Your SlideShare is downloading. ×
Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình (Phạm Việt Long - vanhien.vn)
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×

Introducing the official SlideShare app

Stunning, full-screen experience for iPhone and Android

Text the download link to your phone

Standard text messaging rates apply

Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình (Phạm Việt Long - vanhien.vn)

25,287
views

Published on

Mời độc giả vào đọc Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam với nhiều tư liệu về văn hoá nghệ thuật đáng quan tâm. Địa chỉ: vanhien.vn

Mời độc giả vào đọc Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam với nhiều tư liệu về văn hoá nghệ thuật đáng quan tâm. Địa chỉ: vanhien.vn


0 Comments
2 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
25,287
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
3
Actions
Shares
0
Downloads
37
Comments
0
Likes
2
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình LỜI CẢM ƠN Tác giả xin chân thành cảm ơn giáo sư, tiến sĩ khoa học Phan Đăng Nhậtđã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình tác giả nghiên cứu, hoàn thànhcông trình này. Tác giả cũng chân thành cảm ơn các nhà khoa học đã đóng góp nhiều ýkiến quý báu giúp tác giả hoàn thiện công trình: - GS. TS Lê Chí Quế - PGS.TS Trần Đức Ngôn - GS. TS Nguyễn Xuân Kính - PGS.TS Vũ Anh Tuấn - PGS.TS Nguyễn Chí Bền - TS. Nguyễn Hữu Thức - TS. Nguyễn Thị Huế. Tác giả xin chân thành cảm ơn trường Đại học Khoa học xã hội và nhânvăn và Trung tâm Công nghệ thông tin (Văn phòng Bộ Văn hoá Thông tin, nay làBộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch) đã giúp dỡ tận tình tác giả trong suốt quá trìnhnghiên cứu, công bố công trình này. Phạm Việt Long 1
  • 2. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình ĐIỀU TÂM ĐẮC VỀ PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VĂN HOÁ DÂN TỘC (Thay Lời giới thiệu) GS. TSKH. Phan Đăng Nhật Tôi không có dự định viết giới thiệu cuốn sách Tục ngữ ca dao về quan hệgia đình của TS. Phạm Việt Long. Vì thế e rằng sẽ nhắc lại trong vài trang, mộtcách sơ lược, thiếu thốn cả một cuốn sách hơn 300 trang và do vậy làm lãng phíthì giờ bạn đọc. Tôi chỉ dám phát biểu một điều tâm đắc: phương pháp tiếp cận văn hoá đểtìm ra bản sắc văn hoá dân tộc. Điều này do phạm vi đề tài hạn chế,- tục ngữ, cadao về quan hệ gia đình,- nên tác giả không có điều kiện trình bày đầy đủ và trựcdiện. Nhưng chính những phương pháp tiếp cận này, một mặt đem đến nhữngphát hiện mới mà có sức thuyết phục trong phạm vi đề tài của mình; mặt khác gợimở cho việc tìm hiểu bản sắc văn hoá nói chung. * 1.Từ lâu một số nhà khoa học trong và ngoài nước với mức độ khác nhau vàbiểu hiện khác nhau, đã phủ định bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Tiêu biểucho xu hướng này là “Bài tổng kết của trường Viễn đông Bác cổ Pháp từ buổiđầu cho đến năm 1920”: “Ấn Độ – Chi na (là tên gọi các nước Đông Dương,trong đó có Việt Nam, do người Pháp dùng, tiếng Pháp là Indochine là từ ghéptên hai nước Ấn Độ và Trung Hoa- P.Đ.N), là khu vực ở Châu Á mà hai nền vănminh lớn của bộ phận này của thế giới, văn minh Ấn Độ và văn minh Trung Hoa,đụng độ với nhau và ít nhiều hoà lẫn vào nhau và là nơi mà các chủng tộc cư trúở lục địa và hải đảo ở phía đông châu Á kéo đến pha trộn vào nhau. Cho nênngười ta không thể thấy ở đấy, như ở nước Trung Hoa hay ở nướcẤn Độ củangười Arirăng (Aryen), một chủng tộc riêng biệt và một nền văn minh độc đáoxứng đáng được tìm hiểu vì bản thân chúng, một chủng tộc và một nền văn minhchỉ nhờ vả rất ít vào ảnh hưởng bên ngoài, mà hoàn toàn ngược lại chỉ thấy ở đósự pha trộn khác thường nhất của các nền văn minh và các chủng tộc linh tinh(P.Đ.N.nhấn mạnh), không một nền văn minh nào- hình như thế lại có nguồn gốchoặc trung tâm ở đấy, ngay tại bản thân Ấn Độ- Chi na”1 Phân tích trên đây của bản tổng kết trang trọng này có mấy điểm chính: - Các nước Đông Dương(trong đó có Việt Nam ), không có nền văn hoá vănminh. Những lý do trên, không đáng nghiên cứu các nền văn hoá ở đây.1 Trường Viễn đông bác cổ Pháp từ buổi đầu cho đến 1920, //Tập san của Trường Viễn đông bác cổ Pháp, tậpXXI, 1920,tr.4. 2
  • 3. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Lời kết án trên là của cơ quan học thuật có quyền lực nhất đương thời củangười Pháp, đã xoá sạch bản sắc văn hoá Việt Nam và các nước lân cận. Đươngthời nó ảnh hưởng sâu sắc đối với thế giới và cả một số người Việt. Về sau, dần dần quan niệm trên đây được điều chỉnh từng bước. Một sốhọc giả Phương Tây nhận thấy văn hoá “các cư dân của bán đảo Đông Dương”không phải là một sự pha trộn linh tinh nữa mà có thể nhận diện được và họ goịlà “Các quốc gia Ấn độ hoá” (G.Coedes). Có người còn khái quát được bản chấtvăn hoá của vùng này, hơn nữa còn chỉ ra rằng một số triết lý của Trung Hoa đãđược tổng kết từ thực tế của văn hoá phương Nam như lý thuyết về âm dương(Eveline Porée Maspéro). Nếu chỉ có thế thì không cần nhắc lại ở đây, cái gì hoàn toàn thuộc về lịchsử trả về cho quá khứ. Nhưng không như vậy, gần đây, (1972), Arnold Toynbee,mặc dầu đã công nhận Việt Nam có một nền văn minh riêng nhưng là sự “môphỏng văn minh Trung Hoa”, là “nền văn minh riêng văn minh Trung Quốc.Leon Vandermeeersch (1986) coi văn minh Việt Nam (cũng như Triều Tiên,Nhật Bản) là “văn minh Trung Hoa hoá”, nói cách khác là sự đồng hoá theo vănminh Trung Hoa.2 Về bản chất trên đây là tư tưởng trung tâm văn minh nước lớn, đến thời kỳhậu thực dân, nó không còn tính chất miệt thị nước nhỏ của chủ nghĩa thực dâncũ nữa, nhưng có nhiều biến dạng, mà thế giới vẫn đang còn tiếp tục tranh luậnvới chúng: nếu ở thế giới, đó là chủ nghĩa trung tâm Âu châu, được gọi làeurocentrisme, européocentrisme, thì ở châu Á là chủ nghĩa trung tâm TrungHoa, có thể tạm gọi la sinocentrisme. Ở trên có nhắc đến tư tưởng trung tâm Trung Hoa của thời kỳ hậu thực dâncủa một số tác giả nước ngoài, riêng ở Việt Nam tư tưởng đó vẫn tồn tại không ít. Trong bối cảnh như vậy tác phẩm của Phạm Việt Long xử lý vấn đề nhưthế nào? 2. Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình tự giới hạn trong một phạm vi nhỏcủa văn hoá, quan hệ gia đình, trong đó có quan hệ vợ chồng, cha mẹ con cái, anhem họ hàng… Như trên đã nói, chúng tôi không giới thiệu toàn diện nên chỉ nêumối quan hệ vợ chồng để xét về phương pháp tiếp cận. Về quan hệ vợ chồng trong ca dao Việt Nam, nhiều người cho rằng, đã ảnhhưởng sâu sắc đạo cường thường của Nho giáo, xuất giá tòng phu. Các tác giảThi ca bình dân Việt Nam viết về ý thức xuất giá tòng phu như sau: “Đây là một quy luật bắt buộc người đàn bà. Chữ “tòng” đây không chỉ cónghĩa là đi theo mà còn phải tuân theo mệnh lệnh của người chồng nữa. Ý thứcnày ăn sâu vào dân gian… Bởi vậy, người đàn bà sống trong chế độ Tam tòngthường có tư tưởng yếu đuối, cầu an. Họ chỉ còn biết làm sao cho chồng thương2 Tham khảo GS Đinh Gia Khánh: Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu //Văn hoá dân gian Việt Namtrong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á, NXB KHXH. H,1993. 3
  • 4. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhđể nhờ vào sự che chở của người chồng… Xem thế, người đàn bà đối với chồngchỉ có nhẫn nhục và chiều chuộng”3 Như vậy các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam coi người phụ nữ Việt Nam“sống trong chế độ Tam tòng” của Nho giáo, tuân theo đạo tam tòng nghiêm khắcnày. Phạm Việt Long có nhận định khác. Ông cho rằng: “Qua ca dao, chúng tathấy không phải chỉ có phụ nữ mới theo chồng, mà có cả đàn ông theo vợ, vàquan trọng hơn là họ theo nhau, “phu phụ tương tòng”… Cách thức theo chồngcủa người phụ nữ Việt thời phong kiến đa dạng, phong phú, với nhiều ý nghĩatích cực, thể hiện sự chủ động của người phụ nữ trong việc lựa chọn và xây đắphạnh phúc cho mình. Trong sự chủ động ấy, người phụ nữ sẵn sàng gánh vác việckhó khăn, nặng nhọc, sẵn sàng chịu đựng mọi éo le của cuộc sống miễn là làmcho vợ chồng được gắn bó. Từ khái niệm tòng phu của Nho giáo, các tác giả đãchuyển hoá thành khái niệm theo nhau-“tương tòng”, là biểu tượng cho sự gắnbó vợ chồng người Việt trong xã hội phong kiến” 4 Kết luận như vậy có tính uyển chuyển, nhưng quan trọng là bằng conđường nào, bằng phương pháp nào để đi đến kết luận trên. Trước hết, tác giả không tự định ra trong đầu mình một tư tưởng, rồi tìmnhững đơn vị ca dao thích ứng để minh hoạ cho nó. Ông bao quát một kho tàngca dao đồ sộ khá đầy đủ 5, chứa đựng 11.825 đơn vị ca dao. Từ kho tàng đó, ôngchọn ra 1.179 đơn vị nói về đề tài gia đình, chiếm 9,97% tổng số. Từ đó, để khảosát vấn đề quan hệ vợ chồng, ông chọn được 690 đơn vị có đề tài này, chiếm58,52% đơn vị ca dao nói về gia đình (ngoài quan hệ vợ chồng còn có các quanhệ cha mẹ- con cái, anh chị em…) Từ toàn bộ các đơn vị ca dao nói về quan hệ vợ chồng được rút ra từ Khotàng ca dao, gồm 11.825 câu, tác giả bằng thống kê, chỉ ra có 3 kiểu phục tòng(nôm na là theo): - Vợ theo chồng. “Lấy chồng theo thói nhà chồng”, “Có chồng thìphải theo chồng, Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng vui”... Trong quan hệ này,tác giả cũng rút ra những trường hợp ngược lại, nghĩa là vợ không theo chồng, sốlượng không đáng kể, ví như: “ăn cam ngồi gốc cây cam, Lấy anh thì lấy về Namkhông về” “ăn chanh ngồi gốc cây chanh, Lấy anh thì lấy về Thanh không về”. - Chồng theo vợ. “Vợ mà biết ở ắt chồng phải theo”, “Mình về anh cũngvề theo, Sum vầy phu phụ hiểm nghèo có nhau”… - Cả hai theo nhau. “Theo nhau cho chọn lời vàng đá”, “Quyết theonhau cho trọn đạo”… (Xin xem các trang 65,66- vi tính, ở đó có đầy đủ dẫn chứng)3 Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1998), Thi ca bình dân Việt Nam (Tập 1), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.198,194.4 Phạm Việt Long, sách đã dẫn, tr.66 (vi tính).5 Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên và các cộng sự: Kho tàng ca dao người Việt, NXB Văn hoá-Thông tin, H, năm 1995. 4
  • 5. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Trên cơ sở khảo sát, thống kê một cách khách quan, thận trọng, khối tư liệuto lớn, phong phú và đa dạng nói trên, tác giả mới đi đến nhận định: “Như vậy,qua ca dao, chúng ta thấy không phải chỉ có phụ nữ mới theo chồng…” (đã tríchở trên). Tác giả cũng khảo sát quá trình từ tiếp thu vỏ ngôn ngữ tòng phu đến sựchuyển hoá thành theo chồng, chồng phục tòng vợ và phu phụ tương tòng. Nhưvậy, quan hệ vợ chồng trong văn hoá Việt Nam theo nguyên lý Gắn bó (Vợchồng là nghĩa keo sơn), Thuận hoà (Thuận vợ thuận chồng bể Đông tát cạn). Như vậy, theo đạo lý Việt Nam, mà tục ngữ ca dao là sự ghi nhận trungthành, người phụ nữ Việt Nam không “sống trong chế độ Tam tòng” “yếu đuối,cầu an”, không “chỉ biết làm sao cho chồng thương để nhờ vào sự che chở củangười chồng”. Và càng không thích hợp khi kết luận “Xem thế, người đàn bàViệt Nam đối với chồng chỉ có nhẫn nhục và chiều chuộng”. Trên đây là bàn về những kết luận qua việc khảo sát ca dao coi nó như mộttấm gương phản chiếu, hơn nữa, một tài liệu để điều tra xã hội học về xã hội ViệtNam truyền thống. Trong quan hệ gia đình, ngoài quan hệ vợ chồng như đã nói trên, sáchTNCDVQHG còn đề cập đến các mặt khác như quan hệ cha mẹ- con cái, quan hệanh em- chị em, quan hệ dâu rể. Cách tiến hành, phương pháp nghiên cứu đềunhư trên. Và các kết luận cũng có đóng góp mới và có tính thuyết phục. Cuối cùng tác giả kết luận: “Qua tục ngữ, ca dao, người nghiên cứu thấy rõtính chất dân chủ, bình đẳng, khoan hoà, nhân văn là tính chất “trội” của quan hệgia đình người Việt….(xem thêm ở tr.129- vi tính của sách TNCDVQHG)”. 3. Cho đến nay, đối với các hiện tượng khác của văn hoá Việt Nam vẫn tồntại những nhận định khác nhau. Ví dụ như có người cho tục thờ Thành hoàng là sản phẩm của Trung Hoa.Trong lúc đó, GS Nguyễn Duy Hinh, với một công trình nghiên cứu công phu,hơn 500 trang, chưa kể phụ lục, đã khẳng định: “Thành hoàng làng là tập đạithành văn hoá mà người nông dân Việt Nam đã sáng tạo qua bao nhiêu thểnghiệm, của bao nhiêu thế hệ” 6 Tục thờ cúng tổ tiên cũng vậy, GS Đinh Gia Khánh không cho là đặc thùphương Bắc mà là đặc thù của nền văn hoá Đông Nam Á: “Còn tục thờ cúng tổtiên thì lại là một trong những nét đặc thù của vùng văn hoá Đông Nam Á” 7 Sở dĩ có sự nhận định khác nhau đối với một nền văn hoá, và bản chất cáchiện tượng văn hoá, chủ yếu là do khác nhau về phương pháp. Chúng ta coi trọngquy luật giao lưu văn hoá, nhưng nhiều khi trong quá trình giao lưu đó diễn ra sựtiếp biến văn hoá lâu dài, khiến cho nội hàm của hiện tượng, khái niệm đã thayđổi mà chỉ còn lưu lại cái vỏ ngôn ngữ. GS Từ Chi cũng chia sẻ với ý kiến này:“Trong không ít trường hợp, những yếu tố mà tổ tiên người Việt hiện nay đã lầnlượt tiếp thu từ nền văn minh Trung Hoa qua một thiên niên kỷ Bắc thuộc, và cả6 Nguyễn Duy Hinh: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H, 1996, tr, 410.7 Đinh Gia Khánh: Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội, H,1993, tr. 43. 5
  • 6. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhvề sau nữa, khi được tích hợp vào cuộc sống hàng ngày của người bản địa, chỉcòn giữ được ở nơi xuất phát có cái vỏ hình thức nữa thôi (thường là tên gọi)trong khi nội hàm của khái niệm tiếp thu đã biến đổi hẳn” 8 Tóm lại, tác giả Phạm Việt Long trong sách Tục ngữ ca dao về quan hệ giađình đã nghiêm túc tiếp thu người đi trước về phương pháp tiếp cận văn hoá, đólà nguyên nhân quan trọng đem đến những đóng góp mới trong công trình nghiêncứu của ông và đây cũng là kinh nghiệm cho những ai quan tâm đến việc tìm hiểubản sắc văn hoá Việt Nam./. P.Đ.N.8 Nguyễn Từ Chi: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, NXB Văn hoá - Thông tin, Tạp chí văn hoá nghệthuật, H, 1996, tr.240. 6
  • 7. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình MỞ ĐẦU Nhiều nước, nhiều tổ chức trên thế giới đã nhận thức được tầm quantrọng của gia đình đối với sự phát triển của xã hội loài người nên đã có nhiềuhành động nhằm xây dựng và củng cố gia đình. "Ngày 8 tháng 12 năm 1989 Đại Hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố năm 1994 là năm quốc tế về Gia đình (IYF) với chủ đề "Gia đình, các nguồn lực, và các trách nhiệm trong thế giới đang thay đổi" và biểu tượng một mái nhà ấp ủ những trái tim. Tư tưởng chủ đạo của năm quốc tế về gia đình là: sự thay đổi của thế giới phải tạo nên sự tiến bộ và tăng cường các phúc lợi cho cá nhân cũng như sự phát triển ổn định của gia đình. Năm quốc tế về gia đình nhấn mạnh đến việc đảm bảo các quyền cơ bản của con người, đặc biệt chú ý đến quyền của phụ nữ và trẻ em, kêu gọi các chính phủ, các tổ chức xã hội quan tâm giúp đỡ các gia đình làm tròn trách nhiệm đối với các thành viên và là hạt nhân của sự phát triển tiến bộ các cộng đồng, dân tộc, quốc gia."[96:3]. Đảng và Nhà nước ta cũng đã sớm có sự quan tâm đặc biệt đến vấn đềgia đình và có các biện pháp thiết thực chăm lo cho gia đình. Bên cạnh cácđiều luật trong bộ Luật dân sự, ngày 29 tháng 12 năm 1986, Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật hôn nhân và gia đình,trong đó khẳng định: "Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt; Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chồng bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội;". [75:94]. Như vậy, gia đình là vấn đề được sự quan tâm đặc biệt của tất cả các tổchức đảng, chính quyền, từ trong nước đến toàn thế giới. Để xây dựng gia đìnhhạnh phúc, cần có cả một hệ thống phương hướng, biện pháp, trong đó có việcquay trở về tìm hiểu những giá trị truyền thống của cha ông, tìm ra trong đónhững mẫu hình và kinh nghiệm tốt đẹp để áp dụng và nhận biết những mặttiêu cực để tránh. 7
  • 8. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Văn học dân gian, trong đó có tục ngữ, ca dao, là kho tàng văn học quýgiá của đất nước, đã vượt qua mọi thử thách của thời gian, trở thành một thànhtố quan trọng trong gia tài văn hoá nước ta. Thông qua nghệ thuật ngôn từ, tụcngữ, ca dao đúc kết trí tuệ, tình cảm của nhân dân và phản ánh nhiều mặt củaxã hội, trong đó có phong tục, tập quán, có các mối quan hệ trong gia đình.Việc đi sâu nghiên cứu tục ngữ, ca dao đã phát hiện ngày càng nhiều nhữnggiá trị tiềm ẩn trong đó, giúp cho con người của xã hội đương đại có cơ sở đểthực hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, bảo tồn và phát huy truyền thống vănhóa của dân tộc. Trong qúa trình nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian, vớikhối lượng lớn tục ngữ, ca dao đã được sưu tầm, cần có các công trình nghiêncứu theo chuyên đề, đi thật sâu vào những nội dung chủ yếu của tục ngữ, cadao, qua đó làm cho người đương thời hiểu sâu hơn tục ngữ, ca dao, để cócách thức ứng xử phù hợp với kho tàng văn hoá quý giá này của dân tộc và đểrút ra những bài học bổ ích cho cuộc sống hiện tại. Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển toàn diện, hướng tới mụctiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phù hợp vớixu hướng của thời đại, Đảng cộng sản Việt Nam coi văn hóa vừa là mục tiêuvừa là động lực của phát triển. Trong quá trình mở rộng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,hội nhập với thế giới, bên cạnh những yếu tố tích cực, một vấn đề nóng bỏnghiện nay là sự hấp thụ thiếu chọn lọc những biểu hiện văn hóa ngoại lai, xa rờinhững tiêu chuẩn đạo lý dân tộc từng tồn tại hàng nghìn đời nay. Nhiều mặttiêu cực của xã hội hiện đại đã tác động vào gia đình, tạo ra nguy cơ phá vỡ sựbình yên của gia đình. Trong điều kiện đó, gia đình trong xã hội hiện đại đang là một vấn đềđược quan tâm. Quay trở về những giá trị truyền thống, trong đó có quan hệgia đình, đã trở thành xu hướng của thời đại. Việc nghiên cứu những giá trịtrong gia đình truyền thống thể hiện qua tục ngữ, ca dao là một cách thức đónggóp vào việc định hướng xây dựng gia đình trong xã hội ngày nay. Trong bối cảnh trên, việc làm sáng tỏ vấn đề phong tục, tập quán trongquan hệ gia đình qua tục ngữ, ca dao, chọn lựa và đề cao những phong tục tậpquán tốt đẹp của dân tộc, tìm ra và loại bỏ những hủ tục, sẽ góp phần đáng kểvào việc làm rõ nội hàm của khái niệm "Truyền thống văn hóa Việt Nam",chống lại lối sống thực dụng, xa rời những chuẩn mực đạo đức, giáo dục, nângcao trình độ văn hóa, củng cố gia đình, ổn định xã hội, góp phần xây dựng nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phục vụ sự nghiệp cách mạng hiệnnay cũng như lâu dài. 8
  • 9. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Với những lý do như đã trinh bầy, chúng tôi căn cứ vào tục ngữ, ca daocủa người Việt đã được sưu tầm và in thành sách để khảo sát về quan hệ giađình người Việt truyền thống. Sở dĩ chúng tôi chọn hai thể loại này vì chúnggần gũi với nhau trong phương thức hình thành, lưu truyền cũng như trong nộidung và nghệ thuật. Tục ngữ thiên về lý trí, ca dao thiên về tình cảm, hai thểloại này sẽ bổ trợ cho nhau để chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề gia đình từ cảhai góc độ lý trí và tình cảm. Thực hiện phương châm kế thừa có chọn lọc di sản văn hoá của dân tộc,chúng tôi đã tìm hiểu khá kỹ công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao củanhững bậc tiền bối và thấy như sau: Việc sưu tầm, chú giải tục ngữ, ca dao nóichung đã được tiến hành từ nửa cuối thế kỷ thứ XVIII, nhưng chưa có côngtrình nào đi sâu nghiên cứu riêng về phong tục tập quán trong quan hệ gia đìnhngười Việt mà chỉ có một số tác phẩm đề cập đến vấn đề này trong một sốchương, mục. Năm 1940, qua Kinh thi Việt Nam, Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu)nói về Gia tộc phụ hệ và Chống nam quyền để phân tích về gia đình Việt Namthể hiện qua ca dao. Năm 1960, ở tác phẩm Chống hôn nhân gia đình phongkiến trong ca dao Việt Nam, Hằng Phương nêu lên những nội dung có tínhchất chống đối trong ca dao. Từ năm 1956 đến năm 1978, qua việc phân tíchca dao, Vũ Ngọc Phan nêu lên sự đối xử bất công đối với người phụ nữ, mâuthuẫn mẹ chồng - nàng dâu, chế độ đa thê, cảnh khổ lẽ mọn, đạo tam tòng tróibuộc người phụ nữ. Từ những năm 90 đến nay, các nhà nghiên cứu đã chú ý nghiên cứu vềtục ngữ, ca dao theo chuyên đề. Có những công trình được xuất bản hoặc táibản đáng chú ý như: Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính, Ca dao tụcngữ với khoa học nông nghiệp của Bùi Huy Đáp, Tìm hiểu thi pháp tục ngữViệt Nam của Phan Thị Đào, Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việtcủa Triều Nguyên, Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp của Nguyễn TháiHòa, Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúccủa Triều Nguyên... Có hai tác phẩm đi sâu vào nội dung tục ngữ, ca dao, đặcbiệt là khảo sát khá kỹ các mối quan hệ của con người trong xã hội, đó là Thica bình dân Việt Nam của Nguyễn Tấn Long, Phan Canh và Đạo làm ngườitrong tục ngữ, ca dao Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Dân. Nghiên cứu về phong tục, tập quán trong gia đình người Việt, các côngtrình ngiên cứu khoa học trên góc độ xã hội học, văn hoá học, và đặc biệt làdân tộc học, đã có những tác phẩm chuyên sâu hoặc đã có những chuyên mụcchuyên sâu. 9
  • 10. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình PGS. Nguyễn Từ Chi trong Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc ngườicó Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ và Nhận xét bước đầu về giađình của người Việt đã đi sâu nghiên cứu về cơ cấu tổ chức của làng xã, giađình cổ truyền, đồng thời cũng chú ý đến một số mối quan hệ trong gia đình,đến vai trò người phụ nữ trong gia đình ấy. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục có phần khảo sát riêng về Phong tục trong gia tộc. Đáng chú ý là trong khi giới thiệu phong tục tập quán, tác giả thường dẫn tục ngữ để minh chứng. Trong Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình, tác giả ToanÁnh đi sâu vào đời sống gia đình, trong đó nêu lên khái niệm về gia đình theoTừ điển phổ thông và theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh. Tác giả giớithiệu tóm tắt nhưng khá sáng rõ về thành phần gia đình Việt Nam. Phó giáo sư Trần Đình Hượu dành hai chuyên mục trong tác phẩm Đếnhiện đại từ truyền thống để bàn luận về gia đình Việt Nam. Đó là Gia đìnhtruyền thống Việt Nam với ảnh hưởng của Nho giáo, và Đổi mới cách quanniệm giải phóng phụ nữ - Nhìn lại gia đình truyền thống để chuẩn bị thiết thựccho các thiếu nữ vào đời. Điểm qua các công trình, chuyên mục như trên, chúng ta thấy mộtkhoảng trống về nghiên cứu có thể bổ khuyết là khảo sát xem phong tục tậpquán trong quan hệ gia đình người Việt được phản ánh qua tục ngữ, ca daonhư thế nào? Cần nghiên cứu một cách tổng thể vấn đề này trong một côngtrình chuyên biệt để có cái nhìn toàn diện hơn, qua đó làm cho việc hiểu vềgia đình người Việt cũng như tục ngữ, ca dao người Việt được sâu sắc hơn. Trong công trình này, chúng tôi vận dụng kết hợp nhiều phương phápnghiên cứu: phương pháp nghiên cứu của các ngành văn học dân gian, xã hộihọc văn hóa, văn hóa học, phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn hoá dângian, văn học, xã hội học, dân tộc học…), phương pháp thống kê, quy nạp,phương pháp hệ thống. Vận dụng phương pháp hệ thống, chúng tôi quan niệm rằng tục ngữ, cadao nằm trong hệ thống văn học dân gian, đồng thời mỗi thể loại là một hệthống riêng, và đi sâu hơn nữa, mỗi chủ đề lại là một hệ thống con, có cấu trúcvới những nhân tố nội tại, tạo nên những chất tích hợp của chúng... Nghiêncứu tục ngữ, ca dao, bên cạnh việc tìm hiểu nội dung của từng đơn vị, chúngtôi cố gắng tìm ra những chất tích hợp từ hệ thống các chủ đề và chất tích hợpcủa toàn bộ hệ thống tục ngữ, ca dao. 10
  • 11. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Vận dụng phương pháp thống kê, chúng tôi kết hợp giữa thao tác địnhtính là thao tác thông thường của ngành nghiên cứu khoa học xã hội và nhânvăn, với thao tác định lượng là thao tác thông thường của ngành nghiên cứukhoa học tự nhiên, để cố gắng đạt được sự chính xác trong nhận định, đánh giáđối tượng nghiên cứu. Phương pháp thống kê ở đây phù hợp với đối tượngnghiên cứu, vì thường tục ngữ, ca dao là những đơn vị nhỏ, hầu hết có cùngmột kiểu cấu trúc. Chúng tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiệnphương pháp thống kê được triệt để, chính xác. Đây là phương pháp hiện đại,yêu cầu người sử dụng phải có một số kiến thức tối thiểu về tin học, đồng thờiphải cộng tác với những nhà chuyên môn về tin học để xây dựng hai phầnmềm chuyên biệt về tục ngữ, ca dao. Hai phần mềm này quản lý cơ sở dữ liệuvề tục ngữ, ca dao theo nhiều tiêu chí do người nghiên cứu quy định, trong đóquan trọng nhất là các tiêu chí về thể loại, chủ đề, nội dung và ghi chú. Phầnghi chú hết sức quan trọng, ghi đậm dấu ấn của người nghiên cứu, giúp ngườinghiên cứu phân loại chi tiết hơn tục ngữ, ca dao theo nhiều yêu cầu (như vềnội dung, về thi pháp…) để rồi có thể tổng hợp nhanh chóng các câu tục ngữ,ca dao cùng một tiêu chí, làm cho việc thống kê về số lượng và việc nhìn nhậnvề chất lượng nội dung tục ngữ, ca dao được nhanh chóng và chính xác. Đốivới văn hóa dân gian như tục ngữ, ca dao, dân ca, cổ tích... lâu nay chúng tathường vận dụng các phương pháp có tính ước lượng theo dự kiến sẵn có từngười nghiên cứu. Trong giới thiệu, nghiên cứu về tục ngữ, ca dao, mô hìnhchung thường làm là đưa ra một nhận định, lấy một vài đơn vị để chứng minhrồi phân tích đơn vị được dẫn và đi đến kết luận (thực ra kết luận đã có trướckhi khảo sát tư liệu, đây là một thao tác ngược). Có thể mô hình hoá phươngpháp đó như sau: Kết luậnNhận định Dẫn chứng Phân tích dẫn chứng (theo hướng đã nhận định) Ví dụ : Khi nhận định rằng người Việt bao dung, dễ tha thứ, có thể dẫncâu: "Ơn ai một chút chớ quên, oán ai một chút để bên dạ dày." Nhưng nếunhận định rằng người Việt ơn oán rạch ròi, có thể dẫn câu: "Ơn đền ơn, oán trảoán." Phải thống kê, so sánh giữa những câu nói lên sự bao dung và sự rạchròi, thì mới có thể rút ra kết luận khách quan, chính xác. Có tác giả khẳng định"...ca dao Việt Nam đã chứng tỏ rằng trong quần chúng nhân dân, tư tưởng 11
  • 12. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhchống đối giai cấp phong kiến vẫn là tư tưởng chủ đạo". [99:322]. Ý kiến trêncó thể đúng hoặc không đúng. Tuy nhiên không có tư liệu số liệu để chứngminh. Trong khi đó, dùng phương pháp thống kê trong hệ thống, với số liệu5.682 câu ca dao nói về giao duyên nam nữ trong tổng số 11.825 câu ca daođược sưu tầm, chiếm tỷ lệ 48%, thì có thể nói chắc chắn rằng giao duyên namnữ là chủ đề chiếm ưu thế trong ca dao. Văn hóa dân gian ở dạng nguyên hợp, đôi khi phức tạp, không thể nhặt ramột vài đơn vị theo sự lựa chọn của riêng người nghiên cứu mà nhận định rằngđó là những biểu hiện tiêu biểu cho tính dân tộc, tính Việt Nam. Phương phápnghiên cứu thích hợp là tổng hợp từ một kho tàng văn hóa dân gian tương đốiđầy đủ, bằng thống kê, so sánh, thực hành thao tác định lượng cùng với thaotác định tính để rút ra những kết luận khách quan, khoa học. Trong mọi vấn đề, mọi chủ đề, để rút ra nhận xét và kết luận, chúng tôiđều dựa trên toàn thể các câu tục ngữ, ca dao thuộc chủ đề đó. Các ý kiến khácnhau hoặc đối lập nhau (phản ánh trong tục ngữ, ca dao), chúng tôi đều ghinhận để xem xét, không đưa ra những định kiến trước. Nếu có ý kiến đối lập(phản ánh trong tục ngữ, ca dao), để xem ý kiến nào là chủ đạo, chúng tôi tínhsố lượng và tỷ lệ phần trăm. Để làm rõ hơn các nội dung giống nhau và khácnhau, chúng tôi đưa ra các bảng thống kê, so sánh. Để chỉ tính chất của các hiện tượng thể hiện trong tục ngữ, ca dao, thaycho những loại từ chỉ mức độ như: rất, vô cùng, tương đối, phần nào, ít, ít ỏi,hiếm thấy... chúng tôi diễn đạt bằng con số (trị số tuyệt đối và tỷ lệ). Chúng tôikhông dừng ở con số, bảng, biểu... vì nhận thức rằng chúng tuy cụ thể nhưngnhiều khi khô cứng, không phản ánh đầy đủ các khía cạnh của cuộc sống, nhấtlà cuộc sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm. Do đó, chúng tôi cũng rất coi trọngsự nhận xét, bàn luận bằng ngôn ngữ (định tính). Phương pháp nghiên cứu như trên rất phù hợp với loại hình tục ngữ, cadao, là loại hình có các thành tố có cấu trúc tương đối giống nhau, sự trùnghợp của các thành tố ấy có tần xuất tương đối lớn. Điều này đã được các nhànghiên cứu đi trước chỉ ra như sau: "Công trình Hình thái học truyện cổ tích (xuất bản lần đầu năm 1928) của Prốp là một thể nghiệm thành công của việc áp dụng những phương pháp nghiên cứu chính xác vào các khoa học nhân văn, vào việc giải mã các tác phẩm văn chương nghệ thuật. Mặc dù biết khả năng to lớn của việc sử dụng các phương pháp chính xác, Prốp vẫn thấy 12
  • 13. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình rõ những giới hạn của chúng. Theo ông, những phương pháp này "chỉ có thể được sử dụng và đem lại kết quả ở những nơi mà sự lặp lại có trong một phạm vi lớn. Điều này chúng ta có ở trong ngôn ngữ, điều này chúng ta có ở trong văn học dân gian" [Dẫn theo 151:138]. Chúng tôi đã khai thác một phần trong phần mềm Tục ngữ Việt Nam, Cadao Việt Nam mà chúng tôi mới xây dựng để làm tư liệu cho công trình nghiêncứu này. Với khả năng quản lý tốt tư liệu, giúp phân loại, tra cứu nhanh vàchính xác nhiều loại chủ đề và nội dung theo yêu cầu phức tạp của ngườinghiên cứu, phần mềm này sẽ là công cụ có ích cho việc nghiên cứu tục ngữ,ca dao với các đề tài còn lại. Lần đầu tiên tục ngữ, ca dao người Việt được nghiên cứu một cách hệthống trên bình diện phong tục tập quán về gia đình với khối lượng khá lớn.Qua tục ngữ, ca dao, công trình làm nổi rõ tính chất dân chủ, bình đẳng, khoanhòa, nhân văn trong quan hệ gia đình người Việt. Tuy vậy, với khối lượng khálớn tư liệu, với tính chất phức tạp của vấn đề nghiên cứu, chắc chắn rằng côngtrình không tránh khỏi những khiếm khuyết, mong bạn đọc lượng thứ. 13
  • 14. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình CHƯƠNG MỘT TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ GIA ĐÌNH ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA TỄC NGỮ, CA DAO 1. NHỮNG QUAN NIỆM CHÍNH VỀ GIA ĐÌNH VIỆT NAMTRUYỀN THỐNG 1.1. Khái niệm gia đình Gia đình là một thực thể vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội,gắn bó với nhau thông qua quan hệ hôn nhân, thân tình và dòng máu để đápứng nhu cầu về tình cảm, bảo tồn nòi giống, giữ gìn và phát huy những giá trịvăn hóa của cộng đồng và tộc người, góp phần nuôi dưỡng nhân cách conngười, phát triển kinh tế - xã hội, phản ánh sự vận động của cộng đồng và quốcgia trong tiến trình lịch sử. 1.2. Gia đình Việt Nam truyền thống Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu về văn hóaViệt Nam. Mỗi tác giả tìm cách tiếp cận khác nhau về gia đình. Phan Kế Bínhtrong Việt Nam phong tục khảo sát gia đình thông qua phong tục trong gia tộc,gồm các mục: Cha mẹ với con, anh em, chị em, thân thuộc, phụng sự tổ tông,đạo làm con, thượng thọ, sinh nhật, thần hoàng, tang ma, cải táng, kỵ nhựt, tứthời tiết lập, giá thú, vợ chồng, vợ lẽ, cầu tự, nuôi nghĩa tử. Đáng chú ý làtrong khi giới thiệu phong tục tập quán, tác giả thường dẫn tục ngữ để minhchứng. Phan Kế Bính đã đưa ra nhận xét như sau: trong quan hệ gia đình ngườiViệt, hòa mục là điều hết sức quan trọng, đạo làm con phải trọng chữ hiếu, vợchồng phải giữ chữ tiết nghĩa với nhau. Ông cũng phê phán một số biểu hiệntiêu cực đã thành tập tục trong quan hệ gia đình như trọng nam khinh nữ, đathê... Trong Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình, tác giả ToanÁnh đi sâu vào đời sống gia đình, theo cách hiểu của học giả Đào Duy Anh:Gia đình chỉ "những người thân thuộc trong một nhà." [3:8]. Ông giới thiệutóm tắt về thành phần gia đình Việt Nam và viết: "Qua các thành phần trên chothấy rằng gia đình Việt Nam bao quát rất rộng, và mọi người đều có tình thânthuộc với nhau qua mọi thế hệ, không kể bởi họ nội, ngoại, nhiều khi bởi cảhai bên nội ngoại." [3:24-25]. Ở góc độ tiếp cận khác, Phó giáo sư Trần Đình Hượu đã xem xét Giađình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng Nho giáo và viết: 14
  • 15. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình "Gia đình truyền thống Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho giáo sâu sắc, nhưng tìm ảnh hưởng đó không nên chỉ căn cứ vào lý thuyết Nho giáo, mà nên nhìn gia đình trong thể chế chính trị - kinh tế - xã hội tổ chức và quản lý theo Nho giáo, bị điều kiện hoá trong thể chế đó mà vận động phát triển. Theo chúng tôi, những điều kiện đó là: - Chế độ chuyên chế với quyền vương hữu, quyền thần dân hoá toàn thể với nền kinh tế cống nạp. - Trật tự trên dưới theo phân vị. - Tổ chức làng - họ. - Cuộc sống nông thôn và cung đình. - Sự giáo hoá sâu rộng về trách nhiệm với vua với nước, về tình nghĩa gia đình, họ hàng, về lí tưởng sống êm ấm, trên kính dưới nhường, về quyền người đàn ông, người cha, người chồng". [57:314] "Ảnh hưởng Nho giáo đến gia đình truyền thống Việt Nam là lâu dài và liên tục cho đến khi Việt Nam thành thuộc địa cuả Pháp và xã hội Việt Nam bắt đầu Âu hoá. Nhưng ảnh hưởng đó cũng có khác nhau tuỳ từng thời kỳ, từng vùng và từng loại gia đình. Trong việc nghiên cứu gia đình truyền thống và ảnh hưởng Nho giáo trong đó, cũng chỉ một vài loại gia đình thực sự có ý nghĩa". [57:315] Tác giả đã phân tích các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của nước tatrước đây để chỉ ra có bốn hạng người trong dân là sĩ, nông, công, thương,nhưng quan trọng nhất là nông và sĩ. Từ đó, ông "Phân biệt gia đình truyềnthống Việt Nam thành hai loại lớn: quan hộ và dân hộ."[48:320]. Tác giả viết: "Trong xã hội trước đây, nông dân và nhà nho có vai trò xã hội lớn nhất, gia đình nông dân và gia đình nhà nho cũng là tiêu biểu nhất. Gia đình nông dân, đặc biệt là gia đình trung nông, tiêu biểu cho cách tổ chức làm ăn sản xuất nông nghiệp nhằm tự túc và đóng góp cho làng nước. Gia đình nhà nho tiêu biểu cho cách dùng lễ nghĩa xây dựng nền nếp trong nhà và ăn ở với họ hàng làng xóm." [57:320]. PGS. Nguyễn Từ Chi nghiên cứu sâu vào cơ cấu tổ chức làng xóm vànhận xét bước đầu về gia đình người Việt, mà địa bàn chủ yếu là vùng đồngbằng và trung du Bắc Bộ. Với gia đình người Việt cổ truyền, Nguyễn Từ Chinhấn mạnh đến loại mô hình gia đình nhỏ, gia đình hạt nhân: “Gia tộc Việt, từnông thôn đến thành thị, ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, cả trên khắp đấtnước, từ lâu cũng đã giải thể đến mức gia đình nhỏ rồi, thậm chí trong tuyệt 15
  • 16. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhđại đa số các trường hợp, là gia đình hạt nhân.”[15:181. Ông nhìn sâu vào tínhchất của gia đình Việt cổ truyền như sau: “Tính chất phụ quyền của gia tộc Việt là điều đã được nhiều lần nhấn mạnh, với các nguyên lý chính làm khung cho nó: quyền uy tối cao của người cha với con cái, của người chồng đối với người vợ, đặc quyền thừa kế của con trai, đặc biệt của con trai trưởng, vai trò quán triệt, có khi hầu như độc tôn của đàn ông chủ hộ trong mọi tổ chức ngoại gia đình... Tính chất phụ quyền ấy còn được tô đậm bởi nhiều thế kỷ giáo dục nhà Nho. Trên bình diện sinh hoạt cộng đồng của làng – xã, sự vắng mặt quá “lộ liễu” của phụ nữ trong cơ cấu tổ chức càng nói lên thế lép vế của họ. Tuy nhiên, nguyên lý, nhiều khi chỉ là nguyên lý, chỉ là biểu hiện của “cấu trúc hữu thức” cộng đồng. Xét lại vấn đề dưới góc độ thực tế hơn của nền kinh tế tiểu gia đình, thì số phận người phụ nữ Việt đâu có hẩm hiu như thế.. Không phải chỉ vì họ là người tiếp tay đắc lực và không thể thiếu cho cha, cho chồng, trong lao động nông nghiệp nặng nhọc, mà còn (và chủ yếu?) bởi vì “luồng tiểu thương rất phát đạt trong vùng châu thổ [và trung du Bắc Bộ – TT], thực ra là nằm trong tay phụ nữ. Như vậy, chính người phụ nữ mang về cho gia đình một phần thu nhập không phải không đáng kể, dưới dạng tiền mặt, còn nông phẩm lại thể hiện khía cạnht tự cấp tự túc của nền kinh tế nông thôn.[192] Những tác phẩm được dẫn ra trên đây giúp chúng ta hình dung về tổ chứcvà tính chất gia đình Việt Nam truyền thống để có thể so sánh với các hìnhmẫu gia đình được tục ngữ, ca dao phản ánh. Xã hội Việt Nam cổ truyền cóhai loại gia đình cơ bản: gia đình nông dân và gia đình nhà nho. Gia đình nôngdân là một đơn vị sản xuất theo kiểu chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa. Giađình nhà nho là gia đình theo kiểu bên anh đọc sách bên nàng quay tơ. Năm 1991, công trình Những nghiên cứu xã hội học về gia đình ViệtNam ( NXB Khoa học xã hội - Hà Nội- 1991) đã công bố 12 bài nghiên cứu vềgia đình, cho chúng ta hình dung về sự biến đổi sâu sắc của gia đình truyềnthống Việt Nam trong thời kỳ mới của lịch sử Việt Nam có chủ trương đổi mớicủa Đảng ( năm 1986). Chúng ta biết rằng vào đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp tăng cường khaithác thuộc địa Việt Nam, xã hội Việt Nam phân tầng sâu sắc, quá trình Âu hoádiễn ra nhanh chóng ở các đô thị và có ảnh hưởng nhất định vào nông thônViệt Nam. Triều đình Huế đã chấm dứt việc thi cử bằng chữ Hán, Hán học bị 16
  • 17. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhthất thế, Vũ Đình Liên với bài thơ Ông Đồ chia sẻ tâm trạng của cả xã hội ViệtNam đối với tầng lớp Nho sĩ thất thế. Xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều giaitầng mới, trong đó có viên chức và công nhân. Ngày nay, từ kết quả của các công trình nghiên cứu về Nho giáo, chúngta không phủ nhận ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo đối với văn hóa giađình ở Việt Nam. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế và xã hội cho nên mẫu hìnhtruyền thống của gia đình Việt Nam có những nét rất khác với gia đình truyềnthống ở Trung Quốc. Cũng vì vậy, tư tưởng về gia đình của Nho giáo đã bịkhúc xạ trong gia đình truyền thống ở Việt Nam. Ví dụ gia đình truyền thốngcủa Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của họtộc và thường gia đình phát triển theo hướng gia đình nhỏ thành đại tộc. Trongxưng hô, người Trung Quốc đưa họ lên vị trí chủ yếu (Lưu tiên sinh, Trần đạinhân...), tên người là phụ. Trong khi đó, ở Việt Nam, gia đình thường ở quymô nhỏ, cách xưng hô thân mật hơn, nhấn mạnh tên người, đề cao tính cộngđồng “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa mua láng giềng gần” chứkhông đề cao tuyệt đối tộc họ, coi đó như là một đẳng cấp phân biệt trong xãhội. Những đặc tính nói trên được phản ánh rõ trong các mối quan hệ tronggia đình mà chúng tôi sẽ phân tích ở các chương sau qua tục ngữ, ca dao. 2. KHÁI NIỆM TỤC NGỮ, CA DAO, PHONG TỤC, TẬP QUÁN Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm về tục ngữ, ca dao,phong tục tập quán. Tuỳ từng góc độ chuyên môn, mỗi nhà nghiên cứu quantâm đến những đặc tính này hay đặc tính khác của đối tượng để định nghĩakhái niệm, nhưng nói chung đã tương đối thống nhất ở những điểm cơ bản. Kếthừa quan niệm của các nhà khoa học đi trước, chúng tôi nêu lên những kháiniệm sát với hướng nghiên cứu của chúng tôi như sau: 2.1. Khái niệm tục ngữ Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian, được hình thành và sử dụngtrong lời nói hàng ngày, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, thường ngắn gọn,có vần điệu, thành câu hoàn chỉnh, có chức năng thông báo, được phổ biếnrộng rãi trong nhân dân. 2.2. Khái niệm ca dao Ca dao là một thể loại văn học dân gian, có tính trữ tình, có vần điệu(phần lớn là thể lục bát hoặc lục bát biến thể) do nhân dân sáng tạo và lưutruyền qua nhiều thế hệ, dùng để miêu tả, tự sự, ngụ ý và chủ yếu diễn đạt tìnhcảm. Nhiều câu ca dao vốn là lời của những bài dân ca. Vào giai đoạn muộn vềsau, ca dao cũng được sáng tác độc lập. 17
  • 18. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Cần nói thêm rằng giữa tục ngữ và ca dao có sự giao thoa nhất định. Cónhững trường hợp tục ngữ dược trình bầy dưới hình thức ca dao (thể thơ lụcbát); có những trường hợp khó phân biệt là tục ngữ hay ca dao. 2.3. Khái niệm phong tục, tập quán trong quan hệ gia đình Phong tục, tập quán trong quan hệ gia đình là những thói quen đã thànhnếp lâu đời, được lan truyền rộng rãi, ăn sâu trong quan hệ giữa các thành viêntrong gia đình cũng như xã hội. Phong tục và tập quán khác nhau ở chỗ: Tập quán là thói quen hình thànhtrong các sinh hoạt mà con người tiếp thu được và tự giác thực hiện hành vicủa mình. Phong tục là quy định bất thành văn mà cộng đồng người quy ướcvới nhau có tính bắt buộc mọi người phải theo. Vì thế tục ngữ có câu "Nhậpgia tùy tục". Ai làm trái quy ước đó sẽ bị dư luận chê bai và người có quyền uynhắc nhở. Ví như trong các cuộc giỗ họ, những người có thứ bậc ngang nhauđược ăn cùng mâm. Một số làng đặt ra hương ước - đây là cách thức văn bảnhoá phong tục để yêu cầu mọi người tuân thủ. Vì thế mới có câu "Phép vuathua lệ làng". 2.4. Mối quan hệ giữa tục ngữ, ca dao và phong tục tập quán Giữa tục ngữ, ca dao và phong tục tập quán có mối quan hệ hữu cơ,tương hỗ. Phong tục, tập quán là cái được phản ánh, còn tục ngữ, ca dao làhình thức phản ánh của cái được phản ánh. Tục ngữ, ca dao xuất phát từ cuộcsống, phản ánh phong tục, tập quán, đúc kết thành kinh nghiệm và biểu bộ tìnhcảm theo quan niệm dân gian và trở lại tác động vào cuộc sống, góp phần phổbiến những phong tục tập quán tốt đẹp, phê phán những thói hư tật xấu trongxã hội. 3. NHỮNG Ý KIẾN CHÍNH XUNG QUANH CÁC MỐI QUAN HỆTRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA TỤC NGỮ,CA DAO Những nhà nghiên cứu đi trước ít nhiều đã nghiên cứu về nội dung tụcngữ, ca dao theo các góc tiếp cận khác nhau. Đóng góp của họ là rất lớn, đãthúc đẩy ngành nghiên cứu văn học dân gian phát triển. Tuy vậy, việc phântích sâu chủ đề phong tục tập quán về gia đình trong tục ngữ, ca dao chiếm tỉtrọng còn thấp trong những công trình khảo cứu về tục ngữ, ca dao nói chung.Từ năm 1969 đến năm 1971 và năm 2000 có hai công trình đi sâu vào nộidung tục ngữ, ca dao, đặc biệt là khảo sát khá kỹ các mối quan hệ của conngười trong xã hội, đó là Thi ca bình dân Việt Nam (1969 - 1971) của Nguyễn 18
  • 19. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhTấn Long, Phan Canh và Đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam(2000) của Nguyễn Nghĩa Dân. Chúng tôi xin lược trích một số công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca daocó liên quan đến chủ đề gia đình như sau: Trong Ca dao - dân ca- tục ngữ - vè, Hoàng Như Mai có bài Tình yêuvà hạnh phúc gia đình trong thơ ca dân gian, Anh Biên có bài Quan niệmvề con người trong tục ngữ, Lê Anh Hiền có bài Tục ngữ và ca dao ViệtNam với tình mẫu tử, trong đó các tác giả trình bày những biểu hiện tốt đẹptrong quan hệ gia đình được tục ngữ, ca dao phản ánh, nhấn mạnh đến vấn đềđáng quan tâm nhất là sự hoà thuận trong gia đình người Việt. Các soạn giả Thi ca bình dân Việt Nam (tập 2) đã khảo sát 6 vấn đề đặtra: - Phong tục Việt Nam xuyên qua ca dao. - Quan niệm về chế độ gia đình. - Những vui buồn trong mưu sinh. - Biến thái của tình cảm con người đối với sinh hoạt xã hội. - Tình yêu quê hương dân tộc. - Ý thức đấu tranh của người bình dân qua các chế độ thống trị. Khái quát các nội dung trên, các tác giả nêu nhận định: "… dân chúng Việt Nam bị ách đô hộ người Tàu thống trị, nền tảng của triết thuyết Nho giáo ăn sâu vào xã hội Việt Nam, ảnh hưởng vào mọi gia đình Việt Nam đến tận gốc rễ. Vậy sự chống đối của người bình dân đối với chế độ gia đình là sự chống đối giữa quan niệm người bình dân trước mọi ảnh hưởng ngoại lai của lý thuyết Khổng Mạnh." [73:161-162]. Vào năm 1940, Kinh Thi Việt Nam của Nguyễn Bách Khoa (TrươngTửu) nói về quan hệ gia đình, về Chống nam quyền như sau: "Luân lý phụquyền đặt người đàn ông lên địa vị chủ tể. Phụ nữ Việt Nam đã mỉa mai, giàyđạp cái oai quyền ấy. Họ tìm đủ tính xấu của đàn ông đem ra trào phúng, đểchứng rằng địa vị ưu thắng của đàn ông không được họ công nhận." [52.103].Qua ca dao, ông rút ra những tính xấu của đàn ông bị phụ nữ mỉa mai là:hoang đàng, đĩ thoã, phụ tình, và nhận định rằng người đàn bà đã nổi loạn, cốđạp đổ cái hình tượng đàn ông. Nguyễn Bách Khoa dành hai chương Gia tộc phụ hệ và Chống namquyền để phân tích về gia đình Việt Nam thể hiện qua ca dao: 19
  • 20. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình "Đứa con không là gì hết, người đàn bà không là gì hết, con người không là gì hết. Cha là tất cả, chồng là tất cả, đàn ông là tất cả. Đó là chân lý phụ quyền của Nho giáo, mà giai cấp sĩ phu vẫn muốn dùng làm luân lý nền tảng của xã hội Việt Nam cũ, bởi nó rất thích hợp với chế độ quân quyền và kinh tế nông nghiệp, hai nguồn quyền lợi của giai cấp ấy. Nhưng chế độ quân quyền với trạng thái nông nghiệp ở xứ ta cũng mang một hình thức đặc biệt không giống xã hội Trung Quốc. Cho nên chế độ gia tộc Việt Nam chỉ tiến được đến khuôn khổ phụ hệ là ngừng lại, không đủ điều kiện chuyển sang khuôn khổ phụ quyền tuyệt đối như ở Trung Hoa. Vì thế mà ở trong dân gian luôn luôn lưu hành một sức chống nam quyền, chống phụ quyền, chống Nho giáo rất là mạnh mẽ." [63:102]. Trong tác phẩm Chống hôn nhân gia đình phong kiến trong ca daoViệt Nam (1960), Hằng Phương viết: "Dưới chế độ phong kiến, mặc dầu bịđàn áp thậm tệ, bị luân lý phong kiến mê hoặc, nhồi sọ, nhưng những tư tưởngchống đối vẫn nẩy nở và phổ biến rộng rãi trong câu ca tiếng hát dân gian."[122:1]. Tác giả nêu lên những nội dung có tính chất chống đối trong ca daolà: - Những nỗi lo âu và đau khổ của nam nữ thanh niên thời xưa. - Cưỡng ép hôn nhân. - Tảo hôn. - Đa thê - Cảnh góa bụa. - Mẹ chồng nàng dâu, mẹ ghẻ con chồng. - Không dân chủ trong gia đình. Vào năm 1960, viết như trong tiểu luận thể hiện một tinh thần chống đốiphong kiến đáng trân trọng. Công trình nghiên cứu tuy còn sơ lược nhưngcũng đã nêu lên diện mạo phía trái của gia đình Việt Nam; tuy nhiên, nếukhông nhìn sang phía phải, thì e rằng sẽ không tìm ra những truyền thống quýbáu trong quan hệ gia đình người Việt để gìn giữ và phát huy. Nguyễn Nghĩa Dân chia tục ngữ, ca dao về đạo làm người thành hai loại:một loại về lao động, học tập, tu dưỡng rèn luyện bản thân, và loại về đạo làmngười trong quan hệ gia đình. Tác giả viết: "Tục ngữ, ca dao nêu bật truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ,"… "Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem như một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người."[19:56]. 20
  • 21. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình "Tục ngữ, ca dao cũng không quên phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưu truyền như kinh nghiệm xấu..." "Cùng với quan hệ cha mẹ con cái là quan hệ anh chị em, gần gũi và tình nghĩa. Quan hệ ruột thịt thắt chặt mối quan hệ này..." [21:57]. "Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận." [21:58]. Phần gia đình chỉ là một điểm (6 trang) trong chuyên luận trên bẩy chụctrang, do đó chỉ nêu được những ý chính mang tính nhận định khái quát, khôngđi sâu phân tích, chứng minh. Trong khi phân tích, dẫn chứng, tác giả cũngtrích dẫn tục ngữ, ca dao. Vũ Ngọc Phan viết: "Trong chế độ phong kiến, việc quy định tài sản đối với phụ nữ rất là khe khắt. Việc quy định ấy chủ yếu làm cho phụ nữ không bao giờ được độc lập về kinh tế, dù chính phụ nữ đã góp phần xây dựng kinh tế gia đình: Hỡi cô cắt cỏ đồng mầu! Chăn trâu cho khéo làm giầu cho cha. - Giàu thì chia bảy chia ba, Phận em là gái được là bao nhiêu! Trong 24 huấn điều của Lê Hiến Tông (1500) huấn điều thứ tám và thứ chín đã quy định về phụ nữ: "Khi chồng chết, phải thương yêu con vợ trước hoặc con vợ lẽ của chồng, nếu có gia tài, không được chiếm đoạt làm của riêng mình.", "Khi chồng chết mà mình chưa có con, thì phải ở lại nhà chồng, giữ việc tang lễ, không được giấu giếm chuyển vận tài sản nhà chồng đem về nhà mình". [99:338]. "Nhưng ca dao Việt Nam đã chứng tỏ rằng trong quần chúng nhân dân, tư tưởng chống đối giai cấp phong kiến vẫn là tư tưởng chủ đạo. Cho nên trong hôn nhân khi họ đã không ưng thuận, thì họ cũng không kể gì giàu sang phú quý, và cũng không tin gì ở số mệnh:" [114:339]. Vũ Ngọc Phan còn đề cập đến những vấn đề khác trong quan hệ gia đìnhnhư: mâu thuẫn mẹ chồng - nàng dâu, chế độ đa thê, cảnh khổ lẽ mọn, đạo tamtòng trói buộc người phụ nữ. Giáo sư Đinh Gia Khánh viết: “Điều 307 Lê triều hình luật quy định rằng người chồng xa cách vợ năm tháng, không thăm hỏi đi lại thì có thể bị mất vợ. Đã có con với nhau rồi thì gia hạn từ năm tháng lên một năm. Nếu vì công sai (đi việc công) thì bất luật (tức là có thể vắng nhà lâu, không bàn tới kỳ hạn). 21
  • 22. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Như vậy là quyền lợi và hạnh phúc người phụ nữ được coi trọng và được bảo vệ, trái hẳn với quan niệm nam tôn nữ ty của Nho giáo. Điều lệ thi hành từ năm Hồng Đức thú hai (1471) quy định rất rõ quyền lợi của phụ nữ trong việc thừa kế gia sản.” …“Như vậy là trong gia đình, con gái cũng được coi bình đẳng như con trai. Thật là trái với quan niệm “nữ nhân ngoại tộc”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” theo lễ giáo của nho gia.” [61: 285]. Nguyễn Tấn Long và Phan Canh nhấn mạnh đến luật pháp của phongtục, nó khiến cho chế độ cai trị phải tôn trọng lề thói của địa phương. Các tácgiả liên hệ: Trong thi ca bình dân, những tầng lớp phụ nữ đã nối tiếp nhau quanhiều thế hệ, nói lên ý thức chống đối của họ, cho nên, ngoài sự phát triển mứcsống của hệ thống kinh tế, sự chống đối giữa ý thức cai trị và ý thức tục lệchính là mầm mống phân chia trong hệ thống chính trị." [61:81]. Phân tích quan niệm về chế độ gia đình, các tác giả nêu ra 11 vấn đề là: - Ảnh hưởng của chế độ phụ hệ. - Ý thức bất mãn trong chế độ phụ hệ. - Nỗi khổ cực trong sinh hoạt gia đình bình dân. - Ý thức bảo vệ và xây dựng gia đình. - Ý thức về giáo dục gia đình. - Những khắc khoải của tình yêu qua phong tục lễ giáo. - Hiếu đạo với ông bà, cha mẹ. - Tình anh em. - Tình vợ chồng. - Tình thân thuộc. - Tình làng xóm. Trong quá trình phân tích, các tác giả đã nêu lên ảnh hưởng của chế độphụ quyền vào gia đình người Việt, thể hiện ở ý thức của con người theo quanđiểm Nho giáo: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, nghĩa là: ởnhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con (trai). Trong Thi ca bình dân Việt Nam, các tác giả cũng phân tích theo ba nộidung của giáo lý tam tòng: “Theo phân tích trên, chúng ta căn cứ vào tục ngữ, ca dao Việt Nam để nhận xét, thì người Việt Nam không chống chế độ phụ hệ, mà chống chế độ phụ quyền." ... "Người đàn bà Việt Nam thương chồng và theo chồng trên căn bản, không phải bị áp bức, bắt buộc, mà phát xuất từ tình thương, ở 22
  • 23. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình lòng mong mỏi xây dựng gia đình. Bởi vậy, chúng ta thấy trong tâm tư họ có cái gì tha thiết, như: Vai mang khăn gói theo chồng Đắng cay thiếp chịu, mặn nồng thiếp cam." [72:197-198]. Các tác giả nhận xét rằng người đàn bà bình dân đã chống lại chế độ phụ quyền bằng cách lật đổ hình tượng người đàn ông, chỉ rõ những thứ xấu xa của người đàn ông, phủ nhận ý thức tôn thờ người đàn ông: "Cho nên, nếu người đàn ông đem giá trị người đàn bà hạ nhục để khống trị9, thì người đàn bà cũng đem giá trị người đàn ông hạ nhục để chống lại. Trạng thái ấy phản ứng rất rõ rệt trong ca dao Việt Nam, ..." [72:203]. "Sự khinh miệt giữa người đàn ông và người đàn bà chứng tỏ ý thức chống đối mãnh liệt. Trong lúc chế độ phụ quyền bắt buộc người đàn bà phải sống theo đạo tam tòng, mà người đàn bà lại đem những thói hư, tật xấu của người đàn ông ra châm biếm, khác nào họ dùng những mũi tên độc bắn thẳng vào nền phong kiến, đập vỡ những áp bức, bất công mà gia đình Việt Nam đã chịu ảnh hưởng xã hội Trung Quốc.” ... "Tình thương của họ đã đặt lên trên quyền điều khiển của mẹ cha. Thực ra, không phải họ bất hiếu, hay quên ơn cha mẹ, mà chính vì họ cảm thấy chế độ phụ quyền đem đến cho đời sống họ những bất công, những thảm trạng mà chính họ phải gánh chịu hậu quả." [72:205]. ..."Tóm lại, giáo lý "tam tòng" của Khổng Mạnh đã bị đổ nát. Dòng lịch sử đấu tranh chống phụ quyền của người đàn bà chiến thắng, phá vỡ hoàn toàn cái hình tượng tôn thờ đàn ông. Trong khi chống phụ quyền, họ đã tỏ ra một thái độ cương quyết cực đoan, trắng trợn. Họ đòi bình quyền với đàn ông về mọi phương diện. Nhưng, cương quyết và cực đoan chưa phải là lợi khí mầu nhiệm trong lịch sử đấu tranh của họ. Điều thành công là họ đã khéo lôi cuốn đàn ông, lớp người tân tiến, cùng đứng chung trong ý thức chống đối của họ để tạo thành một phong trào giải phóng phụ nữ." [72:220-221]. Nhận định trên đây có nét cực đoan, đã đối lập tuyệt đối người đàn ông với người đàn bà. Về phương pháp tiếp cận nội dung ca dao, không nên coi những nội dung chống lại người đàn ông là của riêng người đàn bà, vì đó, chính xác hơn, là ý thức phê phán của cả cộng đồng đối với những thói hư tật xấu trong xã hội. Mặt khác, chống phụ quyền không phải bằng cách bêu xấu9 Tác giả dùng khống trị chứ không phải là thống trị. 23
