A: LỜI NÓI ĐẦU       Trong thời kì đầu của xã hội loài người từ khi lực lượng sản xuất pháttriển và có nhiều thành tựu mới...
B:NỘI DUNG      I.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ      THỊ TRƯỜNG:       1.KHÁI NIỆM KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:        ...
a. Khái niệm phân công lao động xã hội:       Phân công lao động xã hội là việc chuyên môn hoá người sản xuất, mỗingười ch...
tư bản thì đòi hỏi sự phân công lao động sâu sắc để đi vào chuyên môn hoá cao,đáp ứng nhu cầu, yêu cầu của nền kinh tế thị...
- Vị trí địa lý thuận lợi : Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa , tự nhiênViệt Nam rất phong phú và đa dạng , khác hẳn với...
hoá và cải cách lại chế độ sở hữu , đặc biệt là khu vực kinh tế nhà nước ,để tự dosở hữu nhà nước phải ban hành luật pháp ...
sinh ra các hình thức tổ chức sản xuất mới thích hợp , hiệu quả và sáng tạo ởnước ta. Quan hệ sở hữu đa dạng sẽ làm cho th...
Trong nền kinh tế thị trường , lao động trí óc sẽ được đánh giá và coi trọng đúngmức , do đó hàm lượng lao động trí tuệ tă...
nghệ và kinh tế thị trường , coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tốcon người , động lực trực tiếp của sự phát tr...
nhau có hiệu quả hơn. ngay trong một vùng, một địa phương, những người sảnxuất cũng có những khả năng, điều kiện và kinh n...
nhân. Cơ cấu tổ chức của công trường thủ công là những người lao động bộphận, sử dụng công cụ chuyên dùng thích ứng, hợp t...
vô hình) và sự can thiệp của chính phủ (Bàn tay hữu hình) và cả hai nhân tố nàyđều tác động vào nền kinh tế.Nhà nước có ch...
4.2. Giá cả:       Giá cả trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu về một loại hàng hoáhoặc dịch vụ nào đó, sự biến động ...
Cạnh tranh giữa một bên là những người bán và một bên là những ngườimua.       Cạnh tranh giữa những người mua với nhau. T...
sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Họ mongmuốn chi phí cho các đầu vào ít nhất và bán hàng ...
Tác dụng của quy luật giá trị: quy luật giá trị tự phát điều tiết việc sảnxuất và lưu thông hàng hóa thông qua sự biến độn...
Người mua làm cho giá thị trường càng thấp, càng tốt. Mỗi người chỉ quantâm đến đồng nghiệp trong chừng mực thấy đi với họ...
lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có đIều kiện pháttriển toàn diện cá nhân”. Xã hội có nền kinh tế ...
doanh trao cho doanh nghiệp ) sẽ hình thành nền kinh tế thị trường. Tuy vậy,trong việc phát triển nền kinh tế thị trường ở...
- Chủ động tạo điều kiện cần thiết để xây dựng đồng bộ các yếu tố của thịtrường, phát huy những ưu thế và động lực của thị...
xuất động viên mọi nguồn lực xã hội, phát huy cao độ tính năng động, sáng tạocủa toàn dân, khai thác mọi tiềm năng trong n...
thâm nhập vào nhau giữa các thành phần kinh tế đều có thể tham gia thị trườngvới tư cách chủ thể thị trường bình đẳng.    ...
nhau do đó có nhiều thành phần kinh tế và tương ứng với mỗi thành phần kinh tếđó thì sẽ có các nguyên tắc và hệ thống phân...
4.1. Các biện pháp đảm bảo định hướng XHCN trong phát triển kinhtế thị trường.        Phát triển kinh tế thị trường theo đ...
Bảy là: Thực hiện hệ thống chính sách xã hội để hạn chế bớt những tácđộng xấu của kinh tế thị trường đến đời sống của các ...
đó có một phần do tự đIều chỉnh và một phần do Nhà Nước đIều tiết để có sự ổnđịnh và cân bằng mới. Đặc tính của cơ cấu kin...
phải ngày càng hoàn chỉnh bộ máy Nhà Nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật,đảm bảo đưa nước ta đi theo con đường XHCN như đã...
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO• Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin _ Bộ giáo dục và đào tạo.• Giáo trình Kinh tế chính trị Mác...
MỤC LỤCA. Lời nói đầu..................................................................................................1B....
3.1. Đặc trưng về định hướng mục tiêu của nền kinh tế ................................203.2. Ānder1
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

de an mon hoc (52).Doc

240

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
240
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
3
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

de an mon hoc (52).Doc

  1. 1. A: LỜI NÓI ĐẦU Trong thời kì đầu của xã hội loài người từ khi lực lượng sản xuất pháttriển và có nhiều thành tựu mới, con người dần thoát khỏi nền khinh tế tự nhiênvà chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Nền kinh tế hàng hoá phát triểncàng mạnh mẽ và đến đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường. Kinh tế thịtrường có những ưu việt của nó , đó là sự thoả mãn tối đa nhu cầu của con ngườivói một khối lượng hàng hoá khổng lồ. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ những hạn chế, nhất là trong chế độ xã hội TBCN , một chế độ xã hội ở đó chỉ có lợi nhuậnđược chú trọng hàng đầu dẫn đến sự phân hoá xã hội sâu sắc và quyền bình đẳngtrong xã hội bị xem nhẹ. Nước ta sau khi giành được độc lập ở miền Bắc , Đảng đã xác định đưađất nước lên tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN. Khi miền Bắchoàn toàn được giải phóng thì cả nước bước vào thời kì quá độ lên CNXH.Đại hội Đảng VI (1986) là một bước ngoặt lịch sử của nền kinh tế với đường lốimới của Đảng để phát triển đất nước. Theo đó ta xây dựng và phát triển nềnkinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Tư tưởngấy càng được nhấn mạnh trong các kì đại hội tiếp theo của Đảng. Cho tới nay, sau gần hai mươi năm đổi mới ta đã gặt hái được nhiềuthành tựu đáng kể. Tuy nhiên bên cạnh đó còn có khá nhiều những mặt cần điêùchỉnh. Qua nghiên cứu và tìm hiểu em chọn đề tài:"Sự hình thành và phát triểnnền Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam"
  2. 2. B:NỘI DUNG I.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: 1.KHÁI NIỆM KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: Kinh tế thị trường hình thành từ quá trình sản xuất hàng hoá.Sản xuấthàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra là đểbán trên thị trường.Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sảnxuất_phân phối_trao đổi_tiêu dùng , sản xuất như thế nàovà cho ai đều thôngviệc mua bán,thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định. Cơ sở kinh tế - xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá vàphân công lao động xã hội và về kinh tế giữa người sản xuất này với người sảnxuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.Khi sảnphẩm lao động trở thành hàng hoá thì người sản xuất trở thành người sản xuấthàng hoá,lao động của người sản xuất hàng hoá vừa có tính chất tư nhân , cá biệt, lao động của người sản xuất hàng hoá bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đốilập là tính chất xã hội và tính chất tư nhân , cá biệt lao động của sản xuất hànghoá.Đối với mỗi hàng hoá mâu thuẫn đó được giải quyết trên thị trường. Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài .Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn . Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuấthàng hoá nông dân , thợ thủ công dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất vàsức lao động của bản thân họ. Đây là một kiểu sản xuất nhỏ , dựa trên kĩ thuật thủ công và lạc hậu khilực lượng sản xuất phát triển cao hơn ,sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển thànhsản xuất quy mô lớn . Quá trình chuyển biến này diễn ra trong một thời kì quáđộ từ xã hội phong kiến sang chế độ tư bản. Trong một nền kinh tế sản xuất hàng hoá chiếm địa vị thống trị thì đó lànền kinh tế hàng hoá , khi nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trườngthì nền kinh tế này là nền kinh tế thị trường Như vậy nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơchế thị trường thì nền kinh tế này là nền kinh tế thị trường.Cơ chế thị trường làtổng thể các nhân tố, quan hệ ,môi trường , động lực và quy luật chi phối sự vậnđộng của thị trường . Trong cơ chế thị trường động lực hoạt động của các thànhviên là lợi nhuận , lợi nhuận có tác dụng lôi kéo các doanh nghiệp sản xuất màxã hội cần . Cơ chế thịa trường dùng lỗ, lãi để quyết định các vấn đề kinh tế cơbản. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tự vận động tuân theo những quyluật vốn của nó, như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiềntệ, các quy luật vị trí, vai trò độc lập, song lại có mối liên hệ chặt chẽ, tác độngqua lại lẫn nhau, và tạo ra những nguyên tắc vận động của thị trường. 2.Các quy luật hình thành, phát triển kinh tế thị trường 2.1. Vấn đề phân công lao động xã hội :
  3. 3. a. Khái niệm phân công lao động xã hội: Phân công lao động xã hội là việc chuyên môn hoá người sản xuất, mỗingười chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm nhất định, hay nói cách khác: Sựphân công lao động xã hội là cách điều chỉnh hạn chế một cách thích ứng nhữngcá nhân vào những lĩnh vực nghề nghiệp đặc thù. b. Đặc điểm và tác dụng của việc phân công lao động xã hội * Đặc điểm: Tiền đề vật chất của sự phân công lao động trong xã hội là số lượng dâncư và mật độ dân số.phải có một mật độ dân số nào đó để có thể phát triển nộtcách thuận lợi cho những giao dịch xã hội, cũng như để phối hợp các lực lượngnhờ thế mà năng xuất lao động tăng lên, khi số lượng công nhân tăng lên( dodân số tăng lên ) thì sức sản xuất của xã hội càng tăng lên theo tỷ lệ kép của sựtăng lên đó, nhân với hiệu quả của sự phân công lao động. Sự phân công lao động được hình thành khi có sự phân tán tư liệu sảnxuất vào tay nhiều người sản xuất hàng hoá độc lập với nhau. Sự phân công laođộng xã hội xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của xã hội và đạt những người sảnxuất hàng hoá độc lập " đối diện " với nhau, những người này chịu sự tác độngrất lớn của quy luật cạnh tranh. Cơ sở của mọi sự phân công ao động phát triển là lấy trao đổi hàng hoálàm mỗt giá và có sự tách rời giữa thành thị và nông thôn. Đối với sự phân công lao động có một quy tắc chung là :puyền lực càng ítchi phối sự phân công lao động trong xã hội bao nhiêu, thì sự phân sự phân cônglao động trong xí nghiệp sản xuất ngày càng phát triển bấy nhiêu, và ở đấy nó lạicàng phụ thuộc vào quyền lực của một cá nhân. *Tác dụng: Sự phân công lao động trong xã hội làm cơ sở chung cho mọi nền sảnxuất hàng hoá, chính sự phân công lao động trong xã hội làm cho sức lao độngtrở thành hàng hoá. Sự phân công lao động đặt cơ sở cho việc hình thành những nghề nghiệpchuyên môn, những ngành chuyên môn nhằm nâng cao sức sản xuất. Sự phân công lao động theo vùng với ngành sản xuất chuyên môm hoáđặc trưng sẽ là yếu tố quyết định sự khai thác có hiệu quả và phát huy thế mạnhcủa vùng. Sự phân công lao động trong xã hội khi đã phát triển đến một trình độnào đó thì sẽ dẫn đến sự phân công lao động ở tầm vi mô- các xí nghiệp, cáchãng sản xuất - điều này làm cho các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm bị chianhỏ,sản phẩm được hoàn thiẹn về chất lượng, dễ dàng ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật .Sự phân công lao động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật làm việcsản xuất đi vào chuyên môn hoá, nâng cao tay ngề của người sản xuất, tăng năngsuất lao động xã hội. c. Hướng phân công và việc thực hiện ở nước ta: Khi sản xuất hàng hoá ra đời, phát triển đến mức cao điển hình là ở xã hội
