• Like
Tieu luan ve LPI
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Thanks for flagging this SlideShare!

Oops! An error has occurred.

Tieu luan ve LPI

  • 805 views
Published

 

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
No Downloads

Views

Total Views
805
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0

Actions

Shares
Downloads
14
Comments
0
Likes
1

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. LPI-CHỈ SỐ NĂNG LỰC QUỐC GIA VỀ LOGISTICS1. Giới thiệu tổng quan về LPI LPI là viết tắt của từ tiếng Anh “Logistics performance index”, có nghĩa là chỉ số năng lực quốc gia về Logistics, do Ngân hàng thế giới tiến hành nghiên cứu và công bố trong báo cáo mang tên “Kết nối để cạnh tranh- ngành logistics trong nền kinh tế toàn cầu”. Những quốc gia muốn cải thiện về ngành logistics cần phải sửa đổi và hiện đại hóa những viện quản lí biên giới, thay đổi những chính sách quy định về vận chuyển, và trong một số trường hợp, đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng thương mại có liên quan. Vấn đề chính yếu đc nêu bật trong LPI 2007, đó là chuỗi cung ứng thương mại chỉ mạnh tương đương mắt xích yếu nhất của nó. Xác định mắt xích yếu nhất và tập trung vào nó thông qua sự can thiệp và phát triển có định hướng bởi vậy đã trở thành một yếu tố chính của sự thuận lợi về thương mại và những vấn đề về logictics. Cho đến những năm gần đây, những nhà hoạch định chính sách và những nhà đầu tư tư nhân đã không có đủ dữ liệu cần thiết để nhận dạng những nguyên nhân kiềm hãm mậu dịch của một quốc gia. LPI ra đời đã giải quyết được vấn đề này. Phiên bản đầu tiên LPI 2007 đã giúp tăng cường cuộc đối thoại giữa những nhà hoạch định chính sách và khu vực tư nhân trong nhiều quốc gia về những vấn đề còn tồn tại trong ngành logistics của quốc gia đó. Trong vòng 2 năm kể từ lần đầu tiên LPI được đưa ra, nhiều quốc gia đã bắt đầu triển khai chương trình đẩy mạnh việc cải tiến chỉ số năng lực quốc gia về logistics của mình. Càng nhiều những vấn đề trọng tâm riêng lẻ như thủ tục biên giới, năng lực cảng, quá cảnh quốc tế hay đầu tư vào dịch vụ, càng nhiều những quốc gia tiến hành những chương trình toàn diện để tập trung vào những mắt xích yếu nhất trong chuỗi cung ứng vĩ mô của họ. Chỉ số năng lực logictics LPI của World Bank tổng kết năng lực quốc gia về logistics bằng 6 tiêu chí quan trọng nhất về môi trường logistics hiện hành:• Độ hiệu quả của quy trình thông quan• Chất lượng cơ sở hạ tầng• Khả năng chuyển hàng hóa đi với giá cả cạnh tranh.• Chất lượng dịch vụ logictics• Khả năng theo dõi tình hình hàng hóa sau khi gửi.• Thời gian thông quan và dịch vụ Những tiêu chí này nếu đứng riêng rẽ không thể bảo đảm cho chỉ số LPI cao. Nó được dựa trên những nghiên cứu mang tính lý thuyết và kinh nghiệm mới nhất cùng với những
  • 2. cuộc phỏng vấn mang phạm vị rộng của những người chuyên về logistics. LPI sử dụng những kĩ thuật thống kê chuẩn để tập hợp dữ liệu. Cách tiếp cận này tạo sự hợp lí để kiểm soát những so sánh có ý nghĩa giữa các quốc gia với nhau, những vùng, những nhóm thu nhập cũng như bảo đảm việc ước đoán của những quốc gia riêng biệt. LPI phụ thuộc vào kết quả cuộc khảo sát trực tuyến những chuyên gia logistics từ những công ty chịu trách nhiệm cho việc vận chuyển hàng hóa đi khắp thế giới: những công ty tiên phong về vận chuyển hàng hóa đa phương thức và những hãng vận tải tốc hành chủ chốt. Họ giữ những vị trí đặc quyền trong việc đánh giá năng lực quốc gia. Những vấn đề mang tính tầm nhìn của họ tác động trực tiếp đến sự lựa chọn lộ trình, cửa ngõ vận chuyển và ảnh hưởng đến những quyết định của công ty về vị trí sản xuất, chọn lựa nhà cung cấp và chọn lựa thị trường mục tiêu. Sự tham dự của họ ảnh hưởng rất lớn đế chất lượng và sự tin cậy của dự án LPI. Sự kết nối liên tục và những phản hồi của họ rất cần thiết cho sự phát triển và cải tiến của LPI 2009.2. Những cải tiến của LPI 2009 so với LPI 2007 World Bank chỉ đạo cuộc khảo sát LPI chu kì mỗi 2 năm, phương pháp chính vẫn giữ như 2007, gồm 2 phần chính là LPI quốc tế và LPI nội địa. Phần thứ nhất (quốc tế) cung cấp những đánh giá định tính của một quốc gia, gồm 6 tiêu chí chủ yếu, được đưa ra bởi những đối tác kinh doanh – những chuyên gia logistics làm việc ở nước ngoài. Phần thứ hai (nội địa) cung cấp những thông tin chi tiết về môi trường logistics trong chính quốc gia đó, bao gồm những hỗn hợp về chi phí và thời gian mang tính chất định lượng và định tính. Những thông tin bổ sung này được sử sụng để giải thích thêm cho LPI cũng như hợp lí hóa và kiểm tra chéo những thông tin nằm dưới. Nhờ sự gia tăng của những khu vực tư nhân có liên quan trong cuộc khảo sát LPI, mức độ bao phủ các quốc gia về chỉ số LPI quốc tế đã tăng từ 150 đến 155. Mặc dù LPI đại diện cho mức năng lực chuẩn về logistics của một quốc gia, những cuộc khảo sát LPI cũng tập hợp được những dữ liệu chi tiết và quan trọng trong logistics nội địa, thời gian, tải trọng chi phí của những giao dịch xuất nhập khẩu. Mức độ bao phủ các quốc gia về chỉ số LPI nội địa tăng gần 130 nước. Những dữ liệu này cho phép những người đang làm thực tiễn, nhà phân tích và nhà hoạch định chính sách kiểm tra những yếu tố quyết định về năng lực logistics trong những quốc gia riêng biệt. LPI 2009 thu thập những thông tin mới ở phạm vi rộng hơn, chẳng hạn như chi tiết hơn về quy trình thông quan, nâng cao chất lượng và phạm vi kiến thức về những chỉ dẫn năng lực mang tính chất định lượng được, hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách một cách toàn diện và đầy đủ. Những thông tin mở rộng bao gồm: • Dữ liệu về chi phí/ thời gian cho những giao dịch xuất nhập khẩu: đây là những đổi mới chính của cuộc khảo sát. Những người trả lời tự xác định là mình có kinh nghiệm hay không trong quá trình vận chuyển trước khi xuất khẩu ( giữa nhà máy
  • 3. của người bán và cảng hay sân bay, ngoại trừ việc vận chuyển quốc tế), vận chuyển xuất khẩu ( bằng đường bộ, từ nhà máy của người bán đến kho hàng của người mua), vận chuyển nhập khẩu ( từ cảng hay sân bay đến kho hàng của người mua), vận chuyển nhập khẩu (bằng đường bộ, từ nhà máy của người bán đến hko hàng của người mua). Sự phân biệt này cho phép LPI xác định mối quan tâm đối với những loại hình cụ thể của việc vận chuyển, ngoại trừ những khác biệt quan trọng của việc vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ, đường biển,đường không. • Quản trị hải quan và các thủ tục hải quan: phân tích sâu sắc hơn về những khía cạnh đặc biệt của hải quan và quy trình thông quan. Thêm vào việc đánh giá thời gian thông quan và xếp hạng mức độ hiệu quả của hải quan như năm 2007, người trả lời cũng phải đánh giá những phương pháp đánh giá hải quan, phương pháp xác định việc vận chuyển có được kiểm tra vật lí hay không, có sử dụng sự kiểm tra bằng phương pháp điện tử không, sự thông quan trước khi đến, những thủ tục kiểm toán, sự rõ ràng của thủ tục quản lí hải quan, bao gồm ngành tư vấn, những thông báo trước khi thay đổi quy định, tính sẵn sàng của những thủ tục xem xét và khiếu nại. • Những đo lường về an ninh biên giới: phản ánh những đòi hỏi quan trọng về an ninh biên giới, một câu hỏi mới về sự bảo đảm của hàng hóa để đánh giá mức độ hạn chế của chuỗi cung ứng toàn cầu. Ng trả lời phải chỉ ra được nó trở nên dễ dàng hơn hay phức tạp hơn khi thực hiện những quy định về an ninh hàng hóa. • Dữ liệu về chất lượng cơ sở hạ tầng và nhà cung cấp dịch vụ: LPI 2007 tập trung vào chất lượng 2 loại cơ sở hạ tầng là viễn thông và vận tải, sự cạnh tranh về trình độ của nhà cung cấp dịch vụ logistics. LPI 2010 mở rộng vùng phủ sống về tiêu chí này theo 2 cách. Thứ nhất, cơ sở hạ tầng được nhận dạng một cách độc lập giữa cảng, sân bay, đường bộ, đường sắt, transloading facilities, thông tin và cơ sở hạ tần truyền thông. Thứ hai, những ứng viên được yêu cầu đánh giá cả về năng lực và chất lượng dịch vụ logictics lõi, chẳng hạn như những nhà điều hành vận tải, bộ phận chuyển tiếp hàng hóa, cục biên giới và hải quan, nhà xuất nhập khẩu. Ngoài việc tập trung vào chất lượng dịch vụ còn có năng lực của người cung cấp dịch vụ cung cấp những thông tin quan trọng bổ sung vào yếu tố quyết định năng lực logistics tổng thể.3. Vấn đề nhận thấy từ kết quả LPI 2009 Cũng như 2007, LPI 2010 cũng cho thấy những quốc gia có thu nhập cao đứng ở vị trí hàng đầu trong bảng xếp hạng. Hầu hết những quốc gia này được xem là chủ chốt trong lĩnh vực logistics, giữ vị trí quan trọng trong hàng loạt chuỗi cung ứng địa phương và toàn cầu. Bảng kết quả phản ánh sự cởi mởi của những quốc gia này với thương mại quốc tế và đầu tư như là một phần của chiến lược phát triển kinh tế thành công. Ngược lại, 10
