4.4. Sự sinh sản và giao thế hình thái ở thực vật có hạt  4.4.2. Sinh sản ở thực vật Hạt kín     a) Cấu tạo của hoa    Hoa...
Hình 4.12. Các thành phần của hoa                          1. Lá đài; 2. Tràng hoa; 3. Nhị; 4. Nhụy;                      ...
do các chất màu chứa trong các lạp màu tạo thành. Đôi khi cánh hoa còn có mùi thơmdo biểu bì tiết ra chất dầu thơm (cánh h...
Hình 4.13. Các kiểu tràng hoa               1. Tràng có cánh rời; 2. Tràng hình phễu; 3. Tràng hình ống;              4. T...
Hình 4.14. Nhị và các kiểu nhị              A. Bao phấn đính gốc; B. Bao phấn mở bằng lỗ ở đỉnh;           C. Bao phấn mở ...
Hình 4.15. A. Các giai đoạn phát triển của bao phấn                           B. Cấu tạo giải phẫu của bao phấn           ...
Tất cả các nhị trong hoa họp thành bộ nhị. Bộ nhị có thể hoàn toàn rời nhau hoặcdính lại ở nhiều mức độ khác nhau. Các nhị...
4. Hạt phấn; 5. Ống phấn; 6. Noãn; 7. Bó dẫn   Ở các cây còn nguyên thủy, bộ nhụy thường gồm nhiều lá noãn rời nhau hoàn t...
Noãn là một khối đa bào, hình trứng, hình cầu hoặc hình thận. Mỗi noãn gồm 2phần: cuống noãn là nơi đính noãn vào giá noãn...
* Đính noãn giữa: tiến hóa từ kiểu đính noãn trụ giữa do vách ngăn giữa các lánoãn đã tiêu biến đi nhưng trụ do các giá no...
Hình 4.21. Các túi phôi đơn bào tử kiểu Polygonum                                 và kiểu Onagraceae                  o. N...
Vị trí tương đối giữa các mảnh bao hoa trong mỗi vòng cũng khác nhau, biểuhiện rõ nhất khi còn trong nụ. Do đó có nhiều ki...
C. Tiền khai hoa lợp;                     D. Tiền khai hoa nanh sấu; E. Tiền khai hoa cờ;                                 ...
Hình 4.23. Hoa đồ                         1. Trục hoa; 2. Lá bắc con; 3. Đài; 4. Tràng;                                  5...
- Ngù: cấu tạo giống kiểu chùm nhưng các hoa ở phía dưới có cuống dài lên làmcho các hoa trong cụm như được đưa lên cùng m...
Hình 4.24. Các kiểu cụm hoa        1. Chùm đơn; 2-3. Bông; 4. Tán đơn; 5. Tán kép; 6a-6b. Đầu; 7. Ngù;            8. Chùm ...
 Sự tự thụ phấn: Sự vận chuyển hạt phấn đến num nhụy xảy ra bên trong 1 hoa(hoa lưỡng tính, nhị và nhụy phải chín cùng mộ...
Những hoa thường có côn trùng tìm đến thì thụ phấn dễ dàng xảy ra, những hoakhông có màu sắc, không có hương thơm thì côn ...
4) Hoa có lượng lớn hạt phấn, hạt phấn có kích thước nhỏ, nhẹ, nhẵn và đượcphóng thích vào không khí từ những bao phấn lớn...
Hình 4.27. Cây rong mái chèo thụ phấn nhờ nước                   A. Cây đực (1) và cây cái (2) mang hoa đơn tính          ...
* Sự thụ tinh      Sự thụ phấn chỉ là giai đoạn đầu của quá trình sinh sản hữu tính. Trái hẳn với tếbào tinh trùng ở các t...
bội. Như vậy, ở thực vật có hoa cả hai nhân đực đều dược sử dụng. Quá trình thj tinhnày gọi là thụ tinh kép. Đây là bước t...
Hình 4.29. Cấu tạo của hạt        A. Hình dạng ngoài của hạt đậu (1. Vết tích của lỗ noãn; 2. Rốn hạt;         3. Sống noã...
Trong hạt, phôi nằm giữa khối nội nhũ hoặc lệch về một bên về phía lỗ noãn,phôi được đính vào hạt nhờ dây treo. Ở các cây ...
+ Hạt có cả nội nhũ và ngoại nhũ: trong quá trình phát triển của hạt, phôi tâmvẫn còn nên phát triển thành ngoại nhũ, đồng...
Hình 4.30. Các loại quả thịt                 a. Quả mọng kiểu cà chua; b. Quả mọng kiểu cam quýt;                      c. ...
Hình 4.31. A. Quả kép: 1. Quả kép nhiều đại ở cây hồi;                      2. Quả kép giả ở dâu tây; 3. Quả kép giả của h...
Cây thuốc phiện có hạt dạng bào tử, nhẹ để dễ được gió mang đi xa. Những hạtnày được tạo nên trong quả rỗng gọi là quả nan...
- Nhóm thực vật 2 năm: trải qua chu trình phát triển trong vòng 2 năm. Trongnăm đầu (trước mùa đông) chúng gồm những cơ qu...
Thực vật học
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thực vật học

18,539

Published on

Published in: Education
0 Comments
4 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
18,539
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
191
Comments
0
Likes
4
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Transcript of "Thực vật học"

  1. 1. 4.4. Sự sinh sản và giao thế hình thái ở thực vật có hạt 4.4.2. Sinh sản ở thực vật Hạt kín a) Cấu tạo của hoa Hoa là một chồi cành đặc biệt, sinh trưởng có hạn và mang những lá biến tháilàm chức năng sinh sản. Tất cả các bộ phận của hoa đều có cấu tạo thích nghi vớichức năng này. Mỗi hoa đều có 1 cuống hoa, phát sinh từ nách một lá gọi là lá bắc. Có hoakhông có lá bắc (hoa bưởi, hoa cải…), có hoa ngoài lá bắc còn có 1-2 lá bắc con nằmvuông góc với lá bắc (hoa muồng), cũng có khi các lá bắc của nhiều hoa hợp lại thànhtổng bao (hoa cây rau mùi, thìa là, các cây họ Cúc). Đầu cuống hoa thường loe rộng thành đế hoa mang các bộ phận chính của hoa:đài hoa, tràng hoa, nhị và nhụy. - Đế hoa: là phần cuối của cuống hoa, phình to ra mang bao hoa và các bộ phậnsinh sản. Dạng nguyên thủy: đế hoa thường dài, có hình nón (hoa ngọc lan ta, hoa dạhợp). Trong quá trình phát triển, đế hoa ngắn lại dần trở thành đế phẳng (gặp ở nhiềuhoa), có khi lõm thành hình chén (hoa hồng). Có trường hợp, đế hoa phát triển thànhmột bộ phận riêng mang nhụy, gọi là cuống nhụy, hoặc mang cả nhị và nhụy, gọilà cuống nhị-nhụy (hoa lạc tiên). Đế hoa còn có thê mang đĩa mật gồm các tuyếnmật tập trung lại. Sự xuất hiện đĩa mật là biểu hiện của sự thích nghi với lối thụ phấnnhờ sâu bọ của một số loài hoa.
