BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH___________________________________________THỰC TRẠNGVÀ GIẢI PHÁPXÂY DỰNG NỀNVĂN HÓA VIỆT N...
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAMTRONG THỜI KỲ MỚINhà văn Đỗ Kim CuôngPhó Chủ tịch Thường trực Liên hi...
Văn nghệ phê phán khá mạnh mẽ cái tiêu cực (tình trạng mất dân chủ, tham nhũng, lộngquyền và lạm quyền, thoái hóa biến chấ...
Trước tình hình diễn biến phức tạp của xã hội hiện nay, nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của cáccấp uỷ Đảng, chính quyền từ tr...
trong đấu tranh cách mạng, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảovệ chủ quyền Tổ quốc; khuyến k...
- Quy định hệ số lương của nghệ sĩ biểu diễn (xiếc, múa, sân khấu) còn chưa tương xứngvới đặc thù nghề nghiệp nên anh chị ...
Trước hết là giải quyết chế độ phụ cấp cho các cán bộ đang công tác ở các Hội Văn họcnghệ thuật (25%) như các cơ quan hành...
Nhìn lại 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), các nhà nghiên cứu,quản lý văn hóa, văn nghệ đều đánh giá c...
Cùng chung suy nghĩ đó, ông Trần Chiến Thắng – nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội ghi âm ...
giá con người; là nền tảng định hướng cho lối sống xã hội là cốt lõi văn hóa tinh thần. Nhà báoHữu Thọ đặt câu hỏi “Bản sắ...
gỡ không ít khó khăn cho các hoạt động văn nghệ của cả nước, nhất là đối với các địa phươngcòn gặp nhiều khó khăn về kinh ...
bước đầu, nhưng thực tế những hoạt động đối ngoại đã tăng cường đối ngoại nhân dân trong thờikỳ mới.Các cơ quan quản lý VH...
văn hóa. Gia đình vốn được coi là “tế bào của xã hội” đang lỏng lẻo (ly hôn, bạo lực gia đình, ítthời gian giáo dục chăm s...
mê tín dị đoan, lãng phí tiền của trong việc đốt đồ mã, đặt hòm công đức tràn lan, lưu hành sảnphẩm văn hóa trái phép, chơ...
nhà nước về hoạt động VHNT còn buông lỏng nhất là hoạt động biểu diễn. Một số đề án vềVHNT chưa được thể chế hóa cụ thể. B...
Đi tìm nguyên nhân cho những biểu hiện sa sút trên, các nhà nghiên cứu đều có nhữngphân tích thỏa đáng từ tầm vĩ mô đến vi...
sung, hoàn thiện chủ trương, quan điểm, giải pháp chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng cho những nămtiếp theo, tiếp tục xây dựng và...
Trước những biến động khôn lường như vậy, nhiều chuẩn mực tốt đẹp của truyền thống văn hóadân tộc bị xô đẩy nghiêng ngả, c...
sử phát triển hàng ngàn năm của dân tộc ta. Trong gần 30 năm đổi mới, dưới ánh sáng của cácNghị quyết của 6 kỳ đại hội Đản...
và đảo lộn hệ thống giá trị. Khi những kẻ giàu có vô liêm sĩ huyênh hoang về những của cải vậtchất, mua bán, đổi chác nhữn...
nhiều nhà hoạt động và nghiên cứu văn hóa: Văn hóa nào đang là nền tảng tinh thần xã hội ta?Câu hỏi này không có lời giải ...
công sở, văn hóa học đường, văn hóa giao thông, văn hóa công nghiệp, văn hóa thương nghiệp,văn hóa nông nghiệp,….. thì quá...
Về các nguồn lực của sự phát triển văn hóa. Ai cũng biết rằng văn hóa là trình độ ngườicủa các quan hệ giữa con người và t...
của họ. Tại sao một nền văn hóa của cơ chế thị trường mà lại không phải là tầng lớp doanh nhânđóng vai trò quan trọng.Ngoà...
Ngoài chuẩn mực của cái đúng, nền văn hóa tiền tiến đậm đà bản sắc dân tộc của chúng taphát triển trong cơ chế thị trường ...
khác. Để duy trì và phát triển những hoạt động văn hóa trong trong thể chế kinh tế thị trườnggiữa một thời đại bùng nổ thô...
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)

13,631

Published on

Kỷ yếu Hội thảo tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 15 tháng 3 năm 2013.
Đăng trên vanhienj,vn

0 Comments
11 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
13,631
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
0
Likes
11
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Transcript of "Văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới (vanhien.vn)"

  1. 1. BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH___________________________________________THỰC TRẠNGVÀ GIẢI PHÁPXÂY DỰNG NỀNVĂN HÓA VIỆT NAMTRONG THỜI KỲ MỚI(Kỷ yếu Hội thàoT ch c t i B VHTTDL ngày 15/5/2013)ổ ứ ạ ộ
  2. 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAMTRONG THỜI KỲ MỚINhà văn Đỗ Kim CuôngPhó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội VHNT Việt NamVừa qua, Tổng kết Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) về Văn hóa, Văn học nghệthuật, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã tổ chức Hội nghị với các hội VHNTchuyên ngành TW đánh giá thực trạng về tình hình VHNT hiện nay cũng như các giải pháp đểthực hiện. Tại Hội nghị này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến công tác chỉ đạo, quản lí liên quan đếncơ chế chính sách cho văn nghệ sỹ cùng với các giải pháp và kiến nghị.1. Về tổ chức hoạt động của các Hội Văn học nghệ thuật hiện nayTheo số lượng thống kê chưa đầy đủ, biến động theo từng năm, hiện nay, số lượng vănnghệ sỹ cả nước do các Hội Văn học nghệ thuật Trung ương và các Hội VHNT tỉnh, thành phốquản lí là gần 40.000 người. Trong đó:- Hội viên Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương: 18.000 người.- Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố: xấp xỉ 22.000 người.Cơ chế chỉ đạo, quản lí chung là: Ở Trung ương, các Hội VHNT do Ban Bí thư và các Banđảng quản lí. Ở các địa phương do cấp uỷ đảng trực tiếp chỉ đạo các Hội Văn học nghệ thuật.Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên. Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ quản lí biên chế.Nhìn chung, tổ chức các Hội Văn học nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương đều đượccác cấp uỷ Đảng quan tâm chỉ đạo, Nhà nước hỗ trợ kinh phí để hoạt động phục vụ nhiệm vụchính trị của Đảng và Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương.2. Đánh giá tổng quan về tình hình Văn học nghệ thuật hiện nayTrong sáng tạo nghệ thuật, về căn bản, các tác phẩm văn nghệ đi đúng hướng phản ánhhiện thực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN hôm nay, các tác giả tiếp tục tái hiện hiện thựccách mạng và kháng chiến hào hùng của dân tộc (1945 – 1975), lịch sử kiên cường bất khuất vànhững truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Văn nghệ cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mớitiến bộ, tạo dựng những tấm gương điển hình của con người thời đại: người lao động sáng tạo(công nhân, nông dân, trí thức), những người làm giàu chân chính cho đất nước (thương nhân,nhà doanh nghiệp, nhà kinh doanh), bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh xã hội (chiến sĩ lực lượngvũ trang, công an nhân dân).
  3. 3. Văn nghệ phê phán khá mạnh mẽ cái tiêu cực (tình trạng mất dân chủ, tham nhũng, lộngquyền và lạm quyền, thoái hóa biến chất về lý tưởng, đạo đức, lối sống vị kỉ, không tình nghĩa,chạy theo đồng tiền và lợi ích vật chất thiển cận...).Văn nghệ sĩ được đảm bảo tự do sáng tạo, được chú trọng bảo vệ bản quyền về sáng tác,biểu diễn. Từ năm 2000 nhà nước đảm bảo hỗ trợ cho việc sáng tạo và quảng bá tác phẩm, duytrì hoạt động của tổ chức Hội VHNT với tư cách là tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp. Song,đội ngũ văn nghệ sỹ đã có sự phân hoá: một bộ phận lớn văn nghệ sỹ (những người cao tuổigắn bó với cách mạng và kháng chiến) là lực lượng nòng cốt trong các Hội Văn học nghệ thuậtvẫn giữ quan điểm sáng tác của Đảng. Còn một bộ phận văn nghệ sỹ trẻ, có tài, có tác phẩm hiệnnay hành nghề tự do, không muốn vào Hội. Tác phẩm của họ tự xuất bản, tổ chức biểu diễn, làmphim theo đơn đặt hàng của các Háng tư nhân. Nội dung tác phẩm chủ yếu đề cập tới hiện thựcđời sống xãhội đương đại với cách nhìn, cách nghĩ của giới trẻ. Tác phẩm ít có chiều sâu về tưtưởng, giá trị nhân văn nhưng lại được các cơ quan truyền thông quảng bá rộng rãi có tác độngkhông nhỏ đến thị hiếu thẩm mĩ cảu công chúng (nhất là tầng lớp bình dân và giới trẻ).Về nghiên cứu, lý luận, phê bình, đã đẩy lùi khuynh hướng phủ nhận thành tựu của vănnghệ cách mạng, kháng chiến, kiên trì bảo vệ và phát triển đường lối văn học nghệ thuật mácxit-leninit và tư tuởng văn nghệ Hồ Chí Minh.Một số ngành nghệ thuật như ca múa nhạc, điện ảnh bước đầu quan tâm thu hút lực lượngvăn nghệ sĩ Việt Nam yêu nước tiến bộ đang định cư ở nước ngoài về nước tham gia sáng tác,biểu diễn, phát huy những giá trị truyền thống văn nghệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam.Thực hiện hợp tác giao lưu văn hóa với nước ngoài qua dịch thuật, xuất bản, lưu diễn, tổchức trại sáng tác quốc tế ở Việt Nam và dự các liên hoan văn nghệ, các cuộc thi biểu diễn ởnước ngoài.Tuy nhiên mặt trận văn nghệ còn bộc lộ những khuyết nhuợc điểm:- Cá biệt có VNS chưa đề cao trách nhiệm xã hội, công dân, suy giảm lòng tin vào sựnghiệp cách mạng, phát ngôn, viết hồi ký, sách báo bộc lộ sự dao động hoài nghi về lý tưởng vàniềm tin về sự phát triển của đất nước trong vận hội mới.- Vẫn tồn tại dai dẳng khuynh hướng thuơng mại hóa, giải trí tầm thường hóa ở một số lĩnhvực, chi phối một bộ phận công chúng (âm nhạc, điện ảnh, sân khấu).- Thiếu vắng những tác phẩm có giá trị cao về nội dung, nghệ thuật của những cá tínhsáng tạo độc đáo. Còn có biểu hiện dễ dãi bằng lòng với tình trạng nghiệp dư, “ăn xổi ở thì”,chiều theo thị hiếu cũ kĩ, hoặc tầm thường, thậm chí lập dị, ngộ nhận dưới danh nghĩa các tràolưu thời thượng như: hậu hiện đại, giải cấu trúc, đại tự sự...3. Về tư tưởng của đội ngũ văn nghệ sỹ
  4. 4. Trước tình hình diễn biến phức tạp của xã hội hiện nay, nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của cáccấp uỷ Đảng, chính quyền từ trung ương đến địa phương, đại bộ phận anh chị em văn nghệ vẫn tintưởng vào sự nghiệp đổi mới và những quyết sách của Đại hội Đảng lần thứ XI vạch ra. Biểu hiệnlà: kiên trì, tâm huyết với công việc sáng tạo của người nghệ sỹ, gắn bó với các giá trị truyền thốngyêu nước và cách mạng, khẳng định các giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc. Có thể khẳng định:Chính tình hình tư tưởng của đội ngũ văn nghệ sỹ hiện nay góp phần quan trọng cho sự ổn địnhchính trị của xã hội, của đất nước.- Việc Chính phủ tiếp tục “Hỗ trợ cho các công trình Văn học nghệ thuật và báo chí giaiđoạn 2011 - 2015” cũng như Thủ tướng và các Bộ ngành hữu quan đặt hàng các tác phẩm vănhọc nghệ thuật thực sự là nguồn khích lệ đối với văn nghệ sỹ và báo chí cả nước. Tuy kinh phíhỗ trợ còn ít nhưng đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho các hoạt động văn nghệ của cả nước, nhấtlà đối với các địa phương còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế (các tỉnh, thành phố mức thu nhậpthấp, các tỉnh miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số).Song tình hình tư tưởng của một số (rất ít) văn nghệ sỹ vẫn còn những biểu hiện sau:- Một số văn nghệ sỹ chưa thật sự tin tưởng vào các Nghị quyết của Đảng, và Chính sáchcủa Nhà nước (như việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về củng cố xây dựng Đảng). Bộphận này chịu tác động bởi những hiện tượng xấu đang diễn ra trong xã hội như: tham nhũng,tiêu cực trong kinh tế, đất đai, sự lộng hành của một số cán bộ có chức, có quyền không thựchiện đúng 19 điều quy định đối với Đảng viên, tác động của các luồng thông tin xấu (qua báochí, dư luận xã hội…)- Một số văn nghệ sỹ còn chịu tác động trực tiếp của những kẻ xấu gây chia rẽ, kíchđộng, phủ nhận thành quả của cách mạng và kháng chiến, lợi dụng tình hình phức tạp đang diễnra ở Biển đông, phê phán sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Số văn nghệ sỹ này không nhiều,nhưng lợi dụng không khí đổi mới, dân chủ công khai, sự lỏng lẻo trong quản lí báo chí, từnglúc, từng nơi tìm cách bộc lộ, tạo dư luận chú ý.Đây cũng là vấn đề rất cần được các cơ quan quản lí Văn học nghệ thuật quan tâm. Kiêntrì và kiên quyết đấu tranh không cho kẻ xấu lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”trong đội ngũ văn nghệ sỹ.4. Về công tác chỉ đạo, quản lí, thực hiện cơ chế chính sách đối với văn nghệChủ trương của Đảng và Nhà nước thể hiện qua Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về côngtác Văn học nghệ thuật là: phát triển VHNT trong cơ chế thị trường, định hướng XHCN, vì vậyhoạt động VHNT cần có sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chỉ đạo, quản lí Văn học nghệ thuậthiện nay là: khuyến khích, động viên văn nghệ sỹ sáng tạo để có nhiều tác phẩm, công trình Vănhọc nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh sâu sắc hiện thực và đất nước ta
