Your SlideShare is downloading. ×
đề tài "Công ty hợp danh, chế độ pháp lý thành lập hoạt động"
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×
Saving this for later? Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime – even offline.
Text the download link to your phone
Standard text messaging rates apply

đề tài "Công ty hợp danh, chế độ pháp lý thành lập hoạt động"

4,367
views

Published on

LỜI NÓI ĐẦU. Sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường nước ta từ tập trung baocấp sang phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần tạo nên bướcngoặt lớn trong sự đi lên của nền kinh tế đất …

LỜI NÓI ĐẦU. Sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường nước ta từ tập trung baocấp sang phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần tạo nên bướcngoặt lớn trong sự đi lên của nền kinh tế đất nước, trong thời kỳ quá độ lênChủ nghĩa xã hội. Sự chuyển đổi này có ý nghĩa quan trọng tạo tiền đề chocông cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay. Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho tình hình mới của nền kinh tế đấtnước, đó là nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, cần phải có sựthay đổi căn bản về pháp luật kinh doanh, điều chỉnh môi trường hoạt độngkinh doanh cho phù hợp với xu thế mới của đất nước cũng như trên thếgiới. Ngày 12-6-1999 Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội nước ta thôngqua ban hành trong đó qui định thủ tục thành lập, hoạt động của các loạihình doanh nghiệp như Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH cóhai thành viên trở lên, Công ty cổ phần, công ty tư nhân, công ty hợp danh. Trong đó có sự xuất hiện của loại hình doanh nghiệp mới là công tyhợp danh. Việc có mặt của loại hình doanh nghiệp này đã mở rộng sự lựachọn hơn nữa cho các nhà kinh doanh, thu hút được nguồn vốn trong cũngnhư ngoài nước, mở rộng hợp tác quốc tế trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên, những qui định của Luật Doanh nghiệp về thủ tục thànhlập, hoạt động cuả công ty hợp danh vẫn còn hạn chế, loại hình doanhnghiệp này ở nước ta còn chậm phát triển. Do vậy cần có sự hoàn thiện hơnnữa về chế độ pháp lý cũng như việc thúc đẩy loại hình doanh nghiệp nàyphát triển rộng rãi ở nước ta. Vì lý do trên tôi thực hiện đề tài "Công ty hợpdanh, chế độ pháp lý thành lập hoạt động". Nội dung đề tài gồm 3 phần - Khái quát chung về công ty. - Chế độ pháp lý thành lập và hoạt động công ty hợp danh ở ViệtNam. - Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ pháp lý về thành lập vàhoạt động của công ty hợp danh.Đỗ Hữu Chiến 1 Luật kinh doanh 41 - A

Published in: Education

0 Comments
4 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
4,367
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
0
Likes
4
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com LỜI NÓI ĐẦU. Sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường nước ta từ tập trung baocấp sang phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần tạo nên bướcngoặt lớn trong sự đi lên của nền kinh tế đất nước, trong thời kỳ quá độ lênChủ nghĩa xã hội. Sự chuyển đổi này có ý nghĩa quan trọng tạo tiền đề chocông cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay. Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết cho tình hình mới của nền kinh tế đấtnước, đó là nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, cần phải có sựthay đổi căn bản về pháp luật kinh doanh, điều chỉnh môi trường hoạt độngkinh doanh cho phù hợp với xu thế mới của đất nước cũng như trên thếgiới. Ngày 12-6-1999 Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội nước ta thôngqua ban hành trong đó qui định thủ tục thành lập, hoạt động của các loạihình doanh nghiệp như Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH cóhai thành viên trở lên, Công ty cổ phần, công ty tư nhân, công ty hợp danh. Trong đó có sự xuất hiện của loại hình doanh nghiệp mới là công tyhợp danh. Việc có mặt của loại hình doanh nghiệp này đã mở rộng sự lựachọn hơn nữa cho các nhà kinh doanh, thu hút được nguồn vốn trong cũngnhư ngoài nước, mở rộng hợp tác quốc tế trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên, những qui định của Luật Doanh nghiệp về thủ tục thànhlập, hoạt động cuả công ty hợp danh vẫn còn hạn chế, loại hình doanhnghiệp này ở nước ta còn chậm phát triển. Do vậy cần có sự hoàn thiện hơnnữa về chế độ pháp lý cũng như việc thúc đẩy loại hình doanh nghiệp nàyphát triển rộng rãi ở nước ta. Vì lý do trên tôi thực hiện đề tài "Công ty hợpdanh, chế độ pháp lý thành lập hoạt động". Nội dung đề tài gồm 3 phần - Khái quát chung về công ty. - Chế độ pháp lý thành lập và hoạt động công ty hợp danh ở ViệtNam. - Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ pháp lý về thành lập vàhoạt động của công ty hợp danh.Đỗ Hữu Chiến 1 Luật kinh doanh 41 - A