  2. 2. Hình 4.12. Các thành phần của hoa 1. Lá đài; 2. Tràng hoa; 3. Nhị; 4. Nhụy; 5. Cuống hoa; 6. Đế hoa - Bao hoa: Đa số cây Hạt kín có bao hoa gồm 2 vòng: đài và tràng gọi là bao hoakép. Một số cây bao hoa chỉ có một vòng (thường là vòng đài) gọi là bao hoađơn (hoa thầu dầu), có hoa không có bao đó là hoa trần (hoa trầu không, hoa phi lao). Thường giữa vòng đài và vòng tràng phân biệt nhau rõ về kích thước, hình dạngvà màu sắc. Nhưng cũng có khi chúng hoàn toàn giống nhau và có dạng đài (hoa cau,hoa dừa) hoặc dạng cánh (hoa huệ, hoa lay ơn). + Đài hoa Đài hoa có nhiệm vụ bảo vệ các bộ phận hoa ở trong nụ, gồm các mảnh màu lụccó hình dạng giống lá nhưng phần lớn đã thay đổi gọi là lá đài. Đôi khi đài có hìnhsặc sỡ như cánh hoa (hoa tigon). Các lá đài có thể rời nhau (hoa cải), có thể dính lại ở bên dưới (hoa dâm bụt, hoacẩm chướng) tạo thành ống đài và thùy đài. Ở một số cây, ngoài đài còn có thêm vòng đài nhỏ gọi là đài phụ. Đài phụ nhỏhơn đài (hoa dâm bụt) hoặc lớn hơn đài (hoa hồng). Đài phụ do lá kèm (hoa hồng)hoặc lá bắc con (các cây họ Bông) biến thành. Khi hình thành quả, đài thường tồn tại trên quả. Đôi khi đài biến thành chùmlông tơ để giúp quả phát tán (các cây trong họ Cúc) hoặc phát triển thành cánh (câychò, cây sao). Về hình dạng, cấu tạo giải phẫu và chức năng lá đài chính là những bộ phận ítchuyên hóa nhất của hoa và gần với lá dinh dưỡng nhất. Đài có chức năng bảo vệ hoavà duy trì chức năng quang hợp vì vẫn có diệp lục. + Tràng hoa Tràng hoa là bộ phận nằm phía trong đài, có chức năng chủ yếu là hấp dẫn sâubọ giúp cho sự truyền phấn, gồm những mảnh có màu sắc gọi là cánh hoa (cánhtràng). Màu sắc của cánh hoa có thể do các chất antoxyan hòa tan trong dịch bào hoặc
  3. 3. do các chất màu chứa trong các lạp màu tạo thành. Đôi khi cánh hoa còn có mùi thơmdo biểu bì tiết ra chất dầu thơm (cánh hoa hồng, hoa ngọc lan…). Ở các họ cây nguyên thủy, một hoa thường có nhiều cánh hoa, ở các họ cao hơnsố cánh hoa giảm xuống, ở các cây Hai lá mầm thường có 4-5 cánh, ở cây Một lámầm thường có 3 cánh. Số lượng cánh hoa thường tương ứng với số lượng lá đài,nhưng thường lớn hơn lá đài. Ta có các loại mẫu hoa: hoa mẫu 5, hoa mẫu 4, hoa mẫu3. Mỗi cánh hoa thường gồm 2 phần: phần loe rộng ở phía trên gọi là phiến, phầnthu hẹp ở phía dưới gọi là móng (hoa phượng vĩ). Các cánh hoa có thể rời nhau (hoa cánh phân), hoặc dính nhau (hoa cánh hợp)tạo thành ống tràng ở phía dưới và thùy tràng ở phía trên. Số lượng thùy tràng tươngứng với số mảnh cánh hoa dính lại. Tùy theo mức độ và các kiểu dính nhau, tràng cóthể hình ống, hình phễu, hình chuông, hình bánh xe, hình môi…. Các cánh hoa rời cũng như các thùy tràng có thể giống nhau về hình dạng và kíchthước cũng có thể khác nhau, do đó có hoa đều và hoa không đều. Cánh hoa có thể mang những phần phụ hình vảy hoặc hình sợi (trúc đào, lạctiên). Những phần phụ này có thể họp thành tràng phụ (hoa thiên lí, hoa bồng bồng),đôi khi cánh hoa kéo dài thành một cái cựa, có thể chứa tuyến mật như ở nhiều hoaphong lan.
  4. 4. Hình 4.13. Các kiểu tràng hoa 1. Tràng có cánh rời; 2. Tràng hình phễu; 3. Tràng hình ống; 4. Tràng hình thìa lìa; 5. Tràng hai môi; 6. Tràng hình bánh xe; 7. Tràng hình chuông; 8. Tràng có cựa; 9-10. Tràng cánh đều; 11. Tràng 5 cánh không đều; 12-13. Tràng hình cánh bướm (a. Cánh cờ; b. Cánh bên; t. Cánh thìa) + Bộ nhị: là bộ phận sinh sản đực trong hoa, gồm các nhị tập hợp thành. Sốlượng nhị trong bộ nhị rất biến thiên: từ rất nhiều trong các họ thấp như Ngọc lan,Sen, Súng, Hoa hồng…đến giảm đi và cố định ở các họ tiến hóa hơn. Ở các cây Hai lámầm là 5-4 (hoặc bội số của 5, 4), ở các cây Một lá mầm là 3 (hoặc 6), đôi khi chỉ còn2 hoặc 1 nhị. Cũng có khi do phân nhánh mà từ một số nhị cố định đã cho nhiều nhịtrong hoa (hoa thầu dầu, hoa dâm bụt). Mỗi nhị gồm 2 phần chính: chỉ nhị và bao phấn. Bao phấn thường gồm 2 ô phấnngăn cách với nhau bởi trung đới. Trung đới là phần kéo dài của chỉ nhị vào trong baophấn, ngăn cách 2 ô phấn, đôi khi trung đới có thể kéo dài vượt quá bao phấn thànhmột mào lông (hoa trúc đào) hoặc thành một tuyến gạo (hoa sen). Chỉ nhị thường đính trên đế hoa hoặc có khi đính trên tràng (phổ biến ở hoa cánhhợp). Chỉ nhị có thể rất dài hoặc rất ngắn. Bao phấn có nhiều hình dạng khác nhau: tròn, thận, thuôn dài, mũi tên…Mỗi baophấn gồm 2 (1) ô phấn. Mỗi ô phấn khi còn non gồm 2 túi phấn, khi chín 2 túi phấnthông nhau thành một. Túi phấn chứa hạt phấn tương đương với túi bào tử bé ở hạttrần. Khi bao phấn chín, hạt phấn có thể phát tán ra ngoài bằng cách: bao phấn có thểnứt ra theo đường dọc (kẽ nứt quay vào phía trong gọi là bao phấn hướng trong, kẽnứt quay ra phí ngoài gọi là bao phấn hướng ngoài), hoặc mở bằng lỗ đỉnh (một sốcây họ Cà) hoặc mở bằng các mảnh van như cái lưỡi gà (các cây họ Long não). Bao phấn được đính vào chỉ nhị trên suốt chiều dài của trung đới hoặc trên phầnlớn chiều dài, gốc của bao phấn nằm trên đỉnh chỉ nhị gọi là bao phấn đính gốc. Cótrường hợp bao phấn chỉ đính vào một điểm của trung đới, phần lưng của bao phấnnằm trên đỉnh chỉ nhị gọi là bao phấn đính lưng.
  5. 5. Hình 4.14. Nhị và các kiểu nhị A. Bao phấn đính gốc; B. Bao phấn mở bằng lỗ ở đỉnh; C. Bao phấn mở bằng lưỡi gà; D. Bao phấn đính lưng, nứt dọc Cấu tạo bao phấn: bao phấn có vách gồm nhiều lớp tế bào bao quanh lấy ô phấn.Lớp ngoài cùng là biểu bì gồm những tế bào nhỏ dẹt, dưới biểu bì là tầng cơ gồmnhững lớp tế bào có màng dày hóa gỗ ở mặt trong hoặc mặt bên thành hình chữ U,mặt ngoài vẫn bằng xenlulozơ. Khi bao phấn chín, mặt ngoài của tầng cơ co lại nhiềuhơn mặt trong và tế bào bị khô đi làm cho bao phấn nứt ra. Lớp trong cùng của vách bao phấn là tầng nuôi dưỡng gồm các tế bào to, màngmỏng và nhiều chất tế bào. Tầng này nằm ngay sát ô phấn và tham gia vào việc nuôidưỡng tế bào mẹ hạt phấn và các hạt phấn chín.
