• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
Luan Van  Tot Nghiep Thac Sy Kinh Te Thuy
 

Luan Van Tot Nghiep Thac Sy Kinh Te Thuy

on

  • 3,896 views

 

Statistics

Views

Total Views
3,896
Views on SlideShare
3,896
Embed Views
0

Actions

Likes
1
Downloads
86
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Upload Details

Uploaded via as Microsoft Word

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Luan Van  Tot Nghiep Thac Sy Kinh Te Thuy Luan Van Tot Nghiep Thac Sy Kinh Te Thuy Document Transcript

    • i ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ------------------------------------------------------------------------------------ PHẠM TRUNG THỦY TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẾN SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO KHU VỰC THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp Mã số: 60-31-10 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.Đỗ Anh Tài
    • ii Thái Nguyên, tháng 9 năm 2009 LỜI CAM ĐOAN Luận văn “Tác động của dự án duy trì và phát bền vững đến sinh kế của người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên” được thực hiện từ tháng 6/2007 đến tháng 8/2009. Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc, đa số thông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương, số liệu đã được tổng hợp và xử lý trên các phần mềm thống kê SPSS 15, R.9.1. Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào tại Việt Nam. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
    • iii LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau Đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài. Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS.Đỗ Anh Tài đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Tôi xin chân thành cám ơn TS.Joachim Krug thuộc viện nghiên cứu rừng thế giới, đại học Hamburg - Đức đã đã tổ chức lớp huấn luyện về các phương pháp đánh giá chỉ số (Indicators) trong đánh giá sinh kế tại trường Đại học Kinh tế & QTKD Thái Nguyên tháng 5/2009. Tôi xin cám ơn Anna Rosa Stier - Học viên cao học thuộc Đại học Marie Curie - Pháp đã hướng dẫn tôi ứng dụng phần mềm R trong phân tích, kiểm định các chỉ tiêu để đánh giá sinh kế. Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên, trạm Khuyến nông, phòng Nông nghiệp&PTNT, phòng Thống kê, Phòng lao động thương binh xã hội, Phòng tài nguyên và môi trường, cán bộ và nhân dân các xã Cát Nê, Văn Yên và xã Ký Phú đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra thực địa giúp tôi hoàn thành luận văn này. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt là người vợ thân yêu đã luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Thái Nguyên, ngày 20 tháng 9 năm 2009 Tác giả luận văn
    • iv Phạm Trung Thủy MỤC LỤC Trang phụ bìa i Lời cam đoan ii Lời cảm ơn iii Mục lục iv Danh mục các chữ viết tắt vii Danh mục các bảng, biểu viii Danh mục biểu đồ, sơ đồ ix DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VQG Vườn Quốc gia GTZ Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức UBND Ủy ban nhân dân PTNT Phát triển nông thôn CHLB Công hoà liên bang SPSS Statistical Package For Social Sciences R Recreational Mathematics MIS Hệ thống thông tin môi trường SME Doanh nghiệp vừa và nhỏ
    • v PIC Trung tâm thông tin công cộng PSFE Chương trình rừng quốc gia UTOs tổ chức hợp tác kỹ thuật WCS Hiệp hội bảo vệ thú rừng WWF Quỹ thế giới bảo vệ các loài thú hoang dã DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu 2.1: Nghề nghiệp của chủ hộ trong mẫu điều tra.........................................lv Biểu 2.2: Nghề nghiệp của vợ/chồng chủ hộ.......................................................lvii Biểu 2.3: Nghề nghiệp của các thành viên khác trong hộ.................................lviii Biểu 2.4: Các nguồn thu hàng năm của hai nhóm hộ ........................................lxx Biểu 2.5: Sự tham gia và các nguồn thu trung bình năm 2008 ......................lxxii Biểu 2.6: Doanh thu và chi phí bình quân năm 2008 từ rừng .......................lxxiv Biểu 2.7: Đánh giá mức độ quan trọng của rừng đối với cuộc sống............lxxxiv
    • vi Biểu 2.8: Đánh giá của người dân về sự thay đổi môi trường......................lxxxvi Biểu 2.9: Sự khác biệt về cơ cấu kinh tế giữa hai nhóm hộ........................lxxxviii DANH MỤC SƠ ĐỒ DANH MỤC HỘP MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Ngày nay, vấn đề môi trường ngày càng trở thành tâm điểm và thu hút được sự quan tâm của tất cả mọi thành phần trong xã hội vì nó ảnh hưởng trực tiếp hàng ngày đến cuộc sống của vạn vật trên trái đất. Trái đất của chúng ta đang nóng dần lên hàng ngày, hàng giờ bởi chính các tác động xấu của con người đến môi trường tự nhiên như việc chặt phá, khai thác rừng trái phép, nước thải của các nhà máy chế biến không qua xử lý theo đúng tiêu chuẩn cho phép, khí thải của nền sản xuất công nghiệp trên toàn thế giới... Môi trường xấu đã tác động tiêu cực lại chính cuộc sống của chính chúng ta như: Ô nhiễm môi trường nước, không khí, dịch bệnh, lũ lụt, hạn hán... Ở Việt Nam, Chính phủ và người dân đã cùng nhận thức được tầm quan trọng phải bảo vệ môi
    • vii trường sống cho chính bản thân chúng ta và gìn giữ cho các thế hệ mai sau. Cùng với sự trợ giúp của các tổ chức nước ngoài về kinh nghiệm, phương pháp kỹ thuật và tài chính, chính phủ Việt Nam và các ban ngành có liên quan đã hợp sức cùng với người dân vùng đệm triển khai các dự án tại khu vực vùng đệm nhằm phát triển kinh tế cho người dân vùng đệm, nâng cao đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội, duy trì và bảo tồn thiên nhiên, cải thiện môi trường sống tại khu vực vùng đệm, dần dần thay đổi sinh kế của người dân trong khu vực vùng đệm để cuộc sống của họ ngày càng giảm bớt sự phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên rừng tự nhiên phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày, nhờ đó mà gián tiếp duy trì và bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia. Vườn Quốc gia (VQG) Tam Đảo được thành lập theo quyết định số 136/ TTG ngày 06/03/1996 của Thủ tướng Chính phủ, nằm cách Hà Nội khoảng 70 km về phía Bắc. Với tổng diện tích 34.995 ha và 15.515 ha vùng đệm. Đây là một trong những rừng Quốc gia lớn nhất ở Việt Nam và là vùng tự nhiên cuối cùng ở sát Hà Nội chưa bị chuyển thành đất sử dụng cho nông nghiệp. VQG Tam Đảo cũng được biết đến với hệ sinh thái rất phong phú và đa dạng cả về số lượng và chủng loại động thực vật. Song việc khai thác tràn lan rừng quốc gia trong thời gian qua và công tác quản lý chưa hiệu quả đã làm xói mòn đa dạng sinh học và suy kiệt các nguồn lực rừng quốc gia, đặc biệt ở tầng thực vật thấp. Có khoảng trên 200 nghìn người dân đang sinh sống trong khu vực vùng đệm VQG Tam Đảo. Phần lớn người dân ở đây tạo thu nhập từ hoạt động nông nghiệp trong khi đó vẫn sử dụng tài nguyên từ VQG Tam Đảo như một nguồn cung cấp thực phẩm, chất đốt, cây thuốc, nước uống, nước cho sản xuất nông nghiệp và là nơi chăn thả gia súc. Trước tình hình đó, dự án kéo dài trong 6 năm (bắt đầu từ năm 2003 đến 2009) về Quản lý VQG Tam Đảo và vùng đệm đã được thiết lập giữa Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức
    • viii GTZ, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, và ba tỉnh nằm trong vùng đệm bao gồm tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Dự án Quản lý VQG và vùng đệm Tam Đảo hướng tới phát triển phương pháp quản lý hòa nhập và hợp tác cho VQG Tam Đảo và người dân vùng đệm cũng như giải quyết các vấn đề chính về bảo tồn môi trường thiên nhiên. Dự án nhằm mục tiêu hỗ trợ và phát triển các sáng kiến, phương kế sinh nhai khác nhau cũng như các hoạt động giáo dục và nâng cao ý thức trong cộng đồng dân cư khu vực vùng đệm, cùng với các mục tiêu xoá đói, giảm nghèo. Dự án quản lý và bảo vệ VQG Tam Đảo mang tính bền vững. Thông qua tìm hiểu, phân tích các tác động của dự án GTZ đang triển khai tại vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên nhằm đánh giá ảnh hưởng từ các hoạt động của dự án đến sinh kế đối với người dân vùng đệm. Từ việc so sánh sự khác biệt trong cơ cấu thu nhập, mức độ phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên rừng trong sinh kế, nhận thức về tầm quan trọng của rừng đến đời sống hiện tại của hộ và các thế hệ con cháu tương lai... giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án nhằm phát hiện các yếu tố tích cực đem lại hiệu quả kinh tế cho các hộ tham gia dự án, ngày càng giảm bớt và dần loại bỏ sự phụ thuộc vào việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên từ rừng để sinh sống như: Khai thác gỗ, thu lượm củi đốt, săn bắn các loại động vật hoang dã, chăn thả gia súc, khai thác quặng, đất đá, lấy măng... là hết sức cấp bách và cần thiết để bảo vệ sự đang dạng sinh học tự nhiên vốn có của VQG Tam Đảo. Với mục tiêu duy trì và phát triển bền vững VQG Đảo nên việc xem xét đến hiệu quả của dự án GTZ triển khai tại khu vực vùng đệm là điều kiện tiên quyết. Chính vì lý do đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài : “Tác động của dự án duy trì và phát triển bền vững đến sinh kế của người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên”. 2. Mục tiêu nghiên cứu
    • ix  Mục tiêu chung Mục tiêu chung của đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá được sự tác động từ các hoạt động dự án trong việc phát triển sinh kế cho người dân vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên.  Mục tiêu cụ thể • Đánh giá thu nhập giữa hai nhóm hộ • So sánh cơ cấu thu nhập giữa hai nhóm hộ • Sự tham gia và các nguồn doanh thu • Sử dụng tài nguyên rừng phân theo nhóm hộ • Nhận thức về các hoạt động gây ô nhiễm • Sự thay đổi thu nhập của hộ theo đánh giá của người dân • Sự chuyển dịch kinh tế giữa hai nhóm hộ • Đánh giá tác động các nguồn lực tại địa bàn nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu  Đối tượng nghiên cứu • Các hộ dân vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên. • Các nguồn lực tại khu vực vùng đệm của dự án. • Các hoạt động sản xuất, kinh doanh của hai nhóm hộ nghiên cứu.  Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi 03 xã là: Xã Cát Nê, xã Văn Yên và xã Ký Phú thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. Về thời gian: Nghiên cứu từ ngày 01/06/2008 đến ngày 30/08/2009 4. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá tác động trong thay đổi sinh kế của người dân vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên thông qua các
    • x hoạt động hỗ trợ của dự án. Xem xét khả năng duy trì và phát triển các nguồn lực: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực về con người, nguồn lực về xã hội, nguồn lực về vật chất, nguồn lực tài chính của các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu. Từ việc nghiên cứu đó đề xuất các giải pháp để sử dụng và phát triển bền vững các nguồn lực nói trên. Giới thiệu phương pháp luận mới trong đánh giá sinh kế thông qua các chỉ số (Indicators). Phần nghiên cứu này tác giả tham khảo thông qua các chuyên gia thuộc Viện nghiên cứu và phát triển rừng thế giới. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn được chia thành 3 chương cụ thể như sau: Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng triển khai dự án GTZ tại khu vực nghiên cứu Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm duy trì và phát triển bền vững các nguồn lực tại vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học về phát triển bền vững 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Khái niệm phát triển bền vững Năm 1992: Tại Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED). Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21). Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển
    • xi cũng như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung hiệp định về sự biến đổi khí hậu, quản lý, bảo tồn rừng tự nhiên. Năm 2002: Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm trong suốt 10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên. Những mục tiêu này bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển. Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005. Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự án VIE/01/021 "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam" bắt đầu vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đề cho việc thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam. Phát triển bền vững là một khái niệm mới nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môi trường, do đó cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống nhất. Sau đây là một số định nghĩa của Khoa học Môi trường về phát triển bền vững: Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission and Environment and Development, WCED) thì “phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”. Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai [1].
    • xii Định nghĩa này bao gồm hai nội dung then chốt: Các nhu cầu của con người và những giới hạn đối với khả năng của môi trường đáp ứng các nhu cầu hiện tại và tương lai của con người. Phát triển bền vững là mô hình phát triển trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau [2]. Phát triển bền vững là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế làm giảm sự khai thác tài nguyên cho phát triển kinh tế, sự suy thoái môi trường trong tương lai và làm giảm sự đói nghèo. Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi công nghệ hiện đại, công nghệ sạch, công nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từ sản phẩm kinh tế - xã hội. Muốn vậy, phải giải quyết các mâu thuẫn như sản xuất - nhu cầu - tài nguyên thiên nhiên và phân phối, vốn đầu tư, cũng như công nghệ tiên tiến cho sản xuất. Các nước trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, đưa đến hiện tượng có nước giàu và nước nghèo, nước công nghiệp phát triển và nước nông nghiệp. Do đó, cần xem xét bốn vấn đề chính đó là: con người, kinh tế, môi trường và công nghệ, qua đó phân tích phát triển bền vững và có đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Về kinh tế, phát triển bền vững bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về quyền sử dụng ruộng đất, đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội. Về con người, để đảm bảo phát triển bền vững cần thiết nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ tích cực
    • xiii tham gia bảo vệ môi trường cho sự phát triển bền vững. Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ các nhà giáo đủ về số lượng, cũng như các thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Về môi trường, phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng bền vững tài nguyên như đất trồng, nguồn nước, khoáng sản… đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân số tăng nhanh. Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, các hoạt động uy hiếp đời sống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước, không khí và lương thực. Về công nghệ, phát triển bền vững là giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất, áp dụng có hiệu quả các loại hình công nghệ sạch trong sản xuất. Trong sản xuất công nghiệp cần đạt mục tiêu ít chất thải hoặc chất gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng các chất thải, ngăn ngừa các chất khí thải công nghiệp làm suy giảm tầng ozon bảo vệ trái đất. Phát triển bền vững và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá - môi trường. Mỗi mục tiêu phát triển có vị trí riêng của nó, song nó được gắn với mục tiêu khác. Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tương lai vì xã hội loài người. Phát triển bền vững theo Brundtland Năm 1984: Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem Brundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and Development-WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland.
    • xiv Tới nay, ủy ban này đã được ghi nhận có những công hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bền vững. Theo Ủy ban Brundtland: “Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật. Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu, nghèo và giữa các thế hệ. Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững. Theo ý kiến tác giả sẽ thống nhất khái niệm về phát triển bền vững theo khái niệm của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission and Environment and Development, WCED): “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”. Xu hướng phát triển bền vững “Phát triển bền vững” qua một số nghiên cứu ở Việt Nam. Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ. Về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh. Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như "Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học
    • xv Tổng hợp Hà Nội [3]. Công trình này đã tiếp thu và thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật. "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành [4]. Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, Đức, Pháp... các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường, đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam. "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững [5]. Công trình này đã xác định phát triển bền vững qua các tiêu chí: Bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hoá, đã tổng hợp từ nhiều mô hình phát triển bền vững như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên kết hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của ngân hàng thế giới (World Bank). Chủ đề này cũng được bàn luận sôi nổi trong giới khoa học xã hội với các công trình như "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp" (1997) của Phạm Xuân Nam [6]. Trong công trình này, tác giả làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm phát triển bền vững: Phát triển xã hội, phát triển kinh tế,
    • xvi bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ, và cuối cùng là dự báo quốc tế về phát triển. 1.1.2. Khái niệm về sinh kế Theo Trung tâm nuôi trồng Thuỷ sản Châu Á Thái Bình Dương (NACA): Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá..) và các hoạt động cần có để kiếm sống [7]. Kết quả của sinh kế là những thay đổi có lợi cho đời sống kinh tế - xã hội của cộng đồng. Nhờ các chiến lược sinh kế mang lại cụ thể là thu nhập cao hơn, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn lương thực và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên. Sinh kế bền vững: Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng của con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ. Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai. Trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hoà hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai. Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này phải hội tụ đủ những nguyến tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, tổng thể, thực hiện ở nhiều cấp, trong mối quan hệ với đối tác, bền vững và năng động. 1.1.3. Khái niệm về vùng đệm Tại Điều 8 - Quyết định số 08/2001/QĐ - TTG ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng
    • xvii phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên quy định ghi rõ: "Vùng đệm là vùng rừng, đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật hoang dã và chặt phá các loài thực vật là đối tượng bảo vệ. Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng. Chủ đầu tư dự án vùng đệm có trách nhiệm phối hợp với UBND các cấp và các cơ quan, đơn vị, các tổ chức kinh tế - xã hội ở trên địa bàn của vùng đệm, đặc biệt là với ban quản lý khu rừng đặc dụng để xây dựng các phương án sản xuất lâm - nông - ngư nghiệp, định canh định cư trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện để ổn định, nâng cao đời sống của người dân [8]. Như vậy, vùng đệm phải được xác định trên cơ sở theo ranh giới của các xã nằm ngay bên ngoài khu bảo tồn, những lâm trường quốc doanh tiếp giáp với khu bảo tồn nên đưa vào trong vùng đệm vì những hoạt động của các lâm trường này có ảnh hưởng đến công tác bảo tồn của cả vùng đệm và khu bảo tồn. Trong những trường hợp như thế, ranh giới vùng đệm không nhất thiết cách đều một khoảng và chạy song song với ranh giới các khu bảo tồn. Xem xét các vùng đệm đã có hiện nay tại các VQG và khu bảo tồn chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng việc thành lập các vùng đệm không theo một khuôn khổ thống nhất. Dù vùng đệm của khu bảo tồn được tạo ra theo hình thức nào, hay khi thành lập khu bảo tồn không nói đến vùng đệm, thì những công việc hàng ngày xảy ra, do dân cư sinh sống xung quanh khu bảo tồn, tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn, đã buộc các ban quản lý VQG và khu bảo tồn
    • xviii phải có những hoạt động liên quan đến việc ổn định cuộc sống của dân cư ở đây, giáo dục, khuyến khích họ bảo vệ thiên nhiên, giải quyết những mâu thuẫn xảy ra giữa khu bảo tồn và dân, giảm sức ép của dân lên khu bảo tồn v.v... Đó là những công việc quan trọng mà ban quản lý khu bảo tồn nào cũng phải thường xuyên lo lắng, và không thể bỏ qua được. Các công việc đó thực chất là một trong những công việc quan trọng của việc quản lý vùng đệm. Để giải quyết những vấn đề đặt ra liên quan đến vùng đệm, Việt Nam đã tổ chức 3 hội thảo về vùng đệm. Hội thảo tháng 3/1999 tại Hà Nội có tác giả đã đưa ra định nghĩa vùng đệm của khu bảo tồn Việt Nam như sau: "Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh khu bảo tồn”. Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm". Vùng đệm chịu sự quản lý của chính quyền địa phương và các đơn vị kinh tế khác nằm trong vùng đệm [9]. Định nghĩa trên đã nói rõ chức năng của vùng đệm là: Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn mà nó bao quanh; nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm; và tạo điều kiện mang lại cho những người sinh sống trong vùng đệm những lợi ích từ vùng đệm và từ khu bảo tồn. Vùng đệm của VQG Tam Đảo được xác định nằm trên địa bàn của 27 xã và thị trấn thuộc 6 huyện và 3 tỉnh, cụ thể là: Tỉnh Vĩnh Phúc: Bao gồm các xã Hồ Sơn, Hợp Châu, Minh Quang, Đại Đình, Tam Quan thuộc huyện Tam Đảo và thị trấn Tam Đảo; xã Trung Mỹ thuộc huyện Bình Xuyên; và xã Ngọc Thanh thuộc huyện Mê Linh.