  • 24. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhngười đàn ông, cũng không phải bêu xấu người đàn ông là nhằm chống phụquyền. Đúng ra, đó là sự nhìn nhận khách quan của các tác giả dân gian, khôngbị ràng buộc bởi ý thức phụ quyền cực đoan, đã phê phán đúng những biểuhiện xấu xa của một số người đàn ông trong xã hội. Về mặt thi pháp, khôngnên phân tích nhân vật và hình tượng trong tục ngữ, ca dao theo cách phân tíchcủa văn học thành văn, bởi vì văn học thành văn là sản phẩm của một cá nhân,mỗi tác phẩm là một sản phẩm riêng biệt, nhân vật, hình tượng trong đó mangtính độc lập tương đối, có thể được nhìn nhận một cách độc lập; trong khi đótục ngữ, ca dao là tác phẩm của tập thể, thể hiện ý thức của cả một cộng đồng,không những thế lại được hình thành và hoàn thiện trong cả một quá trình lịchsử, cũng vì vậy, từng đơn vị tục ngữ, ca dao dù có khả năng đứng độc lập vẫncó mối quan hệ mật thiết với nhau, muốn nhìn nhận chính xác những vấn đềmà nó đề cập thì phải nghiên cứu một cách tổng thể theo hệ thống. Cho nêncách phân tích nhân vật người đàn bà như trên là không phù hợp. Về ý thức bảo vệ, xây dựng gia đình, các tác giả của Thi ca bình dânViệt Nam viết rằng dân tộc Á Đông coi trách nhiệm đối với gia đình là bổnphận thiêng liêng, ý thức ấy được thể hiện mạnh mẽ trong ca dao: "Về ý thức gia đình họ (tức người bình dân) không cho yếu tố tài năng là căn bản, mà cho yếu tố hòa thuận là quan trọng thì đó chính là một triết lý sâu xa mà chúng ta không thể xem thường." "Muốn tạo hòa khí gia đình, vợ chồng thường lấy sự nhịn nhục làm đầu." ..."Tuy nhiên, thời xưa dưới chế độ phụ quyền của nền móng phong kiến, người đàn bà bị lắm điều áp chế, thành thử ý thức nhịn nhục chỉ có trong người vợ." [72:283]. Về những khắc khoải của tình yêu qua tập tục lễ giáo, có những ý chínhnhư sau: "Quyền cha mẹ định đoạt số phận yêu đương của con chính là nguyên nhân phát sinh những tâm hồn khắc khoải của nam nữ thanh niên thời bấy giờ." [72:336]. "Tóm lại, đối với phong tục lễ giáo, người bình dân bao giờ cũng cố sức bảo vệ và duy trì. Chính nhờ sự bảo vệ và duy trì ấy mà ngày nay nước Việt Nam ta còn được những mầu sắc dân tộc.” [72:342-343]. Về tình vợ chồng, các tác giả viết: "Trước nhất, chúng ta thường thấytrong ca dao Việt Nam, người bình dân quan niệm sự sống chung giữa vợchồng là một cái "đạo". [72:491]. Các tác giả đã phân tích khá tỷ mỉ các mối 24
  • 25. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình quan hệ của tình vợ chồng khi gần gũi, khi sóng gió, khi xa cách, rồi đi đến kết luận: "Tóm lại, đối với tình vợ chồng, người bình dân gọi là cái đạo. Cái đạo theo quan niệm của họ là bình đẳng, tương thân và chung thủy, khác với đạo "tam tòng" của Khổng Mạnh. Trong lúc đạo "tam tòng" tước đoạt hết quyền của người đàn bà, bắt người đàn bà phải sống lệ thuộc vào đàn ông, tạo trong gia đình quý tộc sự bất bình đẳng, thì đạo vợ chồng của người bình dân ngược lại dùng ý thức sinh hoạt làm nghĩa vụ, khiến cho nền tảng bình đẳng được bảo vệ và duy trì. Và ý thức dân chủ cũng chính là ý thức của gia đình bình dân thuở xưa." [72:418]. Nói về gia đình nhà nho, Phó giáo sư Trần Đình Hượu đã nhận xét: "Tuy thế, trong những gia đình gia thế, tay hòm chìa khoá lại là ở người đàn bà, người chồng giao hết tiền nong cho vợ và không bao giờ kiểm soát sự chi tiêu của vợ. Người đàn bà được coi là nội tướng, chủ phụ, tuy về danh nghĩa là nghe theo lời chồng, giúp chồng, nhưng thực tế thì là người chủ trì việc nhà."[57:330-331], "Nhưng quan hệ giữa nam nữ phải hình dung theo quan hệ giữa âm và dương, có chủ có tùng, không thể thiếu nhau và phải dựa vào nhau. Một bên sinh một bên dưỡng, một bên bắt đầu, khởi xướng, một bên hoàn thành, hỗ trợ cho nhau. Cho nên trong nhà đàn ông là chủ, đàn bà phải thuận tùng, nhưng đàn ông phải yêu thương kính nể vợ."[57:331]. Nhà giáo Nguyễn Nghĩa Dân nghiên cứu một cách tổng thể tục ngữ, ca dao theo phương pháp nghiên cứu văn học dân gian, và đặc biệt là phương pháp quy nạp, để luận bàn về đạo làm người được thể hiện qua tục ngữ, ca dao: "Kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp, gia đình vừa là đơn vị lao động vừa là tế bào của tổ chức xã hội, lại đề cao phụ quyền nên ở gia đình có nhiều "công thức" về đạo làm người do giai cấp phong kiến thống trị áp đặt như phụ: từ, tử: hiếu, phu: xướng, phụ: tùy, tam tòng, tứ đức; trọng nam, khinh nữ. Trong gia đình cũng có những thành kiến về "bà gia10 nàng dâu", về "dì ghẻ con chồng", về "anh em rể, chị em dâu", về "ông chú mụ o"... làm cho quan hệ gia đình thêm phức tạp. Gia đình rồi dòng họ trở thành cơ sở vững chắc ở nông thôn, từ đó có những quan hệ hẹp hòi "Một giọt máu đào hơn ao nước lã", "Chín đời họ mẹ còn hơn người dưng". Tục ngữ về đạo làm người một mặt làm nhiệm10 Từ bà gia do tác giả viết theo phương ngữ, có nghĩa là mẹ chồng. 25
  • 26. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình vụ phản ánh, mặt khác đấu tranh chống lại những tập tục thành kiến nói trên" [21:24]. Nói đến giai đoạn thế kỷ XV, tác giả nhận định: “Chính trong thời kỳ này, tục ngữ về đạo làm người chịu ảnh hưởng tư tưởng nhân văn của Nho giáo và Phật giáo có thể thẩm thấu từ trên xuống hoặc hoặc từ ngoài vào do trí thức Nho hoặc Phật (kể cả nho sĩ bình dân) làm chức năng sáng tác, đúc kết hoặc truyền đạt." [21:25]. "Cho nên, trước kia cũng như hiện nay, trong đạo làm người của Việt Nam vẫn tồn tại những tư tưởng nhân văn của đạo đức Á Đông nhưng điều cần xác định là qua tục ngữ hoặc ca dao về đạo làm người, những tư tưởng đó đã được Việt hóa, hòa vào bản sắc dân tộc, vào tinh hoa văn hóa chung về dựng nước và giữ nước hình thành từ hàng nghìn năm qua." [21:26]. "Tục ngữ, ca dao Việt Nam về đạo làm người thể hiện không chỉ tư tưởng, đạo đức mà còn thể hiện đậm nét lối sống trong đó nổi lên nếp sống cộng đồng, tình nghĩa của dân tộc với tinh thần khoan dung, gắn bó đoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để dựng nước và giữ nước." [21:27]. "Nếp sống cộng đồng, tình nghĩa nói trên của dân tộc ta bắt nguồn từ những điều kiện kinh tế nông nghiệp lâu đời, đồng thời cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội thường xuyên phải đối phó với thiên tai và ngoại xâm". [21:28]. "Quan hệ dọc trong gia đình là chữ hiếu, quan hệ ngang là chữ đễ, quan hệ vợ chồng là chữ thuận, quan hệ con cháu đối với ông bà tổ tiên là thờ kính, "Uống nước nhớ nguồn"... "Cách xử lý trong gia đình bắt nguồn từ sự thương yêu, hòa hợp." [21:29]. "...trong quan hệ nếp sống cộng đồng ta cũng có những hạn chế như gia trưởng, cục bộ địa phương, hủ tục, mê tín dị đoan... là những nhược điểm cần loại trừ khỏi đời sống hiện nay." [21:32]. Tác giả chia tục ngữ, ca dao về đạo làm người thành hai loại: một loại vềlao động, học tập, tu dưỡng rèn luyện bản thân và loại về đạo làm người trongquan hệ gia đình. Tác giả viết: "Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem như một chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người." [21:56]. "Tục ngữ, ca dao cũng không quên phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưu truyền như kinh nghiệm xấu..." 26
  • 27. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình "Cùng với quan hệ cha mẹ con cái là quan hệ anh chị em, gần gũi và tình nghĩa. Quan hệ ruột thịt thắt chặt mối quan hệ này..." [21:57]. "Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu và hòa thuận." [21:58]. Nhìn chung, phần gia đình chỉ là một điểm (6 trang) trong công trìnhkhảo luận trên bẩy chục trang, do đó chỉ nêu được những ý chính mang tínhnhận định khái quát. Tác phẩm còn có phần sưu tập, lựa chọn, giải thích tụcngữ, ca dao Việt Nam về đạo làm người theo 4 chuyên mục, trong đó cóchuyên mục thứ hai là Tục ngữ, ca dao về đạo làm người trong quan hệ giađình. Trong Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộqua một số ca dao - tục ngữ, Trần Thúy Anh đề cập đến thế ứng xử theo mộttuyến mở rộng từ gia đình, qua họ hàng – làng xóm – vùng miền - đất nước.Theo định hướng “tiếp cận văn học dân gian từ ngả đường văn hoá học”, tácgiả rút ra mấy thế ứng xử: có một tinh thần nhân văn dân gian, sự ứng biến,tính dung hợp – hoà hợp – khoa học, thế ứng xử nước đôi, lưỡng tri, đa tri,hành vi tình nghĩa, ứng xử bằng tình nghĩa. Điểm lại như trên và so sánh, chúng tôi nhận thấy giữa các nhà nghiêncứu có sự không thống nhất trong nhận định về sự kiềm tỏa của Nho giáotrong đời sống xã hội (một bên coi sự ảnh hưởng của Nho giáo vào xã hội ViệtNam là sâu và rộng, tới tận gốc rễ, một bên coi sự ảnh hưởng ấy bị hạn chếnhiều). Theo chúng tôi, không thể nói như các tác giả Thi ca bình dân ViệtNam: "...nền tảng của triết thuyết Nho giáo ăn sâu vào xã hội Việt Nam, ảnhhưởng vào mọi gia đình Việt Nam đến tận gốc rễ." [73:197]. Chúng tôi đồngtình với nhận định của Quang Đạm và Phó giáo sư Trần Đình Hượu: QuangĐạm nói rằng sự kiềm tỏa của Nho giáo bị hạn chế khi đi sâu xuống các cơtầng xã hội ở bên dưới. Phó giáo sư Trần Đình Hượu cũng đã viết: "Nho giáoảnh hưởng sâu đến loại gia đình nhà nho, nhưng cũng thấm vào toàn bộ xã hội,tức là ảnh hưởng đến cả gia đình nông dân ở một số mặt. Cả hai loại gia đìnhđó cho ta thấy hình ảnh chung của gia đình truyền thống Việt Nam." Với những cách chia nhóm phân loại, lược giải trên đây, chúng tôi thấycó hai điểm nổi bật là: - Thứ nhất, về phong tục tập quán Các tác giả nêu những ý chính là: Chế độ phụ quyền rộng rãi. Trọng namkhinh nữ, quyền người chồng bao giờ cũng nặng hơn quyền người vợ. Tục vợlẽ cũng là một tục trái với văn minh đời nay. Thích con trai. Trên kính dướinhường, ở cho trong ấm ngoài êm, lấy hoà mục làm đầu. Dựng gia tộc là mộtviệc làm được chú trọng. Nhưng gia đình quây quần với nhau thì nghĩa khí 27
  • 28. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhhẹp, kiến thức hẹp hòi, không bằng được người có giao tiếp rộng rãi. Phụng sựtổ tiên rất thành kính. Đạo làm con: hiếu thảo - biết kính trọng, thương mến,biết vâng lời, biết phụng dưỡng cha mẹ. Sự báo hiếu cho cha mẹ ở nghi lễ tangma lạc hậu phiền quá thể, ăn uống theo kiểu trả nợ miệng, làm cho nhiều ngườikhổ vì hủ tục. Đạo vợ chồng cư xử với nhau, trọng nhất là hai chữ hoà thuận.Người chồng trọng nhất là phải giữ nghĩa với vợ, mà vợ thì phải giữ tiết hạnhvới chồng. Phụ nữ phải đủ tứ đức mới gọi là hiền, lại có nghĩa tam tòng nữa.Nghĩa vụ của người chồng đối với vợ thì chỉ ăn ở cho đúng đắn, biết thươngyêu, quý trọng vợ, nhất là có tài trí, khiến cho vợ được nương nhờ. Vợ chồngđồng tâm hiệp lực. Gia đình là nền tảng của xã hội, có gia đình mới có xã hội. Ở Việt Nam, gia đình là một nền tảng vững chắc của xã hội. Gia đìnhViệt Nam bao quát rất rộng, mọi người đều có tình thân thuộc với nhau quamọi thế hệ, không kể bởi họ nội, ngoại, nhiều khi bởi cả hai bên nội ngoại. Nhìn tổng quát, tuy chưa đi sâu theo chuyên đề gia đình, nhưng nhữngtác phẩm được dẫn trên đây đều đã nêu lên những đặc trưng chính của gia đìnhngười Việt. - Thứ hai, về nội dung tục ngữ, ca dao Thông qua việc khảo sát tục ngữ, ca dao, các tác giả phân tích về quanniệm, cách ứng xử, những biểu hiện trong phong tục tập quán của người Việtxung quanh vấn đề gia đình trên những nội dung lớn là ảnh hưởng của chế độphụ hệ, phụ quyền và triết thuyết Khổng Mạnh vào gia đình Việt Nam, sựchống lại triết thuyết ấy, những nội dung chung về gia đình, quan hệ cha mẹcon, quan hệ vợ chồng, quan hệ anh chị em. Các tác giả nhận định chế độ phụ quyền có ảnh hưởng đến gia đình ViệtNam, đã tạo điều kiện cho ý thức tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tửtòng tử thâm nhập. Những biểu hiện chính của thái độ chống lại triết thuyết Khổng Mạnh,theo các tác giả, là: + Người phụ nữ chống lại chế độ phụ quyền rất mạnh mẽ, họ mỉa mai,nổi loạn, đạp đổ oai quyền đàn ông. Đem thói hư tật xấu của người đàn ông rachâm biếm, đó cũng là cách tấn công vào chế độ phong kiến. + Tình thương của người phụ nữ đặt lên trên quyền điều khiển của mẹcha, nhưng sự chống đối về ý thức “tại gia tòng phụ” không quyết liệt lắm. + Lôi kéo đàn ông, tạo thành phong trào giải phóng phụ nữ. Về những đặc tính của gia đình người Việt, các tác giả nêu: 28
  • 29. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình + Những nét chung nhất là: Tương thân tương ái. Muốn tạo hoà khí giađình thì cách ứng xử phổ biến là nhịn nhục, nhưng chỉ có phụ nữ nhịn nhục.Không lấy tình yêu trai gái làm yếu tố chính cho tình cảm gia đình, mà lấy tìnhcảm sinh hoạt làm căn bản. Gia đình là cơ sở giáo dục con người. Người dânViệt đã bảo vệ phong tục lễ giáo, nhờ thế mà ngày nay ta còn được những mầusắc dân tộc. Trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đạo hiếu được xem nhưmột chuẩn mực bao trùm để định giá đạo đức của một con người. Ngày nay,đạo thờ cúng tổ tiên còn được duy trì và tồn tại chính là nhờ ý thức hiếu đạocủa người bình dân. Gia đình rồi dòng họ trở thành cơ sở vững chắc ở nôngthôn, từ đó có những quan hệ hẹp hòi. Trong đạo làm người của Việt Nam vẫnlưu giữ những tư tưởng nhân văn của đạo đức Á Đông nhưng điều cần xácđịnh là qua tục ngữ, ca dao, những tư tưởng đó đã được Việt hóa, hòa vào bảnsắc dân tộc, góp phần tạo ra tinh hoa văn hóa chung từ thời dựng nước, trải quahàng nghìn năm hình thành và phát triển. Tục ngữ, ca dao Việt Nam thể hiệnkhông chỉ tư tưởng, đạo đức mà còn thể hiện đậm nét lối sống, trong đó nổi lênnếp sống cộng đồng, tình nghĩa của dân tộc với tinh thần khoan dung, gắn bóđoàn kết, tạo nên sức mạnh to lớn để dựng nước và giữ nước. Quan hệ dọctrong gia đình là chữ hiếu, quan hệ ngang là chữ đễ, quan hệ vợ chồng là chữthuận, quan hệ con cháu đối với ông bà tổ tiên là thờ kính, "Uống nước nhớnguồn”. Cách xử lý trong gia đình bắt nguồn từ sự thương yêu, hòa hợp. Tìnhnghĩa là chất keo sơn gắn bó mọi thành viên trong một gia đình, một địaphương và trong cả nước, tạo nên sự cố kết vững chắc. "Nghĩa" là một giá trịđạo đức có trong luân lý Khổng Mạnh nhưng "nghĩa tình" lại là sáng tạo mangbản sắc dân tộc Việt. Tình nghĩa làm cho quan hệ giữa người với người ViệtNam bền chặt trong từng cộng đồng, từ gia đình đến xã hội. Nếp sống cộngđồng, tình nghĩa nói trên của dân tộc ta bắt nguồn từ những điều kiện kinh tếnông nghiệp lâu đời, đồng thời cũng bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội thườngxuyên phải đối phó với thiên tai và ngoại xâm. Trong quan hệ nếp sống cộngđồng Việt cũng có những hạn chế như gia trưởng, cục bộ địa phương, hủ tục,mê tín dị đoan... Cùng với xu hướng phản phong của văn học dân gian ViệtNam, tục ngữ, ca dao về đạo làm người chống lại những thói hư tật xấu,những hành vi vô đạo đức, phê phán những hiện tượng bất hiếu được lưutruyền như kinh nghiệm xấu, cần phải khắc phục... + Về mối quan hệ cha mẹ con: Tục ngữ, ca dao nhấn mạnh quan hệ mẹcon, ghi lại thiên chức và tình cảm của người mẹ. Tục ngữ, ca dao cũng nêuđược truyền thống hiếu thảo của con đối với cha mẹ. Có tác giả khẳng địnhrằng qua tục ngữ, ca dao thấy quyền cha mẹ định đoạt số phận yêu đương của 29
  • 30. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhcon. Tục ngữ, ca dao phê phán những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ của conđối với mẹ. + Về mối quan hệ vợ chồng: Tục ngữ, ca dao cho ta thấy rằng trong quanniệm của người Việt, chung sống vợ chồng là một đạo lý. Vì vậy quyền hạngiữa người chồng và người vợ không phải chỉ có một chiều mà phải đặt trêntính chất tương ứng và bình đẳng. Quan hệ vợ chồng chủ yếu là tình yêu vàhòa thuận. Người phụ nữ Việt theo chồng, nhưng không theo kiểu “tòng phu”của Nho giáo, không phải theo để hầu hạ, mà để chia sẻ niềm vui, là nghĩa vụtương thân tương ái và bình đẳng xây dựng trên ý thức đồng lao cộng lực,chung thủy, khác với đạo "tam tòng" của Khổng Mạnh. Người phụ nữ ViệtNam thương chồng và theo chồng trên căn bản, không phải bị áp bức, bắtbuộc, mà phát xuất từ tình thương, từ lòng mong mỏi xây dựng gia đình. Trongluật lệ của triều đình phong kiến, có một số trường hợp, như Lê triều hìnhluật có những điều khoản tỏ ra coi trọng phụ nữ. + Về mối quan hệ anh chị em: Trong tục ngữ, ca dao, tình anh em đượcnói tới ít, nhưng cũng thiết tha. Quan hệ anh em có khi bị ý thức tư hữu chiphối, nhưng tình huyết thống vẫn giữ một vai trò thiêng liêng. 4. NHÂN TỐ TÁC GIẢ CỦA TỤC NGỮ, CA DAO VỀ QUAN HỆ GIAĐÌNH. Tác giả của tục ngữ, ca dao chủ yếu là nông dân. Xã hội Việt Nam trướctháng 8 năm 1945 có tới 95% dân chúng mù chữ. Người được học chữ Hán haychữ quốc ngữ thời ấy không nhiều, hay nói đúng là quá ít ở nông thôn ViệtNam. Phương thức sáng tác ngẫu hứng, truyền miệng trong môi trường sinhhoạt dân dã sản sinh những câu ca dao chan chứa tình cảm và hàm chứa nhiềutâm sự. Phương thức canh tác nông nghiệp cổ truyền, những luật tục của họtộc, làng quê trong một xã hội tiến triển chậm chạp là môi trường nẩy sinhnhững câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm của con người đối với tự nhiên, xã hộivà gia đình để truyền lại các các thế hệ kế tiếp. Tuy nhiên, nếu khảo sát hàng nghìn câu ca dao, tục ngữ còn lưu giữ đếnhôm nay, chúng ta dễ dàng nhận ra vai trò của những nhà nho trong việc sángtác và phổ biến những câu ca dao, tục ngữ. Cũng cần nói thêm rằng ở một sốbài viết về tác giả của tục ngữ và ca dao, một số nhà nghiên cứu đã minh chứngvề sự hiện diện của tầng lớp nho sĩ trong các cuộc hát ví phường vải, những bàidiễn ca tế thần, hát trống quân... Cũng không là ngoại lệ trong số 730 câu tục ngữ và 1.179 câu ca dao nóivề gia đình có ghi dấu ấn của nhà nho. Điều này thể hiện ở chỗ họ đã đưanhững câu tục ngữ, thành ngữ của Trung Quốc, những châm ngôn của Nho 30
  • 31. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhgiáo thành tục ngữ, ca dao của người Việt. Như "phu xướng, phụ tuỳ", "Tại giatòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử", "phu quí, vợ vinh", "Trai làm nênnăm thê bảy thiếp, gái làm nên thủ tiết thờ chồng", "Hổ phụ sinh hổ tử", "Hiếuthuận hoàn sinh hiếu thuận tử, ngỗ nghịch hoàn sinh ngỗ nghịch nhi", "Anhthuận em hòa là nhà có phúc", "Quyền huynh thế phụ",... Dấu ấn của nhà nhocòn in đậm trong những câu ca dao nói về sinh hoạt gia đình, mà đặc biệt lànhững gia đình nhà nho lấy việc học hành, thi cử làm trọng: - Ai đi đợi với tôi cùng Tôi còn sắp sửa cho chồng đi thi Chồng tôi quyết đỗ khoa này Chữ tốt như rắn, văn hay như rồng Bõ khi xắn váy quai cồng Cơm niêu nước lọ nuôi chồng đi thi. - Một chữ kinh mẹ, một chữ thờ cha Dẫu mà trăng xế, bóng anh qua cũng đành. Như vậy, rõ ràng là với tư cách tác giả dân gian, nhà nho đã dân gian hóaNho giáo. Trong số các nhà nho, chúng ta cần chú ý đến các nhà nho cấp thấp, họ làhàn nho, những người đèn sách theo nghiệp thi cử nhưng không đỗ đạt đànhphải quay về làng, sống với làng. Do có chữ nghĩa nên được dân làng kínhtrọng và họ tham gia vào các sinh hoạt văn hóa của gia đình, làng xóm, thựchành phổ biến tư tưởng Nho giáo, cả cái tích cực và tiêu cực của tư tưởng đó.Phó Giáo Sư Nguyễn Từ Chi đã nêu lên những nhận xét xác đáng về tầng lớpNho sĩ ở nông thôn như sau: Các nhà Nho mà kiến thức sách vở tạo ra một uy thế lớn trước một dân chúng gồm những nông dân hầu đều mù chữ tự tập họp thành một tầng lớp xã hội riêng, có trẻ cũng từ thế kỷ XVII. Về mặt kinh tế, tầng lớp ấy không tách lhỏi nông dân, trái lại, rất gắn bó với nông dân. Quả vậy, trừ một số ít nhờ thi đỗ mà ra làm quan, đại đa số các nhà Nho vẫn tiếp tục sống tại làng mình cuộc sống khổ ải của người nông dân thường lấy nghề dạy học làm lẽ sống. ẤY thế mà chính cái đa số vô danh đó, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, đã du nhập sâu vào nông thôn, vào từng xóm, từng nhà một, không chỉ mô hình Nho giáo, mà cả nền đạo lý hàng ngày thoát thai từ những lời dạy của Khổng Tử. [329] 31
  • 32. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Vì thế, khi tiếp cận tục ngữ, ca dao nói về quan hệ gia đình, chúng ta dễdàng tìm ra nhiều câu truyền bá tư tưởng Nho giáo bên cạnh những câu phảnkháng. Từ đó chúng ta hiểu rõ thêm tính hai mặt của triết lý sống dân gian. TIỂU KẾT Chúng tôi đã nêu lên những định nghĩa khái niệm về gia đình, tục ngữ, cadao, phong tục tập quán trong quan hệ gia đình để thống nhất hướng lựa chọntư liệu, hướng tiếp cận nội dung và phương pháp phản ánh của tục ngữ, ca dao. Chúng tôi phân tích một số công trình chính trong nước có đề cập đến giađình truyền thống Việt Nam để làm chỗ dựa cho sự so sánh sau này khi khảocứu tục ngữ, ca dao người Việt về gia đình. Với quan niệm tục ngữ, ca dao,cũng như văn học nói chung, là tấm gương phản chiếu hiện thực, cho nênthông qua tục ngữ, ca dao, chúng tôi tìm ra những nét đặc trưng của gia đìnhngười Việt truyền thống, qua đó góp phần tìm hiểu bản sắc dân tộc Việt. Khảo sát những tác phẩm đã viết về tục ngữ, ca dao xoay quanh chủ đềgia đình, chúng tôi chia ra hai loại ý kiến chính: - Loại ý kiến thứ nhất nhận định: trong xã hội phong kiến, do ảnh hưởngsâu sắc đến tận gốc rễ của Nho giáo, và sự kiềm toả nghiệt ngã của lễ giáophong kiến, các mối quan hệ trong gia đình, đặc biệt là quan hệ vợ chồng, hếtsức căng thẳng, hôn nhân trong xã hội phong kiến không mang lại hạnh phúcgia đình. Chống lại chế độ hà khắc ấy, người đàn bà đã nổi loạn, đạp đổ hìnhtượng người đàn ông. - Loại ý kiến thứ hai nhận định: sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với xãhội Việt Nam tuy sâu sắc nhưng cũng bị hạn chế, nhất là đối với gia đình nôngdân, cho nên trong quan hệ gia đình người Việt có nhiều yếu tố dân chủ, bìnhđẳng. Cuối cùng, chúng tôi đưa ra một vài kiến giải về vai trò của nhà nho bịthất thế sống ở làng quê trong việc sáng tác các câu tục ngữ, ca dao phản ánhphong tục, tập quán trong quan hệ gia đình của người Việt, và nội dung củanhững câu này bị ảnh hưởng nhất định của tư tưởng Nho giáo. 32
  • 33. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình CHƯƠNG HAI NHỮNG QUAN HỆ CHÍNH TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT THỂ HIỆN QUA TỤC NGỮ Sau khi thu thập và nhập 7.040 câu tục ngữ vào phần mềm, chúng tôi tiến hành đánh dấu theo tiêu chí thể loại, nội dung, ghi chú những câu tục ngữ nói về gia đình, trong đó có các quan hệ: Vợ chồng, Cha mẹ con, Anh chị em ruột, dâu rể. Trong việc khảo sát, phần mềm về tục ngữ đã giúp chúng tôi thống kê, tổng hợp nhanh chóng các câu có cùng một tiêu chí. Chúng tôi đã đếm được số câu về gia đình là 730 câu, bằng 10,36% tổng số câu tục ngữ. Đây là một tỷ lệ khá cao, chứng tỏ người Việt rất quan tâm đến vấn đề gia đình. (Có thể lấy một trường hợp để so sánh: Nói về vấn đề thương nghiệp, tục ngữ chỉ có 239 câu, bằng 3,39% tổng số câu tục ngữ, hoặc bằng 32,73% số câu nói về gia đình). 1. Chiếm số lượng cao nhất là số câu nói về vợ chồng - gồm 285 câu,chiếm 39,17% số câu nói về gia đình, có 229 câu về quan hệ cha mẹ con, tiếpđến là anh chị em (40 câu), dâu rể (39 câu). Nhìn qua số lượng, có thể nhậnthấy rằng đối với người Việt, trong gia đình, đáng quan tâm nhất là quan hệ vợchồng, tiếp đó là quan hệ cha mẹ con, anh chị em, cuối cùng là dâu rể. Đó là lốiđịnh giá trị rất thực tế, bởi vì suy cho cùng thì phải có vợ chồng mới có thể hìnhthành nên các quan hệ khác trong gia đình, vợ chồng là trụ cột của một giađình. Cách định giá trị này rất phù hợp với gia đình cổ truyền người Việt, mộtgia đình mà theo PGS. Nguyễn Từ Chi, “trong đại đa số các trường hợp, chungquy là gia đình hạt nhân: một cặp vợ chồng và con cái chưa vợ chưa chồng củahọ.” [330] Sau đây là phần đi sâu khảo sát từng loại quan hệ trong gia đình qua tụcngữ. 1. QUAN HỆ VỢ CHỒNG Phân loại 285 câu tục ngữ nói về quan hệ vợ chồng theo nội dung, thấynhư sau: - 31 câu nói lên sự gắn bó vợ chồng, 4 câu ngược lại. - 93 câu về mối quan hệ vợ - chồng, 46 câu về mối quan hệ chồng - vợ. - 20 câu về cách thức ứng xử trong quan hệ vợ chồng. - 87 câu về các tình huống tạo sự cân bằng trong quan hệ vợ chồng. 33
  • 34. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - 3 câu về vợ chồng trong mối quan hệ với cha mẹ. - 2 câu về vợ chồng trong mối quan hệ với làng nước. - 44 câu về những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng. (Xin lưu ý: có những câu tục ngữ mang nhiều ý nghĩa nên nhiều trườnghợp một câu được thống kê ở 2, 3 tình huống khác nhau, do đó tổng số câu tụcngữ trên đây không trùng hợp với tổng số câu tục ngữ được thống kê). Thống kê trên cho thấy người Việt xưa quan tâm nhìn nhận quan hệ vợchồng ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó đặc biệt quan tâm đến quan hệứng xử giữa vợ và chồng, giữa vợ chồng với các thành viên trong gia đình vàvới hàng xóm láng giềng. 1.1.Tình cảm vợ chồng Nét đặc trưng của người Việt là thủy chung, gắn bó với nhau. Điều nàyđược thể hiện nhất quán trong ca dao, dân ca, truyện cổ tích. Khi khảo sát tụcngữ, chúng tôi cũng có kết quả tương tự. Về số lượng, số câu tục ngữ phản ánhsự gắn bó vợ chồng nhiều gấp 5,25 lần số câu có nội dung ngược lại (31/4).Tuy mang đặc tính là thiên về lý trí, nhưng khi đúc kết về sự gắn bó, chungthủy trong quan hệ vợ chồng, tục ngữ lại biểu hiện được chiều sâu tình cảmcủa người Việt xưa. Có 10 cách thức thể hiện sự gắn bó, thủy chung. Cụ thểnhư sau: - Gắn bó trên phương diện vật chất: "Đói bụng chồng, hồng má vợ","Đói bụng chồng, đau lòng vợ", "Đói no một vợ một chồng, chia niêu sẻ đấuđau lòng nát gan". - Gắn bó trong sự hoà quyện thân thể và tinh thần: "Vợ chồng đầu gốitay ấp", "Vợ chồng chăn chiếu chẳng rời.", "Vợ chồng đồng tịch đồng sàng,đồng sinh đồng tử cưu mang đồng lần", "Thia lia quen chậu, vợ chồng quenhơi", "Vợ giống tính chồng, người ở giống tông chủ nhà", "Vợ chồng biết tínhnhau", "Làm quan hay quân, làm chồng hay vợ", "Làm tướng hay quân, làmchồng hay vợ". - Gắn bó trong sự tương hợp, hỗ trợ nhau: "Chồng như đó, vợ nhưhom", "Chồng như giỏ, vợ như hom", "Vợ có chồng như rồng có vây, chồngcó vợ như cây có rừng", "Vợ chồng như đũa có đôi", "Xấu chàng hổ ai, xấuthiếp hổ chàng". - Gắn bó trong sự sở hữu: "Nhường cơm nhường áo không ai nhườngchồng", "Đổi quần đổi áo thời hay, đổi chồng đổi vợ xưa nay chẳng lành". - Gắn bó như một sự tất yếu: "Bà phải có ông, chồng phải có vợ", "Triềuđình có văn có vũ, trong nhà có mụ có ông". 34
  • 35. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Gắn bó trong sự an phận: "Ngu si cũng thể chồng ta, dẫu rằng khônkhéo cũng ra chồng người". - Gắn bó bằng nhân nghĩa: "Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhânnghĩa","Vợ chồng là nghĩa già đời", "Vợ chồng là nghĩa trả đời, ai ơi chớ nghĩnhững lời thiệt hơn". - Gắn bó bằng tình thương: "Thương ai cho bằng thương chồng"."Thương ai ví bằng gái son nhớ chồng", "Thương chồng nên phải gắng công","Thương chồng nên phải lầm than", "Thương chồng phải bồng con ghẻ","Thương chồng phải khóc mụ gia", "Chồng em áo rách em thương, chồngngười áo gấm xông hương mặc người", "Gái thương chồng đang đông buổichợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm", "Chồng ta áo rách ta thương". - Gắn bó trọn đời: "Vợ chồng là nghĩa già đời", "Con nuôi cha khôngbằng bà nuôi ông", "Vợ chồng sống gửi thịt, chết gửi xương", "Sống quê cha,ma quê chồng." - Gắn bó tạo nên sức mạnh: "Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũngcạn". Tóm lại, sự thuỷ chung, gắn bó vợ chồng mà tục ngữ đúc kết thành quyluật được biểu hiện cả trên phương diện vật chất và phương diện tinh thần, cảở góc độ đạo lý và góc độ tình cảm, cả ở trong sự hành xử và trong kết quả củasự hành xử ấy. Về mặt đạo lý, các tác giả dân gian đã nhìn ra sự tất yếu củaviệc gắn bó vợ chồng: đã là vợ chồng thì phải gắn bó, đã có chồng thì phải cóvợ; chính sự gắn bó ấy làm cho cuộc sống được cân bằng và phát triển. Mốiquan hệ tương hỗ giữa hai vợ chồng cũng đã được chỉ ra: phẩm chất, hànhđộng của người này bao giờ cũng tác động sang người kia, cả vinh và nhục, cảthành công và thất bại; qua sự đúc kết này, tục ngữ gián tiếp khuyên răn cáccặp vợ chồng trước khi hành động phải suy xét cho kỹ tác động của việc mìnhlàm đến người kia thế nào, và nói chung là hãy sống có trách nhiệm với nhau.Về phương diện vật chất, tục ngữ nhìn nhận quan hệ vợ chồng trên hai yếu tốcơ bản nhất của cuộc sống là ăn và mặc, biểu hiện qua hai cặp trạng thái đói -no, lành - rách, thể hiện cách sống đạm bạc của người nông dân, cũng thể hiệnnhu cầu khá đơn giản của người nông dân về vật chất; mặt khác nói lên mộtphẩm chất đáng quý của vợ chồng người Việt là do thủy chung, gắn bó, càngkhốn khó, họ càng thương yêu nhau. Mặc dù bị quan niệm phong kiến đènặng, coi việc nói về chuyện chăn gối là điều cấm kỵ, thế nhưng các tác giảdân gian vẫn mạnh dạn chỉ ra rằng không những vợ chồng cần gần gũi vớinhau về tình cảm, mà còn phải gần gũi về thân thể - ấy là không những "quenhơi", "biết tính" mà còn phải "chăn chiếu chẳng rời", là "đầu gối tay ấp". Tuy 35
  • 36. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhvậy, đậm đà nhất trong quan hệ vợ chồng vẫn là tình cảm. Đáng lưu ý là trongsố 285 câu tục ngữ nói về vợ chồng, chỉ có một câu có từ yêu, còn chiếm ưuthế là các từ thương, nghĩa (10 câu có từ thương, 3 câu có từ nghĩa). Có lẽ, đâycũng là một biểu hiện của đặc trưng thể loại - tục ngữ thiên về lý trí, đòi hỏitrách nhiệm cao trong quan hệ vợ chồng: trọng nhân nghĩa, giàu tình thương.Suy nghĩ sâu hơn, có thể thấy từ thương có nghĩa rộng hơn từ yêu, trongthương đã bao hàm cả yêu, và có thương, có nhân nghĩa là có sự bảo đảm chomột quan hệ lâu bền giữa vợ chồng. Cùng với năm tháng, tình yêu có thể phainhạt, nhưng trong quan hệ vợ chồng của người Việt, thì tình nghĩa lại ngàymột đậm đà hơn. Vì có tình thương, có nhân nghĩa, nên cách ứng xử trongquan hệ vợ chồng người Việt dù có nhiều sắc thái nhưng rất nhất quán: nếumay mà vợ chồng hòa hợp thì "giữ" nhau, không "nhường" cho người khác,nhưng rủi mà vợ chồng không cân xứng, người ta vẫn cam chịu, không "thay".Chính vì thế, tục ngữ đã khẳng định một tất yếu là vợ chồng phải gắn bó đếngià, gắn bó trọn đời, không những vậy còn gắn bó với nhau khi đã sang thếgiới bên kia. Sự gắn bó ấy tạo nên sức mạnh giúp gia đình vượt qua mọi sónggió cuộc đời, làm nên được nghiệp lớn, mà câu tục ngữ tiêu biểu là "tát biểnĐông cũng cạn". Cuộc sống vốn phong phú, đa dạng, đa phương. Xuất phát từ cuộc sống,đúc kết kinh nghiệm sống, tục ngữ cũng có những câu mang nội dung tráingược nhau. Trong 285 câu nói về vợ chồng, có 4 câu ngược lại với sự gắn bó:"Vợ chồng như áo cởi ngay nên lìa", "Vợ với chồng như hồng với cốm, nàongờ như chó đốm mèo khoang", "Trai chê vợ mất của tay không, gái chêchồng một đồng trả bốn.", "Chồng ăn chả, vợ ăn nem." Sự không gắn bó cònthể hiện ở chỗ mâu thuẫn vợ chồng có thể nẩy sinh khi làm ăn thất bát: "Lúatháng bảy vợ chồng rẫy nhau.", "Lúa trỗ thập thòi, vợ chồng đánh nhau lòimắt.", "Cấy tháng bảy, vợ chồng rẫy nhau." Xem ra, sự không gắn bó được thểhiện một cách khá gay gắt, tới mức chia lìa lứa đôi. Tuy vậy, cần chú ý trongcách thức diễn đạt của tục ngữ: thường một câu có hai vế, trong đó một vếmang tính chất tạo cớ để dẫn đến vế thứ hai mang tính đúc kết, nghĩa là nộidung được thể hiện ở một vế, còn vế kia chỉ là cái cớ để giúp khẳng định nộidung mà thôi. Thường thì, với lối nói thậm xưng và đưa đẩy của dân gian, vếtạo cớ mang nội dung khá cực đoan (nói ngoa), không nên coi đó là nội dungđích thực của câu tục ngữ. Ví dụ trong câu "Công cấy là công bỏ, công làm cỏlà công ăn", thì vế đầu chỉ mang tính tạo cớ đưa đến ý cần đúc kết trong vế thứhai nhằm khẳng định tầm quan trọng của việc làm cỏ cho lúa, chứ không phảinhằm phủ định công cấy. Do chưa nắm vững đặc tính đưa đẩy của lối nói dân 36
  • 37. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhgian, đã có người chữa câu tục ngữ trên thành "Công cấy là công nhỏ, cônglàm cỏ là công lớn", làm giảm hẳn cái hay của câu tục ngữ. Trở lại câu tục ngữvề mâu thuẫn vợ chồng nói trên, thì vế "Vợ chồng rẫy nhau" là vế có lối nóithậm xưng, chỉ để dẫn dắt, nội dung đích thực nằm ở vế "Cấy tháng bẩy", cónghĩa là cấy sai thời vụ thì sẽ gặp tai họa. Nhìn chung, về số lượng, sự gắn bó,chung thuỷ trong quan hệ vợ chồng chiếm ưu thế tuyệt đối so với sự bội phảnđược thể hiện qua tục ngữ. Điều đó thể hiện tâm thức dân gian Việt hướngmạnh về sự chung thuỷ, nhân ái, coi trọng nghĩa tình trong quan hệ vợ chồng.Tuy vậy, về nội dung, câu tục ngữ về sự bội phản và mâu thuẫn trong quan hệvợ chồng cũng khá gay gắt, chứng tỏ đó là một thực tế trong xã hội xưa, cáctác giả dân gian đã phản ánh một cách khách quan. Điều này lại nói lên cáchthức ứng xử của người Việt trong quan hệ vợ chồng là rành mạch, dứt khoát,không thích mập mờ, dây dưa (trong ca dao, người Việt cũng thể hiện cách cưxử dứt khoát như vậy: Có yêu thì nói rằng yêu Không yêu thì nói một điều cho xong). 1.2. Vợ trong mối quan hệ với chồng Các tác giả dân gian rất tinh tế, phản ánh mối quan hệ vợ chồng trênnhiều phương diện, từ tinh thần tới vật chất, từ cảnh có chồng đến cảnh khôngchồng: - Xúc cảm của vợ xuất phát từ chồng: "Đói bụng chồng, đau lòng vợ". - Vợ được nhờ chồng, phải dựa vào chồng: ""Có ông chồng siêng, nhưcó ông tiên nho nhỏ","Gái mạnh về chồng", "Lấy chồng nhờ hồng phúc nhàchồng", "Phận gái theo chồng", "Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng" - Trong hôn nhân, người phụ nữ phải chịu may rủi: "Tốt duyên lấyđược chồng hiền", "Tốt mối lấy được chồng sang", "Vô duyên lấy phải chồngđần", "Chê chồng trước đánh đau, gặp chồng sau mau đánh" - Giá trị, phẩm chất của người vợ được quy định bởi người chồng:"Chồng yêu cái tóc nên dài, cái duyên nên đẹp, cái tài nên khôn.", "Phu quý,phụ vinh", "Chồng sang vợ được đi giầy, vợ ngoan chồng được tối ngày cậytrông.", "Vợ hư bởi tại thằng chồng cả nghe", "Vợ quá chiều ngoen ngoẻn nhưchó con liếm mặt, vợ phải rẫy tiu ngỉu như mèo lành mất tai." Như vậy, trong quan hệ với người chồng, thì người vợ đóng vai trò bịđộng nhiều hơn, là người phải chịu đựng, phải hy sinh. Sự bị động của người vợ thể hiện ở những yếu tố sau: Bước vào hôn nhânlà chịu sự may rủi - may thì lấy được chồng hiền, chồng sang, không may thìlấy phải chồng đần, chồng vũ phu; nhiều khi muốn trốn tránh cũng không 37
  • 38. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhđược, vì số phận đã định đoạt rồi. Về ở với chồng, người vợ phải dựa vàochồng, nhờ chồng mà có phúc, có sức mạnh, được nhờ vả trong việc nhà, vìvậy cứ phải theo chồng. Nhiều khi, giá trị riêng của người phụ nữ không cònphụ thuộc vào bản thân họ nữa, mà bị thay đổi theo cách nhìn, cách ứng xử, vịthế của chồng - chồng yêu thì mọi điều ở người vợ đều tốt đẹp, chồng chiều thìvênh vang, chồng rẫy thì tiu nghỉu, chồng giàu sang thì vợ cũng phú quý.Chồng cũng là nguồn cảm xúc của vợ - sắc thái tình cảm của người vợ biểuhiện theo tình trạng của chồng, nhưng không thấy một câu tục ngữ nào nói đếnnhững xúc cảm vui mà chỉ có xúc cảm buồn, ấy là khi chồng khốn khó thì vợđau lòng. Trên đây là những biểu hiện tiêu biểu cho chế độ phụ hệ. Sống với chồng bị phụ thuộc, chịu hy sinh như vậy, nhưng giữa có chồngvà không có chồng thì đằng nào hơn? Các tác giả dân gian đã phản ánh sinhđộng cả hai cảnh huống để ngày nay chúng ta có thể so sánh như sau: - Có chồng thì: * Gò bó: "Có chồng chẳng được đi đâu, có con chẳng được đứng lâu mộtgiờ", "Có chồng như ngựa có cương", "Gái có chồng như gông đeo cổ" * Trách nhiệm nặng nề: "Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng". * Phải chịu đựng: "Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay". * Có môi trường tốt: "Vợ có chồng như rồng có mây." * Được hạnh phúc: "Có chồng thương kẻ nằm không một mình". - Không có chồng thì: * Thiếu sức sống, chông chênh: "Gái không chồng như cối xay chếtngõng", "Gái không chồng như phản gỗ long đanh", "Gái không chồng nhưthuyền không lái", "Voi trên rừng không bành không tróc, gái không chồngnhư cóc cụt đuôi". So sánh, có thể thấy như sau: Nếu có chồng, cái mất của người phụ nữ làmất tự do, gánh trách nhiệm nặng nề với nhà chồng, phải âm thầm chịu đựngnhững điều đắng cay, còn cái được không được nói ra cụ thể, tuy thế cũng cóthể hiểu là được nhiều, vì thế mới thương kẻ không chồng. Nếu không chồng,thì chỉ mất chứ không được gì: mất động lực, mất chỗ dựa. Từ sự so sánh ấy,tục ngữ dẫn đến một kết luận tất yếu là có chồng vẫn hơn. 1.3. Chồng trong mối quan hệ với vợ Giống như trong mối quan hệ vợ - chồng, tuy số lượng không nhiều bằng,mối quan hệ chồng - vợ được xem xét ở nhiều góc độ, và tục ngữ cũng phảnánh cả hai tình trạng có vợ, không có vợ. Trong mối quan hệ với vợ, thì người chồng: 38
  • 39. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Được nhờ cậy: "Nhà khó cậy vợ hiền, nước loạn nhờ tướng giỏi","Chồng sang vì bởi vợ ngoan", "Làm ruộng phải có trâu, làm giầu phải có vợ","Gái ngoan làm quan cho chồng", "Giầu về bạn, sang về vợ" - Chịu vất vả: "Trâu đẻ tháng sáu, vợ đẻ tháng mười" - Tổn hại sức khoẻ: "Trai phải hơi vợ như cò bợ gặp trời mưa", "Vợ đẹpkém ngủ", "Vợ đẹp mặt, chồng đau lưng" - Chịu rủi ro: "Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựacùn", "Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì nhà dột, thứ ba nợ đòi", "Có phúclấy được vợ già, sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh". - Chịu gánh nặng của cuộc sống: "Một là vợ, hai là nợ", "Một vợ khôngkhố mà mang, hai vợ bỏ làng mà đi", "Con là nợ, vợ là oan gia". - Có lúc yếu thế: "Tay không chẳng thèm nhờ vợ". - Bị vợ chi phối: "Lệnh ông không bằng cồng bà". Xem như trên, thấy rằng trong mối quan hệ với vợ, nếu là vợ tốt, ngườichồng được nhờ cậy trong việc lo kinh tế cho gia đình, được tiếng tốt, đượcđóng góp trong công việc nhà nước, nhưng nếu người vợ không tốt, ngườichồng cũng phải chịu đựng rất nhiều. Người chồng cũng chịu sự rủi ro - nếulấy phải vợ dại cũng đành chịu, còn muốn được chăm chiều lại phải lấy vợ già.Chồng còn phải gánh vác công việc khi vợ đẻ, chẳng may vào vụ mùa thì càngvất vả. Trong quan hệ với vợ, nếu thái quá, chồng bị tổn hại sức khỏe. Trongcông việc chung, có khi chồng bị vợ lấn át. Tuy vậy, những điều mà ngườichồng phải chịu đựng không được tổng kết cụ thể bằng người vợ, trong khi đó,những kết luận khái quát lại rất nghiêm trọng: vợ là gánh nặng, là tai vạ oancủa cuộc đời. Xem xét hai cảnh huống mà tục ngữ phản ánh, thấy như sau: - Có vợ thì: * Gò bó: "Trai có vợ như rợ buộc chân" * Chỉn chu: "Trai có vợ như giỏ có hom", "Trai có vợ như lỗ tiềnchôn" * Lo việc nhà: "Trai có vợ tề gia nội trợ", "Đàn ông học sẩy họcsàng, đến cơn vợ đẻ phải làm mà ăn." * Có môi trường tốt: "Chồng có vợ như cây có rừng." - Không có vợ thì: * Thiếu kỷ luật: "Voi không nài như trai không vợ". * Bơ vơ: "Không vợ đứng ở lề đường". 39
  • 40. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Như thế, có vợ thì người đàn ông mất tự do, phải lo việc nhà, người đànông được người vợ thu vén, giữ của cho; không có vợ thì người đàn ông thiếukỷ luật (lại được tự do) và bơ vơ. Nhìn tổng quát mối quan hệ vợ - chồng, chồng - vợ, thấy như sau: CÓ CHỒNG CÓ VỢ Chẳng được đi đâu Như rợ buộc chân Như ngựa có cương Như giỏ có hom Như gông đeo cổ Như lỗ tiền chôn Gánh giang sơn nhà chồng Tề gia nội chợ Như rồng có mây Như cây có rừng Ngậm bồ hòn đắng cay Thương kẻ nằm không KHÔNG CÓ CHỒNG KHÔNG CÓ VỢ Như cối xay chết ngõng Như voi không nài Như phản gỗ long đanh Đứng ở lề đường Như thuyền không lái Như cóc cụt đuôi Hư Như rác như rơm -Những điểm tương đồng giữa hai vợ chồng trong hôn nhân: * Nương dựa lẫn nhau. * Mất tự do, phải vào khuôn phép. * Chịu vất vả, lo toan cho cuộc sống chung. * Chịu sự may rủi. - Những điểm khác biệt giữa hai vợ chồng trong hôn nhân: * Khi không có chồng, người phụ nữ chịu thiệt thòi, thậm chí mấtđộng lực sống, còn khi không có vợ, người đàn ông chỉ mất sự ràng buộc hoặccùng lắm là chịu bơ vơ. * Có chồng, người phụ nữ được hạnh phúc. Trong khi đó, tục ngữchỉ nói đến việc có vợ thì chồng được môi trường phù hợp, nhưng bị tổn hạisức khỏe, không nói gì về việc có hạnh phúc hay không, * Người vợ phải có trách nhiệm nặng nề với nhà chồng, còn ngườichồng thì không có trách nhiệm gì với nhà vợ. 40
  • 41. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình * Khi không hài lòng đối với cuộc sống vợ chồng, thì thái độ của người vợ là âm thầm chịu đựng, còn thái độ của người chồng thì bung phá, phủ định. 1.4. Cách thức ứng xử trong quan hệ vợ chồng Các tình huống ứng xử trong quan hệ vợ chồng: CHỒNG VỢTrạng Phải làm Không Trạng Phải làm Không Nếu Hệ quảthái được thái được làm làm làmGiận Bớt lời Không bị chê Làm lành Lui Giận Bị hành hungTới LuiHiền Bắt nạtHoà Hoà thuận Hạnh phúcthuậnHoà ThuậnĂn chả Ăn nemBình Bắt nạt Bị phê phánthường Nuôi Chiều Có con Lấy vợ Khôn hai cho chồng Thương -Chờ - Gắng công - Lầm than - Bồng con ghẻ - Khóc mụ gia Theo Nối dối 41
  • 42. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Chờ Nhường chồng chồng Đổi vợ Chẳng lành đổi chồng Chấp nhặt Chấp nhặt Cãi Cãi nhau Êm ấm nhau Chê Chồng chê chồngNhiều vợ Một chồngĐói Thương xót Hưởng thụCãi nhau Cãi nhauNgu si Cam chịuThuận Thuận Có sức mạnh Không phụ Có công Ăn ngon Bị loại trừ Qua bảng trên ta thấy: - Chồng trong 12 trạng thái thì vợ có 16 cách phải làm, 6 cách không được làm, 4 cách nếu làm sẽ tạo hệ quả xấu, 2 trạng thái tương ứng, các tình huống này tạo ra 16 hệ quả khác nhau. - Vợ trong 1 trạng thái thì chồng có 1 cách đáp ứng, có 1 cách phải làm và 1 cách không được làm. Xem xét đơn thuần về số lượng đã thấy qua tục ngữ, người Việt quan tâm hơn đến trạng thái của người chồng để đòi hỏi người vợ phải đáp ứng, trong khi đó hầu như không quan tâm đến trạng thái của người vợ để đòi hỏi người chồng đáp ứng. Quan niệm này là biểu hiện của chế độ phụ hệ ở mức độ cao. Xem xét vào nội dung của cách thức ứng xử, có thể rút ra mô hình là: Chồng có biểu hiện A thì vợ phải có cách ứng xử B dẫn đến kết quả C 42
  • 43. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - A gồm các trạng thái của chồng là bình thường, giận giữ, lấn lướt, hiền,hòa thuận, đói, ngu. đa thê. - B gồm các cách ứng xử của vợ là nhường nhịn, hòa thuận, nuôi, chiều,cam chịu, thương, theo, chờ, chung thủy. - C là hệ quả của các cách ứng xử của vợ chồng, gồm phải hy sinh,được hạnh phúc, êm ấm, có sức mạnh. Nghiên cứu sâu vào từng câu tục ngữ trong 20 câu nói về cách ứng xửtrong quan hệ vợ chồng, có thể rút ra 6 kiểu ứng xử như sau: - Vợ phải biết điều, nhường nhịn: "Đừng thấy chồng hiền xỏ chân lỗmũi", "Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời", Chê chồng chẳng bõ chồng chê","Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê", "Chồng giậnthì vợ làm lành", "Chồng giận thì vợ phải lui, chồng giận vợ giận thì dùi nóquăng", "Gái bắt nạt chồng, em chẳng có ngoan" - Vợ phải cam chịu: "Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng", "Ngu si cũngthể chồng ta, dẫu rằng khôn khéo cũng ra chồng người" - Vợ phải biết thương chồng: "Thương ai cho bằng thương chồng","Thương ai ví bằng gái son chờ chồng", "Thương chồng nên phải gắng công","Thương chồng nên phải lầm than", "Thương chồng phải bồng con ghẻ","Thương chồng phải khóc mụ gia","Chồng em áo rách em thương, chồngngười áo gấm xông hương mặc người.", "Chồng ta áo rách, ta thương.","Thương ai cho bằng thương chồng.", "Mẹ kêu mặc mẹ, thương chồng phảitheo." - Vợ phải chiều chồng: "Chiều người lấy của, chiều chồng lấy con","Chiều người lấy việc, chiều chồng lấy con". - Vợ phải chung thuỷ: "Trai làm nên năm thê bảy thiếp, gái làm nên thủtiết chờ chồng.", "Trai tân gái goá thì chơi, tránh nơi có vợ, xa nơi có chồng.","Gái chính chuyên chẳng lấy hai chồng." - Vợ phải cống hiến, chồng phải công bằng: "Gái có công chồng khôngphụ" Từ 6 cách thức ứng xử trong quan hệ vợ chồng, có thể rút ra nhận xétnhư sau: Tục ngữ hướng vào việc yêu cầu người phụ nữ phải có cách ứng xửthích hợp với các trạng thái của chồng. Dù chồng ở trạng thái nào, ứng xử cụthể thế nào, thì người phụ nữ cũng theo cái tình chứ không theo cái lý. Cái tìnhdẫn dắt khiến người phụ nữ bỏ qua mọi tiêu chí về một người đàn ông, chỉ cầnngười đó là chồng mình cũng đủ để mình tôn thờ. Theo cái tình, người phụ nữphải chịu mọi éo le của cuộc đời, từ việc phải gắng công, phải chịu lầm than,tới việc phải làm cái điều phi lý là lấy vợ lẽ cho chồng, bồng con riêng của 43
  • 44. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhchồng, phải chung thủy, trong khi chồng năm thê bảy thiếp. Theo cái tình, cólúc người vợ mù quáng theo chồng, vi phạm đạo làm con. Chỉ có một tìnhhuống trong đó người vợ đóng vai trò chủ động là có công thì thái độ củangười chồng phải là không phụ - cách đáp ứng này không tương xứng với hànhđộng của người vợ, tục ngữ đòi hỏi người đàn ông quá ít. Duy có một câumang sắc thái phản ứng tiêu cực của người phụ nữ là làm việc xấu để đáp lạiviệc xấu của chồng (ăn chả - ăn nem), có thể thấy đó là khi người phụ nữ đã bịđẩy đến tột cùng của sự chịu đựng nên phải phản ứng ngầm như vậy. Qua phần khảo sát về tục ngữ về quan hệ vợ chồng trên đây, chúng tôi cónhận xét như sau: Trong quan hệ vợ chồng, sự hòa thuận là quan trọng nhất.Muốn có sự hòa thuận, thì phụ nữ phải nhường nhịn, hy sinh - phụ nữ đóngvai trò điều tiết quan hệ gia đình. Như thế, sống trong gia đình phụ hệ, nhưngngười phụ nữ Việt không bị lệ thuộc hoàn toàn vào người chồng mà vẫn cóvai trò trong gia đình, với cách thức ứng xử mềm mại, uyển chuyển, trọng tìnhnghĩa. 1.5. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng Tục ngữ có lúc phản ánh trực tiếp, nhưng phần lớn là nói gián tiếp vềnhững biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng, với số lượng không ít - 44câu, bằng 15,43% tổng số câu tục ngữ nói về quan hệ vợ chồng. Đúc rút lại,thấy có 6 loại tiêu cực như sau: - Đa thê: "Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi","Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, lương vua khỏi đóng, áo chồng khỏi may", "Một vợnằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo", "Trai làm nênnăm thê bảy thiếp, gái làm nên thủ tiết thờ chồng", "Lắm con lắm nợ, lắm vợnhiều cái oan gia", "Lắm duyên nhiều nợ, lắm vợ nhiều cái oan gia". - Vũ phu: "Chê chồng trước đánh đau, gặp chồng sau mau đánh.". - Mất dân chủ: "Muốn nói không, làm chồng mà nói." - Cờ bạc, rượu chè: "Bởi chồng cờ bạc nên lòng chẳng thương", "Lấychồng cờ bạc như voi phá nhà", "Lấy chồng cờ bạc là tiên, Lấy chồng chè rượulà duyên nợ nần", "Lấy chồng chè rượu là tiên, lấy chồng cờ bạc là duyên nợnần" - Phụ bạc: "Giầu đổi bạn, sang đổi vợ", "Phụ vợ, không gặp vợ", "Chồngăn chả, vợ ăn nem". - Độc ác: "Tay tiêm thuốc cống, miệng mời lang quân.", "Gái giết chồngchứ đàn ông không ai giết vợ." Đề cập đến 6 loại tiêu cực nói trên, thái độ của các tác giả dân gian khônggay gắt. Nói đến chế độ đa thê, tục ngữ không phê phán trực tiếp, mà chỉ châm 44
  • 45. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhbiếm nhẹ nhàng, thậm chí châm biếm ngược đối tượng - châm biếm chínhngười phụ nữ. Điều này có thể giải thích được vì trong chế độ phong kiến, đathê được thừa nhận chứ không bị coi là vi phạm pháp luật như hiện nay. Đếnthói vũ phu, tục ngữ cũng chỉ phản ánh gián tiếp, coi nó như một cách thửthách sự khôn ngoan của người vợ. Tệ cờ bạc bị phê phán khá nghiêm khắc,nhưng trong mối quan hệ vợ chồng, thói hư này cũng chỉ được nói gián tiếp,nhẹ nhàng. Điều này cho thấy tục ngữ phản ánh khá nhất quán thái độ ứng xửcủa người vợ đối với chồng - ứng xử theo tình chứ không theo lý. Chồng cờbạc thì vợ chỉ không thương, chứ cũng không dùng lý lẽ để phê phán. Có mộtkết luận bất ngờ mà tục ngữ nêu ra khi nói về người phụ nữ là giết chồng,không những vậy, mà còn khẳng định chỉ phụ nữ mới giết chồng, còn đàn ôngkhông ai giết vợ! Điều này có hai mặt: một mặt phản ánh rằng trong thực tế cóhiện tượng phụ nữ giết chồng, mặt khác phản ánh sự khắt khe quá đáng của dưluận đối với tội lỗi của người phụ nữ. Thực ra, trong cuộc sống, các vụ án giếtvợ không phải là không có, nhưng chỉ những vụ án giết chồng mới bị xã hộilúc đó coi là nghiêm trọng, trái với lẽ ứng xử thông thường của người phụ nữ.Chúng tôi nghĩ đây là câu tổng kết sai lầm nhất của các tác giả dân gian, thểhiện sự bất bình đẳng trong đối xử với phụ nữ, quá nghiệt ngã trong xem xétphụ nữ, cũng là biểu hiện của tư tưởng trọng nam khinh nữ của chế độ phụquyền. Tuy nhiên, cách tổng kết sai lầm như thế chỉ xảy ra trong một trườnghợp, cho thấy ảnh hưởng của Nho giáo vào xã hội Việt Nam tuy có mạnhnhưng không đều khắp, không có sức chi phối toàn bộ nhận thức dân gian. Qua tục ngữ thấy rõ đặc tính nổi bật của người phụ nữ Việt xưa lànhường nhịn, giàu tình thương, hy sinh, và tuy bị đối xử rất khắt khe vẫn cóvai trò quan trọng trong đời sống gia đình, do chính sự phấn đấu vươn lên củangười phụ nữ và do người Việt vẫn giữ được truyền thống của dân tộc là trọngmẫu. 1.6. Những tình huống tạo sự cân bằng trong quan hệ vợ chồng Tuy trong đa số tình huống, đa số cách ứng xử, người phụ nữ đều ở thế bịđộng, phải nhún nhường, chịu nhiều thiệt thòi, nhưng tục ngữ cũng nêu lênnhững tình huống nói về sự bình đẳng, vai trò chủ động của người vợ, lấy lạisự cân bằng trong quan hệ vợ chồng. - Vợ tốt là mơ ước của đàn ông: "Vợ hiền hoà, nhà hướng Nam." - Vợ chồng bình đẳng: * Bình đẳng trong hành động: "Chồng chèo thì vợ cũng chèo", "Chồngcần vợ kiệm là tiên; ngông nghênh nhăng nhít là tiền bỏ đi.", "Chồng ăn chả,vợ ăn nem.", "Bát còn có lúc xô xát, huống chi vợ chồng.", "Cơm chẳng lành 45
  • 46. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhcanh chẳng ngon, chín đụn mười con cũng lìa.", "Thuận vợ thuận chồng tát bểđông cũng cạn","Chồng hoà, vợ thuận." * Bình đẳng trong sự đánh giá: "Gái có công, chồng chẳng phụ.", "Tôi tớxét công, vợ chồng xét nhân nghĩa", "Chồng sang vợ được đi giầy, vợ ngoanchồng được tối ngày cậy trông.", "Của chồng công vợ.", "Vợ chồng là nghĩatrả đời, ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn.", "Vợ có chồng như rồng có mây,chồng có vợ như cây có rừng.", "Vợ chồng như đũa có đôi." * Bình đẳng trong tâm lý, tình cảm: "Trai nhớ vợ cũ, gái nhớ chồngxưa", "Vợ chồng biết tính nhau.". - Vợ có vai trò chủ động, có quyền lựa chọn, có giá trị, đòi hỏi giá trịtương ứng: "Đừng thấy chồng hiền, xỏ chân lỗ mũi.","Củi mục khó đun,chồng lành dễ khiến, chồng khôn dễ chiều.", "Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễxài.", "Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai.", "Gái bắt nạt chồng, em chẳng cóngoan.", "Lấy chồng cho đáng bù nhìn giữ dưa.", "Lấy chồng cho đáng hìnhdong con người.", "Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang điểm máhồng răng đen.", "Chẳng tham nhà ngói ba toà, tham vì một nỗi mẹ cha hiềnlành.", "Chẳng tham nhà ngói rung rinh, tham về một nỗi anh xinh miệngcười.", "Chẳng tham vựa lúa anh đầy, tham năm ba chữ cho tày thế gian.","Lấy vợ chọn tông, lấy chồng chọn giống.", "Lấy chồng hơn ở goá.", "Traikhôn kén vợ chợ đông, gái khôn kén chồng giữa đám ba quân." - Vợ có vai trò quan trọng trong cuộc sống gia đình: "Có chồng phảigánh giang sơn nhà chồng","Giàu về bạn, sang về vợ.", "Chồng sang vì bởi vợngoan.", "Gái khôn thì chồng con nhờ, gái đần đơm đó thả lờ trôi sông.", "Làmruộng phải có trâu, làm giàu phải có vợ.", "Xấu thiếp, hổ chàng." - Vợ được đối xử công bằng: "Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng." -chống lại tư tưởng phong kiến "thủ tiết thờ chồng", trói buộc phụ nữ trong giađình chồng, mặc dù không còn chồng nữa, chống lại quy định của chế độphong kiến: "Trong 24 huấn điều của Lê Hiến Tông (1500) huấn điều thứ támvà thứ chín đã quy định như sau về phụ nữ: "Khi chồng chết, phải thương yêucon vợ trước hoặc con vợ lẽ của chồng, nếu có gia tài, không được chiếm đoạtlàm của riêng mình.", "Khi chồng chết mà mình chưa có con, thì phải ở lại nhàchồng, giữ việc tang lễ, không được giấu giếm chuyển vận tài sản nhà chồngđem về nhà mình". [Dẫn theo 99:332]. Câu tục ngữ này nêu lên hướng ứng xửphù hợp với quy luật xã hội: người phụ nữ chỉ làm dâu khi có chồng, đã giántiếp chống lại quy định của nhà nước phong kiến muốn trói buộc người phụ nữvới nhà chồng, kể cả những trường hợp không còn chồng (như chồng chết). 46
