Your SlideShare is downloading. ×
Dc on tap_triet_hoc_mac_lenin
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

×
Saving this for later? Get the SlideShare app to save on your phone or tablet. Read anywhere, anytime – even offline.
Text the download link to your phone
Standard text messaging rates apply

Dc on tap_triet_hoc_mac_lenin

6,431
views

Published on


1 Comment
2 Likes
Statistics
Notes
No Downloads
Views
Total Views
6,431
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
325
Comments
1
Likes
2
Embeds 0
No embeds

Report content
Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
No notes for slide

Transcript

  • 1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BỘ MÔN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NINPhần mộtI. Quan hệ giữa vật chất và ý thức1. Trình bày vật chất, ý thức 1.1. Vật chất a) Phạm trù vật chất Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2.500 năm.Ngay từ thời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diển ra cuộc đấu tranh không khoannhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Đồng thời, cũng giống những phạmtrù khác, phạm trù vật chất có quá trình phát triển gắn liền với thực tiễn và nhận thức củacon người. Theo Lênin phạm trù vật chất là một phạm trù rộng đến cùng cực, rộng nhất, mà chođến nay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá được. Khi định nghĩa vật chất không thểquy nó về vật thể hoặc một thuộc tính cụ thể nào đó, cũng không thể quy về phạm trù rộnghơn vì đến nay chưa có phạm trù nào rộng hơn phạm trù vật chất. Do vậy, chỉ có thể địnhnghĩa vật chất trong quan hệ với ý thức, phạm trù đối lập với nó và trong quan hệ ấy, vậtchất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai. Bằng phương pháp như vậy Lênin đã đưa ra địnhnghĩa kinh điển về vật chất: “Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại chocon người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồntại không lệ thuộc vào cảm giác”. Theo định nghĩa của V.I.Lênin về vật chất: Thứ nhất, cần phân biệt khái niệm “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học vớikhái niệm “vật chất” được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành (tức khái niệm dùngđể chỉ những dạng vật chất cụ thể, cảm tính; những biểu hiện cụ thể của thế giới vật chất tựnhiên hay xã hội). Vật chất với tư cách là phạm trù triết học là kết quả của sự khái quát hóa,trừu tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nênnó phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi. Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất được khái quáttrong phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng là thuộc tính tồn tại khách quan,tức là thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người,cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó. Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác 1/26
  • 2. ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức củacon người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh. Định nghĩa của V.I.Lênin về vật chất có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển củachủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học. b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tạicủa vật chất; không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất. - Vận động là phương thức tồn tại của vật chất. Ph.Ăngghen định nghĩa: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu làmột phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồmtất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giảncho đến tư duy”. Theo quan điểm của Ph.Ăngghen: vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trítrong không gian mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ”; vận động“là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất” nên thôngqua vận động mà các dạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình; vận động củavật chất là tự thân vận động; và sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vận động. Dựa trên thành tựu khoa học ở thời đại mình, Ph.Ăngghen đã phân chia vận độngthành năm hình thức vận động cơ bản: vận động cơ giới (sự di chuyển vị trí của các vật thểtrong không gian); vận động vật lý (vận động của các phân tử, điện tử, các hạt cơ bản, cácquá trình nhiệt, điện, v.v…); vận động hóa (sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơ trong nhữngquá trình hóa hợp và phân giải); vận động sinh vật (sự biến đổi của các cơ thể sống, biếnthái cấu trúc gen, v.v…); vận động xã hội (sự biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hóa, v.v… của đời sống xã hội). Khi khẳng định vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữucủa vật chất, chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng đã khẳng định vận động là tuyệt đối, làvĩnh viễn. Điều này không có nghĩa chủ nghĩa duy vật biện chứng phủ nhận sự đứng im, cânbằng; song, đứng im, cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im,cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động. Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thế cân bằng, ổnđịnh; vận động chưa làm thay đổi cơ bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật. - Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất: Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính(chiều cao, chiều rộng, chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định(trước hay sau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái, v.v…) với những dạng vật chất khác.Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không gian. Mặt khác, sự tồn tại của sự vật cònđược thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa, v.v… Nhữnghình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian. Là những hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất nên không gian,thời gian có những tính chất chung như những tính chất của vật chất, đó là tính khách quan,tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn. 2/26
  • 3. Ngoài ra, không gian có thuộc tính ba chiều (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) cònthời gian chỉ có một chiều (chiều từ quá khứ đến tương lai). Tính ba chiều của không gianvà tính một chiều của thời gian biểu hiện hình thức tồn tại về quảng tính và quá trình diễnbiến của vật chất vận động. c) Tính thống nhất vật chất của thế giới Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thế giớithống nhất ở tính vật chất. Theo quan điểm đó: Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất; thế giới vật chất là cái cótrước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người. Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra vàkhông bị mất đi. Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ khách quan, thống nhất vớinhau, biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vậtchất, có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luậtkhách quan phổ biến của thế giới vật chất. Trong thế giới vật chất không có gì khác ngoàinhững quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhânvà kết quả của nhau. Bản chất vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới là kết luận được rút ra từviệc khái quát những thành tựu của khoa học, được khoa học và cuộc sống hiện thực củacon người kiểm nghiệm. Nó không chỉ định hướng cho con người giải thích về tính đa dạngcủa thế giới mà còn định hướng cho con người tiếp tục nhận thức về tính đa dạng ấy để thựchiện quá trình cải tạo hợp quy luật. 1.2. Ý thức Giải quyết những vấn đề về nguồn gốc, bản chất, vai trò của ý thức là một trongnhững bước đi ban đầu để giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Trên cơ sở khái quát thành tựu của khoa học, của thực tiễn xã hội, chủ nghĩa duy vậtbiện chứng khẳng định nguồn gốc vật chất, bản chất phản ánh vật chất của ý thức để rút ravai trò của ý thức trong mối quan hệ với vật chất. a) Nguồn gốc của ý thức Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. - Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: Nguồn gốc tự nhiên của ý thức thể hiện qua sựhình thành của bộ óc con người và hoạt động của bộ óc đó cùng mối quan hệ giữa con ngườivới thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người, từ đótạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giới khách quan. Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan được phản ánh thông qua hoạt động củacác giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên ý thức. Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất kháctrong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng. Phản ánh là thuộc tính của tất cả cácdạng vật chất song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh vật lý, hóa học;phản ánh sinh học, phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo (phản ánh ý thức). 3/26