  • 2. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comI. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY.1. Sự ra đời và phát triển. Thuật ngữ công ty có thể được xem xét trên nhiều khía cạnh khácnhau. Xét dưới góc độ kinh tế, công ty là tổ chức chuyên hoạt động kinhdoanh thương nghiệp, dịch vụ. Điều này cho phép phân biệt công ty với cácloại hình khác như nhà máy, xí nghiệp là các đơn vị kinh tế chuyên sảnxuất. Xét dưới góc độ pháp lý, công ty có thể hiểu là sự liên kết của nhiềungười (cá nhân hay pháp nhân) bằng một sự kiện pháp lý, trong đó các bênthoả thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của họ nhằm tiến hànhcác hoạt động để đạt mục tiêu chung. Sự ra đời của công ty gắn chặt với sự ra đời và phát triển của nềnkinh tế thị trường. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường tạo ra sức cạnhtranh lớn. Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càngkhốc liệt như vậy buộc các nhà tư bản phải tìm mọi cách để giảm thiểu chiphí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất lao động, chấtlượng sản phẩm không ngừng được nâng cao để có thể đứng vững trên thịtrường. Để làm được điều này các nhà tư bản đã kéo dài thời gian lao độngcủa công nhân để tăng khối lượng sản phẩm. Tuy nhiên cách làm nàykhông phải là tối ưu vì thời gian trong ngày là có hạn hơn nữa việc kéo dàingày lao động gặp phải sự kháng cự ngày càng lớn của công nhân do đóphương thức này chỉ áp dụng giai đoạn đầu. Sự phát triển của khoa họccông nghệ cho thấy áp dụng những thành tựu này vào lĩnh vực công nghiệplà tối ưu hơn cả trong việc nâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành sảnphẩm cũng như nâng cao chất lượng sản phẩm và các nhà tư bản đã chọnphương thức này. Nhưng để làm được việc này cần phải có vốn đầu tư banđầu lớn, điều này chỉ có những nhà tư bản lớn mới có thể tự mình thực hiệnđược, còn các nhà tư bản vừa và nhỏ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc ápdụng các thành tựu công nghệ do có vốn hạn hẹp. Vì vậy khả năng cạnhtranh với các nhà tư bản lớn là gần như không thể dẫn tới thua lỗ, phá sảnlà không tránh khỏi. Để khắc phục yếu điểm về vốn, các nhà tư bản vừa vànhỏ có sự hợp tác, liên minh với nhau bằng cách góp vốn, khả năng của họĐỗ Hữu Chiến 2 Luật kinh doanh 41 - A
  • 3. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđể có thể đứng vững được trên thị trường. Sự liên kết này đã tạo nên nềntảng cho sự ra đời của công ty. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển hơn đã thúc đẩy nền kinhtế tư bản phát triển một cách vựơt bậc. Trong hoạt động kinh tế có nhiềungành nghề kinh doanh mới xuất hiện với lợi nhuận thu về lớn làm cho sựcạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, đối với các nhà tư bản vừa vànhỏ việc góp vốn kinh doanh là nhu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết trongcuộc đương đầu với các nhà tư bản lớn. Sự góp vốn đó đã làm xuất hiệnhình thức công ty. Trong hoạt động của nền kinh tế thị trường việc gặp các rủi ro trongkinh doanh là điều không tránh khỏi và có thể dẫn tới phá sản. Chính vìđiều này, để giảm rủi ro các chủ thể kinh doanh đã phân chia rủi ro bằngcách cùng góp vốn kinh doanh. Việc góp vốn để phân chia rủi ro đã làmcho công ty ra đời. Sự ra đời và phát triển của công ty mang tính kháchquan trong nền kinh tế thị trường. Công ty ra đời là hình thức kinh doanhcó nhiều ưu điểm hơn các hình thức khác như tập trung đựơc nguồn vốnlớn, giảm thiểu đựoc rủi ro và tạo điều kiện cho người ít vốn, nhữg ngườikhông đủ khả năng tự mình kinh doanh có cơ hội được tham gia hoạt độngkinh doanh bằng cách góp vốn. Sự ra đời của các loại công ty đã kéo theo yêu cầu phải hình thànhmột hệ thống luật pháp về công ty, điều chỉnh quá trình thành lập và hoạtđộng tạo ra môi trường kinh tế ổn định.2. Khái niệm và đặc điểm chung.2.1. Khái niệm. Trong khoa học pháp lý, khi nghiên cứu, tìm hiểu về công ty, phápluật các quốc gia trên thế giới đưa ra không ít khái niệm. Theo khái niệm của Pháp “công ty là một hợp đồng thông qua đóhai hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng củamình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạtđộng đó”. Theo luật của bang Georgia – Mỹ “một công ty là một pháp nhânđược tạo ra bởi luật định nhằm một mục đích chung nào đó nhưng có thờiĐỗ Hữu Chiến 3 Luật kinh doanh 41 - A