  6. 6. Hình 4.15. A. Các giai đoạn phát triển của bao phấn B. Cấu tạo giải phẫu của bao phấn a. Một ô phấn; b. Bao phấn cắt ngang (1. Biểu bì; 2. Tầng cơ; 3. Bó dẫn ở trung đới; 4. Tầng nuôi dưỡng; 5. Tế bào mẹ hạt phấn; 6. Hạt phấn) Sự hình thành và phát triển của nhị: nhị xuất hiện đầu tiên trên 4 chỗ gồ nhỏ củađế hoa. Các chỗ gồ này sau phát triển thành bao phấn, khoảng giữa các gồ sau sinh ratrung đới và chỉ nhị. Các gồ là các ô phấn tương lai. Các tế bào lớn trong gồ giàu chất tế bào, nằm dưới lớp biểu bì phân chia thành 2lớp: lớp ngoài sau phân hóa thành tầng cơ và tầng nuôi dưỡng; lớp trong sau phâ chiacho ra các tế bào nguyên bào tử (tế bào mẹ hạt phấn) rồi cho ra hạt phấn. Hạt phấn: được hình thành từ các nguyên bào tử (các tế bào mẹ), mỗi tế bào mẹcho ra 4 bào tử, tức là 4 hạt phấn đơn bội. Hạt phấn thường có hình cầu, màu vàng,kích thước thay đổi từ 10-15 đến hàng trăm μm (ở cây bí ngô). Cấu tạo hạt phấn: hạt phấn có 2 lớp màng: màng ngoài dày bằng cutin, bề mặt cócác lỗ gọi là lỗ nảy mầm, số lượng các lỗ nảy mầm thường là 3 lỗ. Màng ngoài hạtphấn còn có gai nhỏ làm cho hạt phấn có dạng đặc biệt (hạt phấn ở hoa dâm bụt hay ởnhiều cây trong họ Cúc). Màng trong mỏng hơn bằng pectin, thường dày lên trước cáclỗ mầm. Trong hạt phấn có 2 tế bào: tế bào có kích thước lớn là tế bào dinh dưỡng sẽ hìnhthành nên ống phấn; tế bào có kích thước bé là tế bào phát sinh sẽ cho ra 2 tinh tử. Hình 4.16. Các kiểu hạt phấn A. Hạt phấn 1 rãnh; B. Hạt phấn 3 rãnh; C. Hạt phấn nhiều lỗ; D. Hạt phấn nhiều rãnh-lỗ
  7. 7. Tất cả các nhị trong hoa họp thành bộ nhị. Bộ nhị có thể hoàn toàn rời nhau hoặcdính lại ở nhiều mức độ khác nhau. Các nhị có thể dính ở phần chỉ nhị thành một tạothành bộ nhị đơn thể (hoa dâm bụt, hoa bông…), hoặc thành nhiều bó tạo thành bộnhị đa thể (hoa gạo), hoặc thành 2 bó tạo bộ nhị lưỡng thể (hoa đậu). Một số trường hợp, chỉ nhị rời nhau nhưng các bao phấn dính lại thành một ốngkín (ở các cây họ Cúc). Các nhị trong bộ nhị thường có kích thước và hình dạng nhưnhau nhưng có trường hợp chúng dài ngắn khác nhau (nhiều cây trong họ Cải, họ Hoamôi) hoặc các bao phấn của bộ nhị cũng có hình dạng khác nhau (một số cây trong họĐậu). Ở một số cây bộ nhị có những nhị bị tiêu giảm mất bao phấn hoặc bao phấn bịlép chỉ còn lại chỉ nhị đó là những nhị lép. + Bộ nhụy: là bộ phận sinh sản cái của hoa, nằm ở chính giữa hoa, do các lá noãnlàm thành. Khác với các cây Hạt trần, các lá noãn ở đây khép kín 2 mép vào nhau, chỗdính đó làm thành đường giá noãn. Nhụy có cấu tạo gồm 3 phần: phần phình to ở phía dưới gọi là bầu nhụy, trongchứa noãn; phần hẹp hình ống hay hình chỉ ở phía trên gọi là vòi nhụy là đường đi củahạt phấn và tận cùng hơi loe rộng hay hình dĩa là đầu nhụy hay nuốm nhụy là nơi tiếpnhận hạt phấn. Hình 4.17. Cấu tạo bộ nhụy 1. Đầu nhụy; 2. Vòi nhụy; 3. Bầu nhụy;
  8. 8. 4. Hạt phấn; 5. Ống phấn; 6. Noãn; 7. Bó dẫn Ở các cây còn nguyên thủy, bộ nhụy thường gồm nhiều lá noãn rời nhau hoàn toàntạo thành bộ nhụy rời, có nhiều nhụy (hoa móng rồng). Ở các họ tiến hóa hơn, số lánoãn giảm đi và thường dính lại với nhau ở nhiều mức độ tạo thành bộ nhụy hợp, cómột nhụy. Bộ nhụy có 1 nhụy có thể do một lá noãn hợp thành (các cây họ Đậu), cóthể do nhiều lá noãn dính nhau. Số lượng lá noãn thường là 3 (cây Một lá mầm), 5-4hoặc 2 (cây Hai lá mầm). Các kiểu bộ nhụy: * Bộ nhụy dính nhau ở phần bầu, còn vòi và đầu nhụy tự do (hoa cẩm chướng). *Bộ nhụy dính nhau ở phần bầu và vòi, còn đầu nhụy rời nhau (hoa dâm bụt). * Bộ nhụy dính nhau hoàn toàn (hoa bưởi, hoa cà). Hình 4.18. Các kiểu bộ nhụy 1. Bộ nhụy lá noãn rời; 2-4. Bộ nhụy lá noãn dính (2. Chỉ dính ở phần bầu; 3. Dính bầu và vòi; 4. Dính hoàn toàn) Vị trí bầu trong hoa * Bầu trên: bầu nằm trên đế hoa, không dính với các bộ phận khác của hoa, kiểunày kém tiến hóa nhất. *Bầu dưới: bầu nằm chìm trong đế hoa, dính liền với đế hoa các bộ phận của hoanằm trên đế. Kiểu này tiến hóa hơn vì noãn ở bên trong được bảo vệ tốt hơn (hoa ổi,hoa sim). * Bầu giữa: là kiểu trung gian giữa bầu trên và bầu dưới, bầu chỉ dính với đế hoaở phần dưới, phần trên vẫn tự do (hoa mua, hoa bạch đàn). Cấu tạo của noãn
  9. 9. Noãn là một khối đa bào, hình trứng, hình cầu hoặc hình thận. Mỗi noãn gồm 2phần: cuống noãn là nơi đính noãn vào giá noãn; thân noãn là một khối TB nhỏ gọilà phôi tâm, có lớp vỏ noãn bao ngoài (2 lớp vỏ). Vỏ noãn thường để hở một lỗ ở phíadưới gọi là lỗ noãn. Chỗ thân noãn đính vào cuống gọi là rốn. Chỗ các lớp vỏ noãngặp nhau và dính với phôi tâm gọi là hợp điểm. Túi phôi nằm trong phôi tâm gồm 1 nhân lưỡng bội ở giữa, 1 noãn cầu đơn bộivới 2 nhân trợ bào ở hai bên, nằm ở một cực, 2 nhân đối cực nằm ở cực đối diện.Các kiểu noãn * Noãn thẳng: trục của noãn và cuống noãn nằm trên cùng một đường thẳng, lỗnoãn ở vị trí đối diện với cuống noãn (cây hồ tiêu). * Noãn cong: trục của noãn làm thành một góc với cuống noãn, lỗ noãn ở vị trígần cuống noãn hơn. Nếu góc này là góc vuông thì gọi là noãn ngang (nhiều cây họĐậu). * Noãn đảo: trục của noãn song song với cuống noãn làm cho lỗ noãn nằm sát,gần như trùng với cuống noãn (cây hướng dương, loa kèn trắng). Hình 4.19. Các kiểu noãn (Sơ đồ cắt dọc) 1. Noãn thẳng; 2. Noãn cong; 3. Noãn ngang; 4. Noãn đảo Các kiểu đính noãn: * Đính noãn trụ giữa hay đính noãn góc: gặp ở những bầu có nhiều ô, do nhiều lánoãn hợp thành. Các lá noãn nằm ở góc trong của ô, tạo thành một trụ ở giữa bầu,noãn đính xung quanh trụ (hoa dâm bụt, hoa bưởi). * Đính noãn bên: gặp ở bầu 1 ô, do một hay nhiều lá noãn đính một phần ở méplàm thành. Các giá noãn nằm ở mép bầu, chỗ ranh giới giữa các lá noãn (đu đủ).
  10. 10. * Đính noãn giữa: tiến hóa từ kiểu đính noãn trụ giữa do vách ngăn giữa các lánoãn đã tiêu biến đi nhưng trụ do các giá noãn tạo nên thì vẫn còn. Bầu chỉ có 1 ô với1 trụ ở giữa, noãn đính xung quanh trụ đó. Hình 4.20. Các kiểu đính noãn 1-2. Bầu 1 ô đính noãn bên (1. Bầu có 1 lá noãn; 2. Bầu có 3 lá noãn); 3. Bầu 3 ô đính noãn trụ giữa; 4. Bầu 3 ô đính noãn bên giả; 5. Bầu 1 ô đính noãn giữa Sự hình thành và cấu tạo của túi phôi Tế bào mẹ nguyên bào tử phân chia giảm nhiễm cho ra 4 tế bào đơn bội (đại bàotử), chỉ có 1 bào tử được duy trì và phát triển thành túi phôi bằng cách trải qua nhiềulần phân chia. Lần phân chia đầu tạo ra 2 nhân con, chúng tách ra đi về 2 cực của túiphôi, mỗi nhân con lại phân chia 2 lần nữa tạo thành 4 nhân. Như vậy, trong túi phôicó tất cả 8 nhân họp thành 2 nhóm. Về sau, tại mỗi cực có 1 nhân tách ra đi vào trungtâm túi phôi và kết hợp với nhau tạo thành nhân thứ cấp lưỡng bội (2n). Ở đầu phíagần lỗ noãn, tế bào nằm giữa là noãn cầu, 2 tế bào ở hai bên là 2 trợ bào có kích thướcnhỏ hơn noãn cầu. Ba nhân còn lại ở cực đối diện được gọi là các tế bào đối cực, cóchức năng dinh dưỡng.
