• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH ở Việt Nam
 

Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH ở Việt Nam

on

  • 1,299 views

đề tài: “Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH ở Việt Nam” Tải luận văn tại luanvan84.com

đề tài: “Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH ở Việt Nam” Tải luận văn tại luanvan84.com

Statistics

Views

Total Views
1,299
Views on SlideShare
1,299
Embed Views
0

Actions

Likes
1
Downloads
0
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH ở Việt Nam Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH ở Việt Nam Document Transcript

    • Luận văn tốt nghiệp LỜI MỞ ĐẦU Hoạt động BHXH luôn nằm trong chương trình bảo vệ xã hội của mỗiquốc gia, bảo đảm an toàn cho xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế. Chươngtrình bảo vệ xã hội có các hệ thống bảo đảm xã hội (phúc lợi xã hội, trợ giúpxã hôi…), hệ thống Bảo hiểm tư nhân. Mỗi hệ thống có một phương thức tổchức thực hiện khác nhau thể hiện qua việc hình thành nguồn tài trợ cho hoạtđộng và cách phân phối cho người thụ hưởng của hệ thống. Hệ thống BHXH bảo vệ lợi ích cho mọi người lao động khi bị ốm đauthai sản, tai nạn lao động, khi về già hoặc khi gặp phải những rủi ro biến cốtrong cuộc sống. Thông qua việc hình thành một quỹ BHXH do các bên thamgia BHXH đóng góp và sự hỗ trợ của Nhà nước. Đây là hoạt động không kinhdoanh, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Ở nước ta, chính sách BHXHđược Đảng và Nhà nước đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm và thựchiện ngay từ những ngày đầu thành lập nước và thường xuyên được bổ sungđiều chỉnh cho phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thànhphần kinh tế và có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủnghĩa. Với những quan hệ lao động phong phú đa dạng và phức tạp đã gâykhông ít khó khăn cho việc thực hiện chính sách BHXH nói chung và côngtác thu chi của quỹ BHXH nói riêng. Chính vì thế mà chính sách BHXH luôncần được nghiên cứu, tìm hiểu nhằm đổi mới chính sách BHXH nói chung vàcông tác thu BHXH nói riêng. Quỹ BHXH là một nội dung quan trọng trong chính sách BHXH. Nó vừamang tính kinh tế xã hội vừa mang tính chính trị nhằm ổn định cho một đấtnước phát triển. Hơn nữa, chính sách BHXH ở nước ta được phát triển toàndiện, có đủ tài chính để chi trả các chế độ ngắn hạn và dài hạn cho người thamgia BHXH trong và ngoài thời gian lao động để từ đó chính sách BHXH thựcsự đi vào đời sống của người dân Việt nam thì nâng cao vai trò của công tác
    • Luận văn tốt nghiệpthu tạo quỹ BHXH từ người lao động và người sử dụng lao động là một trongnhững vấn đề hết sức cần thiết trong thời gian hiện nay. Từ những lý do trêntrong quá trình thực tập em đã chọn đề tài: “Kiến nghị và giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH ở Việt Nam” để làm Luậnvăn tốt nghiệp của mình. Mục đích của Luận văn là xem xét đánh giá kết quảcủa công tác thu BHXH ở Việt nam trong thời gian qua và từ đó đưa ra kiếnnghị và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH. Kết cấu của Luận vănngoài phần mở đầu và kết luận, gồm 3 chương: Chương I : Lý luận chung về BHXH và công tác thu BHXH. Chương II : Thực trạng của công tác thu BHXH ở Việt Nam. Chương III : Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH ở Việt Nam. CHƯƠNG I
    • Luận văn tốt nghiệp LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHXH VÀ CÔNG TÁC THU BHXHI. TỔNG QUAN VỀ BHXH.1. Sự cần thiết khách quan và vai trò của BHXH.1.1. Sự cần thiết khách quan của BHXH. Thời tiết có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân cây cối tươi tốt,đâm chồi nảy lộc. Qua hạ sang thu, đông lại về. Sống trong trời đất con người,ai cũng luôn mong muốn được tồn tại, phát triển, trường tồn mãi mãi. Nhưngcũng như quy luật của tự nhiên, thực tại luôn có sự thay đổi, biến hóa bởi aicũng phải trải qua các giai đoạn phát triển của đời người đó là sinh ra, lớn lên,trưởng thành và chết. Đó là vòng: sinh, lão, bệnh, tử và ước muốn của conngười là có được cuộc sống an sinh, hạnh phúc. Nhưng quy luật của tạo hóa làsinh ra lớn lên và già yếu mà ai cũng phải trải qua. Đi theo cùng quy luật đó lànhững rủi ro, ốm đau, bệnh tật, hoạn nạn có thể đến bất cứ lúc nào trong cuộcsống. Hơn nữa, con người từ thời sơ khai là xã hội nguyên thuỷ cho đến naykhông ai có thể tồn tại độc lập, sống bên ngoài sự giúp đỡ, chia sẻ của cộngđồng, bè bạn và người thân của mình. Bởi trong thực tế không phải lúc nàocon người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập ổn định và mọi điềukiện sinh sống đều diễn ra bình thường như mình mong muốn mà trái lại córất nhiều khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bịgiảm hoặc mất thu nhập như: bệnh tật, tuổi già, tai nạn lao động và bệnh nghềnghiệp… Khi rơi vào những hoàn cảnh, trường hợp này thì các nhu cầu cầnthiết trong cuộc sống không chỉ mất đi mà trái lại còn phát sinh thêm nhữnglàm cho người lao động khó có thể đảm đương được. Chính xuất phát từ bảnchất mong muốn tồn tại và vượt qua những khó khăn trở ngại của cuộc sốngkhi rủi ro xảy ra đã đòi hỏi những người lao động (NLĐ) và xã hội loài ngườiphải tìm ra được biện pháp nào đó để giải quyết những vấn đề trên và thực tế
    • Luận văn tốt nghiệplà họ đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ rủi ro, đùm bọclẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ củanhà nước… Nhưng những cách này chỉ mang tính tạm thời, thụ động vàkhông chắc chắn. Lịch sử cũng đã chứng minh từ khi nền kinh tế hàng hóa phát triển vàviệc thuê mướn lao động cũng đã trở lên phổ biến thì đồng thời cũng là mẫuthuẫn chủ thợ trong xã hộ cũng phát sinh. Nguyên nhân sâu sa và cũng lànguyên nhân chủ yếu của mâu thuẫn trên là những thuê mướn lao động - chủsử dụng lao động (NSDLĐ) không mong muốn bị buộc phải đảm bảo thunhập cho nhập cho người lao động mà mình thuê mướn (NLĐ) trong trườnghợp họ gặp phải những rủi ro. Không cam chịu với thái độ của các chủ sửdụng lao động, những người lao động đã liên kết lại đấu tranh buộc người chủsử dụng lao động phải thực hiện cam kết trả công lao động và đảm bảo cho họcó một thu nhập nhất định để họ có thể trang trải cho những nhu cầu thiết yếukhi gặp những biến cố làm mất hoặc giảm thu nhập do mất hoặc giảm khảnăng lao động, mất việc làm. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớnvà có tác động lớn đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhànước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này mộtmặt đã làm tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giớithợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặtchẽ dựa trên xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng gópcủa cả chủ và thợ hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốcgia. Quỹ này còn được bổ sung từ Ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằmđảm bảo đời sống cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố bất lợitrong cuộc sống. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bấtlợi của người lao động được dàn trải đều và chia nhỏ rủi ro của một người chonhiều người làm cho cuộc sống của NLĐ và gia đình họ ngày càng được đảm
    • Luận văn tốt nghiệpbảo ổn định, đồng thời giới chủ cũng thấy mình có lợi trong nhiều mặt và đảmbảo được tiến độ sản xuất nâng cao năng xuất lao động. Xuất phát từ thực tế khách quan trên người ta hiểu ràng toàn bộ nhữnghoạt động với những mối quan hệ chặt chẽ đó được quan niệm là Bảo hiểm xãhội (BHXH) đối với người lao động. Đây là một trong những phương thứcđối phó hữu hiệu nhất trong hệ thống An sinh xã hội của quốc gia, là mộttrong những phát kiến văn minh nhân loại về khoa học xã hội kết hợp vớikhoa học tự nhiên để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ cho con người. Đối với Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước năm 1945 Chính phủ đãtrú trọng đến vấn đề phát triển chính sách BHXH và bảo trợ xã hội. Đứng đầulà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm ban hành và thực hiện ngay từnhững ngày đầu thành lập nước và thường xuyên được bổ sung, điều chỉnhcho phù hợp yêu cầu phát triển thực tiễn của đất nước. Hệ thống BHXH ngàycàng được mở rộng đã góp phần to lớn vào việc ổn định cuộc sống cho ngườilao động, góp phần ổn định kinh tế chính trị xã hội của đất nước. Tất nhiên, BHXH vẫn chưa hoàn toàn khắc phục được những yếu điểmcủa nó mặc dù là cho đến nay nó đã trải qua một thời gian dài. Song khôngthể phủ nhận sự tồn tại của hệ thống BHXH là một sự cần thiết tất yếu kháchquan cho mọi Quốc gia, cho toàn nhân loại.1.2. Vai trò của BHXH. Có thể nói từ khi khái niệm BHXH được biết đến ở mọi Quốc gia thìchính sách BHXH đều do Nhà nước quản lý một cách thống nhất. Trong mọichế độ xã hội BHXH luôn đóng vai trò quan trọng và thể hiện được những vaitrò to lớn.1.2.1 Đối với người lao động (NLĐ).
    • Luận văn tốt nghiệp Có thể nói BHXH có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần đảmbảo cuộc sống ổn định cho người lao động và gia đình họ khi mà họ gặpnhững rủi ro bất ngờ như: tai nạn lao động, ốm đau, thai sản…làm giảm hoặcmất sức lao động gây ảnh hưởng đến thu nhập của NLĐ. Bởi lẽ, khi NLĐ gặpnhững rủi ro ảnh hưởng đến thu nhập BHXH sẽ thay thế hoặc bù đắp mộtphần thu nhập cho NLĐ và gia đình họ với mức hưởng, thời điểm và thời gianhưởng theo đúng quy định của Nhà nước. Do vậy, mặc dù có những tổn thấtvề thu nhập nhưng với sự bù đắp của BHXH đã phần nào giúp NLĐ có đượcnhững khoản tiền nhất định để trang trải cho các nhu cầu thiết yếu của bảnthân và gia đình họ. Chính do có sự thay thế và bù đắp thu nhập này, BHXHlàm cho NLĐ ngày càng yêu nghề hơn, gắn bó với công việc, sống có tráchnhiệm hơn với bản thân, gia đình bè bạn và cộng đồng hơn; là sợi dây ràngbuộc, kích thích họ hăng hái tham gia sản xuất hơn, gắn kết NSDLĐ với NLĐlại gần nhau hơn, từ đó nâng cao được năng suất lao động, tăng sản phẩm xãhội góp phần nâng cao chính cuộc sống của những người tham gia BHXH. Ngoài ra BHXH còn bảo vệ và tăng cường sức khoẻ cho NLĐ gópphần tái sản xuất sức lao động cho NLĐ nhanh chóng trở lại làm việc tạo rasản phẩm mới cho doanh nghiệp nói riêng và cho xã hộ nói chung, đồng thờigóp phần đảm bảo thu nhập của bản thân họ.1.2.2 Đối với người sử dụng lao động (NSDLĐ). Thực tế trong lao động, sản xuất NLĐ và NSDLĐ vốn có những mâuthuẫn nhất định về tiền lương, tiền công, thời hạn lao động… Và khi rủi ro sựcố xảy ra, nếu không có sự giúp đỡ của BHXH thì dễ dẫn đến khả năng tranhchấp giữa NLĐ và NSDLĐ. Vì vậy BHXH góp phần điều hoà, hạn chế cácmâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, tạo ra môi trường làm việc ổn định chongười lao động, tạo sự ổn định cho người sử dụng lao động trong công tác
    • Luận văn tốt nghiệpquản lý. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả năng suất lao động của doanhnghiệp lên. Hơn nữa, NSDLĐ muốn ổn định và phát triển sản xuất thì ngoài việcđầu tư vào máy móc, thiết bị, công nghệ… còn phải chăm lo đến đời sống chongười lao động mà mình thuê mướn, sử dụng. Bởi NSDLĐ khi đã tính đếnviệc thuê mướn lao động cũng có nghĩa là lúc đó họ rất cần có NLĐ làm việccho mình liên tục trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nhưng mong muốncủa NSDLĐ đó không phải lúc nào cũng thực hiện được, bởi trong quá trìnhsản xuất cũng như trong đời sống NLĐ có thể gặp rủi ro vào bất kì lúc nào.Và lúc đó, NSDLĐ sẽ không có người làm thuê cho mình dẫn đến gián đoạnquá trình sản xuất kinh doanh làm giảm năng xuất lao động rồi dẫn đến giảmthu nhập cho NSDLĐ. Nhưng khi có sự trợ giúp của BHXH, NLĐ không maygặp rủi ro đó phần nào được khắc phục về mặt tài chính, từ đó NLĐ có điềukiện phục hồi nhanh những thiệt hại xảy ra. Làm cho người lao động nhanhchóng trở lại làm việc giúp NSDLĐ, yên tâm, tích cực lao động sản xuất làmtăng năng xuất lao động, góp phần tăng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp.1.2.3 Đối với Nhà nước. - BHXH là một trong những bộ phận quan trọng giúp cho Ngân sách Nhà nước giảm chi đến mức tối thiểu nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho NLĐ và gia đình họ được phát triển an toàn hơn. Khi NLĐ hoặc NSDLĐ gặp tai nạn rủi ro sẽ làm quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, năng suất lao động giảm xuống (cung hàng hoá nhỏ hơn cầu) làm tăng giá cả thị trường và rất có thể dẫn đến tình trạng lạm phát, khi đó buộc Chính phủ phải can thiệp điều tiết giá cả để ổn định đời sống của người dân.
    • Luận văn tốt nghiệp - BHXH góp phần giữ vững an ninh, chính trị trong nước ổn định trật tự an toàn cho xã hội: BHXH điều hoà, hạn chế các mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ đồng thời tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, ổn định cho người lao động. Bởi khi mâu thuẫn giữa NLĐ và NSDLĐ chưa được giải quyết sẽ có thể dẫn đến những cuộc đình công, thậm chí là gây ra những cuộc bãi công lan rộng trên cả nước của những người công nhân (NLĐ) đến lúc đó sản phẩm lao động xã không được sản xuất ra, mà nhu cầu tiêu dùng của xã hội vẫn cứ tiếp tục tăng lên khi đó buộc Chính phủ phải nhập khẩu hàng hoá. Như vậy, Chính phủ sẽ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như: giữ vững trật tự an toàn xã hội, đảm bảo nhu cầu tối thiểu của người dân… - BHXH có vai trò quan trong trọng việc tăng thu, giảm chi cho Ngân sách Nhà nước: + BHXH làm tăng thu cho Ngân sách Nhà nước: BHXH đã làm giảmbớt mâu thuẫ giữa giới chủ và giới thợ đồng thời gắn kết giữa NSDLĐ vàNLĐ, góp phần kích thích NLĐ hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năngxuất lao động cá nhân nói riên đồng thời góp phần làm tăng năng xuất laođộng xã hội nói chung từ đó sản phẩm xã hội tạo ra ngày một tăng lên có thểđáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Dovậy, ngân sách Nhà nước tăng lên do có một khoản thu được thông qua việcthu thuế từ các doanh nghiệp sản xuất nói trên. + Khi người lao động tham gia BHXH mà không may gặp rủi ro bấtngờ hoặc khi thiên tai hạn hán, lũ lụt xảy ra… làm giảm hoặc mất khả nănglao động dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập thì sẽ được bù đắp một phần thunhập từ quỹ BHXH. Lúc này, nếu không có sự bù đắp của BHXH thì buộcNhà nước cũng phải đứng ra để cứu trợ hoặc giúp đỡ cho NLĐ để NLĐ và gia
    • Luận văn tốt nghiệpđình họ vượt qua được khó khăn đó. Từ đó góp phần làm giảm chi cho Ngânsách Nhà nước, đồng thời giảm bớt được các tệ nạn xã hội phát sinh, giữ vữngổn định chính trị xã hội. Ngoài ra BHXH giúp cho Nhà nước thực hiện được các công trình xâydựng trọng điểm của quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế, xã hộiquốc gia bởi BHXH tập trung được nguồn quỹ lớn. Nguồn quỹ này thườngdùng để chi trả cho các sự kiện BHXH xảy ra về sau. Chính vì vậy mà quỹnhàn rỗi này có một thời gian nhàn rỗi nhất định đặc biệt là quỹ dành cho chếđộ dài hạn. Trong khoảng thời gian nhàn rỗi ấy quỹ BHXH tạo thành mộtnguồn vốn lớn đầu tư cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội của quốcgia.2. Bản chất và chức năng của BHXH.2.1. Bản chất của BHXH. Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: - BHXH là thu nhập khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến mức nào đó. Nền kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện, càng chứng tỏ được những mặt ưu điểm hơn. Vì vậy có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. Đóng vai trò như một vị cứu tinh cho NLĐ khi họ gặp phải những rủi ro làm giảm thu nhập trong cuộc sống. Có thể nói nhu cầu về BHXH thuộc về nhu cầu tự nhiên của con người. Xuất phát từ nhu cầu cần thiết để đảm bảo cho các tiêu chuẩn hay giá trị cho cuộc sống tối thiểu.
    • Luận văn tốt nghiệp - Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và NSDLĐ. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết. BHXH được xem như là một hệ thống các hoạt động mang tính xã hộinhằm đảm bảo đời sống cho người lao động, mở rộng sản xuất, phát triển kinhtế, ổn định trật tự xã hội nói chung. - Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể nói là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, bệnh tật, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp… hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động. - Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu. Ngoài racòn được hỗ trợ của Nhà nước khi có sự thâm hụt quỹ (thu không đủ chi),chính vì vậy mà chính sách BHXH nằm trong hệ thống chung của chính sáchvề kinh tế xã hội và là một trong những bộ phận hữu cơ trong hệ thống chínhsách quản lý đất nước của Quốc gia. - Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập,
    • Luận văn tốt nghiệp mất việc làm. Mục tiêu này đã được tổ chức lao động Quốc tế (ILO) cụ thể hóa như sau: + Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảonhu cầu sinh sống thiết yếu của họ. + Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật. + Xây dựng điều khiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và nhu cầuđặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.2.2. Chức năng của BHXH. BHXH được xem như là một loạt các hoạt động mang tính xã hội nhằmđảm bảo đời sống cho người lao động, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổnđịnh trật tự xã hội nói chung do vậy BHXH có chức năng: - Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ tham gia BHXHkhi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự đảm bảothay thế hoặc bù đắp này chắc chắn xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng laođộng xẽ dẫn đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo quyđịnh của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làmgiảm hoặc mất thu nhập, NLĐ cũng sẽ được hưởng trợ cấp BHXH với mứchưởng, thời điểm và thời gian hưởng theo đúng quy định của Nhà nước. Đâylà chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cơchế tổ chức hoạt động của BHXH. - Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Bởi cũng giống như nhiều loại hình Bảo hiểm khác, BHXH cũng dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít, do vậy mọi người lao động khi tham gia BHXH đều bình đẳng trong việc đóng góp vào quỹ cũng như được bình đẳng trong quyền lợi nhận được từ các chế độ BHXH. Người
    • Luận văn tốt nghiệp tham gia để tạo lập quỹ BHXH là tập hợp tất cả những người đóng BHXH từ mọi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế xã hội, các lĩnh vực này bao gồm tất cả các loại công việc từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ nhàng đến công việc nặng nhọc độc hại. Do vậy, BHXH xã hội hóa cao hơn hẳn các loại hình BHXH khác đồng thời cũng thể hiện tính công bằng xã hội cao. - BHXH là đòn bẩy, khuyến khích NLĐ hăng hái tham gia lao động sản xuất và từ đó nâng cao năng suất lao động: BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năng xuất lao động cá nhân và tăng năng suất lao động xã hội góp phần tăng mối quan hệ tốt đẹp và gắn bó lợi ích giữa NLĐ, NSDLĐ và nhà nước. - BHXH thực hiện chức năng điều hoà lợi ích giữa ba bên: NLĐ, NSDLĐ, Nhà nước đồng thời làm giảm bớt mâu thuẫn xã hội, góp phần ổn định chính trị, kinh tế, xã hội. - BHXH còn thực hiện chức năng giám đốc bởi BHXH tiến hành kiểm tra, giám sát việc tham gia thực hiện chính sách BHXH của NLĐ, NSDLĐ theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, góp phần ổn định xã hội.3. Quan điểm về BHXH. BHXH ra đời và phát triển lúc đầu còn mang tính tự phát về sau đượcnhà nước luật pháp hóa các chế độ BHXH. Hiện nay trên thế giới có khoảngtrên 140 quốc gia thực hiện BHXH tuy nhiên việc thực hiện BHXH ở mỗinước là khác nhau. Tuỳ vào mỗi mỗi quốc gia trên thế giới mà chính sáchBHXH được lựa chọn với hình thức, cơ chế và mức độ thoả mãn nhu cầuBHXH phù hợp với tập quán, khả năng trang trải và định hướng phát triển
    • Luận văn tốt nghiệpkinh tế xã hội của Quốc gia đó. Nhưng có một số quan điểm về BHXH đượchầu hết các nước trên thế giới đã thừa nhận. - Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là một bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống các chính sách xã hội. Quan điểm này chứng tỏ rằng các nước đều thừa nhận tính xã hội cao của BHXH. Ở Việt nam BHXH được xếp trong hệ thống các chính sách đảm bảo xã hội của Đảng và Nhà nước. Bởi mục đích chủ yếu của chính sách này là nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ khi mà có sự kiện rủi ro bất ngờ đến với họ. - NSDLĐ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho NLĐ. NSDLĐ, họ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp quỹ BHXH đồng thời thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với NLĐ mà mình sử dụng theo đúng luật pháp quy định. Bởi NSDLĐ muốn ổn định kinh doanh sản xuất thì ngoài sự hoạt động của máy móc ra cũng cần phải có đội ngũ công nhân đảm bảo cho máy móc được vận hành và vận chuyển. Do vậy, NSDLĐ cần phải đảm bảo cho người công nhân được ổn định cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Chỉ có như vậy hoạt động sản xuất kinh doanh mới không bị gián đoạn góp phần nâng cao năng xuất lao động. - Tất cả mọi NLĐ đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ đối với BHXH mà không phân biệt nam nữ hay dân tộc tôn giáo, nghề nghiệp… Điều này có nghĩa là mọi NLĐ trong xã hội đều được hưởng quyền lợi BHXH như tuyên ngôn độc lập nhân quyền đã nêu đồng thời bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp và quyền trợ cấp BHXH.
