Du khảo Hoa kỳ sau thảm hoạ 11 tháng 9 - Phạm Việt Long
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Like this? Share it with your network

Share

Du khảo Hoa kỳ sau thảm hoạ 11 tháng 9 - Phạm Việt Long

  • 820 views
Uploaded on

Tập ký sự của Phạm Việt Long, NXB Văn học ấn hành,

Tập ký sự của Phạm Việt Long, NXB Văn học ấn hành,

More in: Education
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
    Be the first to like this
No Downloads

Views

Total Views
820
On Slideshare
777
From Embeds
43
Number of Embeds
2

Actions

Shares
Downloads
1
Comments
0
Likes
0

Embeds 43

http://vanhien.vn 40
http://localhost 3

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. Du khảo Hoa Kỳ Sau thảm hoạ 11 tháng 9 - 11 Phạm Việt Long Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, Tổng thống G.W.Bu-sơtuyên bố: "Ngày hôm nay chúng ta đã trải qua một thảmkịch của dân tộc". CHƯƠNG I. TRÁI ĐẤT NÓNG LÊN Lúc này, Hà Nội đang chuyển mùa. Đã có những đợt gió Đông Bắc se se lạnh. Vậy mà tráiđất đang nóng lên. Một sự kiện dữ dội nhất mở đầu thiên niên kỷ mới đã xẩy ra: hai toà nhàthuộc Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) tại thành phố Niu-Yoóc Hoa Kỳ bị hai máy bayđâm thẳng vào, nổ tung, sụp đổ. Vào chính cái đêm 11 tháng 9 năm 2001 ấy, nghe Hưng, cậu con rể, thông báo, tôi khôngtin được. Bởi tính cậu ta hay bông đùa, và cũng bởi cái tin cậu ta đem lại quá đột ngột. Ai mà tinđược rằng một cường quốc như Hoa Kỳ mà lại bị đòn đau đến như thế.
  • 2. Tới khi cậu con rể tôi nghiêm mặt nói rằng chính thằng bạn ở tận Đức gọi điện về báo tinnày rồi vội vã xách xe chạy đến khách sạn để xem truyền hình thu qua vệ tinh về thảm hoạ 11tháng 9, tôi mới tin đó là sự thật. Ngay sáng hôm sau, trên các mặt báo trong nước, từ trung ương đến địa phương, đã in nổibật tin về thảm hoạ nói trên: "Nước Mỹ bị tấn công: 9 giờ sáng giờ Niu-Yoóc, một máy bayBoeing 767 của hãng hàng không Mỹ American airlines chở 81 hành khách và phi hành đoàn 11người trên đường bay từ Bô-xtơn đi Lốt-an-giơ-lét (chuyến bay số 11) đã đâm vào toà nhà 110tầng khu Bắc của Trung tâm Thương mại Thế giới ở Niu-Yoóc. Khoảng 20 phút sau vụ nổ thứnhất, một máy bay khác cũng của hãng này từ Oa-sinh-tơn đi Lốt-an-giơ-lét (chuyến bay số 77)chở 58 hành khách và phi hành đoàn 6 người, đã lại đâm vào khối nhà phía Nam của chínhTrung tâm Thương mại này. Những tin tức đầu tiên cho biết có ít nhất 6 người bị chết, hơn 1.000người khác bị thương. Sau đó ít phút có một tiếng nổ lớn làm phần lớn của toà nhà chọc trời nàybị sập. Nhiều nguồn tin cho biết hiện chưa thể xác định chính xác số người chết và bị thương,nhưng tất cả bệnh viện ở Niu-Yoóc đã quá tải. Thảm hoạ xảy ra khi khoảng 40.000 người đanglàm việc tại Trung tâm Thương mại Thế giới, nơi mỗi ngày có khoảng 150.000 người vào muasắm, giao dịch, kinh doanh và giải trí. Cũng trong ngày 11 tháng 9, một máy bay thương mại của hãng hàng không Mỹ United Airlines đã lại đâm xuống Lầu Năm góc, làm ít nhất 7 người bị thương, khiến 24.000 nhân viên của Lầu Năm góc phải sơ tán khẩn cấp khỏi nơi làm việc. Các nhân viên Liên hợp quốc cũng được lệnh sơ tán khỏi trụ sở ở Niu-Yoóc. Những người chứng kiến cho biết họ nhìn thấy các xe tải bị chất xung quanh Nhà Trắng và khói bốc lên từ phía nam của dinh Tổng thống. Trong lúc đó ở khu nhà Quốc hội trên đồi Ca-pi-tơn cũng xảy ra những vụ nổ. Một vụ đánh bom bằng xe hơi đã xảy ra trước cổng Bộ Ngoại giao Mỹ. Tổng thống G.W.Bu-sơ tuyên bố: "Ngày hôm naychúng ta đã trải qua một thảm kịch của dân tộc". CNN bình luận: "Từ thời nội chiến, đến bây giờ nước Mỹlại chịu cảnh chiến tranh."
  • 3. Những ngày tiếp theo, báo chí của chúng ta tiếp tục đưa tin, ảnh về thảm hoạ 11 tháng 9:Hàng vạn người chết và bị thương. Các hoạt động cứu nạn đang được xúc tiến. Quân đội Mỹtrong tình trạng báo động cao nhất. Lãnh đạo và nhân dân nhiều quốc gia trên thế giới chia buồnvới Chính phủ và nhân dân Mỹ. Tính đến chiều 12-9, Mỹ vẫn chưa xác định được chính xác sốngười chết, tuy nhiên các quan chức Mỹ ước tính số người thương vong có thể rất lớn, riêng sốngười chết trong vụ tiến công Lầu Năm góc lên tới 800 người. Số người chết và bị thương tạiTrung tâm Thương mại Thế giới ước tính khoảng mười nghìn người; toàn bộ 266 hành khách vàphi hành đoàn của bốn máy bay bị bắt cóc đều thiệt mạng. Ngoài ra, khoảng 300 nhân viên cứuhộ, trong đó có 200 lính cứu hoả, 78 cảnh sát Niu-Yoóc đã chết hoặc mất tích. Tổng thống Mỹcoi cuộc khủng bố là "hành động chiến tranh". Cộng đồng Hồi giáo trên thế giới đang đưa rathông điệp chứng tỏ rằng người Hồi giáo không phải là kẻ thù gây ra các cuộc tiến công khủngbố này, và cho rằng Mỹ nên xem xét lại chính sách đối ngoại của mình. Mỹ nỗ lực giải quyết hậuquả thảm hoạ ngày 11-9. Giới tình báo và an ninh Mỹ đang bị hoảng loạn. Tổng thống G.W.Bu-sơ ra lệnh bắn các máy bay dân dụng khả nghi. Mỹ đang "dọn chỗ" cho cuộc tấn công vào Áp-ga-ni xtan. Mỹ sẽ đánh vào bất kỳ quốc gia nào chứa chấp Bin Lađen . Mỹ đã phát lệnh độngviên 50.000 quân dự bị. Người Mỹ cố gắng trở lại cuộc sống bình thường. Mỹ gia tăng sức épquân sự đối với Áp-ga-ni-xtan. Mỹ triển khai chiến dịch "Công lý vô tận" tấn công Áp-ga-ni-xtan... Tình hình diễn biến quá nhanh theo chiều hướng căng thẳng. Lúc này, Chính phủ ViệtNam đã thể hiện thái độ qua phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao, bà Phan Thuý Thanh:"Chúng tôi cho rằng Hoa Kỳ phải thận trọng, xác định chính xác thủ phạm, và trong hành độngcủa mình phải tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luậtpháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền quốc gia các nước, không làm phức tạp quan hệ quốc tế vàtránh những hành động gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của thường dân vô tội." Cũng chính vào thời điểm này, Hoa Kỳ còn gây căng thẳng cho bầu không khí thế giới bởiđưa ra thông qua cái gọi là "Đạo luật nhân quyền Việt Nam". Dư luận thế giới và trong nước vừalên án khủng bố, vừa phản đối Mỹ phát động chiến tranh, đồng thời đòi hỏi Mỹ phải huỷ bỏ cáiđạo luật phi lý về Việt Nam nói trên. Tình hình hết sức phức tạp. Mỹ đã nắm lấy thời cơ để thựchiện chiến lược của mình, cứng rắn chia thế giới thành hai cực: một cực chống khủng bố, màmuốn thể hiện tinh thần chống khủng bố của mình thì phải ủng hộ Mỹ, và một cực không ủng hộMỹ, có nghĩa là ủng hộ khủng bố. Tuy vậy, nhân loại vốn yêu chuộng hoà bình, cho nên dùmuốn loại trừ nạn khủng bố khỏi xã hội, mọi người đều yêu cầu Hoa kỳ phải tôn trọng Hiếnchương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế nếu tiến công trả đũa các cuộc khủng bố.
  • 4. Mười ngày sau thảm hoạ 11-9 tại Mỹ, báo chí vẫn không ngớt đưa tin về điểm nóng HoaKỳ: Đến ngày 20-9, cơ quan cứu hộ xác định 6.333 người mất tích... Hầu hết người Mỹ đã trở lạivới công việc hàng ngày. Tổng thống Mỹ đã phát biểu ý kiến trước hai viện Quốc hội Mỹ vềthảm hoạ ngày 11-9. Trong bài phát biểu này, ông Bu-sơ tuyên bố sẽ sử dụng "mọi vũ khí cầnthiết" trong chiến dịch toàn cầu chống chủ nghĩa khủng bố và kêu gọi quân đội Mỹ "sẵn sàngchiến đấu". Cỗ máy chiến tranh của Mỹ đang tăng tốc: Lực lượng quân sự Mỹ ồ ạt đổ vào vùngvịnh. Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh mà không suy tính những hậu quả thảm khốc củanó. Biểu tình kêu gọi không trả đũa tàn bạo. Mỹ tăng cường áp sát Áp-ga-ni-xtan. Cách thức tuyên truyền rầm rộ và những lời phát biểu cứng rắn của giới cầm quyền HoaKỳ đã làm cho tâm lý chiến tranh bùng phát ở Mỹ. Theo kết quả thăm dò dư luận của ABC vàbáo Bưu điện Oa-sinh-tơn, có 8 trong số 10 người Mỹ được hỏi cho rằng bài phát biểu của ôngBu-sơ đã làm tăng niềm tin vào khả năng giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay, 9 người ủng hộcách giải quyết của ông Bu-sơ và 75% ủng hộ lời kêu gọi của ông phát động cuộc chiến tranhquy mô rộng lớn chống khủng bố. Các nhà quan sát cho rằng sự cổ vũ của các nghị sĩ và cácphương tiện truyền thông Mỹ giống như "một kịch bản chính trị" nhằm khích lệ binh lính vàthanh niên Mỹ bước vào cuộc chiến. Như để đốt cháy rực lên nữa ngọn lửa hận thù, chính quyềnMỹ báo động trước nghi ngờ về cuộc khủng bố vòng hai, đồng thời tuyên bố tấn công bất chấpLiên hợp quốc. Trong khí đó, ngay giữa lòng nước Mỹ, người Hồi giáo phải sống trong lo sợ bị trả thù.Hội đồng quan hệ Mỹ - Hồi giáo ở Oa-sinh-tơn đã ghi nhận được hơn 350 vụ đe doạ bạo lực,phân biệt đối xử, tấn công người Hồi giáo ở Mỹ kể từ khi thảm hoạ xảy ra. Vụ giết hại một ngườigốc Ai Cập bán tạp phẩm ở Lốt-An-giơ-lét hôm chủ nhật là sự việc mới nhất trong tâm lý trả thùngười Arập đang xuất hiện ở Mỹ.... Con số người thiệt mạng được báo chí ta công bố theo dự đoán của báo chí Mỹ lúc đầu cótới khoảng 10.000 đến 20.000 người! Thật là khủng khiếp! Rồi sau đó, số người bị mất tích đượccông bố giảm dần... Không hiểu vì lý do gì, mà các nguồn tin phương Tây lại thiếu thận trọngtrong việc công bố số nạn nhân của thảm hoạ đến thế? Để tạo mối quan tâm? Để "giật gân" câukhách? Hay đơn thuần chỉ là vì sự phỏng đoán lúc đầu chưa thật chính xác? Dù sao, nói về sựchết chóc cũng cần thận trọng, không nên phóng đại. Tính mạng một con người là cả một vấn đềlớn lao, huống chi đây lại là con số hàng vạn người! Đọc báo, tôi giật mình: khốn khổ thay nhân dân Áp-ga-ni-xtan khi đất nước này bị HoaKỳ chọn làm mục tiêu "chống khủng bố"! Một đất nước cùng khổ, đang sống dở chết dở bởi
  • 5. nghèo đói và bởi chế độ hà khắc dưới quyền cai trị của Ta-li-ban, lẽ ra cần được các nước giầucứu giúp, đằng này lại sắp trở thành mục tiêu của bom đạn! Chẳng nhẽ thế giới không động lòngtrước một đất nước bị cô lập và nghèo khổ như Áp-ga-ni-xtan sao? Đó là một trong 4 nướcnghèo nhất thế giới. Đã thế, hạn hán lại hành hạ đất nước này suốt 3 năm ròng, làm cho diện tíchcó thể trồng trọt tụt xuống còn bằng 12% diện tích đất canh tác. Người nông dân không có ruộngđất để gieo trồng, không có việc làm và không có lương thực. Sự nghèo đói, bệnh tật đã làm chonhân dân nước này chỉ có tuổi thọ trung bình là 43. Chỉ vì những bệnh thông thường, cứ 4 trẻ emthì có 1 em chết yểu trong vòng 5 năm đầu tiên của đời người! Rồi đây, khi bom đạn Mỹ và đồngminh trút xuống Áp-ga-ni-xtan, liệu tuổi thọ trung bình của người dân còn được bao nhiêu? liệutỷ lệ tử vong của trẻ em sẽ tăng lên đến mức nào? Tôi giật mình còn bởi lẽ, tại sao lại có nhữngtờ báo tung hô sự trả thù của Mỹ "khách quan" đến thế! Chính nhờ những thông tin ấy mà lượngbáo chí phát hành tăng vọt, có tờ gấp đôi ngày thường, thậm chí hơn thế nữa. Người ta còn chụplại một số bài báo về cuộc chiến sắp xảy ra, thậm chí còn sục vào In-tơ-nét kiếm thông tin vềchiến tranh để "xuất bản xem liền", bán đầy đường phố! Trên đường phố thành phố Hồ ChíMinh, vào lúc xẩm tối, tôi thấy từng tốp thanh niên nam nữ đứng tràn trên mặt đường bán tận taynhững người ham tin những bài báo, những tờ thông tin về tình hình Mỹ - Áp-ga-ni-xtan. Tôi chỉmuốn nói to lên để mọi người nghe lời khẩn cầu của mình là các phương tiện thông tin hãy cótrách nhiệm hơn với tính mạng con người, cần thận trọng trước thảm hoạ của nhân loại! Mà bây giờ, một cuộc chiến tranh được phát động nhanh quá, đơn giản quá. Ngày xưa, khiPháp chuẩn bị xâm lược Việt Nam, chúng phải mất cả thế kỷ thăm dò, nào là truyền giáo, nào làgiao thương... Rồi khi Mỹ muốn xâm lược Việt Nam, chúng cũng phải mất mấy chục năm"đệm", thay chân Pháp từng bước. Còn bây giờ, vèo một cái, chỉ cần dăm ba ngày cùng vài lờituyên bố về sự khủng bố là Mỹ nghiễm nhiên tiến hành ngay một cuộc chiến tranh tuyên bố hẳnhoi với một quốc gia! Tốc độ của thời hiện đại quả là khủng khiếp! Việc quyết định một chủtrương lớn như tiến công một quốc gia, Mỹ làm nhanh tới mức chưa kịp có phương án triển khai(Lầu Năm góc đang bối rối với các phương án tấn công- Báo Nhân Dân, 25-9). Mỹ đã cướp thờigian, tận dụng sự ngập tràn thông tin đang có lợi để thực hiện âm mưu bá chủ thế giới của mình.Thế nhưng, Thế giới vẫn nhận biết bản chất sự việc: "Không thể ngăn chặn khủng bố nếu vẫncòn áp bức", đó là nhận định của Thủ tướng Ma-lai-xi-a Ma-ha-thia Mô-ha-mát. Ông cho biếtMa-lai-xi-a không muốn các nước vô tội trở thành nạn nhân của cuộc săn lùng khủng bố mà Mỹphát động. Ông cho rằng săn lùng khủng bố chỉ bằng vũ khí sẽ không giải quyết được vấn đề mộtcách triệt để chừng nào sự tức giận của những người bị áp bức vẫn còn tồn tại. Theo ông, đã đếnlúc cộng đồng quốc tế phải chú ý giải quyết các vấn đề, điều mà khiến người ta không còn sự lựachọn nào khác phải tiến hành biện pháp khủng bố. Ông nói: "Chúng ta cần ngăn chặn sự áp bứcđối với nhân dân Pa-lex-tin, Irắc, Tres-xnhi-a và những nơi khác." (Báo Nhân Dân, 25/9).
  • 6. CHƯƠNG II. HOA KỲ LÀ THẾ 1. Bay về vùng lửa Như vậy là Niu-Yoóc, một thành phố hiện đại và giầu sang bậc nhất thế giới, đã trở thànhđiểm nóng của toàn cầu và ngọn lửa hận thù đang từ đây toả rộng ra, làm cho trái đất nóng lên.Chính trong không khí oi nồng toàn cầu ấy, theo kế hoạch giữa Bộ Văn hoá Thông tin và quỹFORD về khảo sát văn hoá tại Mỹ, chúng tôi lên đường bay về vùng lửa Niu-Yoóc. Nhiều người hỏi chúng tôi rằng đi vào thời điểm này có ngại "dính" khủng bố không? Đãthế, lại còn bệnh than với những gói bột mầu trắng đáng sợ nữa! Chúng tôi không lo ngại, nhưnghơi băn khoăn: các bạn Mỹ đang bận với việc khắc phục thảm hoạ 11 tháng 9 và đang trong bầukhông khí nóng của chiến tranh, liệu có bình tâm làm việc với chúng tôi không? Và rồi "gió cứthổi, đoàn người cứ tiến", chúng tôi lên đường. Mức độ suy giảm của hoạt động hàng không quốc tế sau thảm hoạ 11 tháng 9 tại Mỹ thểhiện rõ nét dần từ sân bay Nội Bài, qua sân bay Đài Bắc, đến sân bay Niu-Yoóc, với số lượngkhách giảm đáng kể. Chuyến bay CI.012 của Hàng không Việt Nam kết hợp với Hàng không ĐàiLoan ít khách tới mức có thể tìm chỗ nằm thoải mái trên các hàng ghế trống trải. Sân bay ĐàiBắc vắng vẻ. Hun hút dọc đường nhà ga chỉ có một tốp khách Việt Nam gồm 10 người cộng với2 người Hoa. Chúng tôi ngồi rải rác trên các dãy ghế nhựa chờ làm thủ tục để vào khách sạn nghỉtạm, mai lại bay tiếp sang Hoa Kỳ. Chuyến bay xuyên đại dương, vượt 12 múi giờ từ Việt Namđến Mỹ quả là vất vả. Cũng không hiểu vì lý do gì mà mấy anh chàng an ninh Đài Loan này làmviệc lề mề thế, săm soi cả tiếng đồng hồ trên mấy tấm hộ chiếu, làm cho chúng tôi chỉ còn biếtngồi ngáp vặt! Qua mỗi sân bay, càng gần tới Mỹ, chúng tôi càng thấy biện pháp an ninh được xiết chặthơn. Tại sân bay Nội Bài, có đôi chút thay đổi qua bóng dáng một thiếu tá công an mặc sắc phục,đeo súng và cầm máy bộ đàm quan sát ở đoạn tiếp giáp giữa đường ống dẫn khách và cửa máybay. Sân bay Đài Bắc nhìn bề ngoài không có dấu hiệu gì đặc biệt. Nhưng khi từ khách sạn trởlại nhà ga để đi Niu-Yoóc, chúng tôi mới thấy nhân viên an ninh ở đây làm việc cẩn thận đếnmức nào. Đoàn chúng tôi qua cổng kiểm soát. Mọi người qua bình thường, riêng anh Toàn đượcmời đứng lại, mở túi xách cho nhân viên an ninh khám. Hoá ra ở trong túi có một con dao dùngđể gọt trái cây. Lập tức, nhân viên an ninh mời anh vào lập biên bản, giữ lại dao và đưa một tờgiấy biên nhận. Họ cho biết khi qua Niu-Yoóc, anh Toàn sẽ được nhận lại con dao.
  • 7. Vào lúc 18 giờ, hành khách của chuyến bay Niu-Yoóc đã đông, sân bay báo cho mọingười phải rời phòng chờ, đi ngược lên trên gác làm lại thủ tục an ninh. Mọi người xếp hàng đôichờ đến lượt kiểm tra theo kiểu thủ công. Có lẽ lúc này, các phương tiện hiện đại không được tintưởng bằng con người. Nhân viên an ninh kiểm tra khá kỹ, lục vào từng túi xách, thậm chí móccả vào túi áo chị Đào vì thấy có vật nhọn - hoá ra đó là cái bút bi. Anh Ngà có con dao cạo râucán nhựa cũng bị giữ lại. Đến sân bay quốc tế Ken-nơ-đi (Niu-Yoóc) vào hồi 19 giờ 30 giờ địa phương. Khách củachuyến bay này ngoài người Việt chúng tôi và người Hoa, hầu như không có người các châu lụckhác. Nhìn từ trên cao xuống, Niu-Yoóc hiện ra với những ánh đèn nhấp nháy sáng rực cả mộtvùng rộng lớn. Nhà ga sân bay quốc tế Ken-nơ-đi rộng nhưng cũng thấp giống như nhiều nhà gasân bay khác trên thế giới. Trong cái mênh mông của nhà ga và trong ánh đèn mù mù, đoànkhách vào nước Mỹ trở nên nhỏ bé lạ lùng. Mọi người xếp hàng theo đường dích dắc của nhữngrào chắn bằng dây. Các nhân viên Hải quan làm việc cần mẫn và vui vẻ. Một nhân viên ngườiMỹ gốc Việt có nước da hồng hào và cái đầu hói gần hết tóc vừa làm thủ tục vừa hỏi thăm chúngtôi về tình hình Việt Nam. Anh cho biết, đôi ba năm trước đây anh đã về thăm quê hương và vuimừng thấy cuộc sống tại đó dễ chịu. Anh chúc chúng tôi chuyến viếng thăm vui vẻ. 2. Bề mặt cuộc sống ở Mỹ Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ được các bạn trong quỹ FORD đón tại cửa nhà ga sân bay. Có4 người ra đón, thì đã thuộc 3 quốc tịch khác nhau: giáo sư Mác-tin Su-lơ-man người Mỹ, anhTim Đô-ling, anh Dan J. Mác-tin người Anh và một cô gái người Mỹ gốc Tây Ban Nha có tên làMa-ri-sa Lôpơ. Có lẽ đây là biểu hiện đầu tiên trên thực tế tại đất Mỹ cho mọi người thấy rằngHoa Kỳ thực sự là một hợp chủng quốc. Đã làm việc nhiều năm ở Việt Nam, có vợ là ngườiViệt, anh Tim nói thành thạo tiếng Việt. Trong không khí lành lạnh của buổi tối và trong ánhsáng yếu ớt của những ngọn đèn chiếu từ mấy cái cột tít trên cao, chúng tôi chờ xe tới đón. Ồn àovà náo nhiệt. Thỉnh thoảng, một chiếc xe cảnh sát lại ào tới, hú còi đinh tai. Mãi không thấychiếc xe buýt tới, cô Ma-ri-sa móc điện thoại gọi một lúc rồi trao đổi với anh Tim. Anh Timthông báo, do tăng cường an ninh, nhà chức trách không cho xe buýt vào cửa nhà ga đón kháchnhư trước đây, do vậy chúng tôi phải đi bộ ra vành ngoài. Chúng tôi kéo valy đi ngược con dốclên đường lớn. May mà vào cái thời hiện đại này, valy, túi xách đều có bánh xe, cho nên ai nấykhỏi phải lễ mễ khuân vác, chỉ cần kéo nhẹ nhàng. Tuy vậy, gặp những đoạn đường mấp môhoặc có bậc, phải khuân lên đặt xuống, cũng toát mồ hôi. Loanh quanh mất hơn một tiếng đồnghồ mới gặp xe của Ban Tổ chức. Anh Tim tỏ ra rất băn khoăn, và ngỏ lời xin lỗi về việc này. Xechạy bon bon trong không khí đêm không mấy tĩnh lặng. Có một đoạn, xe dừng đột ngột. Ngồi
  • 8. cuối xe, không rõ điều gì xảy ra, tôi hỏi thì được biết có cảnh sát lên kiểm tra. Nhổm người lênnhìn, trong ánh đèn xe không sáng lắm, thấy một thiếu nữ mặc cảnh phục, khá trẻ, đẹp. Cô cảnhsát hỏi anh Tim Đô-ling câu gì đó, lướt nhìn chúng tôi và cười tươi tắn rồi bước xuống xe. Ma-ri-sa cho biết từ sau thảm hoạ 11 tháng 9, việc kiểm tra dọc đường như vừa rồi là chuyện thườngtình. Anh Tim thông báo ngày mai sẽ đưa chúng tôi đi tham quan Niu-Yoóc, trong đó sẽ đến cảTrung tâm Thương mại Thế giới. Cô Ma-ri-sa giới thiệu lịch làm việc, căn dặn chúng tôi phảiluôn luôn đem theo giấy tờ, vì hiện nay toàn thành phố thực hiện nghiêm ngặt chế độ kiểm tra anninh. Ngay cả trong khách sạn, chỉ những khách nghỉ tại đây mới được vào bên trong, do đó khimuốn lên thang máy thì phải trình chìa khoá phòng cho nhân viên bảo vệ. Bạn bố trí cho chúng tôi nghỉ tại khách sạn Minford Plaza, trên đại lộ 8, ngay trung tâmMan-hát-tan sầm uất nhất của Niu-Yoóc. Đập vào mắt chúng tôi khi xuống xe là bức tượngtưởng niệm những nạn nhân của thảm hoạ 11 tháng 9. Đó là bức tượng bằng đồng khá to vớihình ảnh một người lính cứu hoả trong tư thế quỳ, đầu cúi vẻ bất lực, nét mặt đau thương. Nơiđây có những bó hoa, lọ hoa, những tấm ảnh, những ngọn nến của người dân tỏ lòng thương cảmđối với những nạn nhân. Chúng tôi được dẫn đi thăm một số khu phố chính và liên tiếp các ngày sau đó được đếnlàm việc với trường Đại học Niu-Yoóc, Hội Sân khấu múa, Trung tâm văn hoá Lin-côn, Câu lạcbộ Sân khấu thể nghiệm, Trung tâm quỹ, Quỹ Tài trợ nghệ thuật Niu-Yoóc, Thư viện công cộng
  • 9. Niu-Yoóc, Bảo tàng Mỹ thuật Mêtrôpôlitan... và đi thăm thủ đô Oa-sinh-ton. Nhìn bề ngoài,cuộc sống nói chung không có gì căng thẳng. Người dân Niu-Yoóc, Oa-sinh-tơn vẫn làm ăn, đidạo, xếp hàng mua vé xem nghệ thuật, đến thư viện, thăm bảo tàng... bình thường. Thậm chí,hình ảnh Bin Lađen còn được in vào áo phông để bán thoải mái trên đường phố Oa-sinh-tơnđồng thời với hình ảnh nhân vật kẻ thù số một của chính quyền Mỹ này nằm trong vòng ngắmđược dán khắp nơi. Ở đâu cũng thấy người ta bầy bán các hình ảnh của hai toà nhà Trung tâmThương mại Thế giới dưới hình thức tranh, ảnh, mô hình... như một hoài niệm đau thương đồngthời cũng như một cơ hội kiếm tiền. Đến rất nhiều nơi, trước khi vào công sở, chúng tôi đều bịkiểm tra túi xách. Mọi người dân Mỹ khi vào các công trình quan trọng như bảo tàng, thư viện,toà tháp Empire... cũng đều bị kiểm tra như vậy. Giáo sư Mác-tin Su-lơ-man là Chủ nhiệm khoa Quản trị kinh doanh trong chương trìnhquản lý nghệ thuật của Đại học Binh-ham-tơn. Mặc dù đã 65 tuổi và chân đi hơi khập khễnh,phải chống ba toong, nhưng ông rất nhiệt tình trong vai trò hướng dẫn viên du lịch. Ông cho biếtđường mà chúng tôi đang đi là phố 42, cách đây 4 - 5 năm là phố đầy tội phạm, như ma tuý, mạidâm, nhưng từ khi có thị trưởng mới, đã được cải tạo, nhờ thế hiện nay rất lộng lẫy và có rấtnhiều bảo tàng, rạp hát. Có rạp hát mang tên hãng Hàng không Mỹ, vì do chính hãng này tài trợ.Quỹ FORD cũng tài trợ để xây dựng một Trung tâm FORD, tức là một rạp hát rất tốt. Chúng tôithấy có một đoàn người đứng xếp hàng bên kia đường. Giáo sư Mác-tin Su-lơ-man giải thích đólà những người đang mua vé vào xem nghệ thuật, mua ở đây được giảm một nửa giá và nhữngngười nghèo thường đến xếp hàng mua vé tại đây. Có một rạp hát diễn quanh năm ngày thángchỉ một vở kịch Những người khốn khổ mà đã mấy năm nay vẫn có đông người xem. Khi đi qua một trụ sở của một đội cứu hoả, chúng tôi thấy có nhiều hoa, ảnh, những mảnhgiấy có chữ viết, nến đang cháy... ở một góc tường. Đó là hình thức tưởng niệm những ngườilính cứu hoả bị tử nạn ngày 11 tháng 9 vừa qua. Một anh lính cứu hoả trẻ cho chúng tôi biết đơnvị anh mất nhiều người, chiếm một phần mười số lính cứu hoả thiệt mạng trong khi làm nhiệmvụ tại Trung tâm Thương mại Thế giơí. Chúng tôi đi thăm toà nhà Empire, toà nhà cao nhất nước Mỹ và theo lời nhà chức tráchMỹ hiện đang bị đe doạ phá huỷ. Chiếc xe chở chúng tôi tìm lối thuận tiện nhất để tới đó. AnhĐíc, người lái xe, cho biết do tình hình an ninh, mà việc đi lại của xe cộ trở nên vô cùng khókhăn. Anh than thở rằng đã phải chạy vòng vèo, len lỏi qua nhiều đường phố mới tới đón đượcchúng tôi... Tới gần toà nhà Empire thì xe phải dừng lại - để đảm bảo an ninh, người ta khôngcho các loại xe tiếp cận toà nhà. Chị Thuỷ, cán bộ Vụ Hợp tác quốc tế, cùng đi trong đoàn, ngạcnhiên vì so với trước, lượng người vào thăm toà nhà quá ít ỏi. Chị cho biết, trước đây, tại gian
  • 10. chờ này người đông tới mức nghẹt thở và muốn lên tới tầng 86 để quan sát Niu-Yoóc, ít nhấtphải xếp hàng 3 giờ đồng hồ, còn bây giờ thì người lưa thưa, chờ lên tham quan chỉ mất chừngchục phút. Mọi người phải qua khâu kiểm tra kỹ càng chẳng khác nào kiểm tra tại sân bay. Lênđến tầng 80, khi chuyển cầu thang máy, chúng tôi thấy có một tốp cảnh sát dắt chó lượn lờ quanhđoàn khách tham quan. Từ tháp cao nhìn xuống, do mù bao phủ, chúng tôi không thấy rõ khuvực toà nhà Thương mại thế giới, chỉ thấy mấy làn khói vương vấn. Cần nói ngoài lề một chút làtừ hôm tới Niu-Yoóc, quan sát nhà cửa, cách thức làm ăn, tôi thấy rõ người Mỹ rất thực dụng,tính mục đích rất cao. Có thể thấy rõ điều đó ở mọi nơi, mọi lúc: Nhà cửa rất cao, chọc trời đểtăng diện tích sử dụng, biến cả thành phố thành những thung lũng hẹp thiếu ánh nắng và rất ítkhoảng trống dành cho cây xanh, vườn hoa. Người ta chỉ quan tâm tạo hình khối và công năngcủa ngôi nhà chứ ít quan tâm đến đường nét, cũng ít quan tâm đến sự trang trí mặt tiền. Điều nàykhác hẳn với lối kiến trúc Châu Âu hay Châu Á. Tôi đã từng thấy ở Đan Mạch, khi xây lại nhà ởmặt phố, chủ nhà buộc phải lập giàn giáo chằng chống giữ nguyên mặt tiền ngôi nhà cổ, chỉ đượcphép thay đổi cấu trúc bên trong toà nhà. Hay ở Pháp, có thể nói mỗi mặt tiền toà nhà cổ là mộttác phẩm điêu khắc tuyệt mỹ. Còn ở đây, thì chủ yếu là các nhà hình hộp cao lừng lững, có khilắp kính đen xì, có khi mặt tiền bị che gần hết bởi các loại quảng cáo. Thậm chí, rất nhiều ngôinhà được lắp cầu thang sắt cạp bên ngoài tường để người trong nhà thoát hiểm khi xảy ra sự cố,trông không có chút mỹ quan nào. Đã vậy, người Mỹ lại tính toán kỹ đến nỗi chỉ làm cầu thangđó lơ lửng đến ngang sàn tầng một, khi cần sử dụng thì kéo xuống, trông cụt hẫng đến bần tiện !
  • 11. Khi tham quan xong toà tháp Empire, xuống đường, chúng tôi gặp hai quân nhân mặcquân phục Mỹ đang quay phim. Họ đạo diễn cho một tốp người đứng trước ống kính đồng thanhhô "Niu-Yoóc! Niu-Yoóc! Chúng tôi cảm ơn những người đảm bảo an ninh!" Chúng tôi cảmthấy rằng dù biện phiện pháp an ninh được tiến hành bí mật hay công khai, nhưng hình bóng củanó vẫn in đậm trong từng đường nét của cuộc sống Niu-Yoóc. Ngày cũng như đêm, chúng tôithường xuyên nghe tiếng còi hú của xe cảnh sát, xe cứu hoả hay xe cứu thương. Có hôm, vào 3giờ sáng, cả khu trung tâm Man-hát-tan náo động lên trong tiếng còi hú của xe cảnh sát và tiếngô tô chạy rầm rập. Chúng tôi mở cửa sổ ngó ra, không rõ vì sao lại huyên náo thế? Sáng dậy,thấy không khí vẫn bình thường. Hình như các lực lượng an ninh Mỹ thích hú còi, chạy xe rầmrập để phô trương thanh thế cho nên mới làm cho thành phố này luôn luôn náo động như vậy.Đường phố Niu-Yoóc trước đây thường bị ùn tắc, thì nay càng dễ ùn tắc bởi lệnh cấm đườngthường xẩy ra một cách đột xuất. Đoàn chúng tôi bị chậm đến nơi làm việc nhiều lần cũng docấm đường. Các bạn Mỹ giải thích với chúng tôi rằng cấm đường đột xuất là biện pháp gây trởngại cho bọn khủng bố, ngăn chặn việc di chuyển của chúng. Có nhiều khu vực, mọi người đềuphải gửi xe ô tô ở vòng ngoài, chỉ được đi bộ vào mà thôi. Đặc biệt, các khu vực quan trọng đềubị cấm. Không ai được đến gần khu vực Lầu Năm góc. Cũng do các biện pháp an ninh quá ngặtnghèo mà người ta đã không cho khách lên đảo để tham quan tượng Nữ thần Tự do như trước.Ban Tổ chức bù lại bằng cách bố trí chúng tôi đi phà vòng quanh đảo để ngắm bức tượng nổitiếng ấy từ xa. Gió thổi lồng lộng khiến chúng tôi ớn lạnh. Sóng nước miên man, mây xám cuồncuộn và những cánh chim mòng biển dập dìu trong không trung càng tôn vẻ uy nghi cuả Nữ thầnTự do và gợi nên cảnh thanh bình... Có lẽ người Mỹ quá cẩn trọng hoặc cố tình làm ra cẩn trọngđể thu hút sự chú ý và "thông cảm" của thế giới, cho nên đã làm cho du khách mất một chuyếnviếng thăm thú vị là chui vào "bụng" Nữ thần Tự do mà xem một bảo tàng về lịch sử nước Mỹ.Cũng có lẽ do sự tuyên truyền thái quá về nạn khủng bố trên đất Mỹ, mà lượng người đến thămHoa Kỳ giảm hẳn đi. Các bạn Mỹ cho biết sau thảm hoạ 11 tháng 9, ngành du lịch giảm khoảng40% lượng du khách. Giáo sư Mác-tin Su-lơ-man nói rằng có rất nhiều chương trình làm việcgiữa người nước ngoài với Mỹ bị huỷ bỏ, nhưng đoàn Việt Nam vẫn giữ kế hoạch đến Mỹ, khiếncác bạn hết sức cảm động, nhiều người, trong đó có cả các nhân viên an ninh, còn tỏ ra vô cùngkinh ngạc. Vì chương trình làm việc tại Niu-Yoóc khá dầy đặc, chúng tôi chỉ có thời gian một ngàythăm thủ đô Oa-sinh-tơn. Xuất phát từ 5 giờ 30 sáng, xe chúng tôi bon bon trên đường cao tốcrộng và nhẵn với 4 đến 6 làn đường. Phải nói người Mỹ rất biết bảo vệ thiên nhiên của mình, chonên dọc đường xe là những cánh rừng nối dài, lá xanh, lá đỏ, lá vàng rực rỡ như bức tranh sơndầu khổng lồ. Biết giữ thiên nhiên cho mình nhưng Mỹ không hề quan tâm đến môi trườngchung của cả thế giới. Mỹ là nước chiếm một phần tư lượng khí thải công nghiệp trên toàn thế
  • 12. giới, nhưng vào đầu năm nay, Tổng thống Busơ đã tuyên bố Mỹ rút khỏi Nghị định thư Ki-ô-tôvì cho rằng Nghị định này không công bằng và gây thiệt hại cho các nhà sản xuất ở Mỹ. Chẳngqua, Nghị định này quy định các nước công nghiệp phải giảm lượng khí thải do hoạt động sảnxuất công nghiệp, trong đó giảm khí thải độc hại carbon dioxide xuống mức trung bình 5,2% từnăm 1990 đến năm 2012. Thế là Mỹ tự cho phép mình tha hồ "bĩnh" chất thải độc hại vào khôngkhí, mặc cho hàng trăm nước khác đang ra sức giảm thiểu sự đầu độc môi trường do sản xuấtcông nghiệp gây ra. Dọc đường xe có những trạm bán xăng cùng với cửa hàng điểm tâm, giải khát. Đi đượcgần nửa đường, xe ghé vào một trạm để đổi lái xe. Ở Mỹ, có quy định lái xe chở khách khôngđược phép chạy liên tục nhiều giờ cho nên có những trạm để lái xe chờ thay ca. Một lái xe đãcứng tuổi, cao to, xách túi từ trong một căn phòng nhỏ của ngôi nhà trệt đi ra, lên xe, và lái xecủa chúng tôi xách túi, vào thế chỗ ở căn phòng đó. Anh ta sẽ nghỉ ngơi, chờ đến khi xe chúngtôi quay lại, sẽ lại lái xe về Niu-Yoóc. Xe chạy tới sông Pô-tô-mác, dòng sông êm ả trải rộngtrước mắt khiến tôi nhớ tới hồi Mỹ còn tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, có anh Mô-ri-xơn, công dân nước Mỹ, đã tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh đó, và nhà thơ Tố Hữu củachúng ta đã có bài thơ về anh với dòng sông Pô-tô-mác này. Ngày nay, Mỹ tiến hành chiến tranhở Áp-ga-nit-xtan, lại xuất hiện những người Mỹ yêu hoà bình, phản đối chiến tranh. Trên đườngphố Oa-sinh-tơn, tôi đã nhìn thấy một đoàn người đi bộ căng biểu ngữ đòi Mỹ chấm dứt némbom Áp-ga-nitx-tan. Nhìn chung, cảnh sắc Oa-sinh-tơn êm ả hơn Niu-Yoóc: nhà thưa hơn, thấphơn, nhiều cây và những khoảng trống, cùng sông, hồ, đỡ huyên náo và ngột ngạt. Có những hồnước mênh mông gợn sóng, những bãi cỏ xanh rì, những vườn cây toả bóng mát và những chúsóc xuống tận bãi cỏ nhảy nhót. Người dân vẫn bình thản đi dạo trên đồi Ca-pi-tơn, thăm khutưởng niệm Lin-côn, thăm các bảo tàng, thăm nhà Quốc hội. Chỉ có lực lượng an ninh là làmviệc căng thẳng. Hồi nãy, gần với khu đồi Ca-pi-tơn, tôi thấy hai xe cảnh sát chạy ép một xe dânsự vào vệ đường, lôi ra hai người đàn ông mặc quần áo đen, còng tay và đẩy ngã dúi xuống bãicỏ. Không rõ hai người đó phạm tội gì, hay chỉ là kẻ bị tình nghi?
  • 13. Dọc các phố, chỗ nào cũng thấy xe cảnh sát và từng tốp cảnh sát trang bị súng ống, máybộ đàm làm nhiệm vụ. Đặc biệt khu vực Lầu Năm góc bị phong toả bởi lực lượng quân đội, cảnhsát, cho nên chúng tôi chỉ được quan sát từ xa, thấy một góc nhà đen xạm. Tại khu vực NhàTrắng, lực lượng cảnh sát được bố trí dầy hơn và mọi người chỉ được quan sát Nhà Trắng từngoài rào, không được vào tận nơi như trước đây. Khu vực nhà Quốc hội khá vắng. Nhà Quốchội đang đóng cửa do chính quyền Mỹ tuyên bố có bệnh than thâm nhập. Tuy vậy, những ngườiđến thăm nhà Quốc hội vẫn vào sát toà nhà vãn cảnh và chụp ảnh. Có một tốp nghệ sĩ nào đó còndăng máy phóng thanh, hát hò ngay sân trước sảnh nhà Quốc hội. Thế mà qua các phương tiệntuyên truyền, chính quyền Mỹ đang gây cảm giác cho thế giới là nhân dân Mỹ đang hoảng loạntrong chiến dịch khủng bố bằng sinh học! Không, bệnh than không hoành hành dữ dội nước Mỹnhư người Mỹ công bố, đó chỉ là lối tuyên truyền khuyếch đại nhằm hướng dư luận vào nướcMỹ, lo ngại cho nước Mỹ mà quên mất nhân dân Áp-ga-nít-xtan đang xương tan thịt nát dướibom đạn của Mỹ. Thử so sánh con số 2 người Mỹ chết vì bệnh than với trên một nghìn ngườidân Áp-ga-nitx-tan chết vì bom đạn Mỹ trong cùng một thời gian, con số nào gây khủng khiếphơn? Lẽ nào một mạng người Mỹ lại giá trị gấp cả trăm lần mạng người Áp – ga – nix – tan? Chúng tôi đến thăm khu tưởng niệm lính Mỹ chết ở Việt Nam và ở Triều Tiên. Tới tậnngày hôm nay, tôi vẫn thấy nhiều người Mỹ đến dò tìm những dòng tên trên bảng đá ghi danh
  • 14. lính Mỹ tử trận tại Việt Nam, trong đó có một phụ nữ luống tuổi chăm chú áp mảnh giấy trênmột hàng chữ và chà bút chì để in lại tên một lính Mỹ nào đó. Xong việc, bà ngồi xuống, nângniu mảnh giấy, mắt rưng rưng lệ. Không hiểu người chết được ghi tên trên bảng đá lạnh lùng kiacó quan hệ gì với bà và tại sao bây giờ bà mới tới thăm viếng anh ta được? Chính quyền Mỹ cóbiết rằng, trong lúc tiến hành chiến tranh xâm lược, gieo đau thương tang tóc cho các dân tộckhác, thì đồng thời cũng là gieo đau thương, tang tóc cho chính nhân dân nước mình? 3. Thăm một số cơ sở văn hoá Người Mỹ vẫn tự hào nói rằng Niu-Yoóc là trung tâm văn hoá thế giới. Tại Niu-Yoóc córất nhiều công trình văn hoá tiêu biểu, nhiều cơ sở văn hoá lớn, nổi tiếng thế giới, như Trung tâmVăn hoá Lin-Côn, Bảo tàng mỹ thuật Mêtrôpôlitan, Thư viện công cộng Niu-Yoóc, dàn nhạcgiao hưởng Niu-Yoóc, trường đại học Niu-Yoóc... Đi thăm các cơ sở văn hoá này, có thể thấymột phần chiều sâu văn hoá Mỹ và các phương thức hoạt động văn hoá mang tính năng động, cóhiệu quả của người Mỹ. Trường đại học Niu-Yoóc Nơi chúng tôi đến làm việc đầu tiên và nhiều lần là Trường đại học Niu-Yoóc. Cũng nhưhầu hết các trường học, trụ sở ở Niu-Yoóc, Trường đại học Niu-Yoóc nằm trong một khối nhàlớn nhiều tầng. Khách vào làm việc với trường đều được đăng ký trước và được làm thủ tụcnhanh chóng khi qua bộ phận an ninh. Căn phòng mà các bạn Mỹ tiếp chúng tôi có kiến trúc dởcổ dở kim, không có chút gợi cảm thẩm mỹ nào. Nhưng những chủ nhân của nó thì lại tạo ấntượng tốt đẹp cho chúng tôi từ đầu. Cùng với các bạn ở quỹ FORD, trường cử hai nữ giáo sư tiếpchúng tôi, đó là giáo sư Branwi và giáo sư Sandra Lang. Giáo sư Mác-tin Su-lơ-man, chủ nhiệm khoa Quản trị kinh doanh, trình bầy về vấn đềquản lý nghệ thuật, về các tổ chức tài trợ cho văn hoá tại Niu-Yoóc, chương trình làm việc củađoàn tại Niu-Yoóc và cho biết tất cả các nơi mà đoàn đến tham quan, làm việc đều chờ đón đoànvới tình bạn, với lòng mong muốn hợp tác, mở rộng quan hệ trên phạm vi toàn cầu. Giáo sư nhấnmạnh rằng chúng tôi chỉ nên tham khảo những kinh nghiệm hoạt động về văn hoá tại Niu-Yoócchứ không nên áp dụng máy móc vào công việc của mình, bởi vì sáng kiến đầu tiên là lấy đượcmột ý tưởng chứ không phải là làm theo những kinh nghiệm. Tôi quan tâm nhiều đến trường đại học Niu-Yoóc ở chỗ trường có những chương trình vềquản lý nghệ thuật ở cả bậc đại học và trên đại học với 3 bộ môn: Quản lý nghệ thuật biểu diễn,Quản lý mỹ thuật, Quản lý âm nhạc. Mô hình về đào tạo cán bộ quản lý văn hoá nghệ thuật như
  • 15. vậy từ bậc đại học trở lên, ở Việt Nam chưa có. Tài liệu của Quỹ FORD giới thiệu về trường đạihọc Niu-Yoóc như sau: "Từ năm 1978, chuơng trình Quản lý Mỹ thuật bắt đầu tồn tại như một thực thể riêng biệtvà là chương trình đầu tiên của Hoa Kỳ tập trung đặc biệt vào những cơ hội trong mỹ thuật, trongcũng như ngoài phạm vi của bảo tàng mỹ thuật và phòng triển lãm. Nhận thức rõ những ảnhhưởng văn hoá và kinh tế của mỹ thuật đối với xã hội ở tầm quốc gia và quốc tế, chương trìnhnày đào tạo ra các nhà quản lý có khả năng điều chỉnh để phù hợp với những đòi hỏi luôn thayđổi trong lĩnh vực này. Các bảo tàng mỹ thuật và phòng triển lãm ngày nay giới thiệu những ýtưởng về các trách nhiệm giáo dục và trách nhiệm xã hội. Sự tham gia của các tổ chức mỹ thuậtgắn với các hoạt động thu thập các giá trị truyền thống và tài trợ triển lãm cũng như các chươngtrình sáng tạo nghệ thuật trong và ngoài cơ cấu tổ chức. Các triển lãm mỹ thuật, các nhà bán đấugiá và các chuyên gia tư vấn độc lập cũng có ảnh huởng ngày càng nhiều đến mỹ thuật. Khi cácđơn vị và các công ty tìm đến mỹ thuật để tập trung vào các mục đích và nguyện vọng của cộngđồng thì việc quản lý mỹ thuật trở thành một sức mạnh giáo dục trong xã hội, giúp hình thànhnhững giá trị văn hoá. Chương trình nhấn mạnh sự cân bằng giữa sự hiểu biết một cách toàn diệnvề mỹ thuật, những ý tưởng và những lực lượng có thể làm ảnh hưởng đến chúng, và phát triểnquản lý một cách sắc bén, các kỹ năng tiếp thị và tài chính. Việc nghiên cứu sâu hơn về cácphương tiện truyền thống luôn được kết hợp với việc xem xét đến các phương tiện và công nghệmới có thể đưa các tổ chức mỹ thuật tiến vào thế kỷ 21. Chương trình cũng coi trọng sự kết hợpchặt chẽ giữa lý thuyết với thực hành. Chương trình quản lý mỹ thuật trước hết hướng sinh viêntới phần phi lợi nhuận trong lĩnh vực mỹ thuật. Đối với những ai quan tâm đến thị phần mangtính thương mại, chương trình cũng cung cấp phần học tập trung vào thương mại. Kể từ năm1990, chương trình đổi mới đầu tiên đã được cơ cấu lại và tập trung giảng dạy cho sinh viênnhững kiến thức cần thiết để có thể cạnh tranh trong một thị trường vì lợi nhuận, phù hợp vớinhững người môi giới, những giám đốc triển lãm mỹ thuật, các nhà tư vấn, và các tổ chức bánđấu giá. Cũng từ năm 1978, tồn tại với tư cách một chương trình riêng biệt, chương trình quản lýnghệ thuật biểu diễn đào tạo những người đang và sẽ làm công tác quản lý của các tổ chức nghệthuật biểu diễn tại Hoa Kỳ và nước ngoài. Chương trình bao gồm các khoá học, những đề án đặcbiệt được xây dựng cho quản lý nghệ thuật, trong các lĩnh vực quản lý nghệ thuật, phát triểnnghệ thuật, tiếp thị nghệ thuật biểu diễn, luật và nghệ thuật, thống kê, các khoá học về thị trường,thương mại, về kinh tế, kế toán, khoa học hành vi và tiếp thị. Nhà trường còn tổ chức cho sinhviên đang theo học chương trình thạc sĩ tham gia những hội thảo định kỳ nhằm nâng cao kỹ năngvề quản lý nghệ thuật. Một phần bắt buộc của chương trình học tập là đi thực tập với những nhà
  • 16. quản lý nghệ thuật hàng đầu. Trong những năm gần đây, với những khoản tiền lương không đángkể, sinh viên được đi thực tập dưới sự hướng dẫn của các giám đốc của nhiều đơn vị nghệ thuậtnổi tiếng như Carnegie Han, Liên hoan Xếch-xpia, Nhạc Viện Brôkin, Câu lạc bộ sân khấu Man-hát-tan và Tổ chức Quốc gia trợ vốn cho Nghệ thuật. Thêm vào đó, những giảng viên thỉnh giảngvà những người có năng lực trong lĩnh vực này thường xuyên đến nói chuyện tại các diễn đàn dotrường tổ chức". Các giáo sư của trường đại học Niu-Yoóc còn giới thiệu với chúng tôi sự phối hợp của nhàtrường với các cơ sở đào tạo khác để đào tạo những nhà quản lý nghệ thuật và nhấn mạnh rằng,người Mỹ coi quản lý nghệ thuật cũng là một nghề, cần được đào tạo cơ bản, không những vậy,còn phải được đào tạo ở trình độ cao. Chương trình Thạc sĩ về quản lý nghệ thuật được xây dựngtừ sự kết hợp những lĩnh vực mạnh nhất của trường Đại học Car-ni-giơ Melơn, Đại học Mỹ thuật(CFA) và trường Chính sách và Quản lý Nhà nước. Chương trình này giúp cho sinh viên quenvới môi trường hoạt động thực tế của các tổ chức nghệ thuật. Chương trình này được thành lậptrên cơ sở niềm tin rằng tất cả các chức năng quản lý hành chính được sử dụng để phục vụ cho lýdo tồn tại của các tổ chức nghệ thuật. Chương trình này cũng nhấn mạnh đến việc cần thiết luônphải tập trung vào đào tạo để đáp ứng được nhiệm vụ và nhu cầu của các nghệ sĩ. Và bởi vì cácnhà quản lý phải là những người toàn diện, chương trình có tính chuyên môn và phân tích cao,rất cần thiết cho các vị trí lãnh đạo trong cộng đồng và các tổ chức không nhằm mục đích lợinhuận. Chương trình đào tạo Thạc sĩ về quản lý Nghệ thuật rất linh hoạt, cho phép sinh viên tậptrung vào những lĩnh vực đặc biệt mà mình yêu thích thông qua các môn học bắt buộc hoặckhông bắt buộc, các chương trình thực tập nội trú và các chương trình hỗ trợ. Toàn bộ chươngtrình giáo dục quản lý nghệ thuật đều được rút ra từ kinh nghiệm thực tế. Các bài tập tình huống,dựa trên những vấn đề mà các tổ chức nghệ thuật tranh cãi nhiều, được sử dụng làm cơ sở choviệc phân tích và thảo luận trong lớp học. Giữa năm thứ nhất và năm thứ hai, các sinh viên phảihoàn thành đợt thực tập mùa hè của mình, cho phép họ ứng dụng những kỹ năng quản lý đượchọc trong năm thứ nhất. Trong năm thứ hai, nhiều sinh viên ngoài việc học tập trên lớp còn thamgia chương trình hỗ trợ trong lĩnh vực mà họ đã chọn là nghề nghiệp tương lai của mình. Cácsinh viên sau khi tốt nghiệp được trang bị cách quyết định và tìm những giải pháp đảm bảo chohọ có thể đương đầu với những thách thức và nắm bắt cơ hội để nhanh chóng thành công vàthăng tiến trong công việc. Đối với những người đã có kinh nghiệm làm việc trước đó, chươngtrình thạc sĩ quản lý nghệ thuật chuẩn bị cho họ có thể đạt được một chức vụ quản lý cao hơntrong nghệ thuật. Dù là học sinh chưa bao gìơ đi làm hay đã có kinh nghiệm làm việc rồi, thì mọisinh viên khi tham gia chương trình đào tạo này đều trông đợi có được những kinh nghiệm đầythử thách nhưng cũng rất quý báu, sẽ cho phép họ trong tương lai tham gia vào việc hình thànhcộng đồng nghệ thuật của ngày mai. Chỉ có một cơ sở, nhưng chương trình này vẫn được cả
  • 17. nước biết đến và liên hệ thông qua các buổi hội thảo và nhờ vào Uỷ ban Cố vấn những nhà quảnlý nghệ thuật hàng đầu trong cả nước. Hơn nữa, các giảng viên của chương trình này còn phụcvụ cho các hội đồng và các ban của khu vực, quốc gia và quốc tế, bao gồm Hội đồng Nghệ thuậtQuốc gia, Hiệp hội những nhà quản lý nghệ thuật và văn hoá quốc tế, Hội đồng Nghệ thuậtPenxilvania. Các giảng viên thỉnh giảng từ khắp nơi trên cả nước cũng bổ sung thường xuyêncho chương trình giảng dạy. Những liên lạc dặc biệt của trường Đại học Mỹ thuật với các ngànhnghệ thuật cung cấp cho sinh viên thạc sĩ quản lý nghệ thuật cơ hội tham gia nhiều hơn vào hoạtđộng nghệ thuật trong nước và quốc tế. Chương trình này còn phục vụ như một mạng thông tinvô giá cho sinh viên tìm kiếm những chương trình thực tập nội trú, việc làm ổn định và cố vấncho sinh viên. Tôi nhận thấy việc đào tạo những nhà quản lý nghệ thuật là một điều mới mẻ đối với nướcta. Chúng ta chưa thực sự quan tâm đào tạo ra những nhà quản lý mà mới quan tâm đạo tạo ranhững người làm nghề chuyên môn trong văn hoá nghệ thuật, hoặc những nhà chính trị. Cáckhoá học bắt buộc của trường đại học Mỹ thuật có những nội dung tối cần thiết cho người quảnlý nghệ thuật mà chúng ta cần tham khảo gồm: Những nguyên tắc của quản lý nghệ thuật, Tiếpthị nghệ thuật, Gây quỹ cho các nhà quản lý nghệ thuật, Quản lý nguồn nhân lực cho nghệ thuật,Luật và nghệ thuật, Quản lý nghệ thuật biểu diễn hoặc quản lý Mỹ thuật, Phân tích kinh tế ứngdụng, Các phương pháp rút ra từ thực tế về chính sách và quản lý nhà nước, Phân tích tài chính,Hệ thống thông tin quản lý, Quản lý trong một xã hội đa văn hoá, Kỹ năng nói chuyện chuyênnghiệp, Kỹ năng viết chuyên nghiệp, Tổng hợp hệ thống. Bên cạnh đó, còn có các khoá họckhông bắt buộc nhưng lại được các sinh viên hay chọn: Nghệ thuật trong xã hội, Ngân sách vàđiều hành quản lý, Khoa học quản lý, Marketing, Đa truyền thông, Thương thảo, Chính sách vàChính trị, Các hội thảo trong thực hành chuyên nghiệp... Chỉ điểm qua đầu mục những môn học,cũng thấy đây là một biển kiến thức và phương pháp mênh mông còn khá xa vời với việc đào tạocán bộ văn hoá ở nước ta. Qua giới thiệu của các giáo sư đại học Niu-Yoóc, chúng tôi được biết đến một tổ chức kháđặc biệt của Mỹ, đó là Hiệp hội các nhà giáo dục quản trị nghệ thuật (AAAE), một tổ chức quốctế hoạt động không vì lợi nhuận ở Mỹ. Nhiệm vụ của Hiệp hội là tổ chức các chương trình đàotạo cao đẳng, đại học và sau đại học về quản trị nghệ thuật, bao gồm đào tạo quản lý mỹ thuật,nghệ thuật biểu diễn, văn học, báo chí, và quản lý các tổ chức dịch vụ văn hóa nghệ thuật. Ra đờinăm 1975, Hiệp hội được thành lập để cung cấp một diễn đàn thông tin giữa các thành viên và đểhỗ trợ cho việc đào tạo chính thức và các tiêu chuẩn giáo đục cao cho các nhà quản lý nghệ thuật.Hơn thế, Hiệp hội còn khuyến khích các thành viên theo đuổi, xuất bản, tiến hành và công bố cácnghiên cứu về quản lý và quản trị nghệ thuật nhằm tăng cường hiểu biết về các vấn đề quản lý
  • 18. nghệ thuật trong các lĩnh vực học tập và công tác. Việc công nhận quản lý nghệ thuật cũng làmột nghề đang là một xu hướng phát triển trong thời gian gần đây. Hiệp hội tin rằng giáo đụcbậc cao vẫn là cách thức đúng đắn để đáp ứng được những đòi hỏi này cũng như những yêu cầuhiện tại và trong tương lai của nghệ thuật. Các đơn vị nghệ thuật có thể tham gia vào Hiệp hộivới các chương trình đào tạo đại học về quản trị nghệ thuật. Các đơn vị quan tâm đến việc tổchức các chương trình tương tự như vậy, cá nhân vì lí do nghề nghiệp, sở thích, lý tưởng hoặcnhững lý do khác nếu có mong muốn cũng có thể tham gia liên kết với Hiệp hội và chia sẻ côngviệc của tổ chức này. Hiệp hội tổ chức hội nghị thường niên cho các thành viên, sinh viên, cácnhà quản lý nghệ thuật, và bất cứ ai quan tâm đến việc phát triển của lĩnh vực này. Hội nghị năm2001 được tổ chức ở Brisbane, Úc. Cuốn Hướng dẫn đào tạo và nghiên cứu quản trị nghệ thuậtcủa Hiệp hội được xuất bản nhằm kết nối sinh viên giỏi có quan tâm đến nghề quản lý nghệ thuậtvà các tổ chức nghệ thuật với nhau. Hiệp hội các nhà giáo dục quản trị nghệ thuật được điềuhành bởi một ban giám đốc bao gồm các trưởng bộ môn là thành viên đầy đủ hoặc những ngườido họ chỉ định, hoạt động theo điều luật đã quy định. Ban điều hành này sẽ được bầu vào cuộchọp thường niên theo biểu quyết đa số của các thành viên đầy đủ. Các cán bộ do Ban giám đốccử ra. Trung tâm quỹ Tiếp chúng tôi tại Trung tâm quỹ là một người đàn ông xương xương, đeo kính cận, vẻhoạt bát. Đó là thủ thư cao cấp Bruc-Gum. Nhanh chóng vào việc, anh bật máy vi tính, truy cậpmạng và hướng dẫn chúng tôi về website của Trung tâm đang hiện trên màn hình lớn phía trướcchúng tôi. Trang web này giới thiệu chi tiết về Trung tâm, hoạt động của nó và về những quỹ hỗtrợ nghệ thuật. Trung tâm Quỹ là một tổ chức dịch vụ quốc gia độc lập được thành lập bởi cácquỹ vào năm 1956. Theo tài liệu của Quỹ FORD thì đây là tổ chức hàng đầu ở Mỹ về tài trợ củacác tổ chức và chuyên phục vụ cho những người tìm kiếm tài trợ, những nhà tài trợ, nhà nghiêncứu, các nhà hoạch định chính sách, giới truyền thông và công chúng. Nhiệm vụ của Trung tâmQuỹ là hỗ trợ và đẩy mạnh hoạt động hảo tâm của các tổ chức thông qua quỹ, việc nâng cao hiểubiết của công chúng về lĩnh vực này và giúp đỡ những người tìm kiếm tài trợ thành công. Để làmđược điều này, Trung tâm thu thập, tổ chức và truyền bá thông tin về hoạt động tài trợ ở Mỹ; tiếnhành và hỗ trợ công tác nghiên cứu về các xu hướng phát triển trong lĩnh vực này; cung cấp giáodục đào tạo về quá trình tìm kiếm tài trợ, và giúp công chúng có thể tiếp cận với thông tin vàdịch vụ qua trang Web của Trung tâm, thông qua các ấn phẩm, thông qua 5 thư viện hoặc trungtâm học tập, và thông qua một mạng lưới các sưu tập hợp tác trên toàn quốc. Một trong nhữngnhiệm vụ của Trung tâm là cung cấp thông tin và những tham khảo chuyên môn cho công chúngtại 5 thư viện của Trung tâm Nghệ thuật với hơn 200 tổ chức khác trên cả nước.
  • 19. Ngay bên cạnh phòng mà chúng tôi ngồi nghe thuyết trình là một thư viện của Trung tâm.Phòng đọc của thư viện này trang bị khoảng hai chục máy vi tính có kết nối mạng. Chúng tôithấy máy nào cũng có người ngồi tra cứu thông tin. Giống như 4 thư viện khác của Trung tâm,phòng đọc này mở cửa miễn phí, cho phép độc giả truy cập vào một bộ sưu tập độc đáo các tàiliệu về các hoạt động hảo tâm. Các thủ thư với khả năng chuyên môn cao luôn có mặt để giúpngười sử dụng biết cách nghiên cứu về công tác tài trợ thông qua các ấn phầm của Trung tâm vàcác nguồn thông tin in và điện tử khác, bao gồm những mẫu đơn xin tài trợ, sách và những xuấtbản định kỳ về quản lý tài trợ từ thiện và phi lợi nhuận, báo cáo hàng năm của quỹ và báo cáo vềviệc tài trợ của các công ty, các website và các tài liệu khác tập trung vào hoạt động từ thiện. Trung tâm Quỹ cung cấp các chương trình đào tạo miễn phí hoặc chỉ phải chịu chi phí cơbản về nghiên cứu tài trợ, giới thiệu cho các nhà tài trợ và các khoản tài trợ của họ và các chủ đềcó liên quan ở cả 5 văn phòng của Trung tâm cũng như ở các địa điểm khác, bao gồm: Cơ sở đểtìm kiếm tài trợ, một tài liệu miễn phí ra hàng tuần về quá trình nghiên cứu tài trợ dành cho cáctổ chức phi lợi nhuận; các chương trình miễn phí về tài trợ của các công ty, cách sử dụng hữuhiệu các nguồn thông tin trên mạng, giới thiệu cách tra cứu nhanh thông tin, cách viết thư xin tàitrợ, tìm kiếm tài trợ dành cho cá nhân, danh sách các nhà tài trợ, phim về việc gây quỹ. v.v. Trung tâm Quỹ xuất bản Niên giám các Quỹ - một tài liệu tham khảo kinh điển dành chonhững người tìm kiếm tài trợ, hiện đã có trên CD-ROM, trên mạng và sách in, cùng với khoảng50 niên giám, hướng dẫn và báo cáo khác. Khả năng chuyển tải thông tin của trang web do trung tâm điều khiển làm cho tôi thật sựkhâm phục. Được cập nhật và được mở rộng hàng ngày, trang web của Trung tâm Quỹ(http://www.fdncenter.org) nhấn mạnh và phân tích các xu huớng tài trợ gần nhất, cung cấp danhsách các nhà tài trợ hàng đầu, thông tin về các chương trình đào tạo do Trung tâm tài trợ và cáchội thảo, cung cấp khả năng truy cập dễ dàng vào một loạt các nguồn gây quỹ trên mạng, baogồm: Điểm tin từ thiện - một dịch vụ thông tin hàng tuần với các bài viết liên quan đến từ thiện;Niên giám trên mạng của trung tâm - một dữ liệu đáng tìm kiếm về 10.000 Quỹ lớn nhất ở Mỹ;nối mạng với hàng trăm trang web của các nhà tài trợ và các trang web của các tổ chức phi lợinhuận khác. Trung tâm Quỹ còn cung cấp thư viện ảo trên mạng (http://www.fdncenter.org/onlib/) màai cũng có thể truy cập chỉ với một máy vi tính có nối mạng lnternet. Các ứng dụng trên thư việnảo này bao gồm: Trả lời ngay những câu hỏi bằng E-mail, Công cụ tìm kiếm Quỹ (một công cụtra cứu miễn phí với thông tin cơ bản về 50.000 nhà tài trợ Mỹ), các khoá học ngắn hạn về viết
  • 20. thư xin tài trợ, giới thiệu về quá trình tìm kiếm tài trợ, Tài liệu trên mạng về khu vực phi lợinhuận (một dữ liệu với nhiều thư mục về 18.000 đoạn trích dẫn, có nhiều bản tóm tắt), và Kệsách trên mạng (một phiên bản tóm tắt của những chuyên khảo quan trọng của Trung tâm về gâyquỹ và quản lý phi lợi nhuận). Trong khi giới thiệu về các ấn phẩm và website của Trung tâm, viên thủ thư cao cấp nàynhắc đi nhắc lại là các CD-ROM do Trung tâm xuất bản và phát hành có giá rất đắt, chỉ nhữngtrường học hoặc các cơ quan lớn cần sử dụng cho nhiều người khai thác mới mua, còn nhữngngười khác nên truy cập những thông tin có trong CD-ROM này qua mạng ở 1 trong 200 điểmtruy cập miễn phí được bố trí trên nhiều địa điểm thuộc nước Mỹ. Thấy cách thức tổ chức thôngtin trên CD-ROM này quá hay, tôi định mua một đĩa về cho anh em kỹ sư tin học của cơ quan tôitham khảo, thì thủ thư cao cấp nhắc lại rằng giá nó rất cao, và muốn mua thì cần đến nơi bán - đólà một quầy nhỏ nằm trong thư viện ở ngay gian nhà bên cạnh. Nghĩ rằng một CD-ROM đắt lắmcũng vài ba trăm USD là cùng, khi tham quan thư viện, tôi tạt vào quầy bán ấn phẩm, và giậtmình trước biển giá CD-ROM: 1.150 USD/1 đĩa! Giá truy cập mạng để khai thác thông tin nàycũng không phải rẻ: 150 USD một tháng! Như thế, phát hành CD-ROM và tổ chức dịch vụ cungcấp thông tin trên mạng cũng là một nguồn thu không nhỏ của Trung tâm. Và như thế, nội dungthông tin trên mạng được "bán" với giá rất cao, trong khi đó tiền chi cho việc truy nhập mạng lạirất thấp. Điều đó trái ngược với thực trạng In-tơ-nét ở nước ta: các nhà cung cấp thông tin (ICP)không những không thu được tiền mà còn phải nộp tiền thuê đường truyền, và bao nhiêu lợi lộcthu được từ việc truy cập mạng khai thác thông tin đều đổ dồn vào ngành Bưu điện! Có điềuđáng chú ý là các khoản thu này cũng như những lợi tức thu được qua các dịch vụ khác như bánhàng lưu niệm, bán đồ ăn uống mà Trung tâm quỹ cũng như các tổ chức văn hoá khác thực hiện,đều được miễn thuế. Tôi cũng rất ngạc nhiên khi biết rằng để tiến hành hàng loạt những công việc như trên,Trung tâm quỹ chỉ có 5 người! Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc (NVFA) Nằm ở tầng 14, số nhà 155 Đại lộ Châu Mỹ, Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc có những phònglàm việc không rộng rãi lắm. Đón tiếp chúng tôi là ông Thaođơ S. Bơ-gơ, Giám đốc điều hànhcủa Quỹ. Ông giới thiệu với chúng tôi rất chi tiết về quỹ, đồng thời có những lời tâm sự rất chântình. Theo tài liệu của Quỹ FORD và của ông Giám đốc, Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc được thànhlập năm 1971 bởi Hội đồng Nghệ thuật Bang Niu-Yoóc như một tổ chức độc lập nhằm hỗ trợ sự
  • 21. phát triển của các hoạt động nghệ thuật trên toàn bang. Từ đầu, quỹ đã hoạt động như một tổchức phát triển sáng tạo, là chất xúc tác, cổ xuý và là lò phát triển chương trình và tài chính trongnghệ thuật. Ngày nay, nó phục vụ cho các nghệ sĩ độc lập, khuyến khích sự tự do phát triển vàsáng tạo của họ, cũng như tạo cơ hội cho công chúng được thưởng thức và am hiểu về nghệthuật. Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc đạt được điều này thông qua việc hỗ trợ về tài chính và thôngtin cho các nghệ sĩ và các tổ chức phục vụ trực tiếp các nghệ sĩ, thông qua việc hỗ trợ cho cáchoạt động nghệ thuật ở cộng đồng, và thông qua việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác vớinhững tổ chức vì nghệ thuật khác ở bang Niu-Yoóc và trên cả nước. Suốt quá trình hoạt động, với tư cách là một tổ chức trung gian trong lĩnh vực, Quỹ Nghệthuật Niu-Yoóc đã tìm ra nhiều phương cách để phát triển và cung cấp tài trợ, tái tài trợ, cho vay,cũng như các dịch vụ hỗ trợ tài chính và thông tin khác để đáp ứng những yêu cầu đa dạng luônthay đổi của cộng đồng nghệ thuật đa dạng và luôn biến động. Thông qua các chương trình thôngtin giáo dục, Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc luôn tìm kiếm các cách thức hữu hiệu hơn để mở rộng sựtham gia trong tất cả các ngành nghệ thuật, cũng như mở rộng sự hiểu biết của cả khán giả lẫnđông đảo công chúng về vai trò của các nghệ sĩ và các tổ chức nghệ thuật trong đời sống, trongcộng đồng của họ, cũng như trong xã hội nói chung. Buổi đầu, Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc chỉphục vụ cho bang Niu-Yoóc, nhưng dần dần đã phối hợp và mở rộng tầm hoạt động ra phạm vivùng, quốc gia và thậm chí cả ở tầm quốc tế. Trong các năm 1973-1974, Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc khởi xướng một dự án thí điểm kéodài một vài năm và sau đó được công nhận trên toàn quốc với tên gọi chương trình Nghệ sĩthường trú, hỗ trợ cho việc đưa chương trình này vào dạy ở các trường và các cộng đồng trongtoàn bang. Ngày nay chương trình này vẫn tiếp tục với tên gọi Nghệ sĩ trong môi trường sưphạm, một phần của chương trình giáo đục đa dạng và toàn điện. Các chương trình giáo dục củaQuỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc phát triển lên và bao gồm cả việc hoạt động như một lò luyện cho mộtsố ngành nghệ thuật quan trọng cũng như một số đơn vị nghệ thuật. Sự tham gia vào việc phát triển một loạt phong trào nghệ thuật và các tổ chức nghệ thuậtđã trở thành một trong những chương trình của Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc. Năm 1984, QuỹNghệ thuật Niu-Yoóc được Hội đồng nghệ thuật bang Niu-Yoóc chọn để quản lý Chương trìnhhọc bổng cho nghệ sĩ trên toàn quốc, và quản lý phần dịch vụ công cộng của quỹ mang tên nghệsĩ và khán giả. Chương trình kể từ khi được mở rộng đã tài trợ trực tiếp cho nghệ sĩ bang Niu-Yoóc trong 16 môn nghệ thuật. Trong gần 20 năm qua, Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc đã phát triểnrất nhiều chương trình tài trợ và tái tài trợ cho cá nhân các nghệ sĩ cũng như cho các đơn vị nghệ
  • 22. thuật, bao gồm nhiều hoạt động. Hiện Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc tài trợ cho 300 dự án của cácnghệ sĩ và 60 tổ chức mới thành lập. Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc mở rộng tầm hoạt động của mình vào những năm 1980 bằngviệc tham gia một số hội nghị và nghiên cứu quan trọng. Năm 1984, Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoócphối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật Đại học Columbia cung cấp những dữliệu mang tính thống kê về đời sống, điều kiện sống và làm việc của các nghệ sĩ ở bang Niu-Yoóc. Về sau đã xuất hiện một chương trình nghiên cứu tương tự trên toàn quốc, được lặp lại vàmở rộng trong những năm gần đây. Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc đã được khẳng định trên toànquốc với tư cách là một nhà cung cấp dịch vụ thông tin liên lạc. Một nhân tố hết sức quan trọngkhác đối với sự phát triển của Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc trong vai trò một nhà cung cấp dịch vụthông tin là sự ra đời năm 1984 của FYI, Tạp chí ra định kỳ hàng quý của Quỹ dành cho nhữngngười sống và làm việc trong môi trường nghệ thuật, và sau đó một thập kỷ là của Đường dâythông tin nóng về các nghệ sĩ mỹ thuật. Hiện Tạp chí có số lượng phát hành 20.000 bản phục vụcho nghệ sĩ và các đơn vị nghệ thuật ở tất cả các ngành nghệ thuật trên toàn bang Niu-Yoóc vàtrên cả nước. Đường dây nóng phát triển với sự trợ giúp của một tập đoàn các nhà tài trợ trong cảnước, dẫn đầu là Quỹ nghệ thuật Marie Walsh Sharpe. Hiện nó vẫn tiếp tục hỗ trợ trực tiếp chocác nghệ sĩ mỹ thuật trên toàn quốc. Trong những năm gần đây, Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc đã nổi lên như một tổ chức đi đầutrong việc đề cập đến công nghệ và vai trò của công nghệ trong cộng đồng nghệ thuật. Các nỗlực của Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc trong lĩnh vực này bắt đầu bằng một công trình nghiên cứu vềnghệ sĩ trên toàn bang liên quan đến việc sử dụng những công nghệ để sáng tạo nghệ thuật. Kếtquả là, Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc đã thiết lập được một ngành học bổng mới cho nghệ sĩ: Nghệthuật vi tính. Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc đã xuất bản Niên giám kỹ thuật số: Các nguồn nghệthuật ở bang Niu-Yoóc, dưới dạng văn bản cũng như dạng dữ liệu trên mạng. Một chương trìnhtài trợ mới bao gồm Tài trợ cho lập kế hoạch nghệ thuật và công nghệ, Hỗ trợ kỹ thuật cho nghệthuật và công nghệ cũng đang được thực hiện. Hiện nay, Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc thể hiện sức mạnh về mặt tổ chức và khả năng lãnhđạo trong các vai trò của nhà tài trợ và nhà cung cấp dịch vụ cho các nghệ sĩ, các đơn vị nghệthuật và các cộng đồng nghệ thuật rộng lớn ở Niu-Yoóc. Trang Web của Quỹ miêu tả tất cả cácchương trình hiện đang tiến hành và thể hiện những nỗ lực gần đây nhất nhằm duy trì vai trò lãnhđạo trong việc cung cấp những dịch vụ hữu hiệu và hỗ trợ cộng đồng nghệ thuật và quảng đạiquần chúng mà nó là một bộ phận.