  • 4. quốc gia xếp hạng thấp nhất hầu hết đều thuộc nhóm quốc gia có thu nhập thấp hay trungbình- thấp, hầu hết đều thuộc châu Phi.Làm thế nào điểm số và xếp hạng LPI có liên quan đến năng lực logistics, sử dụng nhữngthông tin cụ thể bổ sung trong cuộc khảo sát, có thể đưa ra ý tưởng về mối liên kết trungbình giữa LPI và năng lực của quốc gia đó trong từng lĩnh vực cụ thể. Ví dụ, LPI thấphơn 1 điểm, giữa 2.5 và 3.5, có nghĩa là phải mất thêm 2 đến 4 ngày trong việc vậnchuyển hàng hóa nhập khẩu/ xuất khẩu từ cảng đến kho hàng của công ty. Điều này cũngcó nghĩa là tỉ lệ kiểm tra vật lí cao hơn 25%.Sự phân bố của điểm số LPI cho thấy 4 loại môi trường logictics, được giới thiệu trongấn bản 2007 “ Kết nối để cạnh tranh: logictics không thân thiện, logictics kiềm hãm sựphát triển quốc gia, chẳng hạn như những quốc gia kém phát triển nhất, thể hiện mộtphần, những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình; thể hiện nhất quán, quốc gia cónăng lực logistics tốt hơn những quốc gia trong cùng nhóm thu nhập; logictics thân thiện,thể hiện tốt đối với những quốc gia có thu nhập cao.
  • 5. 4. Thống kê người trả lời Chỉ số năng lực logistics (Logistics Performance Index – LPI) dựa trên kết quả bản khảo sát trực tuyến từ những chuyên gia logistics đến từ các công ty chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa đi khắp thế giới - những công ty vận chuyển đa quốc gia và những nhà cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh chính yếu. Gần 1000 chuyên gia logistics đến từ các công ty logistics quốc tế ở 130 quốc gia tham gia trong cuộc khảo sát năm 2009, tăng 25% so với năm 2007.
  • 6. Vị trí (nơi ở và làm việc) của những người tham gia đánh giá năng lực logistics phản ánhvài trò ngày càng quan trọng của các vấn đề thuận lợi hóa thương mại ở các nước đangphát triển: có tới 45% người trả lời đến từ các quốc gia có thu nhập trung bình, 10% đếntừ các quốc gia thu nhập thấp, phần còn lại đến từ các nền kinh tế có thu nhập cao.Chỉ số LPI cũng bao gồm sự đánh giá của các công ty lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏở lĩnh vực logistics. Những công ty lớn chiếm khoảng 45% phản hồi, bao gồm các côngty giao nhận đa quốc gia (34%) và những công ty cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanhtoản cầu (11%), 55% cỏn lại là từ các công ty giao nhận vừa và nhỏ.Một việc cũng không kém phần quan trọng là phải nhấn mạnh sự tham gia của nhữngthành viên có kiến thức và thâm niên của các công ty trên trong việc đánh giá môi trườnglogistics ở các quốc gia khác nhau. Kết quả khảo sát từ các nhà điều hành cấp cao chiếm35%, giám đốc khu vực hoặc quốc gia chiếm 25% và quản lý phòng ban chiếm 24%. Hơnnữa, nhóm chuyên gia này tham gia trực tiếp vào hoạt động hàng ngày, không chỉ ở trụ sởchính của công ty mà còn ở văn phòng ở các nước: gần 39% người trả lời ở văn phòngchi nhánh ở các nước, 35% ở trụ sở chính của vùng hoặc công ty, 11% câu trả lời từnhững nhân sự ở văn phòng chi nhánh địa phương, 14% ở các công ty độc lập.Phần lớn người trả lời (54%) có công việc chính là tham gia vào việc cung cấp tất cả hoặcphần lớn dịch vụ logistics. Những việc này có thể bao gồm lưu kho, phân phối, đưa ra cácgiải pháp logistics cho khách hàng, dịch vụ chuyển phát nhanh, vận chuyển hàng rời hoặchàng đóng thành kiện, và vận chuyển hàng nguyên công hoặc hàng lẻ hoặc vận chuyểnbằng xe móoc. Ngược lại, 27% phản hồi đến từ những công ty đặt nền tảng kinh doanhcủa họ dựa trên một dịch vụ mà họ mạnh nhất như: vận chuyển hàng bằng container hoặcxe moóc (15%) và cung cấp giải pháp logistics cho khách hàng (12%).Cấu trúc bản câu hỏiPhần 1: Thông tin cơ bản của người trả lờiTừ câu 1 đến câu 8, người trả lời được yêu cầu cung cấp một vài thông tin cơ bản về côngviệc của mình. Các thông tin đó bao gồm: vị trí trong công ty, công việc chính, loại hìnhcông ty, loại hình dịch vụ chính của công ty, quốc gia đang làm việc. Những thông tin nàysẽ được dùng để thống kê người trả lời.
