• Like
Nguon von va quan ly nguon von cua ngan hang thuong mai doc
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

Nguon von va quan ly nguon von cua ngan hang thuong mai doc

  • 5,621 views
Published

 

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
  • cam on ban da share nhe
    Are you sure you want to
    Your message goes here
No Downloads

Views

Total Views
5,621
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0

Actions

Shares
Downloads
111
Comments
1
Likes
1

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh ĐỀ TÀI: NGUỒN VỐN VÀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI LỜI MỞ ĐẦU Ngân hàng thương mại (NHTM) là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh tronglĩnh vực tiền tệ, tín dụng - Một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nềnkinh tế. Việc tạo lập, tổ chức và quản lý vốn của NHTM là một trong những vấnđề được quan tâm hàng đầu không chỉ vì lợi ích riêng của bản thân các NHTM màcòn vì sự phát triển chung của nền kinh tế. Thực tiễn thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây đangchứng kiến bước phát triển vượt bậc của các NHTM. Các NHTM không ngừngtăng vốn, tăng dư nợ tín dụng, mở rộng mạng lưới chi nhánh hoạt động....nỗ lựccải thiện tình hình hoạt động của bản thân để có thể đứng vững trước yêu cầu cấpbách của đời sống kinh tế xã hội đất nước, trước sự cạnh tranh gay gắt của thịtrường trong nước và quốc tế. Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, đặt ra chocác NHTM là phải xây dựng các chiến lược tìm kiếm , huy động vốn đồng thờiphải quản lý chặt chẽ tình hình nguồn vốn nhằm tiếp tục duy trì củng cố và mởrộng thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh và tiềm năng của ngân hàng. Trong khuôn khổ đề tài “Nguồn vốn và quản lý nguồn vốn của Ngân hàngthương mại ” xin giải quyết 3 vấn đề cơ bản. Chương thứ nhất trình bày lý luận vềNguồn vốn và quản lý nguồn vốn trong hệ thống NHTM trên phương diện chung.Chương thứ hai xem xét tình hình nguồn vốn của NHTM Việt Nam trong những -1-
  • 2. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhnăm gần đây và chương thứ ba dựa trên cơ sở thực trạng đã phân tích, từ đó đưa racác giải pháp nhằm tạo lập vốn và quản lý vốn cho NHTM một cách hiệu quả. Trong quá trình viết, chắc chắn em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, emrất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn nhằm giúp chođề án của em được hoàn thiện hơn. -2-
  • 3. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh CHƯƠNG 1 NGUỒN VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngânhàng tạo lập, huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng.Nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn chủ sở hữu , Vốn huy động, Vốn đi vay vàmột số vốn khác.1.1.1. Vốn chủ sở hữu* Khái niệm: Vốn chủ sở hữu (VCSH) hay còn gọi là vốn tự có là số vốn thuộcquyền sở hữu của NHTM. Đó là nguồn tiền đóng góp chủ yếu bởi những ngườichủ ngân hàng và nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợinhuận giữ lại. Vốn chủ sở hữu của NH bao gồm nhiều loại khác nhau và đượcphân thành vốn cấp 1 (vốn cơ bản) được xem là sức mạnh và tiềm lực thực sự củangân hàng ; Vốn cấp 2 (vốn bổ sung) được giới hạn tối đa bằng 100% vốn cấp 1.1.1.1.1.Thành phần vốn chủ sở hữu a) Vốn cấp 1 Vốn cấp 1 bao gồm:  Vốn điều lệ (Satutory Capital)- Đây là số vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM. Vốn điều lệ của mỗingân hàng được hình thành do tính chất sở hữu của ngân hàng quyết định, tức lànguồn vốn này có thể do Nhà nước cấp hoặc huy động từ các cá nhân trong xã hội. + Nếu là NHTM Nhà nước, vốn điều lệ do ngân sách nhà nước cấp khi thành lập. -3-
  • 4. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh + Nếu là NHTM Cổ phần, vốn điều lệ do sự đóng góp của các cổ đông dưới hìnhthức phát hành cổ phiếu (Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi vĩnh viễn) + Nếu là NH Liên doanh, vốn điều lệ là vốn đóng góp cổ phần của các ngân hàngtham gia liên doanh. + Nếu là Chi nhánh NH nước ngoài hoạt động ở Việt Nam, vốn điều lệ là do NHmẹ ở nước ngoài cấp.- Không tính vào chỉ tiêu này số vốn đã được các chủ sở hữu cam kết nhưng chưacấp đủ, góp đủ.- Vốn điều lệ nhiều hay ít phụ thuộc vào khả năng tài chính của các chủ sở hữu vàý đồ thành lập NH với quy mô, phạm vi hoạt động khác nhau. Vốn điều lệ của mỗiNH ít nhất phải bằng mức vốn pháp định, là số vốn do Chính phủ quy định trongtừng thời kỳ cho từng loại hình NH. Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng cóthể tăng thêm vốn điều lệ nhưng phải công bố công khai vốn điều lệ mới. Cụ thểNHTM Cổ phần có thể phát hành thêm cổ phần, NHTM Nhà nước có thể xin cấpthêm vốn Ngân sách để mở rộng quy mô hoạt động, chống đỡ rủi ro.- Vốn điều lệ chủ yếu được dùng để mua sắm bất động sản, động sản, trang thiếtbị...cho hoạt động ngân hàng, ngoài ra còn được dùng để góp vốn liên doanh, chovay, mua cổ phần của công ty khác. Không được dùng vốn điều lệ đế chia lợi tức,lập quỹ phúc lợi khen thưởng. Như vậy, đến khi ngân hàng hoạt động, vốn điều lệcó thể đã nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi, xe cộ, trang thiết bị, dự trữhay kí quỹ tại NHTW hoặc đầu tư vào một thương vụ nào đó....  Các quỹ dự trữ (Reserve funds)-Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm củaNHTM theo một tỷ lệ nhất định tùy theo luật lệ NH của mình nhằm mục đích tăngcường vốn chủ sở hữu ban đầu. -4-
  • 5. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh-Quỹ dự phòng tài chính: để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động kinhdoanh của ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ.-Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ: dùng để nghiên cứu , đào tạo và triển khai cácdịch vụ mới.Quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ được trích lập từ lợinhuận sau thuế. Việc trích lập và sử dụng các quỹ này được thực hiện theo quyđịnh của Pháp luật trong từng thời kỳ.  Lợi nhuận không chia- Đối với các NHTM Cổ phần, lợi nhuận sau thuế sau khi bù đắp các khoản chi phíđặc biệt, thường được chia làm hai phần: một phần chia cho các cổ đông theo giátrị các cổ phần và một phần bổ sung vào vốn chủ sở hữu dưới tên gọi “Lợi nhuậntích lũy lại”- Lợi nhuận không chia. Phần này bản chất thuộc sở hữu của các cổđông, song được vốn hóa nhằm mở rộng quy mô vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận khôngchia của tổ chức tín dụng cổ phần phải được Đại hội cổ đông thông qua.- Đối với các NHTM Nhà nước, lợi nhuận sau thuế sau khi trừ thua lỗ (năm trước)và các chi phí đặc biệt được trích bổ sung VCSH theo quy định của Nhà nước.  Thặng dư Vốn cổ phần (Đ/v các NHTM Cổ phần)Trong quá trình hoạt động, có thể thị giá cổ phiếu của ngân hàng lớn hơn mệnhgiá. Khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới, phần chênh lệch giữa thị giá và mệnhgiá được ghi lại dưới tên gọi thăng dư của vốn.*Giới hạn khi xác định vốn tự có cấp 1: Vốn tự có cấp 1 phải trừ đi giá trị lợi thếthương mại.Lợi thế thương mại là phần chênh lệch lớn hơn giữa số tiền mua một tài sản tàichính và giá trị sổ sách kế toán của tài sản tài chính đó. Tài sản tài chính này đượcphản ánh đầy đủ trên bảng cân đối của tổ chức tín dụng. -5-
  • 6. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan HạnhVốn cấp 1 được dùng làm căn cứ để xác định giới hạn mua cổ phiếu, đầu tư vào tàisản cố định của Tổ chức Tín dụng. b) Vốn cấp 2 Vốn cấp 2 bao gồm:  Giá trị tăng thêm của tài sản cố định và giá trị tăng thêm của các loạichứng khoán đầu tư (kể cả cổ phiếu đầu tư, vốn góp) được định giá lại theo quyđịnh của Pháp luật- Được tập hợp vào quỹ đánh giá lại.- Do giá trị thị trường của Tài sản có thể thay đổi theo thời gian nên vốn do đánhgiá lại tài sản thường không ổn định, vì vậy các ngân hàng chỉ được tính vào vốncấp 2 một phần giá trị tăng thêm của tài sản. Cụ thể là chỉ lấy 50% phần giá trịtăng thêm của TSCĐ và 40% phần giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầutư được định giá lại theo quy định của pháp luật.  Dự phòng chung- Kinh doanh của NH luôn gắn liền với rủi ro. Do vậy, các ngân hàng đều trích lậpcác khoản dự trữ nhằm bù đắp tổn thất. Dự phòng chung là khoản tiền được tríchlập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loạinợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính củaNH khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Việc trích lập và sử dụng dự phòngchung được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo quy định hiện hành thì sốtiền dự phòng chung được tính vào vốn cấp 2 tối đa bằng 1,25% tổng tài sản “Có”rủi ro.- Nếu tổn thất thực của ngân hàng nhỏ hơn số trích lập thì vốn chủ sở hữu sẽ tăngvà ngược lại. Một số ngân hàng không hạch toán quỹ này vào vốn chủ sở hữu màvào các khoản nợ do nguồn gốc của quỹ là trích từ thu nhập trước thuế như mộtkhoản chi phí và khi cần sẽ được chi ra để bù đắp tổn thất. -6-
  • 7. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh  Cổ phiếu ưu đãi có thời hạn, các trái phiếu có khả năng chuyển đổi thànhcổ phiếu và một số công cụ nợ khác thỏa mãn yêu cầu do NHNN quy định.- Đây thực chất là khoản nợ vốn dài hạn do các nhà đầu tư bên ngoài đóng góp. Vìvậy các nhà quản lý ngân hàng chỉ được tính vào vốn cấp 2 khi các công cụ nàythỏa mãn các điều kiện do NHNN quy định về thời hạn, về đảm bảo của ngân hàngphát hành, về điều chỉnh tăng lãi suất, về thanh toán nợ gốc và lãi.Cụ thể : + Trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do tổ chức tín dụng phát hànhthỏa mãn những điều kiện sau: • Có kỳ hạn ban đầu, thời hạn còn lại trước khi chuyển đổi thành cổ phiếuphổ thông tối thiểu là 5 năm. • Không được đảm bảo bằng tài sản của chính tổ chức tín dụng. • Tổ chức tín dụng không được mua lại theo đề nghị của người sở hữuhoặc mua lại trên thị trường thứ cấp, hoặc tổ chức tín dụng chỉ được mua lại saukhi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản. • Tổ chức tín dụng được ngừng trả lãi và chuyển lãi lũy kế sang năm tiếptheo nếu việc trả lãi dẫn đến kết quả kinh doanh trong năm bị lỗ. • Trong trường hợp thanh lý tổ chức tín dụng, người sở hữu trái phiếuchuyển đổi chỉ được thanh toán sau khi tổ chức tín dụng đã thanh toán cho tất cảcác chủ nợ có bảo đảm và không có bảo đảm khác. • Việc điều chỉnh tăng lãi suất chỉ được thực hiện sau 5 năm kể từ ngàyphát hành và được điều chỉnh một lần trong suốt thời hạn trước khi chuyển đổithành cổ phiếu phổ thông. -7-
  • 8. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh + Các công cụ nợ khác thỏa mãn những điều kiện sau: • Là khoản nợ mà chủ nợ là thứ cấp so với các chủ nợ khác: trong mọitrường hợp, chủ nợ chỉ được thanh toán sau khi tổ chức tín dụng đã thanh toán chotất cả các chủ nợ có bảo đảm và không bảo đảm khác. • Có kỳ hạn ban đầu tối thiểu trên 10 năm. • Không được đảm bảo bằng tài sản của chính tổ chức tín dụng. • Tổ chức tín dụng được ngừng trả lãi và chuyển lãi lũy kế sang năm tiếptheo nếu việc trả lãi dẫn đến kết quả kinh doanh trong năm bị lỗ. • Chủ nợ chỉ được tổ chức tín dụng trả nợ trước hạn sau khi được Ngânhàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản. • Việc điều chỉnh tăng lãi suất chỉ được thực hiện sau 5 năm kể từ ngàyký kết hợp đồng và được điều chỉnh một lần trong suốt thời hạn của khoản vay.- Việc gia tăng loại vốn này có nhiều ưu điểm đối với quản lý ngân hàng nhưkhông làm thay đổi quyền kiểm soát, hạn chế giảm cổ tức......* Tuy nhiên khi xác định tổng vốn tự có để tính tỷ lệ an toàn tối thiểu, các NHTMphải khấu trừ khỏi vốn cấp 1 và vốn cấp 2 một số khoản mục như sau: • Toàn bộ phần giá trị giảm đi của tài sản cố định • Toàn bộ phần giá trị giảm đi của các loại chứng khoán đầu tư (kể cả cổphiếu đầu tư, vốn góp) • Tổng số vốn của TCTD đầu tư vào TCTD khác dưới hình thức góp vốn,mua cổ phần và tổng các khoản đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần nhằmnắm quyền kiểm soát vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm,chứng khoán -8-
  • 9. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh • Phần vượt mức vốn tự có của TCTD đối với khoản góp vốn, mua cổphần (Phần vượt mức 15% vốn tự có của TCTD đối với khoản góp vốn, mua cổphần của TCTD vào một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư và phần vượtmức 40% vốn tự có của TCTD đối với tổng các khoản góp vốn, mua cổ phần củaTCTD vào các doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, ngoại trừ phần vượt mức15% đã trừ khỏi vốn tự có nêu trên) • Khoản lỗ kinh doanh (bao gồm cả những khoản lỗ luỹ kế).1.1.1.2. Vai trò của vốn chủ sở hữu và các nhân tố ảnh hưởng vốn chủ sở hữu a) Vai trò Do tính chất đặc thù trong kinh doanh nên vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷtrọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM (khoảng < 10%). Song vốnchủ sở hữu của ngân hàng lại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngânhàng.- VCSH tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì hoạt động của ngân hàng. + Nó cung cấp nguồn lực ban đầu giúp NH mới thành lập hoạt động. Sốvốn này trước hết để mua sắm (thuê) trang thiết bị, văn phòng cần thiết cho quátrình kinh doanh, phần còn lại tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàngnhư cho vay hoặc mua chứng khoán. + Nó cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của cáchình thức dịch vụ mới, cho những chương trình, công nghệ mới, trang thiết bị mới.Khi NH phát triển, nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trưởng và cạnh tranh tốtvới các ngân hàng khác thông qua dịch vụ mới và trang thiết bị mới.- VCSH đóng vai trò là một tấm đệm giúp NHTM chống lại rủi ro trong quá trìnhhoạt động. Khi cơ quan bảo hiểm tiền gửi thành lập, VCSH góp phần giảm bớt rủiro cho cơ quan bảo hiểm. -9-
  • 10. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh- VCSH tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo đối với người gửi tiền, chủnợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng.- VCSH là một trong những căn cứ góp phần điều chỉnh các hoạt động của NHTMRất nhiều quy định về hoạt động của NHTM của các nhà chức trách tiền tệ có liênquan chặt chẽ với VCSH. Ví dụ như để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinhdoanh, các NHTM phải duy trì tỷ lệ an toàn tối thiểu là 8% giữa VCSH với tổngtài sản có rủi ro ; những quy định khác như quy mô nguồn tiền gửi được tính theotỷ lệ VCSH , mức dư nợ cho vay tối đa đối với một khách hàng (theo quy địnhhiện hành là 15 % VCSH của NH), nắm giữ cổ phiếu của công ty khác, mở chinhánh, mua sắm TSCĐ, thành lập công ty con....đều tính theo tỷ lệ VCSH. Nhưvậy quy mô và cấu trúc hoạt động của NHTM được điều chỉnh theo VCSH . b) Các nhân tố ảnh hưởng- Chính sách của Chính phủ tác động trực tiếp đến quy mô và cấu trúc của nguồnVCSHCác NHTM phải điều chỉnh VCSH trong từng thời kỳ theo các quy định củaChính phủ về vốn pháp định, các tỷ lệ trích quỹ dự trữ, lợi nhuận không chia.......- Chính sách và kết quả kinh doanh của NHTMNếu ngân hàng làm ăn phát đạt và có chính sách gia tăng sức mạnh thì có thể sẽtăng VCSH thông qua phát hành thêm cổ phiếu hoặc tự tích lũy. Những ngân hàngnhỏ, khả năng sinh lời thấp thì khả năng mở rộng VCSH cũng bị hạn chế.1.1.2. Vốn huy động (Mobilized Capital)1.1.2.1. Thành phần vốn huy động Vốn huy động của NHTM dưới hình thức bằng tiền (nội tệ và ngoại tệ) vàbằng vàng được hình thành từ hai bộ phận: Vốn huy động từ tiền gửi và vốn huyđộng thông qua phát hành chứng từ có giá. -10-
  • 11. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh a)Vốn huy động từ tiền gửi Các khoản tiền gủi là những giá trị tiền tệ mà NH nhận được từ các tổ chứckinh tế-xã hội và các cá nhân trong nền kinh tế thông qua quá trình thực hiện cácnghiệp vụ huy động, thanh toán và các nghiệp vụ khác và được dùng để kinhdoanh. Bản chất của tiền gửi là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau mà ngânhàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu. Để huy động vốn, các NHTM đã cung cấp rất nhiều loại tiền gửi khác nhaucho khách hàng lựa chọn. Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà NH đưa ra đều cónhững điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàngtrong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán. Vốn tiền gửi của NHTM có thể huyđộng từ các tổ chức kinh tế-xã hội, dân cư, ngân hàng và các tổ chức tín dụngkhác...Trong đó, nguồn tiền gửi từ các doạn nghiệp và dân cư là nguồn quan trọngnhất vì nó là nguồn chủ yếu và mang tính chất lâu dài. Thông thường tiền gửi NHTM được chia thành các loại sau:  Tiền gửi không kỳ hạn Ở Việt Nam, tiền gửi không kỳ hạn được hiểu là loại tiền gửi mà kháchhàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thực hiện theo yêu cầu này.Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi không kỳ hạnthuần túy • Tiền gửi thanh toán Là loại tiền gửi được ký thác vào NH để thực hiện các khoản chi trả tronghoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Đây là một bộ phận tiền đang chờthanh toán mà không phải là tiền để dành, do vậy khách hàng gửi tiền không mấtquyền sử dụng số tiền này. Họ có thể rút ra, chuyển nhượng hoặc chi trả trongthanh toán bất kỳ lúc nào. Trong việc sử dụng tiền gửi thanh toán, khách hàngthường dùng các công cụ thanh toán để chi trả như sec, lệnh chuyển tiền.... -11-