  • 23. Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóc đã đưa nghệ sĩ đến hầu hết các khu vực có trường học trên toànbang Niu-Yoóc; cung cấp những tài trợ về tài chính cho hàng trăm tổ chức mới hình thành; cũngđã hỗ trợ khả năng tổ chức thông qua các khoản tài trợ và tín dụng. Quỹ Nghệ thuật Niu-Yoóccòn hỗ trợ việc tăng cường hạ tầng cơ sở tổ chức và mở rộng các nguồn từ trường học nhằmphục vụ cho toàn bộ cộng đồng. Qua báo cáo của Trung tâm quỹ và Quỹ nghệ thuật Niu-Yoóc, chúng tôi thấy trên đất Mỹcó những mô hình tổ chức khá đặc biệt, có cơ chế quản lý văn hoá khá linh hoạt và thực tế giúpcho các hoạt động văn hoá nghệ thuật có thể tìm được nhiều nguồn tài trợ. Ở Mỹ, các tổ chức nghệ thuật có thể được chia ra làm hai nhóm: nhóm phi lợi nhuận, vànhóm các tổ chức nghệ thuật mang tính thương mại (vì lợi nhuận). Các tổ chức mang tính thương mại cũng giống như các doanh nghiệp thương mại khác, họcũng cố gắng và họ tin rằng công chúng sẽ bỏ tiền ra để xem hoặc để mua sản phẩmnghệ thuật,vì vậy mà họ sẽ tiếp thị các sản phẩm này đến công chúng dựa vào bán vé là chính. Các tổ chức nghệ thuật phi lợi nhuận có xu huớng sản xuất ra các sản phẩm dựa trênnhững giá trị nghệ thuật vốn có của họ. Các tổ chức này không hi vọng việc có thể thu lợi nhuậnhay bù đắp được các chi phí với nguồn thu từ bán vé. Vì thế họ phải tìm các cách thức khác đểcó thể tự nuôi mình. Để giải quyết thực trạng này, Mỹ đã phát triển nhiều hình thức hỗ trợ chocác tổ chức không vì lợi nhuận này, đôi khi được gọi là “hình thức hợp tác nhà nước và tư nhân”. Về phía đối tác nhà nước, có ba cấp độ hỗ trợ trực tiếp của chính phủ: Liên bang (Trung tâm Quốc gia Trợ vốn cho nghệ thuật) Các bang (ví dụ Hội đồng Nghệ thuật Bang Niu-Yoóc) Địa phương (các Hội đồng nghệ thuật thành phố, vùng) Còn có sự hỗ trợ gián tiếp dưới hình thức giảm thuế đối với những quà tặng dành cho cáctổ chức nghệ thuật không vì lợi nhuận đã được chính phủ thông qua, đây là một lợi ích rất quantrọng. Đối tác cá nhân bao gồm các quỹ, các doanh nghiệp và các cá nhân, trong đó nhiều nhất làhỗ trợ bằng tiền của các cá nhân; tặng các thiết bị, dịch vụ và các nguồn cung cấp; và hoạt độngtình nguyện. Hầu hết những đóng góp này đều có thể khiến chủ nhân của nó được giảm thuế.
  • 24. Nhìn qua, thấy Mỹ không có Bộ Văn hoá, cứ tưởng chính quyền Mỹ không quản lý vănhoá nghệ thuật và không đầu tư cho văn hoá nghệ thuật, nhưng nhìn sâu vào cơ chế hoạt độngmới thấy đây là biện pháp quản lý khá chặt chẽ và có sự đầu tư không nhỏ - đầu tư bằng chínhsách thuế, bằng cách tạo cơ hội cho văn hoá nghệ thuật được đầu tư thông qua tài trợ của các tổchức, cá nhân. Thông qua cơ quan thuế, Chính phủ nắm rất chắc từng khoản tài trợ mà các côngty bỏ ra cho nghệ thuật. Bản thân các quỹ tài trợ cũng được cấp kinh phí cho hoạt động, như QuỹNghệ thuật Niu-Yoóc hàng năm thu được 12 triệu USD, trong đó có 4 triệu là do chính quyền tàitrợ. Khi chúng tôi hỏi về phương thức quyên góp tiền tài trợ cho nghệ thuật, ông Thao-đơ S.Bơ-gơ, Giám đốc điều hành Quỹ, cho biết: Nếu mọi người muốn quyên tiền thì đều phải thôngqua một tổ chức từ thiện, có vậy mới được miễn trừ thuế trên các khoản mà họ tài trợ. Quỹ Nghệthuật Niu-Yoóc cho các nhà tài trợ dùng mã số thuế của mình để chuyển tiền tài trợ, rồi quỹ tàitrợ lại cho các đơn vị nghệ thuật. Ông cũng nói thêm, để việc quyết định tài trợ cho các đơn vịnghệ thuật mang tính khách quan, Ban Giám đốc Quỹ không tham gia vào việc quyết định tài trợcho đơn vị nào; việc này được giao cho một Ban do Quỹ thuê gồm 30 người. Trên cơ sở nhữngthông tin về các đơn vị nghệ thuật và nguồn tài trợ, Ban sẽ quyết định tài trợ cho đơn vị nào màkhông phụ thuộc vào bất cứ sự gợi ý nào của Ban Giám đốc Quỹ. Ông Giám đốc tâm sự: "Tôi làm việc ở Quỹ này từ năm 1973, lúc ấy chỉ có 2 thành viên,nay có tới 40 người vào làm việc thường xuyên hoặc thời vụ. Tôi đã qua quá trình phát triển, khókhăn, vươn lên của Quỹ, thấy được sự thay đổi của quá trình xã hội. Bây giờ có rất nhiều chươngtrình đào tạo về quản lý, còn tôi thì không được đào tạo, vừa làm vừa học. Chúng tôi khôngthuộc Chính phủ cho nên làm được nhiều việc mà Chính phủ không làm được như đi đầu đấutranh cho quyền lợi, chính sách đối với nghệ sĩ, gây quỹ cho nghệ sĩ và nghệ thuật. Để làm việccó hiệu quả, chúng tôi luôn lắng nghe hai phía: Yêu cầu của Chính phủ cũng như của cộng đồngnghệ thuật và các nghệ sĩ ". Sau một số câu trao đổi về hoạt động tài trợ của Quỹ, ông Giám đốcbộc bạch: "Niu-Yoóc còn có cách tài trợ của riêng quan chức - quan chức mới được bầu, tìmđược ngành mà họ thích thì họ tài trợ, mong sẽ được bầu lại vào nhiệm kỳ sau. Tôi không thíchloại này - mang mầu sắc chính trị, không tốt vì không đưa ra được chính sách hỗ trợ cho văn hoá.Nếu đơn vị nghệ thuật nào đó lại không được vị quan chức thích thì sẽ không bao giờ nhận đượctiền." Sau những tiếng cười tán thưởng của người nghe, ông Giám đốc nói: "Hiện nay, đang cósự thay đổi trong chính phủ bang Niu-Yoóc. Đó là thực hiện luân chuyển trong thành viên Hộiđồng Bang: trong số 51 người được bầu vào Chính phủ Bang thì phải có 35 người được bầu mới.Tôi nghĩ rằng quy định này sẽ làm cho việc tài trợ cho nghệ thuật từ phía chính phủ sẽ mang tínhkhách quan hơn."
  • 25. Nói về các đơn vị nghệ thuật tại Niu-Yoóc, ông Giám đốc nhận xét: "Chúng tôi không cómột mô hình cụ thể nào cả, không còn ranh giới tách biệt giữa hoạt động phi lợi nhuận và lợinhuận, nhưng khu vực phi lợi nhuận sẽ tạo cánh tay để phát triển lợi nhuận. Những tổ chức, cánhân nói rằng họ phi lợi nhuận thì họ đã tách mình khỏi thực tế. Trong lĩnh vực văn hoá, có thểcó nghệ sĩ chuyên nghiệp, có nghệ sĩ không chuyên, nhiều khi chúng ta lại tạo ra tấm rào cáchbiệt giữa hai lĩnh vực chuyên và không chuyên, lợi nhuận và phi lợi nhuận. Cuộc đấu tranh củavăn hoá nghệ thuật không nhất thiết là lợi nhuận hay không lợi nhuận mà là phục vụ hay khôngphục vụ cho cộng đồng". Ông Giám đốc Quỹ cho biết trụ sở của Quỹ nằm gần Trung tâm Thương mại Thế giới, dovậy đã bị phong toả sau ngày 11 tháng 9 vì lý do an ninh, may mà đoàn đến vào lúc vừa đượclệnh hoạt động trở lại. Ông cho biết bản thân đã chứng kiến cái giờ phút kinh hoàng của nướcMỹ khi toà nhà Thương mại thế giới bị nổ tung và sập đổ, chứng kiến cảnh người nhảy từ cáctầng cao xuống, cho nên đã bị tổn thương rất nhiều tận sâu trong tâm khảm, nhưng ông phảigượng dậy để hướng về tương lai. Cùng với thiệt hại về người và của tại Trung tâm Thương mạiThế giới, giới nghệ thuật Niu-Yoóc cũng mất đi 1 nghệ sĩ, 1 Studio, 2 tổ chức nghệ thuật trongthảm hoạ 11 tháng 9, đồng thời có nhiều công trình nghệ thuật bị phá huỷ, bị hư hại, nhiều tổchức nghệ thuật bị ảnh hưởng hoạt động cần được tài trợ. Hiện nay, khói, bụi từ đống đổ nát vẫnbao phủ nhiều studio, nhiều tác phẩm của các nghệ sĩ, muốn làm sạch chúng phải tốn rất nhiềutiền của và công sức. Mặt khác, do tình hình an ninh và do tâm lý, nhân dân không đến dự cáchoạt động nghệ thuật ở khu vực Trung tâm Thương mại Thế giới nữa, làm cho các tổ chức nghệthuật, các rạp hát đóng trên khu vực này điêu đứng. Ngay như Bảo tàng Mỹ thuật Mêtrôpôlitancó sức thu hút trên 5 triệu lượt khách tham quan mỗi năm ở xa khu vực này, cũng bị giảm hẳnhoạt động, những ngày đầu lượng khách giảm 60%. Ông cho biết thành phố đã quyên góp đượcrất nhiều tiền, đồng thời Quỹ cũng nhận được rất nhiều đơn xin tài trợ của các nghệ sĩ, các tổchức nghệ thuật, nhưng Quỹ vẫn chưa có khả năng đáp ứng. Ông chua chát nhận xét rằng chínhgiới nghệ sĩ cũng là những nạn nhân của thảm hoạ 11 tháng 9, những nạn nhân không trực tiếpvà lại hay bị lãng quên. Ông đang vận động để thành lập Quỹ tái tạo phục vụ nghệ sĩ, với mụcđích khôi phục các công trình, tác phẩm nghệ thuật, các hoạt động nghệ thuật. Ông nhấn mạnhrằng trách nhiệm của giới nghệ sĩ sau thảm hoạ 11 tháng 9 là tái tạo nghệ thuật, làm cho nghệthuật tiếp tục làm đẹp cuộc sống, làm cầu nối giữa người với người. Tôi có nhận xét rằng, nhữngtrí thức, những người Mỹ chân chính mà tôi tiếp xúc khi nói về thảm hoạ 11 tháng 9 chỉ nhắc đếnđến sự tái tạo cuộc sống chứ không ai nói đến hận thù. Trung tâm Nghệ thuật biểu diễn Lin-côn
  • 26. Khi chuẩn bị sang Mỹ, chúng tôi đã được các bạn ở quỹ FORD giới thiệu về Trung tâmNghệ thuật biểu diễn Lin-côn, một trong những trung tâm văn hoá lớn nhất thế giới, do đó aicũng háo hức mong được đến thăm tận mắt. Vậy mà hôm được bạn bố trí đi Trung tâm, lại cứ bị"trục trặc kỹ thuật". Chờ xe mất 30 phút vẫn không thấy đến - lại tắc đường rồi. Cái sự giaothông của anh Mỹ này cũng không mấy xuôn xẻ và cái sự chấp hành luật lệ giao thông của mấybác tài Mỹ cũng chẳng mấy nghiêm túc. Tôi đã chứng kiến không ít cảnh xe vượt đèn đỏ, tấtnhiên chỉ vượt khi rẽ phải chứ không dám vượt thẳng qua ngã tư, vì đông xe lắm, vượt ẩu kiểu ấybị tai nạn là cái chắc. Chúng tôi cũng bị khối lần nhỡ xe "nhà", đành móc USD đi tắc xi Mỹ. Lầnnày thì gọi tắc xi cũng không được, chúng tôi đành đi xe điện ngầm. Đường hầm xe điện củaNiu-Yoóc khá tồi tàn, trông nhem nhuốc, thậm chí có chỗ nước chảy tong tong từ trên trầnxuống. Đi trên đường phố, có khi nghe tiếng xe điện chạy ầm ầm dưới chân và thỉnh thoảng lạithấy hơi nước nóng bốc lên nghi ngút từ các miệng cống ngầm, hoá ra đó là nơi mà người ta xảkhí từ đường hầm xe điện lên. Thực ra, người Mỹ không phải không có khả năng làm cho đườnghầm xe điện trở thành những cung điện lộng lẫy, mà bởi vì với tính thực dụng, người ta chỉ đầutư cho nó ở mức độ tương xứng với lợi nhuận thu được mà thôi! Chui lên khỏi mặt đất, đi bộ một hồi là đến đại lộ Cô-lôm-bơs. Một khối nhà khổng lồchắn trước mặt chúng tôi ngay kế vùng giao nhau của đại lộ Cô-lôm-bô với đại lộ Brôuây: Trungtâm Lin-côn là đây! Được xây dựng từ những năm 1960, Trung tâm nghệ thuật biểu diễn Lin-cônbao gồm 7 sân khấu biểu diễn, trong đó có Nhà hát Opera thành phố Niu-Yoóc, Nhà hát BangNiu-Yoóc, Phòng hòa nhạc Averi Phi-sơ, và Nhà hát Vi-viên Bơ-mau. Đây cũng là nơi 12 đoànnghệ thuật độc lập có trụ sở, trong đó có Nhà hát Ôpêra thành phố Niu-Yoóc, Dàn nhạc Giaohưởng Niu-Yoóc, Nhà hát Ba-lê thành phố Niu-Yoóc, Nhạc viện I-Ui-li-át và Trường Ba-lê Mỹ.Với 7 toà nhà đồ sộ, gồm các rạp hát, chiếu phim, trong đó có những rạp có sức chứa 2.800 đến3.700 chỗ, cùng lúc Trung tâm này có thể phục vụ 15.000 khán giả. Các bạn ở quỹ FORD chobiết những nghệ sĩ, dàn nhạc trên thế giới đều coi đây là nơi biểu diễn lý tưởng, và được trìnhdiễn tại đây coi như đã được một chứng chỉ về chất lượng nghệ thuật cao. Đoàn múa rối ThăngLong và Nghệ sĩ Đặng Thái Sơn của Việt Nam đã từng trình diễn tại đây. Nhìn kiến trúc bềngoài không có gì đặc biệt, nhưng nội thất từng công trình trong Trung tâm này thì tuyệt vời, vìnó vô cùng thích hợp với công năng. Ví như Nhà hát Giao hưởng có cấu trúc tường gồ ghề, hìnhkhối không đẹp, trang trí đơn giản, song đã tạo cho sự chuyển tải âm thanh đến mức tuyệt hảo,khiến cho ngồi chỗ nào cũng nghe rõ. Tôi ngồi cuối phòng khán giả 2.800 chỗ, còn người thợđàn thì đang chỉnh đàn Pi-a-nô ở trong cánh gà sân khấu, mà tôi vẫn nghe tiếng từng nốt nhạcnhư ngay bên tai. Người phụ trách Nhà hát giải thích với chúng tôi rằng sự trang trí đơn giảntrong rạp nhằm tránh làm cho khán giả phân tán, hướng mọi sự chú ý của họ vào chương trìnhbiểu diễn. Hoặc như rạp hát ô pê ra với 3.700 chỗ dành cho những nghệ sĩ nổi tiếng biểu diễn,
  • 27. được trang trí những vật hình nữ trang, gọi là hộp nữ trang, có 6 tầng khán giả và khán giả ngồi ởghế nào cũng nhìn rõ sân khấu. Quả thật, nơi đây cũng có thể được coi là nhất thế giới bởi đã tậptrung trong một khu vực một loạt rạp biểu diễn lớn và hiện đại đến thế, đồng thời quy tụ nhiềuđơn vị nghệ thuật danh tiếng trên thế giới đến thế, với sức hoạt động bền bỉ từ hàng chục nămqua và hoạt động đều đặn hàng tuần quanh năm, phục vụ hết lớp khán giả này đến lớp khán giảkhác không những của Niu-Yoóc mà của cả thế giới đổ đến. Đi thăm, hỏi han, xem lướt khu vực này cũng mất cả một ngày. Mà chui vào trong lòngnhững toà nhà này mới thấy nó lớn đến dễ sợ, có những tầng hầm trông mênh mông ngút tầmmắt hoặc chằng chịt những hành lang như một mê cung. Riêng việc hướng dẫn du khách đi thămkhu vực này đã thành một nghề, được tổ chức như những tua du lịch, thu hút nhiều lao động vàolàm việc, trong đó có những nghệ sĩ đã hết khả năng biểu diễn (Việt Nam gọi là hết tuổi nghề).Người hướng dẫn "tua" của chúng tôi là một phụ nữ đã đứng tuổi, cao ngỏng, mặt dẹt, mũi nhọn,da mặt nhăn nheo nhưng nét mặt rất linh hoạt và lại có vẻ rất nhí nhảnh. Mỗi khi giới thiệu xongmột công trình, trong khi đưa chúng tôi đi qua công trình khác, chị bước thoăn thoắt, đầu lắc qualắc lại, thỉnh thoảng lại xướng lên một khúc hát thính phòng. Chị Thuỷ quả quyết với tôi rằngđây chính là một nghệ sĩ ô-pê-ra đã chuyển nghề. Nhưng khi hỏi lại, thì được biết chị này vốn làmột nghệ sĩ Ba lê - thảo nào cao mà gầy thế, lại nhanh nhẹn nữa! Khi chúng tôi đã tham quanxong khu vực Trung tâm nghệ thuật, chuẩn bị chia tay với người hướng dẫn đầy chất nghệ sĩ vàvui tính này, chị giới thiệu tối nay sẽ có buổi duyệt vở ô-pê-ra mới, bán vé đồng loạt 15 USDmỗi vé, đoàn có thể mua để tới xem. Xin cảm ơn sự chu đáo của của chị, người nghệ sĩ chuyểnnghề, người hướng dẫn tham quan, và cũng xin ghi nhận lối tiếp thị nghệ thuật rất dễ chịu kiểuMỹ này. Viện Giáo dục nghệ thuật Trung tâm Lin-côn Mặc dù đến muộn, chúng tôi vẫn được đón tiếp chu đáo bởi một dàn cán bộ của Viện, toànlà phụ nữ. Các chị em giới thiệu với chúng tôi tấm bảng đồng ghi lời người sáng lập ra Trungtâm này rồi mới mời vào phòng làm việc. Những ý tưởng tốt đẹp cho sự hình thành và hoạt động của Viện bắt nguốn từ thực tế.Người ta vẫn hay lưu truyền những câu chuyện về sự thiếu hụt trong nhận thức về nghệ thuật củahọc sinh, coi đó là chuyện khôi hài, cần phải khắc phục. Nữ giám đốc thông tin của Trung tâm kểvới chúng tôi rằng, 13 năm trước, có một học sinh 13 tuổi sau khi xem múa Ấn Độ đã tỏ ra rấtnuối tiếc, vì em nói rằng trên thế giới có một nền nghệ thuật độc đáo như thế này mà nay em mớiđược biết đến! Bà Giám đốc chương trình giáo dục cấp cao nhắc đến ông Mát Trubát, người sáng
  • 28. lập Trung tâm Lin-côn (ông mất cách đây một năm rưỡi) với thái độ kính trọng, và kể: Lúc đầu,khi tổ chức cho học sinh xem biểu diễn một chương trình nghệ thuật, ông Mát Trubát đã ngồichung với khán giả và được nghe lời trao đổi giữa thầy giáo và học sinh như sau: - Em có hiểu người ta đang diễn gì không? - Thưa thầy không! Còn thầy? - Thầy cũng không hiểu gì cả! Từ lời hội thoại ấy, ông Mát Trubát nhận ra rằng nếu chỉ đưa nghệ thuật đến diễn tạitrường thì không có hiệu quả, mà phải có sự giáo dục nghệ thuật, muốn vậy, đầu tiên phải từ cácthầy giáo. Từ đấy, định hướng hoạt động của Viện là kết hợp người nghệ sĩ với người làm côngtác giáo dục để phổ cập nghệ thuật trong học sinh, từ lớp mẫu giáo đến cấp 2,3 trong bối cảnhnước Mỹ không bắt buộc giáo dục nghệ thuật trong các trường học. Các chương trình đưa nghệ thuật vào giáo dục cho học sinh và giáo viên được thực hiệnthông qua việc hợp tác với các cụm trường học ở Niu-Yoóc, Connéchticút và Niu Giơ-sây, đàotạo các nhà giáo dục để họ sẽ cùng với học sinh của mình tìm hiểu về nghệ thuật thông quanhững hình thức đi thực tế có tác dụng hỗ trợ cho việc học hỏi nhiều hơn trong chương trìnhgiảng dạy. Trong 25 năm qua, Viện Giáo dục nghệ thuật Trung tâm Lin-côn đã xây dựng và chuẩnhoá cách tiếp cận với nghệ thuật và giáo dục riêng rất nổi tiếng của mình, đó là thách thức họcsinh phải học về nghệ thuật và học thông qua nghệ thuật. Cùng hợp tác với các nhà giáo, Viện đãphát triển những nghiên cứu thực tế tập trung vào các tác phẩm nghệ thuật, bao gồm múa, âmnhạc, sân khấu, mỹ thuật và kiến trúc. Cách thức dựa vào quá trình này thể hiện vai trò toàn diệnmà nghệ thuật có thể và nên giữ trong giáo dục. Bằng cách khuyến khích học sinh hỏi và tìmhiểu, Viện Giáo dục nghệ thuật Trung tâm Lin-côn hỗ trợ việc học trong suốt chương trình học,xây dựng kỹ năng tư duy phân tích phê bình và khuyến khích khả năng cảm nhận và sáng tạo củahọc sinh. Kết quả là, nhiều mối liên kết được tạo ra không ngờ, nhiều quan điểm khác nhau đượccân nhắc, những điều phức tạp được tìm hiểu và cánh cửa đến với những thế giới tưởng tượngmới mẻ được mở ra. Hoạt động của Viện Giáo dục nghệ thuật Trung tâm Lin-côn dựa trên nguyên lý giáo dụcmỹ học. Dựa vào những bài viết của những nhà giáo dục cách tân như Giôn Đơuây, Mắc-xinGrin và Hô-uốt, Gát-nơ, giáo dục mỹ học mở rộng giớí hạn truyền thống của giáo dục tiên tiến
  • 29. tới thế giới nghệ thuật. Nguyên lý đó phát biểu rằng các tác phẩm nghệ thuật cung cấp mộtnguồn vô tận cho việc tìm hiểu, suy xét, và thấu hiểu. Mỗi cá nhân, không phân biệt tuổi tác, đềucó khả năng phản hồi trước một tác phẩm nghệ thuật theo những cách phản hồi thách thức lạinhững quan điểm đã định trước, khuyến khích những cái nhìn tươi mới, và khuyến khích nhữnghiểu biết sâu hơn. Không bị hạn chế bởi những câu trả lời "đúng" hay "sai", quá trình phản xạnày xây dựng khả năng nhận thức theo những cách thức cơ bản và có sức mạnh. Đồng thời, giáodục mỹ học cũng phát triển một khả năng hiểu biết nội tại những lựa chọn nghệ thuật đóng gópcho bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào. Học sinh biết đánh giá sâu sắc nghệ thuật, có đượcnhững phân tích thực tế trước bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào, tăng cường những kỹ năng cơbản ví dụ như tư duy trừu tượng, kỹ năng giải quyết khó khăn và sẵn sàng áp dụng những kỹnăng đó vào học tập và vào cuộc sống. Cách làm việc thông qua kinh nghiệm thực tế này của Viện Giáo dục nghệ thuật Trungtâm Lin-côn đã thực sự lôi cuốn các em vào tìm hiểu, nghiên cứu, tư duy và thảo luận. Để đảmbảo việc học nghệ thuật có liên quan đến những mục đích đào tạo chung được nhấn mạnh trongchương trình giảng dạy cơ bản, Viện đã kết hợp các nhà sư phạm với các nghệ sĩ đến giảng tạicác trường học. Được hỗ trợ bằng cách lập thời gian biểu thích hợp, mối hợp tác giữa họ sẽ thiếtkế nên những hoạt động trong lớp học để học sinh được học thật kỹ một tác phẩm nghệ thuật,đồng thời thiết lập những mối liên kết trong suốt chương trình giảng dạy. Bằng cách này, giáoviên không chỉ đóng góp những am hiểu của mình với tư cách là những nhà giáo dục chuyênnghiệp, mà còn tham gia với tư cách học viên vào không khí học tập hào hứng. Hiện Viện Giáo dục nghệ thuật đang hợp tác với 255 trường trong 61 cụm trường họctrong 3 bang của nước Mỹ. Nó cũng đã phát động một số phong trào mới được phát động để biếngiáo dục nghệ thuật thành một phần kinh nghiệm học tập của mỗi học sinh, bao gồm Dự án tậptrung hợp tác trường học làm việc với 8 trường ở Niu-Yoóc, cố gắng đào sâu và mở rộng việcthực hành đưa nghệ thuật vào giáo dục từ chỗ học các tác phẩm nghệ thuật ở trong mỗi lớp thànhviệc cả trường tham gia, Dự án tập trung hợp tác trường học bậc cao cố gắng đưa giáo dục nghệthuật vào chương trình giảng dạy ở một số trường sư phạm có lựa chọn; Hội thảo các nhà giáotoàn quốc dành cho giáo viên và các nhà quản lý trên khắp mọi miền đất nước; Hội thảo Thườngxuyên về phát triển nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu của các trường học hoặc cụm trường học cụthể. Từ khi thành lập đến nay, Viện đã được đánh giá là một tổ chức đi đầu trong lĩnh vực giáodục nghệ thuật trong học sinh và là một nguồn khuyến khích những đổi mới trong lý thuyết lẫnthực tế đưa nghệ thuật vào giáo dục. Nó là mô hình cho 21 tổ chức tương tự, trong đó có 19 tổ
  • 30. chức ở Mỹ, 2 tổ chức ở Úc. Những viện này nay được tổ chức thành Hiệp hội các Viện giáo dụcmỹ học, một tổ chức quốc tế phục vụ cho việc tăng cường và thúc đẩy tầm quan trọng của giáodục mỹ học như một thành tố quan trọng của hệ thống giáo dục. Với những thành tựu nổi bật trong hoạt động như trên, các nhà quản lý Viện Giáo dụcnghệ thuật Trung tâm Lin-côn tự khẳng định rằng Viện là tổ chức đi đầu trong phong trào đấutranh cho vai trò của nghệ thuật trong giáo dục không những ở Mỹ mà còn ở thế giới. Hỗ trợ đắc lực cho hoạt động của Viện là Trung tâm Thông tin. Với khối lượng lớn tư liệugồm sách, báo, tạp chí, băng, đĩa, tranh ảnh... Trung tâm Thông tin là nơi mà các nghệ sĩ làmcông tác giáo dục sử dụng suốt trong năm học. Trung tâm xuất bản một loại sách có tên gọi Cửasổ nghệ thuât giới thiệu các tác phẩm nghệ thuật, nghệ sĩ, quá trình sáng tác, dàn dựng, bối cảnhxã hội, văn hoá, phản hồi đánh giá tác phẩm. Mỗi năm Trung tâm xuất bản 7 đến 9 cuốn sáchnhư thế. Những tác phẩm được giới thiệu trong Cửa sổ nghệ thuật thuộc các loại hình múa, âmnhạc, sân khấu, là những tác phẩm đã được khẳng định theo thời gian, ít nhất đã được trình diễn350 buổi. Những nhà biên tập còn giới thiệu trong sách các tài liệu tham khảo, nhưng không baogiờ đưa chương trình giảng dạy cũng như nội dung giảng dạy vào sách này. Khi đến Trung tâmThông tin, giáo viên xem sách, băng hình rồi tự quyết định đưa nội dung gì vào giáo án, từ cảmthụ tác phẩm nghệ thuật rồi chuyển thành bài giảng cho học sinh. Được hỏi về nguồn tài chính cho hoạt động, bà phó Giám đốc Viện Giáo dục nghệ thuậtnói một cách hóm hỉnh: "Hơn 90% dân số Hoa Kỳ tin rằng cần đem âm nhạc vào chương trìnhgiáo dục. Nhưng khi bàn đến ngân sách thì số người ủng hộ giảm dần. Vì vậy, chúng tôi phải tựtạo ra tiền để thực hiện ý tưởng của mình" (mọi người đều cười - điều này có lẽ giống Việt Namta đây!). Bà cho biết có nhiều nguồn tài chính khác nhau: Thu từ các trường (trường nào tiếpnhận chương trình giáo dục vủa Viện thì trường ấy bỏ tiền để tổ chức đào tạo) - đây là nguồn thuquan trọng vì nó chiếm hai phần ba nguồn thu, còn lại là tài trợ từ chính phủ, từ các tổ chức và cánhân. Mức thu đối với các trường được quy định cụ thể, ví du: 1 trường học cử 5 giáo viên học 2tác phẩm thì phải đóng góp 6.000 USD để trả công cho nghệ sĩ biểu diễn và người giảng dạy. Bàgiải thích thêm: "Sự phối hợp giữa chúng tôi với các trường trong việc đào tạo cũng linh hoạt,như chúng tôi đã phối hợp với 2 trường đại học đào tạo thạc sĩ, và 2 trường đó cấp bằng thạc sĩ,hoặc chúng tôi cấp chứng chỉ cho người đã học ở đây để họ tích luỹ trong quá trình học cao học.Những người học xong đại học mà chưa làm giáo viên thì có thể học ở chỗ chúng tôi để trởthành giáo viên nghệ thuật".
  • 31. Nhìn chung ở Niu-Yoóc, có sự quan tâm đặc biệt đến giáo dục nghệ thuật cho học sinh,mà biện pháp hữu hiệu là thông qua đội ngũ giáo viên được đào tạo và có phương pháp sư phạmhiện đại khiến cho học sinh tiếp thu nghệ thuật một cách chủ động và sáng tạo. Qua giáo viên vàqua các nghệ sĩ, học sinh được dẫn dắt vào đời sống nghệ thuật bằng nhiều phương thức, từ đơngiản đến phức tạp, như sưu tầm các bài báo viết về một tác phẩm nghệ thuật, bình luận về nhữngbài báo đó, nghe và tập phân tích tác phẩm... Theo lời những người quản lý Viện và những ngườiquản lý đơn vị nghệ thuật, thì đây cũng chính là biện pháp đầu tư vào khán giả, tạo lớp khán giảđông đảo cho nghệ thuật từ đội ngũ học sinh. Dàn nhạc Giao hưởng Niu-Yoóc Cùng trong khối nhà khổng lồ cuả Trung tâm Lin-côn, nằm trên tầng bốn, là trụ sở củaDàn nhạc giao hưởng Niu-Yoóc. Chúng tôi được mời đi vào phòng làm việc qua cửa dành chodiễn viên. Đón tiếp chúng tôi có ông Thô-mát Ca-bi-nét, Giám đốc Giáo dục, các chị Toi-a Li-lát, Trợ lý Giám đốc Giáo dục, Mi ki Takabe, Điều phối hoạt động, Jơremy Ghe-phen, Quản lýNghệ thuật, Mai-cơn Ni-sơn, Cộng tác viên giáo dục. Trong năm vị này thì đã có ba mầu da:trắng, đen, vàng với hai quốc tịch gốc là Nhật và Mỹ. Báo cáo của các vị này giúp chúng tôi hiểubiết về nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của Dàn nhạc Giao hưởng Niu-Yoóc, ví dụ như giáodục, lưu diễn, tài chính, nghệ thuật. v.v Dàn nhạc giao hưởng Niu-Yoóc thành lập năm 1842, là dàn nhạc có tuổi đời vào loại "già"nhất thế giới. Với biên chế chính thức gồm 106 nhạc công và 15 người làm hành chính, Dànnhạc Giao hưởng Niu-Yoóc hoạt động rất có hiệu quả. Ngay tại Trung tâm Lin côn này, Dànnhạc biểu diễn mỗi năm 150 buổi trong Nhà hát có sức chứa 2800 chỗ mà bao giờ cũng bán hết90% số vé với giá từ 10 đến 90 USD một vé. Đó là chưa kể những buổi lưu diễn ở nhiều nướctrên thế giới hoặc diễn ở quảng trường phục vụ đông đảo công chúng và diễn tại các trường họcphục vụ học sinh, sinh viên. Nhạc trưởng của Dàn nhạc giao hưởng là một người nổi tiếng thếgiới, ông Cớt Ma-sơ. Từ năm 1991, Cớt Ma-sơ giữ chức Giám đốc âm nhạc, tạo dấu ấn riêng củaông đối với Dàn nhạc Giao hưởng vốn trong nhiều năm đã quen với ảnh hưởng của Ma-lớt,Tôcanini, Bơ-xơ-tên, Bulơ và Meta. Ngoài việc dẫn dắt Dàn nhạc giao hưởng đi lên đỉnh vinhquang, có chỗ đứng vững vàng trên đất Mỹ, ông còn đưa Dàn nhạc đi biểu diễn ở khắp các châulục, được giới hâm mộ âm nhạc bác học toàn thế giới đánh giá cao. Chương trình biểu diễn củađoàn hết sức phong phú, bao gồm hầu hết những tác phẩm nổi tiếng của các nhà soạn nhạc thếgiới, như Bách, Bét-tô-ven, Rachamaninốp, Trai-cốpx-ki... đồng thời có cả những bản nhạc mớiđược sáng tác qua đặt hàng của chính Dàn nhạc. Bên cạnh những hoạt động biểu diễn đáng khâmphục, điều đáng quan tâm hơn, mang tính độc đáo và tân tiến cũng rất đáng học tập của Dàn nhạc
  • 32. Giao hưởng Niu-Yoóc, là những hoạt động phụ trợ. Đó là công tác thông tin truyên truyền, côngtác giáo dục, hoạt động gây quỹ. Về mặt thông tin tuyên truyền, phải công nhận người Mỹ là bậcsiêu đẳng mà tôi sẽ dành một mục riêng để giới thiệu với bạn đọc. Trong phần này, tôi chỉ giớithiệu sơ lược rằng Dàn nhạc có cả một bộ phận chuyên lo về hoạt động thông tin tuyên truyền cónhiệm vụ truyền bá hoạt động của Dàn nhạc ra cộng đồng. Để thực hiện được nhiệm vụ, bộ phậntuyên truyền thực hiện hai biện pháp là họp mặt với báo chí, và phát hành xuất bản phẩm của nhàhát. Các tài liệu phục vụ cho giới báo chí được chuẩn bị công phu, chi tiết, từ việc giới thiệuchung về dàn nhạc, nhạc trưởng, các nghệ sĩ hàng đầu, tới việc giới thiệu tác phẩm, các chươngtrình công diễn... giúp báo chí nắm chắc thông tin để tuyên truyền. Tờ báo mà Dàn nhạc cộng tácchặt chẽ nhất là tờ Thời báo Niu-Yoóc. Bên cạnh đó, đã trở thành nền nếp, chương trình biểudiễn của dàn nhạc mỗi tháng đều được phát trên đài phát thanh, và mỗi năm có 2 đến 3 lần pháttrên sóng truyền hình. Chị Toi-a Li-lát, trợ lý Giám đốc giáo dục, cho biết: Dàn nhạc coi giáo dục nghệ thuật làchương trình lớn nhất của mình. Dàn nhạc đã hợp tác giáo dục với 8 trường học của Niu-Yoóc.Cùng với các trường, Dàn nhạc tổ chức các hội thảo, mời nghệ sĩ nói chuyện, cung cấp cho họcsinh những trường quốc lập có kiến thức về âm nhạc. Mỗi năm thường có 16-17 cuộc hội thảonhư vậy. Dàn nhạc có chương trình học bổng hỗ trợ học sinh học âm nhạc, tổ chức những buổihoà nhạc của sinh viên để mời học sinh các trường đối tác đến học. Dàn nhạc cũng cộng tác chặtchẽ với các trường đối tác để bồi dưỡng nghiệp vụ âm nhạc cho giáo viên vào dịp hè bằng nhữngtài liệu giảng dạy riêng do Dàn nhạc biên soạn hướng vào đối tượng là giáo viên trong cáctrường đối tác. Dàn nhạc Giao hưởng thực hiện một loạt chương trình giáo dục đổi mới, mở rộngcánh cửa đón học sinh đến với nhạc giao hưởng. Trang web của Dàn nhạc Giao hưởng cung cấprất nhiều thông tin về các chương trình giáo dục nhằm vào các trường học, giáo viên, gia đình vàthanh thiếu niên. Các chương trình của Dàn nhạc Giao hưởng Niu-Yoóc dành cho trường học bao gồm:Chương trình hoà nhạc Ngày của Trường đón các học sinh và giáo viên từ lớp 3 đến lớp 12.Cuộc gặp gỡ với âm nhạc dưới hình thức hội thảo giao lưu hoặc buổi họp sau tổng duyệt với cácthành viên của Dàn nhạc Giao hưởng dành cho học sinh lớp 4 đến lớp 12. Chương trình hợp táctrường học 3 năm là một chương trình công phu nhằm xây dựng những kiến thức cơ bản về âmnhạc, qua việc tạo điều kiện cho giáo viên, học sinh cùng phụ huynh giao lưu với một dàn nhạcgiao hưởng và dự các buổi biểu diễn của dàn nhạc giao hưởng đó; phát triển mối quan hệ kéo dàinhiều năm với một số trường học được lựa chọn ở thành phố Niu-Yoóc, xây dựng một bộ chuẩnđể đánh giá tài năng nghệ thuật, từ đó định nghĩa mối quan hệ giữa một dàn nhạc giao hưởng vớicác trường học trong cộng đồng dân cư khu vực đó. Đội thiếu niên Dàn nhạc giao hưởng là tên
  • 33. một loạt chương trình có đăng ký dành cho học sinh 7 đến 12 tuổi. Tổng duyệt cho phép vào xemlà chương trình tổng duyệt chương trình, tiết mục mới của Dàn nhạc cho phép các nhóm học sinhvào dự. Các Chương trình Thường trú và Hỗ trợ Kỹ thuật tại chỗ dành cho các trường trung học,cao đẳng và các tổ chức cộng đồng nào đã có những chương trình âm nhạc đặc sắc. Chương trìnhHợp tác nhạc viện theo đó Dàn nhạc giao hưởng Niu-Yoóc phối hợp với Nhạc viện Du-li-át,Nhạc viện Man-hát-tan, Trường Cao đẳng âm nhạc Man hat tan cũng như với các sinh viên nhạcviện, để cung cấp cơ hội được học tập về âm nhạc cho những học sinh này ở một số khu vực.Dàn nhạc Giao hưởng còn thực hiện một loạt chương trình cho giáo viên, bao gồm các Hội thảoâm nhạc 3 ngày dành cho các giáo viên âm nhạc quan tâm đến việc dạy khái niệm âm nhạc chohọc trò bằng việc sử dụng các chương trình biểu diễn của Dàn nhạc Giao hưởng Niu-Yoóc.Thêm vào đó, Dàn nhạc Giao hưởng còn tổ chức các hoạt động: Cuộc thi nghệ sĩ Trẻ, Hoà nhạccủa giới trẻ, dành cho trẻ em từ 6 đến 12 tuổi và từ 12 đến 17 tuổi, Kể chuyện về âm nhạc, dànhcho các em từ 3 đến 6 tuổi nhằm giới thiệu với các em các nhạc cụ và các nhạc sĩ, và Đội thiếuniên dàn nhạc giao hưởng dành cho những học sinh đã “tốt nghiệp” tức là đã học qua cácchương trình giáo dục âm nhạc mà Dàn nhạc tổ chức. Dàn nhạc Giao hưởng còn có một trangweb giao lưu đặc biệt cho trẻ em, tên là Vùng dành cho trẻ em của Dàn nhạc giao hưởng Niu-Yoóc. Trang web này đến nay đã được rất nhiều thanh thiếu niên từ 50 bang và 55 nước truy cập. Như để kết luận, chị Toi-a nói: "Bộ phận giáo dục cũng góp phần quan trọng tạo nên khángiả, bởi vì sự giáo dục nghệ thuật đã giúp học sinh có hiểu biết về nghệ thuật để rồi trở thànhkhán giả". Coi trọng việc gây quỹ, Dàn nhạc có bộ phận chuyên trách việc này. Chị Barbana, phụtrách bộ phận phát triển – quyên tiền, cho biết bộ phận của chị phải thường xuyên tiếp xúc vớicông chúng để kêu gọi sự đóng góp của cá nhân thông qua hình thức mua vé hoặc ủng hộ tiền, tổchức cho họ trở thành thành viên của Dàn nhạc. Chị cho biết thu hút khán giả là công việc đòihỏi kiên trì và năng động, chứ không chỉ đơn thuần là bán vé hay xin tài trợ. Một trong nhữngbiện pháp có hiệu quả nhưng đòi hỏi nhiều công sức là tổ chức các cuộc tiếp xúc thân mật giữakhán giả và nghệ sĩ, tổ chức các buổi trình diễn đồng thời với giới thiệu, phân tích tác phẩm, tổchức câu lạc bộ khán giả... Các công ty, doanh nghiệp cũng chi tiền cho Dàn nhạc bằng nhiềucách như tài trợ cho các chương trình đối tác với các trường học, tài trợ cho các hoạt động vìmục đích chung, tài trợ cho một số buổi biểu diễn khác nhau. Bộ phận của chị cũng có tráchnhiệm tiếp cận các quỹ, tiếp cận và kêu gọi sự tài trợ của Chính phủ. Chị nhấn mạnh rằng ở Mỹkhông có truyền thống Chính phủ tài trợ cho các hoạt động nghệ thuật; việc này được tiến hànhbởi các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội là chính, đổi lại, Chính phủ Mỹ đã tạo rahệ thống thuế rất khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp hỗ trợ cho nghệ thuật.
  • 34. Trong phần trao đổi ý kiến, chúng tôi hỏi về việc sử dụng lao động trong Dàn nhạc, ôngThômas Carbines trả lời một cách cởi mở: "Khi có chương trình lớn thì chúng tôi thuê thêm mộtsố nhạc công giỏi. Nhạc công của chúng tôi cũng được tạo điều kiện để đi trình diễn ngoài Dànnhạc, như trình diễn cá nhân hoặc trình diễn cùng những nhóm khác nhằm có thêm thu nhập."Chị Maicơn Naisơn, cộng tác viên giáo dục của Dàn nhạc, hỏi chúng tôi: "Tôi nghe nói ViệtNam đang nhấn mạnh xây dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Có phải rằng làm như thếlà bởi Việt Nam sợ sự xâm nhập và ảnh hưởng của các nền văn hoá khác không?" Thế đủ biếtnhững người hoạt động văn hoá Mỹ cũng quan tâm đến văn hoá Việt Nam, nhưng thông tin đếnhọ lại phiến diện, khiến họ có thể hiểu sai bản chất xã hội ta. Chúng tôi đáp lại rằng nói một cáchtoàn diện, thì Việt nam chủ trương xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,kết hợp hài hoà giữa quá khứ và hiện tại, dân tộc và thế giới, không bài ngoại mà tiếp thu cóchọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới. Hội sân khấu múa (DTW) Nằm ỏ tầng 5 số nhà 220 West phố 19th, Hội Sân khấu múa đang làm việc trong khungcảnh chật chội, bởi vì đây chỉ là nơi làm việc tạm - trụ sở chính của Hội nằm ở khu đất đối diện,đang được xây dựng với vốn đầu tư 12 triệu USD. Theo tài liệu do quỹ FORD cung cấp, thì HộiSân khấu là một tổ chức phi chính phủ, cũng là một trong những tổ chức nghệ thuật biểu diễn ưuviệt nhất nước Mỹ. Hội có trách nhiệm xác định và nuôi dưỡng các nghệ sĩ có tài mới xuất hiệnhoặc đang công tác trong các tổ chức nghệ thuật khác nhau, khuyến khích đông đảo công chúngđến với các nghệ sĩ này cũng như các tác phẩm của họ. Hội tổ chức một nơi giao lưu cộng đồngvì óc tưởng tượng và yêu cầu cần thiết phải ứng dụng óc tưởng tượng đó vào thế giới ngày nay. Theo lịch, thì Hội bố trí những người lãnh đạo đón tiếp chúng tôi, gồm Đavid R. Oai,Giám đốc điều hành, Ca-thơ-ry Ét-Uốt, đồng Giám đốc Nghệ thuật, và Cay Bakơ, Giám đốcDịch vụ Nghệ thuật, nhưng khi chúng tôi đến thì chưa thấy ông giám đốc điều hành đâu. Trướckhi vào phòng khách, chị Ca-thơ-ry Ét-Uốt dẫn chúng tôi đi thăm các phòng làm việc. Đã vàonhiều phòng làm việc ở Niu-Yoóc, tôi thấy người Mỹ ít quan tâm đến sự ngăn nắp và tính thẩmmỹ, như những căn phòng này có những vật dụng gác cẩu thả trên các giá sát trần nhà mà trênđó, các đường ống dẫn nước hay dẫn khí, đường điện... chạy lộn xộn trông đến rối mắt. Tất nhiênđây là nơi làm việc tạm, nhưng kể cả những nơi làm việc ổn định, tính mỹ thuật cũng không cógì đáng khen. Đổi lại, người Mỹ quan tâm đặc biệt đến tính tiện lợi của vật dụng. Phòng kháchnào cũng có bàn uống nước mà trên đó có một cái bình nước căm điện gồm nhiều ngăn đựngnhiều thứ nước, chủ yếu là ba thứ: cà phê, chè, và nước sôi, một ít bánh trái điểm tâm, dưới bànlà thùng rác. Phục vụ làm việc, các phòng đều trang bị máy vi tính đến từng cá nhân, và ở phòng
  • 35. làm việc chung có các phương tiện nghe nhìn hiện đại. Giống như khi thăm các cơ quan khác, tôiđược giới thiệu trước hết là bộ phận gây quỹ, bộ phận ma két tinh. Tôi hiểu rằng đây là những bộphận hết sức quan trọng, góp phần chủ yếu tạo ra nguồn tài chính và hiệu quả hoạt động của cácđơn vị văn hoá nghệ thuật ở Mỹ. Khi ra hành lang, chị Ca-thơ-ry Ét-Uốt chỉ sang ngôi nhà 11tầng đang xây dựng, cho biết đó là trụ sở chính của Hội. Bên đó, các công nhân xây dựng đanglắp ghép các khối bê tông vào khung nhà. Khác với phương pháp xây dựng bên ta, anh Mỹ nàygiầu cho nên sử dụng rất nhiều sắt thép cho xây dựng: không đổ bê tông các cột trụ hay thanhdầm mà ghép các thanh sắt khổng lồ vào nhau thành khung, rồi lắp các khối bê tông nhẹ đúc sẵnlàm sàn, vách, cho nên tiến độ xây dựng rất nhanh mà công trường lại không ngổn ngang cátsỏi... Người phụ nữ Mỹ này rất tự hào với công trình đang xây dựng đó của Hội mình, và nhắcđến ông Giám đốc điều hành với niềm kính trọng: "Công trình kia do ông Đavít R. Oai chủ trì,lát nữa các bạn sẽ được ông ấy giới thiệu kỹ về nó. Các bạn sẽ thấy ông Đavít là một người nhìnxa trông rộng". Cơ chế tổ chức ở Mỹ có chỗ khác biệt, đó là một ban lãnh đạo gồm có nhiềugiám đốc, trong đó giám đốc điều hành là người chịu trách nhiệm chung, các giám đốc khác phụtrách từng lãnh vực, chứ không phải chỉ có một giám đốc và một số phó giám đốc như ta. Quacách nói của người phụ nữ này, tôi có thể hiểu rằng ông Đavít là người rất có uy tín, được trọngnể. Chị Ca-thơ-ry Ét-Uốt giới thiệu với chúng tôi quá trình hình thành và hoạt động của HộiSân khấu múa: Thành lập năm 1965, Hội Sân khấu múa như là một tập hợp của những nhà biênđạo múa có nhiệt tâm cống hiến cho sự tài trợ và hỗ trợ cho công việc của đồng nghiệp và cácnghệ sĩ mới vào nghề. Nằm ở khu vực Chelsi, trong hơn 30 năm qua, Hội đã mở rộng tầm nhìnban đầu của mình để trở thành một tổ chức đa diện cống hiến cho việc phát triển các chươngtrình và các nguồn lực có thể giúp cho các nghệ sĩ độc lập phát triển một cách chuyên nghiệp,đồng thời tăng sự tham gia của quần chúng vào nghệ thuật. Với tư cách là một trong những trungtâm nghệ thuật biểu diến có ảnh hưởng nhất ở Mỹ, Hội Sân khấu múa đã hỗ trợ cho 3 thế hệ cácnghệ sĩ có tài nhất của nước Mỹ. Gần 1.000 nghệ sĩ đã tìm thấy ngôi nhà nghệ thuật của mình tạiNhà hát Bét-si Sơ-trong-bơ của Hội. Các chương trình của Hội đã phát triển thành những mạnglưới được thiết lập một cách hữu hiệu có khả năng tăng cường đời sống của các nghệ sĩ và củacộng đồng nơi họ phục vụ. Hơn 200 buổi hoà nhạc và trưng bày triển lãm bởi khoảng 70 nghệ sĩmúa, sân khấu, âm nhạc và video được Hội tài trợ hàng năm, khiến Hội trở thành một trongnhững nhà sản xuất năng động nhất nước Mỹ. Các nghệ sĩ nhận được tiền tài trợ cho các tácphẩm mới của họ từ chương trình đặt hàng của Hội mang tên Ánh sáng đầu tiên. Mức đầu tư choviệc đặt hàng tạo ra tác phẩm mới này là từ 3.000 đến 10.000 USD cho 1 nghệ sĩ, mà thôngthường là 3.000 USD. Tham gia các hoạt động do Hội tổ chức, các nghệ sĩ có cơ hội để thể hiệnvà mài dũa tài năng nghệ thuật của mình trong một môi trường vừa mang tính hỗ trợ vừa mang
  • 36. tính phê bình sắc sảo. Ca-thơ-ry Ét-Uốt kể ra hàng chục tên của các nghệ sĩ nổi tiếng cùng vớicon số hàng trăm nghệ sĩ tài danh khác mà khởi nghiệp của họ là tại Hội, đã góp phần quan trọngtạo nên bức tranh văn hoá Mỹ. Chị nói một cách tự hào: "Hàng năm chúng tôi đón tiếp rất nhiềuđoàn nghệ thuật, không chỉ có múa mà cả sân khấu, âm nhạc, múa rối, tổ chức biểu diễn cho đadạng nghệ sĩ từ những người lần đầu lên sàn diễn đến những nghệ sĩ thành danh. Từ sân khấucủa chúng tôi, rất nhiều nghệ sĩ đã nổi tiếng trên thế giới. Chúng tôi là nhà vô địch trong việclăng xê nghệ sĩ mới". Trong vô số hoạt động hữu ích của mình, Hội Sân khấu múa coi việc phục vụ cho cộngđồng nghệ sĩ biểu diễn là một hoạt động trọng tâm. Cùng với các chương trình tài trợ, hàng nămHội cung cấp gần 40 dịch vụ kỹ thuật, quản lý và tiếp thị cho hơn 500 nghệ sĩ và các đoàn nghệthuật nhỏ thông qua chương trình Dịch vụ nghệ sĩ. Chương trình này đón nhận tất cả các nghệ sĩđộc lập, các đoàn và các đơn vị nghệ thuật có quan tâm, giải phóng nghệ sĩ khỏi gánh nặng quảnlý luôn xuất hiện trong khi tổ chức các chương trình biểu diễn, tạo cho nghệ sĩ khả năng tìmđược nguồn tài trợ và thiết lập sự hỗ trợ giữa các nghệ sĩ với nhau trong một bối cảnh xã hội bịphân quyền và luôn bị tách biệt. Những hoạt động quan trọng khác của Hội có Giải thưởng múa và biểu diễn Niu-Yoóchàng năm, chương trình Óc tưởng tượng của công chúng - trong đó bao gồm một dự án nghệ sĩthường trú và một số chương trình văn hoá cộng đồng đang được thực hiện, được thiết kế làmtăng khả năng đến với nghệ thuật của công chúng và làm cho cộng đồng địa phương của Hội trởthành một đối tác toàn diện hơn trong công việc chung của Hội. Chương trình Óc tưởng tượngcủa công chúng đưa nghệ sĩ đến gần với công chúng, mỗi năm cấp tiền cho 6 nghệ sĩ để họ đếnvới các cộng đồng. Quỹ valy là một dự án được tài trợ bởi hãng Rockơfellơ do Hội điều hành, giúp cho cácnghệ sĩ và các dự án có sự giao thoa giữa các nền văn hoá, từ đó loại bỏ những rào cản kinh tế vàđịa lý cản trở các nghệ sĩ có thể tiếp cận với những nền văn hoá khác. Một loạt hoạt động traođổi văn hoá có sự tham gia của các nghệ sĩ múa Việt Nam đã được phát động trong một vài nămgần đây trong phạm vi của dự án. Chị Ca-thơ-ry Ét-Uốt khẳng định: "Trong bối cảnh Chính phủ và các quỹ rất ít tài trợ chonghệ sĩ, thì những hoạt động trên đây của Hội Sân khấu múa rất quan trọng đối với sự phát triểncủa nghệ thuật và hình thành bộ mặt văn hoá của nước Mỹ" Mãi 10 giờ 30 phút, ông Đavít R. Oai, Giám đốc điều hành Hội Sân khấu múa, mới tất tảđi tới. Đội mũ lưỡi trai, đeo kính đen, người chắc, tay xách một gói thức ăn nguội, trông ông có
  • 37. dáng vẻ của một nhà thể thao nhiều hơn. Xin lỗi vì lý do xe điện ngầm trục trặc cho nên đếnmuộn, ông đưa ra một nhận xét: "Bây giờ ngay cả xe điện ngầm cũng lâm vào tình trạng tồi tệ.Giao thông ở đây có thể kém cỏi hơn ở Đông Nam Á". Liền đó, ông mở bịch đồ ăn, lấy chainước, cắm que hút một hơi, rồi bắt đầu nói về hoạt động của Hội. Ông nói: "Chúng tôi quan tâmđến hai loại: một là xây dựng một cộng đồng nghệ thuật, hai là tài trợ cho nghệ sĩ để họ có thểđứng vững trong cộng đồng nghệ thuật. Tới nay, chúng tôi có 900 nghệ sĩ là hội viên. Chúng tôicũng tìm cách làm cho các nghệ sĩ đã thành danh quay lại giúp đỡ các nghệ sĩ trẻ." Không biết là căn cứ vào các tài liệu nào, mà ông giám đốc nói chắc chắn như sau: "Tôibiết là Việt Nam đang muốn đổi mới hoạt dộng văn hoá bằng cách xã hội hoá. Chúng tôi gọi làtư nhân hoá. Cách xây dựng cộng đồng nghệ thuật, cộng đồng văn hoá ở Việt Nam và Mỹ cơ bảnlà giống nhau. Bởi vì, khi xây dựng một cộng đồng nghệ thuật (văn hoá) cần ba yếu tố: Nghệ sĩ -công chúng, Tổ chức trung gian, Cơ chế hỗ trợ. Cả ba yếu tố trên đây đều cần được nuôi dưỡng." Cách nghĩ về xã hội hoá hoạt động văn hoá như trên của ông Đavít không phù hợp vớicách nghĩ của chúng tôi, bởi vì ở Việt Nam, xã hội hoá không đồng nghĩa với tư nhân hoá. Hết sức nhiệt tình và quyết đoán, ông Đavít khẳng định: "Khi hỗ trợ cộng đồng nghệ thuậtphát triển, chúng tôi không phân biệt giữa nghệ thuật truyền thống với nghệ thuật đương đại (thểnghiệm), chỉ phân biệt loại hình văn hoá quen thuộc với loại hình văn hoá chưa quen thuộc. Hiệnnay, công chúng không chỉ những người lớn tuổi mà cả lớp trẻ có rất ít thông tin về sự hỗ trợ chonghệ thuật. Dù cách tiếp cận thế nào, cũng thấy rằng tương lai của bản chất văn hoá phụ thuộc rấtnhiều vào lớp nghệ sĩ trẻ mà chúng ta chưa biết đến họ. Chúng tôi tập trung hỗ trợ nghệ sĩ bất kểhọ có ở tổ chức nghệ thuật nào không, hỗ trợ cho cả những nghệ sĩ độc lập, cũng không phân biệtnghệ sĩ có được đào tạo hay không. Muốn tăng cường văn hoá, không phải chỉ đầu tư cho cácđơn vị văn hoá. Nền văn hoá của Mỹ được mạnh lên không phải do các đơn vị nghệ thuật, mà làdo các nghệ sĩ - các đơn vị chỉ đóng vai trò trung gian, tổ chức hoạt động chứ không đóng vai tròsáng tạo nghệ thuật. Gần đây chúng tôi đã thay đổi quan điểm đầu tư, tức là không chỉ tài trợ tậptrung cho dự án, mà tài trợ cho cả quá trình lao động của nghệ sĩ. Việc quan trọng nhất trong quátrình phát triển là khuyến khích cá nhân. Chúng tôi không muốn các đơn vị nghệ thuật tạo ra môhình chuẩn cho nền văn hoá mà là các nghệ sĩ sáng tạo ra. Chúng tôi đã cử rất nhiều nghệ sĩ đếnĐông Nam Á, ở đó có một số nghệ sĩ phát triển từ thế giới truyền thống lên và trở thành nghệ sĩcủa thế giới hiện đại. " Có lẽ thấy vị giám đốc của mình hăng hái quá, đã nói cả vào những nội dung vừa đượcmình trình bầy hồi nãy, chị Ca-thơ-ry Ét-Uốt nhắc: "Thưa ông, các bạn Việt Nam rất quan tâm
  • 38. đến trụ sở mới của Hội mà chúng ta đang xây dựng!" Như được gãi đúng chỗ ngứa, ông Đavítcàng thêm sôi nổi: "Để có trụ sở kia, chúng tôi đã mua đất cách đây 5 năm." Dừng lời, nháy mắtvà cười hóm hỉnh, ông Đavít tiếp: "Tay chủ đất ấy cũng chẳng tốt đâu, bán đất cho nghệ sĩ màkhông có sự ưu đãi nào. Nhưng không sao, chỉ 5 năm nữa thôi, thị trường mỹ thuật của thànhphố sẽ chuyển về khu vực này, lúc ấy giá đất sẽ tăng lên gấp nhiều lần. Mà lúc trước chúng tôichỉ phải trả tiền cho việc mua đất, còn khoảng không thì được miễn phí. Bây giờ, không dùng hếtkhoảng không, chúng tôi bán cho người ta đầu tư tiếp cũng thu được 3,3 triệu USD." Ông Đavítgiảng giải: "Các ngài có biết không, chúng tôi phải mở cả một chiến dịch quyên tiền để xây dựngtrụ sở đấy. Tới nay, đã quyên được 11 triệu rưỡi USD rồi, phần lớn do các cá nhân đóng góp.Chúng tôi chi 10% tiền quyên được cho chiến dịch này. Cộng với 3 triệu 3 USD bán khoảngkhông, là thừa tiền xây dựng rồi. Người ta xây dựng thêm 7 tầng trên 4 tầng của chúng tôi để làmchung cư cho thuê. Chúng tôi cũng sẽ được hưởng một phần lợi nhuận trong việc cho thuê chungcư đó." Cách thức mà chính quyền Niu-Yoóc thực hiện với Hội Sân khấu múa là một cơ chế rấtthoáng, tạo cơ hội cho các đơn vị văn hoá có thêm nguồn thu mà tự lực hoạt động. Sau khi chúc mọi người có chuyến làm việc tại Mỹ đầy hiệu quả, ông giám đốc Đavít tấttả xách túi đồ ăn nguội đi vì "có việc gấp". Chị Cay Bakơ, Giám đốc Dịch vụ Nghệ thuật, giới thiệu với chúng tôi về các loại dịch vụphục vụ các nghệ sĩ trên 4 nhóm công việc chính là: Quảng cáo, Kinh tế - tài chính, Sân khấu -nhà hát để trình diễn, và Thông tin. Hiện nay, có 900 nghệ sĩ tham gia đóng hội phí để đựochưởng sự phục vụ này. Những nghệ sĩ đóng hội phí ở mức 30 USD một năm sẽ được hưởng ưuđãi về bảo hiểm y tế, chi phí thuê rạp biểu diễn. Những nghệ sĩ đóng hội phí ở mức 85 USD mộtnăm (một nửa số hội viên) sẽ được hưởng ưu đãi trên tất cả 4 nhóm dịch vụ trên đây. Chị CayBakơ nói cụ thể hơn: "Hoạt động nghệ thuật và tổ chức biểu diễn có nhiều gánh nặng đè lên vainghệ sĩ, cần có người chia sẻ. Chúng tôi làm giảm bớt gánh nặng đó bằng cách giúp nghệ sĩquảng cáo, thuê rạp ở mức chi thấp nhất, giao lưu với những khán giả ưa thích họ, gửi tài liệutuyên truyền về nghệ sĩ đó cùng với những tác phẩm, chương trình biểu diễn của họ cho các cơquan báo chí." Chị giảng giải cho chúng tôi biết về những nguyên tắc trong bảo hiểm ở Mỹ vànói: "Nếu cá nhân mua bảo hiểm y tế, sẽ rất đắt. Chúng tôi tập hợp các nghệ sĩ để mua bảo hiểmtheo Hội thì sẽ rẻ hơn rất nhiều. Khi thuê rạp biểu diễn, các nghệ sĩ là Hội viên cũng được hưởngnhững lợi ích tài chính đáng kể. Gần đây, do thương trường phát triển, tiền thuê các rạp hát tạiMalhatan tăng lên rất cao, làm cho các nghệ sĩ gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng nhờ sự giúp đỡcủa Hội, các nghệ sĩ được thuê rạp với giá giảm thiểu: thông thường thuê 50 USD một giờ,
  • 39. nhưng qua Hội chỉ thuê 10 USD một giờ. Năm ngoái, Hội đã tài trợ cho mỗi nghệ sĩ từ 300 đến750 đôla để bù đắp vào khoản tiền thuê rạp hát." Chị Cay Bakơ còn cho biết Hội thường tổ chứcnhững hội thảo cho nghệ sĩ (2-3 lần mỗi năm), tổ chức cho nghệ sĩ gặp gỡ những nhà sản xuất,những người có khả năng tổ chức cho nghệ sĩ biểu diễn. Chị Cay Bakơ khẳng định: "Hội chúngtôi đấu tranh vì quyền lợi nghệ sĩ, tư vấn cho nghệ sĩ, và làm cầu nối giữa các nghệ sĩ với các nhàtài trợ. Tài trợ thông qua các tổ chức của Hội thì sẽ đỡ phức tạp hơn cho nghệ sĩ và nhà tài trợ." Chị Ca-thơ-ry Ét-Uốt bổ sung: "Đã 25 năm nay chúng tôi có 1 chương trình quốc tế gọi làQuỹ valy. Mục đích cũng là quyên tiền cho nghệ sĩ tham gia các hoạt động giao lưu quốc tế. Quỹvaly đã tích luỹ được 4 triệu USD. Năm 2.000, chúng tôi chi 200.000 USD cho các nghệ sĩ, tổchức để họ thực hiện dự án của họ. Đã đồng tài trợ cho các dự án của các nghệ sĩ ở khoảng 50quốc gia. Một vài năm gần đây, chúng tôi tập trung cho Châu Á, Đông Âu. Hiện nay, chúng tôiđã phối hợp với hơn 20 đơn vị nghệ thuật ở Đông Âu, thảo luận với họ cách sử dụng tiền quyênđược từ nước Mỹ. Trong việc thúc đẩy quan hệ quốc tế về nghệ thuật, chúng tôi thực hiện nhiềuviệc như: tài trợ cho sự liên kết của 1 nghệ sĩ Mỹ với 1 nghệ sĩ nước ngoài, tổ chức họp mặt theomạng lưới (các nghệ sĩ trong khu vực), mời các nhà quản lý nghệ thuật tới để đào tạo nghiệp vụquản lý (trao đổi kinh nghiệm với nhau), mời nghệ sĩ nước khác đến biểu diễn và thuyết trìnhtrong hội thảo. Hàng năm, chúng tôi tổ chức biểu diễn cho 70 nghệ sĩ thì có từ 7 đến 10 người lànghệ sĩ từ các nước khác đến. Đối với hoạt động giao lưu của nghệ sĩ, chúng tôi chỉ tài trợ từ1.500 đến 3.000 USD cho 1 nghệ sĩ chứ không nhiều. Còn nếu giúp họ ra nước ngoài thì chúngtôi chỉ cấp vé máy bay đi lại; nước tiếp đón phải lo cho họ ăn ở. Năm 2.000, Quỹ valy đã tài trợcho 19 nghệ sĩ đi các nước Việt Nam, Lào, Thái Lan. Tháng 8 năm 2.001, Hội đã gặp các nghệ sĩnày để nghe ý kiến của họ, xem họ đánh giá thế nào, có muốn tiếp tục thực hiện dự án không?Như vậy là chúng tôi đã thực hiện một chuyến nghiên cứu nghệ thuật các nước Đông Nam Ádưới con mắt nghệ sĩ chứ không phải là nhà nghiên cứu. Các nghệ sĩ này rất phấn khởi, mongmuốn tiếp tục dự án. Sang năm chúng tôi sẽ sang Việt Nam xem xét việc xây dựng lại dự án ởViệt Nam". Một số phòng tranh Tại Mỹ, việc bán các tác phẩm mỹ thuật có giá trị hầu hết phải thông qua các phòng tranhdo những nhà chuyên kinh doanh nghệ thuật tổ chức, chứ các tác giả thường không đứng ra bántác phẩm của mình. Chính vì thế mà ở Mỹ, các phòng tranh mọc ra như nấm. Người ta chia ranhiều loại phòng tranh: loại trưng bày tác phẩm của những hoạ sĩ đã nổi tiếng, loại của các hoạ sĩmới, loại đã được giới thiệu và đang cần được tiếp tục giới thiệu để trở nên nổi tiếng. Ngườihướng dẫn cho chúng tôi đi tham quan các phòng tranh ở Niu-Yoóc là nữ giáo sư Sandra Lang,
  • 40. chủ nhiệm khoa quản lý mỹ thuật trường đại học Niu-Yoóc. Chị cho biết nét đặc thù trong hoạtđộng của các phòng tranh là Giám đốc có trách nhiệm quan hệ chặt chẽ với các nghệ sĩ để lựachọn hoặc đặt hàng các tác phẩm trưng bày. Người Mỹ thường coi trọng danh tiếng, vì thế ngườita luôn luôn nói đến những cái nhất của mình hoặc của những đối tác của mình: có uy tín nhất,hiện đại nhất, lớn nhất, độc đáo nhất, có địa bàn hoạt động rộng nhất, có nhiều quan hệ với thếgiới nhất, vân vân và vân vân. Chính vì vậy mà những người giầu có ở Mỹ hoặc ở các nước khácđến Mỹ muốn mua tranh thường tìm đến các phòng tranh nổi tiếng. Cũng chính vì vậy, các hoạ sĩđều muốn trưng bày và gửi bán tranh của mình tại những phòng tranh lớn với những nhà sưu tậpnổi tiếng. Và thế là hình thành cặp đôi cộng sinh: nhà sưu tập tranh và nghệ sĩ. Để đảm nhận tốtnhiệm vụ, Giám đốc phòng tranh phải có đôi mắt tốt để thẩm định tác phẩm, đồng thời phải cóđôi tai tốt để nghe yêu cầu của thị trường, tạo uy tín cho phòng tranh của mình. Quan hệ giữa chủphòng tranh và nghệ sĩ rất thoải mái và sòng phẳng: việc treo tranh được hai bên thoả thuận màkhông có gì ràng buộc, thường treo từ 4 đến 6 tuần, khi bán được thì hưởng theo tỷ lệ 50/50 giátrị bức tranh. Nếu không bán được, nghệ sĩ đem tranh về và không phải thanh toán công treotranh, cũng như không được nhận tiền "nhuận treo." Tuy có chung mô hình như vậy, nhưngphương thức hoạt động của mỗi phòng tranh lại có những nét riêng. Theo lời giới thiệu của nữgiáo sư Sandra Lang, thì ở khu vực này có tới 200 phòng tranh. Chúng tôi chỉ đi thăm 4 phòngtranh. Phòng tranh thứ nhất có tên gọi DIE chỉ triển lãm tranh của những nghệ sĩ đã ổn định nghềnghiệp, nổi tiếng. Theo lời giới thiệu, thì hoạt động của phòng tranh này không nhằm lợi nhuận,nhưng giá vé vào cửa là 6 USD một người. Tầng một của phòng tranh được chia làm hai phòng,đều có trưng bày mỹ thuật. Người phụ trách tầng này cho biết người ta vừa mới cho tu sửa cănnhà này theo kiểu hiện đại và phù hợp với nơi trưng bày mỹ thuật. Lúc này, phòng tranh đang cómột cuộc trưng bày khá lạ lùng: toàn bộ trần của hai phòng thuộc tầng một được chăng các dảilụa mầu vàng, đỏ chạy ngang dọc như mắc võng và có những dải rủ lòng thòng xuống phòng.Một đôi nơi có thả thõng xuống từ trần nhà một chiếc micrô mà dưới sàn đối diện là một bệ gỗ.Đang ngơ ngác không hiểu đây là loại mỹ thuật gì, thì chúng tôi được giới thiệu là nơi này thểhiện sự kết hợp giữa mỹ thuật và công nghệ. Người hướng dẫn đứng vào một bệ gỗ, ghé miệngnói mấy tiếng vào chiếc micrô, lập tức từ các "vòm lụa" trên trần nhà dội lại một âm thanh âmâm. Những âm thanh mơ hồ ấy kết hợp với mầu sắc mạnh và đường nét rối rắm của các dải lụatạo ra một ảo giác về một cõi thần bí. Tuy vậy, chúng tôi cũng khó có thể có cảm xúc với loạihình mỹ thuật này. Người hướng dẫn đưa chúng tôi lên tuốt sân thượng để "giới thiệu một tácphẩm mỹ thuật độc đáo". Đứng trên tầng thượng cao chót vót, gió lồng lộng, chúng tôi lại mộtlần nữa ngơ ngác không hiểu tác phẩm mỹ thuật độc đáo kia đâu. Người hướng dẫn đưa chúngtôi về phía giữa sân thượng, chỉ vào một "căn phòng" bằng kính và nói rất tự hào: "Đây là tác
  • 41. phẩm kết hợp thành công giữa nghệ thuật và công nghệ. Những tấm kính dùng để ghép cănphòng này có độ khúc xạ ánh sáng khác nhau, cho nên khi vào trong phòng nhìn ra, sẽ có nhữngcảm giác siêu thực!". Trong khi chúng tôi thận trọng len theo hành lang nhỏ được tạo thành bởinhững tấm kính, thì nữ hướng dẫn viên nói tiếp: "Lúc đầu, chúng tôi đặt hàng cho tác giả trưngbày tác phẩm này ở đây ba tháng, nhưng vì giá trị của nó được khẳng định mạnh mẽ quá, chúngtôi đã mua đứt tác phẩm này." Tôi đứng giữa phòng kính nhìn quanh, không thấy có gì đặc biệt.Nhưng khi nhìn kỹ về hướng Tây, thấy tấm kính in hình những đám mây chiều cuồn cuộn vàxuyên qua tấm kính ấy là những ngôi nhà đồ sộ của Niu-Yoóc, thì một cảm giác kỳ ảo xuất hiện:cái khối nhà đồ sộ kia như đang nổi bồng bềnh trên mây và tôi như đang phiêu du trong cõi bồnglai! Lúc này thì tôi tin vào lời giới thiệu của nữ hướng dẫn viên. Chắc chắn là vào những giờkhác nhau, với cường độ ánh sáng và độ chếch khác nhau của mặt trời, người đứng trong phòngkính nhìn ra sẽ nhận được những hình ảnh khác nhau, tạo ra những cảm giác khác nhau. Xin ghinhận tính độc đáo của sự tìm tòi kết hợp nghệ thuật và công nghệ. Chúng tôi được hướng dẫn đitheo cầu thang chứ không đi thang máy để xuống dần từng tầng mà xem các phòng tranh khácnhau. Tôi gặp mấy thanh thiếu niên cắp cặp và bút vẽ đi ngược lên. Có lẽ đấy là học sinh mỹthuật tới để thực tập. Phòng trưng bày tiếp theo, không giới thiệu cũng thấy ngay tính độc đáocủa nó: không có bức tranh nào, mà chỉ có 5 máy chiếu phóng hình ảnh xuống sàn nhà và tường.Thế là tạo ra một bức tranh không gian ba chiều sống động, trên đó là cảnh mùa thu vàng vớinhững chú ong bay rộn rã. Thấy chúng tôi trầm trồ khen ngợi, cô hướng dẫn viên hào hứng:"Nghệ sĩ tạo ra bức tranh có một không hai trên thế giới này là một nữ hoạ sĩ kiêm kỹ sư. Chị ấyđã phải mất nhiều năm nghiên cứu và sáng tạo mới đi đến kết quả này. Nhưng các ngài cần lưuý, ngay cả bức tường cùng hai cái cửa sổ kia, và cả ánh sáng tự nhiên nữa, mới làm nên một bứctranh hoàn chỉnh như thế này. Nữ hoạ sĩ đã phải thay đổi nhiều lần vị trí đặt 5 máy chiếu mới tìmđược sự hài hoà đến tuyệt đốí giữa hình ảnh trong phim và bối cảnh thực như các ngài thấy đó.Khi ánh sáng thay đổi theo các giờ khác nhau thì bức tranh này cũng có những sắc thái khácnhau". Đến đây, tôi chợt nhớ tới tài liệu của quỹ FORD có nói đến mối tình của nước Mỹ vớicông nghệ. Trong thế kỷ 20, phim ảnh, truyền hình, radio, máy quay đĩa và và máy vi tính đã tạonên một nền văn hoá đại chúng chiếm tỉ lệ rất lớn. Và bây giời, công nghệ đã tác động mạnh mẽcả vào nghề vẽ vốn là một nghề không liên quan nhiều lắm đến công nghệ. Mối tình với côngnghệ của Mỹ sẽ còn thắm thiết hơn nữa khi nó được biểu hiện trên lĩnh vực công nghệ thông tinmà Mỹ đang làm bá chủ. Phòng tranh thứ hai có giám đốc tên là Max, một người có tính khôi hài. Ông cho biết phảilà người đam mê nghệ thuật mới làm được chủ phòng tranh. Ông Max làm nghề này 30 năm nay,luôn luôn có sự cộng tác chặt chẽ với các hoạ sĩ. Các hoạ sĩ đã treo tranh ở đây thì không treo ởnơi khác nữa, nhưng nếu nơi khác muốn treo thì phải thông qua ông. Đó cũng là một biện pháp
  • 42. quản lý, không làm bão hoà thị trường tranh. Ông Max xác nhận đây là một phòng tranh thươngmại, luôn phải nghĩ đến lợi nhuận. Tranh ở đây thường có khổ lớn và thể hiện bằng sơn dầu, cógiá rất cao. Ví dụ bức tranh treo ở đưới tầng hầm mà chúng tôi hỏi là một bức sơn dầu rộngkhoảng 2 mét X 2 mét rưỡi, vẽ phong cảnh, giá 130.000 USD. Mỗi năm phòng tranh này bánđược khoảng 1.000 đến 2.000 bức tranh. Chủ nhân phòng tranh thứ ba là một phụ nữ nhỏ nhắn, mới vào nghề 3 năm nay. Chị làmột thạc sĩ về quản lý nghệ thuật, đã tốt nghiệp đại học mỹ thuật năm 1997 ở Đại học Niu-Yoócvà đã từng có một triển lãm nhỏ trưng bày những tác phẩm của mình. Phòng tranh tập trung vàonhững tác phẩm của những nghệ sĩ mới xuất hiện, chọn lọc những bức tranh đương đại, hiện đại,đòi hỏi người xem phải suy nghĩ nhiều. Chị cho biết tiêu chuẩn của phòng tranh là chọn nhữnghoạ sĩ mà chị thấy thích và những hoạ sĩ yêu nghề, còn chị thì thích nhất là trường phái tối thiểu,tức là loại tranh rất đơn giản, giống như những bức tranh cổ động của Việt Nam, ít đường nét vànhiều màu, cũng giống như những phim hoạt hình của Mỹ. Những hoạ sĩ đã có tranh trưng bàytại đây thường giới thiệu những hoạ sĩ khác cho phòng tranh, nhờ đó, số lượng tác giả và tácphẩm cộng tác với phòng tranh ngày một tăng. Phòng tranh này độc quyền triển lãm tranh củanhững hoạ sĩ mới vào nghề. Tuy vậy, những hoạ sĩ này cũng có quyền đưa tranh đi trưng bày ởcác phòng tranh khác trong và ngoài nước Mỹ. Được hỏi về tổng số vốn đầu tư vào phòng tranh,chị nói không thể tính được, vì đầu tư nhiều lần, từ bất động sản, các thiết bị treo tranh tại phòngnày, đến các biện pháp quảng cáo giúp các hoạ sĩ thiết lập thị trường. Giá thuê nhà ở khu vực nàylà 50 USD một phít vuông một tháng, như vậy riêng tiền thuê nhà chị phải chi 120.000 USD mộtnăm. Chị nói thật là dù muốn, cũng không có khả năng mua hết các tranh treo ở đây, do vậy chịchỉ giúp các hoạ sĩ thiết lập thị trường mà thôi. Giá tranh ở đây thấp hơn so với các phòng tranhkhác, thường là 1.500 đến 2.000 USD một bức, loại rẻ thậm chí chỉ vài trăm USD, bức đắt cũngchỉ lên 5.000 USD, bức đắt nhất đã bán là 25.000 USD. Sở dĩ tranh ở đây giá rẻ vì tác giả củachúng còn trẻ, chưa nổi danh, mặt khác những tranh này lại khác lạ, người xem chưa thể hiểungay để mà thích được. Chị chủ phòng tranh hướng mắt về phía giáo sư Mác-tin Su-lơ-man vànói: "Ngay vị giáo sư này cũng nói rằng những bức tranh ở đây có rất nhiều thách thức đối vớingười xem, cho nên ông ấy cũng chưa có thể nói rằng chúng đẹp hay không đẹp, ông ấy thíchhay không thích." Giáo sư Mác-tin Su-lơ-man nói xen vào: "Dù có vì lợi nhuận hay không, thìngoài tiền bạc ra, cũng phải có sự đam mê nghệ thuật nữa." Phòng tranh thứ tư đã hoạt động 40 năm. Hoạ sĩ tham gia triển lãm tại phòng tranh nàyđều là những người nổi tiếng. Chúng tôi thấy phòng tranh này đang trưng bày tranh của A-lếchKát, mà theo lời giám đốc phòng tranh giới thiệu thuộc "giữa trường phái trừu tượng và trườngphái sau trừu tượng". Đó là những bức tranh màu dầu khổ lớn, có bức choán gần hết bức tường
  • 43. chính diện vẽ hình mấy nhóm người đứng trò chuyện trong vườn cây. Bên cạnh đó là một số bứctranh sơn dầu, mầu dầu cỡ nhỏ treo sát nhau. Giám đốc phòng tranh cho biết tranh của tác giảnày giá bán khá cao, bức nhỏ có giá 12.000 USD, bức lớn giá mấy trăm nghìn USD. Phòng tranhcòn có những tác phẩm giá trị của những hoạ sĩ bậc thầy đã qua đời, như Picátxô. Thấy tranh quálớn, tôi hỏi ai có thể mua, thì được ông giám đốc trả lời: "Chúng tôi nhằm vào khách hàng lànhững công ty, hoặc những nhà sưu tập có phòng trưng bày rộng." Phòng tranh này mở cửa miễnphí cho mọi người vào xem, kể cả những người chỉ vào xem mà không có ý định mua tranh.Giám đốc tự gới thiệu đây là một trong những triển lãm thành công nhất tại khu vực này, mànguyên nhân thành công là người chủ luôn luôn chú trọng đến nghệ sĩ. Chúng tôi được biết ônglà một nhà chuyên môn cao, được chủ công ty thuê để phụ trách phòng tranh này. Ông có thái độniềm nở và chu đáo. Thấy mọi người quan tâm đến cuốn sách giới thiệu phòng tranh, ông nóirằng đó là ấn phẩm thương mại, nhưng cũng có thể dùng để biếu tặng, và xăng xái lấy ngay ramấy cuốn tặng chúng tôi. Ông nói với chúng tôi rằng uy tín của phòng tranh sẽ làm cho tranh bánđược giá cao. Ông kể với chúng tôi rằng chủ nhân của phòng tranh này lúc đầu là sinh viên ởBôx-tơn, chỉ có 10.000 USD để khởi dựng cơ nghiệp, không đủ tiền thuê nhân công, phải huyđộng cả vợ con ra treo tranh, lúc đó bán tranh với giá thấp, chỉ mấy nghìn USD một bức, vìphòng tranh chưa có danh tiếng, nếu như để đến bây giờ thì phải bán vài trăm nghìn USD mộtbức. Qua 4 phòng tranh, tôi đều thấy sự chuẩn bị chu đáo về tuyên truyền. Phòng tranh nàocũng có áp phích quảng cáo, có ca-tơ-lô, thậm chí có những cuốn sách in rất đẹp giới thiệu cáctác phẩm được bầy bán. Một đặc tính chung đáng quan tâm là mối quan hệ mật thiết giữa cácgiám đốc phòng tranh với nghệ sĩ, đó là mối quan hệ cộng sinh, nâng đỡ nhau trong hoạt độngsáng tạo và thu lợi nhuận, mà trong đó, để bán được tranh với giá cao, bên cạnh giá trị nghệthuật, còn có yếu tố cũng mang tính quyết định là uy tín của phòng tranh. Có lẽ ở nước ta, khó cóhoạ sĩ nào chấp nhận tỷ lệ ăn chia 50/50 giữa người sáng tạo ra tác phẩm và người bán tác phẩmnhư thế này. Bảo tàng Mỹ thuật Mêtrôpôlitan Với địa chỉ: số 1.000 Đại lộ 5 phố 82, Bảo tàng Mỹ thuật Mêtrôpôlitan nằm ở một khu vựccó nhiều cây cối xanh tươi vào loại nhất của Niu-Yoóc. Phần trưng bày về kiến trúc của bảo tàngnày còn được đặt ngoài sân, tiếp giáp với một công viên, tạo một cầu nối giữa hiện vật trưng bàyvà cỏ cây hoa lá ngoài trời, làm cho bảo tàng gắn kết chặt chẽ với thiên nhiên, tạo nên một cảmgiác dễ chịu cho người xem sau khi đã khá mệt mỏi vì "lùng sục" qua các phòng trưng bày ngồnngộn những hiện vật.