  • 4. Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa của vật chất. Phản ánh năng động, sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thứcphản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có tổ chức cao nhất làbộ óc người. Phản ánh năng động, sáng tạo được thực hiện qua quá trình hoạt động sinh lýthần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan tác động lên các giác quan của conngười. Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ranhững thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin. Sự phản ánh năng động, sáng tạo nàyđược gọi là ý thức. - Nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động và ngôn ngữ. Hai yếu tố này vừa lànguồn gốc vừa là tiền đề của sự ra đời ý thức. Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằmthay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó bản thâncon người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên.Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giới kháchquan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiệnthành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được. Những hiện tượng ấy,thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc người, thông qua hoạt động củabộ não con người, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nóichung. Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thôngqua quá trình lao động. Ngôn ngữ là hệ thông tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức.Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện. Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động. Lao động ngay từ đầu đã mang tính tậpthể. Mối quan hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phươngtiện để giao tiếp, trao đổi tư tưởng. Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngaytrong quá trình lao động. Nhờ ngôn ngữ con người đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà cònkhái quát, tổng kết, đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệnày qua thế hệ khác. Như vậy, nguồn gốc cơ bản, trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và pháttriển của ý thức là lao động. Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là haisức kích thích chủ yếu đã làm cho bộ óc của con vượn dần dần biến chuyển thành bộ óc củacon người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức. b) Bản chất và kết cấu của ý thức - Bản chất của ý thức. Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người;là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. +Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khả nănghoạt động tâm – sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọcthông tin, xử lý thông tin, lưu giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có nó có thể tạora những thông tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận. Tính chất năngđộng, sáng tạo của sự phản ánh ý thức còn được thể hiện ở quá trình con người tạo ra những 4/26
  • 5. ý tưởng, giả thuyết, huyền thoại, v.v… trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái quát bảnchất, quy luật khách quan, xây dựng các mô hình tư tưởng, tri thức trong các hoạt động củacon người. +Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nghĩa là: ý thức là hình ảnh vềthế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung, cả về hìnhthức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà nó đã cải biếnthông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, kinh nghiệm, tri thức, nhucầu, v.v…) của con người. Theo C.Mác, ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyểnvào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”. +Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại của ýthức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật sinh họcmà chủ yếu là của các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạthiện thực của đời sống xã hội quy định. Với tính năng động, ý thức đã sáng tạo lại hiện thựctheo nhu cầu của thực tiễn xã hội. - Kết cấu của ý thức. Ý thức có kết cấu cực kỳ phức tạp. Có nhiều ngành khoa học, nhiều cách tiếp cậnnghiên cứu về kết cấu của ý thức. Ở đây chỉ tiếp cận kết cấu của ý thức theo các yếu tố cơbản nhất hợp thành nó. Theo cách tiếp cận này, ý thức bao gồm ba yếu tố cơ bản nhất là: trithức, tình cảm và ý chí, trong đó tri thức là nhân tố quan trọng nhất. Ngoài ra ý thức còn cóthể bao gồm các yếu tố khác.2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Theo quan điểm duy vật biện chứng: vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệbiện chứng với nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn; trong mối quan hệ đóvật chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức. a) Vai trò của vật chất đối với ý thức Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau;vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức; ý thức là sự phản ánhđối với vật chất. Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nênchỉ khi có con người mới có ý thức. Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồngốc xã hội của ý thức (bộ óc người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây rahiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ) đều, hoặc là chính bản thân thế giới vậtchất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiệntượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ) nên vật chất là nguồn gốc của ý thức. Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh về thế giới vật chất nên nộidung của ý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát triển của ý thức,hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tácđộng của môi trường sống quyết định. Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nênvật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiệncũng như mọi sự biến đổi của ý thức. b) Vai trò của ý thức đối với vật chất 5/26
  • 6. Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông quahoạt động thực tiễn của con người. Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò củacon người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực. Muốnthay đổi hiện thực con người phải tiến hành những hoạt động vật chất. Song, mọi hoạt độngcủa con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra haythay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trêncơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọnphương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v… để thực hiện mục tiêu của mình. Ởđây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễncủa con người. Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặctiêu cực. c. Ý nghĩa phương pháp luận Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động, sáng tạocủa ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật biện chứngxây dựng nên một nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với mọi hoạt độngnhận thức và thực tiễn của con người. Nguyên tắc đó là: trong mọi hoạt động nhận thức vàthực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan đồng thời pháthuy tính năng động chủ quan. Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là xuất phát từ tính kháchquan của vật chất, có thái độ tôn trọng đối với hiện thực khách quan mà căn bản là tôn trọngquy luật, nhận thức và hành động theo quy luật; tôn trọng vai trò quyết định của đời sốngvật chất đối với đời sống tinh thần của con người, của xã hội. Điều đó đòi hỏi trong nhậnthức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan để xác định mục đích, đềra đường lối, chủ trương, chính sách kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan làmcơ sở, phương tiện; phải tìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lựclượng vật chất để hành động. Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năng động, sáng tạocủa ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hóa tính tích cực năngđộng, sáng tạo ấy. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng tri thức khoa học; tích cực họctập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học và truyền bá nó vào quần chúng để nó trởthành tri thức, niềm tin của quần chúng, hướng dẫn quần chúng hành động. Mặt khác phảitự giác tu dưỡng, rèn luyện để hình thành, củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm,nghị lực cách mạng để có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trongđịnh hướng hành động. Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trongnhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí; đólà những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ýmuốn chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lươc, sách lược,v.v… Đây cũng phải là quá trình chống chủ nghĩa kinh nghiệm, xem thường tri thức khoahọc, xem thường lý luận, bảo thủ, trì trệ, thụ động, v.v… trong hoạt động nhận thức và thựctiễn. 6/26
  • 7. II. Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Đặt vấn đề: Các sự vật, hiện tượng của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnhhưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau?Nếu chúng có mối liên hệ qua lạithì cái gì qui định mối liên hệ đó? -Trình bày quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứng, chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩaduy vật biện chứng về vấn đề này. a) Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến -Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động vàchuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sựvật, hiện tượng trong thế giới. - Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của cácsự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiềusự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liênhệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phépbiện chứng. Đó là các mối liên hệ giữa: các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủđịnh, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng, v.v. b) Tính chất của các mối liên hệ Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bảncủa các mối liên hệ. - Tính khách quan của các mối liên hệ Sự qui định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật,hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụthuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệđó trong hoạt động thực tiễn của mình. Cơ sở lý luận của tính khách quan, tính phổ biến củamối liên hệ phổ biến chính là ở tính thống nhất vật chất của thế giới. - Tính phổ biến của các mối liên hệ. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượnghay quá trình khác. Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải làmột cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trongcủa nó. - Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ. Các sự vật, hiện tượng khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau,giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùngmột mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khácnhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vậtthì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau. c) Ý nghĩa phương pháp luận - Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận 7/26