  • 47. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Vợ điều tiết quan hệ gia đình: "Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời.","Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê.", "Chồng giậnthì vợ làm lành.", "Chồng tới vợ lui, chồng hoà vợ thuận." - Vợ chi phối chồng: "Lệnh ông không bằng cồng bà.", "Nhất vợ nhìtrời." - Vợ điều tiết cuộc sống của chồng: "Trai có vợ như giỏ có hom", "Traicó vợ như rợ buộc chân.", "Trai có vợ như lỗ tiền chôn.", "Trai có vợ tề gia nộitrợ." - Chồng cùng lo việc nhà: "Có ông chồng siêng như có ông tiên nhonhỏ.", "Đàn ông học sẩy học sàng, đến khi vợ đẻ thì làm mà ăn." - Chồng có lúc yếu thế: "Tay không chẳng thèm nhờ vợ.", có lúc phảitrả giá: "Phụ vợ, không gặp vợ." - Vợ chồng đều phải chịu sự may rủi: "Vợ chồng may rủi là duyên, vợchồng hoà thuận là tiên trên đời." * Chồng thì: "Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ hai nhà dột, thứ ba rựacùn.", "Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì nhà dột, thứ ba nợ đòi", "Thứ nhấtvợ dại trong nhà, thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn." * Vợ thì: "Chồng dại, luống tổn công phu nhọc mình.", "Chồng ăn giò vợco chân chạy, chồng ăn mày mạy vợ lạy vợ về.", "Vô duyên lấy phải chồngđần.", "Tốt duyên lấy được chồng hiền.", "Chồng tốt ai chẳng muốn lấy, biếtgiá chồng đáng mấy mà mua." - Vợ chồng chê nhau: "Chê chồng chẳng bõ chồng chê.", "Chê thằngmột chai, lấy thằng hai nậm." - Vợ chồng có nghĩa vụ với nhau: "Trai nuôi vợ đẻ gầy mòn, gái nuôichồng ốm béo tròn cối xay." - Vợ chồng có thể giáo dục lẫn nhau: "Mài gươm dạy vợ, giết chókhuyên chồng", "Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về.", "Conhư bởi tại cha dung, vợ hư bởi tại anh chồng cả nghe.", "Vợ hư bởi tại thằngchồng cả nghe." (Tuy nhiên, mức độ giáo dục có khác nhau, vợ chỉ khuyên,còn chồng thì được dạy.) - Chấp nhận một sự tương đối: "Được cả đôi, Thiên Lôi đánh một.","Thế gian được vợ hỏng chồng, có đâu lại được cả ông lẫn bà.", "Thế gianđược vợ hỏng chồng, có đâu vợ chồng mà được cả đôi." 47
  • 48. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Từ những tình huống thể hiện sự cân bằng trong quan hệ vợ chồng, cóthể lập một bảng như sau: CHỒNG VỢ 1. Chèo 1. Chèo 2. Cần 2. Kiệm 3. Sang 3. Sang 4. Ăn chả 4. Ăn nem 5. Có của 5. Có công 6. Hòa 6. Thuận 7. Chê vợ 7. Chê chồng 8. Không phụ 8. Có công 9. Thuận 9. Thuận 10. Nhớ vợ cũ 10. Nhớ chồng xưa 11. Nuôi vợ 11. Nuôi chồng 12. Đánh bạc 12. Đánh bài 13. Sang 13. Sung sướng 14. Cậy trông 14. Ngoan 15. Sai khiến chồng 16. Bắt nạt chồng 17. Ngủ tùy chồng 18. Lấy chồng cho đáng (với mình) Bảng trên cho thấy: - Vợ chồng có 14 cặp tình huống thể hiện sự cân bằng trong quan hệ. - Riêng vợ còn có thêm 4 tình huống thể hiện vai trò chủ động của mìnhso với chồng. Những tình huống cân bằng giữa hai vợ chồng: Đũa có đôi, Nhân nghĩa,Biết tính nhau, Chịu may rủi, Hòa thuận, Có lúc xô xát, Mâu thuẫn thì chia lìa,Sức mạnh đoàn kết, Nghĩa trả đời. 48
  • 49. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Cả nam và nữ đều góp phần làm hài hòa hoặc không hài hòa quan hệ vợ chồng: HÀI HÒA KHÔNG HÀI HÒA CHỒNG VỢ CHỒNG VỢ Đẹp Đẹp Bé Lớn Cần Kiệm Dại Già Trẻ Trẻ Già Dữ Khôn (6) Ngoan (2) Ngu Lành (2) Lớn Bé Bé Lớn Sang (4) Hèn Thấp Cao Tốt Rẻ Có mẹ cha hiền Chửa hoang lành Tươi tắn Hiền Bắt nạt chồng Có học Con tông nhà nòi Con dòng Dại Trưởng nam (3) Khôn (3) Bị chồng rẫy Làm quan Là học trò Hay ăn ngon Nhà ở giữa làng Đần (4) Cờ bạc Rượu chè Chê chồng Bị chồng chê Con một Con một Cùng tuổi với vợ Cùng tuổi với chồng Hòa thuận Hòa thuận Từ những tình huống trên đây, có thể rút ra một số nhận xét như sau: 49
  • 50. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Khi lựa chọn "đối tượng", người đàn bà đòi hỏi ở người đàn ông nhiềunhất là vị thế xã hội (làm quan, trưởng nam, sang), người đàn ông đòi hỏi ởngười đàn bà nhiều nhất là về tính nết: hiền hòa, đức hạnh. Các tác giả dângian quan tâm nhiều hơn về tiêu chuẩn của người chồng so với người vợ (9 câuso với 5 câu), chứng tỏ để đi tới hôn nhân, người phụ nữ băn khoăn nhiều hơnđến giá trị của người chồng tương lai, điều này có thể được chứng minh thêmở câu: "Chọn dâu thì dễ, chọn rể thì khó." - Khi đã thành gia thất, tiêu chuẩn của một người chồng, quan trọng nhấtlà về trí (tiêu chuẩn khôn xuất hiện nhiều nhất, 6 lần), tiếp đó là sang, nhà ởgiữa làng (đều 4 lần) - thực ra hai từ này đều thể hiện một nghĩa là vị thế xãhội của người chồng; trong cơ cấu làng ở nông thôn Việt Nam xưa, có dân bảnquán và dân ngụ cư, dân chính cư là dân gốc, thường ở giữa làng, được coitrọng, còn dân ngụ cư là dân nơi khác đến, thường ở rìa làng, hay bị xemthường. Về người vợ, tiêu chuẩn cũng là trí tuệ (khôn - 3 lần), có đức tính tốt(hiền, ngoan). Những điều được coi là không tốt ở người chồng cũng thuộc về trí tuệ(đần, dại, ngu), về phẩm chất (dữ, hèn, cờ bạc, rượu chè), còn ở người vợ cũnglà về trí tuệ (dại), về phẩm chất (chửa hoang, bị chồng rẫy, hay ăn ngon, bắtnạt chồng). So sánh với nhận định của các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam, trongđó viết rằng về ý thức gia đình thể hiện qua tục ngữ, ca dao, người bình dânkhông coi tài năng là căn bản, thấy rằng đó là nhận định thiếu chính xác. Thựcra, người bình dân rất coi trọng tài năng, trí tuệ vì biết rằng đó cũng là một yếutố đảm bảo cho cuộc sống gia đình có được hạnh phúc. Như vậy, trong khi nhìn nhận quan hệ vợ chồng, nhân dân lấy các tiêuchí về tinh thần chứ không căn cứ vào tiêu chí vật chất, thể hiện quan niệm rấtđúng đắn về hạnh phúc lứa đôi - được quyết định ở những giá trị tinh thần chứkhông phải do vật chất. Nhìn chung, có 16 cách thức tạo sự cân bằng trong quan hệ vợ chồng,trong đó vai trò của người phụ nữ được đề cao. Qua các cách thức này, hìnhảnh người phụ nữ được hiện lên tương xứng với nam giới, bằng những hànhđộng bình đẳng với nam giới và được đánh giá ngang hàng với nam giới. 1.7. Vợ chồng trong mối quan hệ với cha mẹ Tục ngữ ít xem xét vợ chồng trong mối quan hệ với cha mẹ, và sự tổngkết có những kết luận trái ngược nhau: 50
  • 51. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Nhìn chung, cha mẹ quan trọng hơn: "Mất mẹ mất cha thật là khó kiếm,chớ đạo vợ chồng chẳng hiếm gì nơi" - Người chồng coi trọng cha mẹ hơn: "Bình phong cẩn ốc xà cừ, vợ hưrầy vợ, đừng từ mẹ cha". - Có lúc người vợ coi nhẹ mẹ: "Mẹ kêu mặc mẹ, thương chồng phảitheo". Một lần nữa, chúng ta thấy người phụ nữ thường ứng xử bằng tình chứ ítbằng lý, có khi vì tình lớn quá mà bỏ qua cả đạo lý làm con. Mặt khác, sựkhông thống nhất trong quan niệm được nêu ở những câu tục ngữ khác nhau làchuyện bình thường, bởi vì tục ngữ là sản phẩm của tập thể, diễn ra trong mộtkhông gian rộng và thời gian dài, không phải chỉ thể hiện quan niệm của mộtngười hay một loại người, mà thể hiện quan niệm của rất nhiều người, rấtnhiều loại người khác nhau trong xã hội, từ đó có những câu tục ngữ đem đếnnhững nhận thức trái ngược nhau. 1.8. Vợ chồng trong mối quan hệ với xã hội Nông thôn Việt Nam xưa bị phân chia thành nhiều làng, với cơ cấu tổchức khá chặt chẽ, có phần cô lập với xã hội nói chung. Theo tài liệu Nôngthôn Việt Nam của nhóm Nghiên nông thôn công bố ở Sài Gòn tháng 11 năm1974 (in rô nê ô), thì tại nông thôn Việt Nam xưa,"- Làng là một đơn vị kinh tếtự túc và gần như biệt lập, làng này với làng kia ít liên lạc với nhau, làng cũngít liên lạc với thành phố, làng nào cũng có sản xuất lúa gạo, rau trái, hoa quả,gà vịt, heo, bò... - Đơn vị sinh hoạt trong làng là gia đình: Gia đình là một định chế chiphối về mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục. Mọi sinh hoạt của cánhân đặt trực tiếp dưới quyền điều khiển của một cá nhân là chủ gia đình" [70:34]. Trong điều kiện kết cấu xã hội như vậy, tư tưởng cục bộ là một đặc trưngcủa người nông dân xưa. Tư tưởng này được thể hiện đậm nét trong quan niệmvề hôn nhân của người Việt thông qua tục ngữ. Người ta muốn mọi việc trênđời đều khép kín trong lũy tre làng, ngay cả việc xây dựng gia đình cũng vậy:"Chồng khó giữa làng hơn chồng sang thiên hạ", "Lấy chồng khó giữa lànghơn lấy chồng sang thiên hạ" - tiêu chí đảm bảo cho sự cục bộ lớn hơn hẳn tiêuchí về phẩm chất của người chồng. Tuy vậy, khi nhấn mạnh cái tình trong quan hệ vợ chồng, tục ngữ đã mởrộng không gian: "Giàu trong làng trái duyên khôn ép, khó nước người phảikiếp cũng theo." Một lần nữa, chúng ta thấy lối nói thậm xưng của dân gian: 51
  • 52. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhmở rộng vô cùng về không gian nhưng không nhằm đưa đến kết luận về khônggian, mà chỉ nhằm nói cho cùng cái cần coi trọng là tình duyên. 2. QUAN HỆ CHA MẸ CON Số câu tục ngữ nói về quan hệ cha mẹ với con là 226 câu, chiếm 30,95%số câu nói về gia đình, trong đó có thể chia làm 4 mối quan hệ: quan hệ chungcha mẹ con, quan hệ con - cha mẹ, quan hệ mẹ con, quan hệ cha - con. 2.1. Quan hệ chung cha mẹ với con Qua 108 câu tục ngữ, các tác giả dân gian nêu lên khá đầy đủ các mốiquan hệ giữa cha mẹ với con. - Cha mẹ bị động: "Cha mẹ sinh con trời sinh tính.", "Sinh con ai nỡ sinhlòng, mua dưa ai biết trong lòng quả dưa.", "Sinh con ai nỡ sinh lòng, sinh conai chẳng vun trồng cho con." - Cha mẹ là chỗ dựa cho con: "Bé thì nhờ mẹ nhờ cha, lớn lên nhờ vợ,lúc già nhờ con.", "Cha sinh mẹ dưỡng." - Cha mẹ vất vả vì con: "Có con phải khổ vì con.", "Có con tội sống,không có con tội chết.", "Cha lừa, mẹ ngựa.", "Hai vợ chồng son, đẻ một conhoá bốn.", "Con là nợ, vợ là oan gia." - Cha mẹ tốn kém vì con: "Của mòn, con lớn." - Cha mẹ mất tỉnh táo vì con: "Mấy ai biết lúa gon, mấy ai biết con ác." - Cha mẹ phải điều tiết quan hệ gia đình để đảm bảo quyền lợi cho con:"Yêu con cậu, mới đậu con mình." - Cha mẹ dựa vào con: "Giàu lúc còn son, giàu lúc con lớn.", "Bé thì nhờmẹ nhờ cha, lớn lên nhờ vợ, lúc già nhờ con." - Cha mẹ ứng xử với con: * Phải dạy dỗ: "Có con không dạy để vậy mà nuôi", "Nuôi conchẳng dạy chẳng răn, thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng.", "Muốn sang thì bắccầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.", "Uốn cây từ thuở còn non, dạycon từ thuở con còn ngây thơ.", "Dạy con từ thủa còn thơ, dạy vợ từ lúc bơ vơmới về." * Phải chăm lo về vật chất: "Có của để cho con, không có để nợ chocon." * Phải hy sinh: - Nuôi con ai nỡ kể tiền cơm.", "Nuôi con khôngphép kể tiền cơm." * Phải gần gũi: "Con đâu cha mẹ đấy." * Phải có trách nhiệm với con: "Đói lòng con héo hon cha mẹ","Sinh con ai chẳng vun trồng cho con". 52
  • 53. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình * Có lúc bất công với con: "Con dòng thì bỏ xuống đất, con vật thìcất lên sàn." Qua các nội dung trên đây, thấy tục ngữ phản ánh đầy đủ quá trình từ khicha mẹ chưa sinh con, đến lúc nuôi con khôn lớn rồi về già nhờ con, cách thứcứng xử với con. Tục ngữ đúc kết quan hệ cha mẹ con theo nhiều chiều, từ tinhthần tới vật chất, từ chiều tích cực đến chiều tiêu cực. Tình trạng "sinh con trời sinh tính", "ai nỡ sinh lòng" thể hiện sự bị độngcủa cha mẹ khi sinh con - ai cũng mong sinh được con tốt tính, nhưng nhiềukhi lại sinh con trái tính. Có ý kiến phê phán hai câu này mang tính duy tâm,phủ nhận vai trò của con người. Nhưng cần hiểu rằng, trong quan niệm dângian, con người bên cạnh tính có nết - "Cái nết đánh chết cái đẹp"... Vậy cáitính là do tự nhiên sinh ra, hoặc nói theo sinh học là do di truyền, còn nết thìdo rèn mà nên. Chính vì vậy, tục ngữ coi trọng vai trò của giáo dục, việc dạydỗ con được nêu lên hàng đầu trong trách nhiệm của cha mẹ với con - 4 câutục ngữ nói về điều này - không những vậy, phải giáo dục từ rất sớm - "dạycon từ thủa con còn ngây thơ", "dạy con từ thủa còn thơ", bởi vì nếu khôngchịu giáo dục, cứ để vậy mà nuôi", chắc chắn con sẽ chẳng nên người. Tụcngữ cũng đã khẳng định công lao to lớn của cha mẹ đối với con, nhìn chung,đó là sự hy sinh về tinh thần và vật chất, sự hy sinh vô tư, để may lắm khi giàđược "dựa vào con". Đáng chú ý nhất là tục ngữ tổng kết 6 cách thức ứng xửcủa cha mẹ với con thì 5 cách thể hiện trách nhiệm cao với con, chỉ có 1 cáchthể hiện sự bất công của cha mẹ trong ứng xử giữa con này với con khác. Căncứ vào số lượng và nội dung của các câu tục ngữ, có thể thấy các tác giả dângian đề cao nhất là trách nhiệm của cha mẹ đối với việc hình thành nhân cáchcủa con, cũng là thể hiện trách nhiệm với gia tộc, với đời sau. Đây là cách mànhân dân đã vận dụng khéo léo mặt tích cực của Nho giáo vào việc xây dựnggia đình Việt, làm cho nó trở thành yếu tố tích cực trong truyền thống của dântộc, hiện nay đang được kế thừa và phát huy. Từ quan hệ cha mẹ con, tục ngữ chiếu qua quan hệ với đất nước, với mộttrách nhiệm tự giác: "Bé thì con mẹ con cha, lớn thì con vua con chúa." (trongxã hội phong kiến, thì vua chúa đại diện cho đất nước). Chính nhờ ý thức tráchnhiệm cao với đất nước như vậy, người Việt có tình yêu mạnh mẽ và dám xảthân cho đất nước, làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc từ thời dựng nước đếnnay. 2.2. Quan hệ con với cha mẹ Mối quan hệ giữa con với cha mẹ được tục ngữ đề cập đến ít hơn mốiquan hệ giữa cha mẹ và con, với nội dung không phong phú bằng. 53
  • 54. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Con dựa vào cha mẹ: "Có cha có mẹ thì hơn, không cha không mẹ nhưđờn không dây." - Con lợi dụng cha mẹ: "Con gái là cái bòn." - Con không thống nhất với cha mẹ: "Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòngmẹ cha." - Coi trọng công mẹ hơn công cha: "Cha sinh không bằng mẹ dưỡng." - Coi cha có giá trị hơn: "Cha vàng, mẹ bạc, bác đồng đen." - Con ứng xử với cha mẹ: * Biết điều hoà quan hệ với vợ: "Bình phong cẩn ốc xà cừ, vợ hư rầy vợđừng từ mẹ cha.", "Mất mẹ mất cha thật là khó kiếm, chớ đạo vợ chồng chẳnghiếm gì nơi." * Biết ơn cha mẹ: "Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.", "Lên non mớibiết non cao, nuôi con mới biết công lao mẫu từ.", "Ơn cha là ba ngàn bảy,nghĩa mẹ là bảy ngàn ba." * Quý trọng cha mẹ: "Nhất mẹ nhì cha, thứ ba bà ngoại." Nội dung chủ yếu mà tục ngữ tổng kết về mối quan hệ giữa con với chamẹ là lòng kính yêu, biết ơn; cả 3 cách thức ứng xử của con với cha mẹ đềuhướng vào sự gắn bó, biết ơn, quý trọng của con với cha mẹ. Trong rất nhiềumối quan hệ trong gia đình, tục ngữ chỉ tổng kết về mâu thuẫn trong quan hệgiữa con-cha mẹ với vợ, và khẳng định rằng nếu phải lựa chọn giữa vợ và chamẹ thì phải chọn cha mẹ. Như vậy, theo quan niệm dân gian, trong gia đình,yếu tố đe dọa quan hệ cha mẹ con chính là nàng dâu. Điều này mâu thuẫn vớiquan niệm phổ biến mà chính tục ngữ tổng kết về quan hệ giữa mẹ chồng -nàng dâu, đó là mối quan hệ khá tốt đẹp. Tuy vậy, nếu vận dụng quan niệm vềhai vế trong tục ngữ, trong đó có vế tạo cớ thường chỉ để dẫn dắt, thì có thểthấy tục ngữ không có ý đối lập giữa cha mẹ và vợ, mà chỉ dùng khái niệm vợnhư một công cụ về hình tượng để dẫn dắt đến ý cần đúc kết là con khôngđược từ cha mẹ. Quan niệm này cũng phù hợp với quan niệm của Nho giáo làtrọng cha mẹ. 2.3. Quan hệ mẹ con Số câu tục ngữ nói về quan hệ mẹ con gồm 72 câu, nhiều hơn nói về chacon 23 câu. Điều đó nói lên vị trí, vai trò của người mẹ đối với việc chăm sócvà nuôi dạy con cái, đồng thời cũng phản ánh đứa con có ý nghĩa rất lớn đốivới cuộc đời người mẹ. Mối quan hệ mẹ con biểu hiện ở nhiều khía cạnh khácnhau. Càng cụ thể hoá các mối quan hệ, tục ngữ, như tấm gương phản chiếucuộc sống, càng tôn vinh hình ảnh cao cả của người mẹ hy sinh tất cả vì con. 54
  • 55. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhNhững biểu hiện tiêu cực không phải dòng chảy chính của mối quan hệ này.Các nội dung của quan hệ mẹ con được biểu hiện như sau: - Có trách nhiệm với con, hy sinh cho con, vất vả vì con: "Người chửacửa mả", "Sinh được một con, mất một hòn máu.", "Có chồng chẳng được điđâu, có con chẳng được đứng lâu một giờ.", "Có con phải khổ vì con, có chồngphải gánh giang sơn nhà chồng.", "Chỗ ướt mẹ nằm, ráo xê con lại.", "Con biếtnói, mẹ hói đầu.", "Con biết ngồi, mẹ rời tay.", "Con lên ba, mẹ sa xươngsườn.", "Con lên ba mới ra lòng mẹ.", "Một con so bằng ba con đẻ.", "Một conso bằng ba con dạ.", "Một mẹ già bằng ba đứa ở." - Mẹ có trách nhiệm về phẩm chất của con: "Con hư tại mẹ, cháu hư tạibà.", "Mẹ ngoảnh đi con dại, mẹ ngoảnh lại con khôn.", "Con dại cái mang." - Con phải dựa vào mẹ: "Đầu măng ngã gục vào tre, nương nhờ vào mẹkẻo e bão gào.", "Con có mạ như thiên hạ có vua.", "Con có mẹ như măng ấpbẹ.", "Con ấp vú mẹ". - Con phụ thuộc mẹ: "Mẹ ăn cơm chả, con lả bụng.", "Canh suông khéonấu thì ngon, mẹ già khéo nói thì con đắt chồng.", "Con có (hoặc không) khóc,mẹ mới (hoặc chẳng) cho bú." - Mẹ không muốn dựa vào con: "Ăn của chồng thì ngon, ăn của con thìnhục.", "Cơm mẹ thì ngon, cơm con thì đắng". - Mẹ dựa vào con: "Bé nhờ cha, lớn nhờ chồng, già nhờ con." - Sắc thái tinh thần phụ thuộc vào con: "Đẻ con khôn mát như nước, đẻcon dại thì rát như hơ." - Thích nhiều con: "Nhiều con giòn mẹ." - Không có con thì cô đơn: "Có chồng mà chẳng có con, khác nào hoa nởtrên non một mình." - Chịu ảnh hưởng của đạo Nho: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu,phu tử tòng tử." - Con coi trọng chồng hơn mẹ: "Mẹ kêu mặc mẹ, thương chồng phảitheo." - Mẹ con thắm thiết: "Ngầm ngập như mẹ gặp con, lon son như con gặpmẹ.", "Mẹ con một lần da đến ruột.", "Nhất mẹ nhì con.", "Sành sẹ như mẹ vớicon, lon ton như con với mẹ.", "Máu loãng còn hơn nước lã, chín đời họ mẹcòn hơn người dưng." - Mẹ chịu sự khó khăn, vất vả vì con: ”Một mẹ nuôi được mười con,mười con không nuôi được một mẹ.", "Mẹ sớm chiều ngược xuôi tất tưởi, conđầy ngày đám dưới đám trên.", "Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi mẹcon kể từng ngày.", "Mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể 55
  • 56. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhngày.", "Mẹ nuôi con dùng dùng nén nén, con nuôi mẹ không được một nẹntrong tay.", "Mẹ lá rau lá má, con đầy rá đầy mâm.", "Ngày sau con tế ba bò,sao bằng lúc sống con cho lấy chồng." - Tiêu cực trong quan hệ mẹ con: "Mẹ em tham giàu bắt chạch đằngđuôi.", "Mẹ lừa ưa con ngọng." Trong thị trường, mẹ con cũng cạnh tranh:"Được mối hàng, mẹ chẳng nhường con.", "Mẹ với con lúa non cũng lấy." Những tình huống dẫn ra trên đây cho thấy trong quan hệ mẹ con, tụcngữ theo sát cuộc sống của người mẹ, từ lúc mang thai, đẻ con, tới khi con lớn,mẹ về già, mẹ goá chồng. Sự quan tâm của dân gian đối với người mẹ thể hiệntinh thần trọng mẫu của người Việt. - Không can dự vào việc người khác: "Đình đám người, mẹ con ta." - Quan hệ nhân quả: "Mẹ ăn con trả." - ẢNH hưởng của mẹ tới con: "Mẹ đần lại đẻ con đần, gạo chiêm đemgiã mấy lần vẫn chiêm.", "Mẹ nào con ấy." - Con không chịu ảnh hưởng của mẹ: "Mẹ cú con tiên, mẹ hiền con xụcxạc.", "Mẹ tròn con méo.", "Vợ dại đẻ con khôn.", "Mẹ sống bằng hai bàn tay,con ăn mày bằng hai đầu gối." - Mẹ con đồng cảnh: "Con lở ghẻ, mẹ hắc lào." - Không có mẹ thì phải tự lo: "Không mẹ lẹ chân tay." - Cục bộ, mẹ chỉ biết con hoặc con chỉ biết mẹ: "Bà khen con bà tốt, mộtchạp bà biết con bà.", "Ở nhà nhất mẹ nhì con, ra đường lắm kẻ còn đẹp còngiòn hơn ta.", "Con mẹ, mẹ xót, xót gì con dâu.", "Mẹ hát con khen hay.", "Mẹhát con khen, ai chen vô lọt." - Hạn chế trong cuộc sống với mẹ: "Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn." Nhìn tổng quát, ta thấy: Theo quan niệm dân gian, sinh con là một tấtyếu, đem lại hạnh phúc cho người mẹ, nếu không có con, cuộc sống người phụnữ trở nên cô đơn, thiếu niềm vui. Có con, người phụ nữ phải chịu trách nhiệmnặng nề, phải hy sinh, vất vả vì con, đây là đặc trưng cơ bản nhất trong quanhệ mẹ con mà tục ngữ tổng kết (với 18 câu trong tổng số 64 câu, bằng28,12%). Tuy vậy, sự hy sinh không được hoặc không đòi hỏi được đền đápxứng đáng. 2.4. Quan hệ cha con Số câu tục ngữ nói về quan hệ cha con là 49, với các nội dung chính nhưsau: - Cha là chỗ dựa cho con: "Bé nhờ cha, lớn nhờ chồng, già nhờ con.","Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi.", "Còn 56
  • 57. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhcha ăn cơm với cá.", "Trẻ cậy cha, già cậy con.", "Một bát cơm cha bằng babát cơm rể.", "Còn cha gót đỏ như son, Một mai cha thác, gót con như chì". - Cha có trách nhiệm về phẩm chất của con: "Con hư bởi tại cha dung." - Cha con giữ truyền thống: "Cha truyền, con nối." - Con không cha thì cuộc sống khó khăn: "Con không cha thì con trễ,cây không rễ thì cây hư.", "Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.", "Thứ nhấtthì chết mất cha, thứ nhì buôn vã, thứ ba ngược đò.", "Thứ nhất thì mồ côi cha,thứ nhì gánh vã, thứ ba buôn thuyền." - Trách nhiệm của cha: "Cha muốn cho con hay, thầy mong cho conkhá." - Quan hệ nhân quả: "Đời cha đắp nấm, đời con ấm mồ.", "Đời chatrồng cây, đời con ăn qủa.", "Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.", "Một đờicha, ba đời con.", "Phụ trái tử hoàn, tử trái phụ bất can." (Cha mắc nợ thì conphải trả, con mắc nợ thì cha khỏi trả.) - Tình nghĩa: "Phụ tử tình thâm." - Phép tắc: "Con có cha, nhà có chủ" - Thể hiện quan điểm phát triển: "Con hơn cha là nhà có phúc." - Con xứng đáng với cha: "Cha anh hùng, con hảo hán.", "Hổ phụ sinhhổ tử." - Cha con làm điều xấu: "Cha đào ngạch, con xách nồi." - Con dối cha: "Đi dối cha, về nhà dối chú." - Tiêu cực trong quan hệ cha con: * Phá truyền thống: "Đời cha vo tròn, đời con bóp bẹp.", "Cha hổmang đẻ con liu điu.", "Hổ phụ sinh cẩu tử.", "Cha bòn con phá". * Nghịch cảnh: "Cha trở ra trở vào, con ngồi cao gọi với.", "Cha đểnhà cho trưởng, cha ngất ngưởng đi ăn mày.", "Cha thương con út, con út đáilụt chân giường.", "Cha bưng mâm, con ngồi cỗ nhất." * Cái khó làm mất tình cha con: "Khó thì hết thảo, hết ngay, côngcha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng quên." - Thể hiện phong tục: "Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy. - Cục bộ: "Cha hát, con khen, ai chen vô lọt." - Tình cảnh đáng ái ngại: "Cha già con cọc.", "Cha già, con mọn." - ẢNH hưởng Nho giáo: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tửtòng tử." - Con bênh vực cha: "Chú đánh cha tôi, tôi tha gì chú.", "Con giữ cha, gàgiữ ổ." - Coi trọng việc con gái giống cha: "Con gái giống cha giàu ba đụn." 57
  • 58. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Con không thể thay thế mẹ trong việc chăm sóc cha: "Con nuôi chakhông bằng bà nuôi ông." Từ các nội dung trên đây, thấy nổi lên hai vấn đề là: vai trò quan trọngcủa người cha đối với con, những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ cha con. Vềvai trò của người cha, tục ngữ khẳng định đó là vai trò trên những khía cạnhquan trọng nhất của cuộc sống: toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của con,phẩm chất của con, tương lai của con, truyền thống gia đình. Những tiêu cựctrong quan hệ cha con, tục ngữ khẳng định tác nhân là con: cả 14 câu tục ngữthể hiện 4 kiểu biểu hiện của sự tiêu cực thì con đều đóng vai trò chủ thể, trongđó, nổi bật là sự cư xử bất hiếu và phá vỡ truyền thống, phá hoại thành quả docha xây đắp nên. So sánh giữa quan hệ cha con và quan hệ mẹ con, thấy có nhiều điểmgiống nhau nhưng cũng có những điểm khác nhau như sau: - Giống nhau: * Có trách nhiệm nặng nề với con, hy sinh cho con. Riêng trách nhiệm vềphẩm chất của con, vai trò của người mẹ được nhấn mạnh hơn: về số lượng, sốcâu tục ngữ nói về trách nhiệm của mẹ khi con hư nhiều gấp 3 lần số câutương tự đối với người cha, về nội dung, trách nhiệm của người mẹ đượckhẳng định ở nhiều khía cạnh hơn (con hư tại mẹ, mẹ ngoảnh đi con dại, mẹphải gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm khi con dại, còn đối với người cha, tụcngữ không quy trách nhiệm, mà chỉ tìm ra nguyên nhân (con hư là do chadung). Điều này cho thấy, trong việc dạy con, người cha chỉ "cầm cương", cònngười mẹ thì "chi tiết hoá". * Bị con đối xử không tốt. Điều này cho thấy, trong truyền thống củangười Việt, yếu tố tiêu cực đã chi phối quan hệ cha mẹ con, trong đó sự bấthiếu của con đối với cha mẹ thể hiện khá phổ biến, trên khá nhiều phương diện- từ ăn uống, vui chơi con giành phần hơn, đùn đẩy việc nặng nhọc cho chamẹ, tới việc thiếu trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ về già, thậmchí còn ngăn cản việc đi bước nữa tìm hạnh phúc của mẹ góa. Hiểu rõ điềunày, chúng ta nên có cách nhìn biện chứng hơn đối với tình trạng ngược đãicha mẹ hiện nay đang phát triển trong xã hội, không nên đổ tại quá nhiều vàonền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường chỉ là điều kiện thuận lợi choviệc bộc lộ và phát triển sự bất hiếu của con đối với cha mẹ chứ không phải lànguyên nhân của tình trạng này. Để khắc phục tình trạng này, bên cạnh biệnpháp giáo dục, cần điều chỉnh cách ứng xử: không nên hy sinh một cách tháiquá, có khi mù quáng, theo kiểu truyền thống, mà phải có trách nhiệm với con 58
  • 59. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhtheo những điều kiện nhất định, phải phát huy tính tự lực, trách nhiệm của conđối với cuộc sống bản thân và gia đình. * Dựa vào con: Sẽ phải dựa vào con khi về già, nhưng không muốn dựavào con. * Cục bộ: Từ quan hệ máu thịt dễ nảy sinh tư tưởng cục bộ, kìm hãmphát triển. Đây là phát hiện quan trọng của tục ngữ, chứng tỏ từ xưa, ngườiViệt đã nhìn ra sự hạn chế của lối quan hệ khép kín, thiếu cởi mở của kiểu giađình tiểu nông và mong muốn có sự mở rộng quan hệ ra ngoài xã hội, kháchquan hơn, có điều kiện để phát triển. - Khác nhau: * Cha có vai trò quan trọng về truyền thống gia đình, truyền lại chocon. * Quan hệ mẹ con thắm thiết, thiên về tình cảm. * Trong những biểu hiện tiêu cực, thì với quan hệ cha con, con luônđóng vai trò tác nhân, còn trong quan hệ với mẹ, thì đa số trường hợp, conđóng vai trò tác nhân, nhưng cũng có trường hợp mẹ đóng vai trò này. Có một điều đáng ngạc nhiên là mặc dù quan tâm sâu sắc đến người mẹ,nhưng tục ngữ chỉ có một câu nói về trạng thái của con khi không có mẹ - đólà phải "lẹ chân tay", tức là phải năng động hơn trong cuộc sống, trong khi đócó tới 5 câu về trạng thái của con khi không có cha, nói chung đó là sự khốnkhó, cùng cực. Phải chăng, các tác giả dân gian coi nhẹ vai trò của người mẹtrong việc là chỗ dựa cho con? Hoặc giả, tục ngữ thiên về lý trí, cho nên ở gócđộ này, về mặt lý trí, thì người cha có vai trò quan trọng hơn người mẹ. Mặtkhác, người cha có vai trò quan trọng hơn đối với số phận của người con,nhưng về tình cảm thì tình mẫu tử lại mạnh hơn. 3. QUAN HỆ ANH EM, CHỊ EM RUỘT. Nói khái quát về quan hệ anh chị em, tục ngữ coi trọng tinh thần đoànkết: "Khôn ngoan đá đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau." Tụcngữ đúc kết về anh em nhiều hơn so với về chị em (26/16 câu). 3.1. Quan hệ anh em - Gắn bó: "Anh em hạt máu sẻ đôi.", "Anh em như chân tay.", "Anh emtrai ở với nhau mãn đại, chị em gái ở với nhau một thời." - Coi trọng sự hoà thuận: "Anh em chém nhau đằng dọng, không chémđằng lưỡi.", "Anh em trong nhà, đóng cửa bảo nhau.", "Anh thuận em hoà lànhà có phúc.", "Em thuận, anh hoà là nhà có phúc." 59
  • 60. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ anh em: * Bị vật chất chi phối: "Anh em hiền thậm là hiền, bởi một đồng tiềnnên mất lòng nhau.", "Anh em gạo, đạo ngãi tiền.", "Nghèo thì giỗ tết, giàu hếtanh em." * Mâu thuẫn nhau: "Anh em như chông, như mác." * Em chịu thiệt thòi: "Phận đàn em ăn thèm vác nặng." - Trách nhiệm của anh: * Thay thế cha: "Quyền huynh thế phụ." * Chịu vất vả: "Làm chị phải lành, làm anh phải khó." * Bao bọc em: "Của anh như của chú." * Bất công: "Anh ngủ, em thức; em chực, anh đi nằm." - Quan hệ thân tộc: * Anh em trai gắn bó hơn: "Con cô con cậu thì xa, con chú con bácthật là anh em." * Họ hàng giúp gắn bó anh em: "Đi việc làng giữ lấy họ, đi việc họgiữ lấy anh em." - Ứng xử giữa anh em: * Anh em phải nghiêm khắc hơn người ngoài: "Anh em khinh trước,làng nước khinh sau." * Phải thận trọng khi giải quyết công việc: "Anh em xem mặt chovay." - Anh em trong quan hệ với hàng xóm: "Bán anh em xa, mua láng giềnggần." - Dùng anh em để nói lên cách ứng xử chung: "Khôn với vợ, dại vớianh em." (giống như "Khôn nhà dại chợ.") 3.2. Quan hệ chị em - Quan hệ anh em trai lâu bền hơn chị em gái: "Anh em trai ở với nhaumãn đại, chị em gái ở với nhau một thời." (thể hiện phong tục: gái theochồng). - Gắn bó: "Cắt dây bầu, dây bí, chẳng ai cắt dây chị, dây em.", "Yêu nhauchị em gái, rái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh em rể." - Quan hệ tương hỗ, giúp nhau: "Chị dại đã có em khôn.", "Chị ngã emnâng.", "Con chị dắt con em." - Tiêu cực trong quan hệ chị em: *Bị đồng tiền chi phối: "Chị em hiền thật là hiền, lâm đến đồng tiền mấtcả chị em.", "Chị em nắm nem ba đồng, muốn ăn thì trả sáu đồng mà ăn." *Xa cách: "Chị em không thèm đến ngõ." 60
  • 61. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Cách thức ứng xử: * Giữ nền nếp: - Chị em trên kính dưới nhường, là nhà có phúc mọiđường yên vui." * Chị chịu thiệt thòi: "Con chị cõng con em, con em lèn con chị.", "Emngã thì chị phải nâng, đến khi chị ngã em bưng miệng cười.", "Làm chị phảilành, làm anh phải khó.", "Tiền lĩnh quần chị không bằng tiền chỉ quần em." * Coi thường em: "Chẳng khôn thể chị lâu ngày, chị đái ra váy cũng tàyem khôn.", "Em khôn cũng là em chị, chị dại cũng là chị em." (Thể hiện lốisống theo kinh nghiệm, "sống lâu lên lão làng".) Khảo sát quan hệ anh - em, chị - em, thấy có những nét đáng chú ý nhưsau: Tục ngữ khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa anh em, chị em. Để giữ tìnhmáu mủ, quan trọng nhất trong quan hệ anh chị em là hòa thuận. Một lần nữa,chúng ta thấy trong truyền thống, người Việt hết sức coi trọng sự hòa thuận. Trong trách nhiệm của anh, chị với em, thì anh thiên về trách nhiệmmang tính lý trí, chị thiên về tình cảm: Anh có thể thay thế cha, chị đỡ đần,nâng giấc em. Tuy cùng có trách nhiệm với em, nhưng anh được coi trọng hơnchị. Điều này thêm một lần nữa khẳng định gia đình người Việt xưa là gia đìnhtheo kiểu phụ quyền. Trong những biểu hiện tiêu cực của quan hệ anh chị em, đáng chú ý nhấtlà bị vật chất chi phối. Cả anh, chị và em đều bị đồng tiền, hạt gạo làm biếndạng quan hệ. Như vậy, không đợi đến cơ chế thị trường ngày nay, nhữngngười trong gia đình mới bạc tình bạc nghĩa với nhau - nó đã được biểu hiệnkhá sớm, là mặt trái ẩn sâu trong truyền thống gia đình - do vậy, một lần nữatục ngữ cho thấy chúng ta không nên quy kết mọi trách nhiệm về vấn đề đạođức xuống cấp cho cơ chế thị trường, từ đó có giải pháp đúng đắn, như giáodục đạo đức, lối sống, đồng thời có các biện pháp hạn chế sự chi phối tráichiều của vật chất đối với quan hệ gia đình nói riêng và quan hệ xã hội nóichung. 4. QUAN HỆ DÂU RỂ VỚI GIA ĐÌNH Với 39 câu tục ngữ, các tác giả dân gian phản ánh khá sâu sắc quan hệcủa gia đình đối với con dâu, con rể, trong đó nói nhiều hơn về quan hệ vớicon dâu. - Tinh thần dân chủ, rộng lượng: "Dâu dâu rể rể cũng kể là con.", "Dâuhiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai.", "Dâu hiền nên gái, rể hiền nên trai.". - Con dâu gắn bó với gia đình hơn con rể: "Dâu là con, rể là khách.". 61
  • 62. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Chọn con dâu khó khăn, nhưng chọn con rể phải kỹ hơn: "Lựa đượccon dâu, sâu con mắt.", "Kén dâu thì dễ, kén rể thì khó." - Con dâu gần gũi hơn: "Nuôi dâu thì dễ, nuôi rể thì khó." (Phù hợp vớiquan niệm “rể là khách”). - Gia đình chịu may rủi khi có con dâu: "Có phúc lấy được dâu hiền, vôduyên lấy phải dâu dại.", "Có phúc là dâu, vô phúc là bâu là báo", "Có phúc lànàng dâu, vô phúc là cái báo.", "Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng." Điềunày cũng chứng tỏ con dâu có tác động quan trọng đến cuộc sống gia đình. - Tiêu cực trong quan hệ với con dâu, con rể: + Bất công với con dâu, con rể: "Con dâu thì dại, con gái thìkhông.", "Con mẹ, mẹ xót, xót gì con dâu.", "Con dâu mới về đan bồ chịuchửi.", "Bố chồng là lông con phượng, mẹ chồng là tượng mới tô, nàng dâu làbồ nghe chửi.", "Của mình thì để, của rể thì bòn.", "Thương con mà dễ, thươngrể mà khó." + Mâu thuẫn mẹ chồng - con dâu là phổ biến: "Ưa nhau cũng thểnàng dâu mẹ chồng.", "Chê mẹ chồng trước đánh đau, phải mẹ chồng sau mauđánh.", "Mẹ chồng không ai nói tốt nàng dâu, nàng dâu đâu có nói tốt mẹchồng.", "Mẹ chồng nàng dâu, chủ nhà người ở yêu nhau bao giờ.", "Thật thàcũng thể lái trâu, yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng." + Mẹ chồng dữ tính: "Chồng dữ thì lo, mẹ chồng dữ đánh co mà vào.","Mẹ chồng dữ mẹ chồng chết, nàng dâu có nết nàng dâu chừa.", "Mẹ chồngmà dữ mổ bò ăn khao." Đây cũng là cách nói ngược của dân gian để thể hiệnmột ý khác với vỏ ngôn ngữ được dùng ("ăn khao" không có nghĩa là mừng). + Con dâu đối xử không tốt: "Rau muống tháng chín, nàng dâu nhịncho mẹ chồng ăn.", "Mẹ chồng vai gồng vai gánh, cưới dâu về để thánh lênthờ." - Anh em rể không gắn bó: "Anh em rể đánh nhau sể đùi.", "Yêu nhauchị em gái, rái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh em rể." - Anh em rể cư xử với nhau theo nghi lễ, con trai trưởng có vai tròquan trọng, uy quyền: "Anh em rể đúng lệ mà theo, sợ cái mắt nheo của ôngcon trưởng." Nhìn chung, người Việt xưa có quan niệm khá công bằng về con dâu, conrể. Điều này có cơ sở xã hội - xưa kia, trong công xã nông thôn, với lũy trelàng bao bọc, quan hệ giữa các thành viên trong làng khá mật thiết, mà việc lấyvợ lấy chồng thường khép kín trong lũy tre làng, do đó, dâu rể không phải lànhững người xa lạ và việc họ trở thành thành viên chính thức trong gia đình là 62
  • 63. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhđiều dễ chấp nhận. Tuy cùng là thành viên mới của gia đình sau khi thành hôn,nhưng người đàn ông không gắn bó với gia đình vợ bằng người đàn bà gắn bóvới gia đình chồng - dâu là con, nuôi dễ, rể là khách, nuôi khó. Điều này cũngchứng minh cho chế độ phụ quyền của xã hội Việt Nam xưa, trong đó, khi đãthành gia thất, thì người phụ nữ phải trao thân gửi phận cho gia đình chồng.Tuy vậy, người phụ nữ không phải là kẻ phụ thuộc hoàn toàn vào gia đìnhchồng, ngược lại, vẫn có vai trò điều tiết quan hệ của gia đình chồng, bởi vì tụcngữ đã chỉ ra rằng lấy được dâu hiền là nhà có phúc, còn lấy phải dâu dại thìnhà thật vô duyên. Bên cạnh mặt tích cực nói trên, trong quan hệ dâu, rể,những biểu hiện tiêu cực cũng khá phổ biến: về số lượng, số câu tục ngữ nóivề tiêu cực là 16, bằng 41,25% số câu nói về con dâu, con rể. Về nội dung,tính chất tiêu cực khá nghiêm trọng, trong đó quan hệ mẹ chồng - nàng dâu cónhiều tiêu cực nhất, tới mức là phổ biến và không thể điều tiết được. TIỂU KẾT Qua khảo sát tục ngữ, chúng tôi đã tìm hiểu phong tục tập quán củangười Việt trong quan hệ gia đình ở những mối quan hệ cơ bản là vợ chồng,cha mẹ con, dâu rể và anh chị em ruột. Về quan hệ vợ chồng: Nổi bật là sự thuỷ chung, gắn bó. Người Việt coitrọng sự hoà thuận, êm ấm. Người vợ thường đóng vai trò điều tiết quan hệ vợchồng, mà biện pháp chính là khuyên bảo, nhường nhịn chồng. Trong quan hệvới người chồng, thì người vợ đóng vai trò bị động nhiều hơn, là người phảichịu đựng, phải hy sinh. Trong quan hệ với người vợ, người chồng đóng vaitrò chủ động nhiều hơn, tuy vậy, không phải là sự chủ động của một vị thốngsoái, mang ý nghĩa tuyệt đối. Qua tục ngữ, người Việt đã tổng kết về cách thứcứng xử trong quan hệ vợ chồng là: Vợ phải biết điều, nhường nhịn, thươngchồng, chiều chồng, chung thuỷ. Vợ phải cống hiến, chồng phải công bằng. Về quan hệ cha mẹ con: Tục ngữ người Việt khẳng định cha mẹ là chỗdựa cho con, phải vất vả, tốn kém vì con. Trách nhiệm chính của cha mẹ đốivới con là nuôi nấng, dạy dỗ con thành người có ích cho xã hội. Sống trongchế độ phụ quyền, trong gia đình người Việt, người cha có vai trò quan trọngđối với con trên những khía cạnh quan trọng nhất của cuộc sống, người mẹđóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc con trong đời thường, tác độngcủa người mẹ đến con chủ yếu là về tình cảm. Sự hy sinh của cha mẹ, đặc biệtlà mẹ, với con là vô bờ bến. Con cái phải kính trọng và biết ơn cha mẹ. Điềucần phê phán là con cái đối xử không tốt với cha mẹ, có nhiều trường hợp phávỡ truyền thống tốt đẹp của gia đình. 63
  • 64. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Về quan hệ anh chị em ruột: Tục ngữ khẳng định sự gắn bó máu thịtgiữa anh em, chị em. Để giữ tình máu mủ, quan trọng nhất trong quan hệ anhchị em là hòa thuận. Có một số trường hợp, do tranh giành kinh tế mà quan hệanh chị em bị sứt mẻ. Cách thức giải quyết mâu thuẫn chủ yếu là “đóng cửabảo nhau”. Về quan hệ dâu rể: Tục ngữ phản ánh quan hệ dâu rể với gia đình bênchồng hoặc vợ không nhiều, nhưng có nhiều sắc thái. Quan niệm về dâu rể củangười Việt khá dân chủ, trọng tình nghĩa, nhưng trong hành xử, nổi bật là mâuthuẫn triền miên giữa con dâu và mẹ chồng. Nhìn tổng quát về quan hệ gia đình người Việt, ngoài mối quan hệ cóphần căng thẳng giữa nàng dâu - mẹ chồng, còn lại các mối quan hệ khác đượctục ngữ phản ánh với cái nhìn ấm áp, làm nổi bật sự gắn bó, hoà thuận, cótrách nhiệm, coi đó là tiêu chí để xây dựng gia đình êm ấm và bền vững. Chínhnhờ vậy, dòng chảy chính trong các câu tục ngữ về gia đình đã tạo nên âmhưởng của chủ nghĩa nhân đạo, cổ vũ cho tình yêu thương, gắn bó giữa nhữngcon người với nhau. 64
  • 65. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình CHƯƠNG BA NHỮNG QUAN HỆ CHÍNH TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT THỂ HIỆN QUA CA DAO Trong phần khảo cứu này, chúng tôi dựa vào Kho tàng ca dao ngườiViệt do Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên. Theo các tác giả, sốcâu ca dao có trong sách là 11.825 đơn vị. Qua cách chọn lựa của chúng tôitheo tiêu chí gia đình thì trong 11.825 đơn vị này có 1.179 câu ca dao nói vềgia đình, chiếm tỷ lệ 9,97% (gần bằng tỷ lệ này trong tục ngữ). Phần mềm vềca dao cũng đã giúp chúng tôi thống kê nhanh chóng và chính xác những câuca dao theo những tiêu chí phù hợp với yêu cầu nghiên cứu về phong tục tậpquán thể hiện trong quan hệ gia đình, tuy chúng tôi mới chọn nhập vào phầnmềm này 6.995 đơn vị ca dao về gia đình và có liên quan đến gia đình. Số câu ca dao về gia đình có những nội dung chính như sau: - Phản ánh các mối quan hệ trong gia đình: Trong tổng số 1.179 câu ca dao nói về gia đình, chúng tôi thống kê đượcnhư sau: • Quan hệ vợ chồng: 690 câu, chiếm 58,52% tổng số câu ca dao về giađình. • Quan hệ cha mẹ con: 446 câu (37,79%). • Anh chị em: 27 câu (2,29%). • Dâu, rể: 87 câu (7,37%). - Phản ánh tính chất của các mối quan hệ trong gia đình: • Gắn bó: 291 câu (vợ chồng: 261 câu. Cha mẹ con: 45 câu). • Lỏng lẻo: 128 câu (Vợ chồng: 107 câu. Cha mẹ con : 14 câu). - Phản ánh vấn đề hôn nhân: 170 câu. Từ số lượng các câu ca dao theo nội dung được thể hiện, chúng tôi lựachọn những vấn đề sau để khảo cứu: • Quan hệ vợ chồng. • Quan hệ cha mẹ con. • Quan hệ nàng dâu mẹ chồng. • Vấn đề hôn nhân. 65
  • 66. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 1. QUAN HỆ VỢ CHỒNG Như đã thống kê trên đây, trong Kho tàng ca dao người Việt, chủ đề giađình có 1.179 câu ca dao, trong đó quan hệ vợ chồng chiếm số lượng nhiềunhất với 690 câu. Những nội dung chính trong quan hệ gia đình được phản ánhqua ca dao như cách thức ứng xử, những biểu hiện tích cực hoặc tiêu cực, sựgắn bó hay không gắn bó… cũng được phản ánh thông qua mối quan hệ vợchồng là chính. Trong mục này, chúng tôi khảo sát quan hệ gia đình thông quaquan hệ vợ chồng được phản ánh trong 690 câu ca dao nói trên. 1.1. Những nét đặc trưng trong quan hệ vợ chồng thể hiện qua cadao Như đã nói ở phần mở đầu, số công trình nghiên cứu tục ngữ, ca dao vềgia đình không có nhiều, phần lớn là những ý hoặc mục trong một công trình;chưa có một công trình độc lập nào nghiên cứu về chủ đề này. Nhìn chung, cácnhà nghiên cứu nêu lên đặc trưng của quan hệ vợ chồng người Việt thể hiệnqua ca dao là hoà thuận và gắn bó. Tuy vậy, cũng có một số tác giả chỉ phântích sâu về những nỗi bất hạnh trong quan hệ vợ chồng, quy kết đó là hậu quảcủa quan niệm và cách thức ứng xử theo kiểu chế độ phong kiến, chịu sự ápchế của chế độ phụ quyền, vì thế, trong quan hệ vợ chồng, người phụ nữ luônluôn bị thiệt thòi, cay đắng. Học giả Nguyễn Bách Khoa đã đối lập người đànông với người đàn bà, nhìn nhận họ trong mâu thuẫn không thể điều hoà được.Trong Kinh thi Việt Nam, Nguyễn Bách Khoa viết: "Luân lý phụ quyền đặt người đàn ông lên địa vị chủ tể. Phụ nữ Việt Nam đã mỉa mai, giày đạp cái oai quyền ấy. Họ tìm đủ tính xấu của đàn ông đem ra trào phúng, để chứng rằng địa vị ưu thắng của đàn ông không được họ công nhận. Cái tính xấu thứ nhất mà họ chê bai ở đàn ông là tính hoang toàng, đĩ thoã, phụ tình: Khi thì là một cậu lính khinh bạc vợ: Bông bông nẩy lộc ra hoa Một đàn vợ lính trẩy ra thăm chồng Trẩy ra gánh gánh gồng gồng Trẩy ra thăm chồng bẩy bị còn ba "Nào ai nhắn nhủ mi ra Mi ngồi mi kể con cà con kê? Muốn tốt quẩy bị mà về Việc quan tao chịu một bề cho xong Xưa kia tao ở trong phòng Bây giờ tao đã vào trong hàng quyền" 66
  • 67. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Hai tay bưng đĩa giầu lên Trước lạy hàng quyền sau lạy cậu cai |Chồng tôi tham sắc tham tài Một chĩnh đôi gáo, tôi ngồi sao yên Tôi xin chiếc đũa đồng tiền Anh đi lấy vợ, tôi xin lấy chồng Anh đi lấy vợ cách sông Tôi về lấy chồng giữa ngõ anh ra."[63:103-104]. Sau đó, Nguyễn Bách khoa dẫn ra các câu ca dao để chứng minh chonhận định của mình về sự châm chọc của phụ nữ trước những thói xấu của đànông: đàng điếm, không đứng đắn, cờ bạc hoang toàng, tham ăn, ham sắc phụtình, rồi phân tích: "Hạng người như thế mà bắt đàn bà phải phục tòng, trung thành, trinh khiết, đức hạnh, cần kiệm, cam chịu thì thật là một sự tối ư vô lý. Nghĩ thế nên đàn bà họ tưởng có quyền đối lại cái ích kỷ của đàn ông bằng một thái độ ích kỷ chẳng kém. Họ chống lại từng lời nói, từng ý kiến, từng hành vi của đàn ông. Trước hết, họ đem cái địa vị "chồng" của đàn ông ra giễu cợt: Bồng bồng cõng chồng đi chơi Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng Chị em ơi! Cho tôi mượn cái gầu sòng Để tôi tát nước múc chồng tôi lên." [63:107]. Tiếp đó, Nguyễn Bách Khoa nhận định, dẫn chứng và phân tích như sau: "Nhiều khi họ lại trâng tráo hơn thế nữa: Hỡi cô mặc yếm hoa tằm Chồng cô đi lính cô nằm với ai? Cô đẻ thằng bé con giai Chồng về chồng hỏi: con ai thế này? Con tôi đi kiếm về đây Có cho nó gọi bằng thầy thì cho. Thật là một mũi tên thuốc độc bắn trúng tim luân lý phụ quyền. Sự đi ăn nằm với người khác mà được thú nhận một cách táo tợn như thế tỏ ra rằng người đàn bà cũng đã hiểu cái độ lượng thuỷ chung của chồng lắm lắm." [63:108]. Sau nhiều đoạn nhận định, dẫn chứng và phân tích dẫn chứng theo môhình trên đây, Nguyễn Bách Khoa đi đến kết luận: 67
  • 68. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình "Người đàn bà đã nổi loạn. Họ đã chống lại triết lý phụ quyền. Họ đã cố đạp đổ cái hình tượng "Đàn ông". Trong khi chống phụ quyền, họ đã tỏ ra một thái độ cương quyết, cực đoan trắng trợn. Họ đòi sự bình quyền với đàn ông ở các phương diện." [63:114]. Nguyễn Bách Khoa viết Kinh Thi Việt Nam trong bối cảnh xã hội đangchống phong kiến mạnh mẽ, cho nên về mặt tâm lý, dễ dẫn đến lối phê phánmạnh mẽ như trên, cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, ngay trong phương pháp, tácgiả đã có những sai lầm, cho nên dẫn đến sự cực đoan về mặt khoa học. Cầnlưu ý rằng, cùng trong một bối cảnh xã hội, nhưng với phương pháp nghiêncứu khoa học, khách quan hơn, nhiều tác giả đã không mắc phải sai lầm nhưNguyễn Bách Khoa. Nguyễn Bách Khoa đã không nhìn nhận vấn đề thái độcủa phụ nữ đối với chồng trong hệ thống các biểu hiện, để thấy toàn diện cảhai mặt tích cực và tiêu cực, mà chỉ dựa trên liên tưởng chủ quan của mình, kếthợp với phương pháp lựa tìm chứng cứ theo hướng chủ quan, phiến diện, dođó đã dẫn đến kết luận thiếu toàn diện, không chính xác. Thực ra, theo thốngkê và so sánh trong hệ thống mà chúng tôi đã sử dụng ở các chương trên, cóthể thấy thái độ chủ đạo của phụ nữ đối với chồng là thương yêu và quý trọngchứ không phải là khinh mạn như nhận định của Nguyễn Bách Khoa. Nghiên cứu tục ngữ, chúng tôi đã rút ra kết luận rằng đặc trưng của quanhệ vợ chồng người Việt là gắn bó trong hoà thuận, nhường nhịn và thương yêunhau, trong đó người phụ nữ thường đóng vai trò điều tiết. Khi khảo sát cadao, chúng tôi cũng thu được kết quả tương tự. Về lượng, số câu ca dao thể hiện sự gắn bó vợ chồng là 258, nhiều gấp2,4 lần số câu thể hiện sự không gắn bó (107 câu), và bằng 37,68% so với tổngsố câu ca dao về quan hệ vợ chồng. Qua ca dao, các tình huống thể hiện sự gắnbó vợ chồng chiếm ưu thế, hay nói cách khác, sự gắn bó là một đặc trưngtrong quan hệ vợ chồng người Việt. Ca dao người Việt phản ánh sự gắn bó như sau: - Về phía người vợ: Không nghe lời tán tỉnh của người khác, Nguyện ởvới chồng đến già, Đi theo chồng khắp nơi, Chăm nom chồng, Thương chồng,Nhịn lúc chồng nóng giận, Nhớ chồng, Lao động thay chồng, Chờ chồng,Chung thuỷ, Vượt mọi khó khăn, gian khổ, Gánh vác việc nhà, Làm chỗ dựacho chồng, Vui buồn cùng chồng, Giữ nền nếp, Cam chịu, Nghe lời chồng,Thờ cha kính mẹ chồng, Trả công nợ, Khuyên chồng, Giữ duyên cho chồng,Chịu đựng, Biết tính chồng, Nhường vật chất cho chồng, Gắng công vì chồng,Chịu lầm than. Một số câu tiêu biểu là: 68
  • 69. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 1. Chàng ơi, chớ bực sầu tư Khi xưa có mẹ, bây chừ có em. 2. Có chồng thì phải theo chồng Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo Có chồng thì phải theo chồng Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng vui. 3. Chim xa bầy thương cây nhớ cội Vợ xa chồng đạo nghĩa nào sai Vàng ròng cả lửa chẳng phai Ở cho chung thuỷ có ngày gặp nhau. 4. Đi đò tát nước cho chuyên Lấy chồng thì phải giữ duyên cho chồng. 5. Em là con gái có chồng Mồ cha những đứa đem lòng nọ kia. Ca dao cho ta hình tượng về một người vợ lo toan, đảm đang công việc,sẵn sàng hy sinh cho chồng, làm đẹp lòng chồng. Ở một chừng mực nào đó,phẩm chất của người vợ do bị ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo với "tứ đức,tam tòng" mà lại trở nên sáng lạn trong một số câu ca dao. Điều đó cũng dễhiểu, vì người phụ nữ Việt đã biết tiếp thu những yếu tố tích cực của đạo đứcNho giáo, xây dựng nên tình nghĩa vợ chồng theo một số khuôn mẫu mangtính lý tưởng của Nho giáo, nhưng có biến cải đi ít nhiều cho đơn giản và gầngũi đời thường hơn. - Về phía người chồng: Không tham giầu mà chuộng tính nết vợ, Laođộng nuôi con, Đón đưa vợ, Nhớ vợ, Bỏ qua khuyết tật của vợ, Không vongvợ, Thương yêu mẹ vợ, Cùng hưởng vinh hoa, Chịu khổ, không chịu chia lìa,Chăm sóc vợ. Một số câu tiêu biểu là: 1. Đôi bên bác mẹ tư tề Anh đi làm rể em về làm dâu Chẳng tham nhà gỗ xoan đâu Tham vì một nỗi em mau miệng cười Trăm quan mua một miệng cười Trăm quan không tiếc, tiếc người hồng nhan. 2. Làm trai giữ trọn ba giềng Thảo thân, ngay chúa, vợ hiền chớ vong. 3. Mẹ nàng khác thể mẹ ta Phận dù đói rách, thiệt thà anh thương. 69
  • 70. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 4. Ngọn lau lên khỏi bờ Ngọn lúa trổ đòng đòng Em đừng than đừng thở, để anh phải tủi lòng khóc theo Hai tay anh bụm bọt phá bèo Xưa kia khắp chốn không ai nghèo như anh Ban ngày anh đốn củi rừng xanh Tối về chỉ một tấm tranh che đầu Mưa sa nhỏ giọt như dầu Khổ thời anh chịu khổ, chứ lìa nhau anh không lìa. 5. Trời hè lắm trận mưa rào Gặt sớm phơi sớm liệu sao cho vừa Khuyên em chớ ngại nắng mưa Của chồng công vợ, bao giờ quên nhau. Hình tượng người chồng thật bình dị, không giầu sang, oai phong mà gầngũi, đồng cảnh với người vợ. Điều đáng quý của người chồng mà ca dao phảnánh là siêng năng, cần mẫn, biết yêu thương vợ con, cảm thông cho hoàn cảnhcủa nhau, tôn trọng những thành quả do hai người vun đắp nên. Cả hai vợ chồng: Cùng lao động và chịu cảnh nghèo, Không thay lòngđổi dạ, Theo nhau không kể giầu nghèo, Ngàn năm không quên, Thương nhau,Hài lòng trong cuộc sống vợ chồng, Vượt qua sự phân biệt tôn giáo, Hoàthuận, Cùng chung vinh, nhục, thảm nghèo, Một vợ một chồng, Không rờinhau, Sống với nhau suốt đời, Không thể dứt nhau, Chờ đợi nhau, Thuỷ chung. Một điều dễ nhận thấy là ca dao về gia đình có rất nhiều câu rất hay, nóivề cảnh sinh hoạt vợ chồng, như: Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa. Một bức tranh thuỷ mạc về vợ chồng người nông dân tuy lao động cựcnhọc nhưng quấn quýt bên nhau trong khung cảnh yên bình. Hình ảnh con trâutham gia vào công việc nhà nông của họ làm cho bức tranh quê càng thêm sinhđộng. Cùng với chồng và vợ, con trâu đã khắc hoạ đậm nét hình ảnh loại giađình Việt tiêu biểu – gia đình hạt nhân, với hai lao động chính. Người ta cảmthấy một sự yên phận, không màng công danh, phú quý, vui với cái nghèo,miễn là khuya sớm vợ chồng thuận hoà bên nhau. Điều ấy không phải là yếmthế, tiêu cực. Trong cuộc sống bon chen, lọc lừa và nhiều bất trắc, thì ước mơbình dị vợ chồng gắn bó, hoà thuận với nhau lại là tiếng nói tích cực, đầy nhânbản. 70
  • 71. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Một số câu tiêu biểu là: 1. Đôi ta vợ cấy chồng cày Chồng nay sương sớm vợ nay sương chiều Ta nghèo vui phận ta nghèo Quản chi sương sớm, sương chiều, hỡi anh! 2.Đêm hè gió mát trăng thanh Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng Lạt chẳng mỏng, sao thừng được tốt? Duyên đôi ta đã trót cùng nhau Trăm năm thề những bạc đầu Chớ tham phú quí, đi cầu trăng hoa. 3. Đạo vợ chồng hôm ấp mai ôm Phải đâu cua cá với tôm Khi đòi mớ nọ khi chồm mớ kia. 4. Bên lương bên giáo, bên đạo cũng như bên ta Về đây ta kết nghĩa giao hoà Phải duyên phải kiếp, áo Chúa Bà ta mặc chung. 5. Công danh theo đuổi mà chi Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông Sớm khuya có vợ có chồng Cầy sâu bừa kỹ mà mong được mùa. 6. Đói no một vợ một chồng Một niêu cơm tấm, dầu lòng ăn chơi. Từ ba góc nhìn trên đây, chúng tôi nhận thấy các tác giả dân gian rất nhấtquán khi phản ánh sự gắn bó trong quan hệ vợ chồng của người Việt xưa: dùnhìn từ phía vợ hay phía chồng, hoặc từ phía cả hai vợ chồng, thì nét đặc trưngcơ bản vẫn là sự gắn bó bằng tình cảm nồng thắm. Người Việt xây dựng quanhệ vợ chồng trên cơ sở yêu thương nhau ở tính nết, và tình yêu ấy được thửthách qua việc họ cùng nhau chịu cảnh nghèo, cùng nhau lao động, tôn trọngcha mẹ của nhau, sống chung thuỷ với nhau. Để hiểu sâu hơn sự gắn bó trong quan hệ vợ chồng người Việt, cần chú ýđến một số đặc điểm là: theo nhau là biểu hiện của sự gắn bó, càng xa cáchcàng gắn bó, gắn bó trong lao động. 1.1.1. Sự chuyển đổi ý nghĩa từ khái niệm tòng phu” sang khái niệm“theo nhau” Một số nhà nghiên cứu đi trước nhận định rằng, do ảnh hưởng của Nhogiáo, mà người phụ nữ Việt Nam phải tòng phu (theo chồng), và chính vì phải 71
  • 72. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhtheo chồng như vậy nên người vợ luôn luôn phải chịu mọi áp bức, đắng cay,thiệt thòi… Các tác giả Thi ca bình dân Việt Nam viết về ý thức tại gia tòngphụ như sau: "- Đây là một quy luật bắt buộc người đàn bà. Chữ “tòng” đây không chỉ có nghĩa là đi theo mà còn phải tuân theo mệnh lệnh của người chồng nữa. Ý thức này ăn sâu vào dân gian đến nỗi trong ca dao đã có những câu như: Con vua ưng thằng đốt than Nó lên trên ngàn cũng phải đi theo…” “… Bởi vậy, người đàn bà sống trong chế độ Tam tòng thường có tư tưởng yếu đuối, cầu an. Họ chỉ còn biết làm sao cho chồng thương để nhờ vào sự che chở của người chồng.” [72:189]. “Xem thế, người đàn bà đối với chồng chỉ có nhẫn nhục và chiều chuộng.” [72:194]. “Người đàn bà Việt Nam thương chồng và theo chồng, trên căn bản, không bị áp bức, bắt buộc, mà phát xuất ở tình thương, ở lòng mong mỏi xây dựng gia đình.” [72:198]. “Theo chồng với ý nghĩa của họ không phải như chế độ tòng phu của Khổng Mạnh, mà chính là để xây dựng tình thương, xây dựng cuộc sống theo khái niệm xã hội tư hữu và thuỷ chung. Cho nên, trong ý thức theo chồng của họ, chúng ta lại thấy phảng phất sự cân nhắc về cách biệt gia đình cha mẹ. Khi trong tâm tư con người đã có sự so sánh giữa bổn phận theo chồng và bổn phận nuôi cha mẹ, tất nhiên đạo tòng phu không còn là một quy luật tuyệt đối trong chế độ Khổng Mạnh nữa.” [72:198]. “Trong ca dao Việt Nam chúng ta thấy trước mắt người đàn bà, người đàn ông không phải là những thần tượng để tôn thờ như giáo lý Khổng Mạnh đã lừa phỉnh họ. Vì vậy, tuy mến người đàn ông, nhưng họ vẫn phủ nhận ý thức tôn thờ ấy. Họ tìm cách mỉa mai, châm biếm, đem thực tế ra chứng minh để tỏ rằng địa vị người đàn ông không được họ công nhận và đáng tôn thờ.” [72:198-199]. “Cho nên, nếu người đàn ông đem giá trị người đàn bà hạ nhục để khống trị, thì chính người đàn bà cũng đem giá trị người đàn ông hạ nhục để chống lại. Trạng thái ấy phản ứng rất rõ rệt trong ca dao Việt Nam…” [72:203]. Các tác giả nói trên đã mâu thuẫn với chính mình khi phân tích về ngườiphụ nữ trong xã hội phụ quyền: trong khi khẳng định rằng ý thức tại gia tòng 72