  • 12. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh  Tài khoản tiền gửi thanh toán (Tài khoản giao dịch hoặc tài khoản sec) Tài khoản này dư có, khách hàng chỉ được sử dụng trong phạm vi tiềngửi của mình. Tài khoản sec hay tài khoản giao dịch hiện nay ở Việt Nam có hailoại: + Tài khoản thanh toán dùng cho các tổ chức kinh tế-xã hội + Tài khoản thanh toán dùng cho cá nhân  Tài khoản vãng lai Tài khoản này có thể dư có hoặc dư nợ, nghĩa là khách hàng ngoài việcsử dụng số tiền gửi của mình còn được dùng khoản tiền do ngân hàng cho vaytheo sự thỏa thuận trước giữa ngân hàng và khách hàng. Nhìn chung, lãi suất của loại tiền gửi thanh toán rất thấp thậm chí cónhững tiền gửi ngân hàng không phải trả lãi. Do đó, nguồn vốn này giúp cho ngânhàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay và đầu tư. • Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy Đây là loại tiền gửi thể hiện khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng,họ gửi tiền vào ngân hàng không mang tính chất để thanh toán mà nhằm mục đíchan toàn tài sản, khi cần khách hàng đến ngân hàng rút tiền để chi tiêu. Cũng giống như tiển gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn thuần túy có mứclãi suất rất thấp* Đối với tiền gửi không kỳ hạn, mặc dù việc gửi và rút tiền có thể thực hiện bấtkỳ lúc nào, ngân hàng khó xác định trước nhưng trên thực tế luôn có sự chênh lệchvề thời gian và số lượng giữa việc gửi và rút tiền, cho nên tại mỗi ngân hàng luôntồn tại một số dư tiền gửi không kỳ hạn và ngân hàng có thể sử dụng để cho vay(chủ yếu vay ngắn hạn). -12-
  • 13. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh  Tiền gửi có kỳ hạn Đây là những khoản tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội cóthỏa thuận về thời gian rút tiền. Về nguyên tắc, người gửi chỉ có thể rút tiền theothời hạn đã thỏa thuận. Nhưng trên thực tế, để thu hút loại tiền gửi này với kỳ hạndài, các NHTM thường cho phép rút tiền trước thời hạn nhưng khách hàng chỉđược hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc hưởng mức lãi suất tương ứng theo loại kỳhạn nhất định do NHTM quy định. Tuy không thuận lợi cho người tiêu dùng bằnghình thức tiền gửi thanh toán, song lãi suất của nó cao hơn. Nguồn vốn này có độ ổn định cao, chiếm khoảng 40% tiền gửi, ngân hàngchủ động trong quá trình sử dụng. Vì vậy, để có thể thu hút nhiều hơn loại tiền gửinày các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau, mỗi kỳ hạn có mộtmức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài , lãi suất càng cao.  Tiền gửi tiết kiệm Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của NHTM . Tiền gửi tiết kiệmthường là khoản thu nhập của dân cư tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng ngay gửivào ngân hàng. NHTM thường trả lãi cho tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất củatiền gửi không kỳ hạn. Người gửi được giao cho một sổ tiết kiệm phục vụ cho việcghi ghi chép gửi và rút tiền. Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàngvà dịch vụ, song có thể dùng làm vật cầm cố hoặc được chiết khấu để vay vốnngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiếtkiệm có kỳ hạn với các kỳ hạn khác nhau. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn gồm hai loại: -13-
  • 14. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh • Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được hưởng lãi: Đối với loại này, NHTMcó thể áp dụng hình thức trả lãi trước hoặc trả theo định kỳ hoặc lãi trả cùng nợgốc • Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có lãi và thưởng: Đối với loại này, ngoài lãisuất được hưởng người gửi còn được thưởng dưới hình thức bằng vàng, tiền hoặchiện vật khác nếu trúng thưởng. Trên thực tế, tiền gửi tiết kiệm chiếm một tỷ trọng khá lớn (khoảng 1/4) trongtổng vốn huy động của NHTM. Để khai thác nguồn vốn này, các ngân hàng luônchú trọng đến việc đa dạng hoá các hình thức huy động như: huy động bằng vàng,huy động tiền gửi có đảm bảo vàng, tiết kiệm xây dựng nhà ở, tiết kiệm gửi mộtnơi nhưng lĩnh nhiều nơi.....với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn.  Tiền gửi khác Ngoài các loại tiền gửi trên, tại các NHTM còn có một số khoản tiền gửi khácnhư: • Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác • Tiền gửi của kho bạc Nhà nước • Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội b)Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá Đây là phần vốn mà NHTM có được qua việc phát hành các giấy tờ có giá nhưkỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi. Đối tượng mua kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi là các tổchức, cá nhân trong nền kinh tế, ngoài việc dùng số vốn nhàn rỗi hay phần thu -14-
  • 15. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhnhập tạm thời chưa sử dụng đến để mua, trên thực tế đây còn là một kênh đầu tưcủa người có vốn trong xã hội khi họ không có khả năng đầu tư trực tiếp. Các kỳphiếu, trái phiếu này có khả năng chuyển đổi dễ dàng ra tiền khi cần thiết bằngcách mua bán, chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chứng khoán tại NHTM. Với cách huy động vốn này, NH có thể tập trung một khối lượng vốn lớn trongthời gian ngắn và NH chủ động sử dụng. Cho nên hình thức này thường được thựchiện khi ngân hàng đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giảingân nhanh của khách hàng hay sau khi đã cân đối giữa vốn và sử dụng vốn trongtoàn bộ hệ thống mà vẫn còn thiếu và phải được sự đồng ý của Thống đốc NHNN. Tuy nhiên các khoản vay này thường không có đảm bảo. Những ngân hàng cóuy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các NH nhỏ thường khóvay mượn trực tiếp bằng cách này. Họ thường thông qua các NH đại lý hoặc đượcbảo lãnh của NH đầu tư. Đối với khoản vay này, NH cần nghiên cứu kỹ thị trườngđể quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp. Các vấnđề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ ...cũng được các NH quantâm.1.1.2.2. Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng vốn huy động a) Vai trò Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốnkinh doanh (khoảng 80%) của NHTM . Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớnđến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của NH. Nguồn vốn này có xu hướngngày càng gia tăng phù hợp với xu hướng tăng trưởng nhưng ổn định của nền kinhtế, với việc gia tăng nhu cầu thanh toán của dân cư và với việc cải tiến nâng caochất lượng dịch vụ của NHTM . b) Các nhân tố ảnh hưởng  Nhân tố chủ quan -15-
  • 16. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh • Chính sách lãi suất của NHTM Như chúng ta đã biết, yếu tố quan trọng nhất giúp cho khách hàng gửi tiền tạiNH vì họ mong hưởng được một phần thu nhập từ khoản tiền gửi đó. Do đó,Chính sách lãi suất của NHTM ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn củahọ. Tùy thuộc điều kiện hiện có của mỗi NH thì các NH đưa ra từng mức lãi suấtđối với từng loại hình tiền gửi làm sao có thể tạo nên tính hấp dẫn cho Kháchhàng, từ đó sẽ huy động nhiều hơn (Nếu các yếu tố khác như nhau). • Chất lượng cung cấp dịch vụ của NHTM Đây cũng là nhân tố không kém phần quan trọng, ảnh hưởng đến nguồn vốnhuy động của NHTM. Các tổ chức cũng như các cá nhân ngoài mục đích hưởnglợi nhuận từ đồng tiền nhàn rỗi của mình, họ cũng muốn được hưởng lợi ích từ cácdịch vụ như dịch vụ thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thẻ sec, thẻ tín dụng,tư vấn...Như vậy, những ngân hàng nào cung cấp những dịch vụ tốt hơn, tiện íchhơn thì ngân hàng đó sẽ thu hút nhiều khách hàng và nhiều vốn hơn. • VCSH của NHTM , ảnh hưởng tới uy tín của NHTM . Sự an toàn và uy tín của NHTM cũng là những nhân tố quan trọng tạo lòngtin đối với khách hàng, thu hút được nhiều lượng tiền gửi hơn. • Ngoài các nhân tố trên thì còn có một số nhân tố khác ảnh hưởng đếnkhả năng tăng trưởng nguồn vốn huy động của NHTM và cũng là yếu tố mà cácNH của các nước đang phát triển phải đặc biệt quan tâm đầu tư để rút ngắn khoảngcách với các nước phát triển, tạo điều kiện trong việc thu hút vốn cũng như thựchiện các dịch vụ ngân hàng. Đó là các nhân tố như mạng lưới huy động vốn, trìnhđộ công nghệ và cơ sở vật chất của NH, trình độ làm việc của cán bộ công nhânviên ngân hàng.  Nhân tố khách quan -16-
  • 17. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh • Chính sách của NHTW đối với NHTM Sự kiểm soát chặt chẽ bởi NHTW như chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá,việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động gián tiếp đến nguồn vốn huy động củaNHTM. + Việc NHTW quy định khung lãi suất tiền gửi, hoặc là quy định tănghoặc hạ lãi suất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hút vốn của NHTM. + Chính sách tỷ giá của NHTW cũng ảnh hưởng đến khả năng thu hútvốn của NHTM vì chính sách tỷ giá liên quan đến tỷ lệ trượt giá của đồng tiền, dođó sẽ ảnh hưởng đến lãi suất tiền gửi ........... • Thông tin đại chúng Đây là phương tiện để chuyển tải những thông tin về NH, thông tin về chínhsách lãi suất hay những tiện ích của NHTM đến mọi người. Tuy nhiên nó có thểtác động tích cực hoặc cũng có thể tác động tiêu cực đến hoạt động của NH, quađó sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nguồn vốn huy động. • Những nhân tố liên quan đến dân cư: như thói quen chi tiêu của dânchúng, trình độ văn hóa của dân cư, sự tin tưởng của người dân vào NH.......1.1.3.Vốn vay (Borrowed Capital) Trong quá trình kinh doanh của các NHTM có tình trạng tạm thời thừa vốnhoặc thiếu vốn. Các NH sử dụng quan hệ vãng lai, vay và cho vay vốn để tận dụngcơ hội kinh doanh hoặc bảo đảm khả năng thanh toán. NHTM có thể vay vốn ởNHTM khác hoặc vay vốn ở NHTW.1.1.3.1. Thành phần vốn vay a) Vốn vay của Tổ chức tín dụng khác -17-
  • 18. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Đây là nguồn các NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của ác Tổ chức tín dụngkhác thông qua thị trường liên ngân hàng (Interbank Market). Quá trình vay mượnphải đảm bảo các nguyên tắc: • Các NH phải hoạt động hợp pháp • Thực hiện việc cho vay và đi vay theo đúng hợp đồng tín dụng • Vốn vay phải được đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố hoặc xin bảo lãnhcủa NHTW. Ngoài ra, NHTM trong nước có thể vay các NHTM nước ngoài. b) Vốn vay của NHTW Theo nguyên tắc NHTW là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế, vì vậysau khi các NHTM vay vốn từ các nguồn khác mà vẫn chưa đủ thì NHTM có thểđược NHTW cho vay vốn. Ở Việt Nam hiện nay, NHNN cho các tổ chức tín dụng là ngân hàng vay vốnngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn theo các loại sau: • Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng • Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạnkhác • Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giángắn hạn khác. Ngoài ra, NHNN còn cho NHTM vay bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh toánbù trừ và trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận,NHNN cho vay đối với NHTM tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mấtan toàn cho hệ thống.1.1.3.2. Vai trò và nhân tố ảnh hưởng vốn vay -18-
  • 19. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh a) Vai trò Vốn vay của Tổ chức tín dụng khác và vay của NHTW thường chiếm tỷ trọngkhông lớn trong tổng vốn kinh doanh của NHTM, nhưng nó có vị trí quan trọnggóp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Đặc biệt nó còncó ý nghĩa trong việc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệusuất sử dụng vốn của NHTM. b) Các nhân tố ảnh hưởng • Chính sách tiền tệ từng thời kỳ Khi mục tiêu của chính sách tiền tệ là mở rộng, việc vay NHNN sẽ trở nên dễdàng hơn đối với các NHTM nhờ lãi suất tái chiết khấu thấp. Ngược lại khi chínhsách tiền tệ thắt chặt được triển khai, NHNN sẽ tăng mức lãi suất tái chiết khấu đểhạn chế việc NHTM đến vay tiền • Uy tín của NHTM1.1.4. Các nguồn vốn khác1.1.4.1. Vốn trong thanh toán Vốn trong thanh toán là số vốn có được do ngân hàng làm trung gian thanhtoán trong nền kinh tế. Cụ thể:- Số vốn trong thời gian đã trích khỏi tài khoản của người trả nhưng chưa chuyểnvào tài khoản của người hưởng do phải luân chuyển, xử lý chứng từ thanh toán.- Số vốn trong thời gian khách hàng lưu ký tại NH nhưng chưa thanh toán trongmột số hình thức thanh toán như sec bảo chi, sec định mức, thư tín dụng (L/C), thẻtín dụng ký quỹ, các khoản tiền phong tỏa do NH chấp nhận hối phiếu thươngmại..... Khi công nghệ thanh toán của NH ngày càng hiện đại, quy trình thủ tục thanhtoán được cải thiện thì thời gian của mỗi tài khoản thanh toán cũng giảm. Nhưng -19-
  • 20. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhdo ngày càng nhiều khách hàng mở tài khoản và khoản thanh toán được thực hiệnngày càng tăng làm cho số vốn này có điều kiện gia tăng.1.1.4.2. Vốn ủy thác đầu tư, tài trợ của Chính phủ hoặc của các tổ chức, cá nhântrong và ngoài nước cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội Đây là nguồn vốn mà NH có được do làm đại lý nhận ủy thác của các tổ chứctrong và ngoài nước để thực hiện đầu tư cho những chương trình, dự án. NH chỉđóng vai trò là trung gian hưởng phí. Trong thời gian vốn được NH tiếp nhậnnhưng chưa giải ngân hết theo kế hoạch, hoặc vốn cho vay đã thu hồi về nhưngchưa đến hạn chuyển lại cho chủ đầu tư, NH có được nguồn vốn để kinh doanh. Ngoài ra, NHTM còn làm đại lý bán cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệpcũng như thu hộ lợi tức từ đầu tư chứng khoán cho khách hàng.....Những nghiệpvụ này cũng tạo được thêm vốn cho NHTM.* Đặc điểm: Nhìn chung, các nguồn vốn khác của NHTM thường không lớn, thờigian sử dụng đôi khi rất ngắn nhưng điều đáng quan tâm là nguồn vốn này ngânhàng không phải tốn kém chi phí huy động, lại có điều kiện phát triển các nghiệpvụ và dịch vụ ngân hàng khác, phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của khách hàng.1.2.Quản lý nguồn vốn1.2.1. Sự cần thiết phải quản lý nguồn vốn của NHTM Quản lý nguồn vốn tức là quản lý tài sản nợ, nó cần thiết đối với bất kỳ đơn vịkinh doanh nào. Quản lý nguồn vốn đối với NHTM nhằm mục đích:- Khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội từ các tổ chức kinh tế và mọitầng lớp dân cư.- Đảm bảo sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định, bền vững, làm tiền đề cho việc nângcao thị phần, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu vốn cho khách hàng cả về số lượng, thờihạn và lãi suất. -20-
  • 21. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh- Đảm bảo khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.1.2.2.Các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM Các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD)được thực hiện theo quy định của NHNN tại Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNNvà Quyết định 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/1/2007. Đây là các chỉ tiêu bắt buộcáp dụng đối với các NHTM Việt Nam. Để quản lý nguồn vốn một cách hiệu quảcác NHTM phải thường xuyên theo dõi, điều chỉnh các tỷ lệ này theo quy định củapháp luật.1.2.2.1.Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Tổng số vốn tự cóHệ số an toàn vốn = Tổng tài sản có (kể cả các cam kết ngoại bảng) được điều chỉnh theo mức độ rủi roTrong đó:Tổng tài sản có rủi ro quy đổi = (Tài sản có rủi ro nội bảng X hệ số rủiro) + (Tài sản có rủi ro ngoại bảng X hệ số rủi ro) a)Tài sản "Có" nội bảng được phân nhóm theo các mức độ rủi ro như sau:  Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 0% gồm: • Tiền mặt. • Vàng. • Tiền gửi bằng Đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng nhà nước đãduy trì tại Ngân hàng chính sách xã hội theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày -21-