  4. 4. tư bản thì đòi hỏi sự phân công lao động sâu sắc để đi vào chuyên môn hoá cao,đáp ứng nhu cầu, yêu cầu của nền kinh tế thị trường, từ trước tới nay trong xãhội đã xuất hiện ba lần phân công lao đọng xã họi lớn : Chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt Xuất hiên nhiều ngành thủ công nghiệp Xuất hiện thương nghiệp ở nước ta muốn phát triển kinh tế hàng hoá phải phân công lại lao động xãhội cả trên mối quan hệ kinh tế quốc tế và trong nước. *Đối với trong nước : tất yếu phải tiến hành phân công lao động xã hộitrên phạm vi cả nước cũng như từng ngành, từng cơ sở. Sự phân công lao độngxã hội trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường cần chú trọng các quy luật: - Tỷ lệ và số tuyệt đối của lao động trong nông nghiệp giảm xuống, tỷ lệvà số tuyệt đối của lao động trong công nghiệp tăng lên . - Tỷ lệ lao động trí óc ngày càng tăng lên và chiếm phần lớn trong tổnglao động xã hội . -Tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất phi vật chất ( dịch vụ,thương nghiệp ....) tăng nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sảnxuất vật chất . Trong những năm trước mắt, ở nước ta hiện nay việc phân công lao độngxã hội cần phải tiến hành trên tất cả các địa bàn. Tiến hành sắp xếp, phân bố lạichỗ hoặc chuyển một bộ phận từ nơi này sang nơi khác để xây dựng các vùngkinh tế mới. Tuy nhiên, chúng ta cần đặc biệt chú trọng ưu tiên cho việc sắp xếp,điều chỉnh lại chỗ vì điều đó cho phép từng địa phương, từng đơn vị cơ sở tựkhai thác hết tiềm năng ,những thế mạnh sẵn có của đơn vị mình, đồng thời từngbước hình thành các cụm kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ nông thôn cũng như ởthành thị. *Đối với quốc tế : Để tham gia và phân công lại lao động xã hội cả trênmối quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta cần hiểu rõ những đặc điểm và xu hướnghiện đại của nền kinh tế thế giới, đó là những đặc điểm sau: - Nền kinh tế thế giới là một thể thồng nhất , bao gồm các nền kinh tế khuvực và quốc gia rất đa dạng , phát triển không đồng đều, chứa đựng nhiều mâuthuẫn. -Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại , đangdiễn ra quá trình quốc tế hoá kinh tế , cụ thể là : + Đẩy mạnh sự phân công lao động giữa các khu vực trên thế giới và giữacác quốc gia trong từng khu vực . + Tăng cường hợp tác và nhất thể hoá kinh tế thế giới, đặc biệt là phạm vitừng khu vực Là một quốc gia phát triển , Việt Nam có những lợi thế can bản để có thểtham gia tích cực vào phân công lao động khu vực và quốc tế. Những lợi thế đótrước hết là :
  5. 5. - Vị trí địa lý thuận lợi : Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa , tự nhiênViệt Nam rất phong phú và đa dạng , khác hẳn với các nước có cùng vĩ độ ở Tâyá , Đông phi , Tây phi. Đặc điểm này có tác động sâu sắc đến cơ cấu, quy mô vàhướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam . Việt Nam nằm ở rìa đông bánđảo Đông Dương , gần trung tâm Đông Nam á có vùng biển chủ quyền rộng lớnvà giàu tiềm năng, dễ dàng phát triển kinh tế - thương mại, văn hoá và khoa họckỹ thuật với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam nằm trong khuvực diễn ra các hoạt động sôi động nhất thế giới trước thế kỷ 21, các nướcASEAN mà Việt Nam là thành viên chính thức kể từ tháng 7/95 đang ngày càngchiếm địa vị cao trong nền kinh tế thế giới/ - Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng. - Nguồn tài nguyên nhân văn phong phú bao gồm bản thân con người vàhệ thống giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển lịch sử dântộc . Đường lối đổi mới và chính sách mở cửa do Đảng ta đề ra từ đại hội thứsáu đã mang lại kết quả rất uan trọng , tạo ra môi trường thuận lợi để Việt Namtham gia ngày càng tích cực vào phân công lao động trong khu vực và quốc tế ,nhanh chóng hoà nhập vào thị trường quốc tế. Để nâng cao vai trò và vị trí của Việt Nam trong hệ thống phân công laođộng khu vực quốc tế , đòi hỏi phát huy tinh thần tự lục tự cường và những lợithế nói trên. 2.2. Quá trình tự do hoá kinh tế qua đa dạng hoá các hình thức sở hữu * Đa dạng hoá sở hữu- Nhân tố cơ bản hình thành nền kinh tế thị trường : Trung tâm của nền kinh tế thị trường là quy luật sở hữu , sở hữu củachính mình , sở hữu vật dụng và sở hữu trí tuệ, quyền được hưởng thụ ích lợi từviệc trồng trọt và cải tạo đất là động lực phát triển nông nghiệp . Quyền đượchưởng thụ những điều mình làm là động lực phát triển thị trường lao động.Quyền được hưởng trực tiếp thành quả của vốn sản xuất thúc đẩy đầu tư vào nhàmáy và trang thiết bị , quyền được bảo đảm cư trú một địa điểm cố định thúcđẩy đầu tư cá nhân vào nhà ở. Hơn nữa , quyền chuyển nhượng tài sản có tầmquan trọng thiết yếu đói với việc sử dụng hữu hiện đát đai , lao đọng vốn. Chỉ cóthông qua chyển nhượng thì của cải các loại mới có thể sử dụng đúng giá trị củanó. Khi chuyển sang kinh tế thị trường thì ạnh tranh chính là cơ chế bảo đảmcho nền kinh tế phát triển năng động và sử dụng các nguồn nhân lực của xã hộicó hiệu quả . Nhưng cạnh tranh chỉ nảy sinh trong môi trường có những chủ sởhữu khác nhau. Vì vậy việc chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nềnkinh tế thị trường là tất yếu phaỉ xây dựng các quan hệ hình thức sở hữu . Bảnchất của việc này là thay thế các quan hệ và các hình thức sở hữu chỉ tồn tại trêndanh nghiã bằng các quan hệ và các hình thức có ý nghĩa kinh tế thực sự có chủthể cụ thể , đó là những người sản xuất hàng hoá tự do. Để chuyển sang nền kinh tế thị trường ,Đảng và nhà nước ta cần đa dạng
  6. 6. hoá và cải cách lại chế độ sở hữu , đặc biệt là khu vực kinh tế nhà nước ,để tự dosở hữu nhà nước phải ban hành luật pháp về vấn đề sở hữu . Một bước tiến quan trọng trong quá trình Việt Nam chuyển sang nền kinhtế thị trường đã diễn ra vào tháng 4/92,khi Quốc hội thông qua hiến pháp mớicông khai choa phép sở hữu tư nhân và còn tăng cường sự bảo hộ của nhà nướcđối với hình thức sở hữu này .Hiến pháp này xác định có 3 hình thức rở hữu :sởhữu toàn dân , sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Hơn nữa, cả ba hình thức đềuđược nhà nước bảo hộ . Quốc hữu hoá quyền sở hữu tư nhân đều bị cấm và việctrưng dụng cần thiết tài sản phải được đền bù , quyền thừa kế và quyền chuyểnnhượng cũng đfược bảo hộ . Quyền sở hữu tư nhân ,yếu tố cần thiết cho nền kinh tế thị trường , đã bắtđầu phát triển rất lâu trước khi hiến pháp được sửa vào năm 1992. Chúng ta cóthể thấy rõ bằng chứng về hoạt động của khu vực tư nhân tăng trong những nămtrước , tuy nhiên đứng trên góc độ hệ thống pháp lý mà xét , việc tạo cơ sở rõràng cho sở hữu và chuyển nhượng tài sản có tầm quan trọng vì hai lý do .Thứnhất ,luật chấp nhận chính thức điều này sẽ là dấu hiệu cho những người có thểtrở thành nhà kinh doanh tư nhân và các nhà đầu tư thấy rằng hoạt động kinh tếtư nhân là chính thức được phép và khuyến khích. Khi chuyển từ nền kinh tế kếhoạch hoá sang nền kinh tế thị trường , loại khuyến khích chính thức này có thểcó trọng lượng đôi chút . Thứ hai , những cá nhân khởi sự hoạt động kinh tế tưnhân trên cơ sở chính thức được phép có thể dựa vào pháp luật để bảo vệ hoạtđộng kinh doanh của họ trong tương lai . Điều cần chú ý ở đây là hiến pháp củaTrung Quốc cũng có điều khoản về sở hữu tương tự như hiến pháp năm 1990của Việt Nam , nhưng năm 1988 Trung Quốc phải bvan hành những điểm bổxung hiến pháp để bảo vệ quyền sở hữu tư nhân một cách rộng rãi. Một mặt của hoạt động thương mại cần có cơ cấu khung về pháp lý cóhiệu lực trong điều kiện kinh tế thị trường là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để thúcđẩy việc tạo ra mặt hàng và những quy trình sản xuất mới là mới ở Việt nam vàsử dụng hàng hoá và quy trình sở hữu có chủ sở hữu được tạo ra ở nơi khác,khuyến khích phát triển và lưu hành nhãn hiệu thương phẩm được thị trườngcông nhận.Đẩy mạnh việc phổ biến ở Việt Nam phần mềm tin học cũng như tácphẩm văn học có chủ sở hữu tiến bộ trên tất cả các lĩnh vực này phải dựa trênquyền và biện pháp hợp pháp đối với bằng sáng chế , nhãn hiệu thương hiệu bảnquyền . Ngoài những hình thức sở hữu trên cùng với quá trình mở cửa nền kih tếcác nhà đầu tư nước ngoài sẽ đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức như :liêndoan , mua cổ phiếu , đầu tư trực tiếp nên sẽ xuất hiện nhiều hình thức sở hữunước ngoà ở nước ta . Tóm lại để cho cơ cấu quan hệ về các hình thức sở hữu thích ứng với nềnkinh tế thị trường đòi hỏi Đảng và nhà nước ta phải xây dựng một hệ thống phápluật đồng bộ về hình thức sở hữu , hình thức sở hữu đa dạng , tự nguyện sẽ nảy
  7. 7. sinh ra các hình thức tổ chức sản xuất mới thích hợp , hiệu quả và sáng tạo ởnước ta. Quan hệ sở hữu đa dạng sẽ làm cho thị trường hoạt động uyển chuyểntrong một thể thống nhất , trong đó quốc doanh cần nắm giữ những ngành ,những lĩnh vực then chốt tác dụng thúc đẩy sự ổn định và tăng trưởng kinh tế . 2.3. Phát triển khoa học - kỹ thuật công nghệ : a. Mối liên hệ biện chứng giữa khoa học công nghệ và kinh tế thịtrường ở nước ta : * Sự tác động của khoa học - công nghệ đối với kinh tế thị trường : Nước ta là một nước nông nghiệp với điểm xuất phát thấp về lực lượngsản xuất , về trình độ xã hội hoá lao động và xã hội hoá sản xuất .Sự thấp kémnày đã kìm hãm quá trình chuyển biến nền kinh tế mang nặng tính tự cung tựcấp sang kinh tế thị trường .Việc phát triển khoa học công nghệ chính là để thayđổi về chất lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất của nướcta nhằm thúc đẩy quá trình chuyển biến nền kinh tế từ chậm phát triển sang pháttriển , chuyển nền kinh tế sang thị trường . Dưới sự tác động của khoa học công nghệ làm biến đồi về chất lực lượngsản xuất theo hướng thực hiện từng bước chiến lược đồng bộ hoá giữa tư liệusản xuất hiện đại với con người hiện đại nhằm nâng cao trình độ xã hội hoá sảnxuất . Đến lượt nó , sự đồng bộ hoá này lại tác động làm biến đổi sở hữu và cơchế thị trường ở nước ta theo hướng độc quyền , độc tôn sang sở hữu hỗn hợp đadạng , từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lývĩ mô của nhà nước. Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ theo hướngđã xác định làm cho nền kinh tế thị trường nước ta từng bước thích nghi với tốcđộ nhanh của tính chất mới của nền kinh tế thị trường thế giới. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua sự phân công lao động làm thayđổi từng bước cơ cấu ngành vùng , thay đổi chiến lược kinh doanh , thay đổi cơcấu giá trị hàng hoá nhất là trong ngành công nghệ mới . Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nâng cao năng lực tích luỹ từ nội bộ nềnkinh tế tạo điều kiện thay đổi chiến lược tái sản xuất giản đơn sang phát triển cảvề chiều rộng lẫn chiều sâu . *Sự tác động của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã đốivới sự phát triển của khoa học- công nghệ ở nước ta . Nền kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa sẽ tác động tích cựcđến sự phát triển của khoa học công nghệ Kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy sự thay đổi trong cơ cấu của lực lượng sảnxuất , điều này được thể hiện ở chỗ công nghệ , đối tượng lao động , cơ cấu laođộng phát triển theo hướng công nghệ nhiều trình độ , những công nghệ mũinhọn. Dưới tác động của nền kinh tế thị trường , đối tượng lao động được khaithác ngày càng nhiều trong tự nhiên kết hợp với việc sử dụng nguyên vật liệutổng hợp mà trước hết nhập từ nước ngoài và tiến đến sản xuất trong nước .