  5. 5. trong đấu tranh cách mạng, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảovệ chủ quyền Tổ quốc; khuyến khích các sáng tác về đề tài truyền thống yêu nước, các giá trị vănhoá của dân tộc cũng như các đề tài phản ánh sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay;khuyến khích sự tự do sáng tạo của người nghệ sỹ, hướng các tác phẩm Văn học nghệ thuật tớicác giá trị chân - thiện - mỹ, giàu tính nhân văn, phê phán sâu sắc các thói hư tật xấu, tệ nạn xãhội làm suy đồi đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Kiên quyết đẩy lùi các khuynh hướngnghệ thuật phản dân tộc, các biểu hiện của “diễn biến hoà bình” trên mặt trận Văn học nghệthuật.Để thực hiện nhiệm vụ trên đây, trong các chỉ đạo và quản lí cần nắm chắc tổ chức cácHội Văn học nghệ thuật đồng thời phải thực hiện các giải pháp về cơ chế, chính sách đối với vănngh và văn nghệ sỹ như Nghị quyết 23 của Bộ chính trị yêu cầu.* Về mặt ưu điểm:Ngay sau khi có các Nghị quyết của Đảng ra đời, cấp ủy và tổ chức Đảng các cấp đã triểnkhai, quán triệt sâu rộng đến tận chi bộ, nhất là đối với đội ngũ văn nghệ sĩ cả nước.Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đã xây dựng chương trình hành động cụ thể, với nhiều đề ánliên quan đến VHNT để tổ chức thực hiện, quan tâm bồi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ, đầu tư kinhphí, nắm bắt tâm tư, diễn biến tư tưởng của văn nghệ sĩ để có biện pháp lãnh đạo kịp thời, do đótạo được không khí đoàn kết, đồng thuận, nhất trí cao trong xã hội.Bên cạnh những thành tựu đã đạt được công tác chỉ đạo, quản lý, xây dựng cơ chế chínhsách còn bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm.- Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa nhận thức đúng vai trò của VHNT gópphần củng cố trận địa tư tưởng của Đảng. Trong chỉ đạo điều hành còn thiếu sự quan tâm đúngmức đến việc kiện toàn mô hình tổ chức các Hội VHNT ở địa phương, cơ sở vật chất, điều kiệnlàm việc của các Hội còn ngèo nàn, kinh phí phục vụ cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật… cònhạn chế. Một số cấp ủy, chính quyền địa phương bố trí nhân sự chủ tịch Hội VHNT địa phươnglà người không am hiều về văn học nghệ thuật, trái với Quyết dịnh 284 của Ban Bí thư qui địnhvề người lãnh đạo quản lý hội VHNT địa phương phải là người có chuyên môn, nghiệp vụ phùhợp. Dẫn đến nội bộ thiếu đoàn kết, làm ảnh hưởng đến tư tưởng của hội viên.- Quản lý nhà nước về hoạt động VHNT còn buông lỏng nhất là hoạt động xuấtn bản, biểudiễn. Một số đề án về văn học nghệ thuật đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhưng đếnnay vẫn chưa được Bộ, ngành thể chế hóa cụ thể. Báo, tạp chí, các nhà xuất bản của các Hội còngặp nhiều khó khăn trong phát hành, xuất bản mà chưa được tháo gỡ, giải quyết phù hợp trongtình hình mới. Việc xét tặng giải thưởng hàng năm của các Hội VHNT địa phương còn chưathống nhất do còn gặp khó khăn về ngân sách…
  6. 6. - Quy định hệ số lương của nghệ sĩ biểu diễn (xiếc, múa, sân khấu) còn chưa tương xứngvới đặc thù nghề nghiệp nên anh chị em còn nhiều khó khăn trong cuộc sống, ảnh hưởng đếnniềm say mê sáng tạo, cống hiến trong hoạt động nghề nghiệp…- Biên chế cũng như ngân sách hoạt động cho các Hội còn thấp so với nhiệm vụ đượcgiao.- Các báo, tạp chí văn nghệ từ trung ương đến địa phương, do kinh phí ít, tự bươn chải,nên chưa quảng bá được đến công chúng.- Công tác giao lưu văn học nghệ thuật với nước ngoài còn hạn chế.- Sự phối hợp giữa các Hội Văn học nghệ thuật với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cònlỏng lẻo, thiếu đồng bộ trong việc thẩm định,đánh giá, tham mưu các vấn đề liên quan đến vănhọc nghệ thuật.5. Giải pháp và kiến nghị- Để công tác văn hoá, Văn học nghệ thuật thực sự đáp ứng với nhiệm vụ tuyên truyềnchính trị của Đảng và Nhà nước, cần nâng cao nhận thức cho các cấp uỷ Đảng và chính quyềnvề vai trò, vị trí của văn hóa, văn nghệ; xác định rõ mô hình tổ chức Hội Văn học nghệ thuật làmột mắt xích quan trọng trong công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng và Nhà nước.- Trên cơ sở đó, từ Trung ương đến địa phương cần củng cố tổ chức các Hội Văn họcnghệ thuật. Bố trí cán bộ làm công tác Văn học nghệ thuật nắm vững quan điểm, đường lối, cácchính sách về văn hóa, văn nghệ của Đảng và Nhà nước; tập hợp được đội ngũ văn nghệ sỹ,động viên sáng tác để có được những sản phẩm văn hoá, văn nghệ tốt phục vụ nhân dân.- Tăng cường biên chế, cơ sở vật chất cho một số Hội Văn học nghệ thuật ở Trung ươngvà địa phương đủ mạnh để thực hiện công tác Văn học nghệ thuật. Phải xem công tác văn hoá,văn nghệ là của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp uỷ Đảng và chính quyền.- Phối hợp với các bộ, ngành liên quan: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các ban của Đảng xâydựng cơ chế chính sách về mặt tổ chức cho Văn học nghệ thuật.- Cần có thái độ ứng xử đúng đối với cán bộ làm công tác văn học nghệ thuật là côngchức Nhà nước vì bản thân đội ngũ này đã đi theo Đảng làm cách mạng từ trước cách mạngtháng Tám.Một số cán bộ quản lí văn học nghệ thuật do các cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng điềuđộng sang, có người 02 bằng Đại học, là Gs., Ts, nhà văn… nhưng chế độ đãi ngộ không đượccoi là công chức, viên chức Nhà nước.
  7. 7. Trước hết là giải quyết chế độ phụ cấp cho các cán bộ đang công tác ở các Hội Văn họcnghệ thuật (25%) như các cơ quan hành chính khác.- Đề nghị Bộ Nội vụ có sự chỉ đạo trong ngành giải quyết biên chế đủ cho các Hội Vănhọc nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và các Hội Văn học nghệ thuật địa phương. Cụ thể là:- Ở các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và Hội Liên hiệp Văn họcnghệ thuật Hà Nội, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Tp. Hồ Chí Minh, biên chế tối thiểu là25 - 30 người.- Ở các Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, thành phố: 12-15 biên chế.Trên đây là một số vấn đề, chúng tôi xin báo cáo tại Hội nghị này để Bộ tổng hợp, báocáo Ban chỉ đạo Trung ương.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM THỜIKỲ CÔNG NGHIỆP HÓA-HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ(Bài tham dự Hội thảo khoa học “Thực trạng và giải phápxây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới”)TS. Lê Thị Bích HồngPhó Vụ trưởng Vụ Văn hóa – Văn nghệBan Tuyên giáo Trung ương ĐảngI. MỞ ĐẦUNgày 16/7/1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ban hành Nghị quyếtHội nghị lần thứ năm về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc”. Nghị quyết ra đời đã nhanh chóng được cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp triểnkhai; nhân dân đồng tình, hưởng ứng, chung sức thực hiện. Việc triển khai thực hiện Nghị quyếtđã trở thành nội dung sinh hoạt chính trị sâu rộng với khí thế thi đua sôi nổi của các cấp, cácngành, các tầng lớp nhân dân trong suốt 15 năm qua.II. THỰC TRẠNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM SAU 15 NĂM TRIỂN KHAI NGHỊQUYẾT TRUNG ƯƠNG 5 (KHÓA VIII)
  8. 8. Nhìn lại 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), các nhà nghiên cứu,quản lý văn hóa, văn nghệ đều đánh giá cao tầm vóc, giá trị của Nghị quyết. Nghị quyết ra đờikịp thời, trúng ý Đảng, hợp lòng dân và sớm đi vào đời sống xã hội. Nghị quyết mang tầm chiếnlược lớn về văn hóa, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, xu thế phát triển của đấtnước. Cho đến nay, Nghị quyết vẫn còn nhiều giá trị, tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện. Nhữngnội dung chính của Nghị quyết đã góp phần ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển củaxã hội, của đất nước…Theo nhà báo Hữu Thọ, vị trí, vai trò của văn hóa từng bước được nâng lên đáng kể. Đảngvà Nhà nước đã quan tâm đến sự nghiệp phát triển văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳngđịnh“Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Văn hóa được khẳng định ví trí quan trọng trongchiến lược phát triển của đất nước và trở thành một nội dung quan trọng trong hoạt động của cấpủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, từng bước gắn bó chặt chẽ hơn vớicác nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Từ khi có Nghị quyết, cấp ủy, chính quyền đã quan tâm nhiều hơnđến văn hóa. Nhận thức về văn hóa có bước tiến bộ so với trước đây. Năm quan điểm chỉ đạo cơbản, mười nhiệm vụ cụ thể, bốn giải pháp lớn nêu trong Nghị quyết là rất đúng, rất trúng. Nộidung văn hóa được đưa vào nghị quyết của các cấp ủy và được kiểm điểm hằng năm, gắn vớitừng nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Nghị quyết coi văn hóa là một mặt trận bên cạnh kinh tế và chínhtrị tạo thành thế “chân vạc” làm tiền đề cho phát triển xã hội được ổn định, bền vững.Nhìn ở riêng lĩnh vực văn học, nghệ thuật (VHNT), nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liênhiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam ghi nhận: “Nghị quyết Trungương 5 đã tạo cho VHNT không gian sáng tạo thông thoáng, cởi mở, những tác phẩm cũng đượctrân trọng hơn; sáng tác có sự đa dạng về thể loại, đề tài, chủ động cách thể hiện; tiếng nóiphản biện của VHNT với đạo đức xã hội ngày càng mạnh mẽ… Văn nghệ sĩ được đảm bảo tự dosáng tạo, được chú trọng bảo vệ bản quyền về sáng tác, biểu diễn, phương thức biểu hiện đượctôn trọng; dấu ấn cá nhân, cá tính sáng tạo được khẳng định…”. Đồng tình với quan điểm trên,GS.TS. Tô Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cho rằng “Nghị quyết Trungương 5 đã giúp định danh một cách rõ ràng cho nền văn hóa Việt Nam; đồng thời xác định rõràng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triểnxã hội”. Giám đốc Trung tâm tác giả âm nhạc Việt Nam - Nhạc sĩ Phó Đức Phương khẳng địnhNghị quyết đã tạo nên sự thúc đẩy đáng kể cho đời sống VHNT 15 năm qua. Chính sự thôngthoáng từ Nghị quyết mang lại đã tạo điều kiện để người dân tham gia tích cực vào việc sáng tạonên các giá trị văn hóa.Nghị quyết đã cụ thể hóa thành nhiều văn bản luật, pháp lệnh, nghị quyết, chỉ thị, nghịđịnh…Chính phủ ban hành 10 chiến lược lớn, trong đó có chiến lược về văn hóa. Các cấp, cácngành, các địa phương, đơn vị xây dựng thành Chương trình hành động. Phong trào “Toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được cấp ủy, chính quyền quan tâm đang có sức lan tỏatrong cộng động. Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệtgần đây góp phần đẩy mạnh cuộc vận động trên.…Đó là tín hiệu vui.