  • 4. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comhạn về thời gian tồn tại, về quyền hạn, về nghĩa vụ và các hoạt động đượcấn định trong điều lệ”. Theo luật của bang Lousiana – Mỹ “một công ty là một thực thểđược tạo ra bởi luật định bao gồm một hoặc nhiều cá thể dưới một tênchung. Những thành viên có thể kế nghiệp lẫn nhau, vì thế công ty là mộtkhối thống nhất. Tuy nhiên sự thay đổi của những các thể trong công ty chomột mục đích cụ thể nào đó được xem xét như một con người cụ thể”. Qua một số khái niệm trên ta thấy chúng có những nét tương đồng,bên cạnh đó cũng có những điểm khác nhau. Nhưng tổng hợp chung lại cókhái niệm tổng quát như sau: “Công ty là sự liên kết của hai hay nhiều người (cá nhân hay phápnhân) bằng một sự kiện pháp lí trong đó các bên thoả thuận với nhau sửdụng tài sản hay khả năng của họ nhằm tiến hành các hoạt động để đạt mụctiêu chung”.2.2. Đặc điểm chung của công ty: Qua nghiên cứu quá trình ra đời và phát triển, cũng như qua cácquan niệm khác nhau về công ty nhưng nhìn chung có thể thấy công ty cónhững đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, công ty phải do hai chủ thể trở lên liên kết thành lập.Việc liên kết này giữa các chủ thể được thực hiện thông qua một sự kiệnpháp lí như điều lệ công ty, hợp đồng hợp tác... trong đó các bên có sự thoảthuận, kí kết cùng thực hiện. Thứ hai, các thành viên phải đóng góp có tính chất tài sản vào côngty. Trong đó ngoài các loại tài sản bằng hiện vật như tiền, đất đai, nhàxưởng, kho bãi, có thể đóng góp bằng những loại khác mang tính chất tàisản vô hình như bằng công sức (khả năng), uy tín kinh doanh hay các giátrị tinh thần khác. Thứ ba, công ty được thành lập thông qua sự thoả thuận nhất trí củacác thành viên nhằm thực hiện hoạt động nào đó để đạt được mục đíchchung đã đề ra. Như vậy công ty cùng với pháp luật về công ty đã có lịchsử phát triển lâu dài. Có thể nói, sự ra đời của công ty là quy luật kháchquan của nền kinh tế thị trường, đáp ứng được không chỉ yêu cầu của cácĐỗ Hữu Chiến 4 Luật kinh doanh 41 - A
  • 5. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnhà kinh doanh, mà còn đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế. Sự ra đờicủa công ty chính là kết quả của việc thực hiện nguyên tắc tự do kinhdoanh, tự do khế ước.3. Phân loại công ty. Trên thế giới hiện nay có nhiều cách phân loại công ty khác nhau ởcác nước khác nhau nhưng cách xác định mô hình công ty phổ biến nhấtmà các nhà khoa học pháp lí thường sử dụng là dựa vào tính chất của sựliên kết và chế độ trách nhiệm của các thành viên công ty. Theo cách nàycông ty được chia làm hai loại: công ty đối nhân và công ty đối vốn.3.1. Công ty đối nhân. Công ty đối nhân được thành lập trên cơ sở sự thân cận, tín nhiệmlẫn nhau giữa các thành viên là chính, việc góp vốn chỉ là thứ yếu. Nhữngcông ty đối nhân xuất hiện đầu tiên ở một số nước ở châu Âu nơi có điềukiện thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán. Hiện nay điển hình nhất cho loạicông ty đối nhân là công ty hợp danh. Nói chung ở trên thế giới theo phápluật kinh doanh của các nước thì công ty đối nhân không có tư cách phápnhân, bởi tài sản của các thành viên và taì sản của công ty không có sự táchbiệt rõ ràng, công ty đối nhân có trách nhiệm vô hạn về trách nhiệm củamình.3.2. Công ty đối vốn. Công ty đối vốn là loại hình công ty phổ biến nhất hiện nay, công tyđược thành lập trên cơ sở góp vốn của các thành viên. Khác với công ty đốinhân, công ty đối vốn khi thành lập không quan tâm dến nhân thân củangười góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của họ. Quyền lợi củamỗi thành viên phụ thuộc vào phần vốn góp của họ, điều này cũng tươngđương với việc gánh vác nghĩa vụ. Công ty đối vốn là công ty có tư cáchpháp nhân. Một công ty đối vốn hiện nay như công ty TNHH, công ty cổphần. 4. Một số mô hình công ty hợp danh trên thế giới. Công ty là loại hình công ty phát triển phổ biến ở các nước có nềnkinh tế thị trường phát triển như Đức, Mỹ...Đỗ Hữu Chiến 5 Luật kinh doanh 41 - A
