Bán Khống và nhu cầu cần thiết của chứng khoán VIỆT NAM

2,553 views
2,473 views

Published on

Bán Khống và nhu cầu cần thiết của chứng khoán VIỆT NAM

Published in: Education
0 Comments
1 Like
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
2,553
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
500
Comments
0
Likes
1
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Bán Khống và nhu cầu cần thiết của chứng khoán VIỆT NAM

  1. 1. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ - BẢNG BIỂU Chương 1: Khung lý luận về bán khống ..................................... 1 1.1 Khái niệm bán khống .................................................................................. 1 1.2 Lịch sử bán khống ....................................................................................... 1 1.3 Phân loại bán khống .................................................................................... 3 1.3.1 Bán khống mang tính đầu cơ .................................................................... 3 1.3.2 Bán khống phòng ngừa rủi ro ................................................................... 3 1.3.3 Bán khống kỹ thuật .................................................................................. 3 1.3.3.1 Bán khống kỹ thuật dựa trên hộp an toàn .......................................... 4 1.3.3.2 Bán khống kỹ thuật cho việc mua bán song hành .............................. 5 1.3.3.3 Bán khống kỹ thuật được thực hiện bởi các nhà buôn và môi giới .... 6 1.4 Tác động của bán khống lên TTCK ............................................................ 7 1.4.1 Lợi ích của bán khống .............................................................................. 7 1.4.1.1 Đối với thị trường ............................................................................ 7 1.4.1.2 Đối với nhà đầu tư ............................................................................ 8 1.4.1.3 Đối với các công ty chứng khoán và ngân hàng ................................ 9 1.4.2 Rủi ro của bán khống ............................................................................... 9 1.4.2.1 Đối với nhà đầu tư ............................................................................ 10 1.4.2.2 Đối với công ty chứng khoán và ngân hàng ...................................... 10 1.4.2.3 Đối với thị trường ............................................................................ 10 1.5 Bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc triển khai nghiệp vụ bán khống ....................................................................................................... 13 1.5.1 Bài học về bán về bán khống nhìn từ khủng hoảng tài chính năm 1997 từ Thái Lan ........................................................................................................... 13 1.5.2 Bài học về bán khống nhìn từ tầm quan trọng của bán khống trên thị trường chứng khoán Mỹ ....................................................................................... 14 1.5.3 Bài học rút ra cho Việt Nam khi triển khai nghiệp vụ bán khống .............. 15
  2. 2. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ..................................................................................... 15 Chương 2: Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam và nhu cầu của bán khống .................................................................................. 16 2.1 Điểm qua tình hình TTCK Việt Nam từ đầu năm 2006 đến 22/05/2008 .... 16 2.2 Rủi ro của TTCK Việt Nam đối với các NĐT ............................................. 18 2.2.1 Rủi ro chính sách ....................................................................................... 