  • 8. thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện. Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cầnphải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố,giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vậtkhác. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật và xử lý có hiệu quả các vấn đềcủa đời sống thực tiễn. Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêuhình trong nhận thức và thực tiễn. - Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt độngnhận thức và thực tiễn khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kếthợp với quan điểm lịch sử - cụ thể. Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong công việc nhận thức và xử lý các tình huốngtrong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thứcvà tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn. Phải xác định rõ vị trí, vai trò khácnhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giảipháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn. Như vậy, trong nhậnthức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu hìnhmà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện. - Liên hệ việc vận dụng các quan điểm trên trong cuộc sống lao động , học tập củabản thân.2. Nguyên lý về sự phát triển. a) Khái niệm phát triển So sánh quan điểm biện chứng và quan điểm siêu hình về sự phát triển. Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng, giảmthuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật; đồng thời, nó cũng xem sự pháttriển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp. Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng đểchỉ quá trình vận động của sự vật theo khuynh hướng đi lên từ trình độ thấp đến trình độcao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Như vậy, khái niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm “vận động” (biến đổi)nói chung; đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sựbiến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng ngày cànghoàn thiện của sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn. Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có củasự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng caonhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật. b) Tính chất của sự phát triển Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phongphú. - Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động vàphát triển. Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình giải quyết 8/26
  • 9. mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó. Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan,không phụ thuộc vào ý thức của con người. - Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trongmọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và trong mọi quátrình, mọi giai đoạn của sự vật, hiện tượng đó. Trong mỗi quá trình biến đổi đã bao hàm khảnăng dẫn đến sự ra đời của cái mới, phù hợp với quy luật khách quan. - Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynhhướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi lĩnh vựchiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau. c) Ý nghĩa phương pháp luận Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thếgiới và cải tạo thế giới. Theo nguyên lý này, trong mọi nhận thức và thực tiễn cần phải cóquan điểm động, quan điểm phát triển. Theo V.I.Lênin: “Lôgích biện chứng đòi hỏi phải xétsự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động”…, trong sự biến đổi của nó”. Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lậpvới sự phát triển. Theo quan điểm phát triển, để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn,một mặt cần phải đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên của nó; mặt khác conđường của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầymâu thuẫn, vì vậy đòi hỏi chúng ta phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật,hiện tượng trong quá trình phát triển của nó, tức là cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thểtrong nhận thức và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú,đa dạng, phức tạp của nóIII. Những qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật1.Qui luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất vàngược lại. - Vị trí của qui luật: Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành nhữngsự thay đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của cácquá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. a) Khái niệm chất, lượng - Trong phép biện chứng, khái niệm chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn cócủa sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó vớicái khác. Như vậy, tạo thành chất của sự vật chính là các thuộc tính khách quan vốn có của sựvật nhưng khái niệm chất không đồng nhất với khái niệm thuộc tính. Mỗi sự vật, hiện tượngđều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợpthành chất của sự vật, hiện tượng. Khi những thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của nó thayđổi. Việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản của sự vật phải tùy theo quan hệ cụthể của sự phân tích; cùng một thuộc tính, trong quan hệ này là cơ bản thì trong quan hệkhác có thể là không cơ bản. Mặt khác, chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất của các yếu 9/26
  • 10. tố cấu thành mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng, thông qua các mốiliên hệ cụ thể. Vì vậy, việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất và thuộc tínhcũng chỉ có ý nghĩa tương đối. Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà có nhiềuchất, tùy thuộc vào các mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác. Chất không tồn tạithuần túy tách rời sự vật, biểu hiện tính ổn định tương đối của nó. - Khái niệm lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về cácphương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của cácquá trình vận động, phát triển của sự vật. Với khái niệm này cho thấy: một sự vật có thể tồntại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau phù hợp vớitừng loại lượng cụ thể của sự vật. Như vậy, chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượnghay một quá trình nào đó trong tự nhiên, xã hội hay tư duy. Hai phương diện đó đều tồn tạikhách quan. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa chất và lượng trong quá trình nhận thức về sự vậtchỉ có ý nghĩa tương đối: có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mốiquan hệ khác lại là lượng. b) Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng.Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. + Qui luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất: - Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng.Tuy nhiên, không phải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất. Ởmột giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về chất. Giới hạn màsự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ. - Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảnggiới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiệntượng. Vì vậy, trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó, chưa chuyển hóathành sự vật và hiện tượng khác. - Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về lượng.Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì sẽ tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chất.Giới hạn đó chính là điểm nút. Điểm nút là khái niệm triết học dùng để chỉ thời điểm mà tạiđó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật. Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽdẫn đến sự ra đời của chất mới. Đây chính là bước nhảy trong quá trình vận động, phát triểncủa sự vật. Như vậy, bước nhảy là khái niệm triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất củasự vật do sự thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên. Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển; đồng thời đó cũng là điểmkhởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển liên tụccủa sự vật. Trong thế giới, luôn luôn diễn ra quá trình biến đổi tuần tự về lượng dẫn đếnbước nhảy về chất, tạo ra một đường nút vô tận, thể hiện cách thức vận động và phát triểncủa sự vật từ thấp đến cao. Ph.Ăngghen khái quát tính tất yếu này: “Những thay đổi đơnthuần về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau vềchất”. 10/26