  • 44. Hướng dẫn chúng tôi tham quan là Mary Bét-thơ O-re-ly, một phụ nữ khoảng 50 tuổi,dáng người đậm nhưng khá nhanh nhẹn và rất tận tâm. Đáng nể, chị không phải là nhân viên ănlương của bảo tàng, mà là một tình nguyện viên hướng dẫn tham quan. Chị cho biết mỗi ngày ởđây có 4 tua tham quan có hướng dẫn, nhưng khách có thể tự đi xem những nơi mình thích màkhông theo tua cũng được. Vào bảo tàng, tôi gặp rất nhiều học sinh. Các em đi thành từng tốp, cógiáo viên hướng dẫn. Dọc các hành lang, người ta đặt nhiều ghế băng, thậm chí cả sàn gỗ lớn, đểkhách nghỉ chân. Người hướng dẫn cho biết chúng tôi sẽ đi thăm bảo tàng chỉ trong vòng 45phút, cho nên chỉ có thể thăm những nơi đáng quan tâm nhất. Chúng tôi được giới thiệu khái quát về bảo tàng Mỹ thuật Mêtrôpôlitan như sau: Với hơn 5 triệu lượt khách hàng năm, Bảo tàng Mỹ thuật Mêtrôpôlitan (thường gọi là"The Mét") là nơi thu hút khách du lịch nhiều nhất ở Niu-Yoóc. Được thành lập năm 1870, bộ sưu tập của Bảo tàng hiện gồm hơn 2 triệu tác phẩm nghệthuật các loại từ thời cổ đại cho đến hiện đại. Bảo tàng phân loại và trưng bày các hiện vật theonội dung như sau: Bộ sưu tập Nghệ thuật trang trí Mỹ gồm có đồ đạc, đồ bạc, thiếc, thuỷ tinh, gốm và hàngdệt may từ cuối thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20, cũng như nền kiến trúc trong nước được thể hiệntrong những căn phòng được bố trí theo từng thời kỳ, cùng với các bức chân dung, tranh phongcảnh, tranh về lịch sử, tĩnh vật, nghệ thuật dân gian và điêu khắc từ thời thuộc địa đến đầu thế kỷ20. Bộ sưu tập Nghệ thuật Cận Đông cổ đại gồm các tác phẩm chạm khắc và điêu khắc bằngđá, ngà voi và các hiện vật làm bằng các kim loại quý từ rất nhiều nơi và rất nhiều thời kỳ khácnhau - từ xứ Anatôli đến thung lũng In-đớt, từ thời kỳ đồ đá mới (8.000 năm trước Giáo hội Anhquốc) đến thời kỳ chinh phục của người Ảrập (thế kỷ thứ 7 Giáo hội Anh quốc). Bộ sưu tập Vũ khí và các loại xe bọc thép bao gồm các loại thiết giáp, chiến xa, cộng vớivũ khí và trang phục võ thuật với vẻ đẹp trang trí và điêu khắc đến từ Châu Âu, Châu Á, TrungĐông và Châu Mỹ. Bộ sưu tập Nghệ thuật Châu Phi, Châu Đại Dương và Châu Mỹ bao gồm các vật làm lễ vàcác tác phẩm tưởng niệm, tư trang, dụng cụ sử dụng hàng ngày đến từ ba lục địa và hàng loạt cácđảo nhỏ ở Thái Bình Dương, từ 2.500 năm trước Giáo hội Anh quốc đến hiện tại.
  • 45. Bộ sưu tập Nghệ thuật Châu Á bao gồm các bức tranh, thư pháp, in ấn điêu khắc, gốm,đồng, ngọc, sơn mài, dệt và màn the từ cổ chí kim của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, NamÁ và Đông Nam Á. Bộ sưu tập Các nhà tu, ghi lại nghệ thuật và kiến trúc Châu âu thời Trung cổ, bao gồmđiêu khắc, các chữ viết cổ có thuyết minh, thuỷ tinh nhuộm, tác phẩm từ kim loại, men, ngà, cácbức hoạ và các thảm. Viện Trang phục trưng bày quần áo thời trang của 7 thế kỷ và 5 châu lục, trang phục vùng,và các đồ dùng dành cho nam giới, phụ nữ, trẻ em từ xưa đến nay. Bộ sưu tập Các tác phẩm vẽ và in bao gồm nghệ thuật đồ hoạ thời Phục hưng và sau đó,trong đó có các tác phẩm in theo mọi kỹ thuật, từ những bức phác hoạ cho đến những tác phẩmhoàn thiện, sách có minh hoạ và những tác phẩm trên giấy khác. Bộ sưu tập Nghệ thuật Ai Cập bao gồm tượng, chạm khắc, bia khắc, các đồ vật trong lễtang, đồ trang sức, đồ dùng hàng ngày và kiến trúc thời Ai Cập tiền sử qua các Vương quốc Tiền,Trung và Hậu đến thời kỳ La Mã (thế kỷ thứ 4 Giáo hội Anh quốc). Bộ sưu tập Hội hoạ Châu Á bao gồm các khung tranh, panô, tranh bộ ba, bích hoạ do cácbậc thầy người Ý, người F-lan-đơ, Hà Lan, Pháp, Tây Ban Nha... sáng tạo từ thế kỷ 12 đến thếkỷ 19. Bộ sưu tập Nghệ thuật điêu khắc và trang trí châu Á bao gồm những tác phẩm điêu khắc,đồ đạc, gốm, thuỷ tinh, kim loại, các dụng cụ khoa học, hàng dệt và các phòng bố trí theo từngthời kỳ của các nước Tây Âu từ thời Phục hưng đến đầu thế kỷ 20. Bộ sưu tập Nghệ thuật Hy Lạp và La Mã trưng bày các tác phẩm nghệ thuật Hy Lạp, LaMã, E-tru-ria, Síp cho đến thế kỷ thứ 4 Giáo hội Anh quốc, bao gồm đá cẩm thạch, điêu khắcbằng đồng và bằng sành, lọ hoa, các bức bích hoạ, đồ trang sức, ngọc chạm, thuỷ tinh và các vậtdụng. Bộ sưu tập Nghệ thuật Hồi giáo bao gồm các mẫu chữ viết tay, các bức tiểu hoạ, thảm, cácvật trang trí phức tạp các kiểu, và các yếu tố kiến trúc có từ khi Hồi giáo được thành lập từ thế kỷ7 Giáo hội Anh quốc trở đi, từ Marốc đến Ấn Độ.
  • 46. Bộ sưu tập Rôbớt Lê-man là một bộ sưu tập cá nhân các bức tranh. bức vẽ và nghệ thuậttrang trí được hiến tặng cho Bảo tàng, trong đó có rất nhiều tác phẩm có từ thời Phục Hưng-Italia và phương Bắc cho đến thế kỷ 20. Các thư viện tra cứu có các xuất bản phẩm in lần thứ nhất rất hiếm, các chuyên luận và sổtay của các nghệ sĩ, át lát có minh hoạ, vở dán bài rời, các bìa sách đẹp đẽ và các tác phẩm đầutiên về lịch sử nghệ thuật Bộ sưu tập Nghệ thuật trung cổ trưng bày các tác phẩm Châu Âu, đế quốc La Mã phươngĐông, triều đại Phờ-ranh được Cha-lơ-meng tìm thấy, kiểu Roman thịnh hành vào thời kỳ giữacổ điển và Gô-tíc có từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 16, bao gồm điêu khắc, thảm thêu, áo quan, những đồvật đựng đồ tế lễ... Bộ sưu tập Nghệ thuật hiện đại bao gồm các bức hoạ của Mỹ và Châu Âu, các tác phẩmtrên giấy, điêu khắc, thiết kế và kiến trúc, đại diện cho những trào lưu nghệ thuật chính từ năm1.900. Những bộ sưu tập quan trọng khác gồm có: Bộ trưng bày các nhạc cụ có tầm quan trọngvề mặt lịch sử, kỹ thuật và xã hội, có gá trị cả về âm thanh và hình ảnh, có từ đàn ắccorđêôngđến đến đàn tam thập lục. Bộ ảnh trưng bày những bức ảnh có từ khi kỹ thuật chụp ảnh mới xuấthiện, các tác phẩm tiên phong của Mỹ và Châu Âu, và các bộ sưu tập đương đại đến từ khấp nơitrên thế giới; Trung tâm hàng dệt Atonio Ratti có các thảm thêu, nhung, tác phẩm thêu, ren, vảithêu mẫu, may chần, len và vải in từ tất cả các thời kỳ và các nền văn minh có từ 3.000 nămtrước Giáo hội Anh quốc. Bên cạnh đó, Bảo tàng còn có một trang web giới thiệu khoảng 3.500 hiện vật trong đó có50 hiện vật đẹp nhất từ mỗi bộ phận chính của bảo tàng cũng như từ bộ phận Tranh Châu Âu.Với đặc tính tương tác cao, trang web của Bảo tàng giúp độc giả có thể tra cứu về hiện vật củabảo tàng theo tác giả, thời kỳ, phong cách hoặc những từ quan trọng. Điểm qua như trên cũng đủ thấy sự phong phú, đa dạng của bảo tàng này. Đó thực sự làmột bảo tàng mang tầm cỡ thế giới. Nơi mà chúng tôi được giới thiệu kỹ nhất là khu vực bảo tàng mỹ thuật Hy Lạp thế kỷ thứVI trước Công nguyên. Tại đây có rất nhiều tượng đá lớn nguyên bản, nguyên dạng, tuy có bị sứtmẻ ít nhiều. Hướng dẫn viên tình nguyện Me-ri Bét O-ri-li dừng lại khá lâu trước một bức tượngnam giới khoả thân trong tư thế đứng và giảng giải rất kỹ về giá trị mỹ thuật cũng như giá trị lịch
  • 47. sử của nó. Gần nhóm chúng tôi, cũng đứng trước một bức tượng đá khá lớn là một tốp học sinhvà một người đàn ông cao lớn, có lẽ là giáo viên. Tôi thấy người đàn ông nói gì đó với học sinhkhiến các em cười vui vẻ, sau đó một em đến sát bức tượng và cũng giảng giải về giá trị bứctượng. Có lẽ đây là hình thức học tập tại bảo tàng, một cách học trực quan khá phổ biến tại Mỹ.Thăm khu vực trưng bày các tác phẩm mỹ thuật của Mỹ, tôi chú ý đến một bức tranh lớn bằngkính các mầu. Tác phẩm này của một hoạ sĩ Mỹ làm theo đơn đặt hàng của một ông chủ vào năm1920, thể hiện phong cảnh mùa thu khá gợi cảm. Người Mỹ rất tự hào về tác phẩm này bởi giá trịnghệ thuật của nó và tính độc đáo trong việc ứng dụng công nghệ vào sáng tạo nghệ thuật của tácgiả. Nghệ sĩ người Mỹ này đã học tập cách thức dùng chất liệu thuỷ tinh của nhà thờ để làmtranh, nhưng có sáng tạo trong cách xử lý, ví dụ đã tạo cảm giác về sự thô ráp của một thân câybằng cách nung chảy thuỷ tinh và khi thuỷ tinh chưa đông đặc lại đã dùng hơi nóng sấy khô, làmcho bề mặt thuỷ tinh gợn lên. Một lần nữa tôi được thấy biểu hiện rõ nét một đặc tính của ngườiMỹ - họ rất giỏi trong việc ứng dụng các công nghệ hiện đại vào đời sống. Người Mỹ cũng ưa sựmạnh mẽ, cho nên cách thức xây dựng nhà cửa, trang trí, các tác phẩm nghệ thuật đều được làmtheo hướng hoành tráng, tạo mảng, khối. Tại gian trưng bày sưu tập Nghệ thuật Ai Cập có một ngôi đền cổ Ai Cập bằng đá có độtuổi 2.060 năm "được tặng cho nước Mỹ như sự biết ơn vì nếu không có người Mỹ khai quật thìcó thể nó đã bị mất rồi. Ngôi đền này đại diện cho kiến trúc của các ngôi đển cổ Ai Cập" - hướngdẫn viên tự hào giới thiệu như vậy. Sau 45 phút thăm các phòng trưng bày, chúng tôi về phòng trao đổi công việc. Nhữngngười phụ trách bảo tàng thông báo với chúng tôi về hoạt động của bảo tàng. Người Mỹ có sựphân công rạch ròi, cho nên từ hôm đến đây đến giờ, làm việc ở đâu tôi cũng được nghe nhiềungười trong một cơ quan thông báo công việc, mỗi người nói về công việc của mình, khônggiống ở bên ta thường thường thường thủ trưởng đơn vị bao sân tất cả, những người khác chỉ "bổsung". Tại Bảo tàng này, tôi được nghe tới 5 người thông báo về các nội dung khác nhau: hoạtđộng chung của Bảo tàng, công tác lưu trữ, công tác vận chuyển hiện vật sưu tập về Bảo tàng,công tác phát triển, công tác thông tin. Đáng chú ý là Bảo tàng có lối làm ăn năng động, tạo đượcnhiều nguồn lực để tồn tại và phát triển. Ông Pitơ M. Ke-my, Giám đốc Bảo tàng nghệ thuật trang trí Mỹ thuộc bảo tàng Mỹ thuậtMêtrôpôlitan , giới thiệu như sau: "Từ năm 1924, những người xây dựng bảo tàng đã có ý tưởngxây dựng một bảo tàng mỹ thuật Mỹ để lưu giữ những giá trị thuần Mỹ. Từ đó, chúng tôi đã sưutầm được những bộ sưu tập cổ rất có giá trị gồm 15.000 hiện vật (hội hoạ, điêu khắc, trang trí,những yếu tố kiến trúc bằng bạc, kim loại...) từ thế kỷ thứ 17 (1600-1690). Hiện nay chúng tôi có
  • 48. 10 người phụ trách các nội dung khác nhau: gốm, sứ, dệt, kim loại, thuỷ tinh, hội hoạ, điêukhắc… Cùng với phần trưng bày, chúng tôi còn xuất bản sách, lưu trữ các tài liệu trên mạng máyvi tính. Hoạt động của chúng tôi mang tính dân chủ. Chúng tôi cũng giới thiệu các nhà sưu tậpđến mua cổ vật tại các cuộc bán đấu giá, rồi đến lúc nào đó, chúng tôi lại vận động các nhà sưutập ấy hiến cho bảo tàng. Đổi lại, những người hiến tặng sẽ được ghi tên danh dự vào hiện vật vàđược miễn giảm thuế. Hệ thống thuế ở Mỹ rất tích cực hỗ trợ cho các bảo tàng." Ông cho biết ởMỹ, có hai cách đào tạo về quản lý bảo tàng: đào tạo tập trung trong các trường chuyên về bảotàng, và không tập trung qua hình thức mở lớp cấp chứng chỉ. Về ngân sách, bảo tàng của ôngđược cấp 130.000 USD cho các hoạt động, chưa kể lương, đồng thời còn có 2 nguồn tài trợ chínhlà tài trợ cho xuất bản 1 triệu USD một năm, tài trợ để mua các bộ sưu tập 250.000 USD mộtnăm. Ngoài ra, khi có việc xây dựng thì phải dự trù, để được cấp. Bảo tàng cũng quyên góp đượcnhiều từ các cá nhân. Có của ăn của để, bảo tàng đã thiết lập được quỹ trợ vốn, tạo ra lãi để bổsung cho việc chi tiêu. Khi tôi hỏi lại ông Giám đốc về tính thuần Mỹ được biểu hiện trong Bảotàng thế nào, ông trả lời: "Đó là bức chân dung Tổng thống Lin-côn, Oa-sinh-tơn, những hiện vậtcó liên quan đến các vị Tổng thống này, hoặc phòng các Tổng thống uống trà tại Philadenphia.Và không gian, không khí trong bảo tàng cũng gợi ra cuộc sống Mỹ trong lịch sử.." Sau đó, nhưnhớ lại tính hợp chủng quốc của Hoa Kỳ, ông giám đốc nói tiếp: "Tuy nhiên, ngày nay chúng tôikhông nhấn mạnh vào ý tưởng thuần Mỹ nữa. Ngay trong các trường học, ngày nay cũng khôngcòn các bài giảng về thuần Mỹ." Stela Pôn, nhà giáo dục về bảo tàng, giới thiệu: "Tôi đại diện cho bộ phận giáo dục củaBảo tàng này. Có 60 nhân viên, đây là bộ phận lớn nhất trong Bảo tàng Mỹ thuật Mêtrôpôlitan.Năm 2.000, chúng tôi đã đón tiếp 5,5 triệu lượt khách tham quan. Chúng tôi phải cung cấp thôngtin cho khách bằng nhiều hình thức, như thông qua các ấn phẩm, đồ lưu niệm, các cuộc hộithảo... Chúng tôi đã tổ chức 20.000 buổi nói chuyện trong bảo tàng và tại các phòng học, đónnhận vài trăm nghìn sinh viên đến tham quan, học tập hàng năm. Những người đến với mục đíchhọc tập, nghiên cứu rõ ràng, nghiêm túc, hoặc các đoàn khách quốc tế được chúng tôi phục vụmiễn phí. Việc xuất bản phục vụ cho giáo dục bảo tàng rất lớn, bằng cả ấn phẩm in trên giấy vàấn phẩm điện tử." Sơ-te-la Pôn giới thiệu với chúng tôi một hình thức huy động nhân lực phụcvụ Bảo tàng mang tính xã hội cao, rất Mỹ: "Nhiều bảo tàng ở Mỹ có các chương trình khai tháctình nguyện viên. Đó là những người đã về hưu hoặc rỗi việc nhưng có sức khoẻ và có khả năng,tình nguyện vào làm việc trong các bảo tàng mà không đòi hỏi đãi ngộ. Bảo tàng này có khoảng1.000 tình nguyện viên, trong đó có 800 người tình nguyện làm các công việc giấy tờ, trả lời điệnthoại, 200 người tham gia giảng dạy. Thời gian đầu, chúng tôi phải mất rất nhiều công sức đểhuấn luyện và giám sát họ, giúp họ làm quen với các công việc của bảo tàng. Riêng đội ngũnhững người tình nguyện giảng dạy đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động giáo dục của
  • 49. chúng tôi. Hỗ trợ cho hoạt động giáo dục là 20 thư viện trong bảo tàng, với rất nhiều sách củaMỹ và thế giới về bảo tàng." Qua phẩn trao đổi, chúng tôi rất quan tâm đến việc tạo ngân sách cho hoạt động của bảotàng này. Các bạn Mỹ đã giải thích rất rõ ràng như sau: Bảo tàng có nhiều hình thức tạo ngânsách, trong đó có ba nguồn thu quan trọng là thu từ phí hội viên, thu từ các khoản tài trợ, và thutừ bán vé. Tôi hết sức sửng sốt khi thấy các khoản thu được ở đây quá lớn: mỗi năm riêng cáckhoản tài trợ, quà tặng là 48 triệu USD, tiền phí hội viên cũng lên tới 18 triệu USD. Khi tổ chứctừng cuộc triển lãm, Bảo tàng còn kêu gọi các công ty tài trợ và luôn luôn nhận được sự ủng hộnhiệt tình. Năm 2.000, Bảo tàng đã thu được 6,5 triệu USD cho các cuộc triển lãm. Đáp lại, Bảotàng in tên các công ty tài trợ trong các ấn phẩm, các phương tiện quảng cáo giới thiệu các cuộctriển lãm đó. Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên ở phương thức tổ chức hoạt động của Bảo tàng. Tôi đã đinhiều bảo tàng trên thế giới, nhưng đến nước Mỹ này mới được nghe giới thiệu về các hội viêncủa một bảo tàng với số lượng lên tới 110.000 người, đã đóng góp cho Bảo tàng nguồn kinh phílớn như đã nói ở trên. Người ta chia mức phí hội viên thành nhiều loại, loại đóng thấp nhất là 50USD một năm được phép truy cập trang web của Bảo tàng, loại đóng 80 USD một năm đượchưởng nhiều quyền lợi hơn, như được vào tham quan bảo tàng bất cứ lúc nào, được mời xemtrước hoặc dự khai mạc những cuộc trưng bày quan trọng, được nhận những ấn phẩm mới giớithiệu về các bộ sưu tập, được giảm giá khi mua hàng lưu niệm... Trong số hội viên, nhóm liênhợp từ các bang khác là đông nhất, gồm 42.000 người, đóng Hội phí 45 USD một năm. Bên cạnhđó, có những công ty cũng tham dự với tư cách hội viên tập thể, không chỉ ông chủ công ty màtoàn thể thành viên của công ty đều được hưởng quyền lợi của một hội viên. Về mặt tổ chức, Bảo tàng có hai bộ phận cũng rất quan trọng. Đó là bộ phân Phát triển,gây quỹ với 50 người, và bộ phận Quản lý hội viên với 50 người. Những bộ phận này hoạt độngcó chương trình, kế hoạch và phương pháp sát hợp, tạo hiệu quả cao. Họ thường xuyên tiếp cậnvới công chúng để mời chào làm hội viên, để huy động tài trợ, thông qua nhiều hình thức, nhưgửi thư, trao đổi qua thư điện tử, điện thoại, gặp gỡ trực tiếp... Trong hoạt động của mình, bộphận phát triển, gây quỹ tập trung nhiều nhất vào các cá nhân, rồi đến các quỹ. Coi tất cả nhữngngười quan tâm đến Bảo tàng là thành viên của mình, họ rất hiểu tâm trạng, sở thích nhữngngười này và có những cách thức ứng xử phù hợp. Có những ông chủ giầu có cần uy danh, Bảotàng mời vào Hội đồng chủ tịch của Bảo tàng. Riêng những thành viên danh dự của Hội đồngnày mỗi năm đã tài trợ cho Bảo tàng 40 triệu USD. Đối với những người quan tâm đến cácchuyên đề, Bảo tàng tổ chức những chương trình dành riêng cho nhu cầu của từng nhóm, ví dụ
  • 50. nhóm ưa thích nghệ thuật cổ La Mã, nhóm ưa thích nghệ thuật Hồi giáo… Phwong châm củaBảo tàng là: Hãy tạo cho những người đến Bảo tàng có cảm giác là thành viên của Bảo tàng, phảiquan tâm đến người ta để người ta quan tâm đến mình, để người ta đóng góp cho Bảo tàng nhưđóng góp cho gia đình họ. Được hỏi về vai trò của chính quyền trong hoạt động của Bảo tàng,ông Pi-tơ cho biết: Thành phố Niu-Yoóc hỗ trợ cho các chi phí về nước, cơ sở hạ tầng. Tuy vậy,mức hỗ trợ đã bị giảm đáng kể, trước kia chiếm 20% chi phí về nước và hạ tầng cơ sở của Bảotàng, nay chỉ còn 14%. Ông nói thêm: "Gần đây ở Mỹ có tình trạng sáp nhập các công ty, do đósố đầu công ty tài trợ cho Bảo tàng cũng bị giảm đáng kể. Đó là những thử thách mới khiếnchúng tôi phải nỗ lực hơn trước." Như hầu hết các cơ sở văn hoá ở Mỹ, Bảo tàng có bộ phận kinh doanh tạo ra lợi nhuận.Được thành lập ngay từ ngày Bảo tàng ra đời, hệ thống kinh doanh hoạt động rất hiệu quả, hàngnăm tạo ra thu nhập 70 triệu USD cho Bảo tàng. Đây thực sự là một doanh nghiệp hoạt độngchuyên nghiệp, tạo ra lợi nhuận cao, nhưng được miễn thuế. Phương thức kinh doanh cũng nhưcác mặt hàng ở đây rất độc đáo, không phải chỉ tập trung kinh doanh trong khuôn viên Bảo tàng,mà còn mở rộng ra ngoài xã hội, nhưng tập trung vào những gì liên quan đến Bảo tàng và phụcvụ khách tham quan. Giống như nhiều Bảo tàng khác, bán đồ lưu niệm cho khách tham quan làmột cách tạo nguồn thu cho Mêtrôpôlitan. Có điều đặc biệt là việc bán đồ lưu niệm được địnhhướng rõ - hàng phải mang nội dung của bảo tàng, mục đích bán hàng lưu niệm là để giáo dục,tạo liên tưởng đến bảo tàng; 90% số hàng lưu niệm bán ra là do Bảo tàng sản xuất. Tư tưởng nàyđược thực hiện triệt để, và tôi để ý rằng ngay cả trong các bao bì đựng tặng phẩm tặng đoànchúng tôi, cũng đều in những hình ảnh hoặc lời giới thiệu về bảo tàng này. Người phụ trách kinhdoanh cho chúng tôi biết, ngoài cửa hàng bán hàng lưu niệm tại chỗ, Bảo tàng Mỹ thuậtMêtrôpôlitan còn có 19 cửa hàng rải ra khắp nước Mỹ. Không những vậy, Mêtrôpôlitan còn liêndoanh với các nhà kinh doanh trên thế giới bán đồ lưu niệm của bảo tàng này. Tôi nhẩm tính, vớikhối lượng trên 5 triệu lượt người vào tham quan mỗi năm, chỉ cần mỗi người mua hoặc đượctặng một đồ lưu niệm, thì đã tiêu thụ hết trên 5 triệu văn hoá phẩm, cộng với lượng hàng hoáđược bán ngoài bảo tàng, số lượng chắc lớn lắm. Cũng cần nói thêm rằng, số lượng người đếntham quan bảo tàng được tính chính xác đến hàng đơn vị chứ không áng chừng như ở ta, vì Bảotàng này có máy đếm tự động, và các dữ liệu đều được lưu vào hệ thống máy vi tính. Muốn đápứng được yêu cầu cung cấp hàng lưu niệm, chắc chắn Bảo tàng này phải tổ chức một bộ phân sảnxuất đủ mạnh. Chúng tôi còn được giới thiệu là cửa hàng sách của Bảo tàng là cửa hàng sáchbằng tiếng Anh lớn nhất thế giới. Một nguồn thu quan trọng khác là phục vụ ăn uống cho kháchtham quan (Tôi chợt liên hệ đến nước ta, việc kinh doanh ăn uống trong bảo tàng thường bị dưluận phê phán, coi là làm "uế tạp" các giá trị văn hoá). Như rất nhiều nước xứ lạnh khác, mọicông việc ở Mỹ đều bắt đầu rất muộn, thường là từ 9 giờ hoặc 9 rưỡi sáng, cho nên người ta
  • 51. thường làm việc thông tầm và cũng vì vậy, việc ăn trưa thường diễn ra ngay tại công sở. Bảotàng này cũng mở cửa muộn, nội dung tham quan lại phong phú, cho nên ăn trưa tại bảo tàng lànhu cầu thiết yếu đối với hầu hết khách tham quan. Cũng vì thế, bảo tàng có một cửa hàng ănngay trong lòng toà nhà lớn nhất, với đủ loại món ăn, và lượng người đến ăn đông tới mức chúngtôi phải phân công người "xí" chỗ ngồi trước rồi mới xếp hàng mua đồ ăn sau. Nếu ăn một cáchbình dân, cũng phải mất khoảng chục USD, còn ăn có món cá hồi thì chi đến 18 USD cho mộtsuất. Nếu so sánh với mức thu nhập của một lái xe bình thường là 1.200 USD một tháng (trừ cáckhoản phải nộp rồi thì còn khoảng sáu, bẩy trăm USD), thì đây là giá "cắt cổ". Thế nhưng, ngườiăn cứ nườm nượp, đến nỗi mấy thùng rác to đùng đựng đồ phế thải do khách ăn uống ném vàoluôn luôn phải thay vì nó đầy lên một cách nhanh chóng. Một điều phổ quát trong hoạt động của tất cả các cơ sở văn hoá mà tôi được biết ở nướcMỹ này, là công tác thông tin được coi trọng và được tiến hành một cách tuyệt hảo. Bảo tàngMêtrôpôlitan này cũng vậy, có thể nói là công tác thông tin đã đem lại thành công lớn cho bảotàng. Bộ phận này đã đảm nhận trách nhiệm sưu tập 2 triệu hiện vật về cho Bảo tàng, ngoài racòn mượn hiện vật trên thế giới khi có triển lãm lớn. Cung cấp thông tin cho báo chí, bộ phậnthông tin phải biên tập nội dung cần tuyên truyền và liên hệ với 6.000 người đưa thông tin lênmạng. Hàng năm, bộ phận thông tin in ca-tơ-lô, gửi đến khoảng 4 triệu khách hàng. Sau thảmhoạ 11/9, khách đến bảo tàng giảm 60%, thì việc cung cấp thông tin về hoạt động của bảo tàng làmột việc làm bức thiết. Bộ phận thông tin đã làm hết sức mình: thông báo trên các phương tiệnthông tin đại chúng, gửi thư điện tử, thông báo trên trang web... để mọi người trên thế giới hiểurằng bảo tàng vẫn mở cửa bình thường, đường đến Niu-Yoóc vẫn thông suốt và an toàn, và nhờvậy, số khách đến bảo tàng tăng dần, cho đến nay chỉ còn giảm 25% so với cùng thời kỳ nămtrước. Điều mà các nhà lãnh đạo Bảo tàng Mỹ thuật Mêtrôpôlitan muốn nhấn mạnh với chúng tôilà, nhìn tổng thể, hoạt động của Bảo tàng là không vì lợi nhuận, nhưng mỗi thành viên của Bảotàng đều phải nghĩ ra và thực hiện bao nhiêu cách phụ trợ để kiếm ra tiền, có thế mới tồn tại vàphát triển được. Thăm bảo tàng Mỹ thuật Mêtrôpôlitan, tôi suy nghĩ nhiều. Những điều đáng ghi nhận làphương thức hoạt động linh hoạt, hiện đại, tập trung cho mục đích chính, tạo hiệu quả xã hội cao.Tuy vậy, chính từ bảo tàng này, tôi cũng nhận ra tư tưởng bá chủ thế giới của Hoa Kỳ. NgườiMỹ đã thu thập về cho đất nước mình nhiều hiện vật quý giá của các nước trên thế giới, tạo nênmột Bảo tàng lớn, với hơn 2 triệu hiện vật, thu hút cả trăm triệu lượt khách tham quan. Về côngsức mà nói, người Mỹ quả đáng tự hào vì đã chuyên chở được một khối lượng hiện vật lớn về
  • 52. nước mình, trong đó có những hiện vật khổng lồ như ngôi đền cổ của Ai Cập bằng đá lớn khủngkhiếp mà tôi đã nói ở trên, trong đó có những hiện vật do họ bỏ tiền ra mua, nhưng cũng cónhững hiện vật do họ chiếm đoạt của các nước bị xâm lược. Về mặt văn hoá, lẽ nào cứu một ditích của dân tộc khác khỏi bị quên lãng bằng cách đem nó về đất nước mình lại là biện pháp đángtự hào? Bảo tàng có tới 36.000 hiện vật cổ của Ai Cập, Hy lạp, trong khi đó chỉ có 15.000 hiệnvật của nước Mỹ. Và cái cách tỉnh khô khi giới thiệu những hiện vật chiếm đoạt được từ khắpnơi trên thế giới như đó là lẽ tất yếu, như là của chính mình mới đáng sợ làm sao. Trong khi đó,người Mỹ lại xuất khẩu ra thế giới những sản phẩm văn hoá đồi truỵ, bạo lực, làm biến dạng nềnvăn hoá của nhiều dân tộc khác. Phải chăng, đây chính là tội ác của việc xâm lược, cưỡng bức,đồng hoá và cướp đoạt văn hoá mà loài người cần lên án, chứ không riêng gì lên án hành độngcướp bóc vật chất, tiến hành chiến tranh! Khu Roclefeller Chị San-đơ-ra Lang dẫn chúng tôi đi tham quan khuRoclefeller. Mặc dù khá to béo, chịvẫn rất nhanh nhẹn, lôi chúng tôi đi khắp các công trình mà chị thấy đáng quan tâm. Đây là mộtkhu nhà chọc trời với những hình khối vuông vức cao ngất ngưởng trải dài từ khu phố 49 đếnkhu phố 5, được xây dựng từ những năm 30 của thế kỷ XX. Ngước nhìn theo chiều cao của cácngôi nhà, chúng tôi đều phải bỏ mũ ra hoặc lấy tay chặn mũ trên đầu vì sợ bị rơi. Khu này gồm 5khu vực hoà hợp với nhau: văn phòng, giải trí, buôn bán, kiến trúc, nghệ thuật. Có các khối nhàdo người Italia, người Pháp, người Anh trang trí với những bức phù điêu lớn ở bề mặt. Có mộtnhà thờ cổ lớn bằng đá nhưng bị nuốt chửng bởi những ngôi nhà hiện đại ngồn ngộn quanh nó.Đối diện với nhà thờ, phía bên kia đường có một bức tượng lớn mầu đen thể hiện hình tượng mộtnhân vật thần thoại bị thần Dớt trừng phạt phải nâng quả địa cầu. Trên một mặt tiền ngôi nhà lớncó bức phù điêu khổng lồ thể hiện những hoạt động của những ngành kinh tế chính của nướcAnh thời kỳ đang còn đô hộ nhiều nước trên thế giới. Công ty đầu tiên thuê khu này là công tythu thanh, thu hình RCA, nay công ty này sở hữu cả hãng truyền hình NBC. Nhìn chung, các tácphẩm nghệ thuật ở đây đều được các ông chủ công ty đặt hàng, làm bằng các chất liệu mới nhưkính, kim loại kết hợp với các chất liệu mầu, đều to lớn, và người nghệ sĩ chú ý thể hiện mảngkhối chứ không quan tâm đến đường nét. Chị San-đơ-ra Lang rất tự hào giới thiệu con đườnggiữa hai toà nhà lớn do người Anh và người Pháp xây dựng, mà người dân ở đây quen gọi là conkênh có ý liên tưởng tới dòng sông ngăn cách giữa nước Anh và nước Pháp. Con đường nàyđược trang trí bằng những bồn phun nước, trồng hoa rất đẹp, xuôi dốc xuống khoảng đất rộng.Ngay ở khu kiến trúc, kinh tế đồ sộ nhất nước Mỹ này cũng thể hiện tính hợp chủng quốc, đa vănhoá của Mỹ - tại khu vực này, người Mỹ chẳng có gì gọi là văn hoá của riêng mình, nhưng lại có
  • 53. tất cả bởi vì người Mỹ đã quy tụ được khả năng của nhiều nước đến sáng tạo trên đất nước mình.Bản sắc văn hoá Mỹ chính là đa văn hoá. Câu lạc bộ sân khấu thể nghiệm La Mama Nếu tôi không nhầm, thì không nơi nào trên thế giới có một chiếc thang máy độc đáo nhưthang máy của Câu lạc bộ sân khấu thể nghiệm La Mama: cửa vào ở phía trước, còn cửa ra lại ởbên cạnh. Nhưng độc đáo hơn lại là ở tính chất của câu lạc bộ này, tính chất thể nghiệm, đột phávề hình thức biểu hiện nghệ thuật. Vào chủ nhật tới, Câu lạc bộ sẽ tổ chức kỷ niệm ngày thànhlập, cho nên nơi chúng tôi đến đang ngổn ngang các vật dụng mà người ta đem đến để chuẩn bịcho chương trình hát múa mừng Câu lạc bộ tròn 40 tuổi. Theo lời giới thiệu, thì đây là một trong3 sân khấu của Câu lạc bộ. Rất tuyềnh toàng, sân khấu này có sàn biểu diễn bằng gỗ, còn phầndành cho khán giả thì không có ghế cố định. Khi chúng tôi đến, bà Ê-lân Sơ-ti-uốt - Giám đốcCâu lạc bộ Sân khấu thể nghiệm La Mama - đang chỉ huy việc dàn dựng sân khấu. Đó là một phụnữ da đen trạc 70 tuổi, da khô và nhăn nheo nhưng dáng người nhanh nhẹn, khoẻ khoắn. Bà tếtmái tóc bạc trắng của mình thành nhiều đuôi sam nhỏ tí teo, đeo trên tay 4 chiếc nhẫn vàng totướng. Với hình thức hơi lập dị, với giọng nói khàn khàn nhưng đầy nhiệt huyết, bà thể hiệnmình là một nghệ sĩ độc đáo và yêu tha thiết nghệ thuật. Kéo những chiếc ghế cũ kỹ mời chúngtôi ngồi, bà nhanh chóng bắt vào chuyện. Bà quan niệm rằng nghệ thuật cần phải dựa vào yếu tốâm nhạc, múa, hát và có cả lời thoại, nhưng lời thoại không quan trọng lắm, mà ý tưởng mới thậtsự quan trọng. Bà nói: - Tôi tin vào các giá trị thế giới và muốn trở thành một bộ phận của thế giới. Tôi cố gắnglàm cho các vở diễn giúp khán giả nhìn mà cảm nhận được, cảm nhận một cách thoải mái.Không có gì trừng phạt tệ hại hơn là xem sân khấu mà không hiểu người ta nói gì trên sân khấu! Ra đời 40 năm nay, Câu lạc bộ Sân khấu thể nghiệm La Mama quản lý 3 sân khấu (đượccoi là độc đáo nhất Niu-Yoóc), thường xuyên tổ chức biểu diễn những vở mang tính thể nghiệm,cách tân. Đã thành nền nếp, từ tháng 9 năm này đến tháng 6 năm sau, Câu lạc bộ đều cho trìnhdiễn các vở mới, theo lịch cứ 3 tuần một vở, và mỗi vở được diễn 3 tuần. Bà Ê-len Sơ-ti-uốt tự nhận Câu lạc bộ của bà có đoàn nghệ thuật mang tính quốc tế thựcsự duy nhất ở nước Mỹ này. Bà giải thích: "Mọi người ở khắp nơi trên thế giới đều đến đây biểudiễn. Chúng tôi có 1 diễn viên múa người Việt Nam, nhiều diễn viên từ Trung Quốc, Nhật, Phi-lip-pin đến. Không những thế, chúng tôi còn có La Mama ở Trung Quốc, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ,Nhật. Tại Sécbi, chúng tôi vừa xây dựng xong dự án Sự lãng mạn của âm nhạc dành cho trẻ em9 đến 13 tuổi".
  • 54. Bà kể lại chuyện sang thăm Việt Nam và nói một cách cởi mở: "Tôi rất thú vị ở Việt Namlà vừa có nghệ thuật dân gian nhà quê, như nhà hát Rối, lại có kịch quốc gia diễn những vở nhưXếch-xpia. Tôi đã kết hợp cả loại ấy lại làm một vở kịch kiểu Hy Lạp". Bà đưa ra nhận xét không mấy chính xác: "Tôi thấy các con rối nước của các bạn khôngcó vai trò nào trên sân khấu, chỉ chạy qua chạy lại lăng xăng. Và hai nhà hát Rối và Kịch tuy đềulà của Việt Nam nhưng lại chưa bao giờ có quan hệ với nhau. Vì thế, trong chuyến thăm ViệtNam cách đây hai năm, tôi đã liên kết hai nhà hát lại để dựng một vở kịch kiểu Hy Lạp. Tôi đãkhiến cho những con rối có vai trò. Lần đầu tiên đoàn Rối nước quốc gia của các bạn làm nhữngcon rối to trước đây họ chưa từng làm. Thế rồi, trong cảnh thần Dớt giấu con, các con rối nướcđã đóng những vai như những diễn viên thật. Chúng tôi đã kết hợp hai nhà hát và đã thành công." Như còn rung động với chuyến đi Việt Nam đầy ấn tượng, bà Ê-lân Sơ-ti-uốt bồi hồi nhớlại: "Các bạn Việt Nam sống rất cởi mở và thân thiện. Lúc tôi sang, nhà hát Rối trung ương đangsửa trụ sở, nay có lẽ đã xong. Đến Hà Nội, chúng tôi đã cố gắng dựng nhiều điệu múa dân gian,có sử dụng nhạc mới nhưng do các nhạc sĩ Việt Nam sáng tác. Các con rối nước trở thành ngườidẫn truyện. Cách suy nghĩ của chúng tôi là chúng ta cùng một thế giới, cần giao tiếp, chung sốngvới nhau. Cần kết hợp nền văn hoá của các bạn với chúng tôi để thành văn hoá mới". Khi nghe nói đến hoạt động của Câu lạc bộ toả rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới, tôi hỏirằng vì sao mà Câu lạc bộ Sân khấu thể nghiệm có ảnh hưởng rộng đến vậy, bà Ê-lân Sơ-ti-uốttrả lời: "Chúng tôi không cố gắng toả ảnh hưởng đến ai. Chúng tôi chỉ thuyết phục các quỹ vănhoá để họ tài trợ cho các hoạt động của chúng tôi, làm cho nó được có mặt ở các nước. Chúng tôiđã được quỹ văn hoá ở châu Á tài trợ cho chuyến đến thăm và dựng vở thể nghiệm ở Việt Nam.Các quỹ văn hoá không cung cấp tiền cho cá nhân, mà cho các tổ chức xã hội. Ngoài ra, chúngtôi còn được sự tài trợ của quỹ Vì sự hiểu biết chung, cũng như nhiều tổ chức từ thiện khác". So với các nhà hát ở Mỹ, thì "rạp" của Câu lạc bộ sân khấu thể nghiệm hơi nhếch nhác.Sân khấu rất sơ sài với sàn gỗ và những phông màn cũ. Tầng gác và bao lơn dành cho khán giảcũng chỉ được dựng bằng gỗ thường, trông có vẻ không vững chãi. Mặc dù bà Giám đốc giảithích rằng do đang chuẩn bị cho buổi biểu diễn kỷ niệm ngày thành lập, nhưng tôi vẫn khó hìnhdung lúc thường nó đàng hoàng như thế nào. Bù lại, là nhiệt tình đến cháy bỏng của chủ nhânCâu lạc bộ - tôi có cảm giác rằng bà Ê-lân Sơ-ti-uốt sẵn sàng đánh đổi tất cả để cho những thểnghiệm nghệ thuật của mình có thể được công nhận. Chị Thuỷ hỏi về khán giả và nguồn thu chocác hoạt động biểu diễn tại đây, bà Giám đốc trả lời: "Tuỳ theo vở. Có vở 150 người, có vở 350
  • 55. người vào xem, nhưng không bao giờ quá số đó." Biết rằng đoàn EADOLA của Việt Nam domột nữ đạo diễn Pháp gốc Việt dẫn dắt đã đến biểu diễn ở đây, tôi hỏi thì được biết số khán giảđến xem là 75 người. Thấy bà Ê-lân Sơ-ti-uốt dừng lại, chị Thuỷ lại hỏi về thu nhập của Câu lạcbộ. Bà cười hồn hậu: "Tiền bán vé không bao giờ đủ chi phí. Các buổi biểu diễn luôn luôn lỗ.Lương trả cho nhân viên bao giờ cũng thấp so với tiêu chí của Niu-Yoóc, có khi làm khônglương, làm bằng tấm lòng. Vì thế, nghệ sĩ làm việc ở đây phải thắt lưng buộc bụng, có khi chạysô bên ngoài". Bà bộc bạch: "Ở Mỹ, không bao giờ chúng tôi được mời đến diễn ở nơi khác,ngoài sân khấu của chúng tôi. Chúng tôi không thể tồn tại được ở nước Mỹ, thế nhưng lại hayđược mời đi các nước khác. Chúng tôi đã có kế hoạch sang năm đi Hàn Quốc, Áo, Italy." Nhưcảm nhận được sự ngạc nhiên của chúng tôi trước hiện tượng một câu lạc bộ sân khấu của Mỹkhông thể tồn tại được trên đất Mỹ, bà Ê-lân Sơ-ti-uốt giải thích: " Ở Mỹ, khán giả thích ngôn từ,còn chúng tôi muốn chuyển tải nội dung mà không cần ngôn từ nên không hợp. Người Mỹ thíchnghe, còn chúng tôi lại thích nhìn để mà cảm nhận nghệ thuật". Bà nói tiếp: "Tôi còn là giáo sưthỉnh giảng ở Hàn Quốc. Đến tháng 1 năm 2.002, chúng tôi sẽ đến Cămpuchia để làm dự án nhưdự án Việt Nam" Bà Ê-lân Sơ-ti-uốt đưa ra kết luận khiến tôi không khỏi băn khoăn: "Với cách dàn dựngcủa chúng tôi, thì ngay cả các vở bi kịch của Sếch-Xpia cũng không cần lời thoại mà khán giảvẫn cảm nhận được nội dung". Thực tế cho thấy, trong kịch của Sếch-Xpia, các lời thoại có tínhbiểu hiện rất cao, nếu tước bỏ nó đi thì làm sao giúp khán giả thưởng thức được tác phẩm mộtcách trọn vẹn? Thôi, dù sao đây là sự thể nghiệm. Nói như giáo sư Mác-tin Su-lơ-man thì ở LaMama, cái gì cũng có thể xẩy ra, người có thể cưỡi lợn chứ không cưỡi ngựa và lợn có thể bay.Khi chúng tôi chào tạm biệt, bà Ê-lân Sơ-ti-uốt giữ riêng nhóm phụ nữ lại và thì thào điều gì đóvẻ rất riêng tư và thú vị. Trong khi chờ chị em ra, chúng tôi tranh thủ xem những áp phích vềnhững vở kịch do Câu lạc bộ đưa lên sân khấu, thấy khá lạ lẫm, trong đó có một bức in hình mộtphụ nữ khoả thân cưỡi con lợn trắng to đùng, cả người và lợn đều có vẻ tươi cười hớn hở. Chẳnglẽ người ta có thể bệ nguyên hai "nhân vật" như vậy lên sân khấu? Công viên B-rai-an Vào một buổi sáng trời nắng nhưng khá lạnh, chúng tôi đi thăm công viên B-rai-an. Tàiliệu của quỹ FORD giới thiệu về công viên B-rai-an như sau: "Nằm sau thư viện Công cộng Niu-Yoóc ở khu Man-hát-tan, giữa phố 40, 42 và các đại lộ5 và 6, B-rai-an Park là một công viên công cộng của thành phố Niu-Yoóc và là một thắng cảnhcủa thành phố, được công nhận bởi Ban Bảo tồn thắng cảnh năm 1974. Kể từ năm 1842, khi nơi
  • 56. này khởi đầu là một khu hồ chứa, đến nay công viên đã trải qua 3 lần thay đổi lớn và được sửdụng với mức độ cao. Cho đến những năm 70, các điều kiện trong công viên đã xuống cấp đến mức nó là tụđiểm của ma tuý và tội ác. Tuy nhiên, sau đó nó đã được xây dựng lại và khu vực này đã tái sinhnhờ anh em Rốc-kơ-phe-lơ đã thiết lập ở đây Công ty Trùng tu B-rai-an Park (BPRC). Sau đó,Đa-ni-e A Beđơman, một nhà tư vấn về hệ thống 26 tuổi, khi đó đang làm chủ tịch Ban Kế hoạchcộng đồng địa phương, được anh em nhà Rốc-kơ-phe-lơ và Thư viện Công cộng Niu-Yoóc chọnlàm người điều hành cho Công ty. Ông cùng với Anđrêy Hai-ken, Chủ tịch Thư viện, đồng thànhlập Công ty Trùng tu B-rai-an Park vào ngày 3 tháng 1 năm 1980. Biederman đã lập nên một kếhoạch quản lý và tài chính riêng cho công viên. Khu này, theo lý thuyết của nhà dô thị học Uy-li-am H Oai-tơ, nhằm vào những hoạt động trùng tu vì lợi ích của công viên. Công viên B-rai-anmới mở cửa năm 1992 sau khi xây dựng những giá đỡ dài 84 dặm làm thành khu lưu trữ ngầm 2tầng cho thư viện Niu-Yoóc ở lòng đất khu vực kề bên. Nó được mở cửa trở lại với ngân sáchgấp 6 lần ngân sách theo quản lý của thành phố trước đó. Công viên này rất được ưa thích, điều này khẳng định cho những nhận định của Wai trongbáo cáo Dự án cuộc sống đường phố, theo đó ông cho rằng những gì mà người dân ở thành phốtìm kiếm nơi công cộng là những người khác, là sự an ủi và quan tâm, chứ không phải là một nơiđể tách biệt, để trốn chạy khỏi thực tế. Ngày nay, công viên này thường được so sánh với cáccông viên vĩ đại ở Lon don và Pari, và vào năm 1996 nó đã giành được Phần thưởng xuất sắccủa viện Đất đô thị dành cho các Dự án công cộng. Công ty Trùng tu Brai Park là một công ty đo tư nhân quản lý hoạt động không vì lợinhuận, do Đa-ni-e A Beđơman và An-đri Hai-sơ thành lập, với sự hỗ trợ từ Quỹ Anh em nhàRốc-kơ-phe-1ơ, từ các cá nhân và từ một cụm hợp tác phát triển kinh doanh của những ngườichủ tài sản láng giềng. Thoả thuận 15 năm ký năm 1988 giao quyền quản lý và phát triển côngviên cho Công ty Trùng tu Brai-an Park là sự thử nghiệm lớn nhất ở Mỹ trong việc áp dụng quảnlý tư nhân và tài chính tư nhân vào một công viên công cộng, và đã đạt được thành công theođánh giá của dân chúng, của báo chí và của các cơ quan lân cận. Hiện ông Đa-ni-e A Beđơmanvẫn tiếp tục điều bành công viên. Công ty Trùng tu B-rai-an Park chia sẻ việc quản lý với Công ty Đối tác phố 34, và haibên cùng chia sẻ những nguyên lý quản lý chung. Nhiệm vụ của nó là: xoá bỏ tội phạm, rác bẩn,những hình vẽ bậy trên tường và những điều kiện không hay ho trong giới hạn của công viên;cho những người buôn bán và những người thuê đất điều kiện tốt nhất để tổ chức những hoạt
  • 57. động kinh doanh mới trong khu vực và giúp đỡ những người đang buôn bán có thể phục vụkhách hàng tốt nhất; hỗ trợ cho những công dân gặp khó khăn hoặc nghèo đói vì lợi ích của bảnthân những người này cũng như vì lợi ích cộng đồng; phát triển phố xá và công viên với chấtlượng không chê vào đâu được; và thiết lập một kênh thu nhập đa dạng và ổn định để chi cho cáchoạt động bảo dưỡng thường xuyên để duy trì những phát triển vượt trội này". Trong khi chờ người của Ban Quản lý công viên tới làm việc, chúng tôi dạo quanh côngviên. Phần lớn nhất của công viên này là một bãi cỏ phẳng phiu và xanh rì. Xung quanh là nhữnghàng cây, lối đi và tường thấp ngăn cách công viên với hè phố. Trong cái giá lạnh của buổi sáng,vẫn có khá nhiều người đến công viên. Họ ngồi trên các chiếc ghế sắt mầu xanh mà Ban Quản lýcông viên đặt rải rác khắp nơi, kể cả trên cỏ. Có những nhóm người ngồi nói chuyện. Có nhữngngười ngồi đọc báo. Có những người ngồi ăn. Có những người ngồi sưởi nắng. Và có ba ngườinằm ngủ giữa bãi cỏ. Mọi người ai việc nấy, không lưu tâm đến nhau, kể cả 3 người nằm ngủ thếkia, trông chẳng mấy mỹ quan, vậy mà không thấy ai dựng dậy. Mất khoảng 20 phút chờ đợi, chúng tôi mới thấy một người đàn ông đeo kính trắng, hồnghào và nhanh nhẹn bước đến chào hỏi. Ông xin lỗi vì tưởng rằng chúng tôi sẽ vào văn phòng làmviệc chứ không phải là tại hiện trường như thế này. Người đàn ông này là Ơthan Lơche, Giámđốc Quan hệ công cộng của Công ty Đối tác phố 34. Ông mời chúng tôi ngồi trên những chiếcghế sắt mầu xanh của công viên, quây tròn dưới ánh nắng vàng tươi nhưng lạnh giá của Niu-Yoóc. Ông giới thiệu: - Với tư cách một công ty tư nhân, để điều hành công viên này, chúng tôi không chỉ cómột nguồn tài chính. Lương của tôi do nguồn từ việc người ta thuê những căn phòng ở các toànhà xung quanh đây. Công ty chúng tôi điều hành 3 công viên, một là đây, còn hai cái ở chỗkhác. Những năm 1980, khi chúng tôi bắt đầu dự án cải tạo công viên này, thì đây là nơi rất thiếuan ninh, bẩn thỉu. Xu hướng chung của nước Mỹ là khi muốn sửa chữa một công viên, người tathuê người đến thiết kế. Nhưng theo chúng tôi, đó không phải là cách quản lý tốt. Chúng tôi phảidành ra rất nhiều tháng để theo dõi xem xem ở đây, các sinh hoạt diễn ra như thế nào, người dâncó thói quen gì khi vào công viên... Sau đó, ông chỉ cho chúng tôi nhìn khung cảnh quang quẻ quanh công viên và nói: - Trước kia, quanh đây là những lùm cây rậm rạp, những búi dây điện chằng chịt. Còncông viên thì bị ngăn cách với đường phố bởi những bức tường cao và kín. Mặt khác, ánh sáng ởđây lại rất thiếu. Khung cảnh ấy, các ngài biết không, chính là điều kiện cho bọn tội phạm hoạtđộng và khiến người dân sợ hãi. Cho nên, điều đầu tiên mà chúng tôi phải làm là phá tường, chặt
  • 58. cây, dọn dẹp lại các đường dây điện, lắp thêm đèn, biến nơi này thành khu vực thông thoáng vàsáng sủa. Chỉ riêng điều đó đã kéo thêm khá nhiều người đến với công viên. Có vẻ rất tự tin, ông Ơthan Lơche nói tiếp: - Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Chúng tôi phải nghiên cứu thói quen khi vào công viên củacông chúng nữa. Có hai điều mà chúng tôi quan tâm là: Thứ nhất người ta không thích nhữngghế băng lắp cố định, mà chỉ thích những ghế di động, để họ có thể xách đi xách lại đặt vào chỗmà họ thích ngồi, để chọn được hướng ngồi thích hợp, như quay mặt vào nhau khi nói chuyện,hoặc hướng về phía mặt trời để sưởi nắng. Thứ hai, người ta không thích đi thẳng theo chiều dọchay ngang của công viên, mà thích kết hợp đi theo nhiều chiều, vì thế nếu chỉ mở một vài cổngthẳng nhau thì người ta không thích, phải mở cả những cổng bên hông để người ta đi chéo quacông viên. Ông giới thiệu chi tiết 10 nguyên tắc được thực hiện khi tiến hành sửa chữa công viên nàygồm: Thiết kế: Có vai trò quan trọng, nhưng không phải là cái duy nhất, vì sẽ phải có sự thayđổi. Tôi sẽ chỉ cho các bạn thấy những chỗ phải sửa so với thiết kế đầu tiên của nó, như trước kiacông viên này được quây lại, không có đường đi chéo, chúng tôi đã phải mở thêm đường đi chéo. Vệ sinh: Chú ý đến rác bẩn vứt ở đây. Vấn đề an ninh: Có hai nhân viên an ninh của chúng tôi làm việc tại đây nhưng khôngmang súng. Chỗ này bây giờ không còn tội ác nữa nên họ không cần sử dụng súng. Mọi ngườiđều biết ở đây có nhân viên an ninh và mọi người rất an tâm. Chỗ này chúng tôi đưa vào những kiến trúc bằng đá, còn ở phía trước kia thì đặt nhữngbồn hoa nhỏ. Dịch vụ: Một đặc điểm nữa mà chúng tôi thấy là người Niu-Yoóc khi đến những nơi côngcộng thường rất thích ăn uống, cho nên chúng tôi đưa dịch vụ ăn uống vào, và đã thu hút đượcrất nhiều người. Vào những ngày cuối tuần, hay buổi tối, người ta hay đưa nhau đến ăn tối tạiđây. Phần quan trọng nhất là chúng tôi đặt vào đây những chiếc ghế. Trừ 3 công viên mà chúngtôi điều hành, thì không có công viên nào có ghế rời như ở đây. Tôi có ba lý do để đặt loại ghếrời như thế này chứ không đặt ghế băng cố định: Tuỳ vào từng ngày, thời tiết thay đổi mà người
  • 59. ta có thể di chuyển ghế ra ánh nắng hay vào bóng râm. Có thể ngồi thế nào để đỡ bị chói nắng.Thường những người da đen hoặc da mầu hay quay mặt về phía ánh nắng, còn người da trắng thìngược lại. Đặc điểm nữa là khi vào đây nói chuyện, ít khi người ta không muốn quay mặt vàonhau. Ghế băng làm người ta phải ngồi cạnh nhau, quay chéo vào nhau mà nói chuyện rất bấttiện. Như hai chị phụ nữ kia, họ đang ngồi đối diện nhau mà nói chuyện vẻ thích thú. Đây cũnglà nơi lý tưởng cho những cặp tình nhân tâm sự, cho nên họ cần quay lại nhau, thậm chí còn cầnôm nhau nữa. Khi người ta cần di chuyển ghế, thì ghế của chúng tôi rất nhẹ, ai cũng có thể nhấclên được. Chúng tôi có 2.300 ghế ở công viên này. Tôi đã tư vấn cho rất nhiều đối tác làm ghếnhư thế này nhưng họ nói chỉ có ở Niu-Yoóc mới làm được, vì không sợ bị mất cắp. Các bạnViệt Nam thử xem có thể đặt ghế di động tại các công viên không. Nếu có làm thì chụp ảnh gửicho tôi, khi thuyết trình, tôi sẽ sử dụng những ảnh của các bạn. Tổ chức những buổi diễn trong công viên này : (Đang nói dở thì ông giám đốc chỉ tay vàomột người đàn ông đang đi phía sườn công viên: "Các bạn nhìn xem, ông kia không đi theo chiềudọc hay ngang mà đi theo chiều chéo của công viên"). Nói tới điều này tôi cũng hơi ngượng. Đó là vấn đề về toa lét. Nếu không có, người ta sẽbậy ngay ra đường. Chúng tôi có một khu toa lét nằm ở đầu đằng kia. Vào năm 1965 không cócái toa lét nào ở khu vực này cả. Về ánh sáng: Ngày xưa, công viên này đóng cửa vào buổi tối. Chúng tôi thấy cần phải cóhệ thống đèn thật tốt. Chúng tôi đã tiến hành chiếu sáng cho công viên này theo nhiều cách khácnhau: Đèn trên cột. Đèn trụ đồng, rất đắt, có 13 cái như vậy, có quý bà rất giàu có đã hiến chochúng tôi. Đèn chiếu từ trên cột xuống trông như những giọt nước mắt. (Đang nói, ông giám đốclại chỉ cho chúng tôi xem: "Có thể thấy anh vừa ngồi xuống đó trước khi ngồi đã chọn rất kỹ, saukhi đã nhấc ghế điều chỉnh hướng ngồi thì anh ta gọi điện thoại. Thường với thời tiết như thếnày, ít người đến công viên để ngắm cảnh."). Đèn chiếu vào các tia nước. Đèn pha kiểu của sânvận động. Với ánh sáng tốt như các bạn thấy, khi thời tiết ấm áp, chúng tôi mở cửa tới 11 giờđêm, chứ không đóng cửa vào buổi tối như trước. Không chỉ đầu tư trong khuôn viên mà ngay cả đường ở ngoài chúng tôi cũng chăm nom. Công viên chúng tôi cũng có rất nhiều người vô gia cư đến. Như trên bãi cỏ có ba ngườiđang ngủ. Lý do khiến nhiều người Niu-Yoóc không đến công viên là vì họ sợ những người vôgia cư này. Nhưng tại công viên này thì người ta lại không sợ vì an ninh đảm bảo.
