Một số kinh nghiệm về kỹ năng sửa lỗi tiếng anh 2013

5,795 views
5,568 views

Published on

0 Comments
2 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
5,795
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
59
Comments
0
Likes
2
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Một số kinh nghiệm về kỹ năng sửa lỗi tiếng anh 2013

  1. 1. Trường THCS Tân Phước Tây - Lương Thị Loan Hiệu quả: Xếp loại: ………………ngày………tháng………..năm……….. CT. HĐKHGD Nhận xét đánh giá của Hội Đồng KHGD Phòng Giáo dục-Đào tạo: - Tác dụng của SKKN: Tính thực tiễn, sư phạm, khoa học: Hiệu quả: Xếp loại: ………………ngày………tháng………..năm……….. CT. HĐKHGD Nhận xét đánh giá của Hội Đồng KHGD Sở Giáo dục-Đào tạo Long An: - Tác dụng của SKKN: Tính thực tiễn, sư phạm, khoa học: Hiệu quả: Xếp loại: ………………ngày………tháng………..năm……….. CT. HĐKHGD 1
  2. 2. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan MỤC LỤC I/ Lý do chọn đề tài: 1. 2. 3. 4. Đặt vấn đề. Mục đích đề tài. Lịch sử đề tài. Phạm vi đề tài. II/ Nội dung công việc đã làm: 1. 2. 3. 4. Thực trạng đề tài. Nội dung cần giải quyết. Biện pháp giải quyết. Kết quả đề tài. III/ Kết luận: 1. Tóm lược giải pháp. 2. Phạm vi, đối tượng, áp dụng. 3. Kiến nghị với các cấp về điều kiện thực hiện (nếu có). 2
  3. 3. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan 3
  4. 4. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan I. LÝ DO CHỌN ĐẾ TÀI: 1. Đặt vấn đề: Tiếng Anh ngày càng trở nên phổ biến, nó được xem là cầu nối con người từ những nước khác nhau trên thế giới xích lại gần nhau. Hơn thế nữa nhờ có tiếng Anh mà con người đã có được những bước tiến đáng kể trong nhiều lĩnh vực. Việc học tiếng Anh là quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết. Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học tiếng Anh, đã nhiều năm nay Bộ GD & ĐT quyết định môn tiếng Anh là một trong những môn học chính khóa ở tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục. Tiếng Anh ngày càng được đông đảo các tầng lớp trong xã hội quan tâm, càng có nhiều học sinh có hứng thú, có nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu với môn học. Qua thực tế cho thấy, học viên nói chung và các học sinh ở trường THCS nói riêng gặp rất nhiều lỗi khi sử dụng tiếng Anh. Tại sao học sinh lại mắc quá nhiều lỗi như thế? Nguyên nhân dẫn đến việc mắc lỗi là gì? Sửa lỗi và giúp học sinh sửa lỗi như thế nào cho có hiệu quả? Tôi quyết định đưa ra đề tài “Kĩ năng chữa lỗi Tiếng Anh cho học sinh THCS (Kĩ năng nói và viết)”. 2. Mục đích đề tài: Nhằm kích thích sự hứng thú học Tiếng Anh của học sinh. Giúp các em tích cực tham gia hoạt động cùng học, cùng thích, cùng tìm ra cái sai của mình, cùng nhau sửa lỗi để trở thành hoàn thiện hơn và biết cách vận dụng vào thực tiễn. 3. Lịch sử đề tài: Môn Tiếng Anh được xây dựng trên cơ sở mục tiêu của bậc Trung học cơ sở do Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định. Môn Tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ , khó nói, khó viết. Ở các lớp 6, 7 có ý tìm tòi ham học, còn khối 8, 9 các em lại rụt rè, e thẹn khi nói và viết Tiếng Anh. Điều đó làm cho tôi suy nghĩ làm thế nào cho học sinh ham học Tiếng Anh và không còn xa lạ với môn Tiếng Anh nữa. Đó là nguyên nhân thúc đẩy tôi quyết định chọn đề tài: “Kĩ năng chữa lỗi Tiếng Anh cho học sinh THCS (Kĩ năng nói và viết)”. 4. Phạm vi đề tài: Vì thời gian có hạn nên trong đề tài này tôi chỉ áp dụng kĩ năng chữa lỗi Tiếng Anh cho học sinh THCS (Kĩ năng nói và viết). 4