  • 22. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh4/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chínhsách khác. • Các khoản cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư theo các hợp đồngủy thác trong đó tổ chức tín dụng chỉ hưởng phí ủy thác và không chịu rủi ro. • Các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam đối với Chính phủ ViệtNam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. • Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá do chính tổ chứctín dụng phát hành. • Các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam được bảo đảm bằng giấy tờcó giá do chính tổ chức tín dụng phát hành; Các khoản phải đòi được bảo đảmhoàn toàn bằng tiền mặt, sổ tiết kiệm, tiền ký quỹ, giấy tờ có giá do Chính phủ,Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. • Các khoản phải đòi đối với Chính phủ Trung ương, Ngân hàngTrương ương các nước thuộc khối OECD. • Các khoản phải đòi được bảo đảm bằng chứng khoán của Chính phủTrung ương các nước thuộc khối OECD hoặc được bảo lãnh bởi Chính phủ Trungương các nước thuộc khối OECD.  Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 20% gồm: • Các khoản phải đòi đối với tổ chức tín dụng khác ở trong nước vànước ngoài, đối với từng loại đồng tiền. • Các khoản phải đòi đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương; Các khoản phải đòi bằng ngoại tệ đối với Chính phủ Việt Nam,Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. -22-
  • 23. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh • Các khoản phải đòi được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do tổ chức tíndụng khác thành lập tại Việt Nam phát hành. • Các khoản phải đòi đối với tổ chức tài chính nhà nước; các khoản phảiđòi được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do các tổ chức tài chính nhà nước phát hành. • Kim loại quý (trừ vàng), đá quý. • Tiền mặt đang trong quá trình thu. • Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng IBRD, IADB, ADB,AFDB, EIB, EBRD và Các khoản phải đòi được các được các ngân hàng này bảolãnh hoặc được bảo đảm bằng chứng khoán do các ngân hàng này phát hành. Cáckhoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập ở các nước thuộc khốiOECD và các khoản phải đòi được bảo lãnh bởi các ngân hàng này. • Các khoản phải đòi đối với các công ty chứng khoán được thành lập ởcác nước thuộc khối OECD có tuân thủ những thỏa thuận quản lý và giám sát vềvốn trên cơ sở rủi ro và những khoản phải đòi được các công ty này bảo lãnh. • Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập ngoài cácnước thuộc khối OECD, có thời hạn còn lại dưới 1 năm và các khoản phải đòi cóthời hạn còn lại dưới 1 năm được các ngân hàng này bảo lãnh.  Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 50% gồm: • Các khoản đầu tư cho dự án theo hợp đồng, quy định tại Nghị định số79/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động củacông ty tài chính. • Các khoản phải đòi có bảo đảm bằng Bất động sản của bên vay.  Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 100% gồm: -23-
  • 24. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh • Các khoản cấp vốn điều lệ cho các công ty trực thuộc không phải là tổchức tín dụng, có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập. • Các khoản đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần vào các doanhnghiệp, tổ chức kinh tế khác. • Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập ở các nướckhông thuộc khối OECD, có thời hạn còn lại từ 1 năm trở lên.Các khoản phải đòi đối với chính quyền Trung ương của các nước không thuộckhối OECD, trừ trường hợp cho vay bằng đồng bản tệ và nguồn cho vay cũngbằng đồng bản tệ của các nước đó. • Bất động sản, máy móc, thiết bị và tài sản cố định khác. • Các khoản phải đòi khác  Nhóm tài sản “Có” có hệ số rủi ro 150% gồm: • Các khoản cho vay để đầu tư vào chứng khoán; • Các khoản cho vay các công ty chứng khoán với mục đích kinh doanh,mua bán chứng khoán. • Các khoản cho vay các doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm“quyền kiểm soát.” b) Tài sản "Có" rủi ro của các cam kết ngoại bảng:  Các cam kết bảo lãnh, tài trợ cho khách hàng: * Hệ số chuyển đổi • Hệ số chuyển đổi 100%: Các cam kết không thể hủy ngang, thay thếhình thức cấp tín dụng trực tiếp, nhưng có mức độ rủi ro như cấp tín dụng trựctiếp, gồm: -24-
  • 25. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh  Bảo lãnh vay.  Bảo lãnh thanh toán.  Các khoản xác nhận thư tín dụng; Thư tín dụng dự phòng bảo lãnhtài chính cho các khoản cho vay, phát hành chứng khoán; Các khoản chấp nhậnthanh toán bao gồm các khoản chấp nhận thanh toán dưới hình thức ký hậu, trừcác khoản chấp nhận thanh toán hối phiếu. • Hệ số chuyển đổi 50%: Các cam kết không thể hủy ngang đối vớitrách nhiệm trả thay của tổ chức tín dụng, gồm:  Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.  Bảo lãnh dự thầu.  Bảo lãnh khác.  Thư tín dụng dự phòng ngoài thư tín dụng quy định tại mục trên  Các cam kết khác có thời hạn ban đầu từ 1 năm trở lên. • Hệ số chuyển đổi 20%: Các cam kết liên quan đến thương mại, gồm:  Thư tín dụng không hủy ngang.  Chấp nhận thanh toán hối phiếu thương mại ngắn hạn, có bảo đảmbằng hàng hóa.  Bảo lãnh giao hàng.  Các cam kết khác liên quan đến thương mại. • Hệ số chuyển đổi 0%:  Thư tín dụng có thể hủy ngang. -25-
  • 26. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh  Các cam kết có thể hủy ngang vô điều kiện khác, có thời hạn banđầu dưới 1 năm. * Hệ số rủi ro Hệ số rủi ro của giá trị các cam kết ngoại bảng sau khi chuyển đổi như sau: • Hệ số rủi ro 0%: Các giá trị cam kết ngoại bảng được Chính phủ ViệtNam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bảo lãnh hoặc được bảo đảm hoàn toàn bằngtiền mặt, sổ tiết kiệm, tiền ký quỹ, giấy tờ có giá do Chính phủ, Ngân hàng Nhànước Việt Nam phát hành: • Hệ số rủi ro 50%: Có tài sản bảo đảm bằng Bất động sản của bên vay • Hệ số rủi ro 100%: Trường hợp khác  Các hợp đồng giao dịch lãi suất và hợp đồng giao dịch ngoại tệ: *Hệ số chuyển đổi: • Hợp đồng giao dịch lãi suất:  Có kỳ hạn ban đầu dưới 1 năm: 0,5%  Có kỳ hạn ban đầu từ 1 năm đến dưới 2 năm: 1,0%  Có kỳ hạn ban đầu từ 2 năm trở lên: 1,0% cho phần kỳ hạn dưới 2năm cộng thêm (+) 1,0% cho mỗi năm tiếp theo. • Hợp đồng giao dịch ngoại tệ:  Có kỳ hạn ban đầu dưới 1 năm: 2,0%  Có kỳ hạn ban đầu từ 1 năm đến dưới 2 năm: 5,0%  Có kỳ hạn ban đầu từ 2 năm trở lên: 5,0% cho phần kỳ hạn dưới 2năm cộng thêm (+) 3,0% cho mỗi năm tiếp theo. -26-
  • 27. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh *Hệ số rủi ro: Hệ số rủi ro đối với giá trị các hợp đồng giao dịch lãi suất vàhợp đồng giao dịch ngoại tệ sau khi chuyển đổi nêu trên là 100%. c) Theo quy định của NHNN Việt Nam các tổ chức tín dụng, trừ chi nhánhngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tàisản "Có" rủi ro. Hệ số này càng cao thì sức chịu đựng rủi ro của ngân hàng cànglớn.1.2.2.2. Giới hạn tín dụng đối với khách hàng. a) Giới hạn cho vay, bảo lãnh:  Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng khôngđược vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một kháchhàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng.  Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàngcó liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đómức cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tại mụctrên. Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một nhómkhách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của tổ chức tíndụng.  Tổng dư nợ cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với mộtkhách hàng tối đa không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài. Tổng mức cho vay và bảo lãnh của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đốivới một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của ngân hàng nướcngoài. -27-
  • 28. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Tổng dư nợ cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với nhómkhách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng nướcngoài, trong đó mức cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15%vốn tự có của ngân hàng nước ngoài. Tổng mức cho vay và bảo lãnh của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đốivới một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có củangân hàng nước ngoài. b) Giới hạn cho thuê tài chính:  Tổng mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượtquá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính.  Tổng mức cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng có liên quankhông được vượt quá 80% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính, trong đó mứccho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tạimục trên. c) Các giới hạn trên không áp dụng đối với trường hợp sau đây:  Các khoản cho vay, cho thuê tài chính từ các nguồn vốn ủy thác củaChính phủ, của các tổ chức khác.  Các khoản cho vay đối với Chính phủ Việt Nam.  Các khoản cho vay các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam, cóthời hạn dưới 1 năm.  Các khoản cho vay có bảo đảm bằng trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếudo Chính phủ các nước thuộc khối OECD phát hành.  Các khoản cho vay có bảo đảm đầy đủ bằng tiền gửi, kể cả tiền gửi tiếtkiệm, tiền ký quỹ tại tổ chức tín dụng. -28-
  • 29. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh  Các khoản cho vay có bảo đảm đầy đủ bằng chứng khoán nhận nợ dochính tổ chức tín dụng phát hành.  Các khoản cho vay vượt mức 15% vốn tự có đã được Thủ tướng Chínhphủ quyết định cụ thể; các khoản cho vay và bảo lãnh vượt mức 25% vốn tự cócủa tổ chức tín dụng đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận trước bằng văn bản.1.2.2.3. Tỷ lệ về khả năng chi trả a) Tổ chức tín dụng phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả đốivới từng loại đồng tiền, vàng như sau:  Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản "Có" có thể thanh toán ngay vàcác tài sản "Nợ" sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo.  Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản "Có" có thể thanh toán ngay trongkhoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản Nợ phải thanh toántrong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo. b) Tài sản "Có" có thể thanh toán ngay bao gồm:  Tiền mặt.  Vàng.  Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước.  Số chênh lệch lớn hơn giữa tiền gửi không kỳ hạn tại tổ chức tín dụngkhác và tiền gửi không kỳ hạn nhận của tổ chức tín dụng đó.  Tiền gửi có kỳ hạn tại tổ chức tín dụng khác đến hạn thanh toán.  Các loại chứng khoán do Chính phủ Việt Nam phát hành hoặc đượcChính phủ Việt Nam bảo lãnh  Các loại chứng khoán do Chính phủ các nước thuộc khối OECD pháthành -29-
  • 30. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh  Các loại chứng khoán do các ngân hàng của các nước thuộc khối OECDphát hành.  Các hối phiếu của bộ chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu đã được ngânhàng nước ngoài chấp nhận thanh toán, có thời hạn còn lại từ 01 tháng trở xuống:100% số tiền ghi trên hối phiếu.  80% các khoản cho vay có bảo đảm, cho thuê tài chính, sẽ đến hạn thanhtoán (gốc, lãi) trong thời gian 1 tháng.  75% các khoản cho vay không có bảo đảm, đến hạn thanh toán.  Các loại chứng khoán khác.  Các khoản khác đến hạn phải thu. c) Tài sản "Nợ" phải thanh toán bao gồm:  Số chênh lệch lớn hơn giữa tiền gửi nhận của tổ chức tín dụng khác vàtiền gửi tại tổ chức tín dụng đó đến hạn thanh toán.  15% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức (trừ tiền gửi của tổ chức tín dụngkhác), cá nhân.  Giá trị các cam kết cho vay của tổ chức tín dụng đến hạn thực hiện.  Tất cả các tài sản "Nợ" khác sẽ đến hạn thanh toán.1.2.2.4. Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạnvà dài hạn a) Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn tổ chức tín dụng được sử dụng để chovay trung hạn và dài hạn:  Ngân hàng thương mại: 40%  Tổ chức tín dụng khác: 30% -30-
  • 31. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh b) Nguồn vốn ngắn hạn của tổ chức tín dụng được sử dụng để cho vay trunghạn và dài hạn bao gồm:  Tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 12 tháng của tổ chức (kể cả tổchức tín dụng khác), cá nhân.  Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 12 tháng của cá nhân.  Nguồn vốn huy động dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn.  Phần chênh lệch lớn hơn giữa số tiền vay của tổ chức tín dụng khác vàtiền cho tổ chức tín dụng đó vay có kỳ hạn dưới 12 tháng.* Nếu Tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung hạn và dàihạn cao hơn tỷ lệ quy định trên thì phải có văn bản đề nghị Ngân hàng Nhà nướcchấp thuận, trong đó nêu rõ lý do, tỷ lệ tối đa và các biện pháp quản lý đáp ứngkhả năng chi trả. Ngân hàng Nhà nước chỉ có thể xem xét, chấp thuận đề nghị nóitrên của tổ chức tín dụng đã tuân thủ các tỷ lệ khác về bảo đảm an toàn trong hoạtđộng ngân hàng, có tỷ lệ nợ xấu (NPL) dưới 3% tổng dư nợ và có hệ thống quản lýtài sản "Có", tài sản"Nợ" tốt.1.2.2.5. Giới hạn góp vốn, mua cổ phần a) Mức đầu tư vào một khoản đầu tư thương mại của tổ chức tín dụng tối đakhông được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư hoặc 11% giátrị dự án đầu tư. b) Tổng mức đầu tư trong tất cả các khoản đầu tư thương mại của tổ chức tíndụng không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng. c) Tổ chức tín dụng đầu tư vào một khoản đầu tư thương mại vượt quá tỷ lệquy định ở mục a) thì phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận trước bằng vănbản với điều kiện khoản đầu tư đó là hợp lý và tổ chức tín dụng đã chấp hành các -31-
  • 32. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhtỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng, có tỷ lệ nợ xấu (NPL) từ 3% tổng dư nợtrở xuống.1.2.3.Quản lý vốn chủ sở hữu Quản lý vốn chủ sở hữu thực chất là xác định qui mô và cấu trúc VCSH saocho phù hợp với yêu cầu kinh doanh, qui định của Luật pháp, đồng thời tìm cácbiện pháp tăng VCSH một cách có hiệu quả trên quan điểm lợi ích của chủ sở hữu.1.2.3.1. Xác định quy mô của VCSH (Vốn tự có)* Ta có công thức xác định vốn tự có Vốn tự có = Vốn tự có cấp 1 + Vốn tự có cấp 2* Ta có công thức xác định vốn tự có để tính tỷ lệ an toàn tối thiểu: Vốn tự có = Vốn tự có cấp 1 + Vốn tự có cấp 2 – Các khoản giảm trừTrong đó: Vốn tự có cấp 1, vốn tự có cấp 2 và các khoản giảm trừ đã được trìnhbày ở mục 1.1.1.1.1.2.3.2. Các biện pháp gia tăng VCSH a) Phát hành cổ phiếu Phát hành cổ phiếu là biện pháp dành riêng cho các ngân hàng thương mại cổphần. Biện pháp được các ngân hàng thương mại cổ phần sử dụng rất phổ biếntrong giai đoạn này để tăng vốn. -32-
  • 33. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Có hai hình thức chủ yếu là phát hành cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông)hoặc cổ phiếu ưu đãi.  Cổ phiếu thường(CP phổ thông): Là một loại chứng khoán được pháthành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi íchhợp pháp của cổ đông thường đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần.Cổ phiếu thường cho phép cổ đông thường được hưởng các quyền lợi đối với côngty như quyền biểu quyết những vấn đề liên quan đến quản lý công ty, quyền đượchưởng cổ tức cao từ lợi nhuận sau thuế...  Cổ phiếu ưu đãi: là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông ưuđãi đối với phần vốn góp vào công ty cổ phần; đồng thời cho phép cổ đông ưu đãiđược hưởng một số quyền ưu đãi lớn hơn so với các cổ đông thường như: ưu đãivề cổ tức( nhận cổ tức theo mức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinhdoanh,tích luỹ cổ tức...),chuyển đổi thành cổ phiếu thường (đối với cổ phiếu ưuđãi chuyển đổi)... Các ngân hàng cổ phần tuỳ thuộc vào nhu cầu cụ thể của mình mà có thể pháthành thêm cổ phiếu thường hay cổ phiếu ưu đãi. *Ưu điểm của biện pháp tăng vốn bằng cổ phiếu:  Việc phát hành cổ phiếu vừa giúp các ngân hàng tăng quy mô vốn kinhdoanh dài hạn lại vừa giúp các ngân hàng tránh được nghĩa vụ nợ nần, không phảilo việc trả vốn gốc và lãi.  Khi sử dụng biện pháp này sẽ giúp các ngân hàng thương mại tăng quymô vốn chủ sở hữu do đó làm thay đổi kết cấu các loại vốn ( kết cấu giữa vốn chủsở hữu / nợ phải trả, vốn thường xuyên(dài hạn) / vốn tạm thời(ngắn hạn)...).Nhưvậy, làm tăng độ vững chắc về tài chính của ngân hàng, tăng hệ số đảm bảo nợ,tăng độ tín nhiệm của ngân hàng... từ đó giúp tăng khả năng vay vốn, huy độngvốn của ngân hàng trong tương lai. -33-