  • 60. Như tôi đã nói ở trên, ngay trên thảm cỏ của công viên, giữa trưa, có 3 người ngủ mê mệt -hai người đàn ông luống tuổi, một phụ nữ. Mặc dù trời khá lạnh, lại không có gì đắp, vậy mà cảba ngủ ngon lành, có lẽ vì họ mệt quá. Cũng cần nói thêm rằng ở nước Mỹ, những người vô giacư, nằm đầu đường xó chợ như ba người kia, hầu kết là người da mầu. Tôi cũng quan sát kỹ vàthấy rằng người da mầu có thể làm cảnh sát, làm nhân viên bán hàng, nhưng cũng chỉ người damầu mới làm các công việc nặng nhọc, vất vả như khuân vác, bán hàng rong, đánh giầy, chứ tôikhông nhìn thấy người da trắng nào làm việc ấy cả. Phần nói về các khoản thu của công viên làm tôi hết sức kinh ngạc - có nhiều phương thứcthu quá và có nhiều tiền thu được quá. Ông giám đốc nói: - Hàng năm, công ty phải chi cho công việc ở công viên này 4 triệu USD. Tiền thu do chothuê các ki ốt quanh công viên được 1 triệu, cho thuê địa điểm biểu diễn được 1 triệu, thu từ sựđóng góp của các chủ nhà quanh công viên được 1 triệu USD mỗi năm. Ngoài ra chúng tôi cònbán những cái ghế như chúng ta đang ngồi để mọi người làm lưu niệm. Trước đây giá mỗi chiếcghế chỉ 29 USD, nay lên đến 120 USD, mà mọi người vẫn mua, chứng tỏ người dân yêu mếncông viên chúng tôi như thế nào. Trước đây, khi công viên này thuộc nhà nước thì họ tốn rấtnhiều tiền để mà điều hành. Còn khi chúng tôi điều hành thì nhà nước không tốn tiền nữa. Tôi có
  • 61. thể sửa chữa bất kỳ công viên nào trên thế giới để cho nó tốt như công viên này. Tôi biết ở Anhcó công viên Pli xơ cớt cũng đang xuống cấp nặng nề, tôi rất muốn đến đó để sửa lại (tôi hỏi nhỏanh Tim rằng điều này có chính xác không, anh Tim kín đáo lắc đầu). Việc trùng tu lại công viênnày làm cho giá trị của khu vực này tăng, chính vì thế mà giá thuê nhà quanh công viên cũngtăng. Tôi sẽ làm việc với các chủ nhà quanh đây để yêu cầu tăng tiền đóng góp cho chúng tôi,chứ chỉ 1 triệu USD như hiện nay thì quá ít. Các bạn biết không, nhờ sự cải tạo công viên này,biến nó thành địa điểm văn hoá thu hút đông đảo mọi người, mà giá nhà cho thuê ở đây đã tăng15 đến 20%. Thế thì người ta phải trả thêm tiền cho chúng tôi chứ! Tôi ghi khá tỷ mỉ buổi làm việc với ông giám đốc công viên vì việc này khá độc đáo và đểthấy người Mỹ tính toán chi li như thế nào khi tiến hành một công việc, đồng thời cũng thấy tínhmục đích của người Mỹ cao như thế nào. Trong khi giới thiệu với chúng tôi về hoạt động củacông viên, đã ba lần ông giám đóc ngừng lại để chỉ cho chúng tôi xem cách thức người dân vàocông viên sử dụng ghế của công viên, nhằm chứng minh cho chúng tôi thấy những luận điểm màông nêu ra về lí do đặt các ghế ngồi di động tại đây và hiệu quả cao của nó. Chỉ riêng chuyện cáccái ghế, ông đã thuyết trình gần một tiếng đồng hồ. Tuy vậy, ngay sau khi dừng lại nói về việcngười ta dùng ghế, ông đã trở lại vấn đề mình đang thuyết trình chứ không bị phân tán sangchuyện khác. Vào một ngày chủ nhật, tôi quay lại quan sát hoạt dộng của công viên B-rai-an. Đúng làhết sức náo nhiệt. Rất lạ là người ta không cấm mọi người đi lên cỏ, không biết là vì cỏ ở đây"dai", không bị nát dưới các gót chân hay vì người ta luôn luôn chăm sóc, thay thế những cụm cỏbị hư hỏng? Có cả hàng nghìn người đến công viên này. Họ kéo nhau đi dạo trên con đường chạyvòng công viên, dưới bóng loà xoà của những tán cây. Họ ngồi tập trung trên bãi cỏ mượt nhưnhung chờ xem biểu diễn nghệ thuật. Có rất nhiều cửa hàng lưu động căng lều bán các hàng lưuniệm, sách báo hoặc bán đồ ăn uống. Tiếng nhạc rộn rã làm cho không khí thêm náo nhiệt. Vậymà ở trên bãi cỏ, vẫn có một phụ nữ đầu quấn kín chiếc khăn in hình lá cờ Mỹ nằm ngủ say sưamà tôi đã chụp được ảnh làm tư liệu cho cuốn sách này.
  • 62. Người vô gia cư nằm ngủ thoải mái trên bãi cỏ công viên Thư viện công cộng Niu-Yoóc Thư viện công cộng Niu-Yoóc nằm ở phố 42, liền kề với công viên B-rai-an. Đây là mộtthư viện tư nhưng phục vụ rộng rãi, miễn phí tất cả mọi người. Một phụ nữ mặc bộ vét, trông cóvẻ rắn rỏi, đón chúng tôi ở cổng. Tất nhiên, dù là khách nào thì khi qua cổng cũng phải tuân theothủ tục khám xét. Người bảo vệ yêu cầu mọi người mở túi xách ra, xem qua rồi mời mọi ngườivào. Có thể nói đây là công trình có nội thất đẹp nhất Niu-Yoóc mà chúng tôi thấy. Tài liệu củaQuỹ FORD giới thiệu về Thư viện công cộng Niu-Yoóc như sau: "Một trăm năm trước đây, Niu-Yoóc, thành phố vĩ đại nhất nước Mỹ, không có một thưviện công cộng thực sự nào. Ngày nay, nhờ những ý tưởng đầy hoài bão và hàng triệu hàng triệulượt người sử dụng, thư Viện công cộng Niu-Yoóc đã được công nhận là một trong những thưviện công cộng lớn nhất thế giới. Khi toà nhà thư viện chính được xây dựng năm 1911, nó đứngvào vị trí là có kết cấu đá cẩm thạch vĩ đại nhất mà người ta từng thử sức tại Mỹ. Nay nó đượcbiết đến với tên gọi thư viện Nhân văn và khoa học xã hội. Ngày nay, Thư viện công cộng Niu-Yoóc là một trong những nền tảng quan trọng của truyền thống Mỹ về những cơ hội bình đẳng.Nó mở rộng cửa và miễn phí, giúp người ta có thể tiếp cận với những tinh hoa đã được đúc kếtcủa nhân loại, mà không phân biệt thu nhập, tôn giáo, chủng tộc hoặc bất kỳ một điều kiện nàokhác. Nó là trường đại học của tất cả mọi người; là nơi các học giả và các tác giả được lưu trú, lànguồn thông tin cần thiết của công chức, các nhà khoa học và các doanh nhân; là kỷ niệm của
  • 63. quốc gia. Nó đảm bảo quyền tự do về thông tin và độc lập về suy nghĩ. Nó cho phép mỗi cá nhâncó thể theo đuổi sự học theo đúng sở thích, khả năng, sự chuẩn bị và mong muốn của mỗi người.Nó giúp đảm bảo sự tự do trao đổi ý tưởng, và quyền có ý kiến trái ngược. Nhiệm vụ của Thưviện công cộng Niu-Yoóc là sử dụng những nguồn lực sẵn có theo một chương trình cân bằng từviệc thu thập, phân loại và lưu giữ sách và các tài liệu khác, giúp cho người đọc có thể truy cậpnhanh chóng tại thư viện cũng như ở mọi nơi nhờ có hệ thống thư viện nối mạng và thư viện hợptác. Trách nhiệm của Thư viện công cộng Niu-Yoóc là phải phục vụ như một nơi lưu trữ kiếnthức ngay tại chính giữa một trong những trung tâm thông tin lớn nhất thế giới, và phải hoạtđộng như một phần nội tại của kết cấu thông tin, của việc học trên cả nước và trên toàn thế giới.Thư viện công cộng Niu-Yoóc, Quỹ Astor, Quỹ Lenox và Quỹ Taiden tạo nên 4 trung tâmnghiên cứu ở Man-hát-tan, và 85 thư viện chi nhánh ở B-rôn-xơ, Man-hát-tan và Staten Ai-xơ-lan. Nó là thư viện duy nhất có những trung tâm nghiên cứu được cả thế giới khâm phục, đồngthời lại có cả một hệ thống rộng khắp các thư viện chi nhánh ở các vùng lân cận, mà tất cả cácthư viện này đều miễn phí cho mọi người. Nó có nhiều tài liệu hơn bất cứ một thư viện côngcộng nào khác trong nước, đồng thời cũng là thư viện dành cho nghiên cứu lớn nhất trên thế giớivới một hệ thống thông tin và một hệ thống chi nhánh lớn nhất thế giới. Công nghệ ví tính giúp truy cập từ mọi nơi trên thế giới bất cứ phân loại tài liệu nào củathư viện. Các bộ sưu tập của thư viện cũng phản ánh bản chất dân chủ và toàn diện của thư viện.Với số lượng hàng chục triệu, thư viện này có những tài liệu từ những công trình bất hủ nhất củavăn hoá nhân loại, ví dụ như những phiên bản chữ viết tay của Gutenbớc Bible và bản thảo gốcTuyên ngôn Độc lập Mỹ của Jeferson, cho đến những tài liệu về cuộc sống hàng ngày của nhữngngười mà nếu không được lưu trữ sẽ trở nên vô danh". Toà nhà Thư viện rất lớn, dùng chất liệu gỗ, đá là chính, tường các căn phòng được ốp gỗcó trạm trổ rất đẹp. Công nghệ thông tin và tự động hoá được áp dụng khá tốt - thư viện có hệthống dữ liệu lớn chạy trên mạng máy tính giúp mọi người tra cứu thông tin được nhanh chóng,có hệ thống ống chuyển phiếu yêu cầu và hệ thống băng truyền chuyển sách. Tuy vậy, có nhiềungười mượn sách nên bạn đọc phải chờ từ 20 đến 40 phút mới lấy được cuốn sách mà mình yêucầu. Thư viện được tu bổ lộng lẫy như thế này hoàn toàn bằng tiền tài trợ của các nhà hảo tâm.Trên tường, có nhiều bức tranh sơn dầu khổ lớn, hoàn toàn về đề tài sách, nhà in, nhà xuất bản.Ngay trong trang trí, người Mỹ cũng rất thực tế, hướng những giá trị thẩm mỹ vào nội dung côngviệc của họ. Ví dụ có một phòng đọc được tài trợ bởi một ông trùm xuất bản, thì quanh tườngtreo toàn tranh về các nhà xuất bản có liên quan đến ông ta. Lại có một triển lãm ngay trong thưviện, nội dung tập trung vào các tài liệu, văn bản quan trọng trong suốt lịch sử phát triển củanước Mỹ. Bà Pau Léc-lơ, Chủ tịch Thư viện, nói rằng đây là thư viện rất độc đáo, riêng chỉ có ở
  • 64. Mỹ. Bà dẫn chúng tôi vào phòng đọc chính, một phòng rất lớn, có trang bị nhiều máy vi tính,được đặt tên là phòng đọc Hoa Hồng. Có rất nhiều bạn đọc từ nước ngoài đến truy cập In-tơ-néttại phòng này - mọi người im lặng ngồi trước màn hình, tai đeo cáp nghe. Đến phòng Châu Á, tôithấy có khá nhiều sách về Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật bản, nhưng về Việt Nam thì chỉ có bốnnăm cuốn, mà lại không thuộc loại sách tiêu biểu. Người phụ trách cho chúng tôi biết họ có sáchcủa Việt Nam về đồ cổ, về giáo hội Phật giáo, còn sách văn học chỉ có bốn năm cuốn. Chúng tacòn quá yếu trong tuyên truyền đối ngoại. Tôi tặng ông phụ trách phòng cuốn "Bê trọc" của tôido Nhà Xuất bản Thanh niên ấn hành năm 1999 và Nhà Xuất bản Văn học tái bản năm 2001.Nhìn thái độ trân trọng của ông khi lật giở những trang sách mà tôi đã ghi về cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước của nhân dân ta suốt 7 năm ròng cho tới ngày toàn thắng, lòng tôi chợt bồihồi khôn xiết. Đã đành rằng ngày ấy, dù có phải luồn rừng đội bom B52 của Mỹ, tôi vẫn luônluôn tin vào ngày đại thắng của dân tộc, nhưng có ngờ đâu đến hôm nay lại được đặt chân lên đấtMỹ để tặng người bạn Mỹ cuốn sách viết về thời chống giặc Mỹ xâm lược ấy! Mong rằng quacuốn sách này, những người bạn Mỹ sẽ cảm nhận được lòng yêu hoà bình tha thiết của ngườiViệt Nam, ngay cả khi buộc phải cầm súng để bảo vệ độc lập, tự do. Trước khi chia tay chúng tôi, bà Chủ tịch Thư viện thể hiện lòng mong muốn trao đổi vàhợp tác với Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh điều cần chúng tôi ghi nhận là sự hợp tác giữa tài trợcủa cá nhân với tài trợ của Chính phủ cho một cơ quan dành cho công cộng như thư viện này thểhiện tính dân chủ rất cao. 4. Người Mỹ: Siêu đẳng về kiếm tiền Vào một ngày chủ nhật, chúng tôi đi thăm phố phường, vào các cửa hàng. Ai ra nướcngoài cũng có cái thú đi ngắm nghía các cửa hàng, mua sắm quà cáp. Người nước ngoài cũngvậy, khi đến Việt Nam, thế nào các bạn cũng dành thời gian đi "sốp pinh". Có dịp dự một hộinghị ở Phi-lip-pin, tôi cũng thấy những đại biểu của các nước có nền kinh tế phát triển nhưSingapo, Brunây luôn luôn tỏ ra thú vị khi rủ nhau đi "sốp pinh", nhưng hầu như chẳng mua gì.Có lẽ, bây giờ đi siêu thị không còn đơn thuần mang ý nghĩa kinh tế nữa, mà đã mang ý nghĩavăn hoá. Bởi vì người ta đi xem là chính, như là đi xem triển lãm về một nền kinh tế vậy. Chúngtôi cũng cảm thấy hạnh phúc trước thành quả của sự đổi mới trên đất nước ta, nó in bóng cả vàohành động của những người Việt Nam chúng ta khi đi nước ngoài. Thời bao cấp, đi nước nàocũng xăng xái mua sắm hàng tiêu dùng, khệ nệ khuân vác đến bệ rạc, còn bây giờ thì tay đút túiquần, đi để nhìn ngó cho vui mắt là chính, có mua sắm cũng chỉ quanh quẩn mấy thứ hàng lưuniệm hoặc đồ dùng cao cấp. Một điểm đáng chú ý là nước Mỹ cũng nhập khẩu khá nhiều, trongđó nhiều nhất là hàng hoá của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, từ đồ điện tử, quang học tới
  • 65. hàng đệt may. Hàng của Trung Quốc có giá thấp hẳn so với giá các mặt hàng cùng loại của Mỹ,và chất lượng tốt hơn hàng nhập vào Việt Nam. Có lẽ Trung Quốc là nước "thống soái" về chiếmlĩnh thị trường hàng nhập khẩu ở Mỹ. Đi đâu, vào cửa hàng nào cũng thấy hàng Trung Quốc, nàolà quần áo, dày dép, túi xách, đồng hồ, nào là xoong nồi, dao thớt... Người Trung Quốc đã tạonên cả một khu phố buôn bán nổi tiếng ở Niu-Yoóc có tên là Chinathao mà tại đó hầu hết là hàngquán, hàng hoá của Trung Quốc, do người Trung Quốc quản lý. Hàng năm, Mỹ nhập khẩukhoảng 1,5 tỷ đôi giày dép các loại, trong số đó hàng Trung Quốc chiếm từ 60 đến 70%. Riênghàng may mặc, Mỹ nhập khẩu khoảng 50% cho nhu cầu trong nước, thì Trung Quốc chiếm 80%số hàng đó. Ông bố cậu Vinh, một Việt kiều sang đây từ năm 1983 mà chúng tôi tới thăm nhà,cho chúng tôi biết nhờ có hàng hoá Trung Quốc mà hàng hoá nói chung bên Mỹ giảm giá hẳn đi,rất có lợi cho người tiêu dùng. Nhiều hãng sản xuất của Mỹ như RCA, APEX (sản xuất hàngđiện tử) cũng thực hiện phương thức đầu tư sản xuất hàng hoá tại Trung Quốc, nơi có chi phí sảnxuất thấp, rồi nhập về bán tại thị trường trong nước với giá rất dễ chịu. Có điều, người Mỹ khárành mạch, hàng nước nào ghi nhãn nước ấy, không lập lờ đánh lận con đen như một số nhà kinhdoanh ở ta. Riêng hàng của Việt Nam thì chúng tôi thấy hầu như chẳng có gì, ngoài việc nghenói có cá tra, có tôm chua. Mà việc nhập hàng vào nước Mỹ không dược tự do, nếu mặt hàng nàocó sức cạnh tranh lớn, có khả năng gây khó khăn cho các doanh nghiệp Mỹ, mặt hàng ấy lập tứcbị các giới hữu trách Mỹ ngăn chặn. Tiêu biểu là loại cá tra, cá ba sa của nước ta. Trong một bữaăn, khi dùng đến món cá tra, Vinh nói rằng vừa rồi Hiệp định Thương mại Việt Mỹ bị chậmthông qua cũng bởi các cuộc tranh luận trong Quốc hội Mỹ về việc nhập cá của Việt Nam vàoMỹ. Do chất lượng tốt, giá thành hạ, cá tra, ba sa của Việt Nam có khả năng cạnh tranh khá lớnđối với loại cá nheo mà người Mỹ nuôi thả. Sau đó, do những lợi ích khác, Mỹ đã thông quaHiệp định Thương mại với Việt Nam. Thế nhưng, vào ngày 4 tháng 10 năm 2001, Hạ viện Mỹlại thông qua dự luật HR 2964 không cho phép bất cứ loài cá nào không thuộc họ cá nheo MỹIctaluridae (họ cá được nuôi phổ biến tại Mỹ) được mang tên thương mại là cá "catfish". Tiếptheo đó, ngày 25 tháng 10 năm 2001, Thượng viện Mỹ lại thông qua dự luật HR 2330 về phân bốngân sách cho khu vực nông nghiệp năm 2.002, trong đó có điều khoản sửa đổi số SA 2.000 vớinội dung "Không cho phép Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm sử dụng bất kỳ khoản ngânsách nào vào việc cho phép nhập khẩu cá hoặc sản phẩm cá có tên "catfish", trừ các sản phẩm cáthuộc họ Ictaluridae". Hai việc làm nói trên hoàn toàn sai trái, nhằm mục đích tạo thế độc quyềncho ngành sản xuất cá nheo của Mỹ, hoàn toàn đi ngược tinh thần Hiệp định Thương mại ViệtMỹ. Nói một cách nôm na, thì Mỹ đã loại cá ba sa, cá tra của Việt Nam ra ngoài vòng pháp luật.Đã vậy, giới chủ các trại cá Mỹ còn bỏ ra nhiều tiền và công sức phối hợp với giới truyền thôngmở các đợt công kích vào cá ba sa, cá tra Việt Nam, trong đó có một luận điệu cực kỳ nguy hiểmlà loại cá này sống trong môi trường bị nhiễm chất độc mầu da cam của Mỹ thời kỳ chiến tranh!Mà thực tế, cá của Việt Nam được nuôi thả trong môi trường hoàn toàn trong lành, đã được các
  • 66. tổ chức về vệ sinh thực phẩm quốc tế công nhận. (Nhân đây, tôi muốn lưu ý rằng cách thức tuyêntruyền của Mỹ bao giờ cũng sặc mùi thực dụng và đậm mầu chính trị, mà cách tuyên truyền vềmôi trường Việt Nam là một ví dụ: khi cần chối tội đã gieo rắc chất độc mầu da cam trên đấtnước Việt Nam, thì họ chối phắt, nhưng khi cần cô lập sản phẩm nông – ngư nghiệp của ViệtNam thì họ nói rằng chúng được sản sinh trên vùng đất nhiễm chất độc mầu da cam). Bên cạnhlý do kinh tế, việc bài trừ cá da trơn Việt Nam còn mang sắc thái kỳ thị. Người ta biết rằng, hàngnăm thị trường Mỹ nhập khẩu khoảng 20 tỷ USD hàng hải sản, chiếm 60 đến 70% thị phần trongnước, trong khi đó lượng cá da trơn Việt Nam nhập vào Mỹ chỉ chiếm 2% sản lượng cá nheo tiêuthụ tại Mỹ, đó chỉ là cái vẩy trên mình con cá lớn, không có khả năng đánh bại ngành nuôi cáMỹ. Vậy thì lý do cạnh tranh kinh tế đơn thuần không mang ý nghĩa quyết định trong việc bài trừcá Việt Nam này. Một ấn tượng mạnh mẽ đối với tôi, là các hình thức quảng cáo ở Niu-Yoóc. Các loại mànhình điện tử, các tấm pa-nô bằng chất liệu nhẹ và đẹp được gắn khắp nơi, mà loại phổ biến làmàn hình tinh led cỡ lớn có chiếu hình ảnh động. Tại trung tâm Man-hát-tan, tôi đã thấy cónhững dẫy phố dài hầu như bị phủ hết mặt tiền bằng các loại quảng cáo, có loại quảng cáo điệntử với màn hình cỡ lớn, có khi chiếm toàn bộ bề mặt của cả một ngôi nhà cao tầng, lại có cảnhững khoảng tường được mở tung ra để lộ một căn phòng nhỏ có bầy bàn ghế, tủ... cũng là mộtcách quảng cáo trực quan bằng hàng thật rất gây ấn tượng. Tác giả cùng đoàn cán bộ văn hóa Việt Nam tại trung tâm Niu Yooc
  • 67. Nếu ai đó nghĩ rằng người Mỹ quảng cáo bừa bãi và lố lăng, thì người đó lầm to. Thực ra,người Mỹ quảng cáo rất có văn hoá, tập trung vào việc giới thiệu mặt hàng chứ không phơi bầynhững hình ảnh nhố nhăng như một số nhà quảng cáo của chúng ta hay làm. Sau thảm hoạ 11tháng 9, các nhà quảng cáo Mỹ đã thể hiện ý thức chính trị của mình khi thay đổi nội dung quảngcáo. Họ hướng vào những hình ảnh quảng cáo không gợi nhớ những kỷ niệm đau thương về toàtháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC), thể hiện được tinh thần yêu nước, nhưng gâyấn tượng mạnh mẽ, kích thích người tiêu dùng. Các nhà quảng cáo đã rút biểu tượng WTC trêncác sản phẩm và thay đổi chiến thuật quảng cáo cho phù hợp với tình hình mới. Hãng Gien-ne-rôMô-trơ (GM) thu hồi hình ảnh quảng cáo trong đó có cảnh một chiếc xe hơi hiệu Cadillac củahãng né những vụ tấn công bằng tên lửa. Hãng FORD huỷ bỏ ảnh quảng cáo nhãn hiệu xe hơiLinhcoln đang chạy trên đường phố Niu-Yoóc và toà tháp đôi WTC vẫn còn nguyên vẹn. Hãngxà phòng Le-vơ Pha-be-gơ loại bỏ quảng cáo sản phẩm xà phòng mới Persil có ảnh một đứa bémuốn trở thành phi công. Thay vào đó, các công ty đưa ra những chiến dịch quảng cáo cổ độnglòng yêu nước và hướng đến tương lai. Xu hướng chọn các hình thức quảng cáo phản ánh cuộcchiến tranh hiện nay như tiêu diệt Bin Lađen, hoặc hình ảnh binh lính Mỹ trong chiến tranh thếgiới lần thứ hai ngồi trên chiếc xe zeep cũng được nhiều người làm theo. Các nhà quảng cáo Mỹcũng đã tính tới các hình thức quảng cáo thoát ly thực tế, không liên quan đến chiến tranh, khủngbố nhưng lại gợi lòng tự hào về nước Mỹ và hàng hoá Mỹ. Mở truyền hình vào lúc quảng cáo,tôi hay bắt gặp câu "Tôi là người Mỹ" với những hình ảnh mô tả sinh động mặt hàng mà người tamuốn quảng cáo. Tôi đã rất thích cái máy hút bụi của Mỹ bởi vì trên quảng cáo truyền hình,người ta đã giới thiệu về nó một cách tuyệt vời: nó hút tùn tụt cả một lô xích xông con ốc sắt tođùng, lại nhỏ gọn, nhẹ nhàng. Một lần nữa tôi thấy rõ tính trọng mục đích, thực tế của người Mỹ,họ quảng cáo là để giới thiệu hàng, để bán hàng chứ không để khoe mẽ nhố nhăng. Cũng trêntruyền hình, tôi chưa hề bắt gặp một cách quảng cáo phi văn hoá và thiếu tự tôn dân tộc nào kiểunhư sơn trên mông một đàn con nít hoặc hô mãi câu "Uống bia kiểu Úc! Phong cách Úc!" nhưtruyền hình của chúng ta đã làm. Ngay trong quảng cáo, người Mỹ cũng tuân theo những nguyêntắc nhất định, trong đó có nguyên tắc tập trung thông tin vào mặt hàng cần quảng cáo. Trong mộtbuổi thuyết trình về chiến lược thông tin với chúng tôi, giáo sư Mác-tin Su-lơ-man đã phê phánkịch liệt lối quảng cáo cứ phơi mặt các ông giám đốc ra, chiếm phần lớn trang quảng cáo. Giáosư mỉa mai: "Người ta cần xem mặt hàng mà người ta mua, chứ có phải xem mặt giám đốc đâu,hay là giám đốc muốn bán cái mặt của mình?". Chẳng hiểu vị giáo sư Mỹ kia có biết rằng quảngcáo ở Việt Nam có tình trạng đúng như giáo sư nói, hay đây chỉ là cách nói dựa trên thực tếchung? Dù sao, chúng tôi cũng có cảm giác hơi xấu hổ khi thấy lời mỉa mai của giáo sư phù hợpvới cảnh trạng quảng cáo nước mình quá, trong đó có tình trạng mặt các ông giám đốc hay đượctrưng ở vị trí quan trọng nhất của trang quảng cáo!
  • 68. Qua quan sát và tiếp xúc với những cửa hàng và người bán hàng, tôi thấy người Mỹ có lốimóc túi khách hàng thật diệu nghệ. Bao giờ người ta cũng bầy đầy hàng hoá ở tủ kính phía mặtđường. Với những hàng đã lạc hậu, họ ghi giá rất rẻ nhưng không ghi tính năng, tác dụng. Vớinhững hàng mới, họ ghi tính năng, tác dụng mà không ghi giá (ví như ghi giá một chiếc máy vitính xách tay Sony giá 700 USD nhưng không ghi cấu hình, bên cạnh đó là chiếc máy vi tínhxách tay Sony khác được ghi cấu hình cao mà không ghi giá). Đó là cách hút người mua vào cửahàng để rồi chào mời theo kiểu chèo kéo đầy sức thuyết phục khách hàng. Những người bánhàng chủ động mang hàng ra, hướng dẫn, giới thiệu, vận hành thử và mời mua. Bạn hãy cảnhgiác, vì dù là cửa hàng có niêm yết giá, họ cũng nói thách một tấc đến trời. Thường giá họ phátra cao gấp đôi hoặc gấp ba, thậm chí gấp bốn lần giá họ bán. Cửa hàng nào cũng vậy, khi bạnxem hàng rồi quay lưng ra, lập tức người bán hàng kéo bạn lại, hạ tụt giá xuống ít nhất là mộtphần ba, để bạn có cảm giác là giá rẻ bất ngờ. Một chiếc máy quay video Sony cỡ băng 8 ly đượcyết giá 890 USD, nhưng đã được hạ xuống còn 400 USD và bán với giá 280 USD! Tôi còn thấyở Mỹ một kiểu bán hàng không nơi nào trên thế giới có. Đó là cách giả bán hàng này để bánđược hàng nọ. Một người trong đoàn tôi hỏi mua chiếc máy quay video của Nhật Bản và đượcđồng ý bán với giá 350 USD. Người bán hàng yêu cầu anh nộp tiền. Sau đó, người bán hàng bảochờ để gọi điện thoại nhắn mang máy đến. Nhưng rồi không thấy ai đem máy đến cả, mà chiếcmáy định mua lại chỉ là hàng mẫu, đã cũ, xước ống kính. Thế là kẹt tiền trong két của cửa hàngrồi! Trong lúc đó, người bán hàng đem ra chiếc máy khác, vận hành thử và giới thiệu mọi tínhnăng ưu việt của nó so với cái máy kia, yêu cầu nộp thêm 200 USD. Cò cưa mãi, cực chẳng đã,đành móc túi trả thêm 150 USD. Sau này mới biết đã bị mua đắt 150 USD so với giá bìnhthường. Tuy vậy, cách phục vụ khách hàng của người Mỹ lại rất chu đáo. Một anh bạn tôi muachiếc đầu DVD, về khách sạn thử thấy không chạy, hôm sau đem đến siêu thị khiếu nại. Lúc sắpđi, mọi người bàn nhau là cứ đi hú hoạ, chắc gì cửa hàng đổi cho, mà sẽ chỉ đến chỗ bảo hànhnào đó giống như bên ta mất thôi. Nhưng chúng tôi đã lầm. Sau khi nghe chúng tôi trình bầy,người bán hàng dễ dãi buông ra mỗi hai từ "Thì đổi" và bảo chúng tôi mở hộp máy ra. Anh taxem qua rồi bê cả hộp máy quẳng đến "bịch" xuống đất khiến chúng tôi giật mình, và bảo chúngtôi chọn lấy chiếc máy khác. Tôi hiểu rằng người Mỹ sẵn sàng cho bạn thứ họ không mất, đó làthái độ phục vụ, để bạn mua hàng của họ nhiều nhất, với giá cao nhất. Người Mỹ cũng thật tàitình khi biến mọi thứ thành hàng hoá. Ngay tại trước toà Nhà Trắng, tôi đã thấy hình của nguyêntổng thống Bin Clin-tơn và tổng thống Busơ giống như thật bày trên đường, bên cạnh là hàngchữ: "Chụp ảnh với Tổng thống, máy của bạn: 4 USD, máy của chúng tôi: 6 USD". Đừng tưởngbạn có thể láu cá đứng từ ngoài chụp vào, bởi vì người Mỹ đã tính toán hết cả rồi, họ đeo trênđầu hai "tổng thống" của mình hai cái biển nhỏ, che khuất một phần mặt, khiến cho bạn khôngthể chụp "gỡ" được đâu.
  • 69. Hình Tổng thống Mỹ để cho khách chụp ảnh chung
  • 70. Người Mỹ còn biết tận dụng tâm lý muốn giải trí nhẹ nhàng của con người để đặt ra cáctrò chơi mất tiền. Các máy chơi trò chơi điện tử tự động được đặt khắp nơi. Nhưng có một loạitrò chơi độc đáo mà tôi cũng chưa thấy nơi nào trên thế giới có, đó là trò chơi ép tiền xu thànhhuy hiệu. Thiết bị của trò chơi này khá đơn giản, chỉ là một máy ép có ba khe bỏ tiền vào. Phảithả vào đó 2 đồng xu loại 20 cen và 1 đồng xu loại 5 xen. Bạn có thể lựa chọn 3 loại huy hiệu màbạn thích, trong đó loại được ưa thích nhất là huy hiệu hình Nữ thần Tự do. Sau khi thả tiền xuvà lựa chọn hình, bạn chỉ cần quay nhẹ cần điều khiển, đồng xu 5 xen sẽ được ép thành hìnhchiếc huy hiệu bầu dục với hình nổi bán thân của Nữ thần Tự do! Một cách phá tiền công khai,đem lại lãi lớn (người có máy thu được 40 xen một lần chơi) mà lại có sức thu hút lớn. Có lẽ đócũng là một trò chơi nhỏ thôi nhưng mang tính "Mỹ" rất rõ rệt – ở những nước khác, chắc khó cóai được phép kinh doanh loại trò chơi phá tiền như vậy. Một điều đáng lưu ý khi mua hàng ở Mỹcũng như ở các nước phát triển, là người mua luôn luôn nhớ rằng giá bán hàng được thoả thuậnkhông bằng giá tiền bạn phải trả, bởi vì bao giờ cũng phải cộng thêm tiền thuế, có mặt hàng là4%, có mặt hàng là 8%, thậm chí trên 10% tuỳ theo quy định của Chính phủ. Người Mỹ rấtnghiêm túc trong việc nộp thuế. Không bao giờ họ chấp nhận bán hàng không hoá đơn để trốnthuế. Họ giải thích: "Đây là thuế nộp cho Chính phủ, cho ông Busơ, không phải cho chúng tôi,xin các ông hãy vui lòng nộp giúp!". Bên cạnh những nhà kinh doanh giầu sang, có cửa hàng đàng hoàng như tôi vừa kể, tạiMỹ có rất nhiều người nghèo không có cửa hàng phải bán hàng rong. Nếu khá, họ có những xeđẩy. Còn nghèo quá, họ chỉ có các bao, túi đựng hàng. Phần lớn họ là những người da mầu. Mộtbuổi xẩm tối, trên đường phố Niu-Yoóc chúng tôi gặp một tốp bán hàng rong bán các túi xách,mũ. Chúng tôi đang nói đùa: "Hoá ra ở Mỹ không có Nghị định 36" thì nghe tiếng còi cảnh sát.Nhìn quanh, tôi thấy một nhóm bán hàng rong chạy tán loạn. Một thanh niên da đen xương xẩukéo một bọc hàng to đùng gồm quần áo, túi xách chạy hào hển vào một ngõ, bị chặn, chạy bật trởra, rơi vãi cả mấy cái túi xách xuống đất, quanh qua quanh lại một lúc rồi ngã dúi xuống hèđường. Lập tức một cảnh sát mặc sắc phục đen xì to cao như hộ pháp xông đến xốc đứng dậy, bẻgiật cánh khuỷu, còng tay lại và đẩy ngã dúi vào chân tường. Viên cảnh sát rút máy bộ đàm gọigì đó, còn anh da đen thì nằm còng queo trên hè đường, mặt mày nhăn nhúm như quả táo Tầukhô, trông đến thảm hại. Tôi chợt nói thầm trong bụng: "Các bà hàng rong Việt Nam ơi, nếu cóbị dẹp bán hàng thì đừng trách mấy anh cảnh sát nhé, các anh ấy hiền lắm, chỉ tạm thu hàng làcùng, chứ chẳng bao giờ còng tay các bà như kiểu người Mỹ đâu!". Nhân chuyện này, tôi chợtnhớ rằng, chính quyền Mỹ luôn luôn hô hào tự do, dân chủ, nhân quyền, nhưng thực ra, họ chỉ ápđặt thứ tự do, dân chủ, nhân quyền vô nguyên tắc cho các dân tộc khác, chứ trong nước họ, họgiữ kỷ cương đâu ra đấy, lôi thôi là bị còng tay liền. Họ chỉ cho phép tự do, dân chủ, nhân quyềnkhi không ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia mà thôi, còn khi có biểu hiện thiếu an ninh, họ sẵn
  • 71. sàng "súp" hết - chẳng thế mà nhân danh chống khủng bố, họ đã cho phép cơ quan an ninh nghetrộm điện thoại, kiểm soát thư điện tử, thậm chí bắt người ngước ngoài trong vòng 7 ngày màkhông cần bằng chứng phạm tội... đó sao? Trên thực tế, chính quyền Busơ đã ra lệnh bắt hàngtrăm người trong một thời gian dài mà không hề cho biết người bắt giữ họ là ai, vì sao họ bị bắtgiữ, họ ở đâu và họ bị buộc tội gì. Khi bà Kate Martin, một luật sư phụ trách vấn đề quyền côngdân, hỏi về lệnh bắt những người này, thì Bộ Tư pháp Hoa Kỳ trả lời rằng trong lệnh bắt có tênmột số người nước ngoài cần phải giữ bí mật nên không thể cung cấp cho bà bản sao được. Trở lại chuyện kiếm tiền của người Mỹ, tôi có nhận xét rằng họ có biệt tài trong việc tậndụng các cơ hội để tạo ra lợi nhuận. Ngay cả sự kiện khủng khiếp nhất đối với nước Mỹ là thảmhoạ 11 tháng 9 cũng trở thành cơ hội kiếm tiền của cả một hệ thống xã hội Mỹ. Đến Niu-Yoóc, với niềm thương cảm sâu sắc, chúng tôi muốn lại thật gần khu vực đổ nátcủa hai toà tháp Trung tâm Thương mại để tỏ lòng thương xót những người đã khuất. Nhưngchúng tôi không thể nào tiếp cận được khu vực đó. Quân đội, cảnh sát đã dùng các hàng rào sắt,thậm chí những ống bê tông, để ngăn đường. Mọi người chỉ có thể đứng bám vào các hàng ràodựng tạm đó để nhìn vào khu Trung tâm Thương mại Thế giới. Bị hàng rào chắn, du khách đứng nhìn vào tòa tháp đôi đổ nát
  • 72. Tôi đã chứng kiến rất nhiều người thuộc nhiều quốc tịch đứng dọc mấy con đường baoquanh khu Thương mại thế giới, có người quay phim, có người chụp ảnh, và nhiều người chỉnhìn ngó. Khu vực này khói vẫn bốc lên nghi ngút. Chúng tôi nhìn thấy một khối nhà sập trơ ranhững thanh thép đen sì, cong queo. Hai tòa tháp đổ nát còn nghi ngút khói
  • 73. Nhưng, trong khu vực này không chỉ có những người đến để tưởng niệm, để quan sát, màcó cả không ít người đến làm ăn. Trên phố 14, con phố gần nhất với nơi mà những người có trách nhiệm đang mải miết thudọn, là những người bán bưu ảnh về hai toà tháp đã sập. Các bưu ảnh được phân làm hai loại:Trước, là những ảnh khi vẫn còn hai toà nhà. Còn sau, là những bức có cảnh máy bay đang laovào hai toà tháp. Trước kia, chỉ với 1 USD người ta sẽ mua được 10 tấm ảnh chụp hai toà tháp.Giờ thì phải mua 1 USD một tấm. Giá những bức "sau" thảm hoạ đắt hơn nhiều. Chẳng hạn mộtbức ảnh có cảnh chiếc Bô-ing của United Airlines đâm vào toà tháp thứ hai được bán với giá 3USD mà vẫn có rất nhiều người mua. Quanh khu vực này cũng như ở nhiều quầy hàng rong hoặccửa hàng khác bầy bán đầy những chiếc áo phông có in những hình ảnh liên quan đến thảm hoạ11 tháng 9, mà nhiều nhất là cảnh hai toà tháp quấn cờ, rồi những khẩu hiệu như "Hãy đoàn kếtnhau lại", "Chúng ta tự hào là người Mỹ", "Tôi đã sống những giây phút kinh hoàng", "Hãy trảđũa thích đáng", thậm chí còn in cả hình Bin Lađen . Một lá cờ Mỹ không có cán bình thườngđược bán với giá 2 USD, đến những khu phố ở Man-hát-tan nó tăng lên 7 USD. Hình Bin La Đen trở thành món hàng kinh doanh Tôi dừng lại để nói chuyện cờ Mỹ một chút. Lúc mới sang Niu-Yoóc, tôi có nhận xét rằngngười Mỹ rất thích treo cờ. Họ treo cờ trên các cột cờ ở công sở, trên các nóc nhà, trên xe ô tô,xe bán hàng rong, thậm chí trên thùng rác, và chiếu cả hình cờ trên những màn hình quảng cáo
  • 74. nữa. Tìm hiểu kỹ, tôi mới biết rằng ý thích treo cờ ấy mới bùng phát vào sau thời điểm 11 tháng9. Hình như sau thảm hoạ, ý thức về Tổ quốc bỗng trào lên mãnh liệt trong lòng người Mỹ vàngười ta biểu lộ ý thức ấy bằng cách treo thật nhiều cờ Mỹ. Chỉ riêng siêu thị Wal Mart trongngày 11 tháng 9 đã bán 116.000 lá cờ Mỹ để người dân tưởng niệm những nạn nhân 11/9. Và thếlà những nhà kinh doanh cờ "vào mánh". Số lượng cờ được tiêu thụ tăng vọt và giá cờ cũng tăngtheo - lên gấp 3 gấp 4 lần bình thường. May cờ trong nước không đủ, không kịp, người Mỹ vớitay sang tận Trung Quốc để đặt may gia công. Thế là các công ty chuyên may cờ ở Trung Quốcđã "trúng một quả đậm" khi nhận được hàng loạt đơn đặt hàng khổng lồ từ Mỹ. Mấy ngày sauthảm hoạ 11 tháng 9, công nhân của các công ty may cờ lớn ở Trung Quốc như Mei-Hi-Hua(Thượng Hải), Jin-Teng (Triết Giang) ráo riết làm việc suốt ngày đêm để kịp giao hàng. Ông UGuô-min cho biết trong vòng một tuần lễ kể từ ngày xảy ra thảm hoạ tại Niu-Yoóc và Oa-sinh-tơn D.C, công ty của ông đã nhận được đơn đặt hàng may hơn 500.000 lá cờ từ các khách hàngMỹ. Cũng như vậy, công ty Jin-Teng nhận được đơn đặt hàng may 600.000 lá cờ Mỹ. Những lácờ Mỹ có kích thước trung bình được các công ty này bán cho các nhà phân phối Mỹ với giá 1USD một lá, để rồi về đến nước Mỹ, nó được bán ba, bốn, thậm chí sáu, bẩy USD. Những câythông bằng nhựa quấn quanh dải băng có duy nhất từ "Tự hào" cũng bán rất chạy với giá 2 USDmột cây. Những cửa hàng bán mặt nạ chống khí độc luôn thiếu hàng. Những người bán hàngrong khoe: "Tuy mệt nhưng chúng tôi đã thu được món lợi không tồi". Tại thành phố đau thương này, chúng tôi còn được nghe kể về những hành động kiếmchác vô lương tâm nữa. Kẻ thì hôi của. Kẻ lại lừa đảo. Chỉ khoảng một tiếng đồng hồ sau khi toànhà thứ hai của Trung tâm Thương mại Thế giới sụp đổ, những kẻ hôi của đã tràn vào khu vực bịnạn. Họ vượt qua hàng rào cảnh sát với những lý do rất khác nhau. Kẻ này làm như hết sức đauđớn chạy đến tìm người thân. Kẻ kia huơ cao chiếc máy quay video đòi làm phóng sự truyềnhình. Lại có kẻ nói rằng muốn tìm tài liệu cho tờ báo địa phương, nhưng vội quá nên đã để quênthẻ nhà báo trong ô tô. Một trong những kẻ hôi của đó kể rằng y đã kiếm được một chiếc nhẫnkim cương, bốn đôi giày và một mớ tài liệu trong một chiếc cặp da rách nát. Suốt một tuần liền,cảnh sát không biết đến tình trạng hôi của. Khi báo chí công bố rằng dưới đống đổ nát còn cảmột kho vàng bạc trị giá trên 231 triệu USD, thì số lượng những kẻ hôi của tăng lên khủng khiếp,cản trở nghiêm trọng công việc cứu hộ. Lúc này, thị trưởng Niu-Yoóc mới giật mình, vội vã lêntiếng cảnh báo những kẻ làm ăn phi pháp này có thể bị bắt và phải ra trước vành móng ngựa. Từđó, số người hôi của mới giảm đi. Vậy mà vẫn có những kẻ tham lam nhẫn tâm tiếp tục trò hôicủa. Có một phụ nữ 48 tuổi đã bị bắt khi bà ta chạy đến đội cứu nạn, khóc lóc thảm thiết nói rằngchồng bà vừa gọi điện thoại di động báo đang nằm trong một đống gạch vụn, và khi đội cứu nạntập trung vào nơi bà ta chỉ, bà ta liền quay ra tìm kiếm đồ đạc của những người bị nạn.
  • 75. Mấy ngày sau thảm hoạ 11 tháng 9, tại Niu-Yoóc xuất hiện hàng loạt những "công ty tìmkiếm người mất tích" sẵn sàng truy tìm tung tích những nạn nhân cho thân nhân của họ. Không ítngười cả tin hoặc do quá đau đớn đã giao tiền cho những công ty "ma" ấy, để rồi từ đó khôngbao giờ còn nhìn thấy chúng nữa. Tiếp theo, xuất hiện những "tổ chức từ thiện" đi khắp đất nướcquyên tiền ủng hộ những người bị nạn. Hàng trăm website từ thiện được mở ra. Không ít ngườithả tiền vào cái thùng không đáy của bọn lừa đảo mà không biết. Thế nhưng, trên đây chỉ là những người kiếm ăn vặt. Kiếm chác nhiều nhất qua thảm hoạ11 tháng 9 lại chính là những tổ hợp sản xuất lớn của chính nước Mỹ. Theo lời bình luận của mộtchuyên gia quân sự, đó chính là các tổ hợp công nghiệp sản xuất vũ khí. Điều này được thể hiệnrõ qua việc doanh số và chỉ giá cổ phiếu của những tổ hợp sản xuất vũ khí của Mỹ tăng mạnh sauthảm hoạ 11 tháng 9. Ví dụ như Công ty Ray-thê-on Sít-xơ-tâm (nhà cung cấp lớn các loại vũkhí, khí tài kỹ thuật cao cho quân đội Mỹ, trong đó có tên lửa Tô-ma-hốc và Stin-gơ nổi tiếng):trước thảm hoạ 11 tháng 9, trong 3 quý đầu năm 2001, doanh số giảm liên tục, quý 3 này (trướckhi xảy ra thảm hoạ 11/9) doanh số đạt 4 tỷ USD, giảm 200 triệu USD so với cùng kỳ năm trước,nay giá cổ phiếu tăng vọt, lợi nhuận cũng tăng, có thể đạt trên 1 tỷ USD trong năm tài chính sắptới. Cổ phiếu của những tập đoàn sản xuất vũ khí truyền thống (như phản lực chiến đấu và tầuchiến), vũ khí điện tử, các ngành bảo mật thông tin... tăng chóng mặt. Cổ phiếu của L-3 chuyêncung cấp mạng lưới bảo vệ các phương tiện thông tin liên lạc và các sản phẩm chuyên biệt chongành công nghiệp quân sự và vũ trụ không gian tăng 38%. Cổ phiếu của Hệ thống hỗ trợ kỹthuật tăng 34%, Tập đoàn tư vấn máy tính CACI Inc tăng hơn 20%, Raytheon, nhà sản xuất hệthống chiến đấu và tên lửa Patriot tăng 25%. Hai ngành công nghiệp quốc phòng khổng lồ củaMỹ Lóc-hít Mác-tin Cóp-pơ và Nót-róp Grăm-mun Cop-pơ sản xuất bom B-2 tăng 12%. Hiệngiá cổ phiếu của công ty Nót-róp Grăm-mun (sản xuất máy bay ném bom chiến lược tàng hìnhB-2) đã tăng tới mức cao nhất trong vòng 3 năm qua, đạt 107,60 USD, tăng 10 xen. Giá cổ phiếucủa công ty Ge-nơ-rô Đai-nơ-míc đạt mức kỷ lục là 94,99 USD, tăng 2,39 USD. Công ty nàycung cấp cho quân đội Mỹ từ viên đạn súng tiểu liên, tới những quả bom "thông minh" hoặc tàusân bay của hải quân. Giá cổ phiếu của công ty Ray-thê-on (sản xuất tên lửa Tô-ma-hốc) đạt36,30 USD, tăng 1,33 USD. Ông Jêm Saothơlan, chuyên viên về các hợp đồng quốc phòng, chobiết chi phí quân sự của đợt ra quân này có nhiều điểm giống với cuộc ra quân dưới thời cựutổng thống Ri gân trong thập kỷ 80. Theo ông Pau H. Ni-bơ, phân tích gia thuộc hãng JSA Re-sớt chuyên nghiên cứu tinh hình cho các công ty đầu tư Mỹ, đự đoán, chi phí cho quốc phòngtrong năm tài chính 2001 sẽ tăng từ 50 đến 350 tỷ USD và sẽ là 400 tỷ USD trong năm 2002.Mỗi tên lửa Tô-ma-hốc giá từ 600.000 đến 2.200.000 USD và mỗi tên lửa bắn vào áp-ga-ni-xtangiá trung bình 1,2 triệu USD; từ khi Mỹ tấn công áp-ga-ni-xtan đến ngày 7 tháng 10, gần 100 tênlửa Tô-ma-hốc được phóng đi từ các tầu chiến. Người ta ước tính mỗi tháng Mỹ chi 1,2 tỷ USD
  • 76. cho chiến dịch quân sự ở Áp-ga-ni-xtan, và dự đoán cứ với cường độ như vậy thì cả chiến dịchcó thể lên tới 15 đến 20 tỷ USD, trong đó 70% chi phí chui vào tài khoản các nhà sản xuất vũkhí. Các công ty công nghiệp quân sự đã vớ được hàng loạt hợp đồng béo bở cung cấp vũ khí,khí tài quân sự cho quân đội Mỹ. Nổi bật là hợp đồng trị giá 200 tỷ USD mà Lầu Năm góc kývới tổ hợp hàng không Lóc-hít Mác-tin nhằm chế tạo máy bay tàng hình siêu thanh thế hệ mớiX25. Cuối tháng 10 vừa qua, một lô thiết bị ca-mê-ra tìm nhiệt có giá trị gần 100 triệu USD đãđược bàn giao cho quân đội Mỹ để gắn vào các máy bay do thám hòng phát hiện quân Ta-li-bantrong mùa đông lạnh giá. Quân Mỹ còn sử dụng nhiều bom khoan, bom xuyên có giá từ 200.000đến 1 triệu USD một quả. Điều đó có nghĩa là những tay lái súng cỡ thế giới này sẽ kiếm đượcnhững món lợi khổng lồ trên thảm hoạ của loài người! Người ta vẫn hay nói rằng hạnh phúc trong đời là cái chăn hẹp, đắp kín đầu thì hở chân, vàngược lại. Nền kinh tế thế giới ngày nay cũng vậy, khi người này thu lợi lớn thì tất người kiaphải chịu thiệt thòi. Sau thảm hoạ 11 tháng 9, trong khi các giới kinh doanh, đặc biệt là kinhdoanh vũ khí, vớ bở, thì thảm hoạ lại giáng xuống đầu một số công ty và vô khối người lao độngtrên đất Mỹ. Sau thảm hoạ 11 tháng 9 tới cuối tháng 10, các hãng hàng không Mỹ bị giảm 650 tỷUSD doanh thu. Cố gắng hoạt động trở lại, các hãng hàng không cũng chỉ đạt một nửa công suất.Tâm lý hoảng loạn lan rộng khiến lượng hành khách đi bằng máy bay ở nước Mỹ giảm 70%. Cáchãng hàng không A-me-ri-cân, Vôn-ti-nen-tô, Den-ta... cắt giảm 20% số chuyến bay. Các côngty tài chính như bảo hiểm đang có nguy cơ mắc nợ vì phải trang trải các chi phí khôi phục WTC.Thiệt hại về vật chất và tiền bồi thường của các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm phải chi trả sausự kiện 11 tháng 9 có thể lên tới 22 tỷ USD. Cổ phiếu của ngành hàng không và du lịch giảmmạnh nhất, từ 40 đến 50%. Cổ phiếu của hãng phim giải trí Oan Đít-sơ-nây, sở hữu hãng tinABC, sụt giảm mạnh, mỗi cổ phiếu giảm từ 4,33 USD đến 19,5 USD. Sau 11 tháng 9, hãng U.Avà A.A đã giảm 20.000 nhân công, hãng B.A giảm 5.200 nhân công, hãng U. Atlantic giảm12.000 nhân công. Hãng sản xuất máy bay khổng lồ Boing cho biết sẽ cắt giảm gần 30.000 nhâncông trong vòng 12 tháng tới. Vào cuối tháng 9, giới chủ các hãng hàng không Mỹ đã một lầnnữa khẳng định rằng sẽ có 100.000 nhân viên ngành hàng không nước này bị sa thải do ảnhhưởng của vụ khủng bố ngày 11 tháng 9. Theo các nhà phân tích công nghiệp Mỹ, có ít nhất 6ngành khác có liên quan đến ngành hàng không bị ảnh hưởng do vụ khủng bố và đã bắt đầuchiến dịch sa thải hàng loạt, bất chấp quyền lợi của người lao động. Khoảng 600.000 nhân viêncó nguy cơ bị sa thải hàng loạt trong vài tháng tới. Nhưng không như trước đây, các "chiến dịch"sa thải hàng loạt nhân viên lần này của giới chủ các ngành công nghiệp Mỹ không vấp phải trởngại nào, bởi vì đã có lý do "chính đáng" là ảnh hưởng của thảm hoạ 11 tháng 9. Ngay cả phicông, tiếp viên hàng không cũng không có quyền khiếu kiện nếu như các hãng hàng khôngchứng minh được vụ tấn công ngày 11-9 là hành động chiến tranh. Điều này có nghĩa là không
  • 77. có tổ chức nào đứng ra bảo vệ giới lao động... Trong khi đó, các tổ chức công đoàn tại nhiềuhãng hàng không khác cho biết sẽ không chống đối kế hoạch sa thải đặc biệt hiện nay. Thế là,mượn gió bẻ măng, lợi dụng tình trạng sa sút của một số ngành sản xuất, kinh doanh do ảnhhưởng thực sự của thảm hoạ 11 tháng 9, nhiều công ty, tập đoàn Mỹ đã sa thải hàng loạt côngnhân, điều mà trước đó họ đã muốn làm nhưng chưa kiếm được cớ để thực hiện. Cuối cùng, mọithiệt thòi đều đổ dồn vào đầu những người lao động nghèo khổ của một đất nước giầu mạnh làMỹ. 5. Người Mỹ: Siêu đẳng về thông tin Trong phần viết trên đây, tôi đã nhắc đến nhiều hoạt động của các cơ quan văn hoá, giáodục Mỹ mà ở đó, thông tin đựơc coi trọng và được thực hiện một cách tài tình, đầy hiệu quả.Trong phần này, tôi mô tả một số biện pháp cụ thể mà các cơ quan ở Mỹ thực hiện trong chiếnlược thông tin của mình, qua đó phác hoạ bức tranh khái quát về hình ảnh bộ máy tuyên truyền ởMỹ. Hơn bất cứ nước nào trên thế giới, Mỹ là một cường quốc về thông tin, và người Mỹ đãtận dụng triệt để sức mạnh về thông tin của mình để tiến hành các chiến dịch truyền thông phụcvụ đất nước mình, và để tiến hành chiến tranh tâm lý chống lại những lực lượng đối địch. Đốivới những người Mỹ này, thông tin là công cụ bán hàng, và diễn đàn thông tin là một thị trườngsôi động. Đối với những người Mỹ khác, thông tin là công cụ để phát triển sự nghiệp, và diễnđàn thông tin là một sân chơi cho mọi đối tượng muốn tham gia phát triển sự nghiệp ấy. Đối vớigiới cầm quyền hiếu chiến, thì thông tin chính là một thứ vũ khí sắc bén, và diễn đàn thông tin làmột mặt trận quyết liệt. Trong phần trên, tôi đã nói nhiều về quảng cáo. Trong phần này, tôi lại nói đến mộtchuyện cũng về quảng cáo, nhưng mang tính thông tin xã hội nhiều hơn. Đó là việc có một hìnhthức quảng cáo mà tôi cứ tưởng rằng ở một nước hiện đại như Mỹ, thì không thể tồn tại, vậy màvẫn cứ có mặt trong cuộc sống nước Mỹ. Đó là quảng cáo vặt, bằng cách dán các tờ rơi trêntường, trên cột điện... Tôi đã đi dạo trên nhiều phố phường của Niu-Yoóc, Oa-sinh-tơn, và đã bắtgặp những tờ rơi ở khắp các ngả đường, góc phố, trên những cột đèn hiệu giao thông và cột điện.Trên những mảnh giấy được sao chụp hàng loạt là những thông tin về các lớp dạy học, về chothuê hoặc tìm thuê nhà cửa, về tìm chó mèo lạc, về bán lẻ hàng hoá, nhưng gây ấn tượng nhất làthông tin về nạn nhân của thảm hoạ 11 tháng 9. Tôi được những người sở tại cho biết rằng, chưabao giờ những tờ rơi lại tràn ngập Niu-Yoóc, nhất là khu vực hạ Man-hát-tan, như những ngàyqua, đã biến nơi này thành một thành phố của những tờ rơi. Hàng ngàn người đã sao chụp hình
  • 78. ảnh và thông tin của những người thân bị mất tích dán khắp mọi nơi có thể trên những khu phốdài xung quanh vùng trống trước đây là những toà nhà cao tầng... Những thông tin trên tờ rơithường ngắn gọn nhưng cụ thể về một vài đặc điểm nhân dạng, như vết chàm trên mặt, vết sẹotrên tay, chiều cao, thể trạng, nơi làm việc, cộng thêm hình ảnh mới nhất của người mất tích.Điều này cho thấy, người Mỹ hết sức coi trọng tính mục đích, để đạt mục đích, họ có thể sử dụngbất cứ phương tiện nào, phương pháp nào. Để đẩy thông tin ra xã hội, người Mỹ đã sử dụng cảnhững phương thức thô sơ cổ lỗ nhất như vừa nói, đến những phương thức tân tiến nhất, vàphương thức nào cũng đem lại những hiệu quả thiết thực. Trong khi đó, ở nước ta, nhiều khichưa đạt đến được những phương thức hiện đại, người ta đã muốn loại bỏ những phương thứcthông thường, ví dụ như đã có dạo có người nêu vấn đề loại bỏ phim đèn chiếu hoặc xem xét lạisự tồn tại của các đội thông tin lưu động, vì cho rằng chúng không còn chỗ đứng trong thời đạicủa ti vi, video... nữa. Đã từng tiếp xúc với nhiều đơn vị nghệ thuật của nước ta, tôi có cảm nhậnrằng các nhà quản lý nghệ thuật của ta chưa hiểu biết lắm về vai trò của thông tin, và kỹ nănglàm thông tin của họ hầu như ở con số không. Trong khi đó, thông tin đối với các đơn vị nghệthuật ở Mỹ là một bộ phận máu thịt trong cơ cấu tổ chức cũng như trong hoạt động của họ. Họthực hiện tới mức hoàn hảo cả hai loại thông tin - thông tin về kỹ thuật để thực hiện các chuyếncông diễn, và thông tin tuyên truyền để quảng bá cho mình. Tại trường đại học Binh-ham-tơn, tôi đã được dự một buổi thảo luận bàn tròn về thông tinvà tiếp thị rất thú vị. Giáo sư Mác-tin Su-lơ-man mở đầu: - Các đoàn nghệ thuật muốn đến biểu diễn ở Trung tâm nghệ thuật An-đe-sơn đều phảicung cấp thông tin cho ông Stivơ Mắclin, giám đốc Kỹ thuật của Trung tâm này. Họ cần thôngtin của các đoàn nghệ thuật đó để chuẩn bị cho công tác biểu diễn và để tuyên truyền trên báochí. Tuyên truyền trên báo chí là rất hữu hiệu. Phải cung cấp thông tin để họ hiểu ta là ai, như thếnào. Ví dụ như đoàn rối Thăng Long của Việt Nam sang Mỹ. Người Mỹ chưa biết gì về đoànnày. Nhưng qua báo chí, khán giả Mỹ đã có hiểu biết sơ bộ về nội dung vở diễn của đoàn, đó lànhững trò rối nói về các cảnh sinh hoạt ở thôn quê, tính phức tạp và độc đáo của nó trong việcđiều khiển các con rối, tác giả là dân gian, Nhà hát thuộc thành phố Hà Nội, có rạp biểu diễnriêng tại thủ đô Hà Nội, dư luận về những buổi diễn trước đó từ nhiều nước trên thế giới nhưPháp, Italia... đều khen ngợi hết lời. Những thông tin ấy đi kèm với ảnh những chú rối ngộnghĩnh đã thu hút khán giả đến rạp. Các bạn cần nhớ rằng thông tin không phải chỉ để cho ngườita biết, mà còn cần giúp người ta hiểu về nghệ thuật mà các bạn sẽ đem tới cống hiến cho họ.Một đặc tính quan trọng của người Mỹ mà các bạn cần nhớ là họ rất muốn biết thông tin qua báochí. Do vậy, phải cung cấp càng nhiều thông tin cho báo chí càng tốt. Cùng với bài viết, ảnh, cácbạn còn cần phải giới thiệu bằng băng, đĩa hình, cả CD-ROM và cả In-tơ-nét nữa. Một điều mà
  • 79. tôi muốn các bạn đừng quên, tiếp thị không phải là cho đơn vị nghệ thuật hay cho giám đốc, màlà cho bản thân thứ nghệ thuật bạn muốn đem đến công chúng, tạo ra niềm hứng khởi cho khángiả. Những bức ảnh dùng cho thông tin cần trong tình trạng động, nghĩa là các diễn viên phảiđang trong hành động nghệ thuật biểu diễn, chứ không phải đang yên lặng trong những bức chândung. Giáo sư Su-lơ-man giới thiệu với chúng tôi diễn giả chính hôm nay như sau: - Ông Sơ-ti-vơ D. Mắc-lin là Giám đốc Kỹ thuật của Trung tâm Nghệ thuật An-đe-sơn ởtrường đại học Binh-ham-tơn, trường đại học quốc lập bang Niu-Yoóc. Chức vụ hiện thời củaông Stive là Giám đốc Kỹ thuật, chịu trách nhiệm quyết định và điều phối các yêu cầu kỹ thuậtcủa 3 nhà hát nằm trong khu Trung tâm An-đe-sơn. Sự điều phối này bao gồm cả công tác tư vấncho các nghệ sĩ và đại diện của các nghệ sĩ để đảm bảo hỗ trợ đúng về mặt kỹ thuật và phải amhiểu về các yêu cầu trong biểu diễn. Điều này bao gồm việc phải quyết định về âm thanh, ánhsáng, sân khấu, lắp ráp và đảm bảo an toàn cho mỗi buổi diễn. Ông Stive là thành viên của Hiệphội Bình quyền cho Diễn viên (AEA), Hội Kỹ sư âm thanh (AES) và Viện Công nghệ Sân khấuHoa Kỳ (USITT). Không rào đón, tiếp lời giáo sư Mác-tin Su-lơ-man, ông Sơ-ti-vơ D. Mắc-lin đi thẳng vàonội dung: - Với tư cách là những người đón đoàn đến biểu diễn, chúng tôi cần được cấp đầy đủthông tin. Chúng tôi chính là đối tác của các buổi biểu diễn đó. Chúng tôi cần biết những yêu cầucủa đoàn về các phương tiện phục vụ biểu diễn, như âm thanh, ánh sáng, phông màn, sân khấu,đạo cụ... Trước khi đoàn Thăng Long của các bạn đến đây, chúng tôi đã đón một đoàn kịch củaHy Lạp diễn trên sân khấu nước. Chúng tôi đã phải trao đổi rất kỹ về lượng nước tối đa, tối thiểucho sân khấu, trọng lượng sân khấu. Nhờ bàn bạc cặn kẽ, từ dự kiến mức nước của sân khấu phảicao 20 cm, chúng tôi đã thoả thuận rút xuống còn 5 cm mà vẫn đảm bảo cho yêu cầu của nghệthuật. Cũng từ việc rút đi 15 cm chiều cao mực nước ấy, trọng lượng sân khấu đã giảm đi, đồngthời rất nhiều chỉ tiêu khác phục vụ biểu diễn đã được điều chỉnh theo, giúp đoàn nghệ thuật ấygiảm nhiều chi phí. Nhờ kinh nghiệm về sân khấu nước ấy mà khi đoàn Thăng Long chuẩn bịsang biểu diễn, chúng tôi đã hướng dẫn và nhanh chóng thu thập đầy đủ thông tin giúp cho việctổ chức biểu diễn được thực hiện không tồi. Giở ra một bản sơ đồ có những đường nét và hình khối được tô đậm, ông Sơ-ti-vơ D.Mắc-lin giải thích:
  • 80. - Đây là sơ đồ về bố trí ánh sáng phục vụ sân khấu. Các bạn đừng quên cung cấp chochúng tôi thông tin đầy đủ đối với các yêu cầu cụ thể về ánh sáng, phông màn, kích thước sânkhấu, ví dụ như về ánh sáng: cần bao nhiêu đèn, công suất ra sao, bố trí ở những vị trí nào...Ngược lại, nơi tổ chức biểu diễn cũng phải cung cấp thông tin về sân khấu, phương tiện kỹthuật... của mình cho đơn vị nghệ thuật. Ông Gie-rô Li-tô-ne, một người Anh, cũng làm cho Quỹ FORD, đóng góp: - Nếu các bạn định gửi ảnh giới thiệu nghệ thuật đến nước nào, thì những ảnh ấy phải phùhợp với bối cảnh nền văn hoá nước đó. Chúng tôi đã gặp thảm hoạ khi tổ chức biểu diễn cho mộtđoàn nghệ thuật Hàn Quốc tại Luân Đôn. Do không nghe lời chúng tôi, các bạn Hàn Quốc đã gửiảnh chân dung các diễn viên sang Luân Đôn và nói rằng loại ảnh đó có tác dụng quảng cáo rất tốtở Hàn Quốc. Trên thực tế, thì những ảnh ấy không có ý nghĩa gì đối với người dân Luân Đôn, họcó biết các gương mặt trong những tấm ảnh ấy là ai đâu! Giá như đó là ảnh người yêu của họ thìhọ còn xúc động, chứ đây là ảnh những người xa lạ, họ ngắm làm gì! Các bức chân dung ấykhông gợi cho họ một cảm hứng nghệ thuật nào. Cuối cùng, các buổi biểu diễn đều có quá ítngười xem. Thế là chúng tôi gặp thảm hoạ! Mọi người cười ồ lên vì cách nói hóm hỉnh của ông bạn người Anh này. Con người cao tolừng lững, da đỏ au, mặt nhẵn bóng, râu quai nón xén gọn và dáng vẻ điềm đạm ấy rất ít nói,nhưng thông tin ông đưa ra lại rất hấp dẫn. Ông Sơ-ti-vơ D. Mắc-lin nói tiếp: - Chúng tôi cũng đã đón đoàn từ Liên bang Nga đến Luân Đôn vào những năm 1992 -1993. Lúc đầu, họ tìm những nhà tổ chức nhỏ, không có tham vọng bán nhiều vé - họ chấp nhậnmỗi buỗi diễn có khoảng 300 khán giả. Dần dần, vừa diễn vừa quảng cáo, họ đến với những nhàtổ chức lớn hơn. Kiên trì trong nhiều năm để tạo dựng thị trường, tới nay đoàn nghệ thuật củaLiên bang Nga đã có đông khán giả, mỗi buổi bán được 2.000 vé. Dẫn chuyện Anh quốc, Hàn quốc và Liên bang Nga rồi, Ông Sơ-ti-vơ D. Mắc-lin quayqua khẳng định: - Nhà tổ chức của Mỹ là nhà tổ chức có hiệu quả nhất thế giới. Các nhà hát ở Mỹ có hệthống kỹ thuật rất tốt, có đội ngũ nhân viên rất tốt, khi có đủ thông tin, họ sẽ giúp bạn biểu diễnrất tốt. Vì thế, những đoàn nghệ thuật Anh quốc chúng tôi rất thích đến lưu diễn ở Hoa Kỳ.
  • 81. Buổi thuyết trình về thông tin tại trường đại học Niu-Yoóc cũng gây cho tôi ấn tượng khóquên. Diễn giả là giáo sư Đan Mác-tin. Ông trình bầy về vấn đề ứng dụng công nghệ vào hoạtđộng nghệ thuật với nội dung khá phong phú, trong đó có vấn đề văn hoá trên mạng rất mới mẻvà sâu sắc. Cao khoảng gần hai mét, nặng chừng hơn một tạ, giáo sư có giọng nói sang sảng vàcó cách trình bầy rành mạch, gọn gàng. Nắm rất chắc vấn đề mình cần trình bầy, giáo sư hay nóiở thể khẳng định: - Nước Mỹ đã từng tranh luận về việc ứng dụng In-tơ-nét vào đời sống. Tiêu chí của Mỹ lànếu có 10 triệu người sử dụng thứ hàng hoá hoặc đồ dùng nào, thì thứ ấy được coi là được chấpnhận trên thị trường. Với khả năng tiếp cận 10 triệu lượt người chỉ trong 6 tháng, In-tơ-nét đượccoi là công cụ đáng sử dụng mãi mãi. Tuy nhiên, In-tơ-nét chỉ là công cụ, không phải là đấngcứu thế. In-tơ-nét bổ sung cho các nỗ lực tiếp thị hiện có chứ không thay thế chúng. In-tơ-nétphải được hoà nhập vào kế hoạch tiếp thị hiện có của bạn. In-tơ-nét lôi kéo mọi người vàowebsites của bạn. Giáo sư cho rằng người Mỹ đã nắm được một công cụ lợi hại nhất để tiến hành toàn cầuhoá, đó là In-tơ-nét. Người Mỹ suy nghĩ, điều tra, dự đoán để phát triển In-tơ-nét và đã đưa ranhững con số như sau: Mức độ truy cập In-tơ-nét cứ 100 ngày lại tăng gấp đôi. Đến năm sẽ 2003sẽ có trên 500 triệu người sử dụng In-tơ-nét trên khắp thế giới. Máy vi tính sẽ mang tính nhânbản nhiều hơn. Các mạng sẽ có ở mọi nơi và mọi thứ đều được kết nối. Trang web sẽ trở nên"thông minh" - nó sẽ biết nhiều hơn về bạn, về nội dung cuả nó. Các hình thức giải trí sẽ mangtính công nghệ số nhiều hơn. Tốc độ máy vi tính có thể tiếp tục tăng 18 tháng một lần. Nền kinhtế In-tơ-nét sẽ trở thành bộ phận lớn nhất của hạ tầng kinh tế toàn cầu. Dẫn ra một loạt thông sốdự đoán về công nghệ thông tin, máy vi tính, công nghệ không dây, giáo sư Đan Mác-tin quy vềmột tất yếu là hoạt động nghệ thuật phải tận dụng được thế mạnh của In-tơ-nét. Giáo sư giảithích: - Sử dụng In-tơ-nét vào tiếp thị nghệ thuật, chúng ta sẽ đạt được hiệu quả theo nguyên tắcAIDA - đó là: Thu hút sự tập trung, Tạo sự thích thú, Tạo ra mong muốn,Kích thích hành động. [1]Sở dĩ như vậy vì In-tơ-nét hỗ trợ trong việc tạo ra sự thay đổi trong khách hàng (khán giả), làmcho quá trình mua hàng của khách hàng có tiến trình sau: Từ không biết đến biết, từ biết đếnhiểu, từ hiểu đến tin tưởng, từ tin tưởng đến quyết định hành động. Có nghĩa là, In-tơ-nét hỗ trợtrong việc đạt được các mục tiêu tiếp thị của đơn vị nghệ thuật: Phát triển khán thính giả, Duy trìkhán thính giả, Mở rộng khán thính giả, Làm phong phú khán thính giả. Nếu gọi văn hoá nghệthuật là một ngành công nghiệp thì nó phụ thuộc rất nhiều vào sự trung thành của khán thính giả.In-tơ-nét sẽ tạo ra khán thính giả trung thành cho nghệ thuật. Chúng tôi dùng In-tơ-nét để tiếp
  • 82. cận sinh viên đại học và những người có lương cao, mở rộng quan hệ ra thế giới, tạo ra mạnglưới phân phối lớn trên thế giới về nghệ thuật. Hiện nay, trang web là công cụ tiếp thị đầu tiêncủa các đơn vị nghệ thuật. Những nhà quản lý nghệ thuật phải tạo được một mạng lưới, bằng sựkết nối giữa người với người, bằng các hình thức kết nối đa dạng: Tổ chức với khán thính giả, Tổchức với các cộng tác viên, Tổ chức với tổ chức, Tổ chức với các nguồn tài trợ. Khi cung cấpthông tin lên mạng, các nhà quản lý nghệ thuật cần trả lời được cho bạn đọc các câu hỏi: Ai? Khinào? Ở đâu? Tại sao? và Như thế nào? Thông tin về nghệ thuật đến với khán thính giả không chỉlà lời nói, mà phải có cả hình ảnh, âm thanh và video, các dữ liệu tương tác, các công cụ giaotiếp. Giáo sư thuyết trình một loạt vấn đề hữu ích khác đối với việc tổ chức thông tin cho tiếpthị nghệ thuật như cách thức phục vụ khán thính giả, cách thức nâng cao sự hứng thú cho côngchúng, cách thức tiếp cận với các thị trường mong muốn, cho phép người nhận có thể phản hồinhận xét... Giáo sư trình bầy về bốn "luật" tiếp thị trên In-tơ-nét như sau: 1. Luật kéo và đẩy:Kéo khán khán giả đến với trang web của bạn bằng nội dung quyến rũ.Sau đó đẩy các thông tin có chất lượng đến với họ một cách thường xuyên thông qua thư điện tử(tôi chợt liên hệ: các cơ quan tuyên truyền phản động đã áp dụng triệt để biện pháp này, chính tôiluôn luôn nhận được các thư điện tử "không mời mà đến" với nội dung xấu, phải mất công xoáđi). 2. Luật ngõ cụt: Cần tạo ra nhiều lớp thông tin để "nhử" người đọc. Người ta vào lớp đầu,thấy cụt đường, lại vào lớp tiếp theo. Lớp thông tin đầu rất quan trọng, vì nhiều người đọc chỉlướt qua các trang web, thấy hấp dẫn mới vào các lớp thông tin sau. Phải tạo được lý do chongười đọc đến với website của mình bằng hai cách: - Tạo công cụ tìm kiếm và tạo cơ chế Linh (kết nối) để khi tìm kiếm được thông tin rồi thìngười đọc nhảy được vào trang web có liên quan một cách tự động. - Nhưng quan trọng là phải tạo ra nội dung phù hợp với đối tượng. 3. Luật cho và bán: Cần quan tâm đến việc người đọc cần nhận được gì để đáp ứng đúng nhucầu của họ. Hãy cho đi một thứ gì đó trên mạng. Nắm lấy sự quan tâm của họ để rồi bán cho họmột cái khác.
