Tín ngưỡng dân gian với vai trò phật giáo thời Trần - vanhien.vn
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×
 

Like this? Share it with your network

Share

Tín ngưỡng dân gian với vai trò phật giáo thời Trần - vanhien.vn

on

  • 821 views

Bài nghiên cứu của TS. Trương Sĩ Hùng.

Bài nghiên cứu của TS. Trương Sĩ Hùng.
Đăng trên vanhien.vn

Statistics

Views

Total Views
821
Views on SlideShare
794
Embed Views
27

Actions

Likes
0
Downloads
1
Comments
0

1 Embed 27

http://vanhien.vn 27

Accessibility

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

Tín ngưỡng dân gian với vai trò phật giáo thời Trần - vanhien.vn Document Transcript

  • 1. TÍN NGƯỠNG DÂN GIANVỚI VAI TRÒ PHẬT GIÁO THỜI TRẦNTRƯƠNG SĨ HÙNGCâu chuyện dân gian được Vũ Phương Đề ghi lược trong “Công dư tiệp ký” đãtỏ thái độ phê phán ngay ở tên mục An Bài xã Lâm từ khả hủy, nghĩa là phải pháhủy đền thờ nhảm nhí ở xã An Bài.Chuyện kể về miếu Phạm Nhan thờ Trần chủ có tên thật là Nguyễn Bá Linh.Linh thi đỗ tiến sĩ nhà Nguyên, giỏi tay phù thủy nên được ở trong cung trị bệnhcho thân quyến vua. Mắc tội thông dâm với cung nữ, y bị án chém, song gặp lúcquân Nguyên sang đánh chiếm Đại Việt, Linh xin đi đẫn đường lập công chuộc tộivì bố là người Quảng Đông sang lấy vợ Việt đẻ ra y. Nguyễn Bá Linh cùng tướngchỉ huy Ô Mã Nhi bị Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn bắt sống trong trận BạchĐằng (1288). Trước khi bị quân dân Đại Việt xử trảm, Linh chỉ xin được chôn xácở quê mẹ, xã An Bài. Trần Hưng Đạo cho giải Nguyễn Bá Linh về chém ở đó, rồiném xác xuống sông. Sau đó có nhà thuyền chài nhiều lần kéo lưới đều mắc phảiđầu lâu Linh. Sẵn đầu óc mê tín, nhà chài chôn lấp ở bờ sông Thanh Lương, hồnLinh giúp họ nhiều phù phép, ví như muốn chòng ghẹo cô gái nào, chỉ cần lẩmnhẩm kêu Bá Linh, Bá Linh rồi chỉ tay vào người ấy là lập tức bị ám ảnh lôi cuốn.Dân sợ hãi nên lập miếu thờ(1).Việc xảy ra như thế, một sự thật mê tín cứ tồn tại trong đời sống văn hóa dângian. Gần năm thế kỷ sau, Vũ Phương Đề chính thức phê phán bằng văn tự. Lạinữa, có chuyện trước kia khi bị tử hình, Nguyễn Bá Linh có hỏi Trần Hưng Đạo:“Trước khi bị chém thì Ngài cho tôi ăn thứ gì?” Hưng Đạo Vương cả giận quát:“Cho mi ăn máu bà đẻ”, chi tiết này gây dư luận, thêm một cứ liệu cho mê tín dịđoan vịn cớ. Phụ nữ ốm yếu hay đau máu, mắc các chứng phụ sản thì đến lễ ở đềnVạn Kiếp cũng như ở những nơi mà Trần Hưng Đạo cầu đảo rồi đổi chiếu mới lấychiếu cũ đến “thừa lúc vô ý” để trải cho bệnh nhân nằm và đốt chân mấy nénhương cũng xin ở đền, hòa nước với tro cho uống thì khỏi.Thời gian dài qua đi, tục thờ anh hùng Trần Hưng Đạo được hội nhập vào hệthống thần của đạo Tứ phủ. Lời khấn phổ biến đầu tiên là:(1)Công dư tiệp ký- bản dịch của Nguyễn Đình Diệm, bộ QGGD, S1962.1
  • 2. Tấu lạy đức Thánh Trần trăm muôn mớ báiTấu lạy đức Mẫu Hoàng, tấu lạy đức Thượng Ngàn công chúa,Tấu lạy đức Liễu Hạnh công chúaTấu lạy đức Mẫu Thoái công chúa…<Rồi mới “Tấu lạy các ngôi thứ quan hoàng, hàng cô, hàng cậu”>Đạo Tứ phủ của Việt Nam xuất phát từ tín ngưỡng dân gian, rồi dần dần hoànthiện hệ thống thần chú, kinh cầu (hát chầu văn) và hàng nghìn tín đồ theo đạo. Đặcbiệt hơn, có lẽ sau đời Trần trở đi, trên con đường hoàn thiện, đạo Tứ Phủ đã tìm ramột lối hữu hiệu để