  • 6. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comII. CÔNG TY HỢP DANH, QUY CHẾ PHÁP LÍ THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG Ở VIỆT NAM.1. Khái niệm, đặc điểm công ty hợp danh.1.1. Khái niệm công ty hợp danh. Công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân trong đó phải có ítnhất hai thành viên hợp danh trở lên và các thành viên hợp danh phải chịutrách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của doanh nghiệp.1.2. Các đặc điểm của công ty hợp danh. - Phải ít nhất có hai thành viên hợp danh, ngoaì các thành viên hợp danh có thể có các thành viên góp vốn. - Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp, phải chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty. - Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty. - Công ty hợp danh không được phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu).1.3. Các loại công ty hợp danh. Căn cứ vào các đặc điểm của công ty hợp danh ta có thể nhậ thấycó hai loại công ty hợp danh. Thứ nhất là công ty hợp danh mà tất cả các thành viên đều là thànhviên hợp danh. Thứ hai là công ty hợ danh ngoài các thành viên hợp danh còn cócác thành viên góp vốn.2. Quy chế pháp lí thành lập và hoạt động của công ty hợp danh. Quy chế pháp lí thành lập và hoạt động của công ty hợp danh đượcquy định trong Luật Doanh nghiệp 12/6/1999 và được chi tiết hoá tại Nghịđịnh của Chính phủ số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 về đăng kí kinhdoanh và Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thihành một số điều của Luật Doanh nghiệp.Đỗ Hữu Chiến 6 Luật kinh doanh 41 - A
  • 7. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comII.1. Thủ tục thành lập công ty hợp danh. Theo Điều 12 Luật Doanh nghiệp 12/6/1999 quy định trình tự thànhlập doanh nghiệp nói chung như sau: “Người thành lập doanh nghiệp phải lập và nộp đủ hồ sơ đăng kíkinh doanh theo quy định của Luật này tại cơ quan đăng kí kinh doanhthuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đặttrụ sở chính và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nộidung đăng kí kinh doanh”. Cũng theo Điều 12 thì “cơ quan đăng kí kinh doanh không cóquyền yêu cầu ngưòi thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ, hồ sơkhác ngoài hồ sơ quy định tại luật này đối với từng loại hình doanh nghiệp .Cơ quan đăng kí kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơđăng kí kinh doanh” . Việc thành lập công ty hợp danh tuân theo đúng trình tự nêu trên.II.1.1. Hồ sơ đăng kí kinh doanh đối với công ty hợp danh.Được quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày03/02/2000 bao gồm: - Đơn đăng kí kinh doanh lập theo mẫu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định - Điều lệ công ty . - Danh sách thành viên hợp danh. Đối với công ty kinh doanh các ngành, nghề đòi hỏi phải có vốnpháp định thì phải có thêm xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặcchứng chỉ hợp pháp chứng minh về số vốn của công ty. Đối với công ty kinh doanh các ngành nghề phải có chứng chỉ hànhnghề thì phải có thêm bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của các thànhviên hợp danh.2.1.2. Trình tự và thủ tục đăng kí kinh doanh. Theo Điều 8 Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 trình tựvà thủ tục đăng kí kinh doanh đối với công ty hợp danh như sau:Đỗ Hữu Chiến 7 Luật kinh doanh 41 - A
  • 8. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Người thành lập doanh nghiệp hoặc người đại diện nộp đủ hồ sơnêu trên tại Phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sởchính. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm vềtính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đăng kí kinh doanh. Phòngđăng kí kinh doanh cấp tỉnh không đựơc yêu cầu người thành lập doanhnghiệp nộp thêm bất cứ giấy tờ nào khác ngoài hồ sơ nêu trên. Phòng đăngkí kinh doanh cấp tỉnh thực hiện việc tiếp nhận đơn, hồ sơ đăng kí kinhdoanh và phải giao giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.Phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng kí kinhdoanh cho doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ nếu: - Ngành, nghề kinh doanh không thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh. - Tên doanh nghiệp được đặt đúng theo quy định của pháp luật (Điều 24 khoản 1 Luật Doanh nghiệp ). - Hồ sơ đăng kí kinh doanh hợp lệ theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Doanh nghiệp . - Nộp đủ lệ phí đăng kí kinh doanh theo quy định. Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, doanhnghiệp được khắc dấu và có quyền được sử dụng con dấu của mình. Trường hợp vi phạm một trong các điều kiện nêu trên thì Phòngđăng kí kinh doanh phải thông báo ngay cho người thành lập doanh nghiệpbiết bằng văn bản trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, nêunội dung cần sửa đổi và cách thức cần sửa đổi. Quá thời hạn nói trên màkhông có thông báo thì tên của doanh nghiệp coi như được chấp nhận, hồsơ đăng kí kinh doanh đựơc coi là hợp lệ. Nếu sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ đăng kí kinh doanh màkhông nhận được giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh thì người thành lậpdoanh nghiệp có quyền khiếu nại đến Phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh,nơi tiếp nhận hồ sơ đănh kí kinh doanh. Sau thời hạn 7 ngày kể từ ngày nộpđơn khiếu nại mà không nhận được trả lời của Phòng đăng kí kinh doanhcấp tỉnh thì người thành lập doanh nghiệp có quyền khiếu nại lên UBNDcấp tỉnh hoặc kiện ra toà hành chính cấp tỉnh nơi nộp hồ sơ đăng kí kinhdoanh theo quy định của pháp luật.Đỗ Hữu Chiến 8 Luật kinh doanh 41 - A