  • 83. Cần xây dựng sự tin cậy. Hiện nay ở Mỹ có một điều nguy hiểm là người ta 4. Luật tin cậy:không biết rõ một website nào đó do ai tạo ra? Đó có thể là sản phẩm của một công ty nghiêmchỉnh, nhưng cũng có thể là của một thằng nhãi ranh tin tặc 14 tuổi. Để tạo sự tin cậy của kháchhàng đối với website của mình, chống sự giả mạo đó, bạn cần đưa lên trang web của mình thôngtin liên hệ đầy đủ (địa chỉ, số điện thoại,,,), hình ảnh về địa điểm và các chương trình, hình ảnhđội ngũ nhân viên. Giáo sư hướng dẫn cách tiếp thị nghệ thuật bằng các thông điệp thư điện tử đa dạng kiểuvi rút, có khả năng tự lan truyền hoặc kích thích lan truyền trên mạng, ví dụ một thư có ghi thêmdòng chữ: "Mời bạn hãy đọc thư này, bài báo này, và hãy chuyển nó cho các bạn của bạn". Nhờvậy mà thông điệp của bạn có thể được lan toả đến với số lượng người đọc không thể lườngđược. Gáo sư chuyển qua đề tài về xúc tiến thương mại điện tử như sau: - Thương mại điện tử đem lại nhiều lợi ích, như thuận tiện cho khách hàng, tiếp cận đượcnhiều khách hàng hơn, tạo ra kênh phân phối mới, tiếp thị tốt hơn, chi phí thấp hơn. Ngày nay"đi chợ" trên mạng, người ta thấy lạc quan hơn, dễ mua hơn. Ngành kinh doanh nghệ thuật cũngcó phương thứ mới, đó là bán vé trên mạng. Người ta ước tính vào năm 2002, bán vé trên mạngsẽ đạt thị phần 10 tỷ USD. Chi phí cho việc bán vé trên mạng thấp hơn hẳn chi phí bán vé quađại lý, ví dụ bán vé máy bay qua đại lý mất 8 USD chi phí, còn qua mạng chỉ mất 1 USD chi phí.Việc giao dịch ngân hàng cũng vậy, qua nhân viên theo phương thức cũ mất 1,07 USD, còn quamáy chỉ mất 0,01 USD. Việc quảng cáo trên mạng cũng làm giảm thiểu chi phí, cụ thể là: quảngcáo trực tiếp chi hết 500 USD/1.000 người, qua báo chi hết 17,5 USD/1.000 người, trên mạngchi hết 1,75 USD/1.000 người. Xúc tiến thương mại điện tử, ta có cơ hội tăng thêm khách hàngmà không phải chi thêm hoặc chỉ phải chi thêm rất ít tiền. Ngành nghệ thuật cần tham gia thươngmại điện tử. Để tận dụng các lợi thế của thương mại điện tử, các nhà quản lý nghệ thuật cần đưalên mạng các đoạn mẫu của tác phẩm, tạo ra những cuộc lưu diễn ảo, phỏng vấn các nghệ sĩ,thông tin về cách đặt vé, cung cấp các thẻ dành cho khán giả mua vé thường xuyên, theo dõi việcmua vé, thưởng cho các khán giả trung thành và khuyến khích họ để bán được nhiều vé hơn. Bánhàng qua mạng còn giúp người bán thu thập được thông tin về khách hàng, ví dụ như thói quenmua hàng, mặt hàng ưa chuộng... để từ đó nắm chắc hơn khách hàng, đáp ứng tốt hơn yêu cầucủa khách hàng và sẽ bán được nhiều hàng hơn. Về việc tổ chức thông tin trên mạng, giáo sư Đan Mác-tin nói đến những điều mà ngườilàm thông tin cần quan tâm, là tốc độ của đường truyền, mức độ thành thạo của người dùng,
  • 84. phần mềm mà họ dùng và kỳ vọng của khách. Ông cho biết Công ty IBM, một công ty máy tínhnổi tiếng của Mỹ, đã phải thiết kế lại trang web để tập trung vào yêu cầu của người truy cập, xoábỏ các lỗi thiết kế, nhờ thế mà ngay trong tuần lễ đầu tiên đã làm cho việc sử dụng nút trợ giúp(Help) giảm 84% và doanh thu bán hàng tăng 400%. Về Mười "quy tắc" văn hoá mạng, giáo sư trình bầy như sau: 1. Quản lý hình ảnh của bạn (của tổ chức mình) Đòi hỏi ta phải kiên định với cách ta đã làm trên mạng, không nên thay đổi, để khi ngườita truy cập mạng là nhận ra ngay trang web của ta. Giống như đi bất cứ đâu, cứ nhìn nhà hàngnào có chữ M mầu vàng trên nền đỏ là ta biết đó là nhà hàng ăn nhanh Mắc-đô-nan. 2. Hướng dẫn đơn giản Hãy chỉ cho người truy cập biết họ đang ở đâu. Hãy cung cấp các chỉ dẫn về đường dẫncho khách hàng. Hãy đánh dấu rõ ràng các mục kết nối "Home" (quay về trang chủ). Hãy sắp xếpnhững đường nối quan trọng theo một cách thức thống nhất. Ví dụ các nút công cụ dù ở trangnào cũng cần nằm ở một vị trí. Sắp xếp thông tin theo ưu tiên, loại nào đáp ứng yêu cầu nhiềunhất cho bạn đọc thì được ưu tiên ở những vị trí thuận lợi nhất trên trang web. Tôi đã đến mộtnhà hát ở Rumani, Giám đốc rất tự hào về trang web của mình, trên trang chủ có hình ảnh củaông ta, tôi hỏi: "Có đúng là ông muốn khách nhập mạng là để nhìn ông không?" Ông ta trả lời:"Đúng!". Tôi bảo: "Ông hãy quên điều đó đi! Khách cần thông tin chứ không cần ông! Đưa ảnhông lên mạng sẽ gây lãng phí thời gian truy cập!". Khi thiết kế trang web, cần sáng tạo, nhưng đừng quá thông minh để biến sự sáng tạo ấythành sự đánh đố khách hàng, làm cho khách hàng rối trí trước sự khó hiểu của trang web. 3. Đừng lãng phí thời gian Thông tin cần ngắn gọn, do đó phải thực hiện khẩu hiệu "Cắt! Cắt! và Cắt!". Hãy bỏnhững thông tin thừa hoặc không liên quan. Bản thân tôi đã vào một trang web, thấy có dòng“Hãy kích vào đây để đi vào trang web của chúng tôi” - đó là thừa. Cần dùng ngôn ngữ ngắngọn, đi vào đề. Hãy chỉ dẫn chứ đừng chỉ bảo. Chỉ sử dụng hình ảnh hoặc minh hoạ khi chúnglàm tăng thêm giá trị cho trang web của bạn. 4. Giữ cho sản phẩm của bạn luôn mới
  • 85. Người sử dụng đòi hỏi thông tin phải được cập nhật thường xuyên. Phải phân công nhânlực để bảo trì và cập nhật trang web. Vừa qua tôi vào trang web của một dàn nhạc giao hưởng,thấy quảng cáo một chương trình của tháng 9/2001, như vậy là muộn quá. Phải ghi ngày nhậpthông tin vào trang web (ví dụ: Cập nhật ngày 11 tháng 9 năm 2001). 5. Hãy cho đi Người truy cập mong đợi nhận được một cái gì đó từ các trang web, như thông tin về tổchức của bạn, những dữ kiện thú vị, những trò giải trí, được kết nối với các nguồn thông tin khácvà những thứ "linh tinh" miễn phí. Vậy thì bạn hãy cho họ những thứ mà họ thích. 6. Nội dung, nội dung, nội dung Cung cấp thật nhiều thông tin theo một định dạng có thể phát tin tốt. Không chỉ phát tin,mà phải nắm bắt thông tin (về hội viên, về việc đăng ký truy cập vào những thông tin/dịch vụđặc biệt, đảm bảo có sự "trao đổi giá trị"). 7. Hãy tương tác Với những người ở trong nền văn hoá Web, người ta không chỉ đọc mà họ muốn kích vàomục này, mục kia, do vậy cần đưa vào những dấu hiệu về đường nối, hướng dẫn mẫu, điều tra,thiết bị tìm kiếm nội bộ và các cuộc thi. Có nhiều kết nối theo các dạng "hãy liên hệ với chúngtôi", "nhận xét", và "hãy gửi email". Sắp xếp sao cho người truy cập có thể tiếp cận gần hơn vớithông tin mà họ mong muốn chứ đừng làm cho họ bị lạc đề. 8. Tuân theo quy tắc "7 + /-2" Có những trang web có thông tin tốt, nhưng lại được thể hiện bằng bài viết dài dặc, làmcho người ta cứ phải trượt trên màn hình suốt. Cần chia nhỏ thông tin thành nhiều phần để tuỳngười ta muốn vào chi tiết đến đâu sẽ đi đến đấy. Cần sắp xếp thông tin từ chung chung đến chitiết, từ trừu tượng đến cụ thể. Như thế, quy tắc " 7+/-2" có nghĩa là 1 trang không đưa quá 7 hộp,có như vậy thì thông tin sẽ được cập nhật hơn, giảm nguy cơ "bùng nổ dữ liệu", tạo cho ngườitruy cập khả năng điều khiển, tạo trang web dễ sử dụng hơn. 9. Quảng bá trang web của bạn
  • 86. Phải tạo ra các kết nối qua lại giữa trang web của bạn với nhiều trang web khác. Hãy đăngký địa chỉ trang web của bạn với chức năng tìm kiếm. Hãy quảng bá địa chỉ của bạn ở mọi nơi.Hãy nói nhiều về nó. 10. Các quy tắc rồi sẽ thay đổi Nếu như hôm nay bạn nói "hoạt động biểu diễn, kinh doanh vẫn như bình thường" thì cólẽ ngày mai bạn sẽ không thể tiếp tục hoạt động của mình được nữa. Hãy vận động càng nhiềucàng tốt một cách thông minh, bởi vì mọi thứ đều có thể thay đổi. Tiếp đó, giáo sư Đan Mác-tin trình bầy một loạt vấn đề liên quan đến việc xây dựng vàphát triển trang web, trong đó tập trung vào quá trình lập kế hoạch. Cuối buổi, giáo sư Mác-tin Su-lơ-man nói nửa đùa nửa thật: - Muốn tìm thông tin về một nước nào đó thì hãy vào trang web của CIA - đó là trangphong phú nhất. Bây giờ CIA đang có nhu cầu tuyển mộ lính mới, nhất là những người biết tiếngArập (mọi người đều cười). Tôi có nói chuyện với một thương gia người Trung Quốc, ông này tỏý băn khoăn về nạn chảy máu chất xám – những người có trình độ của Trung Quốc đều bị thuhút về Mỹ. Một trong những lý do của việc này là vì ở Trung Quốc họ không truy cập được In-tơ-nét – không tiến bộ được. Không biết rằng thông tin do giáo sư Mác-tin Su-lơ-man thu nhận được từ nguồn nào, chứtheo thông tin tôi có, thì Trung Quốc phát triển khá mạnh In-tơ-nét, có dạo đã bùng nổ các quáncà phê In-tơ-nét, chứ làm gì có chuyện một trí thức không thể truy cập In-tơ-nét để đến nỗi phảichạy sang Mỹ? Cũng không hiểu từ nguồn thông tin nào, mà giáo sư Mác-tin Su-lơ-man nói: "Việt Namcũng thấy khi dùng In-tơ-nét sẽ có nhiều nguy cơ. Tôi không nói đến việc có nguy hiểm haykhông khi dùng In-tơ-nét, mà nói đến việc hiểu nhau. Hãy nghĩ đến mặt trái nếu không dùng In-tơ-nét, và người Việt Nam phải quyết định cho mình chứ không phải người khác quyết định."Tôi rất quý giáo sư Mác-tin Su-lơ-man bởi tính chân thực và nhiệt tình của ông, nhưng cũng thấybăn khoăn về việc những thông tin về Việt Nam đến với ông thường không toàn diện, khiến ôngcó thể hiểu sai một đất nước mà ông đã hai lần đặt chân đến. Tôi phải giải thích với giáo sư rằngViệt Nam có cảnh báo về những nguy cơ khi không quản lý tốt In-tơ-nét, nhưng về cơ bản, thìViệt Nam khẳng định In-tơ-nét là công cụ hữu hiệu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá,cần phát triển, và thực tế Nhà nước Việt Nam đã có nhiều biện pháp phát triển In-tơ-nét. Nhân
  • 87. đó, tôi thông báo với các bạn Mỹ rằng vào buổi sáng ngày 12 tháng 10, trước khi lên máy baybay sang Hoa Kỳ mấy tiếng đồng hồ, tôi đã dự buổi hội thảo qua cầu truyền hình Việt - Mỹ vềthương mại điện tử. Trong buổi hội thảo này, từ Oa-sinh-tơn, ông Giám đốc Ngân hàng Thế giớiđánh giá cao Chính phủ Việt Nam đã có nhận thức đúng đắn về thương mại điện tử và đã có biệnpháp xúc tiến nó, Chính phủ Việt Nam vừa thấy lợi ích của nó, vừa thấy những nguy cơ mà nócó thể đem lại; nhìn chung, so với 51 nước mà ông giám đốc Ngân hàng Thế giới đã tiếp xúc, thìChính phủ Việt Nam tích cực hơn trong kế hoạch xúc tiến thương mại điện tử. Như thế chứng tỏViệt Nam không bài xích In-tơ-nét, mà ngược lại, đang chủ động nắm bắt, làm chủ nó, đưa nóvào cuộc sống. Các bạn Mỹ đều tỏ ra ngạc nhiên về thông tin này. Rõ ràng là giáo sư Su-lơ-manrất đúng khi nói rằng mọi người cần hiểu nhau. Nhìn chung, xuyên qua những vấn đề có tính lý thuyết và kỹ thuật trong các buổi thảoluận về thông tin, về In-tơ-nét, điều mà chúng tôi thấm thía là cần nhanh chóng sử dụng côngnghệ thông tin, In-tơ-nét phục vụ hoạt động văn hoá, nghệ thuật, trong đó nhấn mạnh vai trò củathông tin trong việc tuyên truyền, đưa văn hoá, nghệ thuật đến với công chúng. Nói cho kháchquan, thì đó là điều còn khá xa lạ đối với những người quản lý các đơn vị nghệ thuật ở nước ta,tất nhiên, họ không bài xích nó, nhưng họ chưa có đủ hiểu biết và khả năng làm chủ nó. Còn người Mỹ, kể cả những người quản lý nghệ thuật, họ có nhận thức sâu sắc về vai tròcủa thông tin và có khả năng tuyệt vời trong việc ứng dụng các công nghệ để chuyển tải thôngtin. Trong tất cả các buổi làm việc từ hôm sang Mỹ đến nay, không lần nào tôi không nghe ngườiMỹ nhấn mạnh rằng cần phải tổ chức thông tin thật tốt để quảng bá mình, để tiếp cận với côngchúng, để quảng cáo, bán hàng... Chính vì thế mà, cộng với sức mạnh kinh tế, người Mỹ đang sửdụng khá hiệu quả thông tin và truyền thông để tiến hành chiến lược toàn cầu hoá. Cũng chính vìthế, người Mỹ đã thật sự thành công khi muốn biến điều gì đó của nước mình thành vấn đề củatoàn cầu. Một đất nước như thế, tất sẽ sinh ra một ông vua về công nghệ thông tin, và trên thựctế, ông vua công nghệ thông tin đã được sinh ra trên đất Mỹ, đó là Bin- ghết. Tôi muốn đi sâu hơn xuống một tầng của thông tin, đó là tầng chiến tranh tâm lý, mà trongđó, Mỹ cũng là loại siêu hạng. Thảm hoạ 11 tháng 9 là một ví dụ. Nhờ lực lượng thông tin hùnghậu và cách thức đưa thông tin tập trung, có chủ đích rõ ràng, người Mỹ đã nhanh chóng lan toảnỗi đau do khủng bố trên đất nước mình thành nỗi đau chung của nhân loại, sau đó biến nỗi đauđó thành sự hận thù và các hành động trả đũa dưới danh nghĩa chống khủng bố, để rồi họ dễ dàngtiến công Áp-ga-nit-xtan mà không cần sự thông qua của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tổngthống Busơ nói rằng Bin Lađen là kẻ khủng bố số một, là kẻ bị tình nghi số một chủ mưu tổ chứccuộc khủng bố hôm 11 tháng 9, thì toàn bộ hệ thống tuyên truyền của họ tập trung cho thông tin
  • 88. ấy, không cần bằng chứng, không cần phân tích dài dòng, kết quả là cả thế giới đều gọi BinLađen là kẻ khủng bố số một, là kẻ chịu trách nhiệm chính gây ra thảm hoạ 11 tháng 9. Ngaytrong cách thức tuyên truyền của họ về nguy cơ bệnh than "do khủng bố" cũng có sức lan toảnhư một làn sóng điện vô tận, khiến cả thế giới run giật lên từng hồi. Tôi muốn giới thiệu chi tiết hơn về hoạt động của bộ máy tuyên truyền Mỹ xung quanhthảm hoạ 11 tháng 9 để thấy họ hoạt động vì ai, họ có khách quan hay không, và báo chí Mỹ cótự do hay không? Trong cuộc chiến vùng Vịnh, Mỹ đã chiến thắng trước hết trên mặt trận truyền thông. Sựđộc quyền về thông tin khiến Mỹ đã vẽ nên hình ảnh "chính nghĩa" của cuộc chiến mà người Mỹtiến hành để xâm lược Irắc. Tổng thống Sát-đam Hu-sen muốn đưa hình ảnh người dân thường bịchết vì bom Mỹ cho thế giới thấy thì phải "nhờ" CNN. Sự thông tin và giải thích thông tin vềchiến tranh vùng Vịnh thế là hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của người Mỹ. Trong cuộc "trả đũa" những kẻ khủng bố lần này, Mỹ cũng muốn tạo ra một mặt trậnthông tin mà Mỹ là người làm chủ. Tìm hiểu thực tế trên đất Mỹ, đối chiếu với các thông tin có liên quan trên báo chí Pháp,Mỹ và Việt Nam, tôi nhận thức rõ rệt một sự thật là giới truyền thông Mỹ rất có ý thức chính trị,đồng thời giới cầm quyền Mỹ cũng quản lý rất chặt chẽ, hướng luồng thông tin vào những chiềucó lợi cho nước Mỹ và ngăn chặn những luồng thông tin bất lợi đối với họ. Ngay sau thảm hoạ11 tháng 9, các đài truyền hình Mỹ tự động đồng loạt đình ngay các chương trình chiếu phim cóliên quan đến nội dung khủng bố, bom nổ, người chết hàng loạt... Ví dụ kênh FOX thay thế phim"Ngày độc lập" bằng phim hài nhẹ nhàng "Bà Đo-phrơ", ABC thay thế "Người gây dựng hoàbình" bằng phim tình cảm "Con tàu hy vọng". Theo giới chức Mỹ ước tính, đã có ít nhất 5.500người thiệt mạng trong vụ tấn công vào nước Mỹ, nhưng chẳng ai trông thấy một thi thể nào trêncác phương tiện truyền thông ở Mỹ lẫn ở nước ngoài. Hàng nghìn quan tài đã được đưa đến khuđảo Man-hát-tan, nhưng không một đài truyền hình Mỹ nào đưa lên màn ảnh cảnh vận chuyểnthê lương đó. Hình ảnh về người Mỹ chịu thảm cảnh được chiếu trên truyền hình chỉ xuất hiệnmột lần duy nhất, đó là trường hợp đài NBC chiếu cảnh mấy nạn nhân nhảy từ toà tháp xuống.Tổng giám đốc MSNBC khẳng định: "Chúng tôi đã quyết định không trình chiếu quá nhiều hìnhảnh đau thương". Sau ngày 11 tháng 9, những người bám sát các kênh truyền hình Mỹ đều đồngtình với nhận xét của Xa-viê đơ Gia-co-mơ-ni, đặc phái viên của đài LCI ở Niu-Yoóc: "Tôi xemCNN mỗi đêm. Quả thật tôi không thấy một hình ảnh máu me nào. Cánh phóng viên nước ngoàiđều nhìn nhận các đồng nghiệp Mỹ đã tránh quay những cảnh tang thương vì lòng ái quốc, họ
  • 89. không muốn tạo thêm tâm lý lo sợ trong công chúng". Phơrăngxoa Giêrê, Giám đốc Viện ngoạigiao và quốc phòng Pháp, phân tích: "Đối với người Mỹ, đưa hình người chết là phạm điều cấm.Sự cấm đoán về mặt văn hoá đó đã xuất hiện trong thời chiến tranh ở Việt Nam. Đó là thời củanhững phóng sự truyền hình đầu tiên và những phóng sự này đã ghi hình lính tử vong. Ảnhhưởng của chúng đối với dư luận Mỹ tệ hại đến mức Ban Quan hệ công chúng của quân đội Mỹđã yêu cầu phải ngừng cách thực hiện phóng sự như vậy. Trong thời kỳ chiến tranh vùng Vịnh,những hình ảnh hiếm hoi về các thi thể lính Mỹ chỉ được ghi hình từ phía xa." Tất nhiên, sự cấmđoán chiếu hình ảnh thi thể và máu me đó trên màn hình chỉ áp dụng trong trường hợp nhữngnạn nhân là người Mỹ. Chứ còn cảnh xương tan thịt nát, máu me đầm đìa trong các thảm hoạchiến tranh mà người Ru-an-đa hay người Pa-lex-tin là nạn nhân thì vẫn được trình chiếu trướcnhững cái nhìn vô cảm của người Mỹ. Lần này, canh phòng chặt chẽ hơn mặt trận thông tin,chính quyền Mỹ kiểm duyệt theo kiểu hàng rào an ninh đối với giới truyền thông khiến cánhphóng viên nước ngoài bực tức. Đài I Têlêviziôn kể lại: "Người ta lập hàng rào an ninh dày đặc.Cánh phóng viên đến làm việc đều bị kè sát. Đài truyền hình nước ngoài càng không được đặtchân vào khu đào bới (Những phóng viên được phép vào quay ở khu vực cứu nạn chỉ có 10 phútđể ghi hình mỗi ngày). Những hình ảnh dành cho chúng tôi chỉ là những hình ảnh do các camêratự động của CNN ghi lại. Ở bệnh viện, phi trường... cánh phóng viên cũng gặp phải cái lắc đầutừ chối của lực lượng an ninh". Tai-ry Tuy-lơ, Tổng biên tập phụ trách mảng chính trị nướcngoài đài Phơ-răng-xơ 2 của Pháp, cho biết: "Người ta đang kiểm tra thông tin, vì theo như ôngBusơ vẫn nói đi nói lại, nước Mỹ đang trong tình trạng chiến tranh." Lập hàng rào an ninh chưađủ, Chính phủ Mỹ còn đòi các báo phải tự kiểm duyệt. Các đài truyền hình phải cắt giảm thờilượng đưa tin. Các nhà báo Mỹ không còn được tự do hành nghề. Tờ Thời báo Niu-Yoóc nói lêntình cảnh hiện nay của các báo và đặt câu hỏi: Báo chí và dư luận được quyền thông tin đến đâutrong cuộc chiến? Thiếu tin tức, khó tiếp cận thông tin, hiện họ đang bị mắc kẹt không lối thoát.Muốn làm tròn nhiệm vụ đưa tin về một chủ đề rất phức tạp, đồng thời lại không được chỉ tríchchính phủ trong thời điểm khủng hoảng quốc gia này, họ đành phải tỏ ra ôn hoà, thận trọng, phảihợp tác với Nhà Trắng nhân danh "bảo vệ tổ quốc". Bài báo viết: "Nhà Trắng yêu cầu các đàitruyên hình và các báo phải giảm tối đa việc đưa tin và hình ảnh "tuyên truyền", nhất là "nhữngthông điệp cài mật mã của Bin Lađen . Có nghĩa là báo chí không được vô tình bị kẻ thù thaotúng. Các hãng truyền hình lớn tỏ ra rất thận trọng khi xử lý thông tin. Không ai muốn bị tố cáolà không hợp tác với cuộc chiến chống khủng bố". Trong chiến tranh vùng Vịnh, Phó Tổng thốngĐíc Che-ny hiện nay, hồi đó là Bộ trưởng quốc phòng và ngoại trưởng Co-lin Pô-oeo là Tổngtham mưu trưởng đã phân phát thông tin và các chỉ thị cho các nhà báo với tinh thần kỷ luật thép.Năm 1996, tướng Pô-oeo (nay là Bộ trưởng ngoại giao Mỹ) đã nói với nhà báo Barie Dunsmorerằng nếu Mỹ đang thua trận mà giới truyền thông hở ra điều đó với kẻ thù "thì tôi sẽ bỏ tù tất cảcác người và nhân dân Mỹ sẽ xé xác các người." Một trong những lý do khiến Lầu Năm góc cố
  • 90. gắng thiết lập quan hệ mới với U-dơ-bê Ki-xtan là vì trong một xã hội khép kín như thế, giớitruyền thông rất khó xâm nhập để khai thác thông tin. Một sĩ quan không quân Mỹ nói: "Chúngta có thể bố trí máy bay ở đó mà CNN không thể mò tới quay phịm được". Và bây giờ, Chínhquyền Mỹ đã đặt báo chí vào một cách lựa chọn duy nhất là ủng hộ Chính quyền phát động chiếntranh dưới danh nghĩa "chống khủng bố"! Qua thảm hoạ 11 tháng 9, các phóng viên nước ngoài càng có thái độ bực tức khi làm việctại Niu-Yoóc và Oa-sinh-tơn vì bình thường Mỹ vẫn hay rêu rao về nền báo chí tự do tuyệt đốicủa mình, mà trên thực tế thì họ đã trói chân trói tay cánh nhà báo nước ngoài. Thực ra, bản thânnhiều phóng viên nước ngoài cũng không nỡ giương máy ảnh hoặc ống kính ca mê ra để ghi hìnhnhững thi thể. Họ không dám làm vì cảm thấy quá bất nhẫn. Nói như Heve Brusini, Giám đốcthông tin của đài Phrăng-xơ 3: "Cảnh hai chiếc máy bay đâm vào toà nhà đã chưa đủ khủngkhiếp hay sao?". Cánh phóng viên nước ngoài tỏ ra bực tức còn vì cái gọi là "tính đạo đức củađồng nghiệp Mỹ có thể thay đổi khi nạn nhân mang quốc tịch khác. Đô-mi-nic Uâ-tơn, Giám đốcnghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, cho biết: "Thường thì người Mỹ ítbị xúc động hơn khi các thi thể là người nước ngoài. Lần này những kẻ thường rao giảng chongười khác về tự do báo chí hẳn đã có phản ứng ngăn người khác trình chiếu hình ảnh ngườimình chết. Nhưng câu chuyện này cũng sẽ dạy một bài học nhớ đời cho giới truyền thôngphương Tây vốn không ngại ngần khi quay những cảnh thảm sát xảy ra tại Ru-an-đa..." Do Chính phủ Mỹ áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt với giới truyền thông với lý do"nhằm hạn chế tối đa thông tin về kế hoạch tấn công có khả năng lọt vào tay quân khủng bố",mọi thông tin về cuộc chiến, dù là bình thường, cũng phải được kiểm duyệt trước khi đưa ra côngkhai. Mạng In-tơ-nét của bộ Quốc phòng Mỹ đã ngừng đưa các vị trí neo đậu của tàu chiến hoặccác địa điểm tập kết quân. Báo giới, kể cả những tập đoàn truyền thông lớn, cũng không được cửđặc phái viên bám vào các căn cứ quân sự để đưa tin. Khu vực đổ nát ở Trung tâm Thương mạiThế giới, vào dịp chúng tôi tới thăm, đã bị ngăn cách bởi các hàng rào và lính canh. Nhữngngười được vào sâu trong khu vực này cũng phải thực hiện một quy định - tất cả các thiết bị ghihình như máy ảnh, máy quay, vi-đê-ô đều bị cấm sử dụng, theo lệnh của Thị trưởng thành phốNiu-Yoóc Ru-đóp-phơ Gui-li-a-ni. Thực ra, không đợi đến dịp “chống khủng bố”, nhân danh giữbí mật vì lợi ích quốc gia để bịt thông tin, mà từ nhiều năm trước đó, chính quyền Mỹ đã cónhững đạo luật hạn chế công dân tiếp cận các nguồn thông tin. Đạo luật về quyền tự do tiếp cậnthông tin được Quốc hội Mỹ thông qua vào năm 1966 và được củng cố lại vào năm 1974 sau vụOa-tơ-ghết đã quy định chín trường hợp mà người dân không được tiếp cận thông tin như sau: 1. Những thông tin mật về an ninh quốc gia.
  • 91. 2. Những quy định về giám sát hoạt động của các nhân viên thuộc các cơ quan liên bang. 3. Những thông tin về vũ khí hạt nhân, nguồn tin tình báo và phương thức tình báo trừ khicó một đạo luật được Quốc hội thông qua cho phép công bố. 4. Bí quyết kinh doanh hoặc những thông tin về thương mại và tài chính. 5. Tài liệu của các cơ quan phụ trách vấn đề trong nước, chẳng hạn như tài liệu thảo luậnvề việc có nên bổ sung tên của một số loài động vật vào đạo luật bảo vệ những loài thú đang cónguy cơ bị tuyệt chủng không. 6. Thông tin liên quan đến vấn đề riêng tư của cá nhân. 7. Hồ sơ điều tra về thực thi pháp luật. 8. Hồ sơ về các tổ chức tài chính. 9. Tài liệu về các giếng dầu, kể cả bản đồ địa lý của các giếng dầu đó. Những cố gắng của giới cầm quyền Mỹ ngăn chặn hoặc điều chỉnh thông tin theo hướngcó lợi cho Mỹ sẽ phát huy tối đa hiệu quả nếu như trong cuộc chiến này, Mỹ không vấp phải mộttrở lực từ bên ngoài. Đó là Bin Lađen đã sử dụng hai "vũ khí tuyên truyền" lợi hại là đại sứ kiêmngười phát ngôn Ta-li-ban tại Pa-ki-xtan A-đu Sa-lam Dép và đài truyền hình An Gia-gi-a. A-đuSa-lam Dép luôn luôn có thông tin từ phía Ta-li-ban và tiếp cận được với dư luận cũng nhưthông tin địa phương, cho nên đã tạo ra được một thế trận tuyên truyền ngày càng có lợi cho Ta liban. Còn đài An Gia-gi-a tuy không phải là công cụ riêng của Bin Lađen, nhưng lại là nơi truyềnđi những tin tức, hình ảnh về thực trạng Áp-ga-ni-xtan gây bất lợi cho Mỹ. Trong khi CNN phảiđứng ngoài biên giới Áp-ga-ni-xtan thì An Gia-gi-a là cơ quan truyền thông ngoại quốc duy nhấtđược Ta-li-ban cho phép hoạt động trong vùng lãnh thổ mà họ kiểm soát, cho nên các hãng thôngtin Mỹ như CNN, FOX News, NBC phải mua lại chương trình độc quyền của An Gia-gi-a, kể cảnhững chương trình ghi hình và ghi âm kẻ thù số một của Mỹ là Bin Lađen. Đài An Gia-gi-aluôn luôn theo sát, đưa tin nóng hổi về tình hình áp-ga-ni-xtan và Mỹ phải luôn luôn phải chạytheo phủ nhận những tin tức ấy. Ngoại trưởng Mỹ Co-lin Pô-oeo lên án đài này là "vô tráchnhiệm, độc ác" vì đã cho phát băng hình có cảnh Bin Lađen khen ngợi hành động tấn công nướcMỹ ngày 11 tháng 9. Chính quyền Mỹ xếp đài này vào "sổ đen". Trên cuộc chiến truyền thôngnày, Bin Lađen tỏ ra sắc sảo không kém người Mỹ. Ông ta biết "tung" hình ảnh của mình cùngnhững lời nói mang tính mê hoặc như lời thánh truyền chứ không hung hăng, hiếu chiến, trong
  • 92. một bối cảnh những vách núi đá trầm lặng gợi lại hình ảnh nhà tiên tri Ma-hô-mơ, người sáng lậpHồi giáo, có sức lay động lòng người vào ngay sau cái đêm Mỹ hùng hổ tung không lực vàođánh Áp-ga-ni-xtan hòng bắt sống ông ta. Tất cả các đài truyền hình, các hãng thông tấn đổ xôvào mua đoạn băng này để phát đi khắp thế giới. Thế là tạo ra cái cầu truyền hình để Bin Lađenđấu khẩu với Busơ! Ngày 22 tháng 10, cũng chính đài An Gia-gi-a đã phát đi hình ảnh về vụchiếc máy bay trực thăng chở thám báo Mỹ đổ bộ xuống Áp-ga-ni-xtan bị Ta-li-ban bắn rơi tạivùng núi Ba-ba Sa-hít gần thành phố Kan-đa-ha của Áp-ga-ni-xtan chứ không phải bị tai nạn rơitrên lãnh thổ Pa-ki-xtan như Lầu Năm góc tuyên bố, đồng thời tố cáo Mỹ sử dụng vũ khí hoá họcvà sinh học ở Áp-ga-ni-xtan. Có lẽ vì thấy nguy cấp quá, chính quyền Mỹ phải thực hiện gấpnhiều việc để khống chế thông tin. Bộ Quốc phòng Mỹ chi hàng triệu USD để ngăn chặn giớitruyền thông phương Tây tiếp cận với những bức ảnh vệ tinh có độ chính xác cao chụp hình ảnhnói lên những hậu quả do bom Mỹ gây ra ở Áp-ga-ni-xtan, và đã quyết định cắt đường truyềnảnh khi có tin nhiều thường dân bị thương vong trong vụ ném bom trại huấn luyện gần Đa-run-ta, Tây Bắc thành phố Ja-ta-la-bát.
  • 93. Chính quyền Mỹ cũng đã giao cho bà Co-đô-li-gia Rai-cơ, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ,lên tiếng "nhắc nhở" các đài truyền hình cần kiềm chế và tốt hơn hết là không nên phát lại các
  • 94. cuốn băng phát hình Bin Lađen phát biểu. Trò bịp là ngón nghề của giới chính trị Mỹ, trongtrường hợp này được biểu hiện bằng việc bà Cố vấn an ninh khôn khéo lái chuyện thông tin sangvấn đề an ninh khi bà ta cảnh báo rằng đây chính là thủ đoạn tuyên truyền của Bin Lađen, và hơnthế nữa, Bin Lađen có thể lợi dụng hình thức phát hình để tạo ra mật mã truyền đạt các chỉ thịcho thuộc hạ. Cố gắng xoay chuyển tình thế, Mỹ tìm cách lợi dụng đài này. Bộ trưởng Quốcphòng Mỹ Đô-nan Răm-sơ-ten đã dành cho đài này một cuộc trả lời phỏng vấn trên truyền hìnhvới hy vọng phía bên kia chiến tuyến có thể nghe được tiếng nói cũng như những cử chỉ nghiêmkhắc của mình. Nhiều nguồn tin cho biết Mỹ đang tìm mọi cách, kể cả tung tiền ra mua đàitruyền hình này. Nhưng những cố gắng ấy không mấy giúp người Mỹ đạt được ước nguyện.Những hình ảnh mà Mỹ muốn nhồi nhét vào đầu người Hồi giáo để chinh phục họ từ tâm hồn vàtrí tuệ đã không đến được con mắt người Hồi giáo như Mỹ mong muốn. Còn những hình ảnh vềcuộc chiến mà Mỹ muốn tô vẽ cho mình thì đã bị nhiễu loạn bởi những hình ảnh đối nghịch dođài An Gia-gi-a tung lên sóng. An Gia-gi-a đã góp phần tạo nên một dư luận chống Mỹ, nhất làchống hành động giết hại dân thường của Mỹ trong thế giới Arập cũng như trên toàn thế giới.Quyết tâm xoay chuyển tình thế, Mỹ tiếp tục tăng cường các biện pháp tuyên truyền và chiếntranh tâm lý. Cái món hổ lốn Cây gậy và củ cà rốt tưởng như đã lỗi thời từ hàng thập kỷ qua, bâygiờ chính quyền Busơ lại đem ra sử dụng, chỉ có điều là nó hiện đại hơn xưa. Đó là việc từ ngày7 tháng 10, Mỹ đã kết hợp trút tên lửa vào các mục tiêu trên đất Áp-ga-ni-xtan và thả hàng việntrợ cho người dân nước này. Đói khát, có những cháu nhỏ ngây thơ đã đi tìm nhặt thứ hàng"nhân đạo" đó. Than ôi, không rõ là vì cớ gì mà người Mỹ lại làm những quả bom bi giốngnhững gói đồ ăn "cứu trợ" đến thế, đều tròn tròn, nho nhỏ, có vỏ bọc mầu vàng, và lại thả hai thứnày cùng một khu vực, làm cho nhiều cháu nhỏ bốc phải bom bi, gây nổ và thiệt mạng. Lại cótrường hợp, không biết có phải do trời cố tình vạch mặt giả dối của Mỹ không, mà khiến cho mộtthùng hàng "cứu trợ" do máy bay Mỹ thả xuống rơi trúng nhà của một người dân Áp-ga-ni-xtanlàm thiệt mạng một phụ nữ và một cháu nhỏ, khiến cho người dân nước này càng căm thù Mỹ vàđã tẩy chay món hàng cứu trợ" khó nhằn ấy. Đối lại cây gậy và củ cà rốt của Mỹ, vị Hoàng tử Arập Sau-đi Ai-oa-lít Bin Ta-tan có mónđồng đô la và cái lưỡi khi tuyên bố tặng nhân dân Niu-Yoóc 10 triệu USD kèm lời bình: "Nhữngvụ khủng bố ở Mỹ là kết quả tất yếu cho những gì Mỹ đã gây nên ở khu vực Trung Đông. Tôi tinrằng chính phủ Mỹ sẽ xem lại các chính sách của mình ở khu vực này cũng như có những lậptrường công bằng hơn đối với những người Pa le xtin." Tất nhiên, người Mỹ không thể tiêu hoánổi cái "món ăn" hổ lốn ấy, cái "món ăn" mà họ chính là người "sáng tạo" ra "thực đơn", bởi họcó thói quen áp đặt cho người khác những thứ mà họ không thích. Cũng chính vì thế mà thịtrưởng Ru-đôn-pho Gui-li-a-ni từ chối phắt tấm séc đó. Về mặt tuyên truyền, các quan chức Mỹtăng cường số buổi diễn thuyết tại I-sơ-la-ma-bát và chính quyền Mỹ quyết định lập Đài phát
  • 95. thanh Áp-ga-ni-xtan. Với 405 phiếu thuận, 2 phiếu chống, Hạ viện Mỹ đã nhất trí viện trợ 27triệu USD cho kế hoạch thành lập "Đài phát thanh Áp-ga-ni-xtan tự do". Mỗi ngày đài này phátcác bản tin trong 12 giờ bằng các thứ tiếng địa phương của người Áp-ga-nix- tan. Đây được coilà cuộc chiến tranh tâm lý nhằm giành chiến thắng trên hai mặt trận quân sự và tuyên truyền.Đây cũng là biện pháp cổ lỗ mà Mỹ vẫn áp dụng xưa nay hòng nhồi nhét tư tưởng Mỹ vào đầuóc nhân loại, trong đó lập ra hoặc tài trợ cho hàng chục đài phát thanh chĩa vào Việt Nam, CuBacũng như nhiều quốc gia khác hàng ngày phát đi nhiều buổi phát thanh tuyên truyền chính trị,kêu gọi lật đổ. Nhưng, những ngón đòn ấy không phát huy nổi sức mạnh trước ý thức chính trịcao của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân CuBa. Còn trong cuộc chiến này, chưa rõ kết quảra sao, nhưng Tổng thống Nga V. Putin đã cảnh báo rằng Mỹ có thể chiến thắng bằng sức mạnhquân sự trên chiến trường, nhưng Mỹ lại đang thua trong cuộc chiến tranh thông tin do các lựclượng khủng bố hoạt động ngày càng mạnh mẽ và tinh vi. Vừa tìm cách bưng tai bịt mắt nhân dân thế giới, chính quyền Mỹ vừa tập trung vào việctruyền bá trong nhân dân Mỹ những tư tưởng hận thù, hiếu chiến và kiêu ngạo. Phương pháptuyên truyền của họ vẫn là tập trung, với những thông tin ngắn gọn, mang tính áp đặt. Mở truyềnhình Mỹ, tôi thường bắt gặp hình ảnh và những lời tuyên bố hiếu chiến của Tổng thống Mỹ, Bộtrưởng Quốc phòng Mỹ, hoặc hình ảnh binh lính Mỹ đang đổ bộ vào Áp-ga-ni-xtan. Truyền hìnhcũng phát đi lời giải thích của Tổng thống Busơ rằng người ta khủng bố nước Mỹ vì người tacăm thù tự do trên đất nước này. Những tin tức, hình ảnh ấy rất ngắn, nhưng được phát đi phátlại nhiều lần trong một ngày, in hằn vào não người xem nhận thức rằng chính quyền Mỹ đangtiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa. Ngay cả với điện ảnh, chính quyền Mỹ cũng tìmcách kéo vào guồng máy chiến tranh tâm lý. Các nhân viên của chính quyền Busơ đã gặp các nhàlãnh đạo ngành điện ảnh và truyền hình, kêu gọi họ tham gia cuộc chiến. Những nỗ lực của việchợp tác giữa điện ảnh với Chính phủ sẽ là việc giúp Chính phủ truyền bá hình ảnh của nước Mỹra nước ngoài. Ngược lại, những ai đưa ra những thông tin bất lợi cho Mỹ, người đó sẽ bị ngăncản ngay, cho dù người đó là ai. Chính cựu Tổng thống Mỹ Bin Clin-tơn đã là nạn nhân của sựđối xử thô bạo ấy. Sự việc mới xảy ra sau thảm hoạ 11 tháng 9, khi vị cựu Tổng thống này đếnphát biểu tại trường đại học Gioóc-giơ, trong đó vạch trần nguyên nhân gây căn bệnh "ghét Mỹ"lan tràn trong lòng người, thậm chí ở ngay cả các nước đồng minh Châu Âu, là khoảng cách giàunghèo, sự ngạo mạn nước lớn của Mỹ. Trong khi dư luận đang rất xôn xao sau bài phát biểu này,thì dòng báo chí chính thống của Mỹ lại im lặng một cách cố ý. Hai tờ Niu-Yoóc Times và Oa-sih-tơn Post phản ứng với vị cựu Tổng thống của mình bằng cách không đăng thông tin về bàiphát biểu này. Đài CNN cũng chỉ tóm lược bài phát biểu một cách sơ sài, trích dẫn những đoạn ítgây tranh cãi nhất, bỏ qua những đoạn mà vị cựu Tổng thống Hoa Kỳ chỉ trích chính quyền Mỹ.Thậm chí, báo chí Mỹ còn moi móc chuyện cá nhân của Bin Clin-tơn với Len Uynh-sơ-ky và chỉ
  • 96. trích vị cựu Tổng thống này do vướng bận vào các chuyện bê bối tình ái đã không cương quyếttrừng phạt những kẻ khủng bố dưới thời ông ta cầm quyền, để đến nỗi bây giờ nước Mỹ chịuthảm hoạ ghê gớm như thế này. Báo chí Mỹ đã không đặt ngược lại vấn đề rằng giả sử BinClinton ra lệnh tàn sát dân chúng một vài nước nhân danh chống khủng bố, thì chắc gì số ngườiMỹ chết trong thảm hoạ 11 tháng 9 đã dừng ở con số 5.000. Chính bởi lối tuyên truyền lệch lạcnhư trên của Mỹ, mà nhân dân Mỹ khó có cái nhìn khách quan về chính đất nước mình. Nhà vănMỹ Ru-xen Banh, hiện đang làm việc tại Hội nhà văn tiểu bang Niu-Yoóc, thuộc trường đại họcNiu-Yoóc, đã bộc bạch: "Tôi đã nghĩ rất nhiều về sự kiện ngày 11 tháng 9, cố loại bỏ trong đầunhững phép tu từ kiểu sô vanh mà một số nhà chính trị và các "học dởm" của chúng ta rêu raotrên các phương tiện thông tin đại chúng. Vở nhạc kịch tạp nham và sống sượng của báo giới đôilúc làm tôi bị rối trí." Bà Su-giần Gióc-giơ, người Mỹ hoạt động trong phong trào ATTAC, đãnói với báo Li Nô-vơ óp-sơ-va-tơ: "Người Mỹ không làm sao hiểu được tại sao người ta ghét họ.Họ không có một ý niệm về những gì mà các chính quyền của họ gây ra. Họ sống trong vỏ kén.Báo chí Mỹ che khuất sự thật và nắn dư luận theo cách mình." Nhân đây, tôi cũng nói thêm về sự giáo dục của Mỹ đối với thế hệ trẻ. Họ rất quan tâmđến việc giáo dục nhận thức tư tưởng, mà giáo dục qua hệ thống tuyên truyền như trên là mộtcách, và giáo dục theo một cách khác là trong hệ thống giáo dục. Ngay sau thảm hoạ 11 tháng 9,Mỹ đã cho tiến hành biên soạn lại giáo trình phổ thông, trong đó bổ sung những nội dung, nhưlòng yêu nước của người Mỹ sau sự kiện 11-9, hình ảnh quốc kỳ Mỹ, các bài phát biểu, tuyên bốtrấn an dân chúng của Tổng thống Busơ, tuyên bố mở chiến dịch chống Áp-ga-ni-xtan của Thủtướng Anh Tô-ny Bơ-le, chân dung "trùm khủng bố" Ô-sa-ma Bin Lađen trong vòng ngắm, diễnvăn ca ngợi lòng yêu nước của người Mỹ... Người ta đã làm việc khẩn trương để năm học tớisách có bổ sung nội dung về ngày 11 tháng 9 sẽ tới tay học sinh. Kết quả của việc giáo dục nàychưa biết sẽ ra sao, nhưng trước mắt, chính các biện pháp tuyên truyền cực đoan về chống khủngbố đã hằn sâu vào tâm trí trẻ nhỏ Mỹ nỗi ám ảnh bạo lực. Chẳng thế mà, bây giờ "chống khủngbố" đã trở thành trò chơi của bọn trẻ Mỹ, mà biểu hiện mới đây là một cậu bé 12 tuổi người Mỹđã bắn trọng thương em trai của mình trong khi hai anh em chơi trò "chống khủng bố" giống nhưmột trò chơi điện tử dành cho thiếu nhi có tên"Chiến dịch bí mật". Làm việc với các cơ quan, tổ chức ở Mỹ và theo dõi thông tin do Mỹ phát đi, tôi thấyngười Mỹ có biệt tài trong việc chuyển chủ đề thông tin một cách linh hoạt để tập trung vàonhững mục đích cụ thể, tạo ra hiệu quả cao. Khi chuẩn bị đến nước Mỹ, chúng tôi đọc tin tứcthấy dầy đặc thông tin về về chiến dịch chống khủng bố do Mỹ phát động và cầm đầu. Thật giỏithay cho bộ máy tuyên truyền của Mỹ đã làm cho cả thế giới tin rằng Mỹ chính là người đi tiênphong trong cuộc chiến chống khủng bố và hầu như mọi người đều tuân phục Mỹ trong cuộc
  • 97. chiến này, trong khi trên thực tế, chưa hề có sự phê duyệt của Liên Hợp quốc về vai trò của Mỹlà người cầm cờ chống khủng bố! Cách tuyên truyền áp đặt về vai trò tiên phong chống khủng bốcủa Mỹ nhằm khiến cho mọi người quên mất tham vọng bá chủ toàn cầu của Mỹ, và cuộc chiếnmà Mỹ phát động hiện nay cũng chỉ là một hành động cụ thể nhằm thực hiện tư tưởng bá chủ đó.Mỹ tiến đánh Áp-ga-ni-xtan, thì mục đích "trả đũa bọn trùm khủng bố" chỉ là cái cớ, còn thựcchất, là để kiếm chỗ đứng mà Mỹ thèm khát hàng chục năm qua ở một vùng đất "thánh", khôngnhững có một trữ lượng dầu mỏ khổng lồ, mà còn có một vị trí chiến lược quan trọng ở Trung Á,nơi dậm chân để thọc sườn một loạt nước lớn trong khu vực như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ...Cách tiến hành chiến tranh tâm lý của Mỹ trong suốt giai đoạn chuẩn bị tiến công Áp-ga-ni-xtanđã tạo ra cơn sốt "chống khủng bố toàn cầu" trên khắp thế giới, và thế là Mỹ tiến quân ào ạt, trútbom đạn xuống đầu dân thường Áp-ga-ni-xtan... Khi thế giới hơi chững lại vì chưa thấy kẻ khủng bố nào chết mà chỉ thấy dân thưòng đổmáu, Mỹ lập tức chuyển qua chiêu bài bệnh than. Theo thường lệ, chiều nào Oa-sinh-tơn cũng tổchức họp báo phân tích tình hình quân sự trong ngày. Đến khi cần tạo ra dư luận mạnh mẽ hơn,thì chỉ cần một trường hợp bệnh than được phát hiện, trong ngày đã có đến 7 cuộc họp báo côngbố sự kiện này. Còn Giám đốc An ninh nội địa Nhà Trằng Tôm Rai thì tuyên bố ông ta sẽ báocáo ngắn gọn về tình hình bệnh than trước giới báo chí ít nhất 3 lần một tuần. Đâu phải ngẫunhiên mà trên các phương tiện thông tin đại chúng, Mỹ cứ la hoảng lên trước căn bệnh cổ lỗ,không lấy gì làm ghê gớm lắm ấy? Thực ra, kiểu "khủng bố" này không có gì mới, bởi vì từ năm1999, thống kê các vụ hình sự về bệnh than đã cho thấy Mỹ chiếm 81 trong tổng số 83 vụ trênthế giới. Thế mà ngày nay, trên các trang nhất, nhiều báo Mỹ vẫn đăng những tin sốt dẻo về bệnhthan. Thậm chí trên truyền hình, tôi còn thấy người ta chiếu rõ hình ảnh từng nốt đen trên cơ thểbệnh nhân bệnh than! Và quan trọng hơn, báo chí Mỹ đã gắn ngay cho "bọn khủng bố" là thủphạm gửi các bức thư có chứa vi khuẩn bệnh than! Báo chí Mỹ đưa tin rằng đến nay có gần 20người ở 5 tiểu bang tại Mỹ nhiễm bệnh than, có 4 người tử vong và hiện Bộ Tư pháp Mỹ đangđiều tra theo hướng đây là một vụ khủng bố sinh học. Thông tin cứ chạy lướt trên bề mặt của cáigọi là sự lan truyền bệnh than, bỏ qua chiều sâu rất cần phân tích: có thật sự những người mắcbệnh than đều là vì bị "bọn khủng bố" làm cho lây nhiễm, hay mắc bệnh chỉ vì những lý dothông thường? Thậm chí, người ta cũng đã không để ý có bệnh nhân chết vì bệnh than mà chẳngliên quan chút nào tới các bì thư có chất bột trắng và rằng hai nhân viên bưu chính ở Oa-sinh-tơnđược coi là hai ca tử vong đầu tiên do bệnh than, thực ra vẫn chưa được xác định rõ nguyênnhân. Thế mà bộ máy tuyên truyền của Mỹ cứ nói đại là nhiễm bệnh than nghi do bọn khủng bố dùngvũ khí sinh học để rồi bỗng nhiên trở thành nhiễm bệnh than do bọn khủng bố dùng vũ khí sinhhọc, chết nghi do bệnh than để rồi dần dần chuyển thành thông tin chết do bệnh than. Có mấy ai để ý rằngtrong số người chết về bệnh than ấy, có cả những cụ già mà tuổi thọ đã vượt cái mức "xưa nay
  • 98. hiếm"? Đó là chưa kể khả năng, nếu quả đúng có "khủng bố sinh học", thì việc ấy lại do chínhtay một người Mỹ nào đó thực hiện, giống như rất nhiều hành động giết người man rợ khác đãxảy ra trên đất Mỹ mà thủ phạm không ngoài ai khác là người Mỹ, trong đó có cả những học sinhnhỏ tuổi! Chúng ta cần quan tâm đến một báo cáo của Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) chobiết, vi khuẩn bệnh than được dùng làm vũ khí khủng bố ở Mỹ giống vi khuẩn bệnh than đượcchế tạo bí mật trong các phòng thí nghiệm của Mỹ theo chương trình nghiên cứu sinh học củaMỹ năm 1951 - 1969 và FBI đang tập trung điều tra các chuyên gia làm việc và nghiên cứu tạicác phòng thí nghiệm đó. Biết đâu, lại chẳng phải là chuyện "xôi giống xôi, thủ giống thủ" củaViệt Nam - Mỹ nhận lại được cái mà chính mình đã đánh rơi mà cứ còn phân vân không nó làcủa ai. Đọc báo, xem truyền hình, người ta cứ tưởng là đang có làn sóng sợ hãi bệnh than lantruyền trong dân chúng Mỹ. Nhưng đi trên đất Mỹ, tôi thấy người Mỹ đâu có hoảng sợ đến thế.Vào chính cái ngày mà Quốc hội Mỹ cho tạm thời đóng cửa nhằm "tẩy rửa" vi khuẩn mang bệnhthan, tôi đã đến tận cửa toà nhà lộng lẫy ấy. Có gì đâu, người dân Mỹ vẫn đi dạo trên đồi Ca-pi-tơn, vẫn chụp ảnh ngoài thảm cỏ hay trong toà nhà có bức tượng Lin-côn! Thậm chí, ngay sáttiền sảnh nhà Quốc hội, một nhóm nhạc trẻ Mỹ còn dăng máy phóng thanh, hát hò vui vẻ. Trongcuốn sách này, tôi đưa vào tấm ảnh tôi chụp ngay tại toà nhà Quốc Hội, vào đúng ngày mà Quốchội Mỹ cho tạm thời đóng cửa để “tẩy rửa vi khuẩn bệnh than”, để bạn đọc dễ hình dung sựtuyên truyền bóp méo sự thật của Mỹ trắng trợn đến mức nào! Tác giả trước toà nhà Quốc Hội Mỹ
  • 99. Thực ra, bệnh than đã có từ lâu, có khả năng lây truyền từ động vật sang người, và con sốngười Mỹ bị nhiễm bệnh, bị tử vong chỉ là hạt cát giữa biển nếu so với bệnh lao, viêm gan B,chưa kể là đại dịch AIDS đang lan truyền trên thế giới. Thậm chí, ở nhiều nước, bệnh sốt rét còntác yêu tác quái cướp đi tính mạng hàng trăm người trong một thời gian ngắn, chứ đâu chỉ làmlây nhiễm vài chục người như bệnh than ở Mỹ! Bệnh than có ảnh hưởng gì lắm đến nước Mỹđâu! Vậy mà với chiêu tuyên truyền tập trung mang tính áp đặt, Mỹ đã lôi léo được dư luận thếgiới chăm chú vào đó. Mục đích của lối tuyên truyền lừa bịp này cũng chẳng có gì mới, đó là hútdư luận về căn bệnh than, lo cho người dân Mỹ bị nhiễm bệnh và lo cho bản thân mình vì khôngbiết ngày nào đó sẽ nhận được một bì thư có chất bột trắng chứa khuẩn bệnh than, mà quên mấtở phía trời Trung Á, bom đạn Mỹ đang tác yêu tác quái, khả năng tiêu diệt sinh mạng con ngườicòn mạnh hơn gấp bao lần bệnh than. Mặt khác, ngón nghề tuyên truyền của Mỹ được vận dụngvào chiến dịch reo rắc nỗi lo sợ về bệnh than, theo lời bình luận của tờ Át- Tha-ra, cơ quan ngônluận của đảng Bát-thơ cầm quyền ở Irắc, là "nhằm biến sự thất bại của Mỹ trong các vụ tiến côngvào nước Mỹ ngày 11 tháng 9 thành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống "khủng bố sinh học"mà thôi". Để rồi, khi thả bom vào một làng, hay một bệnh viện ở Áp-ga-ni-xtan, làm chết cả trămngười, chính quyền Mỹ chỉ cần nói ráo hoảnh một câu "nhầm" là ổn! Chẳng thế mà, sang tuầnthứ hai của cuộc chiến tranh, qua các phương tiện thông tin đại chúng, Mỹ đã thừa nhận "thảnhầm" một quả bom "thông minh" được điều khiển bằng hệ thống định vị toàn cầu và la de vàomột khu dân cư cách sân bay Ca-bun khoảng 1 km. Ta-li-ban cho biết khoảng 25 đến 30 ngườiđã bị chết trong vụ ném bom "nhầm" này. Thế nhưng, Mỹ cũng chẳng có một lời tạ tội nào vớinhững oan hồn của vụ "nhầm chết người đó. Tiếp xúc với người Mỹ, tôi cảm thấy có nhữngngười trong số họ mắc chứng vô cảm với đồng loại. Gặp những cảnh bạo lực, tai nạn, ăn mày ănxin, ngủ hè ngủ ghế... người Việt chúng ta hay mủi lòng, nhưng trên đất Mỹ này, tôi thấy nhiềungười cứ dửng dưng. Nhà văn Mỹ Ru-sen Banh gọi hiện tượng vô cảm của người Mỹ là "lòngtrắc ẩn từ lâu bị lỗi thời ở xứ này". Cũng bởi mắc chứng vô cảm như thế, chính quyền Mỹ luônluôn ráo hoảnh trước những cái chết oan khuất của dân thường do họ đem lại và họ đã nói mộtcách lạnh lùng trên các phương tiện truyền thông về cái sự "nhầm" chết người kia! Cũng với thóilạnh lùng vô cảm, trong tuyên truyền, người Mỹ có lối "chối phắt" trước những lời tố cáo tội lỗicủa mình, ví dụ như khi bị tố cáo là thả bom trúng một bệnh viện ở thành phố Hê-rát phía TâyÁp-ga-ni-xtan, làm hơn 100 người chết, chứng tỏ máy bay Mỹ "cố tình nhằm vào dân thường",Bộ Quốc phòng Mỹ nói không có bằng chứng cho thấy máy bay Mỹ liên quan cuộc tiến côngnày!
  • 100. Người ta còn nhớ cũng chính Mỹ trong những ngày chuẩn bị chiến tranh "trả đũa" nhằmvào Áp-ga-ni-xtan, đã từng tuyên truyền rùm beng cho các loại vệ tinh dẫn đường, các loại vũkhí "thông minh" có thể phân biệt dân thường với lính, phân biệt nhà dân với trại huấn luyệnkhủng bố... Thế mà bây giờ, bom đạn lại bị dẫn "nhầm", cứ nhè vào đầu dân thường mà nổ! Điềunày càng cho thấy đưa thông tin áp đặt, dù đúng sự thật hay không, chỉ cần có lợi cho Mỹ, là mộtđặc tính của lối tuyên truyền Mỹ. Một đặc điểm nữa trong tuyên truyền ở Mỹ mà những ai muốn dựa vào các nguồn tin củaMỹ hãy cảnh giác, đó là lối đưa tin "vịt", hoàn toàn sai sự thật. Tôi xin dẫn ra đây một số tin vềthảm hoạ 11 tháng 9 và sự kiểm chứng những tin ấy: Thứ 3-11/9. Một chiếc xe hơi có đặt bom đã phát nổ bên ngoài toà nhà Bộ Ngoại giao. Hàng trăm Tin:công nhân viên chức đang làm việc tại Oa-sinh-tơn đã chạy túa ra từ những toà nhà lân cận. Thực tế:Đây là một thông tin bịa đặt, giống như những thông báo kế tiếp về những vụ nổtại Điện Capitol và Văn phòng Tổng thống cũ tại Nhà Trắng. Tin: Có thêm một chiếc máy bay khác bị không tặc khống chế, thoát khỏi tầm kiểm soátcủa ra đa, hướng về phía thủ đô Oa-sinh-tơn . Nhiều nguồn tin cho biết chiếc máy bay này cũngđang nhắm đến mục tiêu là Nhà Trắng hoặc Lầu Năm góc bị bốc cháy từ sau cú tấn công thứnhất. Thực tế: Không có chiếc máy bay nào. Thứ tư, 12 tháng 9. Tin:800 người chết ở Lầu Năm góc. Giới quân sự, trước đó vẫn cho rằng số tử vong thấphơn nhiều, sẽ bị sốc. Thực tế: Chỉ có 190 người chết. Tin: Nhiều nguồn tin đồn về việc khan hiếm nhiên liệu khiến hàng ngàn người xếp hàngtại các trạm xăng trên toàn quốc và một số trường hợp nhiên liệu tăng giá. Thực tế: Chưa thấy có một báo cáo chính thức nào về tình trạng khan hiếm nhiên liệu.