  8. 8. Trong nền kinh tế thị trường , lao động trí óc sẽ được đánh giá và coi trọng đúngmức , do đó hàm lượng lao động trí tuệ tăng lên trong tổng lao động xã hội . Sự thay đổi cơ cấu của lực lượng sản xuất theo hướng công nghệ hoá vàsự tăng lên của tỷ lệ lao động trí óc trong tổng số lao động xã hội đến lượt nó sẽtác động một cách tích cực tới sự phát triển của khoa học - công nghệ . Nhưvậy , dưới sự tác động của cơ chế thị trường ,sự phát triển của lực lượng sảnxuất và tỷ lệ lao động trí óc có tác động qua lại với sự phát triển của khoa học -công nghệ. Kinh tế thị trường với tư cách là đòn bẩy , là phương thức sinh hoạt kinhtế thích hợp , nên tác động tích cực tới sự thay đổi cơ cấu kinh tế và trình độ vănminh ở nước ta. Chính nhờ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa làm cho nước ta thực hiện có hiệu quả quá trình chuyển dịch cơ cấu theohướng công- nông - dịch vụ hiện đại và mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế . Vàchính nền kinh tế thị trường này sẽ đưa xã hội ta vượt qua nhanh nền văn minhcông nghiệp và văn minh trí tuệ. Sơ đồ: sự tác động của cách mạng khoa học- công nghệ đối với kinh tếthị tường ở nước ta và sơ đồ : Sự tác động tích cực của kimh tế thị trường xã hộitheo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển khoa học- công nghệđược thể hiện ở hai trang sau. b. Hướng phát triển khoa học - công nghệ trong quá trình chuyển sangcơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: - Trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất và hiệu quả của sở hữu đối vớiviệc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội , hình thành cơ cấu và xu hướng vậnđộng khách quan của các hình thức sở hữu. -Trên cơ sở vai trò then chốt của cách mạng khoa học công nghệ và vaitrò động lực của nó đối với lực lượng sản xuất , Nhà nước cần có chính sáchkhoa học công nghệ hữu hiệu : Nhà nước cần cung cấp những điều kiện cần thiếtcho nghiên cứu khoa học , coi trọng lao động trí tuệ - vốn quý nhất trong vốnquý lao động,sớm có những chính sách có tác dụng kích khích các chủ thể sảnxuất , kinh doanh ở tất cả các hình thức sở hữu tring và ngoài nước đầu tư sứcngười sức người sức của vào việc trang bị công nghệ hiện đại . Việc chuyển giao công nghệ hiện đại trên thế giới so với trước tuy cónhững thuận lợi nhất định , song cũng không kém phần phức tạp . Do vậy , khitiếp nhận công nghệ mới phải thận trọng , tránh những sai lầm đắt giá vừa qua ,nâg cao năng lực tiếp nhận sao cho tránh được hao mòn tài sản cố định do nhậpcông nghệ lạc hậu và các nguyên nhân khác gây ra. Đồng thời thực hiện chủnghĩa tư bản nhà nước để thu hút đầu tư nước ngoài. - Xây dựng đồng bộ các loại thị trường , thực hiện chiến lược thị trườnghướng ngoại , dùng nó để kích thích sự phát triển khoa học - công nghệ và thịtrường nội địa. - Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục đào tạo trong sự gắn bó khoa học - công
  9. 9. nghệ và kinh tế thị trường , coi đó là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tốcon người , động lực trực tiếp của sự phát triển. - Tạo lập thị trường cho các hoạt động khoa học công nghệ . Thúc đẩy cácdoanh nghiệp lớn của nhà nước đổi mới công nghệ , thu hút lực lượng nghiêncứu và triển khai về các doanh nghiệp . - Kết hợp hài hoà giữa quy luật phát triển tuần tự và quy luật phát triểnnhảy vọt , thông qua chính sách mở cửa vừa để sử dụng có hiệu quả lợi thế đểphát triển khoa học công nghệ và kinh tế thị trường. 3. Các bước phát triển của kinh tế thị trường 3.1. Từ nền kinh tế tự nhiên chuyển sang nền kinh tế hàng hoá giảnđơn. Mặc dù có những đặc điểm riêng, nhưng tất cả các phương thức sản xuấttiền tư bản chủ nghĩa đều có nét chung là nền kinh tế tự nhiên. Trong nền kinh tếtự nhiên, sản xuất nhỏ chiếm ưu thế. Nền kinh tế tự nhiên do nhiều đơn vị kinhtế thuần nhất hợp thành và mỗi đơn vị kinh tế ấy làm đủ việc để tạo ra nhữngsản phẩm cuối cùng. Trong các nền kinh tế tự nhiên, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, nôngnghiệp là ngành sản xuất cơ bản, công cụ và kỹ thuật canh tác lạc hậu, dựa vàolao động chân tay là chủ yếu, chỉ có trong một số trang trại của địa chủ hoặcphường hội mới có hiệp tác lao động giản đơn. Trong nền kinh tế dưới chế độphong kiến, phân công lao động kém phát triển, cơ cấu ngành đơn điệu, mới chỉcó một số ngành nghề thủ công tách khỏi nông nghiệp, sản xuất chủ yếu hướngvào giá trị sử dụng, có tính chất tự cung, tự cấp. Bước đi tất yếu của sản xuất tự cung, tự cấp là tiến lên sản xuất hàng giảnđơn. điều kiện cho quá trình chuyển hoá này là sự phát triển của phân công xãhội. Phân công xã hội là cơ sở của kinh tế hàng hoá. Xu hướng phát triển củaphân công xã hội là biến việc sản xuất không những từng sản phẩm riêng biệt,mà việc sản xuất từng bộ phận của sản phẩm, từng thao tác trong chế biến sảnphẩm thành những ngành công nghiệp riêng biệt. Công nghiệp chế biến táchkhỏi công nghiệp khai thác và mỗi ngành công nghiệp đó lại chia thành nhiềuloại và phân loại nhỏ. Chúng sản xuất ra dưới hình thức hàng hoá - những sảnphẩm riêng biệt và đem trao đổi với những sản phẩm của các ngành sản xuấtkhác. Chính sự phát triển ngày càng sâu rộng đó của phân công xã hội là nhân tốchủ yếu dẫn đến hình thành thị trường trong nước. Hình thành nên những khuvực nhà nước chuyên môn hoá và dẫn đến sự trao đổi không những giữa sảnphẩm với sản phẩm công nghệ, mà cả giữa các sản phẩm nhà nước với nhau. Sự phát triển của công nghiệp và nông nghiệp, sự hình thành trung tâmcông nghiệp, sức hút của chúng đối với dân cư ảnh hưởng sâu sắc đến đời sốngnông thôn, thúc đẩy nông nghiệp hàng hoá phát triển. Những người sản xuất ở những vùng khác nhau có những điều kiện tựnhiên khác nhau, có khả năng và ưu thế trong sản xuất những sản phẩm khác
  10. 10. nhau có hiệu quả hơn. ngay trong một vùng, một địa phương, những người sảnxuất cũng có những khả năng, điều kiện và kinh nghiệm sản xuất khác nhau.Mỗi người sản xuất chỉ tập trung sản xuất sản phẩm nào mà mình có ưu thế, đemsản phẩm của mình trao đổi (mua và bán) lấy những sản phẩm cần thiết cho sảnxuất và đời sống của mình. Họ trở thành những người sản xuất hàng hoá. Traođổi, mua bán, thị trường, tiền tệ ra đời và phát triển . Sản xuất hàng hoá ra đời, lúc đầu dưới hình thức sản xuất hàng hoá nhỏ,giản đơn, nhưng là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại. 3.2. Từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển sang nền kinh tế tự do cổđiển. Quá trình chuyển từ nền kinh tế giản đơn sang nền kinh tế tự do cổ điểnđược thực hiện qua ba giai đoạn phát triển cả về lực lượng sản xuất, cả về quanhệ sản xuất mới thích ứng với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất . Kỹ thuật thủ công dựa trên lao động hiệp tác giản đơn:Hiệp tác giản đơn tư bản chủ nghĩa dựa trên cơ sở kỹ thuật thủ công, với quy môlớn hơn so với tổ chức sản xuất phường hội và sản xuất nhỏ cá thể. Trong giaiđoạn hiệp tác giản đơn, công nhân phụ thuộc vào nhà tư bản về kinh tế nhưngvẫn còn độc lập về mặt kỹ thuật. Để tổ chức hiệp tác lao động, bước đầu tiênphải tập trung tư liệu sản xuất, trên cơ sở đó tập trung sức lao động.Tập trunghiệp tác lao động đòi hỏi phải có sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cánhân, bảo đảm sự nhịp nhàng trong hoạt động sản xuất đạt đến mục đích chung.Với sản xuất quy mô lớn, trong hiệp tác giản đơn, phải mua cả đống nguyên liệuvà buôn bán hàng hoá, do đó đã làm xuất hiện một mạng lưới mua gom nguyênliệu và bán lẻ hàng hoá, từ đó thúc đẩy việc sản xuất và trao đổi sâu rộng trongxã hội. Hiệp tác giản đơn đã bước đầu làm xuất hiện sản xuất lớn tư bản chủnghĩa, nâng cao năng suất lao động xã hội lên rất nhiều. Việc hiệp tác giản đơnlàm xuất hiện sản xuất lớn về mặt quy mô là một bước ngoặt rất quan trọng từsản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Phân công công trường thủ công Tư bản chủ nghĩa:Sự phát triển của hiệp tác giản đơn tư bản chủ nghĩa tất yếu dẫn tới hiệp tác cóphân công, làm xuất hiện các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa. Côngtrường thủ công là hình thức xí nghiệp tư bản thực hiện sự hiệp tác có phân côngdựa trên cơ sở kỹ thuật thủ công. Công trường thủ công hình thành bằng cáchtập hợp những thợ thủ công khác nghề, hoặc những thợ thủ công cùng nghề vàotrong một xưởng để cùng sản xuất ra một loại hàng hoá.Đặc điểm về tổ chức và kỹ thuật của công trường thủ công là: Quá trình sản xuấtđược phân chia thành những giai đoạn, những công việc bộ phận để có sản phẩmhoàn chỉnh, trên cơ sở đó mỗi công nhân chỉ chuyên làm một công việc bộ phận.Đặc điểm của sự phân công này là chuyên môn hoá hẹp.Cơ sở kỹ thuật vẫn là thủ công với công cụ chuyên dùng, phân phối sản xuấttheo kinh nghiệm cổ truyền nên chủ yếu dựa vào tay nghề khéo léo của công