  • 73. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhphụ đã ăn sâu vào dân gian, làm cho người vợ chỉ biết nhẫn nhục, chiềuchuộng chồng, thì lại cũng khẳng định rằng người phụ nữ theo chồng là do tựnguyện, người đàn bà đã phủ nhận ý thức tôn thờ người đàn ông, đem giá trịngười đàn ông ra để hạ nhục. Chúng tôi cho rằng, trong khi phê phán nhữngthói hư tật xấu của người đàn ông cũng như người đàn bà, các tác giả dân giankhông nhằm hạ nhục cả một giới, mà chỉ nhằm chống lại những biểu hiện tiêucực cụ thể trong xã hội mà thôi. Mặt khác, không nên ngộ nhận rằng Nho giáođã lừa phỉnh người đàn bà khi khuyên họ tôn thờ người đàn ông. Trong quanhệ vợ chồng, Nho giáo chủ trương người vợ phải tôn kính người chồng. Trongthực tế, nếu người chồng đáng tôn kính thì việc tôn kính chồng sẽ càng làmcho quan hệ vợ chồng thêm gắn bó, có gì là trái lẽ thường đâu! Trở lại việc theo nhau của vợ chồng người Việt, chúng tôi thống kê đượcnhư sau: Có 44 câu ca dao sử dụng từ theo, nhưng không phải chỉ với nghĩa vợtheo chồng, mà còn với nghĩa chồng theo vợ, và vợ chồng theo nhau. Nội dungcủa việc theo chồng cũng không đơn thuần thể hiện tính phục tòng, lệ thuộccủa người vợ đối với người chồng, mà chủ yếu là biểu hiện tình cảm thắm thiếtgiữa hai vợ chồng. Có thể thấy rõ điều này qua các câu ca dao trích dẫn nhưsau: - Cả hai theo nhau: “Dẫu làm nên võng giá, rủi ăn mày cũng theonhau”, “Phải duyên phải kiếp thì theo”, “Theo nhau cho trọn kiếp”, “Quyếttheo nhau cho trọn đạo”, “Theo nhau cho trọn lời vàng đá”, "Theo nhau chotrọn, tử sinh cũng đành”, “Theo đôi, theo lứa mới thành thất gia.”. - Vợ cheo chồng: “Làm thân con gái phải đi theo chồng”, “Lấy chồng,theo thói nhà chồng”, “Võng anh đi trước, võng nàng theo sau”, “Theo sau, emcó võng vàng đưa chân”, “Chàng về thiếp cũng về theo/Mấy sông mấy cụm,cũng trèo cũng qua”, “Chàng lên non, thiếp cũng lên non/Chàng lên trời, vượtbiển, thiếp cũng bồng con theo chàng.”, “Chàng về cho thiếp theo cùng/Đói nothiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam”, “Có chồng thì phải theo chồng/Chồng đihang rắn, hang rồng cũng theo.”, “Có chồng thì phải theo chồng/ Đắng caycũng chịu, mặn nồng cũng vui.”, “Tôi ngỡ anh khá tôi theo anh về”, “Duyênưa phận đẹp thì nường cũng theo.”, “Khó mà xứ ruộng em theo.”, “Phải duyênem nhất định theo”, “Phải duyên phải kiếp thì theo”, “Thương chồng phảitheo”, “Thiếp thương chồng, thiếp phải chạy theo”. (Tuy vậy, cũng có lúcngười phụ nữ không theo chồng, ví như: “Ăn cam ngồi gốc cây cam/Lấy anhthì lấy về Nam không về.”, “Ăn chanh ngồi gốc cây chanh/Lấy anh thì lấy vềThanh không về.”) 73
  • 74. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình - Chồng theo vợ: “Vợ mà biết ở ắt chồng phải theo.”, “Phải duyên phải kiếp thì theo/ Khuyên em đừng nghĩ đói nghèo làm chi”, “Giận chồng xách gói ra đi/ Chồng theo năn nỉ tù ti trở về.”, “Mình về tôi cũng đi theo/ Sum vầy phu phụ, hiểm nghèo có nhau”. Như vậy, qua ca dao, chúng ta thấy không phải chỉ có phụ nữ mới theo chồng, mà còn có cả đàn ông theo vợ, và quan trọng hơn là họ theo nhau. Tất nhiên, sống trong một chế độ xã hội, con người không thể không chịu ảnh hưởng của chế độ xã hội ấy, cho nên, người phụ nữ sống trong chế độ phong kiến, tất phải chịu ảnh hưởng của chế độ phong kiến, kể cả trong quan hệ vợ chồng. Chính vì vậy mà qua ca dao, chúng ta thấy người phụ nữ hay nói đến chữ theo chồng, không những thế mà còn theo cả thói nhà chồng, và họ coi đó là sự tất yếu, nhiều khi không quan tâm đến cái nghĩa theo là thế nào. Liên hệ đến yêu cầu của Khổng Khâu cốt làm cho dân theo giáo lý của mình chứ không cốt làm cho dân hiểu nó, thì thấy rằng Nho giáo đã gặt hái được những thành công nhất định trong việc truyền bá quan niệm tòng phu vào xã hội Việt Nam, làm cho khái niệm này trở thành câu nói cửa miệng của dân gian. Mặt khác, vợ theo chồng cũng là lẽ thường tình, nếu như việc theo đó là để xây dựng hạnh phúc lứa đôi. Tuy vậy, khi sử dụng cái vỏ ngôn ngữ tòng phu, người Việt cũng khá mơ hồ trong việc hiểu nội dung của nó, họ không nói rõ tòng phu là thế nào, đã vậy họ còn Việt hoá cả cái vỏ ngôn ngữ ấy thành theo chồng, mở rộng ra thành vợ chồng theo nhau. Thế rồi, khái niệm theo chồng đã chứa đựng những nội dung rất cụ thể và dung dị như chính cuộc sống của người dân quê: theo là vì hợp duyên, vì thương chồng, và quan trọng hơn là để chung nhau gánh vác công việc, chung nhau thụ hưởng niềm vinh quang hay chia sẻ sự thống khổ, cũng có khi để dựa vào người chồng. Nhưng, nổi bật là người phụ nữ theo chồng với chí hướng cùng chồng xây đắp cuộc sống chung hạnh phúc. Chính vì vậy mà người vợ xác định rõ theo chồng thì dù đi đến nơi khó khăn hóc hiểm như hang rắn, hang rồng, hoặc nơi xa xôi sóng gió lên trời, vượt biển, dù đắng cay hay mặn nồng, thì họ cũng theo, miễn là phải duyên, phải kiếp. Cũng có khi, lỡ chọn phải chồng không phù hợp, người phụ nữ cũng dám chủ động làm lại cuộc đời “Tôi trốn tôi tránh tôi về nhà tôi.”. Độc đáo hơn nữa, theo chồng mà người phụ nữ không tự ti trong vị thế của một người phải phục tòng, mà đầy tự tin ở vai trò của mình, vai trò làm chỗ dựa cho chồng, bởi vậy, người vợ mới dám khuyên chồng: “Chàng ơi, chớ bực sầu tư/ Khi xưa có mẹ, bây chừ có em.” Tóm lại, cách thức theo chồng của người phụ nữ Việt thời phong kiến đadạng, phong phú, với nhiều ý nghĩa tích cực, thể hiện sự chủ động của người 74
  • 75. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhphụ nữ trong việc lựa chọn và xây đắp hạnh phúc cho mình. Trong sự chủ độngấy, người phụ nữ sẵn sàng gánh vác việc khó khăn, nặng nhọc, sẵn sàng chịuđựng mọi éo le của cuộc sống miễn là làm cho vợ chồng được gắn bó. Từ kháiniệm tòng phu của Nho giáo, các tác giả dân gian đã chuyển hoá thành kháiniệm theo nhau, là biểu tượng cho sự gắn bó vợ chồng người Việt trong xã hộiphong kiến. Cách thức chuyển hoá nội hàm khái niệm như vậy được diễn ramột cách lặng lẽ trong cuộc sống đời thường, nhưng lại phù hợp với quy luậtcủa tiếp biến văn hoá nói chung của dân tộc ta, mà PGS Nguyễn Từ Chi đã kháiquát như sau: “Trong không ít trường hợp, những yếu tố mà tổ tiên của ngườiViệt hiện nay đã lần lượt tiếp thu từ nền văn minh Trung Hoa qua một thiênniên kỷ Bắc thuộc, và cả về sau nữa, khi được tích hợp vào cuộc sống hàngngày của người bản địa, chỉ còn giữ được của nơi xuất phát có cải vỏ hình thứcnữa thôi (thường là tên gọi) trong khi nội hàm của khái niệm tiếp thu đã biếnđổi hẳn”.[240]. 1.1.2. Vợ chồng trong lao động Có 35 câu ca dao trực tiếp mô tả khung cảnh lao động, trong đó cho thấy vợ chồng đồng tâm hiệp lực nhằm tạo dựng một cuộc sống no đủ, hạnh phúc. Chúng tôi xin thống kê các tình huống như sau: Việc do người vợ làm: Cày, Đạp xe nước, Trồng hoa, Trồng khoai, Trồng cà, Gieo mạ, Gặt hái, Quảy cơm, Dệt, Quay tơ, Xay thóc giã gạo, Chẻ lạt, ủ phân, Nuôi lợn, Bắt cua, Chăm lo cha mẹ, Đứng mũi (thuyền), Làm thuê làm mướn, Buôn bán. Việc do người chồng làm: Làm ruộng, Cày, Gặt, Cuốc, Phát, Đốn củi, Xúc giậm, Làm thầy, Làm thợ, Chịu sào (thuyền), Gánh muối, Gánh chè, Chắp thừng, Đi lính, Vẽ, Viết, Đi học, Đọc sách. Việc do cả hai cùng làm: Cày bừa, Làm mạ, Trồng khoai, Trồng cà, Gặt hái, Hái rau, Mót khoai, đỗ, Đốn củi, Buôn bè. Thái độ trong lao động: Vui phận nghèo, Tự giác, Tin vào thành công, Kiên nhẫn, Không quản ngại, Lạc quan, Coi trọng công lao của nhau. Có thể dẫn ra rất nhiều câu ca dao phản ánh khung cảnh gia đình êm ấm, chồng hoà vợ thuận trong lao động và tình yêu thương thắm thiết, kiểu như : 1. Rủ nhau đi cấy đi cày Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa. 2. Sáng trăng trải chiếu hai hàng Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ. 75
  • 76. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 3. Trời hè lắm trận mưa rào Gặt sớm phơi sớm liệu sao cho vừa Khuyên em chớ ngại nắng mưa Của chồng công vợ, bao giờ quên nhau. 4. Đôi ta vợ cấy chồng cày Chồng nay sương sớm vợ nay sương chiều Ta nghèo vui phận ta nghèo Quản chi sương sớm, sương chiều, hỡi anh! 5. Bao giờ lúa trỗ vàng vàng Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm. 6. Cơm chiên ăn với cá ve Thiếp đây chàng đấy, buôn bè ra khơi. 7. Kể chi trời rét đồng sâu Có chồng có vợ rủ nhau cày bừa Bây giờ trưa đã hồ trưa Chồng vác lấy bừa, vợ dắt con trâu Một đoàn chồng trước vợ sau Trời rét mặc rét, đồng sâu mặc đồng. Nhìn chung, qua ca dao, chúng ta thấy về mặt lao động, vợ chồng có sựphân công hợp lý và khá bình đẳng, việc mà người chồng làm thì người vợcũng làm, chỉ trừ việc đi học; thường thì công việc được mô tả theo cặp đôitương xứng - chồng việc này thì vợ việc nọ - A việc a thì B việc b (Chồng cày-vợ cấy, Chồng sương sớm- vợ sương chiều, Anh đi gặt- nàng quảy cơm,Chồng vác bừa - vợ dắt trâu, Em chẻ lạt - Anh chắp thừng, Thiếp đây - chàngđấy, Em đững mũi - anh chịu sào, Chàng bòn - thiếp mót); về mặt thi pháp, cóthể thấy đây là "mô típ sóng đôi" độc đáo của văn học dân gian người Việt. Môtíp này chỉ có thể xuất hiện trong một xã hội có nền dân chủ và bình đẳng giữaphụ nữ và nam giới. Ngoài làm việc tại nhà, người phụ nữ cũng có dịp đi laođộng ngoài xã hội giống như nam giới, như đi buôn, đi làm mướn, đi bè… chứkhông phải chỉ quanh quẩn trong nhà. Nội dung nói trên xuất phát từ thực tếlao động ở nông thôn, trong đó việc canh tác là cơ bản, sự phân biệt về khảnăng lao động trên lĩnh vực này chưa nhiều, đó là lao động khá đơn giản vànhiều khi cần sự hợp sức của cả hai vợ chồng. Có khác chăng là ở chỗ chồngcó thể làm việc nặng hơn, vợ có thể được làm việc nhẹ, yêu cầu sự khéo léohơn, chứ không khác ở sự phân công lao động trong một xã hội có nền kinh tếphát triển, trong đó ngành nghề được phân chia rạch ròi và đòi hỏi sự đào tạonhất định về nghề nghiệp. Không những thế, trong xã hội mà ngành thưong 76
  • 77. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhmại chưa phát triển, người phụ nữ còn gần như độc chiếm nghề tiểu thươngkiểu buôn đầu chợ bán cuối chợ, hoặc bán nông sản do gia đình làm ra tại cácchợ quê, tuy vốn và lãi không nhiều nhặn gì, nhưng cũng đủ đem về gia đìnhmột khoản tiền mặt dùng cho chi tiêu hàng ngày, một giá trị kinh tế quan trọngđối với gia đình nông dân. Chính điều kiện lao động nông nghiệp đơn giản, sựphân công lao động chưa rành mạch và khả năng làm kinh tế tiểu thương củangười phụ nữ đã tạo điều kiện cho tính dân chủ, bình đẳng giữa hai vợ chồngđược xác lập, cho nên công lao của người phụ nữ được đánh giá ngang bằngvới công lao của người chồng “của chồng công vợ”. Tuy vậy, do ảnh hưởngcủa Nho giáo, người nông dân cũng hướng đến sự vinh thân qua con đườnghọc hành, khoa cử. Chính vì vậy, trong các việc làm của người chồng, có việcđi học, với 28 câu ca dao phản ánh công việc này. Với những gia đình nhà nho,thì ảnh hưởng của giáo lý Khổng Mạnh tất yếu mạnh hơn các gia đình khác, vàtư tưởng dương danh, hiển nhân cũng chi phối suy nghĩ của họ. Các câu cadao nói về việc đi học, đi thi của người đàn ông phần lớn thông qua lời nói củangười vợ, qua đó bộc lộ rõ rệt mục đích của việc học là đỗ đạt, làm quan, đemvinh hiển về cho gia đình, vợ con (như: "Bảng vàng choi chói bia đề tên anh","Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau", "Chàng đi ngựa thắm, thiếp nayvõng đào", "Anh cưỡi ngựa vua ban, em ngồi trên võng vàng", "Trước là vinhthiếp, sau mình vinh thân"). Có thể nói, tình trạng vợ chồng cùng nhau chămbẵm vào con đường khoa cử nhằm vinh hiển, trong đó người chồng dấn bướcvào khoa trường, còn người vợ thì tần tảo nuôi chồng ăn học, chính là biểuhiện rõ rệt nhất của sự ảnh hưởng của Nho giáo vào gia đình người Việt, mà cụthể ở đây là loại gia đình nhà nho; sự ảnh hưởng ấy cũng thấm cả vào ca dao.Điều này có một lý do là một bộ phận của tục ngữ, ca dao do tầng lớp nho sĩsáng tác. Câu ca dao "Sáng trăng trải chiếu hai hàng/Bên anh đọc sách bênnàng quay tơ" vẽ nên bức tranh đặc trưng về sinh hoạt của gia đình nhà nho,trong đó nhiệm vụ của người đàn ông là đọc sách, học hành, người đàn bà làmlao động nhưng không phải là làm nghề nông đơn thuần mà là làm nghề phụ,đỡ cực nhọc hơn và có khả năng thu nhập cao hơn. Xác định rõ mục đích, phâncông công việc rõ ràng (anh đi học, em lo việc nhà), hai vợ chồng đều tự giácchăm lo công việc của mình, nhưng người vợ bao giờ cũng vừa làm vừa hướngtâm tưởng của mình về phía chồng, chăm lo chồng chu đáo, và do vậy, quan hệgiữa hai vợ chồng càng gắn bó. Mặt khác, qua ca dao, cũng cần ghi nhận ảnhhưởng tích cực của Nho giáo vào xã hội Việt Nam là góp phần tạo nên truyềnthống hiếu học, một yếu tố hết sức cần thiết để đào tạo con người cho xã hộihiện đại. Và thật thú vị, cái điểm “rất Nho” này lại tạo điều kiện cho, hoặc làm 77
  • 78. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình bộc lộ ra khả năng “giải Nho” trong quan hệ vợ chồng: anh chồng, từ vị trí người chủ gia đình mà người vợ luôn luôn phải phục tòng theo quan điểm Nho giáo, khi chăm bẵm theo con đường khoa cử, trở thành anh “học trò dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”, trông chờ người vợ lo toan cho cuộc sống, đã giảm dần vai trò gia chủ, và nhờ thế, vai trò của người vợ ngày một trở nên quan trọng hơn, tạo ra thế bình đẳng giữa hai vợ chồng. Có nhiều câu ca dao phản ánh tình trạng này, ví như: Ai đi đợi với tôi cùng Tôi còn sắp sửa cho chồng đi thi Chồng tôi quyết đỗ khoa này Chữ tốt như rắn, văn hay như rồng Bõ khi xắn váy quai cồng Cơm niêu nước lọ nuôi chồng đi thi. Một khi người phụ nữ đã nuôi được chồng, thì cũng có nghĩa là vai trò củahọ không bị lệ thuộc người chồng theo lễ giáo phong kiến nữa, mà như PGSNguyễn Từ Chi đã viết: “Một khi đã là vợ, là mẹ, là bà chủ một gia đình nhỏ,với chìa khoá hòm trong tay, người nữ nông dân Việt, đặc biệt là ở Bắc Bộ, nơimà luồng buôn bán nhỏ trong nông thôn sinh động hơn nhiều, so với ở TrungBộ và Nam Bộ trước kia, tất có tiếng nói quan trọng, nhiều khi quyết định,trong nền kinh tế gia đình, xứng với danh hiệu “nội tướng” mà các ông chồngsính chữ Nho thường gán cho họ’’.[192] Điểm hạn chế là trong cái nhìn của các tác giả dân gian, phụ nữ không thuộc loại cần được đi học, đó là sự bất công với phụ nữ mà ngày nay tuy chúng ta đã khắc phục, nhưng không phải không còn rơi rớt ở nông thôn, khiến cho nhiều gia đình chỉ cho con trai đi học và bắt con gái ở nhà giúp việc gia đình. Ngoại trừ hạn chế về tư tưởng tìm cách được ăn trên ngồi trốc qua con đường khoa cử của giai cấp thống trị, nhìn chung lao động của gia đình người Việt có mục đích đơn giản và chân chính, đó là tạo dựng một cuộc sống no đủ, êm ấm. Cũng có lúc người nông dân phê phán lối học hành thoát nông, khẳng định con đường lao động ở nông thôn là đáng coi trọng: Công danh theo đuổi mà chi Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông Sớm khuya có vợ có chồng Cầy sâu bừa kỹ mà mong được mùa. Gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên và lao động, quan hệ vợ chồng người Việt trở nên thơ mộng, đầy tính lãng mạn, do đó đã để lại cho kho tàng ca dao 78
  • 79. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhnhững bức tranh vô cùng đẹp đẽ. Cái cảnh “Chồng cày vợ cấy con trâu đibừa”, hay “Bao giờ lúa trỗ vàng vàng/Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm” vừalà bức tranh hiện thực về cuộc sống lao động nặng nhọc của người nông dân,vừa là bài ca lãng mạn bay bổng thể hiện sự lạc quan trước cuộc sống, là bảntình ca dung dị về hạnh phúc vợ chồng người Việt. 1.1.3. Vợ chồng trong sự xa cách Có 118 câu ca dao nói về sự xa cách vợ chồng, thì 33 câu thể hiện sự gắnbó, chỉ có 4 câu thể hiện sự lỏng lẻo trong quan hệ vợ chồng. Nếu quả như nhận định của một số nhà nghiên cứu trước đây, với ýchung là hôn nhân trong xã hội phong kiến, do sự áp đặt của lễ giáo phongkiến, của chế độ phụ quyền, nên người phụ nữ không có hạnh phúc, thì việc xacách chồng chính là điều kiện thuận lợi để giải phóng người vợ, và người vợphải thể hiện sự mừng vui khi xa cách chồng. Thế nhưng, ngược lại, qua cadao, chúng ta thấy càng xa cách chồng, người vợ càng thể hiện sự gắn bó vớichồng, vợ chồng càng xa cách càng gắn bó với nhau. Trong 118 câu ca dao thểhiện sự xa cách vợ chồng, hầu hết là nói lên sự nhớ thương day dứt của ngườivợ hoặc người chồng. Nguyên nhân của sự xa cách này là do đi lính hoặc dochiến tranh (24 trường hợp), chồng đi học (9 trường hợp), chồng đi làm ăn (6trường hợp), vì các công việc khác (55 trường hợp). Nhiều khi người chồng đimà không nói lý do (9 trường hợp), khiến người vợ khắc khoải, luôn tự hỏi“Anh đi đâu…”, “Đi mô…”, "Đi mô mà chẳng thấy về”, “Đi đâu để nhệngiăng mùng/Năm canh thiếp chịu lạnh lùng cả năm.”, “Anh đi đâu ba bốn nămtròn/Để em giã gạo chày con một mình.” Và cũng nhiều khi sự xa cách chồngđem lại nỗi thất vọng chua cay cho người vợ, làm cho người vợ phải “Khóc nỉnon”, không “biết lấy ai than cùng”, khắc khoải “Một ngày đằng đẵng xembằng ba thu”, đến nỗi phải tự dằn vặt “Chẳng qua thân mẹ như đời thờn bơn”.Vì vậy, có khi người phụ nữ thể hiện thái độ gay gắt, không thiết tiền bạc, chỉcần gần nhau: “Chàng Nam thiếp Bắc làm giàu ai ăn.” Trong các tình huống khiến cho vợ chồng xa cách, đáng chú ý là các tìnhhuống thuộc về chiến tranh: người chồng phải đi lính. Có rất nhiều cách thứctrong ca dao diễn tả thái độ của người vợ trước cảnh chồng đi lính: ngăn khôngcho đi (“Anh ơi anh ở lại nhà”, “Anh đòi đi lính Tây bang/Em e anh bỏ mạngbãi hoang đất người.”), đành phải cho đi (“Phải lính thì đi”), hứa hẹn làm tốtviệc nhà (“Cửa nhà đơn chiếc đã thì có tôi.”), lo lắng, thương xót người chồngngoài trận mạc (“Hòn tên mũi đạn, dạ em càng không yên”, “Lo chàng laokhổ, chớ sá gì mẹ con tôi.”), oán trách sự bất công của xã hội (“lấy chồng línhthiệt thua trăm đường”), lên án chiến tranh (“Trời ơi sinh giặc làm chi/Bỏ nhà 79
  • 80. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhbỏ cửa mà đi chiến trường.”), lo lắng cho cuộc sống gia đình (“Lấy chi nuôithầy với mẹ quanh năm/Đêm năm canh nằm nghĩ lại, ruột tằm héo hon.”),trách chồng (“Tây bang anh đi lính/Sao anh không tính việc nhà.”, “Anh đilính mộ, được gì đâu na?”), sẵn sàng gánh vác việc nước cho chồng (“Thiếp đilính thế cho chàng ít năm.”). Dù người chồng đi đâu, vì lý do gì, thì người phụ nữ vẫn luôn luôn chờđợi. Có tới 62 câu với 3 loại từ diễn tả trạng thái đợi chờ của người phụ nữtrong 102 trường hợp xa cách chồng thể hiện qua ca dao, gồm: đợi (16 câu,như “Sáng chiều đăm đắm trông chừng đợi anh.”, “Thắp đèn em đợi, dựa kềnăm canh.”), chờ (30 câu, như “Con thơ vợ dại trông chờ từ đây.”), trông (16câu, như: “Vợ trông chồng lên núi đứng vọng phu”.) Phản ánh cách thức ứng xử trong điều kiện xa cách vợ chồng, ca dao ítđứng từ góc độ người chồng (chỉ có 19 trường hợp), nhưng cũng cho thấytrách nhiệm và lòng khao khát sum họp gia đình của người đàn ông. Tình cảmcủa người chồng được phản ánh trong khung cảnh xa vợ là thương vợ, cứngrắn vượt qua hoàn cảnh, tin tưởng giao việc nhà cho vợ, nhớ nhung, xót xa, anủi vợ, than thân trách phận, đau đớn, lo lắng trước hoàn cảnh của vợ, chờ đợi,tin tưởng sẽ đạt mục đích; cũng có trường hợp, dù là hiếm hoi, người chồngcảm thấy được giải phóng, tự do (1 trường hợp) hoặc cũng có khi bội bạc, lấyvợ hai (1 trường hợp). Tuy vậy, thái độ chung nổi bật của người chồng là tráchnhiệm và tình cảm thắm thiết với vợ con, mà câu ca dao tiêu biểu là “Dù lênnguồn xuống bể anh cũng trở về với em.” Qua sự thể hiện tình cảm của người vợ trước cảnh xa cách chồng, chúngta thấy rõ người phụ nữ Việt luôn luôn lo lắng cho chồng, sẵn sàng gánh váccông việc cho chồng, kể cả việc đi lính, sẵn sàng chăm lo việc nhà, mặc dùchất chồng lên bản thân mình là những khó khăn, sự hẫng hụt khi trong nhàmất đi người đàn ông. Điều này là tự giác, là biểu hiện của sự gắn bó vợchồng. Trong khi đó, vì công việc hoặc vì hoàn cảnh bắt buộc, người đàn ôngphải từ biệt gia đình sống cuộc sống tha hương, nhưng họ vẫn dành cho giađình tình cảm gắn bó, thương yêu. Cho nên, phản ánh tình cảnh xa cách của vợchồng, ca dao đã chứng minh một cách đầy thuyết phục sự gắn bó của vợchồng, một sự gắn bó từ cả hai phía vợ và chồng, dựa trên tình thương yêu vàtrách nhiệm đối với nhau. 1.2. Đạo nghĩa vợ chồng theo quan niệm dân gian Khảo cứu ca dao, chúng tôi nhận thấy khái niệm đạo nghĩa thường đượccác tác giả dân gian dùng để nói về quan hệ vợ chồng. Trong học thuyết Nhogiáo, thì chữ đạo cũng hay được sử dụng để nói về quan hệ gia đình, đó là đạo 80
  • 81. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhtam tòng. Khảo cứu kỹ những câu ca dao có dùng từ đạo nghĩa (hoặc đạo,hoặc nghĩa), gồm 39 câu, chúng tôi thấy rằng trong khi sử dụng vỏ ngôn ngữđạo nghĩa của Nho giáo, các tác giả dân gian đã chuyển tải những nội dunggần gũi với nhận thức, tình cảm và lối sống của dân tộc. Theo các tác giả dân gian, đạo nghĩa vợ chồng rất nặng, rất sâu, rất khó,với nội dung là: Hôm ấp mai ôm, Ăn mày cũng theo nhau, Ngàn dặm khônquên, Giận rồi lại thương, Thương, Chịu khó chịu khổ, Xa nhau vẫn nhớ, Đávàng trăm năm, Nhớ hoài không quên, Chăm nom chồng, Hoà hợp, thuận hoà,Không ngại xa gần, Không vong vợ, Bền chặt, Không rời nhau, Không cầnbiết đói no, Đợi chờ chồng, Chung thuỷ, Không tham sang giàu, Già đời, Sinhtử có nhau, Cậy nhờ nhau. Sau đây là một số câu ca dao tiêu biểu: 1. Đạo cương thường khó lắm bạn ơi Chẳng dễ như ong bướm đậu rồi lại bay Đạo cương thường khá dễ đổi thay Dầu làm nên võng giá, rủi ăn mày cũng theo nhau. 2. Đốn cây ai nỡ dứt chồi Đạo chồng nghĩa vợ, giận rồi lại thương. 3. Chữ rằng: quân tử tạo đoan Vợ chồng là nghĩa đá vàng trăm năm. 4. Lấy nhau cho trọn đạo Trời Đổ chùa Thiên Mụ mới rời nhau ra. 5. Xét ra trong đạo vợ chồng Cùng nhau tương cậy đề phòng nắng mưa. Các từ thể hiện đạo nghĩa ở đây thường được dùng là Đạo vợ chồng, Đạovợ nghĩa chồng, Tình chồng nghĩa vợ. Qua ca dao nói về đạo nghĩa vợ chồng, có thể thấy các tác giả dân giancũng nêu lên một số quy luật bao quát thể hiện nguyên tắc sống của vợ chồng,như chung thuỷ trọn đời (thường biểu hiện qua từ trăm năm, như “Vợ chồng lànghĩa đá vàng trăm năm”, “Trăm năm gối phượng má đào bên em”, “Đạo vợchồng trăm năm không phải một ngày”). Quy luật này là phổ biến, từ trong đờithường mà ra, chứ không phải là theo triết thuyết Khổng Mạnh, bởi vì từ khichưa có Nho giáo, thì con người đã có khái niệm vợ chồng, và thực tế cuộcsống lao động cũng như tình cảm đã khiến cho sự chung thuỷ trọn đời là yêucầu tất yếu của quan hệ vợ chồng. Nội dung chính trong ca dao về đạo nghĩa vợ chồng là những cách thứcứng xử thắm thiết tình cảm giữa hai vợ chồng trong hoàn cảnh sống gắn với 81
  • 82. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhthiên nhiên, lao động. Đạo nghĩa vợ chồng giản dị và thuần phác, có khi thểhiện ở nắm lá xông: Tai em nghe anh đau đầu chưa khá Em băng đồng chỉ sá, đi bẻ nắm lá nọ về xông Ở làm gì đây cho trọn nghĩa vợ chồng Đổ mồ hôi ra em chặm, ngọn gió lồng em che. Quan niệm về nghĩa như trên cho thấy lối sống chất phác, tình cảm chânthật và thực tế của người nông dân thuộc xã hội nông nghiệp, một xã hội màtrong đó, con người sống gắn bó và hoà đồng với thiên nhiên. Có một trường hợp độc đáo, là trong khi sử dụng khái niệm Đạo của Nhogiáo, các tác giả dân gian lại chuyển tải một nội dung trái ngược với Nho giáo.Qua ca dao, người nông dân Việt khẳng định: "Đạo cương thường khá dễ đổithay/Dẫu làm nên võng giá, rủi ăn mày cũng theo nhau”. Đây là một quanniệm rất nhân ái của người Việt, đối lập với quan niệm Nho giáo đòi hỏi ngườichồng phải dương danh, hiển nhân. Thảm trạng của người đàn ông không làmcho người đàn bà khinh ghét, ruồng rẫy mà càng làm sâu sắc thêm tình chồngnghĩa vợ, đó là nét tâm lý độc đáo của người nông dân Việt. Như vậy, khái niệm đạo nghĩa được dùng trong ca dao có nội dung khárộng, bao hàm cả ý nghĩa vật chất và ý nghĩa tinh thần. Về ý nghĩa vật chất,các tác giả dân gian quan niệm rằng muốn làm tròn đạo nghĩa, vợ chồng cầnthể hiện sự âu yếm nhau, chịu đựng thiếu thốn, không phụ thuộc vào của cải.Về ý nghĩa tinh thần, đạo nghĩa bao hàm cả tình cảm và ý chí, vợ chồng phảithương yêu, tương trợ nhau, hoà thuận, chung thuỷ, không bị chi phối bởikhông gian và thời gian. Quan niệm như thế hoàn toàn phù hợp với cuộc sốngbình dị, không phải là những triết lý cao siêu. 1.3. Quan niệm dân gian về ông Tơ bà Nguyệt Một số nhà nghiên cứu cho rằng, trong xã hội phong kiến, do không tìmđược hạnh phúc trong tình yêu và hôn nhân, mà người ta hay trông chờ hoặcđổ lỗi cho ông Tơ bà Nguyệt. Trong Kinh thi ViệtNam, Nguyễn Bách Khoaviết: "Cha mẹ đặt đâu, họ phải ngồi đấy. Bao nhiêu tư tưởng cá nhân của họđều nép mình dưới cái uy lực tối thượng của gia đình. Họ chỉ còn biết nhắmmắt đưa chân trông cậy cả vào may rủi, vào ông Tơ bà Nguyệt" [52:99]. Thực ra trong ca dao nói về gia đình, chỉ có 5 câu trực tiếp nhắc đến ôngTơ bà Nguyệt, chỉ có ca dao về chủ đề giao duyên nam nữ mới nhắc nhiều đếnhai từ này. Vì sự giao duyên có liên quan trực tiếp đến hôn nhân, cho nênchúng tôi cũng mở rộng tư liệu ra loại chủ đề giao duyên để khảo cứu. Theophân loại của chúng tôi, có 5.862 câu ca dao thuộc chủ đề giao duyên nam nữ, 82
  • 83. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhcùng với 1.179 câu ca dao thuộc chủ đề gia đình, trong đó từ ông Tơ, bàNguyệt xuất hiện 164 lần trong 88 câu ca dao (dưới nhiều tên gọi khác nhau:ông Tơ bà Nguyệt, ông Tơ, bà Nguyệt, Nguyệt lão, bà Nguyệt lão, ông Nguyệtlão). Các đôi nam nữ nói đến ông Tơ bà Nguyệt trong các trường hợp sau đây: + Phản ánh tình trạng chưa bén duyên nhau (30 câu), thí dụ: “Ông Tơ bàNguyệt chưa xe”, “Đôi ta như vợ với chồng/Chỉ hiềm một nỗi ông Tơ Hồngchưa xe.”, “Tuổi anh đang độ thơ đào/Ông tơ chưa định nơi nào xe duyên.”Ông Tơ bà Nguyệt ở đây chỉ như một cái cớ mà các đôi trai gái mượn để nóilên tâm trạng “lửng lơ” chưa định nơi chốn của mình. + Trách không xe duyên (13 câu), thí dụ: “Bắt ông Tơ mà đánh bahèo/Duyên người xe cả, phận em đói nghèo không xe.”, “Quyết lên trời kiệnđến ông Tơ”,” Ông vụng xe, xe phải vợ già/Tôi thì đốt cửa đốt nhà ông lên!”.Thái độ của người nói ở đây khá trịch thượng, coi thường ông Tơ, bà Nguyệt,thường dùng từ bắt.” (Ví dụ : “Bắt ông Tơ mà cho ba đấm/Bắt bà Nguyệt,đánh bốn mươi chín cái hèo/Duyên người ta xe buổi sớm duyên em buổi chiềumới xe.”). Tuy nói là trách ông Tơ, thực ra con người trách cho sự chậmduyên, vô duyên của mình chứ không nhằm đổ lỗi cho đấng siêu nhiên. + Thể hiện vai trò chủ động của con người trong tình duyên, không phụthuộc ông Tơ bà Nguyệt (17 câu), ví dụ: “Vừa đôi ta định, ông Tơ sá gì!”, “Kếtphức đi đây vợ đó chồng/Dù ông trời chưa định, dù ông Tơ Hồng chưa xe.”,”Sáng trăng suông sáng cả bờ sông/Ta được cô ấy ta bồng ta chơi/Ta bồng tatếch lên trời/Hỏi ông Nguyệt Lão tốt đôi chăng là?”, “Phụ anh, tội lắm bớnàng!/Ông Tơ xe sợi chỉ vàng còn săn”, "Phải duyên thì lấy, tơ hồng nào se".Qua các câu ca dao thuộc loại này, chúng ta thấy dù nhân duyên đã thành haybại, thì ông Tơ, bà Nguyệt cũng không có vai trò quyết định, mà vai trò ấy là ởcon người. Khi đã yêu, người ta cứ việc gắn bó với nhau, có hỏi đến ông Tơcũng chỉ là để cho vui, khi sự việc đã an bài. Còn khi trắc trở, người ta đemông Tơ bà Nguyệt ra hỗ trợ cho mình nhằm níu kéo người tình. + Cầu xin cho được xe duyên (5 câu), thí dụ: “Vái ông Tơ một đĩa bánhbò bông/Cùng bà Nguyệt lão gắng công xe giùm.”, “Vái ông Tơ đôi ba chầuhát/Vái bà Nguyệt năm bảy đêm kinh/Xui cho đôi lứa tôi thuận một tâmtình/Dầu ăn hột muối, nằm đình cũng ưng.” Trong trường hợp này, con ngườitỏ lòng thành kính trước vai trò xe duyên của ông Tơ bà Nguyệt, nhưng cũngcó khi chỉ là cách nói mà thôi. Số câu ca dao thuộc loại này chiếm tỷ lệ rấtthấp, chỉ bằng 7,46% số câu ca dao có nói đến ông Tơ bà Nguyệt, chứng tỏtrong tâm thức dân gian, sự tin tưởng vào vai trò của ông Tơ bà Nguyệt trongxe duyên chỉ rất mờ nhạt. 83
  • 84. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Với các nội dung được phân loại cùng những dẫn chứng như trên, có thểthấy rằng trong ca dao, các tác giả dân gian chỉ mượn ông Tơ bà Nguyệt để nóivề tâm trạng của con người hoặc để làm cớ nói về tình cảm của con người, chứchủ yếu không phải coi ông Tơ bà Nguyệt như đấng thần linh quyết định hạnhphúc lứa đôi. Điều này cho thấy, về mặt phương pháp luận, khi nghiên cứuvăn học dân gian, trong đó có ca dao, cần chú ý đến cách sử dụng khái niệmcủa các tác giả dân gian, nhiều khi sử dụng cái vỏ ngôn ngữ này để chuyển tảinội dung khác. 1.4. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng Phản ánh các hiện tượng tiêu cực trong quan hệ gia đình người Việt có150 câu ca dao, trong đó thuộc về quan hệ cha mẹ con có 37 câu, vợ chồng có88 câu, anh chị em có 2 câu, còn lại là trong quan hệ dâu rể, họ hàng. Khảo cứu loại ca dao phản ánh các hiện tượng tiêu cực trong quan hệ vợchồng, chúng tôi rút ra bảng sau: BIỂU HIệN NGUYÊN NHÂN TÁC NHÂN PHẢN ỨNGTảo hôn Tham giầu Nữ Phê phánPhụ bạc Vợ già đi Nam TráchCờ bạc Nam Xa lánhChồng vừa chết đã Không nói rõngóng traiBóc lột Nhà giầu Nhà chồng TráchNợ nần (2 đơn vị) Cờ bạc Nam Không nói rõRượu chè Nam Không nói rõCờ Bạc (2) Nữ Không nói rõCờ bạc (10) Nam Trách, khinhPhụ bạc Nữ Không nói rõPhụ bạc Cả nam, nữĐa thê (9) Nam TráchĐa thê (3) Nam Phản đốiĐa thê (5) Nữ Chấp nhậnBỏ chồng, ngóng Nữ Phê phántraiTảo hôn (2) Không nói rõBạc bẽo (7) Nam TráchBạc bẽo (2) Nam Không nói rõ 84
  • 85. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhBạc bẽo Nam Phản đối kịch liệtBạc bẽo Nam Cầu xinChồng không Nam BuồnthươngĐánh vợ (6) Nam Nhắc nhởĐánh vợ Vợ lẳng lơ Nam Không nói rõDữ tính Nam LoĐàng điếm (10) Nữ Dè bỉuNghiện hút Nam Dè bỉuBỏ chồng Công nợ NữVợ hư Cả nghe Nam Quy trách nhiệmVợ hư Chồng Quy lỗiCon hư Cha dong Nam Quy trách nhiệmKhổ Lấy chồng giầu Oán tráchChê chồng (2) Chồng già, kém Nữ Oán cha mẹNghèo khổ Lấy chồng Nhà chồng Oán tráchBắt nạt chồng Nữ Phê phánTồi (2) Nam Than vãnĐánh chồng (2) Nữ Không nói rõChồng ngu Bị gả bán BựcBỏ chồng NữGhen chồng Nữ Không nói rõKhông bênh vợ Nam TráchXung khắc Bị ép gả Nam và nữ Trách Một số câu ca dao tiêu biểu là: 1. Gió đưa bụi chuối sau hè Anh về vợ bé bỏ bè con thơ. 2. Vì đứt dây, nên gỗ mới chìm Bởi anh ở bạc nên em phải tìm nơi xa. 3. Anh đi ghe nổi chín chèo Bởi anh thua bạc nên nghèo nợ treo - Nợ treo mặc kệ nợ treo Em bán bánh bèo trả nợ cho anh. 4. Cái cò là cái cò quăm Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai? 85
  • 86. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Có đánh thì đánh sớm mai Chớ đánh chập tối, chả ai cho nằm. 5. Chữ trinh đáng giá nghìn vàng Từ anh chồng cũ đến chàng là năm Còn như yêu vụng dấu thầm Họp chợ trên bụng đến trăm con người! 6. ớt nào là ớt chẳng cay Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng? Nói ra đau đớn trong lòng ẤY cái nợ nần, có phải chồng đâu. Từ các câu ca dao về những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng,chúng tôi thống kê được 40 tình huống, trong đó loại tiêu cực được nói đếnnhiều nhất là Đa thê (15 câu), Nghiện hút, cờ bạc (13 câu), Phụ bạc nhau (12câu), Lẳng lơ, đàng điếm (12 câu), Đánh vợ (7 câu). Khi phản ánh các hiệntượng tiêu cực trong quan hệ vợ chồng, các tác giả dân gian thể hiện nhiều tháiđộ khác nhau, nhưng nhìn chung là không gay gắt lắm. Các loại biểu hiện tiêucực như nghiện hút, cờ bạc, đánh vợ… đều không bị phê phán trực diện. Đốivới hiện tượng đa thê, thái độ của người phụ nữ cũng đa chiều: khi thì chấpnhận ("Có ai lấy lẽ chú tôi thì vào/Thím tôi chả bảo làm sao,/ Nói lên vài tiếng,lào nhào mấy câu.”), khi thì phản đối ("Chồng chung thì đừng"), và lúc lạitrách móc (“Anh lấy vợ lẽ phụ tình thiếp chăng?”), trong đó chủ yếu là tráchmóc. Điều này cho thấy người Việt chịu ảnh hưởng của Nho giáo, của chế độphụ quyền, trong đó cho phép người đàn ông có quyền năm thê bảy thiếp,đồng thời thể hiện cách sống hồn nhiên chân chất của cư dân nông nghiệp. Tuynhiên, ở một góc nhìn khác, thì việc xuất hiện tần số cao nhất: 15 lần nhắc đếnđa thê trong các câu ca dao nói về tiêu cực vợ chồng, cho ta thấy lối ứng xửcam chịu của người phụ nữ, đồng thời cũng là vấn đề nhức nhối hằn sâu trongtâm tư của người phụ nữ. Sự bất công ấy phải chăng là nguyên nhân của việckhông ai khác, mà chính người phụ nữ, đã cất cao tiếng nói hạ bệ thần tượngcủa chữ "trinh" để có những câu ca dao phản ánh thái độ bất cần của họ nhưmột thói xấu trêu ngươi các chàng trai, đó là tính lẳng lơ. Từ tình trạng này,dẫn đến một hệ quả là trong ca dao, khuyết điểm bị nhắc đến nhiều nhất củaphụ nữ là tính lẳng lơ, đàng điếm, với thái độ dè bỉu khinh khi. Các tác giả dângian theo dõi từng trạng thái của người phụ nữ trong những cảnh huống khácnhau để lột tả sinh động những thói xấu của người phụ nữ: khi ở với chồng thìdành “quả ngọt” cho “trai", đang sống với chồng cũng “nom chồng người.”,khi xa chồng - "Nhớ chồng thì ít, nhớ trai thời nhiều.”, tới mức “Loạn trôn từ 86
  • 87. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhthuở vắng chồng đến nay”, bị chồng đánh vì “ve ông lái mành”, ngông cuồngtới mức “Họp chợ trên bụng đến trăm con người!”, "Có chồng càng dễ chơingang/Đẻ ra con thiếp, con chàng, con ai?”, đến khi chồng chết cũng khôngthờ chồng được ở mức tối thiểu: “Chồng tôi mới được ba ngày/Ai ơi có đợi tôirày hay không?" Những biểu hiện này cho thấy trong xã hội phong kiến, khôngphải là phụ nữ không dám bung phá, sống theo sở ý riêng, mặt khác cũng chothấy dư luận hết sức quan tâm và khắt khe đối với phụ nữ. Điều này vừa biểuhiện cho sự áp chế của lễ giáo phong kiến đối với người phụ nữ, vừa thể hiệnsự chống đối của người phụ nữ đối với lễ giáo ấy. Nương nhẹ cho nhữngkhuyết điểm của đàn ông, trong đó có những thói xấu mang tính phổ biếntrong xã hội như đa thê, cờ bạc, rượu chè, đánh vợ, đồng thời lại ngặt nghèođối với những khuyết điểm của phụ nữ, ca dao đã cho thấy rằng trong tâm thứcdân gian, ý thức phụ quyền đã có sự chi phối ở mức độ nhất định đến cáchnhìn nhận, đánh giá của nhân dân về cách thức ứng xử trong quan hệ vợchồng. 2. QUAN HỆ CHA MẸ CON 2.1. Quan niệm dân gian về chữ Hiếu Hiếu là một khái niệm hết sức quan trọng trong Nho giáo. Trong Vănhoá Việt Nam và cách tiếp cận mới, Phan Ngọc viết: “Không đạo lý nào nóiđến chữ hiếu nhiều hơn Khổng giáo. Và dù cho chữ hiếu có được nhắc đến bởiKhổng Tử, Tăng Tử và vô số học giả thì chung quy chỉ là bổn phận của đứacon đối với cha mẹ mình. Và chấm dứt.” [81:112[. Trong Nho giáo xưa vànay, Quang Đạm viết: "Hiếu tất nhiên là biết yêu thương cha mẹ, biết vào thưa gửi, đi báo cáo về trình diện, biết quạt nồng ấm lạnh, sớm hỏi chiều thăm, biết lập thành gia thất có con nối dõi tông đường, tránh được tội lớn "vô hậu".v.v. Có thể nói rằng đó là những việc quen thuộc mà người ta hay nói đến trong xã hội cũ trải qua mấy chục thế kỷ rồi. Nhưng Khổng Mạnh chủ yếu nhấn mạnh vào những điều có ý nghĩa cao sâu hơn về mặt đạo lý triết học. Ngay đến việc nuôi nấng cha mẹ, Khổng Khâu cũng dụng ý phê phán gay gắt một quan niệm đương thời là cứ có nuôi nấng là được. Lời phê phán như sau: "Ngày nay, nói người có hiếu là nói biết nuôi nấng. Đến như con chó con ngựa cũng đều có nuôi nấng cả. Không có lòng tôn kính thì có gì phân biệt." [30:177]. 87
  • 88. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Rất sợ hậu sinh không giữ đúng đạo của cha ông, thầy trò Khổng Khâu nhiều lần nêu rõ những yêu cầu "kế", "thuật", "và "vô cải" (nghĩa là nối tiếp, làm theo và không thay đổi)...[30:180]. “Dương danh, hiển nhân, cách báo hiếu tốt nhất. Rất sợ "hậu sinh "đổi khác", Nho giáo tìm đủ mọi cách làm cho con cháu cứ đi đúng theo cái đạo của cha ông, cứ "thiện kế", "thiện thuật mà làm nên nghiệp lớn, vươn lên cao mãi. Con hơn cha như vậy nhà càng có phúc. [30:180]. Trong ca dao, nhân dân ta cũng hay nói đến chữ Hiếu. Trong số 446 câuca dao nói về quan hệ cha mẹ con, thì có 100 câu phản ánh tình trạng có hiếuhoặc bất hiếu, còn trong 1.179 câu ca dao nói về gia đình, có 25 câu ca dao códùng trực tiếp từ hiếu. Khảo cứu ca dao nói về đạo hiếu trong gia đình Việt Nam, chúng tôithống kê như sau: - Tổng số câu ca dao đề cập đến đạo hiếu: 100 câu (21 câu có dùng trựctiếp chữ hiếu, hoặc hiếu trung), còn lại là nói gián tiếp. - Số câu thể hiện sự có hiếu là 89 câu, sự bất hiếu là 11 câu. Nội dung có hiếu đối với cha mẹ được ca dao phản ánh là: Đền ơn nuôidưỡng, Chăm nom về vật chất, Thờ cha kính mẹ, Biết ơn cha mẹ, Chịu nhục,Biết sợ, Chịu cúi luồn, Lo lắng cho cha mẹ, Thờ cúng chu tất (hơn với chồng),Gắng học để thành danh, Coi cha mẹ hơn chồng, Coi trọng đền ơn hơn nhânduyên, Nhớ thương, Phụng dưỡng mẹ cha, Trọng công cha như nghĩa thầy,Mong cha mẹ sống lâu, Lao động làm giầu cho cha, Không được cãi cha mẹ,Hầu mẹ cha, Vợ chồng thờ chung cha mẹ, Trong thời gian để tang cha mẹkhông nghĩ đến nhân duyên, Nối nghiệp cha ông. Nội dung bất hiếu đối với cha mẹ được ca dao phản ánh là: Kể công nuôicha mẹ, Ăn chơi phung phí của cha mẹ, Sao nhãng thăm nom, Hưởng riêngsang giầu, để mặc cha mẹ nghèo, Hỗn láo với cha mẹ, Quên ơn cha mẹ. Nói chung, những nội dung về chữ hiếu mà ca dao người Việt phản ánhnhư đã dẫn trên đây đều được Nho giáo đề cập đến, chứng tỏ trên bình diện giađình, chữ hiếu của Nho giáo đã được chuyển tải và thâm nhập khá sâu, rộngvào xã hội Việt Nam thời phong kiến. Tuy vậy, trong nội dung của chữ hiếumà ca dao chuyển tải, thường hướng vào cách ứng xử thông thường trong cuộcsống, gần gũi với nếp sống, nếp nghĩ bình dị của người dân, còn những triết lý,yêu cầu cao siêu hoặc ngặt nghèo của Nho giáo thì không được đề cập. 88
  • 89. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Về đối tượng của chữ hiếu, Nho giáo quy định như sau: “Hiếu đạo lànghĩa với cha mẹ, đồng thời cũng có thể là nghĩa đối với các thế hệ bề trêntrong gia đình.”, “Con người hiếu đễ bao giờ cũng làm vui lòng cha anh"[30:175]. “Ba mối nhân luân trong gia đình là cha con, anh em và vợ chồng.”[30:183]. Như vậy, đối tượng của chữ hiếu chính là cha mẹ, người bề trên,nhưng Nho giáo nhấn mạnh đến cha anh, đến mối quan hệ cha - con. Khi nói về hiếu, ca dao người Việt cũng chỉ rõ đối tượng là cha mẹ: vớicha mẹ nói chung (88 câu), trong đó nói đến cả cha và mẹ trong cùng một câuca dao là 59 câu, nói riêng về cha là 4 câu, riêng về mẹ là 26 câu, số câu cónhắc trực tiếp đến từ cha (hoặc thầy, thày) là 50 câu, mẹ (hoặc má) là 67 câu,nói về công cha là 11 câu, về nghĩa mẹ là 20 câu. Có nghĩa là, đối tượng củachữ hiếu được ca dao người Việt quan tâm hơn cả là cha mẹ nói chung, tiếp đólà người mẹ. Trong mọi trường hợp, người cha đều được nói đến ít hơn ngườimẹ. Điều này cho thấy, khi sử dụng khái niệm hiếu, phản ánh tình trạng cóhiếu hoặc bất hiếu, ca dao thiên về lối ứng xử thông thường và nặng về tìnhchứ không phải nặng về giáo lý, và người mẹ bao giờ cũng chiếm vị trí quantrọng hơn người cha. Điều này cũng chứng tỏ rằng, khi nói về chữ hiếu, ngườiViệt giới hạn nó trong phạm vi gia đình là chính, không đồng nhất với quanniệm của Nho giáo, tức là chỉ khuôn chữ hiếu vào việc làm sao cho con sốngcó tình có nghĩa với cha mẹ là chính, chứ không phải hướng con người theocách báo hiếu mang tính giáo lý của Khổng Mạnh là phải xây dựng đượcnghiệp lớn, biến nhà mình thành đại gia, có thế lực trong xã hội. Quan niệmcủa Khổng giáo không có con trai là bất hiếu cũng không hề có mặt trong cáccâu ca dao nói về đạo hiếu của người Việt, càng cho chúng ta thấy rõ kháiniệm hiếu của Nho giáo tuy đã thâm nhập sâu vào xã hội, gia đình Việt Namnhưng nội dung đã mờ nhạt. 2.2. Trách nhiệm của cha mẹ đối với con Có 18 câu ca dao thể hiện trách nhiệm của cha mẹ với con. Đó là: Nuôinấng, Chăm chút, Dạy dỗ, Dựng vợ gả chồng, Tạo dựng nhà cửa, Cho họchành. Trong các trách nhiệm nói trên, việc chăm lo cho con học hành được nóiđến nhiều hơn cả (5 câu), với mục đích rõ ràng là thành danh, hiển thân. Điềunày cho thấy, về mặt giáo dục, người Việt đã chịu ảnh hưởng rõ rệt của Nhogiáo, và đây là ảnh hưởng tích cực. 89
  • 90. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Một số câu ca dao tiêu biểu là: 1. Cơm cha áo mẹ chữ thầy Gắng công mà học có ngày thành danh. 2. Con ơi muốn nên thân người Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha Gái thời dệt gấm thêu hoa Khi vào canh cửi khi ra thêu thùa Trai thời đọc sách ngâm nga Dùi mài kinh sử để chờ đại khoa Nữa mai nối đặng nghiệp nhà Trước là mát mặt sau là hiển thân. 3. Con cò bay bổng bay la Bay từ cửa miếu bay ra cánh đồng Cha sinh mẹ đẻ tay không Cho nên bay khắp tây đông kiếm mồi Trước là nuôi cái thân tôi Sau nuôi đàn trẻ, nuôi đời cò con. 4. Nuôi con cho được vuông tròn Mẹ thầy dầu dãi, xương mòn gối long Con ơi, cho trọn hiếu trung Thảo ngay một dạ, kẻo luống công mẹ thầy. Đáng lưu ý là, tuy nói ít về trách nhiệm của cha mẹ đối với con, nhưng cadao của người Việt lại nói nhiều đến công lao của cha mẹ, răn dạy con phảibáo đáp. Sở dĩ như vậy vì ca dao thiên về tình cảm, các tác giả dân gian khôngchủ tâm đúc rút giáo lý trong quan hệ cha mẹ con, mà chủ yếu phản ánh tìnhcảm được bộc lộ qua mối quan hệ ấy. Qua những câu ca dao nói lên công laocủa cha mẹ đối với con, lại thấy nổi lên trách nhiệm của cha mẹ rất lớn, thiênvề việc nuôi nấng, chăm chút, hy sinh cho con, mong con nên người, kể cả họchành để thành danh, hiển thân. 90
  • 91. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 2.3. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ cha mẹ con Chúng tôi thống kê được 37 câu ca dao nói lên những biểu hiện tiêu cựctrong quan hệ cha mẹ con. Một số câu ca dao tiêu biểu là: 1. Cha mẹ nuôi con như biển hồ lai láng Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày. 2. Mẹ già hết gạo treo niêu Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai. Về các biểu hiện tiêu cực trong quan hệ cha mẹ con, trong phần Hônnhân, chúng tôi sẽ có dịp nói đến khía cạnh ép duyên, mà chủ yếu là do yếu tốkinh tế - cha mẹ tham tiền, tham giầu mà ép duyên con. Trong phần này,chúng tôi xem xét khía cạnh con đối xử không tốt với cha mẹ. Có 7 câu ca daonói về hành động tiêu cực của con đối với cha mẹ là: Cãi cha mẹ, Kể côngnuôi cha mẹ, Để cho mẹ khổ trong khi mình giầu sang. Hai loại tiêu cực đầumang yếu tố tinh thần, loại tiêu cực sau mang yếu tố vật chất. Thái độ của cáctác giả dân gian trước các hành vi sai trái của con đối với cha mẹ không đượcbộc lộ rõ ràng, chỉ có một trường hợp nói thẳng rằng "con cãi cha mẹ" là "conhư". Trong các trường hợp này, ca dao phản ánh một cách khách quan làchính, để người nghe tự rút ra kết luận và tỏ thái độ. 3. QUAN HỆ NÀNG DÂU VÀ GIA ĐÌNH CHỒNG Chúng tôi thống kê được 63 câu ca dao nói về quan hệ của nàng dâu đốivới gia đình nhà chồng, thì có tới 33 câu thể hiện những biểu hiện tiêu cực, chỉcó 14 câu biểu hiện sự tích cực (chủ yếu là đối vơí mẹ chồng). Tức là có 52%số câu ca dao về quan hệ nàng dâu - nhà chồng phản ánh tính tiêu cực, và sốcâu ca dao nói về các hiện tượng tiêu cực trong quan hệ nàng dâu - nhà chồngnhiều gấp 2,35 lần số câu nói về các hiện tượng tích cực. Tỷ lệ này là cao,đồng thời với nội dung của các câu ca dao nói lên những tiêu cực trong quanhệ nàng dâu với nhà chồng cho thấy từ trong truyền thống, đây là mối quan hệmang nhiều nỗi nhức nhối thuộc gia đình người Việt. Nói cách khác, mâuthuẫn nàng dâu - nhà chồng là điểm yếu nhất trong quan hệ gia đình của ngườiViệt. Qua các câu ca dao nói về quan hệ nàng dâu - nhà chồng, chúng tôi rút rabảng thống kê như sau: Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ nàng dâu - nhà chồng HIỆN TƯỢNG NGUYÊN NHÂN TÁC NHÂN Làm việc vất vả vẫn bị chê Nhà chồng Đay nghiến Mẹ chồng 91
  • 92. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Doạ khâu miệng mẹ chồng Bị đay nghiến Con dâu Mong mẹ chồng chết Bị đay nghiến Con dâu Khôn khéo vẫn bị chê (4 câu) Mẹ chồng Bị chồng đánh, bị xui đánh thêm Mẹ chồng Mong mẹ chồng ốm để cho Bị ngược đãi Con dâu thuốc độc Khóc than Bị hành hạ Mẹ chồng Bỏ về nhà mẹ đẻ Mẹ chồng ác nghiệt Mẹ chồng Khóc Bị chửi Mẹ chồng Muốn bỏ đi Bị hành hạ, chê Mẹ chồng nghèo Ăn không ngon Thấy mẹ chồng Nghèo đi Lấy chồng Tàn tạ đi Bị đánh mắng Mẹ chồng Rầu Bị coi rẻ Mẹ chồng Rủa mẹ chồng Con dâu Không khen nhau Quan hệ không bình Mẹ chồng đẳng Không dám về với chồng Sợ bị chê nghèo Cha mẹ chồng Nhờ chồng lạy mẹ Bị đánh Mẹ chồng Nhịn nhục, nhịn ăn mặc Mẹ chồng ác Mẹ chồng Bị hành hạ Lấy chồng giầu Mẹ chồng Không yêu nhau Vì là nàng dâu mẹ chồng Xui chồng chống mẹ Bị đòn Mẹ chồng Chí nguyện vẫn bị chê Mẹ chồng Bị đối xử bất công Là con dâu Mẹ chồng Cực nhọc, đói khổ, rách rưới Là con dâu Mẹ chồng Các tình huống tiêu cực trong quan hệ nàng dâu mẹ chồng được thống kêở bảng trên cho thấy sự mâu thuẫn gay gắt của hai đối tượng này. Sự phản ứngquyết liệt, những lời nói nặng nề, hành vi không khoan nhượng giữa mẹ chồng- nàng dâu trong gia đình dưới chế độ phong kiến ở Việt Nam cho thấy mặc dùđề cao phụ quyền nhưng vai trò của người cha cũng chưa đủ mạnh để tạo dựngnên những quan hệ tốt đẹp và chưa đủ uy để trấn áp các hành động gây bất hoàgiữa các thành viên trong gia đình. Điều này khác với gia đình phụ quyền ở 92
  • 93. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhTrung Quốc, trong đó người con dâu chịu lép một bề, cúi đầu tuân phục mọiphép tắc của nhà chồng. Một số câu ca dao tiêu biểu là: 1. Mẹ chồng nàng dâu Chúa nhà người ở, khen nhau bao giờ. 2. Thật thà cũng thể lái trâu Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng. 3. Bà kia bận áo xanh xanh Ngồi trong đám hẹ nói hành con dâu Bà ơi! Tôi không sợ bà đâu Tôi xe sợi chỉ, tôi khâu miệng bà Chừng nào bà chết ra ma Trong chay ngoài hội, hết ba chục đồng Không khóc thì sợ lòng chồng Có khóc cũng chẳng mặn nồng chi đâu. 4. Chàng nhìn thiếp rưng rưng hột luỵ Thiếp nhìn chàng lã chã hột châu Mẹ cha hành hạ thân dâu Anh đau lòng phải chịu, biết làm sao bây giờ? 5. Cô kia đội áo đi đâu? - Tôi là phận gái làm dâu mới về Mẹ chồng ác nghiệt đã ghê Tôi ở chẳng được tôi về nhà tôi. Những biểu hiện tích cực trong quan hệ nhà chồng - nàng dâu. HIỆN TƯỢNG NGUYÊN NHÂN TÁC NHÂNCoi như con đẻ Dâu hiền Gia đình chồngCùng lao độngThương mẹ chồng Con dâuChăm mẹ chồng Con dâuCoi bình đẳng như con Nhà chồngKính trọng mẹ cha chồng Con dâuNuôi mẹ thay chồng Con dâu Một số câu ca dao tiêu biểu là: 1. Năm trai, năm gái là mười Năm dâu, năm rể là đôi mươi tròn. 3. Xin anh đi học cho ngoan 93
  • 94. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Để em dệt cửi kiếm quan tiền dài Quan tiền dài em ngắt làm đôi Nửa thì giấy bút nửa nuôi mẹ già Mẹ già là mẹ già anh Một ngày hai bữa cơm canh mẹ già Bát cơm em nấu như hoa Bát canh em nấu như là mật ong Nước mắt em lọc cho trong Mâm cơm em dọn tựa dòng cơm quan . Từ các tình huống thể hiện tính chất tích cực và tiêu cực trong quan hệnàng dâu - nhà chồng, chúng tôi có mấy nhận xét như sau: - Thứ nhất, mâu thuẫn chủ yếu trong gia đình là mâu thuẫn giữa nàng dâuvà mẹ chồng mà tác nhân chính là mẹ chồng. Nói cách khác, mẹ chồng làngười chủ yếu tạo nên các mâu thuẫn với nàng dâu. - Thứ hai, khi làm dâu, người con gái chịu đủ mọi nỗi khổ, cả về vật chấtvà tinh thần, nhưng không được biết rõ nguyên nhân thực sự làm cho mình bịngược đãi. Có nghĩa là, qua ca dao, chúng ta thấy ở một bộ phận xã hội, làmdâu đồng nghĩa với phải cam chịu cảnh sống tôi đòi. Đặc biệt, ca dao đã nhiềulần khẳng định làm dâu nhà giầu thì chỉ có khổ. - Thứ ba, các phản ứng tiêu cực của nàng dâu đều hướng vào mẹ chồng.Sự phản ứng của nàng dâu có nhiều mức độ khác nhau, tuỳ thuộc ở sự ngượcđãi đối với mình, trong đó nhiều trường hợp đã phản ứng gay gắt, tới mức đốikháng. - Thứ tư, những biểu hiện tích cực trong quan hệ nàng dâu - nhà chồngchủ yếu do nàng dâu tạo nên, hoặc do nhà cha mẹ chồng tạo nên, không cótrường hợp nào do mẹ chồng tạo nên. Trong các trường hợp biểu hiện tính tíchcực trong quan hệ nàng dâu - mẹ chồng do cha mẹ chồng tạo nên, thể hiện tínhdân chủ, bình đẳng, nhưng chỉ bộc lộ qua nhận thức chứ không phải là nhữngứng xử cụ thể: nếu dâu mà hiền thì được coi như con, khi tính lượng ngườitrong nhà, con dâu con rể cũng được tính ngang hàng với con trai con gái. Những nhận xét trên đây dẫn đến kết luận là ca dao đã phản ánh mâuthuẫn trong gia đình người Việt trong xã hội phong kiến, chủ yếu bộc lộ quamâu thuẫn nàng dâu - mẹ chồng. Mâu thuẫn này được thể hiện trên nhiều bìnhdiện của cuộc sống, từ vật chất tới tinh thần, với nhiều mức độ, mà cao nhất làcó thể dẫn đến hành động loại trừ nhau. Tìm hiểu hoàn cảnh kinh tế - xã hội thời phong kiến, chúng ta có thể thấyđược nguyên nhân sâu sa của mâu thuẫn ấy. Như chúng ta đã biết, trong chế độ 94
  • 95. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhphong kiến, lao động của người nông dân phần lớn mang tính đơn giản, năngsuất thấp, đòi hỏi nhiều sức lao động. Sống ở nông thôn mà nhà neo người thìgặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, các gia đình ở nông thôn rất cần nhân lực.Theo chế độ phụ hệ, người phụ nữ khi lấy chồng phải theo chồng. Khi về nhàchồng, người phụ nữ là một nhân lực được bổ sung, do vậy bao giờ nhà chồngcũng tìm cách khai thác tối đa khả năng lao động mới ấy. Vì thế, đã hình thànhtrong tâm lý cư dân nông thôn thói quen tận dụng sức lao động của người làmdâu. Điều này được thể hiện qua nhiều câu ca dao, trong đó có những câu nóirõ làm dâu nhà giầu thì khổ - chính là vì nhà giầu ở nông thôn thường là nhữnggia đình bóc lột, và thói quen bóc lột ấy đã khiến những gia đình này càng ápchế, tận dụng sức lao động của nàng dâu hơn các gia đình khác (nói về hônnhân, có 14 câu ca dao có từ tham). Để thấy rõ hơn đặc điểm về việc tận dụngsức lao động của nàng dâu trong gia đình nông dân thời phong kiến, chúng tacó thể liên hệ qua số phận của những anh chàng gửi rể, như: Trời mưa cho ướt lá khoai Công anh làm rể đã hai năm ròng Nhà em lắm ruộng ngoài đồng Bắt anh tát nước, cực lòng anh thay Tháng chín mưa bụi gió may Cất lấy gàu nước, hai tay rụng rời. Có nghĩa là, ngay cả nam giới, khi đem thân ở nhà người khác (bố mẹvợ) thì cũng bị tận dụng sức lao động, cũng chịu cảnh sống tôi đòi chứ khôngriêng gì nàng dâu. Mặt khác, về tâm lý, tình cảm, dù sao nàng dâu cũng chỉ làngười dưng, về chung sống với gia đình nhà chồng đã "chiếm mất" người contrai của gia đình, làm cho anh ta không còn tập trung tình cảm cho mẹ nhưtrước, rất dễ trở thành đối tượng ghen ghét của mẹ chồng. Cộng vào đó là cuộcsống cực nhọc, thiếu thốn, gò bó khiến các thành viên gia đình phải xoay tròntrong một vòng sống có nhiều va chạm, thì mâu thuẫn nảy sinh là khó tránhkhỏi. Còn một nguyên nhân nữa, theo quan niệm Nho giáo, con dâu về nhàphải "theo thói nhà chồng", nhà chồng cần dạy bảo cho nàng dâu cách sốngthật sự thích hợp với yêu cầu của gia đình mình, do vậy rất nghiêm khắc, thậmchí đối xử nghiệt ngã với nàng dâu. Dựa vào sự dẫn chứng, phân tích trên đây, chúng tôi thấy rằng nguyênnhân thuộc về yếu tố kinh tế và tâm lý, tình cảm, cùng với ảnh hưởng của Nhogiáo đã làm nảy sinh những tiêu cực nặng nề trong quan hệ nàng dâu nhàchồng. Trong xã hội ngày nay, di chứng này còn ảnh hưởng tới cuộc sống giađình hiện đại, tuy đã giảm bớt mức độ gay gắt. 95
  • 96. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Về những biểu hiện mang tính dân chủ trong quan hệ nhà chồng nàngdâu, cũng chủ yếu xuất phát từ điều kiện xã hội nông thôn mà có. Đó là vìngười nông dân xưa sống trong làng là chính, mà làng lại hình thành từ cácnhóm gia đình, gần gũi và thân thiết nhau. Với cơ cấu đặc biệt xóm, ngõ, giáp,làng Việt là nơi cố kết các gia đình với nhau. Qua quá trình gây dựng quêhương, tình làng nghĩa xóm ngày càng bền chặt. Cũng do các điều kiện kinh tế- xã hội thời phong kiến, người nông dân thường lấy vợ lấy chồng trong làngtrong xã, thế là những cô dâu, chú rể dù có trở thành thành viên của gia đìnhkhác, thì cũng có sự gần gũi của tình làng nghĩa xóm. Tóm lại, quan hệ nàng dâu - nhà chồng dù là mang tính tích cực haymang tính tiêu cực, thì cũng được quy định bởi nhiều yếu tố kết hợp, gồm yếutố kinh tế - xã hội, yếu tố tâm lý, tình cảm, và yếu tố Nho giáo (ở một mức độnhất định). 4. QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN Tình yêu và hôn nhân là chủ đề muôn thủa của văn học. Qua các câuchuyện về hôn nhân trong chế độ phong kiến, các tác giả đã phản ánh đượcthực trạng cũng như quan niệm của xã hội về hôn nhân, trong đó phần lớn lênán sự hà khắc của lễ giáo phong kiến, thứ lễ giáo đã làm thui chột tình yêuchân chính của con người, dìm con người trong biển khổ của sự chia cắt nhânduyên. Ca dao người Việt phản ánh khá sinh động tình trạng hôn nhân trong xãhội phong kiến. Đã có một số nhà nghiên cứu đã đào sâu vào kho tàng ca daođể tìm ra những vấn đề mang tính bản chất của hôn nhân trong xã hội phongkiến. Trong Kinh thi Việt Nam, Nguyễn Bách Khoa viết: "Cái tình yêu khăng khít, cái tương tư nồng nàn, cái gắn bó keo sơn của họ, rút cục, thường chỉ đưa đến một thất vọng chua cay. Nguyên nhân của sự thất vọng là quyền áp chế của cha mẹ. Theo luân lý phụ quyền thì cha mẹ có quyền tuyệt đối trong việc định hôn nhân cho các con, vì hôn nhân không phải là công việc thụ hưởng ái tình mà chỉ là một khí cụ để nối truyền gia thống nên cha mẹ không để ý đến cái yêu đương của con trẻ." [63:125]. Trong Thi ca bình dân Việt Nam các tác giả phân tích quan niệm về giađình của người Việt Nam trong xã hội phong kiến như sau: "Đối với người con gái, ý thức tại gia tòng phụ được thể hiện rõ rệt nhất trong ca dao về phương diện hôn nhân. Vì cho mình không có 96
