bctntlvn (56).pdf

845 views
784 views

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
845
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
40
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

bctntlvn (56).pdf

  1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ Đào Ngọc AnhNGHIÊN CỨU GIAO THỨC TRONG MẠNG VOIP KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY Ngành: Điện tử - Viễn thông HÀ NỘI - 2008
  2. 2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ Đào Ngọc AnhNGHIÊN CỨU GIAO THỨC TRONG MẠNG VOIP KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY Ngành: Điện tử - Viễn thông Cán bộ hướng dẫn: Th.S Nguyễn Quốc Tuấn HÀ NỘI - 2008
  3. 3. LỜI CẢM ƠN Trước hết em xin gửi tới thầy giáo Nguyễn Quốc Tuấn – nguyên Chủ nhiệm Bộmôn Hệ thống Viễn thông , lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đã trực tiếp hướng dẫn ,chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình em làm luận văn. Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trường Đại học CôngNghệ - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã hết lòng dạy bảo, giúp đỡ em trong những nămhọc Đại Học, giúp em có những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong chuyên mônvà cuộc sống. Những hành trang đó là một tài sản vô giá nâng bước cho em tới đượcvới những thành công trong tương lai. Cuối cùng, em xin cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ,động viên em hoàn thành luận văn này. Hà nội, tháng 05 năm 2008 Sinh viên
  4. 4. TÓM TẮT NỘI DUNG Với sự phát triển nhảy vọt của mạng chuyển mạch gói IP hiện nay không chỉ đemlại cho chúng ta những dịch vụ mới đa dạng mà còn là cơ hội cải thiện các dịch vụviễn thông trước kia với chất lượng tốt hơn và giá thành rẻ hơn. Đã từ lâu, mạngchuyển mạch kênh ghép phân kênh theo thời gian PSTN đã có một vai trò vô cùngquan trọng với sự phát triển của xã hội. Bên cạnh những ưu điểm về chất lượng dịchvụ tốt, vùng dịch vụ rộng lớn trên khắp mọi lãnh thổ,… thì mạng PSTN cũng bộc lộnhiều hạn chế như số lượng các dịch vụ hạn chế, sử dụng tài nguyên đường truyềnkhông tối ưu, giá thành cao. Trên cơ sở đó, mạng VoIP ra đời và ngày càng đáp ứng tốt hơn các yêu cầu đặt ranhư chất lượng dịch vụ, giá thành, số lượng tích hợp các dịch vụ thoại lẫn phi thoại.Cũng như các công nghệ ra đời trong thời gian gần đây, thì vấn đề Giao thức là đặcbiệt quan trọng. Việc nắm chắc Giao thức là chìa khóa thành công của việc triển khaimỗi một công nghệ mới vào thực tế. Chính vì vậy, trong nội dung của bài Luận văn tốtnghiệp này, em xin được giới thiệu về “Giao thức sử dụng trong mạng VoIP”. Bài luậnvăn sẽ gồm các nội dung chính như sau: Chương 1: Tổng quan về mạng VoIP. Chương 2: Các giao thức truyền tải trong VoIP. Chương 3: Giao thức báo hiệu VoIP. Một vấn đề đặc biệt quan trong khi mỗi công nghệ, một giao thức mới được sinhra là vần đề tương thích với các công nghệ và giao thức trước đó. Đó cũng là một trongnguyên nhân quyết định sự sống còn của mạng VoIP được đề cập tới tại: Chương 4: Kết nối mạng VoIP và PSTN. Và phần cuối cùng trong bài Luận văn tốt nghiệp: Chương 5: Khảo sát giao thức cuộc gọi VoIP SIP – PSTN trên thực tế. Đây là một minh chứng rõ nét về việc triển khai các giao thức VoIP đã nghiêncứu trong toàn bộ nội dung bài Luân văn tốt nghiệp vào bài toán viễn thống thực tế.
  5. 5. MỤC LỤCChương 1. Tổng quan về mạng VoIP ........................................................................... 2 1.1. Tổng quan về mạng VoIP .................................................................................. 2 1.2. Đặc tính của mạng VoIP ................................................................................... 4 1.2.1. Ưu điểm ..................................................................................................... 4 1.2.2. Nhược điểm................................................................................................ 5 1.3. Yêu cầu chất lượng đối với VoIP ...................................................................... 6Chương 2. Các giao thức truyền tải trong VoIP............................................................ 7 2.1. Giao thức IP ...................................................................................................... 7 2.1.1. Giao thức IP phiên bản 4 (IPv4) ................................................................. 7 2.1.2. Giao thức IP phiên bản 6 (IPv6) ............................................................... 11 2.2. Giao thức TCP/IP ............................................................................................ 12 2.3. Giao thức UDP ................................................................................................ 17 2.4. Giao thức SCTP .............................................................................................. 17 2.5. Giao thức RTP ................................................................................................ 22 2.6. Giao thức RTCP .............................................................................................. 28Chương 3. Giao thức báo hiệu VoIP .......................................................................... 31 3.1. Giao thức báo hiệu H.323................................................................................ 31 3.1.1. Các thành phần trong mạng ...................................................................... 31 3.1.2. Giao thức H.323 ....................................................................................... 35 3.1.3. Thiết lập cuộc gọi VoIP sử dụng giao thức H.323 .................................... 40 3.2. Giao thức SIP .................................................................................................. 44 3.2.1. Các thành phần trong mạng SIP................................................................ 45 3.2.2. Bản tin SIP ............................................................................................... 47 3.2.3. Mô tả cuộc gọi SIP ................................................................................... 52 3.3. So sánh giữa giao thức H.323 và SIP............................................................... 54
  6. 6. Chương 4. Kết nối giữa mạng VoIP và PSTN ............................................................ 56 4.1. Mạng báo hiệu SS7 ......................................................................................... 56 4.1.1. Các thành phần trong mạng báo hiệu SS7 ................................................. 56 4.1.2. Liên kết trong mạng SS7 .......................................................................... 57 4.1.3. Định tuyến trong mạng SS7 ...................................................................... 58 4.1.4. Giao thức trong mạng SS7 ........................................................................ 59 4.1.5. Các bước thiết lập cuộc gọi trong mạng SS7 ............................................ 64 4.2. Giao thức Sigtran ............................................................................................ 65 4.2.1. M2UA/ M2PA.......................................................................................... 66 4.2.2. M3UA ...................................................................................................... 67 4.2.3. SUA ......................................................................................................... 68 4.2.4. Kết nối mạng VoIP với mạng PSTN......................................................... 69Chương 5. Khảo sát giao thức cuộc gọi VoIP SIP – PSTN trên thực tế ...................... 74 5.1. Giới thiệu kiến trúc mạng VoIP được nghiên cứu ............................................ 74 5.2. Giới thiệu chương trình Wireshark................................................................ 75 5.3. Khảo sát giao thức cuộc gọi VoIP SIP – PSTN trên thực tế ............................. 76
  7. 7. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTKí hiệu Viết đầy đủ Ý nghĩaviết tắt VoIP Voice over IP Công nghệ truyền thoại trên mạng IP Public SwitchPSTN Mạng điện thoại công cộng Telephone Network Pulse-Code PCM Bộ mã hóa mã xung Modulation Simple NetworkSNMP Giao thức quản trị mạng đơn giản Management Protocol Session Initiation SIP Giao thức thiết lập phiên Protocol RTP Real Time Protocol Giap thức thời gian thực Real Time ControlRTCP Giap thức điều khiển thời gian thực Protocol Asynchronous ATM Chế độ truyền không đồng bộ Transfer Mode QoS Quality of Service Chất lượng dịch vụ ToS Type of Service Kiểu dịch vụ IP Internet Protocol Giao thức Internet IPv4 IP version 4 Giao thức Internet phiên bản 4 IPv6 IP version 6 Giao thức Internet phiên bản 6 TCP Transmission Control Giao thức điều khiển truyền thông tin
