1     Sách: Những Chủ Đề Trong Thần Học Cựu Ước     Những Chủ Đề Trong Thần Học Cựu Ước     William Dyrness     Lời Giới T...
2     X.      Lòng Tin Kính     XI.     Đạo Đức Học     XII.    Sự Khôn Ngoan     XIII.   Thánh Linh Của Đức Chúa Trời    ...
3phải hiểu được ý nghĩa của nó. Mọi nền thần học tốt đều dựa trên Kinh Thánh hoặc ít hoặcnhiều, nhưng thần học Kinh Thánh ...
4tượng Cựu Ước, mang ý nghĩa toàn diện theo toàn bộ văn mạch của Kinh Thánh thì ý nghĩacủa nó sẽ được mở rộng cho những đi...
5nên lưu ý là có thể nắm vững bối cảnh lịch sử bằng cách tham khảo các tài liệu tiêu chuẩn vềlịch sử Cựu Ước, như của John...
6động, có thể đưa tất cả chúng ta đến sự sâu nhiệm trong đức tin, khiến chúng ta gia tăng sự catụng thì quyển sách này đã ...
7       Về một phương diện, bản tánh Đức Chúa Trời đã được tỏ ra qua công cuộc sáng thế.Ngài đã tạo ra thế giới này bằng m...
8đáng trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Sau đó, Ngài đã hứa thiết lập một giao ước cùngÁp-ra-ham, đó chẳng phải là mối ...
9sở cho mọi sự phát triển về tư duy tôn giáo (religion thought) sau này. Đức Chúa Trời muốndân Y-sơ-ra-ên phải là vật sở h...
10Tạo Thành, xuất phát từ ý niệm cơ bản về vai trò Đấng Tạo Hóa của Đức Chúa Trời(Albright, 256-60).      Nhưng quan điểm ...
11Hướng gợi mở này phù hợp hơn với lối suy nghĩ năng động (dynamic understanding) về cácdanh xưng mà chúng ta từng đề cập ...
12Trời đã dùng đến cấu trúc mà chúng ta từng bàn thảo liên quan đến Xuất 3:14 Ta sẽ làm ơncho ai ta muốn làm ơn hay Thật v...
13     Tóm tắt       Trong tất cả những lần hiện ra đó, một vấn đề thực tế được đặt ra ấy là khi Đức ChúaTrời hiện ra với ...
14là con người không muốn nghe lời Chúa phán và vâng phục Ngài. Họ vẫn còn-giống A-đamvà Ê-va ở chỗ luôn tìm cách trốn chạ...
15ngữ Hy-bá-lai có nghĩa là ông cố tình tránh mặt Đức Chúa Trời (Sáng 3:8). Nhưng về sau,khi mặt Đức Chúa Trời được hiểu n...
16thông. John Calvin đã diễn giải điều đó một cách khá chuẩn xác: Giống như những ngườinuôi dạy trẻ, Đức Chúa Trời cũng nó...
17tất cả danh xưng đó đều mang ý nghĩa liên đới về mối quan hệ giữa Chúa với con dân Ngài.Tất cả các danh xưng đều không c...
18điển hình). Các tiên tri của thế kỷ thứ tám đã tránh dùng thuật ngữ đó, ngoại trừ Ê-sai (6:5;41:21; 44:6; 52:7). Có lẽ c...
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Sách những chủ đề trong thần học cựu ước
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Sách những chủ đề trong thần học cựu ước

1,336 views
1,177 views

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
1,336
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
27
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Sách những chủ đề trong thần học cựu ước

  1. 1. 1 Sách: Những Chủ Đề Trong Thần Học Cựu Ước Những Chủ Đề Trong Thần Học Cựu Ước William Dyrness Lời Giới Thiệu Cuốn Những Chủ Đề Trong Thần Học Cựu Ước này được dịch từ cuốn Themes in OldTesttament Theology của giáo sư William Dyrness do nhà xuất bản Inter-Vasity Press ấnhành năm 1979. Kinh nghiệm giảng dạy Thần Học Cựu Ước tại Chủng Viện Thần học Châu Á ở Manilađã thôi thúc William Dyrness viết cuốn sách này. Trong thời gian giảng dạy, tác giả đã nhậnthấy một mặt tài liệu này rất phù hợp với các sinh viên Châu Á, mặt khác sinh viên hiện đangthiếu tài liệu thần học hợp thời và thỏa đáng. Tuy nhiên theo tác giả, quyển sách nhỏ này chỉnhìn nhận sự thiếu hụt hơn là nỗ lực để lấp đầy những thiếu hụt đó. Được sự cho phép bản quyền của nhà xuất bản Inter-Vasity Press, Viện Thần Học ViệtNam dịch và xuất bản cuốn sách này nhằm đáp ứng nhu cầu học hỏi Lời Chúa của con dânChúa khắp nơi. Các con cái Chúa có thể sử dụng tập sách này để nghiên cứu cách cá nhânhoặc theo từng nhóm. Tập sách này cũng được dùng làm tài liệu giáo khoa cho các học viên học từ xa (hàmthụ) muốn học môn Thần Học Cựu Ước (chương trình B.A. hay B.Th.) của Viện Thần HọcViệt Nam Chúng tôi ước mong tập tài liệu này sẽ khích lệ và hướng dẫn bạn trong việc học hỏiLời Chúa. Viện Thần Học Việt Nam Tháng 12, 2003 Những chữ viết tắt ANET: Ancient Near Eastern Texts [các bản văn Cổ Cận Đông] DOTT: Documents from Old Testemant Times [các tài liệu thời Cựu Ước] IDB: Interpreters Dictionary of the Bible [Thánh Kinh Từ Điển] LXX: Septuagint [Bộ Bảy Mươi] NBD: The New Bible Dictionary [Tân Thánh Kinh Từ Điển] NT (TƯ): New Testament [Tân Ước] OT (CƯ): Old Testament [Cựu Ước] TDNT: Theological Dictionary of the New Testament [Từ Điển Thần Học Tân Ước]. I. Dẫn Nhập II. Đức Chúa Trời Tự Mặc Khải III. Bản Tánh Của Đức Chúa Trời IV. Sáng Tạo & Quan Phòng V. Người Nam & Người Nữ VI. Tội Lỗi VII. Giao Ước VIII. Luật Pháp IX. Sự Thờ Phượng
  2. 2. 2 X. Lòng Tin Kính XI. Đạo Đức Học XII. Sự Khôn Ngoan XIII. Thánh Linh Của Đức Chúa Trời XIV. Lời Tiên Tri XV. Hy Vọng Của Y-sơ-ra-ên XVI. Các Sách Tham Khảo (c) 2004-2009 VietChristian.com and its software. All rights reserved Chương 1 Dẫn Nhập Một tác phẩm viết về Cựu Ước khó có thể trở thành sách bán chạy nhất hiện nay. Ngaygiữa vòng những người sốt sắng nghiên cứu Kinh Thánh và tiếp tục làm cho Kinh Thánh luônluôn là loại sách bán chạy nhất qua các thời đại thì những cuộc hội thảo về Cựu Ước cũngkhông thay đổi được quan niệm của họ. Chẳng khó khăn gì mà không biết được lý do của nó.Hầu như các Cơ Đốc Nhân vẫn thường dành phần lớn thời gian của mình vào việc nghiêncứu Tân Ước, thỉnh thoảng mới đột phá vào các sách Thi Thiên hoặc Châm Ngôn, còn cácsách Tiên Tri thì lâu lâu mới đọc. Hậu quả là nhiều Cơ Đốc Nhân không hiểu được toàn bộmặc khải của Đức Chúa Trời về chính Ngài do đó họ không thể nào có được một bức tranhtoàn cảnh về các mục đích của Chúa. Thực tế cho thấy, nhiều ngôn ngữ trên thế giới thậm chívẫn chưa có được một bản dịch Cựu Ước nữa. Dĩ nhiên, có thể thông cảm với lý do hạn chếvề ngân quĩ và nhân lực nên Kinh Thánh Tân Ước được ưu tiên dịch ra trước, nhưng nếu quývị giáo sĩ và mục sư chỉ biết giảng dạy nương trên Tân Ước mà thôi thì họ sẽ không thể nàothể hiện được toàn bộ sức mạnh của Lời Đức Chúa Trời. Điều này đặc biệt quan trọng trongnhững bối cảnh truyền giảng, bởi Cựu Ước thường là nhịp cầu tự nhiên nối liền với giới bìnhdân, nhất là với những đối tượng không thuộc về nền văn hóa Tây phương. Cựu Ước đượcđưa vào tư gia, đưa ra phố chợ với mục đích truyền thông tình yêu và sự nhơn từ của Chúabằng những lời lẽ hết sức cụ thể. Thực ra Tân Ước không thể đứng một mình. Chẳng khó khăn gì để tìm ra các dẫn chứng nhằm minh họa cho điều này qua các tàiliệu truyền giáo. Chẳng hạn, tại Trung Hoa, các giáo sĩ vào những ngày đầu tiên thường chỉsử dụng Tân Ước để truyền giảng. Khi bàn về nhược điểm của các hội truyền giáo tại TrungHoa, Arthur Glasser ghi nhận: Lỗ hổng đích thực của phong trào truyền giáo chính là việc sử dụng không đầy đủ lờicủa Đức Chúa Trời. Nó chỉ chú trọng vào một bộ phận của Kinh Thánh đó là Tân Ước vàsách Thi Thiên...Kinh Thánh không chỉ chứa đựng sứ điệp Phúc Âm của Tân Ước mà còn cócả sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dành cho thiên chức về nhân quần xã hội nữa: đó là mộtchuỗi bổn phận xuyên suốt Cựu và Tân Ước. Trong khi Tân Ước tập trung phần lớn vào từngcá nhân trước mặt Đức Chúa Trời, thì Cựu Ước lại nhấn mạnh đến mối liên hệ hợp nhất (giađình, cộng đồng xã hội và quốc gia). Tại núi Si-nai, Đức Chúa Trời đã ban cho dân sự Ngàimột lối sống vừa bình đẳng vừa nhân đạo...Tóm lại, Cựu Ước đã chỉ dạy về một lối sống quađó các quyền lợi của con người được bảo toàn”(New Forces in Missions, ed. David Cho,Seoul, 1976, pp. 194-95). Như vậy, tác phẩm này ra đời nhằm mục đích khai mở Cựu Ước cho các Cơ Đốc Nhân.Nói đúng ra, thì đây là một quyển sách về thần học Cựu Ước, và điều quan trọng là chúng ta
  3. 3. 3phải hiểu được ý nghĩa của nó. Mọi nền thần học tốt đều dựa trên Kinh Thánh hoặc ít hoặcnhiều, nhưng thần học Kinh Thánh phải là sự nghiên cứu chuyên biệt về các chủ đề củaThánh Kinh dựa trên những điều kiện được cho của chúng. Để phân biệt với thần học hệthống, là khoa học tìm cách thấu hiểu mối tương quan giữa các chủ đề của Thánh Kinh vớicác hàm ý về lịch sử và triết học, thần học Kinh Thánh nghiên cứu các chủ đề xuyên suốt củaThánh Kinh trong tiến trình phát triển sự đối xử mà Đức Chúa Trời dành con người vào thờiđại Kinh Thánh. Nó mang tính lịch sử và tiệm tiến. Thần học Kinh Thánh xoay quanh sự tựmặc khải để cứu rỗi của Đức Chúa Trời bằng hình thức các biến cố, qua đó Đức Chúa Trời đãkêu gọi cho Ngài một dân không phải chỉ để phản ánh tâm tánh Ngài mà còn nhằm phản ánhcác chủ đích yêu thương Ngài. Thần học Kinh Thánh nhìn thấy các bước phát triển đó dựatrên bối cảnh của một thế giới do Đức Chúa Trời sáng tạo, là phương tiện chuyên chở nhữngchủ đích và giá trị của Đức Chúa Trời. Cuối cùng, thần học Kinh Thánh cho thấy Đức ChúaTrời đã không hề chịu từ bỏ các chủ đích của Ngài như thế nào, mặc cho sự bất trung củachính dân Ngài, và thậm chí là sự vô tín của họ, Ngài vẫn hành động để tạo ra một dân kháctrọn vẹn và hoàn hảo hơn cho chính Ngài. Nếu chúng ta nhập tâm những ý tưởng này và đọc Tân Ước (với toàn bộ phần lịch sửliên quan đến vấn đề đó) trong sự soi sáng của chúng, nghĩa là chúng ta đang thực hiện mộtbước khởi đầu quan trọng theo lối tư duy thần học y theo quan niệm của Đức Chúa Trời vềthế giới này. Điều chắc chắn là các ý niệm trọng tâm đó được bày tỏ qua Cựu Ước. Tuy nhiên, điều hoàn toàn đúng là chúng ta phải đọc Cựu Ước trong ánh sáng về sựhiện ra của Chúa Giê-xu Christ, cùng với sự mô tả tỉ mỉ của Tân Ước về công việc Ngài. Nóicách khác, chúng ta phải đọc Cựu Ước với cương vị là Cơ Đốc nhân và phải tự vấn xem điềuđó có nghĩa gì. Với Cơ Đốc nhân, đâu là mối quan hệ giữa hai giao ước? Có một số người,nhất là những người theo trường phái Luther, đã nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa Cựu vàTân Ước cũng như trổi vượt của Tân Ước. Luật pháp của Cựu Ước đã bị thay thế bởi PhúcÂm của Tân Ước. Theo tôi thì Cơ Đốc nhân nên xem cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều có vai trònhư nhau . Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận những dị biệt vốn có giữa hai giao ước ấy. Cácchủ đích của Đức Chúa Trời được thể hiện một cách rõ ràng hơn trong Tân Ước. Giao ước ấyđã được đóng ấn một lần đủ cả bằng sự chết của Đấng Christ, chứ không phải bằng nhiều lầndâng sinh tế như trong Cựu Ước. Cựu Ước thì chú trọng ưu tiên vào dân Y-sơ-ra-ên, trongkhi Tân Ước lại thể hiện phần lớn sự quan tâm đến toàn thế gian. Song những điểm tươngđồng giữa hai giao ước lại quan trọng hơn những điểm dị biệt. Cả hai giao ước đều ký thuậtvới cùng một dòng lịch sử về quá trình phát triển sự đối xử của Đức Chúa Trời với nhân loại.Công việc của Đấng Christ là tột đỉnh của chân lý Cựu Ước chứ không phải là sự phủ nhậnchân lý đó. Cũng có những điểm mới trong Tân Ước, nhưng những điểm mới đó không phảilà hoàn toàn mới. Có một sự liên tục quan trọng nối liền hai giao ước lại với nhau, cả hai đềuchứa đựng lề lối và bản chất của sự mặc khải Đức Chúa Trời cũng như phương cách mà conngười đáp ứng sự mặc khải đó. Như John Calvin đã nói: Tôi được tự do thừa nhận có nhữngđiểm dị biệt trong Kinh Thánh...nhưng bằng một cách thức nào đó để khỏi làm phương hạiđến tính nhất quán vững lập của nó...Tất cả những điều đó chỉ tác động đến thể thức, chứkhông hề liên quan đến bản chất (Institutes, II, 11, 1). Một phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh đã chứng tỏ có kết quả trong việc minh họacho tính nhất quán này là hình bóng học (typology), hay môn học về những sự tương quangiữa các yếu tố của hai giao ước đó. Nếu việc làm đó từng bị lạm dụng và dẫn tới sự giải kinhtưởng tượng ra nhiều chi tiết thì việc hiểu đúng phương pháp sẽ giúp ta thấy rõ sự mặc khảicủa Đức Chúa Trời được phát triển một cách nhất quán trong lịch sử. Hình bóng là một biếncố Kinh Thánh, một nhân vật hay một thể chế dùng để nêu gương hay làm mẫu cho nhữngbiến cố, những nhân vật hay những thể chế khác căn cứ trên bàn tính nhất quán về bản tính vàhành động của Đức Chúa Trời (Baker 1977, 267). Điều này có nghĩa là một biến cố hay đối
  4. 4. 4tượng Cựu Ước, mang ý nghĩa toàn diện theo toàn bộ văn mạch của Kinh Thánh thì ý nghĩacủa nó sẽ được mở rộng cho những điểm tương quan (và ứng nghiệm) trong Tân Ước màchúng ta có thể gọi là bối cảnh Tân Ước. Lối suy tưởng này phần lớn được thảo luận trongsách này, khi tham khảo Tân Ước.Có một cách làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai giao ước đólà ví sánh Kinh Thánh với một bản nhạc giao hưởng. Tất cả những chủ đề căn bản của bảngiao hưởng đều đã được trình bày trong Cựu Ước, đều có thể được nhìn thấy và thưởng thứcngay trong những điều kiện của nó. Tất cả sự thật về việc tự mặc khải của Đức Chúa Trời quasự sáng tạo và cứu chuộc đều đã được diễn tả trong các chủ đề ấy. Đức Chúa Trời đang thựcsự tiến về phía nhân loại nên đã có một mối thông công thực sự giữa hai bên không phải chỉlà lời hứa về điều này. Sau đó Tân Ước cũng sử dụng các chủ đề đó, khai triển ra và thêm vàođó các giai điệu riêng của mình, chuyển toàn thể bản nhạc lên một cung bậc cao hơn, đan dệttất cả vào nhau một cách phong phú và đẹp đẽ. Chỉ cần một dòng giai điệu đơn giản trongCựu Ước chẳng hạn như nói về thái độ nản lòng và sự chu cấp của những ngày lưu lạc tạiđồng vắng được góp nhặt và sắp xếp vào một khung cảnh khác thì giá trị sẽ được nâng lêntrong phần mặc khải Tân Ước như những lời cảnh báo và khích lệ của Phao-lô dành cho HộiThánh tại Cô-rinh-tô (I Côr 10). Nếu chúng ta không chịu cẩn thận lắng nghe Cựu Ước, rất cóthể là chúng ta sẽ bỏ qua cơ hội thưởng thức những giai điệu cảm động nhất của Tân Ước.Cho nên, thay vì nhìn thấy Cựu Ước chỉ là tạm thời và thiếu sót một cái gì đó lỗi thời và bịphế bỏ chúng ta phải nhìn thấy nó như là một cái gì đó chưa hoàn tất hơn cả phần hòa âm cầnđược định hình, chuyển đổi phần ẩn dụ, cùng những tình tiết cần phải được đưa vào đoạn kết.Như vậy, những gì Tân Ước đem đến cho chúng ta không phải để bỏ mặc Cựu Ước lại đàngsau, mà chính là để thể hiện ra thực tại rất sâu nhiệm của Cựu Ước. Người ta có cảm tưởngrằng càng đi sâu vào thực tại Cựu Ước thì người ta càng hiểu được chân lý của Tân Ước mộtcách sâu nhiệm hơn. Tân Ước và Cựu Ước đều cần đến lẫn nhau để cho cả hai cùng đạt đếnsự bày tỏ trọn vẹn. Muốn bàn luận một cách đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa hai giao ước,nên đọc tác phẩm Two Testaments: One Bible, của tác giả D. L. Baker được ghi trong danhmục sách tham khảo. Phần trên đây có thể giúp chúng ta trả lời được câu hỏi luôn được đặt ra, đó là ”Yếu tố trọng tâm của Cựu Ước là gì? Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này bằng mộtcâu hỏi khác: Người ta phải tìm tâm điểm của một khúc giao hưởng hay một vở kịch ở đâu? Dĩ nhiên phải có những chủ đề trung tâm, nhưng không một điểm nào có thể được coilà tâm điểm, trừ khi khi nó chính là điểm kết hợp toàn bộ. Cho nên, tất cả những chủ đề màchúng ta sẽ thảo luận đều trùng lắp lên nhau và tương quan lẫn nhau. Bản tánh của Đức ChúaTrời dẫn Ngài đến chỗ ràng buộc chính Ngài với người nam và người nữ trong giao ước; luậtpháp làm trọn giao ước; sự thờ phượng (hình thức) và lòng tin kính cùng phát triển từ mốiquan hệ giao ước được định nghĩa trong luật pháp; tất cả những điều đó tự bày tỏ qua đờisống đạo đức của cộng đồng (đạo đức học và sự khôn ngoan), dẫn đến khải tượng trong cáctiên tri về giao ước cuối cùng mà Đấng Christ sẽ đóng ấn bằng sự chết của Ngài. Có lẽ sựthống nhất toàn bộ được thể hiện tốt nhất qua sự tự mặc khải mang tính sáng tạo cứu chuộccủa Đức Chúa Trời, hay bằng lời lẽ đơn giản hơn đó là việc Ngài đã bằng lòng hạ mình để trởthành người cha của dân sự Ngài. Tôi đã chọn cách khai triển mọi khía cạnh đó theo chủ đề. Phương pháp này có thể gặpnguy cơ tạo ra những quan niệm sai lầm. Bất kỳ một hình thức phân chia tài liệu nào cũngđều có ít nhiều tính độc đoán, và có thể đề nghị phân chia ở những chỗ không có phân chia.Cho nên, cần nhớ rằng các ý niệm và thể chế được thảo luận trong các chương riêng biệt đềucó liên hệ hữu cơ với nhau, và đều trải qua sự phát triển lịch sử trong đời sống của Y-sơ-ra-ên. Sự mặc khải của Đức Chúa Trời mang tính tiệm tiến tăng dần. Đó là lý do khiến cho mộtsố học giả (như Gerhard von Rad chẳng hạn) thích nghiên cứu Cựu Ước bằng phương pháplịch sử hơn. Nhưng khi người ta đã lưu ý đến đặc tính lịch sử của mặc khải, thì phương phápchủ đề sẽ giúp chúng ta hiểu rõ tính mạch lạc trong chương trình của Đức Chúa Trời. Cũng
  5. 5. 5nên lưu ý là có thể nắm vững bối cảnh lịch sử bằng cách tham khảo các tài liệu tiêu chuẩn vềlịch sử Cựu Ước, như của John Bright hay Leon Wood được ghi trong danh mục sách thamkhảo. Trong phần lớn các chương, phương pháp đều giống nhau. Bắt đầu với phần tóm tắt cáctư liệu, tôi mô tả sơ lược về sự phát triển đã xảy ra trong Cựu Ước (nếu có thể thì đề cập đếnbối cảnh Cận Đông), rồi kết thúc bằng việc tóm tắt các nguyên tắc thần học có trong đó.Trong một số trường hợp nhất là khi thảo luận về người nam và người nữ và về tội lỗi tôi đãsử dụng nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng về từ ngữ và khái niệm để bổ túc cho phươngpháp kia. Phải thừa nhận rằng không hề có phương pháp riêng lẽ nào lại không có cái nhìnphiến diện, vì thế chỗ nào có thể sử dụng được nhiều phương pháp khác nhau thì cần nên kếthợp. Việc sử dụng các công trình nghiên cứu từ ngữ là phương pháp thông thường để họcKinh Thánh, và thiết tưởng nên nói đôi lời về phương pháp nghiên cứu Cựu Ước này. Về cơbản, có hai cách nghiên cứu từ ngữ: nghiên cứu nguyên ngữ (etymological) và nghiên cứungữ nghĩa (semantical). Phương pháp đầu chú ý đến ngữ căn, là nguồn gốc và sự phát triểncủa từ ngữ; phương pháp sau chú trọng vào ý nghĩa các từ ngữ khi chúng được dùng trongcác văn mạch. Theo truyền thống, tuy việc nghiên cứu nguyên ngữ được người nghiên cứuKinh Thánh sử dụng rộng rãi hơn, nhưng gần đây, người ta lại thừa nhận rằng thượng hạ văncủa một từ ngữ là quan trọng hơn nguồn gốc của nó (thực sự có thể hoàn toàn bị lãng quên).Do đó, trong nguyên văn Hy Lạp của Tân Ước, các học giả hiện có khuynh hướng chú ýnhiều đến các bối cảnh của từ ngữ Hy Lạp (hay tiếng A-ram) của Cựu Ước hơn là lịch sửnguyên ngữ của Hy Văn cổ (tuy cũng không nên bỏ qua phần này). Lẽ dĩ nhiên, giải pháp tốtnhất là phải sử dụng cả hai nếu muốn hiểu rõ một điều gì qua nguyên ngữ (và có lẽ cả ý nghĩacủa nó trong các ngôn ngữ liên quan), phải thận trọng chú ý xem từ ngữ ấy đã được sử dụngnhư thế nào trong văn mạch của Kinh Thánh. Trong những phần nghiên cứu như vậy, tôi sẽnhấn mạnh đến cả hai phương pháp. Trong chương bàn về Đức Chúa Trời với