  • 97. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình quyền hạn gì trong việc lựa chọn, nên họ đã đem số phận tương lai uỷ thác vào quyết định của cha mẹ. [72:186]. "Dù trai gái có thương yêu nhau đến đâu, họ cũng không dám nghĩ đến vượt quyền quyết định của mẹ cha!… Quyền định đoạt của cha mẹ đối với con một cách độc đoán như vậy đã nảy sinh trong gia đình Việt Nam, nhất là đối với việc hôn nhân, không biết bao nhiêu đổ vỡ, mà kẻ chịu thảm nạn là người con gái, lớp người mà chế độ “tại gia tòng phụ” của Khổng Mạnh đã dành sẵn cho họ.… Dù trai gái có thương yêu nhau đến đâu, họ cũng không dám nghĩ đến vượt quyền quyết định của mẹ cha!... Hễ cha mẹ không bằng lòng thì hôn nhân của đôi lứa phải tan vỡ, dù trai gái đã thương nhau đến bực nào. Ngược lại, khi cha mẹ bằng lòng, dù trai gái không thương nhau cũng phải lấy nhau. [72:187]. Trong Chống hôn nhân gia đình phong kiến trong ca dao Việt Nam,Hằng Phương viết: "... ở nước ta, dưới chế độ phong kiến, việc hôn nhân của con đều do cha mẹ quyết định: cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy.” [122:2]. “Thời phong kiến hầu hết cha mẹ thường quan niệm mình có toàn quyền lo liệu hôn nhân cho con. Không đếm xỉa đến những nguyện vọng mơ ước của tuổi trẻ và hạnh phúc gia đình con sau này.’’ [122:7]. Tác giả đã trích dẫn ca dao để khái quát thành 7 vấn đề lớn nói lên nhữngmặt tiêu cực trong hôn nhân, gia đình dưới chế độ phong kiến là: Những nỗi loâu và đau khổ của nam nữ thanh niên thời xưa, Cưỡng ép hôn nhân, Tảo hôn,Đa thê, Cảnh goá bụa, Mẹ chồng nàng dâu, Mẹ ghẻ con chồng, Không dân chủtrong gia đình. Trong Tục cưới hỏi, các tác giả Bùi Xuân Mỹ, Phạm Minh Thảo viết: "Trong xã hội cũ, cha mẹ đóng vai trò quan trọng, quyết định cuộc đời của các đôi nam nữ thanh niên. Với những gia đình nền nếp, có gia giáo thì ’cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy", và gia đình hai bên phải "môn đăng hộ đối" [79:5]. Trong Tục ngữ, ca dao Việt Nam, Mã Giang Lân viết: "Trong xã hội cũ, tình yêu của nhân dân lao động được thể hiện bằng những tình cảm tự nhiên, lành mạnh. Giai cấp phong kiến muốn bóp chết những tình cảm hồn nhiên, lành mạnh ấy. Vì vậy trong ca dao, bên cạnh tiếng hát ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếng kêu đau khổ xót xa về những trắc trở trong tình yêu. Tình yêu tan vỡ do nhiều nguyên nhân, có phần chủ quan trai gái không hợp tính nết nhau 97
  • 98. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình hoặc ngập ngừng e ngại, nhưng phần lớn là do những nguyên nhân xã hội do xã hội phong kiến gây ra.… Và cũng dễ hiểu, trong ca dao có nhiều bài phản ánh tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của những “chàng trai” và “cô gái”. "Những câu ca dao về chủ đề hôn nhân và gia đình biểu hiện các mối quan hệ đẹp đẽ giữa tình cảm vợ chồng, cha con, mẹ con, anh em, họ hàng… Cho nên lời than thở của người phụ nữ về số phận của mình dưới chế độ phong kiến là âm điệu chủ yếu của mảng ca dao này." [70:7]. Vũ Ngọc Phan viết: "Nhưng ca dao Việt Nam đã chứng tỏ rằng trong quần chúng nhân dân, tư tưởng chống đối giai cấp phong kiến vẫn là tư tưởng chủ đạo. Cho nên trong hôn nhân khi họ đã không ưng thuận, thì họ cũng không kể gì giàu sang phú quý, và cũng không tin gì ở số mệnh." [114:339]. Qua một số ý kiến dẫn ra trên đây, chúng tôi thấy có hai cách đánh giákhác nhau: cách thứ nhất nhận định trai gái nước ta hoàn toàn chịu phục tùnglễ giáo phong kiến trong hôn nhân, cách thứ hai nhận định có sự đấu tranhchống lại lễ giáo phong kiến. Qua khảo sát ca dao về hôn nhân, chúng tôi thấyrằng người Việt có cách thức ứng xử nhiều chiều, có khi tuân phục lễ giáophong kiến, có khi bung phá, cũng có khi lưỡng lự suy xét để hành động theolẽ thường tình của quan hệ gia tộc. Sau đây là một số điểm cần chú ý về số lượng: Tổng số câu ca dao nói về hôn nhân: 171 câu. Trong đó: + Thể hiên sự cam chịu: 38 câu + Thể hiện sự trách móc: 34 câu + Thể hiện quyền của cha mẹ: 5 câu + Thể hiện sự phản kháng: 17 câu + Thể hiện sự chủ động: 35 câu + Thể hiện sự lưỡng lự: 21 câu + Thể hiện sự tự giác: 18 câu Tổng hợp lại, có thể chia thành 4 loại thái độ: + Chịu sự đè nén của lễ giáo phong kiến: 76 câu + Chống lại sự đè nén của lễ giáo phong kiến: 53 câu + Giữ đúng bổn phận làm con theo lẽ thương tình: 36 câu. + Thể hiện sự dân chủ trong hôn nhân: 6 câu. 98
  • 99. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Như vậy, số câu thể hiện sự áp đặt của lễ giáo phong kiến về hôn nhân vàcon phải chấp nhận là 76, số câu thể hiện ngược lại hoặc khác với sự áp đặt là95 câu. Nhìn vào số lượng các câu ca dao “trái chiều” nhau, cho thấy nhậnđịnh rằng qua ca dao thấy rõ con hoàn toàn chịu sự áp chế của cha mẹ làkhông đúng. Sau đây, chúng ta tìm hiểu chi tiết hơn các tình huống ứng xử về hônnhân trong gia đình người Việt thể hiện qua ca dao. 4.1. Hôn nhân chịu sự chi phối của lễ giáo phong kiến Qua 76 câu ca dao thể hiện sự cam chịu của con trước sự áp đặt của chamẹ trong hôn nhân, chúng tôi rút ra các tình huống như sau:TÌNH HUỐNG CHA MẸ CON HẬU QUẢ1.Được hỏi làm Chê bai Bảo đem lễ về vợ2.Bị gả bán (2 Trách chồng Đau lòng câu)3.Được tỏ tình Không đồng tình Không dám cãi4.Bị phụ tình (2) ép gả Ham quyền quý Lìa nhau5.Yêu nhau Không đồng tình Thất ước Lấy chồng xa6.Muốn gặp Sợ mẹ cha Không gặp nhau7.Đang gặp nhau Sợ mẹ cha Bảo về8.Yêu nhau Không cho Khóc rồi về9.Phải lòng nhau Rình Không làm quen Quên nhau10. Yêu nhau Không đồng tình Cầu xin Sầu, than11. Yêu nhau Không đồng tình Khóc Khổ12. Quen nhau Nghiêm khắc ít đến Nhạt tình13. Bị gả bán (3) Bực14. Yêu Thách cưới Mặc tình Tiếc công15. Khuôn phép Không lai vãng Quên nhau16. Tham việc tiếc Không lo lấy công chồng17. Gả chồng Không phản ứng Sầu18. Yêu Ngăn cấm Đăm chiêu Sầu19. Yêu nhau Ngăn cấm Nghe theo 99
  • 100. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình20. Yêu nhau Ngăn cấm Không lấy được nhau21. Hỏi vợ Không ưa Trách22. Không chiều Trách23. Yêu nhau (2) Không lo cho Trách Xa nhau24. Yêu nhau Ngăn cấm Trách Xa nhau25. Yêu nhau Chọn nhầm Trách26. Yêu nhau Quá lời Trách Bỏ rời27. Bị ép gả ÉP, dỗ dành Xót xa Vợ chồng xung khắc28. Kén rể Lâu duyên con29. Yêu nhau Không rõ thái độ Chờ đợi30. Xa nhau Nghĩ không sâu Trách Sầu, nhớ31. Bị ép duyên Trách Sầu32. Bị gả bán Tham vàng Trách Sầu33. Xa nhau Tham giầu34. Gả không đúng chỗ Trở về35. Lấy chồng Ham ăn ngon Xa quê miền biển36. Xứng đôi Nói không Rời duyên37. Xa nhau38. Yêu nhau Theo hủ tục Lưỡng lự39. Cách phân Xui khiến Không bén duyên40. Bị ép gả ÉP vào Chấp nhận Gắn bó41. Bị ép gả Tham giàu42. Bị ép gả Đau đớn43. Lỡ thì44. Chồng già Tham tiền Oán Tủi45. Bội ước46. Mới bén Cầm duyên Trách duyên47. Bị cắt duyên48. Chồng thấp Tham lam vợ cao49. Chồng thấp, Tham lam Trách Tủi trẻ con (2) 100
  • 101. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình50. Bị gả về Than phận Không kham được giồng gánh gồng51. Bị đòn Tham lam52. Bị chồng Tham lam đòn53. Hợp đôi Không tính Trách54. Bị ép duyên Đắng cay55. Bị ép duyên Tham lam Bị làm lẽ56. Bị cầm Tham, thách cưới Chờ đợi Bị giảm giá trị duyên57. Tham giầu Trách Bị gả đi xa58. Bực Ra đất người 76 câu ca dao với 58 tình huống thể hiện sự cam chịu của con cái trướcsự áp đặt của cha mẹ về hôn nhân chứng tỏ vai trò của cha mẹ đối với con cáitrong các gia đình nông dân dưới thời phong kiến rất quan trọng. Bố mẹ đượcsự hỗ trợ của tư tưởng phong kiến đã tạo ra được uy quyền chi phối hôn nhâncủa con cái. Xem các tình huống cam chịu được kê ở bảng trên, chúng ta cầnchú ý rằng số tình huống cha mẹ tham của cải, tham gả con cho nhà giầuchiếm tỷ lệ cao. Điều đó nói lên vật chất ở thời phong kiến đã là thứ đặt cượccho hạnh phúc của gái trai. Sau đây là một số câu ca dao tiêu biểu: 1. Ai bưng bầu rượu đến đó Chịu khó bưng về Em thương anh thảm thiết trăm bề Heo vay cau tạm áo mượn võng thuê Thầy mẹ em nay nhún mai trề Dạ không nỡ dạ, em không dám chê anh nghèo. 2. Em thương anh, cha mẹ không cho Tìm nơi khuất tịch, khóc no rồi về. 3. Mẹ cha nghiêm khắc cùng mình Nên tôi ít lai vãng, mới nhạt tình đôi ta. 4. Thương nhau chẳng lấy được nhau Mẹ cha trồng sậy, trông lau ngăn rào. 5. Ba tàn ba heó vì cây Con sầu vì mẹ vì thầy ép duyên. 6. Bác mẹ em vội tham vàng 101
  • 102. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Hang hùm lại ngỡ hang vàng gả con Trước thời thẹn với nước non Sau thời cay đắng lòng con đêm ngày Khi vui có bác mẹ thầy Cơn sầu em chịu đắng cay một mình Mang thơ ra dán cột đình Kẻ xuôi người ngược thấu tình em chăng? Phong ba nổi giữa đất bằng Một dây một buộc ai dằng cho ra! Thiết gì một cảnh vườn hoa Mà đem đầy đoạ thân ta thế này? Thấu chăng hỡi bác mẹ thầy Ngỡ rằng gả bán, hoá đầy thân con! 7. Anh đi về đi, kẻo thầy em dứt, kẻo mẹ em la Trận đòn oan em chịu, anh ở xa biết gì! 8. Hà Nội ba mươi sáu phố phường Hàng Mật, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh Từ ngày ta phải lòng mình Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen Làm quen chẳng được làm quen Làm bạn mất bạn ta liền quên nhau. Tình huống phổ biến là các đôi trai gái yêu nhau (26 trong 58 tình huống)và bị cha mẹ ngăn cấm hoặc không đồng tình, do đó họ phải rời xa nhau, để rồibuồn thảm, than khóc. Tuy vậy, trạng thái của các tình huống này không căngthẳng lắm, không thể hiện sự áp chế gay gắt. Cách thức phản ứng của các đôitrai gái trong các tình huống này mang tính buông xuôi. Như vậy, hậu quả màhọ gánh chịu có phần do họ chứ không phải hoàn toàn do bị áp chế. Trong 8câu ca dao dẫn ra trên đây, chúng ta thấy rằng trước tình yêu của những đôitrai gái, cha mẹ họ không tỏ thái độ quá gay gắt, mà chỉ ở mức vừa phải (naynhún mai trề, không cho, nghiêm khắc, ngăn rào) mà họ đã buông xuôi (khôngnỡ, khóc, ít lai vãng), không vượt lên khỏi hoàn cảnh để đi đến với nhau.Trong những trường hợp này, chúng ta có thể quy trách nhiệm cho lễ giáophong kiến quá hà khắc, khiến con cái phải hy sinh tình yêu để giữ tròn chữhiếu với cha mẹ, cũng do điều kiện khá cô biệt của làng khiến các đôi trai gáibị ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ với gia tộc, xóm giềng, bị sức mạnh củadư luận đè nén, không dễ gì bung phá để đến với nhau, nhưng cũng có thểnhận xét rằng tình yêu trong các trường hợp này chưa đủ mạnh tạo nên sự 102
  • 103. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhbung phá cho các đôi uyên ương. Sự căng thẳng diễn ra qua 16 tình huống màtrong đó cha mẹ gả bán, cầm duyên, ép buộc cũng nhận được phản ứng khôngmấy mạnh mẽ (sầu, cay đắng). Những điều dẫn ra trên đây hoàn toàn tráingược với các tình huống dẫn ra trong mục sau thể hiện tình yêu mãnh liệt củatrai gái, khiến họ bất chấp tất cả để bảo vệ tình yêu của mình. Về quyền cha mẹ trong hôn nhân, có bốn câu ca dao nói trực tiếp, trongđó có hai câu thể hiện cách thức sử dụng quyền ấy như sau: 1. Con ta gả bán cho người Cờ ai nấy phất chứ chơi đâu mà. 2. Nuôi con những tưởng về sau Trao duyên phải lứa, gieo cầu phải nơi Mực đen vô giấy khó chùi Vợ chồng, chồng vợ việc đời trăm năm. Đó là hai lối suy nghĩ trái ngược nhau, một là theo lối gia trưởng, áp đặthôn nhân, hai là theo lối dân chủ có trách nhiệm với hạnh phúc của con. Nhưvậy, ngay trong quan niệm của dân gian về quyền của cha mẹ trong hôn nhâncũng có sự đa dạng, không phải là một chiều theo lễ giáo phong kiến. 4.2. Nam nữ chống lại sự đè nén của lễ giáo phong kiến Qua 53 câu ca dao thể hiện sự chống lại của nam nữ đối với lễ giáophong kiến, chúng tôi rút ra 47 tình huống như sau: TÌNH HUỐNG CHA MẸ CON KẾT QUẢ1.Yêu nhau Không bằng lòng Vẫn yêu2.Chưa chồng Tự liệu Kịp duyên3.Yêu nhau Đánh đập Quyết lấy nhau4.Bị gả bán Xin hoãn5.Yêu nhau Đánh, ngăn Không xa nhau6.Yêu nhau Đánh, ngầy Vẫn đi Gặp nhau7.Bị ép gả Tìm cách thoát8.Yêu nhau (3 câu) Đánh Vẫn yêu9.Yêu nhau Doạ thả trôi bè Không sợ Lôi nhau về10. Yêu nhau Chia rẽ Mặc Giữ lời nguyền11. Bị ép gả Gả bừa Liều mình Thoát12. Yêu nhau Chửi mắng Không sợ Càng yêu13. Yêu nhau Đánh, chê Không nghe Quyết lấy14. Bị ép gả Đòi tự vẫn 103
  • 104. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình15. Yêu nhau Đánh, đày Thà chịu chết Thuỷ chung16. Đi lấy chồng (2) Lạy cha mẹ, xin của17. Yêu nhau Giấu cha mẹ18. Yêu nhau Không thương Lạy. Nhờ hàng xóm19. Yêu nhau Quên công cha mẹ Theo nhau20. Yêu nhau Xe ít Xe nhiều. Nhờ xe21. Yêu nhau Không thương Vẫn đợi22. Yêu nhau Phải theo23. Yêu nhau Cấm đoán Vẫn sắm sửa Đi lấy chồng24. Lấy chồng Răn dạy Xin vốn làm ăn riêng25. Yêu nhau Nghe theo Không chê nghèo26. Yêu nhau Kén Không ngại27. Cấm đoán Sắm sửa Đi lấy chồng28. Cấm đoán Xin đừng cấm29. Yêu nhau Nói Mặc Thương lâu dài30. Yêu nhau Tin rằng cha mẹ cũng ưng31. Lấy chồng Để mẹ cho anh trai Theo chồng32. Yêu nhau Bỏ mẹ ra đi Thất hiếu33. Yêu nhau Dấu cha mẹ Đưa anh về34. Yêu nhau La rầy Không bỏ35. Yêu nhau Thương hay không Vẫn lấy nhau36. Yêu nhau Vấn vương Lỗi đạo37. Thương chồng Lạy mẹ Theo chồng38. Thờ cha kính mẹ Theo đôi lứa Thành thất gia39. Lấy chồng Để mẹ cho em Không sai chữ tòng40. Lấy chồng Để mẹ cho con trai Gắn bó với chồng41. Yêu nhau Cắp nhau đi Đền công cha mẹ sau42. Yêu nhau Dối mẹ43. Yêu nhau Thương chàng hơn44. Yêu nhau Ngồi không yên Than thở 104
  • 105. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình45. Lấy chồng Kêu Lạy. Thương chồng Theo chồng46. Yêu nhau Đánh mắng Không sợ Tung chiếu ra đi47. Yêu nhau Lấy nhau 47 tình huống nam nữ chống lại sự đè nén của lễ giáo phong kiến nêutrên phản ánh tính chất quyết liệt của hai xu hướng - xu hướng tự do hôn nhân,và xu hướng ép hôn nhân vào trật tự của lễ giáo phong kiến. 47 tình huống ấyđược thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau. Sau đây là một số câu ca dao tiêu biểu: 1. Con lạy cha hai lạy một quỳ Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng Mẹ sắm cho con yếm nhuộm nhất phẩm hồng Thắt lưng đũi tím, bộ nhẫn đồng con đeo tay. 2.Dầu thầy mẹ không thương Đôi ta trải chiếu, lạy từ ngoài đường lạy vô Lạy cùng ông bác bà cô Lạy cùng làng xóm, nói vô tôi nhờ Lạy cùng bà Nguyệt, ông Tơ Xe sao cho trọn, một giờ bén duyên. 3. Đôi ta như chỉ xe ba Thầy mẹ xe ít thì ta xe nhiều Đôi ta như chỉ xe năm Thầy mẹ xe ít ta cầm ta xe Đôi ta như chỉ xe mười Thầy mẹ xe ít, mượn người ta xe. 4.Em thương anh cha mẹ cũng phải theo Chiếc tàu buồm kia đang chạy, quăng neo cũng ngừng. 5.Thương nhau cắp quách nhau đi Công cha nghĩa mẹ sau thì hãy hay. 6. Thờ cha, kính mẹ đã đành Theo đôi, theo lứa mới thành thất gia. 7. Rượu ngon một chén cũng ngon Thầy mẹ thương con cũng gả, không thương con cũng gả Con thiên lí mã, con vạn lí vân Biết rằng hai họ giao lân Bốn sui gia ngồi lại, thiếp gửi thân cho chàng. 8. Tay đeo khăn gói qua sông 105
  • 106. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Mẹ ôi lạy mẹ thương chồng phải theo. 9. Vai mang khăn gói theo chồng Mẹ kêu con dạ, trở vào lạy mẹ cùng cha Xưa kia con ở nội gia Bây giờ con xuất giá tùng phu, nội gia tùng phụ Sách có chữ: tam cương thường ngũ Ngoài bìa có chữ phu phụ đạo đông Thương cha, nhớ mẹ, đạo thương chồng phải theo. 10. Nơi mô em hãy chí quyết một nơi Mẹ già không há dễ sống đời nuôi con. Thống kê qua bảng trên cho thấy có 31 trường hợp thể hiện rõ tình yêuqua 47 tình huống ứng xử, và thái độ của cha mẹ cũng rất cứng rắn: ngăn cấm,doạ nạt, đánh đập, doạ thả bè trôi sông, gả bừa. Đáp lại, thái độ của con vừakhôn khéo vừa quyết liệt: lúc thì cầu xin, lúc thì vận động cả họ hàng giúp đỡ,lúc thì mặc kệ, bỏ qua mọi rào cản để đến với nhau, dẫn đến kết quả là đạtđược ước nguyện tình duyên. Qua 10 câu ca dao dẫn ra trên đây, thấy khi yêunhau mãnh liệt, các đôi trai gái đã vận dụng mọi biện pháp để đạt được nguyệnvọng của mình. Trong họ, giáo lý Khổng Mạnh và những quy định quản lýnghiệt ngã ở làng xã không có tác dụng khống chế hoặc dẫn dắt hướng ứng xử,mà chỉ có tiếng gọi của tình yêu (mặc dù có khi giáo lý này được gọi tên ra).Và cũng chính tình yêu đã dẫn đến hôn nhân - người con gái “lạy mẹ” để đi“lấy chồng”, không những lạy cha mẹ, mà họ còn lạy chú bác, họ hàng, làngxóm, họ nhờ bất cứ ai có thể nhờ được trong việc xe duyên cho họ, cho đến khicha mẹ “cũng phải theo”, còn không thì họ “cắp quách nhau đi”, (và quyết liệthơn, trong Kho tàng ca dao xứ Nghệ còn có câu: "Cha mẹ dù có chặt chân chặttay/Khoét mặt, khoét mày cũng trốn theo anh.") Không những thế, họ còn nêu lên triết lý là “Theo đôi, theo lứa mới thànhthất gia.” Đây là cách lập luận mang tính duy vật, phù hợp với quy luật của tựnhiên, của xã hội, là một đòn tấn công vào lễ giáo phong kiến bắt con ngườiphải thành thất gia mà không cần biết có thương yêu nhau hay không. Cũng vìdựa trên lập luận vững chắc như thế, những đôi trai gái Việt xưa đã đi đếnđược hôn nhân trong tình yêu, và người phụ nữ được theo chồng (có 23 trườnghợp nói rõ kết quả của tốt đẹp ấy, như đi lấy chồng, cắp nhau đi, gửi thân chonhau, theo chồng, lôi nhau về). Đáng lưu ý là khái niệm theo chồng cuả dângian không trùng khớp khái niệm tòng phu của triết thuyết Nho giáo - theochồng vì thương, vì đạo nghĩa là chính chứ không phải vì phục tòng (nội dungĐạo thương chồng, Tình và nghĩa vợ chồng đã được đề cập trong mục Quan 106
  • 107. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhhệ vợ chồng). Như thế, nhận định của Nguyễn Bách Khoa về hôn nhân trongchế độ phong kiến Việt Nam thể hiện qua ca dao: "Đã trót yêu nhau mà gặp sựngăn trở của cha mẹ thì chỉ còn một cách là lìa nhau cho tròn chữ hiếu. Ởnhững trường hợp ấy thì trai gái đều phải phục tòng gia đình, nhưng trong lònghọ hậm hực lắm." [53:126] là nhận định không chính xác. 4.3. Nam nữ cư xử theo lẽ thường tình. Qua 36 câu ca dao phản anh về hôn nhân thể hiện cách cư xử theo lẽthường tình, không bị trói buộc bởi triết thuyết, lễ giáo nào, chúng tôi thống kêthành 29 tình huống như sau:TÌNH HUỐNG CHA MẸ CON KẾT CỤC1.Yêu nhau Chưa rõ Ngại ngùng Chờ ý cha mẹ2.Yêu nhau Đợi quyền cha mẹ3.Muốn trao Sợ lòng mẹ cha duyên4.Lựa chọn tình Lưỡng lự hiếu5.Lựa chọn Chưa rõ Hỏi mẹ cha chồng6.Muốn làm Sợ bác mẹ quen7.Yêu nhau Chưa rõ Sợ mẹ thầy8.Yêu nhau Hỏi có nghĩ đến cha mẹ mình không 9.Lựa chọn Ngăn cấm Lưỡng lự Day dứt10. Lựa chọn Chưa rõ Lưỡng lự Day dứt11. Lấy chồng Nghĩ cách đền ơn12. Lựa chọn (2) Thương cha mẹ, lo Day dứt duyên13. Gả chồng Lo xa nhà14. Lựa chọn Chưa rõ Băn khoăn Chờ ý cha mẹ15. Yêu nhau Băn khoăn Bỏ đi theo chồng16. Lựa chọn Kêu gọi Nghe cả hai Dùng dằng17. Được hỏi làm Nghĩ đến hiếu trung Bảo về vợ18. Có người tỏ Nghĩ đến cha mẹ Không tự tình 107
  • 108. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình tình (3)19. Chờ đợi Nuôi phụ mẫu Không sợ già20. Chờ đợi Đền hiếu trung21. Có người tỏ Dò ý cha mẹ Bảo chờ tình22. Bị thách cưới Thách cưới Đáp ứng23. Được tỏ tình Chờ ý cha mẹ Bảo chờ24. Yêu nhau Nhớ công ơn cha mẹ Cúi luồn cha mẹ25. Chưa chồng Nhớ công ơn cha mẹ ở vậy lo phận con26. Yêu nhau Chờ lệnh mẹ cha Cùng chờ27. Có người tỏ Để tang cha mẹ Không đáp lại tình28. Có người tỏ Nhớ nghĩa vụ với cha Không sợ lỡ tình mẹ duyên29. Để tang cha Hỏi có chờ không mẹ Sau đây là một số câu ca dao tiêu biểu: 1. Ơn hoài thai như biển Ngãi dưỡng dục, tợ sông Em nguyền ở vậy phòng không Lo đàng cha mẹ cho hết lòng phận con. 2. Ơn thầy bằng núi, nghĩa mẹ tày non Hai ta là đạo làm con Muốn duyên vừa ý đẹp phải cúi luồn mẹ cha. 3. Chớ lo nốc nát, ván hà Gắng thân nuôi phụ mẫu, duyên già có anh. 4. Phụ mẫu sơ sanh, hãy để người định Trong việc vợ chồng, phải chờ lịnh mẹ cha - Đợi lịnh mẹ cha, anh đây cũng biết vậy Nhưng em phải hứa chắc một lời, anh sẽ cậy mai dong. 5.. Thuyền em lựa bến cắm sào Em chờ phụ mẫu định nơi nào sẽ hay. 6. Lênh đênh nửa nước nửa dầu Nửa thương cha mẹ nửa sầu căn duyên. 108
  • 109. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Điều đáng quan tâm là trong loại tình huống thể hiện sự cư xử theo lẽthường tình của con trước việc hôn nhân, là trạng thái yêu có tần số thấp hơncác loại tình huống nói ở các mục trên - có 28 tình huống thì chỉ có 7 tìnhhuống thể hiện tình yêu đã nảy nở giữa các đôi trai gái, còn đa số thể hiện tìnhtrạng mới chớm nở của tình yêu (21 trường hợp phản ánh tình trạng mới làmquen, mới được tỏ tình, đang lựa chọn đối tượng…), còn thái độ của cha mẹhầu hết trong các trường hợp là chưa rõ (26 trong tổng số 29 tình huống).Người bộc lộ suy nghĩ trong các tình huống nói trên chủ yếu là con - họ nghĩvề sự phản ứng của cha mẹ nếu biết được ý định tiến tới hôn nhân của họ.Nhìn chung, họ sợ cha mẹ không đồng tình thì ít (4 trường hợp) mà đợi ý mẹcha thì nhiều (7 trường hợp), hơn nữa, họ nghĩ đến trách nhiệm của con đối vớicha mẹ là nhiều hơn cả (11 trường hợp). Trong 6 câu ca dao trích dẫn trên đây,thấy nổi bật là trách nhiệm của con đối với cha mẹ, trong đó, con lo đến việcđền đáp công ơn cha mẹ và chờ ý kiến cha mẹ rồi mới tính đến hôn nhân. Đặcbiệt trong câu thứ ba, đã nói lên một cách mộc mạc mà sâu sắc sự tự giác, thấutình đạt lý của người nông dân về quan hệ giữa tình và hiếu: cứ lo cho cha mẹ,dù “duyên già” thì đã "có anh". Đó là cách thức ứng xử phù hợp với truyềnthống kính trọng mẹ cha của dân tộc. Trong trường hợp bị chi phối bởi bêntình bên hiếu, các đôi trai gái dùng dằng, lưỡng lự. Điều đó cũng cho thấy họsống theo lẽ thường tình, không bị chi phối quá mạnh mẽ bởi học thuyết Nhogiáo, bởi vì Nho giáo quy định rằng con phải nghe lời cha, cha bảo chết màkhông chết là bất hiếu. Sự dùng dằng, lưỡng lự “nửa thương cha mẹ, nửa sầucăn duyên”, “Mẹ kêu khốn tới, thương chồng khốn lui” cho thấy rằng cái cósức chi phối họ chủ yếu là cái tình chứ không phải là cái lý. 4.4. Tính dân chủ trong hôn nhân. Giá trị đích thực của hôn nhân phải được xuất phát từ tình yêu gái trai,không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, sang giầu, tôn giáo, cũng như thànhphần xuất thân. Tiến tới hôn nhân là quyền lựa chọn của đôi trai gái. Một khíacạnh của dân chủ trong hôn nhân được biểu hiện ở sự lựa chọn đó. Ca dao làtâm tư tình cảm của người lao động, mà dưới thời phong kiến chủ yếu là ngườinông dân. Môi trường lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thầncho xã hội của những con người đồng cảnh đã nuôi dưỡng tinh thần dân chủ.Tuy nhiên, ý thức hệ của giai cấp thống trị đã ảnh hưởng mạnh vào cơ tầng xãhội và ý thức của người nông dân. Một mặt, họ muốn sống như cuộc sống vốncó của họ, mặt khác, họ lại muốn lấy mô thức của giai cấp thống trị họ làm cáiđích để hướng tới. Do vậy, ca dao có cả mặt tiêu cực và tích cực của ý thức hệthống trị và bị trị. Có điều, liều lượng của hai loại này ẩn chứa trong đó là bao 109
  • 110. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhnhiêu, khó có thể đo đếm được. Ta thử xem tính dân chủ trong hôn nhân đượcthể hiện qua 6 câu ca dao dưới đây: 1. Đôi ta như ngọn nhang trần Không cha không mẹ muôn phần cậy ai? 2. Mỗi năm mỗi thắp đèn trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con Người còn thì của cũng còn Để người ban bảo vuông tròn nhân duyên. 3. Sông Thanh nước chảy lờ đờ Con đi lấy chồng, mẹ biết nhờ ai? 4. Xiết bao bú mớm bù chì Đến khi con lớn con đi lấy chồng Có con đỡ gánh đỡ gồng Con đi lấy chồng, vai gánh tay mang! 5. Khi đi mẹ đã dặn rồi Đi thì đi một về đôi mẹ mừng. 6. Trách cha, trách mẹ em lầm Cho nên em phải khóc thầm hôm mai Trách chàng chẳng dám trách ai Trách chàng chê nụ hoa nhài không thơm. Câu ca dao thứ nhất và thứ hai cho thấy rằng trong quan niệm của ngườiViệt xưa, không phải lúc nào cha mẹ cũng là rào cản của con trong chuyện hônnhân. Rõ ràng, cha mẹ là chỗ để con nhờ cậy, nhờ cha mẹ ban bảo thì nhânduyên mới được vuông tròn, có nghĩa là chính cha mẹ không những là ngườinuôi dạy mà còn là người tác thành cho đôi lứa. Câu ca dao thứ ba và tư chothấy sự hẫng hụt của cha mẹ khi con đi lấy chồng, và lúc này, người phải camchịu là cha mẹ chứ không phải là con. Người mẹ ngẩn ngơ nhìn con theochồng, chỉ còn than thở “biết ở với ai!”, và xác định ngay cách sống phù hợplà tự lực nuôi sống bản thân “vai gánh, tay mang”. Đến câu thứ năm, tính dânchủ trong quan niệm về hôn nhân của người Việt xưa đã thể hiện rất rõ. Câu cadao này gợi nên hình ảnh một người mẹ nhân từ, khi thấy con đi xa về vẫnkhông cùng ai, đã mỉm cười hiền hậu mà trách nhẹ về sự không về đôi cuảcon. Như vậy là, ngay trong lòng chế độ phong kiến, người nông dân đã cóquan niệm tự do lựa chọn hôn nhân, sự lựa chọn ấy thuộc về con, trái ngượchẳn với quan niệm của lễ giáo phong kiến cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Quyềntự do hôn nhân có trường hợp được mở đến vô cùng! Câu ca dao cuối cùngthoạt nghe tưởng rằng cha mẹ đã can thiệp thô bạo vào chuyện tình duyên cuả 110
  • 111. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhcon, nhưng đọc kỹ mới thấy rằng chính người con trai đã mượn thành kiến vềvai trò của cha mẹ trong chế độ phong kiến để đổ lỗi cho cha mẹ, khi chínhbản thân mình mới là người phụ tình. Anh chàng láu lỉnh ấy mặc dù đã đembức bình phong của lễ giáo phong kiến ra che chắn, vẫn không qua được đôimắt tinh tường của người con gái để rồi được vạch mặt một cách tinh tế: anhmới là người chê hoa nhài không thơm, anh mới là người tự chặt đứt duyêntình! Chúng ta có thể đặt câu hỏi vì sao ngay trong lòng xã hội phong kiến vớinhững giáo lý khắt khe, quan niệm và cách ứng xử trên bình diện hôn nhân thểhiện qua ca dao lại đa chiều, trong đó có những yếu tố dân chủ như vậy? Cóthể tìm thấy câu trả lời khi xem xét hoàn cảnh xã hội mà trong đó ca dao ra đờivà được lưu truyền đến ngày nay. Nho giáo hay lễ giáo phong kiến dù có hàngngàn năm thống trị, vẫn không thể lan toả vào mọi ngõ ngách của cuộc sống,trong đó, nông thôn là địa hạt còn bị bỏ ngỏ nhiều. Đó là vì nông thôn ViệtNam có một cơ cấu xã hội đặc thù, một cơ cấu mà trong đó làng tồn tại có tínhđộc lập tương đối, có phong tục tập quán được lưu truyền từ lâu đời, là tấm ràocản làm giảm bớt sự thâm nhập của những triết thuyết và lối sống ngoại lai(như Nho giáo từ phương Bắc sang). Trong thời phong kiến ở Việt Nam, giao thông kém phát triển, phươngtiện vận tải cũng như phương tiện truyền thông còn thô sơ, cho nên giao tiếpvới thành thị thì khó, mà giao tiếp trong nội bộ làng quê lại thật dễ dàng. Đànông, đàn bà không bị phân biệt sâu sắc về phân công lao động, về các nguyêntắc của lễ giáo phong kiến, cho nên nguyên tắc thụ thụ bất thân khó mà vậnhành được ở đây. Họ cùng lao động, đặc biệt là lao động trong một môi trườngphóng khoáng là đồng ruộng, thì sự gặp gỡ, giao duyên để đi tới tình yêu vàhôn nhân là điều không khó. Cộng vào đó, các sinh hoạt hội hè, đình đám, cácđêm xem diễn chèo ở đình làng... đều là điều kiện thuận lợi cho nam nữ gặpgỡ, giao duyên. Ca dao chủ yếu phát sinh từ nông thôn, cho nên phản ánh chânthật về tình yêu, hôn nhân theo cái phóng khoáng của thôn quê cũng là lẽ tấtyếu. Thật vậy, theo chúng tôi thống kê, trong số 11.825 đơn vị ca dao, có tới5.682 đơn vị nói về giao duyên nam nữ. Họ giao duyên trong môi trường rộngmở của đồng ruộng, của bờ sông, bãi dâu, của giếng nước, đầu đình… Thốngkê qua 6.862 đơn vị ca dao về giao duyên nam nữ và về gia đình, chúng tôithấy có 4.383 lượt đơn vị có chứa các từ chỉ khung cảnh nông thôn bình yênvới những cánh cò, đàn chim, cây đa, bến nước, con đò, cây, hoa lá… (94 đơnvị có từ ruộng, đồng, 123 đơn vị có từ vườn, 653 đơn vị có từ thuyền, đò, bến,494 đơn vị có từ sông, 93 đơn vị có từ đình, chùa, 36 đơn vị có từ cây đa, 111
  • 112. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình1.452 đơn vị có từ lá, cây, cành, hoa, quả, tre, trúc, 385 đơn vị có từ trầu, cau,74 đơn vị có từ lúa, thóc, 387 đơn vị có từ chim, cò, 82 đơn vị có từ trâu, bò,320 đơn vị có từ cá). Có nghĩa là khung cảnh phổ biến mà trong đó nảy nởduyên tình, dẫn đến hôn nhân của các đôi trai gái được phản ánh trong ca daolà thiên nhiên, một thiên nhiên thuần khiết của nông thôn, không bị chi phốibởi những triết thuyết hoặc lễ giáo khắt khe nào, nó tạo điều kiện cho conngười sống cởi mở, chân thành với tình cảm dào dạt. Số lượng từ khá lớn vềthiên nhiên nói trên cũng đồng thời cho ta thấy cuộc sống của người Việt xưachính là một cuộc sống nông nghiệp trồng lúa nước gắn với sông nước, đồngruộng. Có điều, trong khi sử dụng nhữug từ “thuần nông” như trên để diễn tảtình yêu lứa đôi, các tác giả dân gian đã thi vị hoá và phi vật chất hoá nghĩacủa chúng, khiến chúng vừa gần gũi với cuộc sống của người nông dân, vừabay bổng lên trong tình yêu và khát vọng hạnh phúc của con người. Chẳnghạn, từ cá, được xuất hiện tới 320 lần, nhưng hầu như không lần nào mang ýnghĩa vật chất, diễn tả một thứ thức ăn phổ biến của người nông dân vùng sôngnước, mà chủ yếu là phương tiện biểu đạt cho tình cảm con người. Có thể nhặtra bất cứ câu ca dao nào trong số 320 câu vừa nói trên để chứng minh điềunày, ví dụ như: 1. Công anh xe chỉ uốn cần Vì chưng trời động con cá lần ra khơi. 2. Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai? Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi, nhớ ai sao mờ Đêm đêm hướng dải Ngân Hà Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ. 3. Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc Em có chồng rồi anh tiếc em thay Ba đồng một mớ trầu cay Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không? Bây giờ em đã có chồng 112
  • 113. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Như chim vào lồng như cá mắc câu Cá mắc câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thuở nào ra. 4. Ai làm cá bống đi tu Cá thu nó khóc, cá lóc nó rầu Luỵ rơi hột hột, cơ cầu lắm bớ em! 5. Anh đừng thấy cá phụ canh Thấy toà nhà ngói, phụ tranh rừng già. Qua 5 câu ca dao trên đây, đã đủ thấy cách sử dụng từ cá (cũng như cáctừ chỉ vật chất khác) linh hoạt và uyển chuyển như thế nào - lúc thì tượngtrưng cho người con gái vừa tuột khỏi tầm tay người con trai, lúc lại tượngtrưng cho nỗi buồn man mác của một người đang yêu mà phải xa người yêu,lúc lại là biểu tượng cho sự chung thuỷ, không thay lòng đổi dạ… Mặt khác,cách thức diễn đạt xuất phát từ trực quan sinh động ấy cũng biểu hiện cho lốitư duy thuần phác của người nông dân, thứ tư duy không bị trói buộc bởinhững triết thuyết hoặc lễ giáo khắt khe trong xã hội phong kiến mà xuất pháttừ thực tiễn sinh động trong cuộc sống hàng ngày ở nông thôn. Đứng về mặt tác giả của những ca dao nói chung và ca dao về hôn nhânnói riêng, chúng ta thấy cũng có sự đa dạng. Tuy nhìn chung thì đó là tác giảtập thể, thế nhưng nếu tìm về ngọn nguồn thì thấy từng câu ca dao đều phảiđược sáng tác và phát ngôn bởi một người cụ thể, trong một hoàn cảnh cụ thểnào đó. Ca dao chủ yếu phát nguồn từ nông thôn, trong khung cảnh giao duyênnam nữ và khung cảnh lao động hoặc hội hè là chính, với tác giả chủ yếu lànhững người sống tại nông thôn. Trong số họ, có người là nông dân, có ngườilà nhà nho (đang học để đi thi, thi không đỗ, cáo quan về “vườn”, thầy đồ -hương sư). Chính những nhà nho này góp phần quan trọng chuyển tải tư tưởngNho giáo về nông thôn, phổ biến nó trong học sinh, và khi họ tham gia sángtạo ca dao thì họ cũng chuyển tải quan điểm Nho giáo vào nội dung ca dao.Tuy vậy, do ký thác cả cuộc sống trong làng quê, các nhà nho sống ở nôngthôn vừa chịu ảnh hưởng của Nho giáo, vừa có cái nhìn thực tế, cho nên, trongca dao về hôn nhân, gia đình mới có sự đa chiều về quan niệm như vậy, màchiếm ưu thế là chiều đi theo tiếng gọi mạnh mẽ của tình yêu chân chính nảysinh trong lao động, trong môi trường thiên nhiên trong lành của người Việt.Qua ca dao, thấy rõ rằng trong cuộc sống của người Việt xưa, tình yêu làm cơsở cho hôn nhân, tạo lập gia đình hạnh phúc. 113
  • 114. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình TIỂU KẾT Chúng tôi đã khảo cứu ca dao về gia đình trên những quan hệ chính là vợchồng, cha mẹ con, nàng dâu - nhà chồng. Do ca dao phản ánh ít về quan hệanh chị em cho nên chúng tôi không khảo cứu nội dung này. Mặt khác, qua cácmối quan hệ, ca dao đã phản ánh một cách sinh động quan niệm dân gian trênmột số vấn đề như đạo hiếu, đạo nghĩa, ông Tơ bà Nguyệt, hôn nhân, cho nênchúng tôi đi sâu khảo cứu những vấn đề này, tìm ra được một số nét đặc trưngtrong nhận thức và cách thức ứng xử của người Việt trong cuộc sống gia đình. Về quan hệ vợ chồng: Đặc trưng cơ bản của quan hệ vợ chồng người Việtthể hiện qua ca dao là gắn bó, với những biểu hiện chính là: theo nhau, gắn bótrong lao động, càng xa cách càng gắn bó. Nét đặc thù của sự gắn bó vợchồng người Việt là theo nhau. Khái niệm tòng phu của Nho giáo ở Việt Namkhông được hiểu một cách bó hẹp, cứng nhắc, mà được mở rộng, mềm mại,chuyển hoá thành vợ chồng theo nhau. Chính sự theo nhau của vợ chồngngười Việt thể hiện quan niệm và cách thức ứng xử dân chủ, mềm mại củangười nông dân thuần phác, chứng minh rằng gia đình người Việt tuy sốngtrong chế độ phụ quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng không rậpkhuôn theo đạo lý phong kiến, mà đa dạng, phong phú, mang tính dân chủ vàtính nhân văn sâu sắc. Về các khái niệm của Nho giáo được vận dụng trong ca dao về gia đình:Các từ đạo nghĩa, ông Tơ bà Nguyệt có tần số xuất hiện khá cao trong ca daochứng tỏ Nho giáo đã có ảnh hưởng khá rộng trong dân gian. Tuy vậy, nộidung của các khái niệm này được thể hiện qua ca dao lại không gần gũi với nộihàm nguyên gốc Hán, mà chứa đựng những ý nghĩa phù hợp với tâm thức dântộc, một dân tộc có truyền thống nhân ái, coi trọng nghĩa tình, gắn bó với nhautrong lao động, gần gũi và hoà đồng với thiên nhiên. Điều đó chứng tỏ trongcách tiếp thu Nho giáo, người Việt đã chuyển hoá nội dung cho phù hợp vớiđiều kiện sống và tập tục của dân tộc, có nhiều trường hợp chỉ còn dùng vỏngôn ngữ của các khái niệm thuộc giáo lý nhà Nho để chuyển tải những nộidung gần gũi với cuộc sống bình thường ở nông thôn. Về quan hệ cha mẹ con: Ca dao nói nhiều đến đạo hiếu, với những nộidung gần với những nội dung mà Nho giáo đề cập. Tuy vậy, đó không phải lànhững giáo lí khô cứng, cao siêu theo triết thuyết Nho giáo mà gắn với đờisống thường ngày, đề cao cách thức ứng xử hướng về cội nguồn, tôn trọng vàkính yêu cha mẹ theo truyền thống của cư dân vùng Đông Nam Á vốn coitrọng tổ tiên. Ảnh hưởng rõ nhất của Nho giáo vào gia đình người Việt là coitrọng việc học hành, nhằm dương danh hiển thân. Qua ca dao thấy rõ điều này: 114
  • 115. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhcha mẹ coi trọng việc cho con theo học, đi thi và đỗ đạt. Những biểu hiện tiêucực trong quan hệ cha mẹ con mà ca dao phản ánh và phê phán là con đối xửkhông tốt đối với cha mẹ. Về quan hệ nàng dâu và gia đình chồng: Số lượng câu ca dao nói vềnhững biểu hiện tiêu cực trong quan hệ nàng dâu - nhà chồng nhiều gấp 2,35lần số câu nói về những biểu hiện tích cực, cho thấy đây là mâu thuẫn đángquan tâm khắc phục nhất trong gia đình người Việt. Nói cách khác, mâu thuẫnnàng dâu - nhà chồng là điểm yếu nhất trong quan hệ gia đình của người Việt.Mâu thuẫn nàng dâu - mẹ chồng diễn ra gay gắt trên nhiều bình diện, mànguyên nhân chính thuộc về yếu tố kinh tế và yếu tố tâm lý, đồng thời có yếutố Nho giáo. Quan niệm về hôn nhân: Người Việt có quan niệm đa chiều về hôn nhân,trong đó có chiều tiêu cực là chịu sự ràng buộc thái quá của lễ giáo phongkiến, nhưng chiều nổi bật, tích cực là quan niệm dân chủ, nhân văn. Chính vìthế, vượt qua mọi sự áp chế của chế độ phong kiến, người Việt đã tìm thấyhạnh phúc trong hôn nhân, từ đó xây dựng được một mẫu hình gia đình gắnbó, hoà thuận trong lao động, trong môi trường nông thôn thanh bình tuy laođộng nặng nhọc và vật chất thiếu thốn. Nguyên nhân của tình hình này làngười Việt sống trong môi trường nông thôn có một thiết chế tương đối khépkín là làng, với phong tục tập quán được lưu truyền từ lâu đời, là tấm rào cảnlàm giảm bớt sự thâm nhập của những triết thuyết và lối sống ngoại lai. Mặtkhác, tình yêu nảy nở trong khung cảnh thiên nhiên hiền hoà, trong các dịp lễhội thắm tình làng nghĩa xóm, trong lao động trên đồng ruộng phóng khoáng,trong sinh hoạt hội hè đình đám mang tính dân chủ làng xã là điều kiện khiếncho các đôi trai gái nông thôn tiến tới hôn nhân một cách hồn nhiên và mộcmạc, từ đó xây dựng được gia đình trên một cái nền vững chắc của làng quêvới những phong tục tập quán tốt đẹp. Chúng tôi nhận thấy ý kiến nói rằngtrong xã hội phong kiến, hôn nhân chỉ là kết quả của sự cưỡng ép của cha mẹđối với con, hôn nhân không đem lại hạnh phúc cho con người là thiếu toàndiện. Từ các mối quan hệ trong gia đình và cách thức ứng xử của các đôi traigái trước tình yêu và hôn nhân, giữa bên tình và bên hiếu, thấy nổi bật lên vấnđề số phận cá nhân trong mối tương quan với gia đình và trách nhiệm của từngcá nhân trong gia đình của mình. Bao trùm, là trách nhiệm cao của từng cánhân với tư cách thành viên của gia đình với gia đình. Mỗi cá nhân đều phải ýthức rõ vai trò của mình trong gia đình và thực hiện tốt vai trò ấy. Cha mẹ phảiăn ở có đức, phải hy sinh, nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Con cái phải biết ơn 115
  • 116. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhvà có trách nhiệm với cha mẹ. Vợ phải theo chồng, gánh vác giang sơn nhàchồng. Chồng phải biết đến công lao của vợ, phải chung lưng đấu cật với vợ.Như thế, ý thức về gia đình mang ý nghĩa bao trùm, chi phối mọi hành độngcủa từng cá nhân trong gia đình. Khi xảy ra mâu thuẫn, từng cá nhân, nhất làngười ở bậc dưới, phải chịu hy sinh hoặc nhường nhịn, người ở bậc trên phảibao dung, khoan hoà. Tuy vậy, sự nhường nhịn hay hy sinh ấy không bao trùmtoàn bộ cuộc sống gia đình, không thủ tiêu hết vai trò cá nhân, làm cho từng cáthể tan biến trong gia đình. Thực ra, mỗi cá thể vẫn tồn tại tương đối độc lậptrong gia đình, và một khi quyền lợi của cá nhân bị đe doạ hay một khi khátvọng hạnh phúc cá nhân đã cháy bỏng, thì cá nhân ấy sẵn sàng phá bung mọilễ giáo, mọi mối ràng buộc để xây dựng hạnh phúc cho riêng mình. Tiêu biểucho tình trạng này là sự bung phá của con cái khi tình yêu và hôn nhân bị đedoạ. Lúc này, con người cá nhân đã thắng thế, tự mình thoát khỏi mọi mốiràng buộc của lễ giáo nhằm thoả mãn khát vọng hạnh phúc của mình, để rồikhi đạt được ước nguyện, họ lại trở về với cuộc sống bình yên trong gia đình.Con người cá nhân trong văn học dân gian người Việt không nổi loạn, khôngđạp đổ toàn bộ các mối ràng buộc để khẳng định một cách tuyệt đối cá nhânmình như kiểu con người cá nhân trong văn học phương Tây, mà biết tự điềutiết ở một mức độ vừa phải, đủ để đem lại hạnh phúc cho mình mà không làmtan vỡ các mối quan hệ khác. 116
  • 117. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình CHƯƠNG BỐN SO SÁNH SỰ PHẢN ÁNH PHONG TỤC TẬP QUÁN GIỮA TỤC NGỮ VÀ CA DAO 1. NHỮNG ĐIỂM CHUNG 1.1. Tục ngữ, ca dao đều là một trong những nguồn tài liệu cần thiếtcho việc nghiên cứu con người và xã hội Việt Nam trước đây Muốn nhận thức ngày càng đầy đủ và chính xác về con người và xã hộiViệt Nam thủa trước, cần thiết phải sử dụng nhiều nguồn tài liệu. Trước đây,chúng ta hay sử dụng sử liệu và những trước tác khác của các nhà văn hoá báchọc. Đó là một cách làm quen thuộc và có cơ sở của sự đúng đắn. Về sau, bên cạnh nguồn sử liệu chính thống, những trước tác của các tácgiả trong nước, chúng ta đã chú ý tới các ghi chép của các tác giả nước ngoài(người Trung Quốc, người Pháp...). Cách tiếp cận này cũng đã đem lại nhữngkết quả nhất định. Người ta cũng tìm hiểu con người và xã hội Việt Nam trước kia quanhững áng văn chương của các tác giả thời ấy, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... Bên cạnh các nguồn tài liệu kể trên, văn học dân gian nói chung, tục ngữ,ca dao nói riêng, cũng là một nguồn tài liệu cần thiết giúp người sau nhận biếtvề quá khứ của cha ông. Lời ca dao sau: Trời mưa Thái Tổ Thái Tông Con bế con dắt con bồng con mang Bò đen húc lẫn bò vàng Húc quấy húc quá húc quàng xuống sông. phản ánh một sự thật lịch sử vào thế kỷ XV. Giặc Minh xâm lược nướcta, thực hiện triệt để âm mưu đồng hoá, hòng biến đất nước ta thành một quậnhuyện của đế chế Trung Hoa. Chúng tàn phá các công trình về lịch sử văn hoá,đốt phá sách vở, cưỡng bức đàn bà phụ nữ, bắt nhiều người tài giỏi của ta đưasang Trung Quốc, không ít đàn ông Việt bị thiến, nhiều người sợ quá phải trốnvào nơi rừng rú. Sau cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi, vua Lê Thái Tổvà tiếp sau là vua Lê Thái Tông đã khôi phục sản xuất trong nước, khuyếnkhích nhân dân tăng gia sản xuất, chăn nuôi trâu bò lợn gà. Nhiều người dânlưu tán đã trở về xây dựng cuộc sống gia đình, trẻ em mỗi ngày một nhiều. Sựthật lịch sử đó đã được bài ca dao chỉ gồm bốn dòng ghi lại khá sinh động, cụthể. 117
  • 118. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Hoặc như qua 25 câu ca dao nói về tình cảnh xa cách vợ chồng bởi chồngđi lính, người đời sau thấy rõ một sự thật lịch sử là trong chế độ phong kiến,việc bắt lính đã gây nên nhiều nỗi đau khổ cho nhân dân, như: Anh ơi phải lính thì đi Cửa nhà đơn chiếc anh thì cậy ai? Tháng chạp cày đất trồng khoai Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà Tháng ba cày vỡ ruộng ra Trời thời mưa gió, nước sa đầy đồng Người ta có vợ có chồng Chồng cày vợ cấy ngoài đồng có đôi Nhà anh chỉ có mình tôi Cày rồi lại cuốc, cuốc thôi lại bừa Cho nên tôi phải về trưa Gẫy đôi vai bừa, ai kẻ chêm cho! Ai về nhắn nhủ các cô Đừng lấy chồng lính thiệt thua trăm đường. Chúng ta biết rằng pháp luật của Nhà nước phong kiến từ những điều luậtđược ban bố cho đến việc thực thi bao giờ cũng có một khoảng cách. TheoQuốc triều hình luật (một bộ luật nhà Lê), nếu người vợ mà tố cáo chồng thìsẽ phạm vào một trong mười tội thập ác. Nếu người đời sau chỉ nghiên cứucác văn bản luật pháp thì có thể nghĩ rằng dưới triều nhà Lê, quyền sống củangười phụ nữ nói chung, của người vợ nói riêng, bị bóp nghẹt, bị chà đạp đếnmức không thể làm theo công lý. Thế nhưng, trên thực tế, người vợ vẫn có thểtố cáo chồng. Khi thi đỗ năm 1757, ông Phạm Công Tiến đã lấy con gái mộtnhà giàu làm vợ lẽ. Trong đám rước vinh quy từ kinh đô về làng, ông đã tranhcãi với bà vợ nhiều lần về quyền ưu tiên của người vợ lẽ. Người vợ cả đã đưaviệc này đi kiện và kết quả ông Phạm Công Tiến không được bổ nhiệm làmquan. Hoặc như trong 24 huấn điều của Lê Hiến Tông (1500) huấn điều thứchín đã quy định về phụ nữ: "Khi chồng chết mà mình chưa có con, thì phải ởlại nhà chồng, giữ việc tang lễ, không được giấu giếm chuyển vận tài sản nhàchồng đem về nhà mình". [Dẫn theo 99:338]. Thế nhưng, tục ngữ lại có câu:"Làm ruộng phải có trâu, làm dâu phải có chồng", chứng tỏ nhân dân khôngthực hiện huấn điều ấy, mà thực hiện một lẽ phải thông thường là chỉ ở lại nhàchồng khi còn chồng. Như vậy, phải bằng nhiều nguồn tư liệu, có phân tích, đối chứng thìchúng ta mới có thể đi tới những nhận xét toàn diện và gần với sự thật lịch sử. 118
  • 119. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Chỉ riêng trong lĩnh vực gia đình, nghiên cứu tục ngữ và ca dao, chúng tacũng có thể thấy được gia đình người Việt trước kia không đến nỗi ngột ngạtnhư một vài nhận định phiến diện đã công bố đây đó mà chúng tôi dã phân tíchtrong các chương trên. Bên cạnh những nét son tốt đẹp, gia đình truyền thống cũng có nhữngmảng tối. Như đã phân tích ở các chương trước, rõ ràng quan hệ nàng dâu mẹchồng trong xã hội cũ là quan hệ không mấy tốt đẹp: 1. Thật thà cũng thể lái trâu Yêu nhau cũng thể nàng dâu, mẹ chồng. 2. Thương chồng phải khóc mụ gia Ngẫm tôi với mụ có bà con chi. Vì vậy, bên cạnh việc nghiên cứu luật pháp trong thời phong kiến và giáolý Nho gia, chúng ta cần tìm hiểu ca dao, tục ngữ. Bởi vì, luật lệ của chế độphong kiến, giáo lý đạo Nho nhiều khi chỉ nằm trong trang sách chứ không vậnhành được trong đời sống. Nói đến Nho giáo, người ta nghĩ ngay đến tamcương, ngũ thường, nhưng thật sai lầm khi nhìn nhận rằng xã hội Việt Nam, doảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, mà đã tạo nên nền nếp theo đúng tam cươngngũ thường. Sở dĩ như vậy, vì khi du nhập vào Việt Nam, trước những biếnđộng của đời sống, Nho giáo đã trở nên không thuần nhất và "sắc thái Nhogiáo của nó không nguyên vẹn mà đậm nhạt khác nhau" [57:28]. Như thế, giữagiáo lý Nho giáo và thực tế vận hành giáo lý ấy ở Việt Nam có khoảng cáchnhất định và có những sắc thái khác nhau. Nói cụ thể vào một điểm để dễ nhậnbiết, có thể thấy như sau: Nho giáo đề cao vai trò của người thầy, nhân dân tađã tiếp thu tinh thần tôn sư trọng đạo ấy cho nên mới có câu "Không thầy đốmày làm nên"; nhưng không phải chỉ có vậy, với tinh thần dân chủ rộng mở,nhân dân còn coi trọng các hình thức học khác, cho nên mới có câu "Học thầykhông tầy học bạn". Có thể đối chiếu rất nhiều điều trong giáo lý nữa với thựctế, và chúng ta sẽ bắt gặp sự không trùng khớp là phổ biến. Nếu chỉ căn cứ vàogiáo lý thì sẽ thấy cuộc sống khô cứng và đơn điệu. Ngược lại, khi khảo sát tục ngữ, ca dao, không những thấy được thực tếcuộc sống đương thời, mà còn có thể thấy được hình bóng của luật pháp, củagiáo lý. Chẳng hạn, khi đọc câu ca dao: Tháng sáu có chiếu vua ra Cấm quần không đáy người ta hãi hùng Không đi thì chợ không đông Đi thì phải mượn quần chồng sao đang 119
  • 120. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhchúng ta có thể biết được rằng vào thời điểm câu ca dao ra đời, nhà vua đã rachiếu cấm phụ nữ mặc váy, đồng thời hiểu rằng lệnh ấy không hợp lòng dân,bị dân phản ứng. Cũng từ hiện tượng này, có thể thấy hình bóng lịch sử tưtưởng của dân tộc in khá đậm nét trong tục ngữ, ca dao và đó là cứ liệu đángtin cậy cho việc nghiên cứu xã hội. Như thế, tục ngữ, ca dao là nguồn tài liệu đáng tin cậy cho việc nghiêncứu xã hội. 1.2. Về nội dung, cả tục ngữ và ca dao đều phản ánh quan hệ gia đìnhở mức độ đáng kể Là sản phẩm của dân gian, tục ngữ và ca dao đều chứa đựng nhận thức,tình cảm của dân gian, đó là điểm chung lớn nhất giữa hai thể loại. Từ điểmchung ấy, tục ngữ và ca dao có nhiều điểm tương đồng trong việc phản ánhhiện thực. Tục ngữ và ca dao đều quan tâm ở mức độ đáng kể đến quan hệ gia đình.Qua thống kê, chúng tôi nhận thấy trong kho tàng tục ngữ, ca dao, hai thể loạinày có tỷ lệ tương đương nhau về chủ đề gia đình (10,36% trong tục ngữ,9,97% trong ca dao). Tục ngữ, ca dao đã khắc hoạ một cách sinh động nhữngmặt mang tính bản chất của gia đình người Việt. Nếu nói rằng nhân dân ViệtNam đã có khát vọng khôn nguôi về độc lập, tự do và đã đấu tranh không mệtmỏi cho độc lập, tự do, thì cũng cần nói rằng người Việt có khát vọng khônnguôi về hạnh phúc gia đình và đã sống theo định hướng đúng đắn để đạt đượchạnh phúc gia đình. Không nên nhận xét một cách cực đoan rằng, trong xã hộiphong kiến, dưới sự đè nén khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến, trong hônnhân, người nông dân Việt Nam hoàn toàn không có tình yêu, và vì vậy mà giađình là nơi ngục tù của phụ nữ! Nếu vì để nhấn mạnh những mặt tiêu cực, lạchậu của xã hội phong kiến, mà bảo rằng trong xã hội ấy, người nông dân chỉsống trong tối tăm, khốn khổ, không có chút hạnh phúc nào, thì vô tình đã phủnhận tinh thần đấu tranh và tình cảm nồng thắm của người nông dân, biến họtrở thành những kẻ bất lực, thụ động và cam chịu. Người nông dân dù có cựckhổ, dù có bị áp bức bóc lột, vẫn là những con người có ý chí, có tình cảm, vàhọ đã vượt lên khỏi hoàn cảnh, xây dựng được cuộc sống hạnh phúc. Mặtkhác, dù sống trong bất kỳ chế độ xã hội nào, thì con người cũng cần tuân thủnhững khuôn phép nhất định, để đảm bảo một trật tự tối thiểu cho xã hội ấy.Do vậy, trong xã hội phong kiến, tình yêu trai gái có bị ràng buộc bởi nhiềugiáo lý, trong đó có những điều quá khắt khe, cần phải tháo gỡ, thì cũng cónhững điều cần thiết phải tuân thủ - chúng như những điều kiện bảo hiểm cho 120
  • 121. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhquan hệ hôn nhân được bền chặt. Liên hệ đến cuộc sống thời hiện đại, nhiềukhi con người hướng tới sự tự do vô bờ bến, đã dẫn đến hậu quả là hôn nhânchỉ là sợi chỉ mỏng manh cột hờ hai số phận, dễ dàng bị bung đứt, làm cho giađình tan vỡ, thì thấy rằng tôn trọng những luân lý phù hợp trong quan hệ giađình là điều cần thiết. Tục ngữ, ca dao về gia đình đã cho thấy rằng ngay trong lòng chế độphong kiến, người nông dân không tuân phục một chiều lễ giáo phong kiến,mà có quan niệm và cách thức ứng xử linh hoạt, nhiều chiều, theo hướng nhânvăn, tôn trọng quyền hôn nhân chính đáng dựa trên tình yêu và coi trọng cácthành viên của gia đình, chứ không phải là theo hướng phi nhân bản, phủ nhậntình yêu trong hôn nhân, chỉ coi hôn nhân là biện pháp truyền gia thống, coicác thành viên khác trong gia đình chỉ là nô lệ cho một người chủ gia đình.Cũng vì vậy, trong xã hội phong kiến, người nông dân vẫn xây dựng được tổấm gia đình dựa trên tình yêu thương. Nếu như không có tình yêu trong hônnhân, thì làm sao có được sự gắn bó đến như thế? Nếu vợ chồng chỉ là sự épuổng, sự gán ghép thô thiển do cha mẹ định đoạt, thì làm sao họ tự nguyện cộtchặt số phận vào nhau như vậy? Có tìm thấy hạnh phúc thật sự trong hôn nhân,trong cuộc sống gia đình, thì người nông dân xưa mới để lại cho chúng ta khotàng ca dao lãng mạn, bay bổng đồng thời cũng rất hiện thực mà chúng ta cóhôm nay. Người Việt trải qua cả ngàn năm đô hộ của phong kiến phương Bắcđã không bị thôn tính, vẫn giữ được bản sắc, giữ được truyền thống văn hoácủa mình, thì dù có bị ảnh hưởng sâu sắc đến đâu của Nho giáo, vẫn khôngđánh mất cái cốt cách dân tộc trong gia đình mình, và chính vì vậy mà tronggia đình, người Việt đã xây dựng được những quan hệ dân chủ, nhân ái, khoandung, là một phần của bản sắc dân tộc Việt Nam. Nhìn từ góc độ văn hoá, cóthể thấy rằng trong xã hội phong kiến, bên cạnh dòng văn hoá chính thốngcủa giai cấp thống trị toả rộng ảnh hường trong xã hội, tục ngữ, ca dao vềphong tục tập quán của người Việt là một bộ phận của dòng văn hoá dân chủcủa giai cấp bị trị luôn luôn có sức sống dồi dào, luồn lỏi vào mọi ngõ ngáchđời sống thường ngày, vừa phản ánh, vừa ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng,tình cảm, lối sống của những người lao động, góp phần tạo nên sắc thái đadạng của nền văn hoá Việt Nam. Tục ngữ, ca dao đều đề cập đến những quan hệ chính trong gia đình, vớinhững nội dung chính dưới đây: 121
  • 122. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình -Thứ nhất: Quan hệ vợ chồng Quan hệ vợ chồng là mối quan hệ rường cột của gia đình.Vợ chồng, chamẹ có thương yêu nhau, có gắn bó, thuận hoà thì gia đình mới thực sự hạnhphúc, con cái mới được chăm sóc dạy bảo chu đáo. Nhiều gia đình mâu thuẫnđi đến chia lìa, khiến con cái phải gánh chịu những hậu quả nặng nề. Nhận biết vai trò của quan hệ vợ chồng trong gia đình và cả xã hội, tụcngữ, ca dao nói nhiều về vấn đề này. Tục ngữ, ca dao người Việt tuy phản ánh một xã hội phụ hệ ở mức độcao, có tính chất phụ quyền, nhưng đó không phải là một xã hội theo quy tắcmiệt thị người phụ nữ. Người Việt (qua tục ngữ, ca dao) đề cao sự gắn bó, thủychung, sự hòa thuận giữa vợ và chồng. Quan hệ này có những yếu tố dân chủ,có nhiều trường hợp đề cao người phụ nữ; có khi quyền phụ nữ chi phối namquyền "Lệnh ông không bằng cồng bà". Đây là dấu vết còn lại của chế độ mẫuhệ, đồng thời là sự bảo lưu truyền thống dân chủ đơn sơ của cha ông chúng ta.Mặt khác, đây cũng là hệ quả của hoạt động của người phụ nữ trong nền kinhtế tiểu nông gắn với thiểu thương, trong đó phụ nữ đóng vai trò ngang bằngvới nam giới trong lao động, thậm chí có chút ưu việt nhờ hoạt động tiểuthương. Trong các khái niệm đạo, nghĩa, tình thuộc mối quan hệ vợ chồng thìqua tục ngữ, ca dao, đạo được nhắc đến ít nhất, nghĩa, tình được nhắc đếnnhiều nhất. Đáng chú ý là trong khi sử dụng khái niệm đạo, các tác giả dângian không tiếp thu rập khuôn ý nghĩa do Nho giáo quy định, mà xây dựngnhững nội dung đơn giản hơn, thiết thực hơn, gần gũi với cuộc sống vợ chồngngười Việt, một cuộc sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, lao độngcực nhọc, giản đơn và gần gũi thiên nhiên, đời sống tình cảm mộc mạc, chânchất. Quan hệ vợ chồng người Việt phản ánh trong tục ngữ, ca dao là quan hệnặng về tình nghĩa thủy chung, mang tính chất công bằng, dân chủ, nhân ái.Nhân dân xây dựng một hình mẫu quan hệ gắn bó lâu bền "Vợ chồng là nghĩagià đời", "sống gửi thịt, chết gửi xương"... Sự gắn bó này không dựa trên sựphục tùng tuyệt đối như tôi tớ của vợ đối với chồng, mà là dựa trên sự tươnghợp như "giỏ" với "hom", như "rồng với mây", như "cây với rừng", như "đũacó đôi"... Đây là kiểu quan hệ bình đẳng, không phải một người xướng mộtngười tuân theo. Đóng vai trò điều tiết quan hệ, tạo nên sự êm ấm, thuận hòatrong gia đình là người phụ nữ, điều tiết bằng tình thương, sự nhường nhịntheo lẽ phải là chính chứ không phải là sự phục tùng tuyệt đối theo khuôn phépcứng nhắc của chế độ phong kiến. 122