    • Luận văn tốt nghiệp - Nhà nước thống nhất quản lý BHXH từ việc hoạch định các chế độ chính sách, tổ chức bộ máy thực hiện đến việc kiểm tra kiểm soát. Quan điểm này xuất phát từ việc BHXH được coi là một chính sách xã hội, là hoạt động phi lợi nhuận vì thế mà nhà nước cần đứng ra tổ chức và quản lý. - Mức trợ cấp BHXH phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tình trạng mất khả năng lao động, tiền lương lúc đang đi làm, tuổi thọ bình quân của NLĐ, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kì, xác định hợp lý mức tối thiểu của các chế độ BHXH. Ngoài ra còn quan tâm đến vấn đề công bằng trong xã hội, mức trợ cấp này phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm nhưng mức thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người hưởng chế độ BHXH. - BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức tham gia và thời gian thực hiện, bảo đảm quyền lợi của NLĐ, đảm bảo công bằng xã hội.4. Đối tượng và đối tượng tham gia BHXH. BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19 khi mà nền công nghiệpvà kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước châu âu. Từ năm1883 ở nước phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành luật Bảo hiểm y tế. Mộtsố nước châu Âu và Bắc mĩ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật vềBHXH mặc dù ra đời từ rất lâu như vậy nhưng đối tượng của BHXH vẫn cónhiều quan điểm khác nhau gây ra nhiều tranh cãi. Đôi khi còn có sự nhầmlẫn giữa đối tượng BHXH với đối tượng tham gia BHXH.4.1. Đối tượng của BHXH. BHXH là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất dogiảm, mất khả năng lao động, mất việc làm vì có các nguyên nhân như ốm
    • Luận văn tốt nghiệpđau tai nạn, tuổi già. Chính vì vậy, đối tượng của BHXH là phần thu nhập củaNLĐ bị biến động hoặc giảm, mất đi do gặp phải những rủi ro ngẫu nhiên, bấtngờ xảy ra. Đối tượng của BHXH không chỉ là các khoản thu nhập theo lương màbao gồm các khoản thu nhập khác ngoài lương như: thưởng, phụ cấp… choNLĐ có nhu cầu đóng góp thêm để được hưởng mức trợ cấp BHXH.4.2. Đối tượng tham gia BHXH. Đối tượng tham của BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Họ là những ngườitrực tiếp tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định sovới tiền lương của NLĐ theo quy định của luật BHXH. Tuỳ theo điều kiệnphát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặcmột bộ phận những NLĐ nào đó trong xã hội. Trong thời kì đầu khi triển khai BHXH ở hầu hết các nước chỉ áp dụngđối với những người làm công ăn lương để đảm bảo mức đóng góp ổn định,đảm bảo an toàn quỹ BHXH. Hiện nay khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng NLĐ trong vàngoài doanh nghiệp nhà nước tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham gia BHXHvà đối tượng của BHXH cũng được mở rộng ra. Vì vậy đối tượng tham giacủa BHXH bao gồm: - Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: là NLĐ và NSDLĐ phải tham gia BHXH một cách bắt buộc với mức đóng và mức hưởng BHXH theo quy định của luật BHXH. - Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: áp dụng cả với người làm công ăn lương và NLĐ không làm công ăn lương. Thường là do sự đóng góp của NLĐ cùng với sự giúp đỡ của ngân sách Nhà nước.5. Các chế độ BHXH.
    • Luận văn tốt nghiệp BHXH đã xuất hiện vào thế kỷ XIII ở Nam Âu. Tuy nhiên, lúc đầuBHXH chỉ là mang tính sơ khai và tự phát được áp dụng trong phạm vi nhỏ. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai BHXH được nhiều nước biết đếntrên thế giới với những thay đổi, bổ sung phong phú và đa dạng hơn. BHXHlà một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất đối với hầu hết các quôc giatrên thế giới. Theo công ước 102 kí kết tại Giơnevơ tháng 6 năm 1952 của Tổchức Lao động quốc tế với sự tham gia của rất nhiều quốc gia đã xác định rõ,BHXH bao gồm các chế độ sau: 1. Chế độ chăm sóc y tế. 2. Chế độ trợ cấp ốm đau. 3. Chế độ trợ cấp thất nghiệp. 4. Chế độ trợ cấp tại nạn lao động & bệnh nghề nghiệp (TNLĐ- BNN). 5. Chế độ trợ cấp tuổi già. 6. Chế độ trợ cấp gia đình. 7. Chế độ trợ cấp sinh đẻ. 8. Chế độ trợ cấp khi tàn phế. 9. Chế độ trợ cấp cho người còn sống. Chín chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH. Tuỳ điềukiện kinh tế chính trị xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thựchiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3trong 9 chế độ. Trong đó có ít nhất một trong năm chế độ: 3, 4, 5, 8, 9. Tuyvậy, không phải Quốc gia nào cũng thực hiện được cả 9 chế độ đã nêu trên. Ở Việt nam, trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân pháp đã thực hiệnBHXH cho một số người làm việc trong bộ máy của chúng còn đối với côngnhân Việt nam làm việc cho Chính phủ pháp thì hầu như không được thamgia BHXH. Đến năm 1945, nước Việt nam dân chủ cộng hoà được thành lậpChính phủ đã ban hành điều lệ, sắc lệnh 54/SL ngày 14/6/1946 của Chính phủ
    • Luận văn tốt nghiệpban hành về việc cấp hưu bổng cho công chức. Sau khi miền Bắc hoà bình,thực hiện hiến pháp năm 1949 hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thờivề các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước kèm theo Nghịđịnh 218/CP ra đời ngày 27/12/1961 quy định chế độ BHXH ở Việt nam gồm6 loại chế độ trợ cấp: ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hưu trí, mất sức laođộng, chế độ tử tuất. Khi nền kinh tế phát triển và chuyển đổi theo cơ chế thịtrường từ năm 1986 đặc biệt là từ những năm 1990 trở lại đây, điều kiện kinhtế đã thay đổi thì Nghị định 43/CP ngày 22/6/1993 và Nghị định số 12/CPngày 26/1/1995 thống nhất bỏ chế độ trợ cấp mất sức lao động. Như vậy làhiện nay BHXH Việt nam thực hiện 5 chế độ. Đến năm 2003, do BHYT Việtnam sát nhập với BHXH Việt nam do đó hiện nay ở Việt nam thực hiện 6 chếđộ BHXH. Các chế độ đó là: ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hưu trí, chế độ tửtuất, chế độ chăm sóc y tế.6. Quỹ BHXH.6.1. Khái niệm về quỹ BHXH. Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngânsách Nhà nước. Quỹ này được dùng để chi trả trợ cấp cho các đối tượnghưởng BHXH và chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp, các nghành. Có thể hiểu quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên thamgia BHXH: NLĐ, NSDLĐ, Nhà nước bù thiếu nhằm mục đích chi trả cho cácchế độ BHXH và đảm bảo cho hoạt động của hệ thống BHXH. Như vậy, quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung, hạch toán độc lập vớingân sách Nhà nước, được Nhà nước bảo hộ và bù thiếu. Quỹ này được quảnlý theo cơ chế cân bằng thu chi do đó quỹ BHXH không đơn thuần ở trạngthái tĩnh mà luôn có sự biến động theo chiều hướng tăng lên hoặc thâm hụt.Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi
    • Luận văn tốt nghiệpro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, do rủi ro được dàntrải cho số đông người tham gia. Đồng thời quỹ này cũng góp phần giảm chingân sách cho Nhà nước; khi có biến cố xã hội xảy ra như thiên tai, hạn hán,dịch bệnh, quỹ BHXH cũng là một khoản không nhỏ giúp Nhà nước thay chocứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội, …6.2. Nguồn hình thành quỹ. BHXH là phạm trù kinh tế - xã hội tổng hợp, mặc dù tính xã hội đượcthể hiện nổi trội hơn. Theo các nhà kinh tế cho rằng, kinh tế là nền tảng củaBHXH vì chỉ khi NLĐ có thu nhập đạt đến một mức độ nào đó thì việc thamgia BHXH mới thiết thực và có hiệu quả. Cũng theo các nhà kinh tế, BHXHchỉ có thể phát triển được theo đúng nghĩa trong điều kiện nền kinh tế hànghoá tức là người tham gia BHXH phải có trách nhiệm đóng góp BHXH đểbảo hiểm cho mình từ tiền lương/thu nhập cá nhân, người sử dụng lao độngcũng phải đóng góp BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn từ quỹlương của doanh nghiệp/ đơn vị đồng thời Nhà nước cũng có phần tráchnhiệm bảo hộ quỹ BHXH như đóng góp thêm khi quỹ BHXH bị thâm hụt.Như vậy: - Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau: + Người sử dụng lao động: sự đóng góp này không những thể hiệntrách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ đồng thời còn thể hiện lợi ích củaNSDLĐ bởi đóng góp một phần BHXH cho NLĐ, NSDLĐ sẽ tránh đượcthiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối vớiNLĐ của mình đồng thời cũng giảm bớt được những tranh chấp. Thôngthường phần đóng góp này được xác định dựa trên quỹ lương của đơn vị,doanh nghiệp. + Người lao động: hệ thống BHXH ở các nước trên thế giới chủ yếuvẫn thực hiện trên nguyên tắc có đóng có hưởng vì vậy người tham gia phải
    • Luận văn tốt nghiệpđóng góp cho quỹ mới được hưởng BHXH. Người lao động tham gia đónggóp cho mình để bảo hiểm cho chính bản thân mình. Thông qua hoạt độngnày người lao động đã dàn trải rủi ro theo thời gian, khoản đóng góp vào quỹBHXH chính là khoản để dành dụm, tiết kiệm cho về sau bằng cách là hưởnglương hưu hoặc được hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro xảy ra. Khoản trợ cấp nàyđược xác định một cách khoa học và có cơ sở theo nguyên nhân. + Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm: Quỹ BHXH được nhà nước bảohộ và đóng góp khi quỹ bị thâm hụt không đủ khả năng để chi trả cho các chếđộ xã hội. Nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động xã hội diễn ra đượcđều đặn, ổn định. Nguồn thu từ sự hỗ trợ Ngân sách Nhà nước đôi khi là khálớn, sự hỗ trợ này là rất cần thiết và quan trọng. Có thể nói hoạt động củachính sách BHXH mà không có sự hỗ trợ của Nhà nước thì chẳng khác nàođứa trẻ mới tập đi. + Các nguồn khác: như sự giúp đỡ của các tổ chức từ thiện trong vàngoài nước, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi, khoản tiền thu nộp phạt từ cácđơn vị chậm đóng BHXH... Đây là phần thu nhập tăng thêm đô bộ phận nhànrỗi tương đối của quỹ BHXH được cơ quan BHXH đưa vào hoạt động sinhlời. Việc đầu tư quỹ nhàn rỗi này cũng cần phải đảm bảo khả năng thanhkhoản khi cần thiết, an toàn và mang tính xã hội. - Phương thức đóng góp. Phương thức đóng góp BHXH của NLĐ và NSDLĐ hiện vẫn còn haiquan điểm: + Căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanhnghiệp. + Căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của NLĐ được cân đối chung trongtoàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp.
    • Luận văn tốt nghiệp - Mức đóng góp BHXH: Ở một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả NGLĐ và NSDLĐ cùng đóng góp mỗi một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy định quỹ BHXH do NLĐ và NSDLĐ đóng, Chính phủ sẽ bù thiếu. Ở Việt nam quy định NLĐ đóng 5% lương tháng cho BHXH, 1%lương tháng cho BHYT; còn NSDLĐ đóng 15% quỹ lương tháng choBHXH và 2% quỹ lương tháng cho BHYT.6.3. Mục đích sử dụng quỹ BHXH. Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau: - Chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH: Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất của BHXH nhằm đảm bảo ổn định, duy trì cuộc sống cho NLĐ đồng thời góp phần ổn định sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXHđược sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn địnhcuộc sống cho bản thân và gia đình họ khi mà đối tượng tham gia gặp rủi rovà các chế độ được BHXH trợ cấp là 9 chế độ BHXH đã nêu trong công ước102 tháng 6/1952 tại Giơnevơ. Trong thực tế việc chi trả cho các chế độ BHXH diễn ra thường xuyêntrên phạm vi rộng, hầu hết các nước trên thế giới đều có những khoản chithường xuyên là chi lương hưu và trợ cấp tuất. - Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH: Ngoài việc trợ cấp cho cácđối tượng hưởng BHXH, quỹ BHXH còn được sử dụng để chi cho các khoảnchi phí quản lý như: tiền lương cho cán bộ làm việc trong hệ thống BHXH,khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác.
    • Luận văn tốt nghiệpII. CÔNG TÁC THU BHXH.1. Vai trò của công tác thu BHXH. Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một côngquỹ độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả cácchế độ BHXH cho NLĐ. Vì thế công tác thu BHXH ngày càng trở thành khâuquan trọng và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện chínhsách BHXH. - Công tác thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạngcủa ngành BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạtđược tập trung thống nhất: Thu đóng góp BHXH là hoạt động của các cơquan BHXH từ Trung ương đến địa phương cùng với sự phối hợp của các banngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sáchBHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung từ việc đóng góp của các bêntham gia BHXH. Đồng thời tránh được tình trạng nợ đọng BHXH từ các cơquan đơn vị, từ người tham gia BHXH. Qua đó, đảm bảo sự công bằng trongviệc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những ngườitham gia BHXH nói riêng. - Để chính sách BHXH được diễn ra thuận lợi thì công tác thuBHXH có vai trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lậpcùng thực hiện chính sách BHXH: Bởi đây là đầu vào, là nguồn hìnhthành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập quỹ BHXH. Đồng thời đây cũng làmột khâu bắt buộc đối với người tham gia BHXH thực hiện nghĩa vụ củamình. Do vậy công tác thu BHXH là một công việc đòi hỏi độ chính xác cao,thực hiện thường xuyên, liên tục, kéo dài trong nhiều năm và có sự biến độngvề mức đóng và số lượng người tham gia. - Công tác thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ BHXH được tậptrung về một mối, vừa đóng vai trò như một công cụ thanh kiểm tra số
    • Luận văn tốt nghiệplượng người tham gia BHXH biến đổi ở từng khối lao động, cơ quan,đơn vị ở từng địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc . Bởi công tác thuBHXH cũng đòi hỏi phải được tổ chức tập trung thống nhất có sự ràng buộcchặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảođộ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan đơn vịcũng như của từng người lao động. Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạtđộng liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cả một đời người và có tính kếthừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người tham BHXH để tạo lậplên quỹ BHXH, cho nên nghiệp vụ của công tác thu BHXH có một vai trò hếtsức quan trọng và rất cần thiết trong thực hiện chính sách BHXH. Bởi đây làkhâu đầu tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện được các chức năng cũngnhư bản chất của mình. - Hoạt động của công tác thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trựctiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trongtương lai. Do BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơsở nguyên tắc có đóng có hưởng BHXH đã đặt ra yêu cầu quy định đối vớicông tác thu nộp BHXH. Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH khôngcó nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH cho NLĐ. Vậy hoạt động thuBHXH ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sáchBHXH. Do đó, thực hiện công tác thu BHXH đóng một vai trò quyết định,then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống của NLĐ cũng nhưcác đơn vị doanh nghiệp được hoạt động bình thường. 2. Quy trình thu BHXH.  Đăng kí tham gia BHXH. NSDLĐ, cơ quan, doanh nghiệp quản lý các đối tượng tham gia cótrách nhiệm đăng kí tham gia BHXH với cơ quan BHXH được phân côngquản lý nhằm xác định số lượng người tham gia BHXH để thông báo với cơ
    • Luận văn tốt nghiệpquan chức năng có thẩm quyền về BHXH. Đây là khâu đầu tiên trong quátrình thu và quản lý thu quỹ BHXH, tuỳ vào mỗi nước mà có quy định khácnhau trong việc nộp hồ sơ đăng kí tham gia BHXH cho người lao động nhưngnhìn chung hồ sơ đăng kí tham gia BHXH thường bao gồm: - Các quy định, công ước đăng kí tham gia BHXH. - Danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH - Hồ sơ hợp lệ về đơn vị và NLĐ trong danh sách Cơ quan BHXH tiếp nhận, thẩm định danh sách tham gia BHXH, sốtiền lương phải đóng hàng tháng. Đơn vị quản lý đối tượng căn cứ thông báo hoặc hợp đồng đã ký kếtvới cơ quan BHXH tiến hành cấp sổ BHXH.  Sau quá trình đăng kí tham gia BHXH cho người lao động: cơ quan BHXH định kì (theo quy định của từng nước) sẽ tiến hành thu BHXH từ người tham gia BHXH hoặc từ các đơn vị, cơ quan sử dụng lao động tham gia BHXH thông qua việc mở tài khoản tại ngân hàng hoặc tại kho bạc Nhà nước. Hoặc cũng có thể đến trực tiếp từng đơn vị, từng người tham gia BHXH để thu đóng góp BHXH. Quá trình thu được tiến hành theo hai cách như sau: - Trường hợp 1: Cán bộ BHXH phải trực tiếp thu BHXH từ người tham gia BHXH: trường hợp này cán bộ BHXH hoặc bộ phận chuyên trách thu của cơ quan BHXH sẽ trực tiếp thu đóng góp từ người tham gia BHXH. Họ sẽ xuống tận cơ sở, nơi người lao động làm việc để trực tiếp thu. - Trường hợp 2: Cơ quan BHXH thu thông qua NSDLĐ hoặc thông qua đại lý thu của mình như Ngân hàng, bưu điện, thông qua cơ quan thuế…Cơ quan BHXH thường mở tài khoản tại ngân hàng hoặc tại kho bạc nhà nước để công việc chuyển tiền từ NSDLĐ và các đại lý thu đến cơ quan BHXH được thuận lợi
    • Luận văn tốt nghiệp hơn. Khi đó, NSDLĐ được giao kết là đại lý cho cơ quan BHXH sẽ tiến hành thu BHXH từ NLĐ sau đó chuyển toàn bộ đóng góp BHXH của cả NSDLĐ và NLĐ cho cơ quan BHXH có kèm theo báo cáo số thu nộp BHXH và danh sách lao động nộp BHXH thông qua việc chuyển khoản vào tài khoản của cơ quan BHXH đã được mở tại Ngân hàng hoặc tại kho bạc Nhà nước.  Hàng tháng nếu có sự biến động so với danh sách đã đăng kí tham gia BHXH, đơn vị quản lý đối tượng lập danh sách điều chỉnh theo mẫu quy định (tuỳ vào quy định của mỗi nước) gửi cơ quan BHXH có chức năng để kịp thời điều chỉnh, xử lý.3. Quản lý thu BHXH. Tham gia BHXH là nhiệm vụ, nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng laođộng nhằm thực hiện quyền lợi cho NLĐ nhằm thực hiện quyền lợi choNLĐ. Việc đóng góp vào quỹ BHXH của các bên tham gia BHXH là tất yếuvì nguyên tắc có đóng có hưởng. Vậy thu từ đóng góp của những người thamgia BHXH là nguồn nguồn thu chủ yếu quan trọng nhất cho quỹ BHXH ở hầuhết các quốc gia. Trên cơ sở nhiệm vụ của công tác thu là phải thu đúng, thu đủ, thuđúng đối tượng và rõ ràng minh bạch nhằm đảm bảo tính công bằng và quyềnlợi giữa những người tham gia BHXH. Bên cạnh đó cần phải tổ chức theo dõi,ghi chép kết quả đóng BHXH của từng người, đơn vị để làm cơ sở cho việctính mức hưởng BHXH theo quy định. Hơn nữa, công tác thu BHXH có những đặc điểm sau: + Số đối tượng phải thu là rất lớn và gia tăng theo thời gian nên côngtác quản lý thu BHXH là rất khó khăn và phức tạp.