18 2.2.2 Thị trường thiếu các công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả cho các NĐT..... 19 2.2.3 Rủi ro bong bóng....................................................................................... 20 2.2.4 Cùng với xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới, với các chính sách cởi mở trong đầu tư nên sự hiện diện của NĐT nước ngoài tại Việt Nam ngày càng nhiều ......................................................................................................... 20 2.2.5 Kiến thức của đại bộ phận NĐT còn nhiều hạn chế, khó tiếp thu các nghiệp vụ phức tạp, các nghiệp vụ tài chính cao cấp .................................................. 21 2.2.6 Rủi ro thông tin ........................................................................................ 21 2.2.7 Rủi ro đến từ bản thân NĐT ..................................................................... 22 2.2.8 Rủi ro thanh khoản của các chứng khoán NĐT đang nắm giữ ................... 22 2.2.9 Rủi ro từ các quy định và chất lượng dịch vụ của các sàn, trung tâm giao dịch và công ty chứng khoán ............................................................................ 22 2.2.10 Rủi ro từ các chấn động thị trường trong và ngoài nước ........................... 23 2.3 Có hay không bán khống ở thị trường Việt Nam ........................................ 23 2.3.1 Bán khống “ngầm”trên TTCK Việt Nam .................................................. 23 2.3.2 Giao dịch ký quỹ vàng – Một hình thức bán khống hợp pháp .................... 25 2.4 Lợi ích nghiệp vụ bán khống mang đến khi được triển khai ở thị trường Việt Nam ............................................................................................................... 29 2.4.1 Những lợi ích của bán khống mang lại cho thị trường Việt Nam ............... 29 2.4.2 Chứng minh tính ưu việt của bán khống thông qua mô hình tài chính ....... 31 2.4.2.1 Dùng đường thị trường chứng khoán để xác định giá trị cổ phiếu ..... 31 2.4.2.2 So sánh TSSL và rủi ro trong trường hợp có bán khống và không bán khống ............................................................................................... 33 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ..................................................................................... 38
  3. 3. Chương 3: Một số đề xuất về mặt chính sách triển khai nghiệp vụ bán khống ở TTCK Việt Nam ............................................................. 39 3.1 Nhóm giải pháp cần thiết để triển khai bán khống ..................................... 39 3.1.1 Giải pháp thứ nhất: Ban hành hướng dẫn cụ thể triển khai bán khống ....... 39 3.1.2 Giải pháp thứ hai: Phát triển nhà tạo lập thị trường ................................... 39 3.1.3 Giải pháp thứ ba: Giải quyết nguồn cung chứng khoán ............................. 41 3.1.3.1 Quyền lợi của bên cho vay chứng khoán .......................................... 41 3.1.3.2 Quyền lợi của bên vay chứng khoán ................................................ 42 3.1.3.3 Các giải pháp giúp tăng cung chứng khoán ....................................... 42 3.1.4 Giải pháp thứ tư: Hạn chế các mặt trái của nghiệp vụ bán khống ............... 43 3.1.4.1 Tránh thua lỗ bỏ chạy ....................................................................... 43 3.1.4.2 Thao túng giá (làm giá) trên thị trường ............................................. 44 3.1.5 Giải pháp thứ năm: Quy định thời điểm cho phép bán khống trong ngày .. 45 3.2 Hệ thống nhóm các giải pháp hỗ trợ sự phát triển lành mạnh của nghiệp vụ bán khống ...................................................................................................... 