người nam vàngười nữ, tôi lưu ý nhiều đến những điểm giống nhau, về phương diện nguyên ngữ, còn trongchương về tội lỗi, tôi dành sự quan tâm nhiều hơn cho các mối quan hệ ngữ nghĩa mà khônghề có sự dính dáng gì về mặt nguyên ngữ. Học viên nào muốn thì có thể tham khảo tác phẩmThe Semantics of Biblical Language của James Barr, có thảo luận đầy đủ về những điểm này. Những năm gần đây Cựu Ước đã trở nên hấp dẫn nhờ những kiến thức phong phú quacác công trình nghiên cứu về tôn giáo đối chiếu, sử học, và khảo cổ học. Một số sách thầnhọc Cựu Ước đã được viết ra nhờ sử dụng số tài liệu đó. Tôi cũng tìm cách sử dụng số tài liệuđó trong phạm vi của chủ đích và khả năng của mình. Một phần của chủ đích đó được xácđịnh qua việc quyển sách này đã được soạn thảo theo quan niệm Tin Lành, là quan niệm chấpnhận toàn bộ Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời. Dù không phải mọi nguồn tài liệu tôi đãsử dụng đều phản ánh quan điểm như vậy”và cũng có người sẽ không hài lòng với cách tôisử dụng các kết luận của họ”tất cả đều có nhiều điều để dạy chúng ta về Cựu Ước. Một khivăn bản Thánh Kinh được xem là tòa án chung thẩm, thì người học Kinh Thánh không nêntránh né việc học hỏi những kiến thức dồi dào được xuất phát từ những trường phái phê bìnhđương đại được cung cấp sẵn cho mình (Introduction to the OT của R. K. Harrison quyểnlược khảo rất hữu ích về các quan điểm phê bình và lời đáp lại của giới Tin Lành). Tôi có liệtkê một số công trình nghiên cứu rất quan trọng như vậy trong bản thư mục ở cuối sách. Vì cóthể tìm được các dữ kiện trong đó, nên tôi giới hạn việc đề cập các quyển sách đó, cũng nhưnói đến tác giả, niên đại (nếu cần phải minh định rõ) và số trang trong sách này của tôi. Mục đích chính của quyển sách này không nhằm đưa học viên đến với Cựu Ước. Vìthế, tôi đã đưa phần trích dẫn Kinh Thánh trong hầu hết mọi phân đoạn. Các câu trích dẫn đókhông phải là để hậu thuẫn cho những gì tôi nói; mà đúng hơn đó chính là nguồn gốc cácnhận xét của tôi. Chúng được dụng ý trưng ra để mọi người đọc và suy gẫm. Nếu có ngườiđọc những câu đó và bắt đầu nhận thấy rằng Cựu Ước quả là một tài liệu lý thú và làm cảm
  6. 6. 6động, có thể đưa tất cả chúng ta đến sự sâu nhiệm trong đức tin, khiến chúng ta gia tăng sự catụng thì quyển sách này đã đạt được mục đích của nó rồi. Chương 2 Đức Chúa Trời Tự Mặc Khải Tri thức chung mọi người đều có đó là Đức Chúa Trời thực hữu, Ngài đã sáng tạo trờiđất, Ngài là Đấng công chính, Ngài trừng phạt kẻ gian ác v.v... Nhưng Đức Chúa Trời nghĩ gìvề chúng ta, Ngài muốn ban gì và làm gì để giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết hầu cứurỗi chúng ta -- đây là tri thức đặc biệt và đích thực về Đức Chúa Trời -- thì loài người lạikhông biết. Như thế thì chẳng khác gì chuyện vẫn thường xảy ra là tôi rất quen với khuôn mặtcủa một người, nhưng lại không thật sự biết người đó, bởi vì tôi không biết những gì ngườiấy suy nghĩ. Cũng vậy, con người tự nhiên biết có một Đức Chúa Trời, nhưng lại không biếtnhững gì Ngài muốn và những gì Ngài không muốn. Martin Luther, Thư Tín Ga-la-ti Đức Chúa Trời Tự Mặc Khải: Nền Tảng Của Mặc Khải Cựu Ước Mục tiêu mặc khải mà Đức Chúa Trời muốn thực hiện trong Cựu Ước tất nhiên là việctự mặc khải (self-revelation) về mình cho dân Ngài; mặc khải về thân vị và bản tánh Ngàichính là tiền đề giải thích cho sự mặc khải về mục đích Ngài. Trong những năm gần đây, cáchọc giả Cựu Ước thường nhấn mạnh về mặc khải của Đức Chúa Trời qua những công việcquyền năng Ngài, ắt hẳn điều đó đã mang lại cho chúng ta một hiểu biết tường tận hơn vềtính xác thực của mặc khải Cựu Ước. Đức Chúa Trời không chỉ mặc khải chính mình Ngàibằng những lời tuyên phán (propositions) mà thông qua những biến cố, Ngài còn dùng cáctiên tri Ngài để chú giải những điều đó cho chúng ta. Gần đây, Wolfhart Pannenberg cùng vớinhóm chuyên gia của mình đã nhấn mạnh đến đặc tính lịch sử của mặc khải. Rolf Rendtorffcho rằng: ”Jahweh (danh xưng của Đức Chúa Trời theo nguyên ngữ Hi-bá-lai) đã bày tỏchính mình Ngài cho chúng ta qua những công việc cứu rỗi quyền năng được thực hiện, cónghĩa là qua đó Ngài đã tự mặc khải về mình (Pannenberg, 32). Pannenberg thì quả quyết:Đức tin bền đỗ nhờ vào bằng chứng về các sự kiện lịch sử khi sự cứu rỗi được thực hiện, quađó bày tỏ thần tánh và năng quyền của Jahweh (Pannenberg, 126). Tất cả những vấn đề nêu trên đều hữu ích. Nhưng chắc chắn không thể vì vậy mà chorằng sự mặc khải của Đức Chúa Trời qua sách Sáng Thế Ký là một phương thức mặc khảichưa thỏa đáng theo như nhận định của họ. Song để cho dân Y-sơ-ra-ên có được cơ sở nhậnthức về công việc quyền năng của Đức Chúa Trời, Ngài đã tự mặc khải về mình cho các tổphụ. Lời xác nhận Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi (Xuất 15:2) cùng với ánh sáng về sự hiện racủa Đức Chúa Trời trong quá khứ đã khiến cho việc ra khỏi Ai Cập trở nên dễ hiểu hơn.Chúng ta cần nên nhớ, sự mặc khải Cựu Ước bao giờ cũng dẫn đến một mối quan hệ biệtriêng giữa Đức Chúa Trời với dân sự Ngài. Nếu sự tương giao được thiết lập, chúng ta cầnphải hiểu biết được bản tánh của Đức Chúa Trời qua việc Ngài tự bày tỏ mình ra. Chúng ta sẽkhông thể đạt đến sự hiểu biết đầy trọn về mặc khải Cựu Ước nếu chưa có được tầm vóckhám phá đa phương (many-sided) về lời lẽ và sự kiện trong đó. Một khi chưa nhìn nhận việctự mặc khải của Đức Chúa Trời là mặc khải nền tảng thì chúng ta sẽ chẳng hiểu biết được gì.Hãy xem lại những gì đã chép để hiểu được lý do tại sao.
  7. 7. 7 Về một phương diện, bản tánh Đức Chúa Trời đã được tỏ ra qua công cuộc sáng thế.Ngài đã tạo ra thế giới này bằng mối quan tâm sâu sắc và dõng dạc tuyên bố xác nhận nó thậttốt lành (Sáng 1:31). Đến Sáng Thế Ký chương 2, chính Đức Chúa Trời đã ban chỉ dẫn sốngcho A-đam trong vườn Ê-đen. Cho đến khi sự hài hòa của các tạo vật nguyên thủy bị phá vỡbởi sự bất tuân và mất đi nguyên trạng của mình thì lúc đó sự tự mặc khải tươi mới (fresh)của Đức Chúa Trời mới thực sự trở nên cần thiết. Kể từ đó trở đi, sự mặc khải được mang đặctrưng phục hồi mối quan hệ đã bị phá vỡ. Và bỗng trở nên sự cứu chuộc. Trong Sáng Thế Ký 3:9, Đức Chúa Trời đã hiện đến và hỏi con người rằng: Ngươi ởđâu?”, A-đam đã nỗ lực một cách đáng thương để lánh mặt Đức Chúa Trời vì ông đã bắt đầubiết hổ thẹn, xuất phát từ nhận thức về sự xa cách giữa mình với Đức Chúa Trời. Kể từ đó,con người bắt đầu biết run sợ khi đứng trước sự hiện diện của Chúa. Trước Đấng Tạo Hóa,họ biết mình lõa lồ và nhận thức thuộc linh đã đến với họ khi họ thật sự ý thức được thân thểmình lõa lồ (về sau trong dân Y-sơ-ra-ên, hễ ai đến trước mặt Đức Giê-hô-va cách lõa lồ đềubị xem là làm điều gớm ghiếc - Xuất 20:26). Rõ ràng, sự chất vấn của Đức Chúa Trời khôngnhằm mục đích đòi hỏi con người cho Ngài biết những gì đã xảy ra, nhưng ấy là nỗ lực nhằmkéo A-đam và Ê-va về với chính Ngài, để cho họ thấy lòng Ngài bao dung. Sự chất vấn dànhcho Ca-in trong Sáng Thế Ký 4:6,9,10 Cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống? Em ngươi ở đâu?Ngươi đã làm điều chi vậy? cũng nhằm mục đích tương tự. Đức Chúa Trời biết những gì đãxảy ra song Ngài muốn Ca-in tự thú để trở lại cùng Ngài. Ngay từ ban đầu, Đức Chúa Trời đãtỏ thái độ bao dung đối với tội lỗi loài người. Ngài không muốn tội nhân chết mất, nhưngmuốn họ được sống. Đức Chúa Trời Tự Mặc Khải Trong Những Trường Hợp Đặc Biệt 1. Sáng Thế Ký 12. Việc tự mặc khải của Đức Chúa Trời chỉ thật sự bắt đầu từ SángThế Ký12 khi Ngài kêu gọi Áp-ra-ham lìa bỏ quê hương và dân tộc mình để đi đến một vùngđất mà Ngài sẽ chỉ cho. Câu 1 được mở đầu bằng một mạng lệnh; Đức Chúa Trời không hềbày tỏ mình là ai mà chỉ phán: Hãy rời bỏ quê hương để đi đến một vùng đất mà ta sẽ chỉ cho.Cũng như hết thảy những lần hiện ra trong Cựu Ước, sự hiện diện và quyền uy của Đức ChúaTrời trong đoạn kinh văn này là không thể hoài nghi. Bởi làn sóng của hoài nghi chủ nghĩahiện đại (modern skepticism) rất dễ khiến chúng ta tự hỏi: làm sao Áp-ra-ham biết được đó làĐức Chúa Trời, chẳng lẽ ông lại không có khoảnh khắc nghi ngờ nào chăng, nhưng KinhThánh thì không hề đề cập đến những điều đó. Mạng lệnh thật đơn giản và rõ ràng. Như lậpluận của Von Rad:”Jahweh là chủ từ của động từ đầu tiên trong phần mở đầu của lời tuyênphán đầu tiên, thì đương nhiên Ngài cũng là chủ thể của toàn bộ phần thánh sử còn lại. Ngàiđã mở đầu bằng lệnh truyền: hãy triệt để dứt bỏ từ gốc rễ mọi ràng buộc mang tính tự nhiên(Von Rad 1961, 154). Ngay sau đó là một lời hứa, Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn, ta sẽban phước cho ngươi (câu 2). Và câu tiếp theo cho thấy Đức Chúa Trời quan tâm đến mọidân tộc, nhưng Ngài chỉ khởi đầu thiết lập mối quan hệ với Áp-ra-ham và dòng dõi của ông.Toàn bộ Thánh Kinh Cựu Ước toát lên mối quan hệ thiết thân giữa Đức Chúa Trời với dân sựNgài. Thông qua tuyển dân, Ngài muốn ban phước cho mọi dân tộc trên thế gian này. 2. Sáng Thế Ký 15 và 17. Trong hai chương này Đức Chúa Trời lại hiện ra cùng Áp-ra-ham và chính thức lập giao ước với ông. Trong 15:1 Ngài hứa sẽ làm một cái thuẫn đỡ choÁp-ra-ham và trong 17:1 Ngài tự xưng là El Shaddai. Nguyên nghĩa của danh xưng này dẫuchưa đạt được sự nhất trí chung nhưng nó hàm chứa được ý nghĩa về sức mạnh của Đức ChúaTrời so với sự mỏng manh của con loài người, cũng như hàm ý về sự cung ứng đầy đủ củaĐức Chúa Trời dành cho họ. Sau khi tỏ ra danh xưng đó, Đức Chúa Trời đã đưa ra lời giáohuấn: Ngươi hãy đi trước mặt ta, làm một người trọn vẹn (17:1). Đáp ứng mà Đức Chúa Trờiđòi hỏi ở đây là một đáp ứng về mặt đạo đức; ngay từ ban đầu, chuẩn mực đạo đức đã đượcđề cập đến trong mối quan hệ giữa Chúa với dân sự Ngài. Cần phải có cách ăn nết ở xứng