    • xix Tỉnh Thái Nguyên: Bao gồm các xã Quân Chu, Cát Nê, Ký Phú, Văn Yên, Hoàng Nông, Phú Xuyên, La Bằng, Mỹ Yên, Khôi Kỳ, Yên Lãng và thị trấn Quân Chu thuộc huyện Đại Từ; xã Phúc Thuận và Thành Công thuộc huyện Phổ Yên. Tỉnh Tuyên Quang: Bao gồm các xã Ninh Lai, Thiện Kế, Hợp Hoà, Kháng Nhật, và Hợp Thành thuộc huyện Sơn Dương. 1.2. Cơ sở thực tiễn 1.2.1. Đôi nét tóm tắt về tổ chức GTZ. Tổ chức GTZ (German Agency for Technical Cooperation or Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit) là một tổ chức thuộc chính phủ Đức hoạt động trong lĩnh vực hợp tác quốc tế. Nhiệm vụ của GTZ là góp phần tác động tích cực vào sự phát triển về mặt chính sách, kinh tế, sinh thái và xã hội của 130 nước đối tác trên khắp thế giới, cải thiện điều kiện sống về kinh tế, văn hoá xã hội, môi trường và triển vọng lâu dài của người dân ở các nước đó. Các hoạt động của GTZ được tài trợ bởi chính Bộ hợp tác Kinh tế phát triển Đức (BMZ). Ngoài ra, GTZ thực hiện sứ mệnh của mình dưới sự ủy nhiệm của các Bộ khác của Đức. Chính phủ của các nước đối tác và các tổ chức quốc tế như Uỷ ban châu Âu (European Commission), Liên Hợp Quốc (United Nations), Ngân hàng thế giới (World Bank) cũng như các tổ chức cá nhân khác. Tổ chức GTZ đã có mặt ở Việt Nam vào năm 1993 và hiện đang hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc triển khai hơn 30 chương trình dự án trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Hiện tại, hoạt động của tổ chức hợp tác kỹ thuật GTZ tại Việt Nam tập chung vào ba lĩnh vực chính đó là: Phát triển kinh tế bền vững, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Chăm sóc sức khoẻ và lĩnh vực đan xen giảm nghèo [10]. 1.2.2. Một số hoạt động của tổ chức GTZ trên thế giới
    • xx Tại Indonesia: Dự án cung cấp nước sạch cho nông thôn tại Nusa Tenggara Timur and Nusa Tenggara Barat. Dự án thực hiện từ tháng 7/2002 đến tháng 12/2008 [22]. Nội dung của dự án: Rất nhiều các khu vực nông thôn của các tỉnh miền Đông và miền Tây của tỉnh Nusa Tenggara Timur và Nusa Tenggara Barat của Indonesia chưa được cung cấp nước sạch. Hiện tượng thiếu nước trầm trọng trong 8 tháng mùa khô thường xuyên sảy ra, gần như không có quá trình xử lý nước thải và điều kiện vệ sinh yếu kém đã làm tăng nhanh số người bị mắc bệnh tật, làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của khu vực. Mục tiêu của dự án: Người dân địa phương tổ chức tự cung cấp hệ thống nước sạch độc lập dựa trên cơ sở có thể thực hiện được. Chính quyền địa phương thực hiện theo sự thành công về tổ chức và quản lý theo chiến lược, kế hoạch và phổ biến cách làm của họ cho những địa phương khác. Thực hiện: Dự án được tài trợ bởi ngân hàng phát triển KfW. KfW có trách nhiệm xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch trong khi đó GTZ liên kết với các thành viên địa phương trở thành người đứng ra quản lý, xác nhận sự cải thiện về hệ thống cung cấp nước tại địa phương. Huấn luyện cách đo lường và cung cấp thông tin về cung cấp nước tại địa phương là cơ sở cho họ quản lý hệ thống cung cấp nước cả trên phương diện khoa học và tài chính và thực hiện nó một cách độc lập. Trong trường hợp này, họ trở nên tốt hơn khi nắm được tình hình về thực tế cải thiện vệ sinh và sự bảo tồn các tài nguyên. Dự án cũng chuẩn bị cho lãnh đạo địa phương đối với luật để quản lý việc cung cấp nước một cách chính xác và phương pháp để bảo tồn tài nguyên. Kết quả đạt được: Đến tháng 10/2005, trên mỗi huyện đã có 10 đơn vị quản lý và 40 tổ chức sử dụng nước tuân thủ theo luật của từng cấp tại địa phương. Đơn giản
    • xxi việc cung cấp nước chính xác theo kế hoạch và được xây dựng với sự tham gia của người dân. Người sử dụng nước máy có thể quản lý tài chính và chi phí độc lập. Trung bình mỗi ngày lượng nước cung cấp tăng tới 40 lít/người/ngày. Người dân tham gia cho biết tốt hơn về tầm quan trọng của việc vệ sinh cá nhân khi dùng nước. Những người trong nhóm sử dụng nước thường xuyên thảo luận về bảo tồn tài nguyên trong các cuộc họp và thực thi giảm ô nhiễm đến nguồn tài nguyên nước. Tại Thái Lan Dự án GTZ tập trung Quản lý hệ thống thông tin để hạn chế ô nhiễm Công nghiệp. Dự án thực hiện từ tháng 6/2005 đến tháng 5/2007. Nội dung: Các cơ quan của chính phủ thiếu những thông tin chính xác về ảnh hưởng đối với môi trường bởi quá trình công nghiệp hoá và đó chính là cơ hội lớn để cải thiện trong năng lực quản lý khí thải công nghiệp. Mục tiêu: Đến khi kết thúc dự án, các cơ quan của chính phủ đưa ra chính sách và thước đo và được thực hiện theo các bước sau: Cơ sở dữ liêụ về môi trường công nghiệp (Không khí, nước, rác thải..) đối với khu vực đã lựa chọn là phải được ứng dụng thực tế. Nhu cầu về việc ứng dụng hệ thống quản lý thông tin cho các khu vực được lựa chọn của các công ty vừa và nhỏ để nâng cao hiệu quả sinh thái. Phương thức tiếp cận: Tất cả các hoạt động của dự án nhằm giới thiệu hệ thống thông tin hiện đại như cơ sở cho việc ra quyết định tốt hơn tại các nhóm mục tiêu khác nhau. Nhiệm vụ đầu tiên là thực thi một hệ thống thông tin về môi trường tại Cục công nghiệp để theo theo dõi, phân tích và quản lý có hiệu quả khí thải công nghiệp. Hệ thống sẽ dựa trên cơ sở dữ liệu lấy từ các báo cáo và từ chính
    • xxii các nhà máy. Gần đây, các dữ liệu này được báo cáo và xử lý theo định dạng tương tự (trên giấy). Kết quả là việc giới thiệu Hệ thống thông tin môi trường (MIS) ban đầu lại tập trung vào việc nâng cao hiệu quả của các cải cách có liên quan và của các quy trình xét duyệt. Hơn thế nữa việc này còn giúp cho Cục công nghiệp có thể kiểm tra độ tin cậy của các dữ liệu được báo cáo một cách liên tục và kiểm soát, phân tích sự phát triển của các vấn đề môi trường công nghiệp theo từng lĩnh vực và khu vực. Các dữ liệu về ô nhiễm công nghiệp sẽ cung cấp một cách cơ bản cần thiết cho việc hoạch định chính sách phát triển công nghiệp. Theo quan điểm của lĩnh vực công nghiệp, hệ thống sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng cung cấp từ Cục công nghiệp. Nhiệm vụ thứ hai tập trung vào việc thực hiện về hệ thống thông tin môi trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) đã lựa chọn. Đối với tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thái Lan, hệ thống thông tin môi trường là một công cụ hoàn toàn mới. Có rất ít công ty có kinh nghiệm về hệ thống thông tin môi trường. Hệ thống của hộ tập trung chính vào các vấn đề về tài chính, như là sự chiếm lĩnh về nguồn vật chất. Nhiệm vụ chính thứ ba: Các hệ thống của nước này tập trung chủ yếu vào các vấn đề liên quan đến kế toán, như việc mua các vật liệu thô và buôn bán. Hệ thống quản lý thông tin được dự án phát triển và thúc đẩy sẽ chú trọng vào phân tích dòng nguyên liệu và cung cấp những thông tin có giá trị cho những nhà hoạch định, nhằm cải thiện tính hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh của các công ty. Yếu tố sau sẽ là mấu chốt để khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ triển khai và sử dụng hiệu quả những hệ thống như vậy. Mặc dù ban đầu chỉ có vài công ty trong các phân ngành được lựa chọn sẽ giới thiệu MIS, nhưng các công ty khác chắc chắn sẽ theo sau. Nhiệm vụ chính thứ ba nêu lên thực tại rằng cho đến nay, hầu như không có dịch vụ tư vấn sở tại liên quan đến MIS nào cho các SME Thái Lan. Những dịch vụ này
    • xxiii sẽ rất quan trọng nhằm đảm bảo tính bền vững của kết quả thứ 2, vì các SME sẽ cần nhiều hỗ trợ hơn trong việc triển khai và sử dụng đầy đủ những hệ thống này. Do vậy, dự án sẽ triển khai một chương trình đào tạo và đánh giá cho những tư vấn viên địa phương và khuyến khích họ hỗ trợ quá trình triển khai MIS trong 2 phần ngành được lựa chọn. Có thể giả định rằng các tư vấn viên địa phương sẽ muốn tham gia. Hơn nữa, các tư vấn viên sẽ muốn mở rộng dịch vụ của họ tới các ngành công nghiệp khác[23]. Tại Trung Quốc Nội dung: Trong những năm qua Chính phủ Trung Quốc đã giành nhiều công sức nhằm cải thiện an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều nỗ lực, những vấn đề rất nghiêm trọng vẫn còn có nhiều tồn tại trong ngành nông nghiệp, chăn nuôi và thuỷ sản, đặc biệt là về lĩnh vực sản xuất thức ăn cho thị trường Trung Quốc. Không biết phải làm thế nào cũng như phải tuân theo công nghệ nào thì mới đạt được tiêu chuẩn quốc tế. Việc tích trữ, bảo quản và hệ thống phân phối không được phát triển. Các vấn đề nhiễm khuẩn và nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu và nhiễm một số kim loại nặng cho thấy kết quả là những thất bại, những rủi ro sức khoẻ đáng quan tâm đối với người tiêu dùng và dẫn tới sự bài trừ những sản phẩm thức ăn có nguồn gốc từ Trung Quốc trên nhiều thị trường thế giới. Mục đích: Dự án nhằm mục đích cải thiện chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Cách tiếp cận: Trong những năm qua, một số nghiên cứu đáng chú ý đã được thực hiện một cách kỹ lưỡng đó là cần phải thiết lập một điều gì đó đáng phải làm nhằm
    • xxiv đảm bảo an toàn thực phẩm. Dự án nhằm mục đích đưa ra những luận chứng còn hạn chế để tìm ra các giải pháp có thể đạt được. Nhà nước nên phác thảo và thực thi một hệ thống quản lý để đảm bảo rằng các xí nghiệp tự có trách nhiệm với sản phẩm của mình. Như vậy, hệ thống thông thường bao gồm những yếu tố sau: Đánh giá rủi ro để xác định xem có bao nhiêu người bị ảnh hưởng và mức độ nghiêm trọng nếu một công ty bán ra các sản phẩm bị nhiễm độc. Dựa vào đánh giá rủi ro này, một hệ thống quản lý rủi ro sẽ được thiết kế và triển khai. Điều này có thể cũng đòi hỏi sự điều chỉnh một số quy tắc hành chính nhất định. Một phần là sự giám sát theo hoạch định của các sản phẩm của các doanh nghiệp. Một bộ phận không thể thiếu của hệ thống quản lý rủi ro là hệ thống khẩn cấp cho phép việc nhận dạng và xóa bỏ tất cả các sản phẩm bị nhiễm độc khỏi hệ thống phân phối ngay khi mẫu xét nghiệm cho thấy có gây nguy hại tới sức khỏe cộng đồng. Dự án GTZ sẽ tập trung và các sản phẩm được lựa chọn (hoa quả, rau và thịt lợn) của 3 hạt của tỉnh Hebei và sẽ xem xét toàn bộ chuỗi từ sản xuất ban đầu đến tiêu thụ. Thời gian triển khai dự án từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 4 năm 2010 [24]. Tại Camaroon: Dự án quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Nội dung: Mặc dù Cameroon với nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có rất triển vọng cho việc phát triển kinh tế và giảm đói nghèo. Nhưng cho đến nay, tiềm năng này vẫn chưa được khai thác hiệu quả và đang trong tình trạng suy giảm chất lượng. Rất nhiều chương trình và chiến lược đưa ra nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hiệu quả hơn đều không thành công. Nguyên nhân là do mâu thuẫn về
    • xxv quyền lợi, và hơn thế là thiếu cân đối và phối hợp hài hoà giữa các chương trình này. Hiện nay, chính phủ Cameroon đang thực thi chương trình Rừng quốc gia (PSFE) nhằm đạt được tiến triển ở những khu vực nhất định. Mục tiêu: Cộng đồng và các công ty tư nhân có thể quản lý tài nguyên hiệu quả và đảm bảo đa dạng sinh học. Mâu thuẫn giữa việc phát triển địa phương và quốc gia với việc bảo vệ tài nguyên được giải quyết trong phạm vi chương trình bằng việc đưa ra các giải pháp phù hợp. Người dân trong khu vực rừng cần bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên này một cách hợp lý. Phương thức tiếp cận: GTZ ưu tiên việc phối hợp và hài hoà các nhân tố ở các quốc gia liên quan tới chương trình PSFE tương ứng với hành động của họ. Hơn nữa, thông qua việc liên kết chặt chẽ với Hiệp hội bảo vệ rừng Châu Phi (COMIFAC), chương trình này được tổ chức theo hướng siêu quốc gia trong khu vực. Trong nội dung chương trình, GTZ hiện nay tập trung mũi nhọn vào việc thực hiện chiến dịch toàn Châu Âu có tên là “Thi hành luật bảo vệ rừng, cai quản và thương mại’ tại Cameroon. Một hoạt động có tính quyết định nữa trong chương trình là truyền đạt các cách thức để thúc đẩy việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và tuân thủ các quy định, luật lệ cũng như nâng cao nhận thức của người dân. Bộ lâm nghiệp sẽ được tư vấn phương pháp để cập nhật tiến độ dự án. Ở khu vực phía Tây Nam và Tây Đông của Cameroon, GTZ phối hợp cùng các cơ quan chức năng, Quỹ thế giới bảo vệ các loài thú hoang dã (WWF) và Hiệp hội bảo vệ thú rừng (WCS) để xây dựng một tổ chức hợp tác
    • xxvi kỹ thuật (UTOs). Đây là thiết bị quy hoạch không gian, được thiết kế nhằm hài hoà giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ sinh thái ở những khu vực này. Kết quả đạt được đến thời điểm hiện tại: Nhờ sự hỗ trợ của dự án GTZ, một chiến lược quốc gia có tính nhất quán cao với kế hoạch trung hạn và các mục tiêu rõ ràng đang được triển khai. Quá trình phối hợp giữa các cơ quan chức năng về lâm nghiệp và các bộ phận khác đã mang lại những tiến bộ đáng kể trong quy hoạch không gian cho những khu vực riêng biệt dựa trên các nhân tố địa lý, sinh thái và phát triển kinh tế. Kế hoạch quản lý ở hai khu vực này cũng đang được triển khai. Người dân địa phương nhận được rất nhiều sự hỗ trợ trực tiếp như việc giúp đỡ một tổ chức phi chính phủ để phát triển các dịch vụ du lịch sinh thái, nhờ đó mà số lượng khách du lịch đến khu vực này tăng lên gấp đôi trong vòng ba năm. Các làng bản ở khu vực phía Tây Nam hiện nay đã có thể sử dụng hợp lý tài nguyên thô từ loài tre “Prunus africana” - một nguyên liệu rất cần thiết cho ngành công nghiệp dược phẩm, phù hợp với kế hoạch quản lý và khả năng khai thác. Những định hướng phát triển làng bản với sự trợ giúp của dự án GTZ sẽ giúp người dân địa phương sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên và các nguồn hỗ trợ tài chính của quốc gia cũng như quốc tế. Thời gian thực hiện dự án từ tháng 10/2003 đến 9/2015 [25]. 1.2.3. Một số hoạt động của GTZ triển khai tại Việt Nam. a. Dự án Phát triển nông thôn Đắk Lắk Từ năm 2003, Dự án Phát triển nông thôn Đắk Lắk đẩy mạnh sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số nông thôn vào tiến trình phát triển kinh tế của tỉnh. Mục tiêu là giới thiệu phương pháp lập kế hoạch phát triển chung dựa theo nhu cầu để phân phối nguồn lực. Sự quan tâm đến nhu cầu và bối cảnh văn hóa - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số là điểm mấu chốt trong
    • xxvii việc điều chỉnh khung pháp lý để phát triển nông thôn và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Dự án hỗ trợ giới thiệu mô hình quản lý rừng cộng đồng có sự tham gia trong giao đất, điều tra rừng và lập kế hoạch quản lý rừng. Đồng thời, hỗ trợ các cơ quan liên quan xây dựng và thí điểm các thủ tục hành chính và tài chính cần thiết để thể chế hóa thủ tục và nhân rộng toàn tỉnh. Cùng với các cơ quan khuyến nông thuộc Sở Nông nghiệp&PTNT và với sự tham gia của nông dân là dân tộc thiểu số. Dự án đã triển khai thí điểm và phổ biến các mô hình canh tác đất dốc và chăn nuôi gia súc phù hợp. Đồng thời giới thiệu các phương pháp khuyến nông có sự tham gia và hỗ trợ người dân tiếp cận các nguồn tín dụng quy mô nhỏ. Để tạo cơ hội tăng thu nhập thêm cho người dân. Dự án cũng tập trung vào nâng cao năng lực và tập huấn cho các cán bộ ở các cơ quan và tổ chức xã hội các cấp trong tỉnh. Các quy trình, hướng dẫn mới hoặc được thông qua và các mô hình đã được thí điểm ở 4 xã mục tiêu của dự án ở huyện Lak và Ea H’Leo. Phân bổ tài chính công cho các buôn người dân tộc thiểu số ở 2 huyện mục tiêu vùng dự án (Lak và Ea H'Leo) tăng từ 23 tỉ đồng (tương đương khoảng 1,15 triệu Euro vào năm 2005) lên 35 tỉ đồng (tương đương 1,75 triệu Euro) [11]. b. Tại Đắc Nông Ngày 16/4/08 tại Hà Nội, ông Đỗ Thế Nhữ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông đã ký văn bản thoả thuận thực hiện Dự án Bảo vệ Môi trường và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên tỉnh Đắk Nông với Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức, do Tiến sĩ Guenter Riethmacher, Giám đốc Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Đức tại Việt Nam (GTZ) đại diện. * Mục tiêu của Dự án: Cải thiện sự tham gia của người dân nghèo ở nông thôn, đặc biệt là người dân tộc thiểu số vào công cuộc phát triển kinh tế của tỉnh Đắc Nông. Hướng đi của dự án sẽ tập trung vào việc cải thiện nông nghiệp vùng cao, đưa
    • xxviii vào áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp, chú trọng phương pháp quản lý rừng dựa vào cộng đồng… để các hộ dân và người dân tộc thiểu số cùng thực hiện. Phương pháp này cũng sẽ được nhân rộng trên toàn tỉnh. Không chỉ góp phần thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia, dự án còn giúp xây dựng các phương pháp và cách tiếp cận mới để thực hiện ở cấp Trung ương và tỉnh. Tổng số tiền viện trợ không hoàn lại là 2 triệu Euro [12]. c. Tại Hòa Bình: * Nội dung dự án: • Nâng cao năng lực trong quản lý và lập kế hoạch phát triển rừng cho cán bộ lâm nghiệp cấp huyện, xã để có đủ trình độ tư vấn hướng dẫn cho các chủ rừng tư nhân và cộng đồng thực hiện được các hoạt động theo yêu cầu của dự án. • Xây dựng mô hình điểm về sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và thiết lập các hoạt động về quản lý bền vững diện tích rừng hiện có tại thôn bản của 04 huyện của mỗi tỉnh (ít nhất mỗi huyện 01 mô hình được thực hiện có hiệu quả). • Nâng cao năng lực phát triển thể chế và tổ chức trong quản lý lâm nghiệp cấp tỉnh, huyện và xã. * Mục tiêu chính cần đạt là: • Nâng cao năng lực cho hệ thống các đối tác của dự án. • Cải thiện năng lực tổ chức và phát triển thể chế về quản lý rừng tại cấp tỉnh, huyện và xã trong vùng dự án. • Phát triển mô hình thí điểm về sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và thiết lập các hoạt động bền vững diện tích rừng hiện có tại hai tỉnh Hoà Bình - Sơn La. Tổng tiền viện trợ không hoàn lại là 2 triệu Euro.
    • xxix Thời gian thực hiện dự án: Từ 5/2007 - 5/2010 [13]. d. Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng Dự án hỗ trợ Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng và Chi cục kiểm lâm thông qua việc phát triển các mô hình đồng quản lý các vùng ven biển bền vững, quản lý rừng ngập mặn thích ứng với sự biến đổi khí hậu, cũng như xây dựng một khuôn khổ chính sách điều tiết. Chương trình sẽ được hỗ trợ thông qua xây dựng các đề án tài trợ bền vững cho các dịch vụ môi trường, cung cấp bởi các vùng đất ngập nước ven biển. Để bảo vệ và quản lý vành đai rừng ngập mặn hiệu quả, dự án sẽ áp dụng Phương pháp Hệ Sinh Thái, một chiến lược để quản lý tổng hợp đất, nước và nguồn tài nguyên sinh vật để bảo tồn và sử dụng bền vững một cách hợp lý. * Mục tiêu dự án Mục tiêu tổng thể của dự án là đảm bảo cho những người nghèo được hưởng lợi cả về kinh tế và sinh thái từ việc quản lý và sử dụng các vùng ven biển bền vững. Mục tiêu của giai đoạn đầu (2007-2010) là hỗ trợ việc cùng quản lý vùng ven biển giữa những người sử dụng nguồn tài nguyên (người dân địa phương, những người nuôi tôm) và chính quyền địa phương. Các nhóm đối tượng của dự án là những người dân địa phương sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển. Nhóm này bao gồm những người không có đất canh tác, phụ thuộc vào việc thu gom các nguồn tài nguyên chẳng hạn như cua, các loài động vật thân mềm, cá và mật ong để sinh sống cũng như những người nuôi tôm, phụ thuộc vào nguồn nước ven biển không bị ô nhiễm [14]. đ. Bảo tồn và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực VQG Phong Nha-Kẻ Bàng.
    • xxx Bằng các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức hội thảo, và hỗ trợ tài chính, dự án hoạt động nhằm tăng cường cơ chế lập kế hoạch cấp huyện và xã theo đường hướng sử dụng các phương pháp thân thiện với môi trường và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nhằm thúc đẩy sinh kế cho vùng đệm của vườn quốc gia, dự án hỗ trợ việc lập kế hoạch của địa phương và các cơ quan thực hiện việc lập “kế hoạch phát triển bền vững kinh tế vùng đệm”. Mục tiêu tổng thể của kế hoạch là phác thảo các cơ hội sinh kế thay thế mang tính bền vững và thân thiện với môi trường, giảm sự phụ thuộc của người dân trong vùng vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của vườn quốc gia. Thêm vào đó, dự án còn xây dựng “Quy hoạch phát triển du lịch” cho vùng dự án. Nâng cao năng lực quản lý và nhận thức môi trường trong khu vực Phong Nha Kẻ Bàng, từ đó xây dựng và phát triển một ngành du lịch mang tính môi trường bền vững, đem lại lợi ích trực tiếp cải thiện sinh kế của người dân địa phương. Ngoài ra, dự án GTZ hỗ trợ ban quản lý vườn quốc gia tăng cường các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ không chỉ việc bảo vệ vườn mà còn tái sinh và bảo tồn các loài động thực vật đang bị đe dọa. Thời gian hoạt động của dự án là 8 năm, chia làm 3 giai đoạn, 2 giai đoạn đầu thực hiện trong 3 năm và giai đoạn cuối trong 2 năm. Giai đoạn 1 của dự án tính từ 10/2007 đến 10/2010 [15]. e. Kết hợp Bảo tồn và Phát triển Khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh Kiên Giang Dự án sẽ tập trung triển khai hoạt động tại ba trọng điểm của Khu Dự trữ Sinh quyển tỉnh Kiên Giang mà đã được UNESCO công nhận năm 2006, gồm Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Vườn Quốc gia Phú Quốc và khu vực rừng phòng hộ ven biển thuộc Kiên Lương và Hòn Chông. Mục tiêu của Dự án là quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Kiên Giang và cải thiện quản lý các khu rừng phòng hộ. Giai đoạn
    • xxxi đầu của Dự án sẽ đặt trong tâm vào quản lý hiệu quả các khu rừng phòng hộ và rừng ven biển. Một số khảo sát ban đầu sẽ được thực hiện để điều tra động thực vật trong vùng lõi các vườn quốc gia và các khu rừng phòng hộ ven biển. Đây sẽ là cơ sở để giám sát tác động của Dự án cũng như việc triển khai các chiến dịch nâng cao nhận thức. Các nhóm đối tượng của Dự án gồm người dân nghèo sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc rừng phòng hộ ven biển, đất ngập nước và các khu bảo vệ cũng như cán bộ trực thuộc các vườn quốc gia, các sở, ban, ngành liên quan của tỉnh và huyện. Tham gia Dự án còn có người dân, cán bộ khuyến nông, cán bộ địa phương và các cơ quan đoàn thể. Dự án sẽ giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo thông qua các cơ hội cải thiện và đa dạng sinh kế, đặc biệt cho người dân các dân tộc thiểu số như người Khmer và phụ nữ. Đầu ra của Dự án gồm: • Đa dạng sinh học động, thực vật được đánh giá tại các điểm nóng. • Các chiến lược quản lý sử dụng đất cho Khu Dự trữ sinh quyển được hoàn thiện. • Năng lực và kiến thức kỹ thuật cho các cơ hội tạo thu nhập, gồm cả kiến thức thị trường được cải thiện. • Nâng cao nhận thức về môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên. • Xây dựng được các kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học trong Khu Dự trữ Sinh quyển. • Xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật quản lý nước tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng. • Xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng cho Vườn Quốc gia U Minh Thượng và Phú Quốc. • Năng lực lập kế hoạch, thiết kế và quản lý dự án được cải thiện [16].