  9. 9. Cùng chung suy nghĩ đó, ông Trần Chiến Thắng – nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội ghi âm Việt Nam cho rằng nhờ có Nghị quyết Trung ương 5mà chúng ta có bước chuyển biến mạnh mẽ về văn hóa, xã hội. Có thể thấy là nhận thức về vănhóa có nhiều chuyển biến tích cực; hưởng thụ các sản phẩm văn hóa được nâng lên đáng kể; cóđầu tư các thiết chế văn hóa và cùng với đó là các hoạt động văn hóa; giảm đáng kể khoảng cách,sự cách biệt về văn hóa đối với từng vùng miền, từng dân tộc; huy động được quần chúng nhândân hưởng ứng và tham gia vào các chiến lược phát triển văn hóa của Đảng và Chính phủ... Đâychính là thành quả do Nghị quyết mang lại, rất đáng trân trọng.Mười nhiệm vụ đặt ra trong Nghị quyết rất quan trọng nếu thực hiện tốt. Trong 10 nhiệmvụ đó, xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam được xác định là nhiệm vụ đầu tiên, hàngđầu trong 10 nhiệm vụ là rất đúng. Yếu tố con người đóng vai trò quan trọng. Tư tưởng, đạo đức,lối sống và đời sống văn hoá là những lĩnh vực then chốt đã có những chuyển biến quan trọng.Vấn đề giáo dục thanh niên, học sinh sinh viên cần phải được quan tâm. Thứ hai là nhiệm vụ xâydựng môi trường văn hóa, trong đó cần phải tạo ra đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầuvăn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân. Phong trào “Toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” là cuộc vận động quần chúng tham gia xây dựng môitrường văn hoá lành mạnh đang được mở rộng và đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả thiết thựcnhưng hiện nay xây dựng gia đình văn hóa gia đình vẫn nặng hình thức…Những nét mới trong chuẩn mực văn hóa và trong nhân cách con người Việt Nam thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa từng bước được hình thành. Kế thừa những đức tính tốt đẹp truyềnthống của dân tộc (cần cù, yêu nước, gắn bó sâu nặng với quê hương, cộng đồng, ham hiểubiết…) nhưng có sự phát triển cho phù hợp với thời đại công nghiệp hóa, hội nhập quốc tế. Tiêuchí về đạo đức bổ sung thêm trình độ học vấn, năng động, sáng tạo trong cơ chế thị trường.Những tiêu chí đánh giá về đạo đức xã hội thay đổi mạnh theo hướng phù hợp với nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Đạo đức xã hội được nhìn nhận, đánh giá trên nhiều bình diện mới: Khát vọng vươn lênlàm giàu chính đáng, tôn trọng pháp luật, quy định của cộng đồng dân cư… Lối sống phù hợpvới thuần phong, mỹ tục nhưng phải đáp ứng với nhịp sống công nghiệp và hội nhập quốc tế.Nhiều công trình văn hóa được xây dựng từ nhiều nguồn kinh phí (Nhà nước, xã hội hóatrong dân, tài trợ quốc tế…), nhất là ở những nơi còn gặp khó khăn: vùng sâu, vùng xa, vùngđồng bào dân tộc. Đời sống văn hoá miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đã có những cải thiệnrõ rệt,có nhiều cố gắng để thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa nhữngvùng kinh tế phát triển với các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, giữa các tầng lớpnhân dânVấn đề về giá trị xã hội được đặt ra nhiều hơn. Hệ giá trị được hiểu là chuẩn mực, biểutrưng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người tạo ra sự liên kết giữa cá nhân với cộngđồng, với ước vọng mà họ đạt tới, là chỗ dựa để điều chỉnh hành vi, lấy đó làm tiêu chuẩn đánh
  10. 10. giá con người; là nền tảng định hướng cho lối sống xã hội là cốt lõi văn hóa tinh thần. Nhà báoHữu Thọ đặt câu hỏi “Bản sắc dân tộc, cốt cách dân tộc theo cách nói của Bác phải chăng là hệgiá trị truyền thống được sàng lọc và bổ sung phát triển trong tình hình mới?”. Từ đó, xác địnhhệ giá trị chung cần xây dựng, rồi có hệ giá trị của từng ngành. Điều này Bác Hồ rất quan tâm.Đạo đức Hồ Chí Minh gắn với các tiêu chí“Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư” thì chủ yếumới dành cho đối tượng cán bộ, đảng viên, công chức. Vấn đề quan trọng làm người thì cần phảirộng hơn, tức là nhân cách, ứng xử của cá nhân trong các mối quan hệ. Nên xây dựng hệ giá trịtheo tư tưởng Hồ Chí Minh là một lòng vì nước vì dân, vì cộng đồng; tình thương yêu đồng bào,đồng loại; tính kiên định, sự mềm dẻo và lòng bao dung; sống có nghĩa tình…Luật Di sản văn hóa và các văn bản liên quan tạo được hành lang pháp lý trên lĩnh vựcnày. Nhà nước cho phép hàng năm lấy ngày 23/11 là ngày Di sản văn hóa Việt Nam. Di sản vănhoá vật thể và phi vật thể là nền tảng để hun đúc nên bản sắc văn hoá và hệ giá trị của văn hoádân tộc, là một nguồn lực cho phát triển. Hàng ngàn di tích được chống xuống cấp, tu bổ, tôn tạo.Xây dựng nhiều chính sách hỗ trợ di tích, nhất là việc quy hoạch, bảo tồn…Nhiều hoạt động hợp tác, giao lưu văn hoá quốc tế trên quy mô lớn đã được tổ chức ở ViệtNam và nước ngoài gây được tiếng vang và tạo được ấn tượng tốt đẹp trong lòng bè bạn vềtruyền thống văn hoá, nghệ thuật Việt Nam.Hoàn thiện và ban hành nhiều Luật về hoạt động văn hóa (Luật Di sản văn hóa, Luật Điệnảnh, Luật Quảng cáo…) nhằm đưa các hoạt động văn hóa vào nề nếp; sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật ban hành; tiếp tục xây dựng Luật mới (Pháp lệnh Thư viện đang trong quá trìnhxây dựng). Chính sách văn hóa đã bắt nhịp những vấn đề mới đặt ra trong kinh tế thị trường vềvăn hóa. Đưa nội dung chỉ đạo, quản lý văn hóa vào chương trình đào tạo trong các trường chínhtrị. Xây dựng và ban hành quy chế bổ nhiệm chức danh lãnh đạo các Hội VHNT.Cùng với sáng tác, công tác sưu tầm, bảo tồn, phát huy di sản VHNT của các dân tộc đạtđược kết quả thiết thực. Dấu hiệu mới đáng trân trọng là sự xuất hiện lực lượng sáng tác trẻ vớinhững khả năng sáng tạo và sự đa dạng về phong cách. Cùng với các hội chuyên ngành, phongtrào văn nghệ quần chúng phát triển; nhiều câu lạc bộ VHNT ra đời, góp phần cổ vũ, động viênquần chúng sáng tạo, khai thác, truyền bá các giá trị nghệ thuật truyền thống và thưởng thứcVHNT…Xác định tài năng VHNT là vốn quý của dân tộc, Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâmđặc biệt cho lao động sáng tạo của người nghệ sĩ. Từ năm 2000, Nhà nước đảm bảo hỗ trợ choviệc sáng tạo và quảng bá tác phẩm, duy trì hoạt động của tổ chức Hội VHNT với tư cách là tổchức chính trị, xã hội, nghề nghiệp. Nhà nước đã thực hiện thể chế hóa tổ chức của Hội trong vănbản Pháp lệnh về Hội nghề nghiệp đặc thù trong đó có Hội VHNT. Việc Chính phủ tiếp tục hỗtrợ sáng tạo, sưu tầm VHNT giai đoạn 1999 – 2015, hỗ trợ cho các công trình VHNT và báo chígiai đoạn 2011 – 2015…thực sự là nguồn khích lệ đối với văn nghệ sỹ và báo chí cả nước. Tuykinh phí hỗ trợ công trình VHNT và báo chí giai đoạn 2011 – 2015 không nhiều nhưng đã tháo
  11. 11. gỡ không ít khó khăn cho các hoạt động văn nghệ của cả nước, nhất là đối với các địa phươngcòn gặp nhiều khó khăn về kinh tế.Có thể nói, VHNT đã nắm bắt được dòng mạch chính là chủ nghĩa yêu nước và nhân văn,gắn bó với dân tộc, nỗ lực phản ánh chân thật cuộc sống đấu tranh cách mạng và lao động sángtạo của nhân dân, có nhiều tác phẩm tốt trong tất cả các loại hình nghệ thuật từ văn học, sânkhấu, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật đến nhiếp ảnh, múa, kiến trúc... thể hiện qua những đề tài lịchsử, chiến tranh cách mạng và những vấn đề thời sự của đất nước. Chủ nghĩa nhân văn, phẩm chấtnhân đạo được phát huy và đề cao. VHNT đã cố gắng phát hiện, khẳng định các nhân tố mới,tham gia cuộc đấu tranh lên án cái xấu, cái ác, sự biến chất, thoái hoá về nhân cách, đời sống vàđạo đức trong một bộ phận xã hội. Văn nghệ đã cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mới tiến bộ,tạo dựng những tấm gương điển hình của con người thời đại Hồ Chí Minh (công nhân, nông dân,trí thức, doanh nhân, chiến sĩ lực lượng vũ trang, công an nhân dân...).Thành quả của lao động sáng tạo là con người. GS.TS Tô Ngọc Thanh coi con người lànhân tố đóng góp tích cực vào sự duy trì, phát triển nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc”. Hiện nay, số lượng văn nghệ sĩ cả nước chịu sự quản lý của Trung ương và địa phương làgần 40.000 người (18.000 hội viên Hội VHNT chuyên ngành Trung ương, gần 22.000 hội viên HộiVHNT tỉnh, thành phố). Cơ chế chỉ đạo, quản lý chung là cấp uỷ Đảng trực tiếp chỉ đạo các HộiVHNT; Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên; Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ quản lý biên chế.Nhờ đó, văn nghệ sĩ được đảm bảo tự do sáng tạo, được chú trọng bảo vệ bản quyền về sáng tác,biểu diễn.Một thành tựu phải kể đến chính là việc hiện thực hóa công tác xã hội hoá các hoạt độngvăn hóa. Nhờ có xã hội hóa, văn nghệ sĩ có điều kiện in ấn, xuất bản, triển lãm, biểu diễn… tácphẩm VHNT ngoài nguồn kinh phí hỗ trợ của Nhà nước. Nhiều hoạt động đã có sự tham gia củanhiều thành phần kinh tế trong đó có vai trò tích cực của tư nhân. Hầu hết các tác phẩm văn họchiện nay, tác giả tự lo kinh phí xuất bản và đầu ra. Một số các đoàn kịch, các vũ đoàn múa khuvực phía Nam vẫn duy trì biểu diễn hàng đêm và được công chúng đón nhận. Các nhà tài trợtham gia vào việc làm phim. Hơn 100 hãng phim tư nhân hiện nay đóng góp đến 80% số lượngphim vào thị trường điện ảnh. Tuy không nhiều, nhưng một số hoạ sĩ đã có Galary tranh và bánđược tranh…Việc nghiên cứu, lý luận phê bình VHNT đã đẩy lùi được khuynh hướng phủ nhận thànhtựu của văn nghệ cách mạng, kháng chiến, kiên trì bảo vệ và phát triển đường lối VHNT Mác-LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh…Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, các Hội VHNT đã quan tâm thu hút lực lượng văn nghệ sĩViệt Nam yêu nước tiến bộ đang định cư ở nước ngoài về nước tham gia sáng tác, biểu diễn, pháthuy những giá trị truyền thống văn nghệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Thực hiện hợp tácgiao lưu văn hóa với nước ngoài qua dịch thuật, xuất bản, lưu diễn, tổ chức trại sáng tác quốc tếở Việt Nam và dự các liên hoan văn nghệ, các cuộc thi biểu diễn ở nước ngoài. Tuy mới chỉ là