hòa mình với đức Phật. Thời Trần, sau khi kết thúc cuộc khángchiến chống xâm lược Nguyên- Mông, các hình thức tín ngưỡng dân gian ngườiViệt đã được chấn chỉnh lại theo nếp sống, theo thuần phong mỹ tục của quêhương, gốc tích họ vua. Mặt khác, Phật giáo Việt Nam đến thời Trần đã thống nhấtba nguồn về một dòng, có xu hướng thuận chiều, không gặp trở ngại. Cả ba pháigiáo Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đã cực thịnh từ thời Lý, naynhập làm một, mà người phát biểu chính thức là vua Trần Thái Tông. Phái ThảoĐường không gây được thanh thế trong chốn nhân gian bởi chỉ thu hẹp vào bànluận kinh sách, nên tư tưởng học thuật và mượn thi ca để phô dẫn.Thân như tường bích dĩ hồi thìCử thế không thông thục nhất biNhược đạt tâm không vô sắc tướngSắc không ẩn hiện nhậm suy di.Bài kệ của thiền Viên chiếu, tác giả Thiền sư Việt Nam dịch:Thân như tường vách đã lung layĐau đáu người luống xót thayNếu đạt tâm không không tướng sắcSắc không ẩn hiện mặc vần xoay.Ở thế hệ 12 phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi thiền sư Từ Đạo Hạnh bộc lộ tư tưởngnhập thế không chú trọng việc có hay không “lập ngôn” tuy vẫn chú trọng kinhluận và các thuật phong thủy, siêu nhân đã lặng lẽ tái hiện trong hành trang các nhàtu hành. Vì vậy chấn hưng đạo Phật cần có kiến thức rộng, học hỏi nhiều, thấmnhuần nghĩa lý kinh Bát Nhã, Tổng Trì… để hành động cứu giúp con người hướngvề đời sống giản dị, thực tế trong dân gian, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã góp2
  • 3. phần khơi dậy nguồn sinh lực vốn có của tín ngưỡng bản địa, hòa nhập tư tưởngPhật giáo thành những thành tựu mới của văn hóa Việt Nam.Thiền phái thứ ba hành đạo trước thời Trần ở Việt Nam là Vô Ngôn Thông.Truyền giáo do một thiền sư Trung Hoa, nhưng đến lúc các thiền sư Việt thụnghiệp thì cũng nổi lên tên tuổi như Nguyên Học, Giác Hải, Không Lộ… và cũngchỉ ở những thiền sư ấy, sự ảnh hưởng của Mật Tông và phái Vô Ngôn Thông mớicó đường nét, mà khởi nguyên giáo lý Vô Ngôn Thông không có. Đến lúc có sựảnh hưởng này, thiền phái Vô Ngôn Thông vẫn chống lại, nhưng chống khôngthắng nổi. Tác giả Việt Nam Phật giáo sử luận định rằng: “ sự kiện cho ta thấy tầmquan trọng của Phật giáo ở Việt Nam từ ngày Tì Ni Đa Lưu Chi đến Việt Nam quaĐinh, Tiền, Lê cho đến cuối Lý”(1).Điều đáng chú ý hơn trước khi nhà Trần thống nhất các thiền phái vào một mốilà con người cụ thể. Hầu hết các thiền sư danh tiếng đều tham bác và uyên thâm,chứ không chỉ đọc khinh sách. Lý Công Uẩn, Tô Hiến Thành đều qua con đườngđào tạo từ nhà chùa. Chùa làng sống động trong tín ngưỡng bản địa, chịu sự chiphối của thể chế Nhà nước từ cấp Trung ương trở xuống, lại có kiến thức phổ cậpcủa Nho học. Vì vậy con người cụ thể từ ông vua đến con dân đều nhận thức xã hộitrong mối quan hệ tổng hòa.Tiếp nhận và cải tổ một di sản văn hóa truyền thống như vậy, nhà Trần đã tạora một Đại Việt lừng danh thế giới, một Đại Việt tự hào mãi mãi về trang sử hàohùng oanh liệt của dân tộc.Nhà Trần đã đóng vai trò điều tiết, vai trò quan trọng của Phật giáo với tínngưỡng dân gian, phát huy mặt mạnh của tinh thần dân tộc để củng cố vươngquyền, củng cố và xây dựng nếp sống đặng thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp vàthủ công nghiệp phát triển.Khi Trần Thái Tông (1218- 