  • 11. + Các hình thức cơ bản của bước nhảy. Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng.Sự thay đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau, được quyết định bởimâu thuẫn, tính chất và điều kiện của mỗi sự vật. Đó là các bước nhảy: Bước nhảy đột biến,bước nhảy dần dần, bước nhảy toàn bộ, bước nhảy cục bộ. + Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của sự vật. Chất mới tác độngtới lượng của sự vật trên nhiều phương diện như: làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ,nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật. Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặtchất và lượng. Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi vềchất thông qua bước nhảy. Đồng thời, chất mới ra đời sẽ tác động trở lại lượng của sự vật,tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thànhphương thức cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượngtrong tự nhiên, xã hội và tư duy. c) Ý nghĩa phương pháp luận - Vì bất kỳ sự vật nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong tính quy địnhlẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, do đó trong nhận thức và thực tiễn cần phảicoi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương diện chất và lượng của sự vật, tạo nên sự nhận thứctoàn diện về sự vật. - Vì sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những biến đổi về chất của sự vật với điềukiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút, cho nên trong công tác thực tiễn cầnphải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh; mặt khác, theo tính tất yếu của quy luật thì khilượng đã được tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu có khả năng diễn ra bước nhảy vềchất của sự vật, do đó cũng cần phải khắc phục tư tưởng bảo thủ hữu khuynh trong công tácthực tiễn. Tả khuynh chính là hành động bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không tíchlũy về lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất. Hữu khuynh làsự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy mặc dù lượng đã tíchlũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự tiến hóa về lượng.2.Qui luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập - Vị trí của qui luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (còn gọi là qui luật mâu thuẫn) làqui luật quan trọng nhất của phép biện chứng, là “hạt nhân” của phép biện chứng duy vật. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật về nguồn gốc bêntrong, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển. a) Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn - Khái niệm mâu thuẫn Trong phép biện chứng, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất vàđấu tranh, chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, 11/26
  • 12. hiện tượng với nhau. Đây là quan niệm biện chứng về mâu thuẫn, khác căn bản với quanniệm siêu hình về mâu thuẫn. Theo quan niệm siêu hình, mâu thuẫn là cái đối lập phảnlôgich, không có sự thống nhất, không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập. Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập. - Khái niệm mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynhhướng vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau.Thí dụ, điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử, đồng hóa và dị hóa của một cơthể sống, sản xuất và tiêu dùng trong hoạt động kinh tế của xã hội, chân lý và sai lầm trongquá trình phát triển của nhận thức, v.v… - Các tính chất chung của mâu thuẫn Mâu thuẫn có tính khách quan và tính phổ biến. Mâu thuẫn không những có tính khách quan, tính phổ biến mà còn có tính đa dạng,phong phú. Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh vớinhau. - Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại. Sự thống nhất của các mặt đối lập cũng bao hàm sự đồng nhất của nó. Trong một mâu thuẫn, sự thống nhất của các mặt đối lập không tách rời sự đấu tranhgiữa chúng. - Khái niệm đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập. b) Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khác nhau củacác mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự đấu tranh giữa chúng là tuyệtđối, còn sự thống nhất giữa chúng là tương đối, có điều kiện, tạm thời; trong sự thống nhấtđã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất của chúng. Sự tác động qua lại dẫn đến chuyển hóa giữa các mặt đối lập là một quá trình. Quátrình ấy có thể chia ra từng giai đoạn. Mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng của nó.Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt và phát triển thành hai mặt đối lập.Chỉ có những mặt khác nhau nào liên hệ hữu cơ với nhau trong một chỉnh thể và có khuynhhướng phát triển trái ngược nhau thì mới hình thành bước đầu của mâu thuẫn. Khi hai mặtđối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và khi điều kiện đã chín muồi thì chúng sẽchuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới đượchình thành, và quá trình tác động, chuyển hóa giữa hai mặt đối lập lại tiếp diễn, làm cho sựvật, hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển. Bởi vậy, sự liên hệ, tác động và chuyểnhóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển trong thếgiới. V.I.Lênin khẳng định rằng: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đốilập”. 12/26
  • 13. c) Phân loại mâu thuẫn - Mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn bên ngoài. - Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản. - Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu. - Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng. d) Ý nghĩa phương pháp luận - Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vậnđộng, phát triển, do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, pháthiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynhhướng của sự vận động và phát triển. V.I.Lênin đã cho rằng: “Sự phân đôi của cái thống nhấtvà sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó… đó là thực chất… của phép biện chứng”. - Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do vậy trong việc nhận thức và giải quyếtmâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử, cụ thể, tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâuthuẫn và phương pháp giải quyết phù hợp. Trong quá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn,cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiệnnhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loạimâu thuẫn một cách đúng đắn nhất. - Phương pháp giải quyết mâu thuẫn.IV. Những phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật1. Phạm trù cái riêng, cái chung, cái đơn nhất. a) Phạm trù cái riêng, cái chung Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất định. Phạm trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, nhữngquan hệ… tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng. Trong mỗi sự vật, ngoài cái chung còn tồn tại cái đơn nhất, đó là những đặc tính,những tính chất,… chỉ tồn tại ở một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sựvật, hiện tượng khác. b) Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung - Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan. Trong đó, cái chung chỉtồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình; cái chungkhông tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng, mà nó phải tồn tại trong từng cái riêng cụ thể, xácđịnh. - Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, hướng đến cái chung; không cócái riêng tồn tại độc lập tuyệt đối tách rời cái chung, mà tất yếu nó phải tồn tại trong mốiliên hệ với cái chung. - Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; còn cái chung là cái bộphận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng. Bởi vì, cái riêng là tổng hợp của cái chung vàcái đơn nhất; còn cái chung biểu hiện tính phổ biến, tính quy luật của nhiều cái riêng. 13/26
  • 14. - Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện xácđịnh. c) Ý nghĩa phương pháp luận - Cần phải nhận thức cái chung để vận dụng vào cái riêng trong các hoạt động của conngười. Không nhận thức được cái chung thì trong thực tiễn khi giải quyết mỗi cái riêng,mỗi trường hợp cụ thể sẽ vấp phải những sai lầm, mất phương hướng. Muốn nắm được cáichung thì cần phải xuất phát từ những cái riêng bởi cái chung không tồn tại trừu tượngngoài những cái riêng. - Mặt khác, cần phải cụ thể hóa cái chung trong mỗi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể; khắcphục bệnh giáo điều, siêu hình, máy móc hoặc cục bộ, địa phương trong vận dụng mỗi cáichung để giải quyết mỗi trường hợp cụ thể. - Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, cũng cần phải biết vận dụng các điều kiệnthích hợp cho sự chuyển hóa giữa cái đơn nhất và cái chung theo những mục đích nhất định,bởi vì giữa cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện xácđịnh.2. Nguyên nhân và kết quả a) Phạm trù nguyên nhân, kết quả Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật,hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau thì gây nên sự biến đổi nhất định. Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa các mặt,các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng. b) Các tính chất của quan hệ nhân – quả - Tính khách quan. - Tính phổ biến. - Tính tất yếu. c) Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả - Nguyên nhân sinh ra kết quả, cho nên nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả,còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân. Tuy nhiên, chỉ có mối quan hệ tất yếuvề mặt thời gian mới là quan hệ nhân quả. Tính phức tạp của mối quan hệ nhân quả. Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặcnhiều kết quả, và một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân tạo nên. Nếu cácnguyên nhân tác động cùng chiều thì xu hướng hình thành kết quả nhanh hơn, còn nếu tácđộng ngược chiều thì sẽ hạn chế hoặc triệt tiêu sự hình thành kết quả. Phân loại nguyên nhân: do tính chất và vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thànhkết quả, nên có nhiều loại nguyên nhân. - Vị trí mối quan hệ nhân quả có tính tương đối. Cho nên, trong mối quan hệ này thì nóđóng vai trò là nguyên nhân, trong mối quan hệ khác lại là kết quả. Trong sự vận động củathế giới vật chất, không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng. 14/26