  8. 8. Protocol User DatagramUDP Giao thức Datagram người dùng Protocol Stream ControlSCTP Giao thức truyền điều khiển luồng Transmission Protocol International Telecommunication Hiệp hội viễn thông quốc tếITU-T Union- - Bộ phận chuẩn viễn thông Telecommunication Standardization Sector Register AdmissionRAS Báo hiệu đăng kí, cấp phép, thông tin trạng thái Status SessionSAP Announcement Giao thức thông báo phiên Protocol Session DescriptionSDP Giao thức mô tả phiên Protocol Signaling SystemSS7 Hệ thống báo hiệu số 7 No.7SSP Switch Service Point Điểm dịch vụ chuyển mạchSCP Signal Control Point Điểm điều khiển báo hiệuSTP Signal Tranfer Point Điểm truyền báo hiệuMTP Message Tranfer Part Phần truyền bản tin TransactionTCAP Capabilities Phần ứng dụng cung cấp giao dịch Application Part
  9. 9. TUP Telephone User Part Phần người dùng điện thoạiISUP ISDN User Part Phần người dùng ISDN Integrated ServicesISDN Mạng tích hợp dịch vụ số Digital Network Signaling ConnectionSCCP Phần điều khiển kết nối báo hiệu Control PartM2UA MTP2 User Adapter Bộ chuyển đổi người dùng MTP2 MTP L2 Peer-to-PeerM2PA Bộ chuyển đổi bản tin lớp 2 ngang hàng AdapterM3UA MTP3 User Adapter Bộ chuyển đổi người dùng MTP3IUA ISDN User Adapter Bộ chuyển đổi người dùng ISDNSUA SCCP User Adapter Bộ chuyển đổi người dùng SCCP
  10. 10. MỞ ĐẦU Mạng VoIP ra đời như là một cuộc các mạng của hệ thống viễn thông và xã hội.Với những ưu điểm vượt trội, mạng VoIP đã chứng tỏ được sức sống và tính thực tiễncao của nó. Sự phát triển quá nhanh của mạng VoIP cũng đặt ra một vấn đề nan giải đólà việc chuẩn hóa giữa các giao thức VoIP của nhiều nhà phát triển khác nhau. Màtrong đó có hai giao thức được nhắc tới nhiều nhất đó là H.323 của ITU-T và SIP củaIETF. Như một tất yếu khách quan, mạng VoIP sẽ được chia thành nhiều miền giaothức khác nhau. Nên vấn đề quan trọng để có thể triển khai được mạng VoIP vào thựctế đó là phải hiểu được bản chất của các giao thức VoIP và quan trọng nhất đó là cácgiao thức báo hiệu sử dụng trong VoIP. Tuy vâyh mới là điều kiện cần cho sự ra đờicòn vấn đề then chốt cho sự tồn tại và phát triển của mạng VoIP lại là vấn đề kết nốivới hệ thống viễn thông vốn có. Và cụ thể là vấn đề kết nối giữa mạng VoIP và mạngPSTN. Và đây cũng là hai nội dung chính của bài Luân văn tốt nghiệp này. Trên cơ sở nhận thức rõ sự quan trọng cũng như cách thức hoạt động của giaothức trong mạng VoIP, thì phương pháp nghiên cứu của em trong nội dung Luận vănchủ yếu đi sâu nghiên cứu thông qua tài liệu quy chuẩn về Giao thức VoIP (RFC củaIETF, các tài liệu chuẩn của ITU-T); đồng thời tham chiếu đến các tài liệu chuyên mônsâu về VoIP để làm rõ các vấn đề cần giải quyết. Từ những hiểu biết nghiên cứu lý thuyết khá sâu về chuyên môn, em sẽ thamchiếu với mô hình thực tế. Từ đó làm rõ các vấn đề vướng mắc mà khi nghiên cứu lýthuyết chưa thể giải quyết và lảm rõ được. 1
  11. 11. Chương 1. Tổng quan về mạng VoIP1.1. Tổng quan về mạng VoIP Đầu năm 1995 công ty VOCALTEC đưa ra thị trường sản phẩm phần mềm thựchiện cuộc thoại qua Internet đầu tiên trên thế giới. Sau đó có nhiều công ty đã tham giavào lĩnh vực này. Tháng 3 năm 1996, VOLCALTEC kết hợp với DIALOGIC tung rathị trường sản phẩm kết nối mạng PSTN và Internet. Hiệp hội các nhà sản xuất thoạiqua mạng máy tính đã sớm ra đời và thực hiện chuẩn hoá dịch vụ thoại qua mạngInternet. Việc truyền thoại qua internet đã gây được chú ý lớn trong những năm qua vàđã dần được ứng dụng rộng rãi trong thực tế. Có thể định nghĩa: Voice over Internet Protocol (VoIP) là một công nghệ chophép truyền thoại sử dụng giao thức mạng IP, trên cơ sở hạ tầng sẵn có của mạngInternet. VoIP là một trong những công nghệ viễn thông đang được quan tâm nhất hiệnnay không chỉ đối với các nhà khai thác, các nhà sản xuất mà còn cả với người sử dụngdịch vụ. VoIP có thể vừa thực hiện cuộc gọi thoại như trên mạng điện thoại kênhtruyền thống (PSTN) đồng thời truyền dữ liệu trên cơ sở mạng truyền dữ liệu. Nhưvậy, nó đã tận dụng được sức mạnh và sự phát triển vượt bậc của mạng IP vốn chỉđược sử dụng để truyền dữ liệu thông thường. Để có thể hiểu được những ưu điểm của VoIP mang lại, trước hết chúng ta đi vàonghiên cứu sự khác biệt giữa mạng kênh PSTN hiện có với mạng chuyển mạch gói nóichung và mạng VoIP nói riêng. Kỹ thuật chuyển mạch kênh (Circuit Switching): Một đặc trưng nổi bật của kĩthuật này là hai trạm muốn trao đổi thông tin với nhau thì giữa chúng sẽ được thiết lậpmột “ kênh” (circuit) cố định, kênh kết nối này được duy trì và dành riêng cho hai trạmcho tới khi cuộc truyền tin kết thúc. Thông tin cuộc gọi là trong suốt. Quá trình thiếtlập cuộc gọi tiến hành gồm 3 giai đoạn:  Giai đoạn thiết lập kêt nối: Thực chất quá trình này là liên kết các tuyến giữa các trạm trên mạng thành một tuyến (kênh) duy nhất dành riêng cho cuộc gọi. Kênh này đối với PSTN là 64kb/s (do bộ mã hóa PCM có tốc độ lấy mẫu tiếng nói 8kb/s và được mã hóa 8 bit).  Giai đoạn truyền tin: Thông tin cuộc gọi là trong suốt. Sự trong suốt thể hiện qua hai yếu tố: thông tin không bị thay đổi khi truyền qua mạng và độ trễ nhỏ.  Giai đoạn giải phóng (huỷ bỏ) kết nối: Sau khi cuộc gọi kết thúc, kênh sẽ được giải phóng để phục vụ cho các cuộc gọi khác. 2
  12. 12. Qua đó, ta nhận thấy mạng chuyển mạch kênh có những ưu điểm nổi bật nhưchất lượng đường truyền tốt, ổn định, có độ trễ nhỏ. Các thiết bị mạng của chuyểnmạch kênh đơn giản, có tính ổn định cao, chống nhiễu tốt. Nhưng ta cũng không thểkhông nhắc tới những hạn chế của phương thức truyền dữ liệu này như:  Sử dụng băng thông không hiệu quả: Tính không hiệu quả này thể hiện qua hai yếu tố. Thứ nhất, độ rộng băng thông cố định 64k/s. Thứ hai là kênh là dành riêng cho một cuộc gọi nhất định. Như vậy, ngay cả khi tín hiệu thoại là “lặng” (không có dữ liệu) thì kênh vẫn không được chia sẻ cho cuộc gọi khác.  Tính an toàn: Do tín hiệu thoại được gửi nguyên bản trên đường truyền nên rất dễ bị nghe trộm. Ngoài ra, đường dây thuê bao hoàn toàn có thể bị lợi dụng để an trộm cước viễn thông.  Khả năng mở rộng của mạng kênh kém: Thứ nhất là do cơ sở hạ tầng khó năng cấp và tương thích với các thiết bị cũ. Thứ hai, đó là hạn chế của hệ thống báo hiệu vốn đã được sử dụng từ trước đó không có khả năng tùy biến cao. Kỹ thuật chuyển mạch gói (Packet Switching): Trong chuyển mạch gói mỗibản tin được chia thành các gói tin (packet), có khuôn dạng được quy định trước.Trong mỗi gói cũng có chứa thông tin điều khiển: địa chỉ trạm nguồn, địa chỉ trạmđích và số thứ tự của gói tin,… Các thông tin điều khiển được tối thiểu, chứa các thôngtin mà mạng yêu cầu để có thể định tuyến được cho các gói tin qua mạng và đưa nó tớiđích. Tại mỗi node trên tuyến gói tin được nhận, nhớ và sau đó thì chuyển tiếp cho tớichạm đích. Vì kỹ thuật chuyển mạch gói trong quá trình truyền tin có thể được địnhtuyến động để truyền tin. Điều khó khăn nhất đối với chuyển mạch gói là việc tập hợpcác gói tin để tạo bản tin bản đầu đặc biệt là khi mà các gói tin được truyền theo nhiềucon đường khác nhau tới trạm đích. Chính vì lý do trên mà các gói tin cần phải đượcđánh dấu số thứ tự, điều này có tác dụng, chống lặp, sửa sai và có thể truyền lại khihiên tượng mất gói xảy ra. Các ưu điểm của chuyển mạch gói:  Mềm dẻo và hiệu suất truyền tin cao: Hiệu suất sử dụng đường truyền rất cao vì trong chuyển mạch gói không có khái niệm kênh cố định và dành riêng, mỗi đường truyền giữa các node có thể được các trạm cùng chia sẻ cho để truyền tin, các gói tin sắp hàng và truyền theo tốc độ rất nhanh trên đường truyền. 3
  13. 13.  Khả năng tryền ưu tiên: Chuyển mạch gói còn có thể sắp thứ tự cho các gói để có thể truyền đi theo mức độ ưu tiên. Trong chuyển mạch gói số cuộc gọi bị từ chối ít hơn nhưng phải chấp nhận một nhược điểm vi thời gian trễ sẽ tăng lên.  Khả năng cung cấp nhiều dịch vụ thoại và phi thoại.  Thích nghi tốt nếu như có lỗi xảy ra: Đặc tính này có được là nhờ khả năng định tuyến động của mạng. Bên cạnh những ưu điểm thì mạng chuyển mạch gói cũng bộ lộ những nhượcđiểm như:  Trễ đường truyền lớn: Do đi qua mỗi trạm, dữ liệu được lưu trữ, xử lý trước khi được truyền đi.  Độ tin cậy của mạng gói không cao, dễ xảy ra tắc nghẽn, lỗi mất bản tin  Tính đa đường có thể gây là lặp bản tin, loop làm tăng lưu lượng mạng không cần thiết.  Tính bảo mật trên đường truyền chung là không cao.1.2. Đặc tính của mạng VoIP1.2.1. Ưu điểm  Giảm chi phí: Đây là ưu điểm nổi bật của VoIP so với điện thoại đường dài thông thường. Chi phí cuộc gọi đường dài chỉ bằng chi phí cho truy nhập Internet. Một giá cước chung sẽ thực hiện được với mạng Internet và do đó tiết kiệm đáng kể các dịch vụ thoại và fax. Sự chia sẻ chi phí thiết bị và thao tác giữa những người sử dụng thoại và dữ liệu cũng tăng cường hiệu quả sử dụng mạng. Đồng thời kỹ thuật nén thoại tiên tiến làm giảm tốc độ bit từ 64Kbps xuống dưới 8Kbps, tức là một kênh 64Kbps lúc này có thể phục vụ đồng thời 8 kênh thoại độc lập. Như vậy, lý dó lớn nhất giúp cho chi phí thực hiện cuộc gọi VoIP thấp chính là việc sử dụng tối ưu băng thông.  Tích hợp dịch vụ nhiều dịch vụ: Do việc thiết kế cơ sở hạ tầng tích hợp nên có khả năng hỗ trợ tất cả các hình thức thông tin cho phép chuẩn hoá tốt hơn và giảm thiểu số thiết bị. Các tín hiệu báo hiệu, thoại và cả số liệu đều chia sẻ cùng mạng IP. Tích hợp đa dịch vụ sẽ tiết kiệm chi phí đầu tư nhân lực, chi phí xây dựng các mạng riêng rẽ.  Thống nhất: Vì con người là nhân tố quan trọng nhưng cũng dễ sai lầm nhất trong một mạng viễn thông, mọi cơ hội để hợp nhất các thao tác, loại bỏ các 4