1277) bỏ ghế vua đương đêm tìm đường lên núiYên Tử để tu hành, ông cũng nêu một nguyên cớ: “Đi để nghe dư luận dân gian màthực sự biết được lòng dân để dễ bề trị nước”. Sau ý định “xuất gia tu hành” khôngđạt nhưng ở chính ngôi, nhà vua Trần Thái Tông đã kiên trì nghiên cứu kinh sách,sáng tạo thêm nhiều tác phẩm có giá trị trong lịch sử văn học Phật giáo Việt Nam.Mặt khác do cả chủ quan lẫn khách quan, nhà vua đề cao Phật giáo, sùng kính cácthiền sư, tăng ni nên có thể nói đây là tiền lệ cơ bản cho nền Phật giáo thống nhất(1)Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận. Nxb Văn học, H, 1992.3
  • 4. thời Trần, theo đó tinh thần cơ bản của một xu hướng giáo hóa nhân gian được thihành mở rộng trong toàn cõi Đại Việt mang tính pháp trị khôn khéo, mền dẻo. Đốitượng tiếp nhận thì vẫn duy trì hai khía cạnh: Phật giáo từ trước đã là quốc gia vàtín ngưỡng dân gian vẫn đan xen mà nhiều khi vẫn dồi dào sinh lực.Vào những năm cuối thế kỷ XIII, sang đầu thế kỷ thứ 14 (và có thể còn kéo dàiđến tận thời Nguyễn sai này) tín ngưỡng dân gian được cơ phát triển thêm, dườngnhư là bước nhuận khởi một tôn giáo bản địa; song hành với nền Phật giáo thốngnhất thời Trần. Nhân danh người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo “sống khôn chếtthiêng” cùng các tướng lĩnh tài ba của ông như Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản,Trần Quốc Tảng, Yết Kiêu, Dã Tượng… đều đã trở thành thần thánh. Lớp thần cóhành trang cuộc đời trong quan hệ nhân sinh ở thời Trần, đọng lại qua thăng trầmlịch sử nhờ “hai gương pha” Phật giáo và đạo Tứ phủ chiếu rọi.Đạo Tứ phủ có thần chủ đích danh đại diện cho các thế lực siêu phàm trong vũtrụ luận thời cơ của người Việt Nam. Người mẹ biểu trưng cho sự sinh ra con ngườitừ chế độ Cộng sản nguyên thủy đã hoàn thiện thần tính, dần dần ngự trị trong đờisống tâm linh Việt. Lịch sử trải dài từ nhà nước sơ khai, phong kiến quan phươngđến nay nhưng hình thức tôn giáo bản địa Tứ phủ vẫn giữ lại tục thờ Mẫu với độingũ tín đồ đông đảo trong nhân gian với hàng ngàn đệ tử. Song, ở buổi đầu hoàncảnh ra đời của đạo Tứ phủ cũng như đạo Phật; thần chủ khởi xướng chưa phải đãchiếm lĩnh vị trí vô song. Thời gian bồi đắp tri thức cho mỗi nền văn hóa tự hoànchỉnh từng bộ phận cấu thành của nó. Gọi là đạo Tứ phủ với những điều kiện: cóquan điểm triết học, có thần chủ, có kinh sách, có tín đồ thì phải đến thế kỷ XVIII-khi Liễu Hạnh công chúa chính thức giữ một trong bốn ghế thờ- mới hoàn chỉnh.Vậy ngay từ lúc đạo Tứ phủ mới có ba chữ nữ thần (mẫu cửu trùng, mẫuThoải, mầu thượng Ngàn) các thần linh- người trần gian hiển thánh- ở thời Trần đã“ra nhập” rồi có vị trí quan trọng của một hình thức tôn giáo(1). Cho đến nay, khidừng lại nhìn nhận đạo Tứ phủ ngoài các bàn thờ, ảnh, tượng bốn mẫu, đức ThánhTrần (Trần Hưng Đạo) vẫn “ngự” trong phủ điện Tứ phủ và các đền thờ riêng ôngcũng có hiện tượng ngược lại; nghĩa là hình ảnh phối thờ lại là Tam tòa Tứ phủcùng các quan Hoàng và các Cô, các Cậu. Những gia đình lập bàn thờ riêng ở nhàcũng quan niệm, khấn vái như lời khấn đã dẫn ở trên. Nói Tam tòa vì “người đờixưa” chỉ tạo lập ba bức tượng của ba phủ, trên thực tế nhận thức nhân gian thì có(1)Xem:+ Trương Sĩ Hùng- Mẫu Thoải- Nữ thần nước từ khởi thủy Hùng Vương. TCVHDG- số 2, 1993.+ Trương Sĩ Hùng- Bà chúa thượng Ngàn một hiện tượng tam hòa thánh Mẫu trong cảnh quan chùa Việt Nam-TCNCPH, số 4, 1994.4