    • xxxii 1.2.4. Thực trạng vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên Hoạt động hợp tác trên nằm trong khuôn khổ giai đoạn 2 của dự án Phát triển rừng Quốc gia Tam Đảo và vùng đệm (gồm ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên) do GTZ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện từ năm 2006 đến 2009. Giai đoạn 1 của dự án được thực hiện trong giai đoạn 2003-2006, phía Đức đã tài trợ 1,79 triệu euro, được thực hiện tại 26 làng thuộc 8 huyện của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang với mục tiêu phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ thiên nhiên môi trường. Giai đoạn 2: Ngày 4/7/07 tại Hà Nội, trước sự chứng kiến của đại diện các cơ quan ban ngành, ông Guenter Riemacher - Giám đốc văn phòng đại diện Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ) tại Hà Nội và TS.Lê Văn Minh - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ký kết Bản thỏa thuận thực hiện dự án Quản lý vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm - giai đoạn 2 từ tháng 10/2006 - 9/2009. Theo đó, giai đoạn này của Dự án sẽ tập trung vào 3 nội dung chính như: Tiếp tục hoàn thiện, phổ biến các khái niệm và phương pháp luận về lập kế hoạch sử dụng tài nguyên bền vững vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương và kế hoạch ngành; Nâng cao đời sống người dân thông qua việc giới thiệu các kỹ thuật bảo tồn tài nguyên thiên nhiên gắn với lợi ích kinh tế trong sản xuất nông lâm nghiệp và chăn nuôi; Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá đối với tác động từ các biện pháp bảo tồn tự nhiên ở VQG Tam Đảo. CHLB Đức viện trợ không hoàn lại 2 triệu euro cho dự án Quản lý VQG Tam Đảo và vùng đệm - giai đoạn 2 [17]. 1.3. Phương pháp nghiên cứu và đánh giá 1.3.1. Các vấn đề mà đề tài cần giải quyết
    • xxxiii Mục tiêu của dự án bảo vệ VQG Tam Đảo là nhằm cải thiện điều kiện sống cho các hộ gia đình đang sinh sống tại vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên thông qua cải thiện thu nhập, việc làm... Xem xét yếu tố thu nhập, các nguồn thu nhập... của hai nhóm hộ có và không tham gia dự án làm cơ sở cho việc đánh giá tác động dự án. Để có những căn cứ đánh giá tác động của dự án đến sinh kế người dân vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên thì các vấn đề mà tác giả cần tập chung giả quyết là: 1. Dự án tác động đến sinh kế của người dân trong khu vực vùng đệm như thế nào? 2. Thu nhập của nhóm hộ tham gia dự án có gì khác biệt với nhóm hộ không tham gia dự án? 3. Nhận thức của các hộ dân tham gia dự án và không tham gia dự án về vấn đề trồng và bảo vệ rừng có được cải thiện hay không? 4. Đánh giá của người dân tham gia dự án và không tham gia dự án về ô nhiễm môi trường tại khu vực vùng đệm. 5. Người dân có ủng hộ, tham gia nhiệt tình vào dự án hay không? 6. Các hoạt động hỗ trợ về cơ sở hạ tầng nông thôn có tác động như thế nào đến sinh kế của người dân vùng đệm. 7. Khả năng tạo thu nhập mới của người dân sau khi tham gia dự án tại địa phương. 8. Đánh giá rủi ro trong phương thức sinh sống mới sau khi khai dự án rút khỏi địa phương. 9. Rừng tự nhiên thực tế đã được bảo vệ bởi cộng đồng địa phương hay chưa? 1.3.2. Phương pháp nghiên cứu 1.3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
    • xxxiv Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Phương pháp này được sử dụng để thu thập các thông tin nhằm hệ thống hoá và tóm tắt về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến đề tài này. Ngoài ra tác giả còn thu thập số liệu thứ cấp tại phòng Nông nghiệp & PTNT, phòng Tài nguyên và môi trường, phòng thống kê và các phòng ban khác ở huyện Đại Từ, Ban quản lý vườn Quốc gia Tam Đảo để sử dụng trong phân tích... Nguồn gốc của các tài liệu này đều được chú thích rõ ràng sau mỗi biểu số liệu. Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Chọn mẫu điều tra trong khu vực nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ bằng các câu hỏi đã được chuẩn bị trước và in sẵn. Thu thập các thông tin sơ cấp tại các hộ nông dân trên địa bàn vùng đệm thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo theo 02 nhóm: Nhóm hộ dân tham gia dự án (150 mẫu) và nhóm hộ không tham gia dự án (48 mẫu điều tra) thuộc 6 xã của huyện Đại Từ làm đối chứng. * Mục tiêu chọn mẫu điều tra Mục tiêu của hoạt động điều tra thực địa nhằm thu thập đầy đủ, toàn diện và chính xác các thông tin về đời sống sinh hoạt, các hoạt động sản xuất - kinh doanh, tư tưởng, ý thức của các hộ trong việc trồng và bảo vệ rừng thuộc địa bàn nghiên cứu để từ đó có thể chỉ ra những tác động, thay đổi do các hoạt động dự án mang lại. * Cơ sở chọn mẫu điều tra Ba xã được lựa chọn để điều tra là các xã Cát Nê, Văn Yên và Ký Phú thuộc vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên. Đây là 03 mà xã dự án GTZ đang triển khai các hoạt động hỗ trợ nên tác giả đã lựa chọn để tìm ra sự khác biệt giữa hai nhóm hộ tham gia và không tham gia dự án. Hơn nữa, việc lựa chọn 3 xã gần nhau để tránh hiện tượng sai khác về địa lý. Mặt khác các nguồn lực kinh tế, xã hội, con người...ở các xã là tương đồng nhau nên có ý nghĩa trong việc đánh giá kết quả dự án.
    • xxxv Số liệu điều tra sơ cấp được tác giả thu thập trên thực địa thông qua các phương pháp sau: * Phương pháp phỏng vấn cấu trúc: Để thu thập số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã điều tra các hộ sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp một thành viên hiểu biết về nông nghiệp của gia đình. Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác. Chúng tôi phỏng vấn thử 10 hộ theo bộ mẫu câu hỏi đã được soạn thảo trước. Sau đó xem xét bổ sung phần còn thiếu và loại bỏ phần không phù hợp trong bảng câu hỏi. Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở. Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế theo các nhóm thông tin sau: 1. Nhóm thông tin về xác định hộ gia đình. 2. Nhóm thông tin về các đặc điểm nhân khẩu của hộ. 3. Nhóm thông tin về các nguồn lực tự nhiên của hộ. 4. Nhóm thông tin về các nguồn thu nhập của hộ. 5. Nhóm thông tin về hiện trạng sử dụng các nguồn lực tự nhiên từ rừng quốc gia, rừng trồng của hộ. 6. Nhóm thông tin đánh giá tác động của các hoạt động hiện nay đến sinh kế của người dân. 7. Nhóm thông tin về các hoạt động hỗ trợ của dự án. * Phương pháp quan sát trực tiếp Đây là phương pháp rất sinh động và thực tế. Tác giả có thêm các thông tin tại địa bàn nghiên cứu trong quá trình đi điều tra phỏng vấn hộ thông qua ghi chép, chụp ảnh lại một cách cụ thể, thực tế, phong phú và khách quan. 1.3.2.2. Phương pháp xử lý thông tin
    • xxxvi Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được tác giả cập nhật và tính toán tùy theo mục đích nghiên cứu, phân tích của đề tài trên chương trình Excel 2007 của Microsoft. Sử dụng phần mềm xử lý thống kê xã hội SPSS 15.0 (Statistical Package For Social Sciences) để xử lý thống kê và xem xét mối tương quan giữa các chỉ tiêu nghiên cứu đồng thời kiểm định các giả thiết thống kê định lượng, định tính trong mô hình phân tích. Ngoài ra tác giả con sử dụng thêm phần mềm xử lý số liệu thống kê R (Recreational mathematics version 2.9.1) để đánh giá sinh kế thông qua kiểm định đối với 5 tiêu chỉ tiêu nguồn lực giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án. 1.3.2.3. Phương pháp phân tích đánh giá Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội vào việc mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội thông qua số liệu thu thập được. Phương pháp này được dùng để tính, đánh giá các kết quả nghiên cứu từ các phiếu điều tra hộ. Phương pháp phân tích so sánh: Xử lý số liệu tính toán ra các chỉ tiêu số tương đối nhằm chỉ rõ nguyên nhân biến động của hiện tượng nghiên cứu. Phương pháp này dùng để so sánh sự sự khác nhau về thu nhập từ các ngành nghề khác nhau, cơ cấu thu nhập... giữa các hộ tham gia dự án và không tham gia dự án. Phương pháp phân tổ thống kê: Mục tiêu của việc phân tổ trong nghiên cứu là làm cho sự đồng nhất trong cùng một nhóm và sự khác biệt giữa các nhóm tăng lên. Tác giải đã phân tổ các hộ điều tra theo tiêu chí: Có tham gia dự án và không tham gia dự án để tiến hành phân tích đánh giá xem có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với các chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai nhóm
    • xxxvii hộ như: Đất đai, thu nhập bình quân, tuổi bình quân của chủ hộ... Ngoài ra, tác giả còn phân tổ số liệu theo các tiêu chí định tính: Trình độ văn hoá, có và không tham gia dự án, đánh giá mức độ các hoạt động gây ô nhiễm tại địa phương... của chủ hộ để phân tích đánh giá các yếu tố theo đa chiều [18]. Phương pháp dự báo: Dự báo xu thế biến động của các hiện tượng kinh tế xã hội cho tương lai. Đó là dự báo về thu nhập từ rừng, thu nhập từ trồng chè... giữa hai nhóm hộ. 1.3.2.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo Phối hợp và tham gia ý kiến của các chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực duy trì và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên để xây dựng phương pháp và tổ chức điều tra đạt kết quả cao. Cụ thể là đã thảo luận cùng với Tiến sỹ Joachim Krug - Viện nghiên cứu rừng quốc tế có trụ sở tại Đức để kế thừa phương pháp đánh giá sinh kế, so sánh các chỉ tiêu nguồn lực giữa hai nhóm hộ thông qua các chỉ số (Indicators) phục vụ cho nghiên cứu của đề tài. 1.4. Một số công cụ sử dụng trong nghiên cứu Sử dụng các chỉ số (Indicators) để đánh giá, so sánh sự biến động của đối tượng nghiên cứu trong cùng một khu vực giữa và trong cùng một thời điểm giữa hai nhóm hộ tham gia dự án và không tham gia dự án. Sử dụng phần mềm SPSS 15 và phần mềm R để xử lý số liệu thống kê, tính toán các chỉ tiêu như: Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, phương sai... và để kiểm định các chỉ tiêu phân tích định tính và định lượng trong đề tài nghiên cứu. 1.5. Hệ thống chỉ tiêu phân tích đánh giá a) Đánh giá về thu nhập  Tính toán thu nhập năm 2008 của các hộ thuộc nhóm tham gia dự án và nhóm không tham gia dự án từ các nguồn khác nhau: • Nông nghiệp: Thu nhập từ các hoạt động trồng trọt bao gồm: Lúa, chè,
    • xxxviii hoa màu và thu nhập từ các hoạt động chăn nuôi như: Gia súc, gia cầm. • Ngành nghề tự do: Thợ xây, thợ hàn, làm thuê... • Thu nhập từ nghề làm công ăn lương: Công nhân, giáo viên, công chức nhà nước... • Thu nhập từ rừng: Gỗ, củi đốt, các lâm sản ngoài gỗ như nấm, măng, tre, cây luồng, cây thuốc nam, hoa phong lan, cây cảnh...vv.  Thông qua việc nghiên cứu các nguồn thu nhập giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án, tác giả phân tích để thấy được sự khác biệt trong cơ cấu thu nhập của hai nhóm hộ với cùng điều kiện nguồn lực như nhau. Từ đó thấy được sự tác động của dự án đối với sinh kế của người dân với mục tiêu chính là phát triển kinh tế hộ gia đình kết hợp với việc nâng cao nhận thức bảo vệ và phát triển rừng, dần loại bỏ sự phụ thuộc vào việc khai thác các tài nguyên rừng phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. b) Phân tích sự thay đổi trong sinh kế của nhóm hộ tham gia dự án và không tham gia dự án. - Sự thay đổi về cơ cấu nghề nghiệp của nhóm hộ tham gia dự án so với nhóm không tham gia dự án. - Những ảnh hưởng của dự án đến nhóm hộ tham gia dự án và phản ứng tích cực của nhóm hộ không tham gia dự án trong phát triển kinh tế. - Khác biệt về thu nhập từ rừng trong cơ cấu tổng thu nhập của 2 nhóm hộ có và không tham gia dự án. c) Đánh giá nhận thức của người dân về bảo vệ rừng - Hiểu biết và nhận thức về việc cần thiết phải bảo vệ tài nguyên rừng đối với việc giữ vững và tăng lên về số lượng, chất lượng của nguồn nước giữa hai nhóm hộ tham gia dự án và không tham gia dự án.
    • xxxix - Hiểu biết và nhận thức về việc cần thiết phải bảo vệ tài nguyên rừng đối với việc chống xói mòn tài nguyên đất đai giữa hai nhóm hộ tham gia dự án và không tham gia dự án. - Nhận thức về môi trường và ô nhiễm môi trường khu vực “vùng đệm” mà hộ đang sinh sống. - Hiểu biết và nhận thức về việc cần thiết phải bảo vệ tài nguyên rừng đối với cuộc sống hiện tại và cho các thế hệ con cháu mai sau. d) Hệ thống chỉ tiêu xem xét tác động của dự án đến sinh kế của nhóm hộ tham gia dự án. 1) Nguồn lực tự nhiên: Đất, nước, không khí, rừng, khoáng sản, … 2) Nguồn lực con người: - Kiến thức, kỹ năng trong quản lý và sản xuất, sức khỏe, khả năng lao động, số lượng lao động của hộ... - Khả năng hiểu biết và áp dụng các kiến thức sau tập huấn vào trong sản xuất của nhóm hộ tham gia dự án. - Khả năng tạo thu nhập mới từ việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật sau tập huấn vào sản xuất nông, lâm nghiệp của nhóm tham gia dự án. 3) Nguồn lực xã hội: - Sự tôn trọng các quy định về mối quan hệ trong làng xã, các mạng lưới và tổ chức xã hội, các đoàn thể như hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên... - Khả năng nhân rộng của dự án: Dự án có được người khác đến học tập và làm theo? Có phù hợp để áp dụng cho các địa phương khác không?
    • xl 4) Nguồn lực vật chất: Nhà cửa, tài sản, các vườn cây lâu năm, đường xá, trường học, bệnh viện… 5) Nguồn lực tài chính: Thu nhập và tiết kiệm, sự tiếp cận các nguồn vốn như Ngân hàng nông nghiệp và PTNT, ngân hàng chính sách xã hội... trợ giúp vốn vay cho phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua sắm các trang thiết bị máy móc, công nghệ...
    • xli CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI DỰ ÁN TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 2.1. Điều kiện tự nhiên Đại Từ là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên. Huyện Đại Từ có diện tích tự nhiên là 57.790 ha. Huyện có 31 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm hai thị trấn Đại Từ, thị trấn Quân Chu và 29 xã. Dân số thống kê đến cuối năm 2008 là 42.307 hộ và 177.322 người. Các thành phần dân tộc đang sinh sống trên địa bàn huyện gồm: chủ yếu là người dân tộc Kinh, ngoài ra còn có các dân tộc anh em khác là Tày, Dao, Nùng, Sán Dìu, Sán Chí... cùng làm ăn sinh sống. 2.1.1. Vị trí địa lý Huyện Đại Từ có tọa độ địa lý: 21º30’ đến 21º50’ độ vĩ Bắc, 105º32’ đến 105º42’ độ kinh Đông. • Phía Đông giáp với huyện Phú Lương và TP. Thái Nguyên • Phía Tây giáp với tỉnh Tuyên Quang và Vĩnh Phúc • Phía Bắc giáp với huyện Định Hoá • Phía Nam giáp với huyện Phổ Yên. 2.1.2. Đặc điểm địa hình Đại Từ là huyện có địa hình tương đối phức tạp thể hiện đặc trưng của vùng trung du miền núi phía Bắc. Địa hình của huyện có thể chia làm 03 vùng khác nhau như sau: - Vùng 1: Là vùng địa hình của dãy Tam Đảo, có cao trình từ 300 trở lên - Vùng 2: Là vùng của dãy núi thấp có cao trình từ 100m đến 300m. - Vùng 3: Là vùng thung lũng song song với dãy Tam Đảo.
    • xlii Tổng diện tích của huyện được phân theo độ cao và độ dốc được thể hiện ở bảng 2.1 Bảng 2.1: Phân loại đất theo độ cao và theo độ dốc Độ cao Diện tích Tỷ lệ Độ dốc Diện tích STT Tỷ lệ (%) (m) (ha) (%) (o) (ha) 1 > 300m 10.580 18% >15 35.947 62% 2 100 - 300 22.087 38% 8-15 6.343 11% 3 < 100m 25.123 44% <8 15.500 27% Tổng 57.790 100% 57.790 100% Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường Huyện Đại Từ - Thái Nguyên năm 2008 Thổ nhưỡng: Trên địa bàn huyện được hình thành từ 4 nhóm đất chính và được trình bày dưới bảng 2.2 sau đây: Bảng 2.2: Các nhóm đất chính của huyện Diện tích STT Loại đất Tỷ lệ (%) (ha) 1 Đất xám mùn trên núi 16.400 28,37% 2 Đất Felarit phát triển trên đất đỏ biến chất 15.107 26,14% 3 Đất Felarit phát triển trên đất phù sa cổ 13.036 22,55% 4 Đất Gley phát triển trên đất phù sa cổ 13.247 22,94% Tổng cộng 57.790 100% Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường huyện Đại Từ - Thái Nguyên năm 2008 Qua số liệu của bảng 2.2 ta nhận thấy huyện Đại Từ có 4 loại đất chính và được phân bổ nhiều nhất là nhóm đất Felarit phát triển trên hai loại đất đó là đất đỏ biến chất và đất phù sa cổ. Đất Felarit có tổng diện tích là 28.143 ha và chiếm 48,69%. Xếp thứ hai là đất xám mùn trên núi có diện tích là 16.400 ha chiếm 28,37%. Còn lại là đất Gley phát triển trên nền đất phù sa cổ có diện tích 13.247 ha và chiếm 22,94%.
    • xliii 2.1.3. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại Từ năm 2008 Căn cứ vào mục đích sử dụng mà chúng ta có thể phân chia diện tích đất đai của huyện Đại Từ như sau: Bảng 2.3: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại Từ năm 2008 STT Mục đích sử dụng Số lượng Tỷ lệ (%) Tổng diện tích tự nhiên 57.790 100,00% 1. Đất nông - lâm nghiệp 44.832,22 77,58% 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 16.743,4 39,17% 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 8.217,72 49,08% 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 8.525,68 50,92% 1.2 Đất lâm nghiệp 27.269,72 60,83% 1.2.1 Đất rừng sản xuất 13.992,47 51,31% 1.2.2 Đất rừng phòng hộ 1.681,42 6,17% 1.2.3 Đất rừng đặc dụng 11.595,83 42,52% 1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 819,1 1,83% 2. Đất phi nông nghiệp 8.725,66 15,09% 2.1 Đất ở 2.766,94 31,71% 2.2 Đất chuyên dụng 2.777,83 31,84% 2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 9,08 0,10% 2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 159,14 1,82% 2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên 2995,8 34,33% dung 2.6 Đất phi nông nghiệp khác 16,87 0,19% 3. Đất chưa sử dụng 4.232,12 7,43% Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường Huyện Đại Từ - Thái Nguyên năm 2008 Trong tổng diện tích 57.790 ha đất tự nhiên của huyện thì có đến 77,58% là diện tích đất nông nghiệp. Diện tích đất nông nghiệp của huyện Đại Từ theo thống kê đến cuối năm 2008 là 44.832,22 ha và trong đó diện tích đất trồng lúa chiếm 49,08%. Qua các thông số trên ta nhận thấy cây lúa vẫn là cây chủ đạo để phát triển kinh tế của huyện.
    • xliv Đất lâm nghiệp của huyện là 27.269,72 ha được chia ra các loại: Đất rừng sản xuất là 13.992,47 ha, đất rừng phòng hộ là 1.681,42 ha và đất rừng đặc dụng là 11.595,83 ha. So với năm 2007 ta thấy chỉ có diện tích đất rừng đặc dụng là giữ nguyên được diện tích, còn lại cả hai diện tích rừng sản xuất và diện tích rừng phòng hộ là bị giảm về số lượng. So với năm 2007, diện tích đất rừng sản xuất giảm 244,55 ha và diện tích đất rừng phòng hộ giảm 505,71 ha. Đây là thực trạng đáng báo động để các cấp lãnh đạo huyện phải lưu tâm. Có thể nói thông qua hiện trạng sử dụng đất ta thấy việc phát triển kinh tế của huyện vẫn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó diện tích đất dành cho lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhiều nhất là do đặc điểm địa hình của huyện tạo nên. Đây là điều kiện rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp của huyện bởi rừng là nơi dự trữ và cung cấp phần lớn nước cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp của toàn huyện và của bà con các dân tộc Tày, Sán Chí trên các khu vực có địa hình khá cao mà hệ thống thủy lợi không thể cung cấp được nước cho kịp thời vụ. 2.1.4. Khí hậu, thời tiết, thuỷ văn Khí hậu chia làm 2 mùa rất rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. • Nhiệt độ trung bình năm: 23ºC • Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 29ºC • Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 16ºC • Lượng mưa trung bình năm: 1.870mm/năm • Độ ẩm không khí trung bình: 78 - 90 (%) • Lượng nước bốc hơi trung bình 980mm/năm Hệ thống thủy văn: Đại Từ có điều kiện thuỷ văn rất thuận lợi: Có Sông Công chảy qua huyện với tổng chiều dài 24 km, Hồ Núi Cốc liền kề có diện tích tự nhiên 25 km2. Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có các con suối nằm
    • xlv trên địa bàn các xã như: La Bằng, Quân Chu, Cát Nê, Phục Linh, Ký Phú, Văn Yên, Mỹ Yên, Hoàng Nông cung cấp và điều phối nước tưới, tiêu và nước sinh hoạt cho người dân. Có thể nói huyện Đại Từ có điều kiện về đất đai, khí hậu và nguồn nước rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp với hai loại cây trồng chính là cây lúa và cây chè. Huyện có diện tích rừng bao phủ trên 61% vừa có chức năng điều hoà khí hậu, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt đồng thời mở ra tiềm năng phát triển kinh tế khi huyện đã và đang giao đất, giao rừng cho người dân địa phương quản lý. 2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 2.2.1. Tình hình dân số và lao động Dân số toàn huyện và cơ cấu dân số được trình bày ở bảng 2.4 dưới đây: Bảng 2.4: Dân số và lao động của huyện Đại Từ Tiêu chí Đơn vị Số lượng Cơ cấu (%) 1. Tổng dân số Người 172.322 100 Dân số trong độ tuổi lao động Người 91.650 53,19 * Tổng số lao động nam Người 87.473 50,76 * Tổng số lao động nữ Người 84.849 49,24 2. Tổng số hộ Hộ 42.307 100 2.1 Số hộ giàu Hộ 2.016 4,76 2.2 Số hộ khá Hộ 12.984 30,69 2.3 Số hộ trung bình Hộ 24.722 58,45 2.4 Số hộ nghèo Hộ 2.585 6,11 Nguồn : Phòng thống kê huyện Đại Từ năm 2008 Với lực lượng lao động trong độ tuổi rất đông đảo, là một nguồn lực quan trọng để thực hiện các quá trình của sản xuất kinh doanh, lượng lượng lao động trong độ tuổi này sẽ làm thay đổi toàn cục về kinh tế của huyện trong thời gian tới.