  14. 14. điểm sai sót và thống nhất các điểm thanh toán sẽ rất có ích. Trong các tổ chức kinh doanh, sự quản lý trên cơ sở SNMP (Simple Network Management Protocol) có thể được cung cấp cho cả dịch vụ thoại và dữ liệu sử dụng VoIP. Việc sử dụng thống nhất giao thức IP cho tất cả các ứng dụng hứa hẹn giảm bớt phức tạp và tăng cường tính mềm dẻo. Các ứng dụng liên quan như dịch vụ danh bạ và dịch vụ an ninh mạng có thể được chia sẻ dễ dàng hơn.  Vấn đề quản lý băng thông: Trong PSTN, băng thông cung cấp cho một cuộc gọi là cố định. Trong VoIP, băng thông được cung cấp một cách linh hoạt và mềm dẻo hơn nhiều. Chất lượng của VOIP phụ thuộc vào nhiều yếu tố, quan trọng nhất là băng thông. Do đó không có sự bắt buộc nào về mặt thông lượng giữa các thiết bị đầu cuối mà chỉ có các chuẩn tuỳ vào băng thông có thể của mình, bản thân các đầu cuối có thể tự điều chỉnh hệ số nén và do đó điều chỉnh được chất lượng cuộc gọi.  Nâng cao ứng dụng và khả năng mở rộng: Thoại và fax chỉ là các ứng dụng khởi đầu cho VoIP, các lợi ích trong thời gian dài hơn được mong đợi từ các ứng dụng đa phương tiện (multimedia) và đa dịch vụ. Tính linh hoạt của mạng IP cho phép tạo ra nhiều tinh năng mới trong dịch vụ thoại. Đồng thời tính mềm dẻo còn tạo khả năng mở rộng mạng và các dịch vụ.  Tính bảo mật cao: VOIP được xây dựng trên nền tảng Internet vốn không an toàn, do đó sẽ dẫn đến khả năng các thông tin có thể bị đánh cắp khi các gói tin bị thu lượm hoặc định tuyến sai địa chỉ một cách cố ý khi chúng truyền trên mạng. Các giao thức SIP (Session Ineitiation Protocol – giao thức khởi đầu phiên) có thể thành mật mã và xác nhận các thông điệp báo hiệu đầu cuối. RTP (Real Time Protocol) hỗ trợ mã thành mật mã của phương thức truyền thông trên toàn tuyến được mã hoá thành mật mã đảm bảo truyền thông an toàn.1.2.2. Nhược điểm  Chất lượng dịch vụ chưa cao: Các mạng số liệu vốn dĩ không phải xây dựng với mục đích truyền thoại thời gian thực, vì vậy khi truyền thoại qua mạng số liệu cho chất lượng cuộc gọi không được đảm báo trong trường hợp mạng xảy ra tắc nghẽn hoặc có độ trễ lớn. Tính thời gian thực của tín hiệu thoại đòi hỏi chất lượng truyền dữ liệu cao và ổn định. Một yếu tố làm giảm chất lượng thoại nữa là kỹ thuật nén để tiết kiệm đường truyền. Nếu nén xuống dung lượng càng thấp thì kỹ thuật nén càng phức tạp, cho chất lượng không cao và đặc biệt là thời gian xử lý sẽ lâu, gây trễ. 5
  15. 15.  Vấn đề tiếng vọng: Nếu như trong mạng thoại, độ trễ thấp nên tiếng vọng không ảnh hưởng nhiều thì trong mạng IP, do trễ lớn nên tiếng vọng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng thoại.  Kỹ thuật phức tạp: Truyền tín hiệu theo thời gian thực trên mạng chuyển mạch gói là rất khó thực hiện do mất gói trong mạng là không thể tránh được và độ trễ không cố định của các gói thông tin khi truyền trên mạng. Để có được một dịch vụ thoại chấp nhận được, cần thiết phải có một kỹ thuật nén tín hiệu đạt được những yêu cầu khắt khe: tỉ số nén lớn (để giảm được tốc độ bit xuống), có khả năng suy đoán và tạo lại thông tin của các gói bị thất lạc... Tốc độ xử lý của các bộ Codec (Coder and Decoder) phải đủ nhanh để không làm cuộc đàm thoại bị gián đoạn. Đồng thời cơ sở hạ tầng của mạng cũng cần được nâng cấp lên các công nghệ mới như Frame Relay, ATM,... để có tốc độ cao hơn hoặc phải có một cơ chế thực hiện chức năng QoS (Quality of Service). Tất cả các điều này làm cho kỹ thuật thực hiện điện thoại IP trở nên phức tạp và không thể thực hiện được trong những năm trước đây Ngoài ra có thể kể đến tính phức tạp của kỹ thuật và vấn đề bảo mật thông tin (doInternet nói riêng và mạng IP nói chung vốn có tính rộng khắp và hỗn hợp, không cógì bảo đảm rằng thông tin cá nhân được giữ bí mật).1.3. Yêu cầu chất lượng đối với VoIP Từ những nhược điểm chính của mạng chuyển mạch gói đã đặt ra những yêu cầucho VoIP như sau:  Chất lượng thoại phải ổn định, độ trễ chấp nhận được.  Mạng IP cơ bản phải đáp ứng được những tiêu chí hoạt động khắt khe gồm giảm thiểu việc không chấp nhận cuộc gọi, mất mát gói và mất liên lạc. Điều này đòi hỏi ngay cả trong trường hợp mạng bị nghẽn hoặc khi nhiều người sử dụng chung tài nguyên của mạng cùng một lúc.  Việc báo hiệu có thể tương tác được với báo hiệu của mạng PSTN.  Quản lý hệ thống an toàn, địa chỉ hoá và thanh toán phải được cung cấp, tốt nhất là được hợp nhất với các hệ thống hỗ trợ hoạt động PSTN. 6
  16. 16. Chương 2. Các giao thức truyền tải trong VoIP2.1. Giao thức IP Giao thức mạng IP được thiết kế để liên kết các mạng máy tính sử dụng phươngpháp truyền thông và nhận dữ liệu dưới dạng gói. Giao thức IP cho phép truyền cácgói dữ liệu từ điểm nguồn tới điểm đích có địa chỉ cố định. Đơn vị dữ liệu được traođổi là các gói dữ liệu. Các chức năng được thực hiện ở IP là:  Đánh địa chỉ: tất cả các host trong mạng và trong liên mạng đều được cung cấp một địa chỉ IP duy nhất. Theo giao thức IP version 4, mỗi địa chỉ IP gồm 32bit và được chia làm 5 lớp A,B,C,D,E. Các lớp A,B,C được sử dụng để định danh các host trên các mạng. Lớp được sử dụng cho quá trình truyền đa điểm còn lớp E để dự phòng.  Định tuyến: giúp xác định đường đi (tuyến)cho gói tin khi được truyền trên mạng. Nó giúp lựa chọn đường đi tối ưu cho các gói dữ liệu. Nếu hai host cần liên lạc không nằm trên một subnet thì bảng định tuyến sẽ được sử dụng để quyết định việc chuyển dữ liệu và các bộ định tuyến thường xuyên trao đổi và cập nhật thông tin trong bảng định tuyến tùy thuộc vào phương pháp định tuyến được sử dụng.  Truyền đa điểm: Hiện nay có ba cách truyền các gói IP là: o Truyền một điểm đích (unicast): các gói tin được truyền từ host nguồn đến host đích duy nhất. o Truyền quảng bá: gói tin được truyền đến tất cả các host trong mạng. o Truyền đa điểm: gói tin được gửi đến một số các host nhất định trong mạng Ngoài ra, giao thức IP còn cung cấp khả năng phân mảnh dữ liệu lớn thành cácgói có kích thước nhỏ hơn để truyền qua mạng.2.1.1. Giao thức IP phiên bản 4 (IPv4)Cấu trúc của header IPv4 như sau: 7
  17. 17. Hình 1. Cấu trúc gói IP phiên bản 4Ý nghĩa các trường như sau:  Version: độ rộng 4 bit mô tả phiên bản IP  IP Header Length(IHL): có độ rộng 4 bit, xác định độ rộng của phần tiêu đề của gói tin IP  Type of Service: có độ rộng 8 bit, xác định các tham số chỉ dịch vụ sử dụng khi truyền gói tin qua mạng. Rất nhiều mạng cung cấp các dịch vụ về độ ưu tiên lưu thông, đặc biệt khi mạng bị quá tải. Việc lựa chọn này đảm bảo đường truyền đạt ba tiêu chuẩn là thời gian trễ, độ tin cậy, bộ thông suốt của gói tin. Được mô tả cụ thể như sau: o Quyền ưu tiên (3 bit) o Độ trễ D (1 bit)  D=0: độ trễ bình thường  D=1: độ trễ cao o Thông lượng T (1bit)  T=0: thông lượng bình thường  T=1: thông lượng cao o Độ tin cậy (1bit):  R=0: độ tin cậy bình thường  R=1: độ tin cậy cao  Total Length (16bit): xác định độ dài của gói tin kể cả phần tiêu đề. Có giá trị tối đa là 65535 byte. Thông thường các host chỉ có thể xử lý gói tin có độ dài là 576 byte gồm 512 byte dữ liệu và 64 byte tiêu đề. Các host chỉ có thể gửi các gói tin cố độ dài lớn hơn 576 byte khi biết trước là host đích có khả năng xử lý gói này.  Indentification: cùng với trường địa chỉ nguồn, đích dùng để định danh duy nhất cho một gói tin trong khoảng thời gian nó tồn tại. 8
  18. 18.  Flag : có độ rộng 3 bit, chỉ độ phân đoạn của gói tin o Bit 0: luôn bằng 0 o Bit 1 (DF):  DF=0: có phân đoạn  DF=1: không phân đoạn o Bit 2 (MF):  MF=0: mảnh cuối cùng  MF=1: không phải mảnh cuối cùng  Fragment Offset: độ rộng 13 bit, chỉ rõ vị trí của phân mảnh trong gói tin tính theo đơn vị 64bit.  Time to Live: độ rộng 8 bit, quy định thời gian tồn tại của gói tin.  Protocol: độ rộng 8 bit, xác định giao thức tầng giao vận. Ví dụ o Protocol = 6: giao thức TCP o Protocol=17: giao thức UDP  Header Checksum: độ rộng 16 bit, mã kiểm tra CRC-16 của phần tiêu đề cho phát hiệnlỗi  Source Address: độ rộng 32 bit, xác định địa chỉ nguồn.  Destination Address: độ rộng 32 bit, xác định địa chỉ đích  Option: có độ dài thay đổi để lưu thông tin tùy biến của người dùng  Padding: có độ dài thay đổi, đảm bảo độ dài của header luôn là bội 32 bit  Data: có độ dài tối đa là 65535 byte chứa dữ liệu lớp cao hơn. Đánh địa chỉ trong IPv4 Hệ thống địa chỉ này được thiết kế mềm dẻo qua một sự phân lớp, có 5 lớp địachỉ IP là: A, B, C, D, E. Sự khác nhau cơ bản giữa các lớp địa chỉ này là ở khả năng tổchức các cấu trúc con của nó. Lớp Nhận dạng Địa chỉ đầu Địa chỉ cuối Mặt nạ mạng A 0xxx 0.0.0.0 127.255.255.255 255.0.0.0 B 10xx 128.0.0.0 191.255.255.255 255.255.0.0 C 110x 192.0.0.0 223.255.255.255 255.255.255.0 D 1110 224.0.0.0 239.255.255.255 9