45 3.2.1 Giải pháp thứ sáu: Tăng cường xây dựng tổ chức Quỹ đầu tư công chúng. 45 3.2.2 Giải pháp thứ bảy: Cho phép triển khai các hoạt động ứng trước T+3 ....... 46 3.2.2.1 Cho phép ứng tiền bán chứng khoán trước ngày T+3 ........................ 46 3.2.2.2 Cho phép ứng trước chứng khoán trước ngày T+3 ............................ 46 3.2.3 Giải pháp thứ tám: Phát triển nghiệp vụ repo chứng khoán ....................... 47 3.2.4 Giải pháp thứ chín: Sự chuẩn bị của các công ty chứng khoán................... 47 3.2.5 Giải pháp thứ mười: Tăng cường vai trò của NHTM ................................. 48 3.2.6 Giải pháp thứ mười một: Tăng cường vai trò của các công ty bảo hiểm .... 49 3.2.7 Giải pháp thứ mười hai: Xây dựng mô hình và cách điều hành Ngân hàng lưu ký chứng khoán ..................................................................................................... 49 3.3 Các dấu hiệu giúp NĐT nhận biết thời điểm có thể thực hiện nghiệp vụ bán khống ............................................................................................................ 49 3.4 Quy trình thực hiện một nghiệp vụ bán khống .......................................... 50 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ..................................................................................... 50
  4. 4. KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Phụ lục 1: Đại khủng hoảng của TTCK Mỹ năm 1929 Phụ lục 2: Đầu cơ và vai trò của đầu cơ Phụ lục 3: Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam Phụ lục 4: Các chính sách ban hành gần đây Phụ lục 5: Sàn giao dịch vàng và sản phẩm “Vay đầu tư vàng tại ACB” Phụ lục 6: Cách thức tham gia giao dịch trên sàn giao dịch vàng Phụ lục 7: Giá của 15 chứng khoán trong 41 kỳ quan sát Phụ lục 8: Dùng mô hình định lượng để tìm hiểu TTCK Việt Nam khi chưa cho phép bán khống – có bán khống ? Phụ lục 9: Công cụ Solver và Goal seek của Excel Phụ lục 10: Mua khống
  5. 5. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TTCK : Thị trường chứng khoán SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán CTCK : Công ty chứng khoán NĐT : Nhà đầu tư CP : Cổ phiếu HĐTTTL : Hợp đồng tiền tệ tương lai GDP : Tổng sản phẩm quốc dân ĐTNN : Đầu tư nước ngoài UBCKNN : Ủy ban chứng khoán Nhà nước IPO : Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng TNDN : Thu nhập doanh nghiệp TMCP : Thương mại cổ phần TTGDCK : Trung tâm giao dịch chứng khoán NHNN : Ngân hàng Nhà nước NHTM : Ngân hàng Thương mại CTQLQ : Công ty quản lý Quỹ CPH : Cổ phần hoá TNHH : Trách nhiệm hữu hạn CML : Đường thị trường vốn (Capital market line) TSSL : Tỷ suất sinh lợi Vn-Index : Chỉ số chứng khoán Việt Nam SML : Đường thị trường chứng khoán ĐLC : Độ lệch chuẩn ĐCHD : Đường cong hữu dụng OTC : Thị trường giao dịch phi tập trung TTLKCK : Trung tâm lưu ký chứng khoán DNNN : Doanh nghiệp nhà nước NH LKCK : Ngân hàng lưu ký chứng khoán
  6. 6. DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 2.1: Đồ thị biểu diễn chỉ số Vn-Index và Hastc-Index từ đầu năm 2006 đến 22/05/2008 ............................................................................................................. 18 Hình 2.2: Biểu đồ biểu diễn sự biến động của tỷ giá USD/VND từ 2005-2008 ...... 26 Hình 2.3: Biểu đồ biểu diễn sự biến động giá vàng thế giới và giá vàng trong nước từ 2005-2008 .............................................................................................................. 26 Hình 2.4: Khối lượng giao dịch sàn vàng năm 2008 ............................................... 28 Hình 2.5 : Xác định tài sản bị định giá thấp và bị định giá cao ............................... 