  • 7. Phần 2: Xây dựng chỉ số LPI quốc tếPhần tiếp theo cùa bàn khảo sát LPI (câu 9-15) cung cấp thông tin dùng để xây dựng chỉsố LPI quốc tế. Mỗi người trả lời khảo sát được yêu cầu đánh giá tám thị trường nướcngoài theo sáu khía canh cốt lõi của năng lực logistics. Tám thị trường này được chọn dựavào những thị trường xuất nhập khẩu quan trọng của quốc gia mà người trả lời đang ở(hoặc làm việc) và lựa chọn ngẫu nhiên, các quốc gia láng giềng tạo nên một phần cầu lụcđịa nối quốc gia được đất liền bao bọc với thị trường quốc tế. Phương pháp được dùng để
  • 8. chọn quốc gia để người trả lời đánh giá thay đổi theo đặc điểm của quốc gia mà người đó đang ở. Điều này được thể hiện trong bảng dưới đây: Ng ườ i trả l ờ i đến t ừ Ng ườ i trả l ờ i đến t ừ Ng ườ i trả l ờ i đến t ừ ̣ quốc gia thuôc nhóm ̣ quốc gia thuôc nhóm ̣ quốc gia thuôc nhóm n ướ c thu nhâp thấp ̣ n ướ c thu nhâp trung bình ̣ n ướ c thu nhâp cao ̣ 3 n ướ c đối tác xuất khâu ̉ Chỉ số LPI quốc tế là ̣ quan trong nhất bảng tổng hợp các chỉ + tiêu của năng lực N ướ c đối tác quan trong ̣ Ng ườ i 5 n ướ c đối tác xuất khâu ̉ logistics, với ý nghĩa là nhất trả l ờ i ̣ quan trong nhất kết hợp dữ liệu trên sáu đến t ừ + quốc gia + khía cạnh cốt lõi của 4 n ướ c lấy ngẫu nhiên giáp biên ̉ 3 n ướ c đối tác quan năng lực thành một t ừ các nhóm n ướ c sau: 2 n ướ c lấy ngẫu nhiên ̣ trong nhất Châu Phi, Đông Á và n, tổng thước đo đơn giả Trung t ừ danh sách 5 n ướ c Á, châu Mĩ Latinh, OECD và ̉ ̣ đối tác xuất khâu quan trong 3 n ướ c đối tác xuất khâu ̉ ̣ quan trong nhất nhất và 5 n ướ c đối tác ̣ ̉ ̣ nhâp khâu quan trong nhất + 4 n ướ c đối tác xuất khâu ̉ + ̣ quan trong nhất 1 n ướ c đối tác nhâp khâu ̣ ̉ Ng ườ i ̣ quan trong nhất 6 n ướ c lấy ngẫu nhiên trả l ờ i + t ừ các nhóm n ướ c sau: đến t ừ + quốc gia 2 n ướ c đối tác nhâp khâu ̣ ̉ a. Châu Phi ̣ quan trong nhất 2n ướ c cầu luc đia ̣ ̣ không b. Đông Á và Trung Á giáp biên ̉ + + c. Châu Mĩ Latinh hợp. Sáu khía cạnh cốt lõi được thu thập trong bản khảo sát LPI là:• Hiệu quả của quá trình thông quan, được đánh giá từ “rất thấp” (1) đến “rất cao” (5) ở câu hỏi khảo sát số 9.
  • 9. • Chất lượng của thương mại và vận chuyển có liên quan đến cơ sở hạ tầng, được đánh giá từ “rất thấp” (1) đến “rất cao” (5) ở câu hỏi khảo sát số 10.• Sự thoải mái trong việc thỏa thuận giá vận chuyển hàng cạnh tranh, được đánh giá từ “rất khó” (1) đến “rất dễ” (5) ở câu hỏi khảo sát số 11.
  • 10. • Năng lực và chất lượng dịch vụ logistics, được đánh giá từ “rất thấp” (1) đến “rất cao” (5) ở câu hỏi khảo sát số 12.• Khả năng theo dõi tình hình hàng hóa sau khi gởi hàng, được đánh giá từ “rất thấp” (1) đến “rất cao” (5) ở câu hỏi khảo sát số 13.