  5. 5. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan 5
  6. 6. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan II. NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM: 1. Thực trạng đề tài: Tôi thường nghe được một câu nói bổ ích: “Có lỗi là chuyện rất bình thường là một vấn đề lành mạnh, bổ ích”. Vì từ những lỗi sai chúng ta mới tìm được cái đúng, cái chính xác và từ cái chính xác đó dẫn đến quá trình học tập đúng đắn. Người học càng mắc nhiều lỗi thì càng có được nhiều cái đúng. Càng có nhiều cái đúng thì việc học lại càng hứng thú. Chúng ta thường học được nhiều điều từ những sai lầm của chúng ta hơn từ những thành công. Chúng ta biết rằng kỹ năng nói và viết là các kỹ năng phát sinh (productive skills). Học sinh học và luyện tập nhiều thì việc dùng ngôn ngữ để diễn đạt ý của mình (bằng cách nói và viết) sẽ xuất hiện lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ là điều hết sức bình thường và không thể tránh khỏi. Chính vì vậy mỗi giáo viên dạy Tiếng Anh cần nhận thức được điều này để có thái độ đúng đắn khi học sinh của chúng ta mắc lỗi, quan trọng hơn là để có phương pháp chữa lỗi chính xác và phù hợp với từng lỗi cụ thể. 2. Nội dung cần giải quyết: Qua những năm tháng giảng dạy Tiếng Anh ở trường THCS Tân Phước Tây tôi nhận thấy rằng học sinh THCS rất thích, rất hứng thú với môn học Tiếng Anh. Đặc biệt là những năm đầu sở GD và ĐT chỉ đạo có thi tốt nghiệp lớp 9 môn Tiếng Anh. Những năm gần đây học sinh khối 6, 7 hầu như thích thú môn học này hơn một số học sinh ở khối 8, 9. Học sinh khối 6,7 mạnh dạn nói và viết Tiếng Anh hơn, mạnh dạn phát biểu trong giờ học hơn, chứng tỏ học sinh khối 6,7 còn hồn nhiên, vô tư hơn nên các em chưa thấy ngại khi nói, khi viết và khi mắc lỗi. Tiếng Anh là môn học khó cho nên học sinh ngay từ đầu nếu không có phương pháp học đúng, giáo viên không kịp thời phát hiện, giúp đỡ sẽ dẫn đến việc học sinh “mất kiến thức căn bản”. Đó là nguyên nhân dẫn đến việc một số học sinh khối 8, 9 ngại nói và viết Tiếng Anh, điều này cũng là nguyên nhân của chất lượng môn Tiếng Anh ở trường còn thấp. Các em sợ sai, sợ mắc lỗi, sợ xấu hổ với bạn bè khi mắc lỗi. Đó là nhận thức vô cùng sai lầm của các em. Chính vì thế tôi càng cố gắng hơn trong việc giúp các em một lần nữa nhận ra được điều này “Có lỗi là chuyện rất bình thường là một vấn đề lành mạnh, bổ ích. Chính vì từ những lỗi sai chúng ta mới tìm được cái đúng, cái chính xác và từ cái chính xác đó dẫn đến quá trình học tập đúng đắn. Người học càng mắc nhiều lỗi thì càng có được nhiều cái đúng. Càng có nhiều cái đúng thì việc học tập lại càng diễn ra theo chiều hướng tốt. Chúng ta thường được học nhiều điều từ những sai lầm của chúng ta hơn là từ những thành công”. Tôi luôn tạo cho các em cảm giác gần gũi thoải mái, tự nhiên khi học. Một trong những phương pháp làm được điều này là tìm tòi, rút kinh nghiệm về một số phương pháp 6