33 Hình 2.6: Đồ thị so sánh đường cong hữu dụng trong trường hợp có bán khống và không bán khống .............................................................................................................. 36 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: So sánh tỷ suất sinh lợi yêu cầu và tỷ suất sinh lợi ước tính ................... 31 Bảng 2.2: Kết quả tính hữu dụng (U) trong trường hợp có bán khống ..................... 34 Bảng 2.3: Kết quả tính hữu dụng (U) trong trường hợp không bán khống ............... 34 Bảng 2.4: Bảng xác định danh mục tối ưu trong trường hợp có bán khống............. 35 Bảng 2.13: Bảng xác định danh mục tối ưu trong trường hợp không bán khống...... 35
  7. 7. LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời, hoạt động hơn bảy năm qua và trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế Việt Nam. Trong thời gian gần đây, thị trường chứng khoán Việt Nam có sự phát triển nhanh chóng, góp phần không nhỏ trong việc huy động vốn cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán hiện nay ở Việt Nam còn quá đơn điệu, thiếu thốn nên khiến các nhà đầu tư trở tay không kịp khi thị trường chứng khoán suy thoái và đành phải rời bỏ thị trường do thiếu nghiệp vụ kinh doanh đầu cơ giá xuống. Bên cạnh đó, trên thế giới, nghiệp vụ bán khống đã được một số thị trường chứng khoán trên thế giới thực hiện từ rất lâu và hiện trở nên phổ biến ở thị trường chứng khoán các nước phát triển. Giống như các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán khác, nghiệp vụ bán khống có những ưu điểm và nhược điểm riêng của nó. Vấn đề là nhà đầu tư phải hiểu cách vận dụng như thế nào cho hiệu quả. Xuất phát từ những vấn đề trên, việc tham khảo và triển khai bán khống chứng khoán vào điều kiện thực tiễn ở nước ta là một bước đi cần thiết cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài “Bán khống – Nhu cầu thiết yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam” 2. Mục tiêu nghiên cứu Với lý do trên đề tài đi nghiên cứu những vấn đề sau: o Tìm hiểu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về bán khống o Đánh giá thực trạng TTCK Việt Nam và từ đó rút ra sự cần thiết của việc triển khai bán khống vào giao dịch trên TTCK Việt Nam o Đề xuất một số giải pháp nhằm triển khai bán khống tại TTCK Việt Nam. 3. Phạm vi nghiên cứu
  8. 8. Đề tài đi nghiên cứu vấn đề bán khống ở một số nước trên thế giới từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm và đề xuất ra các chính sách triển khai bán khống phù hợp cho TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian sắp tới. 4. Phương pháp nghiên cứu Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: o Nghiên cứu cơ sở lý thuyết tài chính hiện đại, lý thuyết quản trị rủi ro tài chính o Thu thập thông tin từ các nguồn cung cấp thông tin khác nhau. o Thống kê tổng hợp những thông tin thu thập được. o Sau đó dùng phương pháp phân tích tổng hợp – so sánh, phương pháp phân tích suy luận, phương pháp phân tích thống kê, phương pháp diễn dịch - quy nạp để đưa ra những kết luận cụ thể. 5. Kết cấu của đề tài Đề tài gồm 3 chương: o Chương 1: Khung lý luận về bán khống o Chương 2: Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam và nhu cầu của bán khống. o Chương 3: Một số đề xuất về mặt chính sách triển khai nghiệp vụ bán khống ở TTCK Việt Nam