  • 11. • Tần suất hàng hóa được chuyển đến tay người nhận trong tiến độ hoặc thời gian giao hàng kì vọng, được đánh giá từ “hầu như không bao giờ” (1) đến “gần như luôn luôn” (5) ở câu hỏi khảo sát số 15. Phần 2: Xây dựng chỉ số LPI nội địa Phần thứ ba của bản khảo sát LPI là chỉ số LPI nội địa trong đó những người trả lời sẽ cung cấp những thông tin chi tiết về chất lượng của môi trường logistics ở quốc gia họ đang làm việc. Từ câu hỏi 16 đến 21 của bản khảo sát LPI, những người trả lời chọn một trong năm mục, với sự sắp xếp theo năng lực tăng dần. Ví dụ ở câu hòi số 16, họ có thể miêu tả cảng phí ở
  • 12. quốc gia của họ “rất cao”, “cao”, “trung bình”, “thấp”, “rất thấp”. Giống như trong LPIquốc tế, những tùy chọn trên được mã hóa từ 1 đến 5.Với một vài ngoại lệ, câu hỏi 22-35 yêu cầu người trả lời cung cấp thông tin về số lượngcủa những khía cạnh riêng biệt cùa chuỗi cung ứng quốc tế ở quốc gia của họ. Họ có thểchọn từ một bộ câu trả lời trong một danh sách thả xuống trong mỗi câu hoặc điền số vàonhững ô trống.
  • 13. Sơ lược về cách tính toánĐối với chỉ số LPI quốc tếLPI quốc tế được xây dựng từ sáu khía cạnh kể trên, sau đó được xử lý phương phápphân tích thành phần chính (Principal Component Analysis -PCA). PCA là một kỹ thuậtthống kê tiêu chuẩn dùng để giảm số chiều của bộ dữ liệu. Đầu vào cho PCA là số điểmcủa các quốc gia được chấm trong các câu 9-15, sau đó lấy trung bình trên những dữ liệungười trả lời cung cấp cho một thị trường nước ngoài cho trước. Điểm số được đơn giảnhóa bằng cách trừ đi mẫu trung bình và chia cho độ lệch chuẩn trước khi tiến hành PCA.Sau khi có điểm số của mỗi thành phầm của sáu khía cạnh, các điểm số này sẽ được nhânvới trọng số tương ứng, sau đó cộng các kết quả với nhau. Trọng số của mỗi thành phầnđại diện cho mức độ quan trọng của từng chỉ tiệu trong việc xây dựng chỉ số LPI quốc tế.Bởi vì trọng số của sáu chỉ tiêu tương tự nhau nên chỉ số LPI quốc tế gần như là số trungbình cộng của sáu chỉ tiêu thành phần.oo
  • 14. Khoảng tin cậyKhoảng tin cậy được dùng để xây dựng giới hạn trên và dưới cho điểm LPI của một quốcgia. Những giới hạn này về sau sẽ được dùng để tính toán biên độ trên và dưới cho viêcxếp hạng quốc gia. Các phạm vi này được thiết kế vì LPI thật ra dựa trên một bản khảosát và cho nên sẽ có mẫu lỗi. Khoảng tin cậy và phạm vi cao thấp cho điểm số và thứhạng thì lớn hơn ở những thị trường nhỏ và có ít người trả lời trong đó phản ánh sựkhông chắc chắn lớn hơn cho các ước tính.Để tính toán khoảng tin cậy, lỗi chuẩn được đánh giá trên tất cả câu trả lời cho một quốcgia riêng biệt. Giới hạn trên và dưới của khoảng tin cậy sau đó sẽ được thêm vào điểm sốLPI theo công thức:Trong đó: LPI là điểm LPI của một nước N là số người trả lời khảo sát cho nước đó s là lỗi chuẩn của điểm LPI ở mỗi quốc gia t là phân phối t-StudentĐiểm cao và thấp cũng được dùng để tính toán giới hạn trên và dưới trong xếp hạng quốcgia. Giới hạn trên là hạng LPI một quốc gia nhận được nếu điểm LPI của nó ở giới hạntrên của khoảng tin cây hơn là ở giữa. Giới hạn dưới là hạng LPI một quốc gia nhận đượcnếu điểm LPI của nó ở giới hạn dưới của khoảng tin cây hơn là ở giữa.Khoảng tin cây trung bình của thang 1-5 là 0.22 hoặc khoảng 7.5% điểm số của một quốcgia trung bình. Tính trung bình số này tương đương với 10 hạng trong bảng xếp hạngLPI. Vì vậy cần phải cẩn thận trong việc giải thích những khác biệt nhỏ trong điểm số vàhạng LPI. Ví dụ như Jordan có hạng LPI tương đối thấp (81) nhưng có khoảng tin cậyrộng bởi vì số người trả lời ít. Với điểm cao của khoảng tin cậy của mỉnh, Jordan sẽ đượcxếp hạng 56.Khi so sánh kết quả LPI năm 2010 so với năm 2007, một điều quan trọng là phải chú ýđến khoảng tin cậy. Nên tập trung vào những thay đổi mang ý nghĩa thống kê hơn là chỉ
  • 15. so sánh đon giản giữa từng điểm số. Chỉ khi, ví dụ như giới hạn dưới của một quốc gia trong điểm số LPI 2010 cao hơn giới hạn trên năm 2007 thì có thể kết luận rằng đã có những cải thiện mang ý nghĩa thống kê trong năng lực. Mặc dù đại diện cho nguồn dữ liệu toàn liệu toàn diện hiên đang có ở mội trường logistics và thuận lợi hóa thương mại, LPI cũng chịu một số giới hạn quan trọng. Đầu tiên, kinh nghiệm của các hãng vận chuyển hàng hóa quốc tế có thể không đại diện cho môi trường logistics rộng hơn ở các nước nghèo, nơi họ có xu hướng cùng tồn tại với những người điều hành truyền thống hơn. Những sự tương tác của hai cách điều hành (truyền thống và đổi mới)với các cơ quan chính phủ, cũng như mức độ dịch vụ có thể khác nhau. Thứ hai, với những quốc gia