  12. 12. bước đầu, nhưng thực tế những hoạt động đối ngoại đã tăng cường đối ngoại nhân dân trong thờikỳ mới.Các cơ quan quản lý VHNT và các Hội đã quan tâm chỉ đạo chống lại xu hướng nghiệp dưhóa trong VHNT bằng việc xây dựng các quy chế hoạt động biểu diễn nghệ thuật, xét tặng giảithưởng, các cuộc thi sáng tác, triển lãm khu vực…Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, với tinh thần dân chủ, cởi mở, các nhà nghiêncứu, quản lý văn hóa đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, non kém trên nhiều mặt của lĩnh vựcvăn hóa sau 15 năm thực hiện Nghị quyết.Trước hết, đó là nhận thức về văn hóa ở một số địa phương, đơn vị vẫn còn chưa đúngtầm, chưa đủ chiều sâu để giải quyết có hiệu quả các vấn đề cốt lõi của văn hóa. Từ nhận thức vềvị trí, vai trò của văn hóa không đồng đều ở mỗi địa phương, đơn vị nên dẫn đến việc triển khaithực hiện thiếu thống nhất (nơi tốt, nơi chưa tốt). Đầu tư cho phát triển văn hóa chưa tương xứngvới phát triển kinh tế. Văn hoá chưa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội và là mục tiêu, độnglực phát triển kinh tế - xã hội. Có nhiều thời kỳ chúng ta quá tập trung cho phát triển kinh tế màchưa quan tâm nhiều đến văn hóa; chưa thực sự gắn kết hài hòa giữa kinh tế và văn hóa. Văn hóavẫn bị xếp vào vị trí thứ yếu, đầu tư cho phát triển văn hóa chưa tương xứng; chưa thực sự gắnkết hữu cơ với các lĩnh vực của đời sống; chưa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội và là mụctiêu, động lực phát triển kinh tế - xã hội. Nhà báo Hữu Thọ đặt câu hỏi “Phải chăng từ khi đổimới, chúng ta chưa quan tâm nhiều đến phát triển văn hóa”. GS. TS. Lê Hồng Lý cho rằng “Vănhóa vẫn chưa được coi trọng, vẫn chỉ được coi là “cờ đèn kèn trống”, nghĩa là mới nhìn ở hìnhthức, chứ chưa nhìn nhận văn hóa ở chiều sâu. Và chúng ta đã quá thiên về kinh tế”. Thực tế,đời sống xã hội có hai mặt vật chất và tinh thần. Nếu kinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xãhội, thì văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội. Khái quát khoa học đó cho thấy tất cảtầm rộng lớn và sâu sắc của văn hóa, từ đó dẫn đến nhiều khía cạnh lý luận cùng những kết luậnthực tiễn hết sức quan trọng. Xã hội đứng hai chân trên hai “nền tảng”, nếu chỉ có một nền tảngthì xã hội không thể đứng vững.Các nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa đều bộc lộ sự lo ngại khi kinh tế và văn hóa pháttriển thiếu hài hòa. Nhà nghiên cứu Việt Phương cho rằng hệ quả của việc không đi bằng cả “haichân” kinh tế và văn hóa sẽ kéo theo những hệ lụy về văn hóa lối sống, văn hóa đạo đức, văn hóagia đình…Việc xây dựng môi trường văn hóa chưa thực sự trở thành phong trào tự nguyện của quầnchúng, đôi khi các kết quả đạt được còn mang tính hình thức. Việc công nhận các danh hiệu vănhóa: làng, thôn, ấp, bản... văn hóa; khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa; gia đình vănhóa chưa mang lại hiệu quả thiết thực, chưa thực chất.Nhà báo Hữu Thọ đã chỉ ra những nguy cơ về văn hóa sau 15 năm thực hiện Nghị quyết.Đó là những dấu hiệu “khủng hoảng nhân văn” ở một bộ phận cán bộ, nhân dân. Đó là sự suygiảm về tư tưởng, đạo đức lối sống…rất đáng lo ngại, mà theo ông đây là vấn đề then chốt của
  13. 13. văn hóa. Gia đình vốn được coi là “tế bào của xã hội” đang lỏng lẻo (ly hôn, bạo lực gia đình, ítthời gian giáo dục chăm sóc con, con cái mắc tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật…). Văn hóa ứngxử của con người với thiên nhiên, với môi trường xã hội đang tạo nên nhiều nỗi lo lớn trong dựluận xã hội. Càng ít đi sự khoan dung, nhường nhịn truyền thống và thậm chí còn tăng thêm sựvô cảm trong một bộ phận dân chúng, trong khi nhiều hoạt động từ thiện mang tính nhân văn“Lá lành đùm lá rách”, “Chị ngã em nâng”, “Sẻ chia giọt máu đào, trao niềm hy vọng”…vẫnluôn được cả xã hội quan tâm hưởng ứng.Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, thiếu tính làm gương của một bộ phận xã hội ảnhhưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần, môi trường văn hoá lành mạnh. Biểu hiện suy thoái tưtưởng, chính trị, đạo đức, lối sống xuất hiện ở một bộ phận cán bộ cấp cao, ở một số ngành bảovệ pháp luật, giáo dục, y tế…đã ảnh hưởng lớn đến giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ họcsinh, sinh viên. Cách ứng xử thiếu văn hoá nơi công cộng; sử dụng ngôn từ thiếu chuẩn mựctrong giao tiếp làm phương hại đến sự trong sáng của tiếng Việt; căn bệnh “vô cảm” đối với nỗiđau của con người; nạn tham nhũng, hối lộ, sách nhiễu dân, mất đoàn kết của một bộ phận khôngnhỏ cán bộ, đảng viên…đang làm nhức nhối dư luận xã hộiKhi con người tham gia vào các hoạt động văn hóa công cộng và sinh hoạt cộng đồng đãbộc lộ nhiều biểu hiện đáng lo ngại, như: Vi phạm an toàn giao thông (vi phạm pháp luật, phóngnhanh vượt ẩu, đua xe trái phép, chống người thi hành công vụ…); văn hóa học đường có nhiềubiểu hiện làm xã hội lo lắng (bạo lực học đường, nói tục, chửi bậy, vô lễ với giáo viên…); vănminh lễ hội đang biến đổi nhanh chóng; thiếu tôn trọng môi trường tự nhiên xã hội; văn hóa lốisống đang đặt ra nhiều vấn đề phải suy ngẫm…Cách ứng xử của một bộ phận nhân dân nơi công cộng (công viên, rạp hát, chùa chiền…)còn thiếu văn hoá. Ứng xử với di sản văn hóa dân tộc có nhiều biểu hiện đáng lo ngại, nhất là vớigiới trẻ, như: Sờ và cưỡi đầu rùa ở Văn Miếu Quốc Tử Giám; ngồi lên bệ tượng đài danh nhân,ngồi trên mộ rồi tự đưa lên facebook; vẽ bậy ở bất cứ nơi đâu, kể cả nơi linh thiêng ở chùa chiền,đền thờ…Trước những biểu hiện trên, nhà báo Hữu Thọ cho rằng một bộ phận thanh niên phảnứng với các di sản văn hóa một cách thiếu nhận thức, có biểu hiện xem thường và không coi đócó gì thiêng liêng.Tình trạng xâm hại di tích tại một số di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng chưa được ngănchặn kịp thời; Nguồn kinh phí cho công tác tu bổ, chống xuống cấp các di tích chưa đáp ứng nhucầu thực tế, một số di sản không còn khả năng khôi phục; Công tác trùng tu, tôn tạo, tu bổ ở mộtsố công trình di tích còn cẩu thả, sai lệch về giá trị lịch sử, nghệ thuật, làm biến dạng, giảm giátrị và dẫn đến thất thoát kinh phí; nhiều dự án có xu hướng “làm mới” di tích… dẫn đến vi phạmLuật Di sản văn hóa. Xuất hiện những biểu hiện tiêu cực khi tham gia lễ hội, nhất là trong mấynăm gần đây bùng phát một số lễ hội mới. Hoạt động lễ hội đã và đang diễn ra phức tạp. Một sốlễ hội nâng cấp quy mô tổ chức có xu hướng xem nhẹ các giá trị văn hóa, coi trọng các dịch vụvới mục đích “thương mại hóa”, “thần thánh hóa” lễ hội. Tình trạng an ninh trật tự (tranh cướpấn Đền Trần, hoa tre ở lễ hội Thánh Gióng xảy ra xô xát, đánh nhau...). Các hiện tượng tiêu cực:
  14. 14. mê tín dị đoan, lãng phí tiền của trong việc đốt đồ mã, đặt hòm công đức tràn lan, lưu hành sảnphẩm văn hóa trái phép, chơi cờ bạc, ô nhiễm môi trường, ách tắc giao thông, an ninh trật tự, vệsinh môi trường, “hối lộ thần Phật” bằng tiền, bằng lễ...đang gây bức xúc trong dư luận xã hội,làm sai lệch nội dung vốn có cũng như giá trị văn hoá của nhiều lễ hội.Một bộ phận nhỏ chức sắc các tôn giáo có những hoạt động đi ngược lại truyền thống vănhoá dân tộc (xoá lễ hội dân tộc, bỏ các sinh hoạt văn hoá cổ truyền…), truyền đạo trái pháp luật,lợi dụng tôn giáo tạo dựng các “điểm nóng”, đấu tranh đòi đất đai, đòi nơi thờ tự…Một số ngườilợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng của Nhà nước lén lút hoặc công khai hoạt động kinh doanhvăn hóa vụ lợi tại các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Môi trường văn hóa ở một số cơ sở thờ tự thiếulành mạnh; các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng khá sôi động và phức tạp, nảy sinh các hiện tượngtiêu cực: nạn mê tín dị đoan, lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các hủ tục cũ,mới tràn lan, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều hướng gia tăngGiao lưu văn hoá còn thiếu chủ động; chưa tạo được nhiều nguồn lực để mở rộng hợp tác,giao lưu. Chưa chủ động giới thiệu được nhiều tinh hoa văn hoá Việt Nam ra nước ngoài. Việctuyên truyền, giới thiệu nền văn hoá Việt Nam và những thành tựu trong công cuộc đổi mới củađất nước trên lĩnh vực kinh tế - xã hội ra nước ngoài chưa tương ứng với nhu cầu phát triển. Việcnhập khẩu và đưa lên sóng truyền hình quá nhiều, thiếu chọn lọc phim ảnh, chương trình ca nhạcnước ngoài làm ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của lớp trẻ.Các văn bản pháp luật về văn hoá còn thiếu đồng bộ; việc thể chế hoá các nghị quyết,quan điểm của Đảng chưa quan tâm đúng mức, còn chậm đổi mới; tổ chức thực hiện còn yếu nênnhiều quy phạm pháp luật về văn hoá chưa thực sự đi vào cuộc sống. Một số lĩnh vực văn hoá,nghệ thuật chưa có luật để quản lý. Nhiều chính sách đối với văn nghệ sĩ đã lạc hậu nhưng chậmđược sửa đổi. Đội ngũ cán bộ quản lý văn hoá, nhất là ở các địa phương và cơ sở luôn biến độngLĩnh vực VHNT thiếu vắng những tác phẩm giá trị tâm huyết, để đời, của những cá tínhsáng tạo độc đáo, nghệ sĩ lớn bậc thầy; các tác phẩm VHNT có chất lượng chưa tương xứng vớisố lượng; lý tưởng, khát vọng của các tác giả thể hiện qua tác phẩm chưa cao; một số tìm tòi chỉnghiêng về hình thức, tiếp thu vội vã những khuynh hướng của nước ngoài; vẫn tồn tại dai dẳngkhuynh hướng “thương mại hóa”, giải trí tầm thường hóa ở một số lĩnh vực, chi phối một bộ phậncông chúng (âm nhạc, điện ảnh, sân khấu…); có biểu hiện dễ dãi bằng lòng với tình trạng nghiệpdư, “ăn xổi ở thì”, chiều theo thị hiếu cũ kỹ, hoặc tầm thường, thậm chí lập dị, ngộ nhận dướidanh nghĩa các trào lưu thời thượng (hậu hiện đại, giải cấu trúc, đại tự sự...). Đặc biệt một sốngành, lĩnh vực nghệ thuật phát triển đan xen với tụt hậu…Công tác chỉ đạo, quản lý, xây dựng cơ chế chính sách còn bộc lộ nhiều hạn chế, khuyếtđiểm. Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa nhận thức đúng vai trò của VHNT; chưa gắnkết văn hóa trong mối quan hệ với kinh tế; chỉ đạo điều hành còn thiếu sự quan tâm đúng mứcđến việc kiện toàn mô hình tổ chức các Hội VHNT ở địa phương (bố trí nhân sự lãnh đạo HộiVHNT, cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, kinh phí hoạt động sáng tạo nghệ thuật…); quản lý
