Your SlideShare is downloading. ×
0
Comparison foss-and-non-foss
Comparison foss-and-non-foss
Comparison foss-and-non-foss
Comparison foss-and-non-foss
Comparison foss-and-non-foss
Comparison foss-and-non-foss
Comparison foss-and-non-foss
Comparison foss-and-non-foss
Comparison foss-and-non-foss
Comparison foss-and-non-foss
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×
Saving this for later? Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime – even offline.
Text the download link to your phone
Standard text messaging rates apply

Comparison foss-and-non-foss

529

Published on

Bài trình bày tại khóa đào tạo về phần mềm nguồn mở của Bộ Thông tin và Truyền thông, ngày 10/10/2013 tại Hà Nội.

Bài trình bày tại khóa đào tạo về phần mềm nguồn mở của Bộ Thông tin và Truyền thông, ngày 10/10/2013 tại Hà Nội.

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
529
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
11
Actions
Shares
0
Downloads
13
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. SO SÁNH, ĐÁNH GIÁ GIỮA PHẦN MỀM NGUỒN MỞ VÀ PHẦN MỀM THƯƠNG MẠI KHÓA ĐÀO TẠO VỀ PHẦN MỀM NGUỒN MỞ BỘ THÔNG TIN & TRUYỀN THÔNG BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CNTT&TT TẠI VIỆT NAM HÀ NỘI, NGÀY 10/10/2013 NGƯỜI TRÌNH BÀY: LÊ TRUNG NGHĨA VĂN PHÒNG PHỐI HỢP PHÁT TRIỂN MÔI TRƯỜNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ, BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ Email: letrungnghia.foss@gmail.com Blogs: http://vn.myblog.yahoo.com/ltnghia http://vnfoss.blogspot.com/ Trang web CLB PMTDNM Việt Nam: http://vfossa.vn/vi/ HanoiLUG wiki: http://wiki.hanoilug.org/
  • 2. Nội dung Khái niệm và các căn cứ A. Về mô hình phát triển B. Về mô hình kinh doanh C. Về các quyền của người sử dụng D. Về an ninh an toàn thông tin E. Các điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của PMNM
  • 3. Khái niệm và các căn cứ - Để so sánh giữa PMNM và PMTM thì phải có định nghĩa về chúng. - Định nghĩa về PMNM hoặc PMTD đều đã có sẵn, theo OSI hoặc FSF - Định nghĩa PMTM là gì? Căn cứ 1: trong bài về sự hiểu sai thường thấy trong chính phủ Luật Liên bang Mỹ (41 USC 403, subsection 12) → một khoản thương mại là: (A) Bất kỳ khoản nào, khác với tài sản thực, ở dạng được công chúng nói chung hoặc các thực thể phi chính phủ sử dụng tùy ý cho các mục đích khác với các mục đích của chính phủ, và (i) từng được bán, được cho thuê, hoặc được cấp phép cho công chúng nói chung; hoặc (ii) từng được chào bán, cho thuê, hoặc cấp phép cho công chúng nói chung. (B) Bất kỳ khoản nào mà được tiến hóa từ một khoản được mô tả trong đoạn phụ (A) thông qua những tiến bộ trong công nghệ hoặc hiệu năng và còn chưa sẵn sàng trong thị trường thương mại, nhưng sẽ là sẵn sàng trong thị trường thương mại đúng lúc để làm thỏa mãn các yêu cầu phân phối theo một sự khẩn nài của Chính phủ Liên bang. (C) Bất kỳ khoản nào mà dành cho (i) những sửa đổi một dạng sẵn sàng tùy ý trong thị trường thương mại, hoặc (ii) những sửa đổi nhỏ được thực hiện để đáp ứng các yêu cầu của Chính phủ Liên bang, có thể làm thỏa mãn các tiêu chí trong đoạn phụ (A) hoặc (B).
  • 4. Khái niệm và các căn cứ - Định nghĩa PMTM là gì? Căn cứ 2: Website về PMNM của quân đội Mỹ http://mil-oss.org/learn-more/open-source-policy-in-the-military PMNM trong quân đội Mỹ được cho phép và được ưu tiên. Khi nói về các mua sắm cả trong Chính quyền Liên bang và Bộ Quốc phòng Mỹ (DoD), PMNM được xem là các sản phẩm “phần mềm máy tính thương mại”. Luật của nước Mỹ, Các qui định mua sắm của Liên bang, và Bổ sung mua sắm Quốc phòng Liên bang tất cả đều nhất trí trong phân loại PMNM như là một sản phẩm phần mềm thương mại vì PMNM thường được cấp phép cho công chúng nói chung vì các mục đích không phải duy nhất cho chính phủ và