hoàn toàn giáp với đất liền hoặc những đảo quốc, LPI có thể tính luôn cả những vấn đề đường vào bên ngoài quốc gia được đánh giá, ví dụ như những khó khăn trong việc quá cảnh. Những quốc gia toàn giáp với đất liền bị đánh giá thấp như Rwanda có thể đã không được đánh giá công bằng cho những nỗ lực của họ trong việc thuận lợi hóa thương mại bởi vì họ phải phụ thuộc vào hệ thống quá cảnh quốc tế phức tạp. Và các quốc gia đất liền không thể giải quyết vấn đề quá cảnh không hiệu quả thông qua những cải cách trong nước. Đối với chỉ số LPI nội địa Đối với câu hỏi 22-35, khi phản hồi chỉ ra một giá trị duy nhất, câu trả lời được mã hóa bởi logarit của giá trị đó. Khi phản hồi chỉ ra một khoảng, câu hỏi được mã hóa bởi logarit của giá trị giữa của khoảng. Ví dụ, quãng đường xuất khẩu có thể biểu thị như 50 km, 50-100 km, 100-500 km… vì thế phản hồi 50-100 km được mã hóa là log(75). Để đưa ra điểm cho quốc gia, phản hồi dạng logarit ở từng câu sẽ được tính trung bình trên tất cả những người trả lời cho một quốc gia cho trước và kết quả được mũ hóa. Sau khi lấy trung bình các kết quả thu được ở các câu hỏi, ta được chỉ số LPI nội địa.5. Tác động của LPI đến 1 quốc gia: Ngân hàng thế giới xây dựng chỉ số LPI nhằm mục đích tập trung nghiên cứu về vấn đề có tầm quan trọng toàn cầu, và từ đó cung cấp một nền tảng cho đối thoại giữa chính phủ, tổ chức xã hội và các doanh nghiệp.
  • 16. LPI có ảnh hưởng đến các nước, cả các nước đang phát triển cũng như các nước pháttriển. Trong đó, việc phát triển logistics có đôi khi là điều sống còn của 1 nước và thậmchí là cả nước giàu có.Những quốc gia có chỉ số LPI lớn hơn dự đoán thường là những nước đầu tư nhiều chophát triển cơ sở hạ tầng và cải tiến công nghệ.LPI cao sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư vào quốc gia. Các doanh nghiệp trong bốicảnh toàn cầu hóa đặc biệt chú trọng đến chi phí hiệu quả trong chuỗi cung ứng của mìnhnhằm tăng lợi thế cạnh tranh. Do đó, các nước có chỉ số LPI cao sẽ thu hút được các côngty quốc tế. Có tể lý giải như sa: Chi phí của chuỗi cung ứng chịu ảnh hưởng rất lớn từ khảnăng dự đoán và độ tin cậy của chuỗi cung ứng đó và nó cũng chiếm một phần lớn trongchi phí sản xuất. Do vậy, các doanh nghiệp rất cân nhắc khi chọn công ty Logistics chohàng hóa của mình. Các nước phát triển có chỉ số LPI cao có các chi phí như: chi phí đấtđai, chi phí cảng, kho bãi, chi phí về nhân công, hay nguồn nguyên liệu cao hơn hẳn cácnước đang phát triển, tuy nhiên các nước phát triển lại có lợi thế bền vững trong hiệu quảvà độ tin cậy của chuỗi cung ứng, các nước có chi phí cao nhưng hiệu suất cao thì tốt hơncác nước có chi phí thấp nhưng lại có năng suất thấp. Do đó chi phí trung bình tại cácnước có LPI cao lại thấp hơn so với các nước có chỉ số LPI thấp. Lấy ví dụ, các nhà cungcấp cùng một nhà sản xuất ô tô sẽ thực hiện 7 ngày kiểm kê tại Ý, nhưng 35 ngày ở Ma-rốc. Một số nhà bán lẻ ở các nước châu Phi duy trì ba tháng của hàng tồn kho hoặc nhiềuhơn nữa. Bangladesh trung bình phải vận chuyển 10% hàng sản xuất may mặc của nóbằng đường hàng không để đáp ứng tiến độ của thời hạn giao hàng của người mua châuÂu. Vì vậy, chi phí Logistics cao, không thể dự đoán trước, làm ảnh hưởng lớn đến hiệuquả và độ tin cậy trong chuỗi cung ứng quốc tế.Ngoài ra, LPI giúp cho các nước biết được vị trí của mình trong khả năng về logistics vàquản trị chuỗi cung ứng. Từ đó giúp họ khắc phục được những yếu điểm của mình từ đónâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia.Các quốc gia có hệ thống logistics phát triển sẽ thu hút nhiều FDI hơn. Thương mại vàFDI là những kênh trọng điểm cho việc chuyển giao kinh nghiệm, Logistics lạc hậu cóthể gây cản trở cho tiếp cận các công nghệ và bí quyết, và tốc độ tăng trưởng trong sản
  • 17. xuất thấp. Do vậy, cần có một hệ thống Logistics tốt trên con đường hội nhập quốc tếcũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với các nước đang phát triển. Ví dụ, mặc dùSingapore chỉ là 1 đảo quốc nhỏ, không có nhiều tài nguyên khoáng sản, lại có chi phí vềđất đai, chi phí nhân công rất cao, nhu cầu thị trường hết sức nhỏ hẹp. Tuy nhiên, chínhphủ Singapore đã đầu tư rất nhiều cải thiện Singapore trong phát triển lĩnh vực côngnghiệp để Singapore trở thành trung tâm phân phối khu vực và trung tâm Logistics toàncầu, với tốc độ phát triển rất nhanh trong vòng thập kỷ vừa qua. Vì vậy, một số công tyquyết định tiến hành sản xuất tại Singapore và phân phối các sản phẩm trong khu vực vìbị hấp dẫn bởi điều kiện trung tâm vận tải hiệu quả và tin cậy của nước này.