  15. 15. nhà nước về hoạt động VHNT còn buông lỏng nhất là hoạt động biểu diễn. Một số đề án vềVHNT chưa được thể chế hóa cụ thể. Báo, tạp chí văn nghệ; các nhà xuất bản của các Hội còngặp nhiều khó khăn trong phát hành, xuất bản nhưng chưa được tháo gỡ, giải quyết phù hợptrong tình hình mới. Việc xét tặng giải thưởng hàng năm của các Hội VHNT địa phương cònchưa thống nhất…Trước tình hình diễn biến phức tạp của xã hội hiện nay, văn nghệ sĩ đang đối mặt vớinhiều thách thức, khó khăn: Đời sống kinh tế (kể cả người đang hưởng lương và người đã vềhưu) khó khăn; quy định hệ số lương của nghệ sĩ biểu diễn (xiếc, múa, sân khấu) chưa tươngxứng với đặc thù nghề nghiệp… Phần lớn văn nghệ sĩ còn có tâm trạng băn khoăn, ảnh hưởngđến niềm say mê sáng tạo, cống hiến trong hoạt động nghề nghiệp. Thêm nữa, những tác độngxấu trong xã hội (tệ tham nhũng, cửa quyền, tệ nạn xã hội…); những thông tin kích động của kẻxấu trên mạng internet đang tác động mạnh mẽ đến văn nghệ sĩ và đã tạo nên sự phân hoá. Mộtbộ phận lớn văn nghệ sĩ vẫn luôn là lực lượng nòng cốt trong các Hội VHNT; vẫn giữ lập trườngtư tưởng chính trị; kiên định quan điểm sáng tác theo định hướng của Đảng. Một bộ phận vănnghệ sĩ trẻ tài năng, có người đang hành nghề tự do tự xuất bản tác phẩm, tổ chức biểu diễn, làmphim theo đơn đặt hàng của các Hãng tư nhân… Nội dung tác phẩm chủ yếu đề cập tới hiện thựcđời sống xã hội đương đại với cách nhìn, cách nghĩ của giới trẻ. Vì thế, không ít tác phẩm thiếuchiều sâu về tư tưởng, giá trị nhân văn, nhưng lại được các cơ quan truyền thông quảng bá rộngrãi có tác động không nhỏ đến thị hiếu thẩm mỹ của công chúng (nhất là tầng lớp bình dân vàgiới trẻ). Đáng lo ngại là cá biệt một số văn nghệ sĩ còn chịu tác động trực tiếp của những kẻ xấugây chia rẽ, kích động, phủ nhận thành quả của cách mạng và kháng chiến; chưa đề cao tráchnhiệm xã hội, công dân, suy giảm lòng tin vào sự nghiệp; bộc lộ sự dao động hoài nghi về sựphát triển của đất nước trong vận hội mới. Số văn nghệ sỹ này không nhiều, nhưng lợi dụngkhông khí đổi mới, dân chủ công khai, từng lúc, từng nơi tìm cách bộc lộ, tạo dư luận chú ý. Đâycũng là vấn đề rất cần được các cơ quan quản lý VHNT quan tâm; kiên trì và kiên quyết đấutranh không cho kẻ xấu lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” trên mặt trận văn hóa,văn nghệ.NSND Lê Tiến Thọ - Chủ tịch Hội Nghệ sỹ Sân Khấu Việt Nam cho rằng đội ngũ vănnghệ sĩ ít được đào tạo. Nhiều loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống không có tác giả sángtác, dẫn đến việc vay mượn chuyển thể từ loại hình sân khấu kịch sang Tuồng, Chèo, Cảilương…Tác phẩm nghệ thuật trong cơ chế thị trường là một loại “hàng hóa đặc biệt”, nhưng lạikhông được đầu tư giới thiệu rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, nên dẫn đếnkhông có thông tin, không cập nhật các hoạt động biểu dễn, nghệ thuật sân khấu truyền thống bịchìm trong quảng cáo các “sô ăn khách” trên các phương tiện thông tin đại chúng.Từ xã hội hoá VHNT đang đặt ra cho những nhà quản lý nhiều vấn đề cần giải quyết.
  16. 16. Đi tìm nguyên nhân cho những biểu hiện sa sút trên, các nhà nghiên cứu đều có nhữngphân tích thỏa đáng từ tầm vĩ mô đến vi mô; từ góc độ đời sống văn hóa cơ sở đến nghiên cứukhoa học…III. NGHỊ QUYẾT VẪN CÒN NHIỀU GIÁ TRỊ VÀ TIẾP TỤC PHÁT TRIỂNTHEO HƯỚNG BỔ SUNG, HOÀN THIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CHO NHỮNG NĂM TIẾPTHEO- Tiếp tục thực hiện 4 giải pháp lớn nêu trong Nghị quyết: Giáo dục chủ nghĩa yêu nướcgắn với thi đua yêu nước và phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; xâydựng, ban hành luật pháp và chính sách văn hóa; tăng cường nguồn lực và phương tiện chohoạt động văn hóa; nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hoá.- Tăng đầu tư nguồn lực (con người và kinh phí) và cho văn hoá; tổng chi ngân sách củaNhà nước trên 1,8%; tiếp tục bảo đảm kinh phí cho các chương trình mục tiêu phát triển văn hoá.- Tập trung giải quyết những vấn đề trọng tâm mà sau 15 năm chưa thực hiện tốt, trong đócó việc chấn hưng nền điện ảnh nước nhà.- Cần quan tâm thể chế hoá các nghị quyết, quan điểm của Đảng kịp thời, hiệu quả.- Cần phải có chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam và đầu tư phát triểncác ngành công nghiệp văn hóa như một ngành công nghiệp trọng điểm, dài hạn, có sức cạnhtranh cao để vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa trong nước, vừa mở rộng khả năng xuất khẩu, khẳngđịnh vị thế của sản phẩm văn hóa Việt Nam trong hội nhập quốc tế, chống lại xu hướng du nhậphỗn loạn các sản phẩm văn hóa vào Việt Nam tràn lan như hiện nay. Nhà nước phải có chínhsách ưu đãi để khuyến khích các thành phần kinh tế khác nhau tham gia đầu tư vào phát triểncông nghiệp văn hóa theo một chiến lược và quy hoạch dài hạn.- Hội đồng Lý luận Trung ương, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị -Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng, Nhà nướcnghiên cứu sâu lý luận, tổng kết thực tiễn về những vấn đề liên quan đến văn hoá dân tộc; đềxuất phương án có tính chiến lược về văn hoá Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đạihoá, làm cơ sở lý luận cho quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết trong thời gian tới.- Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) vẫn còn nhiều giá trị, nhưng cần được bổ sung chophù hợp với yêu cầu mới. “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 về xây dựng và pháttriển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên một số vấn đề cốt lõi và cấpbách”.IV. KẾT LUẬNTổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về văn hoá là đợt sinhhoạt chính trị về văn hóa, nhằm đánh giá toàn diện quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghịquyết; chỉ rõ kết quả đạt được, những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện; những non kém,khuyết điểm; nguyên nhân của thành công và hạn chế; đúc rút bài học kinh nghiệm; đề xuất bổ
  17. 17. sung, hoàn thiện chủ trương, quan điểm, giải pháp chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng cho những nămtiếp theo, tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộctrong tình hình mới.Thông qua việc tổng kết nâng cao nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cán bộ,đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí của văn hoá, tầm quan trọng của Nghị quyết;tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn xã hội tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ văn hoá nêu trongcác nghị quyết về văn hoá của Đảng, xây dựng nền tảng tinh thần lành mạnh trong xã hội.Từ kết quả các cuộc Tọa đàm, Hội thảo khoa học và tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyếtTrung ương 5 (khoá VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc”, Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án “Tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn hoáViệt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” tiếp tục hoàn chỉnh dự thảo Đề án, trình Hội nghị lầnthứ chín Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI).MẤY SUY NGHĨ VỀ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÊNVĂN HÓA TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SÁC DÂN TỘC TRONG THỂ CHẾKINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAYGS. TS Đỗ HuyViện hàn lâm Khoa học xã hội Việt NamNền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóathứ ba dưới sự lãnh đạo của Đảng sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Nền văn hóa thứ nhấtdưới sự lãnh đạo của Đảng là nền văn hóa của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đượcxây dựng và phát triển theo mô thức: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa. Nền văn hóathứ hai dưới sự lãnh đạo của Đảng là nền văn hóa của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, được phát triển theo mô thức: Nộidung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc. Từ năm 1986, đất nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hộithông qua cơ chế thị trường cho nên chúng ta xây dựng nền văn hóa phát triển theo mô thức: tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nền văn hóa này là nền văn hóa của chủ nghĩa xã hội phát triểnthông qua thể chế kinh tế thị trường. thực chất nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc màchúng ta đang xây dựng là nền văn hóa của thể chế kinh tế thị trường trong thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đất nước.Trải qua gần 30 năm xây dựng và phát triển, do thể chế kinh tế thị trường ở nước ta cónhững biến động dữ dội và mau lẹ cho nên đã tác động khác thường đến toàn bộ nền văn hóa.