  11. 11. nhân. Cơ cấu tổ chức của công trường thủ công là những người lao động bộphận, sử dụng công cụ chuyên dùng thích ứng, hợp thành lao động tập thể. Đại công nghiệp cơ khí:Trên cơ sở kỹ thuật thủ công, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không thểđược xác lập một cách hoàn chỉnh và phát triển vững chắc. Do đó, trong quátrình phát triển, chủ nghĩa tư bản tự tạo cho nó một cơ sở kỹ thuật tương ứng làmáy móc, đưa chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạnđại công nghiệp cơ khí. Máy móc được sử dụng phổ biến trong xã hội thông quacuộc cách mạng công nghiệp. Đó là cuộc các mạng kỹ thuật thay thế lao độngthủ công bằng lao động sử dụng máy móc. Công cuộc cơ khí hoá ở một ngànhdẫn đến việc thúc đẩy quá trình cơ khí hoá ở một ngành có liên quan. Cơ khí hoátrong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy cơ khí hoá ở các ngành liênquan. Cơ khí hoá trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp thúc đẩy cơ khí hoángành giao thông vận tải… cơ khí hoá bắt đầu từ ngành công nghiệp nhẹ đếncác ngành công nghiệp nặng. Máy móc và đại công nghiệp có tác dụng chủ yếulàm năng suất lao động xã hội tăng vọt, xã hội hoá lao động và sản xuất ngàycàng cao, mở rộng thị trường, thúc đẩy sự ra đời của các trung tâm công nghiệpvà những thành thị lớn; đồng thời, tạo ra những tiền đề vật chất kỹ thuật . 3.3. Từ nền kinh tế thị trường tự do chuyển sang nền kinh tế thịtrường hỗn hợp. Xuất phát từ những khuyết tật của cơ chế thị trường: Do chạy theo lợi nhuận cho nên các doanh nghiệp thường gây ô nhiễmmôi trường, thường khai thác tài nguyên một cách bừa bãi dẫn tới làm mất cânbằng sinh thái mà doanh nghiệp không phải đền bù một khoản thiệt hại nào. Cơ chế thị trường dễ làm xuất hiện căn bệnh: khủng hoảng kinh tế, thấtnghiệp, lạm phát và suy thoái. Cơ chế thị trường dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo, dễ phát sinh những tiêucực xã hội . Kinh tế thị trường là một bước phát triển sau của kinh tế tự nhiên và khikinh tế hàng hoá phát triển tới trình độ cao thì đó chính là kinh tế thị trường.Trong cơ chế thị trường thì do những khuyết tật của nó dẫn đến phá vỡ cân đốicủa nền kinh tế, gây lãng phí nhiều nguồn lực: tư liệu sản xuất, lao động, tạo rasự phân hóa xã hội. Vì vậy nhà nước phải có vai trò nhất định để khắc phụcnhững nhược điểm trên. Trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản thời kì tự do cạnh tranh thìkinh tế thị trường phát triển theo tư tưởng lý thuyết bàn tay vô hình thì nhà nướckhông can thiệp kinh tế. điều đó dẫn đến việc khủng hoảng kinh tế sau này(1929 - 1933). Vì vậy đã xuất hiện lý thuyết kinh tế của Keyes yêu cầu nhà nướcphải can thiệp kinh tế và đến năm 1948 đã xuất hiện lý thuyết về nền kinh tế hỗnhợp trong đó có sự kết hợp của hai nhân tố: sự điều tiết của thị trường (Bàn tay
  12. 12. vô hình) và sự can thiệp của chính phủ (Bàn tay hữu hình) và cả hai nhân tố nàyđều tác động vào nền kinh tế.Nhà nước có chức năng: Định hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, xây dựng cơ sở vật chấtkỹ thuật . Thiết lập về một khuôn khổ về pháp luật, xây dựng hệ thống cơ sở nhấtquán tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho kinh tế phát triển . Hạn chế và khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường . Trực tiếp đầu tư một số lĩnh vực của nền kinh tế: những ngành kinh tếcông cộng, năng lượng, cầu nhiều vốn…. Quản lý và bảo vệ tài sản công, kiểm kê, kiểm soát hoạt động kinh tế - xã hội Phân phối hợp lý các nguồn lực sản xuất . 4. Các nhân tố của cơ chế thị trường Một nền kinh tế muốn vận hành được thì trước tiên phải dựa vào cơ chếthị trường có nghĩa là phải dựa vào bộ máy tự động của cả cung, cầu, giá cảhàng hoá, với môi trường cạnh tranh, động lực là lợi nhuận. Các bộ phận hợpthành cơ chế thị trường này có mối quan hệ mật thiết với nhau, như là nhữngkhâu trong guồng máy. Giá cả là cái nhân của thị trường, cung cầu là trung tâmvà cạnh tranh là linh hồn là sức mạnh của thị trường . 4.1. Cung - cầu hàng hoá: Cầu hàng hóa: là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khảnăng và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong cùng một thời gian. Cung hàng hoá: là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán có khảnăng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định. Như vậy để có cầu hàng hoá phải có ba điều kiện: mong muốn mua, cókhả năng mua và mức giá. Để có cung hàng hoá cũng phải có ba điều kiện: mong muốn sản xuất, cókhả năng sản xuất và mức giá. Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả của hàng hoá giảm. Và ngược lại khi cầulớn hơn cung thì giá cả của hàng hóa sẽ tăng. Và đến khi cung về hàng hoá nàođó trên thị trường vừa đúng bằng cầu của hàng hoá thì lúc đó cung - cầu ở trạngthái cân bằng, xác định mức giá cả là giá cả cân bằng. Song vì cung và cầu luônbiến động nên cân bằng cung - cầu luôn biến động theo. Giá cả thị trường củahàng hoá là do tương quan của cung và cầu trên thị trường quyết định. Nhưngđồng thời khi giá cả biến động thì nó cũng tác động tới việc thu hẹp hay mởrộng quy mô sản xuất. Những tác động của cung - cầu đối với thị trường: Quan hệ cung cầu góp phần đính chính giá cả thị trường và lập lại, khôiphục lại sự cân đối của nền kinh tế Quan hệ cung - cầu còn trực tiếp làm ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế củangười sản xuất và người tiêu dùng; người bán và người mua.
  13. 13. 4.2. Giá cả: Giá cả trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu về một loại hàng hoáhoặc dịch vụ nào đó, sự biến động của giá cả sẽ tác động đến người bán vàngười mua: Cụ thể khi cầu cao hơn cung thì người bán sẽ tăng giá, điều đó sẽthúc đẩy cho người sản xuất mở rộng quy mô để làm tăng cung. Trong trườnghợp ngược lại cung lớn hơn cầu thì người bán phải giảm giá xuống. Khi đóngười sản xuất sẽ giảm quy mô để giảm cung và cuối cùng cân đối giữa quan hệcung - cầu được tái lập để lập lại cân bằng mới. Chức năng của giá cả: Giá cả có chức năng thông tin (nghĩa là các tin tức về giá cả trên thịtrường sẽ giúp cho các đơn vị kinh tế, các cá nhân người lao động đưa ra nhữngquyết định về sản xuất kinh doanh và tiêu dùng của mình. Giá cả có chức năng phân bố các nguồn lực: khi giá biến động tăng giảmthì các nguồn lực của sản xuất sẽ dịch chuyển giữa các ngành. Giá cả có chức năng thúc đẩy đổi mới những tiến bộ kỹ thuật công nghệ.Trong sản xuất, người ta luôn luôn tìm cách giảm bớt hao phí lao động xã hộicần thiết. Để từ đó dẫn tới giảm giá thành để thu được lợi nhuận siêu ngạch (làphần giá người sản xuất thu được nhiều hơn người sản xuất khác nhờ tiến bộkhoa học - kỹ thuật). Giá cả có chức năng thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập quốcdân cũng như thu nhập cá nhân thông qua chính sách giá cả. Giá cả có chức năng thực hiện việc lưu thông hàng hoá. Khi giá cả biếnđộng thì sẽ tác động tới hành vi người tiêu dùng và qua đó tác động vào lưuthông hàng hoá làm thay đổi nhu cầu người tiêu dùng. 4.3. Cạnh tranh: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các xí nghiệp, các tổ chức kinh tế trongviệc tiêu thụ hàng hoá nhằm thu lợi nhuận cao nhất. Cạnh tranh là một tất yếucủa nền kinh tế thị trường .Các chức năng của cạnh tranh: Cạnh tranh có thể điều chỉnh một cách nhanh chóng các hành vi sản xuấttiêu dùng của xã hội . Cạnh tranh thúc đẩy sự tiến bộ của kỹ thuật . Cạnh tranh thoả mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng. Cạnh tranh tạo chính sách cho việc phân phối thu nhập ban đầu nghĩa là cácdoanh nghiệp nào thắng trong cạnh tranh thì sẽ thu được lợi nhuận hơn đối phương. .Các loại cạnh tranh gồm có: Cạnh tranh trong nước và cạnh tranh trên thị trường nước ngoài. Cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá với nhau theo ba hướng:giá cả, chất lượng hàng hoá và thực hiện các dịch vụ trước, trong và sau khi bánhàng.