  11. 11. Hình 4.21. Các túi phôi đơn bào tử kiểu Polygonum và kiểu Onagraceae o. Noãn cầu; s. Hai trợ bào; an. Ba tế bào đối cực; np-np. Hai nhân trung tâm b) Sự sắp xếp các bộ phận trong hoa – Các kiểu hoa Hoa có đày đủ các thành phần đài, tràng, nhị, nhụy nêu trên là hoa đầy đủ vàlưỡng tính. Hoa thiếu một trong các thành phần trên là hoa không đầy đủ, nếu thiếumột trong hai bộ phận sinh sản (nhị hoặc nhụy) là hoa đơn tính (ví dụ: hoa thầu dầu,hoa bí, hoa mướp…). Trong hoa, tùy theo mức độ tiến hóa, tất cả các bộ phận có thể xếp theo đườngxoắn trên đế (ví dụ: hoa ngọc lan ta), gọi là hoa kiểu xoắn. Nếu chỉ có nhị và nhụy xếpxoắn, còn bao hoa xếp vòng, thì hoa thuộc kiểu xoắn vòng (ví dụ: hoa na, hoa ngọc lantây). Hoa xoắn và xoắn vòng thường thấy ở các họ nguyên thủy hơn. Còn nếu tất cả các bộ phận đều xếp thành từng vòng riêng biệt thì hoa thuộc kiểuvòng. Ở hoa xếp vòng, các bộ phận của vòng trong bao giờ cũng ở vị trí xen kẽ vớicác bộ phận của vòng ngoài liền nó. Ở các hoa lưỡng tính, nhị có thể xếp thành 2 vòng, tạo thành kiểu hoa 5 vòng (1vòng đài, 1 vòng cánh, 2 vòng nhị và 1 vòng nhụy), ví dụ hoa đậu, hoa cải. Nhị cũngcó thể chỉ có 1 vòng, do 1 vòng tiêu giảm tạo thành hoa 4 vòng, gặp ở nhiều hoa cócánh dính như cà, cúc…Nhị cũng có thể xếp thành nhiều vòng như hoa hồng, hoasim…
  12. 12. Vị trí tương đối giữa các mảnh bao hoa trong mỗi vòng cũng khác nhau, biểuhiện rõ nhất khi còn trong nụ. Do đó có nhiều kiểu tiền khai hoa khác nhau: tiền khaihoa van, tiền khai hoa vặn, tiền khai hoa lợp, tiền khai hoa cờ, tiền khai hoa thìa. Tiền khai hoa là sự sắp xếp các mảnh bao hoa, chủ yếu là của cánh hoa trước lúchoa nở. - Tiền khai hoa van: các cánh hoa hoặc các mảnh bao hoa trong cùng một vòngchỉ xếp cạnh nhau, không trùm lên nhau (hoa cai). - Tiền khai hoa vặn: các cánh hoa hay các mảnh bao hoa trong cùng một vòngxếp kiểu xoắn: một mép của mảnh này trùm lên một mép của mảnh bên cạnh, đồngthời lại bị mảnh khác trùm lên mép thứ hai của nó (hoa trúc đào, hoa dâm bụt). - Tiền khai hoa lợp: một mảnh bao hoa trong một vòng hoàn toàn nằm ngoài vàmột mảnh hoàn toàn nằm trong, các mảnh còn lại xếp vặn. - Tiền khai hoa nanh sấu: 2 mảnh hoàn toàn bao ngoài, 2 mảnh nằm trong, còn 1mảnh có 1 mép ở trong và 1 mép ở ngoài. - Tiền khai hoa cờ: các mảnh bao hoa không bằng nhau: có 1 cánh to nhất vànằm hoàn toàn ở ngoài gọi là cánh cờ, 2 cánh bên nhỏ hơn nằm hai bên cánh cờ và 2cánh còn lại nhỏ hơn thường dính lại với nhau ở phần lưng, nằm trong gọi là 2 cánhthìa. Kiểu tiền khai hoa này đặc trưng cho các cây trong họ Đậu - phân họ Cánh bướm(Faboideae). - Tiền khai hoa thìa: đặc trưng cho các cây trong phân họ Vang(Caesalpinioideae) thuộc họ Đậu. Kiểu này ngược với tiền khai hoa cờ, ở đây cánh cờnhỏ nhất và nằm ở trong, còn 2 cánh thìa lớn và nằm ở ngoài. Hình 4.22. Các kiểu tiền khai hoa A. Tiền khai hoa van; B. Tiền khai hoa vặn;
  13. 13. C. Tiền khai hoa lợp; D. Tiền khai hoa nanh sấu; E. Tiền khai hoa cờ; G. Tiền khai hoa thìa c) Cách biểu diễn một hoa - Hoa thức: là công thức biểu diễn cấu tạo của hoa bằng những chữ ký hiệu: ĐàiK (Calyx); Tràng C (Corolla); Nhị A (Androecium); Nhụy G (Gynoecium). Nếu bao hoa không phân biệt đài và tràng thì dùng chữ P (Periantium) thay cho 2chữ K và C. Tất cả các chữ đều viết theo kiểu in hoa. Hoa thức được biểu diễn trên một hàng ngang, các chữ ký hiệu của các bộ phậnđược viết theo thứ tự từ ngoài vào trong. Sau mỗi chữ ghi con số chỉ số lượng của bộphận ở mỗi vòng. Vi dụ: tràng hoa 5 cánh ghi là C 5, nhị 2 vòng mỗi vòng 5 ghi là A 5+5.Khi các bộ phận của hoa dính liền nhau thì viết chỉ số của nó trong dấu ngoặc đơn, vídụ C(5). Nếu các bộ phận của hoa nhiều và không cố định ta dùng dấu ∞. Nếu hoa đều, nghĩa là các thành phần trong một vòng hoàn toàn bằng nhau, hoacó đối xứng tỏa tròn thì được kí hiệu bằng dấu * ở trước hoa thức. Nếu hoa khôngđều, tức là thành phần trong một vòng không bằng nhau, hoa có đối xứng hai bên,được kí hiệu bằng dấu ↑ trước hoa thức. Dấu ♂ chỉ hoa đực, dấu ♀ chỉ hoa cái. Ví dụ: Hoa huệ: *P(3+3) A3+3 G(3), chứng tỏ: bao hoa có 2 vòng, mỗi vòng 3, dínhnhau; nhị cũng xếp 2 vòng, mỗi vòng 3; bộ nhụy gồm 3 lá noãn dính lại với nhauthành bầu trên. Hoa đều. Hoa dâm bụt: *k7-8 K(5) C5 A(∞) G(5) (k chỉ vòng đài phụ) Hoa đồ là sơ đồ biểu diễn cấu tạo cắt ngang của hoa theo một mặt phẳng vuônggóc với trục hoa. Trục hoa thường được đặt ở phía trên, lá bắc ở phía đối diện, giữahai bộ phận đó là các thành phần khác của hoa. Nếu hoa đều thì các vòng trong hoa đồđược biểu diễn xếp thành những đường tròn và kích thước của từng phần trong mỗivòng bằng nhau; nếu hoa không đều, các nét biểu diễn trong mỗi vòng có kích thướckhác nhau và xếp thành hình bầu dục.
  14. 14. Hình 4.23. Hoa đồ 1. Trục hoa; 2. Lá bắc con; 3. Đài; 4. Tràng; 5. Nhị; 6. Nhụy; 7. Lá bắc d) Cụm hoa Là tập hợp nhiều hoa riêng lẻ, có cuống hay không cuống, cùng đính trên mộttrục chung gọi là cuống cụm hoa. Trong cụm hoa, mỗi hoa có một lá bắc riêng. Mộtsố cây có lá bắc chung cho cả cụm hoa gọi là tổng bao (các cây trong họ Cúc, họ Hoatán.). Đôi khi lá bắc chung biến đổi đặc biệt tạo thành mo (các cây trong Họ cau).Các kiểu cụm hoa: cụm hoa không hạn, cụm hoa có hạn (cụm hoa xim). * Cụm hoa không hạn Cụm mang hoa sinh trưởng không hạn chế, đầu cành không tậ cùng bằng mộthoa nên các hoa tiếp tục được hình thành. Những hoa ở phía ngọn là non nhất, nếu các hoa cùng nằm trên mặt phẳng ngangthì hoa ở phía trong là non nhất. Thứ tự của hoa là từ dưới lên và từ ngoài vào trong. Các kiểu của cụm hoa không hạn: chùm, bông, ngù, tán, đầu. - Chùm: mỗi hoa trong cụm đều có cuống riêng, mọc ở kẽ lá bắc. Nếu cuốngcụm hoa không phân nhánh, các cuống hoa đính trực tiếp lên đó là kiểu chùmđơn (cụm hoa lục lạc-Crotalaria). Nếu cuống cụm hoa phân nhánh, cuống cụm hoađính trên các nhánh gọi là chùm kép (cụm hoa nho). - Bông: các hoa không có cuống, đính trực tiếp trên trục cụm hoa. Nếu trục cụmhoa không phân nhánh gọi là bông đơn (hoa cây cỏ roi ngựa), nếu trục cụm hoa phânnhánh gọi là bông kép (hoa cau dừa).