  8. 8. 8đáng trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Sau đó, Ngài đã hứa thiết lập một giao ước cùngÁp-ra-ham, đó chẳng phải là mối giao thân tạm bợ, mang tính thời vụ, song là một mối giaothân liên tục và vĩnh cửu. Tính cách trường cửu ấy được ấn chứng bằng dấu hiệu về phép cắtbì trên thân thể lưu truyền qua các thế hệ (c.10). Việc Đức Chúa Trời tiết lộ danh tánh Ngài cho Áp-ra-ham mang một ý nghĩa rất lớn.Cũng như người Trung Hoa và nhiều dân tộc khác, danh xưng đóng vai trò rất quan trọng đốivới người Hi-bá-lai. Nó bày tỏ một phần cá tánh của con người. Vai trò quan trọng của A-đam trong việc mặc lấy hình ảnh Đức Chúa Trời thể hiện qua việc được giao quyền đặt têncho các tạo vật. Khi đặt tên như vậy, ông đã thực thi quyền tự do của mình trên thế giới đượctạo nên. Và những tên gọi đó cũng chính là phương tiện liên lạc giữa ông với tạo vật khác.Đối với một người thì tên gọi của họ ở đâu cũng có nghĩa là họ đang thật sự ở đó. Tên vàngười tuy hai mà một. Thực tế đã chứng minh: khi hoàn cảnh của một người thay đổi, thì têncủa người đó cũng buộc phải thay đổi theo. Trong Sáng Thế Ký17:4-6, Áp-ram đã được đổitên thành Áp-ra-ham, nghĩa là cha cao quý đã trở nên cha của nhiều dân tộc. Về sau, chínhĐấng Christ cũng có phán: Ngài đã đến trong danh Cha, thì mọi người cũng phải xem Ngàinhư là Cha vậy (Giăng 5:43). Sứ đồ Giăng thì kết thúc sách Phúc Âm của mình bằng lời quảquyết: mọi điều ông viết ra đều nhằm mục đích để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài màđược sự sống (Giăng 20:31). Cho nên, khi Đức Chúa Trời tiết lộ danh tánh Ngài cho Áp-ra-ham thì điều đó có ý nghĩa rất lớn. Tuy vĩ đại, cao cả nhưng Đức Chúa Trời cũng bằng lòngtỏ mình ra và đã phó chính mình Ngài cho nhân loại. Một khi nhân loại đã biết danh tánh củaĐức Chúa Trời rồi, cũng có nghĩa là họ đã biết cách kêu cầu Ngài, khẩn xin sự hiện diện Ngàivà tất nhiên cũng dễ dàng xúc phạm đến Ngài. 3. Sáng Thế Ký 28:13. Ý nghĩa của danh xưng tiếp tục được tìm thấy trong Sáng ThếKý chương 28 liên quan đến việc tự mặc khải của Đức Chúa Trời. Tại đây, Gia-cốp đã chiêmbao thấy một chiếc thang bắc lên trời và Đức Giê-hô-va đang đứng ở trên đó, Ngài phán rằng:Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham tổ phụ ngươi cũng là Đức Chúa Trời của Y-sác. Không chỉ có danh Ngài được nhắc đến ở đây mà mối liên hệ giữa Ngài với Áp-ra-hamcũng được đề cập đến. Ngài là Đức Chúa Trời rất mực thiết thân với cha và ông của Gia-cốp.Sau đó, Chúa đã ban lời hứa bằng việc tái lập lời hứa của giao ước: Ta sẽ ban cho ngươi đấtnày. Điều lý thú ở đây là trong khi tên tuổi của các thần ngoại bang ngay từ buổi ban sơthường gắn liền với một địa danh nào đó, thì Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên lại có liên quanmật thiết đến những nhân vật và sự kiện (Xuất 20:1,2) cùng với những lời hứa - bằng chủquyền và tự do tuyệt đối về việc ban đất cho dân Ngài. Khắp đất đều thuộc về Chúa, và mộtnơi trở nên thánh địa khi nơi đó người ta cầu khẩn danh Ngài. Phản ứng của Gia-cốp vào lúcấy cũng rất nhân tánh. Ông run sợ. Sợ vì cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời tạinơi đó. Trong một lần chạm trán về sau (Sáng 32:29), Gia-cốp liền vội vàng chất vấn để biếttên người đọ sức cùng mình. Nhân vật xa lạ này là ai?Những gì ẩn chứa trong tất cả các câuhỏi cấp bách mang đầy nhân tánh nêu trên là hỏi tên, đó là tất cả những gì con người muốnbiết và cũng là tất cả can đảm họ có khi đứng trước mặt Đức Chúa Trời (Von Rad 1961, 317).Và Đức Chúa Trời đã ban phước trên ông thay cho câu trả lời. Bởi lẽ Ngài thừa biết câu hỏiấy ẩn chứa ước muốn về việc mượn danh lớn để đáp trả lại kẻ xa lạ đang tấn công mình. Đốivới những trường hợp như vậy, Đức Chúa Trời có toàn quyền để từ chối trả lời. Không chỉnhững sự việc kể trên mới được xem là có ý nghĩa quan trọng trong Sáng Thế Ký, nhưng đóchính là nền tảng cho toàn bộ phần lịch sử về các tộc trưởng. Nếu loại bỏ những sự kiện cốtlõi đó thì toàn bộ phần ký thuật còn lại sẽ không có ý nghĩa gì. Lịch sử các tộc trưởng chínhlà lịch sử dựa vào những sự việc kể trên để có được khởi điểm thích ứng và lời lý giải khả dĩcho chính bản thân mình. Chắc chắn một điều là Đức Chúa Trời đã hiện ra cùng họ và kêugọi họ thực hiện một sứ mạng đặc biệt nên đời sống của họ phải có được ý nghĩa cao trọnghơn những kẻ xung quanh mình. Trái với quan điểm của một số học giả hiện đại, tôi cho rằngtrong lịch sử của Y-sơ-ra-ên, giai đoạn này mới chính là giai đoạn phôi thai. Nó chính là cơ
  9. 9. 9sở cho mọi sự phát triển về tư duy tôn giáo (religion thought) sau này. Đức Chúa Trời muốndân Y-sơ-ra-ên phải là vật sở hữu có một không hai của Ngài. Và Ngài đã chọn họ làm đốitượng để chuyển tải phước hạnh cùng sự hiện diện của Ngài cho toàn thế giới. Ngài đã bancho họ lời hứa Ngài được ấn chứng qua phép cắt bì trên thân thể. Không những vậy, tương laitrong cõi đời này họ sẽ sở hữu được vùng đất mà Đức Chúa Trời hứa ban cho họ.Mặc dầu sựmặc khải có tính cách tiệm tiến xuyên suốt Kinh Thánh nhưng không có nghĩa là đức tin đi từmột khái niệm sơ khai, đơn giản đến một mức độ cao hơn và tinh vi hơn. Sự đáp ứng của Áp-ra-ham đối với Đức Chúa Trời trong Hê-bơ-rơ 11:8-12 được xem là một tấm gương tiêu biểuvề đời sống đức tin. Xuyên suốt Kinh Thánh, Áp-ra-ham được xem là người biết ”chờ đợimột thành vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập” (Hê-bơ-rơ 11:10). 4. Xuất Ê-díp-tô Ký 3. Giờ đây, chúng ta sẽ đi đến một trong những giai đoạn có tínhquyết định và hấp dẫn nhất trong quá trình tự mặc khải của Đức Chúa Trời. Trong 3:2, ĐứcChúa Trời đã xuất hiện như một thiên sứ của Đức Giê-hô-va. Và sau đó có khi Ngài xuất hiệnqua một đối tượng trung gian, có khi Ngài hiện ra trực tiếp, nhưng vì cớ tội lỗi nên sự chạmtrán mặt đối mặt một cách thật sự giữa con người với Đức Chúa Trời là điều bất khả thi trongcuộc đời này (Xuất 33:20). Nhưng dù qua trung gian nào đi nữa thì đó vẫn là sự mặc khảithật. Câu 6 đã ghi lại một mẫu mực về việc tự giới thiệu bản thân. Theo sự ghi nhận củaTheodor Vriezen thì việc giới thiệu mang tính thẩm quyền đó đã chi phối quan niệm thần họccủa mặc khải Cựu Ước (Vriezen 1970, 177). Đức Chúa Trời phán: Ta là Đức Chúa Trời củatổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác và Đức Chúa Trờicủa Gia-cốp”. Và sau đó là lời hứa về việc giải cứu dân Chúa ra khỏi Ai Cập. Môi-se-từ gãchăn chiên đã trở thành lãnh tu ï- một công cụ do Đức Chúa Trời tuyển dụng. Và Môi-se đãxin Chúa cho ông được biết danh tánh Ngài (c.13) để tiện tỏ bày cùng con cái Y-sơ-ra-ên. Rõràng là dân Chúa muốn biết Ngài là ai. Là ai mà có thể ban lời hứa giải cứu họ? Đành rằngNgài là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ nhưng hiện nay Ngài là gì đối với họ? Đức Chúa Trờiđáp: TA LÀ ĐẤNG TA LÀ hay TA SẼ LÀ ĐẤNG TA SẼ LÀ (theo tiếng Hi-bá-lai, thì đượcsử dụng trong câu này là thì chưa hoàn thành). Câu trả lời mà Đức Chúa Trời dành cho Môi-se nên được xếp vào loại nào?Có người cho rằng Chúa đã né tránh câu hỏi của Môi-se vìkhông muốn ban cho ông một sự ủy thác. Đó là quan điểm của Karl Barth. Ông đã trích dẫnCác Quan Xét 13:18, Sao ngươi hỏi danh ta...? Việc Đức Chúa Trời bày tỏ cho con ngườibiết rõ biệt danh Ngài không hề xảy ra trong tiến trình mặc khải, nhưng tự thân sự mặc khảiđã toát lên lòng nhân từ vô điều kiện (free loving-kindness) của Đức Chúa Trời rồi (ChurchDogmatics, 1/1, 369-70). Barth một mực cho rằng: siêu việt tính của Đức Chúa Trời vẫnđược giữ vẹn ngay cả khi tự mặc khải về mình. Bí mật về Chúa vẫn còn, dẫu Ngài đã tỏ mìnhra. Nếu có sự thiếu chuẩn xác nào đó về mặt ngôn ngữ thì qua đó có chăng sự đề cập đếnquyền tự do hành động của Đức Chúa Trời hay muốn ám chỉ một sự né tránh? Trong câutrước (Xuất 3:12), Đức Chúa Trời đã hứa Ngài sẽ hiện diện giữa vòng họ. Vì vậy, nếu chorằng Ngài không muốn ban sự ủy thác chính mình thì có vẻ khác lạ làm sao. Một quan điểm khác dựa trên cách dịch được xem là tốt nhất của Bản Dịch Bảy Mươi(tiếng Hy Lạp) đã dịch câu trên như sau Ta là Đấng đó. Theo quan điểm này, tại đây, Chúamuốn bày tỏ ý nghĩa căn bản về thân vị Ngài. Ngài vốn tự nhiên mà có. Một số nhà thần học Công giáo truyền thống như Etienne Gilson và E. L. Mascall thìtin rằng bí quyết triết học cho sự hiểu biết về Đức Chúa Trời đó là: Ngài là Đấng hiện hữuđồng nhất với bản tánh Ngài. Ngài là Đấng hiện hữu trọn vẹn. Theo Mascall, ý niệm đó chínhlà mảnh đất phì nhiêu cho mọi sự tận hiến trọn vẹn của Ki-tô hữu” (He Who Is, 1966, 13).Ngoài cách dịch đáng thắc mắc của Bản Bảy Mươi ra, thật khó có thể tưởng tượng được ĐứcChúa Trời lại muốn truyền đạt cho những nông dân Hi-bá-lai bình dị một ý niệm trừu tượngvà cao siêu như thế.Có thêm một gợi ý lý thú hơn xuất phát từ W. F. Albright và các môn đệcủa ông. Căn cứ vào nguyên ngữ, Albright đề nghị một cách dịch tốt nhất đó là Ngài là Đấng