  19. 19. E 1111 240.0.0.0 255.255.255.255 Địa chỉ lớp A: Lớp A sử dụng byte đầu tiên của 4 byte để đánh địa chỉ mạng.Như hình trên, nó được nhận ra bởi bit đầu tiên trong byte đầu tiên của địa chỉ có trịgiá 0. Ba byte còn lại được sử dụng để đánh địa chỉ máy trong mạng. Có 126 địa chỉlớp A với số máy tính trong mạng là 2563 – 2 = 16.777.214 máy cho mỗi địa chỉ lớpA. Địa chỉ lớp A thường được cấp cho những tổ chức có số lượng máy tính lớn.Nguyên nhân chỉ có 126 network trong khi dùng 8 bit vì bit đầu tiên mang giá trị 0dùng để định nghĩa lớp A. Do vậy còn lại 7 bit đánh từ 0 – 127, tuy nhiên người takhông sử dụng một địa chỉ chứa toàn các con số 1 hoặc 0 nên chỉ còn lại 126 mạng lớpA được sử dụng. Giá trị byte đầu tiên của lớp A sẽ luôn nằm trong khoảng từ 1 tới 126,mỗi một byte trong 3 byte còn lại sẽ có giá trị trong khoảng 1 đến 254. Địa chỉ lớp B: Một địa chỉ lớp B được nhận ra bởi 2 bit đầu tiên của byte thứnhất mang giá trị 10. Lớp B sử dụng 2 byte đầu tiên của 4 byte để đánh địa chỉ mạngvà 2 byte cuối đánh địa chỉ máy trong mạng. Có 64*256 – 2 = 16.128 địa chỉ mạng lớpB với 65.534 máy cho mỗi địa chỉ lớp B. Địa chỉ lớp C: Một số tổ chức có quy mô nhỏ có thể xin cấp phát địa chỉ lớp C.Một địa chỉ lớp C được nhận ra với 3 bit đầu mạng giá trị 110. Mạng lớp C sử dụng 3byte đầu để đánh địa chỉ mạng và 1 byte cuối đánh địa chỉ máy trong mạng. Có2.097.150 địa chỉ lớp C, mỗi địa chỉ lớp C có 254 máy. Từ các lớp mạng cơ bản trên, ta có thể thực hiện chia subnet cho mạng để tạothành các mạng con (subnet) tùy theo yêu cầu cụ thể. Phần dùng để đánh mạng conđược lấy để đánh subnet được lấy từ phần dành đánh địa chỉ host. Hình 2. Quy các địa chỉ IP khi chia subnet Khi đó, để xác định địa chỉ mạng của trạm, ta cần phải biết mặt nạ mạng tươngứng với IP được chia. Việc tính toán ra địa chỉ mạng của IP được tính như sau: Dạng thập phân Dạng nhị phân 10
  20. 20. Địa chỉ IP của trạm 192.168.5.130 11000000.10101000.00000101.10000010Mặt nạ mạng 255.255.255.192 11111111.11111111.11111111.11000000Địa chỉ mạng 192.168.5.128 11000000.10101000.00000101.100000002.1.2. Giao thức IP phiên bản 6 (IPv6) Trong IPv4 trường địa chỉ nguồn và đích có độ dài 32 bit nên không thể đáp ứngđủ nhu cầu đánh địa chỉ của mạng. Ngoài ra, do sự phát triển của Internet, bảng địnhtuyến của router không ngừng lớn lên và khả năng định tuyến đã bộc lộ hạn chế. Yêucầu nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo mật được đặt ra. IPv6 là giao thức Internetmới được kế thừa đặc điểm chính của IPv4 và có nhiều cải tiến để khắc phục nhữnghạn chế:  Tăng kích thước địa chỉ từ 32 bit lên 128 bit  Phạm vi định tuyến đa điểm: giao thức này hỗ trợ phương thức truyền mới “anycasting”. Phương thức này sử dụng để gửi các gói tin đến một nhóm xác định.  Phần tiều đề của IPv6 được đơn giản hóa hơn IPv4. Điều đó cho phép xử lý gói tin nhanh hơn. Ngoài ra, IPv6 còn cung cấp một số tiêu đề phụ cho phép giao thức IPv6 có thể sử dụng một cách mềm dẻo hơn hẳn so với IPv4. Cấu trúc gói tin IPv6 như sau: Hình 3. Cấu trúc gói tin IP phiên bản 6 Ý nghĩa các trường như sau:  Version: có giá trị bằng 6 với IPv6  Traffic Class: độ dài 8 bit, xác định độ ưu tiên  Flow Label: độ dài 20bit, xác định các gói dữ liệu được ưu tiên trên đường truyền nếu có xảy ra tranh chấp, thường được sử dụng cho các dịch vụ đòi hỏi chất lượng dịch vụ cao hay thời gian thực. 11
  21. 21.  Payload Length: độ dài 16 bit, xác định độ dài phần dữ liệu không tính phần tiêu đề.  Hop Limit: độ dài 8 bit, giống như trường Time to Live của IPv4  Source Address và Destination Address giống như IPv4 nhưng có độ dài 128bit.  Data: có độ dài tối đa là 65535 byte.2.2. Giao thức TCP/IP Giao thức TCP là giao thức điều khiển truyền thông hướng kết nối và có độ tincậy cao. TCP cung cấp là giao thức được xây dựng phức tạp hơn UDP rất nhiều, ngoàicác dịch vụ như UDP, TCP còn cung cấp các dịch vụ khác cho ứng dụng. Dịch vụquan trọng nhất là truyền dữ liệu có độ tin cậy cao, các cơ chế điều khiển lưu lượng vàkiểm soát tắc nghẽn, đánh số thứ tự và số thứ tự bên nhận, bộ định thời,....Cụ thể TCPcung cấp các dịch vụ sau:  Thiết lập liên kết: TCP là giao thức hướng kết nối, trước khi gửi dữ liệu cần thiết lập trước đường truyền (chính là 1 liên kết lôgic giữa hai thực thể TCP), thủ tục này gọi là thủ tục “bắt tay”. Liên kết được thiết lập phải đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy, một liên kết khi không còn đủ độ tin cậy thì sẽ bị huỷ bỏ và thiết lập lại. Khi quá trình truyền tin hoàn thành thì kết nối được giải phóng .  Cung cấp đường truyền hai chiều (song công - full duplex).  Đảm bảo độ tin cậy: Giao thức TCP cung cấp các tham số kiểm tra cùng với số thứ tự (Sequence number), xác nhận (ACKnowledge ) và kiểm tra lỗi tổng (Checksum). Các segment được đánh số tuần tự, cách làm này nhằm mục đích loại bỏ các segment bị trùng lặp hay không đúng yêu cầu. Tại bên thu, khi nhận được các segment thực hiện việc kiểm tra nhờ trường checksum. Nếu segment nhận được không lỗi hay lặp, tín hiệu ACK sẽ được gửi trả lại bên phát để khẳng định dữ liệu nhận tốt. Ngược lại nếu segment nhận được bị lỗi hay bị trùng lặp thì segment này sẽ được loại bỏ và bên thu sẽ gửi một tin hiệu yêu cầu bên phát phát lại segment bị lỗi đó, bằng cơ chế này sẽ đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy cho dữ liệu.  Cung cấp các dịch vụ (chức năng) kiểm tra đường truyền, cho phép điều khiển luồng và điều khiển tắc nghẽn. 12
  22. 22. Trong ứng dụng VoIP, giao thức TCP được sử dụng làm giao thức truyền báohiệu chứ không phục vụ việc truyền tín hiệu thoại. Lý do là vì phần mào đàu của TCPlớn Hình 4. Cấu trúc đơn vị dữ liệu TCP Ý nghĩa các trường như sau:  Source Port: độ dài 16 bit, xác định số hiệu cổng của trạm nguồn  Destination Port: độ dài 16 bit, xác định số hiệu cổng của trạm đích  Sequence Number: độ dài 32 bit. Số hiệu của byte đầu tiên của segment từ khi bit SYN được thiết lập. Nếu bit SYN được thiết lập thì Sequence Number là số hiệu tuần tự khởi đầu (ISN) và byte dữ liệu đầu tiên là ISN+1  ACK Number: độ dài 32 bit, xác định số hiệu của segment tiếp theo mà trạm nguồn đang chờ được xác nhận  Data Offset: độ dài 4 bit, xác định vị trí bắt đầu của khối dữ liệu lớp trên trong đơn vị dữ liệu TCP.  Control bit: o URG: vùng Urgent Pointer có hiệu lực o ACK: vùng ACK có hiệu lực o PSH: chức năng Push o RST: khởi động lại liên kết o SYN: đồng bộ hóa các số hiệu tuần tự o FIN: không còn số liệu từ trạm cuối  Window: cấp phát thẻ bài để kiểm soát luồng dữ liệu theo cơ chế cửa sổ. Đây chính là số lượng các byte dữ liệu bắt đầu từ byte được chỉ ra trong vùng ACK mà trạm nguồn sẵn sàng nhận.  Checksum: mã CRC-16 13
  23. 23.  Urgent Pointer: con trỏ trỏe tới số hiệu tuần tự của byte đi sau dữ liệu khẩn, cho bên nhận biết được độ dài của dữ liệu khẩn. Vùng này có hiệu lực khi bit URG được thiết lập.  Option: có độ dài thay đổi, khai báo các lựa chọn của TCP trong đó có độ dài tối đa của vùng dữ liệu trong một đơn vị dữ liệu segment.  Padding: đảm bảo phần tiêu đề của TCP luôn là bội 32 bit.  TCP data: chứa dữ liệu lớp trên có giá trị tối đa là 536 byte. Giá trị này có thể thay đổi nhờ khai báo trong Option Thiết lập và hủy kết nối TCP Để hiểu được chức năng của hàm connect, accept, close và giúp debug các ứngdụng TCP bằng chương trình netstat, chúng ta cần hiểu làm thế nào để thiết lập và hủymột kết nối TCP, cũng như trạng thái của TCP. Hình 5. Bắt tay 3 bước trong thiết lập kết nối TCP Giản đồ trên đây diễn ra khi một kết nối TCP được thiết lập: 1) Server đã sẵn sàng accept một kết nối tới. Công việc này được thực hiện bằng việc gọi hàm socket, bind, listen. Và được gọi là “passive open” (mở ở trạng thái bị động) 2) Client thiết lập một “active open” bằng cách gọi hàm connect. Khi đó, phía client sẽ gửi SYN để báo cho server biết số thứ tự của dữ liệu client sẽ gửi trong kết nối. Thông thường, SYN không chứa dữ liệu, chỉ chứa tiêu đề IP, TCP và có thể là các tùy chọn TCP. 3) Server xác nhận SYN của server. Nó sẽ SYN với số thứ tự cho dữ liệu của nó. Server gửi SYN và ACK cho SYN của client trong cùng một segment. 4) Client xác nhận SYN của server. Số gói tối thiểu được truyền là ba nên được gọi là there-way handshake (bắt tay 3bước). 14