    • xlvi Có đến trên 58% số hộ dân trong huyện ở mức sống trung bình. Cả huyện có 6,11% số hộ nghèo. Số hộ giàu chỉ chiếm 4,76%. Thực trạng này cần được nhìn nhận và có biện pháp cải thiện đó là phấn đấu giảm tối đa số hộ nghèo, tăng số hộ có mức sống khá, giàu. 2.2.2. Tình hình phát triển xã hội a) Giáo dục Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu cơ bản về giáo dục của huyện Đại Từ Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng 1.Giáo dục mầm non +Số trường mầm non Trường 33 + Số học sinh Cháu 5.537 + Số giáo viên Cô 317 2. Giáo dục phổ thông A - Tiểu học + Số trường Trường 35 + Học sinh H/sinh 11.705 + Số giáo viên GV 737 B - Trung học cơ sở + Trường Trường 30 + Học sinh H/sinh 13.162 + Số giáo viên GV 872 C -Trung học phổ thông + Trường Trường 3 + Học sinh H/sinh 6.024 + Số giáo viên GV 191 Số trường đạt chuẩn quốc gia 18 Mầm non Trường 1 Tiểu học Trường 16 Trung học cơ sở Trường 1 Nguồn: Phòng thống kê huyện Đại Từ - 2008 Có thể đánh giá lãnh đạo huyện Đại Từ rất chú trọng công tác đầu tư cho giáo dục. Tuy còn gặp nhiều khó khăn về đầu tư cho giáo dục, các cấp chính quyền huyện cùng với người dân đã rất nỗ lực hết sức để đáp ứng cơ sở vật
    • xlvii chất, phát triển đội ngũ quản lý, giáo viên để đáp ứng nhu cầu học tập của con em trong huyện. Số trường đạt chuẩn các cấp tiểu học và trung học cơ sở có đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ ‘trăm năm trồng người’. Tuy nhiên, cần xem xét và quan tâm đến các trường mầm non. Hiện tại, huyện Đại Từ mới chỉ có một trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. b) Y tế Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu cơ bản về y tế của huyện Đại Từ Chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng I. Số cơ sở y tế cơ sở 33 Bệnh viện cơ sở 1 Phòng khám đa khoa khu vực cơ sở 1 Trạm y tế xã phường cơ sở 31 II. Số giường bệnh giường 282 Bệnh viện giường 100 Phòng khám đa khoa khu vực giường 10 Trạm y tế xã phường giường 172 III. Cán bộ ngành y, dược người 299 1. Ngành Y người 271 Bác sỹ và trên đại học người 64 Y sỹ, kỹ thuật viên người 146 Y tá, Điều dưỡng viên người 61 2. Ngành dược người 28 Dược sỹ cao cấp người 2 Dược sỹ trung cấp người 9 Dược tá người 17 Nguồn: Phòng thống kê huyện Đại Từ - 2008 Huyện Đại Từ đã đầu tư khá đầy đủ về cơ sở vật chất y tế để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, đặc biệt với sự đầu tư đầy đủ, đồng bộ cho hệ thống cơ sở y tế xã, phường có thể chăm sóc sức khỏe ngay tại địa phương cho bà con nông dân, giảm bớt rủi ro về con người, tiết kiệm được tài chính khi phải đi khám và chữa bệnh ở tuyến trên.Với đội ngũ y bác sỹ có trình độ chuyên môn và tay nghề cao có thể chữa trị được hầu hết các loại bệnh phổ biến nên
    • xlviii các cấp chính quyền huyện Đại Từ cần có chính sách đãi ngộ xứng đáng để họ yên tâm công tác, tránh hiện tượng chảy máu chất xám. 2.3. Tình hình phát triển kinh tế Trong những năm gân đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên nói chung và của huyện Đại Từ nói riêng, huyện Đại Từ đã đạt được các kết quả về kinh tế được thể hiện qua bảng 2.7 dưới đây: Bảng 2.7: Một số chỉ tiêu cơ bản về kinh tế của huyện Đại Từ Tăng Năm Năm Năm TT Chỉ tiêu ĐVT trưởng 2006 2007 2008 08/07 Tổng giá trị sản xuất (Theo Tr.đồng 824,623 1,011,660 1,264,510 21% giá cố định năm 1994) 1 Nông, lâm, ngư nghiệp Tr.đồng 288,267 298,540 365,480 22% 1.1 Nông nghiệp Tr.đồng 263,167 272,870 336,780 23% - Trồng trọt Tr.đồng 213,667 209,190 260,200 24% - Chăn nuôi Tr.đồng 49,500 63,680 76,580 20% 1.2 Lâm nghiệp Tr.đồng 17,800 17,820 19,650 10% 1.3 Thủy sản Tr.đồng 7,300 7,850 9,050 15% 2 Công nghiệp xây dựng Tr.đồng 273,352 354,160 452,600 28% 3 Thương mại, dịch vụ Tr.đồng 260,148 358,960 446,430 24% Nguồn: Phòng thống kê huyện Đại Từ - năm 2008 Trong cơ cấu kinh tế năm 2008, ta thấy ngành Công nghiệp, xây dựng của huyện có mức độ tăng trưởng cao nhất đạt 28% so với năm 2007. Ngành thương mại, du lịch có tốc độ tăng trưởng khá đạt 24%. Tuy ngành nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng thấp hơn nhưng nông nghiệp vẫn giữ vai trò rất quan trọng và chiếm đến 28,9% trong cơ cấu kinh tế của huyện Đại Từ. Năm 2007, tỷ trọng của ngành nông nghiệp chiếm 29,47% trong tổng giá trị sản
    • xlix xuất của huyện. Như vậy, huyện đang có sự chuyển dịch khá rõ nét về cơ cấu kinh tế đó là giảm dần tỷ trọng của ngành sản xuất nông nghiệp, tập chung cho phát triển thương mại, dịch vụ, công nghiệp và xây dựng. 2.4. Thực trạng triển khai dự án tại địa bàn nghiên cứu 2.4.1. Các hoạt động hỗ trợ của dự án Dự án GTZ và người dân vùng đệm VQG Tam Đảo tổ chức triển khai các hoạt động hỗ trợ về sơ sở hạng tầng như bê tông hoá đường giao thông giáp gianh giữa vùng đệm và địa phận VQG Tam Đảo. Dự án còn tổ chức triển khai các hoạt động để phát triển kinh tế hộ. Tính đến cuối năm 2008, GTZ đã triển khai bao gồm các hoạt động sau đây: Bảng 2.8: Các hoạt động hỗ trợ từ dự án GTZ tại 3 xã nghiên cứu Xã được Bắt đầu Năm 2007- 2008 Thôn triển khai thực hiện Tên hoạt động Số hộ Đèo Khê Trồng chè cành giống mới 50 Đàm Làng Bếp sao chè cải tiến 15 Yên Từ CLB phụ nữ chăn nuôi 336 Ký Phú 2004 Cầu Trà Trồng trám trắng 60 Khuôn Nanh Khôi phục nương chè già 18 Xây dựng vườn ươm chè 2 Xây dựng vườn ươm cây LN 2 Bầu 2 Trồng chè cành giống mới 90 Bầu 2 Bếp sao chè cải tiến 21 Xóm Núi CLB phụ nữ chăn nuôi 125 Văn Yên 2004 Kỳ Linh Nuôi thỏ 18 Bầu 1 Nuôi ong 15 Nấm rơm 10 Đồng Gốc Trồng chè cành giống mới 63 Tân Phú Bếp sao chè cải tiến 18 Gò Trẩu CLB phụ nữ chăn nuôi 150 La Vĩnh Trồng trám trắng 60 Cát Nê 2005 Đồng Mương Trồng măng tre bát độ 20 Cải tạo vườn chè già cỗi 42 Lò Mật Nuôi thỏ 18 Nuôi ong 12
    • l Nguồn: Ban chỉ đạo dự án VQG Tam Đảo và vùng đệm Khi đi sâu vào thực tế triển khai dự án tại các nông hộ, tác giả đã nhận thấy một số bất cập cần phải khắc phục để các hoạt động hỗ trợ đem lại hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế nông hộ Ví dụ sau đây là một điển hình về cách tổ chức và triển khai một hoạt động hỗ trợ nhưng không đem lại kết quả: - Thôn Bầu 2 được dự án triển khai nuôi thỏ. Dự án cung cấp 20 đôi thỏ bố mẹ giống. Trưởng thôn Bầu 2 là anh Nguyễn Văn Trung vẫn với cách làm như cũ đã gọi loa mời bà con trong xóm đến nhà văn hoá của thôn để họp. Mỗi một gia đình cử một người lớn trong nhà đi họp. Tất cả những hộ đã được tham gia những hoạt động trước đó thì không được tham gia. Trưởng thôn cho bà con bốc thăm với hai loại thăm “có” và “không”. Những hộ nào gắp được thăm có ghi “có” sẽ được nhận hai đôi thỏ bố mẹ về nuôi. Kèm theo đó, các hộ được phát sách hướng dẫn quy trình chăm sóc thỏ. Sau 6 tháng thực hiện, cho đến nay chỉ còn có 2 hộ tiếp tục chăn nuôi thỏ và đã thu được lợi ích từ việc bán thỏ giống. 8 hộ còn lại thì hầu hết thỏ con sinh ra đều bị bố mẹ chúng ăn thịt hết. Hộ thì bực quá đem thịt luôn cặp thỏ bố mẹ, hộ thì đem bán đi lấy ít tiền bù đắp chi phí xây chuồng trại... Như vậy, có thể nói có một số hoạt động được triển khai là không thành công. Lý do gì dẫn đến thất bại. Qua tìm hiểu kỹ tác giả có một số ghi nhận như sau: + Hầu hết các hộ sau khi nghe tập huấn và được phát tài liệu về đều không đọc tài liệu hướng dẫn, nếu có thì chỉ đọc qua qua và không áp dụng vào thực tế chăn nuôi tại gia đình nhà mình. + Các hộ không tuân thủ theo các hướng dẫn về kỹ thuật. + Không thực sự ham mê nuôi thỏ nên không quan tâm tới chúng. + Được dự án chọn và cho con giống thì cứ đem về nuôi thôi. + Không có kinh nghiệm nuôi thỏ
    • li + Cán bộ dự án, cán bộ cấp cơ sở không có đủ thời gian thăm nom, tư vấn… -Thôn Bầu 1 được dự án hỗ trợ 20 tủ ong giống. Đến khi đi thăm lại các hộ nuôi ong thì không còn hộ nào có ong cả. “Ong bỏ tổ bay đi đâu không biết”. Cách làm và các lý do giống như trường hợp của xóm Bầu 2. Các hộ đã không có kiến thức, hiểu biết về kỹ thuật nuôi ong nên chỉ sau một thời gian ngắn, ong bỏ tổ bay đi hết. Đó là một sự lãng phí lớn. 2.4.2. Thực trạng tác động của dự án 2.4.2.1. Chọn địa điểm nghiên cứu và số lượng mẫu điều tra: Sau khi tập hợp các xã vùng đệm thuộc địa bàn nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn ra 3 xã được dự án triển khai nhiều các hoạt động hỗ trợ nhất, tương đồng về mặt địa lý và các nguồn lực kinh tế - xã hội. Trong 03 xã được chọn, chọn ngẫu nhiên mỗi xã 02 thôn để nghiên cứu. Kết quả sau khi chọn mẫu ngẫu nhiên chúng ta được kết quả như sau ở bảng 2.9 dưới đây: Bảng 2.9: Bảng thống kê số hộ điều tra cơ sở Số hộ phỏng vấn Huyện Xã Thôn Thuộc Không thuộc dự án dự án La Vĩnh 25 Cát Nê Đồng Gốc 25 Đại Từ Bầu 1 25 48 Văn Yên Bầu 2 25 Khuôn Nanh 25 Ký Phú Yên Từ 25 Tổng cộng 150 48 Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả năm 2008 Căn cứ vào danh sách các hộ tham gia dự án được cung cấp bởi các trưởng thôn, mỗi thôn tác giả đã tiến hành chọn ngẫu nhiên 25 hộ tham gia dự án và 08 hộ không tham gia dự án. Sau khi kết thúc quá trình phỏng vấn, tác giả đã cập nhật toàn bộ dữ liệu đã phỏng vấn được trên chương trình Excel
    • lii của Microsoft để tiện cho việc xử lý và làm cơ sở dữ liệu để sử dụng chương trình SPSS 15. Dưới đây, tác giả sẽ thể hiện các số liệu điều tra của 198 hộ thông qua các bảng số liệu và phân tích các thông tin đó. 2.4.2.2 Thông tin chung về chủ hộ của các hộ điều tra Bảng 2.10: Thông tin chung về chủ hộ So sánh sự Tham gia Không tham khác biệt theo kiểm định Chỉ tiêu dự án gia dự án Mann Pearson Chi- Whitney Square Tuổi bình quân chủ hộ 46,32 45,10 - (tuổi) (10,45) (9,447) Chủ hộ là nam giới 90 85,4 (% trên tổng số) - Chủ hộ là nữ 10 14,6 (% trên tổng số) Mức độ tiếp cận thông tin thông qua khả năng đọc sách, báo của chủ hộ (% trên tổng số) - Dễ dàng 91,33 93,75 - - Khó khăn 4,67 4,17 - Không đọc được 4,00 2,08 Thuộc dân tộc (% trên tổng số) - Kinh 82 79,20 - - Khác 18 20,80 Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả năm 2008 Ghi chú: 1) *, **, *** sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo kiểm định Mann-Whitney và Pearson Chi-Square tại các mức xác suất 90%, 95% và 99%. 2) Giá trị trong ngoặc đơn: Độ lệch chuẩn của giá trị trung bình tại mức xác suất 90% Tuổi bình quân của các chủ hộ cũng như giới tính của các chủ hộ tham gia và không tham gia dự án là không có sự khác biệt theo kiểm định Mann- Whitney ở mức xác suất 90%. Như vậy ta có thể thấy yếu tố tuổi tác thể hiện cho sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống và sản xuất cũng như giới tính
    • liii của chủ hộ, người có ảnh hưởng đến việc ra quyết định sản xuất kinh doanh của hộ được chỉ ra từ mẫu nghiên cứu là không có sự khác biệt. Kiểm định Pearson Chi-Square cũng cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 90% đối với mức độ tiếp cận thông tin của chủ hộ giữa hai nhóm nghiên cứu đối với mẫu điều tra. Thông qua bảng 2.10 trên ta thấy đa phần chủ hộ là nam giới. Có đến 135/150 chủ hộ là nam trong nhóm hộ tham gia dự án chiếm 90%. Trong nhóm hộ không tham gia dự án cũng có đến 41/48 số chủ hộ điều tra là nam giới chiếm 85,41%. Số lượng chủ hộ là người Kinh trong tổng mẫu điều tra chiếm đại đa số. Có đến 82% số chủ hộ được hỏi trong nhóm hộ tham gia dự án là người dân tộc Kinh, Chỉ có 18% chủ hộ là người dân tộc thiểu số: Sán Chí, Dao, Tày. Điều này cũng tương tự đối với nhóm hộ không tham gia dự án, có 79,2% số chủ hộ là người dân tộc Kinh và chỉ có 20,8% số chủ hộ được hỏi là người dân tộc thiểu số. Kiểm định Pearson Chi-Square không có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 90% đối với mẫu nghiên cứu. Bảng 2.11: Trình độ học vấn của chủ hộ Trình độ học vấn Tham gia Không tham Khác biệt theo kiểm định của chủ hộ dự án gia Pearson Chi-Square Chưa tốt nghiệp tiểu học 11% 14% - Tiểu học 12% 17% - Trung học cơ sở 58% 63% - Trung học phổ thông 17% 4% ** Trung học dạy nghề 1% 0% - Cao đẳng và Đại học 1% 2% - Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008
    • liv Ghi chú: *, **, *** sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo kiểm định Pearson Chi-Square tại mức xác suất 90%, 95% và 99%. Kiểm định về trình độ học vấn của chủ hộ ở tiêu chí “Tốt nghiệp phổ thông trung học” cho giá trị Pearson Chi-Square = 11,485 và p-value = 0,043 từ mẫu nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm ở mức xác suất 95%. Các tiêu chí khác còn lại về trình độ học vấn của chủ hộ giữa hai nhóm không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo kiểm định Pearson Chi-Square ở mức xác suất 90%. Bảng 2.12: Trình độ học vấn của vợ/chồng chủ hộ Trình độ học vấn của vợ/ chồng Tham gia Không tham gia chủ hộ (% trên tổng số) dự án dự án Chưa tốt nghiệp tiểu học 5,63 4,44 Tiểu học 18,31 6,67 Trung học cơ sở 67,61 84,44 Trung học phổ thong 8,45 4,44 Trung học dạy nghề - - Cao đẳng và Đại học - - Trình độ của vợ/chồng chủ hộ cũng có một phần quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của hộ, tuy nhiên nó chỉ dừng lại ở mức tham gia, góp ý và có phần tác động đến quyết định của chủ hộ, theo kết quả điều tra cho thấy tại mức xác suất 95% theo kiểm định Pearson Chi-Square không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về trình độ học vấn của vợ/chồng chủ hộ giữa hai nhóm tham gia và không tham gia dự án. 2.4.2.2. Nghề nghiệp của chủ hộ.
    • lv Biểu 2.1: Nghề nghiệp của chủ hộ trong mẫu điều tra Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Ghi chú: 1) Nghề tự do của chủ hộ có sự khác biệt giữa hai nhóm có và không tham gia dự án ở mức ý nghĩa thống kê theo kiểm định Pearson Chi-Square tại mức xác suất 95%. 2) Hoạt động nông nghiệp, lâm nghiệp, làm công ăn lương của chủ hộ không có sự khác biệt giữa hai nhóm có và không tham gia dự án ở mức ý nghĩa thống kê theo kiểm định Pearson Chi-Square tại mức xác suất 90%. Nghề nghiệp của các chủ hộ tham gia dự án và không tham gia dự án không có nhiều khác biệt, 100% số chủ hộ được hỏi đều làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Như vậy, sản xuất nông nghiệp vẫn là hoạt động chính của hộ. Tuy vậy, ngoài tham gia sản xuất nông nghiệp, những lúc nông nhàn, các chủ hộ vẫn có thể tham gia các hoạt động khác để gia tăng thu nhập như biểu 2.1 trên. Có sự khác biệt về mặt số học đối với các hoạt động lâm nghiệp. Các chủ hộ thuộc nhóm hộ tham gia dự án có đến 17% tham gia trong lĩnh vực
    • lvi lâm nghiệp trong khi đó chỉ có 6% chủ hộ tham gia trong lĩnh vực lâm nghiệp đối với nhóm hộ không tham gia dự án. Điểm khác biệt này có thể được giải thích như sau: Khi các hộ tham gia vào dự án và được dự án hỗ trợ về cây con giống, mở các lớp tập huấn kỹ thuật trồng rừng, hỗ trợ chi phí trồng rừng... dẫn đến sự tham gia nhiều hơn đối với các hộ tham gia dự án và 6% số chủ hộ thuộc nhóm không tham gia dự án nhận thấy được giá trị về kinh tế, môi trường, cải thiện nguồn nước và tăng số lượng nguồn nước của việc trồng và bảo vệ rừng nên đã học tập và làm theo. Tuy nhiên kiểm định Pearson Chi- Square không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 90%. Các công việc làm công ăn lương, và làm các nghề tự do (Xây, mộc, hàn xì, giáo viên, cán bộ xã - thôn - xóm, thợ sơn nội thất, thợ may, bán hàng tiếp thị...) chỉ thấy xuất hiện trong mẫu điều tra đều thuộc nhóm hộ tham gia dự án. Một nhân tố ảnh hưởng tới tỷ lệ người dân đi làm công ăn lương chính là trình độ học vấn. Kiểm định Pearson Chi-Square có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 95% về trình độ học vấn của chủ hộ đã giải thích điều đó. Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy thông qua việc phân tích và kiểm định yếu tố “nghề nghiệp” của chủ hộ giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án, các yếu tố phân tích bao gồm: Chủ hộ làm nông nghiệp, các hoạt động lâm nghiệp, làm công ăn lương, tham gia các công việc khác không thường xuyên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 95% theo kiểm định Pearson Chi-Square. Chỉ thấy có duy nhất yếu tố đó là “làm nghề tự do” của chủ hộ có sự khác biệt thống kê giữa hai nhóm có và không tham gia dự án được chỉ ra trên mẫu nghiên cứu. 2.4.2.3. Nghề nghiệp của vợ/chồng chủ hộ.
    • lvii Biểu 2.2: Nghề nghiệp của vợ/chồng chủ hộ 100% 93% 94% 90% 80% Thuộc dự án 70% không thuộc dự án 60% 50% 40% 30% 20% 6% % n đ g ộ h ủ T a c ệ ỷ 10% ì i l 3% 3% 1% 0% 4% 0% 0% 0% H o ạ m t L g n ộ đ g ô n à H p h g n g n ô ệ c o i ạ t g n ộ đ n y u x ê g n ô h k ư ờ g n h ư ơ g n ă t l C v g n ô c ệ m i N p h g n ự ệ â o d h g ề i l t Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Ghi chú: 1) Hoạt động nông nghiệp, hoạt động làm công ăn lương, nghề tự do, các công việc không thường xuyên của vợ/chồng chủ hộ không có sự khác biệt ở mức ý nghĩa thống kê theo kiểm định Pearson Chi-Square tại mức xác suất 90%. 2) Hoạt động lâm nghiệp của vợ/chồng chủ hộ có sự khác biệt ở mức ý nghĩa thống kê theo kiểm định Pearson Chi-Square tại mức xác suất 95%. Kiểm định Pearson Chi-Quare cho thấy nghề nghiệp của “vợ/chồng” chủ hộ gần như không có sự khác biệt lớn nào ngoại trừ sự tham gia nhiều hơn vào các hoạt động lâm nghiệp của “vợ/chồng” chủ hộ thuộc nhóm không tham gia dự án. Các hoạt động lâm nghiệp trên chủ yếu là các hoạt động thu lượm củi đốt từ rừng tự nhiên, lấy măng tre... để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của gia đình. 2.4.2.4. Nghề nghiệp của các thành viên khác trong hộ.
    • lviii Biểu 2.3: Nghề nghiệp của các thành viên khác trong hộ 80% 70% 68% 60% Thuộc dự án 50% không thuộc dự án 40% 30% 25% 20% 13% 10% 5% 6% 4% % 0% 2% n đ g ộ h ủ T a c ệ ỷ 1% 0% ì i l 0% H H m o o ạ ạ m o d â t t L l g n ộ đ g ô n g n ộ đ à p h g n p h g n g n ô ệ ệ c i i N ự h g g n ô h k n y u x ề ê ư ờ t ư g n h ơ g n ă t l C v g n ô c ệ i Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Ghi chú: 1) Hoạt động nông nghiệp của các thành viên khác trong hộ có sự khác biệt ở mức ý nghĩa thống kê theo kiểm định Pearson Chi-Square tại mức xác suất 95% 2) Các hoạt động lâm nghiệp, làm công ăn lương, các công việc không thường xuyên, làm nghề tự do của các thành viên khác trong hộ không có sự khác biệt ở mức ý nghĩa thống kê theo kiểm định Pearson Chi-Square tại mức xác suất 95%. Đối với các thành viên khác trong hai nhóm hộ cũng không có nhiều khác biệt về nghề nghiệp. Có đến 68% các thành viên khác trong nhóm hộ tham gia dự án tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp của gia đình nhiều hơn rất nhiều so với 25% các thành viên tham gia vào hoạt động nông nghiệp trong nhóm hộ không tham gia dự án. Các hoạt động lâm nghiệp, làm công ăn lương, làm các công việc khác không thường xuyên và làm nghề tự do ở các thành viên khác trong nhóm hộ tham gia dự án có cao hơn về mặt số học so với nhóm không tham gia dự án nhưng qua kiểm định Pearson Chi- Square không thấy có sự khác biệt ở mức xác suất 95%. Như vậy, qua việc
    • lix tìm hiểu về ngành nghề của các thành viên khác trong hộ cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với các hoạt động nông nghiệp giữa hai nhóm hộ có tham gia và không tham gia vào dự án. 2.4.2.5 Diện tích bình quân đất đai của hai nhóm hộ. Bảng 2.13: Diện tích đất bình quân của hai nhóm hộ Tham gia Không tham Khác biệt theo Loại đất (m2) kiểm định Mann Whitney dự án gia dự án Tổng diện 8.096,51 6.893,63 ** tích đất (8.702,87) (8.453,46) 486,80 560,21 Đất thổ cư - (351,25) (346,31) 2.061,87 1.964,17 Đất nông nghiệp - (1.050,74) (1.116,33) Đất rừng 1.142,13 885,42 * tự nhiên (5.027,75) (3.469,07) 2.942,53 2.596,25 Đất rừng trồng - (6.508,14) (6.461,59) 1.310,93 712,50 Đất đồi *** (2.937,30) (1.849,31) 152,25 175,08 Đất mặt nước - (394,10) (543,86) Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả năm 2008 Ghi chú: 1) *, **, *** sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo kiểm định Mann Whitney tại mức xác suất 90%, 95% và 99% 2) Giá trị trong ngoặc đơn: Độ lệch chuẩn của giá trị trung bình tại mức xác suất 90% Diện tích đất của các hộ tham gia dự án lớn hơn so với các hộ thuộc nhóm không tham gia dự án, nguyên nhân chủ yếu là do có sự khác biệt về diện tích đất đồi giữa hai nhóm hộ này. Trong diện tích đất rừng tự nhiên, rừng trồng, đất mặt nước, đất nông nghiệp không có sự khác biệt theo kiểm định Mann-Whitney ở mức sác xuất 90%. Do đó, về cơ bản ta có thể thấy các diện tích đất rừng tự nhiên, rừng trồng, đất mặt nước, đất nông nghiệp không
    • lx ảnh hưởng đến sự khác biệt trong kết quả sản xuất giữa hai nhóm hộ điều tra. Chỉ thấy duy nhất diện tích đất đồi có ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của hai nhóm hộ tham gia và không tham gia dự án. Diện tích đất đồi trên chủ yếu được các hộ sử dụng để trồng chè nên chúng ta sẽ thấy rõ được vấn đề này trong phần tính thu nhập từ cây chè của hai nhóm hộ điều tra. Tóm lại: qua phân tích số liệu điều tra cho thấy một số đặc trưng của hai nhóm hộ có tham gia dự án và không tham gia dự án vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên gần như không có sự khác biệt có tính chất tác động đến kết quả sản xuất và đời sống của các hộ. Vì vậy những khác biệt trong kết quả sản xuất, trong nhận thức và sinh kế của người dân có thể được đánh giá do tác động ngoại cảnh mang lại. Đó là cách tiến hành trồng trọt, chăn nuôi, làm nghề tự do, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Ngoài ra sự khác biệt còn do các hỗ trợ từ phía dự án mang lại như: Kết hợp với các trạm khuyến nông xã tổ chức tập huấn các kỹ thuật trồng cây lúa nước, cây chè cành giống mới, xây dựng vườn ươm chè, vườn ươm cây lâu năm, hỗ trợ giống lợn nái, bếp sao chè cải tiến, giống măng tre bát độ, nuôi ong, nuôi thỏ, câu lạc bộ phụ nữ chăn nuôi để giúp các hộ có thể tiếp cận với nguồn vốn tín dụng nhỏ...vv. 2.5. So sánh sự thay đổi về cơ cấu kinh tế giữa hai nhóm hộ 2.5.1. Thu nhập bình quân năm 2008 của hai nhóm hộ. Mục tiêu của dự án là góp phần cải thiện điều kiện sống của các hộ gia đình thông qua việc tìm kiếm những sinh kế mới, lên kế hoạch sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có của hộ nhằm nâng cao thu nhập cho hộ. Phần này tác giả sẽ xem xét thu nhập của hộ gia đình cả về khía cạnh số lượng cũng như nguồn gốc thu nhập để tạo ra một mức chuẩn cho đánh giá tác động của dự án trong tương lai. Thông qua các phân tích qua các số liệu định lượng, tác giả sẽ đề cập đến các yếu tố chính mang lại thu nhập cho các nhóm hộ.