  • 9. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, doanhnghiệp có quyền hoạt động kinh doanh mà không cần phải xin phép bất cứcơ quan nhà nước nào, trừ trường hợp doanh nghiệp kinh doanh ngành,nghề phải có điều kiện. Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh do Phòng đăng kí kinh doanhcấp tỉnh cấp có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc.2.2. Địa vị pháp lí của công ty hợp danh.2.2.1. Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh. Theo quy định của Điều 27 Nghị định 03/2000/NĐ-CP ngày03/02/2000 các thành viên hợp danh có quyền và nghĩa vụ sau: - Thành viên hợp danh có quyền: + Tham gia thảo luận và biểu quyết về tất cả các công việc của côngty. + Được chia lợi nhuận theo thoả thuận quy định trong điều lệ côngty. + Trực tiếp tham gia quản lí hoạt động kinh doanh của công ty. + Sử dụng tài sản của công ty để phục vụ cho lợi ích của công ty;được hoàn trả lại mọi khoản chi đã thực hiện để phục vụ lợi ích của côngty. + Các quyền khác quy định trong điều lệ công ty. - Thành viên hợp danh có nghĩa vụ: + Góp đủ số vốn đã cam kết vào công ty. + Chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụcủa công ty. + Trường hợp kinh doanh bị thua lỗ thì phải chịu lỗ theo nguyên tắcquy định trong điều lệ công ty. + Khi quản lí hoặc thực hiện hoạt động kinh doanh nhân danh côngty hoặc đại diện cho công ty phải hành động một cách trng thực, mẫn cán,phục vụ lợi ích hợp pháp của công ty. + Chấp hành nội quy và quyết định của công ty. + Thành viên hợp danh không được đồng thời là thành viên hợpdanh của công ty hợp danh khác hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân.Đỗ Hữu Chiến 9 Luật kinh doanh 41 - A
  • 10. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com + Thành viên hợp danh không được tự mình hoặc nhân danh ngưòithứ ba thực hiện hoạt động kinh doanh trong cùng ngành nghề kinh doanhcủa công ty . + Thành viên hợp danh không được nhân danh công ty kí kết hợpđồng, xác lập và thực hiện các giao dịch khác nhằm thu lợi riêng cho cácnhân và cho người khác. + Các nghĩa vụ khác do điều lệ công ty quy định.2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn. Được qui định tại Điều 28 Nghị định 03/2000/NĐ-CP ngày03/02/2000 như sau: - Thành viên góp vốn có quyền: + Tham gia thảo luận và biểu quyết về việc bổ sung, sửa đổi cácquyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn được qui định trong điều lệ côngty; về việc tổ chức lại, giải thể công ty. + Được chuyển nhượng phần vốn góp của mình tại công ty chongười khác nếu điều lệ công ty không qui định khác. + Được chia lợi nhuận, được chia giá trị tài sản còn lại khi công tygiải thể theo điều lệ công ty. + Được nhận thông tin về hoạt động kinh doanh và quản lý công ty,xem sổ kế toán và hồ sơ khác của công ty. + Các quyền khác do điều lệ công ty quy định. - Nghĩa vụ của thành viên góp vốn: + Góp đủ số vốn đã cam kết và chịu trách nhiệm về các khoản nợcủa công ry trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. + Không tham gia quản lý công ty, không được hoạt động kinhdoanh nhân danh công ty. + Chấp hành đúng nội qui và quyết định của công ty. + Nghĩa vụ khác do điều lệ công ty qui định.2.2.3. Tổ chức, quản lý công ty hợp danh. Các vấn đề về tổ chức quản lý công ty hợp danh được qui định tạiĐiều 29 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP nội dung như sau:Đỗ Hữu Chiến 10 Luật kinh doanh 41 - A
  • 11. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên hợp danh, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty. Hội đồng thành viên quyết định tất cả các hoạt động của công ty. Khi biểu quyết, mỗi thành viên hợp danh chỉ có một phiếu. - Quyết định về các vấn đề sau đây phải được tất cả các thành viên hợp danh có quyền biều quyết chấp nhận: + Cử giám đốc công ty. + Tiếp nhận thành viên. + Khai trừ thành viên hợp danh. + Bổ sung, sửa đổi điều lệ công ty. + Tổ chức lại, giải thể công ty. + Hợp đồng của công ty hợp danh, người có liên quan của thànhviên hợp danh. - Quyết định về những vấn đề khác phải được đa số thành viên hợp danh chấp nhận. - Tất cả các quyết định của Hội đồng thành viên phải được ghi vào sổ biên bản và phải được lưu giữ tại trụ sở chính của công ty. - Trong quá trình hoạt động, các thành viên hợp danh phân công đảm nhiệm các chức trách quản lý và kiểm