  15. 15. - Ngù: cấu tạo giống kiểu chùm nhưng các hoa ở phía dưới có cuống dài lên làmcho các hoa trong cụm như được đưa lên cùng mặt phẳng ngang. Có 2 kiểu cụm ngùđơn (cây kim phượng) và ngù kép (cây hoa súp lơ). - Tán: các hoa gần như nằm trên mặt phẳng ngang nhưng các cuống đều mọc ratừ đầu trục cụm hoa. Các lá bắc tập trung quanh gốc hình thành một tổng bao. Có 2kiểu tán đơn và tán kép, cụm hoa tán đặc trưng cho các cây thuộc họ Hoa tán: thìa là,rau mùi, cà rốt… - Đầu: gồm nhiều hoa không có cuống mọc sát nhau trên đỉnh trục cụm hoa thungắn lại thành một khối hình đầu, xung quanh đầu các lá bắc tạo thành tổng bao. Nếuđầu phồng lên và có hình cầu gọi là cụm hoa hình cầu (keo giậu, xấu hổ), nếu đầu loerộng hình đĩa là kiểu đầu đặc trưng cho các cây Họ cúc. Có trường hợp đỉnh trục cụmhoa lõm hình chén và khép kín lại khiến cho tất cả các hoa lọt vào bên trong lòng chén(cây sung, vả, đa). * Cụm hoa có hạn (cụm hoa xim): Cành mang hoa sinh trưởng có hạn tận cùngbằng 1 hoa xuất hiện sớm nhất. - Xim 1 ngả: Đầu trục chính có 1 hoa đầu tiên, mấu dưới hoa đó đâm ra 1 nhánhbên mang 1 hoa. Nhánh bên lại cho ra 1 nhánh bên khác mang hoa, cứ tiếp tục. Nếusự phân nhánh luôn đổi hướng, khi thì bên phải, khi thì bên trái và hoa mọc đối diệnvới lá bắc, gọi là xim dích dắc (hoa lay ơn). Nếu tất cả các nhánh sinh ra chỉ ở mộtbên, cụm hoa có dạng uốn cong giống đuôi con bọ cạp gọi là xim bọ cạp (hoa cây vòivoi). - Xim 2 ngả: hoa đầu tiên ở đầu trục chính, mấu dưới hoa mọc ra 2 nhánh ở 2bên, mỗi nhánh mang 1 hoa. Nếu mỗi nhánh bên lại phân ra nhánh bên nữa...gọi lácụm hoa xim 2 ngả nhiều lần (hoa xoan, hoa mẫu đơn). - Xim nhiều ngả: đầu trục chính mang hoa, mấu dưới hoa phân ra nhiều nhánhbên mang hoa và có thể tiếp tục phân nhánh...gọi là xim nhiều ngả nhiều lần. - Xim co: các nhánh của xim rất ngắn làm cho hoa sít vào nhau giống như cáchoa được mọc trên cúng một cuống, thường gặp ở các cây trong họ Hoa môi.
  16. 16. Hình 4.24. Các kiểu cụm hoa 1. Chùm đơn; 2-3. Bông; 4. Tán đơn; 5. Tán kép; 6a-6b. Đầu; 7. Ngù; 8. Chùm kép; 9. Xim 2 ngả; 10. Xim 1 ngả xoắn (xim bọ cạp); 11. Xim 1 ngả dích dắc; 12. Xim nhiều ngả d) Sự thụ phấn và sự thụ tinh * Sự thụ phấn: Noãn của thực vật Hạt kín được bao bọc trong khoang của bầu bộnhị cái cho nên sự thụ phấn không thực hiện trực tiếp trên noãn như ở đa số các thựcvật Hạt trần. Sự thụ phấn của thực vật Hạt kín có sự tham gia của tác nhân bên ngoàinhư gió, côn trùng…để chuyển hạt phấn từ bao phấn mở đến núm nhụy. Đôi khi cóthể là sự tự thụ phấn. Như vậy, sự thụ phấn là sự tiếp xúc giữa hạt phấn với núm nhụy trong thời kì đầucủa quá trình sinh sản. Có nhiều hình thức thụ phấn nhưng ở thực vật Hạt kín tathường gặp 2 hình thức là tự thụ phấn và thụ phấn chéo.
  17. 17.  Sự tự thụ phấn: Sự vận chuyển hạt phấn đến num nhụy xảy ra bên trong 1 hoa(hoa lưỡng tính, nhị và nhụy phải chín cùng một lúc) hay giữa 2 hoa trên cùng một cáthể. Hình thức này đơn giản không cần tác nhân trung gian. Tuy nhiên đời con đượchình thành đơn điệu và kém tiến hóa, dễ thoái hóa giống. Ví dụ: Cây lạc có hoa lưỡng tính, tự thụ phấn. Thụ phấn và thụ tinh xong nó chuivào đất và tạo thành quả.  Sự thụ phấn chéo: Là hình thức thụ phấn xảy ra ở các hoa trên các cây khácnhau, hoa phải là hoa đơn tính. Hoa lưỡng tính cũng có thể thụ phấn chéo với điềukiện nhị và nhụy không chín cùng một lúc. Thụ phấn chéo dẫn đến kết quả tính biến dị lớn hơn trong số con cháu và thườngđược chọn lọc tự nhiên ủng hộ. Kết quả là nhiều loài thực vật Hạt kín có được sự thíchnghi làm cho thụ phấn chéo tốt hơn. Muốn xảy ra sự thụ phấn chéo cần có tác nhân trung gian: nhờ côn trùng, nhờgió, nhờ nước, nhờ con người. Tất cả đều có hình thức tiến hóa riêng. - Sự thụ phấn chéo nhờ côn trùng, sâu bọ: Thụ phấn nhờ côn trùng là một trongcác phương pháp hiệu quả nhất của sự vận chuyển hạt phấn. Hoa thụ phấn nhờ côntrùng có những đặc điểm sau: 1) Hoa riêng biệt thường lớn và có màu sắc sặc sỡ, còn những hoa nhỏ thườngtập hợp lại thành nhóm hay cụm hoa với nhiều màu sắc. 2) Hoa thường tỏa hương thơm và cho hạt phấn, mật hoa làm thức ăn cho côntrùng. 3) Bề mặt của núm nhụy được phủ một chất bài tiết dính để thu nhận hạt phấn vàcác bộ phận hoa được sắp xếp sao cho côn trùng đến tiếp xúc dễ dàng. 4) Hạt phấn có kich thước lớn, vách dày và có gai bảo vệ để các hạt phấn kết lạivới nhau thành khối và dễ dính vào cơ thể côn trùng thụ phấn. Để thích nghi với đời sống nhờ côn trùng thì hoa phải có màu sắc sặc sỡ, cóhương thơm…Trước tiên sâu bọ, côn trùng đến hoa để lấy hạt phấn làm thức ăn. Hoacó màu sắc là tác nhân ngẫu nhiên định hướng cho côn trùng, nó cũng ngẫu nhiên làmtăng thêm quá trình thụ phấn.
  18. 18. Những hoa thường có côn trùng tìm đến thì thụ phấn dễ dàng xảy ra, những hoakhông có màu sắc, không có hương thơm thì côn trùng ít tìm đến và dần dần sẽ bịthoái hóa. Cho đến ngày nay tất cả các loài hoa đều có màu sắc sắc sỡ, có tác nhânđịnh hướng côn trùng. Trong quá trình này dần dần hình thành túi mật. Trong đời sống, có loài côn trùng chỉ tìm đến với 1 loài hoa, và có loài hoa vớihình dạng, cấu tạo chỉ thích hợp với 1 loại côn trùng nào đó. Ví dụ: hoa hình chuôngthích hợp với côn tùng có vòi, mỏ dài… Sự tiến hóa của thực vật kéo theo sự tiến hóa ở động vật, cả hai thúc đẩy lẫn nhautrong quá trình tiến hóa tạo ra sự cân bằng trong sinh giới. Hình 4.25. Hoa thụ phấn nhờ sâu bọ - Thụ phấn chéo nhờ gió: Hoa thích nghi theo lối thụ phấn nhờ gió có cấu tạo cơbản cũng giống như hoa thụ phấn nhờ côn trùng nhưng hình dạng rất khác nhau, cónhững đặc tính sau: 1) Hoa không có màu sắc, hương vị và tuyến mật. Hoa thường nhỏ và khó nhậnthấy. 2) Ở nhiều loài hoa được xếp trên phần dinh dưỡng bao quanh để nhận được sựưu việt tối đa của làn gió. Sự thụ phấn thường xảy ra sớm hơn trong năm, trước khiphát triển tán lá bao quanh. 3) Núm nhụy lớn, có lông và treo ngoài hoa để nhận được hạt phấn nhờ gió mangđến.