    • lxi Bảng 2.14: Thu nhập trung bình năm 2008 của hai nhóm hộ ĐVT: đồng/năm Khác biệt theo kiểm định Giá trị Diễn giải N Mann Whitney bình quân Hệ số Z P-value 14.193.280 Thuộc dự án 150 (10.225.005) -2,06 0,04 10.604.580 Không thuộc dự án 48 (**) (7.238.143) Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Ghi chú: 1) (**) có sự khác biệt về thu nhập giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án tại mức xác suất 95% theo kiểm định Mann-Whitney. 2) Giá trị trong ngoặc đơn là độ lệch chuẩn của giá trị trung bình tại mức xác suất 95%. Tổng thu nhập trung bình năm 2008 của nhóm hộ tham gia dự án là 14.193.280 đồng/năm cao hơn rất nhiều so với mức thu nhập trung bình năm 2008 là 10.604.580 đồng/năm của nhóm hộ không tham gia dự án. Kết quả gia tăng thu nhập của các hộ thuộc nhóm tham gia dự án đã thể hiện sự thành công của dự án và đã đạt được mục tiêu là góp phần cải thiện điều kiện sống của các hộ gia đình thông qua việc tìm kiếm những sinh kế nhằm nâng cao thu nhập cho người dân vùng đệm, giảm dần sự phụ thuộc vào việc khai thác các nguồn tài nguyên rừng. Thực tế này cần được quan tâm trong đánh giá tác động của dự án để đảm bảo có được một đánh giá chính xác về mức độ xoá đói giảm nghèo kể cả về giá trị tuyệt đối lẫn giá trị tương đối. Để tìm hiểu chi tiết các nguồn thu nhập trong cơ cấu thu nhập của hộ, tác giả phân tổ thống kê theo các tiêu chí: Thu nhập từ nhóm cây lương thực, cây sản xuất hàng hoá, chăn nuôi, thu nhập từ rừng và thu nhập từ các ngành nghề tự do để phân tích thấy được với cùng nguồn lực như nhau nhưng có thể đem lại kết quả khác nhau giữa các nhóm hộ có và không tham gia dự án.
    • lxii 2.5.1.1. Thu từ nhóm cây hàng năm Bảng 2.15: Thu nhập bình quân từ nhóm cây hàng năm ĐVT: đồng/năm Tham gia Không tham Khác biệt theo kiểm Diễn giải Dự án gia dự án định Mann Whitney 4.158.520 2.780.310 Lúa nước ** (3.331.527) (2.165.412) 194.560 562.440 Hoa màu *** (619.879) (1.140.597) 4.353.080 3.342.750 Tổng ** (3.617.744) (2.751.264) Diện tích đất 2.061,87 1.964,17 - trồng lúa (m2) (1.050,74) (1.116,33) Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Ghi chú: 1) *, **, *** sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo kiểm định Mann Whitney tại mức xác suất 90%, 95% và 99% 2) Giá trị trong ngoặc đơn: Độ lệch chuẩn của giá trị trung bình tại mức xác suất 90% Thông qua xử lý thông qua phần mềm SPSS ta có thu nhập bình quân từ trồng trọt của các hộ tham gia dự án là 4.353.080 đồng/năm và thu nhập bình quân của nhóm hộ không tham gia dự án là 3.342.750 đồng/năm. Kết quả kiểm định cho thấy thu nhập trung bình về cây hàng năm của nhóm hộ tham gia dự án cao giữa thu nhập trung bình của nhóm hộ không tham gia dự án có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 95%. Để xem xét sự sai khác về thu nhập từ trồng trọt giữa hai nhóm hộ ta xem xét cụ thể các tham số trung bình về thu từ cây lúa và cây hoa màu giữa hai nhóm hộ trên. a/ Thu nhập từ cây lúa nước: Thu nhập trung bình từ cây lúa nước của nhóm hộ tham gia dự án là 4.158.520 đồng/năm và thu nhập của nhóm hộ không tham gia dự án là 2.780.310 đồng/năm. Kiểm định Mann-Whitney có sự khác biệt ở mức xác suất 95% về thu nhập từ cây lúa giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án, cụ thể là thu
    • lxiii nhập từ lúa nước của nhóm hộ tham gia dự án cao hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án. Thu nhập từ cây lúa phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Năng suất cây lúa (thể hiện yếu tố giống lúa và trình độ thâm canh), diện tích canh tác, thời tiết. dịch bệnh... Nếu ta cố định các yếu tố trên và xem xét yếu tố “diện tích canh tác” giữa hai nhóm hộ, kết quả như sau: Diện tích canh tác cây lúa nước trung bình của hộ tham gia dự án là 2.061,87m2 tương đương với 5,727 sào Bắc bộ (với sai số chuẩn là 85.8m2) và diện tích canh tác cây lúa nước trung bình của hộ không tham gia dự án là 1.964,17m2 tương đương với 5,456 sào Bắc bộ (với sai số chuẩn là 162,13m2). Kết quả kiểm định cho chúng ta nhận xét không có sự khác biệt về diện tích canh tác cây lúa nước giữa hai nhóm có và không tham gia dự án theo kiểm định Mann Whitney ở mức xác suất 90%. Điều đó cho ta thấy thu nhập trung bình từ cây lúa nước của nhóm hộ tham gia dự án cao hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án không phải nguyên nhân do nhóm hộ tham gia dự án có nhiều ruộng đất hơn mà do có sự khác biệt về trình độ thâm canh cây lúa cũng như khả năng đầu tư về giống mới, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Kết luận trên càng khẳng định rõ hiệu quả của dự án đã giúp các hộ cải thiện thu nhập thông qua các lớp huấn luyện về khuyến nông, trợ giúp vốn vay để hộ có điều kiện mua giống lúa mới, có vốn đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả làm tăng thu nhập cho các hộ tham gia dự án. b/ Thu nhập từ hoa màu: Các cây hoa màu chủ yếu được tính toán trong thống kê của tác giả bao gồm: Ngô, khoai lang, khoai tây, sắn, đỗ tương, lạc. Thu nhập trung bình từ hoa màu của nhóm hộ tham gia dự án là 194.560 đồng/năm (với sai số chuẩn là 50.613 đồng) và thu nhập của nhóm hộ không tham gia dự án là 562.440 đồng/năm (với sai số chuẩn là 164.631 đồng).
    • lxiv Kết quả kiểm định Mann-Whitney cho biết có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 99% trong thu nhập từ hoa màu giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án, cụ thể thu nhập từ cây hoa màu của nhóm tham gia dự án là thấp hơn so với các nhóm không tham gia dự án. Lý do giải thích ở đây là cơ cấu thu nhập từ hoa màu trong tổng thu nhập hàng năm của nhóm hộ tham gia dự án là rất nhỏ, các hộ trong dự án đã tập trung hầu hết các nguồn lực của hộ vào việc thâm canh cây lúa, trồng chè nên không có đủ thời gian và lao động để tập trung vào các cây hoa màu. Hơn thế nữa, theo điều tra thực tế thì mấy năm gần đây, hầu hết các hộ thuộc cả hai nhóm có và không tham gia dự án đều thu được kết quả rất thấp từ cây ngô và cây khoai. Việc thời tiết có những thay đổi bất thường đã làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của những loại cây này. Ví dụ như cây ngô đang trổ cờ thụ phấn thì gặp mưa lớn kéo dài nên không thụ phấn được. Cây khoai lang, khoai tây trồng không phát triển tốt do không có đủ nước tưới vào vụ đông dẫn đến củ nhỏ và chất lượng thấp. Thêm vào đó các hộ đều sử dụng các sản phẩm hoa màu của mình dùng làm thức ăn cho chăn nuôi của hộ mà rất hiếm khi bán lấy tiền nên vai trò của cây hoa màu không được nhận thức rõ. Việc không thu được tiền ngay sau khi thu hoạch và thu nhập từ cây hoa màu lại phụ thuộc kết quả của ngành chăn nuôi nên các hộ tham gia dự án không nhận thấy tính hiệu quả khi đầu tư trồng hoa màu nên không có xu hướng đầu tư nhiều vào thâm canh cây hoa màu. 2.5.1.2. Thu nhập từ cây chè Bảng 2.16: Thu nhập bình quân từ cây chè của hai nhóm hộ ĐVT: đồng/năm Khác biệt theo kiểm định Giá trị Mann Whitney Diễn giải bình quân Hệ số Z p-value
    • lxv 3.703.540 Thuộc dự án (7.271.671) 0,001 -3,181 1.254.900 (***) Không thuộc dự án (3.928.198) Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Ghi chú: 1) *** có sự khác biệt về thu nhập bình quân từ cây chè giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án tại mức xác suất 99% theo kiểm định Mann-Whitney. 2) Giá trị trong ngoặc đơn là độ lệch chuẩn của giá trị trung bình tại mức xác suất 99%. Thu nhập trung bình từ chè của hộ tham gia dự án là 3.703.540 đồng/năm (với sai số chuẩn là 593.729 đồng) và thu nhập của nhóm hộ không tham gia dự án là 1.254.900 đồng/năm (với sai số chuẩn là 566.987 đồng). Độ lệch chuẩn cho chúng ta biết có những hộ thuộc nhóm tham gia dự án có thu nhập từ cây chè rất cao. Độ lệch chuẩn càng cao có nghĩa là có sự chênh lệch về thu nhập càng lớn giữa các hộ có thu nhập cao và các hộ có thu nhập thấp từ cây chè. Nhìn vào độ lệch chuẩn của các hộ tham gia dự án ta thấy có nhiều hộ thuộc nhóm này có được thu nhập khá cao từ cây chè. Với kết quả kiểm định cho thấy có sự khác biệt trong thu nhập từ chè giữa hai nhóm hộ. Cụ thể thu nhập trung bình từ cây chè của nhóm tham gia dự án là cao hơn rất nhiều so với nhóm không tham gia dự án. Sự khác biệt này là nhờ tác động của các hoạt động hỗ trợ từ dự án như: Hỗ trợ kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc và thu hoạch chè cành giống mới giúp các hộ tạo ra năng suất, phẩm chất sản phẩm chè sạch cao hơn rất nhiều so với trước đây và điều đó đã làm tăng chất lượng sản phẩm chè búp dẫn đến tăng được giá bán đầu ra và làm tăng thu nhập cho các hộ tham gia dự án; Các hộ tham gia dự án được cung cấp miễn phí cây chè cành giống mới; dự án trợ giúp các hộ cải tạo các nương chè già cỗi không có thu hoạch hoặc cho năng suất cũng như chất lượng thấp; đầu tư bếp sao chè cải tiến cho các hộ để giảm bớt thời gian sao chế và làm tăng chất lượng chè thành phẩm, xây dựng vườn ươm chè để nhân giống cây chè cành.
    • lxvi Điều này cho thấy dự án tập trung cho cây chè là hướng đi rất đúng đắn để tăng thu nhập cho nhóm hộ. Từ đó, các hộ khác ngoài dự án có thể học tập và làm theo đối với các khâu kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ, thu hái... 2.5.1.3. Thu nhập từ ngành chăn nuôi Bảng 2.17: Thu từ chăn nuôi của hai nhóm hộ ĐVT: đồng/năm Tham gia Không tham Khác biệt theo kiểm định Diễn giải dự án gia dự án Mann Whitney 749.890 1.710.790 Lợn *** (2.591.664) (2.591.568) 368.600 277.080 Gia súc - (1.442.133) (903.949) 252.450 198.230 Gia cầm * (2.578.692) (461.738) 1.370.940 2.186.100 Tổng ** (3.176.204) (2.783.312) Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Ghi chú: 1) *, **, *** sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo kiểm định Mann Whitney tại mức xác suất 90%, 95% và 99% 2) Giá trị trong ngoặc đơn là độ lệch chuẩn của giá trị trung bình tại mức xác suất 90% Đối với ngành chăn nuôi: Thu nhập trung bình từ chăn nuôi năm 2008 của nhóm hộ tham gia dự án là 1.370.940 đồng/năm (với độ lệch chuẩn là 3.176.204 đồng) và thu nhập của nhóm hộ không tham gia dự án là 2.186.100 đồng/năm (với độ lệch chuẩn là 2.783.312 đồng). Kết quả kiểm định Mann - Whitney cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 95% trong thu nhập từ ngành chăn nuôi giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án, cụ thể nhóm hộ không tham gia dự án thu nhập từ ngành chăn nuôi cao hơn so với nhóm hộ tham gia dự án. Chúng ta tiếp tục phân tích chi tiết để thấy rõ sự khác biệt nằm ở đâu.
    • lxvii a/ Đối với chăn nuôi lợn: Thu nhập trung bình từ chăn nuôi lợn của nhóm hộ tham gia dự án là 749.890 đồng/năm (với sai số chuẩn là 211.608 đồng) và thu nhập của nhóm hộ không tham gia dự án là 1.710.790 đồng/năm (với sai số chuẩn là 362.225 đồng). Kết quả kiểm định Mann Whitney cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 99% giữa thu nhập trung bình từ chăn nuôi lợn. Cụ thể thu nhập trung bình năm 2008 của nhóm hộ tham gia dự án thấp hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án. Việc dự án đã chú trọng đầu tư con giống (lợn nái) cho các hộ tham gia dự án nhưng là các hộ có điều kiện kinh tế khó khăn. Mục đích của dự án là giúp các hộ không có điều kiện để đầu tư con giống có cơ hội được chăn nuôi song do không có kinh nghiệm chăn nuôi cũng như không có tiềm lực tài chính để đầu tư cho thức ăn và chăm sóc thú y nên kết quả thu được từ hoạt động chăn nuôi không cao. Trong khi đó, các hộ không tham gia dự án lại có được nguồn thu nhập khá lớn từ các hoạt động chăn nuôi lợn. Kết quả đó cần được khuyến khích, phát huy vì các hoạt động chăn nuôi lợn một mặt đem lại thu nhập cho hộ, mặt khác nó là mô hình tốt cho các hộ tham gia dự án học tập và làm theo để gia tăng thu nhập. b/ Đối với thu nhập từ chăn nuôi trâu, bò Thu nhập trung bình từ chăn nuôi trâu, bò của nhóm hộ tham gia dự án là 368.600 đồng/năm (sai số chuẩn là 117.750 đồng) và thu nhập của nhóm hộ không tham gia dự án là 277.080 đồng/năm (sai số chuẩn là 130.474 đồng). Kết quả kiểm định Mann-Whitney cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 90% trong thu nhập từ các hoạt động chăn nuôi gia súc giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án. Thu nhập trung bình từ chăn nuôi trâu, bò của cả hai nhóm hộ năm 2008 là rất nhỏ vì thu nhập chủ yếu dựa vào nguồn thu từ bán bê, nghé và số lượng hộ chăn nuôi trâu, bò chỉ chiếm 20% trong tổng số hộ điều tra.
    • lxviii c/ Đối với thu nhập từ chăn nuôi gia cầm: Thu nhập trung bình từ chăn nuôi gia cầm của nhóm hộ tham gia dự án là 252.450 đồng/năm (sai số chuẩn là 210.549 đồng) và thu nhập của nhóm hộ không tham gia dự án là 461.738 đồng/năm (sai số chuẩn là 66.646 đồng). Kết quả kiểm định Mann-Whitney cho thấy thu nhập từ chăn nuôi gia cầm có sự khác biệt ở mức xác suất 90%. Như vậy, thu nhập từ chăn nuôi gia cầm không phải là yếu tố gây nên sự khác biệt lớn về thu nhập trung bình năm 2008 của hai nhóm hộ có và không tham gia dự án. 2.5.1.4. Thu nhập từ rừng Bảng 2.18: Các thống kê về thu nhập từ rừng của hai nhóm hộ ĐVT: đồng/năm Khác biệt theo kiểm định Giá trị Diễn giải Mann Whitney bình quân Hệ số Z p-value 1.092.430 Tham gia dự án (1.729.870) 0,001 - 4,65 2.050.000 (***) Không tham gia dự án (1.425.303) Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Ghi chú: 1) *** có sự khác biệt về thu nhập bình quân từ rừng giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án tại mức xác suất 99% theo kiểm định Mann-Whitney. 2) Giá trị trong ngoặc đơn là độ lệch chuẩn của giá trị trung bình tại mức xác suất 99%. Thu nhập trung bình từ rừng của hộ tham gia dự án là 1.092.430 đồng/năm (với độ lệch chuẩn là 1.729.870 đồng và sai số chuẩn là 141.243 đồng) thấp hơn thu nhập từ rừng của nhóm hộ không tham gia dự án là 2.050.000 đồng/năm (với độ lệch chuẩn của mẫu là 1.425.303 đồng/năm và sai số chuẩn là 205.725 đồng).
    • lxix Kết quả trên hoàn toàn phù hợp với kết quả thảo luận và thực tế tại địa bàn bởi vì hầu hết các hộ tham gia dự án đều đầu tư cho rừng lớn hơn các hộ không tham gia dự án nên thu nhập từ rừng bị giảm. Thêm vào đó cho đến thời điểm điều tra thì rừng trồng của các hộ tham gia dự án mới ở độ tuổi thứ 3 nên chưa được khai thác gì nhiều ngoài củi đốt và lá cây khô. 2.5.1.5. Thu nhập từ nghề tự do Bảng 2.19: Thu từ các hoạt động nghề tự do ĐVT: đồng/năm Khác biệt theo kiểm định Giá trị Diễn giải Mann Whitney bình quân Hệ số Z p-value 3.673.290 Thuộc dự án 5.399.703 0,037 -2,08 1.770.830 (**) Không thuộc dự án 3.793.834 Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Ghi chú: 1) ** có sự khác biệt về thu nhập bình quân từ các hoạt động nghề tự do giữa hai nhóm có tham gia dự án và không tham gia dự án tại mức xác suất 95% theo kiểm định Mann- Whitney. 2) Giá trị trong ngoặc đơn là độ lệch chuẩn của giá trị trung bình tại mức xác suất 95%. Thu nhập trung bình từ nghề tự do của nhóm hộ tham gia dự án là 3.673.290 đồng/năm và thu nhập của nhóm hộ không tham gia dự án là 1.770.830 đồng/năm. Kết quả kiểm định Mann-Whitney cho thấy có sự khác biệt có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê tại mức xác suất 95% về thu nhập từ nghề tự do giữa hai nhóm hộ tham gia và không tham gia dự án. Cụ thể thu nhập từ nghề tự do của nhóm hộ tham gia dự án cao hơn rất nhiều so với các hộ không tham gia dự án. Hơn thế nữa, tỷ lệ % số lượng hộ tham gia các hoạt động phi nông
    • lxx nghiệp thuộc nhóm tham gia dự án cũng nhiều hơn rất nhiều so với nhóm không tham gia dự án. Điều đó đã tạo nên sự khác biệt về thu nhập từ phi nông nghiệp nói riêng giữa hai nhóm hộ mà còn làm thay đổi cơ cấu thu nhập giữa hai nhóm hộ. Biểu 2.4 sau đây sẽ thể hiện rất rõ nhận xét của tác giả. 2.5.2. Cơ cấu các nguồn thu nhập của hộ Biểu 2.4: Các nguồn thu hàng năm của hai nhóm hộ Tham gia dự án Không tham gia dự án Nghề Lúa Nghề Lúa 17% 26% 26% 29% Rừng 19% Rừng Chè 8% 12% Trâu, bò Chè 3% 26% Lợn Trâu, bò Gia cầm 16% 3% Hoa màu 2% Lợn Gia cầm 2% 5% 5% Hoa màu 1% Lúa Chè Hoa màu Lợn Lúa Chè Hoa màu Lợn Gia cầm Trâu, bò Rừng Nghề Gia cầm Trâu, bò Rừng Nghề Nguồn: Điều tra cơ sở kinh tế hộ gia đình nông thôn 2008 Sự phân chia nguồn thu nhập hàng năm giữa hai nhóm hộ là rất khác biệt. Đối với nhóm hộ tham gia dự án, nguồn doanh thu chính từ nông nghiệp đó là: Cây lúa đóng góp 29% và đạt tỷ trọng cao nhất trong tổng thu nhập hàng năm của hộ. Tiếp đến là cây chè đóng góp 26% trong tổng thu nhập của hộ. Thu nhập từ chăn nuôi lợn chỉ chiếm 5% trong cơ cấu thu nhập. Chăn nuôi gia cầm, trâu, bò, hoa màu có mức đóng góp rất khiêm tốn trong khoảng 1% đến 3%. Một điều đáng khích lệ đó là các hoạt động phi nông nghiệp trong nhóm hộ tham gia dự án có mức đóng góp cao như thu nhập từ cây chè trong tổng thu nhập là 26%. Các hoạt động phi nông nghiệp bao gồm: xây dựng, hàn xì, sơn nội thất, công nhân may, giáo viên…
    • lxxi Doanh thu từ rừng chiếm 8% trong tổng thu nhập trung bình của hộ tham gia dự án. Tỷ lệ này nhỏ hơn rất nhiều so với tỷ lệ đóng góp thu nhập từ rừng của nhóm hộ không tham gia dự án. Nguồn thu từ rừng chủ yếu là thu lượm củi đốt để phục vụ chính cho nhu cầu tiêu dùng của hộ. Các hộ không thể thu lượm được củi đốt để phục vụ nhu cầu của hộ do không có rừng, không có lao động sẽ phải tăng thêm chi phí để mua củi đốt. Đối với các hộ không tham gia dự án, giá trị thu nhập từ cây lúa chiếm tỷ trọng cao nhất là 26% trong tổng thu nhập của hộ. Thu nhập từ cây chè chỉ chiếm tỷ lệ là 12% trong cơ cấu thu nhập và chưa bằng 1/2 so với cơ cấu thu nhập từ cây chè của nhóm hộ tham gia dự án. Thu nhập từ rừng chiếm tỷ lệ cao thứ 2 trong tổng thu nhập của hộ là 19% và chỉ xếp sau cây lúa. Cũng tương tự như các hộ tham gia dự án, nguồn thu từ rừng vẫn chủ yếu là thu lượm củi đốt phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ của hộ. Có thể kết luận là các hộ thuộc nhóm không tham gia dự án đã sử dụng tài nguyên từ rừng mà cụ thể là củi đốt nhiều hơn nhóm hộ tham gia dự án.Thu nhập từ các nghề tự do chiếm 17% trong cơ cấu thu nhập của nhóm và cũng nhỏ hơn so với nhóm hộ tham gia dự án. Thu nhập từ chăn nuôi lợn chiếm tỷ lệ là 16%. Thu nhập từ trâu bò, hoa màu, gia cầm cũng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ từ 2% đến 5% trong cơ cấu thu nhập của nhóm không tham gia dự án. Tóm lại, cơ cấu thu nhập giữa hai nhóm hộ điều tra có sự khác biệt khá lớn. Nhóm hộ tham gia dự án tập chung nhiều cho cây lúa, chè, nghề tự do. Nhóm hộ không tham gia dự án tập chung chủ yếu cho cây lúa, chăn nuôi lợn, nghề tự do, phát triển cây chè và khai thác các tài nguyên rừng. Tỷ lệ thu nhập từ rừng trong cơ cấu thu nhập của nhóm hộ không tham gia dự án cũng có mức đóng góp rất lớn và xếp thứ 2 về giá trị trong cơ cấu thu nhập. Điều đó có nghĩa rằng nhóm hộ không tham gia dự án vẫn sử dụng và khai thác tài nguyên rừng khá nhiều so với nhóm hộ tham gia dự án. Tuy các sản phẩm chủ
    • lxxii yếu được các hộ thuộc cả hai nhóm khai thác là: củi đốt, cây luồng, cây tre, cây mai, nấm, măng các loại....nhưng vẫn ảnh hưởng và làm suy kiệt các nguồn tài nguyên rừng tự nhiên. 2.5.3. Tỷ lệ số hộ tham gia và thu nhập của hai nhóm hộ. Biểu 2.5: Sự tham gia và các nguồn thu trung bình năm 2008 (Đơn vị tính: 1.000 VND) 4500 4000 100% 3500 80% 3000 2500 60% 2000 40% 1500 1000 20% 500 % ư ợ S đ ộ h g n ố a ì i l 0 m b g p n u h T ă à ậ Lúa Chè Hoa màu Lợn Gia cầm Trâu, bò Rừng Nghề r t ì % Số hộ gia đình của nhóm thuộc dự án % Số hộ gia đình của nhóm đối chứng Thu nhập của nhóm tham gia dự án Thu nhập của nhóm không tham gia dự án Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Qua biểu đồ 2.5 trên ta thấy cả hai nhóm hộ đều tập chung chính cho cây lúa. Có đến 98% số hộ gia đình thuộc nhóm tham gia dự án và 96% số hộ gia đình thuộc nhóm không tham gia dự án từ mẫu nghiên cứu tham gia vào các hoạt động trồng lúa.Thu nhập đem lại từ cây lúa cũng khá cao chiếm 29% trong tổng thu nhập của nhóm tham gia dự án và chiếm 26% trong tổng thu nhập của nhóm không tham gia dự án. Tuy nhiên, qua số liệu điều tra phân tích ta nhận thấy doanh thu từ cây lúa của nhóm hộ tham gia dự án cao hơn rất nhiều so với nhóm hộ không tham gia dự án. Như vậy, khả năng thâm canh và hiệu quả từ các hoạt động trồng lúa của nhóm hộ tham gia dự án là tốt hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án.