soát hoạt động của công ty và cử một người trong số họ làm giám đốc. - Thành viên hợp danh chủ động thực hiện công việc được phân công nhằm đạt được mục tiêu của công ty; đại diện cho công ty trong đàm phán, ký kết hợp đồng thực hiện các công việc được giao; đại diện cho công ty trước pháp luật và cơ quan nhà nước trong phạm vi công việc được phân công. Khi nhân danh công ty thực hiện các công việc được giao thànhviên hợp danh phải làm việc một cách trung thực, không trái với các quyếtđịnh của Hội đồng thành viên, không vi phạm các điều cấm. - Giám đốc công ty hợp danh có nhiệm vụ: + Phân công, điều hoà, phối hợp công việc của các thành viên hợpdanh. + Điều hành công việc trong công ty.Đỗ Hữu Chiến 11 Luật kinh doanh 41 - A
  • 12. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com + Thực hiện công việc khác theo uỷ quyền của các thành viên hợpdanh.Đỗ Hữu Chiến 12 Luật kinh doanh 41 - A
  • 13. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com2.3. Vấn đề tiếp nhận thành viên, chấm dứt tư cách thành viên, rút khỏi công ty.2.3.1. Tiếp nhận thành viên. Người được tiếp nhận làm thành viên hợp danh hoặc được tiếp nhậnlàm thành viên góp vốn của công ty khi được tất cả các thành viên hợpdanh đồng ý trừ trường hợp điều lệ công ty qui định khác. Thành viên hợp danh được tiếp nhận vào công ty chỉ chịu tráchnhiệm về các nghiã vụ của công ty phát sinh sau khi đăng ký thành viên đóvới cơ quan đăng ký kinh doanh (Điều 30 Nghị định 03/2000/NĐ-CP).2.3.2. Chấm dứt tư cách thành viên. Được qui định tại Điều 31 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP. - Tư cách thành viên hợp danh chấm dứt trong các trường hợp sau: + Đã chết hoặc bị toà án tuyên bố là đã chết. + Mất tích, bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự. + Tự nguyện rút khỏi công ty. + Bị khai trừ khỏi công ty. - Trong trường hợp chấm dứt tư cách thành viên theo qui định tại hai điểm trên thì công ty vẫn có quyền sử dụng tài sản tương ứng với trách nhiệm của người đó để thực hiện các nghĩa vụ của công ty. - Trường hợp tư cách thành viên chấm dứt theo qui định tại hai điểm cuối ở trên thì người đó phải liên đới chịu trách nhiệm về nghĩa vụ của công ty đã phát sinh trước khi đăng ký việc chấm dứt tư cách thành viên đó với cơ quan đăng ký kinh doanh. - Tư cách thành viên chấm dứt khi thành viên đó chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác.2.3.3. Rút khỏi công ty. Thành viên hợp danh được quyền rút khỏi công ty nếu được đa sốthành viên hợp còn lại đồng ý. Khi rút khỏi công ty phần vốn góp đượchoàn trả theo giá thoả thuận hoặc theo giá được xác định dựa trên nguyêntắc qui định trong điều lệ công ty. Sau khi rút khỏi công ty người đó vẫnphải liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty trước khi đăngĐỗ Hữu Chiến 13 Luật kinh doanh 41 - A
  • 14. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comký rút khỏi công ty, chấm dứt tư cách thành viên với cơ quan đăng ky kinhdoanh. Trường hợp tên của thành viên đã rút khỏi công ty được sử dụng đểđặt tên công ty thì người đó có quyển yêu cầu công ty đổi tên. Thành viên góp vốn có quyền rút phần vốn góp của mình ra khỏicông ty nếu được đa số thành viên hợp danh đồng ý. Việc chuyển nhượngphần vốn góp của thành viên góp vốn cho người khác được tự do thực hiện,trừ trường hợp điều lệ công ty qui định khác.3. Thực trạng và một số hạn chế về qui chế pháp lý thành lập và hoạt động công ty hợp danh.3.1. Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng hoạt động của công ty hợpdanh hiện nay ở Việt Nam. Như đã trình bày ở trên, qui chế pháp lý về thành lập và hoạt độngcủa công ty hợp danh trong Luật Doanh nghiệp 12/6/1999 đã đánh dấu sựphát triển mới của Luật Doanh nghiệp, đáp ứng được yêu cầu thực tế củanền kinh tế, trong giai đoạn đất nước mở rộng hội nhập quốc tế trên mọilĩnh vực đặc biệt là về kinh tế, đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiệnđại hoá. Loại hình doanh nghiệp mới ra đời đã tạo nhiều hơn nữa cho sựlựa chọn của các nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài nước, thu hút vốnđầu tư nước ngoài, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm và trìnhđộ quản lý cuả các nước phát triển. So sánh công ty hợp danh với các loại hình doanh nghiệp khác tathấy một số ưu điểm sau: Thứ nhất, so với doanh nghiệp tư nhân thì công ty hợp danh có khảnăng huy động vốn lớn hơn bởi công ty hợp danh là sự kết hợp hai thànhviên hợp danh trở lên ngoài ra còn có thể có thành viên góp vốn trong khiđó doanh nghiệp tư nhân chỉ có một cá nhân thành lập doanh nghiệp và tiếnhành hoạt động kinh doanh. Như vậy, công ty hợp danh có thể mở rộng quimô kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường là hơn hẳndoanh nghiệp tư nhân.Đỗ Hữu Chiến 14 Luật kinh doanh 41 - A