  14. 14. Cạnh tranh giữa một bên là những người bán và một bên là những ngườimua. Cạnh tranh giữa những người mua với nhau. Trên thương trường khôngcó chuyện "đơn phương độc mã" mà là "buôn có bạn, bán có phường". Cạnh tranh kích thích tính năng động, tính tự chủ của các doanh nghiệp,vì thế nó làm cho kinh tế thị trường phát triển rất năng động (hoàn toàn khác vớinền kinh tế tự nhiên, nền kinh tế trong thời kì bao cấp). Cạnh tranh huy động được mọi nguồn lực của xã hội vào việc phát triểnkinh tế . Cạnh tranh thúc đẩy được cải tiến kỹ thuật và sử dụng công nghệ mới. Cạnh tranh hiệu quả là công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo sự phân bổ tốiưu các nguồn lực và hệ quả mà nó mang lại là năng suất tối ưu.Cạnh tranh thúcđẩy các nguồn lực di chuyển tới nơi nào có hiệu quả nhất bởi người sản xuấtmuốn sử dụng chúng để đem lại lợi nhuận càng nhiều, càng tốt. 4.4. Tiền tệ: Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giáchung cho các loại hàng hóa khác. Nó biểu hiện chung của giá trị, nó biểu hiệntính chất xã hội của lao động và là quan hệ sản xuất giữa những người sản xuấthàng hoá. Chức năng của tiền tệ: Là thước đo giá trị (đây là chức năng cơ bản của tiền tệ): tiền dùng để đolường và biểu hiện giá trị của hàng hoá, mọi hàng hoá đều được biểu hiện giá trịcủa nó bằng tiền. Tiền tệ được coi như là sản phẩm của lao động . Là phương tiện lưu thông: tiền là vật môi giới trong quan hệ lưu thônghàng hoá. Là phương tịên cất giữ giá trị: tiền được rút khỏi lĩnh vực lưu thông vàmang vào cất trữ. Khi cần lại đem mua hàng và tiền được xem như một thứ củacải của xã hội . Là phương tiện thanh toán: tiền được dùng để chi trả sau khi một côngviệc đã hoàn thành hoặc dùng để trả nợ.Chức năng tiền tệ thế giới: trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia với nhau và tiềnlúc này phải là vàng, bạc, ngoại tệ mạnh…. 4.5. Lợi nhuận: Trong kinh tế thị trường, lợi nhuận là động lực chi phối hoạt động củangười kinh doanh. Lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến các khu vực sản xuấtcác hàng hoá mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ qua các khu vực có ít ngườitiêu dùng. Lợi nhuận cũng đưa các nhà doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuậtsản xuất hiệu quả nhất. Như vậy, hệ thống thị trường luôn phải dùng lãi và lỗ đểquyết định ba vấn để: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai? Lợi nhuận chính là mục tiêu kinh tế cao nhất, là điều kiện tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp. để cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho thị trường, các nhà
  15. 15. sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Họ mongmuốn chi phí cho các đầu vào ít nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để saukhi trừ đi các chi phí còn số dư dôi để không chỉ sản xuất giản đơn mà còn táisản xuất mở rộng, không ngừng tích luỹ phát triển sản xuất, củng cố và tăngcường vị trí của mình trên thị trường . Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh toàn bộ kết quả và hiệuquả của quá trình kinh doanh kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường,chuẩn bị và tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, đến khâu tổ chức bán hàng vàdịch vụ cho thị trường. Nó phản ánh cả về mặt lượng và mặt chất của quá trìnhkinh doanh. Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phíNhư vậy, lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển sản xuấtkinh doanh. 5. Các quy luật của kinh tế thị trường 5.1 Quy luật giá trị Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá. ở đâu cósản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị. Quy luật giá trị là quy luật chi phối cơ chế thị trường và chi phối các quyluật kinh tế khác, các quy luật kinh tế khác là biểu hiện yêu cầu của quy luật giátrị mà thôi.. Quy luật giá trị quy.ết định giá cả hàng hoá, dịch vụ, mà giá cả là tín hiệunhạy bén nhất của cơ chế thị trường . Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiếnhành trên cơ sở của việc hao phí lao động xã hội cần thiết: Trong sản xuấtnó đòi hỏi người sản xuất luôn luôn có ý thức tìm cách hạ thấp hao phí lao độngcá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Trong lĩnh vực sản xuất :Đối với việc sản xuất một thứ hàng hóa riêngbiệt thì yêu cầu của quy luật giá trị được biểu hiện ở chỗ: hàng hoá của ngườisản xuất muốn bán được trên thị trường, muốn được xã hội thừa nhận thì lượnggiá trị của một hàng hoá cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cầnthiết. Đối với một loại hàng hoá thì yêu cầu quy luật giá trị thể hiện là tổng giátrị của hàng hóa phải phù hợp với nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội . Trong lĩnh vực trao đổi : Việc trao đổi phải tiến hành theo nguyên tắcngang giá. Quy luật giá trị biểu hiện sự hoạt động của mình thông qua sự vậnđộng của giá cả xung quanh giá trị. Giá cả phụ thuộc vào giá trị, giá trị là cơ sởcủa giá cả, những hàng hoá có hao phí lao động lớn thì giá trị của nó lớn dẫn đếngiá cả cao và ngược lại. Đối với mỗi hàng hoá thì giá cả hàng hoá có thể bằnghoặc nhỏ hơn hoặc lớn hơn giá trị nhưng đối với toàn bộ hàng hóa của xã hội thìchúng ta luôn luôn có tổng giá cả hàng hóa bằng tổng giá trị.
  16. 16. Tác dụng của quy luật giá trị: quy luật giá trị tự phát điều tiết việc sảnxuất và lưu thông hàng hóa thông qua sự biến động của cung - cầu thể hiện quagiá cả trên thị trường. 5.2. Quy luật cung cầu : Cung phản ánh khối lượng sản phẩm hàng hoá được sản xuất và đưa ra thịtrường để thực hiện (để bán). cung do sản xuất quyết định, nó không đồng nhấtvới sản xuất . Cầu phản ánh nhu cầu tiêu dùng có khả năng thanh toán của xã hội. Dođó, cầu không đồng nhất với tiêu dùng, vì nó không phải là nhu cầu tự nhiên,nhu cầu bất kì theo nguyện vọng tiêu dùng chủ quan của con người, mà phụthuộc vào khả năng thanh toán. Cung - Cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thường xuyên tác động lẫnnhau trên thị trường, ở đâu có thị trường thì ở đó có quy luật cung - cầu tồn tạivà hoạt động một cách khách quan. Cung - cầu tác động lẫn nhau: Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu. Cầu xác định khốilượng, chất lượng và chủng loại cung về hàng hoá. những hàng hoá nào đượctiêu thụ thì mới được tái sản xuất. Ngược lại, cung tạo ra cầu, kích thích tăng cầuthông qua phát triển số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá, hình thức, quycách và giá cả của nó. Cung - cầu tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả. Đây là sựtác động phức tạp theo nhiều hướng và nhiều mức độ khác nhau. Quy luật cung - cầu tác động khách quan và rất quan trọng. Nếu nhận thứcđược chúng thì chúng ta vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất kinhdoanh theo chiều hướng có lợi cho quá trình tái sản xuất xã hội. Nhà nước có thểvận dụng quy luật cung - cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh tếnhư: giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêudùng. Để tác động vào các hoạt động kinh tế theo quy luật cung - cầu, duy trìnhững tỷ lệ cân đối cung - cầu một cách lành mạnh và hợp lý. 5.3. Quy luật canh tranh: Cạnh tranh là sự tác động lẫn nhau giữa các nhóm người, giữa người muavà người bán hay giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Hai nhóm này tácđộng lẫn nhau với tư cách là một thể thống nhất, một hợp lực. ở đây cá nhân chỉtác động với tư cách là một bộ phận, một lực lượng xã hội, là một nguyên tử củamột khối. Chính dưới hình thái đó mà cạnh tranh đã vạch rõ cái tính chất xã hộicủa sản xuất và tiêu dùng. Bên canh tranh yếu hơn cả cũng đồng thời là cái bên mà ở đó mỗi cá nhânđều hoạt động một cách độc lập với đông đảo những người cạnh tranh với mìnhvà thường thường là trực tiếp chống lại những người đó. Chính vì sự phụ thuộclẫn nhau giữa một người cạnh tranh cá biệt với những người khác lại càng thêmrõ ràng. Trái lại bên mạnh hơn bao giờ cũng đương đầu với đối phương với tưcách là một chỉnh thể ít nhiều thống nhất.