  • 34. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh  Vì cổ phiếu đại diện cho quyền sở hữu của người nắm giữ cổ phiếutrong ngân hàng và việc phân chia cổ tức cho cổ đông không phải là cố định màtuỳ thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng nên các ngân hàng thường có độchủ động cao hơn trong việc sử dụng vốn thu được do phát hành cổ phiếu. *Nhược điểm của biện pháp tăng vốn bằng cổ phiếu:  Việc phát hành cổ phiếu (đặc biệt là cổ phiếu thường) ra công chúng sẽlàm tăng số cổ đông sở hữu ngân hàng và như vậy dẫn tới việc phân chia quyềnkiểm soát và quyền biểu quyết. Điều này dẫn đến bất lợi cho các cổ đông hiệnhành.  Vì cổ phiếu liên quan đến cổ tức nên việc phát hành thêm cổ phiếu mớira công chúng đồng nghĩa với việc các cổ đông hiện hành sẽ phải chia sẻ một phầnlợi ích của mình với cổ đông mới. Để giảm thiểu nhược điểm này các ngân hàngcần phải sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn tăng thêm do phát hành cổ phiếu,tạo ra một tỉ suất lợi nhuận cao để đảm bảo việc chi trả cổ tức cho các cổ đông.  Khác với các hình thức vay vốn thì lãi phải trả được tính vào chi phí khitính thuế thu nhập doanh nghiệp nên giảm được khoản thuế phải nộp cho nhànước, thì cổ tức chi trả cho cổ đông lại lấy từ lợi nhuận sau thuế. Đặc điểm này sẽảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sử dụng vốn cổ phiếu - yếu tố quan trọng mà cácngân hàng phải cân nhắc khi lựa chọn các giải pháp tăng vốn. b) Phát hành trái phiếu Trái phiếu ngân hàng là chứng chỉ vay vốn do các ngân hàng phát hành, thểhiện nghĩa vụ và sự cam kết của ngân hàng về thanh toán số lợi tức tiền vay chongười nắm giữ trái phiếu vào những thời hạn đã xác định và hoàn trả khoản vayban đầu khi trái phiếu đáo hạn.  Tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu dài hạn: -34-
  • 35. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Đây là biện pháp hiệu quả để tăng cường năng lực tài chính của ngân hàngđáp ứng những nhu cầu trước mắt, nhưng về bản chất đây chỉ là tăng vốn tự cótrên danh nghĩa, còn về lâu dài sẽ là một gánh nặng nợ nần, đồng thời chi phí vốncao sẽ làm suy giảm mức lợi nhuận của ngân hàng.  Tăng vốn bằng phát hành trái phiếu chuyển đổi: Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu thường vàomột thời điểm xác định trong tương lai. Loại trái phiếu này vừa có đặc điểm của trái phiếu là được trả một mức lãisuất cố định, nhưng mặt khác lại có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu thườngcủa ngân hàng và đây cũng chính là điểm hấp dẫn của trái phiếu chuyển đổi. *Một số lợi điểm khi phát hành trái phiếu:  Lãi suất (hay lợi tức) phải trả cho trái phiếu thường được cố định trướcvà được tính vào chi phí kinh doanh của ngân hàng nên sẽ giúp các ngân hànggiảm được một khoản thuế phải nộp đồng thời giúp nâng cao mức doanh lợi vốnchủ sở hữu.  Vì trái phiếu là chứng khoán nợ nên ngân hàng không phải phân chiaquyền kiểm soát cho các trái chủ ; số lượng cổ phiếu không tăng nên thu nhập trênmỗi cổ phần được đảm bảo.  Vì là nợ phải trả có kỳ hạn nên ngân hàng có thể thay đổi cơ cấu vốnkinh doanh một cách linh hoạt, chủ động thông qua việc ngừng phát hành tráiphiếu hoặc mua lại các trái phiếu đang lưu hành.  Khi phát hành trái phiếu chuyển đổi, ngân hàng có thể định một mức lãisuất cố định thấp hơn của trái phiếu không có khả năng chuyển đổi. *Một số nhược điểm khi phát hành trái phiếu: -35-
  • 36. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh  Ngân hàng sẽ chịu sức ép về nợ nần, phải thanh toán các khoản nợ gốcvà lãi khi tới hạn  Hệ số nợ của ngân hàng sẽ tăng lên khi phát hành thêm trái phiếu.  Trái phiếu chuyển đổi cũng sẽ mang đến một số bất lợi có thể có chongân hàng và các cổ đông của ngân hàng khi trái phiếu được chuyển đổi thành cổphiếu, vốn chủ sở hữu bị “pha loãng” do tăng số lượng cổ phiếu lưu hành, từ đógây ra sự thay đổi trong việc kiểm soát ngân hàng; nợ của ngân hàng giảm thôngqua chuyển đổi sẽ làm mất đi sự cân bằng của cán cân nợ-vốn. c) Lợi nhuận giữ lại Sau mỗi kỳ kinh doanh, số lợi nhuận thu được sau khi nộp thuế cho nhà nướcđược phân chia một phần cho các chủ sở hữu dưới dạng cổ tức, một phần được giữlại tại ngân hàng để bổ xung vốn kinh doanh. Tỷ lệ phân chia cổ tức cho cổ đông và giữ lại để tăng vốn cho ngân hàng phụthuộc vào chính sách phân chia cổ tức của từng ngân hàng thương mại và đây làmột trong những chính sách tài chính quan trọng của các ngân hàng. Việc giữ lại lợi nhuận để tăng vốn cho ngân hàng là hình thức tích luỹ vốn đểtái đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh được tất cả các ngân hàng thương mại ápdụng. Tuy nhiên việc giữ lại nhiều hay ít, một phần hay toàn bộ lợi nhuận đòi hỏicác ngân hàng cần phải có những tính toán sao cho hợp lý, phù hợp với mục tiêuvà kế hoạch của ngân hàng mình.  Khi tỷ lệ lợi nhuận giữ lại ở mức cao sẽ càng đẩy mạnh quá trình tíchluỹ vốn và làm giảm yêu cầu huy động vốn từ bên ngoài; do đó làm giảm mức độphụ thuộc vào các nguồn cung cấp từ bên ngoài, dẫn đến giảm rủi ro tài chính chongân hàng. Tuy nhiên, việc này dẫn đến làm giảm thu nhập của cổ đông, nếu kéodài sẽ ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu cũng như lòng tin của các nhà đầu tư. -36-
  • 37. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh  Ngược lại, khi tỷ lệ lợi nhuận giữ lại ở mức thấp do tỷ lệ chi trả cổ tứccao sẽ dẫn đến tăng trưởng vốn chậm chạp, có thể làm giảm khả năng mở rộng tàisản sinh lời, tăng rủi ro phá sản. Vì vậy, nếu một ngân hàng có tỷ lệ lợi nhuận giữ lại để bổ sung vốn tự có ổnđịnh qua các năm và tương ứng với tốc độ tăng trưởng tài sản có thì chứng tỏ ngânhàng đang có một sự phát triển ổn định, thể hiện mức độ ủng hộ cao của các cổđông đối với chính sách cổ tức của ban lãnh đạo ngân hàng. d) Cổ phần hoá Đây là biện pháp tăng vốn của các ngân hàng thương mại nhà nước. Thựcchất của việc cổ phần hoá là việc chuyển đổi hình thức sở hữu từ sở hữu nhà nướcsang cổ phần bằng biện pháp phát hành cổ phiếu. Trong thời kỳ kinh tế ngày càng phát triển, vấn đề hội nhập càng ngày càngtrở nên cấp thiết hơn đòi hỏi các ngân hàng cần phải có một tiềm lực tài chính thậtlớn mạnh mà nếu chỉ trông chờ vào phần vốn cấp của nhà nước thì không đủ. Khi cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước trở thành các ngânhàng thương mại cổ phần nhà nước sẽ có rất nhiều lợi thế:  Tăng quy mô vốn của ngân hàng lên và đa dạng thêm nhiều nguồn bổxung vốn như: Vốn của nhân dân, nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn tài chính...  Khi các nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn tài chính lớn trở thành cổđông, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước có thể được tiếp xúc với cáchthức quản lý mới, khoa học công nghệ mới...nhằm nâng cao năng lực cạnh tranhcủa ngân hàng. Tuy trở thành ngân hàng thương mại cổ phần song lượng cổ phần bán ra tốiđa cho các nhà đầu tư là 49%, tức là nhà nước vẫn chiếm cổ phần cao hơn là 51%,nên vẫn có thể kiểm soát hoạt động của ngân hàng theo chiến lược của mình. -37-
  • 38. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh1.2.3.3. Hiệu quả sử dụng VCSH a) Đo lường hiệu quả sử dụng VCSH Hiệu quả sử dụng VCSH = Lợi nhuận sau thuế / VCSH b) Các tỷ lệ liên quan VCSH* Các tỷ lệ an toàn: Tiền gửi/VCSH; Dư nợ/VCSH; Dư nợ tối đa/VCSH;VCSH/Tổng tài sản chuyển đổi theo hệ số rủi ro... Đã trình bày ở mục 1.2.2.1.2.4.Quản lý vốn nợ (quản lý vốn huy động, vốn vay, và các vốn khác)1.2.4.1.Quản lí qui mô và cơ cấu nợ* Quản lí qui mô và cơ cấu nhằm đưa ra và thực hiện các biện pháp để gia tăng quimô và thay đổi cơ cấu một cách có hiệu quả nhất.* Gia tăng nguồn theo chuẩn mực nào đó là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạtđộng của ngân hàng, là điều kiện để ngân hàng mở rộng qui mô hoạt động, nângcao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn. Cơ cấu nợ ảnh hưởng tới cơcấu tài sản và quyết định chi phí của ngân hàng. Quản lí qui mô và cơ cấu nợ gồmcác nội dung: + Thống kê đầy đủ, kịp thời các thay đổi về các loại nguồn, tốc độ quay vòngcủa mỗi loại. + Phân tích kỹ lưỡng các nhân tố gắn liền với thay đổi đó (các nhân tố ảnhhưởng và bị ảnh hưởng) + Lập kế hoạch nguồn cho từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu sử dụng. -38-
  • 39. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Công tác thống kê nguồn sẽ cho các nhà quản lí nghiên cứu mối quan hệ giữasố lượng, cấu trúc nguồn với các nhân tố ảnh hưởng cũng như thấy được đặc tínhcủa thị trường nguồn của ngân hàng. Trong điều kiện cụ thể, các nguồn của một ngân hàng có thể có tốc độ và quimô thay đổi khác nhau. Các ngân hàng lớn có qui mô nguồn lớn và tốc độ tăngtrưởng nguồn có thể không cao như các ngân hàng nhỏ. Những ngân hàng ở trungtâm tiền tệ có cơ cấu nguồn khác với ngân hàng ở xa. Những nhân tố ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi qui mô và kết cấu của nguồntiền thường xuyên thay đổi và cần phải được nghiên cứu kĩ lưỡng. Đây là cơ sở đểngân hàng đưa ra các quyết định phù hợp để thay đổi qui mô và kết cấu nguồntiền. Vào dịp gần Tết, qui mô của tiền gửi tiết kiệm có thể giảm xuống tương đối;hoặc nếu ngân hàng phục vụ chủ yếu các doanh nghiệp xâu lắp, tiền gửi của họtăng giảm phụ thuộc nhiều vào mùa xây dựng. Từ đó, ngân hàng cần phân biệt cácloại khách hàng gắn với qui mô và tốc độ gia tăng của mỗi nguồn. Các kháchhàng, hoặc nhóm khách hàng có tiền gửi lớn cần được đặc biệt chú ý, các nhómkhách hàng truyền thống, các nhóm khách hàng nhạy cảm với những thay đổi vềcông nghệ, lãi suất và chất lượng dịch vụ kèm theo cần phải được nghiên cứu cụthể. Nhà quản lí cũng cần xem xét thị phần nguồn tiền của các ngân hàng khác trênđịa bàn và khả năng cạnh tranh của họ. Kế hoạch nguồn cần được xây dựng cho từng giai đoạn, bao gồm kế hoạch giatăng qui mô của mỗi nguồn, nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay, đầu tư hoặc nhu cầuchi trả cho các doanh nghiệp và dân chúng, khả năng thay đổi cơ cấu nguồn, hoặctìm kiếm nguồn mới. Kế hoạch nguồn được đặt trong kế hoạch sử dụng và lợinhuận kỳ vọng, bao gồm kế hoạch về lãi suất, mở chi nhánh hoặc điểm huy động,loại nguồn, tiếp thị...1.2.4.2.Quản lý lãi suất chi trả -39-
  • 40. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh* Quản lý lãi suất của các khoản nợ là xác định các loại và cơ cấu lãi suất trả chocác nguồn tiền khác nhau nhằm đảm bảo duy trì qui mô và kết cấu nguồn phù hợpvới yêu cầu sinh lợi của ngân hàng.* Quản lý lãi suất của các khoản nợ là một bộ phận trong quản lí chi phí của ngânhàng. Lãi suất chi trả càng cao càng có thể huy động được lớn, từ đó mà mở rộngcho vay và đầu tư. Tuy nhiên, lãi suất cao làm gia tăng chi phí của ngân hàng vànếu doanh thu không tăng kịp chi phí, lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm tương ứng.Vì vậy, quản lý lãi suất của nguồn vốn có liên quan chặt chẽ với quản lý lãi suấtcho vay và đầu tư của ngân hàng.* Nội dung quản lý lãi suất: + Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất huy động. + Đa dạng hóa lãi suất Lãi suất huy động gắn liền với mỗi loại sản phẩm của ngân hàng và với mỗingân hàng. Lãi suất huy động thay đổi thường xuyên dưới ảnh hưởng của nhiềunhân tố: + Khả năng tiết kiệm và gia tăng tiết kiệm của quốc gia + Nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp, Nhà nước và hộ gia đình. + Tỷ lệ lạm phát. + Tỷ lệ sinh lời của các hoạt động đầu tư khác. + Trình độ phát triển của thị trường tài chính. + Khả năng sinh lời của ngân hàng. + Độ an toàn của các ngân hàng. -40-
  • 41. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Trên cơ sở sự tác động của hàng loạt các yếu tố, hình thành nên lãi suất huyđộng của ngân hàng thương mại. Lãi suất huy động tại mỗi ngân hàng được phânbiệt theo nhiều hình thức khác nhau: + Lãi suất phân biệt theo thời gian: Thời gian huy động càng dài thì lãi suấtcàng cao. + Lãi suất phân biệt theo loại tiền. + Lãi suất phân biệt theo mục đích gửi, theo mục đích huy động. + Lãi suất phân biệt theo rủi ro của ngân hàng: Các ngân hàng nhỏ, hoặc ngânhàng tư nhân lãi suất cao hơn các ngân hàng lớn hoặc ngân hàng của Nhà nước. + Lãi suất phân biệt theo các dịch vụ đi kèm, ví dụ như tiết kiệm có thưởng,tiết kiệm bảo hiểm lãi suất thấp hơn tiết kiệm khác. + Lãi suất phân biệt theo qui mô... Nhìn chung, tiện ích mà ngân hàng cung cấp cho người gửi tiền và người chovay càng cao thì lãi suất càng thấp. Một số nguồn tiền lãi suất ngân hàng trả bằngkhông và người gửi phải trả chi phí để được hưởng tiện ích của ngân hàng. Cónhiều mức lãi suất danh nghĩa khác nhau tuỳ theo tính chất của từng khoản nợ, đólà các mức lãi suất cá biệt. Trong quá trình cạnh tranh để mở rộng nguồn tiền, cácngân hàng đều cố gắng tạo ra các ưu thế của riêng m.nh trong đó có ưu thế về lãisuất cạnh tranh. Một ngân hàng có thể đưa ra lãi suất danh nghĩa cao hơn các ngânhàng khác, tức là đã tạo ra lãi suất cạnh tranh nhằm thu hút thêm nguồn tiền mới.Tuy nhiên ngân hàng này cũng có thể tạo lãi suất cạnh tranh bằng các phươngpháp khác như trả lãi làm nhiều lần trong kỳ hoặc trả lãi trước. Khi trả lãi nhiều lần trong kỳ, lãi suất tương đương (A) sẽ lớn hơn lãi suấtdanh nghĩa mà ngân hàng cam kết trả. A (còn được kí hiệu NEC) = (1+i/n)n – 1 -41-
  • 42. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan HạnhTrong đó: i là lãi suất danh nghĩa trong kỳ; n là số lần trả lãi trong kỳ.Khi trả lãi trước, lãi suất tương đương với trả lãi sau (B) cũng lớn hơn lãi suấtdanh nghĩa trả trước: B (còn được kí hiệu NEC) = i/(1-i)Trong đó: i là lãi suất trả trướcCác ngân hàng thường sử dụng phương pháp trên trong điều kiện bị khống chế vềlãi suất tối đa, hoặc để thay đổi tạm thời qui mô của khoản mục chi phí trả lãitrong kỳ.Để phục vụ cho việc quản lý chi phí trả lãi và hoạch định các mức lãi suất cạnhtranh (gồm lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay), các ngân hàng thường tính toánlãi suất bình quân.(1) Lãi suất bình quân của một nguồn hay một nhóm nguồn trong kỳ.(2) Lãi suất bình quân của các nguồn phải trả lãi tại một thời điểm hoặc trong kỳ.Lãi suất bình quân cho thấy xu hướng thay đổi lãi suất của nguồn, mức độ thay đổilãi suất mỗi nguồn, sự kết hợp giữa lãi suất cá biệt và tỷ trọng mỗi nguồn; nó cũngcho thấy những nguồn đắt tương đối (lãi suất cá biệt > lãi suất bình quân) và cácnguồn rẻ tương đối (lãi suất cá biệt < lãi suất bình quân). Điều này rất có ý nghĩađối với hoạch định chiến lược nguồn vốn.1.2.4.3.Quản lý kỳ hạn* Quản lý kỳ hạn là xác định kỳ hạn của nguồn phù hợp với yêu cầu về kỳ hạn củangười sử dụng, đồng thời tạo sự ổn định của nguồn.* Nội dung quản lý kỳ hạn: + Xác định kỳ hạn danh nghĩa của nguồn và các nhân tố ảnh hưởng. + Xác định kỳ hạn thực của nguồn và các nhân tố ảnh hưởng. -42-
  • 43. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh + Xem xét khả năng chuyển hoán kỳ hạn của nguồn.* Kỳ hạn danh nghĩa Nguồn huy động thường gắn liền với kỳ hạn nhất định, được ngân hàng tuyênbố, đó là kỳ hạn danh nghĩa của nguồn. Ví dụ, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, 3tháng, 6 tháng... Các kỳ hạn danh nghĩa thường gắn với một mức lãi suất nhấtđịnh, theo xu hướng nguồn của kỳ hạn danh nghĩa càng dài thì lãi suất càng cao.Trong trường hợp bình thường (không có khủng hoảng xảy ra) cũng có một sốngười gửi rút tiền trước kỳ hạn, song nhìn chung người gửi đều cố gắng duy trì kỳhạn danh nghĩa để hưởng lãi suất ở mức cao nhất. Do vậy, kỳ hạn danh nghĩa làmột chỉ tiêu phản ánh tính ổn định của nguồn vốn. Việc xác định kỳ hạn danh nghĩa có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động củangân hàng. Kỳ hạn liên quan tới tính ổn định và vì vậy liên quan đến kỳ hạn của sửdụng. Để cho vay và đầu tư dài hạn, ngân hàng cần có khả năng duy trì tính ổnđịnh của nguồn tiền. Mặt khác kỳ hạn liên quan tới chi phí: Các nguồn có tính ổnđịnh cao thường phải có chi phí duy trì cao. Quản lí kỳ hạn, vì vậy là một nội dungđảm bảo an toàn và sinh lợi cho ngân hàng. Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ hạndanh nghĩa là: Thu nhập; Ổn định vĩ mô; Khả năng chuyển đổi của giấy nợ; Kỳhạn cho vay và đầu tư...Trong đó, mức thu nhập của dân chúng là yếu tố quantrọng. Các khoản tiền gửi và vay với kỳ hạn dài (trên 1 năm) thường là của dân cư.Do vậy, khi thu nhập của dân cư thấp, mức tiết kiệm cũng thấp, hạn chế khả năngcho vay và gửi ngân hàng với kỳ hạn dài. Lạm phát cao, tỷ giá biến động theohướng không có lợi cho người gửi nội tệ... đều hạn chế việc kéo dài kỳ hạn danhnghĩa. Thị trường tài chính kém phát triển, khả năng chuyển đổi của các giấy nợthấp (tính thanh khoản của các giấy nợ thấp), việc phát hành giấy nợ với kỳ hạntrên 1 năm rất khó khăn.* Kỳ hạn thực tế -43-