  19. 19. 4) Hoa có lượng lớn hạt phấn, hạt phấn có kích thước nhỏ, nhẹ, nhẵn và đượcphóng thích vào không khí từ những bao phấn lớn treo ngoài hoa. Ở các cây họ Lúa, họ Cau, họ Dừa… những cây này có hoa thích nghi theo kiểubao hoa tiêu giảm, cấu tạo đơn giản, chỉ nhị thường mảnh, dài. Ở lúa, đầu nhụy cóchùm lông, còn chỉ nhị đính ở lưng bao phấn, bao phấn dễ dàng đong đưa tước gióphát tán hạt phấn đi. Đầu nhụy có chùm lông nên hạt phấn dễ dàng dừng lại nơi đó.Tuy nhiên hình thức này lãng phí hạt phấn. Cá thể TV có thể sản sinh hàng triệu hạtphấn nhưng chỉ có rất ít hạt phấn được núm nhụy nhận. Hình 4.26. Hoa thụ phấn nhờ gió ở cây họ Lúa - Thụ phấn chéo nhờ nước: Điển hình là cây rong mái chèo (Vallisneriaspiralis) mọc ở bùn đáy, có hoa đực và hoa cái riêng biệt. Đối với hoa cái thì cuống hoa dài, dạng xoắn lò xo đưa hoa lên mặt nước. Hoađực ở dưới đáy nước, cuống hoa đực dễ gãy đưa hoa lên mặt nước, bao phấn vỡ tungra, nhờ nước đưa hạt phấn đến gặp hoa cái và thụ phấn.
  20. 20. Hình 4.27. Cây rong mái chèo thụ phấn nhờ nước A. Cây đực (1) và cây cái (2) mang hoa đơn tính B. Các hoa nổi trên mặt nước (3. Hoa đực; 4. Hoa cái) - Thụ phấn chéo nhờ con người Thụ phấn nhờ con người được ứng dụng trong việc lai tạo giống mới giữa các chivới nhau tạo ra thế hệ con cái mang những đặc tính có lợi. Chẳng hạn như hoa hồng làhoa lưỡng tính nhưng nhị và nhụy không chín cùng một lúc, người ta sẽ ngắt nhị đi vàlấy hạt phấn của hoa hồng khác thụ vào. Ngoài ra người ta còn sử dụng các giống hoang dại cho lai tạo với giống câytrồng với mục đích là lấy tính thích nghi tốt của giống hoang dại và những đặc điểmtốt của giống cây trồng cho ra giống mới có tính thích nghi cao hơn và những đặcđiểm tốt hơn. Như vậy sự thụ phấn chéo tạo nên sự đa dạng của TV, các hình thức thụ phấn vôcùng phong phú. Đối với mỗi hình thức thụ phấn luôn luôn có hình thức mới thíchnghi cao độ hơn, luôn có sự tiến hóa. Ý nghĩa của giao phấn là tạo ra ưu thế sinh học so với sự thụ phấn, thế hệ concháu có sức sức sống cao, tính biến dị cá thể cao, làm nguyên liệu cho chọn lọc tựnhiên để tạo ra loài mới. Nhưng có nhược điểm là bị lệ thuộc thụ động với các điềukiện tự nhiên và các sự kiện ngẫu nhiên khác.
  21. 21. * Sự thụ tinh Sự thụ phấn chỉ là giai đoạn đầu của quá trình sinh sản hữu tính. Trái hẳn với tếbào tinh trùng ở các trực vật kém tiến hóa hơn, giao tử đực nằm trong hạt phấn làkhông chuyển động và không cần nước của môi trường ngoài để tiếp xúc với giao tửcái. Khi hạt phấn được mang đến núm nhụy, nó nảy mầm tạo ra một ống phấn. Hạtphấn nảy mầm chứa một nhân ống phấn và hai nhân tinh trùng là thể giao tử đựctrưởng thành. Ống phấn sinh trưởng rồi chui qua các tế bào của núm nhụy và vòi nhụyđể đến lỗ noãn. Hình 4.28. Sự nảy mầm của hạt phấn 1. Tế bào ống; 2. Tế bòa phát sinh; 3. Ống phấn; 4. Nhân tế bào ống; 5. Hai tinh tử Ống phấn mọc ra thoạt đầu như phần lồi ra của vỏ trong rồi xuyên qua lỗ trên vỏngoài. Năng lượng cho sự nảy mầm của ống phấn được cung cấp ban đầu từ chất dinhdưỡng dự trữ trong hạt phấn. Về sau ống phấn tiết ra enzim làm tiêu hóa các tế bàobao quanh vỏ nhụy và bầu để cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng.Hoạt động này dược kiểm soát bởi nhân của ống phấn nằm ở đầu tận cùng của ốngphấn. Cuối cùng ống phấn bị vỡ ra trong khoang của bầu và đi vào noãn qua lỗ noãn.Nhân của ống phấn và hai giao tử đực được giải phóng. Một trong các giao tử đực kếthợp với nhân của trứng để tạo thành một hợp tử lưỡng bội mà về sau sẽ phát triểnthành một phôi mới.Nhân của ống phấn sẽ bị phân hủy đi, nhưng giao tử đực thứ hai được giữ lại và dượcchuyển vào trung tâm của túi phôi để kết hợp với hai nhân cực tạo nhân nội nhũ tam
  22. 22. bội. Như vậy, ở thực vật có hoa cả hai nhân đực đều dược sử dụng. Quá trình thj tinhnày gọi là thụ tinh kép. Đây là bước tiến hóa có iệu quả cao đối với thực vật hạt kín. Tinh tử 1 + Noãn cầu → Hợp tử (2n) → Phôi (2n) Tinh tử 2 + Nhân (2n) → Nhân (3n) → Nội nhũ (3n) Phôi và nội nhũ nằm trong một đơn vị gọi là hạt, hạt được giấu trong một đơn vịgọi là quả.Khi vỏ noãn biến thành vỏ hạt và hợp tử phát triển thành phôi, hợp tử phân chia haiphần: phần rễ là phôi, phần dưới là cuốn noãn có tác dụng giữ phôi và chuyển giaodưỡng chất cho phôi từ nhũ, sau đó là mầm bắt đầu xuất hiện. e) Sự hình thành hạt Sau thụ tinh, noãn phát triển để tạo hạt. Hạt chứa phôi thể bào tử và chất dinhdưỡng dự trữ. Trong quá trình sinh trưởng phôi hình thành chồi mầm và rễ mầm. Ởhạt cây một lá mầm, phôi chỉ hình thành một lá mầm, ở cây hai lá mâm, phôi hìnhthành hai lá mầm. Trong các hạt có nội nhũ (hạt thầu dầu, hạt ngô) nhân nội nhũ phânchia nhiều lần theo gián phân để tạo nên mô nội nhũ gồm những tế bào dự trữ dinhdưỡng lớn. Những tế bào này tích lũy chất dinh dưỡng vận chuyển qua các bó mạchcủa giá noãn và phát triển bao quanh phôi non chất đầy khoang trống, giữa vỏ noãn lànhững phần còn lại của túi phôi. Ở các hạt không nội nhũ (hạt đậu tây), các lá mầm làmiền tích lũy chủ yếu và sự phát triển của mô nội nhũ rất hạn chế. Vỏ noãn tạo vỏngoài. Khi hạt chín, bầu phát triển thành quả. Đối với thực vật hạt trần hạt nằm trên bầu,còn ở thực vật hạt kín hạt nằm phía trong bầu. Trong quá trình tiến hóa của thực vật diễn ra sự giảm đi của nội nhũ và sự pháttriển mạnh mẽ của phôi. Ở loại hạt chỉ có vỏ và phôi là tiến hóa nhất, vì chất dinhdưỡng nuôi phôi nằm trong lá mầm của phôi, nuôi phôi một cách trực tiếp và đạt hiệuquả cao nhất. Hình dạng và kích thước của hạt khác nhau tùy loài cây, có hạt có kích thước lớn(hạt cây bàm bàm trong họ Đậu, hạt dừa) hoặc hạt có kích thước rất nhỏ (hạt các câyhọ Lan, các cây họ Cải). Hình dạng của hạt phụ thuộc vào hình dạng của noãn. Thànhphần của hạt bao gồm các thành phần chính sau đây: vỏ hạt, phôi, mô dự trữ chất dinhdưỡng (nội nhũ và ngoại nhũ nếu có).