  24. 24. Hủy kết nối TCP Trong khi chỉ cần ba segment để thiết lập một kết nối TCP thì cần bốn segmentđể hủy kết nối. 1) Một ứng dụng gọi hàm close trước, chúng ta gọi đầu cuối này thực hiện active- close. Đầu cuối này sẽ gửi FIN segment để kế thúc việc gửi dữ liệu 2) Đầu cuối khác nhận FIN thực hiện “passive close”. FIN nhận được gọi xác nhận bởi TCP. FIN nhận được cũng được truyền lên lớp ứng dụng như là end- of-file(sau khi các dữ liệu khác đã được nhận đủ). Khi nhận được FIN nghĩa là ứng dụng không nhận thêm dữ liệu nữa. 3) Ứng dụng sau khi nhận được end-of-file sẽ close (đóng) socket lại. TCP của nó sẽ gửi FIN. 4) TCP của phía yêu cầu hủy kết nối nhận bản tin FIN cuối cùng, xác nhận FIN. Hình 6. Hủy kết nối TCP Hoạt động của TCP trong thiết lập và hủy cuộc gọi được mô tả bằng lược đồtrạng thái. Có 11 trạng thái khác nhau cho một kết nối và luật cho phép chuyển từtrạng thái này sang trạng thái khác dựa trên cơ sở trạng thái đã có. Ví dụ: nếu một ứngdụng thiết lập một “active open” ở trạng thái CLOSED, TCP gửi SYN và trạng tháimới là SYN_SENT. Nếu TCP sau đó nhận được SYN với ACK, nó sẽ gửi ACK vàmột trạng thái mới ESTABLISH. Trạng thái cuối khi mà việc truyền dữ liệu diễn ra.Hai đường mũi tên chỉ từ trạng thái ESTABLISHED tới trạng thái ngắt kết nối. Nếuứng dụng gọi close trước khi nhận FIN, thì trạng thái là FIN_WAIT1. Nhưng nếu ứngdụng nhận FIN trong khi đang ESTABLISHED, trạng thái sẽ là CLOSE_WAIT. Một lý do cần thiết phải hiểu được lược đồ trạng thái là để hiểu được 11 trạngthái TCP với tên của nó. Trạng thái này được hiện bởi netstat, là một công cụ hữu hiệutrong việc debug ứng client/server. 15
  25. 25. Hình 7. Sơ đồ thay đổi trạng thái thiết lập TCP Truyền các gói Hình 8. Truyền dữ liệu với TCPHình trên biễu diễn việc truyền gói thực diễn ra cho một TCP hoàn chỉnh: thiết lập kếtnối, truyền dữ liệu, hủy kết nối. Client trong ví dụ này thông báo MSS=536(xác địnhkích thước buffer của nó) và server có kích thước buffer là 1460. Với mỗi kết nối đượcthiết lập, client tạo một yêu cầu và gửi nó tới server. Yêu cầu này được gắn trọn trongchỉ một TCP segment. Server xử lý yêu cầu và gửi trả lời (kích thước nhỏ hơn 536).Hai gói dữ liệu được biểu diễn bằng đường mũi tên đậm. Chú ý rằng ACK của yêu cầu 16
  26. 26. của client được gửi kèm với trả lời của server. Cách thức này được gọi làpiggybacking và thường được thực hiện khi thời gian server xử lý và trả lời nhỏ hơn200ms. Nếu lâu hơn, thì ACK sẽ được gửi trước khi gửi trả lời. Một điều quan trọngtrong mô hình này là: Nếu chỉ để gửi một segment yêu cầu đi và nhận một segment trảlời thì cần tám segment khác. Nếu UDP được sử dụng, chỉ có hai segment đượctruyền: yêu cầu, trả lời. Nhưng chuyển từ TCP sang UDP thì chúng ta không còn tínhtin cậy mà TCP cung cấp cho ứng dụng nữa, việc đảm bảo truyền tin sẽ do chươngtrình UDP thực hiện. Một yếu tố quan trọng nữa của TCP đó là điều khiển tắc nghẽnmà ở UDP không có. Các ứng dụng thường sử dụng UDP với các dữ liệu nhỏ cần tốcđộ truyền cao(độ trễ nhỏ).2.3. Giao thức UDP UDP là giao thức lớp Giao vận đơn giản nhất, được mô tả trong RFC 768. Ứngdụng gửi bản tin tới socket UDP, sau đó được đóng gói thành một UDP paragram vàđược truyền xuống lớp IP để gửi tới đích. Gói tin UDP được truyền mà không đảm bảorằng nó có thể tới đích, giữ đúng thứ tự và đến đích một lần. Vấn đề của người lậptrình mạng với UDP là đảm bảo tính tin cậy. Nếu datagram tới đích nhưng trườngkiểm tra tổng (checksum) có lỗi hay gói tin bị drop ở trên mạng thì nó sẽ được truyềnlại. Nếu muốn xác định được rằng gói tin đã tới đích thì cần rất nhiều tính năng trongứng dụng: ACK từ đầu cuối khác, điều khiển việc truyền lại,.. Mỗi một UDP datagramcó chiều dài và được truyền lên cùng với dữ liệu cho lớp ứng dụng. Điều này khác vớiTCP là giao thức luồng byte (byte-stream protocol). Chúng ta cũng có thể nói: UDPcung cấp dịch vụ không hướng kết nối. Ví dụ, client UDP có thể tạo một socket và gửidatagram tới server này và sau đó gửi một datagram khác cũng tới server khác. Cũnggiống như server UDP có thể nhận nhiều datagram trên một socket UDP từ các clientkhác nhau. Hình 9. Cấu trúc đơn vị dữ liệu UDP2.4. Giao thức SCTP Năm 1998, nhóm làm việc của IETF được tập hợp để thiết kế một cơ chế giaovận tin cậy để truyền báo hiệu điều khiển cuộc gọi trên mạng Internet. Kết quả là 17
  27. 27. Sigtran đã được ra đời cho phép truyền các bản tin SS7 trên mạng IP. Vấn đề chính màSigtran cần giải quyết chính mà TCP chưa đáp ứng được đó là:  Head of line blocking: Vấn đề xảy ra khi gửi các bản tin độc lập trên kết nối TCP đã được thiết lập thì các bản tin được nhận sau bị làm trễ và lưu trong bộ đệm của tầng giao vận của phía nhận tới khi các bản tin trước đó bị mất được truyền lại và tới đích. Mà ở đó, các bản tin sau thường thiết lập các cuộc gọi độc lập. Như vậy, trễ ở các bản tin sau là nguyên nhân sinh ra timeout trong điều khiển cuộc gọi gây ra lỗi không mong muốn trong quá trình điều khiển cuộc gọi.  Multihoming: Khi một trạm với nhiều đường truy cập Internet với mục đích dự phòng, không muốn đợi để định tuyến trong khi mạng bị tắc nghẽn để truyền tin với trạm ngang hàng với nó. Với báo hiệu cuộc gọi, trễ này là không thể chấp nhận được khi có nhiều đường đã có. Do TCP chỉ gắn một đường kết nối giữa hai đầu cuối nên sẽ không thể giải quyết được vấn đề này. Cân nhắc những vấn đề này, Sigtran được thiết kế như là một giao thức tầng giaovận mới cho phép mang báo hiệu cuộc gọi trên mạng IP. Đồng thời, IETF mở rộngphạm vi của nhóm thiết kế từ một nhóm nhỏ đến một nhóm chuyên trách để thiết kếmột giao thức giao vận có thể phục vụ nhiều mục đích và hoạt động tốt với nhiều ứngdụng. Và khi đó SCTP ra đời với các đặc tính sau:  Multistreaming: SCTP hỗ trợ đa luồng (stream) bản tin độc lập với nhau trên một liên kết SCTP. Mỗi bản tin được gửi trên đó được gán cho một luồng riêng. Tất cả dữ liệu trong một luồng được nhận theo thứ tự với dữ liệu khác trong luồng. Dữ liệu trong các luồng khác nhau thì không có đặc tính này. Do vậy, SCTP cung cấp cơ chế cho phép việc nhận dữ liệu có thứ tự một cách cục bộ. Như vậy là nó đã giải quyết được vấn đề head-of-line blocking. Ứng dụng của đa luồng (multistreaming) có thể hỗ trợ các ứng dụng liên quan tới hợp kênh dữ liệu như thoại, văn bản, video trên một đường truyền giữa hai đầu cuối thay vì mở nhiều kết nối TCP cho mỗi luồng.  Multihoming: giữa hai đầu cuối trong quá trình thiết lập liên kết có thể xác định liên kết đa điểm. Việc có nhiều giao diện cho phép dữ liệu được tự động gửi theo nhiều địa chỉ khác nhau khi có lỗi xảy ra. Điều này là hoàn toàn không thể thực hiện được ở TCP vì nó gắn kết một đầu cuối với một giao diện nhất định. Nếu như có lỗi xảy ra, tất cả các kết nối được gắn với 18
  28. 28. giao diện đó vần có thời gian timeout và được hủy bỏ. Và sau đó, ứng dụng là phải thiết lập lại các kết nối khác. Message Orientation: Trong TCP, dữ liệu được gửi giữa hai đầu cuối là luồng các byte. Nếu cần thiết, ứng dụng phải làm chức năng định dạng khung (frame) cho bản tin. Ở SCTP, bản tin được giữ nguyên định dạng. Tức là nếu tầng ứng dụng phía phát gửi bản tin 100 byte đi thì phía thu cũng nhận được đúng 100 byte. UDP cũng cung cấp dịch vụ hướng bản tin nhưng không có độ tin cậy cao như SCTP. Un-ordered Service: Đối với TCP, tất cả các bản tin được nhận tin cậy đúng theo thứ tự được gửi. Còn với SCTP, giao thức này cung cấp cơ chế nhận tin không có thứ tự (giữa các luồng song song với nhau). Ở UDP cũng cấp dịch vụ này nhưng không có độ tin cậy như SCTP. Extensibility: Gói TCP bị giới hạn bởi 40 byte trường Option. Trái lại, gói SCTP được mở rộng thông qua việc sử dụng trường TLV (Tag-Length- Value). Heartbeat/Keep-alive: SCTP có một tùy chọn cho phép xác định thời gian sống của bản tin. Nó cho phép ứng dụng truyền tin xác định khoảng thời gian mà bản tin còn có ích. Nếu thời gian này hết hạn trước khi được truyền tin cậy tới phía nhận, thì thực thể SCTP gửi có thể dừng việc cố gửi bản tin hay hủy bỏ bản tin. Kiểu tin cậy này gọi là “tin cậy cục bộ”. Điều này rất hữu ích như trong truyền tin di động hay ở các game online. Việc này sẽ giúp tiết kiệm băng thông đường truyền chống tắc nghẽn. Syn cookie: SCTP sử dụng bắt tay bốn bước bới việc sử dụng cookie có dấu hiệu định trước. Phía nhận của bản tin thiết lâpk liên kết SCTP mới duy trì trạng thái no-state (không được cấp tài nguyên) cho tới khi phía khởi tạo chứng thực được đó là IP của đối tượng yêu cầu kết nối. Cơ chế này cho phép chống lại tấn công từ chối dịch vụ bằng cách SYN flooding. Stronger checksum: SCTP cung cấp 32 bit kiểm tra tổng với khả năng phát hiện lỗi tốt hơn 16 bit ở TCP hay UDP. Advanced TCP services: các dịch vụ mới của TCP như SACK (RFC 2018), Appropriate Byte Counting Byte Counting (RFC 3465) và Explicit Congestion Notificaion (RFC3168) đã được tích hợp sẵn trong SCTP. Services/Features SCTP TCP UDP 19