    • Luận văn tốt nghiệp + Công tác thu mang tính chất định kỳ, lặp đi lặp lại do đó khối lượngcông việc là rất lớn đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ chocông tác thu cũng phải tương ứng. + Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai pham, vi phạm đạo đức vàlạm dụng quỹ vốn tiền thu BHXH. Do vậy, công tác quản lý thu BHXH cũng là nhiệm vụ quan trọng vàkhó khăn của ngành BHXH. Để công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao thì đòihỏi phải có quy trình quản lý thu chặt chẽ hợp lý, khoa học nhất là trong thờiđại công nghệ thông tin bùng nổ hiện nay. Vì vậy, công tác quản lý thuBHXH phải được tổ chức chặt chẽ, thống nhất trong cả hệ thống từ lập kếhoạch thu, phân cấp thu, ghi kết quả đặc biệt là quản lý tiền thu quỹ BHXH… Trong quá trình tiến hành công tác thu với phương châm là thu đúngđối tượng, đúng phạm vi thu và quan trọng hơn nữa là thu được đủ số tiềnđóng BHXH từ các đối tượng tham gia BHXH thì việc tăng cường công tácquản lý thu BHXH là vấn đề được các cơ quan quản lý và mọi người rất quantâm. Để hình thành nên một kế hoạch thu, một chính sách thu BHXH thíchứng với cơ chế quản lý kinh tế đang trong quá trình đổi mới, đòi hỏi phảinghiên cứu, giải quyết hàng loạt vấn đề cả về lý luận và thực tiễn. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC THU BHXH Ở VIỆT NAMI. KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH BHXH Ở VIỆT NAM. Chính sách BHXH ở Việt nam cho đến nay đã trải qua một chặng đườngdài trên nửa thế kỷ. Đây là một trong những chính sách lớn thể hiện sự quantâm, chăm lo của Đảng và Nhà nước ta đối với NLĐ.
    • Luận văn tốt nghiệp BHXH ở nước ta đã xuất hiện từ những năm còn dưới ách đô hộ củaThực dân Pháp. Tuy nhiên, chính sách BHXH chỉ thực sự phục vụ NLĐ từthời kì thành lập nước Việt nam dân chủ cộng hoà. Trải qua một chặng đườnglịch sử lâu dài trên nửa thế kỉ, BHXH Việt nam cũng có nhiều thay đổi . Vìvậy, để khái quát về chính sách BHXH ở Việt nam có thể chia làm hai giaiđoạn sau:  Giai đoạn trước năm 1995: cùng với cơ chế quản lý nền kinh tế kế hoạch hành chính tập trung là thời kỳ bao cấp của Nhà nước về BHXH.  Giai đoạn từ năm 1995 đến nay: cùng với cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước là thời kỳ cải cách về BHXH phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước và gắn liền với sự hình thành và phát triển của ngành BHXH.1. Giai đoạn trước năm 1995. BHXH xuất hiện ở Việt nam ngay từ thời kỳ Pháp thuộc. Khi đó Chínhphủ bảo hộ Pháp đã thực hiện một số chế độ BHXH cho những người Việtnam làm việc trong bộ máy cai trị của chính quyền Pháp. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã sớm quantâm và thực hiện chính sách BHXH đối với NLĐ. Đối tượng được hưởngchính sách BHXH chủ yếu là NLĐ trong biên chế Nhà nước. Thời kì này, ởnước ta đã thực hiện chữa bệnh miễn phí cho người dân và hoạt động BHYTtrong thời gian này nằm trong chương trình chăm sóc y tế của Quốc gia. Trước năm 1995 chính sách BHXH được thực hiện và hoạt động theohàng loạt các Sắc lệnh, Nghị định ban hành nhằm xác định về đối tượng vàchế độ, mức đóng, mức hưởng. Sắc lệnh 54 ngày 3/11/1945 của Chính phủlâm thời, sắc lệnh số 105 ngày 14/6/1946 của chủ tịch nước Việt nam dân chủcộng hòa. Sắc lệnh 29 ngày 13/3/1947 của Chính phủ Việt nam dân chủ cộng
    • Luận văn tốt nghiệphòa… cùng với cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH thể hiện trong hiến phápnăm 1959 thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH.Quyền này được cụ thể hóa trong điều lệ tạm thời về BHXH đối với côngnhân viên chức Nhà nước được ban hành kèm theo Nghị định số 218/CP ngày27/2/1961 và điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CPngày 30/10/1964 của Chính phủ. Trong thời gian này, chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định vềmặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho người công nhân viên chức, quân nhânvà gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người, sức của chothắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước. Năm 1986 Việt nam tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinhtế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường với nền kinh tếnhiều thành phần theo định hướng của Nhà nước. Sự thay đổi về cơ chế kinhtế đòi hỏi có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung vàchính sách BHXH nói riêng. Đến năm 1989, bắt đầu có Quyết định số 45/HĐBT ngày 24/4/1989 củaChính phủ về việc thu một phần viện phí gồm các khoản tiền giường nằmđiều trị, thuốc men, máu, xét nghiệm… Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối vớicông chức Nhà nước và người làm công ăn lương khuyến khích phát triển cáchình thức BHXH khác đối với NLĐ. Ngày 22/6/1993 Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP quy định tạmthời chế độ BHXH cho NLĐ ở các thành phần kinh tế, đánh dấu một bướcngoặt quan trọng trong sự nghiệp thực hiện chính sách BHXH. Ngày 23/1/1994 Quốc hội nước cộng hòa xã hộ chủ nghĩa Việt namthông qua Bộ luật lao động trong đó có chương XII quy định về BHXH. Những nội dung chính về chính sách BHXH trong thời kì này:
    • Luận văn tốt nghiệp + Về đối tượng tham gia và hưởng chế độ BHXH là công nhân viênchức trong khu vực Nhà nước, các đoàn thể xã hội, chính trị và trong lựclượng vũ trang như: công nhân viên chức Nhà nước, lực lượng vũ trang (quânđội, công an…), người làm việc trong các tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hộithuộc hệ thống chính trị của Đảng và Nhà nước, người làm việc trong cácdoanh nghiệp quốc doanh… Thời kì này, những người làm việc trong cácthành phần kinh tế ngoài quốc doanh không được hưởng các chế độ BHXH. + Về thực hiện các chế độ BHXH: Nhà nước ta đã thực hiện 6 chế độBHXH đó là: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động - bệnhnghề nghiệp, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp hưu trí và trợ cấp tử tuất. + Về tổ chức thực hiện: Nhà nước giao cho 3 cơ quan quản lý thu vàchi các chế độ như sau: Bộ nội vụ (nay là Bộ Lao động- Thương binh và Xãhội) quản lý khoản thu 1% tổng quỹ lương thông qua hệ thống Ngân sách Nhànước và thực hiện giải quyết 3 chế độ hưu trí, mất sức lao động, tử tuất và cóphân cấp cho các cơ quan trực thuộc giải quyết chế độ BHXH; Tổng côngđoàn Lao động Việt Nam (nay là Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam) quản lýthu 3,7% quỹ tổng quỹ lương của đơn vị) và tổ chức chi 3 chế độ: ốm đau,thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN); Quỹ thu về Bộ tàichính quản lý và tiến hành cấp phát kinh phí chi cho các chế độ đài hạn hàngnăm theo kế hoạch của Bộ lao động - Thương binh và Xã hội + Thời gian cuối những năm 1980 đầu những năm 1990, quỹ thu đónggóp BHXH do Bộ tài chính quản lý và tính vào thu ngân sách nhà nước(NSNN) mà không hình thành quỹ BHXH độc lập.2. Giai đoạn từ năm 1995 đến nay. Từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, đất nước tabước vào thời kì đổi mới. Nền kinh tế từng bước chuyển sang vận hành theo
    • Luận văn tốt nghiệpcơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý củaNhà nước. Năm 1995 đánh dấu thời kì phát triển mới về sự nghiệp BHXH. Ngày01/01/1995 Bộ luật lao động có hiệu lực thi hành, trong đó có chương XII vềBHXH. Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 ban hành điều lệ BHXH đối vớingười lao động với nội dung cơ bản đổi mới thể hiện trên các mặt: - BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng có hưởng, đối tượng tham gia BHXH bao gồm cả NLĐ làm công ăn lương trong các doanh nghiệp cơ quan, tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế. Điều này tạo sự bình đẳng giữa những NLĐ làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau. - Đã hình thành được quỹ BHXH trên cơ sở đóng góp của 3 bên: NSDLĐ đóng 15%, NLĐ đóng 5% và sự bảo hộ của Nhà nước, quỹ BHXH được thành lập độc lập với NSNN. Với sự cải cách này, BHXH ở Việt nam đã đảm bảo thực hiện nguyên tắc có đóng có hưởng, dần dần xóa bỏ bao cấp từ Nhà nước về BHXH. - Tổ chức thực hiện chế độ BHXH, với 5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. - Về tổ chức quản lý: Hệ thống BHXH Việt nam được hình thành từ Trung ương đến cấp huyện và thống nhất bước vào hoạt động từ 01/10/1995. Cũng vào năm 1995 sau khi Nghị định 12/CP ra đời Chính phủ đã banhành Nghị định 19/CP vào ngày 16/2/1995 về việc thành lập BHXH Việt namvới những chức năng, nhiệm vụ quyền hạn tổ chức, thực hiện chính sách vàquản lý quỹ BHXH. Từ đây, quỹ BHXH Việt nam được quản lý thống nhấttrong cả nước.
    • Luận văn tốt nghiệp Tiếp theo là các Nghị định: số 45/CP Ngày 15/7/1997 của Chính phủban hành Điều lệ BHXH đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩquan, binh sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Nghị định số 09/1998/NĐ - CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung Nghị định số 50/CPngày 26/7/1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xãphường, thị trấn. Ngày 24/1/2002 Chính phủ đã có quyết định số 20/2002/QĐ-TTg vềviệc sát nhập BHYT vào BHXH Việt nam. Ngày 6/12/2002 Chính phủ banhành nghị định số 100/2002/NĐ - CP quy định chức năng nhiệm vụ và quyềnhạn, cơ cấu tổ chức của BHXH sau khi BHYT Việt nam sát nhập vào BHXHViệt nam (thay thế Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995) có chức năng thựchiện chính sách BHXH và quản lý quỹ BHXH (bao gồm cả BHYT) theo quyđịnh của pháp luật. Sự thay đổi này đã tạo ra nhiều thuận lợi và cũng gâykhông ít khó khăn cho ngành BHXH nước ta trong việc tổ chức thực hiện chếđộ BHXH và quản lý thống nhất trong cả nước. Năm 2003 BHYT Việt nam sát nhập vào BHXH Việt nam. Theo Nghịđịnh số 01/2003/NĐ - CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ về việc sửa đổi bổsung điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP đã mở rộngquyền lợi tham gia BHXH đến mọi NLĐ thuộc các thành phần kinh tế. Nhìn chung: việc cải cách BHXH là phù hợp với tình hình thực tếnước ta khi mà xu hướng của Đảng và Nhà nước ta là tiến hành thực hiện mởrộng chính sách BHXH đến mọi người dân, từng bước tạo điều kiện thuận lợicho NLĐ ở các thành phần kinh tế tham gia BHXH. Có thể thấy trong giaiđoạn này: + Đối tượng tham gia BHXH từng bước được mở rộng: Thông quabảng số liệu dưới đây cho thấy được hoạt động của chính sách BHXH ở nướcta trong thời gian vừa qua
    • Luận văn tốt nghiệp Bảng 1: Tình hình tham gia BHXH từ năm 1995-2004. Chỉ tiêu Số người tham gia Lượng tăng giảm Tốc độ tăng trưởng BHXH tuyệt đối liên hoàn liên hoàn (%) Năm (Nghìn người) (Nghìn người) 1995 2.276 …. ….. 1996 3.222 946 41,56 1997 3.560 338 10,49 1998 3.755 195 5,48 1999 3.959 204 5,43 2000 4.276 317 8,01 2001 4.476 200 4,68 2002 4.845 369 8,24 2003 5.387 542 11,19 2004 5.820 433 8,04 (Nguồn: BHXH Việt nam ) Qua số liệu bảng 1, cho thấy: việc thực hiện chính sách BHXH ở nướcta ngày một có hiệu quả do đó số người tham gia BHXH không ngừng tănglên với số lượng năm sau cao hơn năm trước, số người tham gia tăng lên rõ rệttheo từng năm. Tuy số lượng người tham gia BHXH năm sau cao hơn nămtrước nhưng tốc độ tăng trưởng liên hoàn lại tăng không đều và có xu hướnggiảm dần. Có những năm số lượng người tham gia tăng lên rất cao: như năm1996 số người tham gia BHXH tăng so với năm 1995 là 41,56% tương ứng946 nghìn người là năm có số người tham gia BHXH cao hơn cả, năm 2003số người tham gia BHXH tăng so với năm 2002 là 11,19% tương ứng 542nghìn người nhưng lại có những năm số lượng người tham gia BHXH tănglên rất ít như: năm 1998 tốc độ tăng trưởng là 5,48% tương ứng 195 nghìnngười về số tuyệt đối, năm 2001 tốc độ tăng trưởng của số người tham giaBHXH là 4,68% tương ứng là 200 nghìn người.
    • Luận văn tốt nghiệp Như vậy, năm 1995 có khoảng 2.276 nghìn người tham gia BHXH thìđến năm 2004 số người tham gia BHXH tăng lên hơn 5.820 nghìn người. Nếutính trong cả 10 năm qua số người tham gia BHXH đã tăng lên là 3.544 nghìnngười. Đồng thời cũng đã giải quyết cho hơn 1.256 nghìn người nghỉ hưu vàtrợ cấp BHXH một lần thì bình quân mỗi năm tăng 47 vạn người bằng khoảng1,2% nguồn lao động xã hội. Từ số liệu bảng 1 còn cho thấy, việc thực hiện và triển khai chính sáchBHXH ở nước ta ngày một mở rộng đến NLĐ ở các thành phần kinh tế khácnhau. Số lượng người tham gia BHXH ngày một tăng cho thấy được sự nhậnthức của NLĐ về BHXH đã được nâng lên rất nhiều; đồng thời cũng thể hiệnchính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm, chăm lo và đáp ứngnhu cầu của người dân khi tham gia. Điều này càng thể hiện rõ hơn khi mànền kinh tế nước ta đang trong xu hướng cổ phần hóa các doanh nghiệp,chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướngXã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. + Tách bạch hoạt động của sự nghiệp thu chi quản lý quỹ BHXH rakhỏi chức năng quản lý Nhà nước. Quỹ BHXH được hạch toán độc lập trêncơ sở và nguyên tắc của cân bằng thu chi nhằm: Đảm bảo sự công bằng vàbình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ BHXH cho mọi NLĐ. + Quỹ BHXH tập trung thống nhất độc lập với NSNN thực hiện theocơ chế tự quản của 3 bên tham gia NLĐ, NSDLĐ và sự bù thiếu của Nhànước là phù hợp với tình hình thực tế ở nước ta từ đó tạo điều kiện cho sự chỉđạo kịp thời của Chính phủ được tập trung, kịp thời. Đồng thời trở thànhnguồn quỹ dự phòng rất quan trọng giúp Nhà nước đầu tư phát triển kinh tế,xã hội. Tạo thêm nhiều chỗ làm mới cho người lao động và thực hiện điều tiếtxã hội trong lĩnh vực BHXH.
    • Luận văn tốt nghiệp + Hệ thống BHXH Việt nam được quản lý tập trung thống nhất từTrung ương đến địa phương nhằm chuyên môn hoá việc tổ chức thực hiện cácchính sách BHXH. Hệ thống tổ chức mới của BHXH Việt nam đã đi vào nềnnếp với tổ chức bao gồm ba cấp: - Cấp Trung ương là BHXH Việt nam. - Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh)trực thuộc BHXH Việt nam. - Cấp quận huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện)là BHXH huyện, thị xã, thị trấn, quận, thành phố trực thuộc trung ương. Có thể nói, mô hình tổ chức thống nhất quản lý các chế độ BHXH vềmột đầu mối là phù hợp với tình hình thực tế nước ta, giảm bớt phiền hà chocho chủ sử dụng lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ có điều kiện thamgia đầy đủ và nhanh chóng vào hệ thống BHXH. Đây cũng là một thành côngbước đầu trong công cuộc đổi mới BHXH ở nước ta theo cơ chế của nền kinhtế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được các nước trên thế giới, trongkhu vực và tổ chức lao động quốc tế - ILO đánh giá là hoạt động có hiệu quả.II. NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ BHXH Ở VIỆT NAM.1. Trước năm 1995. Ở Việt nam, BHXH được thực hiện từ những năm 50, 60 của thế kỷXX. Khi đó, do điều kiện nền kinh tế - xã hội và điều kiện lịch sử nên đốitượng tham gia BHXH chỉ mới bao gồm công nhân viên chức Nhà nước, lựclượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh. Tất cảnhững người tham gia BHXH đều không phải đóng góp BHXH. Vì vậynguồn quỹ BHXH lúc này được lấy từ ngân sách Nhà nước và Nhà nướckhông lập ra quỹ BHXH. Thực chất trong thời kì này, Nhà nước có quy địnhcác doanh nghiệp Nhà nước hàng tháng phải trích nộp một tỷ lệ % trong tổng
    • Luận văn tốt nghiệpquỹ lương vào ngân sách Nhà nước để chi trả cho các chế độ BHXH. Do đótạo nguồn cho quỹ BHXH trong thời kì này là từ quỹ lương của doanh nghiệpvà chủ yếu từ thuế thông qua ngân sách Nhà nước.2. Từ năm 1995 đến nay. Thực hiện các quy định của Bộ luật lao động, BHXH ở nước ta cũng cóđược đổi mới về cơ bản. Đối tượng tham gia BHXH không chỉ có công nhânviên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang mà còn những người lao động làmviệc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và mới đây là cảnhững người làm việc ở cấp xã, phường (dưới đây gọi chung là người laođộng). Để được hưởng các chế độ của BHXH thì khi tham gia BHXH ngườilao động phải đóng một tỷ lệ nhất định trong tổng quỹ tiền lương của doanhnghiệp. Theo điều lệ hiện hành nguồn Quỹ BHXH ở nước ta được hình thànhtừ các nguồn sau: a) NSDLĐ đóng bằng 17% so với tổng quỹ tiền lương tháng của nhữngngười tham gia BHXH trong đơn vị. b) NLĐ đóng bằng 6% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu trí, ốm đau,thai sản, TNLĐ - BNN và tử tuất. c) Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXHđối với NLĐ. d) Thu từ các nguồn khác như: nguồn tài trợ từ nước ngoài, nguồn lãi từđầu tư tài chính phần quỹ nhàn rỗi của quỹ BHXH… Căn cứ vào Nghị định số 100/2002/NĐ - CP ngày 06/12/2002 củaChính phủ và căn cứ vào Quyết định số 02/2003/QĐ-TTg ngày 02/01/2003của Thủ tướng Chính phủ ban hành về quy chế quản lý tài chính đối vớiBHXH Việt nam, ngày 26/5/2003 BHXH Việt nam đã có quyết định số
    • Luận văn tốt nghiệp722/2003/QĐ-BHXH- BT quy định cụ thể về việc quản lý thu BHXH bắtbuộc như sau:  Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc (NSDLĐ và NLĐ).  Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy định tại khoản 1, điều 1 Nghị định số 01/2003/NĐ- CP ngày 09/01/2003 của Chính phủ bao gồm:  NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn đủ từ 3 tháng trở lên và hợp đồng không xác định thời hạn trong các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức sau: - Doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, bao gồm: doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động công ích… - Doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Đoanh nghiệp như: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh… - Doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. - Hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, tổ hợp tác xã. - Các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác, lực lượng vũ trang, các tổ chức, Đảng, đoàn thể, các hội quần chúng tự trang trải về tài chính … - Trạm y tế xã phường, thị trấn. - Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam kí kết hoặc tham gia có quy định khác.  Cán bộ công chức viên chưc theo Pháp lệnh cán bộ, công chức
    • Luận văn tốt nghiệp  NLĐ, xã viên làm việc và hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật hợp tác xã.  NLĐ làm việc tại các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có thời hạn dưới 3 tháng khi hết hạn hợp đồng lao động mà NLĐ tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợp đồng lao động với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đó thì phải tham gia BHXH bắt buộc. Đối với những đối tượng tham gia này thì mức thu đóng góp BHXHlà 20% tiền lương hàng tháng trong đó NSDLĐ đóng 15% tổng quỹ tiềnlương tháng và NLĐ đóng 5% tiền lương tháng.  Đối với đối tượng tham gia là quân nhân, công an nhân dân thuộc diện hưởng lương và hưởng sinh hoạt phí: theo Điều lệ BHXH đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ thì mức đóng cho đối tượng này cũng là 20% tiền lương tháng trong đó NSDLĐ đóng 15% tổng quỹ tiền lương tháng và NLĐ đóng 5% tiền lương tháng.  Đối tượng là Cán bộ xã phường, thị trấn hưởng sinh hoạt phí được quy định tại Điều 3 Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ, Điều 7 Nghị định số 40/1999/NĐ-CP ngày 23/6/1999 của Chính phủ và Điều 1 Nghị định số 46/2000/NĐ - CP ngày 12/9/2000 của Chính phủ: thì mức đóng được quy định cho những đối tượng này là 15% mức sinh hoạt phí hàng tháng, trong đó Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn đóng 10% mức phí sinh hoạt tháng; cán bộ xã, phường, thị trấn đóng 5% mức phí sinh hoạt tháng.  Đối tượng là NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định tại Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính
    • Luận văn tốt nghiệp phủ: thì mức đóng bằng 15% tiền lương tháng đóng BHXH liền kề trước khi ra nước ngoài làm việc còn trong trường hợp nếu chưa tham gia BHXH ở trong nước thì mức đóng hàng tháng bằng 15% của hai lần mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại từng thời điểm.  Đối tượng tự đóng BHXH theo nghị định số 41/2002/NĐ - CP ngày 11/4/2002 của Chính phủ và đối tượng quy định tại khoản b điểm 9 mục II thông tư số 07/2003/TT-BLĐTBXH ngày12/03/2003 của Bộ lao động - Thương binh và Xã hội: Mức đóng cho những đối tượng này là 15% mức tiền lương tháng trước khi nghỉ việc. Đối tượng tham gia BHYT bắt buộc (NSDLĐ và NLĐ).  NLĐ trong danh sách lao động thường xuyên, lao động hợp đồng từ đủ 3 tháng trở lên làm việc trong: - Các doanh nghiệp Nhà nước, kể cả các doanh nghiệp thuộc lĩnh vựclực lượng vũ trang. - Các tổ chức kinh tế thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội. - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, doanh nghiệp liên doanh…. Các tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam kí kết hoặc tham gia có quy định khác. - Các đơn vị tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh có từ sử dụng lao động từ 10 lao động trở lên. Đối với những đối tượng trên thì mức đóng là 3% tiền lương hàngtháng trong đó NSDLĐ đóng 2% tổng quỹ lương tháng còn NLĐ đóng 1%tiền lương tháng.