  17. 17. Người mua làm cho giá thị trường càng thấp, càng tốt. Mỗi người chỉ quantâm đến đồng nghiệp trong chừng mực thấy đi với họ có lợi hơn việc chống lại họ. Khi một bên yếu hơn bên kia thì hành động chung sẽ chấm dứt, mỗi ngườisẽ tự lực xoay sở lấy. Nếu một bên chiếm ưu thế thì mỗi người bên đó đều sẽđược lợi, tất cả diễn ra như là họ cùng nhau thực hiện độc quyền chung vậy. Cạnh tranh như một tất yếu trong nền kinh tế hàng hoá. Cạnh tranh có tácdụng san bằng các giá cả mấp mô để có giá cả trung bình, giá trị thị trường vàgiá cả sản xuất đều hình thành từ cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa cácngành. Tóm lại: Trong cơ chế thị trường, quy luật cạnh tranh như một công cụ,phương tiện gây áp lực cực mạnh thực hiện yêu cầu của quy luật giá trị, cạnhtranh trong một cơ chế vận động chứ không phải cạnh tranh nói chung. 5.4. Quy luật lưu thông tiền tệ : Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật xác định lượng tiền cần cho lưuthông. Lượng tiền cần cho lưu thông chính bằng tỷ số giữa tổng giá cả hàng hoávới tốc độ lưu thông tư bản . Trong thực tế: lượng tiền cần cho lưu thông bằng tỷ số giữa tổng giá cảhàng hóa trừ đi tổng tiền khấu trừ, trừ đi tổng giá cả bán chịu cộng với tổng tiềnthanh toán với tốc độ lưu thông tư bản. Quy luật lưu thông tiền tệ tuân theo các nguyên lý sau: Lưu thông tiền tệ và cơ chế lưu thông tiền tệ do cơ chế lưu thông hànghoá quyết định. Tiền đại diện cho người mua, hàng đại diện cho người bán. Lưu thôngtiền tệ có quan hệ chặt chẽ với tiền - hàng, mua - bán, giá cả - tiền tệ. Kinh tế hàng hoá trên một ý nghĩa nhất định có thể gọi là kinh tế tiền tệ,quyết định cơ chế lưu thông tiền tệ. Mặt khác cơ chế lưu thông tiền tệ còn phụ thuộc vào cơ chế xuất nhậpkhẩu, cơ chế quản lý kim loại quý, cơ chế kinh doanh tiền của ngân hàng. Nếu quy luật canh tranh, quy luật cung - cầu làm giá hàng hoá vận động,san bằng thì quy luật lưu thông tiền tệ giữa mối liên hệ cân bằng giữa hàng vàtiền. Ngoài ra còn một số loại quy luật khác như: quy luật tỷ suất lợi nhuận cóxu hướng giảm, quy luật khủng hoảng kinh tế , quy luật tâm lý… cũng ảnhhưởng đến cơ chế thị trường.II.SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNHHƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨAỞ VIỆT NAM 1. Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN ở nước ta : Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam sẽ được phát triển theo định hướngXHCN. Sự định hướng của xã hội hùng mạnh lấy cơ sở “nhân dân lao động làmchủ, con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng
  18. 18. lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có đIều kiện pháttriển toàn diện cá nhân”. Xã hội có nền kinh tế phát triển cao trên cơ sở khoahọc công nghệ và lực lượng sản xuất hiện đại. Sự định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta là cần thiết vàcó tính khách quan. Xây dựng nền kinh tế thị trường không có gì mâu thuẫn vớiđịnh hướng XHCN. Đại hội đảng VIII đã khẳng định: “ cơ chế thị trường đãphát huy tác dụng đến sự phát triển kinh tế xã hội. Nó chẳng những không đốilập mà còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triểnđất nước theo con đường XHCN ” Ngay từ tháng 8 năm 1979, Nhà nước ta đã chủ trương phát triển sảnxuất hàng hoá. Chỉ thị 1000 của ban bí thư trung ương và quyết định số 25/CPcủa chính phủ năm 1981 đã để cho các hợp tác xã tự chủ trong sản xuất kinhdoanh. Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã khẳng định quá trình từ sảnxuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình chuyển từ nền kinh tế tự cung tựcấp thành nền kinh tế hàng hoá. Điều quan trọng là ở đây chúng ta không chỉthừa nhận từng khâu, từng phần sản phẩm là sản xuất hàng hoá mà là cả một nềnkinh tế hàng hoá coi đó là một quá trình có tính quy luật đi lên sản xuất lớnXHCN ở nước ta. Tuy nhiên, lúc này vẫn coi kế hoạch là đặc trưng số một, quan hệ hànghoá tiền tệ ở vị trí số hai. Đại hội VII của Đảng đã tiế xa hơn, cho rằng “Thị trường có vai trò trựctiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn linh hoạt các mặt hàng quy mô, côngnghệ và hình thức sản xuất kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả cao nhất tronghợp tác và cạnh tranh ”. Rồi “Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theođịnh hướng XHCN đang trở thành cơ chế vận hành nền kinh tế. ” Nền kinh tế Việt Nam đang bước sang một trang mới, một quá trình pháttriển lịch sử mới. Do vậy việc lựa chọn kinh tế thị trường là đúng đắn vì nềnkinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản. Nó làhình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Theo Mác: “sản xuất và trao đổihàng hoá là một nét chung cho hình thái kinh tế xã hội hết sức khác nhau ”. Mặtkhác ở nước ta đã có những bước xây dựng và đạt được một số thành tựu trongquá trình phát triển kinh tế hàng hoá. Nên việc chuyển sang kinh tế thị trường làmột đIều đương nhiên. Mặt khác, kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội có thể dung hoà. Chế độsở hữu không quyết định trực tiếp thể chế kinh tế, thông qua cơ cấu quyền sởhữu tài sản được hình thành bởi một chế độ sở hữu nào đó, tác động gián tiếpđến thể che kinh tế. Vì vậy, trong điều kiện chế độ công hữu XHCN, xã hội cóthể thực hiện đượcthể chế kinh tế thị trường, nếu sở hữu nhà nước được phângiảI thành các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt ( Trong đó nhànước đại diện cho chủ sở hữu nắm giữ quyền chiếm hữu còn quyền sử dụng kinh
  19. 19. doanh trao cho doanh nghiệp ) sẽ hình thành nền kinh tế thị trường. Tuy vậy,trong việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, vấn đề đặt ra làgiải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, rútngắn khoảng cách phân hoá giầu nghèo, giảm bớt thất nghiệp… 2- Các giai đoạn hình thành phát triển kinh tế thị trường theo địnhhướng XHCN ở Việt Nam Quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá theo địnhhướng XHCN ở nước ta là một quan hệ phức tạp, nhiều khó khăn, không nênquan niệm giản đơn và nóng vội cần phải tuân thủ những quy luật của quá trìnhhình thành và phát triển kinhtế thị trường. Gồm các giai đoạn sau: + Giai đoạn quá độ chuyển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầntheođịnh hướng XHCN: Về mặt lịch sử giai đoạn này bắt đầu từ năm 1979 với mốc lịch sử rấtquan trọng là nghị quyết BCHTW lần VI ( khoá IV ), tháng 9 năm 1979. Về mặtlogic thì bắt đầu từ việc hình thành và củng cố những đơn vị sản xuất hàng hoátheo đúng nghĩa nhằm tạo ra mối quan hệ vừa tự chủ vừa lệ thuộc lẫn nhau giữacác chủ thể sản xuất. Giai đoạn nằy mang nội dung chủ yếu là khắc phục tínhhiện vật trong quan hệ trao đổi, hình thành quan hệ hàng hoá tiền tệ. cùng vớinội dung ấy là các giải pháp chủ yếu sau: - Hình thành và củng cố những đơn vị sản xuất hàng hoá nhằm chuyểnquan hệ trao đổi có tính hiện vật sang quan hệ hàng hoá tiền tệ. - Chuyển quan hệ sở hữu có tính đơn nhất sang quan hệ sở hữu có tính đadạng với nhiều hình thức sở hữu khác nhau. - Đổi mới chính sách kinh tế nhằm chuyển các quan hệ kinh tế theo chiềudọc sang các quan hệ kinh tế theo chiều ngang. + Giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo địnhhướng XHCN: Đại hội III của Đảng năm 1986 đã đặt nền móng vững chắc cho quanđIểm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN ởnước ta. Quan đIểm này đã được tái khẳng định rõ hơn ở Đại hội lần thứ VII,VIII của Đảng ta. Gắn với giai đoạn này là nội dung : phát triển và mở rộngquan hệ hàng hoá, tiền tệ tạo đIều kiện cho kinh tế hàng hoá phát triển. Cùngnhững giải pháp chủ yếu: - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đạihoá. Để đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần ổn định của hệ thống kinh tế quốc dân cũng như ổn định chính trị xãhội. Thúc đẩy ngành trọng đIểm mũi nhọn tạo sự tích luỹ đồng bộ để thu hútđược nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào tạo công ăn việc làm cho người laođộng.
  20. 20. - Chủ động tạo điều kiện cần thiết để xây dựng đồng bộ các yếu tố của thịtrường, phát huy những ưu thế và động lực của thị trường đồng thời hạn chếnhững mặt tiêu cực của cơ chế thị trường. Hiện nay ở nước ta thị trường đầu ra của sản xuất, khả năng cạnhtranh của hàng nội địa còn kém nên cần nâng cao chất lượng sản phẩm và phấnđấu giảm giá cả hàng hoá.còn ở thị trường đầu vào của sản xuất cần hình thànhnhanh chóng thị trường tiền vốn và thị trường lao động. Sở dĩ cần như vậy là vìtrình độ thị trường là phản ánh trình độ phát triển của cơ chế hàng hoá, thúc đẩysản xuất hàng hoá phát triển hơn. Nó vừa là đIều kiện vừa là môi trường của sảnxuất - Hoàn thịên và tăng cừng vận dụng các chính sách tài chính và tiền tệ. - Bồi dưỡng và đào tạo càn bộ quản lý doanh nghiệp theo yêu cầu củakinh tế thị trường. - Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước nhằm phát huy những ưa thếkhắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường. + Giai đoạn hình thành và phát triển kinh tế thị trường theo định hướngXHCN: Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là tiền tệ hoặc các quan hệ kinh tế,tạo lập cơ sở kinh tế cho các quy luật kinh tế của kinh tế thị trường phát huy tácdụng một cách đầy đủ, phát triển kinh tế trong nước và hoà nhập với kinh tế thếgiới vơí các giải pháp là: - Phát triển cơ cấu kinh tế mở nhằm hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân.Đâylà giải pháp mang tính thời đại.Dựa trên lợi thế so sánh và chủ quyền nước ta. - Hoàn thiện và phát triển kinh tế thị trường và các yếu tố sản xuất nhằmđáp ứng nhu cầu về vốn, sức lao động và các đIều kiện vật chất khác cho sảnxuất. - Thiết lập cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước-giải pháp quyếtđịnh đến sự hình thanh và phát triển nền kinh tế thị trưởng nước ta. - Lựa chọn chính sách khoa học, công nghệ vì mục tiêu phát triển nhằmkhắc phục sự khan hiếm các nguồn lực đưa nền kinh tế phát triển theo chiều sâu,trong đólao đọng trí tuệ trở thành đặc trưng nổi bật. Như vậy phải đòi hỏi có mộtđội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo và tài năng, tận tuỵ với sự nghiệpxây dựng đất nước. Nói tóm lại,để thành công trong quá trình hình thành xây dựng và pháttriển nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta cần theođúng trình tự cộng các giai đoạn và giải quyết tốt các yêu cầu đặt ra để phát triểnmột cách toàn diện, tránh những thất bại không đáng có. 3. Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường ở nước ta 3.1. Đặc trưng về định hướng mục tiêu của nền kinh tế : Đó là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh. Để đạt được mục tiêu này trước hết phải phát triển mạnh lực lượng sản