  9. 9. Chương 1 KHUNG LÝ LUẬN VỀ BÁN KHỐNG 1.1 Khái niệm bán khống Bán khống trong giao dịch chứng khoán được hiểu là bán chứng khoán vay mượn. Nói cách khác, bán khống là bán một loại chứng khoán mà người bán không sở hữu tại thời điểm bán. Khi NĐT dự đoán rằng trong tương lai giá cổ phiếu sẽ hạ, họ sẽ thực hiện bán khống, tức là đi vay cổ phiếu của các công ty chứng khoán để bán với mức giá cao; sau đó khi giá hạ, họ sẽ mua lại cổ phiếu đó trên thị trường để trả cho các công ty chứng khoán và hưởng chênh lệch giá (bán ở giá cao, mua ở giá thấp). 1.2 Lịch sử bán khống Bán khống là nghiệp vụ được sử dụng trong các TTCK ở các nước phát triển ngay từ những ngày đầu thành lập. Theo các tài liệu về TTCK từ xưa để lại, người Đức cấm sử dụng nghiệp vụ này từ năm 1610. Còn ở nước Anh, mặc dù TTCK Luân Đôn chính thức được thành lập vào năm 1773, nhưng nghiệp vụ bán khống đã được sử dụng phổ biến tại các thị trường không tập trung. Một nghiên cứu về các TTCK Mỹ cho thấy bán khống đã có một vị trí quan trọng trên TTCK New York ngay từ những ngày thị trường mới đi vào hoạt động. Acob Little là một trong những bậc tiền bối thực hành nghiệp vụ bán khống trên thị trường trong những năm 1835-1857. Ông thường tiến hành những thương vụ bán khống lớn và rất thành công. Vào đầu những năm 1860, bán khống trở thành một công cụ đầu cơ chủ lực của các thương nhân lớn như Drew, Vanderbilt, Fisk, và Gauld. Sự ảnh hưởng của bán khống được phát hiện ra trong chiến tranh Thế giới lần thứ I, khi các thành viên phải bí mật báo cáo với Sở giao dịch về các thương vụ bán khống để ngăn cản tình trạng đầu cơ giá xuống của những kẻ đầu cơ tách trách hay đại lý của đối thủ. Năm 1929 và sau đó, người ta không thống kê được con số chính xác về số lượng giao dịch bán khống tại thị trường đầu cơ giá lên ở Mỹ trong khoảng thời gian từ 1925 đến 1929, vì lúc đó, người ta chưa tiến hành thống kê được các số liệu. Không có tài liệu nào cho biết tổng số chứng khoán đã bán khống trong tháng 10/1929 ngay trước khi thị trường sụt giá bất thình lình là bao nhiêu. Lúc đó vị thế đầu tư ngắn hạn là tương đối
  10. 10. nhỏ và khi mọi người hoảng loạn có khá ít NĐT đã bán khống với mức giá cao hơn, sẵn sàng mua cổ phiếu. "Jesse Livermore – Ông chủ thị trường chứng khoán Mỹ" Jesse Lauriston Livermore là một trong các nhà kinh doanh vĩ đại của thế kỷ 20. Người đàn ông thực sự nổi danh được biết đến như là Con bạc trẻ liều lĩnh, Con gấu vĩ đại. Chỉ một số ít người có khả năng kiếm được lợi nhuận lớn, hoặc mất tất cả, nhanh như Livermore. Rất nhiều NĐT chứng khoán hàng đầu của thị trường phố Wall hiện tại coi Livermore như NĐT vĩ đại nhất trong lịch sử. Ông đã khai phá một mảnh đất kinh doanh mới trên thị trường, đó là đầu tư khi giá xuống. Những bí quyết về thời điểm kinh doanh, cách "chỉ huy" tiền trong việc đầu tư cổ phiếu và hàng hóa của ông thực sự mang tính cách mạng và vẫn còn giá trị tới tận ngày nay. Livermore thường chọn và quyết định mua hay bán khống (khi chưa thực sự nắm vững trong tay) một cổ phiếu (hay một loại hàng hóa) trên cơ sở giá cả và phạm vi tác động của cổ phiếu ấy. Sau đó ông tạo cho những cổ phiếu ấy một vị thế ban đầu tương đối nhỏ. Ông sẽ thực sự sở hữu chúng nếu có thể sinh lãi hay bán đi nếu chúng không đem lại lợi nhuận gì. Chiến thuật này có thể thu lại lợi nhuận khổng lồ trong khi thiệt hại rất nhỏ. Năm 1907, khi thị trường bắt đầu khủng hoảng sụt giảm, Livermore đã bán khống cổ phiếu của mình. Ông nhận ra những dấu hiệu cho thấy thị trường thiếu vốn để mua vào cổ phiếu, trong khi đó lại có quá nhiều người bán ra. Sau vụ sụt giảm này cùng những hệ quả của nó ông thu được 3 triệu USD. Đỉnh cao thành công của Livermore là vụ sụt giảm năm 1929 (xem thêm phụ lục 1 về Đại khủng hoảng của TTCK Mỹ năm 1929). Thị trường cũng hội tụ đủ điều kiện như sự sụt giảm năm 1907. Livermore lại bắt đầu bán khống rất nhiều cổ phiếu khác nhau và rồi lại mua chúng khi thị trường liên tục xuống. Và khi hầu hết mọi người trên thị trường đều mất tiền trong vụ sụt giảm đáng nhớ năm 1929 thì Livermore thu về 100 triệu đô la qua lợi nhuận bán khống của mình.