  29. 29. Hướng liên kết Có Có KhôngSong công Có Có CóTin cậy Có Có KhôngTin cậy cục bộ optional Không KhôngNhận dữ liệu có thứ tự Có Có KhôngNhận dữ liệu không có thứ tự Có no CóĐiều khiển luồng Có Có KhôngĐiều khiển tắc nghẽn Có Có KhôngCơ chế ECN Có Có KhôngSelective ACKs Có Tùy chọn KhôngHướng bản tin Có no CóTìm lại đường MTU Có Có KhôngPhân mảnh PDU tầng ứng dụng Có Có KhôngBọc các PDU tầng ứng dụng Có Có KhôngĐa luồng Có Không KhôngMultihoming Có Không KhôngChống tấn công tràn SYN Có Không KhôngKêt nối half-closed Không Có KhôngKiểm tra dữ liệu tới đích Có Có Không KhôngGiả tiều đề cho checksum Có Có (sử dụng vtags) 20
  30. 30. Trạng thái đợi vtags 4-tuple Không SCTP là giao thức hướng kết nối giống như TCP và cũng có việc bắt tay để thiếtlập và hủy kết nối. Tuy vậy, việc bắt tay của SCTP khác so với TCP. Hình 10. Thiết lập kết nối SCTP 1) Server sẵn sàng chấp nhận một association đến. Việc này được thực hiện thông qua lời gọi hàm socket, bind, listen và được gọi là passive open. 2) Client thiết lập một active open bằng cách gọi hàm connect hay gửi một bản tin yêu cầu mở một association. Khi đó, SCTP client sẽ gửi bản tin INIT thông báo với server danh sách địa chỉ IP của nó, số hiệu thứ tự, tag thiết lập để xác định tất cả các gói là trong một association, số luồng mà client yêu cầu, số luồng vào mà nó hỗ trợ. 3) Server xác nhận bản tin INIT của client với bản tin INIT-ACK chứa danh sách địa chỉ IP, số thứ tự thiết lập, tag thiết lập, số luồng mà nó hỗ trợ và một cookie trạng thái. Cookie trạng thái chứa tất cả các trạng thái mà server xác nhận association là hợp lệ và được gán số để cho việc xác thực này. 4) Client gửi lại cookie trạng thái của server với bản tin COOKIE-ECHO. Bản tin này chứa dữ liệu người dùng gắn kèm. 5) Server xác nhận rằng cookie là hợp lệ và association được thiết lập với bản tin COOKIE-ACK. Bản tin này cũng chứa dữ liệu người dùng. Hủy association Không giống như TCP, SCTP không cho phép “half-closed” association. Khimột đầu cuối ngừng thì đầu cuối kia cũng phải dừng gửi dữ liệu mới. Phía nhận yêucầu hủy kết nối gửi nốt dữ liệu đã được xếp hàng trước khi hủy kết nối. SCTP khôngcó trạng thái TIME_WAIT như TCP mà sử dụng tag để làm việc này. Tất cả các chunk 21
  31. 31. được tag hóa với tag gửi trong chunk INIT, một chunk từ một kết nối cũ sẽ được nhậnvới tag sai. Như vậy, SCTP sử dụng việc xác nhận giá trị tag trong TIME_WAIT. Hình 11. Hủy kết nối SCTP Các trạng thái trong kết nối SCTP được biểu diễn bằng lược đồ sau: Hình 12. Sơ đồ trạng thái thiết lập SCTP2.5. Giao thức RTP RTP là một giao thức dựa trên giao thức IP tạo ra các hỗ trợ để truyền tải các dữliệu yêu cầu thời gian thực với các yêu cầu:  Liên tục: Các gói tin phải được sắp xếp theo đúng thứ tự khi chúng đến bên nhận, các gói đến có thể không theo thứ tự và nếu gói tin bị mất thì bên nhận phải dò tìm hay bù lại sự mất các gói tin này.  Sự đồng bộ trong các phương thức truyền thông: Các khoảng lặng trong tiếng nói được triệt và nén lại để giảm thiểu băng thông cần thiết, tuy nhiên khi đến 22
  32. 32. bên nhận, thời gian giữa các khoảng lặng này phải được khôi phục một cách chính xác.  Sự đồng bộ giữa các phương thức truyền thông: Có thể tín hiệu thoại sử dụng một phương thức truyền thông trong khi tín hiệu video lại sử dụng một phương thức truyền thông khác, các tín hiệu tiếng và hình phải được đồng bộ một cách chính xác, gọi là sự đồng bộ tiếng - hình.  Sự nhận diện phương thức truyền tải: Trong Internet, thông thường cần thay đổi sự mã hoá cho phương thức truyền tải (payload) trên hành trình truyền để hiệu chỉnh thay đổi độ rộng băng thông sẵn sàng hoặc đủ khả năng cho người dùng mới kết nối vào nhóm. Một vài cơ chế cần được sử dụng để nhận diện sự mã hoá cho mỗi gói đến. Các dịch vụ cung cấp bởi RTP bao gồm:  Đa phát đáp thân thiện: (multicast – friendly): RTP và RTCP là kỹ thuật cho đa phát đáp, cung cấp khả năng mở rộng cuộc hội thoại nhiều bên. Trên thực tế, chúng được thiết kế để có thể hoạt động trong cả các nhóm đa phát đáp nhỏ, phù hợp cho các cuộc điện đàm ba bên. Đối với các nhóm lớn, chúng sử dụng đa phát đáp quảng bá (broadcasting).  Độc lập thiết bị: RTP cung cấp các dịch vụ cần thiết chung cho phương thức truyền thông thời gian thực nói chung như thoại, video hay bất kì một bộ mã hoá, giải mã cụ thể nào có sự định nghĩa các phương thức mã hoá và giải mã riêng bằng các thông tin tiêu đề và định nghĩa.  Các bộ trộn và chuyển đổi: Các bộ trộn là thiết bị nắm giữ phương thức truyền thông từ một vài người sử dụng riêng lẻ, để trộn hoặc nối chúng vào các dòng phương thức truyền thông chung, chuyển đổi chúng vào khuôn dạng khác và gửi nó ra. Các bộ chuyển đổi có ích cho sự thu nhỏ băng thông yêu cầu của dòng số liệu từ dòng số liệu chung trước khi gửi vào từng kết nối băng thông hẹp hơn mà không yêu cầu nguồn phát RTP thu nhỏ tốc độ bit của nó. Điều này cho phép các bên nhận kết nối theo một liên kết nhanh để vẫn nhận được truyền thông chất lượng cao. RTP hỗ trợ cả các bộ trộn và cả các bộ chuyển đổi.  Mã hoá thành mật mã: Các dòng phương thức truyền thông RTP có thể mã hoá thành mật mã dùng các khoá, việc mã hoá đảm bảo cho việc thông tin trên mạng được an toàn hơn. Các gói tin truyền trên mạng Internet có trễ và jitter không dự đoán được. Nhưngcác ứng dụng đa phương tiện yêu cầu một thời gian thích hợp khi truyền các dữ liệu và 23
  33. 33. phát lại. RTP cung cấp các cơ chế bảo đảm thời gian, số thứ tự và các cơ chế khác liênquan đến thời gian. Bằng các cơ chế này RTP cung cấp sự truyền tải dữ liệu thời gianthực giữa các đầu cuối qua mạng. Bản thân RTP không cung cấp một cơ chế nào cho việc bảo đảm phân phối kịpthời các dữ liệu tới các trạm mà nó dựa trên các dịch vụ của tầng thấp hơn để thực hiệnđiều này. RTP cũng không đảm bảo việc truyền các gói theo đúng thứ tự. Tuy nhiên,số thứ tự trong RTP header cho phép bên thu xây dựng lại đúng thứ tự các gói của bênphát. Hoạt động của RTP được hỗ trợ bởi một giao thức khác là RTCP để nhận cácthông tin phản hồi về chất lượng truyền dẫn và các thông tin về thành phần tham dựcác phiên hiện thời. Không giống như các giao thức khác là sử dụng các trường trongheader để thực hiện các chức năng điều khiển, RTP sử dụng một cơ chế điều khiển độclập trong định dạng của gói tin RTCP để thực hiện các chức năng này. Khuôn dạng bản tin RTP: RTP header bao gồm một phần cố định có ở mọi gói RTP và một phần mở rộngphục vụ cho các mục đích nhất định. Phần cố định: Hình 13. Phần cố định của đơn vị dữ liệu RTP  Version (2 bits): Chỉ ra version của RTP, hiện nay là version 2.  Padding (1 bit): Nếu bit này được đặt, sẽ có thêm một vài octets thêm vào cuối gói dữ liệu. Các octets này không phải là thông tin, chúng được thêm vào để nhằm mục đích: o Phục vụ cho một vài thuật toán mã hoá thông tin cần kích thước của gói cố định. 24
  34. 34. o Dùng để cách ly các gói RTP trong trường hợp có nhiều gói thông tin được mang trong cùng một đơn vị dữ liệu của giao thức ở tầng dưới. Extension (1 bit): nếu bit này được đặt, thì theo sau phần header cố định sẽ là một header mở rộng. Contributing Sources Count (4 bits): số lượng các thành phần nhận dạng nguồn CSRC nằm trong phần header gói tin. Số này lớn hơn 1 nếu các gói tin RTP đến từ nhiều nguồn. Marker (1 bit): mang ý nghĩa khác nhau, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, được chỉ ra trong profile đi kèm. Payload Type (7 bits): chỉ ra loại tải trọng mang trong gói. Các mã sử dụng trong trường này ứng với các loại tải trọng được quy định trong một profile đi kèm. Sequence Number (16 bits): mang số thứ tự của gói RTP. Số này được tăng thêm 1 sau mỗi gói RTP được gửi đi. Có thể được sử dụng để phát hiện được sự mất gói và khôi phục mất gói tại đầu thu. Giá trị khởi đầu của trường này là ngẫu nhiên. Time stamp (tem thời gian, 32 bits): Phản ánh thời điểm lấy mẫu của octet đầu tiên trong gói RTP. Thời điểm này được lấy từ một đồng hồ tăng đều đặn và tuyến tính theo thời gian để cho phép việc đồng bộ và tính toán độ jitter. Tần số đồng hồ này không cố định, tuỳ thuộc vào loại tải trọng. Giá trị khởi đầu được chọn ngẫu nhiên. Một vài gói RTP có thể mang cùng một giá trị “Tem thời gian” nếu như chúng được phát đi cùng lúc về mặt logic. Nếu gói dữ liệu được phát ra đều đặn thì “tem thời gian” được tăng một cách đều đặn. Trong trường hợp khác thì giá trị “tem thời gian” tăng không đều. “Tem thời gian” là thành phần thông tin quan trọng nhất trong các ứng dụng thời gian thực. Người gửi thiết lập các “tem thời gian” ngay thời điểm octet đầu tiên của gói được lấy mẫu. “Tem thời gian” tăng dần theo thời gian đối với mọi gói. Sau khi nhận được gói dữ liệu, bên thu sử dụng các “tem thời gian” này nhằm khôi phục thời gian gốc để chạy các dữ liệu này với tốc độ thích hợp. Ngoài ra, nó còn được sử dụng để đồng bộ các dòng dữ liệu khác nhau (chẳng hạn như giữa hình và tiếng). Tuy nhiên RTP không thực hiện đồng bộ mà các ứng dụng phía trên sẽ thực hiện sự đồng bộ này. 25