  • 18. 6. Mối quan hệ của LPI và các chỉ số kinh tế khác: • LPI và GCI Theo báo cáo cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới đã đưa ra chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI - Global Competitiveness Index), một chỉ số tổng hợp dựa trên các số liệu vi mô và vĩ mô cùng với cuộc phỏng vấn với các doanh nghiệp trên về vấn đề có liên quan đến năng lực cạnh tranh. GCI bao gồm profile chi tiết của hơn 125 nền kinh tế và bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu, trên cơ sở các lĩnh vực sau: cơ sở hạ tầng, kinh tế vĩ mô, giáo dục công nghệ…và nhiều chỉ số liên qian trực tiếp đến thương mại và Logistics. Vì vậy, LPI và GCI có liên quan mật thiết với nhau. Nếu 1 quốc gia có hệ thống Logistics tốt cùng với hệ thống thương mại thông thoáng và phát triển thì sẽ có năng lực cạnh tranh toàn cầu cao. • LPI và GET Chỉ số kích hoạt thương mại toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới (GET- Global Enabling Trade), giống như LPI, là một chỉ số tổng hợp được xây dựng từ rất nhiều dữ liệu ban đầu nhưng không tập trung vào Logistics mà tập trung nhiều vào môi trường kinh doanh toàn cầu của một quốc gia. Tuy nhiên sự kết hợp giữa LPI và GET là rất lớn. LPI đóng vai trò 1 nguồn dữ liệu nhỏ cho chỉ số GET. Có thể lý giải rằng Logistics quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại từ đó góp phần tăng chỉ số GET.7. Ảnh hưởng của LPI đến các nước có thu nhập thấp và những kiến nghị cho cải thiện logistics của Việt Nam thông qua những chỉ số LPI. Trong kết quả về chỉ số LPI “Kết nối để cạnh tranh” mà World Bank công bố, thì giữa các nước có phát triển và các nước đang phát triển. Trong đó các nước phát triển luôn có chỉ số LPI cao hơn rất nhiều so với các nước đang phát triển. Sự chênh lệch của LPI tuy là kết quả của quá trình phát triển và cải thiện logistics và chuỗi cung ứng của các nước, tuy nhiên nó cũng có những ảnh hưởng ngược lại, và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của các nước. • Ảnh hưởng của LPI đến các quốc gia đang phát triển: Thứ nhất, đó là thu hút FDI. Nếu xét về cùng một mức độ của các nước đang phát triển, thì quốc gia nào có chỉ số LPI cao hơn sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn. Nguyên nhân là do trong môi trường toàn cầu hóa, các công ty đa quốc gia cạnh tranh với nhau và họ luôn tìm cách để tối đa hóa chuỗi giá trị của mình, và do đó quản trị chuỗi cung ứng trở thành điểm cạnh tranh giữa các công ty đa quốc gia.