  10. 10. 10Tạo Thành, xuất phát từ ý niệm cơ bản về vai trò Đấng Tạo Hóa của Đức Chúa Trời(Albright, 256-60). Nhưng quan điểm dường như phù hợp nhất với văn mạch ở đây, có lẽ là quan điểm củaVriezen, ông nhấn mạnh: đây không phải là sự né tránh, nhưng rõ ràng là một lời bảo chứngvề sự hiện diện (liên tục) của Ngài. Trong ngữ cảnh này, cách dịch đúng nhất sẽ là Ta sẽ hiệndiện ở đó, như đã từng hiện diện ở đây hoặc Ta hiện diện ở đây vì cớ các ngươi. Sự mặc khảitheo sự minh định của Kinh Thánh có nghĩa là đích thân Đức Chúa Trời đến với con người,bày tỏ chính mình Ngài như một Đấng hiện diện vì cớ con người bằng mọi cách. Khi ĐứcChúa Trời tự mặc khải về chính mình, Ngài sử dụng ngôi thứ nhất số ít để tự giới thiệu và lờiNgài chỉ thị cho công việc Ngài (Vriezen, 180). Ủng hộ cho quan điểm nêu trên, nhiều học giả đã phân tích rằng xét về mặt văn phạm ởcâu trên thì động từ thứ hai thực hiện chức năng như một vị ngữ cho động từ thứ nhất, nó dưra như vậy cốt để nhấn mạnh cho hành động của động từ, cũng như trong nhiều ngôn ngữ,một từ có thể được lặp đi lặp lại với mục đích nhấn mạnh mà thôi. F. W. Bush đã đưa ra haisự minh họa về cách dùng như vậy. Trước hết là trong Ê-xê-chi-ên 12:24,25 “Sẽ chẳng còncó sự hiện thấy nào là giả dối, một sự bói khoa nào là a dua trong nhà Y-sơ-ra-ên. Vì ta làĐức Giê-hô-va, ta sẽ nói và lời ta nói sẽ làm thành. Vì chính Đức Giê-hô-va sẽ nói - động từđược lặp đi lặp lại để nhấn mạnh - nên chẳng có gì để nghi ngờ về điều đó cả. Và trong Xuất33:19 (Ta sẽ làm ơn cho ai ta muốn làm ơn), không cần phải bận tâm đến việc Đức Chúa Trờihoàn toàn có quyền ban phước hay không ban phước trong trường hợp vừa nêu nhưng đâychỉ là sự diễn tả một cách chắc chắn về ân điển Ngài, và câu trên nên được viết lại như sau:Thật vậy, ta là Đấng hay làm ơn và thương xót. Theo ngữ cảnh của câu trả lời trong Xuất Ê-díp-tô Ký chương 3 thì rõ ràng điều Đức Chúa Trời muốn nhấn mạnh ở đây chính là sự hiệndiện của Ngài. Vì Ngài vốn là Đức Chúa Trời của các tổ phụ, cho nên sự hiện diện của Ngàisẽ tiếp tục là bảo chứng (duy nhất) cho những lời hứa của Ngài. Quả thật, sự đáp ứng củaĐức Chúa Trời là vô giới hạn song lý do khiến Ngài từ chối việc giải thích vào lúc bấy giờ ấylà do các định ý của Ngài sẽ (và phải) để dành cho sự mặc khải những việc tương lai. Tronghoàn cảnh như vậy thì danh Ngài chính là phương tiện thiết yếu cho mối giao thân giữa Ngàivới họ và là nhịp cầu liên thông cho sự thờ phượng (Childs 1974, 77). 5. Xuất Ê-díp-tô Ký 6:1,2. Khi Pha-ra-ôn không chịu đáp ứng những đòi hỏi của Môi-sethì một lần nữa Đức Chúa Trời lại xác quyết với ông về sự giải cứu Ngài, và để cho lời hứathêm phần vững mạnh, Ngài đã tự xác nhận: Ta là Đức Giê-hô-va (Jahweh). Ta đã hiện racùng Áp-ra-ham, cùng Y-sác và cùng Gia-cốp, tỏ mình là Đức Chúa Trời Toàn Năng (ElShaddai); song về danh ta là Đức Giê-hô-va (Jahweh), thì ta chưa hề tỏ cho họ biết. Câu nàylà một trong những cơ sở được các học giả thuộc trường phái phê bình thường xuyên sử dụngđể phát tán nguồn gốc của Ngũ Kinh. Những phần nào trong Sáng Thế Ký có sự xuất hiệncủa El Shaddai đều thuộc về nguồn P (Priestly), được xem là có sau; còn những chỗ nàoGiavê (Jahweh) xuất hiện thì thuộc về nguồn J (Jahweh). Nhưng làm sao có thể hình dungđược sự việc các vị tộc trưởng chưa hề nghe thấy gì đến danh Jahweh? Nếu như vậy thì hoàntoàn có thể nghi ngờ giả định của các nhà phê bình về phần có sau (nguồn P) của Ngũ Kinh. Nếu có thể, chúng ta nên đặt câu trên dưới dạng câu hỏi: Ta há chưa từng tỏ mình racho họ biết danh ta là Jahweh hay sao? Robert Dick Wilson từng đề xuất ý tưởng đó vào năm1924 (trong Kaiser, 1972, 29-40) và những học giả khác còn tìm được chứng cớ hiển nhiênhơn nữa để hậu thuẫn cho quan điểm này trong những năm gần đây. Nhưng có lẽ cách tốt nhất để hiểu được ý nghĩa câu trên là cảm biết được Đức ChúaTrời không hề có ý nhấn mạnh về một danh xưng hoàn toàn mới nhưng điều Ngài muốn nhấnmạnh đó là cần phải hiểu biết một cách mới mẻ về sự hiện diện của Ngài theo ý nghĩa củadanh xưng ấy. Tên Jahweh có nghĩa là Đức Chúa Trời lập giao ước, Chúa duy trì mối quan hệthủy chung (faithful relations) với dân sự Ngài. Giờ đây, họ sắp kinh nghiệm thật sự về ýnghĩa của danh xưng đó theo phương cách mà tổ phụ họ không thể nào mơ tưởng đến được.
  11. 11. 11Hướng gợi mở này phù hợp hơn với lối suy nghĩ năng động (dynamic understanding) về cácdanh xưng mà chúng ta từng đề cập đến ở những phần trên. Vậy, câu trên có thể được diễngiải như sau: Khi hiện đến trong danh Jahweh, ta há chẳng từng tỏ mình ra cho họ biết về tahay sao? Vì trước đó, Ngài từng hứa về việc thực hiện nên Đức Giê-hô-va phán rằng: giờ đâyNgài muốn chứng tỏ cho mọi người được biết Ngài là Đức Chúa Trời luôn nhớ về giao ướcvà thực hiện hoàn tất giao ước Ngài. Lời đó có liên quan đến những phần ký thuật về các tộctrưởng hầu cho những lời hứa đều được ứng nghiệm. Như Brevard Childs từng phát biểu:Danh Jahweh có chức năng như một bảo chứng thật về việc Đức Chúa Trời luôn có mặt đàngsau những lời hứa và sẽ thực hiện hoàn tất lời hứa Ngài”(Childs 1974, 115). 6. Xuất Ê-díp-tô Ký 19:3 và 20:1,2. Đức Chúa Trời phán bảo Môi-se: ”Các ngươi đãthấy điều ta làm” (19:4). Điểm nhấn mạnh này khiến cho một số học giả đã thay đổi cáchnhìn về phương cách Đức Chúa Trời hiện ra và tương giao trực tiếp-theo kiểu chạm trán mặtđối mặt-để thực hiện sự mặc khải thông qua những công việc Ngài. Nhưng còn hơn cả một sựthay đổi, có lẽ chúng ta nên xem đó là một bước tiến bộ. Những lần trực hiện (directappearances) của Đức Chúa Trời vẫn không ngừng diễn ra, nhưng có lẽ giờ đây Ngài chỉmuốn chứng thực những gì Ngài từng hứa là sẽ thực hiện thông qua những công việc Ngài.Nếu sách Xuất Ê-díp-tô Ký không có phần Đức Chúa Trời hiện ra cùng Môi-se và các tộctrưởng thì nó chẳng còn ý nghĩa gì nữa cả. Những điều diễn ra trong Cựu Ước là những bằngchứng, những dấu hiệu và những ghi nhận tỉ mỉ về sự hiện diện của Đức Chúa Trời thì khôngthể nào được hiểu theo ý nghĩa bên ngoài bối cảnh. Từ buổi ban sơ, dân Y-sơ-ra-ên đã từngphải đối diện với chính thân vị của Đức Chúa Trời, đến một lúc nào đó, kinh nghiệm đã quáđủ đầy và dĩ nhiên kinh nghiệm đó không hề bị phế bỏ khi công việc quyền năng Chúa đượctỏ ra. Đã đến lúc cần phải có luật pháp để xác chứng và diễn tả mối quan hệ mà Đức ChúaTrời đã thiết lập với dân sự Ngài. 7. Xuất Ê-díp-tô Ký 33:18-23. Trong những câu này, Môi-se đã cầu xin Đức Chúa Trờitỏ cho ông thấy được vinh hiển Chúa. Môi-se đang ở vào một thời điểm có tính quyết địnhnên ông muốn được chiêm ngưỡng toàn diện hơn về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã từchối ước muốn của Môi-se không phải Ngài là Đấng mà loài người không thể nào chiêmngưỡng được nhưng vì tình trạng tội lỗi của loài người nên họ không thể sống sót nếu nhìnthấy Đức Chúa Trời(c.20). Song Ngài hứa là sẽ để cho sự thiện hảo Ngài đi qua trước mắtông (c.19) cũng như tuyên xưng danh Ngài là Jahweh. Ngài muốn tỏ mình ra qua ”các thuộctánh, chứ không phải chỉ bằng những lần xuất hiện” (Childs 1974, 596). Đức Chúa Trờikhông hề khăng khăng từ chối tỏ mình ra, song điều mà Ngài muốn tỏ ra ấy là tính cách và sựthiện hảo Ngài. Nên nhớ, sự mặc khải đó chính là điều mà Môi-se và dân sự lúc bấy giờ đangrất cần, nhất là sự nhận biết về lòng thương xót Chúa. Công tác mà họ cần Chúa thực hiệnvào thời điểm đó chính là công tác cứu chuộc. Đức Chúa Trời phải nắm dắt họ ngay khi họđang ở trong tình trạng tội lỗi với lòng thương xót Ngài. Để minh chúng cho lòng thương xótđó, Chúa đã đi ngang qua Môi-se và che phủ ông bởi cánh tay Ngài (c.22) nhằm bảo vệ ôngkhỏi sự hiện diện chớp nhoáng của Chúa, e rằng thân phận tội lỗi của ông sẽ khiến ông phảitrả giá bằng cơn thạnh nộ của Chúa chăng. Với sự bao phủ đó, Đức Chúa Trời không hề chegiấu sự vinh hiển Ngài, mà chỉ bày tỏ nó ra trong một dạng thức mà loài người tội lỗi có thểcảm nhận được. Định ý về việc mặc khải vinh quang Chúa cũng được thể hiện trong Tân Ước, khiĐấng Christ đã tôn vinh Cha một cách thỏa đáng bằng sự chết mình, ban sự cứu chuộc để phủche tội lỗi loài người cũng như bảo vệ họ khỏi cơn thạnh nộ của Chúa (xem Giăng 13:31;17:1,4). Sự mặc khải của Đức Chúa Trời không hề mang tính chủ quan nhưng luôn hướng tớimục đích cứu chuộc của Ngài. Xuyên suốt quá trình lịch sử của mặc khải Cựu Ước, ngàycàng chứng tỏ cứu thục tính (redemptive character) là điều không thể thiếu trong mặc khảidành cho thế giới sa ngã này. Chính Đức Chúa Trời phải tỏ mình ra trước tình trạng tội lỗicủa loài người để đối diện với thực trạng ấy nhằm phục hồi nơi họ sự tương giao.Đức Chúa