  • 5. đủ bốn phủ mà Mẫu cửu trùng chỉ có ảnh mà thôi. Tục ngữ của người Việt đã cócâu: “Tứ phủ chầu bà, tam tòa Thánh Mẫu”.Bước đường hoàn chỉnh của đạo Phật cũng có những chặng đường phát triểnvậy. Đạo Phật phải chấp nhận những tư tưởng thời đại trước như Áo nghĩa thư(trước Công nguyên 1500- 1600); rồi khi Thái tử Tất Đạt Đa xuất gia tu hành, sáunăm sau chứng quả mới xưng là Vô Lượng Phật Đà. Khi hấp hối, Thích Ca Mâu Nicó di ngôn: “Các Tì Khưu phải mãi mãi một lòng chăm cầu xuất đạo, thế quan mọiviệc không đúng pháp đều là bại loại bất an. Đây là lời dạy bảo cuối cùng của ta”.(Kinh di giáo)(1). Hàng loạt bộ kinh còn lại đến ngày nay là sáng tạo của các bậc caotăng, thiền sư ở nhiều thế kỷ về sau; tu hành, chứng nghiệm theo cách của Thích Carồi viết ra, chứ không phải là tác phẩm do Ngài truyền lại. Chỉ có điều dù có phânthành thiền phái nhỏ hơn, nhưng tất cả đều theo một giáo lý ở tầm nhìn tổng quan.Khi Phật giáo truyền vào Việt Nam, rõ ràng đã có “môi trường tiếp nhận”. Tínngưỡng bản địa sùng bái vật linh, sùng bái thiên nhiên gắn liền với việc thờ cúngtiên tổ để chắt lọc Nho, Phật, Lão mà giành lại cho mình tư thế vươn lên thành mộttôn giáo.Qua nghìn năm Bắc thuộc, rồi nghìn năm dựng nước và giữ nước, tín ngưỡngdân gian chưa có cơ hội vươn lên được vì nhiều lẽ, trong đó nổi lên là chống đồnghóa chủng tộc, bảo vệ truyền thống của cha ông và thanh lọc, tiếp nhận, loại trừ cáctrào lưu văn hóa có ảnh hưởng tràn ngập. Những tư tưởng tốt có tác dụng giáo hóacon người, bảo vệ quyền tự chủ dân tộc cho Nho, Phật, Lão đều được chấp nhậnnhưng có định mức. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam bồi đắp mọi mặt như thế vàgiữ lại, đề cao bản chất đặc trưng dân tộc không lai căng, không Hán hóa, đồng thờitín ngưỡng dân gian có vai trò thúc đẩy sự phát triển thống nhất của đạo Phật. Ởkhía cạnh khác, tín ngưỡng dân gian lấy sức bật tạo đà cho đạo Tứ phủ bước đầukhẳng định. Tục thờ Mẫu gắn liền với chùa làng, cảnh Bụt. Hầu như ở đâu dựngchùa thờ Phật đều có nhà thờ Mẫu kèm theo. Các nhân thần Việt Nam được phốithờ trong hoàn cảnh những trung tâm lễ bái của Phật giáo. Một số phủ điện riêngcủa đạo Tứ phủ, tuy vắng đi tượng Phật nhưng dường như vẫn văng vẳng trong vănkhấn lời chào của ngôn ngữ nhà chùa. Vả lại đến thế kỷ XVIII sau này, Liễu Hạnhcông chúa cũng hơn một lần được đức Phật từ bi trợ lực khi nhập thế.Phủ Thiên Trường của đất Sơn Nam Hạ xưa, nay thuộc đất tỉnh Nam Địnhvinh dự lớn là quê hương tổ tiên nhà Trần. Các đời vua Trần đều mến mộ đạo Phật,(1)Pháp sư Thánh Nghiêm- Lịch sử Phật giáo thế giới (tập I) NXB Hà Nội 1995.5
  • 6. ai cũng gói trọn trong tâm hồn về miền “đất phát” đều mang dấu tích tính danhnhững danh thần của đạo Tứ phủ.Tín ngưỡng dân gian Việt Nam thời Trần vừa hòa nhập với Phật giáo ở chùalại vừa riêng biệt ở đền, phủ. Đạo Tứ phủ của người Việt bắt đầu gây dựng từ đó.T.S.H6
  • 7. ai cũng gói trọn trong tâm hồn về miền “đất phát” đều mang dấu tích tính danhnhững danh thần của đạo Tứ phủ.Tín ngưỡng dân gian Việt Nam thời Trần vừa hòa nhập với Phật giáo ở chùalại vừa riêng biệt ở đền, phủ. Đạo Tứ phủ của người Việt bắt đầu gây dựng từ đó.T.S.H6