  • 19. Các nước đang phát triển đều có cùng lợi thế cạnh tranh về nguồn nguyên nhiên liệu,nguồn nhân lực giá rẻ,… Do đó các nước cần phải tìm những lợi thế cạnh tranh khác đểthu hút đầu tư. Trong đó, phát triển logistics và quản trị chuỗi cung ứng là yếu tố nhằmđảm bảo gia tăng chuỗi giá trị.Thứ hai, đó là tăng trưởng kinh tế. Khoảng cách LPI cũng nổi bật lên với việc kết hợpgiữa năng lực logistics với những đạt được trong thương mại và đầu tư trực tiếp nướcngoài. Các nước có năng lực LPI tốt hơn sẽ có lợi ích hơn trong toàn cầu hóa. Các nướccó logistics thân thiện thì có hệ thống chuỗi giá trị tốt hơn và hấp dẫn đầu tư trực tiếpnước ngoài. Và vì thương mại và FDI là kênh cốt yếu trong việc chuyển giao những côngnghệ và bí quyết, kinh nghiệm, do đó các nước có năng lực LPI kém sẽ khó tiếp cận vấnđề này hơn.Cải thiện năng lực Logistics là 1 chính sách phát triển quan trọng trong những năm gầnđây bởi vì Logs tác động mạnh đén việc phát triển kinh tế. Bằng chứng từ LPI 2007, 2010chỉ ra rằng, đối với các nước có cùng mức thu nhập, thì nước nào có năng lực Logs tốtnhất thì thấy rằng tốc độ tăng trưởng cao hơn: 1% trong GDP và 2% trong thương mại.ngày nay, những phát hiện này có ảnh hưởng đăc biệt , vì thế các nước đang phát triểncần phải đàu tư tốt hơn vào Logs và để đẩy mạnh sự hồi phục sau khủng hoảng kinh tế vàtạo ra vị thế cạnh tranh và sức mạnh tốt hơn. • Bài học về cải thiện chỉ số LPI:LPI giúp cho các nước biết được vị trí của mình trong khả năng về logistics và quản trịchuỗi cung ứng. Từ đó giúp họ khắc phục được những yếu điểm của mình, và tăng cườngkhả năng cạnh tranh quốc gia.Xem xét Morocco và Tunisia, cả Morocco và Tunisia đều rất quen thuộc với thị trườngEU. Cả Morocco và Tunisia cùng phát triển các hoạt động sản xuất như 1 phần của dâychuyền sản xuất của các công ty đa quốc gia của Châu Âu, trong các ngành như maymặc, phụ tùng oto, đồ điện. Các nhà làm chính sách của cả 2 nước đều rất nhanh nhạytrong việc cải cách và đầu tư vào các cảng, hải quan và các dịch vụ logistics của cácthành phần nước ngoài. Thế thì tại sao, Morocco lại có LPI thấp hơn (94) so với Tunisia(60) và với các đối thủ khác như Romania (51), và Bulgaria (55). Trong khi tiến hành cảicách các cảng và hải quan mẫu, Morocco không gặt hái được bất cứ lợi ích nào trong cácđo lường gần đây khi phát triển nền logistics nội địa, đáng chú ý trong vận tải và kho.Cùng thời gian đó, Tunisia không chỉ tiến hành cải cách trong một vài điều cốt lõi sớmhơn Morocco mà còn phát triển các hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử đã giúp làm đơngiản mạnh mẽ các quá trình kiểm tra hải quan bằng việc hợp nhất các một vài thủ tục. Vàhọ đã có lợi thế trong quá trình thâm nhập EU.Về Nigeria, Senegal và Ghana. Senegal ( hạng 105) và Ghana ( 129) có hạng thấp hơnnhiều so với Nigeria (97). Senegal và Ghana cả 2 đều tiến hành khá thành công trong cải
  • 20. cách hải quan với việc giới thiệu hệ thống công nghệ thông tin để cải thiện quá trình kiểmtra hải quan. Ngược lại, Negeria chỉ mới bắt đầu cải cách hải quan của mình gần đây.Điểm số về thủ tục kiểm tra của Senegal (76) tốt hơn so với Nigeria( 96). Nhưng chấtlượng các dịch vụ hỗ trợ như điều hành cảng thì Nigeria có hiệu quả hơn, đó là nhờ vàotư nhân trong lĩnh vực container đầu cuối.Uganda, Malawi và Zambia là các nước nội địa, nhưng họ vẫn xếp hạng trong top 15nước có năng lực logistics cao trong 39 nước cận vùng Tiểu- Saharan Châu Phi. Họ đãđạt được những lợi ích bởi việc kết nối với các cánh công vào Nam Phi.Nước Uganda, nước nội địa không giáp biển nhưng lại là một trong những nước có nănglực tốt nhất trong các nước thu nhập thấp trong toàn bộ khu vực được khảo sát (vị trí 66)thậm chí tốt hơn cả nước quá cảnh Kenya( thứ 99). Câu chuyện của Uganda là liên hệchặt chẽ đến thành công trong nỗ lực hội nhập khu vực với các nước láng giềng vàthương mại quốc tế và các dự án hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi của WB và các cơ quanphát triển, các nhà tài trợ quốc tế. Đặc biệt dự án Malaba- nằm ở biên giới Kenya vàUganda và một trong các cửa khẩu đông đúc nhất trong khu vực- là chìa khóa để cải thiệnnăng lực Logs của Uganda.Những chú ý mà LPI đưa ra khi các nước tiến hành cải cách:1) Cải cách phải hiểu 1 cách rõ ràng.2) Một vài lĩnh vực gặp nhiều khó khăn hơn trong các lĩnh vực khác.3) Tiến hành cải cách không phải là dễ4) Trong khi việc cải cách thống nhất là cần thiết, việc ưu tiên và chiến lược có thể khác.