  • 15. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com (Điểm giống nhau ở hai loại hình doanh nghiệp naỳ là chúng đềukhông có tư cách pháp nhân bởi tài sản của thành viên không có sự táchbiệt rõ ràng với tài sản của công ty). Thứ hai là so với các loại hình doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữuhạn như công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệmhữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần,... điểm giống của công tyhợp danh với các loại hình doanh nghiệp trên là việc thành lập doanhnghiệp dựa trên cơ sở liên minh, hợp tác giữa nhiều thành viên cùng tiếnhành hoạt động kinh doanh. Sự khác nhau giữa chúng là công ty hợp danhlà loại hình công ty đối nhân tức là việc thành lập dựa trên cơ sở quan hệthân thích là chính, vốn là yếu tố phụ, còn các doanh nghiệp kể trên thuộcloại hình doanh nghiệp đối vốn tức là việc thành lập dựa trên cơ sở góp vốngiữa các thành viên, vấn đề quan hệ là thứ yếu. Công ty hợp danh chịutrách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty , còn các loại hình doanhnghiệp kể trên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn gópvào công ty. Như vậy, về lý thuyết thì khả năng thực hiện nghĩa vụ củacông ty hợp danh là tốt hơn các doanh nghiệp khác, tạo ra được uy tín, tínnhiệm cao hơn trong hoạt động kinh doanh. Thứ ba là so với các qui chế pháp lý về loại hình công ty hợp danh,ở một số nước phát triển ta thấy tương đối giống tuy nhiên còn có một sốđiểm khác như: việc một số nước qui định bắt buộc phải thành lập công tyhợp danh đối với một ngành nghề đòi hỏi trách nhiệm cao như luật sư, y tế,kiểm toán... còn ở nước ta không có những qui định bắt buộc này. Thứ tư công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân, việc thànhlập dựa trên cơ sở quan hệ thân thích là chủ yếu, phần vốn góp là thứ yếu.Như vậy đối với Việt Nam, đất nước mang đậm tập quán phương đông, coitrọng tình nghĩa thì việc loại hình doanh nghiệp này có thể rất phát triểntrong tương lai. Tuy nhiên hiện nay loại hình doanh nghiệp này còn rất ít ởnước ta có thể do đây là loại hình doanh nghiệp mới, còn ít người biết đến.Vấn đề thực trạng hoạt động của số ít loại hình doanh nghiệp này như thếnào thì ở đây chưa thể đưa ra câu trả lời chính xác.Đỗ Hữu Chiến 15 Luật kinh doanh 41 - A
  • 16. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com3.2. Một số hạn chế của qui chế pháp lý về công ty hợp danh. Qua nội dung trình bày ở trên ta có thể thấy được khái quát chungvề qui chế pháp lý thành lập và hoạt động của công ty hợp danh. Nhưngthực tế cho thấy số công ty hợp danh ở nước ta rất hạn chế, nguyên nhân cóthể do đây là loại hình doanh nghiệp mới còn ít người biết đến, ngoài racòn có thể có nguyên nhân khác trong đó trực tiếp đến sự phát triển của loạihình doanh nghiệp là qui chế pháp lý. Một số hạn chế về qui chế pháp lý vềcông ty hợp danh có thể nhận thấy như sau: Thứ nhất, theo điểm b khoản 1 Điều 95 Luật doanh nghiệp “Thànhviên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghềnghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩavụ của công ty”. Như vậy, thành viên hợp danh phải là người có trình độchuyên môn và uy tín nghề nghiệp. Qui định này mang tính chất chungchung, không có qui định cụ thể đối với trình độ chuyên môn của thànhviên hợp danh, hơn nữa luật cũng không qui định loại ngành nghề kinhdoanh nào bắt buộc khi hoạt động phải thành lập theo loại hình công ty hợpdanh. Thứ hai, theo khoản 1 Điều 96 Luật doanh nghiệp “Thành viên hợpdanh có quyền quản lý công ty, tiến hành các hoạt động kinh doanh nhândanh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ cuả công ty”.Theo qui định này, các thành viên hợp danh có thể tự do, độc lập tiến hànhhoạt động kinh doanh nhân danh công ty, nhưng các nghĩa vụ phát sinh củatừng thành viên hợp danh khi hoạt động kinh doanh độc lập thì các thànhviên khác cũng phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình. Đặc biệt là khi các thành viên hợp danh thành lập doanh nghiệp,nhưng hoạt động kinh doanh là mang tính độc lập giữa các thành viên,cùng hoạt động một ngành nghề đăng ký kinh doanh, cũng có thể nhândanh công ty và lợi nhuận thu được thì thành viên nào làm thì thành viênđó hưởng, nhưng khi phát sinh nghĩa vụ, có thể dẫn tới phá sản của mộttrong thành viên hợp danh thì tất cả các thành viên còn lại cũng có nguy cơtương tự. Đây có thể là một qui định làm hạn chế việc phát triển loại hìnhdoanh nghiệp này.Đỗ Hữu Chiến 16 Luật kinh doanh 41 - A
