều giống mới và công tác chế biến, bảo quản tốt, ViệtNam đã có nhiều loại gạo tốt đáp ứng yêu cầu cạnh tranh của thị trường thếgiới. Xét về tỷ lệ tấm, chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam có xu hướngtăng tỷ lệ gạo cấp cao và trung bình, đồng thời giảm tỷ lệ gạo cấp thấp. Tuynhiên mức tăng không ổn định. Năm 1998, tỷ lệ gạo cấp cao là 53% tăng sovới 41,2% trung bình 7 năm (1989-1995). Trong năm 1999, gạo 5-10% tấmlại giảm xuống còn 34,78%, thấp nhất so với các năm trước. Dự báo năm2001 tỷ lệ gạo theo thứ tự cấp cao, trung bình, thấp lần lượt là 39%, 13,2%,và 47,8% - một kết quả không mấy khả quan cho việc đánh giá chất lượnggạo xuất khẩu dựa theo tỷ lệ tấm. Tình hình này cũng không có nghĩa chấtlượng gạo Việt Nam nói chung bị tụt lùi mà có thể là sự ứng xử hợp lý trongchiến thuật kinh doanh xuất khẩu của ta căn cứ vào nhu cầu giá cả và diễnbiến thực tế của thị trường gạo thế giới. Năm 2001 là năm kinh tế toàn cầucó nhiều khó khăn, đặc biệt cả lượng gạo xuất-nhập đều có nguy cơ giảm sovới năm 2000. Trong điều kiện giá gạo tăng, nhiều nước nghèo chỉ có thểtiêu dùng những loại gạo có chất lượng thấp do sức mua hạn chế, đẩy giágạo loại này tăng nhiều so với giá gạo chất lượng cao. Giảm tỷ lệ gạo tấm5-10% có thể là một ứng xử linh hoạt trong việc hoạch định chính sách xuấtkhẩu của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, đặc biệt khi chúngta mở rộng thị trường sang các nước châu Phi và châu Á - những nước cónhiều nhu cầu về gạo phẩm cấp thấp và trung bình. Bên cạnh đó, để phù hợpvới xu hướng phát triển của thị trường thế giới, Việt Nam vẫn chủ trươngtăng tỷ trọng gạo chất lượng cao nhằm hướng ra thị trường châu Âu, Nhật vàBắc Mỹ. Mặc dù những năm gần đây gạo có chất lượng cao ngày càngchiếm tỷ trọng lớn - một tiến bộ nói chung của ngành sản xuất và xuất khẩugạo - nhưng vẫn còn những nhược điểm khác như độ trắng không đồng đều,lẫn thóc và tạp chất, gạo vụ hè thu thường có độ ẩm cao, bạc bụng, vàng hạt,http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 34

×