  7. 7. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan chữa lỗi cho học sinh khi học sinh mắc lỗi mà không tạo cảm giác “mất mặt” trước bạn bè và mọi người xung quanh. 3. Biện pháp giải quyết: a. Các dạng lỗi thường gặp: - Lỗi từ vựng (vocabulay) - Lỗi ngữ pháp hoặc cấu trúc câu (grammar or structure patterns) - Lỗi chính tả (spelling) b. Nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân gây ra lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, tôi có thể đưa ra một số nguyên nhân như sau: b.1. Sự ảnh hưởng của ngôn ngữ mẹ đẻ (Mother – Tongue interference) Đây là loại lỗi khá hệ thống trong quá trình học tiếng Anh. Học sinh khi học ngoại ngữ thường áp dụng một cách máy móc cú pháp ngôn ngữ mẹ đẻ vào ngôn ngữ mà người đó đang học, nhưng thực tế là có rất nhiều điểm khác biệt về cú pháp giữa các ngôn ngữ khác nhau. Ví dụ: Về ảnh hưởng của cú pháp ngôn ngữ mẹ đẻ (cụ thể ở đây là Tiếng Việt dịch sang Tiếng Anh). Có rất nhiều học sinh nói “He bought a car new” (Cậu ấy đã mua một chiếc xe hơi mới) vì trong Tiếng Việt tính từ thường đi sau danh từ, còn trong Tiếng Anh thì gần như ngược lại, câu đúng phải là: “He bought a new car”. b.2. Sự liên đới về ngôn ngữ (Croos – association) Sự liên đới là một hiện tượng ảnh hưởng qua lại giữa một số quy tắc về học ngôn ngữ giữa người này với người khác. Quy tắc này có thể áp dụng được với người này nhưng hoàn toàn không phù hợp với người khác. b.3. Lỗi do bất cẩn (Errors due to carelessness) Các yếu tố về tâm lý như bất cẩn, mệt mỏi, hoặc quên quy tắc ngữ pháp…cũng có thể là nguyên nhân gây ra lỗi trong quá trình sử dụng ngôn ngữ. Có rất nhiều học sinh khi nói “She live in Tan An City with her family” (Cô ấy sống ở Thành phố Tân An cùng với gia đình của cô ấy), ở đây có thể học sinh quên quy tắc ngữ pháp đó là thêm “s” vào sau động từ khi chia ở ngôi thứ ba số ít ở thể khẳng định của “thì hiện tại đơn”, cũng có lúc do bất cẩn trong phát âm hoặc cũng có thể giải thích cho hiện tượng này là “ảnh hưởng không tích cực của ngôn ngữ mẹ đẻ” cũng được vì trong Tiếng Việt chúng ta nói “Cô ấy sống ở Thành phố Tân An cùng với gia đình của cô ấy và Tôi sống ở Thành phố Tân An cùng với gia đình của tôi”, động từ “sống” không có sự khác biệt về hình thức động từ (tức là động từ không phải chia để phù hợp với ngôi số trong Tiếng Việt. Trong khi đó câu đúng 7
  8. 8. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan trong Tiếng Anh phải là: “She lives in Tan An City with her family” và “I live in Tan An City with my family”. b.4. Quá trình dạy học gây ra lỗi (Teaching – induced errors) Thói quen không tích cực trong quá trình dạy học cũng có thể là một trong những nguyên nhân gây ra lỗi. Chúng ta phải thừa nhận rằng: “Thật không dễ dàng xác định các lỗi ngoại trừ những thiết bị học kỹ năng, thủ thuật dạy học mà được áp dụng với người học”. Nói cách khác việc áp dụng phương pháp học không phù hợp với học sinh có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của quá trình học ngôn ngữ. c. Các phương pháp sửa lỗi cơ bản: Có bốn phương pháp sửa lỗi cơ bản như sau: • Tự sửa (Self-correction) • Học sinh sửa lẫn nhau (Peer correction) • Giáo viên sửa (Teacher’s correction) • Sửa lỗi nhóm (Group correction) d. Tại sao phải sửa lỗi: Khi học sinh sử dụng Tiếng Anh, dù là viết hay nói thì các em luôn muốn biết là mình có mắc lỗi nào trầm trọng hay không, các em