    • Luận văn tốt nghiệp  Cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, trong tổ chức Đảng, chính trị xã hội, cán bộ xã phường thị trấn hưởng sinh hoạt phí hàng tháng theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ - CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ, người làm việc trong các cơ quan dân cử từ Trung ương đến cấp xã, phường. Thì mức đóng là 3% tiền lương hàng tháng trong đó NSDLĐ đóng 2% tổng quỹ lương tháng còn NLĐ đóng 1% tiền lương tháng.  Đại biểu Hội đồng nhân dân đương nhiệm các cấp không thuộc biên chế Nhà nước hoặc không hưởng chế độ BHXH hàng tháng, người có công với cách mạng theo quy định tại Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ. Thân nhân sỹ quan tại ngũ theo quy định tại Nghị định số 63/2002/NĐ-CP ngày 18/6/2002 của Chính phủ. Đối với những đối tượng này thì cơ quan BHXH quy định mức đóng là 3% tiền lương tối thiểu hiện hành do các cơ quan ban ngành có trách nhiệm quản lý đối tượng đóng. Nhà nước hỗ trợ bù thiếu để đảm bảo chính sách BHXH được thực hiện một cách toàn diện: Ngoài sự đóng góp của NSDLĐ và người lao động ra thì nguồn quỹBHXH được sự hỗ trợ thêm từ ngân sách nhà nước để bù thiếu khi các khoảnchi chế độ BHXH lớn hơn khoản thu từ phía người tham gia BHXH. Việctham gia BHXH của Nhà nước với tư cách là người sử dụng đối với nhữngngười hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, Nhà nước phải trực tiếp đóng gópBHXH bằng cách đưa vào quỹ lương của từng cơ quan, đơn vị và phải đóngbằng 17% tổng quỹ lương bao gồm đóng cả BHXH và BHYT, để các cơquan, đơn vị nộp cho cơ quan BHXH. Đồng thời với tư cách bảo hộ giá trịcho quỹ BHXH và hỗ trợ các hoạt động BHXH khi cần thiết.
    • Luận văn tốt nghiệp Như vậy, nguồn hình thành quỹ BHXH chủ yếu thông qua sự đóng gópcủa các bên tham gia BHXH và từ sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ là chủyếu ngoài ra quỹ BHXH còn tạo lập được từ các nguồn thu khác như thu từhoạt động đầu tư, thu từ các khoản nộp phạt do chậm nộp BHXH của các đơnvị doanh nghiệp, thu từ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và các khoản thukhác.III. THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC THU BHXH Ở VIỆT NAM GIAIĐOẠN TỪ NĂM 1995 – NĂM 2004.1. Phân cấp thu BHXH. Mục đích của phân cấp thu đóng góp BHXH từ người tham gia BHXHlà nhằm nâng cao trách nhiệm đối với cán bộ làm công tác thu theo địa bànhành chính đồng thời phân bổ khối lượng công việc đồng đều cho các đơn vị,các cấp (để tránh tình trạng nơi ùn tắc, ngược lại có nơi không có việc làm) vàtạo điều kiện thuận tiện cho đơn vị và đối tượng tham gia đăng kí đóngBHXH phù hợp với điều kiện quản lý thủ công hiện nay. 1.1 Cơ quan BHXH quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là BHXH huyện). Có trách nhiệm trực tiếp thu BHXH các đơn vị: - Các đơn vị trên địa bàn do BHXH huyện quản lý. - Các đơn vị ngoài Quốc doanh, ngoài công lập. - Các xã phường, thị trấn.
    • Luận văn tốt nghiệp - Thân nhân sĩ quan tại ngũ theo quy định tại Nghị định số 63/2002/ NĐ - CP ngày 18/6/2002 của Chính phủ - Đối tượng tự đóng BHXH theo quy định tại Nghị định số 41/2002/NĐ -CP ngày 11/4/2002 và tại khoản b điểm 9 Mục II thông tư số 07/2003/TT-BLĐTBXH ngày 12/3/2003. - Các đơn vị khác do BHXH tỉnh giao nhiêm vụ thu. - Thực hiện kiểm tra đối chiếu tổng hợp các đối tượng tham gia BHXH để lập kế hoạch thu, hướng dẫn NSDLĐ đăng kí và nộp tiền BHXH. BHXH cấp quận, huyện gồm có tổng số 656 đơn vị với phạm vi hoạtđộng, đối tượng phục vụ, khối lượng công việc lớn. Nhiệm vụ do Giám đốcgiao trực tiếp cho từng công chức, viên chức sao cho thuận lợi trong côngviệc thu đóng BHXH. Định kì cơ quan BHXH cấp huyện sẽ chuyển khoảnvào ngày 10, 25 hàng tháng kết thúc thời gian làm việc vào ngày cuối cùngcủa năm thì phải chuyển toàn bộ số thu lên BHXH tỉnh. 1.2 Cơ quan BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là BHXH tỉnh). Cơ quan BHXH tỉnh, thành phố có nhiệm vụ trực tiếp thu BHXH - Các đơn vị do Trung ương quản lý đóng trụ sở trên địa bàn tỉnh, thành phố. Các đơn vị trên địa bàn do tỉnh quản lý đồng thời tổ chức và chỉ đạo cơ quan BHXH cấp cơ sở thu đóng góp theo phân cấp. - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức quốc tế, lưu học sinh nước ngoài. - Lao động hợp đồng thuộc doanh nghiệp lực lượng vũ trang. - Các đơn vị lao động Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
    • Luận văn tốt nghiệp - Người có công với cách mạng quy định tại Nghị định số 28/CP ngày 29/5/1995 của Chính phủ. - Người nghèo quy định tại quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ Tướng Chính phủ. - Những đơn vị BHXH huyện không đủ điều kiện thu thì BHXH tỉnh trực tiếp tổ chức thu. Phòng thu BHXH có trách nhiệm: - Tổ chức, Hướng dẫn, thực hiện thu nộp BHXH đồng thời cấp, hướng dẫn sử dụng sổ BHXH, phiếu khám chữa bệnh đối với cơ quan, đơn vị quản lý đối tượng trên địa bàn. - Lập kế hoạch thu, giám sát thu, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động thu của cơ quan BHXH cấp cơ sở định kì hành quỹ hàng năm thẩm định số thu BHXH cấp cơ sở trên căn cứ vào danh sách lao động, quỹ lương trích nộp BHXH của các đơn vị do BHXH tỉnh trực tiếp thu. Lập kế hoạch thu BHXH năm sau (theo mẫu số 4-KHT). Đồng thời tổng hợp kế hoạch thu BHXH của các quận huyện lập thành 2 bản (theo mẫu số 5-KHT): 1 bản lưu lại tỉnh, 1 bản gửi lên BHXH Việt nam trước ngày 31/10. - Cung cấp cơ sở dữ liệu về NLĐ tham gia BHXH trên địa bàn cho phòng công nghệ thông tin để cập nhật vào chương trình quản lý thu BHXH và in ấn Thẻ BHYT, phiếu khám chữa bệnh. - Cung cấp cho phòng giám định chi những thông tin về đối tượng đã đăng kí tại các cơ sở KCB theo phiếu KCB. Định kì cơ quan BHXH tỉnh phải chuyển số thu BHXH lên BHXH Việtnam vào ngày 10, 20 và ngày cuối cùng của tháng. 1.3 Cơ quan BHXH Việt nam.
    • Luận văn tốt nghiệp BHXH Việt nam là một tổ chức sự nghiệp đặc thù, tổ chức thực hiệncác chế độ BHXH, hoạt động vì mục đích nhân đạo, xã hội, không vì mục tiêulợi nhuận. Theo điều 4 Nghị định số 100/2002/NĐ- CP, bao gồm 19 khoản, đượcchia làm 4 nhóm trong đó nhóm 2 có nêu rõ: nhóm 2 gồm 7 khoản 5, 6, 7, 8,9, 10 và 11 quy định thẩm quyền của BHXH Việt nam về ban hành văn bảnhướng dẫn nghiệp vụ giải quyết chế độ thu, chi và quản lý. BHXH Việt nam chịu trách nhiệm tổng hợp, phân loại đối tượng thamgia BHXH, hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức, quản lý thu BHXH, cấp sổ BHXH,thẻ BHYT và phiếu khám chữa bệnh, kiểm tra, đối chiếu tình hình thu nộpBHXH, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, phiếu khám chữa bệnh và thẩm định số thuBHXH trên phạm vi toàn quốc. Định kì 15 ngày BHXH Việt nam có trách nhiệm chuyển toàn bộ số thuvề tài khoản tiển gửi, quỹ BHXH mở tại kho bạc Nhà nước. Dưới đây là môhình phân cấp thu BHXH. Sơ đồ: mô hình phân cấp thu BHXH. BHXH Việt nam BHXH BHXH BHXH …….. BHXH BHXH Tỉnh 1 Tỉnh 2 Tỉnh 3 Tỉnh 63 Tỉnh 64 BHXH BHXH BHXH BHXH Huyện 1.1 Huyện 1.n Huyện 64.1 Huyện 64.m … ………… …
    • Luận văn tốt nghiệp2. Các phương pháp thu BHXH. Công tác thu đóng góp BHXH Việt nam cũng giống như một số chínhsách BHXH của một số quốc gia khác trên thế giới bao gồm 2 phương phápthu nộp BHXH sau: 2.1 Phương pháp thu trực tiếp. Theo phương pháp này cán bộ và bộ phận chuyên trách của cơ quanBHXH sẽ trực tiếp thu đóng góp BHXH từ người tham gia BHXH. Phươngthức này thường được áp dụng đối với người lao động làm việc tự do tựnguyện tham gia BHXH và những người lao động không có chủ sử dụng laođộng. NLĐ tham gia đóng BHXH cam kết đóng góp BHXH bằng tiền mặt,bằng séc hay chuyển khoản ngân hàng. Nếu thanh toán bằng tiền mặt thì cơquan BHXH cần phải đảm bảo sao cho thủ tục thanh toán tránh được hiệntượng gian lận nội bộ và lạm dụng quỹ, đồng loã giữa nhân viên thu nộpBHXH với người tham gia BHXH đóng góp. 2.2 Phương pháp thu gián tiếp. Đây là phương pháp phổ biến ở Việt Nam, thông qua hệ thống các đạilý thu BHXH. Đại lý của cơ quan BHXH hầu hết là chủ sử dụng lao động.Ngoài ra còn có các bưu điện, ngân hàng các cơ quan tổ chức, đoàn thể quầnchúng ở các quận huyện, xã phường…(gọi chung là đơn vị thu). Theo Điều 37 Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 quy định hàng thángngười sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH theo quy định tại khoản1 điều 36 của Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 và trích tiền lương của tổng sốngười lao động theo quy định tại khoản 2 điều 36 của Nghị định này để đóng
    • Luận văn tốt nghiệpcùng một lúc vào quỹ BHXH. Tiền lương tháng căn cứ đóng BHXH gồm cólương theo ngạch bậc, chức vụ hợp đồng và các khoản phụ cấp. Đơn vị thu BHXH thường áp dụng mô hình quy trình thu như sau : a). Đăng kí tham gia BHXH lần đầu. Đây là khâu đầu tiên trong quá trình thu và quản lý thu, được thực hiệnđịnh kì hàng năm ở tất cả các cơ quan BHXH các cấp. NSDLĐ, cơ quan, doanh nghiệp quản lý các đối tượng tham gia cótrách nhiệm đăng kí tham gia BHXH với cơ quan BHXH được phân côngquản lý theo khu vực hành chính cấp tỉnh nơi cơ quan đơn vị đóng trụ sở. Hồ sơ đăng kí bao gồm: - Công văn đăng kí tham gia BHXH. - Danh sách người lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH. - Hồ sơ hợp pháp về đơn vị và NLĐ trong danh sách (quyết định thành lập, giấy phép hoạt động, bảng thanh toán tiền lương hàng tháng). Cơ quan BHXH tiếp nhận, thẩm định danh sách tham gia BHXH, sốtiền phải đóng hàng tháng hoặc tiến hành kí kết hợp đồng về BHXH với cơquan đơn vị quản lý đối tượng. Đơn vị quản lý đối tượng căn cứ thông báo hoặc hợp đồng đã ký kếtvới cơ quan BHXH tiến hành BHXH. b). Hàng tháng nếu có sự biến động so với danh sách đã đăng kí tham giaBHXH, đơn vị quản lý đối tượng lập danh sách điều chỉnh theo gửi cơ quanBHXH để kịp thời điều chỉnh, xử lý. c). Hàng quý hoặc định kì theo hợp đồng đã kí kết, cơ quan BHXH và đơnvị quản lý đối tượng tiến hành đối chiếu số lượng nộp BHXH và lập biên bảntheo nguyên tắc ưu tiên tính đủ mức đóng BHXH bắt buộc, để xác định sốtiền còn phải nộp trong quý.
    • Luận văn tốt nghiệp Ngoài ra còn tổ chức thu và đôn đốc các đơn vị sử dụng lao động nộpBHXH, ghi chép kết quả đóng BHXH. Bởi đây là một nhiệm vụ quan trọngđược tiến hành thường xuyên đối với tất cả các đơn vị. Hàng tháng, sau khixác định số tiền phải nộp BHXH của các đơn vị, cơ quan BHXH tiến hànhđôn đốc và tổ chức thu BHXH theo đúng quy định, thông báo kịp thời nhữngđơn vị nợ tiền đóng BHXH từ 2 tháng trở lên. d). Trước ngày 30/11 hàng năm, các cơ quan đơn vị quản lý đối tượng cótrách nhiệm lập "danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH", đểđăng kí tham gia BHXH của năm kế tiếp cho đối tượng với cơ quan BHXHđược phân công quản lý. Cơ quan BHXH chức năng có nhiệm vụ thu chuyển tiền thu nộpBHXH về cơ quan BHXH cấp trên. Toàn bộ tiền thu BHXH do BHXH huyệnvà BHXH tỉnh thu được đều phải chuyển hết về tài khoản chuyên thu củaBHXH Việt nam. Tiền thu phải được tập trung thống nhất vào một mối là quỹBHXH do BHXH Việt nam quản lý.3. Kết quả thu BHXH ở Việt nam từ năm 1995 – 2004. Có thể nói năm 1995 là mốc son chói lọi (với Nghị định số 12/CP ngày26/01/1995 của Chính phủ ban hành điều lệ BHXH áp dụng đối với cán bộcông nhân viên chức Nhà nước và những NLĐ theo loại hình BHXH bắtbuộc, tiếp đó là Nghị đinh số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ ban hànhđiều lệ đố với sĩ quan, quân nhân…) đã đánh dấu bước phát triển mới trongchủ trương thực hiện các chính sách về BHXH của Đảng và Nhà nước ta lànhằm mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên phạm vi toàn quốc đểtăng thu quỹ BHXH. Từ đó có thể đảm bảo được thực hiện các chế độ củachính sách BHXH trên cơ sở quy luật số đông được đảm bảo. Xuất phát từquan điểm và mục tiêu thực hiện BHXH trên phạm rộng đối với NLĐ và tiếntới có thể thực hiện được BHXH tự nguyện cho người dân. Nhà nước ta đã
    • Luận văn tốt nghiệpchủ trương đổi mới chính sách BHXH, với quan điểm cải cách BHXH, tiếptục thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và cụ thể hoá hiến Pháp, mở rộngđối tượng tham gia BHXH ở các thành phần kinh tế trong và ngoài khu vựcdoanh nghiệp quốc doanh. Với quan điểm, mục đích bảo vệ lợi ích cho người lao động, đồng thờiđảm bảo bình đẳng cho các bên tham gia, từ đó góp phần ổn định, cải thiệncuộc sống cho bản thân và gia đình người lao động trong quá trình lao độngcũng như khi NLĐ nghỉ chế độ. Tại kì họp thứ 5 Quốc hội khoá IX, Quốc hộiđã thông qua Bộ Luật lao động và hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1995, trongđó chương XII quy định những nguyên tắc chung nhất về BHXH. Tiếp đóchính phủ đã ban hành Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995, kèm theo Điềulệ BHXH và Nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 ban hành Điều lệ BHXHđối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhândân và công an nhân dân. Sau 10 năm (1995 - 2004) thực hiện chính sách BHXH Việt nam kể từkhi đổi mới chính sách BHXH là một chặng đường không ít những khó khăn,thử thách nhưng BHXH Việt nam đã vượt qua, tự khẳng định mình và khôngngừng vươn lên. Có thể nói trong 10 năm qua, BHXH Việt nam đã đạt đượcnhững thành tựu đáng khích lệ và có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhữngkết quả đó đã chứng minh được việc thực hiện chính sách BHXH theo sự đổimới kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn và thực sựđã phát huy tác dụng. Một số kết quả của công tác thu đó là không ngừng tănglên của nguồn tài chính BHXH, quỹ BHXH được tập trung thống nhất, hạchtoán độc lập với ngân sách Nhà nước vào một đầu mối do BHXH Việt namtrực tiếp quản lý và từng bước độc lập với Ngân sách Nhà nước. Số thuBHXH của quỹ ngày một tăng lên, năm sau cao hơn năm trước đồng thờicũng giảm được nguồn chi. Theo tính toán đến năm 2020 cơ bản ngân sáchNhà nước không phải bao cấp, vì cán bộ, công chức, người lao động đã tham
    • Luận văn tốt nghiệpgia đóng góp xây dựng quỹ BHXH. Dưới đây là bảng số liệu thống kê tìnhhình thu BHXH Việt nam từ 6 tháng cuối năm 1995 đến năm hết 2004. Bảng 2: Tình hình thu BHXH Việt nam từ 6 tháng cuối năm 1995 đến hết năm 2004. Chỉ tiêu Lượng tăng Tốc độ tăng Số thu BHXH (giảm ) (giảm) (Tỷ đồng) tuyệt đối liên hoàn Năm liên hoàn(%) (Tỷ đồng) 6 tháng cuối 788,486 …. …. năm 1995 1996 2.569,733 ….. …. 1997 3.514,361 944,628 36,76 1998 3.898,496 384,135 10,93 1999 4.186,055 287,559 7,38 2000 5.198,222 1.012,167 24,18 2001 6.348,185 1.149,963 22,12 2002 6.963,023 614,838 9,69 2003 11.488,350 4.525,327 64,99 2004 12.929.000 1.440,650 12,54 (Nguồn BHXH Việt nam) Qua số liệu bảng 2 cho thấy, số thu BHXH năm 6 tháng cuối năm 1995đến hết năm 2004 liên tục tăng với số thu năm sau cao hơn năm trước. Đặcbiệt là số thu trong 2 năm: năm 2003 là 11.488,350 tỷ đồng, năm 2004 là12.929 tỷ đồng. Có số thu BHXH tăng cao như trên là do từ năm 2003 trở lạiđây thực hiện quyết định số 20/2002/QĐ-TTg về việc sát nhập BHYT Việtnam vào BHXH Việt nam. Do vậy, quỹ BHXH Việt nam bao gồm cả số thuBHYT Việt nam. Như vậy, kết quả thu BHXH từ 6 tháng cuối năm 1995 đến hết năm2004, BHXH Việt nam đã thu được 57.883,911 tỷ đồng đây là một số tiềnkhông nhỏ đã góp phần đảm bảo cho quỹ BHXH Việt nam thực hiện tốt cácchế độ cho người lao động nằm trong chính sách BHXH của nước ta trong
    • Luận văn tốt nghiệpthời gian qua và là cơ sở tạo tiền đề vững chắc cho công việc thực thi chínhsách BHXH trong thời gian tới. Theo số liệu bảng 2 cho thấy, mặc dù những năm qua số thu BHXH nămsau cao hơn năm trước nhưng lượng tăng (giảm) tuyệt đối và tốc độ tăngtrưởng liên hoàn lại tăng không đều thậm chí lại có xu hướng giảm có nhữngnăm tốc độ tăng trưởng tăng lên rất cao như: năm 1997 số thu tăng cao so vớinăm 1996 là 944,628 tỷ đồng tương ứng tăng 36,76%, năm 2000 số thuBHXH tăng so với năm 1999 là 1.012,167 tỷ đồng tương ứng tăng 24,18%,năm 2001 tốc độ tăng trưởng là 22,12% tương ứng với số thu tăng so với năm2000 là 1.149,963 tỷ đồng, năm 2003 tốc độ tăng trưởng là 64,99% tương ứngvới số thu tăng so với năm 2002 là 4.525,327 tỷ đồng. Nhưng bên cạnh đó cónhững năm số thu tăng không cao làm cho tốc độ tăng trưởng thấp như năm1999 tốc độ tăng trưởng là 7,38% tương ứng với số thu tăng so với năm 1998là 287,559 tỷ đồng, năm 2002 tốc độ tăng trưởng là 9,69% tương ứng với sốthu tăng so với năm 2001 là 614,838 tỷ đồng. Về tình hình triển khai kế hoặch thực hiện số thu đóng BHXH cũng đượccơ quan BHXH quan tâm, chú trọng. Dưới đây là bảng số liệu thống kê tìnhhình thực hiện kế hoạch thu của cơ quan BHXH qua các năm. Bảng 3: Kế hoạch thực hiện thu BHXH từ 6 tháng cuối năm 1995-2004 Kế hoạch thu Kết quả thực hiện Tỷ lệ hoàn thành Năm (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%)6 tháng cuối năm 1995 …. 788,486 ….