  • 15. - Kết quả ảnh hưởng ngược trở lại nguyên nhân sinh ra nó. d) Ý nghĩa phương pháp luận - Vì mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nên cần phải tìm nguyên nhân của các sựvật, hiện tượng dẫn đến kết quả trong thế giới hiện thực khách quan chứ không phải ở ngoàithế giới đó. - Vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loạinguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thểtrong nhận thức và thực tiễn. - Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả có thể donhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải có cách nhìn toàn diện và lịchsử cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệ nhân - quả. Vận dụng bài học tổnghợp các nguyên nhân ?Phần 2.I. Hình thái kinh tế - xã hội1. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất a) Khái niệm phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất - Bất cứ một quá trình sản xuất vật chất nào cũng được tiến hành với mục đích nhấtđịnh và được tiến hành theo những cách thức xác định. Cách thức tiến hành đó chính làphương thức sản xuất. Vậy, khái niệm phương thức sản xuất dùng để chỉ những cách thứcmà con người sử dụng để tiến hành quá trình sản xuất của xã hội ở những giai đoạn lịch sửnhất định. - Bất kỳ một quá trình sản xuất vật chất nào cũng cần phải có các nhân tố thuộc vềngười lao động (như năng lực, kỹ năng, tri thức,… của người lao động) cùng các tư liệu sảnxuất nhất định (như đối tượng lao động, công cụ lao động, các tư liệu phụ trợ của quá trìnhsản xuất,…). Toàn bộ các nhân tố đó tạo thành lực lượng sản xuất của các quá trình sảnxuất. Như vậy, lực lượng sản xuất chính là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quátrình sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sức sản xuất làmcải biến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tức tạo ra năng lực thực tiễn làm biến đổicác đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội.Cũng do đó, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục giới tựnhiên của con người. Trong các nhân tố tạo thành lực lượng sản xuất, “ người lao động” là nhân tố giữ vaitrò quyết định. Mặc khác, trong tư liệu sản xuất thì nhân tố công cụ lao động là nhân tố phảnánh rõ nhất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và thể hiện tiêu biểu trình độ conngười chinh phục giới tự nhiên. Ngày nay, với sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng, trực tiếp các thành tựu củakhoa học, kỹ thuật, công nghệ cao vào quá trình sản xuất đã khiến cho các tri thức khoa họckỹ thuật ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; tri thức khoa học, kỹ thuật, côngnghệ có được nhờ những quá trình nghiên cứu khoa học đã ngày càng trở thành những nhântố quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy lực lượngsản xuất phát triển và từ đó dẫn đến sự hình thành những nhân tố cơ bản nhất của xu hướng 15/26
  • 16. phát triển kinh tế tri thức. Lực lượng sản xuất chính là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất củaquá trình sản xuất; không một quá trình sản xuất hiện thực nào có thể diễn ra nếu thiếu mộttrong hai nhân tố là người lao động và tư liệu sản xuất. Thế nhưng, chỉ có lực lượng sản xuấtvẫn chưa thể diễn ra quá trình sản xuất hiện thực được mà còn cần phải có những quan hệsản xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế xã hội của quá trình sản xuất ấy. - Quan hệ sản xuất là mối quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sảnxuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tưliệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức – quản lý quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phốikết quả của quá trình sản xuất đó. Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệthống nhất và chi phối, tác động lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở hữu về tưliệu sản xuất. b) Qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất. - Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thốngnhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sảnxuất tác động trở lại lực lượng sản xuất. + Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sảnxuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệsản xuất là hình thức kinh tế xã hội của quá trình đó. Lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau, tạo thành qui luật về sự phùhợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là yêu cầu tấtyếu, phổ biến diễn ra trong mọi quá trình sản xuất hiện thực của xã hội. + Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển. Sự pháttriển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất. Sựphát triển của lực lượng sản xuất được đánh dấu bằng trình độ của lực lượng sản xuất. + Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệsản xuất cho phù hợp với nó. Hay nói cách khác, mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sảnxuất và quan hệ sản xuất tuân theo nguyên tắc khách quan: quan hệ sản xuất phải phụ thuộcvào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định. Bởivì, quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất, còn lực lượngsản xuất là nội dung vật chất, kỹ thuật của quá trình đó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất. Ở trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địabàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển. Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụngvà kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lực lượng sảnxuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó. Tính ổn định, phù hợp của quan hệ sản xuấtđối với lực lượng sản xuất càng cao thì lực lượng sản xuất càng có khả năng phát triển,nhưng chính sự phát triển của lực lượng sản xuất lại luôn luôn tạo khả năng phá vỡ sự thốngnhất của nó với quan hệ sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sảnxuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khiđó, quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản 16/26
  • 17. xuất phát triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đếnthay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mớicủa lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. + Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng cótính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất. Quan hệ sảnxuất qui định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sảnxuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và côngnghệ, v.v. Quan hệ sản xuất hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sảnxuất. Việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không phảigiản đơn. Chính nhờ các cuộc cách mạng xã hội mà những quan hệ sản xuất cũ của xã hộiđược thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượngsản xuất hiện thực, tiếp tục phát huy tác dụng tích cực thúc đẩy sự phát triển của lực lượngsản xuất trong một hình thức quan hệ sản xuất mới. Như vậy, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệmâu thuẫn biện chứng giữa nội dung vật chất, kỹ thuật với hình thức kinh tế - xã hội của quátrình sản xuất. Sự vận động của mâu thuẫn này là một quá trình đi từ sự thống nhất đếnnhững khác biệt và đối lập, xung đột, từ đó làm xuất hiện nhu cầu khách quan phải đượcgiải quyết theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với sự phát triển của lực lượngsản xuất. - Trong phạm vi phân tích sự phát triển xã hội, mâu thuẫn và sự vận động của mâuthuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chính là nội dung cơ bản của “quy luậtquan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất”. Sự tác động củaquy luật này tạo ra nguồn gốc và động lực cơ bản nhất đối với sự vận động, phát triển củanền sản xuất vật chất và do đó là sự vận động, phát triển của toàn bộ đời sống xã hội; sự vậnđộng, phát triển của lịch sử nhân loại từ phương thức sản xuất thấp lên phương thức sảnxuất cao hơn; nó cũng là cơ sở để giải thích một cách khoa học về nguồn gốc sâu xa củatoàn bộ các hiện tượng xã hội và các sự biến trong đời sống chính trị, văn hóa của các cộngđồng người trong lịch sử.2. Biện chứng của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng a) Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng - Khái niệm cơ sở hạ tầng Khái niệm cơ sở hạ tầng dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơcấu kinh tế của xã hội. Cơ sở hạ tầng của một xã hội, trong toàn bộ sự vận động của nó, được tạo nên bởi cácquan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mới tồn tại dướihình thái mầm mống, đại biểu cho sự phát triển của xã hội tương lai, trong đó quan hệ sảnxuất thống trị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, định hướng sự pháttriển của đời sống kinh tế - xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tế của một xãhội nhất định. - Khái niệm kiến trúc thượng tầng Khái niệm kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấu các hình tháiý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng, được hình thành trên một 17/26