luôn muốn hỏi giáo viên rằng: “Cô xem dùm bài làm của em có đúng không?” như vậy việc sửa lỗi là rất cần thiết. e. Sửa lỗi khi nào? Sửa cái gì? Và sửa như thế nào?: e.1. Sửa lỗi khi nào? Thông thường việc sửa lỗi được thực hiện sau quá trình sử dụng ngôn ngữ của học sinh. e.2. Sửa cái gì? * Cần sửa những lỗi có ảnh hưởng đến nghĩa của câu (Errors that interfere with meaning) - Thì động từ (Verb tense) - Trật tự từ (Word order) - Lựa chọn từ không chính xác (Confusing word choice) - Lỗi sai về chính tả (Confusing spelling) * Đôi khi không cần thiết phải sửa các lỗi không ảnh hưởng đến nghĩa của câu nếu như bài viết của các em đã quá nhiều lỗi để tránh tâm lý chán nản cho học sinh (Errors that are less likely to interfere with meaning): - Mạo từ hay còn gọi là quán từ (Article mistakes) - Giới từ (Preposition mistakes) - Dấu chấm (.) hay dấu phẩy (,) (Comma splices) - Các lỗi chính tả nhỏ (Minor spelling mistakes) e.3. Sửa như thế nào? . Giáo viên sửa (Teacher’s correction) Tôi thấy rằng giáo viên sửa lỗi cho học sinh là phương pháp tối ưu nhất mà nhiều giáo viên thường áp dụng trong quá trình giảng dạy. Phương pháp này có hai loại: Chỉnh sửa trực tiếp và chỉnh sửa gián tiếp. Loại chỉnh sửa gián tiếp có nhiều 8
  9. 9. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan hình thức thực hiện hơn. Chúng ta lựa chọn hình thức phù hợp với đối tượng học sinh của mình. Ví dụ: Khi học sinh mắc lỗi về cấu trúc câu bị động tôi viết cấu trúc câu đúng lên bảng bằng phấn đỏ, gọi một học sinh khác so sánh cấu trúc câu đúng với câu sai, lúc đó học sinh có thể tự sửa câu sai thành câu đúng và tiếp tục cho học sinh đặt thêm các ví dụ khác để học sinh luyện tập cấu trúc câu. This house was build by those workers S + Be + V_(PP) + by + O This house was built by those workers . Học sinh có thể vận dụng phong cách sửa lỗi của giáo viên để tự sửa lỗi (Learners’ preferred style of teacher’s correction) Đối với phương pháp này theo tôi giáo viên chỉ cần làm một phần của công việc là chỉ ra các lỗi để tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức, trí não của mình, để tìm ra cách sửa chữa sai sót. Chính nổ lực này của học sinh làm cho quá trình sửa lỗi của học sinh có ý nghĩa hơn và có lợi cho học tập vì thông qua cách làm này học sinh lại một lần nữa ghi nhớ và khắc sâu hơn kiến thức đã học. . Sửa lỗi cả lớp (Class correction) Giáo viên có thể cho học sinh nói hoặc viết tự do, ghi lại những lỗi cơ bản sau đó sửa chung cho cả lớp, tránh tình trạng nêu lỗi của một cá nhân nào đó, vì làm như thế dễ gây cảm giác “mất mặt” (loosing face) cho học sinh. Một bài viết của học sinh sẽ được đưa lên có thể bằng bảng phụ, trình chiếu qua máy chiếu (projector) làm như một ví dụ. Giáo viên cùng với học sinh thảo luận, phát hiện những lỗi trong bài viết. Đây là cách mà học sinh rất thích nhưng giáo viên cũng cần chú ý đến cách làm, cách thể hiện và thái độ của học sinh trong quá trình sửa bài. . Sửa lỗi nhóm (Group correction) Đây cũng là một cách sửa lỗi rất dễ gây được hứng thú cho học sinh. Học sinh làm việc theo nhóm, vừa luyện tập vừa sửa lỗi. Cách sửa lỗi theo nhóm sẽ làm cho giờ học nói và viết của học sinh trở nên nhẹ nhàng và thú vị hơn. Ví dụ: Trao đổi bài của nhóm này cho nhóm khác sửa lỗi