có thể được sửa đổi để đáp ứng được các yêu cầu khác nhau. Trong nhiều trường hợp, các sản phẩm PMNM cũng có thể được xem là “các khoản thương mại sử dụng được ngay” - COST (Commercial Off-theShelf items), một tập con đặc biệt của các khoản thương mại. Các khoản COST là sẵn sàng để sử dụng và đòi hỏi ít sự tùy biến, nếu có. Kết luận: Hầu hết, nếu không phải là tất cả, các ứng dụng và thành phần PMNM là, theo luật Mỹ, các phần mềm thương mại. Vì những lý do nêu trên, từ đây sẽ không so sánh giữa PMNM với PMTM, mà sẽ so sánh giữa PMNM và phần mềm nguồn đóng (PMNĐ).
  • 5. A. So sánh mô hình phát triển Tiểu luận 'Nhà thờ lớn và cái chợ' của Eric S. Raymond Mô hình Nhà thờ lớn, trong đó mã nguồn là sẵn sàng với từng phiên bản phần mềm, nhưng mã nguồn được phát triển giữa các lần tung ra được hạn chế cho một nhóm đặc quyền các lập trình viên phần mềm. Đây là điển hình cho mô hình phát triển PMNĐ. Mô hình Cái chợ, trong đó mã nguồn được phát triển qua Internet mà ai cũng nhìn thấy được. Một trong những điểm tăng cường cho mô hình phát triển này gọi là ngược lên dòng trên (NLDT), khi mà các cá nhân và/hoặc tập thể (các) lập trình viên đóng góp các dòng mã lệnh mà họ viết ra ngược về công ty và/hoặc tổ chức của dự án PMNM gốc. Đây là điển hình cho mô hình phát triển PMNM.
  • 6. B. So sánh mô hình kinh doanh PMNĐ dựa vào việc bán các giấy phép sử dụng phần mềm, thường được biết tới như là thỏa thuận cấp phép cho người sử dụng đầu cuối - EULA (End User License Agreement). PMNM thường dựa vào việc cung cấp các dịch vụ xung quanh sản phẩm phần mềm của chung cộng đồng cùng phát triển, chứ không bán giấy phép sử dụng phần mềm của chung cộng đồng. Có nhiều mô hình kinh doanh khác nhau trong thế giới nguồn mở, có thể tham khảo từ tài liệu: 'Giới thiệu phần mềm tự do' (Chương 5. Kinh tế, trang 79-97).
  • 7. C. Quyền của người sử dụng Giấy phép EULA của PMNĐ thường cấm người sử dụng các quyền phân phối, sao chép, sửa đổi (người sử dụng đầu cuối thường không có mã nguồn nên không có khả năng để sửa đổi), và vì thế cũng không có quyền phân phối lại các bản đã có sửa đổi. PMNM, trao cho người sử dụng 4 quyền tự do cơ bản: (1) Sử dụng; (2) Phân phối; (3) Sửa đổi (mã nguồn là sẵn sàng tự do trên Internet); (4) phân phối lại bản đã có sửa đổi.
  • 8. D. Về an ninh an toàn thông tin 1. Tư duy cho rằng 'PMNM là ít an ninh hơn so với PMNĐ' vì PMNĐ không mở mã nguồn ra nên những kẻ tấn công không biết được những chỗ bị tổn thương để tấn công là một tư duy sai lầm. (5 sự hiểu sai hàng đầu về nguồn mở trong các chương trình của chính phủ) - Kẻ tấn công ngờ nghệch → không là cơ chế bảo vệ tốt - Kỹ thuật nghịch đảo → tìm ra các chỗ bị lỗi, bị tổn thương - Bản chất mất an ninh nằm ở chất lượng mã nguồn - Lý thyết và thực tế đều chỉ ra rằng PMNM an ninh hơn PMNĐ → Mil-OSS → Trung bình sửa lỗi: Mozilla Firefox 37 ngày; MS Windows 134.5 ngày 2. Tư duy 'dễ chèn mã độc hơn vào PMNM' là không đúng - Thế giới nguồn mở nói: 'Nhiều con mắt soi vào thì lỗi sẽ cạn' - Ví dụ thực tế: Borland Interbase có giấy phép MPL năm 2000 → 5 tháng sau tìm ra lỗi mà 7 năm liền không ai tìm ra khi là PMNĐ - Vụ giám sát ồ ạt của NSA → M$ tự phá mật mã của hãng → Ai biết? 3. Đòi hỏi khác thường: Mọi PMNM phải có cơ chế đảm bảo ANAT TT - Mỗi mẩu phần mềm có chức năng của riêng nó theo thiết kế - Không thể bắt trình soạn thảo văn bản có chức năng chống rò rỉ thông tin - Hệ thống có nhiều mẩu phần mềm, mỗi mẩu thực hiện chức năng của nó
  • 9. E. Phân tích SWOT của PMNM Từ tài liệu 'PMNM vì sự phát triển của hành chính nhà nước Tây Ban Nha' của CENATIC, Tây Ban Nha từ năm 2008:
  • 10. PMNM và PMNĐ không chỉ khác nhau về bản chất các giấy phép, mà còn khác nhau ở bản chất của mô hình phát triển và các mô hình kinh doanh. Cảm ơn! Hỏi đáp

×