  • 101. Trước đó, vào năm 1991, trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, Mỹ cũng đã tung tin "vịt" đểtạo dư luận có lợi cho mình. Điển hình là vụ hãng thông tấn Hil và Knao-thao ngày 10 tháng 10năm 1991 dẫn lời con gái Đại sứ Cô-oét tại Mỹ tung tin "vịt" về binh lính Irắc đã giết hại trẻ emsơ sinh trong các bệnh viện Cô oét, hãm hiếp phụ nữ vô tội vạ... Mãi sau khi chiến dịch "trừngphạt" kết thúc, sự việc vu cáo bỉ ổi kia mới lộ ra ánh sáng, nhưng kết quả của nó tuyệt đối hữuhiệu: 700 hãng truyền hình đã phát đoạn vi đê ô trên đây với 67 triệu lượt người theo dõi, gâymột làn sóng ủng hộ chiến tranh rộng rãi và Tổng thống Busơ (cha) thời đó lập tức được Thượngviện thông qua "sắc lệnh chiến tranh". Thế còn, liệu Bin Lađen có thật là kẻ chủ mưu trong vụ tấn công nước Mỹ hôm 11 tháng 9không? Cả Mỹ và Anh đều tuyên bố hùng hồn rằng đã có bằng chứng kết tội Bin Lađen, sẽ đưara bằng chứng, nhưng cho tới nay, đã có bằng chứng nào được công bố đâu! Khi dư luận thế giớiđòi bằng chứng, chính quyền Mỹ nói ráo hoảnh "vì lý do an ninh" nên họ không thể công bốbằng chứng. Thậm chí, khi nghe Ngoại trưởng Co-lin Pô-oeo trả lời phỏng vấn của đài truyềnhình NBC: "Trong những ngày sắp tới, chúng ta có thể trưng ra một tờ giấy, một văn bản nói rõbằng chứng Bin Lađen đứng sau cuộc tấn công ngày 11 tháng 9" thì Tổng thống Busơ đã nổigiận đùng đùng và tuyên bố trắng trợn: "Không cần tờ giấy đó. Chúng ta đã buộc tội BinLađen ." Trong khi đó, tờ Mirror của Anh số ra ngày 8 tháng 11 đã tiết lộ một thông tin tráingược với những tuyên bố của Mỹ, Anh, làm cả thế giới sửng sốt: không phải Bin Lađen màchính là một tổ chức có tên gọi "Đội quân vì công lý" đã thực hiện vụ khủng bố hôm 11 tháng 9và nay đang reo rắc thảm hoạ bệnh than cho nước Mỹ. Tờ Mirroir cho biết, cảnh sát Anh và Cụcđiều ra Liên bang Mỹ (FBI) đã được lệnh báo động khi tờ báo này thu được một trang thư điện tửcủa tổ chức "Đội quân vì công lý" xuất hiện trên In-tơ-nét. Với đầu đề "Tuyên bố đầu tiên củaĐội quân vì công lý" được viết bằng tiếng Arập, trang thư này cho biết Mohamed Atta, kẻ cầmđầu nhóm khủng bố đã bắt cóc và cho máy bay đâm vào hai toà nhà Trung tâm Thương mại Thếgiới ở Niu-Yoóc, chính là chỉ huy phân đội bí mật số 15 của nhóm. Tuyên bố cũng cho biết "Độiquân vì công lý" không phải là một bộ phận của tổ chức An Que-đa và không nhận bất cứ mộtmệnh lệnh trực tiếp nào của Bin Lađen. Tổ chức này có biện pháp, chiến thuật và những mụctiêu riêng biệt. "Đội quân vì công lý" cũng tiết lộ là chính nhóm của họ hiện đang tiến hành "cáccuộc tấn công trực tiếp gây đau khổ cho Mỹ bằng bệnh than". Lại nữa, tờ Time của Mỹ số rangày 3 tháng 12 năm 2001 đăng bài của phóng viên Jêm. G-ráp-phơ ở Men-đơ-rít, Tây Ban Nha,cho biết quan toà Ba-ta-sa Ga-sơn, thuộc nhóm điều tra khủng bố ở Tây Ban Nha tiết lộ rằng quađiều tra và thẩm cung sơ khởi một số phần từ Hồi giáo bị bắt ở Tây Ban Nha, đã thu được nhữngbằng chứng về một nhóm tên khủng bố nằm vùng ở Madrid đã "trực tiếp liên quan đến việcchuẩn bị hoàn thành các kế hoạch tấn công" vào nước Mỹ ngày 11 tháng 9 năm 2001. Nếu vụnày cuối cùng đưa đến kết luận rõ ràng nhóm A-bu Đa-đát đã trực tiếp lập kế hoạch cho nhóm
  • 102. của Át-ta thực hiện vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 ở Mỹ thì cuộc chiến do Anh - Mỹ tấn công vàoÁp-ga-ni-xtan hoàn toàn vô căn cứ - Bin Lađen không tổ chức vụ khủng bố như Mỹ và Anh đãbuộc tội. Và như vậy, rõ ràng là Anh - Mỹ cố tình vu cáo Bin Lađen để có cớ đưa quân vào vùngTrung Á, từ đó thực hiện ý đồ chiến lược của mình. Không rõ thực hư thế nào, nhưng cho dù BinLađen có là kẻ chủ mưu trong sự kiện 11 tháng 9 hay không, thì lối tuyên truyền áp đặt của Mỹđã đạt hiệu quả tuyệt đối, Quốc hội Mỹ đã thông qua kế hoạch chiến tranh của Tổng thống Busơ,quân đội Mỹ đã tấn công Áp-ga-ni-xtan, hàng nghìn người dân vô tội đã chết hoặc bị thương,hàng triệu người khác đã phải chịu thảm cảnh nhà tan cửa nát, loạn lạc đói khát, và khoảng100.000 trẻ em Áp-ga-ni-xtan đang trong nguy cơ không qua khỏi mùa đông này vì giá lạnh,bệnh tật và đói! Biết được thực tế nói trên, tôi càng giật mình khi nghĩ đến tinh hình nhiều báo chí trên thếgiới khai thác một chiều tin từ các hãng truyền thông Mỹ để tuyên truyền trên đất nước mình,trong điều kiện không có khẳ năng kiểm chứng! Liệu có bao nhiêu tin "vịt" kiểu như trên đã lantruyền trên làn sóng dư luận thế giới? Trong khi lên án "những kẻ khủng bố" sử dụng cácphương pháp sinh học để giết người hàng loạt, thì Mỹ tung hô cho các loại vũ khí "hiện đại" cókhả năng giết người vừa tinh vi hiện đại, lại vừa dã man kiểu trung cổ, nào là chôn sống, nào làhút chân không gây ngạt đối phương, nào là hơi ngạt, nào là bom khoan, bom công phá, bomchùm, nào là bom thông minh được định vị và điều khiển từ vệ tinh, nào là máy bay B-52 némbom rải thảm, vân vân và vân vân, toàn là loại giết người hàng loạt, thế mà cứ được điểm danhvà tung hô như đó là những quà tặng ngọt ngào cho con người! Vậy mà báo chí nhiều nước cũngđưa lại những thông tin ấy, thậm chí say sưa miêu tả hình dáng, tính năng, tác dụng của chúng,chả khác nào quảng cáo cho các loại vũ khí tồi tệ phi nhân bản của Mỹ vậy. Thông tin về sốngười chết trong thảm hoạ 11 tháng 9 mà báo chí các nước đăng tải hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ,họ bảo là chết bao nhiêu thì báo chí nói chết bấy nhiêu. Lúc đầu là 10.000 đến 20.000, rồi xuống5.000 - 6.000, và ngày 21 tháng 11, lại dẫn theo các quan chức thành phố Niu-Yoóc, số ngườichết trong thảm hoạ 11 tháng 9 rút xuống còn 3.800 người. Thế là, mọi lời bình luận rằng ngày11 tháng 9 là ngày đẫm máu nhất trong lịch sử nước Mỹ trở thành lời nói vớ vẩn, bởi vì với consố 3.800 người chết, thảm hoạ ngày 11 tháng 9 đã lui xuống hàng thứ hai! Thế rồi, khi món bệnh than sắp trở nên nhạt nhẽo trước mâm cỗ dư luận, thì chính quyềnMỹ chuyển ngay qua món "phá cầu", và ghê hơn là cái món "vũ khí hạt nhân". Tổng thống Mỹ"tỏ ra e ngại" trên phương tiện truyền thông rằng "khủng bố" có thể sử dụng vũ khí hạt nhân!Người Mỹ kêu ầm lên rằng Bin Lađen có thể sử dụng vũ khí hạt nhân để chống lại bất cứ quốcgia nào mà hắn thấy cần thiết! Và tất yếu, người Mỹ muốn dẫn dắt cả thế giới đi đến kết luậnrằng muốn tránh khỏi thảm hoạ hạt nhân, chỉ có mỗi một con đường là ủng hộ Mỹ "chống khủng
  • 103. bố"! Hơn thế nữa, các hãng tin Mỹ hàng ngày ra rả truyền đi tuyên bố của chính quyền Mỹ là sẽtấn công bất cứ nước nào sản xuất, tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt, lờ tịt đi một thực tế rằngkẻ đó chính là Mỹ, kẻ đã dùng hai quả bom nguyên tử giết người hàng loạt để dội xuống đầunhân dân Nhật Bản vào năm 1945, tạo nên thảm hoạ hạt nhân đầu tiên cho loài người, và hiệnnay vẫn đang tàng trữ không biết cơ man nào tên lửa, bom đạn hạt nhân, vũ khí sinh học, vũ khíhoá học có khả năng giết người hàng loạt. Cấp tập tung các ngón đòn chiến tranh tâm lý, Mỹloan tin về khả năng khủng bố bằng bệnh đậu mùa, bằng cách đánh bom đường ống dẫn khí ởMỹ! Không thấy Bin Lađen tuyên bố một lời cụ thể nào về các biện pháp khủng bố, chỉ thấy Mỹkêu ầm lên là đã phát hiện những âm mưu, những kế hoạch khủng bố của Bin Lađen. Chỉ cần"nhận được tin về nước Mỹ sắp bị khủng bố ", Tổng thống Busơ đã đồng ý ngay với quyết địnhcủa Bộ Tư pháp báo động trên toàn quốc. Và bao giờ, chính quyền Mỹ cũng khai thác triệt để vaitrò của báo chí. Tại một cuộc họp báo vội vàng ở Oa-sinh-tơn, Bộ trưởng Tư Pháp Mỹ Giôn A-si-róp khẳng định là các cơ quan chức năng Mỹ đã nhận được tin nói rằng nước Mỹ sắp bị tấncông. Đến khi mọi người cần thông tin cụ thể hơn, thì ông ta nói rằng rất tiếc tin đó không xácđịnh được cụ thể những mục tiêu tấn công và hình thức tấn công của bọn khủng bố! Thực tế, vụbáo động này chỉ là một đòn tâm lý, vụ "khủng bố" đã không xảy ra vào ngày 11 tháng 10 nhưông Bộ trưởng Tư pháp công bố. Trong khi dư luận vẫn còn râm ran bàn luận và một số nghị sĩchỉ trích ông Bộ trưởng Tư pháp là tung tin tầm bậy làm dân chúng hoảng loạn, thì vào ngày 29tháng 10, chính Tổng thống Mỹ lại phát lệnh tổng báo động chống khủng bố trên toàn nước Mỹvà lập tức ông Bộ trưởng Tư pháp ủng hộ lời tuyên bố nói trên. Thật là tiền hô hậu ủng. Và tấtnhiên là, các lời tuyên bố nói trên đều được các phương tiện truyền thông của Mỹ chuyển tải tốiđa tới công chúng. Liệu mọi người có chững lại mà suy xét, để nhìn thấy một vết dầu loang cựckỳ nguy hiểm mà Mỹ đã tạo ra không? Đó là loang về dư luận để cuối cùng loang về phạm vitiến công của Mỹ! Theo vết dầu loang ấy, Mỹ muốn tấn công ai, thì Mỹ chỉ cần tung lên dư luậnrằng nước đó tàng trữ vi trùng bệnh than, vi trùng bệnh đậu mùa, sản xuất vũ khí giết người hàngloạt, chứa chấp khủng bố... là đủ lý do để không kích hoặc đổ quân vào đất nước có chủ quyềnnào đó. Ngày 3 tháng 12, Chính phủ Mỹ tuyên bố nước này trong tình trạng báo động cao nhấtsau khi dự đoán có nhiều khả năng có nhiều cuộc tiến công mới vào cuối tháng lễ Hồi giáo Rama đan. Đây là lần thứ ba kể từ 11 tháng 9, Mỹ tuyên bố tình trạng báo động cao nhất. Chủ tịchcơ quan an ninh quốc gia T. Rít-giơ nói: "Nước Mỹ vẫn đang trong tình trạng chiến tranh". Phảichăng đây lại là ngón đòn tâm lý để dọn đường cho Mỹ mở rộng chiến tranh. Tờ Oa-sinh-tơnTimes số ra 4 tháng 12 cho biết Lầu Năm góc đang xúc tiến thảo luận khả năng tiến hành cáchành động quân sự chống Irắc, có thể theo mô hình cuộc chiến ở Áp-ga nix-tan, tức là bao gồmviệc ném bom ồ ạt, cung cấp vũ khí và hậu thuẫn cho lực lượng đối lập trong nước, cổ động dânchúng lật đổ chế độ. Điệp khúc chiến tranh từ miệng Tổng thống Mỹ được dàn đồng ca chiếntranh tâm lý của Mỹ xướng đi xướng lại để chuẩn bị cho những hành động bá quyền lan rộng ra
  • 104. nhiều vùng đất. Trả lời phỏng vấn trong chương trình "20/20" phát trên ABC News ngày 5 tháng12, Tổng thống Mỹ Busơ tuyên bố: "Quân đội Mỹ có thể sẽ tiến hành các cuộc tấn công ở bênngoài Áp-ga-ni-xtan như là một phần trong cuộc chiến mở rộng chống chủ nghĩa khủng bố củachính quyền Mỹ". Mỹ chính thức gửi Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc một văn bản tự xác định"Mỹ được quyền tiến công vào các quốc gia khác ngoài Áp-ga-ni-xtan", "Mỹ có quyền sử dụngvũ lực ở bất cứ nơi nào". Trên thực tế, Mỹ và Anh đang lập kế hoạch mở rộng "cuộc chiến chốngkhủng bố" sang Xu-đăng, Y-ê-men... và mục tiêu tiến công tiếp theo có thể là Sô-ma-li-a và Phi-lip-pin. Mỹ cũng đòi tấn công Irắc. Cảnh giác trước tham vọng và sự ngông cuồng của Mỹ, cácnước ở Đông Nam Á có nhiều dân theo đạo Hồi như Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Inđônêxia đã sớmcảnh báo rằng họ không chấp nhận sự có mặt của quân đội nước ngoài trên đất nước họ với chiêubài "chống khủng bố". Ngạo mạn là một thói quen xấu của chính quyền Mỹ, cho nên, ngoạitrưởng Mỹ Co-lin Pô-oeo trắng trợn nói vơí giới báo chí tại Oa-sinh-tơn ngày 28 tháng 11 nhưsau: "Tôi sẽ bảo họ lắng nghe kỹ những gì Tổng thống nói. Tổng thống nói chính quyền Irắc nêncho phép những thanh tra vũ khí Liên hợp quốc trở lại để hoàn thành nhiệm vụ vô cùng quantrọng. Và một khi Tổng thống đã yêu cầu và nếu họ không làm, chuyện gì sẽ xảy ra ư. Tổngthống nói "Ông ta sẽ được thấy". Tôi nghĩ đó là một phát biểu tốt và tôi nghĩ không cần phải cógiải thích gì thêm." Đó không phải chỉ là lời Mỹ nói với Irắc, mà là lời đe doạ bất cứ ai trên tráiđất này không nghe lời Mỹ. Chính phó Tổng thống Mỹ Dick Cheny đã trắng tợn tuyên bố: Saukhi kết thúc chiến tranh ở Áp-ga-ni-xtan, Mỹ sẽ công kích vào 45 nước có tổ chức An Que-đacủa Bin Lađen! Đã đến lúc chúng ta cần nhớ lại lời của Ju li út Phu xích, một nhà văn, lãnh tụ Cộng sảnTiệp Khắc trong thời kỳ chống chủ nghĩa Phát xít: Loài người, hãy cảnh giác!để tỉnh táo trước cácluận điệu tuyên truyền nguy hiểm của Mỹ! Tuy vậy, oái oăm thay, cuộc đời có câu"gậy ông lại đập lưng ông", dù tài giỏi bao nhiêutrong việc sử dụng vũ khí thông tin tiến hành chiến tranh tâm lý, Mỹ vẫn không tránh khỏi táchại trái chiều do chính thứ vũ khí lợi hại ấy của mình đem lại. Sự tuyên truyền rầm rĩ về các mốinguy cơ khủng bố nước Mỹ nhằm đánh lạc hướng dư luận khỏi sự tập trung vào việc dân thườngÁp-ga-ni-xtan bị chết chóc, đói khát dưới bom đạn và sự tiến công của Mỹ thì đồng thời cũnglàm cho chính nhân dân Mỹ phải sống trong cảnh nơm nớp lo sợ bị khủng bố và làm cho thế giớighê sợ nước Mỹ. Trong nước, dù là mối đe doạ khủng bố bằng sinh học không ghê gớm nhưchính quyền Mỹ tuyên truyền, nhưng qua thảm hoạ 11 tháng 9 và qua các biện pháp đề phòngthái quá, qua các cuộc báo động căng thẳng của chính quyền, vẫn có rất nhiều người Mỹ lâm vàotình trạng hoảng loạn. Hầu như ở tất cả các bệnh viện Mỹ, số người xin khám bệnh tinh thần,thần kinh đã tăng lên đến mức kỷ lục chưa từng thấy. Những người này có chung tình trạng bệnh
  • 105. lý là mất ngủ, tinh thần không tập trung, lo lắng, hay quên, mệt mỏi. Riêng về bệnh than, thì chỉmột nơi nào đó bị tình nghi có chất bột trắng là cả khu vực phải sơ tán. Những ai có mặt tại hiệntrường lúc đó đều phải khám nghiệm. Và trong xã hội Mỹ bùng nổ nạn tung tin giả. Theo số liệucủa FBI, trong 3 tuần đầu tháng 10, nhà chức trách đã xử lý hơn 3.300 báo động, trong đó có2.500 báo động liên quan đến bệnh than. Tuy nhiên, tình trạng báo động giả liên tiếp xuất hiện,đến nỗi một số Thượng nghị sĩ phải đề xuất văn bản pháp lý trừng phạt nặng những kẻ tung tingiả về bệnh than và về khủng bố, với mức cao nhất có thể là 5 năm tù (thế thì chính quyền Mỹ sẽphải ngồi tù trước tiên, vì họ là kẻ tung tin giả siêu hạng). Ngoài nước, do lo sợ bị đòn oan trênđất Mỹ, số du khách đến Mỹ giảm mạnh, làm cho ngành Du lịch, hàng không, giải trí Mỹ laođao. Lượng người tại các trung tâm vui chơi giải trí trống vắng hẳn. Lượng khách du lịch sau 11tháng 9 giảm tới 40% và ước tính ngành Du lịch Mỹ bị thiệt hại khoảng 43 tỷ USD. Riêng khuvực nghỉ mát tại Florida bị thiệt hại mỗi ngày 20 triệu USD. Nhiều khách sạn ở Niu-Yoóc, tỷ lệthuê phòng chỉ đạt mức từ 45 tới 50% so với mức sử dụng trung bình từ 90 tới 95% trước đây.Và hết sức trớ trêu, Tổng Thống Mỹ phải đóng vai quảng cáo viên cho ngành Du Lịch - từ 21tháng 11 đến 28 tháng 11, khán giả truyền hình Mỹ thấy Tổng thống Busơ trong một chươngtrình quảng cáo 30 giây của ngành Du lịch với lời kêu gọi dân chúng hãy gạt bỏ những sợ hãi,làm việc bình thường, đi lại bằng máy bay và thăm thú đất nước... nhằm chèo kéo khách du lịchthế giới cho ngành Du lịch và ngành Hàng không nước Mỹ! Thật là "lưỡi không xương nhiềuđường lắt léo". 6. Phác hoạ chân dung mấy người bạn Ma-ri-sa Lốppơ - Mác-tin Su-lơ-man - Tim Đô-ling Trong chuyến thăm và làm việc tại Mỹ này, tôi rất cảm ơn quỹ FORD đã tạo điều kiệnthuận lợi cho chúng tôi tìm hiểu sâu tình hình, với những buổi làm việc căng thẳng về thời giannhưng đầy ắp thông tin, với hàng chồng tài liệu có giá trị, và đặc biệt là với những người bạn tậntâm, chu đáo. Tôi không thể kể hết ra đây tất cả những người bạn ở Mỹ mà tôi đã tiếp xúc, chỉ
  • 106. xin phác hoạ chân dung của 3 người bạn thuộc 3 quốc tịch khác nhau, với những nét tính cáchkhác nhau nhưng đều để lại trong tôi những ấn tượng tốt đẹp khó quên. Mác-tin Su-lơ-man Đó là một người Mỹ chính gốc, giáo sư Mác-tin Su-lơ-man. Ngay từ buổi đầu gặp gỡ, tôiđã chú ý đến ông. Trạc 70 tuổi, dáng người vừa phải, mái tóc và hàm râu quai nón loăn quănnhuốm mầu phong sương, chân đi tập tễnh, phải chống ba toong, ông vẫn không có dáng vẻ lụkhụ của một ông già. Ngược lại, sự chu đáo và tháo vát của ông khi thu xếp hành lý giúp chúngtôi lúc chuẩn bị lên ô tô khiến tôi có cảm giác ông còn rất trẻ trung. Trong suốt chuyến làm việc,ngay cả vào buổi tối hoặc những lúc làm việc thông tầm, hoặc đi dạo thăm thành phố, chúng tôiđều được ông cùng đi và hướng dẫn chu đáo. Tài liệu của quỹ FORD giới thiệu về giáo sư Mác-tin Su-lơ-man như sau: "Mác-tin Su-lơ-man là giáo sư của trường Quản lý tại trường đại học Binh-ham-tơn,trường đại học Bang Niu-Yoóc. Từ năm 1985, ông là chủ nhiệm khoa Quản trị kinh doanh trongchương trình quản lý nghệ thuật. Trước khi giữ vị trí này, ông đã là điều phối viên của chươngtrình quản lý nhà hát tại trường đại học Ithaca, Niu-Yoóc trong 7 năm. Trước khi làm công tácgiáo dục, giáo sư Mác-tin Su-lơ-man là diễn viên, đạo diễn kịch và quản lý trong nhà hát tại Mỹvà Châu Á. Đến nay, ông vẫn dạy Thương mại quốc tế và kế hoạch chiến lược. Ông là tổng hợp củaniềm say mê nghệ thuật và quản lý bởi sự phục vụ của ông với tư cách tư vấn và giảng viên chonhiều tổ chức nghệ thuật - các dàn nhạc giao hưởng, bảo tàng, đoàn múa, các đài phát thanhkhông nhằm mục tiêu lợi nhuận, nhà hát kịch, hội thủ công mỹ nghệ và các chính phủ. Ông là giảng viên thỉnh giảng về kế hoạch chiến lược và tiếp thị nghệ thuật tại ThượngHải và Nantong, Trung Quốc và Đài Loan. Công việc tư vấn của ông bao gồm tư vấn cho cáccông ty, các tổ chức chính phủ tại phía Nam bang Niu-Yoóc và tại Hồng Kông. Giáo sư Mác-tin Su-lơ-man đã giành được giải thưởng Phun-bơ-roai Léc-tơ-xíp về giảngdạy tại Hồng Kông năm 1991-1992, ở đó ông dạy kế hoạch chiến lược và chính sách thương mạitại Trường đại học Hồng Kông Bapơtít, dạy quản lý nghệ thuật cho cán bộ trung cấp và nhữngkhoá học đặc biệt cho các cán bộ quản lý nghệ thuật cao cấp tại Trường đại học Hồng Kông. Ôngcũng làm chủ tịch hội đồng nghiên cứu những người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật vớinhững chiến lược mới về hỗ trợ nghệ thuật.
  • 107. Trước đó, Giáo sư Mác-tin Su-lơ-man là trưởng ban thư ký của bộ phận thủ quỹ cho hiệphội Vay có thế chấp Liên bang tại Lốt-an-giơ-lét và phục vụ tại Việt Nam, Thái Lan bởi sự giới thiệucủa tổ chức Phát triển quốc tế Hoa Kỳ. Ông đã từng đi và sống khắp Thái Bình Dương trong 7 năm. Giáo sư Mác-tin Su-lơ-man được công nhận bằng tiến sĩ từ Trường đại học bang Floriđavà bằng MBA tại Trường đại học Caliphoócnia, Lốt-an-giơ-lét." Với vốn sống phong phú và học vấn uyên thâm như được giới thiệu trên đây, giáo sư Mác-tin Su-lơ-man vẫn khiêm nhường và bình dị. Ông cùng ngồi nghe thuyết trình, cùng đứng xemgiới thiệu về tranh với chúng tôi với vẻ chăm chú của người đang học hỏi. Ông thường nhắcchúng tôi rằng không nên áp dụng máy móc kinh nghiệm của nước khác vào nước mình. Ông kể: - 26 năm trước tôi là sinh viên trường nghệ thuật ở Luân Đôn. Tôi hỏi thầy: Sao người Mỹlại khó khăn trong việc chế tác vở Sếch-xpia? Thầy nói: Người Mỹ cần dừng ngay việc bắt chiếcngười Anh, người Mỹ phải có cách riêng. Các bạn cũng cần có cách riêng. Trong các buổi mà chúng tôi nghe thuyết trình hoặc trong các buổi tham quan của chúngtôi, giáo sư thường giải thích thêm những ý mà chúng tôi chưa rõ lắm. Chẳng hạn, ông giải thíchthêm về việc kêu gọi tài trợ như sau: - Một số công ty tài trợ không với ý nghĩa từ thiện mà để cùng có lợi. Đó là cuộc chơi màcả hai bên đều thắng. Tôi đã từng xin tài trợ của hãng xe hơi Ca-di-lắc. Tôi nói rằng tôi sẽ dựngmột vở kịch dành cho khán giả thuộc giới thượng lưu, thường đi những loại xe sang trọng, hứa sẽghi trên quảng cáo tên của Hãng. Đại diện của Hãng đã đồng ý. Như vậy, các bạn có thể thấykinh nghiệm cần rút ra là: Phải xác định rõ đối tượng mà mình kêu gọi tài trợ, xác định khán giảvà xác định rõ vở diễn phù hợp với khán giả nào, khán giả ấy phù hợp với Hãng sản xuất nào,cũng là nhà tài trợ của chúng ta. Tìm kiếm tài trợ phải có kỹ năng. Ông hay nhắc chúng tôi một câu: "Dù thế nào, thì cũng phải có lòng say mê nghệ thuật!"Đối với ông, lòng say mê nghệ thuật còn quý hơn tiền bạc, và chính nó sẽ giúp những người làmcông tác nghệ thuật đi tới thành công. Đã từng ở Việt Nam và Hồng Kông, ông luôn giữ gìn ngọn lửa ấm áp của tình bạn mà ôngcó được từ hai nơi này. Ông kể:
  • 108. - Tại Hồng Kông, tôi đã gặp ông Vĩnh Cát, hồi đó là Giám đốc Sở Văn hoá Hà Nội. Tôihỏi thông tin về đoàn rối Thăng Long, sau đó ông Cát đã có đủ thông tin cho tôi. Đoàn ThăngLong đã diễn ở Hồng Kông rất thành công. Sau đó, tôi đã được sang Việt Nam. Trước ngày rờiHà Nội, tôi cùng ông Vĩnh Cát ngồi bên bờ hồ Hoàn Kiếm uống bia, nói chuyện. Ông Vĩnh Cátnói rằng người Việt Nam muốn sử dụng nghệ thuật để tiếp xúc với thế giới phương Tây. Tôicũng nói với ông Cát rằng tôi luôn nghĩ dùng nghệ thuật vào mục đích hoà bình là tốt nhất. Giầu tình cảm và giản dị, nhiều khi để thể hiện tình thân, ông vỗ vỗ bàn tay dầy dặn vàovai tôi, miệng cười hồn hậu. Hôm đoàn chuẩn bị rời Hoa Kỳ, Bạn tổ chức bữa cơm tiễn chúng tôi trong một nhà hàngTrung Quốc tại khu Chi-na-thao. Trước khi đến nhà hàng, giáo sư Mác-tin Su-lơ-man nói vớichúng tôi bằng giọng rất cởi mở: "Hôm nay là ngày sinh vợ tôi. Khi chúng ta đến nhà hàng, mọingười hãy đồng thanh hát bài Chúc mừng sinh nhật nhé!" Chúng tôi được biết vợ giáo sư Mác-tinSu-lơ-man là một phụ nữ Trung Hoa sinh sống ở Hồng Kông. Có lẽ bữa cơm chia tay được đặttại nhà hàng Trung Quốc cũng nhằm thể hiện tình cảm của mọi người trước ngày sinh của bàchăng? Qua cách nói vừa chân thực vừa tha thiết của giáo sư Mác-tin Su-lơ-man về vợ mình, tôinghĩ rằng hai người sống hạnh phúc. Trước khi vào bữa cơm, tôi thay mặt đoàn tặng hoa và tặngchút quà Việt Nam mừng sinh nhật Mác-tin Su-lơ-man phu nhân. Cả hai ông bà đều đứng dậy tỏthái độ vừa ngạc nhiên vừa cảm động. Vào cuối buổi, thấy anh bồi bàn vào dọn bát đĩa, bê ra khá gọn gàng, giáo sư Mác-tin Su-lơ-man khen và nói: - Thời trẻ tôi đã từng làm thêm việc bồi bàn trong các kỳ nghỉ hè để có tiền học, và làm rấtgiỏi, một tay bê 5 tách cà phê. Có lần tôi đã lập kỷ lục là trên một cái khay, tôi bê 32 bát súp gàmà không bị đổ, với cách thức đẩy chồng bát nghiêng về đằng trước một chút và chạy như cơnlốc. Tôi đã làm việc cật lực suốt bẩy ngày trong tuần, phục vụ cả ba bữa ăn để có tiền "boa" dùngvào việc học hành. Khi đó, học phí một kỳ chỉ có 5 USD thôi, nhưng kiếm được 5 đô là lạikhông dễ chút nào. Tôi nói như thế để thấy rằng muốn có kỹ năng thì chúng ta phải luyện tập rấtlà nhiều. Trở lại với hiện tại, Giáo sư Mác-tin Su-lơ-man nói: - Đối với nhiều người trong chúng tôi, đây là thời điểm khởi đầu cho sự hiểu biết lẫn nhau.Người Mỹ nghe nhiều về người Việt Nam rồi nhưng không phải ai cũng hiểu về người ViệtNam. Người Mỹ rất ngạc nhiên là người Việt Nam đã đến vào thời điểm này. Ngay cả những
  • 109. nhân viên an ninh khi được giới thiệu đoàn các bạn là đoàn Việt Nam, họ cũng mở to mắt ngạcnhiên. Bởi vì sau thảm kịch 11 tháng 9, riêng trường tôi đã có hàng chục đoàn nước ngoài huỷ bỏkế hoạch đến thăm và làm việc. Các bạn đến lúc này làm cho chúng tôi thấy ấm lòng bởi tìnhhữu nghị và hợp tác. Các bạn là người dễ gần, dễ mến. Tôi thấy mọi người trong đoàn rất là thânthiện. Tôi thích tất cả mọi người. Tuần vừa rồi chúng ta làm việc rất là vui. Ông nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi cách xin tài trợ: - Dự án về chương trình giảng dạy nếu được thành công thì sẽ mở đường cho việc nhận tàitrợ của các quỹ khác, như Rốc-cơ-phe-lơ... Các bạn cần ghi chép đầy đủ, về thực hiện đầy đủmục đích của dự án. Những nhà tài trợ khác sẽ nhìn vào việc thực hiện dự án này để xác định cóthể tài trợ cho các bạn không - thành công này sẽ kêu gọi thành công khác. Ông tâm sự: - Sự kiện 11 tháng 9 ảnh hưởng đến tôi rất mạnh, gây cho tôi sự đau buồn khôn xiết. Tôinghĩ rằng tôi không cần giải thích, các bạn cũng hiểu tâm trạng của tôi. Tôi hy vọng là không baogiờ mình phải chứng kiến thảm kịch như thế nữa. Tôi đã rất buồn và rất giận. Khi trấn tĩnh lại,tôi thấy được cách mình phải tự đứng dậy, tự mình phải cứng rắn hơn. Sau sự kiện này, thậm chícòn phải biết học cách tha thứ nữa, nếu không thì nợ máu lại trả bằng máu. Nếu giận quá sẽ mấtkhôn. Cần phải biết tha thứ. Ma-ri-sa Lốp-pơ Là điều phối viên địa phương, Ma-ri-sa Lốp-pơ phục vụ hết sức chu đáo đoàn chúng tôi.Gốc Tây Ban Nha, dáng người thon thả và nhanh nhẹn, Ma-ri-sa Lốp-pơ bao giờ cũng đáp ứngkịp thời những mong muốn của chúng tôi ngay cả khi mọi người chưa nói ra. Khi chúng tôi vừasang đến Mỹ, đang còn băn khoăn chưa biết làm cách nào gửi gói quà mà người bạn nhờ chuyểncho người nhà, thì Ma-ri-sa đã nhanh nhẹn nhận đem ra bưu điện chuyển giúp. Trong tất cả cácbuổi làm việc, trong khi chúng tôi ngồi thì cô đi lại nhẹ nhàng quanh phòng làm những việc sựvụ như phân phát tài liệu, chuyển quà... Cô đến bên từng người thì thào hỏi xem muốn uống gì,chè hay cà phê, và rồi thoăn thoắt di chuyển, đem tới chúng tôi mỗi người một ly nước theo yêucầu. Khá nhạy cảm, thoáng thấy người nào đó trong chúng tôi lẳng lặng ra khỏi phòng, là cô biếtngay người ấy cần gì và lách mình theo... Tại nhiều công sở ở Niu-Yoóc, không hiểu tại sao họcứ khoá cửa nhà vệ sinh! Giá không có cô với sự tinh tế, chạy đi mượn chìa khoá mở cửa vàhướng dẫn, chắc cũng có khối người trong chúng tôi lúng túng, khó xử.
  • 110. Ma-ri-sa có hoàn cảnh không thuận lắm - cha mẹ ly hôn, ở với bà từ nhỏ. Khi còn là họcsinh, cô phải làm thêm bằng cách bán sách. Có anh bạn đùa rằng ở Việt Nam có câu "Cô hàngbán sách lim dim ngủ", Ma-ri-sa có như vậy không? Cô chỉ cười. Không, giữa nhịp sống sôiđộng ở Mỹ, đôi mắt mầu hạt dẻ trong sáng và lanh lợi núp dưới hàng mi cong kia làm sao mà limdim ngủ được? Đôi mắt giống đốm lửa lung linh vô tư như chứng tỏ một con người dù sống trênđất Mỹ vẫn không bị thói thực dụng vụ lợi kiểu Mỹ làm hoen ố, đang thắp nên niềm vui chonhững người bạn mới quen. Vừa bán sách bù vào chi tiêu, cô vừa chăm chỉ học, và đã thi đỗ vàotrường đại học Ca li phoóc ni a, một trường nổi tiếng của Mỹ. Ngay cả khi học đại học, với mứcđóng góp cao - 5.000 USD một học kỳ, Ma-ri-sa vẫn phải vừa phát hành sách vừa học, khônghiểu bao nhiêu cuốn sách đã từ tay cô đến với độc giả? Khi chúng tôi hỏi về thảm hoạ 11 tháng 9, Ma ri sa trầm hẳn xuống. Cô bảo rằng ngườiyêu của cô có một anh bạn thân bị chết trong đống đổ nát đó, để lại người vợ và một đứa connhỏ. Cô nói: - Sau 11 tháng 9, tôi nhìn nhận lại cuộc đời mình mới thấy những cái mà tôi có đây nó giátrị như thế nào. Sau sự kiện này, người Niu-Yoóc xích lại gần nhau, tỏ sự yêu thương, quan tâmđến nhau mà trước kia không bao giờ có cả. Sự kiện bi thảm đó cũng giúp chúng tôi nhớ lạinhững giá trị thật là quý giá mà chúng tôi cần phải chia xẻ với nhau. Khoảng 28 tuổi, người thon chắc, nhanh nhẹn và nhẹ nhàng như con mèo, Ma-ri-sa khôngnề hà việc gì, bám sát phục vụ đoàn chúng tôi trong suốt thời gian làm việc hết sức khẩn trương,làm việc từ 9 giờ sáng tới 7 - 8 giờ tối, trong lúc ăn cũng thảo luận. Làm việc thông tầm, khôngnghỉ trưa, đi bộ nhiều, ăn uống vạ vật, thất thường, đó là đặc điểm của những chuyến đi công tácnước ngoài mà tôi từng tham gia, nó đòi hỏi sức khoẻ và sự cố gắng cao của những ai muốn đạtkết quả tốt trong những chuyến du khảo nước ngoài ngắn ngày. Vậy mà Ma-ri-sa, một người Mỹ,cũng cùng gánh chịu với chúng tôi nỗi vất vả ấy. Thậm chí, có lúc cô còn vất vả hơn chúng tôi.Hôm làm việc tại Thư viện cộng cộng Niu-Yoóc xong, chúng tôi phải tiếp tục làm việc tại trườngĐại học Niu-Yoóc cho nên chỉ có một chút thời gian ăn trưa. Thoắt một cái, chúng tôi đã thấy côtrong quầy bánh. Hoá ra cô đã đặt sẵn xuất ăn cho chúng tôi, mỗi người một túi xách bằng giấy,trong đựng bánh mỳ kẹp thịt và chai nước khoáng. Cô dẫn chúng tôi ra vườn hoa để vừa nghỉtạm vừa ăn trưa. Dưới ánh nắng vàng nhưng vẫn lành lạnh, có rất nhiều người ngồi, đứng trongvườn hoa này. Người thì ăn, người thì đọc sách, người thì ngồi trò chuyện, lại có cả hai cô cậuôm nhau thắm thiết trên một chiếc ghế băng... không ai để ý đến ai. Chúng tôi ngồi trên hàng ghế
  • 111. đá, vừa ăn vừa xem một nhóm thiếu niên diễn mấy trò vui. Nhưng Ma-ri-sa thì không được ungdung như chúng tôi. Ăn chưa hết chiếc bánh, nhìn đồng hồ, cô đã vội đứng dậy. Cô cần về trướctrường Đại học Niu-Yoóc để bố trí phòng làm việc cho chúng tôi. Theo cô nói thì giáo sư ĐanMác-tin sắp thuyết trình trong buổi làm việc với chúng tôi là một người rất nguyên tắc, cô phảivề liên hệ trước cho đúng nguyên tắc. Trước ngày chia tay, chúng tôi tặng Ma-ri-sa một món quà nhỏ là chiếc khăn trải bàn trắngcó thêu cảnh đồng quê Việt Nam. Cô hỏi: "Ma-ri-sa giở ra xem được không?". Thấy chúng tôivui vẻ gật đầu, cô mở ngay ra xem và chỉ vào những hình thêu, nói ríu rít: "Đẹp quá! Đây là contrâu phải không? Con đò và sông nước nữa, sao đẹp thế!" Cứ thế, cô xem từng hình thêu, vừacười líu ríu vừa tỏ sự cảm động chân thật. Cô hẹn: - Vào dịp mà các anh chị đến được, Ma-ri-sa sẽ mời các anh chị ăn cơm tại nhà, và Ma-ri-sa sẽ trải chiếc khăn này trên bàn tiệc! Cô quấn quýt, bịn rịn với chúng tôi như người em gái trước khi phải chia tay những ngườiruột thịt. Cô tặng mỗi người một món quà nhỏ. Với tôi, quà của Ma-ri-sa là một chiếc mũ lưỡitrai có thêu dòng chữ "Niu-Yoóc"! Chúng tôi đều mong gặp Ma-ri-sa tại Việt Nam vì cô đã có kếhoạch sang làm việc tại đây vào cuối năm nay. Tim Đô-ling Tim Đô-ling có thân hình cao dong dỏng, mềm mại, bước đi nhẹ nhàng, thể hiện mộtphong cách kín đáo và tế nhị. Là người Anh, có vợ người Việt, lại làm cho quỹ FORD của Mỹ,Tim Đô-ling nói tiếng Việt rất sõi và có vốn hiểu biết khá rộng về văn hoá của cả ba nước. Anhlà người chủ chốt hướng dẫn đoàn chúng tôi trong chuyến khảo sát văn hoá trên đất Hoa Kỳ này. Ngay khi gặp nhau ở sân bay Ken nơ đi lúc các bạn trong quỹ FORD ra đón chúng tôi,Tim Đô-ling đã đóng vai trò quan trọng trong việc giúp chúng tôi nối nhịp cầu hữu nghị với cácbạn Mỹ, bởi anh biết tiếng Việt. Mọi thứ cần biết về nước Mỹ, về quỹ FORD hay về nhữngngười bạn mới, chúng tôi đều có thể hỏi trực tiếp anh mà khỏi qua người phiên dịch. Những lúctrước đám đông ồn ào mà chúng tôi cần trao đổi với anh, anh hay ghé sát mái tóc mềm mại mầutro và gương mặt thanh tú sát chúng tôi để nghe cho rõ và để nói thì thầm đủ cho chúng tôi nghe,không ảnh hưởng đến người khác. Anh lặng lẽ làm những công việc của mình, mà qua nhữngngày cùng đi trên đất Mỹ với anh, tôi hiểu đó là việc tổ chức cho chúng tôi tiếp xúc với những tổchức văn hoá hay những người hoạt động văn hoá ở Mỹ, dịch tài liệu cho chúng tôi... Chính nhờsự chu đáo, khoa học của anh, cũng như cách đặt vấn đề sát hợp của anh, mà các buổi làm việc
  • 112. của chúng tôi đều được thực hiện chính xác theo lịch với chất lượng cao. Đến đâu, chúng tôicũng được những người có trách nhiệm chính trong tổ chức đón tiếp, thuyết trình cặn kẽ, cungcấp đầy đủ tài liệu. Hôm mới sang Mỹ, trên ô tô, Tim Đô-ling nói rằng lịch làm việc có thay đổichút ít, Ban Tổ chức sẽ có văn bản sau. Vậy mà sáng hôm sau, tôi đã thấy người ta đưa đến chomỗi người trong đoàn một tập giấy 8 trang đánh máy vi tính tiếng Việt ghi lịch làm việc từngngày. Trong điều kiện xa Việt Nam, văn bản tiếng Việt được làm nhanh và được gửi đến chu đáonhư thế, chỉ có anh Tim mới làm được mà thôi. Xem văn phong của các bản dịch tài liệu sangtiếng Việt mà Ban Tổ chức cấp, tôi hiểu ngay đó là do người nước ngoài "dịch ngược", đó là lốihành văn rất chuẩn xác nhưng hơi cứng. Tôi đã đi nước ngoài nhiều lần, nhưng chưa lần nàođược cung cấp tài liệu đầy đủ và chu đáo như thế. Bên cạnh những tài kiệu giới thiệu về bối cảnhnước Mỹ, văn hoá Mỹ cũng như những tổ chức mà chúng tôi sẽ đến làm việc, còn có danh mụcnhững số điện thoại, địa chỉ để liên lạc, các số máy khẩn cấp ở Niu-Yoóc, Oa-sinh-tơn, của bảnthân anh Tim và từng thành viên trong Ban tổ chức, của khách sạn mà chúng tôi ở. Nhờ sự chuđáo, tận tâm của anh Tim và các bạn trong Ban Tổ chức, tôi đã thu nhận được khối lượng thôngtin kha khá phục vụ cho công tác quản lý của mình, cũng như để bổ sung cho nội dung cuốn sáchnày. Những công việc mà anh Tim làm với trách nhiệm cao ấy thường ở hậu trường, âm thầmnhưng mang tính quyết định tới thành bại của chuyến đi. Còn trước cử toạ, rất ít khi anh phátngôn. Tôi đã thấy nhiều lần người phiên dịch dịch chưa đủ ý, anh kín đáo nhắc khẽ để cô dịch bổsung. Có khi, hình như băn khoăn trước một từ, một câu dịch chưa chính xác mà mình cũng chưadịch được, anh Tim lặng lẽ giở Từ điển ra tra cứu, sau đó khẽ khàng đưa cho cô phiện dịch thamkhảo. Trong các buổi làm việc, anh Tim bận rộn với việc ghi chép, ghi hình, chụp ảnh hoạt độngcủa đoàn, có lẽ đó là trách nhiệm của anh, trách nhiệm xây dựng một bộ tư liệu đầy đủ về chuyếnkhảo sát Hoa Kỳ do quỹ FORD tài trợ. Quan sát hoạt động của Tim Đô-ling, tôi nghĩ đến mộtcâu nói mà người Việt chúng ta hay đem ra đùa: "Phớt Ăng lê!", nếu hiểu câu này có nghĩa làngười Anh phớt lờ mọi chuyện thì không đúng, nhưng nếu hiểu đó là cách làm việc âm thầm vàtỉnh táo, thì hoàn toàn phù hợp với "phong cách Anh" của Tim Đô-ling. Thấy người châu Âu hay châu Mỹ rất ít đi lại bằng máy bay thời gian này, mà anh Tim thìphải đi lại như mắc cửi quanh cái trục Việt Nam - Anh - Mỹ, tôi hỏi anh có ngại không? Tim Đô-ling cười mỉm với đôi môi mỏng cương nghị và trả lời nhẹ nhàng: "Công việc mà!" Sau chuyến đi với chúng tôi, Tim Đô-ling sẽ bay về Anh thăm mẹ, rồi trở lại Việt Namvới công việc của quỹ FORD và chăm nom người vợ trẻ của anh - anh chị sắp có cháu bé! Chúcđứa con đầu lòng mang giòng máu hai dân tộc của anh chị được mạnh khoẻ và lớn lên trở thànhcông dân tốt của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam!
  • 113. 7. Nhìn lại nước Mỹ Mãi 19 giờ 30 mới lên xe ra sân bay để về Việt Nam, nhưng chúng tôi phải rời phòng từ12 giờ. Khách sạn Milfofd Plaza này làm ăn rất "chắc", khi chúng tôi đến nhận phòng đã bắtchúng tôi nộp toàn bộ tiền thuê phòng, đồng thời còn đặt cược một số tiền, phòng khi chúng tôithuê giặt giũ hoặc gọi điện thoại, bây giờ, lại yêu cầu chúng tôi ra trước giờ dọn phòng. Phảithương lượng mãi, cuối cùng người quản lý khách sạn mới đồng ý cho chúng tôi giữ lại mộtphòng để chứa tạm hành lý của cả đoàn. Gớm quá, sau thảm hoạ, khách vắng ngơ vắng ngắt chứtấp nập nỗi gì mà cứng nhắc nguyên tắc như vậy? Các bạn ở quỹ Ford đến đúng giờ và chúng tôi lên xe. Tạm biệt Niu-Yoóc trong cái huyênnáo vốn có. Khoảng 8 giờ 30 tối, chúng tôi vào nhà ga sân bay quốc tế Ken nơ đi để làm thủ tục. Cácbiện pháp an ninh được thực hiện rất gắt gao. Người ta kiểm tra bằng tay, bằng máy, thậm chímóc vào túi áo, túi quần để lấy ra những đồ nhỏ nhặt. Chiếc máy vi tính xách tay của tôi cũng bịmở ra; anh nhân viên an ninh bê nó lại chỗ máy soi cho soi một lần nữa. Đây là biện pháp cầnthiết để đảm bảo an ninh khi mà nước Mỹ đang trong tình trạng báo động. Liệu Mỹ có thể tạo rađược một cuộc sống bình an trên nước mình hay không, khi mà chính quyền Mỹ vẫn cứ thựchiện mãi chính sách ngoại giao "lấy thịt đè người" của mình, đồng thời dung dưỡng bọn khủngbố ngay trên đất mình để chúng chống phá nước khác? Đưa tin về cuộc chiến chống khủng bốhiện nay của Mỹ, báo Lốt-an-giơ-lét Times ngày 21 tháng 10 thừa nhận rằng trong lòng nước Mỹcũng có một tổ chức khủng bố của một số tướng tá, công chức chính quyền Sài Gòn di tản sangMỹ công khai hoạt động chống phá Việt Nam. Nhóm khủng bố này mang tên"Việt Nam tự do"đặt trụ sở tại khu buôn bán "Tiểu sài Gòn" ở trung tâm quận Cam, bang Caliphoócnia. Cầm đầunhóm này là Nguyễn Hữu Chánh, 52 tuổi. Y thú nhận hai vụ âm mưu đặt bom Đại sứ quán ViệtNam ở Băng cốc và Ma-ni-la mùa hè năm nay là do người của y thực hiện. Nguyễn Hữu Chánhcũng thú nhận tay chân y từng lén lút hoạt động tại biên giới Thái Lan – Cămpuchia và biên giớiLào - Việt, từng thâm nhập về Việt Nam để hoạt động phá hoại. Năm 1998, Chánh đã bị quânđội Thái Lan bắt và trục xuất về Mỹ. Báo Lốt-an-giơ-lét dẫn lời bà Phan Thúy Thanh, người phátngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, cho biết Việt Nam đã yêu cầu Mỹ chấm dứt việc nuôi dưỡng,dung thứ và ủng hộ nhóm "Việt Nam tự do". Mỹ phải trừng trị những kẻ đã phạm tội khủng bốtại Việt Nam. Về vấn đề này, Mỹ chưa trả lời chính thức, nhưng một người phát ngôn bộ Ngoạigiao Mỹ nói: "Chính phủ Mỹ quan tâm tới khả năng có người vi phạm luật pháp của chúng tôi và
  • 114. chúng tôi đã cảnh cáo họ". Không hiểu cái ông Mỹ đầy sức mạnh này "cảnh cáo" theo kiểu nàomà bọn khủng bố người Mỹ gốc Việt ấy vẫn cứ nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, vẫn đi thu tiềncủa bà con Việt kiều để phục vụ những mục đích đen tối của chúng! Đó là còn chưa kể nhữngbọn khủng bố khác chưa bị vạch mặt chỉ tên, và bọn khủng bố chống Cu ba vẫn đang sống đànghoàng trên đất Mỹ. Vậy thì Mỹ có thực sự muốn chống khủng bố toàn cầu không, hay là chỉmuốn chống những ai chống lại chính quyền Mỹ? Thật chí lý khi ông S-tê-phan M. Wua, giáo sưkhoa chính trị quốc tế trường đại học Ha-vớt, nói: "Sẽ là hết sức đạo đức giả nếu chúng ta mongmuốn thế giới hợp tác chống một nhóm khủng bố chúng ta mà chính chúng ta lại không muốnhợp tác chống các nhóm khủng bố ở các nước khác". Ngồi chờ mất 3 tiếng đồng hồ để lên máy bay, tôi quan sát và lại suy nghĩ. Nhà ga vắng,phần lớn là người Hoa, trong đó có rất nhiều phụ nữ, trẻ con. Hành khách ngồi rải rác các ghế, cóngười ngủ gà ngủ gật. Chỉ có những nhân viên hàng không là đi lại lăng xăng, làm việc có vẻ cầnmẫn thái quá. Không hiểu rồi đây, trong "chiến dịch" sa thải hàng loạt của ngành Hàng khôngMỹ, ai trong số họ, cô gái tươi tắn đang kiểm tra vé đây, hay anh nhân viên to béo như hộ phápkia, hoặc chị nhân viên quét dọn da đen ấy... sẽ là nạn nhân? Cuộc điều tra tổn thất do thảm hoạ11 tháng 9 vẫn tiếp tục với những số liệu bi quan. Riêng việc thu dọn đống đổ nát tại Trung tâmThương mại Thế giới ở Niu-Yoóc trước kia dự định là 6 tháng, nay ít nhất phải một năm mớixong, với tổng số thiệt hại tới 105 tỷ USD. Đang bị rơi vào đợt suy thoái thứ 10 kể từ sau chiếntranh thế giới thứ hai, lại bị đòn chí tử vào một trung tâm kinh tế mang tầm cỡ quốc tế, rồi lạihung hãn tiến hành cuộc chiến tranh hao tổn ở nước ngoài, Mỹ khó mà vực được nền kinh tế củamình dậy trong thời gian ngắn. Cuối cùng, tai hoạ tiếp tục giáng xuống đầu những người laođộng Mỹ, đó là bị sa thải, thất nghiệp. Cho nên, gồng mình lên làm việc như những nhân viênhàng không trên sân bay quốc tế Ken nơ đi mà tôi đang trông thấy kia, có lẽ là một biện pháp tựbảo vệ của những người lao động Mỹ để khỏi bị sa thải chăng? Đối với những người lao độngMỹ, đòn khủng bố mà chính quyền bảo rằng do Bin Lađen doạ tiến hành còn chung chung, xavời, chứ đòn khủng bố tinh thần do lo sợ bị giới chủ Hoa Kỳ sa thải mới thật là sát sườn, cụ thể,và người ta phải tìm mọi cách chống lại nó. Đi trong nước Mỹ, trước cảnh sống hào nhoáng và giầu có của những thành phố nhà cửacao ngất nghểu, hàng hoá ngồn ngộn, tôi cứ có một cảm giác là người dân ở đây luôn luôn phảigồng mình lên mà tồn tại. Gồng mình lên để cạnh tranh, buôn bán. Gồng mình lên để hoàn thànhcông việc, để khỏi bị sa thải. Gồng mình lên để tìm việc. Ngay như Ma-ri-sa Lốp pơ, cô gái đượcđào tạo cơ bản và làm việt hết sức tận tâm mà tôi đã phác hoạ chân dung, cũng đã có việc làm ổnđịnh đâu! Cuộc sống ở Mỹ là cuộc sống của sự cạnh tranh quyết liệt. Sự cạnh tranh ấy đã tạo nênmột lối sống năng động nhưng cũng lạnh lùng và căng thẳng đến nghiệt ngã!
  • 115. Cho tới tận bây giờ, nhìn lại nước Mỹ để viết những dòng chữ này, cảm giác về một cuộcsống công nghiệp với tốc độ vũ trụ vẫn còn quay cuồng trong đầu óc tôi. Phải công nhận rằng,với sự lao động cật lực và trí tuệ của mình, người Mỹ đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển củaxã hội loài người. Những phát minh, những ứng dụng về công nghệ, về kỹ thuật là cống hiếnđáng kể của người Mỹ mà nhân loại cần ghi nhận. Riêng trên lĩnh vực văn hoá, người Mỹ cũngđã tạo nên những giá trị không thể chối cãi, đã xây dựng nên những phương thức đầy năng độngvà hiệu quả mà chúng ta cần coi trọng và học tập. Xét về quản lý văn hoá, người Mỹ đã tạo ra cách thức riêng của mình phù hợp với một đấtnước có đặc tính là hợp chủng quốc với nhiều cộng đồng chủng tộc khác nhau, trẻ trung và năngđộng. Đó là cơ chế mở cửa và chấp nhận, mở cửa cho rất nhiều luồng văn hoá từ ngoài du nhậpvào, chấp nhận sự hội nhập gần như nguyên xi những biểu hiện của văn hoá ấy, mở cửa cho mọihoạt động trong nước có cơ hội phát triển và mở cửa cho văn hoá mình tung cánh bay đến khắpcác phương trời. Đi trên khắp đất Mỹ, người ta đều được thấy, hoặc được nghe giới thiệu vềnhững giá trị văn hoá của rất nhiều dân tộc khác nhau tồn tại và sánh vai trong đời sống tinh thầnnước Mỹ. Đó có thể là những công trình kiến trúc, hay các tác phẩm mỹ thuật, thậm chí ngônngữ, phong cách sống của người Pháp, người Tây Ban Nha, người Italia, Anh, Hà Lan, ThuỵĐiển, Bồ Đào Nha, Châu Phi... Bản thân toà tháp đôi tại Trung tâm Thương mại Thế giới, biểutrưng cho sức mạnh kinh tế của Mỹ, là do kiến trúc sư người Nhật thiết kế. Ngay như biểu trưngvăn hoá lớn nhất của nước Mỹ là Nữ thần Tự do, cũng đâu phải do người Mỹ sáng tạo nên; nóchính là quà tặng của nhân dân Pháp, và người Mỹ đã bê nguyên xi biểu trưng đó đặt vào ngôicao nhất của văn hoá nước mình, biến thành niềm tự hào của quốc gia mình. Khó có một dân tộcnào trên thế giới lại có thể chấp nhận văn hoá của nước khác một cách mạnh bạo như vậy. Tôi tinrằng, sự chấp nhận ấy sẽ còn được mở ra vô cùng vô tận, miễn là nó phục vụ lợi ích của nướcMỹ. Trong cách tiếp nhận văn hoá, khác với chúng ta là hay nhào trộn, biến đổi để chuyển hoáthành văn hoá mang đặc tính dân tộc mình, người Mỹ tiếp nhận bằng cách kết hợp các nền vănhoá du nhập với nền văn hoá hiện tại và cứ thế xây dựng tiếp những giá trị văn hoá mới. Giảithích về quy luật này, chúng ta có thể thấy nguyên nhân là ở chỗ nước Mỹ được hình thành dolàn sóng nhập cư, với rất nhiều chủng tộc khác nhau, cùng tụ hội trên một mảnh đất không cómột truyền thống văn hoá lâu đời, trong khi đó nền văn hoá của người da đỏ, nền văn hoá mangtính truyền thống bản địa, đã bị lụi tàn. Nguyên nhân thứ hai không kém phần quan trọng, là chếđộ phân quyền trong quản lý hành chí của Mỹ, khiến cho các địa phương có tính độc lập tươngđối với liên bang, tạo điều kiện cho văn hoá phát triển thưo nhiều phương thức khác nhau. Hiếnpháp Mỹ không có điều khoản về văn hoá mà để cho từng bang, từng vùng ghi những điều đótrong luật lệ của mình. Hiến pháp cũng không giao trách nhiệm cho Tổng thống hay Quốc hội vềnhiệm vụ quản lý văn hoá, do đó hầu như chính quyền Liên bang không can thiệp vào chính sách
  • 116. văn hoá. Nước Mỹ có xu hướng thiết lập các chính sách tài chính cho văn hoá chứ không tậptrung vào chính sách văn hoá. Luật thuế áp đụng từ đầu thế kỉ 20 cho phép các cá nhân có thể hỗtrợ cho nghệ thuật, và bản thân họ cũng được lợi từ những khoản giảm trừ thuế thu nhập của họ.Đến những năm 1960, với sự thành lập của tổ chức Quốc gia trợ vốn cho nghệ thuật (NationalEndowment for the Arts, NEA), thì một cơ chế liên bang quy định sự hỗ trợ dài hạn cho nghệthuật được thiết lập. Cho đến năm 1979, Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật vẫn đượchưởng tài trợ của liên bang với con số tăng khá đều đặn thường xuyên. Tuy vậy, ở tầm liên bang,không phải không có sự đấu tranh xung quanh việc đầu tư cho văn hoá. Tháng 7 năm 1997, Hạviện đã bỏ phiếu bãi bỏ Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật, nhưng Thượng viện, bỏphiếu tháng 11 năm 1997 về vấn đề có nên xoá bỏ tài trợ của liên bang hay nên chuyển ngânsách cho từng bang tự phân bổ, đã đổi ngược được quyết định của Hạ viện. Sự giằng co khi đóđã khiến cả hai viện vẫn chưa thông qua ngân sách năm 1998 cho Tổ chức Quốc gia Trợ vốn choNghệ thuật (NEA). Lúc này, Tổng thống Mỹ đã tỏ thái độ, ông ta nêu ra ý định phủ quyết toànbộ kế hoạch ngân sách nếu ngân sách cho NEA không được đảm bảo. Và tất yếu, ý kiến củaTổng thống phải được tôn trọng. Bởi vì, bất cứ quốc gia nào cũng cần có sự ổn định chính trị - xãhội, mà văn hoá bao giờ cũng đóng vai trò tích cực trong việc tạo nên sự ổn định đó, cho nên dùmuốn dù không, bằng cách này hay cách khác, Chính phủ cũng phải đầu tư cho văn hoá. Dù sao,thì tài trợ của nhà nước cho nghệ thuật chỉ tăng chủ yếu ở cấp độ địa phương, thông qua chínhquyền địa phương hoặc các cơ quan nghệ thuật. Các cá nhân là nguồn đóng góp chính cho nghệthuật, chứ không phải các công ty như người ta vẫn lầm tưởng. Hiện nay, quà tặng từ các cá nhânchiếm 77% tổng số đóng góp dành cho nghệ thuật. Các quỹ cũng luôn là một nhân tố quan trọngtrong hỗ trợ cho văn hoá. Sự nghiệp văn hoá nghệ thuật ở Mỹ nhờ vậy mà được phát triển mạnhmẽ, tất nhiên vẫn theo xu thế cạnh tranh, để rồi có những nhà hát, những tổ chức văn hoá khôngđủ sức bươn chải sẽ buộc phải tan rã. Sự phát triển văn hoá còn được chắp cánh bởi người Mỹcực giỏi trong việc tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng điển hình. Họ không tạo ra những khuônmẫu mang tính hành chính về tổ chức cho lĩnh vực nghệ thuật, thế nhưng những tổ chức hoạtđộng có hiệu quả bao giờ cũng nhanh chóng toả ảnh hưởng ra toàn quốc, thậm chí toàn thế giới,để rồi sẽ xuất hiện hàng loạt các tổ chức khác hoạt động theo mô hình, kinh nghiệm của những tổchức thành đạt ấy. Ví dụ như hoạt động hiệu quả qua suốt 25 năm của Viện Giáo dục nghệ thuậtTrung tâm Lin-côn đã giúp Viện mở rộng hợp tác với 250 trường trong 61 cụm trường học thuộc3 bang của nước Mỹ, đồng thời trở thành mô hình cho 21 tổ chức tương tự, trong đó có 19 tổchức ở Mỹ, 2 tổ chức ở nước ngoài.
  • 117. Những điều kiện lịch sử, văn hoá, cơ chế quản lý nói trên đã khiến cho nước Mỹ có mộtnền văn hoá đa dạng, phong phú đến mức kinh ngạc, đặc biệt ở cấp độ địa phương và vùng.Cũng chính nhờ vậy, nhân dân Mỹ, kể cả người lao động, đã được hưởng thụ văn hoá với mứcđộ khá cao, tất nhiên là vẫn theo quy luật phân biệt giầu nghèo. Tôi nói tiếp về sự mở cửa của văn hoá Mỹ, đó là mở cửa cho các sản phẩm văn hoá toảrộng khắp các châu lục. Phát thanh, truyền hình, phim ảnh, công nghệ thông tin - mạng In-tơ-nétmà người Mỹ luôn luôn làm chủ đã giúp họ truyền bá văn hoá của mình đến tận từng ngôi nhàcủa hầu khắp những miền đất xa xôi trên toàn cầu. Sự xuất khẩu ồ ạt đó không những giúp ngườiMỹ truyền bá tư tưởng của mình cho nhân loại, mà còn giúp nước Mỹ thu về những món lợikhổng lồ. Văn hoá là một mặt hàng chính trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Mỹ. Có thời kỳ nhưvào năm 1995, các sản phẩm của hãng phim Mỹ Hollywood là nguồn thu chính từ xuất khẩu củaMỹ. Điều này giải thích tại sao Mỹ hăng hái đi tiên phong trong việc thực thi quyền tác giả và cólúc còn đẩy vấn đề quyền tác giả lên thành chuyện nhân quyền! Cũng vì quyền lợi của người Mỹmà thôi, chứ thực chất không phải vì những tác giả của một đất nước nào đó ngoài Mỹ! Riêng vềkiểu xuất khẩu văn hoá chính trị, được thực hiện bằng biện pháp tuyên truyền và chiến tranh tâmlý, thì Mỹ là loại siêu hạng như thế nào, tôi đã nói kỹ ở trên. Tôi chỉ muốn nói một cách kháiquát rằng, đó là thứ văn hoá áp đặt và nô dịch, gây tác hại lớn cho các dân tộc trên thế giới. Thứtự do, dân chủ, nhân quyền vô nguyên tắc mà chính quyền Mỹ không ngớt truyền bá vào nước tacũng như nhiều nước khác trên thế giới thực chất là sự kêu gọi người trong nước vi phạm phápluật, chống phá nhà nước, hậu thuẫn cho sự chống phá của chính quyền Mỹ đối với những thểchế mà Mỹ không ưa. Trong khi đó, Mỹ lại hạn chế đến bóp nghẹt tự do, dân chủ và nhân quyềncủa nhân dân lao động Mỹ hoặc những người dám đấu tranh chống lại chính quyền Mỹ. Chúngta đã thấy Mỹ cư xử nghiệt ngã, thậm chí tàn bạo như thế nào với những kẻ mà Mỹ gọi là khủngbố, thậm chí chỉ mới nghi là khủng bố. Báo Mỹ đưa tin rằng FBI, các nhà điều tra Mỹ đang xemxét việc sử dụng những kỹ thuật thẩm vấn nghiệt ngã hơn, kể cả tra tấn các nghi can khủng bố.Chỉ sau hơn một tháng kể từ ngày xảy ra thảm hoạ, chính quyền Mỹ đã cho thẩm vấn 800 người,mà đa phần là vô tội, và cho bắt hơn 150 người, cũng chưa chắc tất cả trong số họ đã là tội phạm.Cách "chống khủng bố" của Mỹ quả là không nhất quán! Có lẽ, không nhất quán là một đặctrưng của nền văn hoá chính trị ở Mỹ chăng? Lối ứng xử lá mặt lá trái ấy thể hiện ở mọi nơi, mọilúc. Lúc này, Mỹ tẩy chay Hội nghị Liên hợp quốc thảo luận việc thực thi Hiệp ước cấm thử vũkhí hạt nhân toàn diện của Liên hợp quốc. Lúc khác, Mỹ lại phá hoắng, làm cho Hội nghị quốc tếbàn về vấn đề vũ khí sinh học toàn cầu không đi đến được thống nhất và không ra được nghịquyết sau suốt 2 tuần hội họp. Mỹ luôn luôn hậm hẹ trước việc nước này nước khác có vũ khí hạtnhân hay nghi có vũ khí sinh học. Trong khi đó, chính quyền Mỹ lờ tịt đi một thực tế là chính họđứng đầu thế giới về đầu tư cho chiến tranh, Mỹ là nước có nhiều vũ khí hạt nhân, vũ khí giết
  • 118. người hàng loạt nhất thế giới. Ngày 13 tháng 11 năm 2001, Busơ đã ký lệnh cho phép chính phủđưa những kẻ bị buộc tội khủng bố ra xét xử tại một toà án đặc biệt thay vì xử tại toà án dân sựthông thường. Theo các nhà cầm quyền Mỹ, điều đó đảm bảo cho họ giữ bí mật thông tin. Đây làlần đầu tiên kể từ thế chiến thứ hai Mỹ cho phép tổ chức toà án quân sự đặc biệt. Trong lịch sửnước Mỹ trước đây chỉ có hai lần tội phạm bị xét xử trước toà án quân sự là thời kỳ nội chiến xửnhững kẻ âm mưu ám sát tổng thống Linh-côn, và các tội phạm phá hoại nước Mỹ trong thếchiến thứ 2 bị xử dưới thời tổng thống Ru-dơ-ven. Vậy mà đối với bọn gây bạo loạn tại TâyNguyên đã quấy rối an ninh quốc gia, nhà nước Việt Nam đưa ra xét xử công khai trước toà ándân sự, Mỹ lại lu loa là Việt Nam vi phạm nhân quyền. Mỹ còn nhăm nhe ban hành đạo luật vềnhân quyền ở Việt Nam hòng tạo cơ chế pháp lý cho sự can thiệp của Mỹ vào một nước có chủquyền, nhưng trước sự phản đối kịch liệt của nhân dân ta có sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dânthế giới, âm mưu thâm độc đó đã bị chặn lại. Nếu đánh giá về văn hoá ở một con người hay quốcgia trên cơ sở ứng xử của con người hay quốc gia ấy, thì với thái độ ngạo mạn, hiếu chiến, coibạo lực là phương sách hàng đầu, chính quyền Mỹ là kẻ vô văn hoá nhất thế giới! Nhìn tổng quát văn hoá Mỹ, tôi thấy nước Mỹ có đặc trưng là đa văn hoá, nhưng tựu trunglại có hai dòng chủ lưu - dòng văn hoá nô dịch của chính thể Mỹ và dòng văn hoá dân chủ củanhững người Mỹ chân chính. Dòng văn hoá dân chủ không thuộc loại hình văn hoá dân gian nhưcủa các dân tộc trong thời phong kiến mà thuộc loại hình văn hoá bác học, cũng đóng vai tròchính thống trong xã hội. Hai dòng văn hoá ấy cùng tuôn chảy, với hai mục đích khác nhau,nhưng không phải không có lúc ảnh hưởng lẫn nhau. Cũng có lúc, dòng văn hoá nô dịch phải vaymượn những yếu tố tiến bộ của dòng văn hoá dân chủ nhằm mỵ dân, tạo nên hình ảnh đẹp đẽ chochính quyền. Cũng có lúc dòng văn hoá dân chủ bị nhiễm những nét tiêu cực của dòng văn hoánô dịch. Một khi dòng văn hoá dân chủ chiếm được vị thế chủ đạo, chắc chắn nước Mỹ sẽ cónhững thay đổi lớn và hình ảnh nước Mỹ sẽ trở nên đáng yêu trước con mắt nhân loại. CHƯƠNG III HOÀ BÌNH KHÔNG CỦA RIÊNG AI Trong khi ở Mỹ đang là ban đêm thì ở Việt Nam lại đang là ban ngày. Thế là trên đườngvề nước, chúng tôi di chuyển từ bán cầu tối sang bán cầu sáng. Nhìn qua cửa máy bay, thấy trờichuyển dần từ đen kịt qua xam xám và sáng dần. Mênh mông mây là mây. Ngay trước tầm mắt,mây cuồn cuộn lô nhô phơi mầu trắng đục. Xa xa, cả một giải ánh sáng vàng xuyên mây, vẽ nênbức tranh kỳ ảo. Không biết ngày xưa, khi lên tiên, cụ Từ Thức có gặp cảnh đẹp dường này
  • 119. không và Cụ ngao du cùng các tiên nữ ở những chốn nào để đến nỗi quên cả thời gian, giật mìnhtrở lại cõi trần thì những người thân quen đã về nơi thiên cổ từ hàng đời rồi? Chuyến bay dài dặc, hết nhìn trời, tôi lại nhìn người. Mặc dù gọi là vắng khách, song máybay vẫn gần đầy chỗ. Ngoại trừ đoàn Việt Nam 10 người ra, cùng dăm ba cô cậu người Mỹ, Ca-na-đa, còn lại toàn là người Hoa - phần lớn là đàn bà trẻ con, có cả những đứa bé tí tì ti đang ẵmngửa. Những phụ nữ người Hoa đi lại nhộn nhạo, nói cười lao xao, quát tháo, dỗ dành lũ nhóc...Các cô tiếp viên hàng không đẩy xe bán hàng miễn thuế đến mời chào khách ở từng hàng ghế,chủ yếu là thuốc lá và rượu. Thật như chuyến tầu chợ, ồn ào và huyên náo. Có lẽ việc di chuyểnbằng máy bay là chuyện cơm bữa với người Hoa Đài Bắc, bởi họ có mối quan hệ khăng khít vớithành phố Niu-Yoóc. Như phần trên đã giới thiệu, ở Niu-Yoóc có cả một khu phố người Hoa,cho nên người Hoa Đài Bắc thường xuyên qua lại Niu-Yoóc để buôn bán, thăm thân. Đó là mộthoạt động không thể thiếu trong cuộc sống thường ngày, cho nên dù có bị nỗi lo sợ không tặc ámảnh hay không, người ta vẫn phải lên máy bay. Không phải như mấy chú "Tây ba lô" hoặc mấyông bà tư bản kếch xù ham vui đi du lịch, thấy đường hàng không không an toàn, bèn rụt vòinằm nhà.... Máy bay tăng độ cao, chui vào một tầng mây, lắc rất mạnh. Mấy đứa trẻ khóc ré lên. Mùmịt. Chưa đầy một phút sau, máy bay đã chui qua mây, không rõ là tầng mây thứ mấy rồi. Chỉbiết là ngoài kia, sắc trời rực rỡ làm sao. Rồi lại chui vào mây mù mịt. Rồi bay trên mây. Dưới làmây trắng - cả một lớp mênh mông. Chếch lên một chút là mặt trời ửng hồng với những tia rẻquạt muôn hồng ngàn tía. Và trên nữa là bầu trời xanh thăm thẳm. Các cụ hay nói có chín tầngmây. Thực hư thế nào, đi trên máy bay chưa thể rõ được, bởi vì vũ trụ bao la làm sao. Máy bay bắt đầu giảm độ cao. Từ lúc này, tôi thử đếm xem máy bay sẽ xuyên qua mấytầng mây? Nhìn lên, thấy một tầng mây xám. Nhìn xuống, thấy một tầng mây sáng vàng. Máybay chui vào tầng mây này. Chòng chành đôi chút, rồi máy bay lại bay êm. Chui vào một tầngmây mỏng hơn, máy bay lắc nhẹ. Tôi lại nhìn thấy một tầng mây xốp trắng pha xám trong ánhnắng rực rõ. Thế là xuyên qua ba tầng mây rồi. Tầng mây này mỏng mảnh, đục mờ như sươngnhư khói. Máy bay chỉ lắc nhẹ. Vậy mà lũ trẻ con đang ngủ cũng giật mình thức giấc, oà khóc. Gần đến Đài Bắc, nắng rực rỡ. Máy bay hạ thấp độ cao, sà sát lớp mây bồng bềnh và chuitụt vào khối hơi nước khổng lồ đó. Trong khi mắt theo hút cảnh bồng lai thì tai lại ù lên vì áp lựckhông khí tăng. Đã nhìn thấy mặt đất, rừng cây, đồng ruộng, ao hồ, thấy những gì thật gần gũi vàthân thiết của con người.
  • 120. Thế đấy, vũ trụ thì bao la, không gian thì phóng khoáng và đẹp tuyệt vời, con người thìđầy lòng ham sống và yêu thiên nhiên, vậy mà vì đâu, vũ trụ trở thành mặt trận cho "cuộc chiếntranh giữa các vì sao", không gian trở thành nơi các quả mìn phát nổ xé tan xác các máy bay chởđầy người để rồi con người trở thành nạn nhân của những vụ khủng bố? Mà khủng khiếp hơn,những chiếc máy bay dân sự như thế này, nếu có biểu hiện đáng ngờ, thì theo lệnh của Tổngthống Mỹ Busơ, sẽ bị lực lượng phòng không Mỹ bắn hạ không thương tiếc! Giả sử như chiếcmáy bay mà tôi đang dùng để ngao du giữa mây trời đây bỗng nhiên nổ oàng ra bởi một trái mìnkhủng bố, hoặc một trái tên lửa phòng không Mỹ, tan xác giữa thinh không đẹp ghê hồn vàquạnh vắng đến lạnh người, thì những cháu bé đang bú mẹ kia, những bà già đang dựa vào lưngghế lim dim mắt kia, những phụ nữ đang ríu ran trò chuyện kia sẽ gửi xác nơi đâu và sẽ để lạinhững hậu quả đau đớn như thế nào cho người thân của họ nơi trần thế! Những người dân hiềnlành có tội gì mà cứ phải chịu thảm hoạ hoặc bị đe doạ chịu thảm hoạ? Mọi chuyện đều do conngười mà thôi, con người với những tham vọng vô bờ về quyền lực và lòng tham vô đáy về lợiích... Tiếp tục cuộc hành trình xuyên lục địa, từ sân bay Đài Bắc, chúng tôi lên chuyến bayCI.0925 của hãng Hàng không Việt Nam, hướng về Hà Nội. Đến nửa số ghế không có ngườingồi. Vắng khách thế này thì lỗ chết mất Hàng không nước ta ơi! Máy bay vẫn bay trong không gian bao la và tuyệt mỹ, nhưng chúng tôi có thêm niềm vui,bởi gặp hai sự tình cờ thú vị: Thứ nhất, đọc báo Nhân dân, chúng tôi hay tin Điện ảnh Việt Nam lại đăng quang trêntrường quốc tế. Bộ phim tài liệu Chốn quê của Hãng phim Tài liệu khoa học trung ương (đạo diễnSĩ Chung) giành giải nhất trong Liên hoan phim Châu Á - Thái Bình Dương. Thế là lần thứ tưliên tiếp điện ảnh tài liệu Việt Nam giành giải cao nhất tại một liên hoan phim quốc tế có uy tín.Bạn bè năm châu bốn bể đánh giá cao phim Việt Nam ở giá trị nhân đạo của nó. Cũng là tất yếuthôi, sống nhân ái, yêu chuộng hoà bình và đấu tranh không mệt mỏi cho hoà bình, chính làtruyền thống của nhân dân Việt Nam chúng ta và những giá trị ấy đã thấm sâu vào các hoạt độngcũng như các tác phẩm văn học nghệ thuật của chúng ta. Thứ hai, gặp tốp diễn viên của Liên đoàn Xiếc Việt Nam vừa biểu diễn ở Đài Loan, hômnay về nước để chuẩn bị tham gia liên hoan xiếc quốc tế tại Cộng hoà Pháp. Các em gồm 15người, có 4 nữ, còn rất trẻ. Trong nhóm có Nguyễn Ngọc Trúc, một nam nghệ sĩ trẻ có tài vàgiàu tâm huyết. Qua chuyện trò với Trúc, tôi được biết, Xiếc Việt Nam với 29 người đã đến diễnở Đài Loan từ trước tết ta, anh em thay nhau sang và về. Tốp của Trúc đã lưu diễn ở Đài Loan 4
  • 121. tháng 20 ngày rồi. Địa điểm diễn là một khu du lịch cách Đài Bắc gần 300 Km. Bây giờ, cáchình thức biểu diễn khá phong phú, không chỉ có việc diễn ở rạp, bán vé, mà có thể đi kèm vớicác tua du lịch. Anh bạn Đài Loan này đã đưa đoàn xiếc của ta vào diễn phục vụ khách du lịchnội địa theo tua. Trong tiếng ồn ào của động cơ máy bay, Trúc tâm sự: - Bạn mời ta sang diễn, cũng không hẳn vì nghệ thuật xiếc của ta cao siêu, mà vì nó cótính vừa mới lạ vừa gần gũi, dễ chiếm cảm tình người xem. Bạn thích mình diễn lâu ngày, kýnhững hợp đồng kéo dài 6 tháng, thậm chí 1 năm. Thế là bọn em cứ phải lênh đênh xứ người dàingày. Thời gian qua, ngày nào bọn em cũng diễn hai buổi. Bạn trả mỗi diễn viên 15 USD mộtxuất diễn, 25 USD 2 xuất diễn, 35 USD 3 xuất diễn, nếu không diễn cũng được bạn chi cho 10USD một ngày. Bạn còn lo cho ăn, ở. Trúc cho biết, sinh hoạt của những người xa quê buồn và đơn điệu lắm, cứ quanh quẩn ăn,ngủ, diễn. Ai cũng nhớ nhà, nhất là với những người đã có gia đình riêng. Tuy vậy, đi diễn ởnước ngoài có hai cái lợi, đó là góp phần vào giao lưu, hữu nghị, hiểu biết và đoàn kết giữa cácnước, và có thêm thị trường, thêm khán giả và thêm thu nhập. Lấp vào nỗi trống vắng ngườithân, các diễn viên nhà ta dùng thời gian rỗi vào việc tập luyện giữ gìn và nâng cao kỹ năng nghềnghiệp. Mấy cô cậu trẻ còn gửi thư điện tử, thậm chí còn được "tán gẫu" trên mạng qua dịch vụchát" nữa. Mà giá dịch vụ In-tơ-nét ở Đài loan thì lại rẻ chứ không đắt như bên ta, cũng giúp cácnghệ sĩ xa quê bớt đi cảm giác cô quạnh nơi quê người. Nghĩ cũng vui, năm nay nghệ thuật của chúng ta được mùa trên đất khách. Gần trăm lượtđoàn nghệ thuật của chúng ta, từ rối nước, xiếc, ca múa nhạc, đến tuồng, chèo, cải lưong, và cảgiao hưởng, đã toả ra hàng chục quốc gia, đem tiếng nói nghệ thuật đến làm vui những tâm hồncủa nhiều dân tộc, làm cho bạn hiểu mình, quý mình, nối liền nhịp cầu hữu nghị giữa Việt Namvới bè bạn khắp năm châu. Giá như con người với con người luôn luôn quan hệ với nhau qua nhịp cầu văn hoá nghệthuật chứ không qua nhịp cầu chiến tranh, thì trái đất của chúng ta bình yên biết bao nhiêu! Thế nhưng, lại có những kẻ không muốn đem nghệ thuật, mà chỉ muốn đem bom đạn đếnvới các dân tộc khác. Kẻ tiêu biểu trong số đó, thật đáng tiếc, lại là nhà cầm quyền của một đấtnước mà chúng tôi vừa đến thăm và có rất nhiều cảm tình - nước Mỹ. Có lẽ trong lịch sử nhânloại, không có một nước nào non trẻ mà lại hiếu chiến như nước Mỹ, với "thành tích" chỉ trongvòng 212 năm kể từ cuộc tổng tuyển cử năm 1789 đưa Gióc-giơ Oa-sinh-tơn lên làm vị tổng
  • 122. thống đầu tiên cho đến nay, đã 27 lần đem quân đi đánh nhau ở nước ngoài, với không ít cuộc làchiến tranh xâm lược bị cả loài người lên án. Trong khi đó, suốt trăm năm ròng, chiến tranh vắngbóng trên đất Mỹ, và hình như người Mỹ tưởng rằng hoà bình là của riêng họ. Cho tới cái hôm11 tháng 9 kinh hoàng kia, chính quyền Mỹ mới học được một bài học đơn giản mà sâu sắc lànếu cứ đem chiến tranh đổ lên đầu nhân loại, thì rồi cũng có ngày chiến tranh đổ ập xuống đấtnước mình. Thế là nước Mỹ hoảng loạn! Chỉ trong vòng hơn 2 tháng mà nước Mỹ trải qua 3cuộc báo động và Tổng thống Busơ luôn luôn gào thét rằng nước Mỹ đang bị đe doạ, nước Mỹđang trong tình trạng chiến tranh. Lúc này đây, người dân Mỹ mới thấy rằng nước Mỹ khôngphải là bất khả xâm phạm, và họ khao khát một cuộc sống bình yên, mà trước kia, họ tưởng nhưđó là món quà tất yếu của thượng đế dành riêng cho họ. Không! chiến tranh không phải là sựtrừng phạt dành riêng cho dân tộc nào, và hoà bình cũng không phải của riêng ai. Muốn có cuộcsống yên ổn, thì phải sống hoà hợp, tương thân tương ái. Có lẽ khi mà hoà bình đã tuột khỏi tầm tay người Mỹ, chiến tranh đang nhe nanh vuốtngay trên đất Mỹ, thì niềm khao khát hoà bình ở người Mỹ mới có dịp bừng tỉnh và lan toả vàomọi ngõ ngách đời thường. Nói như Ma-ri-sa, tới khi phải trải qua thảm hoạ, người Mỹ mới cảmthấy quý những gì mà họ đang có. Và nói như giáo sư Mác-tin Su-lơ-man, thì cần phải biết thathứ. Nói về sự sám hối của nước Mỹ, nhà văn Mỹ Ru-sen Banh nhận xét: "Lòng trắc ẩn từ lâu bịlỗi thời ở xứ này thì hôm nay nó lại được khơi dậy bởi hàng trăm trong số hàng nghìn người mấtgia đình, bạn bè, người yêu, đồng nghiệp...". Có lẽ, đó là hướng ứng xử phổ biến mà nhữngngười Mỹ chân chính nhận thức được sau thảm hoạ 11 tháng 9, cho nên giờ đây, nó được biểuhiện thành nhiều hành động cụ thể. Đông đảo người Mỹ đã tham gia những cuộc biểu tình chốngcuộc chiến tranh do chính quyền Mỹ tiến hành ở Áp-ga-ni-xtan, trong đó cuộc biểu tình tại thànhphố Niu-Yoóc diễn ra vào cuối tháng 10 có tới 5.000 người tham gia.