  23. 23. Hình 4.29. Cấu tạo của hạt A. Hình dạng ngoài của hạt đậu (1. Vết tích của lỗ noãn; 2. Rốn hạt; 3. Sống noãn; 4. Lá mầm; 5. Rễ mầm; 6. Thân mầm; 7. Chồi mầm với lá đầu tiên); B. Sơ đồ hạt cắt dọc: 1a-2a. Hạt có nội nhũ; 3b-4b. Hạt không nội nhũ; 1a-3b. Hạt của cây Hai lá mầm; 2a-4b. Hạt của cây Một lá mầm (v. Vỏ hạt; n. Nội nhũ; l. Lá mầm; ch. Chồi mầm; t. Trụ dưới lá mầm; r. Rễ mầm) - Vỏ hạt: bao bọc bên ngoài có nhiệm vụ che chở cho các thành phần bên tronghạt tránh bị ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Vỏ hạt có 2 lớp hoặc 1 lớp hoặc đôikhi hạt không rõ vỏ (hạt các cây trong họ Lúa). Bên ngoài vỏ đôi khi nhẵn nhụi hoặcsần sùi (hạt gấc), hoặc mọng nước (hạt lựu). Lớp biểu bì của hạt có thể phát triểnthành những lông dài (hạt bông), hoặc thành cánh (hạt xà cừ) là những bộ phận đểphát tán hạt. Bên ngoài hạt có một vết sẹo gọi là rốn hạt, là vết tích của cuống hạt đã rụng đi(hạt đậu). Vết tích của lỗ noãn vẫn còn nhưng khó thấy, nó chỉ là một chấm nhỏ ở gầnrốn trong trường hợp noãn đảo hay noãn cong (hạt đậu), hoặc ở đối diện với rốn đốivới noãn thẳng (hạt hồ tiêu). Chỗ cuống noãn dính với noãn (gọi là sóng noãn) tạothành một đường lồi phía ngoài hạt. Hạt có cấu tạo gồm nhiều lớp tế bào: bên ngoài là lớp tế bào biểu bì, các lớp ởbên trong có chức năng dinh dưỡng và cơ học. Một số hạt (hạt vải, nhãn, chôm chôm)bên ngoài có lớp áo hạt làm thành một lớp thịt mọng nước bao bọc lấy hạt, áo hạt docuống noãn phát triển thành. - Phôi: Cấu tạo của phôi gồm có: 2 lá mầm hoặc 1 lá mầm, chồi mầm, thân mầmvà rễ mầm. Ở những cây không có nội nhũ, lá mầm thường lớn, chứa nhiều chất dinhdưỡng (hạt đậu). Thân mầm phân hóa thành 3 phần: biểu bì, vỏ và trụ.
  24. 24. Trong hạt, phôi nằm giữa khối nội nhũ hoặc lệch về một bên về phía lỗ noãn,phôi được đính vào hạt nhờ dây treo. Ở các cây kí sinh (tầm gửi, tơ hồng) phôi khôngphân hóa thành thân mầm, rễ mầm, lá mầm, mà chỉ gồm một số tế bào mô phân sinh. - Nội nhũ: nội nhũ được phát triển từ nhân thứ cấp của túi phôi sau khi kết hợpvới tinh tử thứ hai tạo nên tế bào có nhân nội nhũ (3n). Tế bào này phân chia tạo thànhnội nhũ. Nội nhũ là mô sự trữ chất dinh dưỡng (tinh bột, dầu béo hoặc alơron). Nộinhũ được tạo thành bằng 2 kiểu chính: + Kiểu nhân: nhân 3n của nội nhũ bắt đầu phân chia nhiều lần nhưng khôngtạo thành các tế bào riêng mà nó tạo nên một khối chất nguyên sinh chứa nhiều nhân.Khi kết thúc quá trình phân chia thì màng ngăn giữa các tế bào mới được hình thành. + Kiểu tế bào: sau mỗi lần phân chia của nhân tế bào thì màng ngăn giữa cáctế bào mới được hình thành ngay. Nội nhũ thường có màu trắng đục, mặt ngoài nội nhũ thường nhẵn, đôi khi nhănnheo (gọi là nội nhũ xếp nếp - ở hạt na, hạt cau). Vách tế bào nội nhũ đôi khi dày lêntạo thành nội nhũ sừng (hạt mã tiền, cà phê). - Ngoại nhũ: trong quá trình phát triển hạt, phôi tâm thường tiêu biến đi nhưngcũng có khi còn lại một phần và biến thành ngoại nhũ. Ngoại nhũ là mô dự trữ chấtdinh dưỡng để cung cấp thức ăn cho phôi khi hạt nảy mầm. Ngoại nhũ chỉ có ở mộtsố ít loài cây. Ngoại nhũ do phôi tâm sinh ra nên tất cả các tế bào đều là lưỡng bội(2n), nội nhũ được hình thành sau thụ tinh nên tất cả các tế bào đều là tam bội (3n). - Các kiểu hạt: hạt có các kiểu sau đây: + Hạt không nội nhũ: trong quá trình hình thành hạt, toàn bộ nội nhũ và phôitâm đều được tiêu thụ cho sự phát triển của phôi. Hạt chỉ có vỏ và phôi, phôi thườngcó phôi to, lá mầm lớn và mang chất dự trữ. Thường gặp ở các cây họ Đậu, Bầu bí,Cải... + Hạt có nội nhũ: trong quá trình phát triển hạt chỉ có phôi tâm biến mất hoàntoàn, hạt gồm có vỏ, phôi và nội nhũ. Phôi thường nhỏ, đôi khi chưa phân hóa, thườnggặp ở nhiều cây. + Hạt có ngoại nhũ: trong quá trình phát triển phôi đã sử dụng hết nội nhũ,phôi tâm còn lại một phần phát triển thành ngoại nhũ. Hạt có vỏ, phôi và ngoại nhũ,thường gặp ở họ Cẩm chướng, họ Hoàng tinh...
  25. 25. + Hạt có cả nội nhũ và ngoại nhũ: trong quá trình phát triển của hạt, phôi tâmvẫn còn nên phát triển thành ngoại nhũ, đồng thời còn cả nội nhũ nên hạt có đầy đủvỏ, phôi, nội nhũ và ngoại nhũ, thường gặp ở một số cây họ Súng, họ Gừng. f) Quả - Quả là phần mang hạt nên được gọi là cơ quan sinh sản của thực vật hạt kín.Những quả do bầu biến đổi thành gọi là quả thật, còn những quả khác ngoài bầu còncó các thành phần khác tham gia (đế hoa, trục hoa, lá bắc...) gọi là quả giả. - Cấu tạo quả: quả gồm các thành phần: vỏ quả ngoài, vỏ quả trong và vỏ quảgiữa. + Vỏ quả ngoài: do lớp biểu bì của vách bầu biến đổi thành, vỏ ngoài thườngrất mỏng và được phủ bởi lớp cutin, sáp hoặc lông. + Vỏ quả giữa: tương ứng với phần thịt (hay mô mềm) của vách bầu, vỏ quảgiữa làm thành thịt hay cùi quả. Ở các quả mọng thì lớp vỏ quả giữa dày, các quả khôthì vỏ quả giữa mỏng, kém phát triển. + Vỏ quả trong: do biểu bì trong của bầu biến đổi thành, thường là một lớpmỏng. Ở quả hạch, vỏ quả trong có thể dày và hóa gỗ, trở thành những tế bào đá (quảmận, đào, dừa...). Cũng có khi vỏ quả trong chứa nhiều chất dự trữ và rất khó phânbiệt với vỏ quả giữa. - Phân loại quả: dựa vào các kiểu bộ nhụy khác nhau (1 lá noãn, nhiều lá noãn rờihoặc dính lại), người ta chia thành 3 nhóm quả khác nhau: nhóm quả đơn, nhóm quảkép và nhóm quả phức. + Nhóm quả đơn: là quả được hình thành từ 1 hoa, bộ nhụy có 1 lá noãn haynhiều lá noãn dính nhau làm thành. Dựa vào tính chất của quả khi chín có tự mở đượchay không mà chia thành 2 loại: quả đóng và quả mở. Quả đóng là khi chín không tự mở để phóng thích hạt, còn gọi là quả bế.Căn cứ vào tính chất của các lớp vỏ quả người ta chia ra các kiểu: quả thịt và quả khôkhông mở. Quả thịt có 1 trong 3 lớp vỏ quả mọng nước hoặc mềm, nạc (quả cà chua,ổi, chuối...). Trong quả thịt có loại quả mà các lớp vỏ đều mềm, mọng nước gọi là quảmọng (nho, chuối, ổi, đu đủ, cam, bưởi...); có loại vỏ quả ngoài và vỏ quả giữa nạchoặc mọng nước, vỏ quả trong cứng có các tế bào có màng dày, hóa gỗ, nhiều tế bàođá (quả đào, mận, táo ta, dừa...).