  • 18. cơ sở hạ tầng kinh tế nhất định. Trong xã hội có giai cấp, đặc biệt là trong các xã hội hiện đại, hình thái ý thức chínhtrị và pháp quyền cùng hệ thống thiết chế, tổ chức chính đảng và nhà nước là hai thiết chế,tổ chức quan trọng nhất trong hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội. Nhà nước là một bộ máy tổ chức quyền lực và thực thi quyền lực đặc biệt của xã hộitrong điều kiện xã hội có đối kháng giai cấp. Về danh nghĩa, nhà nước là hệ thống tổ chứcđại biểu cho quyền lực chung của xã hội để quản lý, điều khiển mọi hoạt động của xã hội vàcông dân, thực hiện chức năng chính trị và chức năng xã hội cùng chức năng đối nội và đốingoại của quốc gia. Về thực chất, bất cứ nhà nước nào cũng là công cụ quyền lực thực hiệnchuyên chính giai cấp của giai cấp thống trị, tức giai cấp nắm giữ được những tư liệu sảnxuất chủ yếu của xã hội, nó chính là chủ thể thực sự của quyền lực nhà nước. b) Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản của đời sống xã hội– đó là phương diện kinh tế và phương diện chính trị - xã hội. Chúng tồn tại trong mối quanhệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai tròquyết định đối với kiến trúc thượng tầng và đồng thời kiến trúc thượng tầng thường xuyêncó sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội. - Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng + Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng được thể hiện trên nhiều phương diện: tương ứng với một cơ sở hạ tầng sẽ sản sinh ra một kiến trúc thượng tầng phù hợp, có tác dụng bảo vệ cơ sở hạ tầng đó. + Những biến đổi trong cơ sở hạ tầng tạo ra nhu cầu khách quan phải có sự biến đổi tương ứng trong kiến trúc thượng tầng. Tính chất mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng được phản ánh thành mâu thuẫn trong hệthống kiến trúc thượng tầng. Sự đấu tranh trong lĩnh vực ý thức hệ xã hội và những xung độtlợi ích chính trị - xã hội có nguyên nhân sâu xa từ mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giành lợi íchtrong cơ sở kinh tế của xã hội. Giai cấp nắm giữ quyền sở hữu tư liệu sản xuất của xã hộiđồng thời cũng là giai cấp nắm được quyền lực nhà nước trong kiến trúc thượng tầng, còncác giai cấp và tầng lớp xã hội khác ở vào địa vị phụ thuộc đối với quyền lực nhà nước. Cácchính sách và pháp luật của nhà nước, suy đến cùng chỉ là phản ánh nhu cầu thống trị vềkinh tế của giai cấp nắm giữ quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, .v.v…Như vậy, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, còn kiến trúc thượng tầng là sựphản ánh đối vối cơ sở hạ tầng, phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng. - Tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng Với tư cách là các hình thức phản ánh và được xác lập do nhu cầu phát triển của kinhtế, các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng có vị trí độc lập tương đối của nó và thườngxuyên có vai trò tác động trở lại cơ sở hạ tầng của xã hội. Sư tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng có thể thông qua nhiềuphương thức. Điều này tùy thuộc vào bản chất của mỗi nhân tố trong kiến trúc thượng tầng,phụ thuộc vào vị trí, vai trò của nó và những điều kiện cụ thể. Tuy nhiên, trong điều kiệnkiến trúc thượng tầng có yếu tố nhà nước thì phương thức tác động của các yếu tố khác tớicơ sở kinh tế của xã hội thường phải thông qua nhân tố nhà nước và pháp luật mới có thể 18/26
  • 19. thực sự phát huy mạnh mẽ vai trò thực tế của nó. Nhà nước là nhân tố có tác động trực tiếpnhất và mạnh mẽ nhất tới cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội. Sự tác động của các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng có thể diễn ra theo nhiều xuhướng, thậm chí các xu hướng không chỉ khác nhau mà còn có thể đối lập nhau, điều đóphản ánh tính chất mâu thuẫn lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau và đốilập nhau: có sự tác động nhằm duy trì cơ sở kinh tế hiện tại, tức xu hướng duy trì chế độ xãhội hiện thời, lại có sự tác động theo xu hướng xóa bỏ cơ sở kinh tế này và có xu hướng đấutranh cho việc xác lập một cơ sở kinh tế khác, xây dựng một chế độ xã hội khác,… Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng có thể diễn ra theo xuhướng tích cực hoặc tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào sự phù hợp hay không phù hợp của cácyếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng đối với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế. Tuynhiên, sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng dù diễn ra với những xuhướng khác nhau, mức độ khác nhau nhưng rốt cuộc nó không thể giữ vai trò quyết định đốivới cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội; cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội vẫn tự mở đường đicho nó theo tính tất yếu kinh tế của nó.II. Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển của xã hội có giai cấp1. Khái niệm đấu tranh giai cấp Trong xã hội có giai cấp tất yếu nảy sinh đấu tranh giai cấp. Theo V.I.Lênin, kháiniệm đấu tranh giai cấp dùng để chỉ “cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bịáp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấutranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người hữusản hay giai cấp tư sản”. Theo khái niệm này, thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh của nhữngngười lao động làm thuê, những người nô lệ, bị áp bức về chính trị - xã hội và bị bóc lột vềkinh tế chống lại sự áp bức và bóc lột nó. Thực chất của đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranhnhằm giải quyết vấn đề mâu thuẫn lợi ích kinh tế và chính trị xã hội giữa giai cấp thống trịvà bị thống trị ở những phạm vi và mức độ khác nhau. Đấu tranh giai cấp có nguyên nhân khách quan sâu xa từ sự phát triển mang tính xãhội hóa ngày càng cao của lực lương sản xuất với quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất. Biểu hiện của mâu thuẫn này về phương diện xã hội : mâu thuẫn giữa một bên là giaicấp cách mạng, tiến bộ, đại diện cho phương thức sản xuất mới, với một bên là giai cấpthống trị, bóc lột, đại biểu cho những lợi ích gắn với những quan hệ sản xuất lỗi thời, lạchậu.2. Đấu tranh giai cấp giữ vai trò là một trong những phương thức, động lực của sự tiếnbộ, phát triển xã hội trong điều kiện xã hội có sự phân hóa thành đối kháng giai cấp. Lịch sử nhân loại từ khi có sự phân hóa giai cấp đến nay, về thực chất chỉ là lịch sửcủa những cuộc đấu tranh giai cấp được biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng với nhữngmức độ khác nhau và mang sắc thái khác nhau. Kết quả cuối cùng của những cuộc đấu tranhđó đều dẫn tới sự ra đời của phương thức sản xuất mới thông qua đỉnh cao của nó là nhữngcuộc cách mạng xã hội. Như vậy, trong điều kiện xã hội có đối kháng giai cấp thì sự phát triển của xã hội chỉcó thể thực hiện được thông qua những cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết những mâu 19/26
  • 20. thuẫn đối kháng trong đời sống kinh tế và chính trị - xã hội. Trong trường hợp này, đấutranh giai cấp không chỉ là động lực của sự phát triển lịch sử mà còn là phương thức của sựtiến bộ và phát triển xã hội. Theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, phương thức và động lực cơ bản nhất của sựtiến bộ, phát triển xã hội là sự vận động của mâu thuẫn trong phương thức sản xuất, trongbản thân nền sản xuất vật chất của xã hội. Nhưng trong điều kiện xã hội có sự phân hóa giaicấp thì mâu thuẫn đó lại được bộc lộ và biến thành mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấptrong đời sống chính trị - xã hội. Trong trường hợp này, mâu thuẫn đối kháng trong đời sốngkinh tế chỉ có thể giải quyết được thông qua việc giải quyết mâu thuẫn đối kháng giai cấptrên lĩnh vực chính trị xã hội. Như vậy, mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp đã trở thànhcơ chế chính trị xã hội để giải quyết mâu thuẫn trong phương thức sản xuất, thực hiện nhucầu khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của xã hội.III. Ý thức xã hội Trong hệ thống quan niệm duy vật biện chứng về lịch sử, nguyên lý tồn tại xã hộiquyết định ý thức xã hội là một nguyên lý cơ bản, đánh dấu sự đối lập căn bản giữa thế giớiquan duy vật và thế giới quan duy tâm về xã hội. V.I.Lênin đã bắt đầu từ nguyên lý này khitrình bày hệ thống những quan điểm duy vật lịch sử của C.Mác. Nếu, nói chung, chủ nghĩaduy vật lấy tồn tại để giải thích ý thức chứ không phải ngược lại, thì khi áp dụng vào đờisống xã hội của loài người, nó buộc phải lấy tồn tại xã hội để giải thích ý thức xã hội”.1. Khái niệm tồn tại xã hội, ý thức xã hội - Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điềukiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Các yếu tố cơ bản tạo thành tồn tại xã hội bao gồm: phương thức sản xuất vật chất,các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên – hoàn cảnh địa lý và dân cư. Các yếu tố đó tồn tại trongmối quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau thành điều kiện sinh tồn và phát triểncủa xã hội, trong đó phương thức sản xuất vật chất là yếu tố cơ bản nhất. - Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ toàn bộ phương diện sinh hoạt tinh thần của xãhội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triểnnhất định. Giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân có sự thống nhất biện chứng nhưng không đồngnhất. Mối quan hệ giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân thuộc mối quan hệ giữa cái chung vàcái riêng. Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội có cấu trúc hết sức phức tạp. Có thể tiếp cậnkết cấu của ý thức xã hội từ những phương diện khác nhau. Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm các hìnhthái khác nhau, đó là ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ýthức thẩm mỹ, ý thức khoa học, v.v… Theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội có thể phân biệt ýthức xã hội thông thường và ý thức lý luận. Cũng có thể phân tích ý thức xã hội theo haitrình độ và hai phương thức phản ánh đối với tồn tại xã hội, đó là tâm lý xã hội và hệ tưtưởng xã hội. 20/26