  • 123. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Chưa kể là khi đất nước lâm nguy, phụ nữ phải xung trận "giặc đến nhàđàn bà phải đánh". Đây là một kiểu mẫu phụ nữ khác hẳn người đàn bà phảitheo tục bó chân để chỉ quanh quẩn bếp núc hầu hạ chồng. Nếu gói gọn quan hệ vợ chồng người Việt trong một vài cụm từ mà tụcngữ, ca dao đã phản ánh, thì không phải "nam tôn nữ ty ", "phu xướng phụtuỳ" mà là "tình nghĩa thuỷ chung", "chồng hòa vợ thuận". Những điều tục ngữ, ca dao phản ánh phù hợp với thực tế lịch sử. Giáosư Yu Insun (Lưu Nhân Thiện) người Hàn Quốc, trong một cuốn sách rất côngphu Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ 17 - 18 đã khẳng định tính chất dân chủtrong quan hệ vợ chồng Việt Nam: "Theo như chúng tôi hình dung, ở ViệtNam, người chồng không phải là nhân vật thống trị trong gia đình, người vợgần như bình quyền với chồng, và do đó hôn nhân không được xem như sựchuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang nhà chồng"[139:126]. -Thứ hai: Quan hệ cha mẹ con Trong quan hệ cha mẹ con, người ta hay nói đến đạo hiếu. Tuy vậy, vớitục ngữ, ca dao, trong cái vỏ ngôn ngữ này, nội dung chữ Hiếu của Nho giáođã biến đổi khá nhiều. Quan hệ cha mẹ con không phải chỉ là quan hệ một chiều từ trên dộixuống, mà là quan hệ qua lại hai chiều đan xen chặt chẽ. Cha mẹ phải dạy dỗnuôi nấng con, hy sinh, vất vả, tốn kém vì con, cha mẹ chịu trách nhiệm vềphẩm chất của con "Con hư bởi tại cha dung", "Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà".Cha mẹ không những có trách nhiệm dạy bảo nuôi nấng con khi họ còn sống,mà còn phải sống lương thiện, tu nhân tích đức để phúc cho con "Đời cha đắpnấm, đời con ấm mồ", "Đời cha trồng cây, đời con ăn quả", tránh tình trạng"Đời cha ăn mặn, đời con khát nước". Con cái thì coi trọng công lao của cha mẹ như núi như sông, bằng trờibằng biển "Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảyra". Càng từng trải con cái càng thấm thía công lao cha mẹ "Trèo non mới biếtnon cao, nuôi con mới biết công lao mẹ thầy". Rõ ràng là quan hệ cha mẹ con ở đây được xây dựng trên tình thươngyêu, lòng biết ơn, sự lo toan đến nhau. Nếu dùng khái niệm chữ hiếu thì đây làđặc điểm chữ hiếu Việt Nam, khác với chữ hiếu khô cứng, mệnh lệnh và khắcnghiệt theo kiểu Cha bảo con chết con phải chết mới là hiếu, cha bảo con chếtcon không chết là bất hiếu. 123
  • 124. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Tuy vậy, qua tục ngữ, ca dao, những biểu hiện bất hiếu đã được phản ánhvà phê phán. Điều này khiến chúng ta có cách nhìn biện chứng và khách quanđối với tình trạng bất hiếu đang phát triển trong xã hội hiện đại, để có biệnpháp giáo dục con cái và có cách ứng xử thích ứng, không đòi hỏi cha mẹ hysinh tất cả, hy sinh mù quáng cho con cái, đồng thời đòi hỏi con cái phải coitrọng cha mẹ, có trách nhiệm với cha mẹ. -Thứ ba: Quan hệ anh em, chị em Tình cảm ruột thịt là nền tảng của mối quan hệ anh chị em "Anh em nhưchân với tay". Trên cơ sở đó, nguyên tắc ứng xử của họ chủ yếu dựa trên sựđoàn kết hoà thuận "Khôn ngoan đá đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoàiđá nhau", "Anh thuận em hoà là nhà có phúc". Khi có mâu thuẫn thì tự dàn xếpnội bộ là chính "Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau". Tiếp cận vấn đề gia đình qua tục ngữ và ca dao, chúng tôi không có thamvọng nhìn nhận được thấu đáo và toàn diện mọi mặt của gia đình người Việt.Tuy vậy, tục ngữ, ca dao có một chiều dài lịch sử và chiều rộng xã hội khá lớnnên chúng là một trong những tài liệu đáng tin cậy, giúp chúng ta nhận ra địnhhướng ứng xử trong các quan hệ của gia đình, từ đó thấy được truyền thốngcủa dân tộc và nhờ vậy có thể hiểu được phần nào bản sắc văn hoá Việt Nam.Nói như các tác giả trong Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì: “Bản sắc văn hoá Việt Nam chính là ở chỗ nền văn hoá đó luôn luônlấy sứ mệnh của dân tộc - vì độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội làm sứ mệnhcủa mình; là ở chỗ nền văn hoá đó luôn lấy sự bao dung và hoà đồng làm cơsở để xem xét những hiện tượng tự nhiên, xã hội và con người, để đề ra cácgiải pháp sáng tạo văn hoá; là chủ nghĩa nhân bản được tích hợp từ những tưtưởng truyền thống và tư tưởng hiện đại; là nền văn hoá mở trong không gian(giao tiếp văn hoá qua các kinh tuyến và vĩ tuyến), trong thời gian (tiếp tụcnắm bắt cái đã qua, nhạy cảm với cái sắp tới) và biến đổi theo quá trình điềuchỉnh xã hội (nó tồn tại ngay trong những thiết chế chính trị trái ngược bảnchất của nó); là nền văn hoá giàu sức chuyển hoá (cái bi trong cái hài, cái hàitrong cái bi, duy lý trong nhân bản - nhân bản trong duy lý) giàu sự tươngphản đăng đối (trong cú pháp, trong sắc màu); là nền văn hoá giàu tínhnhân dân, tính cộng đồng." [30:35-41]. 124
  • 125. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 1.3. Tục ngữ và ca dao đều phản ánh quan hệ gia đình trong một"diện tích nghệ thuật" nhỏ hơn các thể loại khác Văn học dân gian người Việt có nhiều thể loại: truyện cổ tích, truyềnthuyết, truyện ngụ ngôn, truyện cười, vè, ca dao, tục ngữ v.v.. Phản ánh quanhệ gia đình không chỉ có tục ngữ và ca dao. Các thể loại khác như đã nêu trênđây cũng đề cập đến quan hệ này. Có điều, các tác phẩm tục ngữ, ca dao ngắngọn hơn nhiều so với các tác phẩm thuộc loại truyện cổ tích, truyện cười. Thí dụ: Cùng nói về quan hệ anh em bị chi phối tiêu cực bởi lợi ích vậtchất, thì: - Tục ngữ nói ngắn gọn: Anh em gạo, đạo ngãi tiền (7 tiếng). - Ca dao nói dài hơn một chút: Anh em hiền thật là hiền Chỉ vì đồng tiền sinh mất lòng nhau (14 tiếng). - Truyện cổ tích lại thông qua một câu chuyện dài, như Cây khế : Các tácgiả dân gian đã kể chi tiết quan hệ anh em, với nhiều tình tiết, qua đó cho thấyngười em hiền lành, chăm chỉ, thực thà, còn người anh thì giầu có nhưng thamlam và độc ác, luôn luôn tìm cách chiếm đoạt của cải, công sức của người em,cuối cùng, do chính lòng tham vô đáy mà người anh bị mất mạng. Câu chuyệnnày được tuyển vào Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, in tới 4 trang giấy,gồm trên 1.600 tiếng. Ta có thể khảo sát thêm một ví dụ nữa để thấy do ngắn gọn, tục ngữ, cadao có cách diễn đạt riêng của mình. Để khẳng định tình máu mủ hơn tình bạnbè, trong truyện cổ tích có câu chuyện Giết chó khuyên chồng (trong Tuyểntập văn học dân gian Việt Nam ghi là Dạy chồng). Qua rất nhiều tình tiết, từviệc người anh giầu có nhưng không quan tâm đến em mà chỉ bù khú vớinhững người bạn hay lợi dụng, người vợ khuyên bảo không được, mới giếtmột con chó, nói dối chồng là mình giết phải thằng bé ăn mày, rồi thử nhờnhững người bạn mà chồng coi là thân thiết giúp chôn cất, kết quả là nhữngngười bạn đó không những không giúp mà còn tìm cách tống tiền, còn ngườiem thì giúp một cách vô tư, từ đó, người chồng mới nhận ra rõ ràng là tình anhem ruột thịt vẫn hơn những người bạn cơ hội (Câu chuyện này in ra 3 trangsách với hơn 1.300 tiếng). Cùng ý nghĩa trên, ca dao miêu tả bằng 4 dòng (28tiếng): Ơn cha mẹ trời cao khôn thấu Nghĩa anh em xương cốt ruột rà 125
  • 126. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Muốn cho trên thuận dưới hoà Chẳng thà chịu nhục, hơn là rẽ nhau. Trong khi đó, tục ngữ khẳng định bằng 8 tiếng: "Một giọt máu đào hơnao nước lã". Có thể hình dung rằng, khi đi vào vườn văn học dân gian, thì truyện cổtích cho ta một cây với đầy đủ hoa, quả, lá, cành, ca dao cho ta một chùm tráingọt, còn tục ngữ thì cho ta một trái đậm đà nhất. Hình tượng nghệ thuật của tục ngữ, ca dao mang tính đặc thù - khôngđược hình thành trong từng tác phẩm đơn lẻ, mà qua một hệ thống tác phẩm.Phải hệ thống hoá các nhân vật của tục ngữ hay ca dao, mới nhận ra hìnhtượng mà chúng thể hiện. Thí dụ, trong ca dao, nhân vật con cò được thể hiệntrong nhiều tác phẩm khác nhau, trong nhiều tình huống khác nhau, với cáccách ứng xử khác nhau, nếu xâu kết các nhân vật con cò ấy vào một hệ thống,sẽ thấy hiện lên hình tượng về người phụ nữ nông thôn tần tảo sớm hôm, lặnlội kiếm ăn nuôi chồng nuôi con, vất vả hy sinh cho chồng cho con. Điều nàydẫn đến một vấn đề có tính phương pháp luận: Muốn hiểu thấu đáo tục ngữ,ca dao, phải nghiên cứu chúng trong hệ thống, phải biết xâu kết các yếu tốtương đồng và so sánh các yếu tố khác biệt trong hệ thống, từ đó mới có thểrút ra những kết luận khả dĩ xác đáng. 1.4. Tục ngữ, ca dao đều nói ít về quan hệ gia tộc, quan hệ gia đìnhvới làng xóm Thống kê chi tiết ở tục ngữ và ca dao, đều thấy rất ít đơn vị đề cập tớiquan hệ gia tộc, quan hệ gia đình với làng xóm. Do giới hạn của đề tài nghiêncứu, chúng tôi chưa đi sâu lý giải nguyên nhân của hiện tượng này. 1.5. Tục ngữ, ca dao đều có giá trị đối với cuộc sống đương đại Cho dù là sản phẩm của xã hội phong kiến, nhưng tục ngữ, ca dao chứađựng tâm tư, tình cảm, lý trí của nhân dân ta qua nhiều thế hệ, dạy cho conngười cách sống nhân ái, hoà hợp để tạo dựng hạnh phúc. Những bài học đó cósức sống vượt thời gian, hết sức bổ ích đối với cuộc sống ngừy nay. 2. NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU 2.1. Tục ngữ thiên về lí trí, ca dao thiên về tình cảm Tục ngữ thiên về lý trí, cho nên khi phản ánh các quan hệ trong gia đình,tục ngữ thường đúc kết những kinh nghiệm hoặc những yêu cầu ứng xử, ítbiểu lộ tình cảm. Ca dao là thể loại trữ tình, cho nên ca dao phản ánh quan hệgia đình trong chiều sâu tình cảm nhiều hơn. Chính vì vậy, tuy cùng quan tâmđến gia đình, nhưng tục ngữ và ca dao phản ánh các mối quan hệ trong giađình từ những góc tiếp cận và hình thức phản ánh khác nhau. Do quan hệ vợ 126
  • 127. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhchồng có nhiều sắc thái tình cảm, cho nên ca dao phản ánh nhiều hơn, cònquan hệ anh chị em, sắc thái tình cảm nghèo nàn hơn, cho nên ca dao đề cậptới ít hơn tục ngữ (so với chủ đề chung về gia đình, thì ở ca dao, chủ đề vợchồng có 690 câu, chiếm 58,64%, còn ở tục ngữ có 285 câu, chiếm 39%). Rõràng, vợ chồng là quan hệ nặng về tình nghĩa, và ca dao là thể loại thích hợpcho việc phản ánh quan hệ ấy. Mặt khác, tuy cùng nói về quan hệ vợ chồng,nhưng tục ngữ thiên về phản ánh những biểu hiện mang tính luân lý, còn cadao thì đi sâu vào tình cảm của con người. Chẳng hạn, cùng nói về cách thứcứng xử trong quan hệ vợ chồng, tục ngữ rút ra 6 kiểu ứng xử khác nhau (nhưđã phân tích ở chương 2), các câu tục ngữ không cho biết trạng thái tình cảmcủa con người, mà chỉ nêu lên những yêu cầu của xã hội. Trong khi đó, ca daophản ánh sinh động các cách thức ứng xử thể hiện tình nghĩa vợ chồng, màđậm đà là tình yêu thương, sự chăm nom săn sóc của người vợ với ngườichồng (trong 465 câu ca dao về cách thức ứng xử vợ chồng có 66 câu ca daochứa đựng hai chữ thương, yêu). Chúng tôi nêu một số ví dụ để so sánh nhưsau: - Về cách thức ứng xử, tục ngữ nói: "Chồng giận thì vợ làm lành", cadao nói: "Chồng giận thì vợ làm lành/Miệng cười hớn hở rằng: Anh giận gì?".Rõ ràng, ca dao không những nêu lên yêu cầu ứng xử giống như tục ngữ nêu,mà còn miêu tả thái độ của người vợ đối với chồng, một thái độ vui vẻ nhẹnhõm, biểu hiện tình cảm thắm thiết của người vợ. - Về tình trạng đa thê, tục ngữ nói một cách lạnh lùng: "Một vợ nằmgiường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo", ca dao nói nhưmột sự bộc bạch tâm can: Viết thư sang hỏi thăm chàng Còn không hay đã đá vàng nơi nao? Hay là mắc phải con nào Bùa yêu bả lú phải làm sao cho tỏ tường Vắng chàng tôi những nhớ thương Vì chàng mê gái tìm đường phụ tôi 127
  • 128. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Tôi làm cho lứa quên đôi Tôi làm cho rã cho rời nhau ra Làm cho tan nát biệt xa Cho chim lìa tổ cho hoa lìa cành Tôi làm cho nó lìa anh Cho người ta biết anh tình phụ tôi. Qua câu ca dao trên, ta thấy hiển hiện lên hình ảnh một người vợ yêuchồng tha thiết nhưng cũng khá đáo để, có thái độ cứng rắn, kiên quyết giànhlại chồng từ tay tình địch. Ngược lại, quan hệ anh chị em lại được ca dao nói tới ít hơn tục ngữ (tụcngữ có 40 câu, ca dao chỉ có 27 câu). Điều này phản ánh một sự thật là quanhệ anh chị em dù có mật thiết đến đâu, thì cũng không thể có những sắc tháitình cảm tinh tế và đằm thắm như quan hệ vợ chồng. Không những thế, vớiquan niệm anh em mỗi người một thân một phận, hoặc bán anh em xa mualáng giềng gần, thì cùng với thời gian trong đó chứa đựng những xung đột,mâu thuẫn, quan hệ anh chị em luôn luôn có khả năng giảm thiểu chất kếtdính tình cảm. Cũng do vậy, nhân dân phải bổ sung một loại chất kết dínhkhác, đó là những yêu cầu về luân lý. Đây chính là mảnh đất phù hợp cho tụcngữ toả ảnh hưởng: khi thì nhắc nhở tình máu mủ giữa anh em: "Anh em hạtmáu sẻ đôi", "Anh em như chân như tay", khi thì nêu lên phương cách ứngxử: "Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau", "Làm chị phải lành, làm anh phảikhó", lúc lại yêu cầu sự gắn bó: "Cắt dây bầu dây bí, chẳng ai cắt dây chị dâyem". Về quan hệ nàng dâu - mẹ chồng, cả tục ngữ và ca dao đều cho thấy đâylà điểm yếu nhất trong quan hệ gia đình người Việt. Tuy vậy, chỉ có ca daomới phản ánh được nỗi cay đắng, tâm trạng uất ức của nàng dâu, như: "Ai ơi, phải nghĩ trước sau Đừng tham lắm của nhà giàu làm chi 128
  • 129. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Làm thì xem chẳng ra gì Làm tất làm tả nói thì điếc tai Đi ngủ thời hết canh hai Thức khuya dậy sớm mình ai dãi dầu Sớm ngày đi cắt cỏ trâu Trưa về lại bảo: ngồi đâu, không đầy! Hết mẹ rồi lại đến thầy Gánh cỏ có đầy, vẫn nói rằng vơi Nói thì nói thật là dai Lắm câu chua cạnh, đắng cay trăm chiều Phận em là gái nhà nghèo Lấy phải chồng giàu, ai thấu cho chăng Nói ra đau đớn trong lòng Chịu khổ, chịu nhục suốt trong một đời". Đó là một bức tranh hiện thực về cảnh làm dâu, là khúc ca bi thương củangười phụ nữ trước những nỗi khổ mà mình phải gánh chịu. Trong khi đó tụcngữ hướng tới cách ứng xử cần phải có, cho nên qua tục ngữ, thấy quan hệnàng dâu - nhà chồng bớt căng thẳng hơn, không những thế lại còn có cái vẻấm áp và thân tình, như: "Dâu hiền nên gái, rể hiền nên trai", "Dâu dâu rể rểcũng kể là con". Qua tục ngữ, ca dao, ta càng thấy rõ mối quan hệ khăng khít giữa nộidung và hình thức của văn học: tục ngữ chứa đựng những nội dung mang tínhlý trí, ca dao chứa đựng những nội dung mang tính tình cảm. Để phản ánhchân thực và sinh động cuộc sống, các tác giả dân gian đã thực hành mộtnguyên lý sáng tác mà ngày nay chúng ta đang vận dụng, đó là hình thức phảiphù hợp với nội dung, nội dung nào, hình thức ấy. 129
  • 130. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 2.2. Tục ngữ ngắn gọn hơn ca dao Ca dao ít nhất có 2 dòng với 14 tiếng, rất hiếm trường hợp có số lượng íthơn. Trong khi đó, với tục ngữ, đa số là một câu. Có khi một câu tục ngữ chỉgồm 3 tiếng (như "Chó cắn quanh", "Lành như bụt") và không ít trường hợpchỉ gồm 4 tiếng (như "ÁC giả ác báo", "Ăn lắm trả nhiều"). Trong Tục ngữphong dao, Ôn như Nguyễn Văn Ngọc đã ghi ra ở phần một mà theo tác giả làgồm phương ngôn, tục ngữ, có tới 1.171 câu thuộc loại chỉ gồm 4 tiếng. Nhưvậy, về mặt dung lượng, ca dao lớn hơn tục ngữ. Cũng với đặc trưng ngắn gọnnhư vậy, tục ngữ thường ở thể khẳng định tổng thể, mang tính khái quát, cònca dao thường ở thể phản ánh hiện tượng, miêu tả chi tiết. Thí dụ: Cũng nói vềsự gắn bó vợ chồng, tục ngữ khẳng định "Vợ chồng đầu gối tay ấp", trong khiđó ca dao miêu tả khá tỷ mỷ: Cái quạt mười tám cái nan Ở giữa phất giấy, hai nan hai đầu Quạt này anh để che đầu Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này Ước gì chung mẹ chung thầy Để em giữ cái quạt này làm thân Rồi ta chung gối chung chăn Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu Nằm thời chung cái giường Tàu Dậy thời chung cả hộp trầu ống vôi Ăn thời chung cả một nồi Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa Chải đầu chung cái lược ngà Soi gương chung cả nhành hoa giắt đầu. 2.3. Trong việc sử dụng biện pháp nghệ thuật đối, thì tục ngữ dùngnhiều hơn ca dao 2.3.1. Đối ở tục ngữ được thể hiện ở hai bộ phận của câu, tạo ra hai ýkhác nhau hoặc dẫn dắt, đưa đẩy nhau. Ví dụ : Anh em trai ở với nhau mãn đại (a), Chị em gái ở với nhau một thời (b). Trong câu tục ngữ này, có đối cục bộ và đối tổng thể. Đối cục bộ: - Anh em trai đối với chị em gái - Mãn đại đối với một thời 130
  • 131. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Đối tổng thể: vế (a) đối với vế (b). Đối cục bộ và đối tổng thể hợp với nhau, đưa đến ý nghĩa khái quát làtrong quan hệ gia đình, thì anh em trai gắn bó lâu dài hơn chị em gái. Các thí dụ: "Bán anh em xa mua láng giềng gần" hay "Cha muốn cho conhay, thầy mong cho con khá" cũng có cách đối tương tự. 2.3.2. Nhiều câu ca dao không có đối. Nếu có đối, ở ca dao thường mangtính cục bộ, xảy ra giữa hai bộ phận của một dòng của tác phẩm, chứ ít xảy ragiữa hai dòng. Thí dụ, câu ca dao sau không có đối: Ai kêu ai hú bên sông Tôi đang nấu nướng cho chồng tôi ăn. Những câu ca dao sau có đối cục bộ: 1. Bao giờ lúa trỗ vàng vàng Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm 2. Cơm chiên ăn với cá ve Thiếp đây chàng đấy, buôn bè ra khơi. 3. Củ lang Đống Ngỗ Đỗ phụng Đồng Đinh Chàng bòn thiếp mót Để chung một gùi. 4. Đôi ta vợ cấy chồng cày Chồng nay sương sớm vợ nay sương chiều Ta nghèo vui phận ta nghèo Quản chi sương sớm, sương chiều, hỡi anh! Trong các câu ca dao trên thì chỉ một bộ phận của câu có đối, cụ thể là"Anh đi gặt" đối với "nàng quẩy cơm", "Thiếp đây" đối với "chàng đấy","chàng bòn" đối với "thiếp mót", "Chồng sương sớm" đối với "vợ sươngchiều" nhưng không tạo ra sự đối lập, ngược lại, tạo ra sự cân bằng, hoà quyện,nói lên tình gắn bó vợ chồng. 2.4. Tục ngữ và ca dao khác nhau ở việc sử dụng ngôn từ Trong tục ngữ, tác giả dân gian không sử dụng các đại từ nhân xưng nhưanh, chị, tôi, ta, mà dùng câu trần thuật để đúc kết một quy luật ("Dâu dâu rể rểcũng kể là con") hoặc câu cầu khiến ((Phải) "Dạy con từ thủa còn thơ"). Trongca dao, vì là tiếng hát trữ tình, tiếng hát nội tâm, cần biểu đạt "cái tôi", cho nênnhững đại từ ấy được sử dụng thường xuyên, không những vậy mà biến hoálinh hoạt, tạo nên những sắc thái biểu cảm độc đáo. Đặc biệt là đại từ "Ai", đãđược các tác giả ca dao sử dụng như một công cụ biểu cảm sắc bén. Trong 730câu ca dao về gia đình đã có tới 148 lượt đại từ "Ai" được sử dụng. Trong 131
  • 132. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhtiếng Việt, thì từ "Ai" vốn là một đại từ nghi vấn, dùng để hỏi, nhưng khi đượcsử dụng trong ca dao, nó có nhiều chức năng hơn. Có trường hợp, "ai" chỉngười đối thoại: 1. Ai về anh dặn lời này Phượng hoàng chỉ quyết đậu cây ngô đồng 2. Anh đi đường ấy xa xa Để em ôm bóng trăng tà năm canh Nước non một gánh chung tình Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng. Rất nhiều trường hợp "ai" chỉ người thứ ba không xác định: 1. Mặc ai lên võng xuống dù Em đây đứng dưới giàn bù vẫn vui. 2. Canh cải mà nấu với gừng Không ăn thời chớ xin đừng mỉa mai Khuyên chàng đừng ở đơn sai Vắng mặt chàng sẽ yêu ai mặc lòng. Các đại từ ta, mình cũng thường được dùng, tạo không khí thân tình chovăn cảnh: Ăn mít bỏ xơ Ăn cá bỏ lờ, mình chớ hay quên Mình quên ta chả cho quên Mình nhớ, ta nhớ mới nên vợ chồng. Không những thế, các tác giả dân gian còn dùng rất nhiều danh từ chỉ cácloài thực vật thay cho đại từ nhân xưng, khiến cho ca dao có hình ảnh, gần gũivới thiên nhiên, như các danh từ trúc, mai, mận, đào... Thí dụ: 1. Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thời đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào. 2. Ra về nhớ trúc nhớ mai Nhớ đào nhớ liễu nhớ ai kết nguyền. Lối dùng từ gắn với cỏ cây hoa lá như trên phản ánh cuộc sống của cưdân nông nghiệp trồng lúa nước. Các loài thảo mộc gắn bó với con người tớimức ăn sâu vào tiềm thức, bật ra thành những thành tố sinh động của tục ngữ,ca dao. Trong Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộqua một số ca dao – tục ngữ, Trần Thuý Anh cũng đã có nhận xét rằng ngườinông dân thường lấy hình ảnh trồng cây để làm khuôn mẫu. 132
  • 133. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Ca dao còn là tiếng nói giao duyên, cho nên có rất nhiều bài có các đoạnđối thoại, mà tục ngữ thì không có như vậy. Thí dụ: Ai về đường ấy hôm nay Ngựa hồng ai cưỡi, dù tay ai cầm - Ngựa hồng đã có tri âm Dù tay đã có người cầm thì thôi. Một nét phân biệt giữa tục ngữ và ca dao nữa, là trong ca dao có rất nhiềuthán từ, còn trong tục ngữ thì hầu như không có. Thán từ hỡi ơi, chỉ thấy xuất hiện trong ca dao: 1. Mấy đời chỉ trắng bằng vôi Ai thương ai nhớ bằng đôi đứa mình Bạn ơi! thức ngủ làm thinh Dậy đây anh kể sự tình cho nghe Ai làm chén nọ xa ve Mùa thu đón đợi, mùa hè ngóng trông Tam tứ bề yến bắc nhạn đông Làm sao cho cá chậu xa chim lồng, hỡi ơi! 2. Hỡi ơi chú tiểu trên chùa Chú tu sao chú bỏ bùa cho tôi. Thống kê trong 730 câu tục ngữ về gia đình, không gặp một từ ơi nào,trong khi đó qua 1.179 câu ca dao về gia đình có tới 43 từ ơi, mà phổ biến làAi ơi, Mẹ ơi, Bà ơi, Chàng ơi, Nàng ơi... như: 1. Cơm sôi bớt lửa kẻo trào Mẹ ơi khoan bán, má đào đang non. 2. Ai ơi đợi với tôi cùng Tôi còn gỡ mối tơ hồng chưa ra. Rõ ràng là, để bộc lộ tâm tư, tình cảm, các tác giả dân gian đã sử dụngthành công biện pháp tu từ, làm cho các con chữ trở nên có hồn. Một lần nữachúng ta thấy các tác giả dân gian là bậc thầy về sử dụng ngôn từ. TIỂU KẾT 1. Tục ngữ và ca dao là hai thể loại văn học dân gian, chúng có nhiềuđiểm giống nhau dưới đây: - Phản ánh chân thực và sinh động cuộc sống, tục ngữ, ca dao là mộttrong những tư liệu đáng tin cậy để nghiên cứu về lịch sử, xã hội, tâm lý củamột đất nước, một dân tộc. - Tục ngữ và ca dao đều quan tâm đến việc phản ánh các mối quan hệtrong gia đình, dành tỷ lệ trên dưới 10% cho chủ đề này. Đây là tỷ lệ khá cao, 133
  • 134. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhkhác với một số thể loại khác. Tục ngữ, ca dao về gia đình là một bộ phận củadòng văn hoá dân chủ của giai cấp bị trị, có nhiều nét khác biệt, có khi đối lậpso với dòng văn hoá của giai cấp thống trị, đi sâu vào đời sống thường ngày,vừa phản ánh, vừa ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm, phương cáchứng xử của người lao động, góp phần tạo nên sắc thái đa dạng của nền văn hoáViệt Nam. - Tục ngữ, ca dao là thể loại có hình thức ngắn gọn, nội dung cô đọnghơn các thể loại khác như truyện cổ tích, truyện cười... - Do tục ngữ, ca dao quá ngắn gọn, cho nên khi nghiên cứu hình tượnghay nội dung, không nên xem xét một cách đơn lẻ từng đơn vị mà cần xem xétmột cách tổng thể trong hệ thống. 2. Tục ngữ và ca dao có những điểm khác nhau dưới đây: - Tục ngữ thiên về lý trí, cho nên khi phản ánh các quan hệ trong giađình, tục ngữ thường đúc kết những kinh nghiệm hoặc những yêu cầu ứng xử.Ca dao là thể loại trữ tình, cho nên ca dao phản ánh quan hệ gia đình trongchiều sâu tình cảm nhiều hơn. - Nói về chủ đề quan hệ vợ chồng, ca dao dành tỷ lệ cao hơn tục ngữ (sovới chủ đề chung về gia đình, thì chủ đề vợ chồng chiếm 59% trong ca dao và39% trong tục ngữ). - Tục ngữ và ca dao có những nét khác biệt trong việc sử dụng các biệnpháp nghệ thuật như đối, tu từ... Ca dao thiên về xây dựng hình ảnh, hìnhtượng, còn tục ngữ thiên về xử lí từ ngữ. 134
  • 135. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình KẾT LUẬN 1. Tục ngữ, ca dao người Việt đã phản ánh sinh động, đa dạng và sâu sắc cácmối quan hệ chính của gia đình người Việt. Dựa vào phương pháp nghiên cứuđược gọi là "toán học hoá ngôn ngữ" của khoa học xã hội, với bộ công cụ làPhần mềm về tục ngữ, Phần mềm về ca dao, từ việc định tính kết hợp vớiđịnh lượng đối tượng nghiên cứu, công trình đã tiến hành khảo sát một cách chitiết, tổng thể việc phản ánh phong tục tập quán của người Việt (trong quan hệgia đình) thể hiện qua tục ngữ, ca dao. Kết quả phân tích cho thấy: nội dung vềcác mối quan hệ trong gia đình chiếm tỷ lệ khá cao so với các nội dung kháccủa tục ngữ, ca dao. Điều đó chứng tỏ từ xa xưa, người Việt đã rất coi trọng giađình và bằng văn học dân gian, họ đã bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của mình vềcác mối quan hệ đa dạng của gia đình, truyền kinh nghiệm của mình lại chomuôn đời sau. Gia đình có một hệ thống quan hệ chằng chịt chi phối lẫn nhau:cha mẹ-con cái, vợ-chồng, anh chị-em, cha mẹ vợ-con rể, cha mẹ chồng-nàngdâu, ông bà-con cháu. Các quan hệ đó có tính nhiều chiều và mỗi người thườngđóng hai ba vai khác nhau, phải luôn điều chỉnh trong các vị thế đó để tạo sựhài hoà. Công trình đã chứng minh được rằng tục ngữ, ca dao vừa phản ánh,vừa quy định sự điều chỉnh này, làm cho các quan hệ gia đình không bị đứt ởmột mối quan hệ nào, gây nguy cơ phá vỡ toàn bộ hệ thống quan hệ. 2. Qua tục ngữ, ca dao, công trình đã cho thấy phong tục tập quán người Việttrong quan hệ gia đình có những nét riêng độc đáo mang tính truyền thống bềnvững bên cạnh những nét chung của cư dân vùng Đông Nam Á chịu ảnh hưởngcủa nhiều luồng tư tưởng, trong đó đáng kể nhất là tư tưởng Nho giáo và Phậtgiáo. 3. Qua tục ngữ, ca dao, người nghiên cứu thấy rõ tính chất dân chủ, bìnhđẳng, khoan hòa, nhân văn là tính chất "trội" của quan hệ gia đình người Việt.Ở đây sự thương yêu, nhường nhịn, hợp lực với nhau "chồng cày vợ cấy","thuận vợ thuận chồng" là nguyên tắc cơ bản, nhằm cùng nhau xây dựng hạnhphúc gia đình. Với bản tính ôn hoà, gắn bó với cộng đồng, hoà đồng với thiênnhiên, người Việt xây dựng gia đình trên nền tảng coi trọng tổ tiên, coi trọngtình nghĩa, coi trọng sự hoà thuận, xa lạ với lối sống gây hiềm khích, ưa hungbạo. 135
  • 136. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 4. Trên cơ sở nhận thức rằng cấu trúc của văn hóa Việt Nam là một tổng thểcó hai tầng bậc chính: văn hoá bác học và văn hoá dân gian, công trình đã đisâu vào tầng bậc văn hoá dân gian, có đối chiếu với tầng bậc văn hoá bác học.Văn hóa bác học ảnh hưởng chủ yếu đến tầng lớp trên - vua quan, nhà giàu,nho sĩ bậc cao... và văn hóa dân gian ảnh hưởng chủ yếu đến tầng lớp dưới -nông dân, người buôn bán, người thợ thủ công, nho sĩ nghèo... Hai tầng vănhóa đó vừa có tính riêng biệt vừa thường xuyên ảnh hưởng lẫn nhau. 5. Công trình đã thực hành một quan điểm tìm hiểu bản sắc văn hóa ViệtNam qua văn hóa dân gian, cụ thể là qua hệ thống tục ngữ, ca dao, bằng thaotác tiếp cận tổng thể trong hệ thống, trong mối quan hệ với văn hóa bác học, dođó đem đến những kết quả có phần phong phú, có sức thuyết phục hơn so vớikết luận của một số tác giả đi trước. 6. Ông cha chúng ta đã để lại một kho tàng tục ngữ, ca dao phong phú, trongđó chứa đựng một mô hình gia đình cùng với những mối quan hệ tốt đẹp thuộcvề bản sắc văn hoá Việt Nam. Công trình cho thấy tục ngữ, ca dao cũng đãcung cấp cho chúng ta kinh nghiệm ứng xử, giáo dục gia đình sinh động và khảthi. Với những giá trị lớn như đã phân tích trên đây, tục ngữ, ca dao vẫn đượcđánh giá cao và có tác dụng tích cực làm giầu nhận thức, làm đẹp tâm hồn củacon người trong xã hội hiện đại, đặc biệt là có giá trị thiết thực giúp con ngườigiữ gìn và phát huy truyền thống của dân tộc, xây dựng gia đình hạnh phúc.Như vậy, tục ngữ, ca dao không những là vốn quý về văn học nghệ thuật, màcòn là vốn quý về kinh nghiệm sống, về cách thức ứng xử để giữ yên tổ ấm giađình, về cách nghĩ, cách diễn đạt của nhân dân mà chúng ta cần nghiên cứu,thấm nhuần để vận dụng vào công việc hàng ngày. 7. Công trình cũng đã nêu lên những khiếm khuyết cần khắc phục trong quanhệ của gia đình người Việt được phản ánh qua tục ngữ, ca dao. Những khiếmkhuyết chính là cách đối xử nghiệt ngã, bất công của không ít gia đình nhàchồng với nàng dâu, là sự đối xử không tốt của một số con cái đối với cha mẹ,là sự chi phối của vật chất vào các quan hệ gia đình mà tục ngữ, ca dao đã phảnánh và phê phán. Đó còn là sự chi phối tiêu cực của lễ giáo phong kiến, củaNho giáo, là tư tưởng cục bộ trong một số phương cách ứng xử. Những khiếmkhuyết ấy còn tồn tại đến ngày nay, và chúng ta cần nhận thức đúng để khắcphục. 136
  • 137. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 8. Kết quả nghiên cứu của công trình cho thấy công nghệ thông tin có khảnăng giúp cho việc khảo sát tư liệu được chính xác, nhanh chóng, từ đó dẫn tớinhững kết luận mang tính khách quan, khoa học. Cần mở rộng phạm vi ứngdụng của công nghệ thông tin, trong đó có việc xây dựng những phần mềmchuyên dụng vào việc nghiên cứu văn học dân gian nói riêng, khoa học xã hộivà nhân văn nói chung. Bộ công cụ sử dụng để khảo cứu công trình (Phầnmềm về tục ngữ, Phần mềm về ca dao) có thể được phổ biến rộng rãi để khaithác tiếp những nội dung khác của tục ngữ, ca dao, đồng thời có thể coi là môhình cho việc xây dựng các phần mềm chuyên dụng khác dùng để khảo cứuvăn học dân gian nói riêng cũng như khoa học xã hội và nhân văn nói chung. Công trình đã bước đầu thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu tục ngữ, ca daocủa người Việt ở chủ đề phản ánh quan hệ gia đình. Để góp phần tiến tới nhậnthức, hiểu biết toàn diện hơn về con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, bảnsắc văn hoá Việt Nam, chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu tục ngữ, ca daotheo các chủ đề khác nữa, và cần có những công trình nghiên cứu tục ngữ, cadao của các dân tộc khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam ./. 137
  • 138. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trần Thuý Anh (2000), Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao – tục ngữ. NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội. 2. Toan Ánh (1999), Làng xóm Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh. 3. Toan Ánh (2000), Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua nếp cũ gia đình, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh. 4. Ăng-ghen (1961), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước, NXB Sự thật, Hà Nội. 5. Nguyễn Văn Bảo (1998), Thành ngữ - cách ngôn gốc Hán, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội. 6. Nguyễn Thị Bảy (1997), Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc bộ, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 7. Nguyễn Bình (1999), Tục ngữ - ca dao cười (Hài hước trẻ 2), NXB Thanh niên, Hà Nội. 8. Nguyễn Viết Bình (1997), Gia đình, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 2, tr.69-70. 9. Phan Kế Bính (1990) (tái bản), Việt Nam phong tục, NXB Tổng hợp Đồng Tháp, Đồng Tháp. 10. Nguyễn Văn Bổn (1983), Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Nam - Đà Nẵng, Đà Nẵng. 11. Nguyễn Văn Bổn (2001), Văn học dân gian Quảng Nam, Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Nam, Quảng Nam,. 12. Trần Đức Các (1995), Tục ngữ với một số thể loại văn học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 13. Bùi Hạnh Cẩn - Bích Hằng - Việt Anh (2000), Thành ngữ - tục ngữ Việt Nam, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 14. Nguyễn Đổng Chi - Ninh Viết Giao - Võ Văn Trực (chủ biên) (1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ, NXB Nghệ An, Nghệ An. 15. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa Thông tin, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội. 16. Đoàn Văn Chúc (1997) (tái bản), Văn hóa học, NXB Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội. 138
  • 139. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 17. Việt Chương (1998) (tái bản), Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam (Quyển thượng), NXB Đồng Nai, Đồng Nai,. 18. Việt Chương (1998) (tái bản), Từ điển thành ngữ - tục ngữ - ca dao Việt Nam (Quyển hạ), NXB Đồng Nai, Đồng Nai. 19. Bùi Văn Cường (1987), Phương ngôn, tục ngữ - ca dao, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 20. Nguyễn Nghĩa Dân (1977), Ca dao Việt Nam (1945 - 1975), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 21. Nguyễn Nghĩa Dân (2000), Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB Thanh niên. 22. Chu Xuân Diên - Lương Văn Đang - Phương Tri (1975), Tục ngữ Việt Nam, NXB Khoa học Xã Hội, Hà Nội. 23. Phan Đại Doãn (1992), Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế - xã hội, NXB Khoa học xã hội, NXB Mũi Cà Mau. 24. Phan Đại Doãn (1998), Về dòng họ ở nông thôn hiện nay, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 10, tr.9-10. 25. Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào (1995), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt nam, NXB Văn hóa, Hà Nội. 26. Phạm Đức Duật (chủ biên) (1981), Văn học dân gian Thái Bình, Ty Văn hóa Thông tin Thái Bình, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 27. Phạm Vũ Dũng (1998), Gia đình và sự nhập thân văn hóa của trẻ em, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 1, tr45-49. 28. Phạm Vũ Dũng (1999), Văn hóa ứng xử của người phụ nữ qua "Kho tàng ca dao người Việt" (Luận văn Thạc sĩ), Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Hà Nội. 29. Vũ Cao Đàm (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. 30. Quang Đạm (1999), Nho giáo xưa và nay, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 31. Phan Thị Đào (1999), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam, NXB Thuận Hóa, Huế. 32. Bùi Huy Đáp (1999), Ca dao tục ngữ về khoa học nông nghiệp, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội, Đà Nẵng. 33. Nhàn Vân Đình (1999), Câu cửa miệng, NXB Văn học và Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Hà Nội. 139
  • 140. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 34. Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) (2001) Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 35. Cao Huy Đỉnh (1998), Bộ ba tác phẩm nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 36. Lê Gia (1995), Tâm hồn mẹ Việt Nam - Tục ngữ, ca dao (Quyển 10), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 37. Lê Gia (1995), Tâm hồn mẹ Việt Nam - Tục ngữ, ca dao (Quyển 11), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 38. Lê Gia (1995), Tâm hồn mẹ Việt Nam - Tục ngữ, ca dao (Quyển 12), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 39. Lê Giang - Lư Nhất Vũ - Nguyễn Văn Hòa - Minh Luân (1986), Dân ca Hậu Giang, Sở Văn hóa - Thông tin Hậu Giang, Cần Thơ. 40. Phi Hà và Thanh Bình (1960), Để xây dựng một chế độ hôn nhân và gia đình kiểu mới, NXB Thanh Niên, Hà Nội. 41. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 42. Mai Văn Hai - Phan Đại Doãn (2000), Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 43. Hoàng Văn Hành (chủ biên) (1999) (tái bản), Kể chuyện thành ngữ - tục ngữ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 44. Nguyễn Văn Hằng (1999), Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 45. Võ Như Hầu (2000), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam = Vietnamese prverbs folk poems and folk songs (Song ngữ Việt - Anh), NXB Đồng Nai, Đồng Nai. 46. Vương Trung Hiếu (1996), Tục ngữ Việt Nam chọn lọc, NXB Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh. 47. Lê Như Hoa (chủ biên) (1996), Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 48. Nguyễn Thái Hoà (1997), Tục ngữ Việt Nam, cấu trúc và thi pháp, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,. 49. Nguyễn Huy Hoàng (2000), Văn hóa trong nhận thức duy vật lịch sử của C.Mác, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 50. Lê Văn Hòe (1952), Tục ngữ lược giải, NXB Quốc học thư xã, Hà Nội. 140
  • 141. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 51. Đào Văn Hội (1971), Phong tục miền Nam qua mấy vần ca dao, Sống mới, Sài Gòn. 52. Đỗ Huy, Trường Lưu (1993), Sự chuyển đổi các giá trị trong Văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 53. Đỗ Huy (1997), Xây dựng văn hóa gia đình trong văn hóa cơ sở, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 7, tr.34-37,40. 54. Đỗ Huy (1998), Văn hóa gia đình trong nền văn hóa truyền thống ở nước ta, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 3, tr.64-67. 55. Nguyễn Văn Huyên (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 56. Phùng Hưng (1996), Phụ nữ và văn hóa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 57. Trần Đình Hượu (1996, in lần 2), Đến hiện đại từ truyền thống, NXB Văn hoá. 58. Trần Đình Hượu (2001), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội. 59. Châu Nhiên Khanh (2000), Ca dao Việt Nam: Tác phẩm. Những bài nhận định, phê bình tiêu biểu, NXB Đồng Nai, Đồng Nai. 60. Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên (1973), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội. 61. ĐINH Gia Khánh (1993), Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 62. Nguyễn Văn Khang (chủ biên) (1998), Từ điển thành ngữ - tục ngữ Hoa - Việt, NXB Khoa học xã hội. 63. Nguyễn Bách Khoa (2000) (tái bản), Kinh thi Việt Nam, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 64. Nguyễn Văn Kiêu (1982), Bàn về xây dựng gia đình xã hội chủ nghĩa, NXB Sự thật, Hà Nội. 65. Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 66. Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người Việt (tập 1), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 67. Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người Việt (tập 2), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 68. Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người Việt (tập 3), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 141
  • 142. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 69. Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật chủ biên (1995), Kho tàng ca dao người Việt (tập 4), NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 70. Mã Giang Lân (1998), Tục ngữ - ca dao Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội. 71. Võ Thị Hồng Loan (1998), Nhân cách văn hóa và ảnh hưởng của gia đình, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 6, tr.76-77. 72. Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1998), Thi ca bình dân Việt Nam (Tập 1), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội. 73. Nguyễn Tấn Long, Phan Canh (1998), Thi ca bình dân Việt Nam (Tập 2), NXB Hội Nhà văn, Hà Nội. 74. Luật Hôn nhân và gia đình và những văn bản có liên quan (1996), (Tài liệu), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 75. Một số giá trị văn hóa truyền thống với đời sống văn hóa ở cơ sở nông thôn hiện nay (1998), NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 76. Hồ Chí Minh (1962), Hồ Chủ Tịch bàn về giáo dục, NXB Giáo dục, Hà nội. 77. Hồ Chí Minh (1995), Về xây dựng con người mới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 78. Lê Minh (chủ biên) (1994), Những tình huống ứng xử trong gia đình, NXB Lao Động. 79. Bùi Xuân Mỹ - Phan Minh Thảo (1995), Tục cưới hỏi, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 80. Sơn Nam (1997), Truyền thống gia đình Nam Bộ, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 5, tr.73-74. 81. Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 82. Ôn như Nguyễn Văn Ngọc (tái bản) (1957), Tục ngữ - phong dao, NXB Minh Đức. 83. Phạm Thế Ngũ (tái bản) (1996), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập 1), NXB Đồng Tháp. 84. Triều Nguyên (1999), Tiếp cận ca dao bằng phương thức xâu chuỗi theo mô hình cấu trúc, NXB Thuận Hóa, Huế. 85. Triều Nguyên (2000), Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt, NXB Thuận Hóa, Huế. 86. Triều Nguyên (2001), Bình giải ca dao, NXB Thuận Hóa, Huế. 87. Hồ Quốc Nhạc (chủ biên) (2000), Ca dao Việt Nam (tập 1), NXB Đồng Nai, Đồng Nai. 142
  • 143. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 88. Hồ Quốc Nhạc (chủ biên) (2000), Ca dao Việt Nam (tập 2), NXB Đồng Nai, Đồng Nai. 89. Nguyễn Tá Nhí (2000), Làng mỹ tục Hà Tây, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, Hà Tây. 90. Nhiều tác giả (1976), Xây dựng gia đình, xây dựng cuộc sống văn minh, hạnh phúc, NXB Phụ nữ, Hà Nội. 91. Nhiều tác giả (1991), Nhận diện gia đình Việt Nam hiện nay, Kỷ yếu hội nghị. Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu khoa học về phụ nữ, Hà Nội. 92. Nhiều tác giả (1991), Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 93. Nhiều tác giả (1992), Một trăm câu ca dân gian Quảng Ngãi, Sở Văn hóa - Thông tin và Thể thao Quảng Ngãi, Quảng Ngãi. 94. Nhiều tác giả (1992), Văn học dân gian Quảng Trị, Sở Văn hóa Thông tin Thể thao, Thư Viện Quảng Trị, Quảng Trị. 95. Nhiều tác giả (1993), Tục ngữ - ca dao - dân ca Hà Tây, Sở Văn hóa Thông Tin Thể thao Hà Tây, Hà Tây, 1993. 96. Nhiều tác giả (1995), Gia đình Việt Nam, các trách nhiệm, các nguồn lực trong sự đổi mới của đất nước, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 97. Nhiều tác giả (1995), Gia đình và địa vị người phụ nữ trong xã hội, cách nhìn từ Việt Nam và Hoa Kỳ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 98. Nhiều tác giả (1996), Ca dao dân ca trên vùng đất Phú Yên, Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường, Hội Văn nghệ dân gian và văn hóa các dân tộc tỉnh Phú Yên, Tuy Hòa. 99. Nhiều tác giả (tái bản) (1997), Phê bình, bình luận văn học (Ca dao - dân ca - Tục ngữ - vè), NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh. 100.Nhiều tác giả (1998), Đại việt sử ký toàn thư (tập 1), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 101.Nhiều tác giả (1998), Đại việt sử ký toàn thư (tập 2), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 102.Nhiều tác giả (1998), Đại việt sử ký toàn thư (tập 3), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 103.Nhiều tác giả (1998), Đại việt sử ký toàn thư (tập 4), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 104.Nhiều tác giả (1999), Tết năm mới ở Việt Nam, Viện Văn hóa - NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 143
  • 144. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 105.Nhiều tác giả (1999), Văn hóa dòng họ ở Thái Bình, Sở văn hóa - Thông tin Thái Bình và Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian, Thái Bình. 106.Nhiều tác giả (1999), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam (Tập IV, Quyển 1), NXB Giáo dục, Hà Nội. 107.Nhiều tác giả (2000), Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ, +NXB Tp Hồ Chí Minh. 108.Nhiều tác giả (2001), Tuyển tập tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB Văn học. 109.Nhiều tác giả (2001), Ca dao Việt Nam - những lời bình, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 110.Nhiều tác giả (không rõ năm ), Quốc hội Việt Nam với Luật Hôn nhân gia đình, NXB Phụ nữ, Hà Nội. 111.Nhóm nghiên cứu nông thôn (1974), Nông thôn Việt Nam (tài liệu in rô nê ô), Sài gòn. 112.Lương Ninh (chủ biên) (2000), Lịch sử Việt Nam giản yếu, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 113. Những văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình (1994) (tài liệu), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 114. Vũ Ngọc Phan (in lần thứ 12) (1999), Tục ngữ - ca dao - dân ca Việt Nam, NXB Khoa học xã hội. 115.Hoàng Phê (chủ biên) (1992), Từ điển tiếng Việt, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội. 116.Chúc Phong (ngày 15 tháng 9 năm 1999), Có thể gọi đây là những gia đình được không?, Văn hóa thứ tư, Hà Nội. 117.Đông Phong (1998), Về nguồn văn hóa cổ truyền Việt Nam, NXB Mũi Cà Mau, Cà Mau. 118.Thuần Phong (1057), Tính giao kết trong câu hò miền Nam, Tạp chí Bách khoa số 9, Sài Gòn. 119.Thuần Phong (1957), Đạo nghĩa vợ chồng trong câu hò miền Nam, Tạp chí Bách khoa số 13, Sài Gòn. 120.Lê Chân Phương (1960), Luật Hôn nhân gia đình triệt để giải phóng phụ nữ, NXB Phụ Nữ, Hà Nội. 121.Đạm Phương nữ sử (2000), Tuyển tập Đạm Phương nữ sử, NXB Văn học, Hà Nội. 122.Hằng Phương (1960), Chống hôn nhân gia đình phong kiến trong ca dao Việt Nam, NXB Phụ Nữ, Hà Nội. 144
  • 145. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 123.Đỗ Lan Phương (1997), Về quan hệ gia đình và xã hội ở nông thôn Bắc Bộ hiện nay (qua khảo sát làng Mẫn Xá - Văn Môn - Yên Phong - Bắc Ninh), Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 9, tr.73-76, số 10, tr.78-80. 124.Đỗ Lan Phương (1996), Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong văn hóa nghệ thuật truyền thống, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 12, tr.64-65, 72. 125.Tam Phương (1958), Giải thích vài tục ngữ về trồng lúa, NXB Nông Thôn, Hà Nội. 126.Lê Chí Quế (chủ biên) (1998), Văn học dân gian Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 127.Lê Quốc, Ý đẹp lời hay (1999), NXB Văn hóa - Thông tin,. 128.Vũ Tiến Quỳnh (2000), Ca dao tình yêu, NXB Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh. 129.Anh Sơn (1998), Trao đổi về công, dung, ngôn, hạnh ở Huế hiện nay, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 9, tr.78-81. 130.Phạm Côn Sơn (1998), Nền nếp gia phong, NXB Tổng hợp Đồng Tháp, Đồng Tháp. 131.Từ Sơn (1998), Giữ gìn và phát huy thuần phong mỹ tục, một phương diện của chiến lược văn hóa giáo dục lòng yêu nước, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 2, tr.4-7, số 3, tr.6-8. 132.Nguyễn Quốc Tăng (2000), Tục ngữ ca dao Việt Nam, NXB Thuận Hóa, Huế. 133.Đỗ Văn Tân (chủ biên) (1984), Ca dao đồng Tháp Mười, Sở Văn hóa - Thông tin Đồng Tháp, Đồng Tháp. 134.Tạ Văn Thành (1998), Xây dựng gia đình văn hóa trong bối cảnh của lối sống đô thị, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 7, tr.73-74. 135.Nguyễn Phương Thảo (1994), Văn hóa dân gian Nam Bộ, những phác thảo, NXB Giáo dục, Hà Nội. 136.Lê Ngọc Thắng (chủ biên) (1990), Bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 137.Lê Thi (Chủ biên) (1996), Gia đình Việt Nam ngày nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 138.Trương Thìn (chủ biên) (1996), Văn hóa phi vật thể xứ Huế, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 139.Lưu Nhân Thiện (1994), Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ 17 – 18, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 145
  • 146. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 140.Ngô Đức Thịnh (1997), Văn hóa dòng họ ở Nghệ An trong sự nghiệp thực hiện chiến lược con người Việt Nam đầu thế kỷ XXI (Tổng thuật hội thảo), Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 4, tr.61-64. 141.Lê Viết Thọ (1997), Gia đình Việt Nam truyền thống và việc xây dựng gia đình văn hóa hiện nay, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 7, tr.43-46. 142.Nguyễn Hữu Thức (1996), Văn học dân gian Hà Tây và việc chấn hưng văn hóa địa phương (Luận văn Phó tiến sĩ khoa học ngữ văn), Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội. 143.Lê Đức Tiết (1998), Về hương ước lệ làng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 144.Trọng Toàn (1999), Hương hoa đất nước (tập 1), NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh. 145.Trọng Toàn (1999), Hương hoa đất nước (tập 2), NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh. 146.Tổ Biên tập văn học dân gian Tiền Giang, Văn học dân gian Tiền Giang (1985) Sở Văn hóa - Thông tin Tiền Giang, Mỹ Tho. 147.Hà Huy Tú (1997), Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên với việc hình thành văn hóa gia đình, Tham luận Hội thảo khoa học Văn hóa gia đình với chiến lược dân số và phát triển, Bộ Văn hoá Thông tn, Hà Nội. 148.Hoàng Tiến Tựu, Bình giảng ca dao (2000) (tái bản lần thứ 5), NXB Giáo dục, Hà Nội 149.Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), Tài liệu, Bộ Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 150.Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 151.Viện Văn hoá dân gian (1990), Văn hoá dân gian những phương pháp nghiên cứu, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 152.Huỳnh Khái Vinh (2000), Những vấn đề văn hoá Việt Nam đương đại, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 153.Lư Nhất Vũ - Lê Giang (2000), Dân ca Bến tre, Sở Văn hóa - Thông tin Bến Tre, Bến Tre. 154.Trần Ngọc Vương (1995), Loại hình học tác giả văn học Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội. 155.Trần Quốc Vượng (1996), Nguyên lý Mẹ của nền văn hóa Việt Nam, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 12, tr.43-44. 156.Trần Quốc Vượng (chủ biên) (2001), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội. 146
  • 147. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 157. Nguyễn Khắc Xuyên (1998), Những tác phẩm ca dao - tục ngữ được xuất bản trước đây một thế kỷ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 158.Nguyễn Khắc Xương (1994), Tục ngữ - ca dao - dân ca Vĩnh Phú, Sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao Vĩnh Phú, Phú Thọ. 159.Phạm Thu Yến (1998), Những thế giới nghệ thuật ca dao, NXB Giáo dục, Hà Nội. TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG PHÁP1. Balmir, Guy-Claude (1982), Essai de littérature sur le chant et la poésie populaire de Noirs Americains, Payot, Paris.2. Mori, Toshiko (1987), Folklore et théatre au Japon, Publ. Orientaliste de Paris, Paris.3. Ri Il Bok (1989), Kim Djeung IL une grande personnalité, Youn Sang Hyeun-Pyongyang, Corée. 147
  • 148. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình MỤC LỤC PHẦN PHỤ LỤC1. Tục ngữ Trang 1511.1. Mối quan hệ vợ chồng1.2. Tình cảm vợ chồng - gắn bó1.3. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng1.4. Quan hệ cha mẹ con1.5. quan hệ anh chị em1.6. quan hệ con dâu, con rể2. Ca dao2.1. quan hệ vợ chồng - gắn bó2.2. đạo nghĩa vợ chông2.3. ông tơ bà nguyệt2.4. Những biểu hiện tiêu cực trong quan hệ vợ chồng2.5. Quan hệ cha mẹ con - về đạo hiếu2.6. Quan hệ cha mẹ con - trách nhiệm2.7. quan hệ cha mẹ con - Những biểu hiện tiêu cực2.8. Quan hệ nàng dâu và gia đình chồng2.9. Hôn nhân - cam chịu2.10. Hôn nhân - trách móc2.11. Hôn nhân - quyền cha mẹ2.12. Hôn nhân - chống lại lễ giáo phong kiến2.13. Hôn nhân - lưỡng lự2.14. Hôn nhân - tự giác2.15. Con cá trong ca dao về tình yêu, hôn nhân và gia đình 148
  • 149. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 1. TỤC NGỮ 1.1. MỐI QUAN HỆ VỢ CHỒNGSTT NỘI DUNG 1. Ai mà nói dối cùng chồng, thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao. 2. Ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại. 3. Ăn của chồng thì ngon, ăn của con thì nhục. 4. Bà phải có ông, chồng phải có vợ. 5. Bát còn có lúc xô xát, huống chi vợ chồng. 6. Bé nhờ cha, lớn nhờ chồng, già nhờ con. 7. Bình phong cẩn ốc xà cừ, vợ hư rầy vợ đừng từ mẹ cha. 8. Bởi chồng cờ bạc, nên lòng chẳng thương. 9. Cá dưới sông, vợ chồng thuyền chài đánh nhau. 10. Cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con. 11. Chẳng tham nhà ngói ba toà, tham vì một nỗi mẹ cha hiền lành. 12. Chẳng tham nhà ngói rung rinh, tham về một mối anh xinh miệng cười. 13. Chẳng tham vựa lúa anh đầy, tham năm ba chữ cho tày thế gian. 14. Chê chồng chẳng bõ chồng chê. 15. Chê chồng trước đánh đau, gặp chồng sau mau đánh. 16. Chê thằng một chai, lấy thằng hai nậm. 17. Chết trẻ còn hơn lấy lẽ chồng người. 18. Chết trẻ còn hơn lấy lẽ. 149
  • 150. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình19. Chiếu hoa, nệm gấm không chồng cũng hư.20. Chiều người lấy của, chiều chồng lấy con. - Chiều người lấy việc, chiều chồng lấy con.21. Chồng ăn chả, vợ ăn nem.22. Chồng ăn giò vợ co chân chạy, chồng ăn mày mạy vợ lạy vợ về.23. Chồng bé vợ lớn ra tình chị em.24. Chồng cần vợ kiệm là tiên; ngông nghênh nhăng nhít là tiền bỏ đi.25. Chồng chèo thì vợ cũng chèo.26. Chồng chết chưa héo cỏ đã bỏ đi lấy chồng.27. Chồng còng lấy vợ cũng còng, nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.28. Chồng dại, luống tổn công phu nhọc mình.29. Chồng đánh bạc, vợ đánh bài.30. Chồng đôi vợ ba.31. Chồng đông, vợ đoài.32. Chồng dữ thì lo, mẹ chồng dữ đánh co mà vào. - Chồng dữ thì em mới lo. - Chồng dữ thì em mới sầu.33. Chồng đường, vợ sá.34. Chồng em áo rách em thương, chồng người áo gấm xông hương mặc người.35. Chồng ghét thì ra, mụ gia ghét thì vào.36. Chồng già vợ trẻ là tiên, vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần. - Chồng già, vợ trẻ là tiên.37. Chồng già vợ trẻ nâng niu, chồng trẻ vợ già nhiều điều đắng cay.38. Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê. - Chồng giận thì vợ bớt lời. 150