  12. 12. 12Trời đã dùng đến cấu trúc mà chúng ta từng bàn thảo liên quan đến Xuất 3:14 Ta sẽ làm ơncho ai ta muốn làm ơn hay Thật vậy, ta là Đấng hay làm ơn (33:19) để nhấn mạnh thêm vềthuộc tánh Ngài. Tất nhiên, không thể dựa vào điều đó để cho rằng sự tuyển lựa của ĐứcChúa Trời là mang tính chủ quan-ý nghĩa ấy rất ít được tìm thấy trong văn mạch-song qua đómuốn nói lên sự bảo đảm về lòng thương xót Chúa. 8. Xuất Ê-díp-tô Ký 34: 5-10. Tại đây, Đức Chúa Trời đã ngự xuống trong đám mây vàhiện ra trước mắt Môi-se để bày tỏ danh Ngài. Giê-hô-va, Giê-hô-va! Giờ đây, danh ấy đượcgia thêm phần thuộc tánh: thương xót, hay làm ơn, yêu thương và thành tín (c.6). Nên nhớ,mặc khải lần này nhằm mục đích ban bảo chứng cho các lời hứa của giao ước (c.10). Ngài làĐức Chúa Trời luôn giữ lòng yêu thương bền vững, nhưng cũng không quên xét đoán kẻphạm tội. Sự hiện hữu và tình yêu Ngài là vô điều kiện, nhưng không phảỉ chỉ có phước hạnhmà còn có cả sự xét đoán. Một lần nữa, cũng như trong Sáng Thế Ký 17:1, sự đáp ứng về mặtđạo đức mà thuộc tánh Đức Chúa Trời đòi hỏi đã được làm sáng tỏ. Chiều kích ấy đã đượcminh định rõ trong luật pháp. Trong những trích đoạn từng được đề cập đến của sách Xuất Ê-díp-tô Ký, rõ ràng Môi-se đã tận hưởng được mối liên hệ độc nhất vô nhị với Đức Chúa Trời. Trong Xuất 33:12,Môi-se thừa nhận rằng Đức Chúa Trời biết rõ tên ông. Đức Chúa Trời đã chú giải thêm sựnhìn nhận về ông trong Dân Số Ký 12:7,8. Khi nói về Môi-se Ngài phán: Người thật trung tíntrong cả nhà ta. Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng, một cách rõ ràng, không lời đố,và người thấy hình của Đức Giê-hô-va. Edward Young cho rằng: Môi-se đã chiếm giữ địa vịvô song dưới chế độ Thần Quyền và mối liên hệ với Đức Chúa Trời là có một không hai(Young 1952, 51). Chính địa vị ấy đã khiến ông trở thành biểu tượng cho vị tiên tri về sauđược dấy lên. Song một số câu trong Xuất 33 cũng có ý ám chỉ về một số giới hạn nội tại nơimối liên hệ mà Môi-se có được. Đức Chúa Trời chỉ cho phép Môi-se nhìn thấy hình Ngàithôi, chứ không hề cho ông thấy mặt Ngài. Ngay cả đối với Môi-se thì điều đó cũng được giữlại cho đến khi gặp Chúa ở trên thiên đàng. Phao-lô cũng từng đề cập đến trong I Côrinhtô13:12:”Ngày nay, chúng ta xem như trong một cái gương, cách mập mờ; đến bấy giờ chúngta sẽ thấy hai mặt đối nhau. Nhưng với sự tái lâm của Đấng Christ thì ngay đến khải tượngcuối cùng cũng được báo trước nhờ sự sống trong Thánh Linh, như Phao-lô từng giải thíchrong IICôr 3:18 ”Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa...vì đã đượcbiến hóa trở nên giống như Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, bởi Chúa là Thánh Linh” (bảnAV). 9. Những lần tự mặc khải khác. Dĩ nhiên Đức Chúa Trời cũng liên tục mặc khải quaCựu Ước, nhất là đối với các tiên tri. Theo Von Rad ”Hễ ai nhận được sự kêu gọi trực tiếpvà riêng tư từ Đức ChúaTrời thì sẽ có được một vị thế mới mẻ hoàn toàn” (Von Rad 1962,II, 57). I Sa-mu-ên 3:10-14 cho biết rằng: Đức Chúa Trời kêu gọi Sa-mu-ên mà không hề tựgiới thiệu mình là ai song chỉ tuyên bố rằng Ngài sắp làm một việc mới lạ trong Y-sơ-ra-ên:Ngài sẽ đoán xét nhà Hê-li. Ở đây, một lần nữa, lời giải thích đã đi trước biến cố và khiến nótrở nên có ý nghĩa. Như A-mốt từng luận giải (3:7) Đức Chúa Trời chẳng bao giờ làm việc gìmà Ngài chưa hề mặc khải cho các tiên tri. Trong Ê-sai 6:1-5, sự mặc khải về thân vị vàthuộc tánh của Đức Chúa Trời đã xảy ra trước khi Ê-sai được kêu gọi để trở nên một tiên tri.Ê-xê-chi-ên thì được ban cho sự hiện thấy tựa như vinh hiển của Đức Giê-hô-va (1:28) cùngvới một khải tượng cụ thể. Trong mỗi trường hợp kêu gọi đều có yếu tố đột biến, gây sợ hãi,hay khích động. Đó là những kinh nghiệm phi thường không dễ dàng thấu hiểu từ bấy đếnnay. Vì tội nhân thường ở trong trạng thái bất an trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời nênnhững lần Chúa hiện ra như vậy họ cần phải được bảo vệ, khuyên dỗ và trấn an. Tóm lại,những lần mặc khải đó đều ẩn chứa nhiều hứa hẹn. Tác giả Thi Thiên trông đợi cái ngày màTôi sẽ được thấy mặt Chúa trong sự công bình; khi tôi tỉnh thức tôi sẽ thỏa nguyện nhìn xemhình dạng của Chúa (Thi 17:15).
  13. 13. 13 Tóm tắt Trong tất cả những lần hiện ra đó, một vấn đề thực tế được đặt ra ấy là khi Đức ChúaTrời hiện ra với con người làm sao Ngài vẫn giữ được tính siêu việt (transcendent) để tồn tạitrong một thân vị vượt khỏi các giới hạn của thế gian. Điều đó dường như rất khó chấp nhậnđối với chúng ta - làm sao Đức Chúa Trời vừa hiện diện lại vừa xa cách - đối với Chúachuyện đó không thành vấn đề. Bên cạnh đó, chúng ta chưa bao giờ cảm nhận được ĐứcChúa Trời chẳng hề ở trong trật tự của thế giới mà chúng ta đang sống và Ngài không cần nơichốn để hiện ra. Còn việc giáng xuống từ trời cũng chẳng khó khăn gì, tựa như cách kể trongnhững câu chuyện thần thoại vùng Cận Đông. Ngài cùng đi với một người, cũng theo lẽ tựnhiên như chúng ta cần đi với bạn vậy. Nhưng mắt khác, bản tánh và thân vị của Chúa quácao siêu; thế gian không thể chứa Ngài. Ở đây, còn tiềm ẩn ý nghĩa về những yếu tố trunggian (chúng ta sẽ đề cập đến ở chương sau): mặt Ngài, vinh quang Ngài và danh Ngài. Nhữngyếu tố đó nói lên sự gần gũi thật sự của Đức Chúa Trời, nhưng đồng thời cũng ám chỉ sự khácbiệt của Ngài.Chúng ta cần nên ghi nhận hết sức cụ thể tính cách những lần hiện ra của ĐứcChúa Trời. Động từ thấy (seeing) được sử dụng trên sáu mươi lần liên quan đến sự hiện diệncủa Đức Chúa Trời. Và Đức Chúa Trời hiện đến...”Và Môi-se thấy.... Kể cả những chứcnăng liên quan như: nghe, thậm chí cả ngửi nữa. Ở đây không tồn tại nhận thức thuộc linh mơhồ, vì kinh nghiệm thật tỏ ra lấn át. Vào thời điểm mà kinh nghiệm tôn giáo đã bị co rút lạitrong phạm vi những cảm xúc mòn mỏi của chúng ta, thì có một chân lý Thánh Kinh cần nênghi nhớ: Đức Chúa Trời vẫn là Đấng thực hữu tuyệt đối; khi Ngài bước vào đời sống mộtngười thì chính người đó sẽ ý thức ngay được kiếp sống mong manh, không nơi nương tựacủa mình. Đồng thời, sự chạm mặt với Chúa luôn đòi hỏi cách đáp ứng của một con ngườihoàn toàn. Thật vậy, khi đáp lại tiếng gọi của Chúa, người ta sẽ ý thức được sự tự do và bảnchất thật của mình. Brevard Childs ghi nhận về người của Đức Chúa Trời như sau: Xuất Ê-díp-tô Ký chương 3 đưa ra sự mô tả kinh điển về thiên chức đó là chức vụ của một ngườiđược khởi xướng bởi Đức Chúa Trời và được sự cộng tác đúng nghĩa của một con người”(Childs 1974, 73). Cần nên lưu ý về tính cách mặc khải của Đức Chúa Trời cho một người ấylà lời kêu gọi người đó phải làm, phải bước theo và phải vâng lời. Điểm nhấn mạnh ở đây làmạng lịnh chứ không phải là lượng thông tin, mặc dầu lượng thông tin không hề thiếu. Muốnlãnh hội trọn vẹn sự mặc khải Cựu Ước, nhất định phải nghĩ đến ý tưởng cốt lõi sau đây: ĐứcChúa Trời kêu gọi một người ấy là để cho chính Ngài. Có rất nhiều điều cần biết về ĐứcChúa Trời và những chủ đích của Chúa, song nhận thức vừa nêu luôn cần ích trong mối liênhệ giữa Đức Chúa Trời với dân sự Ngài. Chúng ta từng để ý và thấy, khi Đức Chúa Trời hiện ra, Ngài chẳng bao giờ cần minhchứng sự xuất hiện của mình. Đức Chúa Trời không phải là Đấng cần chứng minh song đốitượng cần minh chứng đó chính là con người. Tư tưởng hiện đại đã thể hiện quá rõ khi ĐứcChúa Trời bị gạt sang một bên thì nguồn cội và ý nghĩa của đời người sẽ ra sao. Sự hiện hữucủa Đức Chúa Trời là một thách thức, chứ không phải là một vấn nạn. Khi tự mặc khải, ĐứcChúa Trời chỉ tuyên bố rằng bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời cho nên Ngài sẽ làm những gìNgài hoạch định. Cần nên ghi nhận tính cách phức hợp của mặc khải Cựu Ước bao gồm sựgặp gỡ riêng tây, việc cung cấp thông tin và giải thích các biến cố, cùng những công việcquyền năng của Đức Chúa Trời. Hết thảy những yếu tố đó đáng được xem là sự mặc khải.Nhưng quan trọng nhất vẫn là yếu tố tự bày tỏ của Đức Chúa Trời. Chân lý chỉ đạo mặc khảiđó là chính thân vị Ngài. Khi dân Y-sơ-ra-ên sử dụng đức tin để đáp lại với thân vị ấy, thì họsẽ hiểu rõ hơn những lời Ngài phán cũng như những việc Ngài làm. Tư duy trong Cựu Ướcluôn mang tính riêng tây và thân mật, dẫn đến mối quan hệ cùng những hiểu biết có mục tiêu.Như vậy, việc Đức Chúa Trời tự mặc khải nói cho cùng cũng không hề đòi hỏi một sự chuẩny, song đòi hỏi một đời sống cụ thể trong vâng phục. Đức Chúa Trời không chỉ kêu gọi chúngta đến với sự am hiểu lời Chúa mà còn kêu gọi chúng ta vâng theo tiếng Chúa nữa.Tất nhiên
  14. 14. 14là con người không muốn nghe lời Chúa phán và vâng phục Ngài. Họ vẫn còn-giống A-đamvà Ê-va ở chỗ luôn tìm cách trốn chạy Đức Chúa Trời. Vì vậy, việc Đức Chúa Trời tự mặckhải phải thể hiện sự quan phòng để phủ che tội lỗi của dân Chúa hầu cho họ có thể đứngtrước sự hiện diện Ngài. Chính vì thế mà luật pháp phải đến sau giao ước để mở đường chomối liên hệ. Tóm lại, mặc khải phải có tính cách cứu chuộc. Chương 3 Bản Tánh Của Đức Chúa Trời Đức Giê-hô-va phán: Ta có phải là Đức Chúa Trời ở gần, mà không phải là Đức ChúaTrời ở xa sao? Đức Giê-hô-va phán: Có người nào có thể giấu mình trong các nơi kín cho ta đừng thấychăng? Đức Giê-hô-va phán: Há chẳng phải ta đầy dẫy từng trời và đất sao?” Giê-rê-mi 23:23-24 Những Phương Tiện Mặc Khải Như chúng ta đã thấy, không hề có có mâu thuẫn giữa bản tính gần gũi và bản tính cáchbiệt của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước, nhưng đó một phần của siêu việt tính(transcendence) của Ngài và vì thế không ai có thể trốn chạy khỏi sự hiện diện của Ngài.Người Hy-bá-lai tin vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở trên thiên đàng lẫn nơi hạ giới.Tất nhiên sau đó, Thánh Kinh Cựu Ước đã bổ sung cho hiểu biết của họ trở nên đầy đủ hơn.Họ luôn tin Đức Chúa Trời có thể hiện ra vào bất cứ lúc nào, ở đâu, thậm chí không hề gắnbó dài lâu với một địa danh cụ thể nào. Không nơi đâu giữ được chân Ngài nên Ngài đã sửdụng quyền hạn của mình để chọn một đối tượng hữu hình nào đó làm phương tiện thay thếcho sự hiện diện Ngài. Chúng ta hãy tìm hiểu một vài trung gian hay phương tiện mặc khảisau đây. 1. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va. Trong Cựu Ước, thiên sứ của Đức Giê-hô-va có lẽ chỉlà một sứ giả của Đức Chúa Trời (từ ”thiên sứ” theo tiếng Hy-bá-lai có nghĩa là sứ giả), đểphân biệt với chính Đức Chúa Trời (II Sam 24:16), cũng có thể được xem là chính Đức Giê-hô-va ở ngôi thứ nhất (Sáng 16:7-14, Các Quan xét 2:1,4; 6:20-23...). Thiên sứ có thể mangtheo phước hạnh (Xuất 32:34) hay sự xét đoán (II Sam 24:16). Khi thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra, Ngài luôn hiện diện cùng để bảo vệ hoặc tạo ra cảm giác sợ hãi cho người đốidiện, song siêu việt tính của Ngài lại không hề được bàn đến trong trường hợp này. Cũng cónhững sự thần hiện (theophanies) trong Cựu Ước mà không ai có thể xác định đó là chínhChúa hiện ra hay chỉ là đối tượng đại diện cho Ngài. Khi Đức Chúa Trời và Lời của Ngài đạtđến sự đồng nhất cao độ thì ngấy đến các tiên tri cũng bị lầm lẫn và không hề nhận ra đâu làChúa và đâu là lời của Ngài. Đức Chúa Trời còn có quyền bày tỏ sự hiện diện của Ngài trongnhững thời điểm loài người cần được bảo vệ nhất là khi Ngài hiện ra cách chớp nhoáng. 2. Mặt Đức Chúa Trời. Trong phần ký thuật về việc Môi-se cầu xin được nhìn thấy vinhquang Chúa, mặt Đức Chúa Trời hiện ra vào lúc ấy dường như không hề bị hạn chế (Xuất33:20). Không ai có thể thấy mặt Đức Chúa Trời mà còn sống (tuy Gia-cốp từng tuyên bốtrong Sáng 32:30 là ông đã được thấy mặt Đức Chúa Trời). Thông thường, ”mặt Đức ChúaTrời” được dùng theo lối ẩn dụ để khái quát về sự hiện diện Ngài. Được mặt Ngài chiếu rọilà một kinh nghiệm phước hạnh (Dân 6:25), bị Đức Chúa Trời giấu mặt là một kinh nghiệmđau buồn (Thi 13:1). Khi A-đam trốn chạy Đức Chúa Trời trong vườn Ê-đen, theo nguyên
  15. 15. 15ngữ Hy-bá-lai có nghĩa là ông cố tình tránh mặt Đức Chúa Trời (Sáng 3:8). Nhưng về sau,khi mặt Đức Chúa Trời được hiểu như là sự hiện diện chớp nhoáng của Ngài, thì không cònai kinh nghiệm được điều đó nữa (Thi 17:15). Cũng như từ thiên sứ, cách dùng từ mặt ĐứcChúa Trời được hiểu theo nghĩa bóng hơn là nghĩa đen. 3. Vinh hiển Đức Chúa Trời. Ý niệm cơ bản về sự vinh hiển trong Thánh Kinh CựuƯớc là ý niệm về trọng lượng hay thể chất hữu hình. Sự vinh hiển của một người bao gồm sốtài sản mà người đó có được; một người vinh hiển là người có nhiều của cải (từ ngữ đượcdịch là giàu có trong Sáng 31:1 theo tiếng Hy-bá-lai có nghĩa là sự vinh hiển). Từ vinh hiểnđược dùng theo hai cách, vừa tỏ lòng tôn kính (hay tôn vinh), vừa khơi dậy lòng tôn kính đó.Khi nói về vinh hiển Đức Chúa Trời (thường là hữu hình) là muốn ám chỉ đến thiên năng(divine potency) của Ngài. Johann Bengel gọi đó là ”sự thiêng liêng được khai mở”(discovered sanctity). Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 16:7, khi Đức Chúa Trời hứa tỏ ra vinh hiểnNgài có nghĩa là Môi-se và dân sự Chúa sẽ kinh nghiệm được Ngài chăm sóc. Trên núi Si-nai, hễ Ngài đi đâu thì vinh hiển Ngài theo đó (Xuất 24:16). Vinh hiển Chúa đầy dẫy hội mạc,đến nỗi Môi-se không thể vào được (Xuất 40:34, 35). Ở đây, một lần nữa vinh hiển Chúa làbiểu tượng phong phú cho sự hiện diện Ngài, vinh hiển có thể được dùng thay thế cho sự hiệndiện và thường kết hợp với các hiện tượng có thể nhìn thấy (ngay cả phát hào quang). KhiĐức Chúa Trời được thờ phượng trong đền thờ thì vinh hiển Chúa được chiếu soi một cáchđặc biệt (I Các Vua 8:11). Điều không tránh khỏi trong sự thờ phượng trong Cựu Ước là khivinh hiển Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ thì các thầy tế lễ không thể nào thi hành được phậnsự của mình. Mặc dầu vậy, vinh hiển Chúa cần phải được hiển hiện, không chỉ trong nhàĐức Giê-hô-va thôi, mà còn trên khắp đất nữa, như nước tràn ngập biển (Dân 14:21; I Sử16:24 và Ê-sai 6:3). Về điểm này thì sự vinh hiển cần được tái giải thích một cách triệt để hơnqua sứ mạng của Christ, Đấng bởi sự chết mình đã tỏ bày một cách trọn vẹn vinh quang cứuchuộc của Đức Chúa Trời (Giăng 17:1). 4. Nhân hình hóa (anthropomorphism). Có lẽ chúng ta cần xét đến phương thức nhânhình hóa trong Cựu Ước tuy đây không phải là trung gian để Đức Chúa Trời hiện diện. ĐứcChúa Trời vẫn thường được đề cập đến như thể một con người, chẳng hạn Đức Chúa Trờiphán (Sáng 1:3), trò chuyện (Lê-vi Ký 4:1), nghe (Xuất 16:12), thấy (Sáng 1:4), ngửi (I Sam26:19, Hê-bơ-rơ), có mặt (Dân 6:25), có lưng (Xuất 33:23), có tay (Ê-sai 14:27), v.v. . . Bắtđầu bởi Ludwig Feuerbach vào thế kỷ trước, nhiều người cho rằng nhân hình hóa là bằngchứng cho thấy Kinh Thánh hoàn toàn do con người biên soạn. Đức Chúa Trời chỉ là dựphóng về những lý tưởng của con người, một con người được phóng đại. Nhưng khi đọc kỹhơn về Cựu Ước ý tưởng đó sẽ không thể nào chấp nhận được. Quả thật, hiện tượng đó chothấy rõ tầm quan trọng trong cách nhìn của Cựu Ước về Đức Chúa Trời. Cách nhìn để minhchứng được những nỗ lực đầy yêu thương của Đức Chúa Trời đối với hạ giới, chứ không phảibởi ước mơ hướng thượng của con người.Trước hết, Đức Chúa Trời nói về chính Ngài theongôn ngữ loài người là phương thức độc đáo để Ngài có thể chia sẻ cho thế gian. Như chúngta đã đề cập, không chỗ nào cho thấy Đức Chúa Trời tỏ ra thất vọng về thế giới vật lý này.Sau khi dựng nên, Ngài tuyên bố nó thật tốt lành, và dường như không khó khăn gì để thựcthi ý định Ngài nơi đó. Khi sử dụng phương thức nhân hình hóa để nói về mình, Đức ChúaTrời đã dùng phương cách thực tế của loài người để đến với chúng ta. Dĩ nhiên là phươngcách đó cũng có những hạn chế nhất định, song chính những hạn chế đó dẫn đến sự xuất hiệnsau cùng của Đấng Thần-Nhân. Trong ý nghĩa đó, tất cả mọi mặc khải đều hướng tới sự nhậpthể của Chúa Cứu Thế. Kế đến, phương pháp nhân hình hóa còn đề cập đến việc tạo dựngchúng ta theo hình ảnh Đức Chúa Trời và ước muốn của Đức Chúa Trời về sự giao thân, liênkết với chúng ta. Muốn thực hiện được điều đó thì Đức Chúa Trời phải đến và sử dụng ngônngữ của chúng ta. Và Ngài đã hình thành một lạc điểm để tiếp cận chúng ta và chính Ngàilàm việc đó (chúng ta sẽ đề cập đến trong phần thờ phượng Cựu Ước) theo cách của Ngài,chứ không phải theo cách của chúng ta. Ngài nói về mình theo cách con người để có thể hiệp
  16. 16. 16thông. John Calvin đã diễn giải điều đó một cách khá chuẩn xác: Giống như những ngườinuôi dạy trẻ, Đức Chúa Trời cũng nói đớt để trò chuyện với chúng ta. Cách nói như thếkhông diễn tả rõ ràng về Ngài nhưng qua đó Ngài muốn bày tỏ cho chúng ta biết về Ngài phùhợp với khả năng giới hạn của chúng ta. Muốn thực hiện được điều đó, tất nhiên Ngài phảihết sức hạ mình (Institutes I, 13, 1). Cách diễn tả như thế làm cho quan niệm của chúng ta về Đức Chúa Trời trở nên phongphú, nhờ đó Ngài có thể đến gần chúng ta song vẫn duy trì được tính cách cao cả vĩ đại củaNgài. Vì chỉ trong một khoảnh khắc không ai có thể mường tượng được Đức Chúa Trời lạitrở nên giống hệt như chúng ta. Ngài vốn cao trọng và đầy dẫy khắp đất trời. Nhưng sự caocả và tình yêu của Chúa được thể hiện theo cách đó để chúng ta có thể cảm nhận được sự tiếpcận của Ngài. Một sinh viên khi thảo luận về chủ đề này đã nói với tôi rằng đây là một khuônmẫu đẹp đẽ về hội nhập văn hóa (contextualization) trong việc trình bày sứ điệp Cơ đốc củachúng ta. Bản Tánh Đức Chúa Trời Chủ thuyết vô thần (phủ nhận sự thực hữu của Đức Chúa Trời) không hề được biết đếntrong Cựu Ước. Kẻ ngu dại nói rằng chẳng có Đức Chúa Trời (Thi 14:1), chính là kẻ vô thầnđích thực, không ngại từ khước sự liên hệ giữa Chúa với cuộc đời mình (Giê 5:12). Cựu Ướccũng không nỗ lực chứng minh sự thực hữu của Chúa. Một điều rất dễ cảm nhận đó là ngườitin Chúa trong Cựu Ước xem những nỗ lực ấy là hoàn toàn không cần thiết. Bởi sự thực hữuChúa được rao truyền khắp nơi (Thi 19:1-3). Ngoài ra, cũng không có bất kỳ định nghĩa nàovề Đức Chúa Trời (như Chúa là tình yêu hấy Chúa là Đức Thánh Linh như chúng ta thấytrong Tân Ước). Có những câu gần như định nghĩa, chẳng hạn như trong Ê-sai 31:3 Người Ê-díp-tô là loài người, không phải là Đức Chúa Trời, những ngựa nó chỉ là xác thịt, không phảilà thần, hay trong Dân Số Ký 23:19 Đức Chúa Trời chẳng phải là người để nói dối. Hoặctrong Ma-la-chi 3:6 Ta là Đức Giê-hô-va, ta không hề thay đổi”. Những câu Kinh Thánh trên nhấn mạnh điểm khác biệt giữa Chúa với loài người songkhông hề phủ nhận mối liên hệ giữa Ngài với họ. Thật vậy, câu Kinh Thánh vừa nêu hàm ýNgài là Đức Chúa Trời cho nên mối liên hệ giữa Ngài với họ luôn được giữ vững. Nếu làngười, chắc Ngài đã mệt mỏi với sự bội bạc của dân Y-sơ-ra-ên từ lâu rồi. Như vậy, Cựu Ướcmuốn trình bày cụ thể và chi tiết về sự thực hữu Chúa qua công việc hơn là muốn trình bàymột hệ thờáng giáo lý chi tiết về Ngài (Vriezen, 156). Dầu vậy, chúng ta vẫn có thể hiểu đượcmột số khía cạnh về thuộc tánh của Chúa thôâng qua phần ký thuật về mối quan hệ giữa Chúavới dân sự Ngài. 1. Đức Chúa Trời có thân vị (hữu ngã personal). Chúa là một thân vị, bởi vì Ngài làĐức Chúa Trời nên đã tự đặt cho mình một danh xưng. Việc công bố danh xưng Ngài là mộthành động chứng tỏ chính Đức Chúa Trời đã bước ra khỏi nơi kín nhiệm để bắt đầu thực hiệnmối tương giao”(Eichrodt, I, 206). Trước đây, chúng ta từng thảo luận về tầm quan trọng củadanh xưng. Biết tên một người tức là có mối quan hệ với người đó. Mặc dầu ta không đượclấy danh Chúa làm chơi (Xuất 20:7) song không phải vì danh ấy có liên quan đến ma thuậtnhư thường thấy trong các ngoại giáo. Đức Chúa Trời tự đặt cho mình danh xưng nhằm bamục đích chính. Trước hết, danh Chúa khẳng định cho sự hiện diện Ngài giữa vòng con dân Ngài, táchbiệt với bất kỳ trạng thái vật thể hữu hình nào. Sự oai nghi và tình yêu Chúa được biểu thị rõnét qua các danh xưng, nhưng dân Chúa vẫn không sao hiểu được một cách tường tận về ýnghĩa đích thực của các danh xưng đó. Kế đến, cách dùng nhiều danh xưng khác nhau phảnánh sự can thiệp năng động của Chúa vào đời sống của Y-sơ-ra-ên. Danh Chúa biểu hiện chosự hoạt động không hề mệt mỏi của Ngài (Vriezen, 318). Một danh xưng thì không thể lột tảhết được thuộc tánh Đức Chúa Trời hay bày tỏ hết được sự chăm sóc của Ngài. Và cuối cùng,