  35. 35.  Synchronization Source Identifier (SSRC, 32 bits): chỉ ra nguồn đồng bộ của gói RTP, số này được chọn ngẫu nhiên. Trong 1 phiên RTP có thể có nhiều hơn một nguồn đồng bộ. Mỗi một nguồn phát ra một luồng RTP. Bên thu nhóm các gói của cùng một nguồn đồng bộ lại với nhau để phát lại tín hiệu thời gian thực.  Contributing Source Identifier (CSRC, từ 0-15 mục, mỗi mục 32 bits): chỉ ra những nguồn đóng góp thông tin vào phần tải trọng của gói. Giúp bên thu nhận biết được gói tin này mang thông tin của những nguồn nào. Hình 14. Ví dụ về Cấu trúc gói RTP Phần mở rộng: có độ dài thay đổi. Sự tồn tại phụ thuộc vào bit Extension củaphần cố định. Hình 15. Phần mở rộng cấu trúc dữ liệu RTP  16 bit đầu tiên được sử dụng với mục đích riêng cho từng ứng dụng được định nghĩa bởi profile. Thường được dùng để phân biệt các loại header mở rộng.  Length (16 bits): giá trị chiều dài phần header mở rộng tính theo đơn vị 32 bit, không bao gồm 32 bit đầu tiên của phần header mở rộng. Cơ chế mở rộng của RTP cho phép các ứng dụng riêng lẻ của giao thức RTP thựchiện được với những chức năng mới đòi hỏi những thông tin thêm vào phần headercủa gói. Cơ chế này được thiết kế để một vài ứng dụng có thể bỏ qua phần header mở 26
  36. 36. rộng này (mà vẫn không ảnh hưởng tới hoạt động) trong khi một số ứng dụng khác lạicó thể sử dụng được phần đó. Bộ phận nhận dạng tải xác định kiểu định dạng của tải tin cũng như cách mã hoávà nén. Từ các bộ phận định dạng này, các ứng dụng phía thu biết cách phân tích vàchạy các dòng dữ liệu tải tin. Tại một thời điểm bất kỳ trong quá trình truyền tin, cácbộ phát RTP chỉ có thể gửi một dạng của tải tin cho dù dạng của tải tin có thể thay đổitrong thời gian truyền (thay đổi để thích ứng với sự tắc nghẽn của mạng). Một chức năng khác của RTP là xác định nguồn: cho phép phía thu biết được dữliệu đến từ đâu. Ví dụ trong thoại hội nghị, từ thông tin nhận dạng nguồn một người sửdụng có thể biết được ai đang nói. RTP được cố tình để cho không hoàn thiện. Nó chỉ cung cấp các dịch vụ phổthông nhất cho hầu hết các ứng dụng truyền thông hội nghị đa phương tiện. Mỗi mộtứng dụng cụ thể đều có thể them vào RTP các dịch vụ mới sao cho phù hợp với cácyêu cầu của nó. Các khả năng mở rộng này được mô tả trong một profile đi kèm.Profile này còn chỉ ra các mã tương ứng sử dụng trong trường PT (Payload Type) củaphần tiêu đề RTP ứng với các loại tải trọng mang trong gói. RTP nằm ở phía trên UDP, sử dụng các chức năng ghép kênh và kiểm tra củaUDP. Sở dĩ UDP được sử dụng làm thủ tục truyền tải cho RTP là bởi vì 2 lý do:  Thứ nhất, RTP được thiết kế chủ yếu cho việc truyền tin đa đối tượng, các kết nối có định hướng, có báo nhận không đáp ứng tốt điều này.  Thứ hai, đối với dữ liệu thời gian thực, độ tin cây không quan trọng bằng truyền đúng theo thời gian. Hơn nữa, sự tin cậy trong TCP là do cơ chế báo phát lại, không thích hợp cho RTP. Ví dụ khi mạng bị tắc nghẽn một số gói có thể mất, chất lượng dịch vụ dù thấp nhưng vẫn có thể chấp nhận được. Nếu thực hiện việc phát lại thì sẽ gây nên độ trễ rất lớn cho chất lượng thấp và gây ra sự tắc nghẽn của mạng. Thực tế RTP được thực hiện chủ yếu trong các ứng dụng mà tại các mức ứngdụng này có các cơ chế khôi phục lại gói bị mất, điều khiển tắc nghẽn.Mạng Internet hiện nay vẫn chưa thể đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của các dịch vụthời gian thực. Các dịch vụ RTP yêu cầu băng thông cao có thể làm giảm chất lượngcác dịch vụ khác trong mạng đến mức nghiêm trọng. Trong quá trình triển khai phảichú ý đến giới hạn băng thông sử dụng của các ứng dụng trong mạng. 27
  37. 37. 2.6. Giao thức RTCP RTCP (Real-time Transport Control Protocol) là giao thức hỗ trợ cho RTP cungcấp các thông tin phản hồi về chất lượng truyền dữ liệu. Các dịch vụ mà RTCP cungcấp là:  Giám sát chất lượng và điều khiển tắc nghẽn: Đây là chức năng cơ bản của RTCP. Nó cung cấp thông tin phản hồi tới một ứng dụng về chất lượng phân phối dữ liệu. Thông tin điều khiển này rất hữu ích cho các bộ phát, bộ thu và giám sát. Bộ phát có thể điều chỉnh cách thức truyền dữ liệu dựa trên các thông báo phản hồi của bộ thu. Bộ thu có thể xác định được tắc nghẽn là cục bộ, từng phần hay toàn bộ. Người quản lý mạng có thể đánh giá được hiệu suất mạng.  Xác định nguồn: Trong các gói RTP, các nguồn được xác định bởi các số ngẫu nhiên có độ dài 32 bít, các số này không thuận tiện đối với người sử dụng. RTCP cung cấp thông tin nhận dạng nguồn cụ thể hơn ở dạng văn bản. Nó có thể bao gồm tên người sử dụng, số điện thoại, địa chỉ e-mail và các thông tin khác.  Đồng bộ môi trường: Các thông báo của bộ phát RTCP chứa thông tin để xác định thời gian và nhãn thời gian RTP tương ứng. Chúng có thể được sử dụng để đồng bộ giữa âm thanh với hình ảnh.  Điều chỉnh thông tin điều khiển: Các gói RTCP được gửi theo chu kỳ giữa những người tham dự. Khi số lượng người tham dự tăng lên, cần phải cân bằng giữa việc nhận thông tin điều khiển mới nhất và hạn chế lưu lượng điều khiển. Để hỗ trợ một nhóm người sử dụng lớn, RTCP phải cấm lưu lượng điều khiển rất lớn đến từ các tài nguyên khác của mạng. RTP chỉ cho phép tối đa 5% lưu lượng cho điều khiển toàn bộ lưu lượng của phiên làm việc. Điều này được thực hiện bằng cách điều chỉnh tốc độ phát của RTCP theo số lượng người tham dự. Mỗi người tham gia một phiên truyền RTP phải gửi định kỳ các gói RTCP đến tất cả những người khác cũng tham gia phiên truyền. Nhờ vậy mà có thể theo dõi được số người tham gia. Gói RTCP góp phần làm tăng nghẽn mạng. Băng thông yêu cầu bởi RTCP là 5%tổng số băng thông phân bổ cho phiên. Khoảng thời gian trung bình giữa các góiRTCP được đặt tối thiểu là 5s. Các loại thông báo điều khiển chính được RTCP cung cấp là: 28
  38. 38.  SR (Sender Report): chứa các thông tin thống kê liên quan tới kết quả truyền như tỷ lệ tổn hao, số gói dữ liệu bị mất, khoảng trễ. Các thông báo này phát ra từ phía phát trong 1 phiên truyền thông.  RR (Receiver Report): Chứa các thông tin thống kê liên quan tới kết quả nhận, được phát từ phía thu trong 1 phiên truyền thông.  SDES (Source Description): thông số mô tả nguồn (tên, vị trí…)  APP (Application): cho phép truyền các dữ liệu ứng dụng  BYE: chỉ thị sự kết thúc tham gia vào phiên truyền. Giá trị của trường PT (Packet Type) ứng với mỗi loại gói được liệt kê trong bảngsau. Mỗi gói thông tin RTCP bắt đầu bằng 1 phần tiêu đề cố định giống như gói RTPthông tin. Theo sau đó là các cấu trúc có chiều dài thay đổi theo loại gói nhưng luônbằng số nguyên lần 32 bit. Các gói thông tin RTCP có thể gộp lại với nhau thành cáchợp gói (compound packet) để truyền xuống lớp dưới mà không phải chèn thêm cácbit cách ly. Số lượng gói trong hợp gói tuỳ thuộc vào chiều dài đơn vị dữ liệu lớp dưới. Mọi gói RTCP đều phải được truyền, ngay cả khi chỉ có một gói duy nhất.Khuôn dạng hợp gói được đề xuất như sau:  Encription Prefix (32 bit): Được dành khi hợp gói cần mã hoá. Giá trị trong trường này cần tránh trùng với 32 bit đầu tiên trong gói RTP  Gói đầu tiên trong hợp gói luôn là SR hoặc RR. Nếu không thu nhận thông tin, hoặc hợp gói chỉ có một gói BYE thì một gói RR rỗng được dẫn đầu trong hợp gói.  Nếu số lượng các nguồn lớn hơn 31 (không vừa trong một gói SR hoặc RR) thì các gói RR thêm vào sẽ theo sau gói thống kê đầu tiên. Việc bao gồm gói thống kê (RR hoặc SR) trong mỗi hợp gói nhằm thông tin thường xuyên về chất lượng thu của những người tham gia. Việc gửi hợp gói đi được tiến hành một cách đều đặn và thường xuyên theo khả năng cho phép của băng thông. 29
  39. 39.  Trong hợp gói có gói SDES nhằm thông báo về nguồn phát. Các gói APP nằm ở vị trí bất kỳ trong hợp gói. Gói BYE nằm ở vị trí cuối cùng. Hình 16. Ví dụ Cấu trúc gói RTCP 30