    • Luận văn tốt nghiệp 1996 2.197,235 2.569,733 116,95 1997 3.014,229 3.514,361 116,59 1998 3.815,190 3.898,496 102,18 1999 4.100,795 4.186,055 102,08 2000 5.100,355 5.198,222 101,92 2001 6.200,000 6.348,185 102,39 2002 6.420,455 6.963,023 108,45 2003 10.382,697 11.488,350 106,49 2004 11.662,352 12.929,000 108,61 (Nguồn: BHXH Việt nam) Thông qua bảng 3 cho thấy, số tiền BHXH Việt nam dự toán thu tăngdần qua các năm và kết quả thực hiện của công tác thu BHXH của cơ quanBHXH Việt nam từ năm 1996 đến nay luôn vuợt chỉ tiêu so với kế hoạch đềra. Điều này cho thấy trách nhiệm, sự nỗ lực quyết tâm phấn đấu của ban thuBHXH nói chung và cán bộ chuyên thu của ngành BHXH Việt nam nói riêngngày một tăng, luôn tận tình với công việc nhằm đảm bảo cho nguồn quỹBHXH được tăng trưởng. Đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhànước, các cơ quan ban ngành chức năng liên quan đã phối hợp với cơ quanBHXH Việt nam và tạo điều kiện để cán bộ chuyên thu của cơ quan BHXHhoàn thành tốt kế hoạch đã đề ra. Nhìn chung, công tác thu BHXH qua 10 năm 1995-2004 đã đạt đượcnhững kết quả rất tốt luôn hoàn thành trên 100% kế hoạch hàng năm đề ra.Trong đó có những năm ban thu BHXH Việt nam đạt tỷ lệ hoàn thành về sốthu so với kế hoạch đề ra rất cao như: năm 1996 tỷ lệ hoàn thành là 116,95%,năm 1997 tỷ lệ hoàn thành số thu BHXH là 116,59%, năm 2002 tỷ lệ hoànthành về kế hoạch thu BHXH là 108,45%, năm 2004 tỷ lệ hoàn thành kếhoạch thu BHXH là 108,61%. Qua đó cho thấy, công tác thu BHXH đã đượcquan tâm và chú trọng hơn nhằm đảm bảo cho nguồn quỹ BHXH tránh được
    • Luận văn tốt nghiệp những thất thu, thất thoát đáng tiếc xảy ra. Do vậy mà tổng thu BHXH liên tục tăng qua các năm, với số thu năm sau cao hơn năm trước, đây cũng thể hiện rõ số người tham gia BHXH từ năm 1995 đến năm 2004 luôn tăng lên, điều này cũng nói nên chính sách của Đảng và Nhà nước đã và đang đi đúng hướng và mục tiêu chính sách BHXH đã và đang được mở rộng đến với NLĐ. Bảng 4: Tình hình thu BHXH từ các khối lao động giai đoạn từ năm 1996- 2004 (Đơn vị: triệu NămKhối laođộng 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 1000.03 2041.40 2308.56 DN NN 860.253 989.362 0 1268.203 1570.132 0 3 2997.3 DNNQD 79.312 86.183 106.168 120.125 158.106 248.400 297.120 698.5 1128.00 DNLD 710.647 890.132 892.161 815.913 968.912 998.185 0 1978.5 1194.28 2000.60 2150.02 HCSN 618.162 995.157 3 1255.512 1661.033 0 9 3752.1Xã phường … …. 50.385 85.200 93.201 97.320 99.370 122.1 Cơ sở công lập …. …. …. … …. 39.249 42.411 74.2Hợp tác xã 4.633 5.091 67.010 8.855 9.680 29.531 31.400 56.7Quốc phòng an ninh 296.726 548.436 588.459 632.247 737.158 893.500 906.130 1808.5Tổng số thu 2569.73 3898.49 6348.18 6963.02 BHXH 3 3514.36 6 2917.852 5198.222 5 3 11488.3
    • Luận văn tốt nghiệpDNNN: Doanh nghiệp Nhà nớcDNNQD: Doanh nghiệp ngoài quốc doanhDNLD: Doanh nghiệp liên doanhHCSN: Hành chính sự nghiệp
    • Từ số liệu bảng 4 cho thấy, những khối lao động có số thu BHXH trong9 năm (1996-2004) cao là: khối lao động hành chính sự nghiệp với tổng sốthu là 17.553,181 tỷ đồng, số thu BHXH của khối lao động Doanh nghiệpNhà nước là 16.908,357 tỷ đồng, số thu BHXH của khối lao động Doanhnghiệp liên doanh là 10.438,972 tỷ đồng. Đây là những khối lao động có sốlượng lao động bắt buộc tham gia BHXH lớn và mức lương làm căn cứ đóngBHXH cao, do vậy cán bộ chuyên thu của ngành BHXH Việt nam cần chútrọng đến việc thu nộp đóng góp BHXH từ các khối lao động này. Song bêncạnh đó còn có những khối lao động có số thu BHXH thấp như khối lao động:hợp tác xã có số thu BHXH trong 9 năm là 294,478 tỷ đồng, khối lao động cósố thu BHXH thấp nhất đó là Cơ sở công lập 248,628 tỷ đồng. Đối với khối lao động ngoài quốc doanh, khối lao động thuộc Doanhnghiệp liên doanh do có sự đổi mới chính sách, tích cực tuyên truyền kết hợpvới các văn bản thông tư hướng dẫn quy định bắt buộc phải đăng kí tham giaBHXH cho người lao động (đối với doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao độngtrở lên và với những hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên) được phổ biến đếncác doanh nghiệp nên đối tượng tham gia BHXH cũng dần tăng lên. Mặc dùvậy, ngành BHXH Việt nam nói chung và cán bộ chuyên thu của cơ quanBHXH Việt nam nói riêng vẫn cần phải chú trọng, theo dõi sát sao đến việcthu nộp BHXH từ những khối lao động này. Bởi đây là những khối lao độngmà xu hướng có số lượng người tham gia BHXH bắt buộc ngày một gia tăng(theo quy định của Luật BHXH) nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà Nhànước đang có xu hướng chuyển đổi nền kinh tế và cổ phần hóa các doanhnghiệp. Còn đối với khối lao động xã phường, đến ngày 31/1/1998 Chính phủban hành Nghị định số 09/1998/NĐ-CP về việc thực hiện BHXH đối với cánbộ xã phường nhưng mức thu BHXH cũng có những kết quả tốt góp phầnquan trọng nâng cao nguồn quỹ BHXH. Do vậy mà mức thu từ các khốidoanh nghiệp này cũng có biểu hiện tích cực liên tục tăng lên và tương đối ổnđịnh. Có thể nói, năm 2000, năm 2001, năm 2003 và năm 2004 số thu BHXHtừ các khối lao động tăng đột biến so với các năm khác. Do đó, làm cho số thuquỹ BHXH cũng tăng lên cao, điều này nó phù hợp với đối tượng tham gia
    • BHXH năm 2000 với 4,276 triệu người và đây cũng là năm mà chính sáchBHXH thực sự đi vào cuộc sống của người dân, chính sách mở rộng đốitượng tham gia BHXH đã phát huy tác dụng.4. Đánh giá thực trạng công tác thu BHXH ở Việt nam trong thờigian qua. Sau 10 năm thự hiện và triển khai chính sách BHXH (1995 – 2004),đến nay mọi người lao động trong tất cả các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chứccó hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thuộc các thành phần kinh tế, dù làtrong biên chế hay ngoài biên chế Nhà nước, đều có quyền và nghĩa vụ thamgia BHXH. Có thể nói, với những văn bản sửa đổi và những quy định bắtbuộc tham gia BHXH đối với một số đối tượng đã làm cho chính sách BHXHdần đi vào cuộc sống của mỗi người dân Việt nam và từ đó họ cảm nhận đượcviệc tham gia BHXH là một vấn đề rất cần thiết để đảm bảo cuộc sống chogia đình họ không những trong hiện tại mà còn đảm bảo được cả trong tươnglai khi họ về hưu. Có lẽ, chính vì thế mà số người tham gia BHXH khôngngừng tăng lên hàng năm với năm sau cao hơn năm trước. Năm 1995 sốngười tham gia BHXH là 2.276 nghìn người thì đến năm 2004 số người thamgia BHXH là 5.820 nghìn người. Số thu BHXH trong 10 năm qua cũng tănglên rất cao, số thu BHXH tính đến năm 2004 so với năm 1996 đã tăng gấp503,13%. Quỹ BHXH năm 2004 tăng so với quỹ BHXH năm 1996 là10.359,267 tỷ đồng. Đây là một số tiền không nhỏ giúp cơ quan BHXH chitrả cho các chế độ BHXH ngắn và dài hạn, góp phần giảm chi cho Ngân sáchNhà nước. Dưới đây là bảng số liệu thống kê về số thu BHXH, số người thamgia BHXH và tốc độ tăng trưởng liên hoàn của số thu, số người tham giaBHXH giai đoạn 1995- 2004:
    • Bảng 5: Bảng số liệu thống kê tốc độ tăng trưởng liên hoàn về số thu BHXH và số người tham gia BHXH từ năm 1995 tới nay. Số thu BHXH số ngời tham gia BHXHChỉ tiêu Lượng tăng Tốc độ Lượng tăng (giảm ) tăng (giảm) Số người (giảm) Số thu tuyệt đối tham gia liên hoàn Tốc độ BHXH liên hoàn liên (Nghìn (nghìn tăng trưởng Năm (Tỷ đồng) (tỷ đồng) hoàn(%) người) người) (%) 1995 788,486 …. …. 2.276 … …. 1996 2569,733 ….. …. 3.222 946 41,56 1997 3514,361 944,628 36,76 3.560 338 10,49 1998 3898,496 384,135 10,93 3.755 195 5,48 1999 4186,055 287,559 7,38 3.959 204 5,43 2000 5198,222 1012,167 24,18 4.276 317 8,01 2001 6348,185 1149,963 22,12 4.476 200 4,68 2002 6963,023 614,838 9,69 4.845 369 8,24 2003 11488,350 4525,327 64,99 5.387 542 11,19 2004 12929,000 1440,650 12,54 5.820 433 8,04 (Nguồn: BHXH Việt nam) Từ số liệu bảng 5 cho thấy: số thu BHXH liên tục tăng lên trong cácnăm với số thu năm sau cao hơn năm trước. Tổng số thu BHXH trong vòng 3năm từ 2002 đến năm 2004 đạt 31.380,373 tỷ đồng nếu so với khoảng thờigian từ 6 tháng cuối năm 1995 đến năm 2001 thì thời gian gấp đôi nhưng sốthu BHXH của 3 năm từ năm 2002 - 2004 lại lớn hơn 6.933,524 tỷ đồng sovới số thu BHXH giai đoạn 1995-2004. Nguyên nhân chủ yếu đạt được kếtquả trên là do: • Nhà nước tăng lương tối thiểu từ 210.000 đồng/tháng năm2001 lên đến 290.000 đồng/tháng năm 2003.
    • • Năm 2003 trở đi thì quỹ BHXH Việt nam bao gồm cả số thu BHYT Việt nam • Thực hiện Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 9/1/2003 về việc bổ sung, sửa đổi một số điều của Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ nên số lao động tham gia BHXH tăng lên như chỉ tính riêng năm 2003 thì số lao động tham gia BHXH đã tăng lên so với năm 2002 là 542 nghìn người. • Các văn bản về thực hiện chính sách BHXH đã dần được hoàn thiện và phổ biến rộng đến những người lao động, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh. Do đó sự nhận thức của người lao động về BHXH đã được nâng cao. Số thu BHXH đạt một kết quả cao như vậy là do công tác tuyên truyềnphổ biến và những văn bản quy định bắt buộc đối với người tham gia BHXH(bao gồm cả BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện) được kết hợp với các chếtài xử phạt vi phạm BHXH đã được ban hành đến từng cơ quan đơn vị,phường, xã và nhất là lưu học sinh, sinh viên ở các khối tiểu học, trung học…đã tham gia tăng lên rất nhiều. Do đó đã dẫn đến số thu BHXH của các nămcung tăng lên rất đáng kể góp phần giảm chi đáng kể cho ngân sách Nhànước. Tình hình thu BHXH năm 2003, tổng số tiền đã thu là 11488,350 tỷđồng trong đó:  Doanh nghiệp Nhà nước là: 2997,370 tỷ đồng  Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 1978,585 tỷ đồng  Doanh nghiệp ngoài quốc doanh: 698,534 tỷ đồng.  Hành chính sự nghiệp: 3.752,119 tỷ đồng.  Cơ sở ngoài công lập: 74,249 tỷ đồng.  Hợp tác xã: 56,792 tỷ đồng.  Quốc phòng, an ninh:1.808,586 tỷ đồng.  Xã phường: 122,115 tỷ đồng.