  • 21. Trong xã hội có giai cấp thì ý thức xã hội cũng có tính giai cấp, phản ánh điều kiệnsinh hoạt vật chất và lợi ích khác nhau, đối lập nhau giữa các giai cấp. Mỗi giai cấp đều cóđời sống sinh hoạt tinh thần đặc thù của nó nhưng hệ tư tưởng thống trị xã hội bao giờ cũnglà hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, nó có ảnh hưởng đến ý thức của các giai cấptrong đời sống xã hội. Theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen: “Giai cấp nào chi phốinhững tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần,thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất tinh thần cũngđồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối”.2. Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội a) Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội Một trong những công lao to lớn của C.Mác và Ph.Ăngghen là đã phát triển chủnghĩa duy vật đến đỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, giải quyết một cáchkhoa học vấn đề sự hình thành và phát triển của ý thức xã hội. Các ông đã chứng minh rằng,đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở của đời sống vật chất; rằngkhông thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân nó, nghĩa là không thểtìm trong đầu óc con người mà phải tìm trong hiện thực vật chất. Sự biến đổi của một thờiđại nào đó sẽ không thể giải thích được chính xác đến nguyên nhân cuối cùng của nó nếuchỉ căn cứ vào ý thức của thời đại ấy. Theo quan điểm duy vật lịch sử thì tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; ý thức xãhội là sự phản ánh đối với tồn tại xã hội và phụ thuộc vào tồn tại xã hội; mỗi khi tồn tại xãhội (nhất là phương thức sản xuất) biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, nhữngquan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, v.v… tất yếu sẽbiến đổi theo. Cho nên ở những thời kỳ lịch sử khác nhau nếu chúng ta thấy có những lýluận, quan điểm, tư tưởng xã hội khác nhau thì đó là do những điều kiện khác nhau của đờisống vật chất quyết định. Quan điểm duy vật lịch sử về nguồn gốc của ý thức xã hội không phải dừng lại ở chỗxác định sự phụ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã hội, mà còn chỉ ra rằng, tồn tại xã hộiquyết định ý thức xã hội không phải một cách giản đơn trực tiếp mà thường thông qua cáckhâu trung gian. Không phải bất cứ tư tưởng, quan niệm, lý luận hình thái ý thức xã hội nàocũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, mà chỉ khi nào xétđến cùng thì chúng ta mới thấy rõ những mối quan hệ kinh tế được phản ánh bằng cách nàyhay cách khác trong các tư tưởng ấy. b) Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Quan điểm duy vật biện chứng về xã hội không chỉ khẳng định tính quyết định củatồn tại xã hội đối với ý thức xã hội mà còn làm sáng tỏ những nội dung của tính độc lậptương đối của ý thức xã hội. Nội dung tính độc lập tương đối của ý thức xã hội được phântích trên các phương diện chính sau đây: Thứ nhất, ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội. Theo nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội thì khi tồn tại xã hội biến đổisẽ tất yếu dẫn tới những sự biến đổi của ý thức xã hội. Tuy nhiên, không phải trong mọitrường hợp, sự biến đổi của tồn tại xã hội đều ngay lập tức dẫn đến sự biến đổi của ý thức xãhội; trái lại, nhiều yếu tố của ý thức xã hội (trong đời sống tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xãhội) có thể còn tồn tại rất lâu dài ngay cả khi cơ sở tồn tại xã hội sản sinh ra nó đã được thay 21/26
  • 22. đổi căn bản. Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội. Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, chủnghĩa duy vật lịch sử đồng thời thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định, tư tưởngcủa con người, đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự phát triểncủa tồn tại xã hội, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễncủa con người, hướng hoạt động đó vào việc giải quyết những nhiệm vụ mới do sự pháttriển chín muồi của đời sống vật chất của xã hội đặt ra. Tuy nhiên, suy đến cùng, khả năngphản ánh vượt trước ý thức xã hội vẫn phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của nó. Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng, những quan điểm lýluận của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ sởkế thừa những tài liệu lý luận của các thời đại trước. Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển, nên không thể giải thích được một tưtưởng nào đó nếu chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có, không chú ý đến các giai đoạnphát triển tư tưởng trước đó. Lịch sử phát triển của tư tưởng đã cho thấy những giai đoạnhưng thịnh hoặc suy tàn của triết học, văn học, nghệ thuật v.v… nhiều khi không phù hợphoàn toàn với những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn của kinh tế. Thứ tư, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển củachúng. Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội là một nguyên nhân làm chotrong mỗi hình thái ý thức có những mặt, những tích chất không thể giải thích được mộtcách trực tiếp từ tồn tại tại xã hội. Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thường ở mỗi thời đại, tùy theonhững hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng đầu và tácđộng mạnh đến các hình thái ý thức khác. Ngày nay, trong sự tác động lẫn nhau giữa cáchình thái ý thức xã hội, ý thức chính trị thường có vai trò đặc biệt quan trọng. Ý thức chínhtrị của giai cấp cách mạng định hướng cho sự phát triển theo chiều hướng tiến bộ của cáchình thái ý thức khác. Thứ năm, ý thức xã hội có khả năng tác động trở lại tồn tại xã hội. Theo Ph.Ăngghen: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học,nghệ thuật v.v… đều dựa trên cơ sở sự phát triển kinh tế. Nhưng tất cả chúng cũng có ảnhhưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế” (6). Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng đốivới sự phát triển xã hội phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể; vào tính chất của cácmối quan hệ kinh tế mà trên đó tư tưởng nảy sinh; vai trò của giai cấp mang ngọn cờ tưtưởng; vào mức độ phản ánh đúng đắn của tư tưởng đối với các nhu cầu phát triển xã hội;vào mức độ mở rộng của tư tưởng trong quần chúng; v.v… Cũng do đó, ở đây cần phân biệtvai trò của ý thức tư tưởng tiến bộ và ý thức tư tưởng phản tiến bộ đối với sự phát triển xãhội. Quan điểm duy vật mácxít về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xãhội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội là một trong những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa duy vật lịch sử, một trong những cơ sở phương pháp luận căn bản của hoạt động 22/26
  • 23. nhận thức và thực tiễn.IV. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về con người và vai trò sáng tạo lịch sửcủa quần chúng nhân dân1. Con người và bản chất của con người Vấn đề con người luôn là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu trong các họcthuyết triết học. Song, vì hiểu về con người, bản chất của con người, vị trí vai trò của conngười, v.v. khác nhau nên khi trả lời cho các câu hỏi về giải phóng con người cũng có nhiềuquan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Trên cơ sở khái quát những quan điểm lớn vềcon người trong lịch sử, chương “Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người” đềcập đến những vấn đề cơ bản nhất về con người. a) Con người một thực thể tự nhiên(sinh học) – xã hội Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thống nhất biệnchứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội. - Bản tính tự nhiên của con người được phân tích từ hai giác độ sau đây: Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự nhiên. Cơ sởkhoa học của kết luận này đã được chứng minh bằng toàn bộ sự phát triển của chủ nghĩaduy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết của Đácuyn về sự tiến hóa của các loài. Thứ hai, con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên cũng“là thân thể vô cơ của con người”. Tuy nhiên, con người không đồng nhất với các tồn tạikhác của giới tự nhiên, nó mang đặc tính xã hội bởi vì mỗi con người với tư cách là “người”chính là xét trong mối quan hệ của các cộng đồng xã hội, đó là các cộng đồng: gia đình, giaicấp, quốc gia, dân tộc, nhân loại, … Vì vậy, bản tính xã hội nhất định phải là một phươngdiện khác của bản tính con người, hơn nữa đây là bản tính đặc thù của con người. - Bản tính xã hội của con người được phân tích từ các giác độ sau đây: Một là, nó.xét từ giác độ nguồn gốc hình thành con người, loài người thì không phảichỉ có nguồn gốc từ sự tiến hóa, phát triển của vật chất tự nhiên mà còn có nguồn gốc xã hộicủa nó, mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động. Chính nhờ lao động mà con ngườicó khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa và phát triển thành người. Hai là, xét từ giác độ tồn tại và phát triển của con người, loài người thì sự tồn tại củanó luôn luôn bị chi phối bởi các nhân tố xã hội và các quy luật xã hội. Xã hội biến đổi thìmỗi con người cũng do đó mà cũng có sự thay đổi tương ứng và ngược lại, sự phát triển củamỗi cá nhân lại là tiền đề cho sự phát triển của xã hội. Như vậy con người không phải là một động vật thuần túy mà là một “ động vật xãhội”, một thực thể sinh vật (tự nhiên) – xã hội. Thực thể tự nhiên và thực thể xã hội ở conngười không tách khỏi nhau, trong đó thực thể tự nhiên là tiền đề mà trên cái tiền đề đó thựcthể xã hội tôn tại và phát triển. b) Con người là chủ thể của lịch sử Hai phương diện tự nhiên và xã hội của con người tồn tại trong tính thống nhất củanó, quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau, làm biến đổi lẫn nhau, nhờ đó tạo nên khả nănghoạt động sáng tạo của con người trong quá trình làm ra lịch sử của chính nó. Vì thế, nếu lý 23/26