  26. 26. Hình 4.30. Các loại quả thịt a. Quả mọng kiểu cà chua; b. Quả mọng kiểu cam quýt; c. Quả hạch (1. Vỏ quả ngoài; 2. Vỏ quả giữa; 3. Vỏ quả trong) Quả khô không mở (quả bế) là những quả khi chín cả 3 lớp vỏ đều khô xác,dính chặt với nhau. Quả bế có các loại: quả bế có lông (các cây họ Cúc), quả bế cócánh (quả chò), quả dính (đặc trưng cho các cây họ Lúa), quả bế rời (các cây họ Hoatán, họ Hoa môi). Quả mở (quả nang): là quả tự mở được khi chín nhờ vào hiện tượng cơhọc đơn thuần, phụ thuộc vào sự khô của vỏ quả.Quả nang có các loại: quả đại (quảsữa), quả đậu (đặc trưng cho các cây họ Đậu), quả cải (đặc trưng cho các cây họ Cải),quả hộp (quả cây rau sam, mã đề), quả mở lỗ (quả thuốc phiện). Ngoài ra, nhóm quả đơn còn một vài loại quả đặc biệt như quả áo hạt (quả vải,nhãn, chôm chôm), áo hạt do cuống noãn phát triển thành; quả giả (quả táo tây, lê),phần thịt quả do đế hoa phát triển và bao bọc lấy quả thật. + Nhóm quả kép: quả kép cũng được hình thành từ 1 hoa nhưng các lá noãncủa bộ nhụy rời nhau, mỗi lá noãn tạo thành 1 quả riêng biệt. Quả được tạo thành cóthể là quả bế (quả các cây mao lương - Ranunculus, dây ông lão - Clematis), có thể làquả đại (quả của nhiều cây trong họ Thiên lí), cũng có khi đế hoa phát triển thành 1quả giả mang những quả thật là những quả bế ở bên ngoài (quả dâu tây) hoặc đế hoalõm bao lấy quả thật ở bên trong (quả cây hoa hồng, cây kim anh).
  27. 27. Hình 4.31. A. Quả kép: 1. Quả kép nhiều đại ở cây hồi; 2. Quả kép giả ở dâu tây; 3. Quả kép giả của hoa hồng B. Quả phức: 4. Quả dứa; 5. Quả vả + Nhóm quả phức: là những quả được hình thành từ 1 cụm hoa. Quả có nhiềuthành phần tham gia như bầu, trục hoa, bao hoa, lá bắc, đế hoa (quả sung, quả mít, quảdâu tằm...). g) Sự phát tán của quả và hạt Chức năng của quả là đảm bảo sự phát tán hạt khỏi cây mẹ, làm giảm bớt sựcạnh tranh giữa các cây trong cùng loài và để chiếm cứ các môi trường sống mới. Gió,nước và các động vật khác nhau đều là nhân tố hổ trợ sự phát tán của cây hạt kín. Cómột số kiểu phát tán được phân biệt như sau: 1) Tự phát tán Khi vỏ quả khô thì bị nứt ra, hạt của một số cây được bật ra khỏi quả phát tánxuống đất. Sự vận động nhanh của hạt bật ra khỏi quả là đủ mạnh để phát tán hạt đi xakhỏi cây bố mẹ. Ví dụ: Quả cây kim tước là loại đậu mà vỏ quả gồm những lớp môsợi xếp chéo xiên với nhau. Khi khô mỗi nửa vỏ xoắn lại và vở ra, phát tán hạt rangoài 2) Phát tán nhờ gió
  28. 28. Cây thuốc phiện có hạt dạng bào tử, nhẹ để dễ được gió mang đi xa. Những hạtnày được tạo nên trong quả rỗng gọi là quả nang gồm nhiều lá noãn dính nhau. Khichín hạt thoát ra qua các lỗ trên quả nang do quả rung theo gió. Hạt và quả phát tán nhờ gió có phần phụ kéo dài, có lông, có cánh để làm chậmsự rơi xuống đất của hạt (quả cây trúc đào liễu, quả xà cừ,…) 3) Phát tán nhờ nước Dạng phát tán này ít phổ biến hơn. Quả và hạt có dạng rỗng hoặc có cấu tạo làmcho nó nổi trên mặt nước. Ví dụ: Quả dừa có vỏ quả ngoài cấu tạo bằng sợi xốp vàmột khoang trống chứa khí bên trong hạt của nó, hạt được bảo vệ kỹ, không ảnhhưởng đến phôi. 4) Phát tán nhờ động vật Một số quả và hạt khô có chất dính hoặc có gai để dễ dàng mắc dính vào lông khicác con vật đi qua. Ví dụ: Quả cỏ may, quả cây dâu móc tạo thành một chùm nhỏ quảkhô gọi là quả bế. Mỗi quả mang móc có râu do vòi nhụy tạo ra. Hạt của các quả nạc được bảo vệ bởi các vỏ cứng, đôi khi được tăng độ cứng bởisự dính của lớp tế bào đã tạo nên mô vỏ quả trong. Những quả này được phát tán phụthuộc vào kích thước của chúng như bị thảy, bị nuốt. Trong trường hợp sau thì vỏngoài chịu đựng được tác động của enzim trong ống tiêu hóa và hạt được lắng vàophân thường là tại nơi xa với cây bố mẹ trong môi trường giàu chất dinh dưỡng hơn. Khả năng phát tán chỉ giúp phương tiện phát tán chứ không có tính chất quyếtđịnh mở rộng khu phân bố của loài vì chưa hẳn nó đã thích nghi với môi trường sốngmới mở rộng khu phân bố của loài. h) Các kiểu phát triển của thực vật Hạt kín Dựa vào đặc điểm phát triển cá thể của thực vật có thể chia thực vật Hạt kín rathành 3 nhóm: - Nhóm thực vật 1 năm: trải qua chu trình phát triển từ hạt đến hạt trong thời gianít hơn 1 năm. Ví dụ, ở các loài thực vật chóng tàn ở sa mạc chỉ có 15 ngày: bắt đầu tạohoa khi các cơ quan sinh dưỡng còn rất yếu và nó bắt đầu nở hoa rất nhanh, kế theohình thành hạt và quả, sau đó thì chết. Phần lớn cây 1 năm nảy mầm vào mùa xuân vàkết quả vào mùa hè.
  29. 29. - Nhóm thực vật 2 năm: trải qua chu trình phát triển trong vòng 2 năm. Trongnăm đầu (trước mùa đông) chúng gồm những cơ quan dự trữ ở dưới đất, vào mùađông cơ quan trên mặt đất tàn lụi nhiều hay ít, ra hoa và kết quả vào mùa xuân nămsau. Cây chết ngay sau khi tạo quả và hạt. Ví dụ: cà rốt, bắp cải, hành... - Nhóm thực vật lâu năm: căn cứ vào số lần ra hoa kết quả trong đời sống cá thể,nhóm thực vật này được chia thành 2 nhóm nhỏ: + Thực vật lâu năm ra hoa kết trái 1 lần trong đời: thực vật nhóm này chỉ sinhsản 1 lần trong chu trình sống giống như thực vật 1 năm và 2 năm. Ví dụ cây tre chỉ rahoa, kết trái 1 lần sau hàng chục năm sinh tưởng sinh dưỡng rồi chết. + Thực vật lâu năm ra hoa kết trái nhiều lần: Nhóm này có nhiều dạng sốngkhác nhau: thân cỏ, thân leo, cây bụi nhỏ, cây bụi, cây gỗ...Phần lớn các loài cây lâunăm sau một thời gian xác định, tạo quả hàng năm. Đặc trưng của nhóm cây lâu nămra hoa kết trái nhiều lần là các cơ quan sinh dưỡng tiếp tục sinh trưởng cả trong thờigian ra hoa cũng như sau khi cành đã mang quả. Hình 4.32. Chu trình phát triển của thực vật có hoa 1. Phôi; 2. Quả và hạt; 3. Cây con; 4. Cây trưởng thành; 5. Hoa; 6. Nhị; 7. Nhụy; 8. Bao phấn; 9. Noãn; 10. Tế bào mẹ của túi phôi nằm trong noãn; 11. Hạt phấn; 12. Túi phôi; 13. Hạt phấn nảy mầm; 14. Ống phấn với 2 tinh tử; 15. Thụ tinh kép

×