    • lxxiii Đối với cây chè, số lượng hộ gia đình thuộc nhóm hộ tham gia dự án tham gia thâm canh là 72% nhiều hơn rất nhiều so với tỷ lệ 38% số hộ trồng chè của nhóm hộ không tham gia dự án và chúng ta cũng thấy thu nhập từ cây chè giữa hai nhóm hộ cũng rất khác biệt. Nhóm hộ tham gia dự án có thu nhập từ cây chè cao hơn rất nhiều so với nhóm không thâm gia dự án. Nguyên nhân là do các hộ thuộc nhóm tham gia dự án được hỗ trợ về giống chè cành, tập huấn kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc, thu hái, chế biến, bảo vệ thực vật... do đó đã làm tăng năng suất cũng như chất lượng chè thành phẩm, bán được giá cao nên tăng thu nhập. Tham gia các hoạt động trồng hoa màu, chăn nuôi lợn ta thấy số hộ không tham gia dự án tham gia nhiều hơn so với nhóm thuộc dự án và đạt được hiệu quả khả quan hơn. Chăn nuôi gia cầm ở hai nhóm hộ đều không thu được kết quả tốt. Điều đó nói lên rằng quy mô chăn nuôi gà, vịt của các hộ điều tra là rất nhỏ và không tạo ra được sản phẩm hàng hoá để bán lấy tiền mà chủ yếu là phục vụ nhu cầu của gia đình, tận dụng các nguồn thức ăn dư thừa trong sinh hoạt hàng ngày để chăn nuôi gia cầm. Có rất ít các hộ ở cả hai nhóm có và không tham gia dự án phát triển chăn nuôi trâu, bò. Điều đó có thể giải thích được như sau: Vốn để mua trâu, bò giống là một khoản đầu tư khá lớn. Hơn thế nữa các công việc chuẩn bị đất cho sản xuất nông nghiệp, vận chuyển chủ yếu được làm dịch vụ bởi các hộ có máy cày, máy kéo nên vai trò cũng như nhu cầu sử dụng trâu, bò để làm đất cho sản xuất nông nghiệp là không nhiều như trước đây. Do đó chăn nuôi trâu, bò và hiệu quả kinh tế đem lại từ chăn nuôi trâu bò tại khu vực nghiên cứu là không hiệu quả (chiếm tỷ trọng trong tổng thu nhập từ 2% đến 3%). Trong việc phát triển các hoạt động phi nông nghiệp ta thấy tỷ lệ số hộ thuộc nhóm tham gia dự án có xu hướng tham gia ngày càng nhiều lên. Tại
    • lxxiv thời điểm điều tra, thu nhập từ các hoạt động nghề tự do chiếm tỷ trọng cao thứ 2 trong nhóm hộ tham gia dự án và xếp thứ 3 đối với nhóm không tham gia dự án. Đó là điều rất đáng khích lệ bởi lẽ lực lượng tham gia vào các hoạt động nghề phải là những người có học thức, có trình độ chuyên môn nhất định... do đó, việc các hộ ưu tiên tập chung cho con cái đi học là một sự đầu tư rất tốt cho tương lai. 2.5.4. Doanh thu và chi phí bình quân từ rừng của hai nhóm hộ. Biểu 2.6: Doanh thu và chi phí bình quân năm 2008 từ rừng (ĐVT: nghìn đồng) 2,470 ừ D g u h n o a r t 1,541 449 420 Thu lượm củi Chi phí trồng rừng Tham gia DA Không tham gia DA Nguồn: Điều tra cơ sở kinh tế hộ gia đình nông thôn 2008 Ghi chú: 1) Hệ số Z =-5,54 và giá trị p-value = 0,001 theo kiểm định Mann-Whitney cho thấy“doanh thu từ rừng” có sự khác biệt giữa hai nhóm hộ tại mức xác suất 99%. 2) Hệ số Z =-3,35 và giá trị p-value = 0,001 theo kiểm định Mann-Whitney cho biết “chi phí cho rừng”có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm ở mức xác suất 99%. Kiểm định Mann-Whitney Test đối với cả doanh thu và chi phí từ rừng giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án ta thấy kết quả kiểm định từ mẫu nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt cả về doanh thu và chi phí đối với các hoạt động lâm nghiệp giữa hai nhóm hộ ở mức xác suất 99%. Qua thực tế điều tra chúng tôi thấy được nhóm hộ tham gia dự án luôn tham gia nhiều hơn
    • lxxv vào các công việc liên quan đến rừng so với nhóm hộ không tham gia dự án, đó là: Tham gia các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng cây phân tán, kỹ thuật bảo vệ rừng, chống cháy rừng, trồng cây gây rừng do dự án cung cấp cây giống. Các hộ tham gia dự án có doanh thu từ rừng trung bình là 1.541.000 đồng/năm thấp hơn khá nhiều so với nhóm hộ tham gia dự án có doanh thu trung bình từ rừng là 2.470.000 đồng/năm. Ngoài việc thu gom củi đốt ít hơn về giá trị thì các hộ thuộc dự án lại có mức chi phí cho rừng nhiều hơn các hộ không tham gia dự án. Đó chính là các chi phí như mua thêm cây giống, phân bón hay thuốc bảo vệ thực vật và số ngày công làm việc trong rừng hoặc tham gia tập huấn về rừng nhiều hơn so với các hộ không tham gia dự án. 2.6. Sử dụng tài nguyên và nhận thức của các hộ về bảo vệ tài nguyên 2.6.1. Các hoạt động khai thác rừng thường xuyên của hai nhóm hộ Có những hoạt động khai thác rừng mà tất cả các hộ thuộc cả hai nhóm thường xuyên tham gia như: Chặt cây gỗ, chặt cành để làm củi, thu nhặt củi khô trên cây và dưới mặt đất, chăn thả gia súc như trâu, bò, dê trong rừng tự nhiên. Có những hoạt động chỉ diễn ra theo mua vụ như lấy măng, lấy mật ong tự nhiên... Sau khi xắp xếp lại dữ liệu điều tra, tác giả đã thống kê được các hoạt động khai thác trong rừng tự nhiên của cả hai nhóm hộ và liệt kê tất cả các hoạt động khai thác đó đồng thời tiến hành các kiểm định Pearson Chi-Square đối với từng hoạt động như bảng 2.20 dưới đây: Bảng 2.20: Sử dụng tài nguyên rừng phân theo nhóm hộ Số hộ gia đình sử dụng Tham gia Không tham Khác biệt theo kiểm định tài nguyên rừng (%) gia (%) Pearson Chi-Square Thu hái củi dưới mặt đất 43 25 ** Thu hái củi trên cây 19 2 *** Trồng chè 12 2 **
    • lxxvi Chăn nuôi gia súc 5 8 * Thu hái cây thuốc 0 4 - Thu hái nấm 4 21 *** Hái măng tre 5 31 *** Nước 12 42 *** Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra của tác giả 2008 Ghi chú: *, **, *** có sự khác biệt ở mức ý nghĩa thống kê theo kiểm định Pearson Chi-Square tại mức xác suất 90%, 95%, 99% Qua số liệu thống kê từ phiếu điều tra hộ được trình bày ở biểu trên ta thấy tỷ lệ số hộ gia đình tham gia dự án thu hái củi cả ở trên cây lẫn dưới đất cao hơn rất nhiều so với các hộ không tham gia dự án về số lượng nhưng lại có giá trị thấp hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án (do củi đốt mà các hộ tham gia dự án thu gom chỉ ở dạng cành khô nhỏ, cây nứa... trong khi đó các hộ không tham gia dự án thường thu gom củi đốt ở dạng chặt cành, tỉa cây nên tuy khối lượng củi đốt thu gom được ít hơn về số lượng nhưng lại cao hơn rất nhiều về chất lượng củi đốt và giá trị). Các phỏng vấn của chúng tôi đã chỉ ra rằng nhiều hộ gia đình trồng chè trong huyện sử dụng củi, lá cây thu gom được để sao chè. Điều đó có nghĩa là hộ nào trồng càng nhiều chè thì sẽ cần càng nhiều củi đốt để sao chè. Tỷ lệ các hộ tham gia dự án trồng chè chiếm 72% trong mẫu điều tra trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm hộ không tham gia dự án chỉ chiếm 38% trong tổng số mẫu điều tra. Người dân khai thác củi đốt từ rừng vì họ cho rằng nó không làm ảnh hưởng tới rừng, đến môi trường tự nhiên. Một số hộ cho rằng hoạt động lấy củi đốt (củi khô rơi dưới đất, củi khô trên cây) được nhà nước cho phép. Qua phân tích trên ta thấy những nỗ lực bảo tồn thiên nhiên mà cụ thể ở đây là bảo tồn VQG Tam Đảo sẽ chỉ có hiệu quả nếu tình hình đói nghèo được cải thiện và lồng ghép với các kế
    • lxxvii hoạch sử dụng tài nguyên rừng bền vững tại vùng đệm. Phát triển trồng chè là một ví dụ về mô hình xoá đói giảm nghèo tại tỉnh Thái Nguyên. Các hộ dân không tham gia dự án có mức độ khai thác nấm (21%) và măng tre (31%) cao hơn rất nhiều lần các hộ tham gia dự án. Chỉ có khoảng từ 4% đến 5% các hộ gia đình tham gia dự án được phỏng vấn vẫn còn tham gia các hoạt động khai thác trên để phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Điều đó cho thấy tác dụng của các buổi tập huấn về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường tự nhiên do dự án mang lại đã cải thiện được rất nhiều đối với suy nghĩ, nhận thức của các hộ tham gia dự án về tầm quan trọng của rừng và sự đa dạng sinh học đối với cuộc sống hiện tại của con người và các thế hệ con cháu mai sau. Chỉ có khoảng 5% số hộ tham gia dự án và 8% số hộ không tham gia dự án vẫn còn sử dụng rừng làm nơi chăn thả gia súc. Tóm lại, ý thức bảo vệ rừng của người dân được nâng lên rõ rệt so với trước đây thông qua các lớp tập huấn, tuyên truyền của các cán bộ kiểm lâm, các bộ xã và các trưởng thôn đối với người dân địa phương. Trước đây các hoạt động của người dân trong rừng bao gồm: Khai thác gỗ, lấy củi, nấm, măng, cây thuốc nam, chăn thả gia súc, săn bắn, lấy đất đá nhưng hiện nay chỉ còn thu lượm củi và trồng rừng theo nhu cầu của hộ trên diện tích đất rừng Hộp 2.1 được giao. Theo Ông Đỗ Anh Dũng - Phó phòng NN&PTNT thị trấn Đại Từ Người dân trong xã trước đây chủ yếu vào rừng để khai thác các cây gỗ lớn, lấy măng, thu lượm củi đốt và săn bắn các con thú nhưng từ khi có dự án họ chủ yếu tập trung vào trồng rừng trên diện tích đất được giao. Dự án giúp họ trồng chè cành giống mới, hỗ trợ các quy trình kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ thực vật, thu hái và bảo quản sau thu hoạch nên đời sống của người dân đã giảm bớt phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên rừng nữa. Theo Ông Nguyễn Chân Chính - Chủ tịch UBND xã Cát Nê - Đại Từ
    • lxxviii 2.6.2. Thông tin và truyền thông. Bảng 2.21: Các phương tiện truyền tải thông tin về bảo vệ rừng (% số hộ gia đình/tổngsố ) Tiếp cận nguồn thông tin Nhóm tham Nhóm không Phương thức của hộ gia đình gia dự án tham gia dự án hiệu quả nhất Tivi 97 88 96 Đài 78 42 39 Báo 67 31 23 Bảng thông tin 64 25 21 Tờ rơi 22 2 6 Họp với các cấp chính quyền 94 77 93 Thông tin với kiểm lâm 87 35 73 Trò chuyện với hàng xóm 79 40 52 Nguồn: Điều tra cơ sở kinh tế hộ gia đình nông thôn 2008 Qua bảng 2.21 trên cho ta thấy thông tin về bảo vệ rừng được các hộ dân tham gia dự án nhận được nhiều hơn khá nhiều trên tất cả các nguồn tiếp cận thông tin của hộ điều tra. Tivi là kênh chuyển tải thông tin về bảo vệ rừng tới cả hai nhóm hộ là nhiều nhất và cũng đạt hiệu quả cao nhất. Tiếp đến là việc họp dân với các cấp chính quyền địa phương để tuyên truyền cho các hoạt động trồng và bảo vệ rừng. Với cách tiến hành này có đến 94% số hộ tham gia dự án và 77% số hộ không tham gia dự án được phỏng vấn biết đến thông tin bảo vệ rừng thông qua họp và thảo luận với các cấp chính quyền địa phương. Phương thức hiệu quả nhất để người dân tiếp cận được với các thông
    • lxxix tin về bảo vệ và phát triển rừng theo ý kiến của người dân là thông qua tivi, họp với các cấp chính quyền địa phương. 2.6.3. Nhận thức của hai nhóm hộ về môi trường Bảng 2.22: Nhận thức về các hoạt động gây ô nhiễm (% các hộ gia đình tham gia phỏng vấn) Nhận thức của hộ gia đình về Nhóm hộ Không các nguồn gây ô nhiễm thuộc dự án thuộc dự án Phá rừng 99 60 Thả chất thải ra suối 99 92 Hoạt động du lịch 65 8 Phân bón hoá học/thuốc trừ sâu 99 81 Chăn nuôi gia súc quanh nhà 90 60 Chăn thả gia súc trong rừng 77 33 Khai thác quặng 97 81 Khác 5 0 Nguồn: Điều tra cơ sở kinh tế hộ gia đình nông thôn 2008 Hơn 90% số hộ gia đình cảm thấy lạc quan về tương lai của rừng trong khi 10% số hộ gia đình lo lắng về tương lai của rừng. Đối với các hoạt động gây ô nhiễm, nhận thức của các cộng đồng dân cư địa phương đã được cải thiện rất tốt. Phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, thả chất thải ra sông suối, khai thác quặng là những nhân tố gây ô nhiễm phổ biến nhất. Có đến 99% số người được phỏng vấn nhận thấy rằng việc thả chất thải ở suối và sông và nuôi gia súc là các hoạt động gây ô nhiễm tiềm tàng. 99% số hộ được phỏng vấn ở cả hai nhóm hộ tham gia và không tham gia biết các tác động ô nhiễm do nạn chặt phá rừng và chỉ 8% nhìn thấy những hậu quả của hoạt động du lịch trong rừng đối với nhóm hộ không tham gia dự án. 65% số hộ thuộc nhóm tham gia dự án nhìn nhận hậu quả của các hoạt động du lịch sẽ gây ô nhiễm môi trường địa phương. Như vậy hoạt động tuyên truyền, tập huấn của dự án đã có tác động tích cực đến những hộ gia đình tham gia dự án.
    • lxxx Hộp 2.2 Từ khi dự án được triển khai, người dân chúng tôi được tập huấn về những lợi ích mà rừng mang lại, do vậy nhận thức của người dân được nâng cao, thêm hiểu biết về lợi ích của việc bảo vệ rừng. Rừng không còn bị phá nữa như trước đây nên môi trường được bảo vệ, không khí trong lành hơn hẳn, có thêm nhiều nước từ rừng chảy về. Trước đây những khu ruộng quanh thôn chỉ có thể cấy được một vụ, nay nhờ nước chảy từ rừng về nhiều giúp người dân có nước để cấy được hai vụ lúa trong năm. Thật là tốt nếu mọi người cùng biết bảo vệ rừng, là bảo vệ nguồn nước cho cuộc sống của chính chúng ta. Ý kiến Ông Nguyễn Văn Mười, thôn La Vĩnh, xã Cát Nê, Đại Từ - TN 2.7. Đánh giá tác động 2.7.1. Đánh giá sự thay đổi về thu nhập của hai nhóm hộ Các hộ đánh giá như thế nào về sự thay đổi trong thu nhập của hộ trong cuộc sống và vai trò của rừng đối với hộ. Liệu có sự thay đổi nào không và vai trò của dự án ảnh hưởng đến những thay đổi này như thế nào? Qua kết quả điều tra cho thấy phần lớn các hộ đánh giá là có sự tăng lên của thu nhập qua 5 năm từ năm 2003 đến năm 2008 (bảng 2.23), mà % số hộ đánh giá tăng lên của nhóm hộ tham gia dự án cao hơn so với các hộ không tham gia dự án theo kiểm định Pearson Chi-Square có ý nghĩa thống kê tại mức xác suất 99%. Ngược lại số hộ tham gia dự án đánh giá là thu nhập bị giảm đi ít hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án. Điều này cho phép đi đến kết luận là theo đánh giá của các hộ, dự án đã góp phần ổn định và cải thiện sinh kế cho người dân khu vực vùng đệm. Đời sống về vật chất tăng lên là cơ sở để người dân tin tưởng và hưởng ứng theo các hoạt động của dự án. Trong phần nghiên cứu này, sự đánh giá về thu nhập tăng lên hay giảm đi không phải do ý muốn chủ quan của người phỏng vấn. Các hộ được hỏi chủ động trả lời theo sự đánh giá của chính bản thân họ.