  • 24. giải bản tính sáng tạo của con người đơn thuần chỉ từ giác độ bản tính tự nhiên hoặc chỉ từbản tính xã hội của nó thì đều là phiến diện, không triệt để và nhất định cuối cùng sẽ dẫnđến những kết luận sai lầm trong nhận thức và thực tiễn. Hoạt động của con người làm ra lịch sử nên để có lịch sử trước hết phải có conngười. Tiền đề đầu tiên của lịch sử là sự tồn tại của những con người sống, vì vậy, hànhđộng lịch sử đầu tiên, khách quan, tất yếu là hành động lao động sản xuất để con người táchkhỏi động vật. Con người làm ra lịch sử nhưng không phải là lảm theo ý muốn tùy tiện của mình,mà là trong những điều kiện có sẵn, do quá khứ để lại. Với những điều kiện ấy, mỗi thế hệmột mặt tiếp tục các hoạt động cũ của thế hệ trước trong hoàn cảnh mới, mặt khác tiếp tụccác hoạt động mới của mình để biến đổi hoàn cảnh cũ. Như vậy, con người vừa là sản phẩmcủa lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử. c) Bản chất của con người Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất, “bảntính người” của con người, nhưng về cơ bản những quan niệm đó thường là những quanniệm phiến diện, trừu tượng và duy tâm, thần bí. Trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc,C.Mác đã phê phán vắn tắt những quan niệm đó và xác lập quan niệm mới của mình: “Bảnchất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tínhhiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Quan niệm duy vật biện chứng về con người trong khi thừa nhận bản tính tự nhiêncủa con người còn lý giải con người từ giác độ các quan hệ lịch sử xã hội, từ đó phát hiệnbản tính xã hội của nó. Hơn nữa, chính bản tính xã hội của con người là phương diện bảnchất nhất của con người với tư cách “người”, phân biệt con người với các tồn tại khác củagiới tự nhiên. Vậy, bản chất của con người, xét trên phương diện tính hiện thực của nó,chính là “tổng hòa của các quan hệ xã hội”, bởi xã hội chính là xã hội của con người, đượctạo nên từ toàn bộ các quan hệ giữa người với người trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa,… Quan điểm của C. Mác cho thấy: - Bản chất con người không phải là cái trừu tượng, cố hữu. Bản chất con người hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực. Đấy là những con người cụ thể, sống trong những hoàn cảnh cụ thể mà ở đó bản chất con người được bộc lộ ở những mức độ cụ thể. - Tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành nên bản chất của con người. Các quan hệ này có vị trí, vai trò khác nhau nhưng chúng xâm nhập vào nhau, tràn lan vào nhau, phát huy hoặc kìm hãm tác dụng của nhau. - Khi các quan hệ xã hội (nhất là quan hệ kinh tế) thay đổi thì sớm hay muộn bản chất của con người cũng có sự thay đổi. Như vậy, bản chất của con người không phải được sinh ra mà được sinh thành. Từ quan niệm khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người có thể rút ra ý nghĩaphương pháp luận quan trọng sau đây: Một là, để lý giải một cách khoa học những vấn đề về con người thì không thể chỉđơn thuần từ phương diện bản tính tự nhiên của nó mà điều căn bản hơn, có tính quyết định 24/26
  • 25. phải là từ phương diện bản tính xã hội của nó, từ những quan hệ kinh tế - xã hội của nó. Hai là, động lực cơ bản của sự tiến bộ và phát triển của xã hội chính là năng lực sángtạo lịch sử của con người. Vì vậy phát huy năng lực sáng tạo của mỗi con người, vì conngười chính là phát huy nguồn động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xãhội. Ba là, sự nghiệp giải phóng con người, nhằm phát huy khả năng sáng tạo lịch sử củanó phải là hướng vào sự nghiệp giải phóng những quan hệ kinh tế - xã hội. Trên ý nghĩaphương pháp luận đó có thể thấy một trong những giá trị căn bản nhất của cuộc cách mạngxã hội chủ nghĩa chính là ở mục tiêu xóa bỏ triệt để các quan hệ kinh tế - xã hội áp bức vàbóc lột, ràng buộc khả năng sáng tạo lịch sử của của con người.2. Khái niệm quần chúng nhân dân và vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhândân a) Khái niệm quần chúng nhân dân Con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử nhưng không phải là theo phương thức hành vi đơnlẻ, rời rạc, cô độc của mỗi con người mà là theo phương thức liên kết những con người thành sứcmạnh cộng đồng xã hội có tổ chức, có lãnh đạo của những cá nhân hay các tổ chức chính trị, xã hộinhất định nhằm giải quyết các nhiệm vụ lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội– cộng đồng đó chính là quần chúng nhân dân. Những lực lượng cơ bản tạo thành cộng đồng quần chúng nhân dân bao gồm: Thứnhất, những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần; đó là hạtnhân cơ bản trong cộng đồng quần chúng nhân dân. Thứ hai, những bộ phận dân cư chốnglại giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối kháng với cộng đồng nhân dân. Thứ ba, những giaicấp, tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặcgián tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. b) Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân. Về căn bản, tất cả các nhà tư tưởng trong lịch sử trước Mác đều không nhận thứcđúng vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân. Về nguồn gốc lý luận, điều đó cónguyên nhân từ quan điểm duy tâm, tôn giáo và phương pháp siêu hình trong phân tích cácvấn đề xã hội. Theo quan điểm duy vật lịch sử, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chânchính ra lịch sử, lực lượng quyết định sự phát triển của lịch sử. Do đó, lịch sử trước hết vàcăn bản là lịch sử hoạt động của quần chúng nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sốngkinh tế - xã hội. Vai trò chủ thể sáng tạo ra lịch sử, quyết định tiến trình phát triển lịch sử của quầnchúng nhân dân được phân tích từ ba giác độ sau đây: Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của mọi xã hội, trực tiếp sảnxuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người, của xã hội – đây là nhucầu quan trọng bậc nhất của mọi xã hội ở mọi thời đại, mọi giai đoạn lịch sử. Thứ hai, cùng với quá trình sáng tạo ra của cải vật chất, quần chúng nhân dân đồng thờicũng là lực lượng trực tiếp hay gián tiếp sáng tạo ra các giá trị tinh thần của xã hội. Thứ ba, quần chúng nhân dân là lực lượng và động lực cơ bản của mọi cuộc cách 25/26
  • 26. mạng và các cuộc cải cách trong lịch sử. Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân không bao giờ có thể tách rời vaitrò cụ thể của mỗi cá nhân mà đặc biệt là vai trò của các cá nhân ở vị trí thủ lĩnh, lãnh tụ hayở tầm vĩ nhân của cộng đồng nhân dân. Theo V.I.Lênin: “Trong lịch sử, chưa hề có một giaicấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo được trong hàng ngũ của mìnhnhững lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạophong trào” . Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhândân và vai trò của các cá nhân đối với tiến trình lịch sử đã cung cấp một phương pháp luậnkhoa học quan trọng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn: Thứ nhất, việc lý giải một cách khoa học về vai trò quyết định lịch sử của quầnchúng nhân dân đã xóa bỏ được sai lầm của chủ nghĩa duy tâm đã từng thống trị lâu dàitrong lịch sử nhận thức về động lực và lực lượng sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người. Đồngthời, đem lại một phương pháp luận khoa học trong việc nghiên cứu và nhận định lịch sửcũng như việc nghiên cứu và đánh giá vai trò của mỗi cá nhân, thủ lĩnh, vĩ nhân, lãnh tụtrong cộng đồng xã hội. Thứ hai, lý luận về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân đã cung cấp mộtphương pháp luận khoa học để các đảng cộng sản phân tích các lực lượng xã hội, tổ chức xây dựnglực lượng quần chúng nhân dân trong công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là sự liên minhgiai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộngsản, trên cơ sở đó tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp nhằm tạo ra động lực to lớn trong sự nghiệpcách mạng xã hội chủ nghĩa đi tới thắng lợi cuối cùng. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình triết học Mác – Lênin (của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo) Nxb CTQG, Hà Nội, 2006. 2. Câu hỏi và bài tập triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội , 2005. 3. Đề cương Hướng dẫn ôn tập môn Triết học của Bộ môn Lý luận chính trị Trường đại học Tôn ĐứcThắng, năm 2009. TP. HCM, ngày 30 tháng 11 năm 2009 Hiệu trưởng duyệt Trưởng khoa/Trưởng bộ môn Lý luận chính trị (đã ký) (đã ký) NGƯT,.TS. LÊ VINH DANH TS. THÁI HỮU TUẤN 26/26