  18. 18. Trước những biến động khôn lường như vậy, nhiều chuẩn mực tốt đẹp của truyền thống văn hóadân tộc bị xô đẩy nghiêng ngả, các điểm nóng văn hóa xuất hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhaucủa đời sống xã hội từ lãnh vực chính trị đến giáo dục, y tế, công sở, giao thông, gia đình, giớitính, đất đai, môi trường…. Nhận thức rõ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình xây dựngvà phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trước những rủi ro liên tục của thể chếkinh tế thị trường, từ năm 1986, qua mỗi kỳ đại hội Đảng, Đảng ta lại ra nghị quyết tăng cườngvà hoàn thiện thêm một bước những định hướng chính trị quan trọng làm cho các hoạt động vănhóa ngày càng sát hơn với cơ chế thị trường.Năm 1998, sau 12 năm đổi mới đất nước, Đảng ta đã ra một nghị quyết quan trọng về vănhóa được thông qua tại Hội nghị BCHTW 5 khóa VIII nhằm định hướng toàn diện cho sự pháttriển liên tục và lâu dài của quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc. Tuy nhiên, qua 5 năm thực hiện nghị quyết Hội nghị BCHTW 5 khóa VIII, đời sống xãhội ngày càng nóng lên khác thường, cho nên đến Hội nghị Trung ương lần thứ 10 khóa IX, mộtmặt Đảng ta khẳng định tiếp tục thực hiện 5 quan điểm chỉ đạo của nghị quyết Hội nghị BCHTW5 khóa VIII, mặt khác nhấn mạnh việc phát triển đồng bộ về kinh tế, chỉnh đốn Đảng với việcnâng cao trình độ văn hóa, nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa trong toàn bộ đời sống xãhội và đặc biệt là trong tăng trưởng về kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát triểnphong trào người tốt, việc tốt, gìn giữ các di sản văn hóa, củng cố các thiết chế văn hóa trong thểchế kinh tế thị trường.Sau đại hội Đảng lần thứ IX, chúng ta mới tham gia APEC và cho đến ngày 07- 11 – 2006chúng ta mới được kết nạp vào tổ chức WTO và từ đó, chúng ta lại hội nhập sâu hơn vào kinh tếthế giới, vì thế đã có rất nhiều quan hệ văn hóa mới xuất hiện. Từ thực tế đó, Văn kiện Đại hộiĐảng lần thứ X, một mặt khẳng định chúng ta phải tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chấtlượng những quan hệ văn hóa trong mọi lãnh vực của cuộc sống, mặt khác đề xuất vấn đề hoànthiện giá trị nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước nhằm gìn giữ các phẩm giá dân tộc và phát huy phẩm giá, năng lực và thiên hướng của mọicá nhân.Năm năm sau Đại hội Đảng lần thứ X, cơ chế thị trường ở nước ta phát triển rất đa dạngvà phức tạp. Có thể nói, cho đến đầu thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI, môi trường văn hóa củachúng ta nóng lên bất thường ở tận vùng sâu, vùng xa, ở các vùng nông thôn, hải đảo, ở nhà máy,trường học, bệnh viện và cả ở công sở. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, lại tiếp tục định hướngsâu hơn, cụ thể hơn những mặt phản diện trong đời sống văn hóa cần phải chú ý khắc phục và đềxuất vấn đề phát triển văn hóa một cách toàn diện, thống nhất trong đa dạng để thống nhất vớinhu cầu văn hóa mới, những điều kiện vật chất và tinh thần mới, những phương thức hoạt độngvăn hóa mới.Nhìn lại gần 30 năm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộcdưới ánh sáng Nghị quyết của 6 kỳ đại hội Đảng, chúng ta nhận thức rằng nền văn hóa mới màchúng ta đang xây dựng là nền văn hóa rất đặc biệt, rất phức tạp chưa từng có tiền lệ trong lịch
  19. 19. sử phát triển hàng ngàn năm của dân tộc ta. Trong gần 30 năm đổi mới, dưới ánh sáng của cácNghị quyết của 6 kỳ đại hội Đảng, nền văn hóa này từng đã đạt được một số thành tựu ban đầu,nhưng cấu trúc của nó chưa bền vững và đang vận động rất mạnh khiến chúng ta phải nhận diệnthực trạng của nó, phân tích các nguyên nhân của thực trạng này và tìm những giải pháp tốt hơnđể xây dựng và phát triển nó.Nhìn lại toàn cảnh gần 30 năm xây dựng và phát triển nần văn hóa tiên tiến đậm đà bảnsắc dân tộc, chúng ta thấy nó đang biểu hiện những hình thái như sau:Một là, gần 30 năm đổi mới, nền văn hóa này đã phát triển khác hẳn với nền văn hóa xâydựng theo mô thức nội dung xã hội và tính chất dân tộc của thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ởmiền Bắc, đấu tranh thống nhất đất nước. Nền văn hóa này phát triển phong phú hơn, đa dạnghơn và đã thỏa mãn một số nhu cầu văn hóa thứ yếu của nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, ởnhiều vùng và miền khác nhau. Với đường lối đổi mới liên tục của Đảng, nền văn hóa này đã tạonên một sức sống, một diện mạo mới trong rất nhiều các quan hệ và các hoạt động văn hóa ở cảnông thôn và thành thị, ở rất nhiều các phương diện khác nhau từ văn hóa chính trị đến văn hóagiáo dục, văn hóa công sở, văn hóa nghệ thuật và các quan hệ văn hóa quốc tế. Tuy nhiên, hìnhthái rõ nhất mà chúng ta nhìn thấy, chúng ta cảm nhận được và hưởng thụ nó là những thay đổitích cực về mặt vật chất, nhà cửa sang trọng hơn, phương tiện đi lại hiện đại hơn, phương tiệnthông tin thuận lợi hơn, đồ đạc trong gia đình tiện lợi hơn….Còn về mặt tinh thần và đặc biệt lànhững giá trị đạo đức lại phát triển tương đối hỗn loạn nêú chúng ta không nói có một sự xuốngcấp, một sự thụt lùi nghiêm trọng. Hình thái này chứng tỏ thực trạng của nền văn hóa mà chúngta đang xây dựng có sự phát triển không đồng đều giữa văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần,giữa các giá trị vật chất và giá trị tinh thần.Hai là, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc mà chúng ta đang xây dựng, dưới sựlãnh đạo của Đảng đang phát huy mạnh mẽ những tiềm năng sáng tạo của những cá nhân.Những ai đang mang trong mình những khả năng sáng tạo đều có thể thực hiện được những ướcmơ của mình. Và thực tế trong mọi hoạt động văn hóa, đặc biệt là trong các hoạt động văn hóagắn với sở thích, với tài năng, rất nhiều cá nhân đã được xã hội cổ vũ và đón nhận. Tuy nhiên,với cơ chế thị trường trên không ít những khả năng sáng tạo của cá nhân đang biến thành mộtchủ nghĩa cá nhân vị kỷ, tách mình ra khỏi cộng đồng và trở thành một hiện tượng phản văn hóatrong các quan hệ với cộng đồng. Thực trạng cá nhân tách ra khỏi cộng đồng, chống lại cộngđồng và ngược lại, cộng đồng chưa tạo những điều kiện tốt nhất để cá nhân phát triển các nănglực sáng tạo đang là một điểm rất nóng trong nhiều các quan hệ văn hóa ở nước ta hiện nay.Thứ ba là, trong vòng gần 30 năm đổi mới vừa qua, đất nước ta trải qua một quá trìnhphân tầng xã hội quá nhanh và rất sâu. Nhiều người giàu lên không bằng lao động chính đángcủa mình, nhiều người lao động chính đáng lại gặp rất nhiều rủi ro trong cơ chế thị trường. Ởđây, người ta nhìn thấy sự phân tầng cả về quyền lực và sự tha hóa mạnh mẽ của quyền lực đãtạo nên những mất công bằng xã hội. Thực trạng này đã tạo nên rất nhiều những phản văn hóa
  20. 20. và đảo lộn hệ thống giá trị. Khi những kẻ giàu có vô liêm sĩ huyênh hoang về những của cải vậtchất, mua bán, đổi chác những giá trị tinh thần vô giá bằng tiền bạc.Thứ tư là, gần 30 năm xây dựng và phát triền nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộcvừa qua, chúng ta chưa xây dựng được một hệ thống chuẩn mực đủ sức điều chỉnh các hoạt độngvăn hóa văn nghệ. Rất nhiều các lãnh vực văn hóa xã hội vô chuẩn. Không ít chuẩn mực rất lạchậu còn tồn tại đóng vai trò điều tiết một số các quan hệ văn hóa văn nghệ; nhiều giá trị văn hóathấp kém lại được tôn vinh, không ít hoạt động văn hóa văn nghệ có chất lượng lại bị đánh giáthấp. Người ta nhận thấy có một số đánh giá rất sai lệch về hệ thống giá trị trong nền văn hóa. Cósự cào bằng giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp trong các lãnh vực văn hóa. Thực trạngnày làm cho văn hóa đỉnh cao chưa có điều kiện phát triển trong cấu trúc nền văn hóa văn nghệmới.Thứ năm là, nền văn hóa hiện nay đang trong quá trình hiện đại hóa. Cùng với những lànsóng xuất khẩu, đầu tư, tin học là quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa. Các quá trình này lấnlướt, đang xô đẩy nhiều hệ thống giá trị vốn là những lực cân bằng giữa truyền thống và hiện đạicủa nền văn hóa. Các làn sóng, các quá trình hiện đại hóa đó đã làm lỏng lẻo, lay chuyển rấtnhiều thiết chế văn hóa như thiết chế gia đình, thiết chế tín ngưỡng tôn giáo và xô đẩy cả nền vănhóa tình nghĩa đến bên bờ của những dòng thác tiền tài, thực dụng, có nguy cơ diệt vong của cảmột nền văn hóa biết xấu hổ. Thực trạng mất cân bằng nghiêm trọng giữa những giá trị truyềnthống và những giá trị hiện đại đang tạo ra rất nhiều những phản văn hóa trong quá trình chúngta xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong cơ chế thị trường ởnước ta hiện nay.Thứ sáu là, chúng ta đang xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dântộc trong bối cảnh chúng ta đã có mặt tại diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)và đã tham gia WTO, nghĩa là chúng ta đã/sẽ/và còn phải hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thếgiới. Chúng ta đã chấp nhận các luật chơi của cơ chế thị trường tự do, và chính cơ chế này đãgiằng đứt nhiều giây neo chúng ta với chủ nghĩa xã hội để nó thả nền văn hóa của chúng ta cuốnvào những cơn sóng của đế quốc văn hóa. Những chuẩn mực, những công nghệ của đế quốc vănhóa đang thu hút giới trẻ trên mạng thông tin toàn quốc và toàn cầu. Những thước phim tình dụcvà bạo lực, những hệ tư tưởng khác lạ, những quan điểm văn hóa thác loạn đang gạ gẫm và rủ rênhững chàng trai, cô gái thích cái mới, cái lạ đến với chúng. Thực trạng hội nhập mau lẹ và cơchế kiến tạo những giá trị xã hội chủ nghĩa yếu ớt đã làm cho nền văn hóa theo định hướng xãhội chủ nghĩa trở nên ngày một xa vời.Thứ bảy là, nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc mà chúng ta đang xây dựng là một bộphận hữu cơ của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam thông qua cơ chế thị trường. Học thuyết, hệthống lý luận về cái mô hình này đang được nghiên cứu và chưa hoàn thiện. Vì thế, hệ thống lýluận về văn hóa để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc có rất nhiềuđiểm còn chung chung, chưa rõ ràng. Thực trạng này, khi các nhà quản lý văn hóa triển khai vàothực tiễn văn hóa rất lúng túng. Chúng ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, nhưng hỏi rất
  21. 21. nhiều nhà hoạt động và nghiên cứu văn hóa: Văn hóa nào đang là nền tảng tinh thần xã hội ta?Câu hỏi này không có lời giải đáp nhất quán! Vậy thế nào là nền tảng tinh thần của xã hội, và vìsao văn hóa lại là nền tảng tinh thần xã hội? Câu hỏi này đã có nhiều Giáo sư và Viện sĩ phântích nhưng nhiều nhà quản lý văn hóa vẫn không quán triệt được nó trong thực tiễn bởi vì câu trảlời quá phức tạp và không thuyết phục.Nói nguồn lực cơ bản của nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là công – nông –trí. Nhưng với cơ chế thị trường thì công nhân như thế nào? Nông dân như thế nào? Tri thức nhưthế nào? Tại sao cơ chế thị trường mà doanh nhân không phải là nguồn lực của văn hóa? Trongcấu trúc của xã hội Việt Nam hôm nay tầng lớp doanh nhân lớn nhanh như thần Phù Đổng, họ đãtham gia vào các quá trình xóa đói, giảm nghèo, làm từ thiện và xây nhà tình nghĩa. Nếu trong hệthống lý luận về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thể chếkinh tế thị trường mà không phải là tầng lớp doanh nhân đóng vai trò quan trọng thì lý luận đó cóphản ánh đúng thực tiễn xây dựng nền văn hóa này không?Có thể thấy rằng nhiều quan điểm chỉ đạo trong hệ thống lý luận xây dựng nền văn hóaViệt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thể chế kinh tế thị trường ở nước ta hiện naychưa thật cụ thể, chưa thật bám sát vào những biến động văn hóa của đất nước, cho nên khi quántriệt trong đời sống nó thiếu sức mạnh.Những nguyên nhân cơ bản của thực trạng này đã từng được rất nhiều nhà nghiên cứu vănhóa phân tích xung quanh mối quan hệ giữa đường lối của Đảng, sự quản lý của nhà nước và tinhthần làm chủ của nhân dân. Ở nơi nào quán triệt một cách tốt nhất đường lối văn hóa văn nghệcủa Đảng, nơi nào năng lực của hệ thống quản lý văn hóa vừa có tài, vừa có đức, vừa làm việckhoa học, địa phương nào dân trí phát triển, quan trí phát triển thì những nơi đó, lãnh vực đó, địaphương đó có những thành tựu nổi bật trong việc xây dựng nền văn hóa mới. Ngược lại, ở nơinào đường lối phát triển văn hóa của Đảng ở trên cây, trên loa, trên đài, còn hệ thống quản lý vănhoá yếu kém, nhân dân quay mặt với quá trình xây dựng nền văn hóa mới thì ở nơi đó sẽ có rấtnhiều những điểm nóng văn hóa.Xung quanh mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo văn hóa, nhà nước quản lý sự nghiệp xâydựng nền văn hóa mới và nhân dân làm chủ quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiêntiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu và giảng dạy lý luận về văn hóa có một sốnhận xét như sau:Một là, đường lối lãnh đạo văn hóa của Đảng phải cập nhật hơn để định hướng những hoạtđộng văn hóa biến động rất mau lẹ và phức tạp trong thể chế kinh tế thị trường. Phần lớn đườnglối lãnh đạo văn hóa của Đảng định hướng về văn hóa chính trị còn những lãnh vực khác của vănhóa, hầu như đường lối thiếu cụ thể hóa. Đảng ta nói phải quán triệt tư tưởng độc lập dân tộc gắnliền với chủ nghĩa xã hội trong hoạt động văn hóa văn nghệ; các văn kiện của Đảng định hướngchủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cốt lõi của mọi hoạt động văn hóa. Nói nhưvậy là nói về mặt văn hóa chính trị. Còn văn hóa gia đình, văn hóa làng xã, phố phường, văn hóa
  22. 22. công sở, văn hóa học đường, văn hóa giao thông, văn hóa công nghiệp, văn hóa thương nghiệp,văn hóa nông nghiệp,….. thì quán triệt tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội như thế nào?Và cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các lãnh vực đó ra sao? Cầnphải hiện thực hóa, cụ thể hóa các tư tưởng của Đảng vào từng lãnh vực văn hóa cụ thể thì các tưtưởng đó mới có ý nghĩa ý thức hệ, các nhà quản lý văn hóa mới không lúng túng khi triển khaicác tư tưởng của Đảng, nhân dân mới dễ hiểu đường lối của Đảng.Hai là, về năng lực, trình độ và trách nhiệm của hệ thống quản lý văn hóa. Hiện nay, trongviệc quản lý văn hóa ở rất nhiều lãnh vực, nhà quản lý cần phải chuyên sâu. Văn hóa là một lãnhvực đa dạng và phức tạp, nếu nhà quản lý văn hóa thiếu năng lực, không có trình độ, vô tráchnhiệm và làm việc thiếu khoa học sẽ gây nên rất nhiều phản văn hóa trong lãnh vực nhạy cảmnày. Một trong những thực trạng nền văn hóa Việt Nam hiện nay phát triển không đồng bộ giữavăn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, giữa truyền thống và hiện đại, giữa sự phát triển đa dạngvà định hướng xã hội chủ nghĩa là do trình độ, năng lực của nhà quản lý văn hóa văn nghệ quáyếu kém. Người ta phá hoại di sản văn hóa, người ta mang những thứ văn hóa lạ lẫm đến nền vănhóa này, người ta làm băng hoại những phẩm giá văn hóa dân tộc…. nhiều nhà quản lý văn hóacũng không biết. Thậm chí, ngay đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng, nhiều người cũng khôngbiết vận dụng như thế nào vào thực tiễn hoạt động văn hóa cho tốt nhất. Có thể nói, một trongnhững nguyên nhân chủ yếu tạo nên các hiện tượng phản văn hóa trong xã hội ta ngày nay là dohệ thống quản lý văn hóa làm chưa khoa học, trình độ và năng lực quản lý yếu kém và còn rấtnhiều người vô trách nhiệm trong cương vị của mình.Ba là, nhân dân làm chủ trong việc xây dựng nền văn hóa mới, nền văn hóa tiên tiến đậmđà bản sắc dân tộc là một nền văn hóa của cơ chế thị trường nên nó khá phuc tạp và đa dạng.Muốn làm chủ được nó cần phải hiểu bản chất và các quy luật hoạt động của nó. Điều này đặt ravấn đề về việc nâng cao dân trí. Muốn xây dựng, phát triển và làm chủ tốt nền văn hóa Việt Namtiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong cơ chế thị trường giữa những làn sóng đầu tư, xuất khẩu,tin học, thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường chứng khoán của thời kỳ hội nhậpkinh tế sâu rộng như hôm nay mà nhân dân không được hiểu về bản chất cái thị trường này thìkhó có thể làm chủ tốt những hoạt động văn hóa. Thực trạng những điểm nóng văn hóa trongquản lý đất đai, những lộn xộn trong lễ hội, trong bảo tồn và trùng tu các di tích, trong văn hóadu lịch…có liên quan bản chất đến việc nâng cao trình độ dân trí.Để phát huy những ưu điểm, khắc phục những nhược điểm trong tiến trình xây dựng vàphát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay theo ýchúng tôi cần phài quan tâm toàn diện đến tất cả các mối quan hệ giữa vật chất và tinh thần, giữathượng tầng kiến trúc với hạ tầng cơ sở, giữa các quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất cùng với các quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, cá nhân và xã hội, truyền thống vàhiện đại, con người và tự nhiên, công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giáo dục, y tế, giaothông vận tải, các thế hệ người….trong đó nổi bật ba vấn đề cơ bản: một là các nguồn lực đểphát triển văn hóa, hai là, các chuẩn mực của nền văn hóa, ba là các thiết chế văn hóa.