    • Trong khi đó số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trong toàn quốc là5.387.000 người chiếm gần 14% lực lượng lao động xã hội. So với kế hoạch,số lượng người tham gia BHXH năm 2003 đạt 78,3% trong đó khối hànhchính sự nghiệp, Đảng và các Đoàn thể đã đạt tỷ lệ cao nhất 100% còn khuvực ngoài quốc doanh tỷ lệ tham gia BHXH rất thấp theo số liệu điều tra, trêntoàn quốc có 405.562 đơn vị với 2.907.926 người lao động thuộc khu vựcngoài quốc doanh, các tổ hợp tác… Nhưng trên thực tế chỉ có 21.000 đơn vịtham gia chiếm 5,1% với 954.314 lao động chiếm khoảng 32,8%. Chính vìvậy mà số thu BHXH từ khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất thấp(698,534 tỷ đồng) mặc dù số lao động bắt buộc tham gia BHXH lớn hơn rấtnhiều so với khối hành chính sự nghiệp (3.752,119 tỷ đồng). Năm 2004, BHXH Việt nam xây dựng 5 nhiệm vụ trọng tâm của ngành,trong đó nhiệm vụ mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là một trongnhững nhiệm vụ hàng đầu. Chính vì thế, mặc dù kết quả thu BHXH của toànngành trong năm 2004 tăng so với năm 2003 là 12,54% đối với BHXH nhưngBHXH Việt nam căn cứ tình hình tăng trưởng kinh tế - xã hội và khả năng tổchức, thực hiện của từng địa phương. Do đó năm 2004 toàn ngành đã thuđược 12.929 tỷ đồng tăng so với năm trước là 12,54% tương ứng 1.440,650 tỷđồng. Trong đó có 11 tỉnh thành phố có mức hoành thành kế hoạch trên 80%như: Điện biên, Quảng Ngãi, Bến Tre, Lào Cai…. Nhìn chung, trong giai đoạn 1995-2001 số thu BHXH còn thấp nếu tínhsố thu từ 6 tháng cuối năm 1995 đến năm 2001 thì tổng số thu đạt được là26.502,9 tỷ đồng chưa bằng 1/2 số thu của cả thời kỳ từ năm 1995 – 2004(57.883,911 tỷ đồng) trong khi đó chỉ tính riêng trong thời gian là 3 năm từnăm 2002 đến năm 2004 thì số thu vào quỹ BHXH là 31.380,373 tỷ đồng gópphần nâng tổng số thu cho quỹ BHXH tăng cao. Có thể thấy được sự tăng lêncủa số thu BHXH qua biểu đồ sau:
    • Biểu đồ biểu diễn số thu BHXH 6 tháng cuối năm 1995 đến năm 2004. tû ® ng å 14000 12929.000 12000 11488.350 10000 8000 6963.023 6348.185 6000 5198.222 4186.055 3898.496 4000 3514.361 2569.733 2000 788.486 0 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 n¨ m sè thu BH X H (Nguồn: BHXH Việtnam) Như vậy: Từ những số liệu đã nêu trên cho thấy với những cố gắng, nỗlực của toàn ngành trong việc vận động, hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị sửdụng lao động tham gia BHXH trong 10 năm qua BHXH Việt nam đã thu vàoquỹ BHXH gần 58 nghìn tỷ đồng. Số thu BHXH trong những năm qua đặc
    • biệt từ năm 2002 đến năm 2004 tăng lên rất nhanh. Cụ thể nếu năm 1996 sốthu tăng 1 lần thì năm 2000 số thu tăng lên gấp 2,023 lần và năm 2004 tănggấp 5,031 lần. Còn về số thu của BHXH thì qua số liệu bảng 5 cho thấy được: tốc độtăng trưởng liên hoàn qua các năm không đồng đều có những năm thì tốc độtăng trưởng tăng lên rất cao nhưng lại có những năm tốc độ tăng trưởng lại rấtthấp. Cụ thể năm 1997 tốc độ tăng trưởng là 36,76%, tăng tương ứng là944,628 tỷ đồng năm 2000 tốc độ tăng trưởng là 24,18% tương ứng tăng1.012,167 tỷ đồng, 2001 tốc độ tăng trưởng 22,12% tương ứng là 1.149,963 tỷđồng và đặc biệt đến năm 2003 tốc độ tăng trưởng tăng cao nhất trong cácnăm 64,99% tương ứng với 4525,327 tỷ đồng (có số thu năm 2003 tăng caonhư vậy là vì đây là năm đầu tiên số thu BHYT Việt nam được tính chung vàosố thu BHXH Việt nam do vậy có thể nói năm 2003 là năm có tốc độ tăngtrưởng cao nhất trong thời kì từ năm 1995 đến năm 2004. Nhưng trong khi đócó một số năm tốc độ tăng trưởng lại rất thấp tương ứng với số thu chênh lệchso với năm trước đó cũng thấp đi như: năm 1998 là 10,93% tương ứng384,135 tỷ đồng, năm 1999 tốc độ tăng trưởng là 7,39% tương ứng 287,559 tỷđồng và đến năm 2004 nếu so với số thu của năm 2003 thì tốc độ tăng trưởngcó xu hướng giảm và chỉ đạt 12,54% so với năm 2003 tương ứng 1440,650 tỷđồng. Như vậy, chỉ tính riêng cho số thu của 6 tháng đầu năm 2004 theo báocáo của BHXH các tỉnh thành phố tính đến hết ngày 25/6/2006 số thu BHXHbắt buộc là 6.127,2 tỷ đồng, đạt 48,6 % kế hoạch năm 2004, tăng 4,9% so vớicùng kỳ năm 2003. Nhìn vào số liệu bảng 5 cho thấy số thu quỹ BHXH (bao gồm cả BHYT)tăng không đồng đều qua các năm là do có một số Nguyên nhân chủ yếusau: - Do có sự thay đổi trong chính sách, sự quan tâm của các cấp chính quyền đoàn thể, và sự đôn đốc của các cán bộ chuyên thu làm cho
    • số thu BHXH từ các đơn vị sử dụng lao động ngày một được triệt để hơn.- Do đối tượng tham gia BHXH ngày càng được mở rộng phạm vi áp dụng qua các năm như năm 1997 số lao động tham gia tăng lên gần 3.560 nghìn người, năm Năm 2000 số người tham gia là 4.246 nghìn người năm 2001 số người tham gia là 4.476 nghìn người. Năm 2003 do thực hiện Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về việc sửa đổi bổ sung, sửa đổi một số điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ nên số lao động tham gia BHXH tăng lên 542.598 người do đó số thu của năm 2003 có mức thu cao đột biến so với các năm khác...- Do sự thay đổi về mức tiền lương tối thiểu của Chính phủ làm cho số thu BHXH tăng lên như năm 2000 điều chỉnh mức lương tăng lên là 144.000 đồng/tháng lên đến 180.000 đồng/tháng, năm 2001 mức lương được điều chỉnh lên đến mức lương tối thiểu là 210.000 đồng/tháng đến năm 2003 mức lương tối thiểu lại được điều chỉnh tăng từ 210.000 đồng/tháng lên đến 290.000 đồng/tháng cũng làm cho mức lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động cao hơn, mức phí sinh hoạt của cán bộ xã phường, cán bộ công chức hoặc những người làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp cũng tăng lên .- Đặc biệt là năm 2002 khi có quyết định số 20/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/01/2002 quyết định chuyển BHYT sang BHXH Việt nam, đến năm 2003 thực hiện quyết định này cơ quan BHXH Việt nam chính thức thu nộp BHXH và BHYT điều này cũng góp phần làm tăng quỹ BHXH cho năm 2003.- Do điều kinh tế ngày càng phát triển, trình độ hiểu biết về tham gia BHXH có lợi cho mình và gia đình mình như thế nào do đó ý
    • thức tham gia BHXH để bảo vệ quyền và nghĩa vụ của mình ngày càng được người dân hưởng ứng tham gia nhiều hơn… Hơn nữa khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng phát triển thuận lợi, mức lương bình quân của người lao động trong khu vực này tăng lên nhanh chóng làm cho mức đóng BHXH cũng tăng theo do đó mà quỹ BHXH đã tăng lên. - Từ những số liệu bảng 5 cho thấy, số lượng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc vẫn còn hạn hẹp hơn nữa tốc độ tăng trưởng của số lượng người tham gia BHXH tăng không đều và có xu hướng giảm dần điều này phần nào đã nói lên rằng cơ quan BHXH và các ban ngành chức năng còn buông lỏng trong công tác quản lý đốc thu các cơ quan đơn vị sử dụng lao động trong việc kê khai đăng kí tham gia BHXH cho NLĐ, chưa thực hiện tốt công tác động viên tuyên truyền và bắt buộc người lao động thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH. Nếu đến hết năm 2004 số người tham gia BHXH mới chiếm khoảng 14% lực lượng lao động xã hội dân số cả nước điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc gia tăng quỹ BHXH. Kết thúc năm 2004 toàn ngành BHXH Việt nam đã thu đạt 102,4%tăng trên 300 tỷ đồng so với kế hoạch được giao, số lao động tham gia BHXHtăng gần 8% so với năm 2003. Bên cạnh những mặt đã đạt được như trên thì công tác thu quỹ BHXHcũng còn một số tồn tại:  Tình hình nợ đọng BHXH. Tình hình nợ đọng BHXH của các đơn vị tham gia BHXH khá phổ biến và với số tiền rất lớn. Đây là một trong những vấn đề tồn tại nhất trong công tác thu BHXH, nợ đọng BHXH ở nhiều đơn vị tham gia BHXH ở các ngành, các cấp các đơn vị sử dụng lao động. Số nợ tiền đóng BHXH ở các cơ quan đơn vị này ngày càng tăng đặc biệt từ khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế thị trường và thực
    • hiện Nghị định 12/CP của thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng đối tượng tham gia ra đến các thành phần kinh tế thì số lượng người tham gia BHXH không ngừng tăng lên nhưng kéo theo đó thì số nợ, trốn đóng BHXH của các doanh nghiệp kể cả trong và ngoài quốc doanh luôn tăng lên. Tính đến cuối tháng 6 năm 2004, số tiền nợ đọng mà BHXH phải thu là 562,723 tỷ đồng và đến hết năm 2004 số tiền nợ đọng là 578,624 tỷ đồng. Dưới đây là bảng số liệu thống kê tình hình nợ đọng BHXH qua các năm (2000- 2004) Bảng6: Tình hình nợ đọng BHXH qua các năm. Năm 2000 2001 2002 2003 2004 Số tiền nợ đọng BHXH 479,865 493,634 431,408 556,919 578,624 (tỷ đồng) (Nguồn: Vụ BHXH Việtnam) Qua số liệu bảng 6 cho thấy, đến hết năm 2004 số tiền nợ đọng BHXHlà 578,624 tỷ đồng. Đây là số tiền rất lớn mà cơ quan BHXH cần phải có biệnpháp, kế hoạch thu nhằm đảm bảo cho nguồn quỹ BHXH có khả năng thựchiện tốt hơn nữa các chế độ chi trả BHXH cho NLĐ.  Đặc biệt, có hai ngành nợ đọng BHXH với số tiền nhiều nhất là ngành Giao thông vận tải và Tổng công ty Cà Phê Việt nam trong đó: + Ngành Giao thông vận tải tính đến hết năm 2004 số tiền nợ đọng lênđến 41,72 tỷ đồng. Chính do các doanh nghiệp ngành Giao thông vận tải nợ
    • đọng BHXH nên đã xảy ta tình trạng nhiều công nhân đến tuổi nghỉ chế độ đãkhông làm thủ tục được để về nghỉ chế độ… + Tổng công ty Cà Phê Việt nam thì tính đến hết năm 2004 các doanhnghiệp thuộc Tổng công ty Cà Phê Việt nam nợ BHXH 38 tỷ đồng. Qua báo cáo của BHXH về tình hình nợ BHXH ở một số địa phươngnhư: Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương… thì tình hình thất thu BHXH là rất lớn, nợ đọng BHXH nhiều (nếu tính đếnhết năm 2004 thì một số tỉnh) như: + Hà Nội hiện còn nợ 53,689 tỷ đồng + Thành phố Hồ Chí Minh nợ 386,645 tỷ đồng + Tỉnh Bình Dương nợ 49,039 tỷ đồng. Ở Hải phòng nếu tính hết Quý IV năm 2003 khối doanh nghiệp Nhànước phải đóng 63,6 tỷ đồng, còn nợ hơn 9 tỷ đồng; các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài phải đóng 14,4 tỷ đồng còn nợ 830 triệu đồng, khối doanhnghiệp ngoài quốc doanh còn nợ 1,2 tỷ đồng, khối hành chính sự nghiệp,Đảng đoàn thể còn nợ hơn 405 triệu đồng, hợp tác xã phải đóng 1,3 tỷ đồngcòn nợ 47 triệu đồng. Sang đến hết năm 2004 Hải phòng nợ đọng tiền đóngBHXH là 26,8 tỷ đồng Ninh Bình tính đến hết năm 2004 số thu chỉ đạt 65,17% kế hoạch tổngsố còn nợ đọng BHXH lên đến 19,87 tỷ đồng. Có tình trạng nợ đọng trên là do một số nguyên nhân sau: - Một số doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất kinh doanh đã gặp phải những khó khăn về vốn, thậm chí còn thua lỗ (như Tổng Công ty Cà Phê Việt nam), vì thế không đủ điều kiện để đóng BHXH cho người lao động. - Một số các doanh nghiệp cố tình chiếm dụng quỹ đóng BHXH để quay vòng làm ăn, mặc dù họ biết là phải chịu phạt nhưng những doanh nghiệp này vẫn cố tình chiếm dụng và chấp nhận chịu phạt. Có nhiều doanh nghiệp ban đầu chỉ là có ý định chiếm
    • dụng quỹ BHXH trong thời gian ngắn để khắc phục khó khăn hiện tại, nhưng rồi nợ vẫn tăng lên đến mức không có khả năng thanh toán. Còn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô sản xuất nhỏ, không ổn định kinh doanh kém hiệu quả, giá thành sản phẩm cao, thu nhập của NLĐ thấp nên không có khả năng đóng BHXH. - Nhận thức của NSDLĐ và người lao động về nghĩa vụ và quyền lợi đối với việc tham gia BHXH cho người lao động còn hạn chế, chưa nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Nhà nước về BHXH. Nhiều doanh nghệp ngoài quốc doanh chưa có tổ chức công đoàn hoặc có nhưng hoạt động yếu kém vì thế mà chưa bảo vệ được quyền lợi về BHXH cho người lao động. Hơn nữa là NSDLĐ thường đặt mục tiêu kinh tế, lợi nhuận nên hàng đầu nên đã trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH theo đúng luật định, không quan tâm đến quyền lợi của NLĐ. Về tổ chức thực hiện: chưa có giải pháp tích cực để tăng nguồn thu và chống thất thu quỹ. Cho đến năm 2000 thất thu do chưa đóng tiền BHXH từ các đơn vị tham gia lao động là khoảng 300 tỷ đồng chiếm 5,88% tổng thu năm 2000, năm 2001 thất thu là 325 tỷ đồng chiếm 5,13% tổng thu năm 2001, tình trạng trốn đóng gian lận chiếm dụng tiền của người lao động còn xảy ra ở nhiều loại hình doanh nghiệp… Cán bộ chuyên trách thu: cán bộ chuyên thu, đốc thu khi thực hiện nhiệm vụ của mình đi kiểm tra đôn đốc việc thu nộp vẫn chưa được kiên quyết trong các trường hợp người sử dụng khất nộp, chậm nộp. Nhiều cán bộ còn e dè, nể nang do quen biết từ trước hoặc do NSDLĐ là chỗ thân quen của mình nên thường né tránh sự va chạm, đốc thúc thu nộp BHXH, … Một số lĩnh vực về thông tin: Thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật BHXH cho NLĐ và NSDLĐ chưa rộng rãi, chưa thường xuyên.
    • Cơ quan BHXH chưa xây dựng được mạng lưới tuyên truyền viên để tuyên truyền sâu rộng đến từng cơ sở, đến từng cơ quan, đơn vị về BHXH. Hơn nữa độ chính xác của thông tin tuyên truyền về BHXH phải chính xác, dễ hiểu đối với NSDLĐ và NLĐ để khi nắm bắt được thông tin đó NSDLĐ không hiểu sai về quy tắc làm việc hay các quy định liên quan đến BHXH. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật lao động và chính sáchBHXH chưa thật sâu rộng, người lao động chưa nhận thức đầy đủ quyền vànghĩa vụ của mình khi tham gia BHXH nên gây ra nhiều trở ngại cho cán bộthu BHXH. Có một số các đơn vị doanh nghiệp còn lấy lý do nọ, kia để kéodài thời gian thậm chí lãnh đạo cơ quan còn cố tình không tiếp cán bộ thuBHXH nên cũng đã gây ức chế cho cán bộ thu BHXH mà hiện tại vẫn chưatìm được biện pháp khắc phục tồn tại trên.  Công tác quản lý thu và đốc thu: còn nhiều hạn chế, chưa sâu sát tới từng cơ sở, chưa thường xuyên đối chiếu số liệu với các đơn vị sử dụng lao động. Hơn nữa trình độ năng lực cán bộ làm công tác thu BHXH không đồng đều, còn nhiều cán bộ chưa được đào tạo chuyên môn sâu về nghiệp vụ thu BHXH…  Chế tài xử lý các vi phạm chính sách BHXH: chưa đủ mạnh, đồng thời các cơ quan chức năng như Thanh tra Nhà nước, Thanh tra lao động chưa thường xuyên thực hiện chức năng thanh tra và xử lý các vi phạm trong việc thực hiện chính sách BHXH của các đơn vị.  Hệ thống BHXH từ Trung ương đến địa phương: chưa hình thành chiến lược thu có hiệu quả đáp ứng các yêu cầu mới của sự phát triển, khi mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Không ít địa phương còn thụ động trong hoạt động đốc thu, thiếu các giải pháp trong việc kết hợp các đơn vị liên quan trong địa phương trong việc hoạt động này.
    • Cơ chế quản lý phối hợp giữa các ngành hữu quan để thực thi điều lệBHXH chưa thật chặt chẽ trong quá trình đăng kí sử dụng lao động chưa cóquy định phải đăng kí tham gia BHXH kèm theo.  Các văn bản pháp lệnh: hệ thống chính sách BHXH thường xuyên được bổ sung sửa đổi, điều chỉnh theo quá trình thực tế phát sinh của tình hình kinh tế xã hội và theo điều chỉnh của chính sách tiền lương nên khối lượng văn bản pháp quy quá nhiều, nhiều văn bản sửa đổi bổ sung… dẫn đến rất khó cho các cơ quan quản lý, người sử dụng lao động và NLĐ hiểu và lắm vững chế độ, cập nhật thông tin chính sách BHXH để triển khai thực hiện đúng quy định, cũng như gây khó khăn trong việc kiểm tra, kiểm soát theo dõi đánh giá về tình hình và kế hoạch triển khai của các đơn vị thu BHXH. Hơn nữa còn có nhiều văn bản còn chậm so với thời gian quy định thực hiện đến các cơ quan, đơn vị và NSDLĐ.  Một số quy định về chế độ thu BHXH trong các văn bản quy định của BHXH: còn bất cập, chưa nhất quán, chưa phù hợp với yêu cầu thực tế…
    • CHƯƠNG IIIMỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THU BHXH Ở VIỆT NAMI. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH BHXHVIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.1. Mục tiêu của ngành BHXH Việt nam nói chung. Thực hiện nghị quyết Đại hội VI của Đảng năm 1986, đất nước ta bướcvào thời kỳ đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thịtrường có sự điều tiết của Nhà nước các đơn vị sản xuất kinh doanh phải tựhạch toán độc lập, phấn đấu đưa đất nước ta đến năm 2020 trở thành nướcCông nghiệp hóa, Hiện đại hóa… Đồng thời chủ trương của Đảng và Nhànước ta mở rộng BHXH đến mọi người lao động làm công ăn lương để gópphần phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Trước yêu cầu đó, hoạt độngBHXH (bao gồm cả BHYT) ở Việt nam đang trong giai đoạn hoàn thiện vàphát triển. Sự phát triển này một mặt phải phù hợp với điều kiện phát triểnkinh tế xã hội của Việt nam, mặt khác phải tuân thủ thực hiện đầy đủ cácnguyên tắc và đảm bảo đúng bản chất của BHXH nhằm từng bước hòa nhậpvới sự phát triển trong lĩnh vực BHXH với các nước trong khu vực và trên thếgiới. Do vậy những định hướng chính cho chiến lược phát triển BHXH ở Việtnam phải nhằm vào những mục tiêu sau:  Thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH theo quy định của Tổ chức lao động Quốc tế ILO về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH, cụ thể là bổ sung chế độ BHXH thất nghiệp, sau đó phát triển thêm các chế độ chăm sóc sức khỏe cho người già.  Mở rộng mạng lưới BHXH trong phạm vi toàn xã hội theo hướng: mở rộng đối tượng tham gia BHXH nhằm tiến tới BHXH cho mọi người
    • lao động, có việc làm và có thu nhập từ lao động: mở rộng BHYT đến toàn dân. Trước mắt, phấn đầu đến năm 2010 có khoảng 12 triệu người tham gia BHXH, chiếm 22% lực lượng lao động xã hội; khoảng 60 triệu người tham gia BHYT chiếm 70% dân số.  Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền lợi của người tham gia BHXH. Tăng nhanh nguồn thu quỹ từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH. Thực hiện chi đúng, thu đủ và kịp thời các chế độ BHXH hiện hành. Đặc biệt chú ý đến mức sống của người về hưu gắn liền với khả năng phát triển kinh tế chung của đất nước.  Quỹ BHXH được quản lý tập trung thống nhất và được hạch toán độc lập theo từng quỹ thành phần. Giảm dần nguồn chi từ ngân sách Nhà nước cho các đối tượng hưởng từ trước năm 1995, từng bước điều chỉnh mối quan hệ thích hợp giữa mức đóng và quyền lợi được hưởng của từng chế độ BHXH nhằm đảm bảo cân đối quỹ BHXH lâu dài.  Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ ngành BHXH Việt nam theo hướng hiệu quả và hiện đại nhằm đáp ứng sự phát triển của ngành và phục vụ tốt cho mọi người tham gia BHXH đồng thời góp phần nâng cao chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ BHXH nói chung và cán bộ BHXH làm công tác thu đóng BHXH nói riêng.  Hoàn thiện hệ thống pháp luật về các chính sách, chế dộ BHXH và đảm bảo đầy đủ các điều kiện thực hiện hệ thống pháp luật này. Tuyên truyền sâu rộng và triển khai đưa pháp luật BHXH vào đời sống xã hội để thực sự trở thành quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân Việt nam và tạo lập lên tiêu chuẩn mức sống của xã hội Việt nam.2. Mục tiêu của ban thu ngành BHXH nói riêng.