  • 151. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình39. Chồng giận thì vợ làm lành.40. Chồng giận thì vợ phải lui, chồng giận vợ giận thì dùi nó quăng.41. Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng.42. Chồng hen lại lấy vợ hen, đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi.43. Chồng hoà, vợ thuận.44. Chồng học trò, vợ con hát.45. Chồng khó giữa làng còn hơn chồng sang thiên hạ.46. Chồng khôn vợ ngoan, chồng quan vợ bợm. - Chồng khôn vợ ngoan.47. Chồng khôn thì nổi cơ đồ, chồng dại luống cổ công phu nặng mình. - Chồng khôn thì nổi cơ đồ.48. Chồng lành dễ khiến, chồng khôn khó chiều.49. Chồng loan, vợ phượng.50. Chồng lớn vợ bé thì xinh, chồng bé vợ lớn ra tình chị em.51. Chồng ma, vợ quỉ.52. Chồng nào vợ nấy.53. Chồng người chẳng mượn được lâu.54. Chồng như đó, vợ như hom. - Chồng như giỏ, vợ như hom.55. Chồng què lấy vợ kiễng chân, nuôi được đứa ở đứt chân cũng què.56. Chồng sang đi võng đầu rồng, chồng hèn gánh nặng đè còng cả lưng.57. Chồng sang vì bởi vợ ngoan.58. Chồng sang vợ được đi giầy, vợ ngoan chồng được tối ngày cậy trông.59. Chồng ta áo rách, ta thương. 151
  • 152. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình60. Chồng tới vợ lui, chồng hoà vợ thuận.61. Chồng tốt ai chẳng muốn lấy, biết giá chồng đáng mấy mà mua.62. Chồng thấp mà lấy vợ cao, nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa.63. Chồng thấp vợ cao như đôi đũa lệch biết bao giờ bằng.64. Chồng yêu cái tóc nên dài, cái duyên nên đẹp, cái tài nên khôn.65. Chưa chồng đi dọc đi ngang, có chồng cứ thẳng một đàng mà đi.66. Có chồng chẳng được đi đâu, có con chẳng được đứng lâu một giờ. - Có chồng chẳng được đi đâu.67. Có chồng như ngựa có cương.68. Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.69. Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay.70. Có chồng thương kẻ nằm không một mình.71. Có con phải khổ vì con, có chồng phải gánh giang sn nhà chồng. - Có con phi khổ vì con.72. Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng.73. Có ông chồng siêng như có ông tiên nho nhỏ.74. Có phúc lấy được vợ già, sạch cửa sạch nhà lại ngọt cơm canh.75. Có tiền vợ vợ chồng chồng, hết tiền chồng đông vợ đoài.76. Có vợ có chồng như đũa có đôi.77. Coi vợ già như chó nằm nhà gác.78. Cơm chẳng lành canh chẳng ngon, chín đụn mười con cũng lìa.79. Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời. 152
  • 153. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình80. Cơm trắng ăn với chả chim, chồng đẹp vợ đẹp những nhìn mà no.81. Còn duyên đóng cửa kén chồng.82. Còn duyên kén những trai tơ.83. Con giai ở nhà vợ, như chó nằm gầm chạn.84. Con hư bởi tại cha dung, vợ hư bởi tại anh chồng cả nghe.85. Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông.86. Của chồng công vợ.87. Của người thì đứng mà trông, của chồng thì cất lấy mà ăn.88. Của rẻ của ôi, tôi rẻ tôi trốn, vợ rẻ vợ lộn.89. Củi mục cành đun, chồng lành dễ khiến, chồng khôn khó chiều.90. Củi mục khó đun, chồng lành dễ khiến, chồng khôn dễ chiều.91. Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài.92. Đàn bà mà lấy đàn ông thiệt gì.93. Đàn ông vượt bể có chúng có bạn, đàn bà vượt cạn chỉ có một mình.94. Đói bụng chồng, hồng má vợ.95. Đau đẻ, ngứa ghẻ, đòn ghen.96. Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, chăn loan gối phượng không chồng cũng hư.97. Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về.98. Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.99. Đói bụng chồng, đau lòng vợ.100. Đói no có vợ có chồng, chia niêu sẻ đấu đau lòng nát gan. 153
  • 154. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình101. Đói no một vợ, một chồng.102. Đổi quần đổi áo thời hay, đổi chồng, đổi vợ xưa nay chẳng lành.103. Đừng thấy chồng hiền, xỏ chân lỗ mũi.104. Được cả đôi, Thiên Lôi đánh một.105. Gái bắt nạt chồng, em chẳng có ngoan.106. Gái chính chuyên chẳng lấy hai chồng.107. Gái có chồng như chông như mác, gái không chồng như rác như rơm.108. Gái có chồng như gông đeo cổ, gái không chồng như phản gỗ long đanh.109. Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay chết ngõng.110. Gái có công, chồng chẳng phụ.111. Gái giết chồng, đàn ông ai nỡ giết vợ. - Gái giết chồng, chứ đàn ông không ai giết vợ.112. Gái khôn thì chồng con nhờ, gái đần đơm đó thả lờ trôi sông.113. Gái không chồng như thuyền không lái.114. Gái kia chồng rẫy khoe tài chi em.115. Gái mạnh về chồng.116. Gái năm con ở chưa hết lòng chồng.117. Gái ngoan làm quan cho chồng.118. Gái rẫy chồng mười lăm quan quí, trai rẫy vợ tiền phí xuống sông.119. Gái trồng rẫy không phải chứng nọ, thì tật kia.120. Gái thương chồng đang đông buổi chợ, trai thương vợ nắng quái chiều hôm.121. Ghe bầu chở lái về đông, làm thân con gái thờ chồng nuôi con.122. Giàu đổi bạn, sang đổi vợ.123. Giàu trong làng trái duyên khôn ép, khó nước người phải kiếp cũng theo.124. Giàu về bạn, sang về vợ.125. Hẩm duyên lấy phải chồng đần, có trăm mẫu ruộng bán dần mà ăn.126. Hay ăn miếng ngon chồng con trả người.127. Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.128. Khó giữa làng, còn hơn chồng sang thiên hạ.129. Khôn đi làm lẽ, khoẻ đi ở mùa.130. Khôn với vợ, dại với anh em.131. Không vợ đứng ở lề đường.132. Lắm con, lắm nợ, lắm vợ nhiều cái oan gia.133. Lắm duyên nhiều nợ, lắm vợ nhiều oan gia.134. Làm quan đã có cơm vua, lấy chồng đã có cơm mua của chồng.135. Làm quan hay quân, làm chồng hay vợ. 154
  • 155. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình136. Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng.137. Làm ruộng phải có trâu, làm giàu phải có vợ.138. Làm trai lấy vợ bé, nhà giàu tậu nghé hoa.139. Làm tướng hay quân, làm chồng hay vợ.140. Làm tuỳ chủ, ngủ tuỳ chồng.141. Làm thân con gái thờ chồng, nuôi con.142. Lấy chồng ăn mày chồng.143. Lấy chồng bắt thói nhà chồng, đừng giữ thói cũ ở cùng mẹ cha.144. Lấy chồng chè rượu là duyên nợ nần.145. Lấy chồng chè rượu là tiên, lấy chồng cờ bạc là duyên nợ nần.146. Lấy chồng cho đáng bù nhìn giữ dưa.147. Lấy chồng cho đáng hình dong con người.148. Lấy chồng cho đáng tấm chồng, bõ công trang điểm má hồng răng đen.149. Lấy chồng cho đáng tấm chồng.150. Lấy chồng cho đáng việc vua, việc làng.151. Lấy chồng cờ bạc là tiên.152. Lấy chồng cũng phải gọi chồng bằng anh.153. Lấy chồng đánh bạc như voi phá nhà.154. Lấy chồng hay chữ như soi gương vàng.155. Lấy chồng hơn ở goá.156. Lấy chồng khó giữa làng, hơn lấy chồng sang thiên hạ.157. Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi.158. Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, lương vua khỏi đóng, áo chồng khỏi may.159. Lấy chồng nhờ hồng phúc nhà chồng.160. Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi.161. Lấy chồng thì chọn trưởng nam cho giàu.162. Lấy chồng thì phải theo chồng, thôi đừng theo thói cha ông nhà mình.163. Lấy chồng thì phải theo chồng.164. Lấy con xem nạ, lấy gái hoá xem đời chồng xưa.165. Lấy kẻ chê chồng, chớ lấy kẻ chồng chê.166. Lấy vợ chọn tông, lấy chồng chọn giống.167. Lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống.168. Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng.169. Lệnh ông không bằng cồng bà.170. Lúa trỗ thập thòi, vợ chồng đánh nhau lòi mắt.171. Mất mẹ mất cha thật là khó kiếm, chớ đạo vợ chồng chẳng thiếu gì nơi.172. Mẹ kêu mặc mẹ, thương chồng phải theo.173. Mảnh chồng quan bằng đàn chồng dân. 155
  • 156. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình174. Một chồng rẫy là bảy chồng chờ.175. Một là vợ, hai là nợ.176. Một vợ không khố mà mang, hai vợ bỏ làng mà đi.177. Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo.178. Mua cam thì chọn giống cam, lấy chồng thì chọn trưởng nam cho giàu.179. Mua heo chọn nái, mua gái chọn dòng.180. Mua thịt thì chọn miếng mông, lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi.181. Muôn nghìn chớ lấy học trò, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.182. Muốn nói không, làm chồng mà nói.183. Ngu si cũng thể chồng ta, dẫu rằng khôn khéo cũng ra chồng người.184. Người ba bốn vợ, người không vợ nào.185. Nhà khó cậy vợ hiền, nước loạn nhờ tướng giỏi.186. Nhất vợ nhì trời.187. Nhường cơm nhường áo, không ai nhường chồng.188. Nhứt củ khoai đầu vồng, nhì có chồng trưởng nam.189. Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai.190. Ở goá ba đông, lấy chồng hay ngủ.191. Phận gái theo chồng.192. Phu quí, vợ vinh.193. Phụ vợ, không gặp vợ.194. Phu xướng, phụ tòng.195. Phúc nhà vợ chẳng bằng nợ nhà chồng.196. Quen nhà mạ, lạ nhà chồng.197. Quen việc nhà mạ, lạ việc nhà chồng.198. Ruộng đầu chợ, vợ đầu làng.199. Ruộng giữa đồng, chồng giữa làng.200. San sát như hai gái lấy một chồng.201. Sống quê cha, ma quê chồng.202. Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.203. Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng.204. Tạm vợ, vợ già; tạm nhà, nhà nát.205. Tay không chẳng thèm nhờ vợ.206. Tay tiêm thuốc cống, miệng mời lang quân.207. Thà rằng làm lẽ thứ mười, còn hơn chính thất những người đần ngu.208. Thế gian một vợ một chồng, chẳng như vua bếp hai ông một bà.209. Thế gian vợ giống tính chồng, đời nào đầy tớ giống ông chủ nhà.210. Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi.211. Thứ nhất đau đẻ, thứ hai ngứa ghẻ, đòn ghen. 156
  • 157. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình212. Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ hai nhà dột, thứ ba rựa cùn.213. Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì nhà dột, thứ ba nợ đòi.214. Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn.215. Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn216. Thương chồng nên phải lầm than.217. Thương ai cho bằng thương chồng.218. Thương ai ví bằng gái son nhớ chồng.219. Thương chồng nên phải gắng công.220. Thương chồng phải bồng con ghẻ.221. Thương chồng phải khóc mụ gia.222. Thuyền không lái như gái không chồng.223. Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng.224. Thuyền theo lái, gái theo chồng.225. Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa226. Tốt duyên lấy được chồng chung.227. Tốt duyên lấy được chồng hiền.228. Tốt mối lấy được chồng sang.229. Trai chê vợ mất của tay không, gái chê chồng một đồng trả bốn.230. Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng.231. Trai có vợ như giỏ có hom.232. Trai có vợ như lỗ tiền chôn.233. Trai có vợ như rợ buộc chân.234. Trai có vợ tề gia nội trợ.235. Trai con một thì lấy, gái con một thì đừng.236. Trai hơn vua được lúc đua thuyền, gái hơn chồng được lúc bồng con.237. Trai làm nên năm thê, bảy thiếp, gái làm nên thủ tiết thờ chồng.238. Trai ơn Vua lúc đua thuyền rồng, gái ơn chồng lúc bồng con thơ.239. Trai ơn Vua ngồi võng đòn rồng, gái ơn chồng ngồi võng ru con.240. Trai nhớ vợ cũ, gái nhớ chồng xưa.241. Trai nuôi vợ đẻ gầy mòn, gái nuôi chồng ốm béo tròn cối xay.242. Trai phải hơi vợ như cò bợ gặp trời mưa.243. Trai tay không chẳng thèm nhờ vợ, gái ruộng đợ phải ăn mày chồng.244. Trai tay không chẳng thèm nhờ vợ, trăm mẫu ruộng đợ cũng tiếng nhờ chồng.245. Trâu đẻ tháng sáu, vợ đẻ tháng mười.246. Triều đình có văn có vũ, như trong nhà có mụ, có ông.247. Túi ông xã, quả nhà hàng.248. Vợ ba con ở chưa hết lòng chồng.249. Vợ bắt thói chồng, đứa ở giống tông chúa nhà.250. Vợ cái con cột, vợ lẽ con thêm. 157
  • 158. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình251. Vợ chồng biết tính nhau.252. Vợ chồng chăn chiếu chẳng rời; bán buôn là nghĩa ở đời với nhau.253. Vợ chồng chớ cãi nhau hoài, sao cho trong ấm thì ngòai mới êm.254. Vợ chồng cùng một tuổi, nằm duỗi ra mà ăn.255. Vợ chồng đầu gối tay ấp.256. Vợ chồng đồng tịch đồng sàng, đồng sinh đồng tử cưu mang đồng lần.257. Vợ chồng khi nồng khi nhạt.258. Vợ chồng là nghĩa già đời.259. Vợ chồng là nghĩa trả đời, ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn.260. Vợ chồng may rủi là duyên, vợ chồng hoà thuận là duyên trên đời.261. Vợ chồng như đũa có đôi.262. Vợ chồng phận đẹp duyên ưa.263. Vợ chồng sống gửi thịt, chết gửi xưng.264. Vợ có chồng như rồng có mây, chồng có vợ như cây có rừng.265. Vợ có khách nợ đến nhà, chồng có quan toà gửi trát.266. Vợ dại đẻ con khôn.267. Vợ dại không hại bằng đũa vênh.268. Vợ đẹp càng tổ đau lưng.269. Vợ đẹp kém ngủ.270. Vợ đẹp mặt, chồng đau lưng.271. Vô duyên lấy phải chồng đần.272. Vợ già, chồng trẻ là duyên nợ nần.273. Vợ giống tính chồng, người ở giống tông chủ nhà.274. Vợ hiền hoà, nhà hướng Nam.275. Vợ hư bởi tại thằng chồng cả nghe.276. Vợ không cheo như cù nèo không móc.277. Vợ quá chiều ngoen ngỏen như chó con liếm mặt, vợ phải rẫy tiu nghỉu như mèo lành mất tai.278. Vợ yên, nhưng tiền chưa có.279. Vợ thì muốn lấy, chồng e mất tiền.280. Voi không nài như trai không vợ.281. Voi trên rừng không bành không tróc, gái không chồng như cóc cụt đuôi.282. Vợ chồng như áo cởi ngay nên lìa.283. Vợ với chồng như hồng với cốm, nào ngờ như chó đốm mèo khoang.284. Xấu chàng, hổ ai.285. Xấu thiếp, hổ chàng. 1.2. TÌNH CẢM VỢ CHỒNG - GẮN BÓ 158
  • 159. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đìnhSTT NỘI DUNG 1. Bà phải có ông, chồng phải có vợ. 2. Chồng như đó, vợ như hom. - Chồng như giỏ, vợ như hom. 3. Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông. 4. Đói bụng chồng, đau lòng vợ. 5. Đói bụng chồng, hồng má vợ. 6. Đói no có vợ có chồng, chia niêu sẻ đấu đau lòng nát gan. 7. Đói no một vợ, một chồng. 8. Đổi quần đổi áo thời hay, đổi chồng, đổi vợ xưa nay chẳng lành. 9. Ngu si cũng thể chồng ta, dẫu rằng khôn khéo cũng ra chồng người. 10. Nhường cơm nhường áo, không ai nhường chồng. 11. Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi. 12. Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn 13. Thương chồng nên phải lầm than. 14. Thương ai cho bằng thương chồng. 15. Thương ai ví bằng gái son nhớ chồng. 16. Thương chồng nên phải gắng công. 17. Thương chồng phải bồng con ghẻ. 18. Thương chồng phải khóc mụ gia. 19. Tôi tớ xét công, vợ chồng xét nhân nghĩa 20. Triều đình có văn có vũ, như trong nhà có mụ, có ông. 21. Vợ chồng biết tính nhau. 22. Vợ chồng chăn chiếu chẳng rời; bán buôn là nghĩa ở đời với nhau. 23. Vợ chồng đầu gối tay ấp. 24. Vợ chồng đồng tịch đồng sàng, đồng sinh đồng tử cưu mang đồng lần. 25. Vợ chồng là nghĩa già đời. 26. Vợ chồng là nghĩa trả đời, ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn. 27. Vợ chồng như đũa có đôi. 28. Vợ chồng sống gửi thịt, chết gửi xương. 29. Vợ có chồng như rồng có mây, chồng có vợ như cây có rừng. 30. Xấu chàng, hổ ai. 31. Xấu thiếp, hổ chàng.1.3. NHỮNG BIỂU HIỆN TIÊU CỰC TRONG QUAN HỆ VỢ CHỒNGSTT NỘI DUNG 1. ẵm con chồng hơn bồng cháu ngoại. 159
  • 160. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình2. Bởi chồng cờ bạc, nên lòng chẳng thương.3. Cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con.4. Chê chồng trước đánh đau, gặp chồng sau mau đánh.5. Chê thằng một chai, lấy thằng hai nậm.6. Chồng ăn chả, vợ ăn nem.7. Chồng bé vợ lớn ra tình chị em.8. Chồng đánh bạc, vợ đánh bài.9. Chồng đôi vợ ba.10. Chồng dữ thì lo, mẹ chồng dữ đánh co mà vào. - Chồng dữ thì em mới lo. - Chồng dữ thì em mới sầu.11. Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng.12. Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay.13. Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng.14. Có tiền vợ vợ chồng chồng, hết tiền chồng đông vợ đoài.15. Con giai ở nhà vợ, như chó nằm gầm chạn.16. Đàn ông vượt bể có chúng có bạn, đàn bà vượt cạn chỉ có một mình.17. Đói bụng chồng, hồng má vợ.18. Đau đẻ, ngứa ghẻ, đòn ghen.19. Được cả đôi, Thiên Lôi đánh một.20. Gái giết chồng, đàn ông ai nỡ giết vợ. - Gái giết chồng, chứ đàn ông không ai giết vợ.21. Giàu đổi bạn, sang đổi vợ.22. Làm trai lấy vợ bé, nhà giàu tậu nghé hoa.23. Lấy chồng chè rượu là duyên nợ nần.24. Lấy chồng chè rượu là tiên, lấy chồng cờ bạc là duyên nợ nần.25. Lấy chồng cờ bạc là tiên.26. Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi.27. Lấy chồng làm lẽ khỏi lo, lương vua khỏi đóng, áo chồng khỏi may.28. Mảnh chồng quan bằng đàn chồng dân.29. Một vợ không khố mà mang, hai vợ bỏ làng mà đi.30. Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo.31. Người ba bốn vợ, người không vợ nào.32. San sát như hai gái lấy một chồng.33. Tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng.34. Tay tiêm thuốc cống, miệng mời lang quân.35. Thứ nhất đau đẻ, thứ hai ngứa ghẻ, đòn ghen.36. Tốt duyên lấy được chồng chung.37. Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng.38. Trai làm nên năm thê, bảy thiếp, gái làm nên thủ tiết thờ chồng. 160
  • 161. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 39. Trai tay không chẳng thèm nhờ vợ, trăm mẫu ruộng đợ cũng tiếng nhờ chồng. 40. Vợ cái con cột, vợ lẽ con thêm. 41. Vợ chồng như áo cởi ngay nên lìa. 42. Vợ với chồng như hồng với cốm, nào ngờ như chó đốm mèo khoang. 1.4. QUAN HỆ CHA MẸ CON STT NỘI DUNG1 Ăn của chồng thì ngon, ăn của con thì nhục.2 Ơn cha là ba ngàn bảy, nghĩa mẹ là bảy ngàn ba.3 Đình đám người, mẹ con ta.4 Đói lòng con, héo hon cha mẹ.5 Đầu măng ngã gục vào tre, nương nhờ vào mẹ kẻo e bão gào.6 Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.7 Đời cha đắp nấm, đời con ấm mồ.8 Đời cha trồng cây, đời con ăn qủa.9 Đời cha vo tròn, đời con bóp bẹp.10 Đẻ con khôn mát như nước, đẻ con dại thì rát như hơ.11 Đi dối cha, về nhà dối chú.12 Được mối hàng, mẹ chẳng nhường con.13 Đẹp đôi ta mẹ cha không đẹp; đẹp gia nghiệp, lại lép duyên hài.14 Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha.15 Đuổi con vào đám giỗ.16 Bà khen con bà tốt, một chạp bà biết con bà.17 Bà khoe con bà tốt, đến tháng mười một bà biết con bà.18 Bé nhờ cha, lớn nhờ chồng, già nhờ con.19 Bé thì con mẹ con cha, lớn thì con vua con chúa.20 Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư.21 Cô cũng như cha, gì cũng như mẹ.22 Công cha nghĩa mẹ.23 Cây xanh thì lá cũng xanh, cha mẹ hiền lành để đức cho con.24 Cơm mẹ thì ngon, cơm con thì đắng.25 Có cha có mẹ thì hơn, không cha không mẹ như đờn không dây.26 Có chồng chẳng được đi đâu, có con chẳng được đứng lâu một giờ.27 Có chồng chẳng được đi đâu.28 Có chồng mà chẳng có con, khác nào hoa nở trên non một mình.29 Có của để cho con, không có để nợ cho con.30 Có con chẳng được đứng lâu một giờ.31 Có con không dậy để vậy mà nuôi. 161
  • 162. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình32 Có con nhờ con, có của nhờ của.33 Có con phải khổ vì con, có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.34 Có con phải khổ vì con.35 Có con tội sống, hai con tội chết, ba con hết tội.36 Có con tội sống, không có con tội chết.37 Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.38 Có phúc đẻ con hay lội, có tội đẻ con hay trèo.39 Có vàng, vàng chẳng hay phô, có con, con nói trầm trồ mẹ nghe.40 Canh suông khéo nấu thì ngon, mẹ già khéo nói thì con đắt chồng.41 Cha "vặt, riệt", con đánh tiệt chõ xôi.42 Cha đào ngạch, con xách nồi.43 Cha để nhà cho trưởng, cha ngất ngưởng đi ăn mày.44 Cha anh hùng, con hảo hán.45 Cha bưng mâm, con ngồi cỗ nhất.46 Cha bòn con phá.47 Cha cầm khoáng, con bẻ măng.48 Cha già đi nuôi con mượn49 Cha hổ mang đẻ con liu điu.50 Cha làm thầy, con bán sách.51 Cha mẹ giàu con có, cha mẹ khó con không.52 Cha mẹ hiền lành để phúc cho con53 Cha mẹ ngoảnh đi con dại, cha mẹ ngoảnh lại con khôn.54 Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi cha mẹ con kể từng ngày.55 Cha mẹ trông đi thì con dại, cha mẹ trông lại thì con khôn.56 Cha muốn cho con hay, thầy mong cho con khá.57 Cha sinh chẳng bằng mẹ dưỡng.58 Cha sinh mẹ dưỡng.59 Cha thương con út, con út đái lụt chân giường.60 Cha thắt khố dài, con cài thiết lĩnh.61 Cha trở ra trở vào, con ngồi cao gọi với.62 Cha truyền, con nối.63 Chỗ ướt mẹ nằm, ráo xê con lại.64 Chó cắn thì chìa con ra.65 Chim trời ai nỡ đếm lông, nuôi con ai nỡ kể công tháng ngày.66 Chú đánh cha tôi, tôi tha gì chú.67 Của mòn, con lớn.68 Cú đói ăn con.69 Con đâu cha mẹ đấy.70 Con đóng khố, bố cởi truồng. 162
  • 163. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình71 Con đẹn con sài, chớ hoài bỏ đi.72 Con ai cha mẹ ấy.73 Con ai người ấy xót.74 Con biết nói, mẹ hói đầu.75 Con biết ngồi, mẹ rời tay.76 Con cái khôn ngoan vẻ vang cha mẹ.77 Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.78 Con có khóc, mẹ mới cho bú. - Con không khóc mẹ chẳng cho bú.79 Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi.80 Con có cha như nhà có nóc.81 Con có cha, nhà có chủ.82 Con có mạ như thiên hạ có vua.83 Con có mẹ như măng ấp bẹ.84 Con chẳng chê cha mẹ khó, chó chẳng chê nhà chủ nghèo.85 Con cha, gà giống.86 Con dại cái mang.87 Con dòng thì bỏ xuống đất, con vật thì cất lên sàn.88 Con ấp vú mẹ.89 Con gái giống cha giàu ba đụn.90 Con gái giống cha giàu ba mươi đụn, con trai giống mẹ khó lụn tận xương.91 Con gái mười bảy chớ ngủ với cha, con trai mười ba đừng nằm với mẹ.92 Con giữ cha, gà giữ ổ.93 Con giàu một bó, con khó một nén.94 Con hư bởi tại cha dung, vợ hư bởi tại anh chồng cả nghe.95 Con hư bởi tại cha dung.96 Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.97 Con hơn cha là nhà có phúc.98 Con học, thóc vay.99 Con khôn nở mặt mẹ cha.100 Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.101 Con không cha thì con trễ, cây không rễ thì cây hư.102 Con khó có lòng.103 Con lên ba mới ra lòng mẹ.104 Con lên ba, mẹ sa xương sườn.105 Con lở ghẻ, mẹ hắc lào.106 Con liền với ruột.107 Con mẹ, mẹ xót, xót gì con dâu. 163
  • 164. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình108 Con người ỉa đầu đường thì thối, con mình ỉa đầu gối thì thơm.109 Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông.110 Con thì mạ, cá thì nước.111 Con voi, voi dấu; con châu chấu, châu chấu yêu.112 Con vua tốt, vua dấu, con tôi xấu tôi yêu.113 Con vua, vua dấu; con chúa, chúa yêu.114 Còn cha ăn cơm với cá.115 Còn cha gót đỏ như son, một mai cha thác gót con như chì.116 Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về.117 Dạy con tử thuở còn thơ.118 Ở nhà nhất mẹ nhì con, ra đường lắm kẻ còn đẹp còn giòn hơn ta.119 Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.120 Gái có con như bồ hòn có rễ.121 Gái chậm chồng, mẹ cha khắc khoải.122 Gái khôn thì chồng con nhờ, gái đần đơm đó thả lờ trôi sông.123 Gái làm chi, trai làm chi, sinh ra có nghĩa, có nghì là hơn.124 Ghe bầu chở lái về đông, làm thân con gái thờ chồng nuôi con.125 Giàu bán chó, khó bán con.126 Giàu lúc còn son, giàu lúc con lớn.127 Giầu bán ló (lúa), khó bán con.128 Hổ phụ sinh hổ tử.129 Hổ phụ sinh khuyển tử.130 Hai vợ chồng son, đẻ một con hoá bốn.131 Hồn rằng hồn thác ban ngày, thương cha, nhớ mẹ, hồn rày thác đêm.132 Hay ăn miếng ngon chồng con trả người.133 Hay đi chợ để nợ cho con.134 Hiếu thuận hoàn sinh hiếu thuận tử, ngỗ nghịch hoàn sinh ngỗ nghịch nhi.135 Không cha, không mẹ, như đờn không dây136 Không con héo hon một đời.137 Không con, chó ỉa mả.138 Không mẹ lẹ chân tay.139 Khó thì hết thảo, hết ngay, công cha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng quên.140 Làm thân con gái thờ chồng, nuôi con.141 Lên non mới biết non cao, nuôi con mới biết công lao mẫu từ.142 Liệu cơm gắp mắm, liệu con gả chồng.143 Máu loãng còn hơn nước lã, chín đời họ mẹ còn hơn người dưng.144 Mài mực dạy con, mài son đánh giặc.145 Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ liếm lá đầu chợ (đường). 164
  • 165. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình146 Mồ cha không khóc, khóc đống mối, mồ mẹ không khóc, khóc bối bòng bong.147 Mồng một tết cha, mồng ba tết thầy.148 Một con so bằng ba con đẻ.149 Một con so bằng ba con dạ.150 Một con tội sống, hai con tội chết, ba con hết tội.151 Một mẹ già bằng ba đứa ở.152 Mất mẹ mất cha thật là khó kiếm, chớ đạo vợ chồng chẳng thiếu gì nơi.153 Một mẹ nuôi được mười con, mười con không nuôi được một mẹ.154 Một sào lúa non nuôi con nửa ngày.155 Mấy ai biết lúa gon, mấy ai biết con ác.156 Mấy ai biết lúa von, mấy ai biết con hư.157 Mẹ ăn cơm chả, con lả bụng.158 Mẹ ăn con trả.159 Mẹ đánh một trăm không bằng cha ngăm một tiếng.160 Mẹ đần lại đẻ con đần, gạo chiêm đem giã mấy lần vẫn chiêm.161 Mẹ cú con tiên, mẹ hiền con xục xạc.162 Mẹ con một lần da đến ruột.163 Mẹ dạy thì con khéo, bố dạy thì con khôn.164 Mẹ em tham giàu bắt chạch đằng đuôi.165 Mẹ già thì sâu nước ăn.166 Mẹ hát con khen hay.167 Mẹ hát con khen, ai chen vô lọt.168 Mẹ kêu mặc mẹ, thương chồng phải theo.169 Mẹ lá rau lá má, con đầy rá đầy mâm.170 Mẹ lừa ưa con ngọng.171 Mẹ nào con ấy.172 Mẹ ngoảnh đi con dại, mẹ ngoảnh lại con khôn.173 Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi mẹ con kể từng ngày.174 Mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày.175 Mẹ nuôi con dùng dùng nén nén, con nuôi mẹ không được một nẹn trong tay176 Mẹ sống bằng hai bàn tay, con ăn mày bằng hai đầu gối.177 Mẹ sớm chiều ngược xuôi tất tưởi, con đầy ngày đám dưới đám trên.178 Mẹ tròn con méo.179 Mẹ với con lúa non cũng lấy.180 Muốn đánh thì đẻ con ra, muốn ăn thì thổi cơm nhà mà ăn.181 Muốn đánh thì đẻ con ra.182 Muốn con hay chữ thời yêu lấy thầy. 165
  • 166. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình183 Muốn nói ngoa làm mẹ cha mà nói.184 Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.185 Ngày sau con tế ba bò, sao bằng lúc sống con cho lấy chồng.186 Ngầm ngập như mẹ gặp con, lon son như con gặp mẹ.187 Người ăn thì còn, con ăn thì mất.188 Nghe con lon xon mắng láng giềng.189 Nhà gần chợ, để nợ cho con.190 Nhà khó đẻ con khôn.191 Nhất mẹ nhì con.192 Nhớn vú bụ con.193 Nhiều con giòn mẹ.194 Nuôi con ai nỡ kể tiền cơm.195 Nuôi con chẳng dạy chẳng răn, thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng.196 Nuôi con không phép kể tiền cơm.197 Nuôi con thì tốn tiền quà, nuôi gà thì tốn tiền thóc.198 Nuôi con trống dạ, đổ vạ ông vải.199 Nuôi con trong dạ đổ vạ cho ông vải.200 Nuôi con trong dạ mang vạ vào thân.201 Phụ tử tình thâm.202 Phụ trái tử hoàn, tử trái phụ bất can.203 Sành sẹ như mẹ với con, lon ton như con với mẹ.204 Sẩy cha ăn cơm với cá, sẩy mẹ lót lá mà nằm.205 Sẩy cha có chú, sẩy mẹ bú dì..206 Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ ấp vú dì.207 Sinh được một con, mất một hòn máu.208 Sinh con ai chẳng vun trồng cho con209 Sinh con ai nỡ sinh lòng, mua dưa ai biết trong lòng quả dưa.210 Sinh con ai nỡ sinh lòng, sinh con ai chẳng vun trồng cho con.211 Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.212 Thương ai ví bằng thương con.213 Thương con bằng roi, thương con đòi thì thương bằng rơm.214 Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi.215 Thương con mà dễ, thương rể mà khó.216 Thương con ngon rau.217 Thương con ngon rể, vác ghế đi tìm.218 Thương con thì cho ăn quà, nuôi gà phải tốn thóc.219 Thờ cha kính mẹ đã đành, theo đôi theo lứa mới thành thất gia.220 Thứ nhất thì chết mất cha, thứ nhì buôn vã, thứ ba ngược đò.221 Thứ nhất thì mồ côi cha, thứ nhì gánh vã, thứ ba buôn thuyền.222 Trẻ cậy cha, già cậy con. 166
  • 167. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình223 Uốn cây từ thuở còn non, dạy con từ thuở con còn ngây thơ.224 Vợ dại đẻ con khôn.225 Yêu con cậu, mới đậu con mình.226 Yêu con người, mát con ta.227 Yêu con, ngon của. 1.5. QUAN HỆ ANH CHỊ EM TT NỘI DUNG1 Đi việc làng giữ lấy họ, đi việc họ giữ lấy anh em.2 Anh em chém nhau đằng dọng, không chém đằng lưỡi.3 Anh em gạo, đạo ngãi tiền.4 Anh em hạt máu sẻ đôi5 Anh em hiền thậm là hiền, bởi một đồng tiền nên mất lòng nhau.6 Anh em khinh trước, làng nước khinh sau.7 Anh em như chân tay.8 Anh em như chông, như mác.9 Anh em rể đúng lệ mà theo, sợ cái mắt nheo của ông con trưởng.10 Anh em trai ở với nhau mãn đại, chị em gái ở với nhau một thời.11 Anh em trong nhà, đóng cửa bảo nhau.12 Anh em xem mặt cho vay.13 Anh ngủ, em thức; em chực, anh đi nằm.14 Anh thuận em hoà là nhà có phúc15 Có chú chê anh hèn, không chú rèn lấy anh.16 Cắt dây bầu, dây bí, chẳng ai cắt dây chị, dây em.17 Chẳng khôn thể chị lâu ngày, chị đái ra váy cũng tày em khôn.18 Chị dại đã có em khôn.19 Chị em hiền thật là hiền, lâm đến đồng tiền mất cả chị em.20 Chị em không thèm đến ngõ.21 Chị em nắm nem ba đồng.22 Chị em trên kính dưới nhường, là nhà có phúc mọi đường yên vui.23 Chị ngã em nâng.24 Của anh như của chú.25 Con chị cõng con em, con em lèn con chị.26 Con chị dắt con em.27 Em khôn cũng là em chị, chị dại cũng là chị em.28 Em ngã thì chị phải nâng, đến khi chị ngã em bưng miệng cười.29 Em thuận, anh hoà là nhà có phúc.30 Huynh đệ như thủ túc.31 Khôn ngoan đá đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. 167
  • 168. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình32 Khôn với vợ, dại với anh em.33 Làm chị phải lành, làm anh phải khó.34 Nghèo thì giỗ tết, giàu hết anh em.35 Phận đàn em ăn thèm vác nặng.36 Quyền huynh thế phụ.37 Tiền lĩnh quần chị không bằng tiền chỉ quần em.38 Tiền lĩnh quần chị, bằng tiền chỉ quần em.39 Yêu con cậu, mới đậu con mình.40 Yêu nhau chị em gái, rái nhau chị em dâu, đánh nhau vỡ đầu là anh em rể. 1.6. QUAN HỆ CON DÂU, CON RỂ STT NỘI DUNG1 Ưa nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.2 Bình phong cẩn ốc xà cừ, vợ hư rầy vợ đừng từ mẹ cha.3 Bắt chấy cho mẹ chồng, thấy bồ nông dưới biển.4 Bố chồng là ông lợn bạch, mẹ chồng là đách lợn lang, Bố chồng là lông con phượng, mẹ chồng là tượng mới tô, nàng dâu là bồ nghe chửi.6 Bố chồng như lông con phượng, mẹ chồng như tượng mới tô.7 Bố vợ là vớ cọc chèo, mẹ vợ là bèo trôi sông, chàng rể là ông Ba vì.8 Có phúc là dâu, vô phúc là bâu là báo.9 Có phúc là nàng dâu, vô phúc là cái báo.10 Chăn tằm rồi mới ươm tơ, làm dâu rồi mới được như mẹ chồng.11 Chưa học làm dâu đã hay đâu làm mẹ chồng.12 Chê mẹ chồng trước đánh đau, phải mẹ chồng sau mau đánh.13 Chồng dữ thì lo, mẹ chồng dữ đánh co mà vào.14 Của mình để, của rể thì bòn.15 Con dâu mới về đan bồ chịu chửi.16 Con mẹ, mẹ xót, xót gì con dâu.17 Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng.18 Dâu dâu rể rể cũng kể là con.19 Dâu hiền hơn con gái, rể hiền hơn con trai.20 Dâu hiền nên gái, rể hiền nên trai.21 Dâu là con, rể là khách.22 Làm dâu vụng kho, chồng không bắt bẻ mụ o nhún trề. 168
  • 169. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình23 Làm rể chớ xáo thịt trâu, làm dâu chớ đồ xôi lại.24 Làm rể nhà giàu vừa được cơm no, vừa được bò cưỡi.25 Lựa được con dâu, sâu con mắt.26 Một bát cơm cha bằng ba bát cơm rể.27 Mẹ chồng dữ mẹ chồng chết, nàng dâu có nết nàng dâu chừa.28 Mẹ chồng không ai nói tốt nàng dâu, nàng dâu đâu có nói tốt mẹ chồng.29 Mẹ chồng mà dữ mổ bò ăn khao.30 Mẹ chồng nàng dâu, chủ nhà người ở yêu nhau bao giờ.31 Mẹ chồng vai gồng vai gánh, cưới dâu về để thánh lên thờ.32 Nàng dâu mới về là bà hoàng hậu.33 Nàng dâu mới về là hoàng thái hậu.34 Nuôi dâu thì dễ, nuôi rể thì khó.35 Rau muống tháng chín, nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn.36 Rể hiền hơn con trai.37 Thương con mà dễ, thương rể mà khó.38 Thật thà cũng thể lái trâu, yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.39 Trước làm nàng dâu, sau mới làm mẹ chồng. 2. CA DAO 2.1. QUAN HỆ VỢ CHỒNG - GẮN BÓ STT NỘI DUNG 1. Ai chèo ghe bí qua sông Đạo vợ nghĩa chồng nặng lắm anh ơi! 2. Ai đi bờ đắp một mình Phất phơ chéo áo giống hình phu quân. 3. Ai đi đợi với tôi cùng Tôi còn sắp sửa cho chồng đi thi Chồng tôi quyết đỗ khoa này Chữ tốt như rắn, văn hay như rồng Bõ khi xắn váy quai cồng Cơm niêu nước lọ nuôi chồng đi thi. 4. Ai kêu ai hú bên sông Tôi đang nấu nướng cho chồng tôi ăn. 5. Ai kêu léo nhéo bên sông 169
  • 170. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Tôi đương vá áo cho chồng tôi đây. BK a- Ai kêu veo véo bên sông - Ai kêu xeo xéo bên sông b- Tôi đương sắm thuốc cho chồng tôi đây - Tôi đương bắt ốc cho chồng tôi đây - Tôi đang vá áo cho chồng tôi đây - Tôi còn vá áo cho chồng tôi đây. 6. Ai kêu, ai hú bên sông? Tôi đang sắm sửa cho chồng xuống ghe Chồng xuống ghe, quạt che tay ngoắt Cất mái chèo ruột thắt từng cơn... 7. Ai kia một mạn thuyền bồng Kẻ loan người phượng, mặc lòng ngược xuôi. 8. Ai về bên ấy bây giờ Cho tôi gởi một bức thư thăm chồng. 9. Ai về Cầu Ngói, Gia Lê Cho em về với, thăm quê bên chồng. 10. Ai về Phú Lộc(1) gửi lời Thư này một bức nhắn người tri âm Mối tơ chín khúc ruột tằm Khi tháng, tháng đợi mà năm, năm chờ Vì tình, ai lẽ làm ngơ Cắm sào chỉ quyết đợi chờ nước xuân Ước sao chỉ Tấn tơ Tần Sắt cầm hảo hợp lựa vần quan thư Đôi bên ý hợp lòng ưa Mới phu công thiếp mới vừa lòng anh Thiếp thời tần tảo cửi canh Chàng thời nấu sử sôi kinh kịp thì Một mai chiếm bảng xuân vi ấy là đề diệp tinh kỳ từ đây Ai ơi nghe thiếp lời này. (1) Phú Lộc: thuộc huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. 11. Ai xui anh lấy được mình Để anh vun xới ruộng tình cho xanh Ai xui mình lấy được anh Bõ công bác mẹ sinh thành ra em. 12. Ăn cà ngồi cạnh vại cà Lấy anh thì lấy đến già mới thôi. 13. Ăn cam ngồi gốc cây cam 170
  • 171. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Lấy anh về Bắc về Nam cũng về. 14. Anh ơi! phải lính thì đi Cửa nhà đơn chiếc đã thì có tôi Tháng chạp là tiết trồng khoai Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà Tháng ba cày bở ruộng ra Tháng tư gieo mạ thuận hoà mọi nơi Tháng năm gặt hái vừa rồi Trời đổ mưa xuống, nước trôi đầy đồng Anh ơi, giữ lấy việc công Để em cày cấy mặc lòng em đây. 15. Anh đi chơi nhởn đâu đây? Phải cơn mưa này ướt áo lấm chân Chậu nước em để ngoài sân Em chờ anh rửa xong chân, anh vào nhà Vào nhà em hỏi tình ta Trăm năm duyên ngãi mặn mà hay không? 16. Anh đi làm mướn nuôi ai Cho áo anh rách, cho vai anh mòn? - Anh đi làm mướn nuôi con áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai. 17. Anh em cốt nhục đồng bào Vợ chồng là nghĩa lẽ nào chẳng thương? 18. Anh lanh cưới vợ cho lanh Đến khi có khách đỡ anh trăm bề. 19. Anh ra đi, em lập kiểng trồng hoa Anh về hoa đã được ba trăm nhành Một nhành đã chín búp xanh Bán ba đồng một để dành có nơi Bây giờ đến lúc thảnh thơi Cậy anh tính thử vốn lời bao nhiêu. 20. Anh tới nhà em, anh ăn cơm với cá Em tới nhà anh, em ăn rau má với cua đồng Khó em chịu khó, đạo vợ chồng em vẫn thương. 21. áo vá vai, vợ ai không biết áo vá quàng, chí quyết vợ anh. 22. Ba năm sương tuyết lạnh lùng Một giờ ôm ấp thoả lòng ước ao Nắng lâu gặp trận mưa rào Bõ công chờ đợi dầu hao bấc tàn. 23. Bao giờ lúa trỗ vàng vàng 171
  • 172. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm. BK - Mong sao cho lúa vàng vàng Cho anh đi gặt cho nàng đem cơm. - Trông sao cho lúa vàng vàng Cho anh đi gặt cho nàng đem cơm. - Trời mưa cho lúa chín vàng Cho anh đi gặt cho nàng quảy cơm. - Trăng chưa cho lúa vàng vang Cho anh đi cắt cho nàng quảy cơm. - Bao giờ cho lúa vàng vàng Cho anh đi cắt cho nàng bới cơm. - Trời mưa cho lúa chín vàng Cho anh đi gặt cho nàng đem cơm. 24. Bên đây sông bắc cầu mười tấm ván Bên kia sông lập cái quán mười hai từng Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng Sáng chiều đăm đắm trông chừng đợi anh. 25. Bên lương bên giáo, bên đạo cũng như bên ta Về đây ta kết nghĩa giao hoà Phải duyên phải kiếp, áo Chúa Bà ta mặc chung. 26. Bông bống bồng bồng Trai ơn vua chầu chực sân rồng Gái ơn chồng ngồi võng ru con Ơn vua xem trọng bằng non Ơn chồng, nhờ phúc tổ tông dõi truyền Làm trai lấy được vợ hiền Như cầm đồng tiền mua được của ngon Phận gái lấy được chồng khôn Xem bằng cá vượt Vũ Môn(1) hoá rồng Bông bống bồng bồng Bồng bống bồng bông. (1) Cá vượt Vũ Môn hoá rồng, Cửa Vũ, Cửa Võ: cũng gọi là Long Môn, ở thượng lưu sông Hoàng Hà, giữa huyện Hà Tân, tỉnh Sơn Tây và huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc). Nơi đây có mỏm đá như hình cái cửa. Truyền thuyết kể rằng thời thượng cổ, vua Vũ nhà Hạ trị thuỷ đã đục phá mỏm đá này cho rộng thêm ra, nên gọi là Vũ Môn (cửa vua Vũ). Theo Tam Tân ký và Thuỷ kinh chú thì Vũ Môn có sóng dữ, hàng năm vào tiết tháng ba, cá chép tập trung đến đây thi vượt qua Vũ 172
  • 173. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Môn. Con nào vượt qua được chỉ trốn trường thi và việc thi đỗ được gọi là vượt qua cửa Vũ. Theo Đại Nam nhất thống chí, ở nước ta cũng có Vũ Môn ở dãy núi Khai Trướng (núi Giăng Màn) thuộc huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là một con suối lớn có ba bậc. Truyền thuyết kể rằng hàng năm đến tháng tư mưa to, cá chép ngược dòng nhảy qua Vũ Môn để hoá rồng. 27. Cơm chiên ăn với cá ve Thiếp đây chàng đấy, buôn bè ra khơi. 28. Cơm không lành, canh không ngọt Tôi với mình đã trót lấy nhau Thề cam tâm mà chịu, chớ để nhau sao đành. 29. Cái bống là cái bống bình Thổi cơm nấu nước một mình mồ hôi Rạng ngày có khách đến chơi Cơm ăn rượu uống cho vui lòng chồng Rạng ngày ăn uống vừa xong Tay nhấc mâm đồng, tay trải chiếu hoa Nhịn miệng đãi khách đàng xa ấy là của gửi chồng ta ăn đàng. 30. Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non. 31. Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo cho chồng tiếng khóc nỉ non Nàng về nuôi cái cùng con Cho anh đi chẩy nước non Cau Bằng. BK (a) Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non - Nàng về nuôi cái cùng con Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng Ở nhà có nhớ anh chăng? Để anh kể nỗi Cao Bằng mà nghe. (b) Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non Nàng ơi trở lại cùng con Để anh đi trẩy nước non kịp người Cho kịp chân ngựa, chân voi Cho kịp chân người kẻo thiếu việc quan. (c) Con cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng nước mắt nỉ non Nàng bay trở lại cùng con 173
  • 174. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng Chân đi đá lại dùng dằng Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con Đi thời nhớ vợ cùng con Khi về nhớ củ khoai môn trên rừng. (d) Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non Nàng về nuôi cái cùng con Cho anh đi trẩy nước non Cao Bằng Ngày đi trúc chửa mọc măng Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre Ngày đi lúa chửa chia vè Ngày về lúa đã đỏ hoe đầy đồng Ngày đi em chửa có chồng Ngày về em đã tay bồng tay mang Con thì chẻ nứa đan giường Con thì vặn dây đan võng cho nàng ru con. 32. Cái gì anh đổ vào bồ? Cái gì róc vỏ phơi khô để dành? Cái gì anh thả vào xanh? Cái gì lắt lẻo trên cành tốt tươi? Cái gì đi chín về mười? Cái gì sống đủ trên đời được tám trăm năm? Cái gì chung chiếu chung chăn? Cái gì chung bóng ông trăng trên trời? - Lúa khô anh đổ vào bồ Cau thì róc vỏ phơi khô để dành Con cá anh bỏ vào xanh Bông hoa lắt lẻo trên cành tốt tươi Mặt Trăng kia đi chín về mười Ông Bành Tổ (1) sống đủ trên đời được tám trăm năm Vợ chồng chung chiếu chung chăn Đôi ta chung bóng ông trăng trên trời. (1) Bành Tổ: Nhân vật thần thoại Trung Quốc, bề tôi của vua Nghiêu, được phong ở đất Bành Thành, tương truyền thọ tám trăm tuổi. 33. Cái ngủ mày ngủ cho lâu Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về. Bắt được con giếc con trê Cầm cổ lôi về bắc nước làm lông Miếng nạc thời để phần chồng 174
  • 175. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Miếng xương mẹ gặm, miếng lòng con ăn. 34. Cái quạt mưới tám cái nan Ở giữa phất giấy, hai nan hai đầu Quạt này anh để che đầu Đêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này Ước gì chung mẹ chung thầy Để em giữ cái quạt này làm thân Rồi ta chung gối chung chăn Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu Nằm thời chung cái giường tàu Dậy thời chung cả hộp trầu ống vôi Ăn thời chung cả một nồi Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa Chải đầu chung cái lược ngà Soi gương chung cả ngành hoa giắt đầu. 35. Cái số tôi giàu Số nghèo chín đụn, mười trâu cũng nghèo Phải duyên phải kiếp thì theo Lấy tôi chớ quản khó nghèo làm chi Chúng tôi đây quân tử nhất thì Đẹp duyên cứ lấy lo gì mà lo Đôi ta đã trót hẹn hò Đẹp duyên cứ lấy chớ lo bạc tiền. 36. Canh ba trống điểm trên lầu Phần thương cho vợ, phần sầu cho con. 37. Canh cải mà nấu với gừng Không ăn thời chớ xin đừng mỉa mai Khuyên chàng đừng ở đơn sai Vắng mặt chàng sẽ yêu ai mặc lòng. 38. Câu lương duyên thề nguyền giao ước Nghĩa sắt cầm giữ vẹn trước cũng như sau Anh chớ có thấy sang mà bỏ bạn cựu Chớ có phụ khó tham giàu mà bỏ em. 39. Cầu mô cao bằng cầu danh vọng Nghĩa mô nặng bằng nghĩa chồng con Ví dầu nước chảy đá mòn Xa nhau nghìn dặm lòng còn nhớ thương. 40. Cây đa bến cũ năm xưa Chữ tình ta cũng đón đưa cho trọn đời. 41. Cây trăm nhánh cùng về một cội Nước nghìn sông chảy hội một dòng 175
  • 176. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Ai dầu lánh đục tìm trong Đây em vẫn giữ một lòng với anh. 42. Chân trời lính mộ chàng ra đi Lo chàng lao khổ, chớ sá gì mẹ con tôi. 43. Chàng ơi, chớ bực sầu tư Khi xưa có mẹ, bây chừ có em. 44. Chẳng ai đẹp bằng anh chồng tôi Cái miệng cái môi, nhắm nha nhắm nhẩy Hay vẽ, hay viết, hay cuốc hay phát Làm thầy, làm thợ, việc làng việc xã, đủ cả mọi điều. 45. Chàng đề phú, thiếp đề thơ Tưởng nhân duyên ấy bao giờ cho quên Khuyên chàng giữ việc bút nghiên Đừng tham nhan sắc mà quên học hành. 46. Chàng đừng trời tối trông sao Cho cực lòng thiếp cho đau lòng chàng Đêm qua nằm cạnh nhà ngang Lầu suông gió lọt, thương chàng biết bao. 47. Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi Giậm ra ván nát thuyền thì long đanh Đôi ta lên thác xuống ghềnh Em ra đứng mũi để anh chịu sào Sông Bờ, sông Mã, sông Thao Ba ngọn sông ấy đổ vào sông Gâm. 48. Chàng lên non, thiếp cũng lên non Chàng lên trời, vượt biển, thiếp cũng bồng con theo chàng. 49. Chàng về thiếp cũng về theo Qua truông, rồi lại lên đèo Mấy sông mấy cụm, cũng trèo cũng qua. 50. Chàng thốt ra, thiếp đây luỵ sa không ráo Thốt ra chi mà thảm não rứa chàng Giàu người ta mâm thau, đũa trắc, chén ngọc bịt vàng Khó đôi đứa mình đọi dá mâm nan Thế mô thế ni theo nhau cho trọn, thiếp không phàn nàn mà chàng lo. 51. Chè Ô Long nấu nước ấm đồng Để vô bình tích thuỷ đãi đằng lang quân. 52. Chi ngon bằng gỏi cá nhồng Chi vui bằng được tin chồng vinh qui. 53. Chim chuyền nhành ớt, rớt xuống nhành mai Vợ chồng xa cách, lâm ai cũng buồn. 176
  • 177. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 54. Chim đa đa đậu nhánh đa đa Mãn mùa đa nhảy qua cây khế Em đang còn tang chế khó lắm anh ơi! Bao giờ chế mãn tang hồi Em ra tạ từ phần mộ, khi nớ mới trao lời nợ duyên. 55. Chim quyên ăn trái nhãn lồng Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi. 56. Chim quyên ăn trái ổi tàu Thương nhau bất luận khó giàu mà chi Chữ rằng chi tử vu qui Làm thân con gái phải đi theo chồng. 57. Chim xa bầy thương cây nhớ cội Vợ xa chồng đạo nghĩa nào sai Vàng ròng cả lửa chẳng phai Ở cho chúng thuỷ có ngày gặp nhau. 58. Chồng già vợ trẻ mới xinh Vợ già chồng trẻ như hình chị em Vợ chồng may rủi là duyên Vợ chồng hoà thuận là tiên trên đời. 59. Chồng giận thì vợ bớt lời Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê. 60. Chồng giận thì vợ làm lành Miệng cười hớn hở rằng: Anh giận gì? 61. Chồng giận thì vợ làm lành Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì? Thưa anh, anh giận em chi Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho. 62. Chồng sang vợ được đi giầy Vợ sang chồng được ghe ngày cậy trông. 63. Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người. BK Chồng người áo gấm xênh xang mặc người. 64. Chồng tôi đi đã ba đông Hẹn về năm ngoái sao không thấy về ? 65. Chữ rằng: chi tử vu qui Làm thân con gái phải đi theo chồng. 66. Chữ rằng: quân tử tạo đoan Vợ chồng là nghĩa đá vàng trăm năm. 67. Có ai những bận cùng ai Vắng ai gường rộng chiếu dài đễ lăn 177
  • 178. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Vì chàng thiếp phải mua mâm Những như mình thiếp bốc ngầm cũng xong Vì chàng thiếp phải long đong Những như mình thiếp là xong đôi bờ. 68. Có chàng, nói một cười hai Vắng chàng em biết lấy ai than cùng? Trời ơi; có thấu tình chăng Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu. 69. Có chồng kẻ đón người đưa Không chồng đi sớm về trưa mặc lòng. 70. Có chồng như ngựa có yên Anh đây lẻ bạn như chim quyên lạc bầy. 71. Có chồng ông nọ bà kia Không chồng như thúng như nia bung vành -Không chồng bạn nói rằng hư Có chồng biết bỏ mẫu từ cho ai? 72. Có chồng thì phải theo chồng Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo Có chồng thì phải theo chồng Đắng cay cũng chịu, mặn nồng cũng vui. 73. Có chồng thì phải theo chồng Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng theo. 74. Có chồng thì phải theo chồng Đắng cay phải chịu, mặn nồng phải theo. 75. Có chồng thủ phận thủ duyên Trăm con bướm đậu cửa quyền xin lui. 76. Có con gây dựng cho con Có chồng gánh vác nước non nhà chồng. 77. Có con phải khổ vì con Có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng. 78. Có con rễ bấn, rễ bàng Không con thiếp ở với chàng không công. 79. Con chim nho nhỏ Lông đuôi nó đỏ Cái mỏ nó vàng Nó đậu cành bàng Nó kêu, bớ Tiết Đinh Sơn! Bớ chàng Ninh Sĩ! Em có chồng rồi, em không thể nghĩ đến anh. 80. Con cuốc kêu khắc khoải mùa hè Làm thân con gái phải nghe lời chồng Sách có chữ rằng: phu xướng phụ tòng 178
  • 179. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Làm thân con gái lấy chồng xuất gia Lấy em về thờ mẹ, kính cha Thờ cha, kính mẹ ấy là người ngoan. 81. Con gái thì đà nên con gái Cái áo em mặc chải chải hoa hồng Trong yếm đại hồng chuỗi xe con toán Cái quai thao chàm em đội trên đầu Cái nhôi thao dập dìu đỏ chói Lỗ miệng em nói có đôi đồng tiền Như cánh hoa sen giữa ngày mới nở Mẹ em đi chợ có kẻ gánh gồng Anh đứng anh trông má hồng đỏ thắm Anh đứng anh ngắm đẹp đẽ làm sao Con cháu ông nào chân đi đẹp đẽ Anh có vợ rồi chẳng lẽ anh theo. BK Con gái đương thời đã nên con gái Cái áo mặc chải chải hoa hồng Trong yếm đại hồng, chuỗi xe con toán Cái quai dâu chạm đội trên đầu Cái nhôi dâu gấp, quấn vào đỏ chói Lỗ miệng em nói có hai đồng tiền Như cánh hoa sen giữa ngày mới nở Khi em đi chợ có kẻ gánh gồng Anh đứng anh trông má hồng đỏ thắm Anh đứng anh ngắm đẹp dẽ làm sao! Lấy anh, anh sắm sửa cho Sắm ăn sắm mặc, sắm cho chơi bời Khuyên em có bấy nhiêu lời Thuỷ chung như nhất là người phải nghe Mùa đông lụa lụa the the Mùa hè bán bạc hoa xoè sắm khăn Sắm gương sắm lược sắm khăn đựng trầu Sắm cho em lược chải đầu Cái ống đựng sáp vuốt đầu cho xinh. 82. Con xa mẹ thèm ăn khát bú Vợ xa chồng, đi thú biệt li Đêm nằm ấp lấy hài nhi Con hời con hỡi, cha con phương nào. 83. Công danh theo đuổi mà chi Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông 179
  • 180. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Sớm khuya có vợ có chồng Cầy sâu bừa kỹ mà mong được mùa. 84. Công nợ thiếp trả cho chàng Xin đừng lên thác, xuống hàn (1) nắng mưa. (1) Hàn: chỗ nước chảy mạnh dưới có lườn đá ngầm. 85. Củ lang Đống Ngỗ Đỗ phụng Đồng Đinh Chàng bòn thiếp mót Để chung một gùi. 86. Cùng nguyền một tấm lòng son Anh dầu có phụ keo sơn có trời Sống dương gian hai đứa đôi nơi Thác xuống âm phủ cũng nhớ lời thề xưa. 87. Dạ ai hoài dù cho xa ngái Em xin chàng chớ ngại đừng nghi Để cho em lên Đợi xuống Tuy (1) Đắt làm thuê, ế làm mướn đỡ khi đói nghèo. (1) Lên Đợi xuống Tuy, lên Đại Phong xuống Tuy lộc; hai địa điểm trên thuộc huyện Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình. 88. Đã rằng là nghĩa vợ chồng Dầu cho nghiêng núi, cạn sông chẳng rời. 89. Đang khi chồng giận mình đi Hết khi nóng giận đến khi vui vầy Ngãi nhân như bát nước đầy Bưng đi mà đổ hốt rày đặng đâu. 90. Dang tay đánh thiếp sao đành Tấm rách ai vá, tấm lành ai mang? 91. Đạo cang thường khó lắm bạn ơi Chẳng dễ như ong bướm đậu rồi lại bay Đạo cang thường khá dễ đổi thay Dầu làm nên võng giá, rủi ăn mày cũng theo nhau. 92. Đạo vợ chồng hôm ấp mai ôm Phải đâu cua cá với tôm Khi đòi mớ nọ khi chồm mớ kia. 93. Đạp xe nước chảy lên đồng Bao nhiêu nước chảy, thương chồng bấy nhiêu. 94. Dầu ai áo rách nón xơ Quyết theo nhau cho trọn đạo, ông Tơ đã đề. 95. Đầu đội chúa, vai mang cốt mẹ Tay dìu dắt cha già Gặp mặt đây nước mắt nhỏ sa 180
  • 181. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Thò tay trong túi bà ba Lấy cái khăn mu soa anh chặm Đạo vợ chồng ngàn dặm không quên. 96. Dầu xa nhau năm bảy ngày đường Duyên ưa phận đẹp thì nường cũng theo. 97. Dãy dọc toà ngang, giàu sang có số Kim Long(1), Nam Phổ(2), nước đổ về sình(3) Đôi đứa mình chút nghĩa ba sinh Có làm răng đi nữa cũng không đành bỏ nhau. BK a- Như đôi lứa mình chút nghĩa ba sinh b- Có làm răng đi nữa đôi lứa mình không bỏ nhau! (1) Kim Long: một làng bên bờ sông Hương, trên con đường từ Huế đi thiên Mụ. (2) Nam Phổ: còn gọi là nam Phố, nằm trên con đường từ Huế đi Thuận An. (3) Sình: địa điểm thuộc Huế. 98. Đêm hè gió mát trăng thanh Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng Lạt chẳng mỏng, sao thừng được tốt? Duyên đôi ta đã trót cùng nhau Trăm năm thề những bạc đầu Chớ tham phú quí, đi cầu trăng hoa. 99. Đèn lồng khi xách khi treo Vợ chồng khi thảm, khi nghèo có nhau. 100. Đi đâu có anh có tôi Người ta mới biết rằng đôi vợ chồng. 101. Đi đâu có anh có tôi Người ta mới biết có đôi vợ chồng Đi đâu cho thiếp đi cùng Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam. 102. Đi đò tát nước cho chuyên Lấy chồng thì phải giữ duyên cho chồng. 103. Đi thời nhớ vợ nhớ con Về thời nhớ củ khoai môn trên rừng. 104. Đôi bên bác mẹ cùng già Lấy anh hay chữ để mà cậy trông Mùa hè cho chí mùa đông Mùa nào thức ấy cho chồng ra đi Hết gạo thiếp lại gánh đi Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao? 181
  • 182. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Hỏi thăm đến ngõ thì vào Tay đặt gánh xuống, miệng chào: thưa anh! BK (a) Cây cao gió đượm la đà Thấy anh hay chữ em đà cậy trông Mùa hè cho chí mùa đông Mùa nào áo nấy cho chồng đi thi Hết gạo em lại gánh đi Hỏi thăm trường học ở thì nơi nao Hỏi thăm chỗ đến liền vào Vai thì đặt gánh, miệng chào: thưa anh! (b) Trèo lên cây khế nửa ngày Ai làm chua xót lòng này khế ơi! Khế chết đi, khế lại mọc chồi Cây sung có nhị, cây hành có hoa Đôi bên bác mẹ thì già Lấy anh hay chữ để mà cậy trông Mùa hè cho chí mùa đông Mùa nào áo ấy cho chồng đi thi Hết gạo em gánh gạo đi Hỏi thăm trường học vậy thì nơi nao? Hỏi thăm đến ngõ mà vào Tay cất gánh gạo miệng chào: thưa anh. 105. Đôi bên bác mẹ tư tề Anh đi làm rể em về làm dâu Chẳng tham nhà gỗ xoan đâu Tham vì một nỗi em mau miệng cười Trăm quan mua một miệng cười Trăm quan không tiếc, tiếc người hồng nhan. 106. Đói no một vợ một chồng Một niêu cơm tấm, dầu lòng ăn chơi. 107. Đôi ta như cánh hoa đào Vợ đây chồng đây ai nào kém ai? Đôi ta như bông hoa nhài Vợ đây chồng đấy kém ai trên đời? 108. Đôi ta vợ cấy chồng cày Chồng nay sương sớm vợ nay sương chiều Ta nghèo vui phận ta nghèo Quản chi sương sớm, sương chiều, hỡi anh! 109. Đốn cây ai nỡ dứt chồi Đạo chồng nghĩa vợ, giận rồi lại thương. 182
  • 183. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 110. Đốt than nướng cá cho vàng Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi Phòng khi có khách đến chơi Cơm ăn, rượu uống cho vui lòng chàng. 111. Ở sao như lụa đừng phai Tình chồng nghĩa vợ nhớ hoài không quên. 112. Em có chồng rồi như ngựa có cương Ngõ em em đứng, đường trường anh đi. 113. Em đã thuận lấy anh chưa Để anh đốn gỗ rừng Nưa(1) đóng thuyền? Con thuyền mang đôi chữ nhân duyên Chồng chèo vợ chống, thuyền quyên chẳng vời. 114. Em đưa anh lên ga Thuận Lí(1) Ba giờ chiều vô nghỉ Đông Hà(2) Phần thời anh thương mẹ nhớ cha Phần thời thương con nhớ vợ xót xa trong lòng. (1) Thuận Lí: Một địa điểm ở Quảng Bình (2) Đông Hà: Một địa điển ở Quảng Trị, cách Đồng Hới 92km về phía Nam, ở trên sông Cam Lộ, đầu đường số 9 đi Lao Bảo sang Lào. 115. Em là con gái có chồng Mồ cha những đứa đem lòng nọ kia. 116. Em là con gái Phụng Thiên(1) Bán rau mua bút mua nghiên cho chồng Nữa mai chồng chiếm bảng rồng Bõ công tắm tưới vun trồng cho rau. (1) Phụng Thiên: thuộc địa phận của ba mươi sáu phố phường Hà Nội cũ, trước là phủ Trung Đô, năm 1469 đời Lê Thánh Tông được đổi là phủ Phụng Thiên. 117. Em nghe anh tỏ lời này Em đòi để bỏ như vầy sao nên Tao khang nghĩa ở cho bền Liễu mai hoà hợp, đôi bên thuận hoà. 118. Em ngồi dệt cửi trên khung Anh đến ngồi học cùng chung một đèn Lấy chồng như trống cặp kèn Như dao cặp thớt, như đèn cặp khâu Lấy chồng chẳng được đi đâu Như trống cặp chầu, như ngựa cặp quân. 119. Em thời canh cửi trong nhà Nuôi anh đi học đăng khoa bảng vàng Trước là vinh hiển tổ đường 183
  • 184. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Bõ công đèn sách, lưu phương đời đời. 120. Em thì canh cửi việc nhà Chàng thì đi học, đỗ ba khoa liền Khoa trước thì đỗ giải nguyên Khoa sau tiến sĩ, đỗ liền ba khoa Vinh qui bái tổ về nhà Để thiếp trông thấy thiếp hoà mừng thay Công thiếp lo liệu bấy chầy Chàng đi ngựa thắm, thiếp nay võng đào Thiếp sắm cho chàng một chiếc nhà cao Bằng chín mẫu đất, bằng ba quãng đồng Cột cái thăm thẳm vẽ rồng Mượn ba vạn thợ trả công đề huề Thiếp đánh hòn đá xây hè Thiếp cho xẻ núi Ba Vì về xây Trên thềm ngựa chạy bảy ngày Chung quanh lát ván cột tày gỗ thông Gỗ mun đóng chiếc thuyền rồng Cửa ngõ bằng đồng sáng lộn như gương 121. Gai trong bụi ai vót mà nhọn Đạo vợ chồng ai chọn mà cân Trên trời đã định xây vần Xây cho gấp gấp trong lần năm nay. 122. Gan khô ruột thắt chín từng Em náu nương phụ mẫu cầm chừng đợi anh. 123. Gởi thơ một bức Đêm nằm thổn thức, dạ những luống trông Biết làm sao cho vợ gặp chồng Cho én hiệp nhạn Gan teo từng đoạn, ruột thắt chín từng Anh với em như quế với gừng Dẫu xa nhân ngãi, xin đừng tiếng chi. BK. Sao hỡi sao! Sao chừng này chưa mọc Sao mọc bên bắc, nước mắt bên đông Làm sao cho vợ gặp chồng Cho én gặp nhạn, ruột đau từng đoạn, gan thắt chín từng Đôi ta như quế với gừng Dầu xa nhân ngãi, xin đừng tiếng tăm. 124. Giận chồng xách gói ra đi Chồng theo năn nỉ tù ti trở về. 184