    • lxxxi Bảng 2.23: Sự thay đổi thu nhập của hộ theo đánh giá của người dân (% của hộ trong tổng số) Thay đổi thu nhập Tham gia Không tham Khác biệt qua kiểm định trong 5 năm qua dự án gia dự án Pearson Chi-Square Tăng lên 58.7 16.6 *** Không thay đổi 33.3 41.7 ** Giảm đi 8.0 41.7 *** Ghi chú: *,**,*** Khác biệt theo kiểm định Pearson Chi-Square có ý nghĩa thống kê ở các mức xác suất 90%, 95% và 99%. Theo kết quả từ số liệu điều tra ta thấy có 58,7% số hộ tham gia dự án nhận xét thu nhập của gia đình tăng lên trong vòng năm năm qua. Chỉ có 16,6% số hộ thuộc nhóm không tham gia dự án có cùng nhận xét như trên. Như vậy, số hộ gia đình thuộc nhóm tham gia dự án có thu nhập tăng lên cao hơn rất nhiều so với nhóm không tham gia dự án. Tỷ lệ số hộ gia đình tham gia dự án cho rằng thu nhập của hộ không thay đổi trong vòng 5 năm gần đây chiếm 33,3% và tỷ lệ số hộ gia đình không tham gia dự án là 41,6% có cùng nhận xét như vậy. Tuy nhiên, thật đáng mừng là chỉ có 8% số hộ gia đình tham gia dự án cho rằng thu nhập của hộ giảm đi trong khi đó tỷ lệ số hộ gia đình thuộc nhóm không tham gia dự án chiếm 41,6% nhận xét thu nhập giảm đi. Trong số các hộ có thu nhập giảm đi thuộc nhóm tham gia dự án là do nguyên nhân chính sau: Hộ có thành viên bị bệnh nặng phải điều trị dài ngày tại các bệnh viện lớn, có một số hộ có thành viên bị tai nạn nên việc chạy chữa là rất tốn kém nên đã ảnh hưởng nặng nề tới thu nhập của hộ. Có một số hộ bị giảm thu nhập do sản xuất, chăn nuôi không hiệu quả vì dịch bệnh. Kết quả ghi nhận và phân tích rất khác biệt với nhóm hộ không tham gia dự án. Đa số các hộ tham gia dự án có thu nhập giảm đi trong vòng 5 năm qua chủ yếu do các nguyên nhân như: Mất mùa lúa do lúa bị sâu bệnh nặng, chè thoái
    • lxxxii hoá nên sản lượng thấp, giảm chất lượng nên giá bán rất rẻ. Trung bình họ chỉ có thể bán được với giá 15 nghìn đồng đến 16 nghìn đồng/kg chè khô trong khi đó các hộ khác có giá bán trung bình từ 20 nghìn đến 25 nghìn đồng/kg. Một nguyên nhân chính nữa là do các hộ không tham gia dự án tuy có cơ cấu thu nhập từ chăn nuôi lợn chiếm 16% trong tổng các nguồn thu nhập của hộ lại thường xuyên thua lỗ trong mấy năm gần đây. Nguyên nhân do giá các loại thức ăn đầu vào tăng nhanh như ngô, cám đậm đặc, khô đậu tương... đã làm tăng chi phí lên cao trong khi giá bán lợn thương phẩm tăng không kịp với sự leo thang của giá nguyên liệu đầu vào. Như vậy, nhóm các hộ gia đình tham gia dự án tự đánh giá đã được cải thiện rõ rệt về thu nhập thông qua việc dự án hỗ trợ các sinh kế mới cho người dân thuộc khu vực vùng đệm. Các kết quả so sánh từ bảng 2.25 giữa hai nhóm hộ đã thể hiện được các chỉ tiêu để đánh giá thu nhập trong vòng 5 năm gần đây. Tỷ lệ số hộ có thu nhập tăng lên của nhóm tham gia dự án cao hơn so với nhóm không tham gia dự án. Tỷ lệ số hộ có thu nhập không đổi và giảm đi đều thấp hơn so với nhóm đối chứng. 2.7.2. Đánh giá sự thay đổi về thu nhập của hai nhóm hộ Để có thêm cơ sở cho sự kết luận này chúng tôi tìm hiểu thêm về những đánh giá của người dân về sự thay đổi cuộc sống của người dân trong vòng 5 năm qua bảng 2.24 như sau: Bảng 2.24: Sự thay đổi cuộc sống của hộ theo đánh giá của người dân (% của hộ trong tổng số) Thay đổi cuộc sống Tham Không tham Khác biệt theo kiểm định trong vòng 5 năm qua gia dự án gia dự án Pearson Chi-Square Tốt hơn 78.00 43.75 *** Không đổi 15.30 43.75 *** Xấu đi 6.70 12.50 **
    • lxxxiii Ghi chú: *,**,*** Khác biệt theo kiểm định Pearson Chi-Square có ý nghĩa thống kê ở các mức xác suất 90%, 95% và 99%. Đánh giá cuộc sống hiện tại được cải thiện tốt hơn so với trước đây là ý kiến của đại đa số người dân thuộc nhóm hộ tham gia dự án. Đánh giá này lần nữa lại khẳng định kết quả thành công của dự án khi số lượng hộ tham gia dự án có đánh giá cuộc sống tốt lên cao hơn rất nhiều so với nhóm hộ không tham gia dự án (theo kiểm định Pearson Chi-Square có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 99%). Số lượng đánh giá xấu đi là 6,7% không đáng kể đối với nhóm tham gia dự án trong khi đây là con số cần phải quan tâm đối với nhóm hộ không tham gia dự án (12,5%). Mặc dù đây chỉ là đánh giá mang tính chủ quan của các hộ tuy nhiên cũng phải dựa trên thực tế về thu nhập, mức độ cải thiện nguồn thu nhập hay đảm bảo sự chi tiêu của hộ để họ đưa ra những nhận xét này do vậy, ta cũng cần phải tham khảo thêm những ý kiến nhận xét đó. Tóm lại: Các hoạt động của dự án đã thể hiện được những thành công nhất định khi mà người dân tham gia dự án có những đánh giá lạc quan hơn về thu nhập và cuộc sống của mình so với các hộ không tham gia dự án trong vòng 5 năm qua. Hộp 2.3 Từ khi nhà nước cấm người dân vào rừng khai thác, cuộc sống của bà con trong làng gặp rất nhiều khó khăn so với trước đây. Dự án về làng đã giúp bà con có đường bê tông để đi lại thuận lợi. Dự án hỗ trợ vốn cho hội phụ nữ trong thôn được vay tiền để phát triển chăn nuôi lợn, gà vịt... hỗ trợ giống chè cành giống mới để trồng mới và thay thế cho các đồi chè già cỗi từ đó giúp bà con trong làng tăng thu nhập, cuộc sống khấm khá hơn trước rất nhiều. Ý kiến Ông Nguyễn Văn Trung, Trưởng thôn Bầu 1- Văn Yên - Đại Từ -TN
    • lxxxiv 2.7.3. Thay đổi nhận thức về tài nguyên rừng và bảo vệ môi trường 2.7.3.1. Nhận thức về tầm quan trọng của rừng Việc nhận thức về tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống, có trên 80% số hộ được phỏng vấn thuộc cả hai nhóm hộ đều đánh giá ở mức độ rất quan trọng, trên 10% số hộ thuộc cả hai nhóm đánh giá ở mức độ quan trọng do nó mang lại những nguồn lực khó có thể thay thế như nguồn nước, khí hậu, điều hoà nhiệt độ môi trường sống…Tỷ lệ % về nhận thức của người dân đánh giá mức độ quan trọng của rừng ở cả hai nhóm hộ có và không tham gia dự án được thể hiện thông qua biểu đồ 2.7 dưới đây: Biểu 2.7: Đánh giá mức độ quan trọng của rừng đối với cuộc sống 100% 90% 80% Không hề quan trọng 70% 60% Không thực sự quan trọng 50% 40% Quan trọng 30% Rất quan trọng 20% 10% 0% Thuộc dự án Không thuộc dự án Như vậy có thể thấy được người dân có nhận thức về tầm quan trọng của rừng nhưng do trước đây họ bị hạn chế nhiều về nguồn lực như đất đai, vốn và đặc biệt là sự hiểu biết về những kỹ thuật mới trong nông nghiệp cũng như việc tiếp cận thị trường mà không thể tham gia vào các hoạt động phi nông, lâm nghiệp được, họ đã có những hành động khai thác rừng và những hoạt động có tác động tiêu cực đến vốn rừng như vậy. Điều mà các hoạt động dự án đã mang lại đó là phát triển thêm những công cụ sinh kế khác cho người dân trong vùng từ đó giảm bớt những tác động tiêu cực đến rừng do các hoạt
    • lxxxv động sinh kế của người dân tạo ra. Tuy nhiên việc thay đổi nhận thức, thay đổi sinh kế không thể diễn ra một cách nhanh chóng được do vậy vẫn còn hiện tượng khai thác các sản phẩm từ rừng như: lấy cây tre, luồng, củi đốt, măng, nấm, cây thuốc... các hoạt động đảm bảo cuộc sống của người dân có ảnh hưởng tiêu cực đến rừng như đã thấy trong phần phân tích trước. Kết quả hỏi các cán bộ lãnh đạo địa phương cũng cho thấy cuộc sống của người dân khu vực còn phụ thuộc nhiều vào rừng hay nói một cách khác rừng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống và sinh kế của họ. Hộp 2.4 Những hộ dân trong khu vực vùng đệm vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các sản phẩm từ rừng cho nên các sản phẩm từ rừng vẫn giữ vị trí quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của họ. Theo Ông Đỗ Anh Dũng Phòng NN&PTNT thị trấn Đại Từ Các sản phẩm từ rừng chiếm phần trăm đáng kể trong thu nhập của hộ gia đình trong một chu kỳ, đặc biệt là người nghèo trông vào cái có sẵn trong rừng để khai thác kiếm sống: Khai thác gỗ, củi đốt, cây tre, cây luồng để bán và tiêu dùng; khai thác măng, nấm thậm chí đi săn bắn các động vật hoang dã để làm thức ăn. Bây giờ người dân trồng rừng để bảo vệ đất đai, duy trì và tăng cường nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp và coi đó như là của để dành cho tuổi già và cho con cháu mai sau vì sau khoảng từ 8 đến 10 năm, diện tích rừng trồng được khai thác sẽ đem lại nguồn thu lớn cho các hộ có rừng sản xuất. Theo ý kiến đánh giá của các cán bộ địa phương cho thấy việc nâng cao Theo Bà Vũ Thị Bắc Hải - Trạm phó Trạm kiểm lâm thị trấn Đại Từ đời sống của người dân là việc làm đúng đắn và hướng đi đúng giúp cho việc bảo vệ rừng bền vững. Việc nâng cao đời sống của người dân, tạo thêm thu nhập từ các nguồn khác ngoài rừng như các hoạt động của dự án đã thực hiện thể hiện tính hiệu quả rõ rệt. Khi cuộc sống của người dân vùng đệm giảm bớt sự phụ thuộc vào rừng cũng có nghĩa là việc khai thác các tài nguyên rừng cho sinh kế của họ sẽ giảm xuống. Tóm lại: Kết quả phân tích cho thấy các hoạt động của dự án tại vùng đệm đã giúp cải thiện sinh kế ổn định và bền vững, nâng cao đời sống kinh tế,
    • lxxxvi tạo ra sự khác biệt trong suy nghĩ của người dân. Đây là những thành công bước đầu do dự án vẫn đang trong giai đoạn thực hiện và mới chỉ diễn ra trong vòng 6 năm. Với thời gian ngắn như vậy chúng tôi cho rằng kết quả sẽ rõ hơn nếu thời gian dự án dài hơn hoặc khi chúng ta quay trở lại trong một thời gian sau đó. 2.7.3.2. Nhận thức đối với môi trường sống. Các hoạt động dự án đã cải thiện tốt hơn môi trường sinh thái cho khu vực vùng đệm theo đánh giá của người dân (71% người dân được hỏi cho biết như thế). Chỉ có 3% tỷ lệ số hộ được hỏi nhận thấy không có sự thay đổi về môi trường sống của họ. Có đến 26% số hộ được hỏi lại cho rằng môi trường tại địa phương đang bị xấu đi do chính các tác động của con người. Các tác động xấu của con người có ảnh hưởng xấu đến môi trường trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp như: Sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ cỏ, không thu gom các vỏ chai thuốc trừ sâu, diệt cỏ sau khi sử dụng, các hoạt động chăn nuôi của hộ nhưng không có quy trình xử lý phân gia súc, các hoạt động khai thác quặng trong rừng... đều có tác động xấu đến môi trường sống tại địa phương. Biểu 2.8: Đánh giá của người dân về sự thay đổi môi trường
    • lxxxvii 26% 71% 3% Tốt hơn Không thay đổi Xấu đi Để giúp bảo vệ tốt hơn cho môi trường sống của mình, nhiều hộ khi được hỏi đã cho ý kiến. Kết quả chúng tôi tập hợp những ý kiến cho thấy có tổng số 1.188 ý kiến. Các ý kiến tập trung vào một số vấn đề như sau: 1. Bảo vệ rừng 2. Không cho khai thác quặng và đất đá trong rừng 3. Các hoạt động hỗ trợ sinh kế cho người dân khu vực vùng đệm 4. Giữ gìn vệ sinh môi trường 5. Tăng cường nhận thức cho người dân 6. Các vấn đề liên quan đến quản lý, thu gom rác thải… 7. Chăn nuôi phải có chuồng trại, không thả tự do. Tóm lại: Người dân đã ý thức được sự thay đổi môi trường trong đó có liên quan đến rừng và bảo vệ rừng cho khu vực. Cũng qua các hoạt động của dự án người dân cũng đã hiểu ra những hoạt động thay đổi sinh kế với mục tiêu ít phụ thuộc vào vốn rừng đã mang lại cuộc sống ổn định và môi trường thay đổi tốt lên phục vụ cho cuộc sống của chính họ vì thế họ đã đưa ra những đề nghị theo hướng như vậy nên mong muốn được tiếp tục triển khai dự án nếu có thể. 2.7.4. Sự khác biệt và hướng chuyển dịch sinh kế của hai nhóm hộ
    • lxxxviii Những hộ tham gia dự án đã được tập huấn, giới thiệu các phương thức sinh kế thay thế cho các hoạt động liên quan đến rừng vậy liệu họ có sự thay đổi khác biệt nào với những hộ không tham gia dự án. Như đã phân tích ở các phần trên cho thấy các hộ sống trong cùng một khu vực không có khoảng cách xa về địa lý do vậy sự khác biệt chúng tôi không mong đợi quá lớn giữa hai nhóm hộ. Để đánh giá khả năng thay đổi nghề nghiệp của các chỉ hộ, người có ảnh hưởng rất quan trọng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội của hộ, nhóm đã đặt câu hỏi: “Anh/chị sẽ làm gì khi không được thực hiện bất kỳ hoạt động nào trong rừng?” và đưa ra các sự lựa chọn về nghề nghiệp có thể thay thế được. Kết quả được tác giả thể hiện ở biểu 2.9 dưới đây: Biểu 2.9: Sự khác biệt về cơ cấu kinh tế giữa hai nhóm hộ 92.5 100 87 Tham gia dự án 80 Không tham gia dự án 60 40 13 18.5 15.8 20 13 10 7 9 3 9 0 0 0 0 2 0 Nông Khai thác Dịch vụ du Làm công Công việc Nghề tự do Thất Khác nghiệp quặng lịch ăn lương không nghiệp thường xuyên Kết quả là phần lớn người dân (biểu đồ 2.9) có đến 92.5% số hộ tham gia dự án và 87% số hộ không tham gia dự án cho rằng họ sẽ tập trung vào các hoạt động nông nghiệp như: Cây lúa nước, phát triển cây chè, chăn nuôi gia súc, gia cầm...nếu họ không muốn phụ thuộc vào rừng. Một tỷ lệ nhỏ các hộ sẽ tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp như: Làm công ăn lương, các công việc khác không thường xuyên, nghề tự do... nhằm tạo ra thu nhập cho hộ. Để xem xét các ý kiến này có sự khác biệt giữa 2 nhóm hộ điều tra
    • lxxxix hay không, tác giả tiến hành các kiểm định trên phần mềm SPSS với cùng một chỉ tiêu định tính giữa hai nhóm hộ. 1. Đối với các hoạt động nông nghiệp, kiểm định Pearson Chi-Square cho các thông số sau đây: Hệ số Pearson Chi-Square = 4,227 và giá trị p- value = 0,039. Với kết quả như trên, ta có thể khẳng định có sự khác biệt giữa hai nhóm hộ về sự lựa chọn sản xuất nông nghiệp. Số hộ lựa chọn tham gia các hoạt động nông nghiệp khi không được phép thực hiện bất cứ hoạt động nào trong rừng của nhóm hộ tham gia dự án nhiều hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 95%. 2. Đối với sự lựa chọn nghề nghiệp làm công ăn lương của các chủ hộ, kiểm định Pearson Chi-Square cho các thông số: 3. Hệ số Pearson Chi-Square = 0,664 và giá trị p-value = 0,415 không có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 90% cho ta kết luận không thấy có sự khác biệt đối sự lựa chọn nghề nghiệp “làm công ăn lương” của các chủ hộ ở cả hai nhóm có và không tham gia dự án. 4. Quyết định lựa chọn làm các công việc khác không thường xuyên của chủ hộ thuộc hai nhóm có và không tham gia dự án cũng không thấy có sự khác biệt khi hệ số kiểm định Pearson Chi-Square = 1,057 và giá trị p-value = 0,304 không có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 90%. 5. Đối với lựa chọn làm nghề tự do, kiểm định Pearson Chi-Square cho các giá trị: Hệ số Pearson Chi-Square = 0,571 và giá trị p-value = 0,450 không có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 90% cho ta kết luận không thấy có sự khác biệt đối sự lựa chọn nghề nghiệp “làm nghề tự do” của các chủ hộ ở cả hai nhóm có và không tham gia dự án. Có 18,5% tỷ lệ số hộ thuộc nhóm tham gia dự án lựa chọn làm nghề tự do trong khi đó có 15,8% tỷ lệ số hộ không tham gia dự án lựa chọn. Sự
    • xc thay đổi lớn về quan điểm, nhận thức của nhóm hộ không thuộc dự án về nghề tự do đem lại thu nhập cho hộ so với thời điểm điều tra về nghề nghiệp của chủ hộ ban đầu (biểu 2.4 trang 49 khi đó có 15% số lượng chủ hộ thuộc nhóm tham gia dự án làm nghề tự do và không có chủ hộ nào thuộc nhóm không tham gia dự án làm nghề tự do) đã cho thấy có sự học tập làm theo của nhóm hộ không tham gia dự án trong những nỗ lực tìm kiếm thêm các nguồn thu nhập khác khi không được thực hiện bất kỳ hoạt động nào trong rừng. 6. Chỉ có 2% số chủ hộ thuộc nhóm tham gia dự án và 3% số lượng chủ hộ không thuộc dự án cho rằng mình sẽ thất nghiệp nếu không được thực hiện bất kỳ hoạt động nào trong rừng. Có 13% số chủ hộ thuộc nhóm tham gia dự án và 9% số lượng chủ hộ không thuộc dự án nghĩ rằng hộ có thể làm các công việc khác khi không được vào rừng khai thác, thu lượm như mọi khi. Kiểm định Pearson Chi-Square không thấy có sự khác biệt giữa hai nhóm hộ đối với các tiêu chí này ở mức xác suất 95%. 2.8. Phương pháp nghiên cứu đánh giá tác động và sinh kế 2.8.1. Phương pháp luận đánh giá tác động và sinh kế Hai cách tiếp cận đánh giá tác động: 1) Đánh giá tác động của nhóm có và không tham gia hoạt động dự án. 2) Đánh giá mức độ thay đổi giữa trước và sau khi thực hiện dự án. Trong nghiên cứu này chúng tôi vận dụng việc đánh giá tác động dựa trên cơ sở sự khác biệt giữa nhóm tham gia dự án và không tham gia dự án (nhóm đối chứng) vì việc thu thập thông tin của các hộ trước khi thực hiện dự án không triển khai được. 2.8.2. Các tiêu chí đánh giá sinh kế: 1) Nguồn lực tự nhiên: Đất, nước, không khí, rừng, khoáng sản, …
    • xci 2) Nguồn lực con người: Kiến thức, kỹ năng trong quản lý sản xuất và kinh doanh, sức khỏe, khả năng lao động, số lượng lao động của hộ... 3) Nguồn lực xã hội: Sự tôn trọng các quy định về mối quan hệ, các mạng lưới và tổ chức xã hội, các đoàn thể như hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên... 4) Nguồn lực vật chất: Nhà cửa, tài sản, trang thiết bị vật tư, máy móc, các vườn cây lâu năm, đường giao thông, trường học, bệnh viện, nhà văn hoá, hệ thống thông tin liên lạc… 5) Nguồn lực tài chính: Thu nhập và tiết kiệm, sự tiếp cận các nguồn vốn như Ngân hàng… Nguồn lực tự nhiên Đất, nước, Nguồn lực Nguồn lực tài chính con người Thu nhập Các nguồn lực Kiến đánh giá sinh kế Kỹ năng Nguồn lực Sức khỏe Khả Nguồn hữu hình Nguồn lực Nguồn lực vật chất xã hội vô hình Nhà cửa, tài sản, Sự tôn trọng các Sơ đồ 2.1: Các nguồn lực trong đánh giá sinh kế của hộ gia đình nông dân Nguồn: Joachim Krug- Institute for Worldforestry, Germany, 2007 [21] Mỗi một nguồn lực lại có nhiều chỉ tiêu khác nhau để xem xét. Việc tìm hiểu về mức độ các nguồn lực được đánh giá bằng phương pháp cho điểm
    • xcii giữa hai nội dung nghiên cứu của cùng một vấn đề đó là: một bên đánh giá mong muốn, nhận định về tầm quan trọng và ý muốn đạt được của chỉ tiêu đó và một bên là thực tế đạt được của chỉ tiêu này. Nếu càng có sự chênh lệch giữa hai nội dung thì tích số nhận được sẽ càng nhỏ. Hay nói một cách khác thực tế không đạt được như mong muốn thì kết quả chung sẽ nhỏ hơn trường hợp đáp ứng được mong muốn của hộ, cụ thể như sau: 2.8.3. Phương pháp đánh giá. Đánh giá các yếu tố nguồn lực sẵn có tại địa phương có mức độ quan trọng như thế nào đối với cuộc sống của chính gia đình mình, người dân sẽ suy nghĩ và tự cho điểm theo 3 mốc cố định như sau: - Không quan trọng : 1 điểm - Quan trọng vừa : 2 điểm - Rất quan trọng : 3 điểm Thực tế hộ có nhận được lợi ích từ các hoạt động đó không, người dân sẽ tự cho điểm theo 5 mốc sau: - Không nhận được gì : 1 điểm - Nhận được một chút : 2 điểm - Nhận được vừa vừa : 3 điểm - Nhận được nhiều : 4 điểm - Nhận được rất nhiều : 5 điểm Giá trị bình quân của các tiêu chí của 2 nhóm hộ điều tra được thể hiện trên bảng 2.25 và biểu đồ 2.2 dưới đây. Kết quả phân tích cho thấy mức độ thực tế đạt được so với những đánh giá và mong muốn của các hộ thuộc nhóm tham gia dự án cao hơn so với nhóm không tham gia dự án. Điều đó đã nói lên là sự khác biệt trong sinh kế giữa hai nhóm hộ. Các hộ thuộc nhóm dự án có sinh kế ổn định và bền vững hơn so với các hộ không tham gia dự án.
    • xciii Tuy nhiên sự khác biệt giữa hai nhóm hộ là không lớn. Điều này được lý giải bởi việc các hộ này sống trong cùng một khu vực có khoảng cách về địa lý không xa có khi là xóm trên với xóm dưới vì vậy mặc dù không được tham gia dự án nhưng họ vẫn biết về các hoạt động của dự án và nhiều hộ thấy có lợi nên cũng tự làm theo như kết quả phần hỏi về những thông tin hoạt động dự án cho thấy có đến hơn một nửa số hộ không tham gia dự án nhưng biết về thông tin của hoạt động dự án và trong đó có khoảng 1/4 số hộ không tham gia dự án làm theo các hoạt động của dự án và cũng cho kết quả khá tốt. Sau khi cập nhật, tổng hợp xử lý số liệu trên chương trình Excel 2007 của phần mềm Microsoft, do định dạnh số liệu trong phần đánh giá sinh kế là rời rạc nên tác giả sử dụng phần mềm thống kê R để xử lý số liệu và thu được kết quả trung bình của tích số giữa nhận định tầm quan trọng và mức độ mong muốn đối với chỉ tiêu đó đồng thời kiểm định sự khác biệt giữa các chỉ tiêu nghiên cứu như sau: Bảng 2.25: Kết quả điều tra 5 nguồn lực của hai nhóm hộ ĐVT: điểm Không Khác biệt theo kiểm Nguồn lực Tham gia tham gia định Wilcoxon Nguồn lực tự nhiên 8.85 8.05 *** Nguồn lực con người 8.25 7.83 ** Nguồn lực xã hội 9.01 7.26 *** Nguồn lực vật chất 7.55 6.79 *** Nguồn lực tài chính 6.58 6.01 ** Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra của tác giả năm 2008 Ghi chú: 1) *,***,**** có sự khác biệt ở mức ý nghĩa thống kê theo kiểm định Wilcoxon tại mức xác suất 90%, 95%, 99% 2) Thang điểm được sử dụng trong đánh giá là thang điểm 15.
    • xciv Kết quả được tác giả thể hiện trên sơ đồ 2.2 để thấy được mối liên hệ và sự so sánh đối với các nguồn lực tại địa phương giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án. Sơ đồ 2.2: Đánh giá tác động các nguồn lực tại địa bàn nghiên cứu Ta thấy rằng tất cả 5 chỉ tiêu nguồn lực nói trên đối với nhóm hộ tham gia dự án đều có kết quả cao hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án. Điều đó cho thấy các hộ tham gia dự án có tích số giữa nhận định tầm quan trọng và mức độ mong muốn đối với chỉ tiêu đó và kết quả thực tế nhận được là cao hơn so với các hộ không tham gia dự án. Có hai tình huống xảy ra để giải thích kết quả trên, thứ nhất các hộ tham gia dự án được dự án tập huấn nên có nhận thức tốt hơn về mức độ quan trọng của các nguồn lực tại địa phương; thứ hai nhóm hộ tham gia dự án nhận được các hỗ trợ từ dự án như: vốn, con giống, cây giống, phân bón và được tập huấn về kỹ thuật trồng trọt và chăn
    • xcv nuôi... nên đã có thu nhập từ những sự trợ giúp ban đầu của dự án. Để khẳng định các nhận xét trên tác giả tiến hành kiểm định các giả thiết thống kê với cùng một chỉ tiêu nguồn lực giữa hai nhóm hộ có và không tham gia dự án. Đối với nguồn lực tự nhiên: Nguồn lực tự nhiên mà đề tài đề cập trong nghiên cứu bao gồm: Tài nguyên rừng, tài nguyên đất đai, nguồn nước, không khí...và việc khẳng định Nguồn lực tự nhiên của nhóm hộ tham gia dự án cao hơn nhóm hộ không tham gia dự án không có nghĩa là nhóm hộ tham gia dự án có nhiều rừng, nhiều đất đai.... hơn nhóm hộ không tham gia dự án mà thực chất là nhận thức của nhóm hộ tham gia dự án đối với tầm quan trọng của các nguồn lực tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của hộ cao hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án thông qua được tham gia các lớp tập huấn. Thông qua kiểm định Wilcoxon Test bảng 2.25 từ mẫu nghiên cứu ở đề tài chỉ ra nguồn lực tự nhiên của nhóm hộ tham gia dự án (8,85 điểm) cao hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án (8,05 điểm) có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 99%. Đối với nguồn lực con người: Các chỉ tiêu về nguồn lực con người bao gồm: Các kiến thức, kỹ năng trong quản lý và sản xuất nông nghiệp; bảo vệ và phát triển rừng; thời gian cần thiết cho việc thu lượm củi đốt và thời gian để làm các công việc khác... Thông qua kiểm định Wilcoxon bảng 2.24 từ mẫu nghiên cứu ở đề tài chỉ ra nguồn lực về con người của nhóm tham gia dự án có kết quả cao hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 95%. Đối với nguồn lực xã hội: Các tiêu chí đánh giá nguồn lực xã hội bao gồm: Sự tôn trọng và cải thiện các quy định, truyền thống văn hoá; tăng cường các hoạt động cộng đồng; tập huấn thông qua dự án làm giảm các hoạt động không được phép
    • xcvi diễn ra trong rừng; sự công bằng trong quản lý và sử dụng các tài nguyên rừng; các mâu thuẫn sử dụng ruộng đất... Kiểm định Wilcoxon Test có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 99% từ mẫu nghiên cứu ở đề tài chỉ ra các nguồn lực xã hội của nhóm hộ tham gia dự án có sự khác biệt với các hộ không tham gia dự án. So sánh hai giá trị trung bình về nguồn lực xã hội của hai nhóm hộ nên ta có thể khẳng định nguồn lực xã hội của nhóm hộ tham gia dự án (9,01 điểm) cao hơn các hộ thuộc nhóm không tham gia dự án (7,26 điểm) ở mức xác suất 99%. Đối với nguồn lực vật chất: Kiểm định Wilcoxon Test có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 99% từ mẫu nghiên cứu ở đề tài chỉ ra nguồn lực về vật chất của nhóm hộ tham gia dự án (7,55 điểm) cao hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án (6,79 điểm). Các tiêu chí để đánh giá nguồn lực vật chất trong đề tài nghiên cứu bao gồm: Các hoạt động trồng cỏ giúp cho việc chăn nuôi gia súc như trâu bò... phát triển, đánh giá việc cung cấp cây con giống với chất lượng tốt và giá cả hợp lý của các trạm giống, giống chè mới do dự án cung cấp có làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, việc cung cấp lợn giống cho các hộ tham gia dự án có làm tăng thu nhập cho hộ, đánh giá hệ thống Nông Lâm kết hợp có cải thiện hệ thống nông nghiệp trong vùng (cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp), các nương chè cũ già cỗi được cải thiện làm tăng thu nhập cho hộ... Đối với nguồn lực tài chính: Kiểm định Wilcoxon Test có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất 95% nên ta có thể khẳng định nguồn lực về tài chính của nhóm hộ tham gia dự án (6,58 điểm) cao hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án (6,01 điểm). Các tiêu chí để đánh giá nguồn lực tài chính trong đề tài nghiên cứu bao gồm: Sự trợ giúp về vốn từ các ngân hàng (như ngân hàng nông nghiệp & PTNT, ngân hàng chính sách xã hội…), các tổ chức phi chính phủ, nguồn vốn
    • xcvii vay từ hàng xóm cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, kinh doanh, mua sắm các thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và chế biến các sản phẩm nông nghiệp; các hoạt động được phép diễn ra trong rừng mang lại lợi ích cho hộ; Thị trường cho các sản phẩm gỗ làm các lâm sản ngoài gỗ như tre, luồng, măng, củi đốt, nấm, lá cây... được gia tăng; thị trường cho các nông sản thuận lợi; các hỗ trợ của dự án làm giảm đói nghèo; tồn tại sự không công bằng trong tài trợ cho quản lý rừng; tạo thu nhập từ nguồn lực thân thiện cho khu vực vùng đệm được áp dụng; các hoạt động bảo tồn thiên nhiên mang lại lợi ích về thu nhập cho hộ... Nhận xét chung: Thông qua việc đánh giá, phân tích 5 nguồn lực trong đánh giá sinh kế của người dân giữa hai nhóm hộ, kết quả là cả 5 chỉ tiêu nguồn lực: Nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người, nguồn lực xã hội, nguồn lực vật chất và nguồn lực tài chính của nhóm hộ tham gia dự án đều cao hơn so với nhóm hộ không tham gia dự án. Đó là kết quả do tác động của dự án mang lại cho các hộ sự phát triển ổn định về sinh kế. 2.9. Đánh giá rủi ro Với kết quả trên 58,7% số hộ tham gia dự án nhận xét có sự tăng lên về thu nhập và 87% số hộ tham gia dự án nhận xét tăng lên về chất lượng cuộc sống so với 5 năm trước đây đã khẳng định sự thành công của dự án trong việc cải thiện sinh kế và gia tăng đời sống kinh tế, văn hoá cho người dân. Kết hợp với tác dụng của các buổi tập huấn về bảo vệ rừng, chống ô nhiễm môi trường nên rủi ro khi dự án rút đi là rất nhỏ. Hơn thế nữa, khi các hộ có thể chủ động tái đầu tư sau khi khai thác rừng hoặc kết thúc chu kỳ chăn nuôi sẽ là điều kiện cần và đủ để hạn chế rủi ro.