    •  BHXH việt nam là đơn vị hành chính sự nghiệp đặc thù, thực hiện nhiệm vụ quỹ BHXH để chi trả cho người lao động, giảm gánh nặng chi BHXH cho ngân sách. Quỹ BHXH thu vào hàng năm được quản lý tập trung tại cơ quan BHXH việt nam đã đóng góp tích cực, tác động tốt đến người lao động và nền kinh tế đất nước trong thời gian qua. Bước sang giai đoạn Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa của đất nước, BHXH việt nam cùng với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quyết tâm đưa ngành BHXH đi lên đáp ứng nhu cầu đúng đắn của người lao động, đưa chính sách BHXH ở Việt nam trở thành một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Góp phần vào mục tiêu xây dựng kinh tế - xã hội chung của đất nước, ban thu BHXH Việt nam cũng đặt ra những mục tiêu và phương hướng cho riêng mình trong thời gian tới. Bảng7: Tình hình thực hiện và dự báo số người tham gia và số thu của ngành BHXH Việt nam từ năm 2001 đến năm 2010. Thực hiện Thực hiện Thực hiện Thực hiện Dự báo Dự báo Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2010 Số lao động tham gia BHXH 4.476 4.845 5.387 5.820 7.000 12.000 bắt buộc (nghìn người)Số thu BHXH 6.348,185 6.963,023 11488,350 12929,000 15.000,000 32.500,000 bắt buộc (tỷ đồng) (Nguồn BHXH Việt nam) Như vậy từ số liệu bảng 7 cho thấy, mục tiêu của ban thu của ngành BHXH Việt nam là phấn đấu đến hết năm 2005 số thu BHXH bắt buộc đạt được là 15.000 tỷ đồng với số lượng người tham gia BHXH là 7000 nghìn
    • người và đến năm 2010 số thu BHXH Việt nam là 32.500 tỷ đồng với sốlượng người tham gia BHXH là 12000 nghìn người.  Cố gắng nỗ lực, đoàn kết hơn nữa trong công việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời không ngừng học hỏi, tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật về luật BHXH nói chung và thực hiện tốt các chỉ thị thông tư hướng dẫn của ban thu BHXH Việt nam nói riêng để có phương án kế hoạch thu đạt hiệu qủa cao trong công tác thu và đốc thu đóng góp BHXH.II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNGTÁC THU QUỸ BHXH Ở VIỆT NAM. Qua thời gian nghiên cứu học tập tại trường cùng với thời gian thực tậpthực tế tại Vụ BHXH thuộc Bộ lao động - Thương binh và Xã hội, được sựhướng dẫn tận tình của toàn thể cán bộ công chức trong cơ quan về phươngpháp, tình hình thực hiện nghiệp vụ về công tác thu BHXH. Kết quả phân tíchtrong thời gian qua về công tác thu BHXH và vấn đề nợ đọng BHXH chothấy còn tồn tại rất nhiều những khó khăn. Chính những khó khăn, tồn tại nàygây ra nhiều cản trở, ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện triển, khai chínhsách BHXH ở Việt nam nói chung và cho ban thu BHXH nói riêng về vấn đềthu nộp và giải quyết nợ đọng từ người tham gia BHXH. Để chính sáchBHXH nói chung và công tác thu BHXH nói riêng đạt được kết quả hơn nữathì cá nhân em có đưa ra một số ý kiến của bản thân:1. Một số kiến nghị đối với chính sách Nhà nước về BHXH.1.1 Tăng cường sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đến sự nghiệp BHXH
    • Mọi hoạt động của các lĩnh vực kinh tế xã hội đều cần đến sự chỉ đạocủa Đảng và Nhà nước. Vì thế, để chính sách BHXH ở Việt nam được hoànthiện hơn đáp ứng được yêu cầu của người tham gia BHXH thì cũng khôngthể nằm ngoài phương hướng hoạt động của Nhà nước và sự chỉ đạo củaĐảng. Tăng cường sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta đến sựnghiệp BHXH ở Việt nam là một trong những nhân tố đáp ứng được mục tiêucủa ngành BHXH. Mục tiêu của BHXH là phục vụ con người, vì lợi ích của số đôngngười lao động, từ đó góp phần tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội giữavững thể chế chính trị của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt BHXH ở Việt namcòn là một ngành mới còn non trẻ, các chế độ chính sách về BHXH chưađược hoàn chỉnh vẫn đang trong quá trình hoàn thiện từng bước, cơ chế quảnlý tài chính BHXH cũng còn nhiều vấn đề chưa hợp lý, chế tài xử phạt cònlỏng lẻo và nhẹ. Theo Nhị định số 38/CP về xử phạt hành chính đố với lĩnhvực BHXH, mức phạt 2 triệu đồng cho tất cả các hành vi vi phạm pháp luật,đội ngũ cán bộ còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ, các văn bản quy phạmpháp luật và Luật BHXH còn rườm rà chưa sâu sát cao, chưa đưa ra một sốhành vi vi phạm cụ thể… chính vì lý do đó mà BHXH Việt nam rất cần có sựchỉ đạo của Đảng và Nhà nước để ngành BHXH phát triển đúng hướng, thựchiện được mục tiêu lâu dài của toàn ngành. Để công tác thu BHXH có thể thực hiện được tốt hơn nữa: không cótình trạng thất thu, không có tình trạng chiếm dụng quỹ hoặc sử dụng sai mụcđích hoặc giảm tỷ lệ nợ đọng trốn đóng nộp tiền BHXH… thì cần được cáccấp uỷ Đảng chính quyền đưa vào nghị quyết, được cụ thể hoá vào nội dungnhiệm vụ cùng với phương hướng sản xuất kinh doanh tại đơn vị, đồng thờitạo mọi điều kiện để công tác thu BHXH được tiến hành một cách thuận tiện,trước hết mỗi cán bộ Đảng viên phải gương mẫu thực hiện chính sách, chế độBHXH. Bởi chính sách BHXH khó có thể thực hiện tốt nếu chỉ có sự nỗ lực
    • từ phía cơ quan BHXH mà cần phải có sự chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷđảng chính quyền, cơ quan quản lý Nhà nước.1.2 Bổ sung, ban hành và hoàn thiện Luật BHXH nhằm tạo sự thông thoáng trong việc triển khai BHXH. Một đất nước không thể tồn tại nếu không có Luật pháp, một chínhsách không thể thực thi được khi mà không có các văn bản, thông tư các quyđịnh đặc biệt là các Luật để mọi người tuân theo đồng thời là để cưỡng chếnhững hành vi vi phạm nằm ngoài. BHXH ở nước ta do ra đời muộn lại hoạtđộng trong hoàn cảnh đất nước vừa trải qua hai cuộc kháng chiến và đangtrong quá trình xây dựng đất nước tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa. Do vậymà BHXH ở Việt nam còn nhiều tồn tại đã gây không ít khó khăn cho việcthực hiện chính sách BHXH nói chung và khó khăn cho công tác thu BHXHnói riêng. Mặc dù Pháp luật hiện hành của luật BHXH căn cứ vào Nghị địnhsố 38/CP để xử lý hành vi vi phạm của NSDLĐ nhưng vẫn còn thiếu nhiềuhành vi của các đối tượng khác có liên qua đến như: cơ quan BHXH Việt namkhông thực hiện hoặc thực hiện không đúng chế độ cho người tham giaBHXH chưa bị xử lý. Vì vậy mà cần phải sớm ban hành và hoàn thiện hệ thống Luật BHXHđể chính sách BHXH được thực hiện đến mọi người dân. Hơn nữa khi LuậtBHXH ra đời được hoàn thiện theo một hệ thống sẽ là cơ sở pháp lý và là căncứ cơ bản đầu tiên để điều chỉnh các quan hệ về lao động, đồng thời thực hiệnchính sách BHXH nói chung và nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thuBHXH cho toàn ngành chuyên thu nói riêng. Nhìn chung, hệ thống văn bản pháp lý về BHXH từ khi có Bộ Luật laođộng năm 1994 đã tạo nên hành lang pháp lý trong việc thực hiện chính sáchBHXH. Các văn bản này đã đảm bảo tính kế thừa những nội dung hợp lýchính sách trong các chính sách đã ban hành và tính phát triển nhằm đáp ứngyêu cầu thực tiễn giải quyết kịp thời các vấn đề tồn tại, bức xúc trong việc
    • thực hiện chính sách BHXH, góp phần nâng cao tính pháp chế Xã hội chủnghĩa và tạo cơ sở để phát triển luật BHXH trong thời gian tới. Từ đó nhằmhình thành lên một chính sách BHXH đi vào cuộc sống của mỗi người dânViệt nam góp phần ổn định đới sống cho người tham gia BHXH. Do vậy, vấnđề: Phải nhanh chóng khắc phục, giải quyết tình thế nhất thời trước mắt mangtính đối phó vì luật BHXH ban hành hôm nay không chỉ áp dụng giải quyếtchế độ cho người lao động trước đây đã công tác nghỉ hưu mà còn áp dụngcho cả hiện tại và tương lai. Việc ban hành Luật BHXH sẽ làm tăng cườngtính pháp lý của các quy phạm pháp luật điều chỉnh công tác thu BHXH củacác doanh nghiệp. Đặc biệt là trong luật phải có điều khoản quy định về nghĩavụ thu BHXH của NSDLĐ và cơ quan BHXH trong việc thu nộp của ngườilao động, đồng thời chú trọng đến các hình thức sử phạt nghiêm minh hơn đốivới các doanh nghiệp vi phạm Luật BHXH. Việc ban hành Luật BHXH sao cho tạo được sự bình đẳng giữa nhữngngười tham gia BHXH và công bằng trong việc sử phạt những vi phạm. Saukhi ban hành Luật BHXH cần phải thông báo thông tin cho các cơ quandoanh nghiệp và người tham gia BHXH được biết để tránh tình trạng khi hỏiđến thì mới có Luật. Đồng thời phải được thực hiện thống nhất và đồng bộtrong cả nước do vậy Luật BHXH phải được xây dựng trên cơ sở phù hợp vớisự phát triển chung của xã hội để đảm bảo cho mọi người lao động ở bất cứthành phần kinh tế nào cũng được tham gia và thụ hưởng những quyền lợi vềBHXH. 1.3 Nhà nước nên áp dụng việc thu nộp BHXH thông qua thu nộp thuế từ các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động. Nhà nước nên áp dụng và cho phép Cơ quan BHXH Việt nam phối hợpvới ban thu thuế Nhà nước yêu cầu đối với các doanh nghiệp kinh doanhtrong và ngoài quốc doanh ngoài việc đăng kí kinh doanh phải đăng kí mã sốthuế, đăng kí số người lao động và số người lao động thay đổi thì phải thông
    • báo cho cơ quan BHXH biết, cơ qua BHXH sẽ lập danh sách và số thu chi tiếtgửi ban thu thuế nhà nước có trách nhiệm thu nộp. Hàng tháng, quý và cuốinăm các doanh nghiệp này phải nộp thuế cho cơ quan thuế Nhà nước bao gồmphải nộp cả số tiền đóng quỹ BHXH cho NSDLĐ và NLĐ thì cơ quan thuếmới chấp nhận việc thu nộp này. Bởi nếu trong trường hợp các cơ quan nàykhông nộp thuế cho Nhà nước thì sẽ bị coi là vi phạm Pháp luật của nhà nướcvà luật kinh doanh. 1.4 Nhà nước tạo mọi điều kiện để cho các thành phần kinh tế phát triển. Nhà nước có tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển thìhiệu quả của công tác thu BHXH mới đạt được kết quả tốt. Bởi lẽ, hiện nayBHXH đang được triển khai rộng trên phạm vi là các thành phần kinh tế trongvà ngoài quốc doanh và xu hướng hiện nay là NLĐ làm việc trong khu vựngoài quốc doanh đang gia tăng cho nên để có thể thu được tiền đóng BHXHtừ các đối tượng này thì chỉ khi các doanh nghiệp mà họ đang làm, làm ănphát triển và có lợi nhuận. Chính vì thế khi Nhà nước tạo sự thông thoángtrong kinh doanh, có sự định hướng kinh tế lớn và có chiến lược phát triểncho các thành phần kinh tế này như: sự hỗ trợ các doanh nghiệp về vốn để đầutư phát triển hay giảm thuế… thì khi đó các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả,mục tiêu lợi ích kinh tế của họ đáp ứng thì lục này họ sẽ không ngần ngạiđóng BHXH cho người lao động. Đây một trong những biện pháp kích cầu đểtạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuật kinh doanh có hiệu quả. Đồngthời là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao số thu cho nguồnquỹ BHXH góp phần giảm chi cho Ngân sách Nhà nước. 1.5 Tăng cường các biện pháp chế tài xử phạt đối với các trường hợp vi phạm nghĩa vụ thu nộp BHXH cho người lao động.
    • Chế tài xử phạt vi phạm BHXH theo Nghị định số 38/CP ngày 25/6/1996của Chính phủ chưa đủ mạnh để tác động hữu hiệu đến các doanh nghiệp viphạm (hành vi trốn đóng, gian lận, không trích nộp BHXH kịp thời…) cáctrường hợp vi phạm như vậy mức phạt chung là 2 triệu đồng. Nếu cứ giữ mứcphạt như hiện nay thì quá thấp cho các doanh nghiệp có số nợ đọng lên tớihàng trăm, hàng triệu đồng. Do vậy, Nhà nước cần tăng cường các biện phápchế tài đủ mạnh để có thể răn đe, cảnh cáo và phạt mạnh đối với các hành vitrốn đóng, chậm nộp và cố tình trốn đóng BHXH. Đây là một trong những biện pháp nhằm tăng cường công tác pháp chếtrong BHXH. Hiện nay, trong các văn bản hiện hành Nhà nước mới chỉ giaocho BHXH Việt Nam quyền kiểm tra, quyền truy thu chứ chưa giao quyền xửlý các trường hợp vi phạm chính sách BHXH như nộp chậm hoặc không nộp,trốn nợ hoặc không đóng BHXH. Vì vậy để nâng cao chế tài xử phạt và đảmbảo công bằng cho người tham gia BHXH và mức chịu trách nhiệm cao nhấtcủa các đơn vị nợ đọng thì lại quá thấp, ngày 16/4/2004 Chính phủ đã banhành Nghị định số 113/2004/NĐ - CP trong đó quy định xử phạt hành chínhđối với hành vi vi phạm pháp luật BHXH nhưng mức phạt cao nhất mới chỉcó 20 triệu đồng bởi có những doanh nghiệp nợ tiền đóng BHXH lên tới hàngtỷ đồng như Tổng công ty Cà phê Việt nam hoặc ngành Giao thông vận tải họsẵn sàng chịu phạt để chiếm dụng số quỹ đóng đó để quay vòng. Do vậy, nênchăng cần có các chế tài xử phạt nghiêm minh và nặng hơn cho các mức nợđọng và số tiền phạt hành chính có thể là cao hơn 20 triệu… Mức cao nhất cóthể là phạt hình sự đối với đối tượng trốn đóng tiền BHXH Hơn nữa đó là chưa kể đến tình trạng của các chế tài xử phạt các đốitượng vi phạm quỹ đóng BHXH từ người tham gia BHXH. Bởi khi phát hiệnra cơ quan BHXH lại không được quyền xử phạt mà chỉ là lập biên bản và gửicác cơ quan có thẩm quyền xử lý do vậy mà tình trạng thất thu của quỹBHXH ngày một tăng lên. Chính vì vậy nên chăng Nhà nước cần giao cho cơquan BHXH Việt nam những biện pháp với tính cưỡng chế mạnh… Để nhằm
    • thực hiện tốt vai trò của cơ quan BHXH Việt nam đó là đảm bảo quyền lợicho người lao động.2. Một số kiến nghị đối với BHXH Việt nam. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống BHXH làm cho nó không những chỉtrở thành một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta thể hiện trình độ vănminh tiềm lực và sức mạnh kinh tế mà còn trở thành trụ cột của mạng lưới ansinh xã hội. Là chỗ dựa vững chắc cả về vật chất lẫn tinh thần cho NLĐ khihọ tham gia đóng góp vào BHXH Việt nam.  Mở rộng đối tượng tham gia BHXH tới mọi NLĐ thuộc các thành phần kinh tế: BHXH Việt nam cần mở rộng đối tượng tham gia BHXH tới mọi người lao động trong bất cứ ngành nghế nào thuộc thành phần kinh tế nào miễn là họ tham gia đóng góp đầy đủ vào quỹ BHXH như luật định. Từ đó mở rộng quỹ thu đóng BHXH để có thể thực hiện chính sách BHXH ngày một tốt hơn. Cùng với việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH, Nhà nước ta cần ban hành các chính sách BHXH tự nguyện bởi cho đến nay thành phần lao động ở nước ta còn chiếm 80% là lao động làm nông nghiệp. Ngoài ra còn có thợ thủ công, người buôn bán nhỏ… các đối tượng này chiếm đa số trong tổng số lao động nước ta mà vẫn chưa được tham gia BHXH. Có mở rộng đối tượng tham gia BHXH thì mới đáp ứng được yêu cầu quỹ BHXH dùng chi trả cho các chế độ BHXH nằm ngoài sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nước vì lúc đó BHXH đã được thực hiện với một số lượng đông người tham gia đảm bảo được quy luật số đông bù số ít trong bảo hiểm.  Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ trong ngành BHXH Việt nam từ Trung ương đến địa phương: Cơ quan BHXH cần chú trọng đến việc đào tạo nâng cao năng lực quản lý của cán bộ
    • trong ngành BHXH Việt nam về các nghiệp vụ thu chi, quản lí quỹ thực hiện các chế độ chính sách BHXH đối với người lao động nhằm mục đích phục vụ tốt nhất cho đối tượng tham gia BHXH. Để đẩy mạnh công tác thu BHXH cần phải ban hành ngay các văn bản pháp Luật các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải tham gia BHXH phải quy định rõ ràng các doanh nghiệp khi đăng kí kinh doanh phải tham gia BHXH cho NLĐ thì mới cấp giấy phép đăng kí kinh doanh. Đồng thời phải chấp hành nghiêm chỉnh việc đóng BHXH cho cơ quan BHXH có chức năng thẩm quyền nhằm tránh tình trạng chậm nộp rồi dẫn đến nợ đọng quá nhiều và cuối cùng là không trả được làm cho quỹ BHXH bị thất thu. Thường xuyên tổ chức các lớp học và kiểm tra năng lực của cán bộ nhằm nâng cao năng lực của cán bộ đồng thời không ngừng học hỏi kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới về triển khai thực hiện nghiệp vụ BHXH và thực hiện chính sách đó, đặc biệt là phương thức thu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác thu nộp. Phải có chính sách nhằm thu hút các đối tượng tham gia BHXH giai đoạn từ nay đến năm 2010. Trước hết phải tổ chức thực hiện BHXH cho các đối tượng bắt buộc quy định tại nghị định số 01/2003/NĐ - CP ngày 09/01/2003 và mở rộng phạm vi tham gia cho một số đối tượng là lao động tự do… có nhu cầu và khả năng tham gia BHXH. Còn đối với BHYT từ nay đến giai đoạn 2010 ngoài các đối tượng thuộc diện bắt buộc theo quy định hiện hành, cần phải từng bước mở rộng đối tượng tham gia BHYT bắt buộc cho một số đối tượng như học sinh, sinh viên, trẻ em dưới 6 tuổi và những người tham gia BHYT bắt buộc đồng thời thực hiện rộng rãi loại hình BHYT tự nguyện trong toàn xã hội. Mục đích là nhằm tăng nguồn quỹ thu đóng BHXH để có thể trang trải cho các chế độ BHXH cần thiết.
    •  BHXH Việt nam cần có kế hoạch đưa công nghệ thông tin vào việc quản lý quỹ và quản lý thu BHXH. Bởi với số lượng đối tượng tham gia BHXH ngày một được mở rộng, số tiền thu đóng góp ngày một lớn mặt khác đội ngũ cán bộ công chức của cơ quan chuyên thu BHXH thì lại có hạn, chính vì thế mà cần có kế hoạch ứng dụng tin học vào nhằm quản lý quỹ thu BHXH từ đối tượng tham gia BHXH được tốt hơn. Hơn nữa, hiện nay vấn đề công nghệ thông tin đang được áp dụng mạnhmẽ vào công tác quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vựckinh tế xã hội trong đời sống kinh tế thị trường. Mặc dù hiện nay cơ quanBHXH Việt nam đã đưa hệ thống tin học vào hoạt động nhưng trình độ về tinhọc của đội ngũ cán bộ thì lại còn hạn chế chưa khai thác hết khả năng để ápdụng vào quản lý thu quỹ BHXH từ người tham gia BHXH. Chính vì vậy màngành BHXH Việt nam cần có những chủ trương kế hoạch để mở lớp đào tạovề tin học cho các cán bộ chuyên trách nhằm nâng cao kĩ năng sử dụng tinhọc…  Cần hoàn thiện hệ thống công tác thu BHXH thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Do quỹ BHXH được thu từ người tham gia BHXH (NLĐ, NSDLĐ và sự bù thiếu của Nhà nước) ngoài ra còn có từ nguồn đầu tư quỹ nhằm sinh lời hoặc tiền thu phạt các doanh nghiệp nợ đọng… Chính vì lẽ đó cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống công tác thu BHXH nhằm được thống nhất từ cơ sở đến cấp tỉnh và Trung ương với nguyên tắc hoạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước, cân đối thu chi.  Cơ quan BHXH nên thiết lập đường dây nóng: để có thể nắm bắt được thông tin, nguyên vọng và nhu cầu từ người tham gia BHXH thì cơ quan BHXH nên thiết lập đường dây nóng (dường dây liên lạc đến cơ quan BHXH) cho cơ quan BHXH Việt nam nói chung và cho mỗi ban ngành trong cơ quan BHXH nói riêng như ban thu BHXH,
    • ban chi BHXH, ban giải quyết các chế độ… để từ đó người lao động, người sử dụng lao động có thể chủ động thông báo những thông tin cần thiết cho cơ quan BHXH góp phần làm cho cơ quan BHXH lắm bắt kịp thời về đối tượng tham gia và tình hình hoạt động của các cơ sở tham gia BHXH. Và ngược lại có cơ quan BHXH cũng có thể giải giải đáp được những yêu cầu thắc mắc từ phía người tham gia BHXH làm cho họ hiểu rõ hơn về bản chất của BHXH và chính sách BHXH mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiến hành triển khai thực hiện đến mọi người lao động. Hàng năm cơ quan BHXH có kế hoạch đi thanh tra, kiểm tra các cơ sở xản xuất kinh doanh, các đơn vị có sử dụng lao động: cơ quan BHXH hàng năm cũng cần phải có kế hoạch thanh tra, kiểm tra xem quá trình đăng kí kinh doanh có hợp lệ, xem xét đối chiếu danh sách lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc có được người dụng lao động đăng kí để đóng góp BHXH hay không và sự thay đổi số lượng người lao động tham gia BHXH ở các cơ quan đơn vị có sử dụng lao động. Và qua khảo sát thực tế cơ quan BHXH Việt nam sẽ có thêm được thông tin cũng như nhu cầu của người tham gia BHXH. Từ đó tạo lên sự gần gũi và làm cho người lao động hiểu thêm về chính sách BHXH mà họ đang xây dựng cho tương lai. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến chính sách BHXH: Công tác thông tin tuyên truyền và phổ biến chính sách BHXH đến với từng người lao động và người sử dụng lao động, đến các doanh nghiệp cũng là một điều rất cần thiết đối với ngành BHXH Việt nam bởi một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng số người tham gia BHXH còn ít, số tiền nợ đọng đóng BHXH nhiều… là do sự nhận thức, sự hiểu biết của người lao động và chủ sử dụng lao động còn hạn chế. Đối với người lao động thì chưa thấy được quyền lợi tham gia BHXH sẽ mang lại cho họ sự yên tâm trong cuộc sống
    • khi không may có xảy ra rủi ro đối với họ hoặc khi về già họ sẽ được hưởng quyền lợi về một số chế độ phần nào bù đắp được nhu cầu cuộc sống của họ, còn đối với NSDLĐ thì tham gia BHXH cho cả NLĐ và chính họ thì họ sẽ yên tâm trong sản xuất kinh doanh khi không may NLĐ của họ gặp rủi ro… từ đó làm cho năng xuất lao động tăng lên. Chính vì thế BHXH Việt nam cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyêntruyền rộng rãi về BHXH đến với từng đơn vị sử dụng lao động, đến từngdoanh nghiệp và tới từng người trong toàn xã hội nhằm góp phần hiểu biếtcủa người dân về BHXH.