  • 44. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới kỳ hạn danh nghĩa tạo cơ sở để ngânhàng đưa ra kỳ hạn huy động phù hợp với thị trường. Tuy nhiên, ngân hàng quantâm hơn tới kỳ hạn thực tế của nguồn tiền bởi nó liên quan chặt chẽ đến kỳ hạn cáckhoản cho vay và đầu tư. Kỳ hạn thực tế của khoản tiền gửi là thời gian mà khoản tiền tồn tại liên tục tạimột đơn vị ngân hàng. Các nhân tố ảnh hưởng đến kỳ hạn danh nghĩa đều tác độngđến kỳ hạn thực tế. Bên cạnh đó, nhu cầu chi tiêu đột xuất và lãi suất cạnh tranhgiữa các ngân hàng, lãi suất giữa các nguồn tiền khác nhau cũng ảnh hưởng lớn tớikỳ hạn này. Sự thay đổi lãi suất sẽ gây ra sự dịch chuyển tiền gửi từ ngân hàng nàysang ngân hàng khác, từ kỳ hạn này sang kỳ hạn khác, từ loại tiền này sang loạitiền khác, làm giảm kỳ hạn thực tế của loại tiền gửi. Một nguồn tiền nào đó trong ngân hàng được tạo ra bởi sự tiếp nối liên tụccủa các khoản huy động và đi vay. Do đó, một nguồn với kỳ hạn danh nghĩa làngắn hạn, có thể tồn tại liên tục trong nhiều năm, tức là nguồn có kỳ hạn thực tế làtrung và dài hạn. Phân tích và đo lường kỳ hạn thực tế của nguồn tiền là cơ sở đểngân hàng quản lí thanh khoản, chuyển hoán kỳ hạn của nguồn, sử dụng các nguồncó kỳ hạn ngắn để cho vay với kỳ hạn dài hơn. Phương pháp cơ bản để phân tích kỳ hạn thực tế là dựa trên số liệu thống kêđể thấy sự biến động số dư của mỗi nguồn vốn, của nhóm nguồn, tìm số dư thấpnhất trong quí, trong năm, trong nhiều năm và các nhân tố ảnh hưởng đến sự thayđổi, từ đó, người quản lý đo được kỳ hạn thực gắn liền với các số dư. Quản lý kỳhạn luôn gắn liền với quản lý lãi suất. Một sự gia tăng trong lãi suất nguồn, đềuliên quan tới không chỉ tăng qui mô của nguồn, mà còn tới tính ổn định của nguồngiữa các ngân hàng, tính ổn định của nguồn trong từng ngân hàng. Lựa chọn cơcấu lãi suất sao cho vừa đảm bảo gia tăng tổng nguồn, tiết kiệm chi phí, lại vừatăng tính ổn định của nguồn là nội dung quản lí nguồn vốn của ngân hàng. Cáccách khác nhau để cải tiến sự ổn định của khoản nợ. -44-
  • 45. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh + Dựa vào loại những tiền gửi chủ yếu - tiền gửi giao dịch hoặc tiền tiết kiệm.Mặc dù tiền gửi phải hoàn trả theo yêu cầu, song nó tương đối ổn định. Các ngânhàng lớn ngày nay đang cố gắng tăng tiền gửi để giảm vay. + Xây dựng mối liên hệ với người gửi lớn sao cho họ tránh rút tiền gửi tronglúc khủng hoảng. + Đa dạng hóa các nguồn tiền tức là huy động từ nhiều nguồn khác nhau. Điềunày sẽ giảm sự phụ thuộc của ngân hàng vào một khách hàng. + Phát triển quản lý tài sản bên cạnh quản lí các khoản nợ.1.2.4.4. Phân tích tính thanh khoản của nguồn vốn Đối với nhiều ngân hàng, phân tích tính thanh khoản của nguồn vốn đang trởthành trọng tâm quản lý nguồn vốn. Tính thanh khoản của nguồn vốn được đobằng khả năng tìm kiếm nguồn vốn mới với chi phí và thời gian nhỏ nhất. Nhiềungân hàng lớn, do thực hiện chuyển hoán kỳ hạn của nguồn (nguồn với kỳ hạnngắn được chuyển sang đầu tư hoặc cho vay với kỳ hạn dài hơn) và duy trì tỷ lệ dựtrữ thấp, rất quan tâm tới khả năng tìm kiếm nguồn vốn mới để đáp ứng nhu cầuthanh khoản, đặc biệt là các nguồn trong ngắn hạn. Tính thanh khoản của nguồn tuỳ thuộc rất lớn vào thị trường nợ của mỗi ngânhàng và chính sách tiền tệ đang được vận hành. Nhìn chung các ngân hàng lớn, cónhiều chi nhánh và gần các trung tâm tiền tệ có nhiều khả năng tìm kiếm cácnguồn nhanh chóng hơn là các ngân hàng nhỏ, ít chi nhánh và ở xa. Hơn nữa, sựphát triển của các công cụ nợ sẽ cho phép các ngân hàng có nhiều cơ hội tiếp xúcvới các nguồn. Do vậy tại các nước mà thị trường nợ kém phát triển, tính thanhkhoản của nguồn vốn của các ngân hàng cũng bị giảm thấp. Phân tích tính thanh khoản của nguồn vốn bắt đầu từ việc phân tích thị trườngnguồn vốn của mỗi ngân hàng để thấy đặc điểm của mỗi nguồn (như qui mô, tốc -45-
  • 46. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhđộ tăng trưởng, vòng quay, lãi suất và sự biến đổi của lãi suất, tỷ trọng thị trườngcủa ngân hàng so với các tổ chức tín dụng khác...). Ngân hàng cần tập trung phântích nguồn vay mượn từ ngân hàng Nhà nước và từ các tổ chức tín dụng khác. Cácnguồn này tuy ngắn hạn song có thể có được trong thời gian ngắn, nhằm đáp ứngnhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn. Các nguồn mà ngân hàng có ưu thế cũng cầnđược xem xét.1.2.4.5. Phát triển các công cụ nợ mới Lịch sử phát triển của các ngân hàng cũng là lịch sử phát triển các công cụnợ. Bên cạnh vay ngân hàng Nhà nước và vay trên thị trường liên ngân hàng trongnước, các ngân hàng đang vươn tay tới thị trường liên ngân hàng quốc tế. Nhiềungân hàng đang phát triển và sử dụng các chứng chỉ tiền gửi, các hợp đồng muabán lại, các giấy nợ ngân hàng. Cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàngvà giữa các tổ chức ngân hàng và phi ngân hàng, cách mạng công nghệ đang làmcho thị trường tài chính liên tục phát triển và tạo ra các sản phẩm mới. Trong quá trình phát triển và hội nhập, thị trường các công cụ nợ của các ngânhàng thương mại Việt Nam đang có những bước tiến quan trọng. Các công cụ nợtruyền thống đang được mở rộng: Tiền gửi thanh toán đang được khuếch trương,hướng tới mục tiêu là các tầng lớp dân cư. Mở rộng qui mô, kéo dài kỳ hạn, đadạng hóa các loại tiền gửi tiết kiệm nhằm huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi trongdân cư đang là hoạt động trọng tâm của ngân hàng. Dân chúng đã biết đến ngânhàng như là nơi đảm bảo an toàn và sinh lợi cho các khoản tiền tiết kiệm của họ.Ngoài loại hình tiết kiệm ngắn hạn bằng nội tệ truyền thống, các ngân hàng thươngmại Việt Nam đã đưa ra các loại tiền gửi bằng ngoại tệ hoặc đảm bảo bằng ngoạitệ, tiền gửi trên 12 tháng. Bên cạnh huy động tiết kiệm, nhiều ngân hàng đã pháthành kỳ phiếu, trái phiếu (có loại có thể chuyển đổi), tạo công cụ nợ mới, làmphong phú thị trường nguồn vốn của các ngân hàng. -46-
  • 47. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh -47-
  • 48. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA NHTM VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua gần 20 năm đổi mới và pháttriển từ hệ thống ngân hàng 1 cấp sang hệ thống ngân hàng 2 cấp, đến nay đãkhẳng định được sự phát triển vượt bậc. Từ năm 2007, Việt Nam chính thức trởthành thành viên của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), điều này đã tạo môitrường thuận lợi cho hệ thống ngân hàng Việt Nam đẩy nhanh tiến trình cải cách,đổi mới và phát triển.Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó, thì vẫn có nhữngthách thức không nhỏ do hội nhập kinh tế mang lại mà hệ thống ngân hàng ViệtNam sẽ phải đối mặt. Tính đến năm 2008, hệ thống ngân hàng nước ta có 5 NHTM Nhà nước(Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long, Ngânhàng phát triển Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam), 37 NHTMCổ phần, 37 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 6 ngân hàng liên doanh, 6 công tytài chính và 10 công ty cho thuê tài chính, 926 tổ chức tín dụng nhân dân và 46văn phòng đại diện của các ngân hàng nước ngoài. Nếu so với cách đây hơn chụcnăm thì đây quả là một sự trưởng thành vượt bậc.2.1.Tình hình vốn chủ sở hữu của NHTM Việt Nam trong những năm gầnđây. Trên con đường hội nhập toàn cầu cùng với những mục tiêu và thách thứcmà nền kinh tế Việt Nam đặt ra, các NHTM không ngừng đẩy mạnh việc gia tăngquy mô nguồn Vốn chủ sở hữu. -48-
  • 49. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh2.1.1.Tình hình vốn chủ sở hữu của NHTM Việt Nam trước khi gia nhập WTO Trong những năm 2003-2006, khi Nhà nước vẫn đang từng bước thỏa thuậnvới các nước trong Tổ chức Thương Mại Thế Giới về việc Việt Nam gia nhậpWTO, thì các Ngân hàng Việt Nam cũng từng bước thay đổi mình để chuẩn bị choquá trình Việt Nam hội nhập. Cụ thể là tổng vốn điều lệ của các NHTM Việt Namkhông ngừng gia tăng, NHTM NN sau nhiều lần bổ sung vốn đã nâng tổng vốnchủ sở hữu của 5 NHTM NN ( NH ngoại thương, NH công thương, NH đầu tư vàphát triển nông thôn, NH đầu tư và phát triển Việt Nam, NH phát triển nhà đồngbằng sông Cửu Long) lên 18.470 tỷ đồng, gấp 3 lần so với thời điểm cuối năm2000. Thực hiện các bước cổ phần hóa, cuối năm 2005, Ngân hàng Ngoại thươngViệt Nam đã phát hành thành công trái phiếu, huy động được 1.385 tỉ đồng tăngvốn điều lệ mà ngân sách nhà nước không phải cấp thêm vốn cho ngân hàng này.Đầu tháng 5-2006, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã phát hành tráiphiếu tăng vốn hơn 2.200 tỉ đồng cũng không chờ vào nguồn ngân sách nhà nước.Vốn điều lệ của NHTMCP được gia tăng đáng kể từ lợi nhuận giữ lại, sáp nhập,các quỹ bổ sung vốn điều lệ, phát hành thêm cổ phiếu… Tính đến 7-2006, ước tínhcác NHTM cổ phần đã huy động thêm được trên 10.000 tỉ đồng tăng vốn điều lệ từđó giúp tổng vốn điều lệ NHTM CP đến cuối năm 2005 tăng gấp 5 lần so với năm2000. Bên cạnh việc phát hành cổ phiếu huy động của các cá nhân và tổ chức ởtrong nước, thì còn có khối lượng lớn vốn của người Việt Nam ở nước ngoàichuyển về cho người thân trong nước mua cổ phiếu ngân hàng. Đặc biệt nhiềungân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài đã mua cổ phần của 4 NHTM cổ phầnViệt Nam, đó là ANZ, Standard Chartered Bank, Hongkong and ShanghaiBangking Coporation, OCBC, IFC,... Việc phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệchẳng những nâng cao năng lực tài chính, mà còn là điều kiện để tăng cường huyđộng vốn trên thị trường để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các thành phần kinh tế. -49-
  • 50. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan HạnhDựa trên các số liệu thống kê của cơ quan quản lý, ta có bảng số liệu tổng hợp sauvề quy mô vốn tự có và tổng tài sản có của hệ thống ngân hàng thương mại VNtrước khi ra nhập WTO như sau (Đơn vị: nghìn tỷ đồng) Q4/2003 Q4/2004 Q4/2005 Q2/2006 Vốn tự có 26 32 43 49 Tổng tài sản 539.42 672.27 841.488 944.123 Bảng 1Từ bảng số liệu ta có các biểu đồ như sau: Hình 1 -50-
  • 51. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Như vậy nhìn trực quan vào biểu đồ 1 ta có thể thấy từ năm 2003 đến năm2006, hệ thống ngân hàng thương mại Việt nam đã có sự tăng trưởng khá và ổnđịnh về quy mô vốn tự có (Từ 26000 tỷ đồng năm 2003 đã tăng thành 49000 tỷđồng vào quý 2/2006) Hình 2 Nguồn:www.div.gov.vn/Bulletin/VN/2007/1/Ban_ve_tang_von_tu_co.pdf Tỷ trọng vốn tự có / tổng tài sản của các ngân hàng thương mại nhìn chungcòn thấp chỉ đạt trên dưới 5%. Để đảm bảo hiệu quả sử dụng các nguồn vốn vàđảm bảo phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh thì các ngân hàng thương mại nêntăng tỷ lệ này nên khoảng từ 8% - 10 % là hợp lý.2.1.2. Tình hình vốn chủ sở hữu của NHTM Việt Nam sau khi gia nhập WTO Hoạt động của các ngân hàng sau hai năm gia nhập WTO vẫn diễn biếnbình thường, ngoại trừ sự tăng trưởng khá nhanh của mỗi ngân hàng. Điều nàydường như khác so với dự báo về những thuận lợi và thách thức sau khi Việt Namlà thành viên chính thức của WTO. Nhưng trên thực tế, trong chiều sâu của sựbiến chuyển nội tại, các ngân hàng đang có sự chuyển mình rất lớn. -51-
  • 52. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh • Năm 2007 Độ sâu tài chính của các ngân hàng thương mại (NHTM) đã tăng rất đángkể, thể hiện ở các chỉ số tổng tiền gửi/GDP và tổng dư nợ/GDP ngày càng tăng.Nếu năm 2006 tổng tiền gửi/GDP là 78,4% so với mức 66,7% năm 2005 (tăngkhoảng 12%), tín dụng/GDP tăng khoảng 5% thì năm 2007 tốc độ tăng này đãmạnh hơn nhiều, chỉ số tăng lần lượt là khoảng 92,4% và 84,6%. Xét về năng lực tài chính thể hiện ở quy mô vốn điều lệ, cũng có tốc độtăng nhanh hơn năm 2006 (năm 2006 vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng tăng44% so với năm 2005, thì năm 2007 tăng 54% so với 2006, nhất là khối NHTMnhà nước tăng 59%, vượt xa con số 2% của năm 2006 so với 2005). Các chi nhánhngân hàng nước ngoài cũng có sự tăng trưởng nhanh về quy mô vốn, tài sản cótrong năm 2007, đưa thị phần tín dụng và huy động năm 2007 tăng khoảng 0,4%so với năm 2006, trong khi thời điểm trước năm 2006 thị phần của khối này hầunhư không thay đổi. Như vậy, trong năm 2007 tất cả các ngân hàng thương mạiđều xây dựng cho mình một kế hoạch tăng vốn cụ thể và đã đạt được những thànhcông nhất định. Sau đây là một bảng tổng hợp các thông số về tình hình tăng vốn tự có củamột số ngân hàng tiêu biểu trong năm. Các số liệu trong bảng thống kê từ các báocáo tài chính của các ngân hàng công bố. (Đơn vị: nghìn tỷ đồng) -52-
  • 53. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Vốn tự Vốn tự có/Nợ Tổng Tài sản Vốn tự có có/Tổng tài Nợ phải trả phải trả(%) Ngân hàng sản (%) 12/06 12/07 12/06 12/07 12/06 12/07 12/06 12/07 12/06 12/07 Agribank 238.5 321.5 2.56 10.45 1.07 3.25 235.94 311.1 1.08 3.36Vietcombank 166.9 196.1 11.12 12.98 6.66 6.62 155.78 183.1 7.14 7.09 BIDV 161.2 204.5 7.55 11.63 4.68 5.69 153.65 192.8 4.91 6.03 Vietinbank 135.4 175 5.61 10.2 4.14 5.83 129.8 164.8 4.32 6.19 ACB 44.6 85.4 1.69 6.25 3.79 7.32 42.91 79.15 3.93 7.89Sacombank 24.8 64.6 2.8 5.6 11.29 8.67 22 59 12.72 9.49 Eximbank 18.3 33.7 1.95 6.3 10.66 18.69 16.35 27.4 11.92 23Techcombank 17.32 39.56 1.76 3.57 10.16 9.02 15.56 36 11.31 9.92 VIB 16.5 39.3 1.19 2.18 7.21 5.55 15.31 37.12 7.77 5.87 Bảng 2 Từ bảng số liệu trên ta có các biểu đồ sau: -53-
  • 54. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Tăng trưởng vốn tự có của các ngân hàng năm 2007 Nghìn tỷ đồng 14 12 10 8 vốn tự có Dec-06 vốn tự có Dec-07 6 4 2 0 Ngân hàng V nk k nk B Ex ank co n k B nk et ba n D S a AC VI ba ba a ba BI b Te imb m ri in m m Ag et co co Vi ch Vi Hình 3 Từ biểu đồ trên, ta thấy trong số 9 ngân hàng thì trong năm 2006 mới chỉ cóngân hàng Vietcombank có số vốn tự có trên 10 nghìn tỷ đồng (11.12 nghìn tỷ)nhưng đến năm 2007 thì đã có 4 ngân hàng có số vốn tự có trên 10 nghìn tỷ đồngđó là: Agribank (10.45 nghìn tỷ), Vietcombank (12.98 nghìn tỷ), BIDV(11.63nghìn tỷ) và Vietinbank(10.2 nghìn tỷ). Trong 9 ngân hàng trên thì Agribank dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng vốn(trên 300% từ 2.56 nghìn tỷ lên 10.45 nghìn tỷ), tiếp đó là ACB( 270%),Eximbank(223%), Techcombank(102.8%), Sacombank (100%)... -54-
  • 55. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh % Vốn tự có/Tổng tài sản(%) 20 18 16 14 Vốn tự có/Tổng tài 12 sản (%) Dec-06 10 Vốn tự có/Tổng tài 8 sản (%) Dec-07 6 4 2 0 nk nk k nk k kT Ex an Ngân hàng tin V om CB om an om n IB ba ba ba ie ID tc a b V hc b ie r ib ac A B ec im V Ag V S Hình 4 % Vốn tự có/ nợ phải trả(% ) 25 20 Vốn tự có/Nợ phải trả(%) Dec-06 15 Vốn tự có/Nợ phải trả(%) Dec-07 10 5 0 Ngân Hàng nk nk nk nk om nk k ie D V B IB hc an ba ba ba ac C ba ie iba V I b A m B m tin m gr o o xi A tc E V ec S V T -55-
  • 56. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Hình 5 Qua hai biểu đồ trên ta thấy tỷ trọng vốn tự có/ tổng tài sản và vốn tự có/nợ phải trả của các ngân hàng là khá đồng đều khoảng từ 6%-12%. Cá biệt cóAgribank, hai tỷ lệ này là khá thấp chưa đạt đến 5%, và ngân hàng Eximbank có tỷlệ khá cao(vốn tự có/tổng tài sản 2007 là trên 18%;vốn tự có/ nợ phải trả 2007khoảng 23%). • Năm 2008 Từ giữa tháng 2/2008 đến nay, do diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô và hoạtđộng ngân hàng có nhiều khó khăn hơn trước, lạm phát tăng cao, thanh khoản củanhiều NHTM bị ảnh hưởng, lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay tăng gấp khoảng 2lần so với trước đó, giá cổ phiếu giảm mạnh, thị trường chứng khoán điều chỉnhsâu và kéo dài, nên nhiều NHTMCP gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên vẫn cónhiều ngân hàng do lịch sử phát triển, có thương hiệu, năng lực quản trị điều hànhtốt, chiến lược kinh doanh rõ ràng và phù hợp, biết tận dụng các điều kiện thuậnlợi đã đạt mức vốn gấp 3 – 5 lần vốn quy định cho năm 2008 và công bố kế hoạchsẽ đạt mức vốn cũng gấp 3-4 lần quy định cho năm 2010. Đứng trước thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam đang bội thựcnguồn cung, là một định chế tài chính chuyên nghiệp, các ngân hàng chắc chắnkhông thể không lường trước được những khó khăn và rủi ro có thể gặp khi quyếtđịnh tăng vốn trong giai đoạn này. Thế nhưng, chúng ta có thể thấy, hệ thống ngânhàng Việt Nam hiện nay tăng trưởng rất nhanh về số lượng, song các ngân hàng cóvốn điều lệ trên 2.000 chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn. Trong khi đó vốn điều lệ làmột trong những yếu tố rất quan trọng cho thấy sức mạnh về vốn của một ngânhàng. Hội nhập và cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại ViệtNam tất yếu dẫn tới nhu cầu tăng vốn điều lệ bên cạnh các biện pháp nâng caochất lượng dịch vụ và nguồn nhân lực. Bên cạnh đó việc Ngân hàng Nhà nước quy -56-