  • 17. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Thứ ba, theo khoản 2 Điều 97 Luật Doanh nghiệp qui định: “Cácthành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề củacông ty”. Công ty hợp danh là công ty đối nhân, quan hệ giữa các thànhviên là chủ yếu, phần vốn góp là thứ yếu tuy nhiên với bất kỳ loại hìnhdoanh nghiệp nào thì khả năng thực hiện các nghĩa vụ trong hoạt động kinhdoanh vẫn là yếu tố quan trọng nhất, qui định trên có thể tạo sự bình đẳngđối với các thành viên khi quyết định các vấn đề liên quan đến công tynhưng nó gây ra sự thiếu công bằng đối với thành viên có số vốn góp lớnhơn. Thứ tư, theo khoản 1 Điều 95 Luật Doanh nghiệp, một trong nhữngđiều kiện để thành lập doanh nghiệp hợp danh là phải có ít nhất hai thànhviên hợp danh. Qui định này tỏ ra cứng nhắc bởi qui định về công ty hợpdanh ở một số nước như Mỹ, Thái Lan... công ty hợp danh có thể đượcthành lập bởi một thành viên hợp danh và một thành viên góp vốn trở lên.Loại hình doanh nghiệp này có thể gọi là công ty hợp danh hữu hạn, ở mộtsố nước khác gọi là công ty hợp vốn. Như vậy không nhất thiết công ty hợpdanh phải có ít nhất hai thành viên hợp dạnh trở lên như qui định ở Điều 95khoản 1.III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰN HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY HỢP DANH.1. Khả năng hoạt động của công ty hợp danh trên thị trường và triển vọng phát triển loại hình doanh nghiệp này ở Việt Nam. Như đã phân tích ở trên những ưu điểm của loại hình công ty hợpdanh như khả năng huy động vốn lớn, là công ty có trách nhiệm vô hạn vềcác nghĩa vụ nên có uy tín lơn trong hoạt động kinh doanh của mình, khảnăng được các đối tác tin tưởng, quan hệ kinh doanh cao... Hơn nữa loạihình doanh nghiệp này được thành lập trên cơ sở quan hệ họ hàng, thânthích giữa các thành viên là chủ yếu. Đối với Việt Nam, đất nước mangđậm nét văn hoá người phương đông thì thành lập loại hình doanh nghiệpnày là rất thích hợp. Với những đặc điểtm cơ bản nêu trên thì khả năngcạnh tranh của công ty hợp danh là tương đối lớn kể cả về qui mô lẫn uy tínĐỗ Hữu Chiến 17 Luật kinh doanh 41 - A
  • 18. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcủa công ty trên thị trường. Loại hình doanh nghiệp này có thể phát triểnrộng trong tương lai nếu có những qui định cụ thể hơn nữa.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa chế độ pháp lý về thành lập và hoạt động công ty hợp danh. Từ nội dung và một số hạn chế nêu trên về chế độ pháp lý về côngty hợp danh, tác giả xin được đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục cáchạn chế, hoàn thiện hơn chế độ pháp lý về công ty hợp danh như sau: Thứ nhất, đối với các ngành nghề đòi hỏi trách nhiệm cao thì luậtnên qui định bắt buộc đối với chủ thể kinh doanh này phải thành lập côngty hợp danh. Một số ngành nghề kinh doanh cần trách nhiệm cao như: dịchvụ pháp lý; dịch vụ y tế; dịch vụ thiết kế công trình; kiểm toán; môi giớichứng khoán... đối với các loại này người thành lập doanh nghiệp cũng nhưtiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi trình độ chuyên môn nhất định, bởinhững loại ngành nghề này rất rễ gây ra thiệt hại về người và tài sản. Vìvậy qui định bắt buộc thành lập công ty hợp danh đối với những chủ thểkinh doanh các loại ngành nghề nêu trên là tăng phần trách nhiệm đối vớicác chủ thể này, giảm bớt thiệt hại đáng tiếc có thể xẩy ra. Thứ hai, theo qui định thì các thành viên hợp danh có thể tự mìnhtiến hành hoạt động kinh doanh . Tuy nhiên cần phải qui định rằng việc tiếnhành hoạt động kinh doanh của từng thành viên phải được các thành viênkhác trong công ty đồng ý (ít nhất 2/3 số thành viên đồng ý) để hạn chế mộtngười làm hại, toàn bộ thành viên phải gánh chịu. Thứ ba, đối với thành viên hợp danh góp vốn nhiều hơn trong côngty cần qui định ưu tiên quyền hơn nữa đối vơí thành viên này trong các vấnđề liên quan đến công ty so với các thành viên góp ít vốn hơn. Thứ tư, cần có những qui định nới lỏng hơn về điều kiện thành lậpcông ty hợp danh. Trong qui định thì điều kiện thành lập là phải có ít nhấthai thành viên hợp danh trở lên thì có thể qui định lại là thành viên hợpdanh có một và có ít nhất một thành viên góp vốn trở lên, điều này có thểtạo điều kiện dễ dàng hơn trong quá trình thành lập công ty hợp danh.Đỗ Hữu Chiến 18 Luật kinh doanh 41 - A
  • 19. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.1. Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999.2. Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 về đăng ký kinh doanh.3. Nghị định 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp.Đỗ Hữu Chiến 19 Luật kinh doanh 41 - A