    • III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢCỦA CÔNG TÁC THU BHXH Ở VIỆT NAM TRONG THỜIGIAN TỚI.1. Về cán bộ chuyên quản, chuyên thu của ngành BHXH Việt nam. • Đối với cán bộ chuyên thu ở địa phương, các cấp cơ sở : + Chủ động mở rộng đối tượng tham gia BHXH, trọng tâm là khu vựckinh tế ngoài Nhà nước, tổ chức tốt mạng lưới thu BHXH ở các cấp cơ sở. + Xây dựng cơ chế phối hợp với các ban ngành, đoàn thể ở địa phươngđể thực hiện tốt chính sách BHXH đối với NLĐ. Chủ động đôn đốc, kiểm tra,giám sát việc thu nộp BHXH nhất là những đơn vị cố tình vi phạm xử lý kịpthời nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu BHXH. + Đào tạo nâng cao chất lượng quản lý, chỉ đạo điều hành của cán bộchuyên quản nhất là cán bộ cấp huyện, thị, xã. Tăng cường công tác kiểm trahướng dẫn nghiệp vụ thu nộp BHXH từ người tham gia tại BHXH tỉnh, thànhphố và các đơn vị sử dụng lao động. Nhằm thống nhất trong tổ chức thực hiệnnhững quy định của BHXH Việt nam về lĩnh vực thu cấp sổ BHXH, phiếukhám chữa bệnh, thẻ BHYT. + Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về lĩnh vực thu BHXHvới nhiều hình thức phong phú, tăng tần suất thông tin đại chúng trên cácphương tiện có thể như quảng cáo thương mại nhằm nâng cao nhận thức vềchế độ chính sách BHXH đối với người lao động. • Đối với cán bộ chuyên thu ở Trung ương: + Chủ động, tăng cường quan hệ phối hợp công tác với BHXH các tỉnhthành phố trực thuộc Trung ương trong việc quản lý công tác thu nộp tiềnBHXH.
    • + Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ đối với phòng thu BHXH các địaphương thực hiện tốt các quy định của BHXH Việt nam về lĩnh vực thu nộpcấp sổ BHXH, phiếu khám chữa bệnh… + Phố hợp với các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn việc sử phạt đối vớicác đơn vị chậm nộp tiền đóng BHXH theo quy định tại quyết định số23/2003/QĐ-TTg ngày 02/01/2003 củ Thủ tướng chính phủ để địa phương cócăn cứ để thực hiện. Tích cực phối hợp với các ban nghiệp vụ của BHXH Việtnam giải quyết kịp thời các chế độ BHXH đối với người lao động. + Thực hiện quy định về phân công, phân nhiệm và lề lối làm việc củađơn vị để các cán bộ công chức phát huy sự chủ động sáng tạo trong côngviệc đối với những lĩnh vực được phân công phụ trách, nâng cao tinh thầntrách nhiệm đồng thời thống nhất quan điểm chỉ đạo ở các địa phương. + Từng bước hiện đại hoá công tác thu nộp BHXH bằng công nghệ thôngtin, trang bị các phương tiện kĩ thuật hiện đại, tiên tiến để nâng cao chất lượngcủa công tác thu đóng góp BHXH từ người tham gia BHXH.2. Thực hiện tốt công tác thu đúng, thu đủ từ đối tượng thamgia BHXH.2.1 Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia. Tính đến hiện nay cả nước có khoảng 40 triệu lao động nhưng BHXHViệt nam mới thực hiện được công tác thu BHXH đối với 5,82 triệu ngườitrong số 8 triệu người thuộc diện tham gia BHXH theo loại hình bắt buộc.Còn có rất nhiều lao động làm trong các doanh nghiệp sử dụng dưới 10 laođộng, lao động nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đặc biệt là trong giai đoạnhiện nay Nhà nước đang có xu hướng cổ phần hoá các doanh nghiệp, pháttriển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên có nhiều cácdoanh nghiệp liên doanh liên kết doanh nghiệp ngoài Nhà nước, doanh nghiệpcó vốn đầu tư nước ngoài… Do đó cần phải mở rộng số người tham gia
    • BHXH trong các thành phần kinh tề này thì mới gia tăng số người tham giaBHXH. Vì vậy, trong tương lai với sự ra đời của Bộ Luật BHXH nên quyđịnh mở rộng phạm vi đối tượng đến cả những cơ sở sản xuất có thuê mướndưới 10 lao động, khu vực kinh tế có hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lênkhông phân biệt thành phần, khu vực kinh tế. Điều đó vừa phù hợp với điềukinh tế xã hội khách quan vừa phù hợp với nguyên tắc và quy luật của bảohiểm đó là số đông bù số ít. Để có thể thực hiện tốt việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH kể cảBHXH bắt buộc lẫn BHXH tự nguyện thì một trong những biện pháp vô cùngquan trọng mà không thể thiếu được, đó là công tác dân vận, vận động, côngtác thông tin, tuyên truyền phổ biến kiến thức về BHXH rộng rãi đến ngườidân nhằm nâng cao sự hiểu biết của họ khi tham gia BHXH thì được quyềnlợi và nghĩa vụ như thế nào. Đồng thời tích cực vận động thêm các đối tượngtham gia BHXH đối với người lao động đặc biệt là lao động ngoài quốcdoanh thông qua các tổ chức công đoàn, hiệp hội của đoàn thanh niên từ cáccơ sở.2.2 Hoàn thiện tốt phương pháp thu đóng BHXH. Để công tác thu đúng đối tượng, thu đủ số tiền từ người tham gia BHXHthì vấn đề hoàn thiện tốt phương pháp thu BHXH cần phải được xem xét mộtcách nghiêm túc và nhất quán hơn nữa từ Trung ương đến các cơ sở thu nộp: Trước tiên là phải yêu cầu NSDLĐ đăng ký danh sách lao động một cáchchính xác kịp thời nếu có sự thay đổi về lao động, về số lượng lao động (tănggiảm), mức lương phải thông báo ngay cho cơ quan BHXH bằng văn bản.Yêu cầu đơn vị sử dụng lao động tập hợp đầy đủ mức đóng trước khi nộp chocơ quan BHXH sau đó đóng vào tài khoản của cơ quan BHXH Đối với những khiếu lại, tố cáo về công tác thu BHXH.
    • • Yêu cầu đầu tiên đặt ra là cơ qua BHXH đặc biệt là cơ quan thu đóng BHXH cần phải có kế hoạc đặt ra và chuẩn bị cho việc giải quyết khiếu lại, tố cáo, phải có sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp uỷ Đảng. Phải giải quyết các vụ việc ngay từ cơ sở, nơi phát sinh khiếu nại thật chính xác, hợp lý có tình có nghĩa đồng thời không để đơn thư dùn đẩy, vòng vo gây bất bình trong nhân dân. • Việc tiếp nhận, phân loại xử lí đơn thư là một trong những khâu quan trọng của quy trình giải quyết khiếu lại, tố cáo. Do đó, việc xử lý đơn thư phải thực hiện theo đúng quy định của luật tố cáo, Nghị định số 67/1999/NĐ - CP của chính phủ và các văn bản pháp luật khác có liên quan. • Tăng cường học tập nghiên cứu tài liệu các văn bản quy phạm pháp luật, nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ và các chế độ, chính sách BHXH nhằm giải quyết các khiếu nại tố cáo đúng chế độ, quy định, đầy đủ và nhanh chóng. Đây là một trong những việc làm hết sức thiết thực và quan trong cho ngành BHXH để làm giảm đi những khiếu nại tố cáo từ đó làm tăng tính năng của ngành BHXH đồng thời làm cho mọi người dân hiểu được rằng chính sách BHXH thực sự là cần thiết đối với họ.2.3 Hoàn thiện cơ chế thu và quản lý thu đóng góp BHXH. Có thể nói rằng, cơ chế quản lý thu đóng BHXH là một khâu quyết địnhtới mức độ hoàn thành nhiệm vụ thu đúng thu đủ, đóng góp vào quá trìnhhoàn thiện chính sách BHXH. Do vậy đòi hỏi phải có sự quan tâm của cácngành các cấp. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra trong công tác hoàn thiên cơ chế thuBHXH: • Xây dựng bộ máy hoạt động vững mạnh của ngành BHXH Việt nam, là nội lực tác động tích cực cho sự nghiệp phát triển BHXH trong giai
    • đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, muốn vậy phải thực hiện đồng bộ các nội dung:- Kiện toàn bộ máy BHXH Việt nam từ Trung ương đến địa phương, nâng cao hiệu quả hoạt động cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Đồng thời không ngừng tổ chức thu BHXH theo đợt để đạt kết quả cao.- Phối hợp với trung tâm Công nghệ - Thông tin thực hiện chương trình quản lý thu bằng công nghệ thông tin thí điểm tại BHXH tỉnh Hà Nam, qua đó đúc kết kinh nghiệm để có phương thức quản lý phù hợp với điều kiện thực tiễn, làm cơ sở triển khai cho các bước tiếp theo.- Cơ quan BHXH Việt nam nên xác định rõ chức năng nhiệm vụ, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ chuyên thu và giao trách nhiệm cho các đơn vị đó giải quyết xử lý trong phạm vi cho phép đồng thời thường xuyên giám sát kết quả hoạt động của các đơn vị trực thuộc mình quản lý.- Cần phải đánh giá đúng mặt mạnh và những điểm yếu của tổ chức bộ máy, từ đó định ra chiến lược phát triển về nội lực.- Cần phối hợp với văn phòng, trung tâm Công nghệ Thông tin tổ chức tập huấn nghiệp vụ thu BHXH sau đó BHXH các tỉnh, thành phố cần phải tổ chức tập huấn nghiệp vụ hướng dẫn thực hiện đối với BHXH các quận huyện và các đơn vị sử dụng lao động.- Cần đào tạo cán bộ công chức, viên chức về nghiệp vụ lý luận chính trị, kiến thức quản lý tài chính. Nhằm phát huy quyền dân chủ trong cơ quan đối với các tổ chức công đoàn phụ nữ, thanh niên để tạo nên sức mạnh ở mỗi cấp.• Hoàn thiện công tác quản lý chế độ, chính sách: thực hiện cơ chế một cửa trong khâu tiếp nhận, cần có những đổi mới về phương pháp, công cụ quản lý trong công tác thu BHXH. Đồng thời thực hiện quy định về
    • phân công, phân nhiệm và lề lối làm việc của đơn vị để các cán bộ, công chức phát huy sự chủ động sáng tạo trong công việc đối với những lĩnh vực được phân công phụ trách, nâng cao tinh thần trách nhiệm đồng thời nhất thống quan điểm chỉ đạo từ trên xuống. • BHXH Việt nam cần phải thường xuyên tổ chức và phối hợp chặt chẽ với các ngành có chức năng liên quan trong việc thanh tra kiểm tra việc thực hiện công tác thu BHXH ở các cấp. Do đó cần quan tâm đến vấn đề nâng cao, đào tạo nghiệp vụ cán bộ và nhận thức đối với cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra, đào tạo lên những cán bộ có năng lực phẩm chất chính trị vững vàng, giỏi về trình độ chuyên môn, đồng thời tạo nên cho họ có ý thức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm và khả năng thuyết phục cao.3. Giải pháp nhằm khắc phục tình trạng nợ đọng quỹ bảo hiểm. Những năm gần đây nợ tiền thu BHXH đã có giảm rõ rệt do BHXH cáctỉnh thành phố tích cực đôn đốc các đơn vị sử dụng lao động nộp BHXH kịpthời, hạn chế nợ phát sinh. Tuy dư tiền nợ chủ yếu là những khoản nợ khó đòicủa các doanh nghiệp đang trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi, phá sản hoặcnợ đọng do truy thu tiền đóng BHXH thấp hơn ngạch bậc lương quy định…Hơn nữa kế hoạch thu giao BHXH hàng năm tương đối sát sao với thực tế tạiđịa phương đòi hỏi các tỉnh phải tăng cường thu giảm nợ thì mới đạt chỉ tiêukế hoạch được giao. Do vậy mà vấn đề trốn nộp, nợ đọng tiền đóng BHXH từcác khối doanh nghiệp cả trong và ngoài quốc doanh không chỉ là một vấn đềđơn thuần dễ giải quyết mà trái lại đó là một vấn đề gây bức xúc nhất chongành BHXH Việt nam, cho cán bộ chuyên thu BHXH hiện nay. Vì vậy, vấnđề trước mắt là đòi hỏi phải có một giải pháp mạnh, kiên quyết và đồng bộ từTrung ương đến địa phương nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng đóng BHXHđồng thời là để nâng cao hiệu quả của công tác thu nộp BHXH ở Việt nam.
    •  Cơ quan BHXH Việt nam cần phối hợp với một số cơ quan ban ngành có chức năng nhằm tăng cường công tác thông tin tuyên truyền rộng rãi hơn nữa về quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH, trước hết đối với các đơn vị sử dụng lao động, để có sự nhận thức đúng đắn khi tham gia BHXH của cả chủ sử dụng lao động và người lao động. Cơ quan BHXH Việt nam cần đổi mới công tác thu BHXH trong đó tăng cường công tác đốc thu của cơ quan BHXH ở các địa phương; Quản lý chặt chẽ và đầy đủ các đơn vị thuộc diện đối tượng tham gia BHXH bắt buộc theo quy đinh của pháp luật. Thực hiện đầy đủ kịp thời chế độ báo cáo và đề xuất được các giải pháp để xử lý có hiệu quả tình trạng trốn đóng, nợ đọng BHXH. Cần có những biện pháp mạnh cho những trường hợp cố tình trốn đóng BHXH nhằm đảm bảo hiệu quả của công tác thu BHXH. Cơ quan BHXH cần có quan điểm mềm dẻo xong cũng phải kiên quyết đối với những doanh nghiệp nợ đọng, chậm nộp BHXH trong điều kiện các văn bản pháp quy của Nhà nước về triển khai cũng như thực hiện chính sách BHXH chưa thành Luật và những điều đã thành luật thì lại chưa được mạnh mẽ do đó biện pháp xử lý sai phạm trong trường hợp này chưa triệt để. Xuất phát từ thực tế để có thể giảm bớt số nợ đọng trên tổng số quỹ và đôn đốc được các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động có thể nhanh chóng đóng tiền BHXH thì trên cơ quan BHXH thường nên tổ chức triển khai cho các cán bộ chuyên thu của mình cùng một số cán bộ trong ngành khác có thể giải đáp được thắc mắc của người tham gia BHXH cũng như cung cấp tài liệu hướng dẫn thu nộp, đóng góp BHXH của người lao động để từ đó có thể nâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH.
    •  Tăng cường tính pháp lý của các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ thu nộp BHXH của các doanh nghiệp. Đồng thời Nhà nước phải trú trọng đến các hình thức xử phạt nghiêm minh hơn đối với các doanh nghiệp, các Giám đốc doanh nghiệp có hành vi cố tình trốn đóng BHXH, cần giao cho ngành BHXH những biện pháp chế tài đủ mạnh như phạt tiền với mức lãi xuất cao, được phép kiểm tra số dư trên tài khoản của các doanh nghiệp, đơn vị tại ngân hàng và yêu cầu chuyển thẳng tiền từ ngân hàng để nộp số tiền BHXH cho cơ quan BHXH.  Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với cơ quan BHXH các cấp tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để xử lý kịp thời các vi phạm về BHXH. Đồng thời trình Quốc hội đưa các điều khoản về thu nộp BHXH vào nội dung của luật doanh nghiệp, luật phá sản doanh nghiệp. Các điều khoản này phải quy định rõ ràng thứ tự ưu tiên thanh toán nộp BHXH trong hệ thống các khoản phải thanh toán của doanh nghiệp, để đảm bảo giải quyết quyền lợi của người lao động trong doanh nghiệp. Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm pháp luật BHXH: Theo quy định tạiNghị định số 113/2004/NĐ - CP ngày 16/4/2004, Bộ Lao động – Thươngbinh và Xã hội đã dự thảo, đang lấy ý kiến các Bộ, ngành thông tư hướng dẫnxử lý hành vi vi phạm pháp luật BHXH. Tuy nhiên, theo quy định tại nghịđịnh này khi vi phạm luật BHXH chỉ bị xử phạt mức cao nhất là 20 triệu đồngvới mức phạt này các đơn vị nợ hàng trục tỷ đồng sẵn sàng chịu phạt đểkhông phải đóng BHXH. Do vậy cần phải bổ sung, sửa đổi một số hình phạttheo hướng đủ mạnh để có thể ngăn ngừa, răn đe các hành vi vi phạm có hiệuquả hơn. Như có thể quy định mức nợ tối đa là bao nhiêu thì chịu mức phạt là20 triệu đồng còn trên mức đó lại là những hình phạt khác cao hơn… và mứcphạt cao nhất có thể truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có hành vi vi phạmnghiêm trọng như: chiếm dụng quỹ đóng BHXH thu được từ các bên tham gia
    • BHXH để sử dụng sai mục đích, hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụngsai tiền thu BHXH, mức phạt đối với cơ quan chức năng thực thi BHXHkhông đúng với quy định của Luật BHXH….4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với công tác thu quỹBHXH. Để nâng cao hiệu quả của công tác đóng góp BHXH thì cơ quan BHXHcũng cần thường xuyên tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra đối với công tácthu đóng góp nhằm tránh tình trạng cán bộ chuyên thu của ngành BHXH Việtnam từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở “lơ là” trong công việc, coi công việcchuyên thu và đốc thu là công việc chung của đội ngũ đồng nghiệp trong cơquan mình. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để tiến hành truy thu số tiền nợđọng đối với những đơn vị có số nợ đọng lớn. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc đóng góp, trích nộpBHXH của các đơn vị, doanh nghiệp nhằm phát hiện ra những đối tượng gianlận hay trốn đóng BHXH cho người lao động mà doanh nghiệp sử dụng. Đểtừ đó đưa ra hình thức xử phạt thích đáng đối với hành vi vi phạm pháp Luậtvề BHXH nhằm đem lại nguồn thu cho quỹ BHXH được tăng lên và đảm bảocông bằng trong việc thực hiện chính sách BHXH. KẾT LUẬN BHXH ở Việt nam từ lâu đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệthống các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta. Với bản chất chăm locho một vòng đời người, BHXH càng có ý nghĩa quan trọng và liên quan trựctiếp đến việc ổn đinh đời sống của hàng triệu NLĐ và gia đình họ trong cáctrường hợp ốm đau, thai sản, chế độ hưu, TNLĐ cũng như sự ổn định của sựphát triển kinh tế đất nước. Kể từ khi BHXH được thành lập năm1945 đếnnay BHXH đã tạo được sự an tâm và niềm tin vững chắc cho mọi tầng lớp lao
    • động. Tuy nhiên trong thực tế chính sách BHXH chưa được nhất quán cao, sựhiểu biết của người dân về BHXH cũng như công tác tuyên truyền về BHXHchưa được rộng khắp nên đối tượng tham gia BHXH còn hạn chế nên đã gâykhông ít khó khăn cho việc tạo lập quỹ BHXH và đặc biệt là cho công tác thuBHXH ở Việt nam như hiện nay. Với việc nghiên cứu đề tài: “Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệuquả của công tác thu BHXH ở Việt nam” đã khẳng định tầm quan trọng củachính sách BHXH ở Việt nam nói chung và sự không thể không thực hiệnnghiêm túc trong công tác thu BHXH nói riêng để hình thành nên nguồn quỹBHXH nhằm đảm bảo việc thực hiện tốt chính sách BHXH. Để công tác thuBHXH đạt kết quả cao hơn nữa, đề tài đã đưa ra một số kiến nghị đối vớichính sách BHXH nói chung, đối với công tác thu đóng BHXH nói riêng vàđối với Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH ở Việtnam góp phần ổn định đời sống cho NLĐ, giảm chi cho Ngân sách Nhà nước. Trên đây là toàn bộ kết quả nghiên cứu của em về đề tài mà em đã thựctập tại Vụ BHXH thuộc Bộ lao động - Thương binh và Xã hội, em xin chânthành cảm sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn: Ths Nguyễn ThịChính, các thầy cô giáo trong bộ môn Bảo hiểm và cùng toàn thể cán bộ cơquan đã giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu của mình. Với thời gian thực tập có hạn, trình độ lí luận và thực tiễn còn hạn chếnên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong nhận đượcsự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài này được hoànthiện hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình kinh tế bảo hiểm – Trường Đại học kinh tế quốc dân. 2. Tạp chí BHXH các số năm 2002, năm 2003, năm 2004. 3. BHXH – những điều cần biết năm 2003. 4. Tạp chí nghiên cứu kinh tế tháng 2/2004.
    • 5. Hệ thống các văn bản về BHXH và những văn bản có liên quan đến BHXH năm. 6. Tài liệu về BHXH từ Vụ BHXH thuộc Bộ lao động – Thương binh và Xã hội 7. Tài liệu về BHXH từ cơ quan BHXH Việt nam. MỤC LỤCChương I : Lý luận chung về BHXH và công tác thu BHXH. ...................................2 Bảng 1: Tình hình tham gia BHXH từ năm 1995-2004.............................31 Cơ quan BHXH tỉnh, thành phố có nhiệm vụ trực tiếp thu BHXH ......................40 Bảng 3: Kế hoạch thực hiện thu BHXH từ 6 tháng cuối năm 1995-2004........................................................................................48TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................85.......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................