  11. 11. 1.3 Phân loại bán khống 1.3.1 Bán khống mang tính đầu cơ Khái niệm phổ biến của bán khống là bán khống đầu cơ. Loại bán khống này được hiểu là người bán khống có chứng khoán nhưng lại đi vay mượn chứng khoán của CTCK để bán. Bởi vì NĐT kỳ vọng giá chứng khoán tại thời điểm hiện tại sẽ cao hơn mức giá mà sau này NĐT sẽ mua vào để tất toán hay đóng giao dịch. Tác động đầu tiên của bán khống đầu cơ là làm tăng cung chứng khoán, dẫn đến làm chậm việc tăng giá. Nhưng khi thực hiện việc tất toán tài khoản lại làm tăng cầu chứng khoán nên sẽ làm tăng giá của chứng khoán đó. Người bán khống đầu cơ là bán ở mức giá cao và tất toán ở mức giá thấp để tìm kiếm lợi nhuận. Chính vì thế, người bán khống có thể thành công hoặc thất bại trong mỗi thương vụ bán khống điều này tùy thuộc vào dự đoán của họ về thị trường có chính xác hay không. Bán khống đầu cơ là một công cụ hữu ích để khai thác thị trường giá xuống của các NĐT. Ngoài ra công cụ này nếu xét theo một khía cạnh tích cực cũng góp phần vào việc điều hòa thị trường. (Xem thêm phụ lục 2 về đầu cơ) 1.3.2 Bán khống phòng ngừa rủi ro Kiểu bán khống này được thực hiện khi người bán khống lo ngại thị trường hoặc tình hình kinh doanh của doanh nghiệp giảm sút sẽ ảnh hưởng tới giá trị cổ phiếu mà họ đang nắm giữ có thể là cổ phiếu của chính doanh nghiệp này hoặc là của một doanh nghiệp khác có liên quan. Là người nắm giữ chứng khoán, không ai muốn bị lỗ trên danh mục đầu tư của mình, nên người bán khống tiến hành bán khống chứng khoán để ngăn chặn nguy cơ sụt giá chứng khoán như dự đoán. Nếu giá chứng khoán trên thị trường giảm xuống, hoặc tình hình kinh doanh giảm sút như dự đoán, việc bán chứng khoán sẽ bảo vệ NĐT khỏi thua lỗ. Tuy nhiên, loại bán khống này chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng khối lượng bán khống hàng năm của các TTCK. 1.3.3. Bán khống kỹ thuật Bán khống kỹ thuật được chia thành: bán khống kỹ thuật dựa trên hộp an toàn, bán khống kỹ thuật cho việc mua bán song hành và bán khống kỹ thuật thực hiện bởi các nhà buôn và nhà môi giới. Những loại bán khống này bao gồm tất cả các loại bán khống
  12. 12. mà người bán khống thực sự sở hữu hoặc sẽ sớm sở hữu chứng khoán. Trong những năm đầu hoạt động của TTCK Mỹ, những giao dịch như vậy không được gọi là bán khống nhưng những quy định của SGDCK đã xếp các giao dịch đó vào phạm trù bán khống. 1.3.3.1 Bán khống kỹ thuật dựa trên hộp an toàn: “Hộp” đề cập tới ở đây là hộp tiền gửi an Nhìn chung có 2 loại bán toàn hoặc là tài khoản của người bán khống. khống kỹ thuật dựa trên hộp an Người tiến hành giao dịch thực sự sở hữu toàn: chứng khoán được bán khống. Tuy nhiên, việc giao hàng lại được thực hiện bằng cách mượn a. Bán khống vì mục đích thuế chứng khoán hơn là giao dịch chứng khoán Ở thị trường chứng khoán thuộc sở hữu cá nhân. Số chứng khoán bán Hoa Kỳ, sau những thay đổi của khống có thể được thanh toán hoặc bằng chính Bộ luật về Thuế thu nhập năm chứng khoán thuộc sở hữu cá nhân hoặc mua 1950 - 1951 cho phép người nộp chứng khoán trên thị trường. thuế một lợi thế, sử dụng bán khống để chuyển lợi nhuận từ năm này sang năm khác. Ví dụ, vào tháng 11 năm nay, NĐT mua 100 cổ phiếu A từ người môi giới giá 40USD/cổ phiếu. Đến tháng 12, cổ phiếu bán được với giá 50USD/cổ phiếu. NĐT muốn giữ lại 1.000 USD lợi nhuận nhưng không muốn báo cáo khoản này vào thu nhập chịu thuế của năm nay. Vì thế anh ta vay 100 cổ phiếu A từ người môi giới của mình và bán khống chúng với giá 50USD/cổ phiếu, đến tháng 1 năm sau, người môi giới phải giao chứng khoán cho người cho vay chứng khoán đã bán khống. Kết quả là tất cả vị thế bán và vị thế mua đã được đóng lại (NĐT giao 100 cổ phiếu trả cho người môi giới, người môi giới đã giao 100 cổ phiếu của mình cho người mua) và mang lại cho NĐT 1.000 USD lợi nhuận cho năm đó thay vì lợi nhuận của năm trước. Khó có thể biết chính xác khối lượng giao dịch của các loại bán khống liên quan đến thuế này, nhưng con số ước tính là tương đối lớn. b. Bán khống vì mục đích phòng hộ giá