  • 185. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 125. Giàu như người ta lương điền vạn khoảnh Khó như hai đứa mình bá nghệ tuỳ thân Sớm hái rau, chiều đốn củi đỡ đần nuôi nhau. 126. Gió đưa bụi mía lùm tum Chồng tôi vừa đi khỏi, ông trùm tới chi? 127. Gió đưa cây cửu li hương Hai người hai họ mà thương nhau cùng. 128. Gió lùa bụi chuối sau hè Anh mê vợ bé, bỏ bè con thơ Gió đưa bụi trúc ngả quì Thương cha phải chịu luỵ dì, dì ơi! 129. Giường dọc mà trải chiếu ngang Chàng ngồi một góc Thiếp ngồi một góc Chàng than, thiếp khóc Thiếp khóc, chàng than Khung cửi bắc ngang, thoi nàng biếng dệt Em vắng anh một ngày, mỏi mệt chân tay BK Giường dọc mà trải chiếu ngang Chàng ngồi một góc, thiếp ngồi một góc Chàng than thiếp khóc, thiếp khóc chàng than Huơ chao! cây úa lá vàng Nước đâu mà tưới cho hoàn như xưa. 130. Hai nách những lông xồm xồm Chồng yêu chồng bảo mối tơ hồng trời cho Đêm ngủ thì ngáy o o Chồng yêu chồng bảo lái đò cầm canh Ăn vụng bụng to tày thùng Chồng yêu chồng bảo cái giành đựng cơm! 131. Kể chi trời rét đồng sâu Có chồng có vợ rủ nhàu cày bừa Bây giờ trưa đã hồ trưa Chồng vác lấy bừa, vợ dắt con trâu Một đoàn chồng trước vợ sau Trời rét mặc rét, đồng sâu mặc đồng. 132. Kể từ lính mộ ra đi Ở nhà nhiều nỗi sầu bi thất tình Việc này là việc trào đình Đêm nằm nghĩ lại phận mình gian nan Rủ nhau ra tới ngoài Hàn 185
  • 186. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Thấy đang tập lính dư ngàn dư trăm Thương chàng thiếp phải ra thăm Chàng qua nước bên ấy, biết mấy năm chàng về? 133. Khi em chưa có chồng, anh nỏ dốc lòng gắn bó Giờ em có chồng rồi, anh đón ngõ trao thư Ngãi nhân nhân ngãi chi giừ Gái có chồng như đạo bùa trừ đeo tay. BK Lúc xuân xanh anh không gắn bó Em có chồng rồi, anh đón ngõ trao thư Thôi thôi nhân ngãi xin từ Em có chồng như đạo bùa trừ đeo tay. 134. Không ai tin tức, gởi bức thơ về Trong thơ viếng mẹ, ngoài lề thăm thiếp Anh mắc nghề nghiệp anh không đi đặng Em nhớ em trông Mắc ngồi khung cửi lựa bông Mồ hôi nhỏ đượm, nước mắt hồng tuôn rơi. 135. Khuyên anh chăm chỉ nghề nho Thức khuya dậy sớm sao cho kịp người Người ta được một, em muốn được mười Học cho hơn người: tiến sĩ, trạng nguyên Anh về cưỡi ngựa vua ban Nhờ anh em sẽ ngồi trên võng vàng Cờ quạt hai hàng Đẹp mặt mẹ cha. BK a - Học sớm học tối, học cho kịp người b - Theo sau, em có võng vàng đưa chân. 136. Khuyên anh đi học em vâng Việc trong gia thất, việc đồng mặc em Bút nghiên giấy má đã mua rồi Khuyên anh đi học, em thời cửi canh Nữa mai gia thất được thành Bõ công anh học, bõ lòng em khuyên. 137. Khuyên anh đọc sách ngâm thơ Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu. 138. Làm người phải biết cương thường Xem trong ngũ đẳng, quân vương ở đầu Thờ cha, kính mẹ trước sau Anh em hoà thuận mới hầu làm nên 186
  • 187. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Vợ chồng đạo nghĩa cho bền Bạn bè cho thực, dưới trên đứng thường. 139. Làm trai giữ trọn ba giềng Thảo thân, ngay chúa, vợ hiền chớ vong. 140. Lạnh lùng thiếp đắp chiếu cho Giận ai nên nỗi giày vò chiếu đi. 141. Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh Bánh nào trắng bằng bánh bò bông Đạo nào sâu bằng đạo vợ chồng Đêm nằm nghĩ lại, nước mắt hồng tuôn rơi. 142. Lấy anh thì sướng hơn vua Anh đi xúc giậm, được cua kềnh càng Đem về nấu nấu rang rang Chồng chan vợ húp lại càng hơn vua. 143. Lấy chồng theo thói nhà chồng Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng đi. 144. Lấy nhau cho trọn đạo Trời Đổ chùa Thiên Mụ mới rời nhau ra. 145. Luỵ sa đưa chàng xuống huyệt Mai táng chàng rồi li biệt ngàn năm. 146. Mặc ai một dạ đôi lòng Em đây thủ tiết loan phòng chờ anh. 147. Mây giăng trên ngọn non Vồng (1) Em nhớ thương chồng đứng bến Châu Giang(2) Bến Châu Giang thuyền ngang sóng ngược Đỉnh non vồng mây trước mây sau Ai về có nhớ lời nhau...? (1) Non Vồng: ngọn núi cao phía bắc xã Thị Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Nam Hà. (2) Châu Giang: con sông lớn của tỉnh Nam Hà (cũ). Bến Châu Giang có lẽ ngã ba Đạm. thuộc xã Phù Vân, huyện Kim Bảng, nơi sông Đáy gặp sông Châu Giang. 148. Mẹ già là mẹ già chung Anh lo thang thuốc, em giùm cháo cơm. 149. Mẹ nàng khác thể mẹ ta Phận dù đói rách, thiệt thà anh thương. 150. Mình đưa bâu áo tui viết tháo vài hàng Trước thăm phụ mẫu, sau thăm mình đôi câu Đạo vợ chồng thăm thẳm giếng sâu Ngày sau cũng gặp, mất đi đâu bạn phiền. 151. Mình đừng sầu muộn ốm đau 187
  • 188. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Bây giờ cách mặt, ngày sau vợ chồng Ngôn phản ngôn hà lí cội đồng Cang thường li biệt, đạo vợ chồng còn thương. 152. Mình về tôi cũng đi theo Sum vầy phu phụ, hiểm nghèo có nhau Chẳng thà đĩa muối chén rau Thuỷ chung sống ở, sang giàu mược ai. 153. Mình về tôi cũng về theo Sum vầy phu phụ, giàu nghèo có nhau. 154. Mồ hôi gió đượm Thiếp thương chồng, thiếp phải chạy theo Con ơi! Mẹ dắt lên đèo Chim kêu bên nọ, vườn trèo bên kia. 155. Một thương, hai thương Ba thương, bốn nhớ Đạo chồng, nghĩa vợ Là đức cù lao Nhớ khi trăng gió, mưa rào Trăm năm gối phượng má đào bên em. 156. Một thương, hai thương, ba thương, bốn nhớ Tình chồng nghĩa vợ là đức cù lao Sông sâu ai dám tới đào Bạn về nhà bạn, nước mắt ào như mưa. 157. Mưa rơi gió tạt vô thành Đôi ta chồng vợ, ai dỗ dành đừng xiêu. 158. Mủng sứt vành không bưng khó bợ Đồng tiền điếu vỡ, ai nỡ bán buôn Anh đi làm thợ trên nguồn No cơm ấm áo, luông tuồng bỏ em Đồng tiền điếu vỡ, anh đúc lại thành chuông Đem lên chùa Nam Định khắc muôn chữ vàng Mủng sứt vành, anh lận lại thành tàn Đưa lên Nam Định hai hàng lọng che Sớm mai anh lên gánh muối Chiều anh xuống gánh chè Tai nghe em than thở, te te anh trở về Trời làm cực khổ trăm bề Dù lên nguồn xuống biển, anh cũng trở về với em. 159. Muốn cho no vợ đủ chồng Để mà kết tóc trông mong ở đời. 160. Nàng ơi! Thử nghĩ mà xem 188
  • 189. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Vợ chồng phận cải duyên kim ở đời Khi nên Trời cũng chiều người Có công đèn sách ắt thời làm nên Bởi lòng cha mẹ thảo hiền Cho nên ta mới đậu liền khôi khoa Cũng đà sắp đến không xa Nàng ơi! Sắm sửa cho ta thế nào? Dù ta có đậu quan cao áo gấm ta mặc, võng đào nàng đi Thế là phận gái nữ nhi Ơn chồng lại được vinh qui với chồng Thế là nàng thoả tấm lòng Bõ công đóng cửa kén chồng bấy lâu. 161. Nay mai anh lại sang Tây(1) Anh khuyên lời này giữ lấy cho anh Không đi thì sợ không lành Đi ra mang tiếng rằng anh tham tiền Em ở nhà bình yên buôn bán Chớ bao giờ chểnh mảng tình nhau Anh đi chỉ dặn mấy câu Em về cố giữ lấy màu cho xinh Nhờ em mọi việc gia đình Tứ thân phụ mẫu một mình em lo Em đã là con nhà gia giáo Ở sao cho hiếu thảo vẹn tuyền Anh đi vì lệnh quan trên Nhờ Trời hai chữ bình yên anh về Bấy giờ sum họp đề huề Nghĩa trăm năm lại mọi bề yên vui Đạo vợ chồng giờ xui ra thế Anh nói câu này em để trong tai Bấy kì thứ bảy, thứ hai Anh đi em tiễn ra ngoài la ga Gửi lời thăm hỏi ông bà Em ở Hà Nội, anh ra Hải Phòng Còn đây một chút bế bồng Thức khuya dậy sớm trông mong giữ gìn Xa anh lấy đó làm tin Cũng là bớt nỗi ưu phiền chia li Anh đành gạt lệ ra đi Thương anh chẳng biết nói gì nửa đâu. 189
  • 190. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình (1) Vào thời kì Đại chiến thế giới lần thứ Nhất(1914 - 1918) thực dân Pháp đã dùng danh nghĩa "mộ lính" để bắt nhân dân ta đi lính sang Pháp. 162. Nghĩa tao khang ai đà vội dứt Đêm nằm tấm tức, luỵ nhỏ tuôn rơi Mấy lâu ni mang tiếng chịu lời Xa nhau ngàn dặm đời vẫn nhớ nhau. 163. Ngồi buồn thương mẹ nhớ cha Gối loan ai đỡ, kỉ trà ai nưng - Mẹ già trao lại anh trai Phận em là gái một hai theo chồng. 164. Ngọn lau lên khỏi bờ Ngọn lúa trổ đòng đòng Em đừng than đừng thở, để anh phải tủi lòng khóc theo Hai tay anh bụm bọt phá bèo Xưa kia khắp chốn không ai nghèo như anh Ban ngày anh đốn củi rừng xanh Tối về chỉ một tấm tranh che đầu Mưa sa nhỏ giọt như dầu Khổ thời anh chịu khổ, chứ lìa nhau anh không lìa. 165. Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng Đêm xuân ai dễ cầm lòng được mơ Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu. 166. Nhà em có bụi trầu cay Nhà anh có khách sang vay lá vàng. Cau xiến ngang, trầu vàng ngắt ngọn Thời buổi này kén chọn làm chi Yêu nhau lấy quách nhau đi Ở trong giá thú luận cho hoá tài Đường còn dài, trông sao cho xiết Đạo vợ chồng ai biết đói no Quí hồ thầy mẹ gả cho. 167. Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước thì thương nhau cùng Phu thê trong nghĩa tương phùng Chăn loan gối quế rấp lòng chờ ai Tấm đá hoa ghi tạc để đời. 168. Nhởn nhơ cô gái cửa Đông (1) Quần là áo lượt nhưng lòng không ưa Tao khang là vợ ngày xưa 190
  • 191. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Khăn thâm, áo vải sớm trưa vui cùng. (1) Cửa Đông: tức cửa Đông thành Thăng Long cũ, ở cuối phố Cửa Đông hiện nay. 169. Những khi vai gánh tay đèo Đi về lấy quách chồng nghèo cho xong Ngày ngày quang thúng đi đong Chày gạo, cối lúa không xong có chồng Nhỡ khi đi gánh về gồng Trời mưa, trời gió dặn chồng gánh đưa Nhỡ khi đi sớm về trưa Ta ngồi nghỉ mát đò đa thanh nhàn Không ai đo đếm ruột gan Vợ chồng ta sẽ thở than ta làm Mai sau đã có phận Trời Khi nào lại khổ suốt đời mà lo. 170. Nợ chồng lắm lắm anh ơi Bao giờ cho hết mà chơi kẻo già. 171. Nói ra sợ chị em cười Lấy chồng tháng chín tháng mười có con Có con tôi năn nỉ cùng con Có chồng tôi phải gánh lấy giang sơn nhà chồng. 172. Nuôi con những tưởng về sau Trao duyên phải lứa, gieo cầu phải nơi Mực đen vô giấy khó chùi Vợ chồng, chồng vợ việc đời trăm năm. 173. Phải căn duyên cái áo rách cũng mang Trái duyên cái áo lót bộ nút vàng, anh không ham. 174. Phải duyên em nhất định theo Nào ai có quản khó nghèo chi đâu Đời này ai muốn chuốc lấy thảm sầu Cầu dừa mà vững nhịp, còn bằng vạn cầu Bông Miêu. 175. Phải duyên phải kiếp thì theo Cám còn ăn được, nữa bèo hử anh. 176. Phận bạc khôn nương nhà bạc Thân hèn đâu dám gác cửa không! Dứt được sao cái nợ vợ chồng Nước nhành dương rửa sao được bụi hồng, bớ anh! 177. Phụ hề sanh, mẫu hề dưỡng Đạo mạc trọng ư cương thường (1) Thấy anh chàng ràng đôi ngả ba phương Em đây cứ ôm duyên thủ tiết giữa chốn 191
  • 192. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình sông Hương đợi chờ. (1) Phú hề sanh, mẫu hề dường, đạo mạc trọng ư cương thường: Cha mẹ có sông sinh ra và nuôi dưỡng, đạo lý đối với cha mẹ phải coi trọng cương thường (các mối quan hệ và các nguyên tắc ứng xử truyền thống). 178. Phụ mẫu tình thâm Phu thê nhân ngãi trọng Một mai anh có xa em rồi, em thờ vọng mẹ cha. 179. Phụ tuỳ phu xướng(1), ấy là lẽ thường Anh bảo sao em nghe vậy, cho vẹn đường ái ân - Nắm tay bạn, xót thương vô hạn Nhớ đến việc chia phôi én nhạn Lòng anh đây dứt đoạn can tràng. (1) Phụ tuỳ phu xướng: chồng xướng vợ theo, tức là vợ chồng hoà hảo (theo quan niệm cũ). 180. Phượng chắp cánh lòng còn đợi gió Rồng chờ trăng còn đậu trên mây Đạo vợ chồng trăm năm không phải một ngày Chàng ôm cầm không lựa khúc, để lên dây cho vừa. 181. Phương ngôn câu ví để đời Nhường cơm nhường áo, dễ ai nhường chồng. 182. Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Tiền gạo thì của mẹ cha Cái nghiên cái bút thật là của em. BK a- Trái cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Anh lấy em từ thuở mười ba Đến năm mười tám thiếp đà năm con Ra đường người ngỡ còn son Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng Con cả đi học xa đàng Con thứ hai dệt cửa nó càng xinh ghê Con thứ ba buôn bán trăm nghề Còn hai đứa bé nó thì ăn chơi. b- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai lại học xa Lấy anh từ thuở mười ba Đến năm mười tám thiếp đà năm con Ra đường người tưởng còn son 192
  • 193. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Về nhà thiếp đã năm con với chàng. c- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Anh lấy em từ thuở mười ba Đến năm mười tám em đà năm con Ra đường người nghĩ còn son Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng Cái cả đã biết dọn hàng Cái hai đi học về tràng khoa thi Cái ba buôn bán trăm nghề Còn hai con nhỏ trở về ăn chơi Chơi cho nước Hán sang Hồ Nước Tần sang Sở nước Ngô sang Lào Chơi cho sấm động mưa rào Một trăm cái núi lọt vào trôn kim Chơi cho bong bóng thì chìm Hòn đá thì nổi, gỗ lim bập bềnh. d- Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân Nay anh học gần, mai anh học xa Anh lấy em từ thuở mười ba Đến năm mười tám thiếp đà năm con Ra ngoài thiếp hãy còn son Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng Con cả thì bắn cung múa kiếm ngang tàng Con thứ hai đã biết cắp sách vào tràng đi thi Con thứ ba buôn bán trăm nghề Còn hai đứa bé ở nhà ăn chơi Ăn chơi may túi đựng trời Đan phên chặn gió giết voi xem giò Chơi cho sấm động mưa rào Mười hai cửa bể đút vào trôn kim Chơi cho bong bóng phải chìm Đá vàng thả nổi gỗ lim mập mờ. 183. Qua đây ghé nón thăm đồng Đồng bao nhiêu lúa, thương chồng bấy nhiêu. 184. Râu tôm nấu với ruột vầu Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon.. 185. Rủ nhau đi cấy đi cày Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa. 193
  • 194. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 186. Sạch con thì lắm người bồng Xinh chồng thì lắm người thương Tin chàng lòng dạ như gương Không quên nghĩa thiếp, người thương mặc người. 187. Sáng trăng trải chiếu hai hàng Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ. 188. Sập vàng mà trải chiếu hoa Không bằng áo thiếp đắp qua dạ chàng. 189. Sớm khuya có vợ có chồng Cày sâu bừa kĩ mà mong được mùa. 190. Sông dài cá lội biệt tăm Phải duyên chồng vợ, ngàn năm cũng chờ. 191. Sóng xao mình vịt ướt lông Rùa kêu đá nổi thiếp không bỏ chàng. 192. Tai em nghe anh đau đầu chưa khá Em băng đồng chỉ sá, đi bẻ nắm lá nọ về xông Ở làm gì đây cho trọn nghĩa vợ chồng Đổ mồ hôi ra em chặm, ngọn gió lồng em che. BK Tai em nghe anh đau đầu chưa khá Em băng đồng vượt sá, bẻ nạm lá anh xông Có làm vậy mới trọn đạo vợ chồng Đổ mồ hôi em chặm, sẩy ngọn gió lồng em che. 193. Tai nghe trống điểm trên lầu Nửa thương phần vợ, nửa rầu phần con. 194. Tay anh cầm bút ngọc hoà châu(1) Đề vô trong áo bậu, bốn câu ân tình Một câu phân với nữ trinh Ơn cha nghĩa mẹ cho trọn tình hiếu trung Hai câu ta phân với anh hùng Đào sâu cuốc chín ăn chung ở đời Ba câu anh nói, em phải nghe lời Đừng nghe lời thá sự (2) đổi lời duyên ta Bốn câu nuôi chút mẹ già Tình chồng nghĩa vợ, mẹ với cha đền bồi. (1) Hoà châu: hoà nước mắt. (2) Thá sự: nói chệch từ thế sự, nghĩa là việc đời. 195. Tay bưng đĩa muối chấm gừng Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau Tay bưng đĩa muối sàng rau Muối ra có nghĩa, sang giàu đừng ham. 194
  • 195. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 196. Tay cầm đĩa muối sàng rau Thuỷ chung như nhất sang giàu mặc ai. 197. Tay mang khăn gói sang sông Bồ hôi nó đẫm thương chồng phải theo. 198. Tay anh nắm con dao sắc Cắt chín lát gừng bỏ vô thang thuốc sắc lại bảy phân Tay mặt anh bưng chén thuốc, tay trái anh khoát màn Cúc Hoa (1) ơi, em uống chén thuốc này cho nạn khỏi tai qua Kẻo con mồ côi mẹ, lấy ai cá vẽ cơm và mà nuôi con. (1) Cúc Hoa: nhân vật chính của truyện Tống Trân Cúc Hoa. 199. Tép đồng ăn với rau mưng Chồng ăn vợ nhịn xin đừng bỏ nhau. 200. Thà lăn xuống giếng mà chết cả đôi Không thể loan xa phượng, anh thác để em ngồi chịu tang. 201. Tháng chạp là tháng trồng khoai Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà Tháng ba cày vỡ ruộng ra Tháng tư làm mạ mưa sa đầy đồng Ai ai cũng vợ cũng chồng Chồng cày vợ cấy trong lòng vui thay Tháng năm gặt hái đã xong Nhờ trời một mẫu năm nong thóc đầy Năm nong đầu em xay em giã Trấu ủ phân cám bã nuôi heo Sang năm lúa tốt tiền nhiều Em đem đóng thuế đóng sưu cho chồng Đói no có thiếp có chàng Còn hơn chung đỉnh giàu sang một mình. 202. Tháng hai cho chí tháng mười Năm mười hai tháng em ngồi em suy Vụ chiêm em cấy lúa di Vụ mùa lúa dé, sớm thì ba trăng Thú quê rau cá đã từng Gạo thơm cơm trắng chi bằng tám xoan Việc nhà em liệu lo toan Khuyên chàng học tập cho ngoan kẻo mà. 203. Thang mô cao bằng thang danh vọng Nghĩa mô trọng bằng nghĩa chồng con? Trăm năm nước chảy đá mòn Xa nhau ngàn dặm dạ còn nhớ thương. 204. Thấy anh em cũng muốn theo 195
  • 196. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Em sợ anh nghèo, anh bán em đi Lấy anh em biết ăn gì? Lộc sắn thì chát, lộc si thì già - Nghèo thì bán khố, bán khăn Có ai bán vợ mà ăn bao giờ. 205. Theo anh em cũng muốn theo Em sợ anh nghèo, anh bán mất em. - Nghèo thời bán cột bán kèo Nào ai có bán vợ theo bao giờ! 206. Thiếp gặp chàng như Ngưu Lang gặp hội Chàng gặp thiếp như hạc đỗ lưng qui Cứ lời anh dặn em ri Giàu sang mặc họ, khó khăn chi cũng vợ chồng. 207. Thiếp vì chàng, thiếp mới lênh đênh nơi biển ái Chàng vì thiếp mới lỗi đạo tâm can Em đây thủ tiết buồng lan Dẫu hồn về chín suối, hãy còn mang tượng chồng. 208. Thiếp với chàng vương mang câu tình tự Trên thời núi Ngự dưới có sông Hương Trăm năm thiếp quyết bó buộc hai chữ can thường Sợ là sợ cho chàng ham vui cảnh khác, lại bỏ duyên tơ hường khổ em. 209. Thứ nhất vợ dại trong nhà Thứ hai trâu chậm thứ ba dao cùn - Trâu chậm thời anh bán đi Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao Vợ dại thời đẻ con khôn Trâu chậm chắc bước dao cùn dễ băm. 210. Thương chồng nấu cháo le le Nấu canh bông lí, nấu chè hạt sen. BK Thương chàng nấu cháo le le Nấu canh hoa lí, nấu chè hạt sen. 211. Thương nhau vì nết, chẳng hết chi người Anh không tin dạ, anh sợ đổi đời Em xin cắt tóc thề có đất trời chứng minh - Nghe em phân cạn, vô hạn thương tâm Vợ chồng nghĩa nặng tình thâm Em thề không thuyền khác ôm cầm Anh nhìn mái tóc phải tuôn dầm lệ châu. 212. Thương ai bằng nỗi thương con 196
  • 197. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Nhớ ai bằng nỗi gái son nhớ chồng. BK - Thương ai ví bằng thương con Thương ai ví bằng gái son nhớ chồng. - Thương ai ví bằng thương con Thương ai ví thể gái son nhớ chồng. 213. Thương ai cho bằng thương chồng Bởi chồng cờ bạc nên lòng chẳng thương. BK Yêu ai cho bằng yêu chồng Bởi chồng cờ bạc, nên lòng không yêu. 214. Thương ai cho bằng thương chồng Bởi chồng cờ bạc nên lòng chẳng thương Khuyên chàng cờ bạc thì chừa Rượu chè trai gái say sưa mặc lòng. 215. Thương cha thương mẹ có hồi Thương anh như đọi nước sôi đổ đầy. BK Thương cha thương mẹ có khi Thương em lúc đứng, lúc đi lúc ngồi Thương cha thương mẹ có hồi Thương em lúc đứng, lúc ngồi cũng thương. 216. Thương chồng nên phải gắng công Nào ai xương sắt da đồng chi đây. 217. Thương chồng nên phải lầm than Xưa nay ai bắt việc quan đàn bà. 218. Thương chồng phải khóc mụ gia Gẫm tôi với mụ có bà con chi. 219. Thuyền bầu trở lái về đông Con đi theo chồng để mẹ cho ai? Mẹ già đã có con trai Con là phận gái dám sai chữ tòng? Chỉ thề nước biếc non xanh Theo nhau cho trọn tử sinh cũng đành Trời cao bể rộng mông mệnh Ở sao cho trọn tấm tình phu thê Trót đà ngọc ước vàng thề Dầu mà cách trở giang khê cũng liều. 220. Tôi đà biết tính chồng tôi Cơm no thì nước, nước thôi thì trầu. 221. Trăm năm ai chớ bỏ ai 197
  • 198. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Nghĩa trong vàng đá, tình ngoài nước mây. 222. Trăm năm ai chớ bỏ ai Chỉ thêu nên gấm sắt mài thành kim. 223. Trăm năm cũng bạn với ta Gặp nơi long ẩn thuỷ ba cũng đừng. 224. Trăm năm đã nát vàng phai Ngã thì lại dậy, kén ai trên đời Trăm năm đã nát vàng mười Ngã thì lại dậy, ai cười mặc ai. 225. Trăm năm dạ ở đinh ninh Nào ai phụ ngãi, quên tình mặc ai! 226. Trăm năm lòng gắn dạ ghi Nào ai thay nút, đổi khuy cũng đừng. 227. Trăm năm lòng gắn dạ ghi Dầu ai đem bạc đổi chì mặc ai 228. Trăm năm tạc đá bia vàng Đá thời thành gạch ngãi chàng không quên. 229. Trăm năm tạc một chữ đồng Dù ai thêu phụng vẽ rồng cũng không. 230. Trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng Dầu ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai. 231. Trăm năm ước bạn chung tình Trên trời dưới đất có mình với ta. 232. Trăng lên vành vạnh trăng tròn Trước răng sau rứa đừng còn đổi thay. 233. Trăng tròn chỉ có đêm rằm Tình ta tháng tháng, năm năm vẫn tròn. 234. Trời hè lắm trận mưa rào Gặt sớm phơi sớm liệu sao cho vừa Khuyên em chớ ngại nắng mưa Của chồng công vợ, bao giờ quên nhau. 235. Trời xanh nước biếc một màu Em cười là khóc, em sầu là tươi Nỗi lòng cực lắm anh ơi Dâu con ăn ở đôi nơi song toàn Ai ngờ chỉ thắm dây oan Ai ngờ Tần Tấn mà nên Việt Hồ Một thân năm liệu bảy lo Chiều chồng, đôi họ, mẹ cha cũng chiều. 236. Trót lời hẹn với lang quân Dẫu rằng gió Sở mưa Tần cũng đi. 198
  • 199. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 237. Trót lời hẹn với lang quân Dẫu rằng mưa Sở gió Tần cũng đi Yêu nhau sớm đợi tối chờ Dẫu rằng dãi gió dầu mưa mặc lòng. 238. Vì chàng thiếp phải bắt cua Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng Vì chàng thiếp phải long đong Những như thân thiếp cũng xong một bề. 239. Vì chàng thiếp phải bắt cua Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng Vì chàng nên phải mua mâm Những như thân thiếp, bốc ngầm cũng xong Vì chàng thiếp phải long đong Những như thân thiếp cũng xong một bề. 240. Vì chàng thiếp phải long đong Những như thân thiếp cũng xong một bề. 241. Vì chàng thiếp phải ngả mâm Những như mình thiếp bốc ngầm trong niêu Vì chàng những thuế cùng sưu Những như mình thiếp một niêu cũng thừa. 242. Vì chàng thiếp phải ngủ ngồi Nghĩ như thân thiếp tìm nơi mà nằm. 243. Vợ chồng là nghĩa già đời Ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn. 244. Vợ chồng là nghĩa phu thê Tay ấp má kề, sinh tử có nhau Chẳng tham của sẵn anh đâu Tham vì nhân ngãi năm đầu ngón tay Bao giờ cho đặng sum vầy Giao ca đôi mặt, dạ này mới vui. 245. Vợ chồng là nghĩa tao khang Chồng hoà vợ thuận nhà thường yên vui Sinh con mới ra thân người Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no. BK Vợ chồng là nghĩa tao khang Chồng hoà vợ kính nhà thường yên vui Sinh con mới ra mặt người Làm ăn thanh thản đời đời không lo. 246. Vợ chồng là nghĩa tao khang Chồng hoà vợ huận gia đường yên vui. 199
  • 200. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 247. Vì tằm em phải chạy dâu Vì chồng em phải qua cầu đắng cay. 248. Vợ chồng đầu gối, má kề Lòng nào mà bỏ, mà về cho đang Hồ về, chân lại đá ngang Về sao cho đứt cho đang mà về. 249. Vợ chồng kết tóc trên trời Đói no ta sẽ lấy lời bảo nhau Ăn thường cơm muối canh rau Hàn vi thuở trước, thuở sau thanh nhàn. 250. Vợ chồng như đôi cu cu Chồng thì đi trước, vợ gật gù theo sau. 251. Vợ chồng như nút với khuy Sao anh không than vãn lời gì cho em nghe? 252. Vợ nên rồng, chồng nên Tiên Quí lại gặp quí, bạn hiền gặp nhau. 253. Xấu xa cũng thể chồng ta Dẫu rằng tốt đẹp cũng ra chồng người. 254. Xét ra trong đạo vợ chồng Cùng nhau tương cậy đề phòng nắng mưa. 255. Xin anh đi học cho ngoan Để em dệt cửi kiếm quan tiền dài Quan tiền dài em ngắt làm đôi Nửa thì giấy bút nửa nuôi mẹ già Mẹ già là mẹ già anh Một ngày hai bữa cơm canh mẹ già Bát cơm em nấu như hoa Bát canh em nấu như là mật ong Nước mắt em lọc cho trong Mâm cơm em dọn tựa dòng cơm quan. 256. Xin chàng giữ lấy bút nghiên Đừng tham nhan sắc chớ quên học hành Nữa mai được chiếm khoa danh Trước là vinh thiếp sau mình vinh thân. 257. Xin chàng kinh sử học hành Để em cày cấy, cửi canh kịp người Mai sau xiêm áo thảnh thơi Ơn Trời lộc nước đời đời hiển vinh. 258. Yêu nhau cho mặn cho mà Chồng vợ thuận hoà trong ấm ngoài êm. 200
  • 201. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 2.2. ®¹O NGHÜA Vî chỒngSTT NỘI DUNG 1. Ai chèo ghe bí qua sông Đạo vợ nghĩa chồng nặng lắm anh ơi! 2. Anh em cốt nhục đồng bào Vợ chồng là nghĩa lẽ nào chẳng thương? 3. Anh tới nhà em, anh ăn cơm với cá Em tới nhà anh, em ăn rau má với cua đồng Khó em chịu khó, đạo vợ chồng em vẫn thương. 4. Cầu mô cao bằng cầu danh vọng Nghĩa mô nặng bằng nghĩa chồng con Ví dầu nước chảy đá mòn Xa nhau nghìn dặm lòng còn nhớ thương. 5. Chữ rằng: quân tử tạo đoan Vợ chồng là nghĩa đá vàng trăm năm. 6. Đạo cang thường khó lắm bạn ơi Chẳng dễ như ong bướm đậu rồi lại bay Đạo cang thường khá dễ đổi thay Dầu làm nên võng giá, rủi ăn mày cũng theo nhau. BK - Chẳng như ong bướm đậu rồi lại bay . 7. Đạo vợ chồng hôm ấp mai ôm Phải đâu cua cá với tôm Khi đòi mớ nọ khi chồm mớ kia. 8. Đầu đội chúa, vai mang cốt mẹ Tay dìu dắt cha già Gặp mặt đây nước mắt nhỏ sa Thò tay trong túi bà ba Lấy cái khăn mu soa anh chặm Đạo vợ chồng ngàn dặm không quên. 9. Đốn cây ai nỡ dứt chồi Đạo chồng nghĩa vợ, giận rồi lại thương. 10. ở làm ri đâu cho trọn nghĩa vợ chồng Đổ mồ hôi em chặm, ngọn gió lồng em che. 11. ở sao như lụa đừng phai Tình chồng nghĩa vợ nhớ hoài không quên. 12. Em nghe anh tỏ lời này Em đòi để bỏ như vầy sao nên Tao khang nghĩa ở cho bền Liễu mai hoà hợp, đôi bên thuận hoà. 201
  • 202. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình13. Gai trong bụi ai vót mà nhọn Đạo vợ chồng ai chọn mà cân Trên trời đã định xây vần Xây cho gấp gấp trong lần năm nay.14. Hữu bằng tự viễn phương lai(1) Lạc hồ quân tử(2) lấy ai bạn cùng Chữ hiếu, là thầy với mẹ Chữ nhân, chữ nghĩa là ái với ân Yêu nhau bao quản xa gần. (1) và (2) Hữu bằng tự viễn phương lai, lạc hồ quân tử: nguyên nhân là một câu trong thiên "Học nhi" của sách "Luận ngữ". Trọn câu là: "Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ". Có thể hiểu câu đó một cách đơn giản nhất là: có người bạn từ phương xa đến khá lại không vui mừng ư.15. Làm người phải biết cương thường Xem trong ngũ đẳng, quân vương ở đầu Thờ cha, kính mẹ trước sau Anh em hoà thuận mới hầu làm nên Vợ chồng đạo nghĩa cho bền Bạn bè cho thực, dưới trên đứng thường.16. Lầu nào cao bằng lầu ông Chánh Bánh nào trắng bằng bánh bò bông Đạo nào sâu bằng đạo vợ chồng Đêm nằm nghĩ lại, nước mắt hồng tuôn rơi.17. Lấy nhau cho trọn đạo Trời Đổ chùa Thiên Mụ mới rời nhau ra.18. Mình đưa bâu áo tui viết tháo vài hàng Trước thăm phụ mẫu, sau thăm mình đôi câu Đạo vợ chồng thăm thẳm giếng sâu Ngày sau cũng gặp, mất đi đâu bạn phiền.19. Mình đừng sầu muộn ốm đau Bây giờ cách mặt, ngày sau vợ chồng Ngôn phản ngôn hà lí cội đồng Cang thường li biệt, đạo vợ chồng còn thương.20. Một thương, hai thương Ba thương, bốn nhớ Đạo chồng, nghĩa vợ Là đức cù lao Nhớ khi trăng gió, mưa rào Trăm năm gối phượng má đào bên em.21. Một thương, hai thương, ba thương, bốn nhớ 202
  • 203. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Tình chồng nghĩa vợ là đức cù lao Sông sâu ai dám tới đào Bạn về nhà bạn, nước mắt ào như mưa.22. Nay mai anh lại sang Tây(1) Anh khuyên lời này giữ lấy cho anh Không đi thì sợ không lành Đi ra mang tiếng rằng anh tham tiền Em ở nhà bình yên buôn bán Chớ bao giờ chểnh mảng tình nhau Anh đi chỉ dặn mấy câu Em về cố giữ lấy màu cho xinh Nhờ em mọi việc gia đình Tứ thân phụ mẫu một mình em lo Em đã là con nhà gia giáo Ở sao cho hiếu thảo vẹn tuyền Anh đi vì lệnh quan trên Nhờ Trời hai chữ bình yên anh về Bấy giờ sum họp đề huề Nghĩa trăm năm lại mọi bề yên vui Đạo vợ chồng giờ xui ra thế Anh nói câu này em để trong tai Bấy kì thứ bảy, thứ hai Anh đi em tiễn ra ngoài la ga Gửi lời thăm hỏi ông bà Em ở Hà Nội, anh ra Hải Phòng Còn đây một chút bế bồng Thức khuya dậy sớm trông mong giữ gìn Xa anh lấy đó làm tin Cũng là bớt nỗi ưu phiền chia li Anh đành gạt lệ ra đi Thương anh chẳng biết nói gì nữaa đâu. (1)Thời kì Đại chiến thế giới lần thứ Nhất(1914-1918) thực dân Pháp dùng danh nghĩa "mộ lính" để bắt nhân dân ta đi lính sang Pháp.23. Nghĩa tao khang ai đà vội dứt Đêm nằm tấm tức, luỵ nhỏ tuôn rơi Mấy lâu ni mang tiếng chịu lời Xa nhau ngàn dặm đời vẫn nhớ nhau.24. Nhà em có bụi trầu cay Nhà anh có khách sang vay lá vàng. Cau xiến ngang, trầu vàng ngắt ngọn Thời buổi này kén chọn làm chi 203
  • 204. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Yêu nhau lấy quách nhau đi Ở trong giá thú luận cho hoá tài Đường còn dài, trông sao cho xiết Đạo vợ chồng ai biết đói no Quí hồ thầy mẹ gả cho.25. Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước thì thương nhau cùng Phu thê trong nghĩa tương phùng Chăn loan gối quế rấp lòng chờ ai Tấm đá hoa ghi tạc để đời.26. Phụ hề sanh, mẫu hề dưỡng Đạo mạc trọng ư cương thường (1) Thấy anh chàng ràng đôi ngả ba phương Em đây cứ ôm duyên thủ tiết giữa chốn sông Hương đợi chờ. (1) Phú hề sanh, mẫu hề dường, đạo mạc trọng ư cương thường: Cha mẹ có sông sinh ra và nuôi dưỡng, đạo lý đối với cha mẹ phải coi trọng cương thường (các mối quan hệ và các nguyên tắc ứng xử truyền thống).27. Phượng chắp cánh lòng còn đợi gió Rồng chờ trăng còn đậu trên mây Đạo vợ chồng trăm năm không phải một ngày Chàng ôm cầm không lựa khúc, để lên dây cho vừa.28. Sạch con thì lắm người bồng Xinh chồng thì lắm người thương Tin chàng lòng dạ như gương Không quên nghĩa thiếp, người thương mặc người.29. Tai em nghe anh đau đầu chưa khá Em băng đồng chỉ sá, đi bẻ nạm lá anh xông Ở làm gì đây cho trọn nghĩa vợ chồng Đổ mồ hôi ra em chặm, ngọn gió lồng em che. BK Tai em nghe anh đau đầu chưa khá Em băng đồng vượt sá, bẻ nạm lá anh xông Có làm gì vậy mới trọn đạo vợ chồng Đổ mồ hôi em chặm, sẩy ngọn gió lồng em che.30. Tay anh cầm bút ngọc hoà châu(1) Đề vô trong áo bậu, bốn câu ân tình Một câu phân với nữ trinh Ơn cha nghĩa mẹ cho trọn tình hiếu trung Hai câu ta phân với anh hùng 204
  • 205. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Đào sâu cuốc chín ăn chung ở đời Ba câu anh nói, em phải nghe lời Đừng nghe lời thá sự, (2) đổi lời duyên ta Bốn câu nuôi chút mẹ già Tình chồng nghĩa vợ, mẹ với cha đền bồi. (1) Hoà châu: hoà người mắt. (2) Thá sự: nói chệch từ thế sự, nghĩa là việc đời.31. Tay bưng đĩa muối chấm gừng Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau Tay bưng đĩa muối sàng rau Muối ra có nghĩa, sang giàu đừng ham.32. Thang mô cao bằng thang danh vọng Nghĩa mô trọng bằng nghĩa chồng con? Trăm năm nước chảy đá mòn Xa nhau ngàn dặm dạ còn nhớ thương.33. Thương nhau vì nết, chẳng hết chi người Anh không tin dạ, anh sợ đổi đời Em xin cắt tóc thề có đất trời chứng minh - Nghe em phân cạn, vô hạn thương tâm Vợ chồng nghĩa nặng tình thâm Em thề không thuyền khác ôm cầm Anh nhìn mái tóc phải tuôn dầm lệ châu.34. Vợ chồng là nghĩa già đời Ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn.35. Vợ chồng là nghĩa phu thê Tay ấp má kề, sinh tử có nhau Chẳng tham của sẵn anh đâu Tham vì nhân ngãi năm đầu ngón tay Bao giờ cho đặng sum vầy Giao ca đôi mặt, dạ này mới vui.36. Vợ chồng là nghia tao khang Chồng hoà vợ huận gia đường yên vui.37. Vợ chồng là nghia tao khang Chồng hoà vợ thuận nhà thường yên vui Sinh con mới ra thân người Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no. BK Vợ chồng là nghĩa tao khang Chồng hoà vợ kính nhà thường yên vui Sinh con mới ra mặt người Làm ăn thanh thản đời đời không lo. 205
  • 206. Phạm Việt Long – 2012 Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình 38. Xét ra trong đạo vợ chồng Cùng nhau tương cậy đề phòng nắng mưa. 2.3. ÔNG TƠ BÀ NGUYỆTSTT NỘI DUNG 1. Ông Nguyệt Lão (1) ngồi rồi xe chỉ thắm Xe bốn tôi vào làm bạn với tiên cung Lòng ước ao sánh với nhau cùng Đây với đấy duyên phận phải chiều Tơ hồng vấn vít, chỉ điều xe săn Cầm tay, giao mặt rõ ràng Chỉ thề nước biếc nhà hằng dám quên Bốn tôi lên miếu xuống đền Lên đền, xuống miếu dám quên đâu là Canh ba nghe vẳng tiếng gà Gà đương gáy giục, dạ đà tương tư Canh tư chuông khắc trên lầu Trên lầu chuông khắc, đã rầu chiêu đăm Bây giờ sang trống canh năm Tâm hồn chuyển động, giục xuân bồi hồi Nhớ ai hết đứng lại ngồi Hết nằm lại chỗi, hết ngồi lại đi Phải khi sóng gió bất kỳ Tưởng chi đến nguyệt, tiếc gì đến xuân Đã sinh ra số phong trần. 2. Ông Tơ bà Nguyệt đi đâu? Không về mà gỡ mối sầu cho ta Ông Tơ bà Nguyệt ở nhà Không đi mà gỡ cho ra mối sầu. 3. Ông Tơ hồng ơi! Sao ông đành dạ đành lòng Đôi lứa tôi như sợi chỉ lộn vòng ông không xe lại, để lòng nhớ thương. 4. Ông Tơ xe chi nghe đà oan khổ Xe anh lúc còn ở lổ (1) Xe em thuở chưa mặc quần Anh thương em từ thuở lọt lòng Ông Tơ xe sao được tơ hồng mà xe. (1) Ở lô: ở truồng. 5. Đôi chúng ta duyên phận phải chiều Dây tơ hồng đang xe vấn vít 206
  • 207. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Cái sợi chỉ điều bà Nguyệt khéo xe Đôi chúng ta duyên phận phải chiều.6. Đôi chúng ta duyên phận phải chiều Dây tơ hồng đang xe vấn vít Cái sợi chỉ điều bà Nguyệt(1) khéo xe Đôi chúng ta duyên phận phải chiều.7. Đôi ta như vợ với chồng Chỉ hiềm một nỗi ông Tơ Hồng chưa xe.8. Đã thành gia thất hay chưa Mà anh ước những mây mưa cùng người? - Tuổi anh đang độ thơ đào Ông tơ chưa định nơi nào xe duyên.9. Đêm nằm đặt lưng xuống chiếu Nghe mấy lời thiết yếu em than Mau mau trỗi dậy ruột gan đau từ hồi Canh khuya anh thở vắn than dài Vái xin Nguyệt Lão trúc mai một nhà Chữ cận là gần Chữ viễn là xa Anh với em cách trở tại mẹ cha không đành Ngãi nhân nay đã gần thành Mình về thưa lại phụ mẫu đành tôi ưng.10. Đêm ngắn, tình dài Tương tư bao nhạt, bao phai hỡi tình! Bỗng đâu mắc mối xích thằng Khăng khăng người buộc, ai giằng cho ra Lên tận trăng già Hỏi ông Nguyệt Lão có nhà hay không.11. Đêm qua bước chân lên trời Lạc đường lạ ngõ gặp người cung Tiên Ước chi duyên sẽ bén duyên Cho duyên cõi thọ, thành duyên cõi trần Dạ buồn chân bước phân vân Trời xui anh thẳng tới sân tơ hồng - Ông Tơ, ông có nhà không Ông ra xua chó cho tôi cùng với nao! Tơ duyên ông cất nơi nao Cất trong chum quả, hay vào ao sen? Người nào trái kiếp lỡ duyên Thì ông xe lại cho liền một đôi Còn như ông ấy với tôi Thì ông xe thẳng làm đôi vợ chồng. 207
  • 208. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình12. Đêm qua nguyệt đổi sao dời Tiếc công gắn bó, tiếc lời giao đoan Lời thề xưa đã lỗi muôn vàn Mảnh gương còn đó, phím đàn còn đây Ông Tơ Hồng bà Nguyệt Lão sao khéo xe dây Xe cho các cô mình ấy lấy chúng anh đây cũng vừa.13. Đồn đây có gái má đào Các Đằng đưa lại, anh hào tới đây Trước nhờ Nguyệt Lão xe dây Sắt cầm đưa lại đó đây một nhà.14. Đấy với đây chẳng duyên thì nợ Đây với đấy chẳng vợ thì chồng Dây tơ hồng chưa xe đã mắc Rượu quỳnh tương chưa nhắp đã say Chẳng nhè chẳng chén sao say Chẳng thương chẳng nhớ sao hay đi tìm? Tìm em như thể tìm chim Chim ăn bể Bắc, đi tìm bể Đông.15. Đợi chàng chẳng thấy chàng đâu Bóng trăng đủng đỉnh ra màu khơi trêu. Ớ ông Tơ! ông để vương đâu sợi chỉ điều16. Ai ơi đợi mấy tôi cùng Tôi còn gỡ mỗi tơ hồng(1) chưa xong Tơ hồng hồ gỡ đã xong Ai đem cái bối bòng bong buộc vào. (1) Tơ hồng, ông Tơ, Nguyệt lão: Theo tục u quái lục, Vi Cố, người đời Đường, nhân qua chơi Tống Thành, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng đang kiếm sổ sách (Nguyệt Lão) trong túi có một cuộn dây đỏ. Vi Cố hỏi chuyện ông già cho biết: "Cuốn sách là sổ hôn nhân và cuộn dây đỏ dùng để buộc nam nữ lại với nhau. Dầu cho hai bên có thù hằn với nhau hoặc dù ở cách xa nhau, đã lấy dây đỏ buộc đôi nam nữ lại thì tất sẽ thành vợ chồng". Do điển này mà những từ Xích thằng, Tơ Hồng, chỉ hồng, chỉ thắm v.v... đều chỉ tình vợ chồng, và Nguyệt lão, Trăng Già, Ông Tơ... Đều chỉ người làm mai mối trong việc hôn nhân.17. Ai ơi đợi với tôi cùng Tôi còn dở mối tơ hồng chưa xe. BK Anh ơi đợi với tôi cùng Tôi còn gỡ mối tơ hồng chưa xong.18. Ai đi đợi với tôi cùng 208
  • 209. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Tôi còn dở mối tơ hồng chửa xe Có nghe nín lặng mà nghe Những lời anh nói như xe vào lòng.19. Ai xinh thì mặc ai xinh Ông Tơ chỉ quyết xe mình với ta.20. Anh về sao được mà về Dây giăng tứ phía tính bề gặp anh Dây giăng mặc kệ dây giăng Ông Tơ bà Nguyệt đón ngăn cùng về.21. Bây giờ tác hiệp nhân duyên Người hiền gặp được bạn Tiên từ rày Xin ngài đừng ngại đấy đây Để cho Nguyệt Lão xe dây muôn đời Xin nàng đừng ngại gần xa Để cho chén ngọc đũa ngà có đôi.22. Bây giờ ta lại gặp ta Sẽ xin Nguyệt lão, Trăng già xe dây Xe vào như gió như mây Như chim loan phượng đỗ cây ngô đồng Thuyền quyên sánh với anh hùng Những người thục nữ sánh cùng văn nhân Tình xa nhưng ngãi còn gần Tràng An quận Bắc giao lân thế nào?23. Bắc thang lên đến tận trời Tìm ông Nguyệt Lão đánh mười cẳng tay Đánh rồi lại trói vào cây Hỏi ông Nguyệt Lão: nào dây tơ hồng? Nào dây xe bắc xe đông Nào dây xe vợ xe chồng người ta? Ông vụng xe, xe phải vợ già Tôi thì đốt cửa đốt nhà ông lên! BK Bắc thang lên đến tận trời Bắt ông Nguyệt Lão đánh mười cẳng tay Đánh thôi lại trói vào đây Hỏi ông Nguyệt Lão: Nào dây tơ hồng.24. Bắt ông Tơ mà cho ba đấm Bắt bà Nguyệt, đánh bốn mươi chín cái hèo Duyên người ta xe buổi sớm duyên em buổi chiều mới xe.25. Bắt tay ông Tơ mà bơ mà bớp Bắt lấy bà Nguyệt mà cột cội cau 209
  • 210. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Cứ xe khắp thiên hạ đâu đâu Bỏ hai đứa mình lận đận ruột héo gan sầu không xe.26. Ba năm chẳng xứng duyên hài Nằm lăn xuống bệ lạy dài ông Tơ.27. Bớ thảm ơi! Bớ thiết ơi! Bớ bạn tình nhân ơi! Thân em như cái quả xoài trên cây Gió đông, gió tây, gió nam, gió bắc Nó đánh lúc la lúc lắc, trên cành Một mai vô tình rụng xuống biết vào tay ai? Kìa khóm trúc, nọ khóm mai Ông Tơ bà Nguyệt xe hoài chẳng thương Một lần chờ, hai lần chờ Sớm lần nhớ, chớ lần thương Anh thương em nhưng bác mẹ họ hàng chẳng thương. BK Bớ thảm bớ thiết ơi Bớ bạn tình nhân ơi Thân em như cái trái xoài trên cây Gió đông gió tây gió nam gió bắc Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành Một mai vô tình nó rớt xuống biết vào tay ai?28. Bực mình lên tận tiên cung Đem ông Nguyệt Lão xuống hỏi thăm vài lời Nữ lòng trêu ghẹo chi tôi Lênh đênh bèo nổi, mây trôi một thì Biết người biết mặt nhau chi Để đêm em tưởng, ngày thì em thương Bắc Ninh cho đến Phủ Từ Qua cầu sông Nhị(1), ngẩn ngơ tìm người Tìm người chẳng biết mấy nơi Tìm ba mươi sáu phố thấy người ở đây. (2) Nhị sông: còn gọi là Nhị Hà hay Nhĩ Hà, khúc sông Hồng chảy gần Hà Nội.29. Căn duyên này, ai phá cho rời Ông Tơ ông buộc, ông Trời biểu không.30. Công anh lên rừng đốn trúc Đem về đoạn khúc, chuốt cái cần dài Lấy thép ra mài, uốn câu nhồi gọ Đêm hôm lọ mọ xe sợi chỉ săn Buộc chặt vào cần, móc mồi thơm phức 210
  • 211. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Vội ra ngoài bực, lựa chỗ anh ngồi Thả câu xuống rồi miệng anh thầm vái Đây cần câu nhân, cần câu ngãi Đây cần câu phải cần câu khôn Vái ông Nguyệt lão xe sợi chỉ hồng Đuổi con cá anh đạp đó, cho nó chạy dồn ăn câu - Con cá anh đạp nó đã có cặp Dẫu anh thả hoài chẳng gặp nó đâu Anh về sửa lại lưỡi câu Tìm sang chốn khác duyên hầu nên chăng?31. Cây cao bóng cả duyên mòn Ước gì tôi được chồng con với người Có anh như đũa có đôi Vắng anh em vẫn ngậm ngùi nhớ thương Khối tơ vương, ruột tằm vấn vít Bởi ông Tơ bà Nguyệt chưa xe Quan tướng nghe hiệu lệnh thì về Chữ dục đã vậy chữ tuỳ làm sao ? Muốn cho đông liễu tây đào Cảnh sầu bể thảm, lẽ nào thiếp mang Phòng khi lỡ bước theo chàng Lấy ai chầu chực thành hoàng quốc gia Phòng khi thiếp ở lại nhà Một mình thân thiếp biết là làm sao?32. Cổ tay vừa trắng vừa tròn Mó vào mát lạnh như hòn tuyết đông Đôi ta đã xứng vợ chồng Duyên trời đã định tơ hồng đã xe.33. Chăn đơn nửa đắp nửa hong Cạn sông, lở núi, ta đừng quên nhau Từ ngày ăn phải miếng trầu Miệng ăn, môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu Biết rằng thuốc dấu hay là bùa yêu Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa Làm cho quên mẹ quên cha, quên cửa quên nhà Làm cho quên cả đường ra lối vào Làm cho quên cá dưới ao Quên sông tắm mát quên sao trên trời Đất Bụt mà ném chim trời Ông Tơ bà Nguyệt xe dây, xe nhợ nửa vời ra đâu! Cho nên cá chẳng bén câu 211
  • 212. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Lược chẳng bén đầu, chỉ chẳng bén kim Thương nhau nên phải đi tìm Nhớ nhau một lúc như chim lạc đàn.34. Cha mẹ hồi trước có xem Ông Tơ đã định em với anh vợ chồng.35. Con dao be bé sắc thay Chuôi sừng bịt bạc về tay ai cầm Lòng tôi yêu vụng nhớ thầm Trách ông Nguyệt Lão xe nhầm duyên ai! Duyên tôi còn thắm chưa phai Hay là người đã nghe ai dỗ dành?36. Dầu thầy mẹ không thương Đôi ta trải chiếu, lạy từ ngoài đường lạy vô Lạy cùng ông bác bà cô Lạy cùng làng xóm, nói vô tôi nhờ Lạy cùng bà Nguyệt, ông Tơ Xe sao cho trọn, một giờ bén duyên.37. Ở đây ai có sẵn tiền Cho tôi mượn năm quan tiền, tôi quá giang ra ngoài Bắc Tôi mua một trăm cái đục, một chục cái chàng, mười tám cái khoan Tôi đóng cái thang một trăm ba mươi hai nấc Tôi bắc thấu ông Trời vàng Hỏi thăm Nguyệt Lão chớ duyên nàng về đâu?38. Ở đây lắm kẻ gièm pha Nói vào thì ít, nói ra thì nhiều Thương anh, thương đủ mọi điều Gió quanh em sẽ lựa chiều em che Ai nói chi chàng chớ có nghe Ông Tơ bà Nguyệt đã xe ta rồi Dù ai khuyên đứng, dỗ ngồi Thì chàng cũng cứ đãi bôi qua lần.39. Em là con út nhất nhà Lời ăn tiếng nói thật thà khoan thai Miệng em cười như cánh hoa nhài Như nụ hoa quế như tai hoa hồng Ước gì anh được làm chồng Để em làm vợ, tơ hồng trời xe.40. Em phải gặp ông Tơ hỏi sao cho biết Gặp bà Nguyệt gạn thiệt cho rành Vì đâu hoa nọ lìa cành Nợ duyên sao sớm dứt tình cho đang. 212
  • 213. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình41. Gặp đây anh nắm cổ tay Buông ra, em nói lời này thở than Châu Trần chớ vội bắc ngang Xa xôi vượt mấy ngày đàng nên quen Tơ hồng chỉ thắm là duyên Dẫu bao giờ gặp thì nên bấy giờ.42. Hôm nay anh đi chợ trời Thấy ông Nguyệt Lão đang ngồi ở trên Tay thì cầm bút cầm nghiên Tay cầm tờ giấy đang biên rành rành Biên ta rồi lại biên mình Biên đây lấy đấy, biên mình lấy ta Chẳng tin lên hỏi trăng già Trăng già cũng bảo rằng ta lấy mình Chẳng tin lên hỏi thiên đình Thiên đình cũng bảo rằng mình lấy ta Quyết liều một trận phong ba Để cho thiên hạ người ta trông vào Quyết liều một trận mưa rào Để cho thiên hạ trông vào đôi ta.43. Hỡi người đi ở bên bờ Phen này ắt hẳn ông Tơ xe vào.44. Hẹn với nước non Kim xe mũi chỉ, cho tròn vuông tơ Nguồn ân, bể ái hẹn hò Dẫu xa nghìn dặm, hồ đồ vẫn không Nguồn ân một mảnh trăng trong Có nơi xếp để tơ hồng kíp xe Đa đoan một mảnh trăng già Xe đâu, xe hẳn một nhà vui chung Xe đâu, xe hẳn cho xong. BK Trót lời hẹn với nước non Tơ xe nên để cho tròn duyên tơ Nguồn ân, bể ái hẹn hò Dẫu xa nghìn dặm hồ đồ(?) giao thông Lạnh lùng một cảnh trăng trong Bốn tôi khấn nguyện ông tơ hồng kíp xe Đa đoan lắm mấy ông trăng già Xe đâu xe hẳn một nhà vui chung Nên chăng hãy quyết cho xong. 213
  • 214. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình45. Kìa khóm trúc, nọ khóm mai Ông Tơ, bà Nguyệt, xe hoài chẳng thương.46. Kìa khóm trúc, nọ khóm mai Ông Tơ, bà Nguyệt xe hoài chẳng thương Một lần chờ, hai lần đợi Ba lần nhớ, bốn lần thương Anh thương em, nhưng phụ mẫu với họ hàng chẳng thương.47. Khi xưa em ở ngoài biển anh ở trốn lâm trung Đến nay đôi ta hội ngộ tương phùng Trời kia đã định, mối tơ hồng phải xe.48. Kẻ về, người ở trông theo Ngựa Hồ chim Việt đôi điều ái ân Một mình tựa án tần ngần Năm canh khúc ruột như dần cả năm Vắng mình ta vẫn hỏi thăm Chốn ăn đã vậy, chốn nằm làm sao? Bấy lâu nay những khát khao Mong chưa thấy mặt lòng nào đã quên Nghĩ rằng cùng bạn thiếu niên Vì ai xui giục cho nên nỗi này Trách ông Tơ ra tay hờ hững Lúc xe dây sao chẳng lựa ngày Bây giờ hai ngả đông, tây Trước sao xe mối tơ này làm chi? Chửa biết nhau sao không nói trước Biết nhau rồi kẻ ngược người xuôi Bao giờ cho được đủ đôi Như sen tịnh đế một chồi hai hoa.49. Kết phức đi đây duyên đó nợ Kết phức đi đây vợ đó chồng Dù ông trời chưa định, dù ông Tơ Hồng chưa xe.50. Lá ngọc cành vàng Lan huệ tốt tươi Người có đôi, như đũa có đôi Vắng tôi quan tướng ngẫm, quan tướng nghĩ, bùi ngùi nhớ trông Lệch sai ngọc nữ kim đồng Rẽ mây mà xuống đánh đồng giúp tôi Gió hiu hiu ngồi chốn năm canh Quan tướng đi, quan tướng ngẫm, quan tướng nghĩ cái chữ chung tình vân vi Thương người như lá đài bi 214
  • 215. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương Bối tơ vương cái ruột con tằm Bối rối, ông trăng già, bà Nguyệt khéo xe Quan tướng nghe hiệu lệnh thì về Chữ đúc đã vậy vì làm sao?51. Lại đây anh hỏi cho rành Cửa nhà gia thất em thành hay chưa? Má hồng hương thoảng gió đưa Hỏi nàng có chốn hay chưa hỡi nàng? - Khoan khoan anh hãy xe ra Để em biết hết chuyện nhà anh hay Phủ Hà(1) quê quán xưa nay Cha mẹ đã định những ngày còn thơ Bởi vì duyên kiếp hững hờ Số mình đã lỗi ông Tơ lại lầm Thuyền son đậu phải vũng đầm Tại trâu mà gảy đàn cầm biết chi! Vậy nên em phải ra đi Đến đâu, ai kẻ thương vì hãy hay. (1) Phủ Hà Trung: xưa gồm bốn huyện ở phía đông Thanh Hoá là: Hoằng Hoá, Phong Lộc, Nga Sơn, Tống Sơn.52. Lửng lơ vừng quế soi thềm Chuông đưa bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đãy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng ta chăng Đèn tàn thấp thoáng bóng trăng Ai đem người ngọc thung thăng chốn này Ở đây gần bạn gần thầy Có công mài sắc có ngày nên kim. BK (a) Lửng lơ vầng quế soi thềm Hương đưa thơm ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đãy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng ta chăng Đèn tà thấp thoáng bóng trăng Ai đem người ngọc thung thăng chốn này? (b) Lửng lơ vừng quế dọi thềm Chuông đưa bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đãy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng ta chăng Đèn tàn thấp thoáng bóng trăng 215
  • 216. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Ai đem người ngọc thung thăng trốn này. (c) Lửng lơ bóng quế dãi thềm Nhang đưa bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đãy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng ta chăng? Thấp thoáng cái bóng ông Trăng Ai đem người ngọc thung thăng chốn này Rồng vàng lên đổ cạn giường vây Biết rằng đây đấy sum vày gần xa Xăm xăm bước tới gốc mai già Hỏi thăm ông Nguyệt Lão có nhà hay không? Xăm xăm tới gốc cây thông Cô Đôi xin nhớ ra lòng ngẩn ngơ. (d) Lửng lơ bóng quế dãi thềm Nhang đưa bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đãy kim nhung Biết rằng quân tử có dùng cho chăng? Thấp thoán cái bóng ông Trăng Ai đem người ngọc thung thăng chốn này Rồng vàng lên bể cạn giương vây Biết rằng đây đấy sum vầy gần xa. (đ) Lẳng lơ vừng quế dọi thềm Chuông đưa bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng để đãy kim nhung Biết người quân tử có dùng ta chăng?53. Mây bay xao xác gặp rồng Tình cờ gặp bạn tơ hồng ta xe.54. Một đời được mấy anh hùng? Một nước được mấy ông trị vì? Anh đừng cợt diễu em chi a Em đang chắp chỉ chọn ngày cài hoa Tin lên thiên thương Hằng Nga Cậy ông Nguyệt lão với bà Tơ vương Chăn loan, gối phượng sẵn sàng Màn đào rủ dọc, trướng hồng trải ngang Còn đang chọn đá thử vàng Ngọc lành ai quảy ra đàng bán rao Quan quan bốn tiếng thư cưu Mong người quân tử hảo cầu kết duyên Phấn son cho phỉ tấm nguyền Anh hùng sánh với thuyền quyên mới tình 216
  • 217. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Phạt kia thơ ấy rành rành, Phỉ môi bất đắc xin anh liệu lường.55. Một mình thiếp giữ lời thề Hai tình chớ đợi đêm khuya lạnh lùng Ba tình gánh cát bể Đông Bốn tình chờ đợi tơ hồng khéo xe Năm tình một hội hai hè Sáu tình chỉ quyết xe tơ đá vàng Bảy tình bia tạc chứ vàng Tám tình em quyết lấy chàng, chàng ơi! Chín tình nhớ mãi không nguôi Mười tình, tính chẳng sang chơi với tình Tình còn vương nợ ba sinh Tính ơi, có gỡ cho tình đắp mùa đông áo tình, tính mặc cho xong mùa hè Tay tình, tính vốn ngồi kề Chân tình, tính đội cũng vừa Ông Tơ bà Nguyệt khéo lừa đôi ta.56. Mấy năm trời qua tưởng xa em Hay đâu Trời định anh với em lại cang thường Ông Tơ xe sợi chỉ hường Đố em có biết điệu cang thường của ai Đêm cách bức, ngày chẳng vãng lai Ông Tơ xe mối chỉ cho hai đứa mình Chỉ tơ đứt mói thình lình Bậu ơi, thương chưa phải dạ mà tình đã khiến xa.57. Năm Thìn trời bão thình lình Kẻ trôi người nổi, hai đứa mình còn đây Tơ hồng nay đã về tay Bà Nguyệt ở lại xe dây hai đứa mình Điệu phu thê mình giữ trọn tình Để phụ mẫu hay đặng đánh mình đau tôi.58. Năm voi anh đúc năm chuông Năm cô anh đóng năm giường bình phong Còn một cô bé chửa chồng Lại đây anh kén cho bằng lòng cô Một là ông Cống, ông Đồ Hai là ông Bát, ông Cửu, ông Đô cũng vừa Giả ơn bà Nguyệt, ông Tơ Sớm đi cầu Thước, tối mơ mộng hùng Cho mau cửa lại treo cung 217
  • 218. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Để cho cô bế cô bồng cô ru Cô ru rằng: Con ăn, con bú, con nô Con lẫy, con bò, con chững, con đi Ngày sau con cả lớn khôn Con học, con thi, nhảy ba tầng sóng kinh kì khai nhan.59. Nằm đêm nghĩ lại trách thầm Ông Tơ sao cắc cớ(1) Nhớ ai, rứt xé ruột tằm Mơ hình tưởng bóng, luỵ dầm thấm bâu. (1) Cắc cớ: oái oăm, ngược đời.60. Nào em phụ nghĩa bỏ chồng Bởi chưng Nguyệt Lão mối chỉ tơ hồng xe lơi.61. Ngày nay Nguyệt Lão vấn vương Trăm năm quyết giữ tao khương một đời.62. Ngồi buồn trách mẹ trách cha Trách ông Nguyệt Lão, trách bà xe dây.63. Ngậm ngùi chả dám nói ra Những lời ngào ngạt chật nhà năm gian Ông Tơ sao khéo đa đoan Một lời lan huệ, đá vàng thuỷ chung.64. Nghĩa non sông há dễ thờ ơ Hay là tình tự đợi chờ đã lâu Vẻ chi từ giã cùng nhau Điều chi nói thực kẻo sầu ai mang Ông Tơ sao khéo đa đoan Đang vui xao nỡ để đàn ngang cung Cùng nhau gắn bó thuỷ chung Trăm năm tạc dạ ghi lòng dám sai Đã đành hợp tác bởi Trời Bởi Trời nhưng cũng có người mới nên Một lời đây đó là duyên Chớ nên chểnh mảng để phiền cho nhau.65. Nhác trông em cái áo vá vai Thầy mẹ em vá hay tài vá nên Cái mụn vá em trông cũng có duyên. BK Nhác trông tấm áo vá vai Thầy mẹ anh vá hay tài vá nên? Nhác trông tấm áo có duyên Miệng cười hoa nở, càng nhìn càng ưa 218
  • 219. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình áo anh, em mặc cũng vừa Ông Tơ bà Nguyệt khéo lừa đôi ta.66. Nhân bất tri nhi bất uẩn Bất diệc quân tử hồ? Anh thương em ruột héo gan khô Trách ai phân rẽ Hán Hồ đôi nơi Cánh bèo mặt nước nổi trôi Thương nhau phải nhớ những lời sớm trưa Lạc bầy chim nhạn bơ vơ Đôi ta không nợ ông Tơ bỏ liều Sao trên trời bao nhiêu Qua thương bậu bấy nhiêu Ngày đêm qua nhớ bậu, những trăm chiều quặn đau.67. Nhờ ai lên đến cung mây Hỏi ông Nguyệt Lão nào dây tơ hồng Nào dây xe bắc xe đông Nào dây xe vợ xe chồng ở đâu.68. Nước chảy đã vẫn chưa mòn Ước gì kết ngãi nước non với chàng Ước gì tạc đá ghi vàng Ước gì em sánh với chàng từ đây Ước gì Nguyệt Lão xe dây Xe cho mình đấy ra đây một nhà.69. Phải em gặp ông Tơ, hỏi sơ cho biết Gặp bà Nguyệt gạn thiệt cho rành Vì đâu hoa nọ lìa nhành Nợ duyên sao sớm dứt cho đành dạ em? BK Phải gặp ông Tơ hỏi sơ cho biết Phải gặp bà Nguyệt, gạn thiệt cho rành Vì đâu hoa nọ lìa nhành Nợ duyên sớm dứt cho đành dạ em?70. Phụ anh, tội lắm bớ nàng! Ông Tơ xe sợi chỉ vàng còn săn.71. Quyết lên trời kiện đến ông Tơ Nơi thương không vấn, vấn vơ nơi nào.72. Rồi đây ta kiện ông Tơ Nơi thương không vấn, vấn vơ nơi nào.73. Rủ nhau đi gánh nước thuyền Đứt quãng vỡ sải nước liền ra sông Nhất chờ, nhị đợi, tam mong 219
  • 220. Phạm Việt Long – 2012Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia đình Tứ thương, ngũ nhớ, lục mong, thất bát cửu chờ Mặt trời đã xế về nam Trách ông Tơ Hồng cùng bà Nguyệt Lão đa đoan nửa chừng! Cây muốn lặng, gió chẳng muốn dừng.74. Sáng trăng suông sáng cả bờ sông Ta được cô ấy ta bồng ta chơi Ta bồng ta tếch lên trời Hỏi ông Nguyệt Lão tốt đôi chăng là?75. Tôi rằng: Lâm Tri (1) chút ngãi đèo bòng Hỏi người còn nhớ hay lòng đã quên Chữ chung tình gánh nặng đôi bên Dưới dòng nước chảy đôi bên có cầu Có lòng hạ cố đến nhau Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã nhiều Những là đắp nhớ đổi sầu Tuyết sương nhuộm nửa mái đầu huê râm Ngày thì luống những âm thầm Đêm nằm ít cũng tám, chín mười lần chiêm bao Tối qua lên tận trên mây Tôi bẩm là mây Hôm nay mới được đến đây hầu người Thấy ông Nguyệt Lão xe dây tơ hồng Dây nào tam phủ, địa phủ cộng đồng Dây nào xe vợ xe chồng người ta Dây nào xe phố Thanh Hoa Thì ông xe lại cho liền lỡ duyên Thì ông xe lại người ta cho liền Dây nào trái kiếp lỡ duyên Thì ông xe lại cho liền ông ơi! Dây nào xe bốn chúng tôi Xe chín lần kép, xe mười lần đơn. (1) Lâm Tri: địa danh dùng trong truyện Kiều của Nguyễn Du, nguyên là tên huyện thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.76. Tối qua lên tận trên mây Hôm nay mới được đén đây hầu người thấy ông Nguyệt Lão xe dây tơ hồng Dây nào tam phủ, địa phủ cộng đồng Dây nào xe vợ, xe chồng người ta Dây nào xe phố thành hoa Thì ông xe lại người ta cho liền