  • 123. Những nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, và ngay cả nghị viên Mỹ, thậm chí nguyên Tổngthống Mỹ, đã lên án chính phủ Mỹ cùng với thói kiêu ngạo, hiếu chiến Mỹ. Yana Jin, nhà thơ nữngười Mỹ, viết: "Khi nói đến mối nguy hiểm của một thảm hoạ mới có sức huỷ diệt hơn nữa, takhông còn đầu óc nghĩ đến nguồn gốc của thảm hoạ mà chủ yếu nghĩ đến thời gian trả thù... Mặccảm "siêu nhân" mà nước Mỹ luôn vênh vang như bị ma ám, sớm hay muộn cũng đặt nước Mỹdưới lưõi gươm Democles... Tổng thống Busơ , người mà theo ý kiến hết sức phổ biến lúc này,"bỗng có được tính bất khả xâm phạm trước những lời giễu cợt", đã diễn đạt tình thế lưỡng nanấy một cách thô thiển và rõ ràng, "hoặc là đi với nước Mỹ, hoặc là không"... Theo quy luật nghiệtngã chung thì thường là kẻ giàu và mạnh chiến thắng kẻ nghèo và yếu. Thật đáng buồn là giờđây, chúng ta bước vào thời đại tầm thường nhất trong các thời đại, khi sự thống nhất được hiểulà lòng căm thù hợp nhất lại bởi nó mạnh hơn nhiều đối cực của nó là lòng khoan dung và tìnhyêu thương". Đáp lại lời tuyên bố của Tổng thống Busơ cho rằng cuộc tấn công vào Trung tâm Thươngmại Thế giới và Lầu Năm góc là dấu hiệu hèn nhát của bọn khủng bố, bà Su-zân Zôn-ta, nữ dânbiểu Mỹ, tuyên bố: "Ném bom xuống những vị trí cách xa nước Mỹ hàng nghìn dặm còn hènnhát hơn nhiều." Các quán ăn ở Niu-Yoóc có thói quen để vào trong chiếc bánh tráng miệng một mẩu giấycon có ghi những câu ngạn ngữ, nói về cách thức ứng xử ở đời, kèm theo những con số để mọingười có thể gặp may mắn nếu số mà họ có trùng với những vé số trúng thưởng. Sau thảm hoạ
  • 124. 11 tháng 9, khi mở những chiếc bánh may mắn ấy ra, người ta gặp nhiều nhất là câu: "Sự tha thứlà điều đẹp đẽ nhất!" Các bạn Mỹ thân thiết ơi, những điều mà các bạn chiêm nghiệm hôm nay,thì cha ông chúng tôi đã thực hiện từ cả nghìn năm qua rồi. Chính sự tha thứ mà các bạn cho làđiều đẹp đẽ nhất ấy, cha ông chúng tôi đã hơn một lần dành cho những kẻ xâm lược đất nướcchúng tôi sau khi chúng bị thất bại ê chề. Đánh tan quân phương Bắc rồi, cha ông chúng tôi còncấp lương ăn áo mặc cho binh lính của họ trở về quê hương bản quán. Vừa thoát khỏi cuộc chiếntranh xâm lược của Mỹ và đồng minh, Việt Nam đã gác lại hận thù, mở rộng vòng tay đón mọidân tộc làm bè bạn. Ngay cả khi những người con trai yêu dấu của biết bao gia đình Việt Nam hysinh trong chiến tranh ngay trên đất nước mình mà bây giờ còn biệt vô âm tín, người Việt Namvẫn lặn lội lên rừng xuống bể giúp các gia đình Mỹ tìm xương cốt con cái họ, những kẻ đã trótdại nghe lời chính quyền Mỹ cưỡi máy bay sang dội bom đạn xuống một đất nước chẳng có hậnthù gì với họ, để rồi bị phơi thây trên đất lạ. Với Hoa Kỳ, kẻ xâm lược ghê tởm nhất đã làm ônhục lịch sử loài người bởi vụ thảm sát Mỹ Lai cùng với hàng loạt hành động giết hại dânthường không ghê tay, với Hàn Quốc, quốc gia có đội quân đánh thuê tàn bạo phi nhân tínhmang tên Rồng Xanh, Bạch Mã, những danh từ trở nên dồng nghĩa với bắn giết, cướp bóc vàhãm hiếp... Việt Nam đã xếp lại quá khứ, lập quan hệ ngoại giao, mở rộng làm ăn, hợp tác đểcùng phát triển. Ngay trong thời kỳ nóng bỏng này, Việt Nam vẫn liên tiếp có các hoạt động nhằm thựchiện khẩu hiệu "Việt Nam muốn làm bạn với các nước trên thế giới". Các đồng chí lãnh đạoĐảng, Nhà nước ta, từ Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, đến Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Thủtướng Chính phủ Phan Văn Khải đều cất công bay tới các phương trời đưa bàn tay thân thiết ranối liền nhịp cầu hữu nghị, hợp tác và phát triển. Cũng vì chính sách đối ngoại mang truyềnthống nhân bản và xây dựng ấy, Việt Nam luôn luôn được hoan nghênh trên trường quốc tế.Không những chúng ta tham gia các hoạt dộng văn hoá, thể thao ở nước ngoài, như Sea Games21 tại Ma-lai-xi-a, Liên hoan Xiếc ở Pháp, Liên hoan Thanh niên, sinh viến thế giới tại An-giê-ri,Tuần Văn hoá Việt Nam tại Ác-hen-ti-na, Chi-lê, Đại hội Văn hoá thể thao Pháp ngữ tại Ca-na-đa, Tuần Việt Nam tại Bỉ... mà còn mời bè bạn đến chung vui với nhân dân ta qua Liên hoanphim quốc tế, Những ngày văn hoá Nga tại Việt Nam, Liên hoan nhạc Zazz Châu Âu, Nhữngngày phim Châu Âu và quốc tế, Hội thảo Á - Âu về di sản văn hoá, phối hợp hoà nhạc nhân kỷniệm 100 năm ngày mất của nhạc sĩ thiên tài Vơ-đi, Chương trình hoà nhạc Toyota, Triển lãmmỹ thuật của Phi-líps Mô-ris, Triển lãm Hoà bình của 220 hoạ sĩ Nhật Bản... Chuẩn bị tổ chứcFét-xti-van Huế năm 2001, chúng ta đã nhận được sự hưởng ứng của đông đảo bạn bè quốc tế.Cảm động thay, trong bối cảnh thế giới đang lo ngại về nạn khủng bố và sôi lên trước hành độngmở rộng chiến tranh của Mỹ, bạn bè từ khắp các châu lục vẫn đến cùng chia vui với nhân dân ta.
  • 125. Khi chuẩn bị viết những dòng kết này, sung sướng làm sao, tôi gặp được một sự việc thậtlà có hậu. Đó là vào hôm qua, người bạn Mỹ thân thiết, luôn luôn giúp đỡ đoàn Việt Nam chúngtôi trong thời gian thăm nước Mỹ, đã từ Niu-Yoóc sang và chúng tôi đã gặp nhau trong bầukhông khí thanh bình của Hà Nội. Người bạn Mỹ đó là Ma-ri-sa Lốp pơ, Tim Đô-ling, anh bạnngười Anh tinh tế, cũng đã từ Luân Đôn về đây. Trên sân thượng toà nhà Sao Bắc, chúng tôicùng Ma-ri-sa và Tim Đô-ling thưởng thức những món ăn mang đậm hương vị đồng quê ViệtNam, nhắc lại những kỷ niệm mới đó đã thành sâu lắng mà chúng tôi từng có với nhau trên đấtMỹ, rồi chụp ảnh kỷ niệm trong cái gió mùa đông bắc hun hút và trước cảnh sắc đằm thắm của lácủa hoa dưới phố phường Hà Nội. Ma-ri-sa luôn luôn trầm trồ khen đất nước Việt Nam tươi đẹp,con người Việt Nam thân thiện. Vẫn kín đáo và tế nhị, Tim Đô-ling nhỏ nhẹ kể về người vợ ViệtNam và đứa con tương lai của anh chị - mà theo chuẩn đoán của bác sĩ sẽ là một cháu gái - haitháng nữa cháu sẽ chào đời! Thế đấy, cuộc sống luôn luôn sinh sôi nảy nở. Dù chiến tranh tàn khốc bao nhiêu, con người vẫn vượt lên để bảo tồn và phát triển sự sống trên trái đất. Trái đất tròn, trái đất luôn luôn có đường cho những sứ giả của hữu nghị và hợp tác gặp nhau. Mong cho trái đất mãi mãi bình yên. Niu-Yoóc - Oa-sinh-tơn - Hà Nội Tháng 10 - 12 năm 2001 Tác giả tại thủ đo Ooa sinh tơn DC Hoa Kỳ Phạm Việt Long
  • 126. PHỤ LỤC Phần một: Nước Mỹ và văn hoá Mỹ I. BỐI CẢNH NƯỚC MỸ 1. Bối cảnh địa lý – Chính trị Nước Mỹ là một đất nước rộng lớn và phức tạp xét trên mọi khía cạnh. Các hoạ sĩ cố gắngnắm bắt được bức tranh toàn cảnh về nước Mỹ trong những năm đầu khi đất nước mới thành lậphẳn đã nhận thấy bức tranh đó đã càng ngày càng tăng lên về kích cỡ, như thể không có mộtkhung tranh nào đủ rộng cho một bức tranh với kích cỡ và chi tiết lớn đến như vậy. Đất nước rộng 9.628.382 ki lô mét vuông trải rộng 6 múi giờ. Mười bang có diện tích rộnghơn Vương quốc Anh, và cả Vương quốc Anh cũng chỉ vào vừa vùng Đông Bắc, nơi nằm giữabiên giới Niu-Yoóc/Pen-sy-va-nia và biên giới Mên-ne/Ca-na-đa. Dân số tính đến ngày 1 tháng 4năm 2.000 có 285.230.516 người, trong đó ước chừng 90% sống ở các đô thị hay các khu vựcngoại thành, hoặc ở những khu vực có nền kinh tế xã hội theo hướng đô thị. Những khu đô thị vàkiểu đô thị này chỉ chiếm chưa đến 2% lãnh thổ toàn quốc. Là một quốc gia được thành lập bởi những người nhập cư, dân số Mỹ bao gồm nhữngthành phần từ hầu hết mọi nơi trên thế giới. Điều tra dân số năm 1992 đã phân tích dân số theonhóm chủng tộc bao gồm: Những người gốc Âu (bao gồm cả những người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) Người Mỹ gốc Phi Ngưi Mỹ gốc Châu Á Thái Bình Dương Người Mỹ bản địa tộc Aleutl, tộc Inuit. Hai ngôn ngữ chính thống là tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, mặc dù nhiều cộng đồngnhập cư vẫn duy trì và thường xuyên sử dụng ngôn ngữ của họ.
  • 127. Thành phố Niu-Yoóc (dân số 8 triệu), Lốt-an-giơ-lét (dân số 3,5 triệu), và Chi-ca-gô (dânsố 3 triệu) là những thành phố có quy mô dân số lớn. Năm thành phố khác có số dân trên 1 triệulà: Đa-lát, Đi-troi, Hau-xtơn, Philađenphia và San Đi-e-gô. 21 thành phố khác có dân số từ400.000 đến 1 triệu là. át-lan-ta*, Au-xtin*, Ba-ti-mo, Bô-xtơn*, Cờ-le-vờ, Cô-lum*, Đen-vơ*,E-pát-sô, Phót Uốt, In-điên-pô-lít*, Thành phố Kan-sa, Mem- phít, Nát-xơ-vi-lơ*, Niu O-liên,Thành phố óc-la-hô-ma*, Phôn- ních*, San An-tô-ni-ô, San Phơ-ran-xi-xcô, San Giâu, Sít-tơne,và Oa-sinh-tơn D.C.1 Nước Mỹ bao gồm nhiều vùng địa lý và văn hóa khác nhau. Đi từ bờ biển đông sang phíatây, sẽ qua các vùng sau (những thành phố hoặc đặc điểm chính được chỉ ra nhằm giúp chongười đọc có thể hình dung về hướng đi): Đồng bằng ven biển (trải từ Niu-Yoóc đến bờ biển bang Tếch-zát của Vịnh Mêxicô) Dãy núi áp-pa-lắc-chiền (bao gồm Pie-đmong, trải từ át-lan-ta, qua Gióoc-gi-a đến biêngiới Mên-ne/Canada) Cao nguyên áp-pa-lắc-chiền (trải từ A-la-ba-ma đến phía bắc của bang Niu-Yoóc ) Vùng đất thấp ở Trung tâm và phía Bắc (bao gồm a-li-ca-gô, Min-ne-pô-lít, Mem-phít,Kan-sa City và Si. Lui-ít) Đồng bằng rộng lớn (G-rít Pờ-lên) (trải từ biên giới Tếch-zát/ Mêxicô đến biên giới Môn-ta-na/Ca-na-đa) Dãy núi đá Roóc-ky Lòng chảo và bãi phía tây (trải từ Niu Mêxicô đến biên giới Oa-sinh-tơn/Ca-na-đa, baogồm vùng sa mạc Tây nam) Dãy núi phía tây (bao gồm những đãy núi ven biển Thái Bình Dương ở Caliphoócnia, O-ri-gông và bang Oa-sinh-tơn). Phủ lên trên những vùng địa lý này là những vùng văn hoá: Niu Ing-lân
  • 128. Miền Nam, bao gồm vùng đất cao phía Nam của dãy núi và cao nguyên áp-pa-lắc-chiền vàvùng đất thấp (còn gọi là Vực) phía Nam của Đồng bằng ven biển . Trung du, bao gồm các bang giữa Đại Tây Dương và phần lớn vùng đa ngôn ngữ của nướcMỹ. Vùng giữa phía Tây, chia thành hai phần trên và dưới Phía Tây, bao gồm Lốt-an-giơ-lét và những phần còn lại của đất nước. Chính quyền Mỹ chia ra 3 cấp: liên bang, bang, và địa phương. Nước Mỹ có Hiến pháp làluật pháp quốc gia. Hiến pháp liệt kê những quyền lực cụ thể của chính quyền liên bang, còn lạinhững quyền lực không được liệt kê ra thuộc về chính quyền các bang. Một nhân tố thườngxuyên không đổi trong lịch sử nước Mỹ là tình trạng căng thẳng giữa trách nhiệm của liên bangvới quyền của các bang. Cả 50 bang đều có thống đốc và cơ quan lập pháp bao gồm thượng vàhạ viện riêng của mỗi bang. Đa số có hiến pháp riêng của mình. Chính quyền bang theo truyềnthống bị chi hối bởi những giá trị nông thôn không mấy phù hợp với yêu cầu của các khu đô thịlớn. Ví dụ, ở Massachussét, chính quyền thành phố Bô-xtơn khong thể thông qua các luật lệ thuếkhoá mới nếu không được cơ quan luật pháp bang thông qua. Hiến pháp cũng có một chươngtrình quy định về quyền công dân. Hiến pháp cũng đảm bảo quyền tự do ngôn luận và từ đó làquyền không bị kiểm duyệt, vốn được coi là nhân tố quan trọng trong bất kỳ một bối cảnh vănhoá nào. Quốc hội bao gồm hai viện. Hạ viện gồm 435 thành viên đại diện cho mỗi bang theo tỉ lệ.Thượng viện có 100 thành viên, mỗi bang 2 người. Cả hai viện đều có thể lập pháp, trừ nhữngđiều luật liên quan đến thu nhập thì chỉ Hạ viện mới có quyền xem xét. Tổng thống có thể phủquyết bất cứ pháp luật nào, nhưng sự phủ quyết đó sẽ mất tác dụng nếu cả hai viện đều có 2/3 sốphiếu không tán thành. Nước Mỹ luôn được miêu tả là có nền kinh tế lớn nhất và mạnh nhất thế giới. Năm 1994,tổng sản phẩm quốc nội đạt 5.677,5 tỉ USD, thu nhập bình quân đạt 19.082 USD. Nền kinh tế đadạng hoá ở mức cao, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nông sản, khoáng sản phi nhiên liệu và cácsản phẩm công nghiệp bao gồm máy bay, Ô tô, máy móc, hoá chất, và các sản phẩm diện tử,viễn thông. Một sản phẩm xuất khẩu chính khác của Mỹ là văn hoá. Năm 1995, Hô-ly-út là nguồn thuchính từ xuất khẩu của Mỹ.
  • 129. 2. Bối cảnh văn hoá lịch sử Nước Mỹ có nền văn hoá được hình thành từ làn sóng những người nhập cư. Trong thời kìthực dân, nó đã phát triển bằng việc hợp nhất tổng thể các nền văn hoá Anh, Hà Lan, Thuỵ Điển,Đức tương tác văn hoá Châu Phi và Châu Mỹ bản xứ. Dòng người nhập cư từ Châu Âu nhanhchóng thiết lập sự thống trị của mình đối với văn hoá và di sản Châu Mỹ gốc. Sự mở rộng quốcgia về phía tây sau này đã tiếp tục hình thức đồng hoá hay là phá huỷ. Không bao lâu sau khithuộc địa Jêm-thao và Pờ-lai-mao được thành lập vào thế kỷ 17, văn hoá Mỹ lại tiếp tục chịu ảnhhưởng của làn sóng nhập cư "bị ép buộc", đó là những nô lệ từ Châu Phi. Sự sớm kết hợp giữacác nền văn hoá Bắc âu, Châu Phi và Châu Mỹ bản xứ đã tạo nên một nền tảng văn hoá chonhững người nhập cư sau này từ Châu âu, Châu á và xa hơn thế tiếp tục xây dựng. Vào thế kỷ 16, Tây Ban Nha thiết lập hệ thống thuộc địa ở Phờ-lo-ri-đa và Mê-xi-cô.Greater Mexicô phát triển lên, bao gồm những khu vực mà sau này trở thành Tếch-zát,Caliphoócnia, Niu Mê-xi-cô và A-ri-zôn-na. Đến thế kỉ 19, nước Mỹ đã đấu tranh để giành lạivùng lãnh thổ này từ Tây Ban Nha và Mê-xi-cô, nhưng ảnh hưởng của nền văn hoá Tây Ban Nhavà Bồ Đào Nha cho đến nay vẫn còn là một nhân tố quan trọng trong nền văn hoá Mỹ. Kết quả là Mỹ có một nền văn hoá đa dạng đến mức kinh ngạc, đặc biệt ở cấp độ địaphương và vùng. Trong phạm vi một tài liệu khái quát không thể có khả năng đi sâu vào sự đadạng này. Thay vào đớ, dưới đây là một số nhân tố quyết định hình thành nên nền văn hoá nghệthuật của nước Mỹ: Sự kế thừa từ những dòng người nhập cư một thái độ "có thể làm được"; Những nền lịch sử và văn hoá khác nhau giữa các vùng lãnh thổ, cũng như niềm tự hàocủa người Mỹ về bản sắc địa phương và vùng lãnh thổ của họ; Sự kế thừa từ các tộc người nhập cư khác nhau và cách thức những tộc người này duy trìdi sản truyền thống của mình, chia sẻ di sản đó với những tộc người khác và khai thác di sản đócho phù hợp với thực tế, Sự tín nhiệm của những người đi tiên phong đối với chính bản thân họ và cộng đồng củabọ, thái độ nghi ngờ trước những can thiệp của chính phủ vốn vẫn được thể hiện rất rõ trongchính sách về tài trợ cho văn hóa;
  • 130. Hành động của chính phủ là phương pháp cuối cùng bất đắc dĩ. Điều này đã dẫn tới vai tròquan trọng của các thể chế trung gian, ví dụ như các tổ chức bán độc lập phi chính phủ (tổ chứchành chính hoạt động độc lập với sự hỗ trợ của nhà nước) và phi lợi nhuận .v.v. để đối phó vớinhững thay đổi và quản lý những thay đổi. Một kết quả khác nữa là những tổ chức trung gian cóthể xây dựng những ban quản lý dựa trên khả năng chịu trách nhiệm chính và thái độ luôn luôntận tâm. Có lẽ nước Mỹ có nhiều người "trọng yếu và tài giỏi" bởi họ có khả năng điều hành chứkhông phải vì thân thế địa vị của họ; Đa số người Mỹ sống ở các thành phố, nhưng những giá trị gốc của quốc gia lại nảy sinhtừ nông thôn trong quá khứ; Di chứng của thời kì Đại khủng hoảng với một hệ thống chính quyền đồ sộ, và kí ức về sựnghèo khổ cùng cực mà rất nhiều người Mỹ đã trải qua; Sự thúc đẩy của Thế chiến II biến một quốc gia tương đối tỉnh lẻ trở thành dẫn đầu thếgiới, sự đại thịnh vượng và tốc độ đô thị hoá nhanh chóng; Những giá trị và những kì vọng của thế hệ "bùng nổ sinh sản", thế hệ đông nhất của Mỹ kểtừ năm 1955; Mối tình của nước Mỹ với công nghệ. Trong thế kỷ 20, phim ảnh, truyền hình, radio, máy quay đĩa và và máy vi tính đã tạo nênmột nền văn hoá đại chúng chiếm tỉ lệ rất lớn. Thời kì đầu văn hoá đại chúng được đánh giá làhứa hẹn sẽ mang đến một nền văn hoá dân chủ hướng tới con người, chứ không chỉ là một tinhhoa của đô thị. Khi thực tế cho thấy văn hoá đại chúng trở nên nhàm chán và thiếu óc tưởngtượng, thì sự hưng thịnh sau chiến tranh lại hậu thuẫn cho nghệ thuật "cao cấp" và đã tạo ra quanniệm phân chia văn hoá thành văn hoá "cao cấp" (khó hiểu, riêng tư và hiện đại) với văn hoá"thấp kém" (dễ hiểu, đại chúng). Trên thực tế, mối quan hệ giữa hai định nghĩa này có lẽ là mộtmối quan hệ thống trị nhiều hơn là quan hệ phân cấp, mà sự phát triển nhạc Jazz là một minh hoạrất cụ thể; Mối quan hệ không mấy yên ổn giữa tinh hoa mang tính chất toàn thế giới với những giátrị địa phương cùng của nước Mỹ. Khi được hỏi về văn hoá, đa số người Mỹ đều nghĩ đến thứ âm nhạc thương mại, phimảnh hoặc truyền hình. Trong một môi trường như vậy, có thể coi "văn hoá sống" được nhà nước
  • 131. bao cấp là một cái gì đó không bình thường, đặc biệt là đối với những người vốn xem thường sựcan thiệp của chính quyền ở mức cao vào cuộc sống Mỹ. Cùng một lúc cũng có sự tham gia vàonhững hoạt động văn hóa ở mức độ cao, đặc biệt những hoạt động có liên quan đến bản sắc vănhoá dân tộc hoặc địa phương. Không có gì ngạc nhiên là hỗ trợ của liên bang cho nghệ thuật trước kia được cung cấpmột cách gián tiếp. Luật thuế áp đụng từ đầu thế kỉ 20 cho phép các cá nhân có thể hỗ trợ chonghệ thuật, và bản hân họ cũng được lợi từ những khoản giảm trừ giúp giảm thu nhập thuế củahọ. Cho mãi đến tận những năm 1960, với sự thành lập của tổ chức Quốc gia trợ vốn cho nghệthuật (National Endowment for the Arts, NEA), thì một cơ chế liên bang quy định sự hỗ trợ dàihạn cho nghệ thuật mới được thiết lập. Sự nhất trí của chính quyền liên bang về Tổ chức Quốcgia Trợ vốn cho Nghệ thuật trùng với thời kỳ phát triển nhanh chóng sau chiến tranh của thế giớinghệ thuật Mỹ. Các nguồn tài chính chủ yếu cho văn hoá đã và vẫn là từ đóng góp của cá nhân và tiền bánvé. 3. Bối cảnh chính sách văn hoá 3.1. Khu vực nhà nước Nước Mỹ có xu hướng thiết lập các chính sách tài chính cho văn hoá chứ không tập trungvào chính sách văn hoá. Người Mỹ coi trọng cách họ quyên tiền và phân bổ những đồng tiền đócho một hoạt động văn hoá như thế nào. Cho đến tận năm 1979, Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật vẫn được hưởng tài trợcủa liên bang với con số tăng khá đều đặn thường xuyên. Tuy nhiên, trong suốt những năm 1980,xu hướng này đã bị đảo lộn và tài trợ của liên bang về cơ bản không tăng. Chính sách tài khoáthắt chặt xảy ra cùng lúc với chính sách xã hội bảo thủ cả ở tầm liên bang cũng như ở mỗi bang. Số lượng những người ủng hộ vai trò của chính phủ đối với nghệ thuật ngày càng thu hẹpđần, cộng đồng nghệ thuật đã không thể tìm kiếm được những đồng minh mới trong Quốc hội.Chính sách hỗ trợ cho nghệ thuật hướng đến chất lượng hay cái tinh tuý của sản phẩm đã khôngcòn dược các nhà lập pháp trẻ tuổi ưa hích nữa, không có thêm những chính khách đứng lên coitrọng nghệ thuật trong tầm nhìn hiện đại cho tương lai của nước Mỹ.
  • 132. Văn hoá không còn được đặt ở vị trí trung tâm chính trị, ngân sách dành cho tổ chức Quốcgia Trợ vốn cho Nghệ thuật cũng vì thế mà bị cắt giảm mạnh. Ngân sách năm 1994 là 167,5 triệu1 USD thì đến năm 1995 đã bị Quốc hội giảm xuống còn một nửa. Năm 1997 chỉ còn 99,6 triệuUSD. Tháng 7 năm 1997, Hạ viện đã bỏ phiếu bãi bỏ Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật,nhưng Thượng viện, bỏ phiếu tháng 11 năm 1997 về vấn đề có nên xoá bỏ tài trợ của liên banghay nên chuyển ngân sách cho từng bang tự phân bổ, đã đổi ngược được quyết định của Hạ viện.Cả hai viện vẫn chưa thông qua ngân sách năm 1998 cho Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệthuật (NEA). Tuy nhiên, người ta cũng hiểu rằng Tổng thống khi đó đã có ý định phủ quyết toàn bộ kếhoạch ngân sách nếu ngân sách cho NEA không được đảm bảo. Việc xoá bỏ hỗ trợ về tài chính,dù cho hiện đang được ủng hộ, sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các lĩnh vực hỗ trợ khác chonghệ thuật, bởi vì NEA cung cấp tài chính trên cơ sở trợ cấp "matching grant" (trong một sốnước có chương trình đặc biệt để khuyến khích việc xin tài trợ ngoài việc bao cấp, theo chươngtrình đó chính phủ đề nghị nếu một đoàn nghệ thuật nào đó xin được một số tiền tài trợ thì chínhphủ cũng sẽ cho thêm đúng số tiền tài trợ đó). Cũng giống như nhiều xã hội phương Tây khác, xu hướng phân cấp phân quyền gần đâyđã trở nên bắt buộc trong chính quyền quốc gia và địa phương ở Mỹ. Chính quyền các bang càngngày càng được uỷ nhiệm nhiều hơn trong việc chịu trách nhiệm quản lý những chương trình vàchính sách vốn trước đây thuộc trách nhiệm của liên bang, và, theo kết quả cuộc bầu cử năm1996 sẽ vẫn tiếp tục với trách nhiệm mới này. Tuy vậy, mức độ tài trợ tương ứng như đối với cáccơ quan liên bang trước đây sẽ không còn nữa. Trong những năm 1980, mặt dù các hội đồng nghệ thuật bang không đi theo NEA, và trênthực tế trong khoảng thời gian này tài chính cho các hội đồng đó có tăng lên, nhưng đến đầunhững năm 1990, họ lại phải chứng kiến tài chính của mình bị giảm đi. Trong một vài năm gầnđây, một số bang đã dần phục hồi, nhưng một số bang khác vẫn không thể. Tại bang Niu-Yoóc ,trước đây đã từng dẫn đầu rất lâu về mức độ tài trợ của bang cho nghệ thuật, sau khi thay thốngđốc bang và thay đổi nhân sự trong cơ quan lập pháp, tài trợ cho nghệ thuật đã giảm hẳn 50%trong 3 năm. Vì chính quyền các bang phải cân đối giữa nghĩa vụ thực hiện các chính sách mới với khảnăng tài chính để thực hiện những chính sách mới đó, nên các hội đồng nghệ thuật bang rất khócó khả năng được tăng tiền tài trợ. Tương tự như vậy, việc đảm bảo mức độ tài trợ hiện thời cũngcó vẻ như không thể thực hiện được.
  • 133. Tài trợ của nhà nước cho nghệ thuật chỉ tăng chủ yếu ở cấp độ địa phương, thông quachính quyền địa phương hoặc các cơ quan nghệ thuật: Một cơ quan nghệ thuật địa phương (Local Arts Agency, viết tắt LAA) được định nghĩa làmột tổ chức cộng đồng hoặc một cơ quan của chính quyền địa phương nhằm hỗ trợ các tổ chứcvăn hoá, cung cấp các dịch vụ cho nghệ sĩ và các tổ chức nghệ thuật, đem các chương trình nghệthuật đến với công chúng. Các cơ quan nghệ thuật địa phương xúc tiến thúc đẩy cho nghệ thuật ởcấp độ địa phương, cố gắng biến nghệ thuật thành một bộ phận của cơ cấu thường nhật trong đờisống cộng đồng. Hiện nay, tài trợ ở cấp độ địa phương trên toàn nước Mỹ đạt 650 triệu USD, nhưng con sốnày có vẻ không đáng tin cậy. Các cơ quan nghệ thuật địa phương thường chịu trách nhiệm đốivới rạp nghệ thuật biểu diễn và các chương trình xây dựng trung tâm văn hóa mới, và một phầnlớn số tiền mà các cơ quan này "mới" quyên góp được đã được sử dụng vào việc xâydựng. Một sức ép nữa đối với các cơ quan nghệ thuật địa phương là họ phải tổ chức được cácchương trình có sử dụng nghệ thuật để nói về những vấn đề xã hội lớn hơn. Đây là yêu cầu củacông tác từ thiện ở địa phương hoặc do có sự hoán đổi giữa ưu tiên tài trợ của liên bang cũng nhưcủa mỗi bang đã chuyển từ nghệ thuật sang các chương trình xã hội. Yêu cầu đặt ra đối với nghệthuật là phải đảm đương một chức năng thiết thực, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển cộngđồng, nay đã trở nên quan trọng đến mức năm 1995 Hiệp hội Quốc gia các Cơ quan Nghệ thuậtĐịa phương (National Assembly of Local Arts Agencies, NALAA) đã thành lập Viện Phát triểnCộng đồng và Nghệ thuật (Institute for Community Development ang the Arts). Thông qua cơquan thông tin này, Hiệp hội hy vọng có thể tăng cường khả năng hợp tác của các thành viêncũng như khả năng quyên tiền của họ từ những nguồn tài trợ của nhà nước dành cho các lĩnh vựcphi nghệ thuật. 3.2. Khu vực tư nhân Theo ý kiến của chính phủ, sự cắt giảm tài trợ có thể được bào chữa nếu lĩnh vực tư nhânsẵn sàng bù vào khoản thiếu hụt, cũng từ đó cho phép tư nhân có thể lựa chọn hỗ trợ cho ai và hỗtrợ như thế nào. Các nhà lập pháp cho rằng nghệ thuật có thể tìm kiếm tài trợ thay thế từ các cánhân, các quỹ và các công ty. Thực tế là ít có khả năng có thể mở rộng hơn nữa mức độ tài trợhiện thời của khu vực tư nhân.
  • 134. Các cá nhân là nguồn đóng góp chính cho nghệ thuật, chứ không phải các công ty nhưngười ta vẫn hay tưởng tượng. Hiện nay, quà tặng từ các cá nhân chiếm 77% tổng số đóng gópdành cho nghệ thuật. Tuy nhiên, cuốn Cho và tình nguyện gần đây đã đưa ra những con số đánglo ngại về loại hình hỗ trợ này. Năm 1987 trung bình mỗi hộ gia đình đóng góp cho nghệ thuật260 USD. Năm 1993, con số này là 139 USD - giảm 47%. Đồng thời, những hộ gia đình này lạităng hỗ trợ nói chung của họ lên 53%. Các quỹ cũng luôn là một nhân tố quan trọng trong hỗ trợ cho văn hoá. Quỹ Ford nóiriêng, với 1 cách quan niệm rộng đối với lĩnh vực tài trợ cho văn hoá trong những năm 1950 đầu1960 và những hỗ trợ tài chính ở mức cao, đã trở thành chất xúc tác cho một cách thức hỗ trợmang tính chiến lược hơn từ phía các quỹ. Tiền của các quỹ được ưu tiên cấp cho các địa phươngvì những lí do địa phương, thường là cấp cho các tổ chức có uy tín, và tập trung vào các chiếndịch xin tiền để chi vào việc xây dựng, trang bị... Tuy nhiên, việc tài trợ như vậy không giốngvới tài trợ cho nghệ thuật của liên bang và của các bang, mà đây mới chính là cái mà người tayêu cầu các quỹ thay thế. Những thay đổi gần đây trong hoạt động của các tổ chức kinh doanh cũng đã làm cho việctài trợ cho nghệ thuật không tăng lên nữa. Trong lịch sử, các công ty vẫn thường tài trợ cho nghệthuật từ ngân sách dành cho quan hệ với cộng đồng của họ. Trong những năm gần đây, đã có mộtsự hoán vị trong các lĩnh vực tài trợ với các kết quả hữu hình, tạo ra một sự ưu ái đối với các tổchức có uy tín. Trong khi đó, ngân sách dành cho quan hệ với cộng đồng đang ngày càng đượchướng nhiều hơn vào các dịch vụ cho con người và cộng đồng. Đồng thời, sức cạnh tranh ngàycàng cao và sự thu hẹp quy mô cũng đang làm hạn chế tiềm năng tài trợ từ các công ty. Mộtnghiên cứu của Trung tâm Quỹ (Foundation Center) cho thấy cứ 5 công ty được hỏi thì có 2công ty cho rằng tài trợ của họ cho nghệ thuật sẽ giảm đi trong tương lai. II. CƠ CẤU TÀI TRỢ CHO NGHỆ THUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN 1. Cấp độ liên bang 1.1. Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật (National Endowment for the Arts (NEA). http://www.arts.endow.gov
  • 135. Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ là một cơ quan độc lập của chính quyền Mỹ do Quốchội lập nên năm 1965 để hỗ trợ cho nghệ thuật và cung cấp giáo dục trong ngành nghệ thuậtcũng như đưa công chúng đến với nghệ thuật. Nhiệm vụ của Tổ chức Quốc gia Trợ vốn choNghệ thuật có 2 mặt: Bồi dưỡng tài năng, sự đa dạng và tầm quan trọng sống còn của nghệ thuật đối với nướcMỹ. Mở rộng khả năng cho công chúng đến với nghệ thuật. Nhiệm vụ trên được hoàn thành thông qua các hoạt động tài trợ, bồi dưỡng lãnh đạo, cáchiệp ước hợp tác với các tổ chức của bang và của vùng, nghiên cứu, giáo dục về nghệ thuật, cácchương trình đưa nghệ thuật vào đời sống và các hoạt động ủng hộ khác. Năm 1995, Quốc hội đãquyết định cắt bỏ hầu hết các hoạt động tài trợ của Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuậtcho cá nhân các nghệ sĩ. Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật có một thư viện rất lớn có thể tiếp cận qua số 1202 682 5429, cũng như có bộ phận chính sách và nghiên cứu có thể tiếp cận qua số 1 202 6825424. Tổ Chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật được cơ cấu lại vào năm 1995 để phù hợp vớiviệc cắt giảm tài trợ của liên bang. Trước đây vốn tập trung vào các loại hình nghệ thuật, nay tổchức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật đã chuyển sang một cơ cấu tài trợ dựa nhiều hơn vàochức năng. Giờ đây, tài trợ được phân bổ cho bốn nhóm: sáng tạo và thể hiện, di sản và bảo tồn,giáo dục và "access" (nghĩa là nâng cao sự tiếp cận với nghệ thuật của các thành phần khácnhau ) trong xã hội, tim cách để nghệ thuật có thể đến với nhiều người chứ không chỉ một số ítngười, bảo đảm quyền được hưởng thụ nghệ thuật, đưa nghệ thuật đến với đông đảo khán giảhơn), lập kế hoạch và tạo sự ổn định. Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật tiếp tục duy trì việc kết họp tài trợ với các cơquan nghệ thuật của bang và của địa phương, nhưng những hoạt động này đang trong quá trìnhxem xét lại. Đứng đầu Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghê thuật là Chủ tịch do Tổng thống Chỉ địnhnhiệm kỳ 4 năm sau khi tham khảo Thượng viện. Hội đồng Nghệ thuật Quốc gia (NationalCouncil for the arts, NCA) bao gồm 26 công nhân do Tổng thống chỉ định và Thượng viện thôngqua, sẽ tham vấn cho chủ tịch về các chính sách, chương trình tài trợ và quy trình công việc. Các
  • 136. thành viên của Hội đồng Nghệ thuật Quốc gia hoạt động trong các lĩnh vực nghệ thuật khác nhauvà thường công tác với nhiệm kì 6 năm. Các khoản tài trợ được cân nhắc bởi một hội đồng bao gồm những chuyên gia về một lĩnhvực nghệ thuật nào đó, xem xét các nhóm tập trung vào các chức năng cụ thể. Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật đang gặp phải những thay đổi mạnh mẽ khôngngừng, bao gồm cả sự không chắc chắn về tài trợ theo Hiến pháp sau năm 1998. Thông tin mớinhất có thể được tìm thấy trên website, trong đó bao gồm danh sách nhân viên, hoặc bằng cáchliên hệ trực tiếp với các bộ phận. 1.2. Uỷ ban của Tổng thống về Nghệ thuật và Nhân văn (Presidents Committee of the Arts ang Humanities) Uỷ ban của Tổng thống về Nghệ thuật và Nhân văn được thành lập theo Thủ tục hànhpháp năm 1983 nhằm thúc đẩy và khuyến khích hỗ trợ của khu vực tư nhân cho nghệ thuật vànhân văn. Uỷ ban của Tổng thống vê Nghệ thuật và nhân văn tìm kiếm khả năng tăng cường cảmnhận của công chúng trước những giá trị nghệ thuật và nhân văn và xúc tiến các chương trìnhtiếp cận với người Mỹ tại các cộng đồng khác nhau, đồng thời, thiết lập một chuẩn mực đánh giátài năng. Uỷ ban của Tổng thống về Nghệ thuật và Nhân văn còn hoạt động như một diễn đàntrao đổi ý kiến thông qua các hội thảo và các ấn phẩm. Nó thăm dò các cách thức kết hợp giữacác chính sách của nhà nước với sự tài trợ của tư nhân để hỗ trợ cho đời sống văn hoá, xem xétkhả năng tài trợ trong tương lai cho cả Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật lẫn Tổ chứcQuốc gia Trợ vốn cho Nhân văn và cố gắng giải quyết những vấn đề cấp bách có liên quan đếnnghệ thuật và nhân văn Uỷ ban của Tổng thống về Nghệ thuật và Nhân văn bao gồm các công dân ở vị trí lãnhđạo, do Tổng thống chỉ định từ khu vực tư nhân, là những người quan tâm và tận tâm với nhânvăn và với văn hoá bao gồm Vụ giáo dục, các tổ chức Quốc gia trợ vốn cho Nghệ thuật và Nhânvăn, Viện Sờ-mít-sô-niền, Thư viện Quốc hội (Library of Congress), Bảo tàng Mỹ thuật quốc giavà Trung tâm Nghệ thuật Biểu diễn Giôn F Ken-nơ-đi. 2. Cấp độ bang 2.1. Hiệp hội Quốc gia các cơ quan Nghệ thuật Bang (NASAA)
  • 137. http://www.nasaa-arts.org Hiệp hội Quốc gia các Cơ quan Nghệ thuật Bang là một tổ chức dịch vụ quốc gia cho cáchội đồng nghệ thuật bang. Hiệp hội thay mặt cho các thành viên thường xuyên triệu tập các cuộchọp và tiến hành nghiên cứu. Hiệp hội là điểm truy cập thông tin về bất cứ một hội đồng nghệthuật bang nào, hay thông tin về tài trợ cho nghệ thuật ở cấp độ bang nói chung Hiệp hội Quốcgia các cơ quan Nghệ thuật Bang còn thường xuyên cung cấp những báo cáo và ấn phẩm tronglĩnh vực tài trợ cho nghệ thuật và có thể cung cấp một danh sách đầy đủ các hội đồng nghệ thuậtbang cũng như những nhân vật chủ chốt. 2.2. Hội đồng Nghệ thuật Bang A-la-ba-ma. http://www.arts.state.al.us 2.3. Hội đồng Nghệ thuật Bang A-lát-xca. http://www.aksca.org 2.4. Ban Nghệ thuật Bang A-ri-zôn-a. http://arts.asu.edulartscomm/ 2.5. Hội đồng Nghệ thuật Bang A-ka-sát. http://www.arkansasarts.com 2.6. Hội đồng Nghệ thuật Bang Caliphoócnia http://www.cac.ca.gov 2.7. Hội đồng Nghệ thuật Bang Côlôradô http://www.colorts.state.co.us 2.8. Ban Nghệ thuật Bang Con-nếch-ti-cút http://www.ctarts.org 2.9. Bộ phận Nghệ thuật Bang Đe-la-wây
  • 138. http://www.artsdel.org2.10. Bộ phận các vấn đề văn hoá F-lo-ri-đa, Hội đồng Nghệ thuật Bang F-lo-ri-dahttp://www.dos.state.fl.us/dca/2.11. Hội đồng Nghệ thuật Bang Giốc-gi-ahttp://www.ganet.org/georgia-arts/2.12. Quỹ Văn hoá Nghệ thuật Bang Ha-oaihttp://www.hawaii.gov.sfca2.13. Ban Nghệ thuật Bang I-đa-hohttp://www2.state.id.us/arts2.14. Hội đồng Nghệ thuật Bang I-li-noishttp:l/www.state.il.uslagency/iac2.15. Ban Nghệ thuật Bang In-di-a-nahttp://wwvv.in.gov.iac2.16. Hội đồng Nghệ thuật Bang Iô-oahttp://www.culturalaffairs.org/iac2.17. Ban Ngbệ thuật Bang Kan-sáthttp://arts.state.ks.us/2.18. Hội đồng Nghệ thuật Bang Ken-tắc-kyhttp://www.kyarts.org2,19. Bộ phận Nghệ thuật Bang Lui-si-a-na
  • 139. http://www.crt.state.la.us/crt/ocd/doapage/doapage.htm2.20. Ban Nghệ thuật Bang Mên-nơhttp://www.mainearts.com2.21. Hội đồng Nghệ thuật Bang ma-ry-lenhttp://www.msac.org2.22. Hội đồng Văn boá Bang Ma-sa-chu-séthttp://www.massculturalcouncil.org2.23. Hội đồng Các ấn đề nghệ thuật và văn hoá Bang Mi-chi-gânhttp://www.commerce.state.mi.us/arts2.24. Ban Nghệ thuật Bang Min-ne-sô-tahttp://www.arts.state.mn.us2.25. Hội đồng Nghệ thuật Bang Mít-su-rihttp://www.missouriartscouncil.org2.26. Hội đồng Nghệ thuật Bang Môn-ta-nahttp://www.arts.state.mt.us2.27. Hội đồng Nghệ thuật Bang Nép-lát-xcahttp://www.nebraskaartscounci/.org2.28. Hội đồng Nghệ thuật bang Nê-va-đahttp://www.dlma.clan.lib.nv.us/docs/arts/2.29. Hội đồng Nghệ thuật Bang Niu- Ham-sơ
  • 140. http://www.state.nh.uslnhartsl2.30. Hội đồng Nghệ thuật Bang Niu Giơ-sâyhttp://www.njartscounci.org2.31. Hội đồng Nghệ thuật Bang Niu Mê-xi-côhttp://www.nmarts.org2.32. Hội đồng Nghệ thuật Bang Niu-Yoóchttp://www.nysca.org2.33. Hội đồng Nghệ thuật Bang Bắc Ca-rô-li-nahttp://www.ncarts.org2.34. Hội đồng Nghệ thuật Bang Bắc Đắc-cô-tahttp://www.state.nd.uslarts2.35. Hội đồng Nghệ thuật Bang Ô-hai-ôhttp://www.oac.state.oh.us2.36. Hội đồng Nghệ thuật Bang Ô-la-hô-mahttp://www state.ok.us/arts2.37. Ban Nghệ thuật Bang O-re-gônghttp://art.econ.state.or.usl2.38. Hội đồng Nghệ thuật Bang Pen-sy-va-nhiahttp://www.artsnew.orglpca
  • 141. 2.39. Hội đồng Nghệ thuật Bang Rốt-đơ-Ai-lânhttp://www.arts.state.mn.us2.40. Ban Nghệ thuật Bang Nam Carolinahttp://www.state.sc.uslarts2.41. Hội đồng Nghệ thuật Bang Nam Đa-kô-tahttp://www.state.sd.usldecalsdarts2.42. Ban Nghệ thuật Bang Ten-nét-sihttp:llwww.arts.state.tn.us2.43. Ban Nghệ thuật Bang Tếch-záthttp://www.arts.state.tx.us2.44. Hội đồng Nghệ thuật Bang U-táthttp:l/www.dced.state.ut.us/arts2.45. Hội đồng Nghệ thuật Bang Vơ-mônghttp:llwww.state.vi.us/vermont-arts/2.46. Ban Nghệ thuật Bang Vi-gin-nhi-ahttp://www.artswire.org/%7evacomm/2.47. Ban Nghệ thuật và Nhân văn Oa-sinh-tơn DChttp://www.dcarts.dc.gov/2.48. Ban Nghệ thuật Bang Oa-sinh-tơn
  • 142. http://www.arts.wa.gov/ 2.49. Vụ Giáo dục và Nghệ thuật Bang Tây Vi-gin-nhi-a-Bộ phận Văn hoá và Lịch sử http://www.wvculture.ong 2.50. Ban Nghệ thuật Bang Uýt-con-sin http://www.arts.state.wi.us 2.51. Hội đồng Nghệ thuật Bang Uy-ô-ming http://www.spacr.state.wy.us/cr/arts 3. Cấp độ địa phương 3.1. Hiệp hội Quốc gia các Cơ quan Nghệ thuật Địa phương (NALAA) Hiệp hội Quốc gia các Cơ quan Nghệ thuật Địa phương là một tổ chức dịch vụ quốc giacho các cơ quan nghệ thuật địa phương. Nó cung cấp các hiệp ước và các dịch vụ thông tin, đồngthời thúc đẩy nghệ thuật ở cấp độ chính quyền liên bang, bang, và địa phương. Hiệp hội Quốcgia các cơ quan Nghệ thuật địa phương có một chương trình phát hành các ấn phẩm quy mô lớn,và định kỳ phát động các chiến dịch đặc biệt ở những lĩnh vực mà nó có thể đóng vai trò xúc táccho phát triển hợp tác và kết hợp tài trợ. 3.2. Hội đồng Thương mại Nghệ thuật (BCA) Được thành lập năm 1967 bởi Đavít Rốc-cơ-phe-lơ, Hội đồng thương mại Nghệ thuật làmột tổ chức quốc gia không vì lợi nhuận nhằm gắn kết nghệ thuật và thương mại với nhau. Nócung cấp cho các doanh nghiệp lớn nhỏ các dịch vụ và các nguồn lực cần thiết để phát triển vàthúc đẩy sự hợp tác với nghệ thuật, đem lại lợi ích cho thương mại, nghệ thuật và cộng đồng. BCA cung cấp một loạt các chương trình và dịch vụ để giúp đỡ các doanh nghiệp pháttriển sự hợp tác của họ với nghệ thuật nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh, làm cho nghệthuật phong phú hơn và làm cho cuốc sống tốt đẹp hơn. BCA cũng cung cấp các dịch vụ tư vấnchuyên nghiệp cho các doanh nghiệp, giúp họ:
  • 143. (1) Xác định những cơ hội hợp tác với nghệ thuật ở địa phương, trong nước và trên thếgiới ; (2) Phát triển các hoạt động hợp tác cụ thể với nghệ thuật để đẩy mạnh các mục đích kinhdoanh; (3) Đánh giá và tăng cường sự tham gia vào nghệ thuật của các doanh nghiệpnày; (4) Tìm cách hợp tác với nghệ thuật trong quảng cáo, marketing, quan hệ công chúng,quan hệ với nhân viên, và các chiến lược trong quan hệ với cộng đồng; (5) Đề cập đến những vấn đề trong công việc như sự đa dạng hoá, xây dựng nhóm làmviệc thông qua việc hợp tác với nghệ thuật; xác định những doanh nghiệp không phải là đối thủcạnh tranh của mình để cùng nhau xây dựng mối quan hệ hợp tác với nghệ thuật; (6) Tạo ra các hoạt động với nghệ thuật nhằm thu hút và giữ đội ngũ nhân viên, thu hútnhững công việc kinh doanh mới và chiếm giữ vị trí lãnh đạo trong cộng đồng. (7) Phát triển chiến lược thiết lập một bộ sưu tập nghệ thuật và tìm cách sử dụng nó nhưmột tài sản để kinh doanh; và (8) Thiết lập và đánh giá các chương trình nghệ thuật lấy một phần kinh phí trích từ lươngvà thưởng của nhân viên cũng như các chương nghệ thuật tình nguyện của nhân viên. Hội đồng thương mại nghệ thuật tổ chức một chương trình thường xuyên các bài giảng vàhội thảo về tài trợ của các doanh nghiệp cho nghệ thuật, bao gồm Bài Giảng Đavít Rốc-cơ-phe-lơhàng năm. Những người điều hành từ các công ty thành viên của Hội đồng Thương mại Nghệthuật và các nhân viên của Hội đồng luôn sẵn sàng nói chuyện tại các buổi hội thảo hay hội nghịvề mối liên kết thương mại-nghệ thuật. BCA tập hợp thông tin, tiến hành nghiên cứu và xuất bản các báo cáo về những xu hướngmới nhất trong mối liên minh giữa thương mại với nghệ thuật nhằm giúp các doanh nghiệp pháttriển và củng cố mối quan hệ hợp tác với nghệ thuật và thông tin cho công chúng về những kếtquả mà các doanh nghiệp có thể đạt được thông qua việc đầu tư vào nghệ thuật. Những báo cáomới xuất bản gồm có: Điều tra năm 1999 về các công ty thành viên của BCA, Tại sao các doanh
  • 144. nghiệp lại đầu tư vào nghệ thuật, và một báo cáo của BCA: Điều tra toàn quốc năm 1998 về hỗtrợ của Thuơng mại dành cho Nghệ thuật. BCA còn điều phối các hoạt động của Mạng lưới Quốc tế các hiệp hội Thương mại Nghệthuật, một mạng lưới các tổ chức cùng hình thành những mối liên minh giữa thương mại vớinghệ thuật, chia sẻ thông tin và chuyên môn để tăng cường sự phát triển của những mối liênminh thương mại-nghệ thuật toàn cầu. Mạng lưới này bao gồm các thành viên áo, Bỉ, Canađa,Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ai-Len, ít-xra-en, Italia, Nhật, Hàn Quốc, Hà Lan, Nam Phi, TâyBan Nha, Thuỵ Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Hàng năm BCA tổ chức lễ trao giải thưởng Các doanh nghiệp với nghệ thuật, do BCA vàtạp.chí Forbes tài trợ, tổ chức đều đặn 30 năm nay để tôn vinh các doanh nghiệp và các doanhnhân về sự lãnh đạo, sự tận tâm và tầm nhìn của họ trong việc phát triển các mối liên minh vớinghệ thuật. BCA cũng sản xuất rất nhiều xuất bản phẩm để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vàonghệ thuật. Bao gồm thư ngỏ hàng quý Thông tin BCA, ấn phẩm Hãy thay đổi cách thức làm ăncủa bạn, trong đó nói lên những giá trị của nghệ thuật đối với thương mại và cộng đồng; Nghệthuật Lãnh đạo: Xây dựng các mối liên minh Thương mại – nghệ thuật, một cuốn sách nhỏ đọckhi rỗi rãi nói về kinh nghiệm cá nhân và nghề nghiệp trong việc hợp tác với nghệ thuật của 29vị giám đốc; Đầu tư ít thu lãi nhiều: Các sáng viên cho việc hợp tác thành công giữa thương mạivới nghệ thuật, một cuốn sách hướng dẫn bỏ túi về tài trợ dành cho các công ty; Một Báo cáo củaBCA: Điều tra năm I999 về các công ty thành viên của BCA, trong đó khái quát cách tài trợ chonghệ thuật của các công ty thành viên của BCA; và Bài tập tình huống BCA, sưu tập hơn 20 bàitập tình huống về những mối quan hệ hợp tác thành công giữa các doanh nghiệp lớn nhỏ vớinghệ thuật. III. TÀI TRỢ CỦA CÁC CÔNG TY VÀ CÁC QUỸ 1. Các quỹ tư nhân Nhân tố địa phương là nhân tố mấu chốt trong khi làm việc với các quỹ của Mỹ. Ví dụ, tổchức Liên hoan Sân khấu Quốc tế Chi-ca-gô có thể tìm cách xin tiền của các quỹ ở Chi-ca-gô,không phải vì nó mang tính chất quốc tế mà do nó ở Chi-ca-gô. Thậm chí khi một tổ chức địaphương nói rằng họ không tài trợ các hoạt động quốc tế, thì thực ra họ vẫn có thể có những tàitrợ như vậy ở mức độ địa phương.
  • 145. Luật thuế của Mỹ khiến cho các quỹ rất khó có thể tài trợ cho các tổ chức đặt ngoài nướcMỹ. Nếu việc tài trợ là mục tiêu của các quỹ, thì cần phải tìm một đối tác Mỹ. Tuy nhiên, một sốquỹ lớn đang ngày càng quan tâm tìm hiểu nhiều hơn đến những chính sách văn hoá và chínhsách tài trợ thực hiện bên ngoài lãnh thổ Mỹ. Một tổ hợp các quỹ đã thành lập một tổ chức nghiên cứu và ủng hộ liên kết, tên là Trungtâm Nghệ thuật và văn hoá. Những quỹ được liệt kê trong tài liệu này là những quỹ quốc gia lớn quan tâm đến hoạtđộng quốc tế, thường coi đó là một phương tiện để hiểu biết hơn về sự đa dạng của nền văn hóaMỹ, để thúc đẩy đổi mới và hợp tác, hoặc để tăng cường sự phát triển của nghệ thuật ở Mỹ. Cácquỹ có tài trợ cho lĩnh vực tằng cường sự phát triển cho nghệ thuật ở Mỹ được đánh dấu (*). 1.1. Quỹ Ford* Lĩnh vực quan tâm: Tác phẩm mới trong nghệ thuật biểu diễn và thúc đẩy sự đa dạng vềvăn hoá. 1.2. Quỹ German Marshall Mỹ Lĩnh vực quan tâm: Tăng cường mối quan hệ giữa Tây Âu và Mỹ thông qua nghiên cứuhọc thuật, chính sách hên quan đến các dự án, các hội nghị song phương, các chương trình khảosát tham quan. Không thực sự quan tâm đến nghệ thuật, nhưng đôi khi có quan tâm đến văn hóaxét trên khía cạnh xã hội và xây dựng chính sách rộng nhất. 1.3. Tổ chức những nhà tài trợ cho nghệ thuật Tổ chức này là một cơ quan mà thành viên là nhiều quỹ, công tố và cá nhân tài trợ chonghệ thuật. In thư ngỏ, tổ chức hội nghị thường niên và điều phối thông tin trong lĩnh vực tài trợ củakhu vực tư nhân cho nghệ thuật. 1.4. Quỹ trợ vốn Heinz. 1.5.Quỹ Tưởng nhớ John Solomon Guggenheim
  • 146. Lĩnh vực quan tâm: Tài trợ cho các cá nhân thông qua học bổng (Guggenheim - khoảng26.500 USD - để thúc đẩy sự phát triển của các nhà nghiên cứu và các nghệ sĩ). 1.6. Viện Nghệ thuật Ke nan 1.7. Quỹ John D và Catherine T MacAuthur Lĩnh vực quan tâm: trong khi đa số các chương trình nghệ thuật có quy mô quốc tế, thìnhững chương trình văn hoá thường tập trung trong nước, đặc biệt ở Chi-ca-gô và Hạt Pam-bít-chơ. Hiện quỹ đang thăm dò sự tài trợ quốc tế trong lĩnh vực truyền thông. Quỹ có Chương trìnhHọc bổng Mắc-au-thơ. Phần thưởng Tài năng dành cho những cá nhân có tài năng và triển vọngđặc biệt, những người thể hiện sự độc đáo, cống hiến cho sự nghiệp sáng tạo và có khả năng tựđịnh hướng. 1.8. Quỹ Tài trợ từ thiện Pew Lĩnh vực quan tâm: Đa số tài trợ cho các chương trình quốc gia và nhằm vào các nội dungbức xúc cũng như lĩnh vực sáng tạo, phát triển và phổ biến tác phẩm mới. Một số các nhà tài trợnhỏ cho các dự án quốc tế có liên quan đến các nghệ sĩ và các đơn vị nghệ thuật ở Phi-Lađen-phia. 1.9. Quỹ Pollock-Krasner Lĩnh vực quan tâm: Hỗ trợ các nghệ sĩ mỹ thuật hành nghề độc lập. Phần thưởng chocác nghệ sĩ Anh, châu Âu, Liên Xô cũ, Trung Mỹ và châu Á. 1.10. Quỹ Roclefeller Lĩnh vực quan tâm: Tài trợ các nghệ sĩ sáng tạo ở Mỹ có tác phẩm có thể giúp mở rộnghiểu biết về các nền văn hoá thế giới thứ ba, đặc biệt là châu Phi, châu Mỹ La tinh, châu á, vàcủa các dân tộc thiểu số ở Mỹ. Cũng điều hành Trung tâm Nghiên cứu và Hội nghị Be-la-giô ởBe-la-giô, Italia. 1.11. Quỹ Lila Wallace-Tạp chí Raedess Digest Lĩnh vực quan tâm: Thúc đẩy vai trò quan trọng của nghệ thuật trên toàn quốc bằng cáchkhuyến khích mối tương tác giữa các nghệ sĩ với các cộng đồng thông qua các hoạt động hướng
  • 147. tới cộng đồng, hợp tác và liên kết trong những nỗ lực hỗ trợ cho nghệ thuật. Là một trong nhữngquỹ nghệ thuật lớn nhất nước Mỹ. 1.12. Quỹ Xerox Lĩnh vực quan tâm: Tài trợ các tổ chức văn hoá tham gia tích cực trong tranh luận về cácvấn đề quốc gia và quốc tế lớn. 2. Các công ty Tài trợ của các công ty cho nghệ thuật thường xuyên thay đổi ở Mỹ. Xu hướng sáp nhậpvà toàn cầu hoá đã tạo nên một chuyển đổi từ tài trợ tập trung tại địa phương Chuyển sang chínhsách điều khiển bởi các trụ sở chính nằm cách địa phương đó hàng ngàn dặm, cũng như bởi yêucầu phát triển quốc tế. Khi tiếp cận với bất cứ công ty nào ở Mỹ, điều quan trọng là phải nghiên cứu kỹ lưỡng cácmục tiêu, mục đích, giá trị và những mối quan tâm của các công ty đó. Các công ty thường là tàitrợ nhiều hơn cho các dự án quốc tế, nhưng nhiều khi vì lý do không cụ thể. Dưới đây là nhữngcông ty tiêu biểu trong hoạt động tài trợ cho nghệ thuật: Chương trình Nhân ái của Công ty Amêricân ếch-xpờ-rét Quỹ Công ty AT&T Quỹ Công ty COCA-COLA Quỹ Công ty Ô tô Ford Quỹ Mêtrôpôlitan Life Công ty Philip Môrít IV. NHỮNG TRANH LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VĂN HOÁ 1. Thu nhập do bán vé và lập chương trình văn hoá Một chủ đề trong chính sách văn hoá Mỹ là sự sắp xếp lại hệ thống tài trợ nhiều nguồn củanước này trong khi cố gắng xác định những động thái ngắn hạn để tồn tại trước những thay đổi
  • 148. trong tài trợ này, nhiều nhà tài trợ và tổ chức dịch vụ còn quan tâm đến khả năng tồn tại và pháttriển lâu dài của các tổ chức văn hoá khi có những thay đổi lớn. Các tổ chức nghệ thuật có các chương trình đổi mới tiên phong và các cách thứcmarketing để duy trì được các loại khán thính giả khác nhau và mở rộng cơ sở địa lý nhân khẩucủa nghệ thuật. Thu nhập từ bán vé, chiếm khoảng hơn 50% tổng thu của các đơn vị nghệ thuật,thường được đưa vào ngân sách hoạt động. Sức ép này đối với việc bán vé thường dẫn đến việccác đơn vị nghệ thuật lựa chọn dàn dựng các chương trình "an toàn" chứ không hỗ trợ cho nhữngđổi mới và sáng tạo nghệ thuật. Nghịch lý là ở chỗ, người ta lại ứng dụng những đổi mới trongquảng cáo marketing cho những chương trình "an toàn". Với chi phí hoạt động tăng lên và mức khán giả giảm sút do những thay đổi trong nhânkhẩu học, và sự cạnh tranh của các loại hình giải trí thương mại, giá vé cũng phải tăng lên. Cácđơn vị vấp phải một nghịch lý là vừa phải tăng giá vé bán ra vừa phải tổ chức các hoạt độnghướng ngoại đến với những "khán thính giả" không có điều kiện tài chính, nhằm đảm bảo rằngtài trợ của các quỹ và của chính phủ được chi cho các chi phí cố định. Mối căng thẳng này đếnmột lúc nào đó sẽ chiếm ưu thế. 2. Những thay đổi về nhân khẩu học Thu nhập từ bán vé cũng bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong nhân khẩu học. Theo ướctính ở Mỹ cứ 4 người Mỹ thì 1 người gốc Phi, 1 gốc Tây Ban Nha, 1 gốc Mỹ và 1 gốc á. Sự thayđổi này gợi ý cho những cố gắng trong phát triển khán thính giả của những đơn vị nghệ thuật chủđạo. Nó cũng gợi ý cho sự phát triển nghệ thuật ở một mức độ rộng hơn. Những đơn vị nghệthuật phục vụ cho những cộng đồng có nhu cầu văn hoá đặc biệt đang thúc ép các nhà tài trợ mởrộng hiểu biết của mình về các loại hình nghệ thuật, chức năng và vai trò của nghệ sĩ và các đơnvị nghệ thuật, và mối quan hệ giữa khán giả với nghệ sĩ. Hầu hết thành viên của đơn vị nghệthuật phục vụ cho những cộng đồng có nhu cầu văn hoá đặc biệt đều tin rằng tài trợ của khu vựcnhà nước và chính phủ dành cho họ đang thiếu trầm trọng. Khía cạnh này của sự thay đổi nhânchủng học sẽ vẫn tiếp tục thách thức việc định nghĩa văn hoá Mỹ và hỗ trợ cho nền văn hoá đónhư thế nào. Dân số đang ngày càng đa dạng hoá và già đi. Thế hệ "bùng nổ sinh đẻ" đại diện cho sựthay đổi nhân khẩu học lớn nhất ở Mỹ thời kỳ hậu chiến. Nó là nguyên nhân của sự tăng trưởngvà mở rộng của nghệ thuật từ những năm 1960 và thắp sáng ham muốn nghệ thuật "sống" của cảnước.
  • 149. Ngoại trừ các viện bảo tàng nghệ thuật, nhạc jazz và ba-lê, những thế hệ tiếp sau nóichung không còn quan tâm nhiều đến nghệ thuật như trước nữa. 3. Luật thuế Khuynh hướng bảo thủ tài khoá thắt chặt ở Mỹ trong những năm gần đây không chỉ diễnra ở hình thức tài trợ trực tiếp, mà còn ảnh hưởng đến cơ chế tài trợ gián tiếp mà các tổ chức philợi nhuận, bao gồm cả nghệ thuật, đang được hưởng. Luật thuế của chính phủ, của bang và củađịa phương đang được xem xét lại và được thắt chặt, từ đó làm giảm những khoản khấu trừ thuế.Những người góp tiền cho các đơn vị nghệ thuật có thể được khấu trừ thuế, họ còn được hưởngmiễn thuế tài sản và những quyền lợi miễn thuế thu nhập khi đóng thuế cho địa phương và chobang. Chính quyền các cấp đang đặt nghi vấn và đang phải xem xét lại tất cả những vấn đề này. Đồng thời, các cơ quan nghệ thuật bang và địa phương đang thử nghiệm và thực hiện cơchế tài trợ nhà nước đổi mới. Một số được đánh dấu riêng là thu nhập chịu thuế. Hiệp hội các Cơquan Nghệ thuật Địa phương xác định mức thuế đối với các thu nhập từ giải trí mang tính thươngmại và thể thao, khách sạn, cờ bạc và xổ số, các tổ chức trợ vốn cho việc bảo tồn văn hoá bangvà những "tax write-offs" (những khoản tiêu dùng khác mà có thể được trừ vào thu nhập trướckhi tính thuế phải đóng). Nhiều trong số những cách thức này tỏ ra rất có tiềm năng, nhưng vẫncòn quá sớm để có thể đánh giá khả năng tồn tại và phát triển lâu dài của chúng. 4. Tình nguyện giảm dần Mức độ tham gia tình nguyện đang giảm dần và điều này cảnh báo cho tất cả các cố gắnggây quỹ. Tại sao? Những nghiên cứu chuyên về nghệ thuật hiện có không đưa ra được những kếtluận cụ thể, nhưng những nghiên cứu về khu vực phi lợi nhuận nói chung chỉ ra rằng người Mỹvới công việc quá tải và những trách nhiệm với gia đình có rất ít thời gian dành cho hoạt độngtình nguyện. Khi tham gia hoạt động tình nguyện, họ muốn có những xác nhận ngay lập tức là họđã tạo nên một sự thay đổi nào đó. Khác với các tổ chức dịch vụ phi lợi nhuận vì con người,không nhiều các đơn vị nghệ thuật có thể đảm bảo được sự thoả mãn như vậy cho người tìnhnguyện. 5. Giảm tài trợ của các quỹ Từ năm 1990, tài trợ cho nghệ thuật của các quỹ cho nghệ thuật đã giảm từ 14% xuống12,7%. Trong thời gian này, tài trợ cho các dịch vụ vì con người lại tăng lên do chính phủ cắtgiảm tài trợ của mình trong lĩnh vực này và do hậu quả của nền kinh tế đình trệ. Để đi theo xu
  • 150. hướng này, nhiều đơn vị nghệ thuật đã chuyển sang các chương trình hướng ngoại, cung cấp cácdịch vụ vì con người và vì sự phát triển cộng đồng. Sự thay đổi này đã diễn ra mà không đượcchuẩn bị đào tạo trước, và không có đủ thời gian để xác định và đưa ra những cách thức hoặc kếtquả dài hạn. 6. Số phận của cá nhân các nghệ sĩ Như đã nói, tài trợ của Tổ chức Quốc gia Trợ vốn cho Nghệ thuật năm 1995 đã khôngdành cho cá nhân các nghệ sĩ. Trung tâm Nghệ thuật và Văn hoá (Center for Arts and Culture) đãnhận thấy chỉ 1/5 các quỹ có tài trợ cho cá nhân các nghệ sĩ. Cùng với sự thay đổi trong cơ chếtài trợ tập trung nhiều hơn vào các lợi ích xã hội, các nghệ sĩ càng gặp khó khăn hơn trong việctìm kiếm tài trợ cho các dự án của họ. Một kết quả khác của việc nhấn mạnh các chương trìnhvăn hoá "hướng ngoại" là đã xoá nhoà ảnh hưởng của những đào tạo chuyên biệt và kĩ năng củacác nghệ sĩ vì năng khiếu sáng tạo bẩm sinh và việc đào tạo và phát triển người nghệ sĩ được coinhư ngang nhau. Trong các cuộc họp với các đối tác ở những khu vực khác, người ta thườngnghi ngờ sự cần thiết phải có các nghệ sĩ tham dự. Người ta cần nghiên cứu nhiều hơn và đưa ranhững tài liệu về cách giải quyết các vấn đề về nghệ sĩ nếu những điều này được coi là quantrọng trong hợp tác tài trợ, mà những tài trợ này lại sẽ dẫn đến những tài trợ mới cho tác phẩmcủa họ. 7. Quản lý nghệ thuật, phát triển đơn vị nghệ thuật và nghề nghiệp Trong thời đại của những thay đổi lớn, việc lãnh đạo là một thách thức được đặt ra. ở nướcMỹ, nhu cầu lãnh đạo đang được chú ý ở cấp độ quốc gia, bang lẫn địa phương, cũng như ở cáccơ quan Việc đào tạo và chuẩn bị cho các nhà quản lý nghệ thuật đang được xem xét và cân nhắclại. Những năm 1970-1980, mô hình được áp dung cho các nhà quản lý nghệ thuật được rút ra từquản trị kinh doanh. Những năm 1990, những kỹ năng được coi là cần thiết để có thể lãnh đạocác ngành nghệ thuật qua nhiều năm thay đổi đã giống với các kỹ năng quản lý các tổ chức xãhội, nghệ sĩ và các tổ chức trung gian nhiều hơn. Làm thế nào để đào tạo các nhà quản lý trởthành lãnh đạo vẫn còn một thách thức cần giải quyết. Đã thế, lương của các nhà quản lý nghệ thuật không cao bằng lương của các nhà quản lýtrong các khu vực phi lợi nhuận khác. ở Mỹ người ta có thể dễ dàng thay đổi nhiều nghề nghiệpgiữa các ngành khác nhau, và sự không bình đẳng về lương có nghĩa là những nhà quản lý nghệthuật tài giỏi thường rời bỏ nghệ thuật đến với những lĩnh vực quản lý nhà nước và quản trị kinhdoanh.