hoặc thành lập nhóm luyện nói, nhóm luyện viết đủ các đối tượng học sinh: học sinh khá, giỏi làm việc với học sinh trung bình, yếu để các em sửa lỗi lẫn nhau. f. Một số kỹ thuật sửa lỗi: Rất khó để có thể quyết định được nên sửa như thế nào và sửa bao nhiêu trên một bài viết của học sinh. Học sinh có thể nảy sinh thái độ tiêu cực đối với bài viết của mình mà giáo viên sửa tất cả các lỗi hoặc giáo viên chỉ sửa một số ít các lỗi thì các em lại nghĩ rằng giáo viên chưa dành đủ thời gian xem xét bài làm của mình. Sau đây là một số thủ thuật sửa lỗi mà tôi đã từng thực hiện: f.1. Dùng bút đánh dấu khác màu vào những lỗi của các em. Ví dụ: Bài viết của học sinh: Lan get up at six o’clock. She brushes her teeth, washes her face and have breakfast. Tôi đã đánh dấu màu các lỗi sai và yêu cầu học sinh tự sửa lỗi của mình. 9
  10. 10. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan f.2. Sửa lỗi bằng cách gạch chân lỗi của học sinh và viết dạng thích hợp vào đúng vị trí của nó. Đây là phương pháp sửa lỗi trực tiếp, tôi thường sử dụng phương pháp này khi thời gian bị hạn chế. Ví dụ: She bought many egges => eggs. f.3. Sử dụng ký hiệu ở bên lề hoặc ngay trên đầu lỗi để báo lỗi cho học sinh. Ví dụ: Khi học sinh mắc lỗi sai về các lỗi như thì động từ, trật tự từ, chính tả….tôi đã sử dụng các ký hiệu sửa lỗi (error correction codes) để sửa. Các ký hiệu này phải được cung cấp trước cho học sinh và yêu cầu học sinh nhớ ý nghĩa của từng biểu tượng trong suốt quá trình học tập. Các ký hiệu sửa lỗi (error correction codes) như: S/V = use to highlight subject - verb WC = use to indicate a word choice agreement problems (lỗi về sự hòa problem (lỗi về chọn từ đúng) hợp giữa chủ từ và động từ) S/P = use to highlight singular/ ^ = use to indicate that there is a plural problems (lỗi về ngôi/số) missing word (lỗi về thiếu từ) VT = use to highlight a verb tense / = use to indicate that a word is problem (lỗi về thì động từ) unnecessary (lỗi thừa từ) WO = use to indicate a word order C = use to show that there is a problem (lỗi về trật tự từ) problem with capitalization (lỗi viết hoa) WF = Wrong form Sp = Wrong spelling Ví dụ: Khi cho học sinh thực hiện phần writing theo nhóm, tôi sẽ bao quát lớp để xem học sinh mắc những lỗi cơ bản nào? và ghi chú lỗi đó lên rồi sử dụng những ký hiệu sửa lỗi lên phía trên góc phải của từ đó và gạch chân từ, hoặc đặt ký hiệu vào vị trí lỗi. Ví dụ: Code Explanation Example sentence WF Wrong form He is a good drive WF WT Wrong tense I knew WT him for years. Sp Wrong spelling grandfathor Sp f.4. Có thể viết bên lề số lượng lỗi trong mỗi dòng, sau đó thử để cho học sinh tự xác định lỗi và sửa lỗi. The natural disaster call “Tidal wave” often occurred suddenly. It is the ..(1)..result of a abrupt shift in the underwater movement of the Earth. In late..(2)..2004, a series of tidal waves struck the seaside of Indonesia, Thailand, and..(3)..some other Asian country. The famous resorts such as Phuket and . Fiti..(4)..were completely destroyed. A large numbers of people were killed. Học sinh nhìn vào lỗi bên lề và cố gắng để tìm ra và sửa lại. f.5. Phân cặp hoặc nhóm, yêu cầu học sinh sửa lỗi cho nhau bằng cách sử dụng một trong những phương pháp trên. 10