  21. 21. xuất động viên mọi nguồn lực xã hội, phát huy cao độ tính năng động, sáng tạocủa toàn dân, khai thác mọi tiềm năng trong nước đi đôi với sử dụng có chọn lọcthành quả và kinh nghiệm quốc tế thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá nhằmsớm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ chế xã hội ở Việt Nam . Trong nền kinh tế thị trường nước ta các hình thức kinh tế và phươngpháp quản lý kinh tế thị trường được sử dụng như một công cụ phương tiện đểđạt tới nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững, ổn định nhằm mục tiêu "dân giàu,nước mạnh", góp phần phát huy mọi tiềm năng, sức lực trong xã hội, tạo điềukiện cho mỗi cá nhân làm giàu cho mình và cho toàn xã hội . Đồng thời với việc khai thác triệt để những mặt tích cực, những lợi thếcủa kinh tế thị trường chúng ta khắc phục, ngăn ngừa, hạn chế những mặt tiêucực phát sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; vừa kích thích sức sản xuấtgiải phóng sức sản xuất, vừa bảo vệ lợi ích của nhân dân và nâng cao địa vị làmchủ của người lao động, vận dụng các quy luật của thị trường để kiên trì thựchiện công bằng xã hội và cải thiện đời sống nhân dân phù hợp với từng bướctăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện công bằng trong phát triển con người. Phát triển công bằng là sự phát triển cho mọi tầng lớp nhân dân có điềukiện để tham gia và được hưởng những thành quả tương xứng với sức lực, khảnăng và trí tuệ của họ bỏ ra, bảo đảm cơ bản cơ hội của người dân tham gia cáchoạt động kinh tế - xã hội . 3.2. Đặc trưng về thể chế kinh tế : Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thể chế của cácchủ thể kinh tế tự do, tự chủ kinh doanh theo pháp luật. Kinh tế thị trường nướcta tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinhtế vừa cạnh tranh, vừa liên kết, hợp tác với nhau nhằm phát triển đạt trình độ xãhội hoá cao. Trong đó khu vực kinh tế Nhà nước có vai trò chủ đạo trong một sốlĩnh vực và một số khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinhtế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước. Các thành phần kinh tế có sự cạnh tranh bình đẳng, mỗi thành phần nhưvậy có xu hướng phát triển khác nhau, lợi ích khác nhau thậm chí đối lập nhau.Vì thế Nhà nước phải có biện pháp hạn chế xu hướng phát triển tự phát, và địnhhướng cho nó phát triển theo xã hội chủ nghĩa . Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường nước ta tồn tại ba loạihình sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Từ bahình thức sở hữu đó hình thành nên nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổchức sản xuất kinh doanh. Do đó không chỉ ra sức phát triển các thành phần kinhtế thuộc chế độ công hữu, mà còn phải khuyến khích phát triển các thành phầnkinh tế thuộc sở hữu tư nhân để hình thành nền kinh tế thị trường rộng lớn baogồm các đơn vị kinh tế thuộc chế độ công hữu, các đơn vị kinh tế tư doanh, cáchình thức hợp tác liên doanh giữa trong và ngoài nước, các hình thức đan xen và
  22. 22. thâm nhập vào nhau giữa các thành phần kinh tế đều có thể tham gia thị trườngvới tư cách chủ thể thị trường bình đẳng. 3.3. Đặc trưng về cơ chế quản lý Trong quản lý điều hành các hoạt động kinh tế phải bảo đảm cho các hoạtđộng của thị trường diễn ra theo nguyên tắc thị trường, tức là phù hợp với quyluật giá trị, quy luật cung cầu, cạnh tranh, hạn chế tối đa các mệnh lệnh hànhchính không cần thiết. Mặt khác, phải làm tốt kế hoạch hoá ở tầm vĩ mô và cáchoạt động định hướng có hệ thống chính sách kinh tế phù hợp để điều tiết hướngdẫn thị trường theo các mục tiêu kinh tế vĩ mô đã chọn. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước tham gia vào các quátrình kinh tế là xu hướng khách quan. Nhưng khác với bản chất của Nhà nước tưsản, Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng Sản. Nền kinh tế ấy đạt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, dưới sự quản lýcủa Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm hạn chế, khắc phục những thấtbại của thị trường thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo mà bản thân thịtrường không làm được . Sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản là nhân tố quyết định nhất bảo đảm địnhhướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường cũng như toàn bộ sự nghiệpphát triển của đất nước. đảng định hướng kinh tế thị trường theo chủ nghĩa xãhội thể hiện ở sự lãnh đạo, việc thực hiện đường lối chính sách kinh tế thị trườngvới mục tiêu vì lợi ích của nhân dân, vì một xã hội công bằng, dân chủ, vănminh. Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế thị trường trướchết và chủ yếu thông qua các biện pháp kinh tế, thông qua chiến lược kinh tế -xã hội, các kế hoạch trung và ngắn hạn cùng với các chính sách thiết thực đểđịnh hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường, bố trí lại cơ cấu kinhtế, bỏ, nuôi dưỡng và phát triển các nguồn lực. Hướng hoạt động của các chủ thểkinh tế thị trường vào các mục tiêu được Nhà nước hoạch định, tạo môi trườngkinh tế - xã hội, khung khổ pháp lý thuận lợi và duy trì môi trường hoà bình ổnđịnh cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, bù đắp sự bất lực của thị trườngbằng cách cung cấp các sản phẩm và dịch vụ công cộng, xây dựng các định chếkinh tế. 3.4. Đặc trưng về quan hệ phân phối: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện chủyếu cơ chế phân phối theo lao động và hiệu quả, đồng thời phân phối theo mứcđóng góp vốn và trí tuệ vào sản xuất kinh doanh. Nhà nước có chính sách điềutiết để tái phân phối hợp lý thông qua phúc lợi xã hội và thực hiện các chínhsách xã hội theo phương châm gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằngxã hội trong các giai đoạn phát triển của nền kinh tế . Nền kinh tế nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu tư liệu sản xuất khác
  23. 23. nhau do đó có nhiều thành phần kinh tế và tương ứng với mỗi thành phần kinh tếđó thì sẽ có các nguyên tắc và hệ thống phân phối phù hợp. Cho nên ở nước tacó nhiều hình thức phân phối. Để đạt tới công bằng trong phân phối thu nhập,chúng ta thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập: phân phối theo kết quảlao động và hiệu quả kinh tế, hiệu suất công tác, phân phối theo mức đóng gópvốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh, phân phối thông qua cácquỹ phúc lợi xã hội, trong đó hình thức phân phối theo kết quả lao động và hiệuquả kinh tế là chủ yếu, đi đôi với chính sách điều tiết thu nhập một cách hợp lýnhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo, vừa khuyến khích lao độn,vừa bảo đảm những phúc lợi xã hội cơ bản. 3.5. Đặc trưng về vai trò quảnlý của Nhà nước : Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được quản lý ( Tổchức, hướng dẫn, nuôi dưỡng, giám sát bởi Nhà nước của dân, do dân, vì dân)bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là nhân tố quyết địnhnhất nhằm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Muốn vậy, phải xây dựng nhànước mạnh và trong sạch, có khả năng thường xuyên tự đổi mới để hướng nềnkinh tế thị trường tới văn minh, hiện đại, không xa rời các mục tiêu định hướngđã chọn. Xây dựng và xác định các đặc trưng nêu trên gắn liền với một nhận thứchoàn toàn mới về chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh là " dân giàu,nước mạnh, tiến lên hiện đại đi liền với dân chủ, tự do, tiến bộ và công bằng xãhội". Trong bước quá độ tương đối dài để đạt được mục tiêu cuối cùng đó, nềnkinh tế thị trường là con đường duy nhất chúng ta không thể bỏ qua để hiện đạihoá đất nước. Khác với trước đây trong cơ chế cũ thì nền kinh tế nước ta là một nềnkinh tế khép kín, không có quan hệ giao lưu với bên ngoài, còn hiện nay trongcơ chế mới chúng ta chủ trương xây dựng nền kinh tế mở cửa hội nhập bênngoài, tham gia vào sự phân công hợp tác quốc tế, việc làm đó nhằm tranh thủnhững nguồn vốn và những công nghệ tiên tiến của nước ngoài để đẩy nhanh sựnghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta sửdụng cơ chế thị trường để kích thích sản xuất, phát huy tính năng động, sáng tạocủa người lao động, giải phóng sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế, thúcđẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Đồng thời chúng ta lãnh đạo, quản lý nềnkinh tế phát triển đúng hướng đi lên chủ nghĩa xã hội để khắc phục thất bại củathị trường, thực hiện các mục tiêu xã hội, nhân đạo mà bản thân thị trườngkhông có được. Nhà nước phải bằng chính sách, công cụ quản lý vĩ mô và tiềmlực kinh tế của mình để duy trì những cân đối lớn của nền kinh tế nhằm khắcphục những yếu kém của4. Một số giải pháp để tiếp tục giữ vững định hướng XHCN trong phát triểnkttt của nước ta trong giai đọan tới:
  24. 24. 4.1. Các biện pháp đảm bảo định hướng XHCN trong phát triển kinhtế thị trường. Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là một tiến trìnhphức tạp lâu dài và khó khăn. khi hình thành nền kinh tế thị trường cơ cấu xã hộitrở nên phức tạp và khó nắm bắt, đồng thời nếu như không định hướng tốt thì cơchế thị trường sẽ bị chệch hướng. Do đó để tiếp tục giữ vững định hướng XHCNtrong khi đổi mới cơ chế cần thực hiện một số giải pháp cơ bản nhằm đảm bảosự phát triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời phaỉ giữ đúng hướngđi của nền kinh tế. Giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu trên chính là việcđề cao vai trò của kinh tế nhà nước, bên cạnh đó là các thành phần kinh tế tưnhân, cá thể được phát triển mạnh, cần phát huy tính tích cực định hướng nềnkinh tế của các thành phần kinh tế nhà nước. Muốn làm được những điều ấy cần: Một là: Giữ vững quyền sở hữu trong tay nhà nước- chỉ nhà nước làduy nhất có chủ quyền sở hữu toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Hai là: Nhà nước xác định rõ những ngành kinh tế, những lĩnh vực màkinh tế quốc doanh cần dữ vai trò chủ đạo. Đó là những ngành, những lĩnh vựcđảm bảo sự chi phối hoạt động thống nhất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân,đảm bảo cho an ninh quốc gia và an toàn xã hội như: hệ thống cảng biển, sânbay, đường sắt, quản lý mạng lưới đường quốc lộ, hệ thống phân phối đIện quốcgia, liên lạc viễn thông, hệ thống quỹ dự trữ quốc gia, các cơ sở kinh tế phục vụquốc phòng an ninh, những cơ sở phục vụ công cộng đảm bảo nhu cầu sinh hoạtthường xuyên của nhân dân… Ba là: Nhà nước đầu tư xây dựng mạnh các xí nghiệp quốc doanhkhẳng định cần tồn tại để mau chóng vượt lên và đứng vững trên thị trường, cơsở vật chất, trang thiết bị công nghệ, tổ chức quản lý sản xuất của các xí nghiệpquốc doanh được đầu tư xứng đáng từ đó đứng vững trong cạnh tranh với cácdoanh nghiệp tư nhân. Bốn là: Hỗ trợ việc xây dựng và hoạt động của kinh tế HTX trong cácngành và lĩnh vực kinh tế với đa dạng hình thức tổ chức và hoạt động bảo đảmđúng với các nguyên tắc hợp tác vì lợi ích tập thể. Năm là: Tổ chức lại hệ thống thương nghiệp quốc doanh và HTX muabán nhằm cung ứng hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm cho các vùng miền núi vàtrung du, các vùng đồng bào đân tộc ít người, xa xôi hẻo lành, hải đảo…để đảmbảo công bằng xã hội và các mục tiêu kinh tế – xã hội – chính trị trong pháttriển, bảo vệ quyền lợi của người lao động. Sáu là: Có các chính sách kích thích cạnh tranh lành mạnh, khuyếnkhích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ. Từ đó nâng caochất lượng sản phẩm, dịch vụ. Đồng thời có những chính sách ngăn chặn nhữnghoạt động làm hàng giả, hàng kém phẩm chất cấm nhập thiết bị công nghệ cũ –thuộc diện đào thải của nước ngoài.