  • 57. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhđịnh mức vốn pháp định của hệ thống Ngân hàng thương mại cổ phần ở mức1.000 tỷ đồng và sắp tới sẽ tăng lên 3.000 tỷ đồng cũng khiến cho các Ngân hàngThương mại phải tự xây dựng cho mình một kế hoạch tăng dần mức vốn điều lệmột cách hợp lý. Mới đây NHTM cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã tăng vốnđiều lệ từ 2.524 tỷ đồng lên 3.165 tỷ đồng. Đây là đợt tăng vốn lần thứ 2 củaTechcombank trong năm 2008. Việc tăng vốn đợt 2 này là kết quả của việc pháthành thêm 5% cổ phần bán cho cổ đông chiến lược Tập đoàn ngân hàng HSBC,tương đương 20.895.550 cổ phần, đã nâng tỷ tỷ lệ sở hữu vốn cổ phần của đối tácnày lên 20%. Tính đến hết tháng 8/2008, Techcombank đạt tổng tài sản hơn53.000 tỷ đồng. Hay cũng gần đây là kế hoạch tăng vốn từ 2.800 tỷ đồng lên 7.400tỷ đồng của Eximbank trình Đại hội cổ đông thông qua. Trước đó, NHTM cổ phần Sài Gòn Thương tín (Sacombank) cũng đã hoànthành đợt tăng vốn điều lệ từ 4.449 tỷ đồng lên 5.116 tỷ đồng, bằng việc chia cổtức năm 2007 bằng cổ phiếu cho cổ đông với tỷ lệ 15%. Số cổ phiếu tăng thêm nàyđã được đăng ký giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minhtừ tháng 8/2008. Tuy nhiên tính đến thời điểm này, quy mô vốn điều lệ lớn nhất cólẽ thuộc về NHTM cổ phần Á châu (ACB). Giữa tháng 9/2008, ACB đã thông báochốt danh sách để tăng vốn điều lệ từ 2.630 tỷ đồng lên 5.805 tỷ đồng bằng việcchia cổ tức năm 2007 cho cổ đông với tỷ lệ 55%. Tiếp đó, từ ngày 17/9/2008,ACB cũng chính thức chuyển đổi số trái phiếu được phát hành ngày 16/10/2006thời hạn 5 năm sẽ được chuyển đổi thành cổ phiếu với tỷ lệ 1:100, tức là 1 tráiphiếu mệnh giá 1 triệu đồng được chuyển đổi thành 100 cổ phiếu phổ thông mệnhgiá 10.000 đồng. Số lượng trái phiếu chuyển đổi đợt này là 550.023 trái phiếuthành 55 triệu cổ phiếu, tương đương 550,023 tỷ đồng. Theo đó vốn điều lệ củaACB sẽ tăng tiếp từ 5.805 tỷ đồng lên 6.355 tỷ đồng. -57-
  • 58. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Từ nay đến ngày 31/12/2008 còn không xa nữa, trong khi một số NHTM cổphần đã dễ dàng vượt mức vốn quy định cho năm 2010, nhưng không ít NHTM cổphần mới đạt khoảng 50% mức vốn pháp định quy định vào năm 2008. Một số NHTM cổ phần quy mô nhỏ, NHTM cổ phần mới ra khỏi tình hìnhkhó khăn cách đây không lâu và NHTM cổ phần mới chuyển từ mô hình NHTMcổ phần nông thôn lên NHTM cổ phần đô thị cho đến giữa tháng 9/2008, số vốncông bố vẫn còn thấp hơn quy định. NHTM cổ phần Đại Á có nguồn thặng dư vốn là 130 tỷ đồng, đang làm thủtục phát hành chia cho cổ đông hiện hữu, cùng với kênh phát hành khác, vốn củangân hàng này sẽ sớm đạt được 1.000 tỷ đồng trong thời gian ngắn. NHTM cổphần Kiên Long có 2 cổ đông chiến lược trong nước là ACB và Saigon Tourist,cùng với các cổ đông khác đang làm thủ tục tăng vốn với dự kiến sẽ hoàn thànhtrong tháng 11/2008. Các NHTM cổ phần khác, như: Gia Định, Thái Bình Dương, Đệ Nhất,...cũng đã có kế hoặch cụ thể về phát hành cổ phiếu cho các cổ đông để hoàn thànhmức vốn 1.000 tỷ đồng trước 31/12/2008. Xét chi tiết kế hoạch tăng vốn điều lệ của một số ngân hàng thương mại, cóthể nhận thấy rằng các ngân hàng đều tăng vốn có lộ trình nhất định và sử dụng cảhai phương thức tăng vốn là phát hành thêm cổ phiếu kết hợp với việc sử dụngnguồn thặng dư phát hành cổ phần của năm trước, giảm khối lượng cung hàng rathị trường trong thời điểm này. Điển hình như Eximbank, với kế hoạch tăng vốnrất lớn: từ 2.800 tỷ lên 7.400 tỷ đồng, nhưng lộ trình được chia thành 2 giai đoạn :giai đoạn đầu tăng lên 4.425 tỷ đồng trong đó 386.7 tỷ đồng chia cổ tức bằng cổphiếu, 1.106 tỷ đồng nhận vốn góp từ Tập đoàn Sumitomo và các quỹ đầu tư nướcngoài khác; giai đoạn sau dự tính là tháng 11/2008 sẽ tăng thêm 2.975 tỷ đồng lấytừ nguồn vốn thặng dư. -58-
  • 59. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Tại TP.HCM, trung tâm kinh tế, tài chính - tiền tệ lớn nhất và sôi động nhấtcả nước tính đến đầu năm 2008, nguồn vốn tự có của các ngân hàng thương mạitrên địa bàn thành phố đạt gần 28.230 tỷ đồng, tăng hơn 90% so với cùng kỳ nămtrước. Riêng vốn điều lệ của các ngân hàng chiếm trên 23.000 tỷ đồng, tăng gần77% so với năm trước. Về tỷ lệ an toàn vốn, trước năm 2006, hệ số an toàn vốn của các NHTMnhà nước đều không đạt mức yêu cầu 8%, tuy nhiên đến nay đều đã đạt trên mứcquy định. Đối với các NHTM cổ phần, hệ thống an toàn vốn đều vượt tỷ lệ quyđịnh, thậm chí có nhiều ngân hàng có hệ thống an toàn vốn lên đến trên 20%.Ngoài việc tăng quy mô vốn, nhiều ngân hàng còn đẩy mạnh việc thực hiện cơ cấulại tài chính như tăng vốn tự có, xử lý nợ xấu, cơ cấu lại tổ chức và hoạt động.Việc tuân thủ các quy định đảm bảo an toàn, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủiro cùng với việc tăng vốn chủ sở hữu đã giúp các NHTM giải quyết triệt để vấn đềnợ xấu phát sinh từ nhiều năm trước, chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể. Cụthể, tỷ lệ nợ xấu / tổng dư nợ của khối NHTM cổ phần dưới 1%, của các NHTMnhà nước dưới 5%. Như vậy trong những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển kinh tế mạnhmẽ, các NHTM Việt Nam đang cố gắng tăng nguồn vốn tự có để nâng cao nănglực cạnh tranh trên thị trường song đến nay hệ thống ngân hàng vẫn được đánh giálà đang ở giai đoạn đầu, năng lực tài chính của nhiều NHTM Việt Nam còn yếu,nợ quá hạn cao và nhiều rủi ro. Nhóm 5 NHTM quốc doanh hiện chiếm thị phầnlớn trong hệ thống ngân hàng với khoảng gần 70% tổng nguồn vốn huy động vàthị phần tín dụng, nhưng tổng số vốn tự có chỉ khoảng 2,5 tỷ USD (tương đươngvới một ngân hàng nhỏ trong khu vực). Với tỷ lệ vốn tự có thấp, rõ ràng khả năngcạnh tranh của các NHTM quốc doanh - vốn được coi là xương sống của hệ thốngNHTM Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi hội nhập theo lộ trình đã cam kết. -59-
  • 60. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Hơn nữa, theo cam kết khi gia nhập WTO, về hình thức hiện diện của cáctổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam, kể từ ngày 1.4.2007, ngoài các hìnhthức văn phòng đại diện, chi nhánh, ngân hàng liên doanh, các tổ chức tín dụngnước ngoài sẽ được phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.Việc tham gia thị trường của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài có thể làm thayđổi bức tranh về thị phần hoạt động ngân hàng tại Việt Nam trong thời gian tới,bởi ngân hàng 100% vốn nước ngoài được hưởng đối xử quốc gia đầy đủ như cácNHTM Việt Nam. Điều này có nghĩa là, ngân hàng 100% vốn nước ngoài có điềukiện để phát triển cả dịch vụ ngân hàng bán buôn, bán lẻ, đa dạng hoá các sảnphẩm dịch vụ tài chính, tham gia vào quá trình mua/bán, sáp nhập ngân hàng. Hiệntại, hình thức ngân hàng 100% vốn nước ngoài có 2 ngân hàng đã được chấp thuậnthành lập về mặt nguyên tắc và đang chờ giấy phép hoạt động là HSBC vàStandard Chartered Bank. Đây thực sự sẽ là những nhân tố mới trên thị trườngngân hàng tài chính Việt Nam, hứa hẹn một cuộc cạnh tranh gay gắt với cácNHTM trong nước. Về việc góp vốn dưới hình thức mua cổ phần, tổng số cổ phần được phépnắm giữ bởi các thể nhân nước ngoài tại mỗi NHTM cổ phần của Việt Nam hiệntại không được vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng (trừ khi có những quyđịnh khác của cơ quan có thẩm quyền). Trên thực tế, các ngân hàng nước ngoài đãmua cổ phần tại một số NHTM cổ phần Việt Nam và trở thành đối tác chiến lượccủa các ngân hàng này. Như vậy, các ngân hàng nước ngoài có thể lựa chọn cáccách thức tiếp cận thị trường khác nhau, qua đó tạo sức ép cạnh tranh với cácNHTM Việt Nam tuỳ theo loại hình hoạt động. Có thể thấy rằng, sức ép cạnh tranhlên hệ thống NHTM Việt Nam là rất lớn. Nhất là khi các ngân hàng nước ngoàivới sức mạnh tài chính, công nghệ hiện đại và kinh nghiệm hoạt động trên thế giớiđang tích cực chuẩn bị cho cuộc đua giành thị phần tại Việt Nam. -60-
  • 61. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Tuy nhiên, ưu thế của các ngân hàng Việt Nam so với các ngân hàng nướcngoài là có được mạng lưới chi nhánh rộng khắp các tỉnh/thành phố trong cả nước,có được mối quan hệ truyền thống với khách hàng qua nhiều năm và sự hiểu biếtmột cách cụ thể khả năng, yêu cầu của khách hàng và những vấn đề văn hoá,phong tục mà các ngân hàng nước ngoài chưa thể có được trong quan hệ với kháchhàng bản địa. Ngoài ra, hiện nay các NHTM Việt Nam đang tích cực triển khai đềán tái cơ cấu lại và cổ phần hoá 5 NHTM nhà nước. Nếu thực hiện thành côngchương trình tái cơ cấu và cổ phần hoá này thì năng lực cạnh tranh của cácNHTM trong nước sẽ được tăng lên đáng kể.2.2.Tình hình vốn huy động của NHTM Việt Nam trong những năm gần đây Nhìn chung, vốn huy động của NHTM Việt Nam trong một số năm gần đâycó xu hướng tăng mạnh cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm. Tuy nhiêntrong từng thời kì tốc độ tăng trưởng vốn huy động lại khác nhau, phụ thuộc nhiềuvào nguồn lực cũng như tình hình thực tế của thị trường Việt Nam. *Xét trong 5 năm từ năm 2000-2005 tổng nguồn vốn huy động của các NHTMvà tổ chức tín dụng toàn quốc đạt tốc độ tăng khoảng 20% - 25%/năm, gấp hơn 3lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cụ thể năm 2000 vốn huy động của hệ thống ngânhàng tăng 26,5% so với năm trước, năm 2001 tăng 25,53%, năm 2002 tăng 17,7%,năm 2003 tăng 24,94%, năm 2004 tăng 30,39%, năm 2005 tăng 18% và 6 thángđầu năm 2006 tăng hơn 12%. *Tính đến hết tháng 8/2006, ở cả hai thành phố lớn nhất cả nước là Hà Nội vàTp.HCM, vốn huy động của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng đềutăng cao so với cùng kỳ nhiều năm và có tốc độ tăng trước sự ngỡ ngàng của chínhgiới kinh doanh tiền tệ. Tại Tp.HCM, đến hết tháng 8, tổng số dư vốn huy động của hệ thống ngânhàng thương mại và tổ chức tín dụng đạt 238.916 tỷ đồng, tăng 26,5%. -61-
  • 62. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Tại Hà Nội, cũng tính đến hết tháng 8, các ngân hàng thương mại và tổchức tín dụng trên địa bàn có số dư vốn huy động đạt 214.224 tỷ đồng, tăng gần22,3% so với thời điểm 31/12/2005. Tại nhiều tỉnh và thành phố khác trong 8 tháng năm 2006 cũng diễn ra tìnhtrạng tương tự, vốn huy động của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụngtăng trưởng nhanh và vượt xa dự đoán từ đầu năm 2006. * Năm 2007 : phân tích các dòng vốn chu chuyển qua hệ thống ngân hàng cảnăm cho thấy, tốc độ tăng trưởng của các dòng vốn này đạt mức cao nhất từtrước tới nay và vượt xa dự báo từ đầu năm của các nhà quản lý và quản trịngân hàng. Đây là những diễn biến tích cực và rất đáng mừng của nền kinh tế -dấu hiệu nền kinh tế tiếp tục trong xu hướng đi lên ở thời điểm hiện tại cũng nhưtrung và dài hạn. Đồng thời, cũng cho thấy hiệu quả đổi mới, nâng cao năng lựccạnh tranh của các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín dụng trong cảnước sau hơn 1 năm gia nhập WTO. Vốn huy động trong xã hội có tốc độ tăngtrưởng rất lớn. Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, tổng nguồn vốn huy động củacác NHTM và tổ chức tín dụng trong cả nước tính đến hết 31/12/2007 tăng tới36,5%, một số ước gấp hơn 3,5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đây là tốc độ tăngtrưởng lớn nhất từ gần 20 năm đổi mới hoạt động ngân hàng cho đến nay. Tốc độ tăng trưởng đó cũng cho thấy tiềm lực về vốn trong dân, trong xãhội rất lớn, hoạt động NH đổi mới mạnh mẽ tạo lòng tin cho khách hàng, chongười gửi tiền, dịch vụ phát triển đa dạng. Đồng thời cũng cho thấy, người dânngày càng có thói quen gửi tiền vào NH vừa hưởng lãi, vừa an toàn. Tại TP.HCM, trung tâm kinh tế, tài chính - tiền tệ lớn nhất và sôi động nhấtcả nước, đến hết tháng 12/2007, tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổchức tín dụng trên địa bàn đạt 442.530 tỷ đồng, tăng 55% so với cuối năm 2006.Đây cũng là mức tăng lớn nhất từ trước tới nay. Trong đó, vốn huy động bằng nộitệ đạt 327.792 tỷ đồng, vốn huy động ngoại tệ quy đổi đạt 114.738 tỷ đồng, chiếm -62-
  • 63. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhgần 26,0%.Tại thời điểm này, do tỷ giá ổn định, người gửi tiền thích gửi bằng nộitệ hơn vì lãi suất tiền gửi cùng kỳ hạn của nội tệ cao gấp 2 lần tiền gửi ngoại tệ.Phân theo đối tượng khách hàng và hình thức huy động thì tiền gửi tiết kiệm củadân cư đạt 169.298 tỷ đồng, tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế và cá nhânđạt 245.965 tỷ đồng, phát hành giấy tờ có giá đạt 27.267 tỷ đồng. Diễn biến đó chothấy tiềm năng vốn trong dân, trong xã hội ở khu vực TP HCM có thể huy độngđược lớn tới mức độ nào. Tại Hà Nội, nơi tập trung hội sở và đầu mối của 4 NHTM Nhà nước,8 NHTM cổ phần và có số đông các NH khác, quy mô vốn huy động và dư nợ chovay cũng diễn ra tương tự. Tính đến hết 31/12/2007, tổng nguồn vốn huy động củacác NHTM và tổ chức tín dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội tăng 36,12% so vớicuối năm 2006. Còn số liệu thống kê cụ thể ở thời điểm sớm hơn cho hay, tính đếnhết tháng 10/2007, đạt 326.624 tỷ đồng, tăng 34,54% so với cuối năm 2006, đây làmức tăng lớn nhất trong nhiều năm. Tính đến hết năm 2007, nhiều NHTM cổ phầncó tốc độ tăng trưởng vốn huy động tới 70% đến hơn 100% so với cuối năm trước.Đây là mức độ tăng trưởng cao hết sức “ngoạn mục” ngoài dự kiến từ đầu năm củahầu hết các nhà quản trị NH và cổ đông của các NH. Nếu phân tích theo đối tượngkhách hàng gửi tiền tại các NH trên địa bàn Hà Nội, thì đến hết tháng 10/2007,tiền gửi dân cư đạt 140.310 tỷ đồng, tăng 31,01% và tiền gửi của các tổ chức kinhtế đạt 186.314 tỷ đồng, tăng 37,33% so với cuối năm trước. Phân theo tiền tệ, vốnhuy động nội tệ đạt 236.180 tỷ đồng, tăng 39,05% và vốn huy động ngoại tệ đạt90.444 tỷ đồng, tăng 24,05% so với cuối năm trước. Nguyên nhân vốn huy độngnội tệ tăng cao hơn vốn huy động ngoại tệ ở Hà Nội cũng giống như ở TP Hồ ChíMinh. Vốn huy động tăng nhanh một mặt phản ánh nền kinh tế Việt Nam đang rấtsôi động, hiệu quả kinh doanh của nền kinh tế ngày càng nâng cao một cách bềnvững. Mặt khác cũng phản ánh thu nhập của người dân, của các DN cũng nâng -63-
  • 64. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhcao. Trong số nguồn thu nhập đó có khối lượng đáng kể là kiều hối, tiền của ngườiViệt Nam ở nước ngoài chuyển về. Tại Đà Nẵng, tổng nguồn vốn huy động của các NHTM cũng gia tăngmạnh mẽ. Dưới đây là bảng số liệu cho thấy rõ sự gia tăng đó Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007Tổng nguồn vốn huy 6.290 7.770 9.405 11.768 17.974 động (tỷ đồng)Tăng so vớikỳ trước (tỷ -- 1.480 1.635 2.363 6.206 đồng)Tốc độ tăng -- 23,53 21,04 25,12 52,74 (%) Bảng 3 Tổng nguồn vốn huy động của các NHTM trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2003 - 2007 ĐVT: tỷ đồng, % * Năm 2008 Quý I/2008, kinh tế Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng khá (GDP đạt7,4%) và được đánh giá là nền kinh tế có triển vọng cao, có sức hút đối với nhàđầu tư nước ngoài với 5 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp. Tuy nhiên ở một số lĩnh vực -64-
  • 65. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhnhư chứng khoán, tiền tệ, bất động sản đang có dấu hiệu bất ổn, bởi vì từ đầu năm2008 đến nay, diễn biến kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước có rất nhiều bất lợi chohoạt động ngân hàng. Đặc biệt là lạm phát tăng cao nhất trong khoảng 15 năm qua.Chỉ số giá tiêu dùng – CPI ở nước ta trong 6 tháng đầu năm 2008 tăng lên 18,44%.Chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất huy động vốn Đồng Việt Nam lên tới 18% -19%/năm, USD lên tới 7,0 – 8,0%/năm và lãi suất cho vay tăng cao tới 21%/năm,tín dụng bị kiềm chế. Tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ biến động mạnh vàdiễn biến phức tạp. Giá vàng thế giới và trong nước tăng cao nhất từ trước tới nay,lên 19,35 triệu đồng/lượng. Thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh. Đặc biệttrong một số thời điểm thanh khoản của một số NHTM cổ phần căng thẳng, vốnkhả dụng thiếu, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng bình quân trên 20%/năm, cábiệt có một số thời điểm lên tới 30% thậm chí hơn 40%/năm. Hoạt động trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động, các ngân hàngthương mại (NHTM) đã gặp không ít khó khăn do sự tác động từ nhiều phía như:môi trường kinh tế vĩ mô, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp v.v.Trong đó sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong huy động vốn diễn ra khá gaygắt. Có thời gian, tỷ lệ dư nợ cho vay của một số NHTM cổ phần bằng 1,4%nguồn vốn huy động. Trước áp lực phải huy động đủ vốn cho kinh doanh nhiềungân hàng (chủ yếu là ngân hàng cổ phần) đua tranh tăng lãi suất huy động vốn,đồng thời áp dụng nhiều hình thức khuyến mại, tặng quà,… để thu hút khách hàng. Theo nhận định của các NH, để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát ngaytừ đầu năm 2008, NHNN đã buộc phải mạnh tay siết chặt tiền tệ bằng cách tăng dựtrữ bắt buộc, phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu lãi suất 7,8%/năm với hình thứcbắt buộc phải mua đối với các TCTD theo mức phân bổ cụ thể mà thời điểm mualà ngày 17-3-2008. Tuy nhiên, các biện pháp này đã khiến nhiều NH rơi vào cảnhthiếu vốn, để có đủ vốn mua tín phiếu của NHNN phát hành, một số NH buộc phảivay lại trên thị trường liên NH, nhân cơ hội này một số NH còn vốn đã đẩy LS vay -65-