  11. 11. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan f.6. Trao đổi bài của em này cho em khác sửa bằng cách sử dụng một trong những phương pháp trên. f.7. Tôi có thể dùng tranh, thẻ …để sửa lỗi trong giờ luyện nói một số điểm ngữ pháp đặc trưng. Ví dụ: Khi học sinh mắc lỗi về động từ thêm “ING” ở thì hiện tại tiếp diễn, tôi đã sử dụng “thẻ-ING”, Tiếng Anh gọi là “ING – Card”. Tôi đã sử dụng kỹ năng này để dạy: Unit 5 Language focus (English 9) Phương pháp làm như sau: Lúc đầu tôi gọi một học sinh nhìn vào tranh để nói về các hoạt động mà những người trong tranh đang làm, kết quả là học sinh này nói thiếu “ing” 4/6 câu. Sau đó tôi đặt “ING – CARD” của tôi ngay dưới động từ và yêu cầu cả lớp đọc lại ba lần. Hầu hết học sinh đều rất ấn tượng với cái thẻ “ING” của tôi và ít học sinh gặp phải lỗi tương tự khi chia động từ ở thì hiện tại tiếp diễn. Ngoài việc sử dụng “ING – CARD” để sửa lỗi khi chia động từ ở thì hiện tại tiếp diễn ra thì chúng ta cũng có thể sử dụng “ING – CARD” để sửa lỗi về động từ thêm “ING” ở thì quá khứ tiếp diễn, hoặc dùng “S – CARD” sửa lỗi trong luyện tập danh từ số ít, số nhiều, hoặc động từ chia ngôi thứ ba số ít của thì hiện tại đơn. Trong các phương pháp sửa lỗi trên thì phương pháp tự sửa lỗi là hiệu quả nhất trong việc học Tiếng Anh hay bất kỳ một ngôn ngữ nào khác. Khi học sinh nhận ra và tự sửa lỗi một cách chính xác thì các em càng tiếp thu ngôn ngữ một cách có hiệu quả. 4. Kết quả đề tài: a. Một số khảo sát trước khi thực hiện đề tài: - Kiểm tra kỹ năng nói: Unit 2 (English 9) Speak Tôi chú ý kiểm tra cách dùng động từ trong câu gián tiếp: Lớp Số học sinh tham gia Số học sinh nói đúng 91 30 19 (63,3%) 92 32 21 (65,6 %) 93 30 17 (56,6%) - Kiểm tra kỹ năng viết: Unit 2 (English 9) Write Tôi chú ý kiểm tra cách trình bày một vấn đề đơn giản: Lớp Số học sinh tham gia Số học sinh viết đúng 91 30 22 (73,3%) 92 32 20 (62,5 %) 93 30 16 (15,3%) 11
  12. 12. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan 2. Một số khảo sát khi thực hiện đề tài: Sau một thời gian thực hiện đề tài, tôi nhận thấy kết quả về kỹ năng nói và kỹ năng viết ở những khối lớp (91, 92, 93) đã có sự chuyển biến tốt, cụ thể như sau: • Kiểm tra kỹ năng nói: Unit 7 (English 9) Speak • Tôi chú ý kiểm tra cách dùng động từ trong câu đề nghị: Lớp Số học sinh tham gia Số học sinh nói đúng 91 30 30 (100 %) 92 32 32 (100 %) 93 30 30 (100 %) • Kiểm tra kỹ năng viết: Unit 7 (English 9) Write • Tôi chú ý kiểm tra Tập soạn thảo một bài văn đơn giản: Lớp Số học sinh tham gia Số học sinh viết đúng 91 30 30 (100 %) 92 32 32 (100%) 93 30 30 (100 %) 12
  13. 13. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan Có thể thấy việc áp dụng phương pháp chữa lỗi Tiếng Anh cho học sinh THCS (kĩ năng nói và viết) như đã từng áp dụng vào thực tiễn thì kết quả cao hơn nhiều, lớp học sinh động sôi nổi hơn, các em hứng thú giờ học Tiếng Anh hơn. Từ đó, thúc đẩy tôi không ngừng phấn đấu để đạt hiệu quả giảng dạy. 13