  • 151. Đồng lương eo hẹp của các nhà quản lý nghệ thuật chuyên ng hiệp và khó khăn ngàycàng tăng trong việc gây quỹ dẫn đến những khó khăn trong vấn đề nhân sự, tìnhtrạng cạn kiệt quản lý thường xuyên và do đó, dẫn tới tỉ lệ chuyển công tác rất cao. (Tài liệu của quỹ FORD) PHẦN HAI: MỘT SỐ THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN THẢM HOẠ 11 THÁNG 9 Ở MỸ I. TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI VÀ LẦU NĂM GÓC 1. Trung tâm Thương mại Thế giới Hai tòa nhà tháp - Trung tâm Thương mại Thế giới ở Niu-Yoóc được coi là biểu tượng nền kinh tế hùng mạnh của nước Mỹ. Hai tòa nhà tháp được khởi công xây dựng từ năm 1967 theo sáng kiến của chính quyền thành phố Niu-Yoóc và tiểu bang Niu Giéc-xi, đến ngày 4-4-1973 khánh thành. Trung tâm Thương mại Thế giới do kiến trúc sư trưởng Mi-nô-ru Y-a-ma-xa-ki thiết kế nằm trên diện tích 406.000 m2. Cả hai tòa tháp đều cao 110 tầng. Tòa tháp thứnhất cao 417 m. Tòa tháp thứ hai 415 m, chỉ thua tòa tháp ở Tô-rôn-tô (Ca-na-đa, cao 540 m),Tháp đôi (Ma-lai-xi-a, 550 m), tháp Thượng Hải (Trung Quốc, 468 m). Hai tòa nhà tháp phía bắcvà phía nam được xây dựng bằng thép đặc biệt chịu nén và bê- tông. Mỗi tòa tháp nặng 290.000tấn, móng có chiều sâu hơn 20 mét. Mỗi tòa nhà có bệ cao 192 m, vách tường dày từ 20 đến 90cm. Các chi tiết bằng thép được chế tạo sẵn đưa từ các thành phố Xin-tan, Lốt An- giơ-lét và
  • 152. Xanh Lu-i tới. Tám chiếc cần cẩu cực lớn chế tạo tại ô-xtrây-li-a được dành riêng cho Trung tâmThương mại Thế giới. Tính ra mỗi tòa nhà tháp đã dùng hết 323.000 m3 bê-tông và có 43.600 cửa sổ. Tổng chiphí xây dựng hai tòa nhà hết 700 triệu USD. WTC là biểu tượng cho thế giới tài chính hùng mạnh khu Man-hát-tan, nằm trên một bánđảo rộng trông ra sông Hắt-xơn chảy qua thành phố Niu-Yoóc , thuộc khu phố trung tâm của cácnhà trùm tài phiệt Niu-Yoóc. Cách đó vài trăm mét là phố Uôn, nơi thị trường chứng khoán hoạtđộng nhộn nhịp nhất thế giới, luôn có mặt các nhà tài chính lớn nhất ở Mỹ. Cũng tại đây, hơn500 công ty lớn và cơ quan thương mại quốc tế thuộc 26 nước hoạt động cùng với sự có mặt củahàng trăm văn phòng thuế quan thành phố Niu-Yoóc và bang Niu Giéc-xi được bố trí đều trong110 tầng nhà của hai tòa tháp. Toàn bộ hoạt động ở Trung tâm được điều hành và chương trìnhhóa bằng máy tính điện tử. Có tổng cộng 293 thang máy lớn đặt trong các tòa nhà, buồng thangmáy có thể chứa 55 người, 71 cầu thang cuốn chạy suốt ngày đêm phục vụ 50 nghìn lượt ngườiđến làm việc hàng ngày. Hệ thống thang máy hiện đại đến mức cần một phút là người ta có thểlên xuống 110 tầng. Từ hàng chục năm nay, Trung tâm Thương mại Thế giới trở thành một du lịch hấp dẫn củangười Mỹ và khách quốc tế. Mỗi năm nơi đây đón hơn 200.000 khách du lịch. ở tầng 107 trongtòa tháp có nhiều hiệu ăn sang trọng gọi là "cửa số 1 ngắm nhìn thế giới" dành cho những nhà tưbản lớn. ở phần chìm dưới mặt đất của Trung tâm có Trung tâm Thương mại Man- hát-tan vớinhiều bến xe điện ngầm, nhà ga đường sắt, bến đỗ xe hơi. Buổi sáng, các đầu mối giao thông nàyđón hàng chục nghìn nhân viên, viên chức đến làm việc, khách thăm và mua sắm. Theo thiết kế,hàng cột với các bó thép của WTC ken dày, xít nhau chung quanh cột bê-tông hình chữ nhật chịulực. Các cột chịu lực chính hình trụ lõi thép đều được giằng vào nhau tạo nên một kết cấu vữngchắc. Do tháp đôi được thiết kế vĩnh cửu, chịu được động đất mạnh, cho nên nếu chỉ tác động cơhọc theo chiều ngang thì khó làm cho tháp sụp đổ. Trong điều kiện gió nhẹ bình thường, đỉnhtháp luôn dao động với biên độ vài mét so với trung tâm là nhờ có kết cấu thép. Các khung chịu lực bình thường bên trong hai tòa tháp đôi đã phải chịu trọng tải khá lớncủa gần 300 thang máy Sau khi hai máy bay lần lượt lao vào tháp đôi, máy bay đã làm lệch trọng tâm một số cộtchịu lực, làm yếu đáng kể kết cấu chung. Nhưng điều tồi tệ hơn là đã có quá nhiều nhiên liệudùng cho máy bay khi va chạm mạnh đã nổ tung và gây cháy. Lửa cháy do xăng máy bay tạo ranhiệt độ lớn đến 1.500 độ C khiến cho các lõi thép bị nung nóng trong thời gian dài. Nhiệt độ
  • 153. theo các lõi thép lan tỏa nhanh khắp toàn bộ tòa nhà. Một số chỗ nối bị nóng chảy, còn các phầnlõi thép đều bị mềm ra làm suy yếu nghiêm trọng các cột chịu lực. Trong khi đó, các cột này vẫnphải chịu một lực nén rất lớn của toàn bộ khối nhà110 tầng theo chiều thẳng đứng. Lửa càngcháy lâu càng làm cho các cột thép chịu lực kém. Đến một độ nhất định, toà nhà cứ thế sụp đổdần dần từ trên xuống theo phương thẳng đứng . Sự sụp đổ của tháp đôi gây chấn động mạnh đến nền móng của toà nhà Oan- Li-bơ-ty Pờ-la-za cao 226,47m cũng được xây dựng bằng thép năm 1973 và một toà cao ốc nữa liền kề, làmcho hai toà nhà này sụp đổ theo. 2. Lầu Năm góc Lầu Năm góc, tổng hành dinh của Bộ Quốc phòng Mỹ và là đầu não chi huy và kiềm soátquân sự quốc gia, thật sự là một "thành phố", nơi làm việc của 26.000 nhân viên quân sự, dân sựthuộc Bộ Quốc phòng Mỹ và 3.000 nhân viên phục vụ khác. Tòa nhà lớn này còn là biểu trưngcho thiết chế và sức mạnh quân sự Mỹ. Lầu Năm góc được hình thành từ ý tưởng và đề nghị của thiếu tướng Bre-hon B.Xom-mơ-ven, phụ trách bộ phận xây dựng của văn phòng Tổng cục Hậu cần từ giữa tháng 7-1941. Banđầu là giải pháp tạm thời giải quyết nơi làm việc cho Cục Chiến tranh. Sự phát triển nhanh chóng của Cục Chiến tranh mở ra tầm nhìn mới về lối kiến trúc đơn lànơi làm việc cho tất cả các bộ phân, đối lập lối kiến trúc đa cá thể thịnh hành thời bấy giờ. Quốchội Mỹ, mặc dù lo ngại về chi phí cho công trình nhưng do sự cấp thiết can thiệp quân sự vàokhu vực Châu Âu và Viễn Đông, ngày 14-8-1941 đã thông qua ngân sách khoảng 83 triệu USDđể xây dựng trụ sở mới cho Cục Chiến tranh. Lầu Năm góc được khởi công xây dựng ngày 11 -9-1941. Vị trí đầu tiên được chọn để xây dựng Lầu Năm góc là trang trại A-linh-tơn, nằm lọt giữanăm đường cao tốc hợp với một tòa nhà kiến trúc hình khối năm cạnh. Sau đó do lo ngại sự xuấthiện của tòa nhà ảnh hưởng quang cảnh của Oa- sinh-tơn, Tổng thống Mỹ thời bấy giờ, ông Ru-dơ-ven quyết định dời vị trí xây dựng cách đó 314 dặm (1.200 m) bên bờ sông Pô-tô-mác. Vị tríđược chọn gồm khu vực sân bay Hu-vơ, một số nhà máy và khu dân cư nghèo. Thiết kế cuối cùng theo lối kiến trúc tân cổ, gồm một sân ngoài trời bao bọc bởi năm hànhlang tạo hình khối năm cạnh. Tòa nhà được xây dựng bằng bê-tông cốt thép với khối lượng
  • 154. 380.000 tấn cát lấy từ sông Pô-tô-mác và 41.492 trụ bê-tông, mang bóng dáng kiến trúc tòa nhàQuốc hội Mỹ, tiết kiệm được thép để đóng mới một chiếc tàu chiến. Lúc cao điểm của quá trìnhxây dựng, tới 1.000 kiến trúc sư và 14.000 công nhân làm việc. Thời gian làm việc chia làm baca trong 24 giờ. Chỉ 16 tháng sau ngày khởi công vào 15-1-1943 Lầu Năm góc đã hoàn thành. Lầu Năm góc được xây dựng trên diện tích 34 ha trong đó có 5 ha sân trung tâm, gấp nămlần diện tích tòa nhà Quốc hội, có tổng diện tích sử dụng hơn 600 nghìn m2, có 7.754 cửa sổ,tổng chiều dài các hành lang hơn 28 nghìn mét. Mặc dù rộng mênh mông như vậy nhưng chỉ cần7 phút đi từ góc này sang góc kia của tòa nhà. Cơ quan bảo vệ Bộ Quốc phòng (DPS) hoạt động 24/24 giờ, chịu trách nhiệm hướng dẫnvà giải quyết các tình huống khẩn cấp như cung cấp dịch vụ y tế, cứu hỏa, tai nạn giao thông,chống tội phạm... trong tòa nhà. Các phương tiện, dịch vụ và các thông tin về cứu hỏa được lắpđặt ở các vị trí dễ nhận biết dọc các hành lang. Nhân viên cứu hỏa luôn ở trạng thái sẵn sàng.Thông tin về sơ tán khẩn cấp và bản đồ các hướng sơ tán đều có trong tất cả phòng làm việc tạitoà nhà. Kể từ năm 1943 đến nay Lầu Năm góc đã qua ba lần sửa sang lớn và xây dựng thêm. LầuNăm góc cũng là một điểm thu hút khách du lịch Mỹ cũng như nước ngoài. Chương trình du lịchLầu Năm góc được bắt đầu từ ngày 17-5-1976, hằng năm thu hút khoảng100.000 du khách. Năm1996, Lầu Năm góc đón vị khách thứ hai triệu. (Báo Nhân Dân). II. NHỮNG CUỘC CHIẾN MỸ ĐÃ THAM GIA Kể từ cuộc tổng tuyển cử năm 1789 đưa Gioóc-giơ Oa-sinh-tơn lên làm vị tổng thống đầutiên cho đến nay, Mỹ đã nhiều lần đem quân đi đánh ở nước ngoài, trong đó có 27 lần có quy môlớn.. Từ năm 1789 tới chiến tranh thế giới lần thứ hai 1945, Mỹ đã tiến hành 7 cuộc chiến tranhlớn sau đây: Khi bùng nổ cuộc chiến do Na-pô-lê-ông khởi xướng, một 1- Cuộc chiến Mỹ - Anh (năm 1812):tàu buôn Mỹ bị hải quân Anh đánh đắm, Mỹ đã gửi tàu chiến đến trả đũa. Sau đó, tàu Mỹ cũngđã đụng trận với tàu chiến của Na-pô-lê-ôn.
  • 155. Xung đột do tranh chấp biên giới. Các trận đánh nhau 2- Chiến tranh Mỹ – Mêxicô (1846 - 1848):dữ dội diễn ra tại vùng biên giới Mỹ - Mêxicô. Phần thắng nghiêng về phía Mỹ. Một vụ nổ bí mật xảy ra trên tàu chiến Mỹ đang neo 3- Chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha (1989):đậu tại cảng Havana. Cho Tây Ban Nha là kẻ chủ mưu, Mỹ đã đưa quân đến đánh. Vì muốn đòi nợ, Mỹ tiến quân chiếm đóng Ni-ca-ra-goa. Đến 4- Ni-ca-ra-goa (1912 - 1933):năm 1933, vì bị thế giới và nhân dân Ni-ca-ra-goa phản đối kịch liệt nên Mỹ đã rút quân. 5- Ha-i-ti (1915): Mỹ đưa quân đến Hai-i-ti để "dạy cho Hai i ti một bài học về dân chủ", sauđó ở lại suốt 19 năm. Từ 6 - 4 -1917, Mỹ thật sự tham gia chiến đấu với Đức. Có 6- Thế chiến I (1914 - 1918):khoảng 114.000 lính Mỹ thiệt mạng. 7- Thế chiến II (1939 - 1945): Mỹ tham chiến từ 8-12-1941 sau khi Nhật đánh Trân Châu cảng.300.000 lính Mỹ chết. Từ năm 1945 quân Mỹ đã tham chiến ở nhiều vùng trên thế giới, gồm ở Địa Trung Hải,Cận Đông, châu Phi, Á, Mỹ La tinh. Dưới đây là 20 chiến dịch lớn nhất của quân đội Mỹ sauchiến tranh thế giới thứ hai: 1- Triều Tiên (1950-1953): Dưới danh nghĩa Liên hợp quốc, Mỹ đưa quân đến giúp Nam TriềuTiên. 33.000 lính Mỹ chết. Suốt cuộc khủng hoảng, Mỹ đưa Hạm đội 6 với 2.500 2- Kênh đào Xuy-ê ở Ai Cập (1956):quân, liên minh với Pháp, Anh và Ixraen, cho đến khi bị tẩy chay về nước. 3- Lêbanon (1958): 3.200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đến chiếm Lêbanon với chiêu bài bảo vệngười Mỹ ở đây. Quân Mỹ âm mưu tiến vào vùng He-ron của Cu Ba nhằm lật đổ chủ tịch 4- Cu Ba (4-1961):Phi đen Cat-xtơ-rô nhưng đã thất bại. Chiến tranh Việt Nam. Đây là cuộc chiến tranh Mỹ sử dụng nhiều 5- Việt Nam (1965-1973):binh lính nhất từ sau Thế chiến thứ hai. Sau khi thất bại, phải rút quân về nước, Mỹ mất khoảng55.000 binh sĩ.
  • 156. 6- Cộng hoà Đô-mi-ni-ca (1965): 30.000 lính Mỹ đã chết tại Xan-to Đô-mi-gô. 7- Lào (1946-1973): Chiến dịch quân sự Mỹ chống lại Mặt trận Pa thét Lào ở Lào. Mỹ dùng trực thăng thả biệt kích xuống sứ quán Mỹ ở Tê- hê-ran để giải 8- Iran (1980):thoạt 52 con tin người Mỹ bị cầm giữ. Tổng hành dinh lính Mỹ ở Beirut bị đánh bom, 239 lính Mỹ thiệt mạng. 9- Lêbanon (1983):Từ Si-ri, Mỹ đổ quân qua để uy hiếp quân khủng bố. Sau khi phe cánh tả ám sát thủ tướng Grê-na-đa, Mỹ đưa 1.900 quân 10- Grê-na-đa (1983):đến. Phe cánh tả rút vào rừng. Mỹ dàn quân ở vùng biển Ca-ri-bê. Dưới chiêu bài chống khủng bố, sau cuộc cấm vận kinh tế, Mỹ tiến hành 11- Li-bi (4-1986):những hoạt động quân sự chống Li-bi, đánh bom Tri-pô-li và Ben-ga-di. Vì cho là tướng Antonio Noriega buôn lậu ma tuý vào Mỹ, Mỹ đã 12- Pa-na-ma (12-1989):đưa quân vào Pa na ma bắt Noriega đem về Mỹ xử. Từ tháng 8 năm 1990, Mỹ mở chiến dịch quân sự "Bão táp sa 13- Vùng Vịnh Pép-xích (1991):mạc" tiến đánh Irắc, đến đầu năm 1991 coi như chiến thắng. Mỹ tiến quân vào Somalia năm 1992. Đến năm 1994, khi đài CNN 14- Sô-ma-lia (1992 - 1994):quay và chiếu cảnh một lính Mỹ bị giết chết, bị trói rồi léo lê trên đường phố, vì dân chúng biểutình phản đối nên Mỹ phải rút quân khỏi Sô-ma-lia. Mỹ tấn công tên lửa vào bộ chỉ huy tình báo Irắc ở Bát-đa để đáp trả 15- Irắc: Ngày17-1-1993:cái gọi là kế hoạch ám sát Tổng thống Bu-sơ (cha) của Irắc. Dưới danh nghĩa Liên hợp quốc, Mỹ đổ quân vào Hai-i-ti giúp Tổng thống 16- Ha-i-ti (1994):Giên A-ri-stai nắm quyền. 17- Bô-xnia (1995): Để giúp hai phe Hồi giáo và Croat, máy bay Mỹ ném bom phe ngườiXéc-bia ở Bô-xnia.
  • 157. 18- Irắc (3-9-1996): Mỹ tấn công tên lửa có cánh vào Irắc sau khi quân Irắc tấn công ngườiQuốc ở bắc I rắc. Với danh nghĩa chống khủng bố (lúc đó Bin Lađen đang ở 19- Áp-ga-ni-xtan và Xu-đăng (1998):tại áp-ga-ni-xtan), Mỹ bắn hoả tiễn vào áp-ga-ni-xtan và Xu-đăng khiến nhiều người chết và bịthương. Quân Mỹ với NATO công khai giúp phe người gốc An-ba-ni ở Kô-sô-vô. 20- Nam tư (1999):Sau đó họ ném bom và bắn hoả tiễn tàn phá Nam Tư. (Tuổi trẻ 21-9. Theo Izvestia và Công an tp HCM, theo China Post) III. NHỮNG VỤ TẤN CÔNG LỚN VÀO MỸ Đánh bom vào toà Đại sứ quán Mỹ ở thủ đô Bây-rút (Li Băng) làm 63 1. Tháng 4 năm 1983:người thiệt mạng, trong đó có 17 quân nhân Mỹ. 2. Tháng 10 năm 1983: Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Li Băng bị đánh bom làm 241 quân Mỹ và58 người khác bị thiệt mạng. Đánh bom vào một căn cứ quân sự Mỹ tại Rê-an Ma-đrít (Tây Ban 3. Tháng 4 năm 1985:Nha) làm 18 người chết và 82 người bị thương. 4. Tháng 6 năm 1985: Một máy bay của hãng hàng không TWA bị bắt cóc ở Bây rút và khủngbố bắn chết 6 người Mỹ trong một quán cà phê ở Xan Xan-va-đo (En Xan-va-đo). Đánh bom vào căn cứ quân sự Mỹ tại Phrăng phuốc (Đức) làm 2 người 5. Tháng 8 năm 1985:thiệt mạng và 20 người bị thương. Không tặc tấn công những hành khách là người Mỹ trên máy bay của 6. Tháng 11 năm 1985:hãng Hàng không Ai Cập (Egyptair) làm 60 người chết. 7. Tháng 12 năm 1985: Văn phòng hàng không của Mỹ và Ixraen bị tấn công cùng lúc ởRôma (I ta ly a) và Viên (áo) làm chết 20 người. 8. Tháng 4 năm 1986: Một nhà hàng ở Béc-lin (Đức) bị tấn công làm 1 lĩnh Mỹ chết, 44 línhMỹ bị thương.
  • 158. 9. Tháng 12 năm 1988 : Chiếc máy bay hành khách cỡ lớn Bô-ing 747 của Mỹ bị đánh bomtrên bầu trời Lốc-cơ-bi (Xcốt-len) làm 259 người thiệt mạng. 10. Tháng 2 năm 1993: Toà nhà Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) cao 110 tầng ở Niu-Yoóc lần đầu tiên bị đánh bom làm 6 người chết và hơn 1.000 người bị thương. Toà nhà Liên bang ở Ô-cla-hô-a (Mỹ) bị một xe tải thuốc nổ đánh vào 11. Tháng 4 năm 1995:khiến 168 người thiệt mạng, hàng trăm người khác bị trọng thương. Đánh bom căn cứ quân sự Mỹ ở Khô-rơ-ba (Arập Xê-út) làm 19 lính 12. Tháng 7 năm 1996:Mỹ chết và 400 người bị thương. Một buổi hoà nhạc ngoài trời tại Thế vận hội Ôlympíc át-lan-ta (Mỹ) 13. Tháng 7 năm 1996:làm 2 người chết và 110 người bị thương. 14, Tháng 6 năm 1998: Toà Đại sứ Mỹ tại Bây rút (Lêbanon) bị tấn công bằng hoả tiễn. 2 toà Đại sứ quán Mỹ ở Kê-nia và Tan-da-nia đồng loạt bị đánh bom 15. Tháng 8 năm 1998:làm hơn 260 người chết và hơn 5.000 người bị thương. Một vụ nổ xảy ra phía sau toà nhà 40 tầng của ngân hàng Ba-clay 16. Tháng 2 năm 2000:ngay góc phố Uôn, Niu-Yoóc. 17. Tháng 10 năm 2000: Tầu tuần dương USS Col của Hải quân Mỹ đang đậu trong cảng A-đen tại Y-ê-men bị đánh bom làm 17 lính Mỹ thiệt mạng, tàu hỏng nặng. Theo Hương Giang và V.P.L IV. DƯ LUẬN XUNG QUANH SỰ KIỆN 11 THÁNG 9 1. Hai bài viết của nhà văn nữ Ấn Độ Arundhati Roy Nhà văn nữ Ấn Độ A-run-ha-ti Roi, tác giả cuốn "Chúa trời của những điều vụn vặt" -gần đây lại trở nên nổi tiếng hơn nữa với hai bài bình luận về cuộc chiến của Mỹ tại Áp-ga-ni-xtan. Hai bài bình luận này đang trở nên nổi tiếng khắp thế giới và được in trên trang nhất củanhiều tờ báo lớn các nước phương Tây, được truyền tay rộng rãi ở Anh và Mỹ, gây tranh cãi gaygắt ngay trong lòng các nước này.
  • 159. Sinh năm 1961 ở Ben-gát, năm 1997, A-run-ha-ti Roi là người phụ nữ Ấn độ đầu tiên đoạtgiải văn học Anh Búc-cơ Mc Con-neol với tác phẩm Thượng đế của những điều vụn vặt . Ở tuổi ngoại30, chị còn được tạp chí People bầu là một trong 50 người đẹp nhất thế giới năm 1998. Văn nghệ Trẻ đã đặt đầu đề và đăng hai bài viết nói trên trên hai số báo. Chúng tôi xinđăng lại cả hai bài viết trong cuốn sách này để bạn đọc tham khảo. BÀI THỨ NHẤT: NHỮNG CÂU HỎI DÀNH CHO NƯỚC MỸ Cần bao nhiêu người Irắc chết để thế giới tốt đẹp hơn ? bao nhiêu mạng người Áp-ga-ni-xtan trả cho một mạng người Mỹ? Bao nhiêu mạng phụ nữ và trẻ em cho một mạng đàn ông ?Bao nhiêu người Mu-gia-hi-đen chết để bù cho một mạng nhà đầu tư ngân hàng? Thế là chúng ta đang có đây. Sự phân biệt lập lờ giữa văn minh và man rợ, giữa "tàn sátnhững người vô tội", như bạn muốn, sự va chạm của các nền văn minh" và "sự đền bù thiệt hại".Và đây là tính nguỵ biện và đỏng đảnh của Công lý không biên giới. Sau vụ tấn công cảm tử vào Lầu Năm góc và Trung tâm Thương mại Thế giới, một phátthanh viên Mỹ nói "Thiện và ác chưa bao giờ lộ rõ mình như thế. Những người chúng ta khôngbiết, tàn sát những người chúng ta biết với sự hân hoan đáng khinh bỉ", anh khuỵu xuống vàkhóc. Và đây là sự đỏng đảnh: nước Mỹ đang gây chiến với những người họ không biết (bởi vìhọ không xuất hiện nhiều trên TV). Trước khi thực sự biết rõ danh tính hay hiểu bản chất của kẻthù, chính phủ Mỹ đã vội vàng lập một "Liên minh quốc tế chống khủng bố", huy động sức mạnhcủa hải quân, không quân, báo chí và buộc chặt cam kết với chiến tranh. Vấn đề là khi nước Mỹ đã bắt đầu trận chiến, họ có thể phải quay về tay không. Nếukhông tìm thấy kẻ thù, thì họ sẽ phải tự tạo ra. Một khi chiến tranh bắt đầu, nó sẽ tự đưa ra độnglực, chính nghĩa và logic của riêng nó. Chúng ta sẽ quên mất lý do ban đầu của chiến tranh. Nước Mỹ đang đánh lại ai ? vào ngày 20 tháng 9, khi FBI nói họ bắt đầu có nghi ngờ vềdanh tính một số tên không tặc thì Tổng thống Busơ nói: "Chúng tôi biết rõ những kẻ này là ai vàchính phủ nào ủng hộ chúng". Cứ như thể Tổng thống Mỹ biết những điều mà FBI và côngchúng Mỹ không biết vậy.
  • 160. Tại sao có ngày 11-9? Trong bài diễn văn trước Quốc hội ngày 20 tháng 9, Tổng thống Busơ nói. " Người Mỹhỏi tôi tại sao chúng căm thù chúng ta? Chúng căm thù nền tự do, tự do tín ngưỡng, tự do báochí, tự do bầu cử, tự do đồng ý và không đồng ý với nhau". Về chiến lược quân sự và kinh tế, sẽlà rất quan trọng cho chính phủ Mỹ để thuyết phục công chúng Mỹ rằng chính tư tưởng tự do,dân chủ và lối sống Mỹ đang bị tấn công. Trong nỗi đau đớn và giận dữ, quan điểm này dễ đượcchấp nhận. Nhưng nếu đúng như thế, thì tại sao hai biểu tượng quyền lực kinh tế và quân sự Mỹ lại bịtấn công. Tại sao không phải là tượng nữ thần Tự Do? Có lẽ nên đặt giả thuyết rằng chiếc rễ cáicủa vụ tấn công không phải là nền tự do và dân chủ Mỹ, mà là những thành tích của chính phủMỹ trong việc hỗ trợ những điều hoàn toàn ngược lại - khủng bố quân sự và kinh tế, nổi loạn,độc tài quân sự, tôn giáo mù quáng và diệt chủng bên ngoài nước Mỹ. Thật đau khổ cho người dân Mỹ bình thường khi họ ngước nhìn thế giới với đôi mắt đầylệ và bắt gặp điều họ cho là sự băng giá đến không thể hiểu nổi của lòng người. Thực ra đó là sựtất yếu đã có điềm báo trước. Điều gì đến sẽ phải đến. Người Mỹ nên hiểu rằng không phải họ,mà là chính sách của chính phủ họ, bị thù ghét đến thế. Họ không nên nghi ngờ rằng các nhạc sĩtài ba, các nhà văn, diễn viên, vận động viên và điện ảnh của họ được cả thế giới đón chào. Tấtcả chúng ta đều xúc động trước sự dũng cảm của những người lính cứu hoả, cứu hộ và nhữngngười tiếp tục đi làm sau vụ tấn công. Nỗi đau của người Mỹ thật lớn lao. Và sẽ là nực cười nếu cố đo đếm nó. Nhưng thật tiếclà thay vì biến nỗi đau này thành cơ hội để cố hiểu tại sao lại có ngày 11 tháng 9, thì Mỹ lại dùngnó thành cớ để chiếm đoạt sự thương xót của toàn thế giới và tự trả thù. Vì thế nếu chúng ta đặtcác câu hỏi hóc búa và nói những điều khó nghe với họ, chúng ta sẽ bị ghét, bị bỏ lơ và sau cùnglà sự câm lặng. Ai đã tạo ra Bin Lađen? Ai đó nói rằng Bin Lađen không tồn tại. Nước Mỹ hẳn đã bịa ra ông ta. Dù sao thì chínhnước Mỹ đã tạo ra Bin Lađen. Ông ta là một trong những người Jihad rời đến Áp-ga-ni-xtan năm1979 khi CIA bắt đầu hoạt động. Ô-xa-ma Bin Lađen được CIA tạo ra và bị FBI săn đuổi. Chỉtrong hai tuần, ông ta từ một kẻ bị tình nghi, thành tình nghi số một, rồi dù thiếu chứng cứ, vẫnbị tuyên bố săn lùng dù chết hay sống.
  • 161. Nhiều người Mỹ vẫn lờ mờ không biết Áp-ga-ni-xtan ở đâu trên bản đồ thế giới. Nhưngchính phủ Mỹ và Áp-ga-ni-xtan là chỗ bạn bè cũ. Năm 1979, sau khi Liên xô tiến quân vào Áp-ga-ni-xtan, CIA và tình báo Pa-kít-xtan tiến hành chiến dịch lật đổ lớn nhất trong lịch sử CIA.Nhằm tạo một cuộc thánh chiến trong các nước Hồi giáo thuộc Liên Xô cũ chống lại chế độ cộngsản, CIA tài trợ và tuyển dụng hơn 1 triệu người Hồi giáo Mu-gia-hi-đen từ 40 nước Hồi giáothành lính chiến. Thật nực cười là nước Mỹ không hề nhận ra họ đang cung cấp tài chính chocuộc chiến tranh chống lại chính họ trong tương lai. Năm 1989, quân Liên Xô rút khỏi cuộc chiến đẫm máu. Nội chiến vẫn tiếp tục, lan tới tậnTrét-xnhia, Kô-sô-vô và Cát-xmia. CIA vẫn tiếp tục đổ tiền và vũ khí vào, nhưng không đủ. LínhMujahideenn ra lệnh cho nông dân trồng thuốc phiện như một loại ‘‘thuế cách mạng". Tình báoPa-kít-xtan lập hàng trăm phòng chế biến Hêrôin khắp Áp-ga-ni-xtan. Sau 2 năm CIA đến, biêngiới Pa-kít-xtan, Áp-ga-ni-xtan biến thành nơi sản xuất ma tuý lớn nhất thế giới và là nơi cungcấp lớn nhất cho những đường phố Mỹ. Lợi nhuận hàng năm là 100 và 200 tỉ đô la, được đưa trởlại nuôi dưỡng quân đội. Năm 1995, quân cực đoan Ta-li-ban lên nắm quyền. Chính quyền này được nhiều đảngphái của Pa-kít-xtan ủng hộ. Nạn nhân đầu tiên là dân chúng, đặc biệt là phụ nữ. Đóng cửa cáctrường nữ sinh, sa thải phụ nữ khỏi các vị trí trong chính phủ, thực hiện luật Sharia cho phépném đá đến chết những phụ nữ "thiếu đạo đức" và chôn sống phụ nữ goá ngoại tình. Điều gì mỉa mai hơn khi Mỹ và Nga lại bắt tay nhau tàn phá lại Áp-ga-ni-xtan ? Liệu cóthể tàn phá được đống đổ nát ? Ném thêm bom vào Áp-ga-ni-xtan chỉ làm rung động những ngôimộ cũ và làm phiền những xác chết. Vậy Bin Lađen là ai ? hay để tôi sửa lại, Bin Lađen là gì ? Ông ta là bí mật của gia đìnhMỹ, bóng ma của tổng thống Mỹ, người em sinh đôi man rợ của những điều dự định là đẹp đẽ vàvăn minh. Ông ta được tạo ra từ chiếc xương sườn của một thế giới thải ra từ chính sách ngoạigiao Mỹ: nền ngoại giao tàu chiến, kho vũ khí hạt nhân, sự coi thường sinh mạng không phải làngười Mỹ, sự can thiệp quân sự tàn bạo, sự ủng hộ những chế độ độc tài diệt chủng, lịch trìnhkinh tế nhai nuốt không thương tiếc nền kinh tế của các nước nghèo như những đám mây châuchấu, những công ty xuyên quốc gia cướp bóc không khí chúng ta thở, đất chúng ta đứng, nướcchúng ta uống và những ý tưởng chúng ta nghĩ. Bây giờ gia đình này đã chia rẽ. Tên lửa Stin-gơ đang chào đón máy bay Mỹ là của CIAcung cấp, hê-rô-in người Mỹ dùng là từ Áp-ga-ni-xtan, chính quyền Mỹ gần đây còn cho Áp-ga-ni-xtan một khoản 43 triệu đô la giúp "chống ma tuý". Bây giờ hai bên còn mượn từ ngữ của
  • 162. nhau nữa. Cả hai đều tả nhau là "đầu của con rắn". Cả hai đều viện đến Chúa,Thiện và ác. Cả haiđều trang bị vũ khí nguy hiểm. Một có kho vũ khí hạt nhân tối thượng, một có sức mạnh hủy diệtcủa sự tuyệt vọng. Như quả cầu lửa và mũi tên băng. Điều duy nhất chắc chắn là không có bất cứmột sự nhún nhường nào từ hai phía. Mạng sống của người dân - Thứ duy nhất được đem ra đặt cược Năm 1996, một đài truyền hình quốc gia Mỹ hỏi ngoại trưởng Me-đơ-lin Ôn-brai có cảmgiác gì về việc 5 triệu trẻ em Irắc chết vì lệnh cấm vận của Mỹ. Bà trả lời: "Đó là một lựa chọnkhó khăn" nhưng tất cả đã được đưa lên bàn cân. "Chúng tôi nghĩ cái giá phải trả là xứng đáng".Bà Ôn-brai chẳng bao giờ mất việc vì nói như thế. Bà tiếp tục đi du ngoạn khắp thế giới, tuyêntruyền quan điểm và khát vọng của Chính phủ Mỹ. Và lệnh cấm vận Irắc vẫn có hiệu lực. Trẻ emtiếp tục chết. Như chúng ta xem mải mê trên TV, những sức mạnh lớn nhất trên thế giới hợp lực chốnglại một trong những đất nước nghèo nhất, lạc hậu nhất, bị chiến tranh tàn phá nhất. Áp-ga-ni-xtan, nơi chứa chấp Ô-xa-ma Bin Lađen, kẻ bị coi chịu trách nhiệm trong vụ khủng bố 11 tháng9. Thứ duy nhất ở Áp-ga-ni-xtan có thể coi là giá trị đặt cược là mạng sống người dân (cónửa triệu trẻ mồ côi tàn tật). Nền kinh tế Áp-ga-ni-xtan cực kỳ bi bét. Một khó khăn cho quân tấncông là hầu như chẳng có chỗ nào có thể đánh dấu trên bản đồ - không thành phố lớn, đường caotốc, không nhà máy- nông trại thành mồ chôn tập thể, hơn 10 triệu trái mìn chôn dưới đất thônquê. Quân Mỹ phải phá mìn và xây đường mới đưa được quân vào. Hơn 1 triệu người đã rời bỏ nhà cửa đến biên giới Pa-kít-xtan. Đài BBC nói một trongnhững bi kịch nhân đạo lớn nhất thời nay đã bắt đầu. Hãy nhìn công lý của thời nay. Nhữngngười dân thường chết đói, trong lúc chờ bị giết. Giết dân thường Áp-ga-ni-xtan, Mỹ chỉ giúpquân Ta-li-ban có thêm động lực. Ở Mỹ, người ta nói đến chuyện ném bom để biến Áp-ga-ni-xtan trở về thời đồ đá. Ai đócòn hoan hỉ đưa tin rằng Áp-ga-ni-xtan đã đang ở thời đó rồi, nước Mỹ chỉ giúp thêm một chútmà thôi. Xoá sổ khủng bố bằng bạo lực và áp bức?
  • 163. Chiến dịch Công lý không biên giới khoác vẻ ngoài là bảo vệ lối sống Mỹ. Nó có thể phásản hoàn toàn và đẻ thêm lòng căm thù và khủng bố trên khắp thế giới. Đối với người Mỹ bìnhthường, điều này có nghĩa là sống trong một thế giới lo lắng phát sợ. Con tôi có an toàn ở trườngkhông? Có hơi cay trong đường tàu điện ngầm? Một quả bom trong rạp phim? Người yêu của tôicó trở về tối nay? CNN liên tục cảnh báo về nguy cơ chiến tranh sinh học - đậu mùa, bệnhthan… bị hạ gục ít một có khi còn tệ hơn bị huỷ diệt cùng lúc vì bom nguyên tử. Thật nực cười khi chính phủ Mỹ đùa chơi rằng có thể xoá sổ khủng bố bằng bạo lực và ápbức. Khủng bố là triệu chứng, không phải căn bệnh. Khủng bố không có đất nước. Nó xuyênquốc gia, toàn cầu hoá như Coca Cola hay Nike vậy. Khi có vấn đề, khủng bố có thể rút cổ phầnvà dời nhà máy từ nước này sang nước khác. Khủng bố là hiện tượng không bao giờ mất. Nếu nóbị chặn lại, bước đầu cũng để nhắc nhở nước Mỹ ít nhất cũng nên nhận ra rằng họ chia xẻ hànhtinh với những nước khác, những con người khác, dù không xuất hiện trên TV, nhưng cũng cótình yêu và đau khổ, có những câu chuyện và bài hát, nỗi buồn và quyền sống riêng của họ. Thếmà khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Đô-nan Răm-sơ-phoeo được hỏi như thế nào là chiến thắngtrong cuộc chiến mới này, ông nói đó là khi người Mỹ được tiếp tục lối sống của họ. Vụ tấn công ngày 11 tháng 9 là thông điệp kỳ quái từ một thế giới đi sai đường khủngkhiếp. Nó có thể được Bin Lađen viết (ai mà biết được) và lính của ông ta thực hiện, nhưng cũngcó thể được những bóng ma của các cuộc chiến tranh cũ ký cùng. Hàng triệu người chết ở Triều tiên, Việt Nam và Cămpuchia. 17.500 người bị giết khiIxraen, được sự ủng hộ của Mỹ, tấn công Liban năm 1982. Hai triệu người Irắc bị giết trongchiến dịch Bão táp sa mạc, hàng nghìn người Pa-lét-xtin chết vì chống lại sự chiếm đóng củaIxraen ở dải Gaza, và hàng triệu người nữa, ở Nam Tư, Xô-ma-li, Hai-i-ti, Chilê, Ni-ca-ra-goa,En Xan-va-đo, cộng hoà Đô-mi-ni-ca, Pa-na-ma, dưới bàn tay của những kẻ khủng bố, độc tài vàdiệt chủng được Mỹ ủng hộ, đào tạo và cung cấp vũ khí. Danh sách này còn lâu mới là cuốicùng. Đối với một đất nước tham gia vào quá nhiều chiến tranh như thế, nước Mỹ quả là maymắn. Cuộc tấn công ngày 11 tháng 9 chỉ là lần thứ hai trên đất Mỹ trong 1 thế kỷ qua. Trận đầulà Trân châu cảng, với sự trả đũa kéo dài và kết thúc bằng Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki. Lần nàycả thế giới lại nín thở chờ đợi những thảm hoạ tiếp diễn. Trần Lệ Thuỳ lược dịch BÀI THỨ HAI: GÂY CHIẾN TRANH CÓ PHẢI LÀ CÁCH TỐT NHẤT
  • 164. Không gì bào chữa được cho một hành động khủng bố Khi bóng đêm thẫm xuống Áp-ga-ni-xtan chủ nhật ngày 7 tháng 10, chính phủ Mỹ đượchậu thuẫn của Liên minh quốc tế chống khủng bố (một tổ chức mới, chịu trách nhiệm đại diệnthay Liên hợp quốc) mở màn cuộc tấn công trên không vào Áp-ga-ni-xtan. Các kênh truyền hìnhnhấp nháy những hình ảnh vi tính hóa của tên lửa, bom, tômahốc và tên lửa phá boongke. Khắpthế giới, những con người bé nhỏ xem lồi cả mắt và ngừng kêu la đòi trò chơi điện tử mới. Liênhợp quốc, bây giờ giảm xuống thành hai chữ viết tắt bất lực, thậm chí còn chẳng được đề nghịđứng tên cho cuộc chiến này. (Như nguyên Ngoại trưởng Mỹ Ma-đơ-lin Ôn-brai một lần đã nói "Chúng ta sẽ hành độngđa phương khi có thể, và đơn phương khi cần thiết"). "Chứng cớ" để buộc tội những kẻ khủng bốđược chia xẻ giữa những người bạn trong liên minh. Sau khi bàn bạc, họ tuyên bố rằng đưachứng cớ này ra một tòa án hay không không quan trọng. Thế là luật pháp được xây dựng baothế kỷ nay bị ném vào sọt rác. Không có gì giải thích được cho một hành động khủng bố, dù nó do những nhóm tínngưỡng, quân đội, kháng chiến nhân dân hay thậm chí được khoác áo trả thù bởi một chính phủđược thừa nhận. Hành động ném bom Áp-ga-ni-xtan không phải trả thù cho Niu-Yoóc và Oa-sinh-tơn. Đó là một hành động khủng bố khác. Mỗi người vô tội bị giết sẽ là con số thêm vào, chứ không phải giảm đi, con số nạn nhânkinh khủng của Niu-Yoóc và Oa-sinh-tơn. Cả hai bên, Mỹ và Áp-ga-ni-xtan, dân thường đều là con tin của hành động của chính phủhọ. Cả hai bên đều chia xẻ một mối ràng buộc - họ phải sống trong một hiện tượng khủng bố mùquáng, không dự đoán trước được. Mỗi chùm bom ném xuống Áp-ga-ni-xtan được trả lời bằngnỗi hoảng sợ ngày càng tăng ở Mỹ về bệnh than, không tặc và hành động khủng bố. Không có đường thoát dễ dàng khỏi bãi lầy khủng bố hiện nay. Đây là lúc để nhân loạixích lại gần nhau, đào bới lại những sự thông thái xưa và nay. Điều xảy ra vào ngày 11 tháng 9thay đổi thế giới vĩnh viễn. Những từ "tự do", "phát triển", "thịnh vượng", "công nghệ", "chiếntranh" mang nghĩa mới. Khi tuyên bố tấn công, Tổng thống Gioóc-giơ Busơ nói "Chúng ta là một nước yêu hòabình". Vị đại sứ yêu thích của nước Mỹ Tôn-ny Ble, (đồng thời kiêm chức Thủ tướng Anh) họatheo "Chúng ta là những người yêu hòa bình".
  • 165. Phát biểu ở đại bản doanh FBI vài ngày sau, Tổng thống Busơ nói "Đây là lời kêu gọi củaHợp chủng quốc Hoa Kỳ. Đất nước tự do nhất thế giới. Một đất nước xây dựng trên những giá trịcơ bản là loại bỏ căm thù, bạo lực, giết người và tội ác. Chúng ta sẽ không bao giờ mệt mỏi làmnhững điều đó". Đây là danh sách các nước mà Mỹ đã tham chiến và ném bom từ thế chiến hai: TrungQuốc (1945 - 46, 1950 - 53), Triều Tiên (1950 - 53), Goan-tê-ma-la (1954, 1967 - 69), In-đô-nê-sia (1958), Cu Ba (1959 - 60), Công-gô (1964), Pêru (1965), Lào (1964 - 73), Việt Nam (1961 -73), Cămpuchia (1969 - 70), Grê-na-da (1983), Libi (1986), En- Xan-va-đo (1980s), Nicaragoa(1980s), Panama (1989), Irắc (1991 - 99), Bô-xnia (1995), Xu-đăng (1998), Nam Tư (1999). Vàbây giờ, Áp-ga-ni-xtan. Tất nhiên là nước Mỹ "không mệt mỏi". Nghiền một đống đổ nát thành bụi Liên minh quốc tế chống khủng bố là phe của những nước giàu nhất thế giới. Họ sản xuấtvà bán phần lớn vũ khí, nắm giữ phần lớn nhất các kho vũ khí hủy diệt - hóa học, sinh học và hạtnhân. Họ tham chiến phần lớn các cuộc chiến tranh, chịu trách nhiệm về phần lớn các tội ác diệtchủng, phân biệt chủng tộc và vi phạm nhân quyền trong lịch sử hiện đại. Họ ủng hộ, trang bị vũkhí và tài chính cho vô số kẻ độc tài và bạo chúa. Với tất cả những tội ác kinh khủng đó của họ,quân Ta-li-ban chỉ khác họ ở chỗ không nằm cùng trong liên minh thôi. Quân Ta-li-ban được kết thành trên hoang tàn đổ nát, heroin và mìn trong cơn xoáy chiếntranh lạnh. Những lãnh đạo cao tuổi nhất mới hơn 40. Nhiều người trong số họ bị tàn tật, mấtmột mắt, một tay hay chân. Họ lớn lên trong một xã hội bị chiến tranh làm kinh hoàng và hủydiệt. Thanh niên trai tráng nhiều người là trẻ mồ côi dùng súng thay đồ chơi, không bao giờ biếtmùi an toàn và ấm áp của gia đình, không bao giờ biết về sự chăm sóc của một người phụ nữ.Bây giờ họ là người lớn và kẻ thống trị, quân Ta-li-ban đánh đập, ném đá và hành hạ phụ nữ. Họdường như không biết có thể mang đến cho phụ nữ những điều gì khác nữa. Những năm tháng chiến tranh đã lột bỏ sự dịu dàng và lòng trắc ẩn con người của họ. Bâygiờ họ quay tính cách quỹ dữ lại chính dân chúng của mình.
  • 166. Với tất cả lòng kính trọng Tổng thống Busơ , nhân loại không phải chọn lựa giữa quân Ta-li-ban và chính phủ Mỹ. Tất cả những gì đẹp đẽ của văn minh nhân loại - hội họa, âm nhạc vàvăn học của chúng ta - đều nằm cách xa hai cực tư tưởng chính thống này. Vấn đề không phải làThiện và Ác, Hồi giáo hay Thiên chúa giáo mà là làm thế nào để bảo tồn sự đa dạng, ngăn sựtiến tới bá chủ, cả về kinh tế, quân sự, ngôn ngữ, tín ngưỡng và văn hóa. Một triệu rưởi người Áp-ga-ni-xtan mất mạng trong 20 năm qua. Áp-ga-ni-xtan đã biếnthành đống đổ nát, và bây giờ được nghiền thêm thành bụi. Vào ngày thứ hai của cuộc tấn côngkhông quân, phi công Mỹ quay về căn cứ mà không ném hết lượng bom đã định vì "Áp-ga-ni-xtan không phải là nơi có nhiều mục tiêu". Trong một cuộc họp báo ở Lầu Năm góc, Bộ trưởngquốc phòng Mỹ Đô-nan Răm-sơ-phoeo, trả lời khi được hỏi có phải quân Mỹ đã hết mục tiêu tấncông hay không "Thứ nhất là chúng tôi sẽ tấn công lại các mục tiêu. Thứ hai là chúng tôi khônghết mục tiêu, Áp-ga-ni-xtan là..." cả phòng họp báo cười ồ. Trên mặt đất, quân Liên minh Phương Bắc, kẻ thù cũ của Ta-li-ban, và bạn mới của liênminh chống khủng bố - đang tiến dần về Ka-bun. (Thành tích của Liên minh Phương Bắc cũngchẳng khác gì Ta-li-ban. Nhưng bây giờ vì bất tiện nên những chi tiết nhỏ nhặt ấy đã bị bưngbít). Vị lãnh đạo ôn hòa, phải chăng của liên minh, A-nét Xát Ma-xút, đã bị ám sát đầu tháng 9.Phần còn lại của liên minh là một nhóm tạp nham những chiến binh độc ác và thầy tu, một vàingười đã từng nắm quyền ở Áp-ga-ni-xtan. Trước khi Mỹ tấn công, quân Liên minh Phương Bắc kiểm soát khoảng 5% lãnh thổ Áp-ga-ni-xtan. Bây giờ, lực lượng này đang làm lung lay vị trí của Ta-li-ban. Lính Ta-li-ban cảmthấy sắp bị thua, bắt đầu bỏ chạy sang Liên minh. Thế là hai lực lượng bận rộn thay đổi chỗ vàthay quân phục. Nhưng với một quân đội bất cần đạo lý như thế thì chẳng có gì là quan trọng. Các thế lực hùng mạnh trên thế giới bắt đầu bàn về việc đặt ra một "chính phủ đại diện".Hay đúng hơn là lập lại ngôi cho vị cựu vương Áp-ga-ni-xtan 89 tuổi Xa-híp Xát, người sống lưuvong ở Italia từ năm 1973. Trò chơi tiếp diễn ủng hộ Sát-đam Hút-Xen, sau đó phế truất ông ta,hỗ trợ tài chính cho lính Mojahedin, sau đó ném bom họ như thợ rèn quai búa, đặt Gia-hi Xát lênngôi xem có thành kẻ tốt hay không (Có thể đặt ra một chính phủ đại diện không? liệu người tacó thể gọi món dân chủ - như thêm pho mát và hạt tiêu?). Các bản báo cáo bắt đầu rò rỉ thông tin về số lượng dân thường bị chết, về các thành phốbỏ hoang vì người Áp-ga-ni-xtan bỏ chạy đến các biên giới đã đóng cửa. Những con đường
  • 167. huyết mạnh bị phá hủy. Những người từng làm việc ở Áp-ga-ni-xtan nói rằng đầu tháng 11 này,những nhóm cứu trợ thực phẩm sẽ không thể tiếp cận được hàng triệu người Áp-ga-ni-xtan, Liênhợp quốc nói là 7,5 triệu người sẽ bị chết đói trong mùa đông. Họ nói những ngày trước mùađông, chỉ có thể hoặc là chiến tranh, hoặc cố gắng đưa thức ăn cho người đói. Không thể có cảhai cùng lúc. Bom và bơ Làm một cử chỉ ủng hộ nhân đạo, chính phủ Mỹ thả từ trên không 37.000 gói thức ăn cấpcứu xuống Áp-ga-ni-xtan. Họ dự kiến thả 500.000 gói. Nó chỉ là một bữa ăn cho một nửa triệungười trên bảy triệu người đang cần thức ăn khủng khiếp. Các nhân viên cứu trợ chỉ trích rằng đây là một hành động độc ác, nguy hiểm, mang tínhtuyên truyền vì ném thức ăn từ trên không xuống còn tệ hơn cả sự vô ích. Đầu tiên vì thức ăn chẳng bao giờ đến tay những người thực sự cần. Nguy hiểm hơn,những người chạy đến nhặt có nguy cơ bị mìn nổ tung. Một sự bố thí đầy bi kịch. Theo đúng quy định về ăn chay của người Hồi giáo, mỗi gói thức ăn màu vàng, có trangtrí cờ Mỹ, chứa cơm, bơ lạc, salát đậu, mứt dâu, nho, bánh mì, một bộ đồ ăn nhựa và hướng dẫnsử dụng. Thật là một sự lạc lõng văn hóa, một sai lầm cơ bản khi không hiểu ba năm chịu hạn hánliên tục và những tháng năm dài bị đói gay gắt có nghĩa như thế nào. Chính phủ Mỹ còn định sửdụng cảnh khổ cực hèn hạ này để tâng hình ảnh của mình lên nữa. Thử quay ngược cảnh này lại. Hãy tưởng tượng chính phủ Ta-li-ban ném bom thành phốNiu-Yoóc, luôn mồm nói rằng mục tiêu thực sự là chính phủ Mỹ và chính sách của họ. Thế làgiữa các cuộc ném bom, quân Ta-li-ban ném xuống một vài nghìn gói chứa thịt đà điểu Mỹ vàthịt nướng cuốn trong cờ Áp-ga-ni-xtan. Những người Niu-Yoóc có lương tâm có bao giờ tha thứcho chính phủ Áp-ga-ni-xtan? Thậm chí nếu như họ đói, họ cần thức ăn đó, họ ăn nó, thì có baogiờ họ quên được sự sỉ nhục, sự hạ cố đó? Ru-đi Gui-li-a-ni, Thị trưởng Niu-Yoóc, đã trả lại mónquà 10 triệu đô la của một hoàng tử Ảrập vì nó kèm theo vài lời khuyên thân thiện về chính sáchcủa Mỹ với Trung Đông. Chẳng lẽ lòng tự hào là thứ xa xỉ chỉ những người giàu mới có? Chiến tranh và dầu lửa
  • 168. Có một nhánh nữa trong truyền thống kinh doanh của gia đình này - Dầu lửa. Nên nhớrằng tổng thống Busơ con và phó tổng thống Đích Chen-ny đều giàu to nhờ ngành dầu lửa Mỹ, Tổng thống Busơ gần đây khoe rằng “Khi tôi hành động, tôi không bắn một tên lửa giá 2triệu đô la vào một cái trại rỗng giá 10 đô hay đâm vào đít một con lạc đà. Nó phải rất đúngchỗ”. Nhưng ông Busơ nên biết rằng chẳng có mục tiêu nào ở Áp-ga-ni-xtan đủ giá trị tiền bạccủa các quả tên lửa của ông ta. Có thể, để cân bằng tài chính, Tổng thống Busơ nên sản xuất tên lửa rẻ hơn cho các mụctiêu rẻ hơn và sinh mạng rẻ hơn ở các nước ngoài. Nhưng như thế lại không có lợi cho các nhàsản xuất vũ khí của liên minh chống khủng bố. Chẳng có lợi chút nào cho tập đoàn Cali - tậpđoàn cổ phần tư nhân lớn nhất thế giới với tài sản 13 tỉ đô la. Caly đầu tư trong lĩnh vực quốc phòng và kiếm tiền từ những vụ đụng độ quân sự và tiêuhao vũ khí. Caly được quản lý bởi những bàn tay không chê vào đâu được. Cựu Bộ trưởng Bộ quốcphòng Mỹ Phờ-ranh Ka-lu-s là chủ tịch và giám đốc điều hành. Ông còn là bạn cùng phòng thờisinh viên của Đô-nan Răm-sơ-phoeo. Những đối tác khác của Caly là cựu Bộ trưởng ngoại giaoJêm A Bây-cơ III, tỉ phú Gioóc-giơ So-rớt và Phờ-rét Ma-lếch (trưởng ban vận động bầu cử củaBusơ bố). Một tờ báo Mỹ còn nói Busơ bố từng tìm kiếm đầu tư cho tập đoàn Caly ở thị trườngChâu Á. Ông ta đã được trả những khoản tiền không đếm được để giới thiệu những bạn hàng tiềmnăng của chính phủ. A ha, câu nói chán nhất lại là câu đúng nhất - tất cả cùng một gia đình. Tuốc-mê-ni-xtan, có biên giới phía Tây Bắc Áp-ga-ni-xtan, có trữ lượng dầu lửa thứ batrên thế giới. Ước khoảng 6 tỉ thùng, đủ dùng cho nhu cầu năng lượng của Mỹ 30 năm hoặc vàithế kỷ cho một nước đang phát triển. Mỹ luôn xem nguồn dầu lửa là vấn đề an ninh và bảo vệbằng mọi giá. Ít ai nghi ngờ rằng sự có mặt quân sự của Mỹ ở Vùng Vịnh liên quan nhiều đếnvấn đề nhân quyền mà hoàn toàn vì mối quan tâm dầu lửa chiến lược. Dầu và gas từ vùng vịnh Cát-sơ-pia hiện đang chảy theo hướng bắc về phía thị trườngChâu Âu. Xét về góc độ địa lý và chính trị, Iran và Nga là hai trở ngại cho mối lợi của Mỹ. Năm1998, Đích Chen-ny, lúc đó là giám đốc điều hành tập đoàn chính trong ngành dầu lửa Ha-li-bút-tơn, nói “tôi không thể đoán trước được có lúc một khu vực lại bất ngờ nổi lên quan trọng về mặtchiến lược như vùng Cát-sơ-pi. Dường như các cơ hội xuất hiện chỉ sau một đêm". Đúng vậy.
  • 169. Đã vài năm nay, tập đoàn dầu lửa Mỹ khổng lồ Iu-nô-cô đã đàm phán với quân Ta-li-bancho phép xây dựng một đường ống dẫn dầu chạy qua Áp-ga-ni-xtan, Pa-ki-xtan tới biển Ảrập.Từ đó, Iu-nô-cô hy vọng chiếm được những thị trường đang nổi ở Nam và Đông Nam Á. Tháng12 năm 1997, một nhóm giáo sĩ Hồi giáo đã đến Mỹ và gặp những quan chức chính phủ Mỹ vàIu-nô-cô ở Hau-xtơn. Hồi đó, những vụ xử tử công khai và phân biệt đối xử với phụ nữ Áp-ga-ni-xtan không được coi là tội ác chống loài người như bây giờ. Và bây giờ, cơ hội lớn của ngành dầu lửa Mỹ đã đến. Ở Mỹ, ngành buôn bán vũ khí, dầu lửa, mạng lưới truyền thông lớn và chính sách đốingoại do cùng những tập đoàn kinh doanh kiểm soát. Thế nên sẽ là ngu ngốc nếu chờ đợi nhữngđiều liên quan đến súng và dầu lửa này được đưa trên những phương tiện thông tin đại chúng. Tên lửa thông minh không đủ thông minh Thế còn phần còn lại của chúng ta, những kẻ vụng về nhận những điều mà chúng ta biết làtuyên truyền vô lý. Những khách hàng hàng ngày của những lời nói dối và bôi nhọ trong bơ lạcvà mứt dâu được ném từ trên không xuống đầu chúng ta như những thức ăn trong gói màu vàng.Chúng ta có nên ngoảnh đi và ăn vì chúng ta đói, hay chúng ta nhìn trừng trừng vào vở kịch tànnhẫn Áp-ga-ni-xtan cho đến khi cùng nôn oẹ và đồng thanh nói chúng ta đã có đủ? Thay vì dẹp đi, sự trả thù này chỉ tạo thêm khủng bố. Lòng căm thù và sự trừng phạtkhông bao giờ trở về lồng một khi đã được thả ra. Mỗi một “kẻ khủng bố” hay “kẻ ủng hộ khủngbố” bị giết, thì hàng trăm người vô tội bị giết theo. Và mỗi trăm người vô tội bị giết, có thể cóvài kẻ khủng bố tương lai được tạo ra. Điều này không có nghĩa rằng những kẻ khủng bố tổ chứcvụ tấn công 11 tháng 9 không bị săn lùng và tính sổ. Nhưng chiến tranh có phải là cách tốt nhất để tìm chúng? Đốt đống cỏ khô có thể giúp tìmđược không? Hay chỉ làm tăng thêm thịnh nộ và biến thế giới thành địa ngục? Cuối cùng thì có thể điều tra được bao nhiêu người, đóng băng bao nhiêu tài khoản ngânhàng, nghe trộm bao nhiêu cuộc trò chuyện, mở được bao nhiêu thư và e-mail, ghi âm được baonhiêu điện thoại? Thậm chí ngay trước 11 tháng 9, lượng thông tin CIA có được đã vượt quá khảnăng phân tích của con người. (Đôi khi, quá nhiều dữ liệu lại gây trở ngại cho tình báo - ví dụ
  • 170. như các vệ tinh do thám Mỹ hoàn toàn bỏ qua hoạt động chuẩn bị thử vũ khí hạt nhân của Ấn Độnăm 1998). Sự giám sát rình mò tuyệt đối sẽ biến thành cơn ác mộng của quyền con người hay đạođức. Và tự do, điều quý giá đó, sẽ thành nạn nhân đầu tiên. Thế là năm đầu tiên của thiên niên kỷ sắp kết thúc. Tôi băn khoăn không biết có phảichúng ta đã đánh mất quyền được mơ ước? Chúng ta còn có thể ngắm sắc màu óng ánh của mộtchú thằn lằn mới sinh dưới ánh mặt trời hay thì thầm trả lời một con mác mốt vừa thầm thì vàotai ta mà không phải nghĩ đến Trung tâm Thương mại và Áp-ga-ni-xtan? Hãy áp tai xuống đất, ta có thể nghe thấy tiếng đập ngày càng lớn của sự tức giận. Xin làmơn, làm ơn ngừng chiến tranh. Đã quá đủ người chết. Tên lửa thông minh không đủ thông minh.Chúng đang làm nổ tung nhà kho của sự thịnh nộ bị kìm kém lại. Trần Lệ Thuỳ (dịch) 2. Bình luận của Bưu điện Băng Cốc: (Bangkok Post) MỸ SẼ PHẢI TRẢ GIÁ CHO THÓI ĐẠO ĐỨC GIẢ Học giả Im-ti-a Mu-bin đã phê phán gay gắt thói đạo đức giả của Oa-sinh-tơn trên tờBưu điện Băng Cốc (Bangkok Post): "Trong khi tâm trạng háo hức lao vào cuộc chiến đang bao trùm nước Mỹ thì cộng đồngquốc tế thực sự lại có cái nhìn thận trọng. Tuy rất đau buồn và cảm thông với những nạn nhân vôtội tại Mỹ, cộng đồng quốc tế ngày càng lo ngại cuộc chiến của chính quyền Busơ có thể gây nênchết chóc trên quy mô thế giới. Người Mỹ hầu như không biết tự xem xét lại mình để có thể hiểunhững chính sách và sai lầm của chính phủ nước mình đã góp phần gây ra thảm hoạ như thế nào. Các chế độ Hồi giáo như Irắc của Xa-đam Hút-xen, Iran của cựu quốc vương Sa-ha và chếđộ Ta-li-ban hiện nay thực tế là do CIA lập ra và ủng hộ trong thời kỳ chiến tranh lạnh, chứkhông phải ai khác. Nay chiến tranh lạnh chấm dứt, kẻ thù của chủ nghĩa tư bản không còn, thìnhững người "bạn cũ" đó trở thành kẻ thù của nhau. Tại Trung đông, Oa-sinh-tơn ra sức ủng hộIxraen xây dựng các khu định cư, ám sát người Pa-le-xtin và các nhà lãnh đạo của họ, vậy màMỹ lại bỏ phiếu phủ quyết tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc phản đối cử các đội giữ gìn hoà
  • 171. bình sang Trung Đông. Tại sao thế? Thất vọng, căm giận chính sách ủng hộ Ixraen từ lâu nay củaOa-sinh-tơn là nguyên nhân chính dẫn đến sự kiện bi thảm ngày 11 tháng 9. Người Mỹ phải hiểurằng người của họ chết chỉ để bảo vệ lợi ích của người Ixraen chiếm đóng trái phép lãnh thổ Pa-le-xtin, chứ đâu phải bảo vệ dân chủ. ... Trong khi người Mỹ đang đòi trả thù, liệu họ có hiểu được tại sao Pa-le-xtin đã tìm mọicách trả thù mỗi khi người của họ bị giết bởi những tên lửa do Mỹ chế tạo phóng từ những máybay lên thẳng cũng do Mỹ chế tạo? và người Mỹ sẽ phản ứng như thế nào khi bom đạn Mỹ ào ạttrút xuống Áp-ga-ni-xtan, giết hại dã man nhiều người dân vô tội? Liệu họ có đóng cửa ca hát,nhảy múa? Liệu họ có yên lòng khi biết rằng cuồng vọng trả thù của họ đã được thoả mãn? Hayhọ sẽ lại ngày đêm cầu nguyện, mặc niệm và thắp nến tưởng nhớ những người đã bị chết oan?Chẳng lẽ một mạng sống Áp-ga-ni-xtan không đáng bằng một mạng sống Mỹ chăng? Trả thù cóchấm dứt được khủng bố hay càng tệ hại hơn khiến cho người Mỹ lúc nào cũng nơm nớp losợ?... Những người Hồi giáo xuống đường biểu tình muốn người Mỹ hiểu "tại sao nước Mỹ bịmọi người căm thù đến thế?" người Mỹ cũng phải thận trọng cân nhắc sự khác nhau giữa "trảthù" và "công lý". Nếu người Mỹ muốn có công lý, thì người Pa-le-xtin, người Ả rập, người Hồigiáo cũng muốn có công lý. Không hiểu điều này, họ sẽ phải trả giá cho thói đạo đức giả”. Đỗ Chuyên (Người Lao động, 25-9) 3. MỸ LÀ KẺ KHỦNG BỐ NGUY HIỂM NHẤT Sau thảm hoạ ngày 11 tháng 9 năm 2001, chính quyền Mỹ điên đầu, hung hăng tuyên bốsẽ diệt trừ tận gốc nạn khủng bố toàn cầu. Guồng máy chiến tranh của Mỹ quay hết tốc lực,chuẩn bị cho cái gọi là “trả đũa”, “chống khủng bố”. Cả thế giới đang sôi lên trong bầu khôngkhí nóng của chiến tranh! Nhưng, chúng ta cần bình tĩnh để nhìn nhận sự việc một cách khoa học và nhân bản.Trước hết, cần hiểu thế nào là “khủng bố”, thế nào là “khủng bố quốc tế”. Theo từ điển TiếngViệt, thì khủng bố là “dùng bạo lực làm cho khiếp sợ để hòng khuất phục”. Theo chúng tôi,khủng bố còn là hành động bạo lực đánh vào thường dân, gây chết chóc đau thương, phá hoạikinh tế, làm đảo lộn cuộc sống bình thường của xã hội. Theo cả hai nghĩa nói trên, thì đế quốcMỹ chính là kẻ khủng bố tàn bạo và nguy hiểm nhất thế giới. Thật vậy, suốt mấy thập kỷ qua,chính quyền Mỹ đã dùng bạo lực trên phạm vi toàn cầu, nhằm thực hiện giấc mộng bá chủ thếgiới. Mỹ đã tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, giết hại hàng triệu người dân vô tội. Mỹ
  • 172. đã dùng bạo lực trấn áp, giết hại hàng triệu người dân Irắc rồi lại thực hiện cấm vận, làm chongười dân nước này lâm vào cảnh cùng quẫn, trẻ em suy dinh dưỡng, chết dần chết mòn. Mỹ làmhậu thuẫn cho Israen tiến hành hàng loạt hành động bạo lực chống lại nhân dân Pa-le-xtin, trongđó có cả hành động khủng bố trực tiếp, giết hại không ít quan chức cao cấp của Nhà nước Pa-le-xtin. Mỹ cũng đã từng chủ mưu nhiều vụ đảo chính, giết hại nhiều nguyên thủ của nhiều quốcgia. Gần đây, Mỹ lại làm hậu thuẫn cho một số người Việt phản động đặt bom khủng bố ở mộtsố Sứ quán Việt Nam tại nước ngoài, thậm chí phái cả tay chân về hòng tiến hành khủng bố ngaytrên đất nước Việt Nam; nhưng trước tinh thần cảnh giác cao độ của nhân dân ta, mưu đồ bẩnthỉu đó đã bị bóp chết từ trong trứng nước. Không thể nào kể hết ra đây những hành động khủngbố mang tính toàn cầu của Mỹ. Đến hôm nay, nhân danh chống khủng bố, chính quyền Mỹ đang ráo riết chuẩn bị mộtchiến dịch khủng bố lớn hơn, nguy hiểm hơn, không chỉ (và khó có thể) nhằm vào những kẻkhủng bố đích thực, mà chính là nhằm vào sinh mạng của hàng triệu triệu người dân vô tội củanhiều quốc gia trên thế giới, trong đó tập trung là Áp-ga-ni-xtan. Guồng máy chiến tranh tâm lý,các phương tiện thông tin đại chúng của Mỹ đang vận hết tốc lực trong chiến dịch tuyên truyềnkích động, hòng lôi kéo nhân dân toàn thế giới cùng hành động với Mỹ trong mưu đồ phi nhântính này. Bộ máy tuyên truyền của Mỹ đang đánh tráo khái niệm, đối lập khủng bố với chiếntranh xâm lược, nhằm làm cho mọi người hiểu nhầm rằng muốn chống khủng bố có hiệu quả thìtất phải tiến hành chiến tranh xâm lược và nếu chống chiến tranh xâm lược do Mỹ tiến hành tứclà ủng hộ khủng bố! Thực ra, khủng bố chỉ là một hành động thuộc phạm trù chiến tranh. Hễ cóchiến tranh xâm lược thì có khủng bố. Không thể viện lý do chống khủng bố để tiến hành khủngbố một cách trắng trợn, với quy mô lớn hơn. Mặt khác, luận điệu của Mỹ cho rằng đang cókhủng bố quốc tế cũng cần được xem xét lại. Mỹ đã khôn khéo quốc tế hoá thảm hoạ của mình,đang dùng mọi biện pháp để biến thảm hoạ của mình thành hận thù chung của nhân loại, để lôikéo loài người tham gia chiến tranh xâm lược do Mỹ khởi xướng và điều khiển. Thế giới phảnđối các hành động khủng bố, nhưng không vì thế mà tin theo luận điệu thổi phồng của Mỹ. Từnăm 1983 đến nay, có 15 vụ khủng bố lớn, thì đều nhằm vào nước Mỹ. Toàn cầu có tới hàngtrăm quốc gia, nhưng hành động khủng bố chỉ tập trung ở một số quốc gia, trong đó có Mỹ vàmột số quốc gia đế quốc, vốn hay đi xâm lược, gây thù chuốc oán với nhân loại tiến bộ. Dư luậnđặt câu hỏi: tại sao Mỹ lại có nhiều kẻ thù đến thế? Và dư luận cũng đã tìm ra câu trả lời: tại vìMỹ luôn luôn dùng bạo lực trấn áp các quốc gia khác. Thảm hoạ mà Mỹ vừa phải gánh chịuchính là hậu quả của chính sách ngoại giao hiếu chiến của chính quyền Mỹ. Mặt khác, chính mộtsố hoạt động khủng bố lại do Mỹ chủ mưu, hậu thuẫn. Cũng vì thế, Mỹ không thể là người đạidiện cho nhân loại dương cao ngọn cờ chống khủng bố!
  • 173. Trước tình hình căng thẳng hiện nay, chúng ta không nên bị cuốn hút vào guồng máychiến tranh của Mỹ, hoặc bị động nhìn guồng máy ấy quay cuồng. Cần phải thấy rõ rằng, Mỹchuẩn bị chiến tranh, thực chất là nhằm lấy lại danh dự, lấy lại hình ảnh một nước Mỹ bất khảxâm phạm, tiếp tục theo đuổi tham vọng bá chủ thế giới, mà chống khủng bố chỉ là cái cớ.Chúng ta còn nhớ, vào ngày 5 tháng 8 năm 1964, cố tình gây ra sự kiện Vịnh Bắc bộ, Mỹ đã chomáy bay ào ạt tấn công nước ta, để thực hiện cái mà chúng gọi là “trả đũa”, nhưng thực chất làđã mượn cớ để tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta. Kịch bản cổ lỗ ấy, Mỹ đã diễn ở nhiềunơi. Nay, lợi dụng thảm hoạ ngay trên đất Mỹ, Mỹ đang tái diễn kịch bản ấy. Chúng ta chưa thểlường trước những thảm hoạ sẽ gieo rắc xuống đầu nhân loại có mức độ lớn đến đâu, nhưng cóthể thấy rõ tính chất nguy hiểm của hành động hiếu chiến hiện nay của Mỹ. Bởi vì hận thù sẽkích động hận thù, chiến tranh sẽ làm lan rộng chiến tranh! Một khi Mỹ đánh vào “lực lượngkhủng bố” mà theo Mỹ, lực lượng này ẩn áu ở 60 quốc gia trên thế giới, thì chắc chắn chiếntranh sẽ không chỉ diễn ra trên một hai quốc gia; chúng có thể diễn ra ngay trên đất Mỹ, cũngnhư trên nhiều quốc gia khác. Trước tình hình căng thẳng hiện nay, chúng ta phải đấu tranh chống chiến tranh xâm lược!Mỹ không có quyền nhân danh bất kỳ một điều gì để tiến hành chiến tranh – khủng bố các quốcgia khác, chà đạp lên cuộc sống của nhân dân các quốc gia khác. Nhân dân Việt Nam chia sẻ sâu sắc những đau thương, mất mát mà hàng chục nghìnngười dân Mỹ vừa phải trải qua, mong nuốn nhân dân Mỹ mau chóng khắc phục hậu quả thảmhoạ vừa qua và tin tưởng rằng nhân dân Mỹ sẽ sớm nhận rõ hướng đi để cùng nhân dân toàn thếgiới bảo vệ hoà bình, giữ cho trái đất bình yên, giữ cho cuộc sống của toàn nhân loại được ổnđịnh và phát triển trong hữu nghị và hợp tác. Phạm Việt Long (Văn hoá số 716 - 30/9/2001) Lời kết khi tái bản: Chế độ Ta-Li-Ban đã sụp đổ hoàn toàn. Đó là một tất yếu, bởi vì chế độnày đi ngược lại quy luật phát triển của xã hội loài người. Nếu không phải là Mỹ, thì sẽ có mộtlực lượng nào đó, có thể là lực lượng ngay trong lòng Áp-ga-ni-xtan, loại trừ chế độ Ta-li-bankhỏi trái đất. Thế nhưng, mục đích “chống khủng bố toàn cầu” của Mỹ vẫn không đạt được. Tôiđoan chắc Mỹ sẽ không bao giờ tuyên bố rằng Bin Lađen đã chết hoặc bị bắt và mạng lưới khủngbố toàn cầu đã bị tiêu diệt, bởi vì sự tồn tại của Bin Lađen và mạng lưới khủng bố này là cái cớđể Mỹ có thể tiến công vào bất cứ quốc gia nào mà Mỹ muốn, chỉ với lý do đơn giản là nơi đóchứa chấp Bin Lađen, chứa chấp “bọn khủng bố toàn cầu”. Hà Nội, tháng 6 năm 2002