  40. 40. Chương 3. Giao thức báo hiệu VoIP3.1. Giao thức báo hiệu H.323 Khi đề cập đến thoại IP, tiêu chuẩn quốc tế thường được đề cập đến là H.323.Giao thức H.323 là chuẩn do ITU-T phát triển cho phép truyền thông đa phương tiệnqua các hệ thống dựa trên mạng chuyển mạch gói,ví dụ như Internet. Nó được ITU_Tban hành lần đầu tiên vào năm 1996 và gần đây nhất là năm 1998. H.323 là chuẩnriêng cho các thành phần mạng, các giao thức và các thủ tục cung cấp các dịch vụthông tin multimedia như : audio thời gian thực, video và thông tin dữ liệu qua cácmạng chuyển mạch gói, bao gồm các mạng dựa trên giao thức IP.3.1.1. Các thành phần trong mạng3.1.1.1. Thiết bị đầu cuối H.323 (H.323 Endpoint)  Các thiết bị nằm ngoài phạm vi khuyến nghị H.323  Thiết bị vào ra Video.  Thiết bị vào ra Audio.  Thiết bị vào ra số liệu.  Giao diện mạng LAN.  Giao diện người sử dụng.  Các phần tử nằm trong phạm vi khuyến nghị H.323  Bộ mã hoá và giải mã Video.  Bộ mã hoá và giải mã Audio.  Bộ đệm nhận dữ liệu.  Khối điều khiển hệ thống.  Khối điều khiển theo chuẩn H.245 Sử dụng kênh điều khiển H.245 để mang các bản tin điều khiển điểm - điểm điềukhiển hoạt động của thực thể H.323 đó bao gồm : khả năng trao đổi, mở và đóng cáckênh logic, các yêu cầu chế độ hoạt động thích hợp, điều khiển luồng bản tin, phát cáclệnh và các chỉ thị.  Điều khiển báo hiệu cuộc gọi 31
  41. 41. Sử dụng báo hiệu cuộc gọi theo khuyến nghị H.225 để thiết lập một kết nối giữahai đầu cuối H.323. Kênh báo hiệu cuộc gọi độc lập với kênh RAS và kênh điều khiểnH.245. Trong hệ thống không có Gatekeeper thì kênh báo hiệu cuộc gọi được thiết lậpgiữa hai đầu cuối H.323 tham gia cuộc gọi. Còn trong hệ thống có Gatekeeper thì kênhbáo hiệu cuộc gọi được thiết lập giữa các đầu cuối và Gatekeeper hoặc giữa hai đầucuối với nhau, việc lựa chọn phương án thiết lập kênh báo hiệu cuộc gọi như thế nào làdo Gatekeeper quyết định.  Chức năng báo hiệu RAS Sử dụng các bản tin H.225 để thực hiện : đăng ký, cho phép dịch vụ, thay đổibăng thông, trạng thái, các thủ tục tách rời giữa các đầu cuối và Gatekeeper. Hình 17. Sơ đồ khối thiết bị đầu cuối H.3233.1.1.2. Gatekeeper Một miền H.323 trên cơ sở mạng IP là tập hợp tất cả các đầu cuối được gán vớimột bí danh. Mỗi miền được quản trị bởi một Gatekeeper duy nhất, là trung tâm đầunão, đóng vai trò giám sát mọi hoạt động trong miền đó. Đây là thành phần tuỳ chọntrong hệ thống VoIP theo chuẩn H.323. Tuy nhiên nếu có mặt Gatekeeper trong mạngthì các đầu cuối H.323 và các Gateway phải hoạt động theo các dịch vụ củaGatekeeper đó. Mọi thông tin trao đổi của Gatekeeper đều được định nghĩa trong RAS.Mỗi người dùng tại đầu cuối được Gatekeeper gán cho một mức ưu tiên duy nhất. Mứcưu tiên này rất cần thiết cho cơ chế báo hiệu cuộc gọi mà cùng một lúc mhiều người sửdụng. H.323 định nghĩa cả những tính chất bắt buộc tối thiểu phải có cho Gatekeepervà những đặc tính tuỳ chọn: 32
  42. 42.  Các chức năng bắt buộc tối thiểu của một Gatekeeper gồm : Phiên dịch địa chỉ, điều khiển cho phép truy nhập, điều khiển dải thông, quản lý miền dịch vụ.  Các chức năng tuỳ chọn của Gatekeeper gồm có : Báo hiệu điều khiển cuộc gọi, cấp phép cho cuộc gọi, quản lý cuộc gọi. Gatekeeper hoạt động ở hai chế độ :  Chế độ trực tiếp: Gatekeeper chỉ có nhiệm vụ cung cấp địa chỉ đích mà không tham gia vào các việc định tuyến các bản tin báo hiệu. Hình 18. Phương thức định tuyến trực tiếp  Chế độ định tuyến qua Gatekeeper : Gatekeeper là thành phần trung gian, định tuyến mọi bản tin báo hiệu trong mạng H.323. Hình 19. Phương thức định tuyến qua Gatekeeper Các chức năng cụ thể của Gatekeeper được mô tả như sau: Chức năng dịch địa chỉ: Gatekeeper sẽ thực hiện chuyển đổi địa chỉ URI (dạngtên gọi hay địa chỉ hộp thư ) của một đầu cuối hay Gateway sang địa chỉ truyền dẫn(địa chỉ IP). Việc chuyển đổi được thực hiện bằng cách sử dụng bản đối chiếu địa chỉđược cập nhật thường xuyên bởi các bản tin đăng ký. Cũng có thể là việc chuyển đổitừ quy cách đánh số E.164 sang dạng URI. 33
  43. 43. Điều khiển truy cập: Gatekeeper cho phép một truy cập mạng LAN bằng cách sửdụng các bản tin H.225 là ARQ/ACF/ARJ. Việc điều khiển này dựa trên sự cho phépcuộc gọi, băng thông, hoặc một vài thông số khác do nhà sản xuất quy định. Nó có thểlà chức năng rỗng có nghĩa là chấp nhận mọi yêu cầu truy nhập của đầu cuối. Điều khiển độ rộng băng thông: Gatekeeper hỗ trợ các bản tin BRQ/BRJ/BCFcho việc quản lý băng thông. Nó có thể là chức năng rỗng nghĩa là chấp nhận mọi yêucầu thay đổi băng thông. Gatekeeper có thể hạn chế một số các đầu cuối H.323 cùngmột lúc sử dụng mạng. Thông qua việc sử dụng kênh báo hiệu H.225, Gatekeeper cóthể loại bỏ các các cuộc gọi từ một đầu cuối do sự hạn chế băng thông. Điều đó có thểxảy ra nếu Gatekeeper thấy rằng không đủ băng thông sẵn có trên mạng để trợ giúpcho cuộc gọi. Việc từ chối cũng có thể xảy ra khi một đầu đang tham gia một cuộc gọiyêu cầu thêm băng thông. Nó có thể là một chức năng rỗng nghĩa là mọi yêu cầu truynhập đều được đồng ý. Quản lý miền dịch vụ: ở đây miền dịch vụ (domain) nghĩa là tập hợp tất cả cácphần tử H.323 gồm thiết bị đầu cuối. Gateway, MCU có đăng ký hoạt động vớiGatekeeper để thực hiện liên lạc giữa các phần tử trong miền dịch vụ hay từ dịch vụnày sang dịch vụ khác. Điều khiển báo hiệu cuộc gọi: Gatekeeper có thể lựa chọn hai phương thức điềukhiển báo hiệu cuộc gọi là: hoàn thành báo hiệu cuộc gọi với các đầu cuối và xử lý báohiệu cuộc gọi chính bản thân nó, hoặc Gatekeeper có thể ra lệnh cho các đầu cuối kếtnối một kênh báo hiệu cuộc gọi hướng tới nhau. Theo phương thức này thì Gatekeeperkhông phải giám sát báo hiệu trên kênh H.225. Quản lý cuộc gọi: Một ví dụ cụ thể về chức năng này là Gatekeeper có thể lậpmột danh sách tất cả các cuộc gọi H.323 hướng đi đang thực hiện để chỉ thị rằng mộtđầu cuối bị gọi đang bận và cung cấp thông tin cho chức năng quản lý băng thông.3.1.1.3. Khối điều khiển đa điểm Khối điều khiển đa điểm (MCU) được sử dụng khi một cuộc gọi hay hội nghị cầngiữ nhiều kết nối hoạt động. Do có một số hữu hạn các kết nối đồng thời, nên cácMCU giám sát sự thoả thuận giữa các đầu cuối và sự kiểm tra mọi đầu cuối về tínhnăng mà chúng có thể cung cấp cho hội nghị hoặc cuộc gọi. Các MCU gồm hai phần:Bộ điều khiển đa điểm (MC) và Bộ xử lý đa điểm (MP). 34
  44. 44. Bộ điều khiển đa điểm có trách nhiệm trong việc thoả thuận và quyết định khảnăng của các đầu cuối. Trong khi đó bộ xử lý đa điểm được sử dụng để xử lýmultimedia, các luồng trong suốt quá trình của một hội nghị hoặc một cuộc gọi đađiểm.3.1.2. Giao thức H.323 Hình 20. Giao thức báo hiệu H.323 Giao thức H.323được chia làm 3 phần chính:  Báo hiệu H.225 RAS (Registration, Admissions, and Status): báo hiệu giữa thiết bị đầu cuối với H.323 gatekeeper trước khi thiết lập cuộc gọi.  Báo hiệu H.225 Q.931 sử dụng để kết nối, duy trì và hủy kết nối giữa hai đầu cuối.  Báo hiệu H.245 sử dụng để thiết lập phiên truyền media sử dụng giao thức RTP.3.1.2.1. Báo hiệu RAS Báo hiệu RAS cung cấp điều khiển tiền cuộc gọi trong mạng H.323 có tồn tạigatekeeper và một vùng dịch vụ(do gatekeeper đó quản lý). Kênh RAS được thiết lậpgiữa các thiết bị đầu cuối và gatekeeper qua mạng IP. Kênh RAS được mở trước khicác kênh khác được thiết lập và độc lập với các kênh điều khiển cuộc gọi và mediakhác. Báo hiệu này được truyền trên UDP cho phép đăng kí, chấp nhận, thay đổi băngthông, trạng thái và hủy. Báo hiệu RAS chia làm các loại sau:  Tìm kiếm Gatekeeper: việc này có thể được thực hiện thủ công hoặc tự động cho phép xác định gatekeeper mà thiết bị đầu cuối đăng kí (để có thể sử dụng dịch vụ sau này); bao gồm: 35
  45. 45.  Gatekeeper Request (GRQ): bản tin multicast gửi bởi thiết bị đầu cuối để tìm gatekeeper.  Gatekeeper Confirm (GCF): bản tin thông báo địa chỉ kênh RAS của gatekeeper cho thiết bị đầu cuối.  Gatekeeper Reject (GRJ): báo cho thiết bị đầu cuối biết rằng đã gatekeeper từ chối. Đăng kí: cho phép gateway, thiết bị đầu cuối và MCU tham gia vào một vùng dịch vụ do gatekeeper quản lý và thống báo cho gatekeeper về địa chỉ và bí danh của nó; bao gồm:  Registration Request (RRQ): được gửi từ thiết bị đầu cuối tới địa chỉ kênh RAS của gatekeeper.  Registration Confirm (RCF): được gửi bởi gatekeeper để xác nhận cho phép việc đăng kí bởi bản tin RRQ.  Registration Reject (RRJ): không chấp nhận đăng kí của thiết bị  Unregister Request (URQ): được gửi bới thiết bị đầu cuối để hủy đăng kí với gatekeeper trước đó và được trả lời bằng Unregister Confirm (UCF) và Unregister Reject (URJ) (tương tự như trên). Xác định vị trí thiết bị đầu cuối: Thiết bị đầu cuối và gatekeeper sử dụng bản tin này để lấy thêm thông tin khi chỉ có thông tin ví danh được chỉ ra. Bản tin này được gửi thông qua địa chỉ kênh RAS của gatekeeper hoặc multicast. Loại bản tin này bao gồm:  Location Request (LRQ): được gửi để yêu cầu thông tin về thiết bị đầu cuối, gatekeeper, hay địa chỉ E.164.  Location Confirm (LCF): được gửi bởi gatekeeper chức các kênh báo hiệu cuộc gọi hay địa chỉ kênh RAS của nó hay thiết bị đầu cuối đã yêu cầu.  Location Reject (LRJ): được gửi bởi gatekeeper thông báo LRQ trước đó không hợp lệ. Admissions: bản tin giữa các thiết bị đầu cuối và gatekeeper cung cấp cơ sở cho việc thiết lập cuộc gọi và điều khiển băng thông sau này. Bản tin này bao gồm 36

×