  14. 14. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan III. KẾT LUẬN: 1. Tóm lược giải pháp: Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy bộ môn Tiếng Anh hoàn toàn mới lạ đối với học sinh. Đòi hỏi người giáo viên phải: - Chủ động sáng tạo và linh hoạt, giúp cho học sinh yêu thích môn học. - Có vốn kiến thức chuẩn xác. - Động viên, khuyến khích học sinh tham gia xây dựng bài. - Rèn luyện kĩ năng: “Học đi đôi với hành”. - Có thái độ trầm tĩnh, vui vẻ với học sinh khi các em làm bài sai. - Tạo không khí hòa nhả, ân cần, gần gủi, thân thiện với các em. - Tuyên dương những em làm đúng mà không chỉ trích những em làm sai. Đối với học sinh: - Cần phải trao dồi kĩ năng nghe-nói-đọc-viết. - Cố gắng học thuộc nghĩa của từ, câu để ứng dụng vào thực tiễn trong giao tiếp. - Tự tin khi nói và viết Tiếng Anh. - Có ý thức tự học tự rèn. Tôi rút ra một số kinh nghiệm khi sửa lỗi như sau: *Khi chuẩn bị bài: 14
  15. 15. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan - Giáo viên cần suy nghĩ xem học sinh thường sai những lỗi nào, sửa những lỗi nào, sửa như thế nào, sửa khi nào và sửa bao nhiêu cho phù hợp. - Giáo viên cần gạch đầu dòng những lưu ý trên vào giáo án. - Có hướng dẫn rõ ràng, dễ hiểu. *Khi sửa lỗi: - GV cần có thái độ đúng đắn, tích cực, phù hợp với học sinh mắc lỗi khi sử dụng ngôn ngữ, không quá tập trung sửa lỗi vào một học sinh hoặc một nhóm học sinh tránh tình trạng để học sinh bị “mất mặt”. - Tạo không khí vui tươi gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh có cảm giác thoải mái nếu mắc lỗi khi sử dụng ngôn ngữ và xem việc mắc lỗi khi sử dụng ngôn ngữ là điều không thể tránh khỏi. - Giúp học sinh có được dữ liệu ngôn ngữ chính xác và học Tiếng Anh qua các lỗi sai (Learning English through the errors) để năng lực Tiếng Anh của học sinh ngày một tốt hơn. 2. Phạm vi, đối tượng, áp dụng: Trên đây chỉ là những kinh nghiệm về kĩ năng sửa lỗi mà bản thân tôi đã đúc kết được qua những năm trực tiếp giảng dạy học sinh ở trường THCS Tân Phước Tây. Đề tài này áp dụng cho việc giảng dạy môn Tiếng Anh THCS và cả THPT trong tiết học nói (Speak) và viết (Write). Tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của đồng nghiệp và Hội đồng khoa học, tham khảo, xem xét và tìm ra những kĩ năng sửa lỗi hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng trong việc dạy Tiếng Anh cho học sinh THCS. Tôi xin chân thành cảm ơn. 3. Kiến nghị đề xuất: - Qua đề tài tôi có một số đề xuất và kiến nghị như sau: + Về phía Phòng giáo dục: Cần hỗ trợ kinh phí cho nhà trường để mua sắm thêm sách tài liệu, tham khảo bổ sung thêm vào thư viện nhà trường để giáo viên có thêm tư liệu tham khảo. + Về phía nhà trường: Cần quan tâm hơn nữa đến điều kiện dạy và học của giáo viên và học sinh. Như mua thêm băng đĩa và các đồ dùng dạy học khác.vv… + Về phía cha mẹ học sinh: Các bậc cha mẹ cần quan tâm nhiều hơn nữa đến việc học của con em mình như: dành thời gian cho các em học bài và làm bài tập, kiểm tra xem sau khi đi học về các em có làm bài tập ở nhà hay không. 15
  16. 16. Trường THCS Tân Phước Tây Lương Thị Loan + Về phía chính quyền địa phương: Cần chú ý quan tâm đến Trường THCS Tân Phước Tây nhiều hơn về tinh thần lẫn vật chất, nhất là đối với học sinh nghèo, hoàn cảnh khó khăn có tinh thần vượt khó trong học tập. - Tôi thiết nghĩ nếu các em học sinh được quan tâm từ nhiều phía như vậy, thì chất lượng dạy học sẽ cao hơn nhiều. Tân Phước Tây, ngày 9 tháng 5 năm 2013 Người viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm Giáo viên: Lương Thị Loan 16

×