    • xcviii CHƯƠNG III NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN CÁC NGUỒN LỰC 3.1. Quan điểm - Thực tế - Mục tiêu 3.1.1. Quan điểm phát triển Điều khó khăn nhất gặp phải trong việc quản lý và phát triển vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên đó là số dân sinh sống phía ngoài, sát với khu bảo tồn đã tạo sức ép nặng nề lên VQG Tam Đảo. Người dân khai thác gỗ, lấy củi, săn bắt động vật, thu lượm các lâm sản ngoài gỗ như: Cây luồng, cây tre, cây mai, măng, nấm... và do đó ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ. Nguyên nhân chính làm suy giảm tài nguyên rừng là đói nghèo và dân số tăng nhanh. Rừng và tài nguyên rừng như người ta thường nói là "bát cơm manh áo" của người nghèo ở khu vực vùng đệm. Cấm người nghèo không được lấy "bát cơm" trước mắt họ là không thể được, và thậm chí không cho phép về phương diện nhân đạo. Con đường hợp lẽ nhất cho công tác bảo vệ ở đây là tìm cách thay thế "bát cơm" đó bằng "bát cơm" khác cho những người nghèo sống ở khu vực vùng đệm. Do đó, các hoạt động của dự án mong muốn thay đổi sinh kế nhằm giúp người dân vùng đệm dần dần giảm bớt sự phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên rừng phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Phát triển các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nghề tự do… để cải thiện cuộc sống. Nâng cao nhận thức của người dân nhằm mực tiêu bảo vệ rừng. Kinh nghiệm cho thấy trong những trường hợp tương tự, thì công tác bảo vệ theo pháp luật là khó thành công và gặp phải sự kháng cự quyết liệt từ phía người dân địa phương. Đường ranh giới có biển báo, cán bộ kiểm lâm tuần tra canh gác, bắt bớ, tịch thu, giáo dục cũng không thể ngăn cấm người dân địa phương xâm phạm VQG Tam Đảo một cách triệt để và, nếu không có biện pháp thích hợp để ngăn chặn kịp thời thì chẳng bao lâu VQG Tam Đảo sẽ bị
    • xcix xuống cấp nghiêm trọng. Phải có hệ thống tổ chức mới và cách giải quyết mới, nhằm thỏa mãn được nhu cầu trước mắt của nhân dân mà không gây nguy hại đến mục tiêu lâu dài của khu VQG mới có thể cứu thoát sự suy thoái của VQG Tam Đảo. Trải nghiệm thực tiễn cho thấy: Hợp tác với nhân dân địa phương và lắng nghe, chấp nhận những yêu cầu cấp bách của họ là biện pháp bảo vệ có hiệu quả hơn là chỉ có biện pháp hàng rào, ngăn cấm, tuần tra canh gác, thu giữ và xử phạt. Tóm lại, để có thể bảo vệ bền vững VQG Tam Đảo cần phát triển vùng đệm, hướng đến việc sử dụng bền vững, hiệu quả các nguồn lực tại vùng đệm nhất định phải có sự tham gia của các cấp chính quyền, các nhà khoa học và đặc biệt có sự tham gia của người dân địa phương. 3.1.2. Thực tế tại khu vực vùng đệm. Ban quản lý VQG Tam Đảo gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ VQG vì không đủ cán bộ, đa số cán bộ chưa được đào tạo, thiếu kinh nghiệm, kinh phí, thiếu trang thiết bị, cơ sở hạ tầng kém... Việc ngăn chặn xâm phạm tài nguyên thiên nhiên thuộc khu bảo tồn từ người dân vùng đệm và cả dân ngoài vùng đệm không có cơ quan chỉ đạo thống nhất. Tại một địa phương có thể có nhiều cơ quan cùng làm việc đó, như kiểm lâm, nhân viên bảo vệ của khu bảo tồn, công an, chính quyền địa phương, thủy sản, thủy lợi (nếu có hồ chứa)...Các cơ quan này mạnh ai nấy làm, nhiều khi tạo nên mâu thuẫn, khó giải quyết. Các chương trình nhà nước như chương trình 327, 556, 661, chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình tín dụng và các chương trình của các tổ chức ngoài chính phủ thực hiện ở các xã thuộc vùng đệm cũng chưa chú ý nhiều đến vai trò của vùng đệm đối với việc quản lý và bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên.
    • c Khắc phục những hạn chế, thiếu xót trên chính là định hướng của đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra phương pháp hữu hiệu để quản lý vùng đệm một cách bền vững. 3.1.3. Mục tiêu Mục tiêu của dự án nhằm góp phần cải thiện điều kiện sống của các hộ gia đình khu vực vùng đệm thông qua việc tìm kiếm những sinh kế mới, lên kế hoạch sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có của hộ nhằm cải thiện và nâng cao thu nhập cho hộ. Thông qua phân tích đánh giá, tác giả đưa ra một số mục tiêu để phát triển bền vững vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực tỉnh Thái Nguyên như sau: Tập chung nguồn lực để phát triển cây lúa nước: Cây lúa có tỷ trọng % đóng góp lớn nhất trong tổng thu nhập hàng năm của cả hai nhóm hộ có và không tham gia dự án. Dự án giúp các hộ về nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi để đầu tư mua giống lúa mới, đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, làm kênh mương dẫn nước từ suối vào các khu ruộng, tập huấn kỹ thuật khuyến nông... do đó đã giúp các hộ có thể tự cung tự cấp được lương thực cho hộ, một phần dư thừa để bán lấy tiền tái đầu tư cho vụ sau và trang trải các chi phí sinh hoạt cuộc sống hàng ngày của hộ, đầu tư cho con cái đi học... Phát triển cây chè trở thành cây hàng hoá đem lại nguồn thu lớn cho hộ bằng cách cải tạo và dần thay thế hoàn toàn các nương chè già cỗi có năng suất thấp và chất lượng kém. Dự án cung cấp miễn phí cây chè cành chè giống mới, hỗ trợ vốn để hộ đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vât, tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ và thu hoạch sẽ là điều kiện thuận lợi để các hộ nghèo có điều kiện phát triển kinh tế. Phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn để thuận lợi cho việc đi lại và giao thương buôn bán.
    • ci Đầu tư xây nhà văn hoá cho các thôn để nâng cao kỹ năng sản xuất kinh doanh cho các hộ thông qua các hoạt động huấn luyện do dự án phối hợp với cán bộ khuyến nông cơ sở thực hiện. Tập huấn nâng cao ý thức bảo vệ rừng tự nhiên cho người dân vùng đệm, giúp người dân nhận biết được tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống của chính họ và các thế hệ con cháu mai sau. Trợ giúp cây giống: Cây keo, cây gỗ lim... và chi phí, huấn luyện kỹ thuật cơ bản cho các hộ tham gia dự án trồng rừng để tái bao phủ các diện tích đất trống, đồi trọc trên toàn bộ khu vực vùng đệm. 3.2. Các giải pháp cụ thể 3.2.1. Kinh nghiệm rút ra từ các dự án liên quan đến vùng đệm Tuy có những khó khăn nói trên, nhưng ở một số khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia trong những năm qua đã có những dự án riêng lẻ về nâng cao nhận thức môi trường hay dự án phát triển kinh tế, nâng cao cuộc sống cho người dân nhằm giảm nhẹ sức ép của họ lên các khu bảo tồn đã thu được một số kết quả. Các "giải pháp lớn" tầm quốc gia, quốc tế để giải quyết những nguyên nhân từ xa rất quan trọng, nhưng không biết bao giờ mới đạt được, trong lúc đó nhiều dự án và hoạt động nhỏ có thể tạo nên những biến đổi lớn nếu như mọi người tham gia các hoạt động hiểu rõ vai trò của mình. Các dự án nhỏ về bảo vệ thiên nhiên thực hiện tại các địa phương không làm thay đổi được các chính sách ở mức quốc gia hay quốc tế nhưng lại có thể: Làm giảm bớt những ảnh hưởng của các chính sách chưa phù hợp với địa phương; và giải quyết được những vấn đề suy thoái môi trường có nguyên nhân trực tiếp từ các hoạt động của địa phương. Để động viên được các cộng đồng địa phương tại các vùng đệm giải quyết được những khó khăn trước mắt, khi xây dựng dự án ở đây cần phải lưu
    • cii ý khởi đầu bằng những hành động nhỏ, giải quyết những việc gì cấp bách nhất mà người dân đang mong đợi: Đầu tiên nên chọn các hoạt động trực tiếp và nhanh chóng cải thiện được cuộc sống thường ngày của người dân (lương thực, nước, sức khỏe, nhà ở, tăng thu nhập..). Hơn ai hết, người dân hiểu rất rõ họ đang cần cái gì, muốn làm gì phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ. Tạo mọi điều kiện nâng cao nhận thức về thiên nhiên và môi trường. Đây là khâu then chốt để làm cho mọi người hiểu được vấn đề và nguyên nhân gây ra suy thoái môi trường; tạo cho họ lòng tin là họ có thể tự cải thiện được cuộc sống của họ bằng cách sử dụng một cách hợp lý và lâu dài tài nguyên thiên nhiên (rừng, đất, nước mà họ có). Tạo niềm tự hào về những đặc trưng tự nhiên có một không hai của địa phương (như các loài đẹp và quý hiếm, các loài đặc hữu, các hình thái cây cỏ, các cảnh quan đặc trưng của địa phương...). Lập kế hoạch hiện thực, với mục tiêu ngắn hạn "thấy được và vươn tới được". Những kỳ vọng xa xôi, không luận giải được và không hoàn thành được sẽ tạo ra sự thất vọng và những cản trở dẫn đến tình trạng trì trệ và mất lòng tin đối với người dân là điều rất tồi tệ. Tham khảo ý kiến và tôn trọng ý kiến của nhân dân, nhất là những người hưởng lợi, tránh áp đặt một kế hoạch cứng nhắc đưa từ trên xuống, nhất thiết không để dân hiểu nhầm là dự án đến thuê họ làm công việc của họ, mà dự án đến hỗ trợ họ giải quyết những khó khăn mà họ đang phải đối đầu. Tạo được mô hình tốt cho mọi người noi theo, mô hình đó nên chọn người thực hiện phù hợp (nên lấy ý kiến của dân). Xây dựng tổ chức và phân phối công bằng lợi nhuận trong cộng đồng.
    • ciii Lôi kéo sự tham gia và sự ủng hộ của những nhân vật chủ yếu như các nhà lãnh đạo chính trị, tôn giáo, các trưởng bản, các nhân vật cao cấp ở địa phương và sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ. Việc xây dựng quy hoạch phát triển vùng đệm cần tham khảo ý kiến của ban quản lý khu bảo tồn. Muốn vậy khu bảo tồn phải được quản lý tốt và tạo được sự tin cậy của chính quyền và nhân dân địa phương trong việc phát triển vùng đệm. Việc xây dựng vùng đệm và việc bảo vệ khu bảo tồn chỉ thành công khi có sự hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền, nhân dân địa phương và ban quản lý khu bảo tồn. Các dự án thực hiện tại vùng đệm cần phải có sự tham gia trực tiếp của chính quyền và cộng đồng địa phương vì đó chính là công việc của họ, và qua việc thực hiện dự án họ cũng được đào tạo, nâng cao hiểu biết và nhất là nâng cao trình độ quản lý. Có như thế kết quả của dự án mới được vững bền. Các vấn đề vùng đệm thường khó giải quyết một cách trọn vẹn trong thời gian 2-3 năm như thường lệ của các dự án hỗ trợ phát triển, mà nên tìm cách kéo dài dự án 5-10 năm, bằng những hành động thiết thực cho đến khi người dân có sự hiểu biết đúng đắn về khu bảo tồn, về vai trò vùng đệm, về trách nhiệm và quyền lợi của người dân vùng đệm và có cuộc sống tương đối ổn định. 3.2.2. Các giải pháp về phía nhà nước Nhà nước cần có chính sách phát triển vùng đệm rõ ràng. Việc đầu tiên cần làm là phải cắm mốc phân biệt vùng đệm và VQG để mọi người dân đều biết, thuận tiện cho công tác quản lý và bảo vệ. Phát triển cơ sở hạng tầng nông thôn cho khu vực vùng đệm, tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân khu vực vùng đệm phát triển kinh tế hàng hoá, nâng cao thu nhập. Đó là hệ thống đường xá, cầu cống, thông tin liên lạc
    • civ Có cơ chế, chính sách thu hút các nguồn vốn từ các tổ chức nước ngoài, có các chương trình xúc tiến hợp tác với viện nghiên cứu rừng thế giới để khảo sát, duy trì và phát triển rừng tại khu vực vùng đệm. Có thêm biên chế để tuyển dụng và đào tạo thêm cán bộ kiểm lâm có năng lực làm việc tại khu vực vùng đệm, luôn luôn bám sát dân, bám sát rừng. Sau những thành công ban đầu của dự án. Do thời gian hoạt động của dự án là ngắn hạn, nhà nước cần có chính sách để tiếp tục thực hiện các biện pháp hỗ trợ trên cơ sở kế thừa các cách làm, hướng đi của dự án. 3.2.3. Các giải pháp về phía địa phương Cử cán bộ có kiến thức kết hợp để hỗ trợ cho các thành viên dự án thuận lợi trong việc tiếp xúc và làm việc với người dân, đặc biệt là những khu vực vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số... Kết hợp với các ban ngành từ Trung Ương để nhanh chóng triển khai các hoạt động phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất về các thủ tục hành chính để các hoạt động của dự án được triển khai dễ dàng, nhanh chóng, đúng tiến độ thời gian. Có biện pháp quản lý, đánh giá các hoạt động của dự án, kịp thời tham mưu cho các cấp lãnh đạo để có các ý kiến chỉ đạo kịp thời, hướng cho các hoạt động của dự án theo đúng cam kết, lộ trình. 3.2.4. Các giải pháp đối với Ban quản lý dự án: Phối hợp với các cấp quản lý tại địa phương để tìm ra các hộ có đủ các điều kiện tiếp nhận các hỗ trợ từ dự án để phát triển kinh tế một cách hiệu quả. Kiểm tra thường xuyên quá trình triển khai để kịp thời tư vấn, hỗ trợ cho các hộ để các hoạt động trên đạt được mục tiêu đề ra. Tập huấn kỹ lưỡng trước khi triển khai tới các hộ. Nên xây dựng mô hình kiểu mẫu để các hộ tham gia có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn giúp cho họ nhanh chóng nắm bắt được và thực hiện được.
    • cv 3.2.5. Đối với các hộ tham gia dự án. Mạnh dạn phát biểu ý kiến trong các buổi tập huấn để các cán bộ tập huấn kịp thời giải thích các ý kiến thắc mắc, các vấn đề chưa hiểu ...vv Có quyết tâm để phát triển kinh tế, tránh trường hợp chỉ nhiệt tình ban đầu, sau đó không quan tâm đúng mức nên không đem lại hiệu quả. Phản hồi thông tin lại cho Ban quản lý dự án những khó khăn gặp phải trong quá trình thực hiện để có các biện pháp khắc phục kịp thời. Giới thiệu cho các hộ khác học tập làm theo để cùng nhau phát triển kinh tế khu vực. Tuyên truyền, giáo dục cho các thế hệ con cháu về vai trò, tầm quan trọng của rừng đối với môi trường sống, nguồn nước... của chính chúng ta.
    • cvi KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Quan nghiên cứu, đánh giá tác động của dự án GTZ đến sinh kế của người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 7 năm 2009, tác giả rút ra một số kết luận như sau: Dự án GTZ triển khai tại các xã vùng đệm VQG Tam Đảo khu vực Thái Nguyên đã giúp các hộ tham gia dự án có thu nhập bình quân/năm cao hơn so với các hộ không tham gia dự án. Dự án đã góp phần thay đổi sinh kế cho người dân vùng đệm so với trước đây. Họ đã có thể chủ động hơn trong công việc sản xuất chăn nuôi để có thu nhập chứ không còn phụ thuộc vào việc khai thác các tài nguyên sẵn có trong rừng như trước đây. Với các lớp tập huấn, các buổi thảo luận nhóm tại các xóm... dự án đã làm thay đổi nhận thức của người dân và giúp người dân nhận ra tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống hiện tại và các thế hệ mai sau. Cùng với việc đầu tư đường bê tông, đập giữ nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, xây dựng hệ thống kênh mương nhỏ dẫn nước từ rừng về giúp người dân phát triển sản xuất cây lúa nước, trợ giúp vốn vay để phát triển kinh tế vườn rừng, dự án đã góp phần thay đổi sinh kế của người dân vùng đệm theo hướng bền vững song song với mục tiêu bảo vệ rừng, bảo vệ VQG Tam Đảo. Hỗ trợ người dân cải tạo các nương chè già cỗi bằng cách thay thế bởi cây chè cành giống mới sau 3 đến 4 năm sẽ giúp các hộ dân có được nguồn thu từ cây chè cao với chu kỳ khai thác kéo dài trên 20 năm. Mở ra các làng nghề trồng nấm rơm, trồng măng tre, nuôi ong ...để thu hút lao động nông nhàn tại địa phương và đem lại thu nhập cho hộ.
    • cvii 2. Kiến nghị Để ổn định sinh kế, nâng cao đời sống kinh tế cho người dân vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo khu vực Thái Nguyên, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:  Đối với Nhà nước: Cần có các chính sách như chính sách tín dụng, chính sách đầu tư, chính sách hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế để kế thừa và phát huy các hoạt động của dự án GTZ sau khi dự án kết thúc thời gian hoạt động tại địa phương.  Đối với tỉnh: Tỉnh cũng cần có các chính sách cụ thể để cùng với nhà nước có các chính sách về tài chính, đầu tư cho các hộ dân vùng đệm phát triển kinh tế.  Đối với hộ nông dân: Các hộ đang tham gia dự án cần mạnh dạn học hỏi kinh nghiệm, mạnh dạn đầu từ sản xuất nhằm nâng cao đời sống. Các hộ khác chưa tham gia dự án nên làm theo các hoạt động sản xuất, chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao từ nhóm các hộ tham gia dự án. Đối với các khoản thu có từ sự hỗ trợ của dự án, người dân nên chủ động tiết kiệm để tái đầu tư cho giai đoạn tiếp sau đó.  Đối với việc triển khai các hoạt động hỗ trợ từ dự án : Tìm ra các hoạt động không phát huy được hiệu quả để rút kinh nghiệm khi triển khai ở địa bàn khác: Kiến nghị triển khai các dự án hỗ trợ sinh kế: 1. Về cách thức triển khai các hoạt động hỗ trợ Phải lựa chọn những hộ có kinh nghiệm, chịu khó làm ăn, có mong muốn và quyết tâm thoát nghèo. Tập huấn kỹ lưỡng kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi trước khi chuyển giao cây, con giống, phương tiện máy móc...
    • cviii Thường xuyên cử cán bộ đến kiểm tra, trợ giúp khi cần thiết. Nên có lịch đi kiểm tra định kỳ để kịp thời hỗ trợ cho các hộ chăn nuôi. Tập trung vào một số hộ có kiến thức chăn nuôi để thuận lợi cho việc quản lý và trợ giúp. Khi mô hình phát triển thành công sẽ áp dụng và nhân rộng cho các hộ khác học tập và làm theo. Như vậy sẽ tránh được tình trạng khi hộ nghèo được chọn ngay từ đầu để chăn nuôi và nếu không thành công (do các yếu tố chủ quan đem lại) sẽ lại hoàn nghèo đói và không còn tính hấp dẫn đối với các hộ khác. Nghiên cứu các đặc tính sinh lý, môi trường, nguồn nước, thức ăn, tập quán gieo trồng, chăn nuôi của các loại cây giống - con giống mà dự án định hỗ trợ có phù hợp với địa phương hay không. 2. Đổi mới phương pháp hỗ trợ cho ngành chăn nuôi: Thay vì phân phát con giống cho từng hộ dân như trước đây, Ban quản lý dự án nên đầu tư vốn cho một tổ chức hay cá nhân có đủ năng lực đứng ra tổ chức lại ngành chăn nuôi cho khu vực vùng đệm mang tính bền vững lâu dài. Mô hình tác giả đưa ra như sau: - Tổ chức, cá nhân được chọn phải có đầy đủ các yếu tố sau: + Có nhà máy chế biến thức ăn gia súc. + Có trại giống có đủ khả năng để cung cấp giống. + Có năng lực về tài chính. + Có kiến thức, kinh nghiệm tổ chức quản lý Tổ chức, cá nhân khi nhận được sự hỗ trợ về vốn từ dự án sẽ tiến hành các thủ tục cung cấp con giống và thức ăn, chăm sóc thú y cho các hộ dân trên cơ sở ký kết các hợp đồng kinh tế bao tiêu sản phẩm đầu ra với từng hộ theo giá thị trường tại thời điểm thu mua. Hộ chỉ thanh toán lại tiền con giống, thức ăn, thú y sau khi bán được sản phẩm đầu ra. Như vậy sẽ tạo ra được chu kỳ khép kín để đảm bảo lợi ích của người chăn nuôi đó là không bị ép giá.
    • cix 3. Từ việc phân tích cơ cấu thu nhập Đối với cây lúa, tuy có đóng góp khá lớn vào cơ cấu thu nhập của hộ song vì diện tích để thâm canh là có hạn nên cây lúa chỉ giúp bà con đảm bảo lương thực mà thôi. Để có thể phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo thì phân tích cơ cấu thu nhập của nhóm hộ tham gia dự án đã chỉ rõ cho ta thấy bà con nên tập trung thâm canh cây chè. Cây chè có tiềm năng để mở rộng diện tích, chu kỳ khai thác kéo dài. Phát triển thêm các nghề phụ để tăng thu nhập trong lúc nông nhàn. Các nghề phụ như: Thợ xây, hàn xì, sơn nội thất, công nhân may... không đòi hỏi chi phí đầu tư mà lại có thể thu lợi ngay sau khi tham gia. 4. Các giải pháp Marketing Chính quyền tỉnh cần có các giải pháp để tạo ra thị trường đầu ra ổn định để thu hút người dân tham gia vào sản xuất. Cây chè Thái Nguyên vốn đã tự có được thương hiệu rất tốt, tuy nhiên việc khai thác và sử dụng thương hiệu “Chè Thái Nguyên” còn không đúng với ý nghĩa và giá trị kinh tế của nó. Nên tổ chức sản xuất và phân phối tiêu thụ sản phẩm chè thành hiệp hội để thuận lợi trong việc quản lý thương hiệu và chất lượng, hoạch định chính sách phát triển, cạnh tranh để tạo ra hiệu quả kinh tế cao. Phát triển các nhà máy thu gom, chế biến và tiêu thụ chè có quy mô lớn để có thể xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài. Xúc tiến hợp tác thương mại với nước ngoài trong việc chế biến và tiêu thụ các sản phẩm chè sạch của Thái Nguyên.