  25. 25. Bảy là: Thực hiện hệ thống chính sách xã hội để hạn chế bớt những tácđộng xấu của kinh tế thị trường đến đời sống của các tầng lớp nhân dân, đảmbảo xã hội đối với từng đối tượng lao động, chính sách ưu đãi với những ngườicó công với đất nước, chính sách bảo trợ xã hội với những người có nhiều khókhăn thua thiệt vì tật nguyền,cô đơn vô gia cư,những dân tộc ít người… Tám là: Xây dưng và tuyên truyền giáo dục thự hiện các hành vi và tháiđộ ứng xử có văn hoá, đạo đức lành mạnh trong các hoạt động sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ, phục vụ, quản lí đời sống xã hội. Những biện pháp vừa đảm bảo yêu cầu trong đường lối lãnh đạo củaĐảng, trong chức năng quản lý của nhà nước vừa đáp ứng được mong muốn củamọi người dân được sống ngày càng hạnh phúc trong xã hội có kinh tế pháttriển, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh định hướng XHCN đượcgiữ vững. Tuy nhiên để các biện pháp này được thực hiện một cách triệt để và cóhiệu quả thì cần đề cao vai trò quản lý của nhà nước trong quá trình thực hiệnđịnh hướng XHCN. 4.2.Vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN: Trước đây do sai lầm về nhận thức, ta gắn kinh tế thị trường với CNTBlà đối lập với kế hoạch hoá và áp dụng máy móc mô hình quản lý kinh tế tậptrung, bỏ qua con đường sản xuất hàng hoá và duy trì khá dài kiểu sản xuất tựcung tự cấp. Việc trao đổi hàng hoá bị hạn chế trong phạm vi quốc gia và giữacác nước XHCN với nhau dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Đó chính là lý do vì saota cần phải đổi mới và kết quả ban đầu của sự đổi mới khẳng định sự sáng tạocủa toàn dân ta và tư duy của Đảng. CNXH là ước mơ của dân ta từ lâu và là ý tưởng của Đảng, nó bao trùmtrong cấu trúc về chính trị – kinh tế – xã hội, không để tách bạch những đặctrưng của nó trong hệ thống mục tiêu, cơ cấu và cơ chế kinh tế mà chúng tahướng tới: đó là dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, văn minh và dân chủ. Giai đoạn hiện nay ở nước ta vừa phải có tốc độ tăng trưởng kinh tế vừaphải giải quyết chống nghèo nàn và thất nghiệp. Do đó các nhân tố xã hội phảithường xuyên giải quyết đi liền với các nhân tố kinh tế để đảm bảo tốc độ tăngtrưởng kinh tế. Phát triển kinh tế là nguồn gốc của cho sự phát triển xã hội vàngược lại, phát triển xã hội chính là động lực cho sự phát triển kinh tế. Nhà nước cần đIều chỉnh các hình thức sở hữu và cách phân phối sẽ tạo ramột cơ chế kinh tế mới trong nền kinh tế nước ta. Đồng thời phải đầu tư pháttriển các doanh nghiệp cùng các thành phần kinh tế khác để hỗ trợ, giảI quyếtviệc làm góp phần giải quyết việc làm và làm phát triển kinh tế. HTX phải đượcphát triển trên nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng dưới dạng cổ phần và liêndoanh…, kinh tế tư nhân được phát triển bình đẳng và có thể đan xen vào cácthành phần kinh tế khác. Quá trình vận nền kinh tế ở nước ta sẽ tạo một cơ cấu kinh tế mới, cơ cấu
  26. 26. đó có một phần do tự đIều chỉnh và một phần do Nhà Nước đIều tiết để có sự ổnđịnh và cân bằng mới. Đặc tính của cơ cấu kinh tế này là nó phải thể hiện đượctính xã hội hoá ngày càng cao, tính cộng đồng trong sản xuất, kinh doanh ngàycàng mở rộng, quy mô các loại và công trình công cộng ngày càng lớn và đượcsử dụng có hiệu quả gắn chặt với tốc độ phát triển kinh tế. Nhà Nước với chức năng của mình sẽ góp phần tích cực tạo lập, nuôidưỡng và quản lý nền kinh tế là đặc trưng quan trọng trong cơ chế thị kinh tếtrường ở nước ta, đảm bảo công bằng, ổn định và tăng trưởng. Cơ chế thị trường có khả năng tự điều chỉnh nền kinh tế phát triểnnhưng nó có những khuyết tật là sự phân biệt giàu nghèo, môi trường và phúclợi xã hội. Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước để kinh tế phát triển theođúng hướng của nó. Nhà nước ta được hình thành và phát triển do quá trình đấu tranhcách mạng của nhân dân ta, nhà nước đó phải mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc.Bởi vậy nó phải đóng vai trò bà đỡ giúp cho thị trường phát triển đúng hướngbằng hệ thống pháp luật bảo vệ quyền tự do, dân chủ,sự công bằng xã hội. Chúng ta đi vào nền kinh tế thị trường có nhiều thử thách nhưng cũngcó những thuận lợi và cơ hội tốt. Hiện tại sự cách biệt trong nền kinh tế nước tagiữa các tầng lớp dân cư là không quá lớn, khoảng chách giữa giàu và nghèo làkhông quá xa. Cần khuyến khích mọi người làm giàu một cách chân chính, cấmsự phi đạo đức ảnh hưởng đến đời sống của toàn xã hội. Quá trình chuyển nền kinh tế ta vận động theo cơ chế thị trường có sự quảnlý của Nhà Nước theo định hướng XHCN là kết quả lao động trí tuệ do quầnchúng nhân dân sáng tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng ta. Con đường đI lên cònphải trải qua nhiều thử thách và cam go nhưng đoàn kết trong cộng đồng đân tộcsẽ tạo ra sự phát triển và ổn định về mọi mặt. Đó là nhân tố để phát triển bềnvững đất nước nền kinh tế thị trường. C. KẾT LUẬN: Việt Nam hiện nay trong giai đoạn quá độ lên CNXH đó là một thời kỳphức tạp và đầy biến động, một thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng choCNXH để hoàn thành cách mạng dân dân chủ. Với điểm xuất phát thấp, điều kiện kinh tế khó khăn và có nhiều trở ngại.Muốn phát triển kinh tế bền vững ta thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xãhội là một tất yếu và cần thiết. Để tiếp tục thực hiện ta cần có định hướng chonền kinh tế phát triển, nhất là nền KTTT buộc nó phải đi theo con đường màchúng ta lựa chọn đó là xây dựng CNXH. Chính vì vậy chính sách phát triển củanền kinh tế thị trường có sự định hướng XHCN là một yêu cầu cấp thiết và hợplý của quy luật phát triển, nó thể hiện tư tưởng tiến bộ, sáng suốt của Đảng.Trong khi thực hiện từng bước sự chuyển đổi này chúng ta phải giữ vững địnhhướng XHCN, đứng ngang tầm với mục tiêu phát triển kinh tế. Muốn vậy cần
  27. 27. phải ngày càng hoàn chỉnh bộ máy Nhà Nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật,đảm bảo đưa nước ta đi theo con đường XHCN như đã chọn.
  28. 28. D.TÀI LIỆU THAM KHẢO• Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin _ Bộ giáo dục và đào tạo.• Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin _ NXB Chính trị quốc gia2002.• Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác - Lênin_ NXB Chính trị quốc gia1999.• Văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX.• Kinh tế học _ Sammuelson.• Các Mác: Tư bản quyển I phần I; quyển III tập 2 _ NXB Sự thật 1963• Các Mác: Phê phán cương lĩnh Gôta _ NXB Sự thật 1983• Một số vấn đề lý luận kinh tế chính trị và phát triển kinh tế Việt Nam _NXB Chính trị quốc gia 1997.• Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa _ NXB Thống kê 1995• Khoa học công nghệ và kinh tế thị trường ở Việt Nam ( Phan Thanh Phố - Nhà xuất bản khoa học _ kỹ thuật).• Mai Hữu Thực: Về đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam- Tạp chí cộnh sản số 4 tháng 2/ 2000• Trần Xuân Trường : Định hướng XHCN - một số vấn đề lý luận cấp bách- Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia Hà Nội 1996.• Tạp chí kinh tế và phát triển số 11,13 năm 1996.
  29. 29. MỤC LỤCA. Lời nói đầu..................................................................................................1B. Nội dung.......................................................................................................2I. Những vấn đề lý luận chung về nền kinh tế thị trường..................................21. Khái niệm kinh tế thị trường.........................................................................22. Các quy luật hình thành, phát triển kinh tế thị trường...................................22.1. Vấn đề phân công lao động xã hội.............................................................22.2. Quá trình tự do hoá kinh tế qua đa dạng hoá các hình thức sở hữu.........52.3. Phát triển khoa học - kỹ thuật công nghệ..................................................63. Các bước phát triển của kinh tế thị trường....................................................83.1. Từ nền kinh tế tự nhiên chuyển sang nền kinh tế hàng hoá giản đơn........83.2. Từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn chuyển sang nền kinh tế tự docổ điển...............................................................................................................93.3 Từ nền kinh tế thị trường tự do chuyển sang nền kinh tế thị trườnghỗn hợp............................................................................................................114. Các nhân tố của cơ chế thị trường...............................................................114.1. Cung - cầu hàng hoá ...............................................................................124.2. Giá cả.......................................................................................................124.3. Cạnh tranh...............................................................................................134.4. Tiền tệ.......................................................................................................134.5. Lợi nhuận.................................................................................................145. Các quy luật của kinh tế thị trường.............................................................145.1. Quy luật giá trị.........................................................................................145.2. Quy luật cung cầu....................................................................................155.3. Quy luật canh tranh.................................................................................165.4. Quy luật lưu thông tiền tệ.........................................................................16II. Sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam ...........................................................................................171. Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường định hướngXHCN ở nước ta..............................................................................................172. Các giai đoạn hình thành phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCNở Việt Nam .....................................................................................................183. Những đặc trưng của nền kinh tế thị trường ở nước ta................................20
  30. 30. 3.1. Đặc trưng về định hướng mục tiêu của nền kinh tế ................................203.2. Ānder1

×