  23. 23. Về các nguồn lực của sự phát triển văn hóa. Ai cũng biết rằng văn hóa là trình độ ngườicủa các quan hệ giữa con người và tự nhiên, con người với con người trong xã hội và sự pháttriển của chính bản thân con người. Dù là văn hóa phương Đông hay văn hóa phương Tây, vănhóa thời cổ đại hay văn hóa thời kỳ hiện đại, văn hóa thời bao cấp hay văn hóa thời kỳ đổi mớiđều là quá trình đối tượng hóa các năng lực bản chất người trong các quan hệ với tự nhiên, vớicộng đồng xã hội, với chính phẩm giá, năng lực và thiên hướng của mỗi nhân cách. Như vậy, cácnguồn lực của sự phát triển mọi văn hóa gồm có nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiênvà nguồn tài chính. Để phát triển mỗi nền văn hóa ta phải quan tâm phát triển ba nguồn lực này.Nều phát triển đúng thì nền văn hóa có sức sống và nều phát triển sai lệch thì nền văn hóa thiếusức sống, bởi vì không có những hợp lực, nhiều khi lại tạo ra những phân lực của nền văn hóa.Để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gần 30năm qua chúng ta coi nguồn nhân lực cơ bản là khối đoàn kết công – nông – trí, trong đó đội ngũtri thức đóng vai trò quan trọng. Trong gần 30 năm qua, đời sống của giai cấp công nhân ở ViệtNam rất bấp bênh, nếu không muốn nói là nhiều gia đình lâm vào cảnh nhếch nhác. Họ đều đilàm thuê cho các doanh nghiệp, các nhà tư bản. Nhiều người bị các nhà tư bản trả công rẻ mạt vàlao dộng rất vất vả. Với đội ngũ giai cấp công nhân như vậy, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bảnsắc dân tộc chưa thể phát triển tốt đẹp được.Về giai cấp nông dân, gần 30 năm đổi mới, quá trình đô thị hóa và các làn sóng xuất khẩu,đầu tư, tin học đã mang lại cho nhiều gia đình nông dân một cuộc sống khá giả, song nhiều giađình cũng mất đất, mất ruộng, không có việc làm. Người nông dân đã sản xuất nhiều sản phẩmnông nghiệp có tính hàng hóa, nhưng họ đã sử dụng quá nhiều hóa chất độc hại làm hại cho cảđất đai và nguồn nước. Các quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã làm cho hàng vạn, hàngchục vạn gia đình phải di cư khỏi chỗ ở của mình. Có một cuộc đảo lộn rất to lớn trong cấu trúcxã hội. Nhiều người nông dân phải ra thành phô, ra nước ngoài để bán sức lao động. nguồn nhânlực để xây dựng văn hóa nông thôn trong nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc hiện nayđang có rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết, đặc biệt là lối sống tiểu nông.Về đội ngũ tri thức, gần 30 đổi mới, chỳng ta xây dựng thêm nhiều trường Đại Học,nhưng chất lượng đào tạo thấp, rất nhiều sinh viên trớ thức ra trường không có việc làm. Nhiềutri thức với nhiều lý do khác nhau chưa được sử dụng tốt nhất. Nhiều vạn tri thức đi học nướcngoài chưa hoặc không trở về tổ quốc để xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.Lực lượng trớ thức xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc chưa được phân bổđều ở các vùng, các miền, các lĩnh vực phát triển văn hóa.Trong cơ cấu xã hội của Việt Nam gần 30 năm đổi mới, tầng lớp doanh nhân tăng lên rấtnhanh. Họ cống hiến rất nhiều vào toàn bộ đời sống văn hóa. Ở khu vực sản xuất công nghiệp,nông nghiệp luôn có sự hiện diện của họ trong mô hình 4 nhà: nhà sản xuất, nhà kinh doanh, nhàkhoa học và nhà nước. Đâu đâu cũng thấy tiền tỷ của các doanh nhân làm từ thiện.... Vậy mà cơcấu nguồn lực của nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc không có sự hiện diện xứng tầm
  24. 24. của họ. Tại sao một nền văn hóa của cơ chế thị trường mà lại không phải là tầng lớp doanh nhânđóng vai trò quan trọng.Ngoài nhân lực, thì nguồn lực của sự phát triển văn hóa Việt nam hôm nay phải gắn liềnvới tài nguyên đất đai, sông, suối, rừng, khoáng sản, mặt đất, bầu trời, nguồn nước của quốcgia. Con người xây dựng nền văn hóa mới ở Việt Nam đã làm gì với nguồn tài nguyên này!Nhiều người đã săn bắt động vật hoang dã, phá hoại rừng nguyên sinh, ngăn sông, chặn suối, bắtthủy hải sản bằng chất nổ và sung lực điện. Rất nhiều điểm nóng văn hóa sảy ra đối việc quả lýđất đâi và thái độ vô trách nhiệm của con người cố ý làm ô nhiễm môi trường. Để xây dựng vàphát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc cần có một hệ giải pháp cơ bản lâu dàicho sự phát triển bền vững nguồn tài nguyên này, cần phải có một chính sách quản lý và giảmquyền lực thao túng tài nguyên quốc gia.Ngoài các nguồn nhân lực các tài nguyên tự nhiên, vấn đề xây dựng nền văn hoán tiên tiếnđậm đà bản sắc dân tộc trong thể chế kinh tế thị trường không thể không làm chủ nguồn tàichính. Các điểm nóng văn hóa đã nổi lên cùng với nhứng trận bóo giá, những tiêu cực văn hóaphần lớn dùng đồng tiên để bôi trơn các mối quan hệ xã hội, những tội phạm, những kẻ tham ô,đều xoay quanh vấn đề đồng tiền. Sử dụng tốt đồng tiền sẽ có một nền văn hóa tốt. Buông lỏngquản lý đồng tiền, đồng tiền sẽ biến những phản văn hóa thành những giá trị văn hóa cao quý!Để xây dựng và phát triển mỗi nền văn hóa, ngoài việc quan tâm đúng và triệt để nuôidưỡng, phát huy các nguồn lực, người ta cần thiết phải chú ý đến các chuẩn mực văn hóa. Cácchuẩn mực văn hóa mà nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc phải hướng đến xây dựng làcái đúng, cái tốt, các đẹp, cái hợp lý. Tất cả những lộn xộn về văn hóa trong thời gian vừa quađều liên quan đến hệ thống chuẩn mực mà chúng chưa bám rễ vào đời sống, thậm chí có lãnhvực còn vô chuẩn.Một xã hội có văn hóa, một cộng đồng có văn hóa, một cá nhân là nhân cách văn hóa, mộtnền văn hóa, một thời đại văn hóa trước hết phải sống và làm việc theo cái đúng. Đó là cái đúngcủa hiến pháp và pháp luật. Chuẩn mực pháp luật là chuẩn mực được phép và không được phépcủa một cộng đồng văn hóa: Sống bên ngoài vòng pháp luật, sống bên trên pháp luật đều là vôvăn hóa. Sống đúng còn phải sống theo chuẩn mực khoa học. Sống và làm việc theo chuẩn mựcpháp luật và khoa học là sống có văn hóa. Khoa học sẽ tạo cho nền văn hóa được phát triểnkhách quan, không thiên vị và có giá trị nhân loại khi nó bảo vệ phẩm giá dân tộc. Sống đúng làsống theo một lý tưởng tích cực, lý tưởng tiến bộ. Lý tưởng này định hướng cho các quan hệgiữa cá nhân và cộng đồng vươn tới những nấc thang tiến bộ, bảo đảm quyền lao động, quyềncông dân, quyền sống và cả quyền chết của mỗi con người có văn hóa. Nền văn hóa tiên tiếnđậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta nhất định phải xây dựng một hệ chuẩn của cái đúng gắn vớihiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gắn với nền khoa học tiên tiến củathời đại, gắn với lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội.
  25. 25. Ngoài chuẩn mực của cái đúng, nền văn hóa tiền tiến đậm đà bản sắc dân tộc của chúng taphát triển trong cơ chế thị trường nhất định phải xây cho được hệ chuẩn mực của cái tốt. Hệchuẩn mực này sẽ nối liền các giá trị đạo đức truyền thống với các giá trị đạo đức hiện đại. Hệchuẩn mực này phát triển cao độ ý chí của con người làm cho các nhân cách được phát triển cácphẩm giá đạo đức và các quan hệ cộng đồng có sự yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau mộtcách vô tư. Những năm tháng vừa qua chúng ta chưa xây dựng được một hệ chuẩn đạo đức pháttriển các nhân cách trong cơ chế thị trường cho nên nhiều lối sống thực dụng, ích kỷ, tàn bạo đếnghê người đã xuất hiện trong nền văn hóa. Mục tiêu quan trọng của giải pháp xây dựng cácchuẩn mực của cái tốt trong nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thể chế kinh tếthị trường là thúc đẩy chủ nghĩa yêu nước chân chính, bảo vệ và cổ vũ những phẩm giá đạo đức,đấu tranh chống mọi áp bức, bóc lột vì chủ nghĩa nhân văn cao cả và lòng khoan dung vô hạngiữa con người với con người.Nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta phải xây dựng hệ chuẩn thẩmmỹ lấy cái đẹp làm trung tâm. Đó là một hệ chuẩn rất cơ bản của nền văn hóa nhằm phát triểntoàn diện nhân cách con người, phát huy tài năng sáng tạo của con người, tạo dựng mối quan hệthống nhất và đa dạng trong phát triển văn hóa, hướng mọi hoạt động văn hóa đặc biệt là hoạtđộng văn hóa nghệ thuật gắn với lý tưởng cao đẹp và thị hiếu lành mạnh. Chuẩn mực của cái đẹptrong nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc sẽ kích thích mọi sự sáng tạo cá nhân hướngtới sự phát triển hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và tộc người, giữa quốc giavà quốc tế, con người và tự nhiên. Chuẩn mực của cái đẹp góp phần rất quan trọng trong sựnghiệp hình thành những năng lượng thẩm mỹ cho xã hội để nếu ai mang trong mình tố chất củanhà nghệ sĩ họ sẽ đóng góp những giá trị rất độc đáo cho nền văn hóa.Nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay khi xây dựng trong thểchế thị trường nó phải hình thành cho được những chuẩn mực của cái hợp lý hay không hợp lýgắn với lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và lợi ích của cả cộng đồng. Nền văn hóa tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc ở Việt Nam là nền văn hóa của cơ chế thị trường và tồn tại suốt trong thời kỳ quáđộ. Nó chấp nhận mọi sự cạnh tranh hợp lý và không dung nạp chủ nghĩa bình quân ấu trĩ, tôntrọng moị hoạt động sáng tạo cá nhân và có cơ chế phát triển những tài năng. Điều này có vẻ rấtmới so với tư duy truyền thống. Trong cơ chế thị trường, chúng ta không duy nhất hóa sư hy sinhcá nhân cho cộng đồng, không coi sự phát triển hài hòa có tính vật lý mà là sự hợp lý. Những cánhân xuất sắc, các tài năng kiệt xuất trong lãnh vực văn hóa phải được cộng đồng chú ý hơn, tônvinh tích cực hơn và trao cho họ những lợi ích xứng đáng hơn, bởi vì họ có năng lực phát triểnxã hội tốt hơn.Vấn đề cuối cùng trong giải pháp xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ởnước ta hiện nay là phải quan tâm triệt để đến hệ thống thiết chế văn hóa. Các thiết chế văn hóahình thành là do sự đòi hỏi bền vững của mọi hoạt động văn hóa. Nền văn hóa tiên tiến đậm đàbản sắc dân tộc của chúng ta đã kế thừa rất nhiều thiết chế của nền văn hóa truyền thống. đó làcác thiết chế văn hóa lao động, văn hóa thế hệ, văn hóa vui chơi giải trí, văn hóa giáo dục, vănhóa tín ngường tâm linh, văn hóa nghệ thuật, văn hóa thể chất và rất nhiều những thể chế văn hóa
  26. 26. khác. Để duy trì và phát triển những hoạt động văn hóa trong trong thể chế kinh tế thị trườnggiữa một thời đại bùng nổ thông tin, hệ thống truyền thông đại chúng phát triển rất nhanh, chúngta cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện thêm những thiết chế văn hóa mới gắn với thời đại mớivà những biến động dữ dội của cơ chế thị trường. Đó là những thiết chế làm cho những cái đã tốtngày càng tốt hơn và đồng thời nó trở thành một cơ chế lọc bỏ những nhân tố lạc hậu của nềnvăn hóa, hội nhập và tiếp biến những nhân tố tiến bộ của nhiều nền văn hóa trên thế giới đồngthời với việc gìn giữ phẩm giá dân tộc.Hệ giải pháp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc gắn vớitoàn bộ sự vận động của đời sống xã hội. Văn hóa là cái dính kết, cái lan tỏa trong mọi hoạt độnglao động, giao tiếp, sinh tồn xã hội. Văn hóa là một quá trình nhân hóa, nó liên quan tới mọiphương diện, mọi ngành trong đời sống xã hội. Vì thế, những giải pháp để phát triển nó phải có ýnghĩa chiến lược quốc gia. Những giải pháp này riêng Bộ Văn hóa thể thao và du lịch không thựchiện được mà phải có mối liên hệ phối hợp với các ngành, các cấp và của toàn xã hội một cáchkhoa học và đồng bộ.Sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộcdũ đã trải qua gần ba thập kỷ, nhưng nó mới là thời đoạn ban đầu. Nó đang biến động dữ dội,nhưng nếu chúng ta làm chủ được các nguồn lực, xây dựng thành công hệ chuẩn của cái đúng,cái tốt, cái đẹp, cái hợp lý, hình thành một cách cơ bản và khoa học những thiết chế văn hóa nềntảng thì chúng ta nhất định xây dựng thành công nền văn hóa này.THỂ CHẾ, THIẾT CHẾ, CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁTHỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁPThs.Hồ Việt Hà -Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chínhBộ Văn háo,Thể thao và Du lịchHội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII), năm 1998 đã banhành Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc (Nghị quyết trung ương 5 khóa VIII). Đây là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quátrình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta đã tạo bước biến chuyển cơ bản nhằmtiếp thụ tinh hoa vǎn hóa nhân loại, làm cho vǎn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt độngxã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọilĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước. Qua 15 năm thực hiện, trongkhuôn khổ nghiên cứu khoa học, đề tài này tập trung nghiên cứu về thể chế, thiết chế, cơ chếphát triển văn hóa thực trạng và giải pháp như sau:

×