  • 66. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhtrên thị trường liên NH có lúc lên trên 30%/năm. Do không chịu nổi mức LS vayquá cao cùng với yếu tố thời gian phải mua tính phiếu cận kề, các NH đành phảităng LS để huy động tiền gửi (ngoài ra các NH còn vay ở các NH khác còn ở mứcLS thấp) và lập tức cuộc đua tăng LS giữa các NH diễn ra. Vào thời điểm đó cóNHTM cổ phần đã áp dụng mức lãi suất 12%/năm đối với loại kỳ hạn 3 tháng;12,6%/năm đối với loại kỳ hạn 6 tháng và 13,8%/năm đối với loại kỳ hạn 12tháng. Nguyên nhân của cú sốc này còn là do một số ngân hàng thương mại(NHTM) thiếu thanh khoản, do không điều chỉnh kịp thời kế hoạch kinh doanhtrước dấu hiệu thắt chặt chính sách tiền tệ của NHNN từ giữa năm 2007 nên vẫntiếp tục mở rộng tín dụng, vượt khả năng huy động vốn của mình. Theo thống kêsơ bộ của các NHTM CP, trong vòng chưa tròn 1 tháng kể từ khi các NH “phátpháo” tăng LS, đến nay vốn huy động của các NH này đã tăng lên đáng kể. Cụ thể,trong vòng 15 ngày (từ ngày 12 đến 27-2-2008), NHTM CP Đông Á đã huy độngđược trên 100 tỷ đồng tiền gửi tiết kiệm, đây là con số mà NH này cần trung bìnhtừ 3 - 5 tháng mới huy động được. Cùng lúc đó, NHTM CP SHB đã huy độngđược trên 73 tỷ đồng chỉ trong vòng 6 ngày (từ ngày 21 đến 27-2-2008) sau khitung ra chương trình LS siêu hấp dẫn và trong vòng chưa đầy 3 giờ đồng hồ sángngày 28-2, SHB đã huy động được trên 2 tỷ đồng. Dù không công bố cụ thể vớibáo chí về mức vốn huy động được, song một cán bộ NHTM CP Sacombank cũngthừa nhận, NH này đã huy động một số vốn rất cao so với trước đó. Tuy nhiên, đến tháng 3/2008 Ông Bùi Tín Nghị, Phó tổng giám đốc Ngânhàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), cho hay, lượng vốn huy động từ dân cư tại hầu hếtnhà băng đều rất hạn chế, do người dân nhìn vào tỷ lệ lạm phát cao và nguy cơ lãisuất thực âm. Vì thế, theo ông Nghị, với lãi suất 12%/năm, gửi tiền vào ngân hàngkhông còn là một kênh hấp dẫn đối với người có tiền nhàn rỗi. Ngân hàng Ngoạithương Việt Nam (Vietcombank) tính đến 31/3/2008 có tổng nguồn vốn đạt195.587 tỷ đồng (kể cả ngoại tệ quy đổi), giảm 0,3% so với cuối năm 2007.Vietcombank là ngân hàng thương mại Nhà nước rất có uy tín và thương hiệu -66-
  • 67. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhhàng đầu trên thị trường, đặc biệt là thế mạnh về huy động vốn ngoại tệ, đã kịpthời tăng lãi suất huy động vốn VND lên 12%/năm ngang bằng với các ngân hàngthương mại khác khi thị trường tiền tệ nóng lên và cũng nghiêm túc thực hiện camkết trần lãi suất tối đa 11%/năm theo cam kết của các ngân hàng thương mại thànhviên do Hiệp hội Ngân hàng chủ trì. Thế nhưng vốn huy động của Vietcombank lạigiảm gần 600 tỷ đồng trong 3 tháng đầu năm 2008 đã thực sự cho thấy diễn biếnđáng lo ngại. Tình cảnh của một ngân hàng thương mại Nhà nước khác có quy mônguồn vốn và cho vay dẫn đầu toàn ngành ngân hàng, chiếm 27% - 30% thị phầnhai mảng này của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong cả nước cũngdiễn ra tương tự. Trước sức ép lạm phát lên cao và tình trạng thiếu vốn trầm trọng, ngày16/5/2008, NHNN công bố bỏ quy định khống chế mức trần lãi suất huy động12%/năm, thay vào đó là cơ chế điều hành lãi suất mới, quy định lãi suất cho vaykhông vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố là 12%/năm tại thời điểmđó; đến ngày 11/6/2008, mức lãi suất cơ bản được nâng lên là 14%/năm. Việc thayđổi cơ chế lãi suất như vậy, cùng với một số giải pháp khác như tăng cường côngtác thanh tra, giám sát hoạt động của các NHTM nhằm nâng cao ý thức tuân thủphát luật và giảm rủi ro đạo đức của các NHTM; thực hiện điều tiết linh hoạt vốnkhả dụng qua nghiệp vụ thị trường mở và nghiệp vụ tái cấp vốn, tái chiết khấunhằm đảm bảo khả năng thanh khoản cho các NHTM; điều chỉnh tỷ giá chính thứcvà nâng biên độ tỷ giá; hạn chế đối tượng vay ngoại tệ… Sau những động tháichính sách đó, đến nay thị trường đã có những phản ứng theo chiều hướng tíchcực, lãi suất thực dương dần được cải thiện; chênh lệch giữa tỷ giá chính thức vàtỷ giá không chính thức dần được thu hẹp; tốc độ tăng của lạm phát và thâm hụtthương mại tháng 6 giảm hơn tháng 5... Cụ thể, lãi suất trên thị trường liên ngânhàng ở mức tương đối ổn định từ những ngày cuối tháng 5 đến nay xoay quanhmức 18 - 19%/năm đối với kỳ hạn 7 - 14 ngày; Lãi suất huy động vốn bằng VNDcủa các NHTM cũng có sự gia tăng mạnh. Đối với kỳ hạn 3 tháng, lãi suất huy -67-
  • 68. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhđộng phổ biến trên thị trường tăng từ mức 7,5 - 8%/năm cuối năm 2007 lên đếnmức 17,5%/năm trong tháng 6/2008 (chỉ có một vài ngân hàng nhỏ nâng mức lãisuất lên 19%/năm).Tháng 4 và 5/2008 do nhu cầu các ngân hàng đã đẩy lãi suấthuy động USD lên mức rất cao (từ 6,2%-8,5%/năm). Vốn khả dụng của cácNHTM xét trên toàn hệ thống luôn ở trạng thái cân bằng, số ngày dự trữ vượt đãtăng dần lên trong tháng; tín dụng cho vay giảm mạnh so với 4 tháng đầu năm, đặcbiệt là trong tháng 6. Các NHTM đã có những động thái thắt chặt các điều kiệnvay vốn để đảm bảo chất lượng tín dụng khi lãi suất tăng cao, đồng thời quan tâmđến quản lý thanh khoản. Kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm: NHTM cổ phần Á Châu – ACBtiếp tục dẫn đầu toàn khối. Đến hết tháng 6/2008 đạt tổng tài sản 102.639 tỷ đồng,số dư vốn huy động đạt 90.345 tỷ đồng, dư nợ cho vay đạt 41.897 tỷ đồng, tỷ lệ antoàn vốn đạt 14% so với mức tối thiểu quy định của NHNN là 8%, tỷ lệ nợ quáhạn dưới 0,4%, tỷ lệ nợ xấu dưới 0,1% và lợi nhuận trước thuế đạt hơn 1.000 tỷđồng. Mức lợi nhuận này của ACB thật ấn tượng, bởi vì so với Ngân hàng Đầu tư& Phát triển Việt Nam quy mô kinh doanh gấp hơn 2 lần ACB, nhưng lợi nhuận 6tháng đầu năm 2008 chỉ đạt 604 tỷ đồng. Đứng thứ hai trong khối phải kể đến NHTM cổ phần Sài Gòn Thương Tín.Trong 6 tháng đầu năm 2008, lợi nhuận của Sacombank đạt hơn 754 tỷ đồng, tăng23% so với cùng kỳ này năm 2007. Hiện nay Sacombank đang là NHTM cổ phầncó mạng lưới hoạt động rộng nhất nước, với 225 điểm giao dịch. Sacombank cũnglà NHTM Việt Nam đầu tiên được Ngân hàng Nhà nước cấp phép mở chi nhánhtại Campuchia và Lào. Tiếp đến là Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á, NHTM cổ phần quânđội, NHTM cổ phần quốc tế, NHTM cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam, NHTMcổ phần Đông Nam Á....Các ngân hàng này đều có kết quả kinh doanh bằng hoặcvượt so với kế hoạch năm. -68-
  • 69. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Tốc độ huy động vốn của các NHTM tương đối tốt trong tháng 9 đầutháng 10. Huy động vốn của các TCTD đến ngày 30/9/2008 tăng 10,71% so vớicuối năm 2007. Cũng tính đến ngày 30/9/2008, tổng huy động vốn của 16NHTM trên địa bàn Tp.HCM đạt gần 272.000 tỷ đồng, tăng 23% so với đầunăm; cho vay đạt trên 192.000 tỷ đồng, tăng 9,7%. Thông tin trên được đưa ratại cuộc họp giao ban mới đây giữa Ngân hàng Nhà nước (NHNN) với các ngânhàng thương mại (NHTM) trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh. Ông Hồ Hữu Hạnh-Giámđốc NHNN Chi nhánh Tp.Hồ Chí Minh cho biết, sau khi có quyết định mới liênquan đến điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam (giữ nguyên lãi suấtcơ bản, tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc) thì lãi suất huy động bình quân củacác NHTM trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh đã giảm xuống còn 17,4-18,7%/năm,trước đó là 17,8-19%/năm. Tính đến ngày 30/9/2008, tổng huy động vốn của 16NHTM đạt gần 272.000 tỷ đồng, tăng 23% so với đầu năm; cho vay đạt trên192.000 tỷ đồng, tăng 9,7%. Từ tháng 5/2008 đến nay, các NHTM liên tục điềuchỉnh giảm sử dụng vốn trên thị trường liên ngân hàng. Đặc biệt, từ khi NHNNquy định lãi suất tối đa trên thị trường liên ngân hàng không quá 21%/năm thì lãisuất trên thị trường này đã giảm mạnh. Đến 30/9/2008, lãi suất VND kỳ hạn quađêm là 11,97%/năm, 1 tuần là 13,34%/năm, 2 tuần là 14,72%/năm, 1 tháng16,68%/năm, 3 tháng 18,33%/năm, 6 tháng là 17,05%/năm và 1 năm là14,18%/năm. Cũng trong thời gian này, tại các tổ chức tín dụng, vốn huy động USDđang tăng nhanh hơn vốn huy động tiền Việt Nam bởi lãi suất USD vẫn hấpdẫn và tâm lý lo ngại lạm phát vẫn còn. Tính đến hết tháng 8/2008, ước tínhtổng số dư vốn huy động trên địa bàn Hà Nội của các ngân hàng thương mại(NHTM) và tổ chức tín dụng (TCTD) đạt 388.000 tỷ đồng, tăng 2,1% so với cuốinăm 2007. Đây có thể là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ trong nhiều năm gầnđây. Xét về cơ cấu nguồn vốn theo loại tiền tệ, thì vốn huy động ngoại tệ tăng rấtmạnh, tới 26,57% so với cuối năm 2007, trong khi đó số dư tiền gửi nội tệ lại giảm -69-
  • 70. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh6% so với cuối năm 2007. Xét về cơ cấu nguồn vốn theo đối tượng khách hàng thìsố dư tiền gửi của các tổ chức tại các NHTM lại giảm 3% so với cuối năm 2007.Tại nhiều thành phố lớn khác cũng có tình trạng diễn ra tương tự, vốn huy độngbằng ngoại tệ tăng nhanh hơn vốn huy động nội tệ của NHTM. Tại một số NHTMquy mô lớn, việc huy động vốn cũng nằm trong xu hướng chung nói trên. Cũng dodiễn biến nói trên nên trong một số thời điểm thanh khoản vốn nội tệ tại cácNHTM trở nên khan hiếm, thậm chí cá biệt có thời điểm căng thẳng, mặc dù thờigian gần đây tình hình đã được cải thiện rõ rệt. Hiện nay nhiều NHTM đang điềuchỉnh giảm nhẹ lãi suất huy động vốn nội tệ và USD, nhưng nhìn chung lãi suấtUSD vẫn hấp dẫn và tâm lý lo ngại lạm phát vẫn còn, do đó xu hướng tiền gửiUSD vẫn tăng cao hơn so với VNĐ tiếp tục diễn ra. Vào những tháng cuối năm 2008, lạm phát đang có xu hướng giảm. Cung -cầu vốn hiện nay đảo chiều có biểu hiện dư cung. Thể hiện vốn khả dụng của cácNHTM tương đối dồi dào tại tất cả các ngân hàng. Khoảng hai tháng 9,10 lượngvốn khả dụng của các ngân hàng thương mại bắt đầu có dấu hiệu dư thừa, từ30.000 tỷ đồng lên 40.000 tỷ đồng và gần đây là khoảng 50.000 tỷ đồng. Con sốnày cũng đã được Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) khẳng định vàocuối tháng 10 vừa qua. Ngoài 50.000 tỷ đồng nói trên, lượng vốn khả dụng của cácngân hàng còn được tiếp thêm từ 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc giải phóngtrước hạn. Lãi suất huy động bắt đầu giảm dần. Ngày 10/10/2008, Ngân hàng Đầutư và Phát triển Việt Nam (BIDV) điều chỉnh giảm lãi suất huy động đối với VNDvà USD. Lãi suất huy động vốn tối đa chính thức áp dụng từ ngày 10/10/2008 củaBIDV là từ 3,6%/năm đến 17,3%/năm đối với tiền VND và 1,25% đến 4,9%/nămđối với USD áp dụng cho từ không kỳ hạn đến dưới 2 năm. Cũng trong ngày10/10, lãi suất huy động VND của NHTMCP Ngoài Quốc doanh (VPBank) giảmkhá mạnh như: 1 tháng tiết kiệm rút gốc linh hoạt VND từ 16,7%/năm xuống còn15,7%/năm; 3 tháng rút gốc linh hoạt từ 16,9%/năm xuống còn 16,10%/năm; kỳhạn 12 tháng rút gốc linh hoạt từ 16,8%/năm xuống còn 15,5%/năm. Tại -70-
  • 71. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan HạnhNHTMCP An Bình ngày 9/10 cũng điều chỉnh hạ lãi suất huy động VND với cácmức: 1 tháng: 17,6%/năm; 2 tháng: 17,8%/năm; 12 tháng: 17,5%/năm; 60 thángcòn: 14%/năm… Có nhiều nguyên nhân khiến các NHTM liên tục hạ LS huy động tiềnđồng trong thời gian qua, nhưng có nguyên nhân là sự dè dặt tăng trưởng tíndụng trong giai đoạn hiện nay. Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thị trường…do lạm phát trong nước cao, ảnh hưởng khủng hoảng tài chính Mỹ làm khả năngtrả nợ của khách hàng giảm sút khiến các NH không muốn đẩy mạnh cho vay màchú trọng vào việc bảo đảm an toàn hoạt động. Trong tháng 12 tới, mặc dù nhu cầu vốn cuối năm theo quy luật bao giờcũng tăng cao, nhưng nếu tình hình chứng khoán và bất động sản vẫn ảm đạm nhưhiện nay, thì dòng tiền vẫn vào ngân hàng mà không còn kênh đầu tư khác. Vì vậy,LS huy động có thể vẫn tiếp tục giảm.2.3.Tình hình vốn vay của NHTM Việt Nam trong năm 2008 Như đã đề cập ở phần tình hình vốn huy động, vào đầu năm 2008 để có đủvốn mua tín phiếu của NHNN phát hành, một số NH buộc phải vay lại trên thịtrường liên NH, nhân cơ hội này một số NH còn vốn đã đẩy LS vay trên thị trườngliên NH có lúc lên trên 30%/năm. Nguồn vốn vay trên thị trường liên ngân hàngcủa các NHTM trong giai đoạn này gia tăng khá mạnh. Điển hình như trong tổngnguồn vốn huy động và đi vay của SHB là 9.177 tỷ đồng, thì vốn đi vay trên thịtrường liên ngân hàng đã chiếm tới 77,3%. Mặc dù tại thời điểm này SHB có số dưtiền gửi tại Tổ chức tín dụng khác là 5.383 tỷ đồng, tính bù trừ đi thì SHB vẫn cósố chênh lệch đi vay trên thị trường liên ngân hàng tới gần 1.700 tỷ đồng. Tuynhiên nhiều NHTM CP đã chủ quan khi theo đuổi mục tiêu lợi nhuận trong ngắnhạn thông qua nguồn vốn liên ngân hàng để cho vay dài hạn, trong khi chưa chútrọng đến việc phát hành trái phiếu. Điều này đã dẫn đến khó khăn thanh khoảntrong toàn hệ thống NHTM trong 6 tháng đầu năm 2008 khi Ngân hàng Nhà nước -71-
  • 72. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh(NHNN) thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ nhằm giảm lượng tiền trong lưuthông để kiềm chế lạm phát như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10% lên 11% từngày 1/2/2008; yêu cầu các NHTM phải mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc,với lãi suất cố định 7,8%, kỳ hạn 1 năm trước ngày 17/3/2008 và không được sửdụng trong giao dịch tái cấp vốn trên thị trường liên ngân hàng (lãi suất tín phiếunày được điều chỉnh tăng lên 13% kể từ ngày 1/7/2008). Trong khi đó, các nhàbăng thiếu vốn cũng không thể trông chờ vào nguồn vốn vay trên thị trường liênngân hàng, bởi lãi luôn ở mức cao. Một nguồn tin cho hay, hiện chỉ còn Ngânhàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) có vốn khả dụng để cho vay trên thịtrường liên ngân hàng. Những ngân hàng trước đây cung cấp vốn nay cũng hếtnguồn, bởi Ngân hàng Nhà nước đang rút 52.000 tỷ đồng tiền gửi của Kho bạcNhà nước tại các nhà băng về. Ngày 13-5-2008 Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu các ngân hàng thươngmại cần chủ động cân đối nguồn vốn, tích cực tham gia nghiệp vụ thị trường mởtại Ngân hàng Nhà nước và các hình thức huy động vốn khác để đảm bảo khả năngthanh khoản. Đây là nội dung quan trọng trong văn bản mới nhất mà Thống đốcNgân hàng Nhà nước gửi các ngân hàng thương mại, chi nhánh Ngân hàng Nhànước tỉnh, thành phố nhằm đảm bảo khả năng thanh khoản của các ngân hàngthương mại. Theo Ngân hàng Nhà nước, trong trường hợp ngân hàng thực sự khókhăn về vốn khả dụng nhưng không có đủ giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn tham gianghiệp vụ thị trường mở hoặc tham gia nhưng không trúng thầu thì cần có văn bảnđề nghị Ngân hàng Nhà nước xem xét cho vay tái cấp vốn. Ngoài ra, nhằm tiếp tụchỗ trợ thanh toán cho các ngân hàng thương mại và ổn định thị trường, Ngân hàngNhà nước thực hiện thêm các phiên chào mua giấy tờ có giá trên thị trường mở vớikhối lượng 7.000-10.000 tỷ đồng/phiên (kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 15%/năm). Ngoài nguồn vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và vay NHNN, cácNHTM đang tích cực tìm kiếm các nguồn vốn ngoại. Cụ thể, Ngày 2/7/2008, tại -72-
  • 73. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan HạnhHà Nội, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB) đã ký hợp đồng vay vốn trị giá100 triệu USD với Ngân hàng Intesa Sanpaolo (Italia). Chủ tịch Hội đồng quản trịVCB Nguyễn Hòa Bình cho biết, khoản vay trong 3 năm này sẽ góp phần bổ sungnguồn vốn ngoại tệ trung hạn đáng kể, phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh vàtăng trưởng của VCB. Đại diện của Intesa Sanpaolo nhấn mạnh, hợp đồng này cònmang ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ thương mại giữa Italiavà Việt Nam thông qua việc tài trợ cho các doanh nghiệp Italia thâm nhập thịtrường Việt Nam. Như vậy, tính trong năm 2008, quy mô và tốc độ tăng trưởng của nguồnvốn vay ở các NHTM đã tăng lên đáng kể so với những năm trước. Nó góp phầnổn định nguồn vốn chung, tạo điều kiện cho các NHTM hoạt động một cách hiệuquả trước tình trạng khó khăn ngày nay.2.3.Tình hình các nguồn vốn khác của NHTM Việt Nam Khi nhu cầu vốn của nền kinh tế đang tăng lên, các ngân hàng (NH) phải nỗlực tìm kiếm nguồn cung vốn để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu này. Bên cạnhcác kênh huy động vốn truyền thống, kênh cung ứng vốn từ các dự án ủy thác vớicác tổ chức nước ngoài cũng đang được các NH để ý và chú trọng phát triển. Theo đánh giá của các NH thì nguồn vốn từ các dự án ủy thác đều là cácnguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất thấp và ưu đãi. Mỗi dự án nhằm hỗ trợ cáclĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, với mục đích chung là phục vụ các lĩnh vựctrọng điểm nhằm phát triển nền kinh tế.Việc năng động tham gia các dự án này sẽgiúp các NH tiếp cận được nguồn cung vốn với lãi suất ưu đãi để đáp ứng nhu cầuvốn của khách hàng và nền kinh tế. Mặt khác, việc được một định chế tài chínhnước ngoài lựa chọn giải ngân chocác dự án thể hiện sự tín nhiệm của các tổ chứcquốc tế đối với các NH trong nước, qua đó có thể giúp họ nâng cao chất lượngdịch vụ và tăng uy tín của mình đối với xã hội. Đồng thời, thông qua các dự án ủythác này, các NH cũng có thể tận dụng để bán chéo các sản phẩm, dịch vụ tín dụng -73-