  17. 17. 17tất cả danh xưng đó đều mang ý nghĩa liên đới về mối quan hệ giữa Chúa với con dân Ngài.Tất cả các danh xưng đều không có khả năng đồng nhất hóa Chúa với bất kỳ một phươngdiện nào của cõi thiên nhiên (việc đó thường xảy ra với các lân bang của Y-sơ-ra-ên) mà chỉnhằm phản ánh lịch sử mối quan hệ giữa Chúa với Y-sơ-ra-ên, dân Ngài. Bằng nhiều cáchkhác nhau, Chúa luôn tích cực can thiệp vào đời sống của dân sự Ngài. a. El. El (thường xuất hiện trong những danh xưng kép) là danh xưng tổng thể và có lẽđược người Semitic xưa kia sử dụng để chỉ về Đức Chúa Trời (dân Y-sơ-ra-ên thuộc về dòngdõi Semitic). Ý nghĩa căn bản của danh xưng đó ám chỉ về một lãnh tụ hoặc một thủ lĩnh đầyquyền uy nhằm khẳng định khoảng cách giữa Đức Chúa Trời với con người cũng như năngquyền của Chúa trên cõi thiên nhiên. Danh xưng đó thường được dùng để nói đến sự lãnh đạocủa Chúa đối với cá nhân từng người (Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Sáng 31:53, Xuất 3:6;Đức Chúa Trời của Y-sác, Sáng 28:13).Được dùng trong các danh xưng kép như: El Shaddaiđể nhấn mạnh thuộc tánh cao trọng và quyền năng của Đức Chúa Trời (Sáng 17:1 và 40 lầntrong sách Gióp). El Alion, nghĩa là Đức Chúa Trời Chí Cao (Sáng 14:18,19; có khi là Aliôn,Đấng Chí Cao, chỉ xuất hiện một lần trong Thi 50:14); El Olam, Đức Chúa Trời của thờithượng cổ, Chúa đời đời là tên gọi xưa nhất chỉ về sự hằng hữu của Đức Chúa Trời (Sáng21:33; Ê-sai 40:28); El Roeh, nghĩa là Chúa đoái xem (Sáng 16:13) và tất nhiên phải kể đếnElohim (Sáng 1:1 và v.v...). Danh xưng Elohim theo số nhiều trong tiếng Hy-bá-lai có lẽ phảiđược hiểu theo nghĩa trừu tượng nói về sức mạnh hoặc quyền uy. Nó không phải là kết quảhợp nhất của hết thảy thần tánh, mà chính là sự thâu tóm hết thảy thần quyền vào trong mộtthân vị”(Eichrodt, I, 185). Nếu Ba Ngôi không thể được hiểu theo nghĩa số nhiều thì Elohimcũng phải được hiểu như thế. b. Giê-hô-va (Jahweh). Danh xưng nầy liên hệ với động từ ”hiện hữu (to be) xem Xuất3:14 và trong cách chơi chữ ở Ô-sê 1:9 là danh xưng đặc thù mà dân Y-sơ-ra-ên dùng choĐức Chúa Trời (mặc dầu do những khám phá gần đây tại Tell Mardikh và có lẽ vì một lý donào đó, người ta nghĩ rằng danh ấy xuất hiện trước khi có dân Y-sơ-ra-ên). Sau thời của Môi-se (Xuất 6:3), dân Y-sơ-ra-ên đã dùng danh ấy trong sự thờ phượng như một dấu hiệu biệtriêng giữa mình với tất cả các dân tộc khác. Đây là danh xưng đặc trưng cho quan hệ giaoước, bày tỏ sự gần gũi và quan tâm của Đức Chúa Trời với con dân Ngài (Phục 3:24 vàvv...). Những hàm ý về sự gần gũi này một ngày kia sẽ được nhìn thấy trọn vẹn khi Đức ChúaTrời xuất hiện trực tiếp (Êxê 37:26-28). c. Giê-hô-va Sabaoth (Đức Giê-hô-va vạn quân). Danh xưng này có lẽ gắn liền vớiquan niệm về Đức Chúa Trời là một chiến binh, như sự giải thích trong I Sam 17:45. Vàogiai đoạn trước đó, danh xưng nói trên dường như được gắn liền với hòm giao ước. Có ngườitin rằng từ vạn quân (hosts) chỉ về vô số đạo quân bao gồm cả các đạo binh trên trời, các ngôisao và các tạo vật vốn là công cụ để thực hiện ý chỉ của Đức Chúa Trời. Danh xưng ấy vớinguyên nghĩa Đức Chúa Trời được xem như là Lãnh Tụ và Đấng Giải Cứu dân mình trongchiến trận (dường như Đức Chúa Trời hằng sống cũng được dùng chung với danh xưng kểtrên trong I Sam 17:26,36). Nhưng về sau nó đã thoát ly khỏi sự kết hợp đó (nhất là trong đờicác tiên tri) để trở nên biểu tượng cho sự cao trọng và thiên tánh vô sở bất năng của ĐứcChúa Trời mà thôi (Ê-sai 23:9; 24:23; Xach 3:10). Vì lý do đó mà Eichrodt diễn dịch danhxưng ấy theo ý nghĩa ”Chúa của tất cả mọi loài hiện hữu trên trời và dưới đất (EichrodtI,193; Vriezen cũng đồng ý như vậy, 298). d. Meelek (Vua). Xuất Ê-díp-tô Ký nói về sự cai trị đời đời của Đức Giê-hô-va. Chúngta sẽ thấy trong phần thảo luận về giao ước sau nầy, đó là vương quyền của Đức Chúa Trờivốn tiềm ẩn trong hình thức giao ước qua những sách đầu tiên của Cựu Ước. Tuy nhiên,dường như vẫn có chút dè dặt khi đề cập Đức Chúa Trời như là một vị Vua (Dân 23:21 chỉbày tỏ cách dùng gián tiếp). Có lẽ sinh hoạt chính trị tại xứ Ca-na-an giữa vòng các vua ngoạiđạo có vẻ xa lạ với dân Y-sơ-ra-ên trong giai đoạn khởi thủy. Tất nhiên là dưới chế độ quânchủ, thuật ngữ đó đã trở nên thông dụng hơn để ám chỉ về Đức Chúa Trời (Thi 24:7-10 là một
  18. 18. 18điển hình). Các tiên tri của thế kỷ thứ tám đã tránh dùng thuật ngữ đó, ngoại trừ Ê-sai (6:5;41:21; 44:6; 52:7). Có lẽ các tiên tri tránh dùng thuật ngữ đó là do việc thờ phượng sai lầmcủa phái melek vào thế kỷ thứ bảy, thứ tám tại Giê-ru-sa-lem. Vào thời kỳ hậu lưu đày, tướcvị Vua được gắn liền với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong ngày sau rốt (xem Xa 14:16).Sự ghi nhận về một tư tưởng được phát triển rõ nét rất thường hay xảy ra trong Cựu Ước.Trong I Sam chương 8, ý tưởng về một vị vua rõ ràng là một sự nhượng bộ, nhưng ý tưởngnày trở thành ý tưởng của Cựu Ước và cuối cùng đã lột bỏ được mọi nghĩa xấu và được dùngđể chỉ về sự cai trị của Đức Chúa Trời trên dân Ngài như điều họ trông mong. TheoEichrodt, một cái gì mới mẻ cho ý niệm cổ xưa về Đức Chúa Trời là vua đã giúp ý niệm đóvượt ra những khiếm khuyết nội tại cũng như thoát ly khỏi phạm trù bộ lạc để được gắn bómật thiết với ý niệm tín ngưỡng toàn cầu (Eichrodt I, 199). 2. Đức Chúa Trời là thần. Bản chất này của Đức Chúa Trời trở nên hết sức quan trọngtrong Tân Ước (Giăng 4:24) nhưng hầu như vắng bóng trong Cựu Ước. Tại sao như vậy?Chúng tôi từng lưu ý trước đây rằng đặc điểm mặc khải của Đức Chúa Trời là tự hạ mìnhxuống để sử dụng phương pháp nhân hình hóa và nhằm mục đích ban bố danh xưng Ngài.Tất cả nhằm nhấn mạnh đến bản tính người (personal nature) của Đức Chúa Trời. Điều nàydẫn Eichrodt đến chỗ xem tính cách con người (personhood) hơn là tính cách thần linh như làcăn bản của tín ngưỡng Cựu Ước. Cũng vậy, Vriezen cho rằng không phải là tình yêu haythần nhưng đời sống mới là phạm trù cơ bản để thông hiểu Đức Chúa Trời trong Cựu Ước(Vriezen, 319). Điều này không phủ nhận các phẩm tính của Chúa mà sau này được xem làthần tính của Ngài. Nhưng điều quan trọng cần ghi nhận là thần (spirit) với ý nghĩa căn bảnlà gió hoặc hơi thở, vốn có ý nghĩa cụ thể trong Cựu Ước. Có lẽ cần phải dùng từ vựng và lốitư duy Hy-lạp để khai triển ý niệm về tính linh thiêng quen thuộc với chúng ta hiện nay.Trong Cựu Ước, thần (spirit) vốn chưa được diễn tả một cách thích đáng tính thực tế của tínngưỡng của Cựu Ước và sự hiệp thông. Tuy nhiên, cùng sự gần gũi thân mật đó về sau đượcbộc lộ bởi thần tánh chắc chắn là điểm nổi bật trong quan điểm Cựu Ước về Đức Chúa Trời.Ngài vốn là nguồn mạch của sự sống (Thi 36:9), Ngài không bao giờ ngủ (Thi 121:4), Ngài làĐấng dò xét lòng người (I Sam 16:7) và không có điều gì thuộc về vật chất có thể giới hạnđược Ngài (Xuất 20:4), Ngài vốn trỗi hơn mọi loài thọ tạo (Ês 31:3), hoàn toàn khác biệt vớiloài người (Ô-sê 11:9). 3. Đức Chúa Trời duy nhất: tín lý độc thần. Khởi đầu lịch sử, Y-sơ-ra-ên hiển nhiênchưa có sự hiểu biết thấu đáo về tín lý độc thần . Như J. B. Payne nhận xét: ”Về mặt lịch sử,chân lý này được Đức Chúa Trời mặc khải tiệm tiến và loài người sa ngã lãnh hội” (1962,125). Rõ ràng là các tộc trưởng chỉ thờ phượng một mình Đức Giê-hô-va mà thôi (Sáng 35:2-4), nhưng về phương diện kỹ thuật mà nói, thì đó là việc thờ chỉ một thần trong số rất nhiềuvị thần (monolatry). Áp-ra-ham hiểu rằng Đức Chúa Trời là Đấng chủ tể trời đất, là ĐứcChúa Trời Chí Cao (Sáng 14:22), nhưng điều này chỉ có vẻ cho thấy đây là tín lý độc thần.Các tộc trưởng có kinh nghiệm thực tế về Đức Chúa Trời là Đấng tối cao và duy nhất, nhưngkhông có dấu chỉ nào cho thấy các vị ấy phủ nhận sự hiện hữu của các thần khác.Đến thờiMôi-se, thì tính cách độc nhất vô nhị của Đức Chúa Trời đã được thừa nhận, Môi-se bảo vớidân sự rằng họ đã thấy Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chứ không có thần nào khác (Phục4:35,39). Căn cứ vào đó thì một khẳng định như vậy không phải là kết quả của một quá trìnhsuy luận mang tính triết lý, song là kết quả của kinh nghiệm mật thiết về công việc của ĐứcChúa Trời (Eichrodt I,227). Thi Thiên đã diễn tả rõ ràng cho một đức tin sống động như thế.Đức Chúa Trời vốn vĩ đại đến mức dễ dàng loại bỏ những đối thủ cạnh tranh. Ngài đã hạ bệtất cả các thần đối địch khác bằng quyền phép và sự khôn ngoan của Ngài (Thi 66: 6,7). Đa-vít đã nhận thức được rằng sự hiện diện của Đức Chúa Trời vốn vượt trên mọi tập tục thờphượng (Thi 139). Kinh nghiệm của dân Chúa về việc Ngài giải cứu họ đã trải dài qua khắpcác thời kỳ lịch sử, đến nỗi họ có thể nói rằng ”Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi,ở dưới có cánh tay đời đời của Ngài (Phục 33:27). Cách diễn tả cao nhất về tính độc nhất vô

×