  • 74. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhcho NH khác.Vì vậy trong một số năm gần đây, các NHTM Việt Nam đang đẩymạnh huy động nguồn vốn này. Theo bà Lưu Thị Ánh Xuân- Phó Tổng giám đốc- NH TMCP Kỹ ThươngViệt Nam (Techcombank), hiện nay, các dự án ủy thác với các tổ chức nước ngoàilà một trong những kênh cung ứng vốn quan trọng và cần thiết để ngân hàng đẩymạnh hỗ trợ các khách hàng là khối DN vừa và nhỏ. Bà Xuân cũng cho biết, từnăm 2002, Techcombank đã được NH Phát triển Châu Á (ADB) chọn là NH giảingân trong các chương trình tài trợ xuất nhập khẩu. Techcombank cũng là NHnăng động trong dự án RDF2 với WB về phát triển nông thôn với hạn mức 70 tỷđồng cho DN vừa và nhỏ. Sau thành công của các dự án này, Techcombank đãđược dự án SMDF – Quỹ Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ do Chính phủ ViệtNam và Cộng đồng Châu Âu tài trợ - lựa chọn là một trong 4 ngân hàng Việt Namlàm trung gian cho vay có kỳ hạn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổng giá trịtín dụng cấp cho các NH trong suốt thời gian hoạt động của dự án lên đến 320 tỷđồng. Đặc biệt, NH này đã được ADB và NH Nhà nước VN lựa chọn tham gia dựán tài chính nhà ở cho người có thu nhập thấp (dự án HFF) với hạn mức 15 tỷđồng từ năm 2006 và hiện nay ngân hàng đang nỗ lực đẩy mạnh giải ngân theo dựán này. Năm 2007, Techcombank cũng bắt đầu tham gia vào các dự án “thân thiệnvới môi trường” thông qua các dự án nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư chocông nghệ sạch như dự án SECO và dự án PECSME. Các dự án ủy thác là mộtkênh dẫn vốn mới mà các NH sẽ tiếp tục quan tâm và đẩy mạnh trong bối cảnhhiện nay. Sự tham gia tích cực của NH trong các dự án này sẽ tạo thành một kênhdẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế, đồng thời, nhờ các dự án này, các ngân hàngsẽ có thể khẳng định nỗ lực của mình vào sự phát triển của nền kinh tế nói chungvà nỗ lực phục vụ khách hàng nói riêng. -74-
  • 75. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG TRƯỞNG NGUỒN VỐN CỦA NHTM VIỆT NAM Có thể nhận thấy rằng, để hội nhập thành công thì cải cách hệ thống ngânhàng là vấn đề then chốt. Chỉ có đổi mới toàn diện theo các chuẩn mực hoạt độngcủa ngân hàng quốc tế mới đảm bảo hệ thống các ngân hàng Việt Nam cạnh tranhthành công với các ngân hàng nước ngoài. Việt Nam cần phải xây dựng một hệthống ngân hàng có uy tín, khả năng cạnh tranh cao, hoạt động có hiệu quả và antoàn để huy động tốt hơn các nguồn vốn trong xã hội, mở rộng đầu tư, đáp ứngnhu cầu phát triển kinh tế.Trong đó, vấn đề tăng trưởng nguồn vốn ổn định, bềnvững là yêu cầu bức thiết đối với các NHTM Việt Nam trong hiện tại và cả lâu dài.Bởi lẽ, dù sự điều hòa vốn rất nhanh nhạy, hiệu quả trong hệ thống NHTM, nhưnghiện tốc độ tăng trưởng nguồn vốn chưa tương ứng với mức tăng trưởng dư nợ chovay đã tạo nên áp lực đối với các NHTM Việt Nam. Hơn thế nữa theo dự đoán củacác nhà chức trách trong thời gian sắp tới, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn phảitiếp tục vượt qua nhiều thách thức, khó khăn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,kinh tế suy giảm, khó khăn tác động còn lớn hơn. Do đó, các NHTM Việt Namcần phải xây dựng cho mình một lộ trình tăng vốn hợp lý để đảm bảo cung ứng đủvốn cho thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh với nhau. Dưới đây là một số giải pháp tăng trưởng nguồn vốn cho các ngân hàngthương mại Việt Nam :3.1. Thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động vốn trong đó lấy chính sáchkhách hàng làm trọng tâm. Để tăng trưởng nguồn vốn, đòi hỏi ngân hàng phải thực hiện đồng bộ nhiềugiải pháp huy động vốn như: đa dạng hóa sản phẩm, lãi suất huy động; cung cấpsản phẩm trọn gói; tăng cường công tác tiếp thị, chăm sóc khách hàng v.v. Tuy -75-
  • 76. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhnhiên trong điều kiện hiện tại, ngân hàng bị khống chế mức trần lãi suất, chi phíkhuyến mại áp dụng trong huy động vốn phải tính đủ trong lãi suất, ngân hàng nàocũng có khuyến mại, nên chính sách lãi suất, khuyến mãi không còn là lợi thế cạnhtranh để thu hút khách hàng. Hơn nữa trong ngắn hạn, việc đưa ra một sản phẩm huy động vốn mới cònphải chịu độ trễ nhất định về thời gian. Nhưng nếu không huy động đủ vốn sẽ làmgiảm khả năng mở rộng tín dụng và quan trọng hơn là khả năng cân đối nguồn vốnkinh doanh. Do đó, việc thực hiện tốt chính sách khách hàng là một trong nhữnggiải pháp hữu hiệu. Chiến lược khách hàng được xem như là quá trình hoạch định và tổ chứcthực hiện những hoạt động nhằm duy trì và phát triển mạng lưới khách hàng trêncơ sở thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng, mục tiêu duy trì phối hợpgiữa khả năng của ngân hàng với điều kiện thị trường. Thực hiện tốt chính sáchkhách hàng không chỉ giữ chân và thu hút khách hàng mà còn tạo ưu thế cho ngânhàng trong cạnh tranh khi có được sự trung thành của khách hàng. Chính sáchkhách hàng cần phải vượt lên trên tập quán kiểu bán hàng là xong mà còn phải biếtlắng nghe và chiếm lĩnh trái tim người tiêu dùng, để xây dựng mối quan hệ gắn bócó chiều sâu giữa ngân hàng và khách hàng. “Nghe” là để biết khách hàng cần gìvà thái độ như thế nào để rút ngắn khoảng cách giữa nhu cầu và sản phẩm, dịch vụdo ngân hàng cung cấp. Và bằng chính chất lượng của sản phẩm, dịch vụ và mộtthái độ phục vụ tốt, sẵn sàng đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu, ngân hàng sẽnhận được sự ủng hộ và lòng trung thành của khách hàng. Để thực hiện chiến lược khách hàng thành công, trước hết, phải phân nhómđể xác định rõ đối tượng khách hàng và có giải pháp phù hợp. * Đối với khách hàng là doanh nghiệp (DN): ngoài số dư tiền gửi lớn, lãisuất phải trả thường thấp hơn các hình thức huy động khác, ngân hàng còn có thểtận dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong khâu thanh toán. Tuy nhiên, trong thời gian -76-
  • 77. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhqua, ưu thế lãi suất thấp, lượng vốn lớn của DN trong cơ cấu nguồn vốn ngân hàngkhông còn phổ biến. Khi đa số DN chia nhỏ số dư tiền gửi ở nhiều ngân hàng, đềnghị được hưởng mức lãi suất như các hình thức huy động khác, thậm chí một sốDN yêu cầu ngân hàng để được hưởng lãi suất cao hơn khi có số dư lớn. Chưa kểviệc hàng loạt các tập đoàn kinh tế lớn, các tổng công ty cũng thành lập ngân hàngcổ phần và chuyển phần tiển gửi trước đây tại các NHTM về ngân hàng mình. Nêndù phải tiếp tục thực hiện tốt chính sách khách hàng đối với DN như chính sách vềlãi suất, một số loại phí v.v cũng cần thấy rằng nguồn tiền gửi từ DN sẽ khó duy trìở số dư lớn, lãi suất thấp và kỳ hạn dài. Điều này thể hiện rõ khi có sự dịch chuyểnnguồn vốn DN từ ngân hàng này sang ngân hàng khác trong thời gian qua nếu cósự khác nhau về mức lãi suất, một số chính sách khách hàng khác hay có mộtNHTM cổ phần ra đời từ một tập đoàn, tổng công ty. * Đối với nguồn tiền gửi từ dân cư: khi nền kinh tế phát triển, thu nhập củacác tầng lớp dân cư tăng lên, người dân có điều kiện tích lũy nhiều hơn nên ngânhàng cần đưa ra các sản phẩm phù hợp nhằm huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗinày. Thứ hai: duy trì mối quan hệ lâu bền với khách hàng. Điều này sẽ giúpngân hàng rất nhiều. Vừa tiết kiệm chi phí thẩm định khi khách hàng có nhu cầuvay căn cứ vào số dư tài khoản tiền gửi; vừa nâng cao khả năng thu hút kháchhàng mới thông qua mối quan hệ hay “lời giới thiệu” từ chính khách hàng củamình. Hơn nữa, do là khách hàng truyền thống của ngân hàng nên việc đàm phánvề lãi suất, chính sách phí v.v sẽ dễ dàng hơn khi có sự thay đổi hoặc trong cạnhtranh. Kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu đầu tư ngày càng tăng, cùng với sựcạnh tranh từ các kênh đầu tư như chứng khoán, bất động sản, vàng …đã tác độngkhông tốt đến nguồn vốn huy động của các MHTM. Để đáp ứng nhu cầu vốn phụcvụ các mục tiêu phát triển kinh tế đòi hỏi ngân hàng phải khai thác và quản trị tốt -77-
  • 78. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhnguồn vốn. Trong các giải pháp huy động vốn ngoài lãi suất, việc thực hiện tốtchính sách khách hàng kết hợp với mở rộng mạng lưới hoạt động; triển khai cácđại lý chứng khoán, bảo hiểm nhằm thu hút nguồn tiền gửi thanh toán, tiền gửigiao dịch; Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền nhằm phát huy tối đa uy tíncủa một NHTM lớn v.v sẽ là giải pháp hữu hiệu, nhất là trong điều kiện nền kinhtế có nhiều biến động, sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức tín dụng trong huyđộng vốn như hiện nay3.2. Tăng cường bổ sung thêm vốn chủ sở hữu và vốn khả dụng của ngânhàng thương mại Việt Nam, tăng cường xử lý nợ quá hạn. Tăng cường bổ sung thêm vốn chủ sở hữu và vốn khả dụng cho các NHTMquốc doanh để mở rộng tín dụng, tạo điều kiện cơ cấu lại sở hữu vốn của cácNHTM cổ phần để tăng vốn điều lệ. Giải pháp này giúp trực tiếp tăng khả năng tàichính cho các ngân hàng gặp khó khăn. Để thực hiện điều đó, các NHTM cần phối kết hợp các biện pháp tăng vốn(phát hành cổ phiếu, trái phiếu..) một cách hiệu quả, phù hợp với tình hình của mỗingân hàng trong từng giai đoạn nhằm phát huy tối đa ưu điểm của các biện phápnày và hạn chế các nhược điểm của từng biện pháp. Ngoài ra, việc cho phép cácnhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các ngân hàng thương mại trong nước (tốiđa 30%) cũng góp phần tăng nhanh vốn điều lệ của các NHTMCP VN. Sau mỗi lần tăng vốn cần sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn bổ sung,kết hợp với việc cải cách ngân hàng theo hướng nâng cao năng lực quản trị điềuhành, năng lực tài chính, mở rộng quy mô và năng lực cạnh tranh cho ngânhàng...làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng dẫn đến tăng thêm vốn từ lợi nhuận giữlại. Tuy nhiên, Ngân hàng thương mại cổ phần cũng giống như các chủ thế pháthành khác, việc nâng vốn điều lệ phải được kiểm soát chặt chẽ, thậm chí còn chặtchẽ hơn những doanh nghiệp khác vì vai trò và ảnh hưởng to lớn của chủ thể này -78-
  • 79. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnhtrong nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt đối với nguồn vốn nước ngoài trong NHTMViệt Nam cần có những biện pháp theo dõi cụ thể, rõ ràng để tránh tình trạng xấucó thể xảy ra. Bên cạnh đó, Ngân hàng muốn tăng vốn, phải giải trình được cụ thểvề nhu cầu sử dụng vốn, nhu cầu mở rộng cho vay, nhu cầu mở rộng phạm vi kinhdoanh, nhu cầu mở rộng địa bàn kinh doanh… Cần tăng cường xử lý nợ quá hạn của các NHTM để giải toả ngay nguồnvốn ngay trong bản thân ngân hàng. Phân loại nợ quá hạn của các NHTM, nếu docơ chế để lại thì không để các NHTM phải gánh chịu, mà chuyển sang Bộ Tàichính. Nếu nợ quá hạn do bản thân NHTM gây ra thì đương nhiên ngân hàng phảichịu, song cần phải có sự hỗ trợ của các ngành ban để có thể thúc đẩy quá trìnhphát lại tài sản thế chấp để thu hồi nợ, mua bán nợ giữa các ngân hàng… Cầnnghiên cứu sớm thành lập các công ty mua bán nợ để giải quyết các khoản nợ quáhạn cho NHTM3.3. Không ngừng hoàn thiện các tiện ích về công nghệ ngân hàng để phục vụngười gửi tiền một cách tốt nhất trên cơ sở đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật tạingân hàng nhằm nâng cao chất lượng và mở rộng các dịch vụ mới. Hiện nay Ngân hàng thương maị Việt Nam nên tiếp tục duy trì, hoàn thiệnvà mở rộng các ứng dụng tin học như kế toán giao dịch, thanh toán quốc tế, thôngtin quản lý để phục vụ hiệu quả hơn cho hoạt động kinh doanh. Từng bước nghiêncứu ứng dụng các giải pháp công nghệ mới, các dịch vụ ngân hàng mới dựa trênnền tảng công nghệ hiện đại. Mặt khác với các dịch vụ mới đưa vào áp dụng nhưthẻ thanh toán, thẻ rút tiền tự động cần hoàn thiện hơn nữa chất lượng và khả năngquản lý các dịch vụ đó. Giảm thiểu tình trạng tắc nghẽn trong việc rút tiền ở cácmáy rút tiền tự động, sai lệch trong công nghệ chuyển tiền và thanh toán tìên nhưhiện nay. Từ đó tạo tâm lý an toàn cho người gửi tiền, góp phần nâng cao năng lựcvốn cho các NHTM.3.4. Tăng cường công tác đào tạo đội ngũ nhân viên ngân hàng. -79-
  • 80. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh Để tăng truởng nguồn vốn có hiệu quả, một giải pháp không kém phầnquan trọng đó là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng, đào tạovà đào tạo lại cán bộ, đảm bảo thực hiện tốt các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại; tiêuchuẩn hoá đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế, nhất là những cán bộthanh tra giám sát, cán bộ chuyên trách làm công tác pháp luật quốc tế, cán bộ sửdụng và vận hành công nghệ mới. Nếu làm được những điều đó, hệ thống NHTMViệt Nam sẽ vận hành một cách trơn tru hơn, nâng cao uy tín trong xã hội.3.5. Hoàn thiện khung Pháp lý để các ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn.Đồng thời cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn của NHNN với các TCTD khác để hệthống ngân hàng hoạt động được trong sạch và lành mạnh hơn, đúng như những gìmà Đảng và Nhà nước đã kỳ vọng trong thời gian qua.3.6. Tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của các tổ chức tàichính quốc tế để đổi mới và nâng cao năng lực vốn cũng như chất lượng hoạtđộng, năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam. -80-
  • 81. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh LỜI KẾT Những vấn đề liên quan đến quản lý nguồn vốn của ngân hàng thương mạiViệt Nam là một phạm trù rất rộng, ngân hàng có thể dùng nhiều biện pháp tùytheo điều kiện có thể thực hiện được. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng là một tế bào củanền kinh tế – tài chính, do đó nó sẽ không thể tránh khỏi sự chi phối bởi môitrường xung quanh, cũng như sự chi phối của chính hiện trạng nền kinh tế đó. Mộtnền kinh tế phát triển, khoẻ mạnh, thì hệ thống ngân hàng cũng sẽ có những bướctiến mới để phù hợp với sự đi lên đó, thực sự là chỗ dựa vững chắc cho nền kinhtế. Còn ngược lại, không thể nào có được một hệ thống ngân hàng tiên tiến, vữngmạnh khi nền kinh tế yếu kém, chậm phát triển, do đó hệ thống tài chính – tiền tệsẽ không đáp ứng được cho nhu cầu của nền kinh tế, dẫn đến những kết quả tiêucực trong tương lai. Do việc nghiên cứu về hệ thống ngân hàng thương mại là rất sâu rộng vàphức tap, hơn nữa với giới hạn trong khuôn khổ một đề án và giới hạn trong kiếnthức của em; nên em chỉ đề cập được tới một số vấn đề chính yếu của vấn đề này.Nếu có thể ở một số đề án sau em sẽ tiếp tục nghiên cứu. Em rất mong được cácthầy cô góp ý phê bình để những bài viết sau đạt chất lượng tốt hơn. Em xin chânthành cảm ơn. -81-
  • 82. Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh TÀI LIỆU THAM KHẢO1/ PGS.TS.Phan Thị Thu Hà (Chủ biên), 2006, Giáo trình Ngân hàng thươngmại, NXB Thống Kê.2/ PGS. TS Nguyễn Thị Mùi (Chủ biên), 2006, Giáo trình Quản trị Ngân hàngthương mại, NXB Tài chính.3/ GS.TS. Lê Văn Tư (Chủ biên), 2000, Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXBThống kê.4/ TS. Nguyễn Hữu Tài (Chủ biên), 2002, Giáo trình Lí thuyết Tài chính tiền tệ,NXB Thống kê.5/ Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng6/ Tài liệu từ Internet:Ngân hàng nhà nước Việt Nam- www.saga.com.vnDiễn đàn Doanh nghiệp điện tử - www.DDDN.comBáo điện tử - thời báo kinh tế Việt Nam – www.vneconomy.comTin tức kiểm toán – www.kiemtoan.com.vnTạp chí kế toán – www.tapchiketoan.infoĐầu tư chứng khoán – www.vir.vom.vnTài chính doanh nghiệp – www.businessedge.com.vnNgân hàng Ngoại thương Việt Nam – www.Vietcombank.com.vnNgân hàng Đầu tư và phát triển – www.BIDV.com.vnCông ty chứng khoán ngân hàng Đầu tư – www.bsc.com.vnThị trường 24h – www.thitruong24h.com.vn -82-