  13. 13. Chẳng hạn như một NĐT có một số lượng lớn chứng khoán và lo rằng thị trường sẽ giảm giá mạnh. NĐT có thể không muốn bán vì phải trả thuế thu nhập về vốn đặc biệt khi cố phiếu có cơ sở chi phí thấp, NĐT cảm thấy thị trường chỉ nhất thời sụt giá nhưng giá trị cổ phiếu bị giảm sút nhiều nếu cổ phiếu đã được sử dụng làm vật thế chấp trong thời gian này. Nếu NĐT bán khống cùng số lượng cổ phiếu dựa trên hộp an toàn, tức là bán toàn bộ số chứng khoán hiện có trên tài khoản của mình, NĐT sẽ phòng ngừa được rủi ro phát sinh vì nắm giữ chứng khoán khi thị trường giảm giá. Khi thị trường thực sự giảm giá, sự thua lỗ của giá trị cổ phiếu ở vị thế mua sẽ được bù đắp bởi thu nhập có được từ vị thế bán và ngược lại nếu thị trường tăng giá. Nhược điểm của kỹ thuật này là nếu thị trường tăng giá, lợi nhuận có thể đã thu được nhờ việc duy trì vị thế bán khống phòng hộ lại chỉ đủ bù đắp thua lỗ do nắm giữ chứng khoán ở vị thế mua. Ví dụ thứ nhất, giá cổ phiếu hiện tại giá 10$, NĐT bán khống cổ phiếu (vị thế bán), giá cổ phiếu sau đó rớt giá còn 5$. Như vậy vị thế bán cho NĐT lời 5$, nhưng khi ta thực hiện vị thế mua, tức là mua lại cổ phiếu, thì lúc này giá trị cổ phiếu đã suy giảm đi đúng bằng 5$. Như vậy, lợi nhuận trong vị thế bán sẽ bù trừ sự suy giảm giá trị cổ phiếu, nếu như ban đầu NĐT không bán khống thì sự suy giảm giá trị cổ phiếu sẽ không được bù đắp. Ví dụ thứ hai, sau khi NĐT bán khống, giá cổ phiếu lại tăng lên 15$, lẽ ra nếu NĐT không bán khống và bây giờ bán (vị thế bán) thì họ đã lời 5$, nhưng bây giờ khi thực hiện vị thế mua NĐT lỗ 5$(15$-10$), như vậy lợi nhuận đáng lẽ ra có được giờ chỉ đủ bù đắp cho thua lỗ ở vị thế mua. NĐT có vẻ như lỗ 5$ nhưng thật ra nó đã chuyển vào giá trị cổ phiếu - giá trị cổ phiếu tăng 5$ từ 10$ lên 15$. 1.3.3.2 Bán khống kỹ thuật cho việc mua bán song hành Bán khống cũng có thể được sử dụng như một phần của hai hay nhiều giao dịch được dùng để tận dụng sự chênh lệch về giá của cùng một loại chứng khoán được giao dịch tại các thị trường khác nhau hoặc giữa các loại cổ phiếu ưu đãi và các trái phiếu chuyển đổi. Một ví dụ minh họa, mua bán song hành giữa các cổ phiếu thông thường của một công ty của Anh và quyền rút vốn của Mỹ có thể là một ví dụ của loại bán khống này. Nếu trị giá của các cổ phiếu thông thường cao hơn giá trị của quyền rút vốn và phần chênh lệch đó bằng đúng sự khác biệt về tỷ giá thì nhà mua bán song hành có thể bán
  14. 14. khống các cổ phiếu thông thường để mua một số lượng quyền rút vốn tương ứng, chuyển đổi ngay quyền rút vốn và giao các cổ phiếu để đóng vị thế bán các cổ phiếu thông thường. Quy trình này cho phép tận dụng sự khác biệt về giá không có rủi ro. Theo thuật ngữ chứng khoán nó là một trong số các thương vụ được gọi là mua bán song hành thực sự. Tầm quan trọng của thuật ngữ mua bán song hành thực sự là bán khống không cần tuân theo quy tắc cộng hay quy tắc cộng một gạch. Bởi vì, người mua bán song hành trong trường hợp này không có chủ ý đầu cơ, sở giao dịch chứng khoán cho phép nhà mua bán song hành thực hiện để tận dụng sự chênh lệch về giá mà không cần phải đợi thêm một giá theo yêu cầu thông thường của thương vụ mua bán khống. Nếu không, vào thời điểm những thương vụ như vậy được thực hiện, sự khác biệt về giá giữa những loại chứng khoán có thể đã không còn nữa. Một vụ mua bán song hành tương tự đôi khi cũng có thể xảy ra khi một chứng khoán chuyển đổi có thể được mua với giá thấp hơn giá trị của cổ phiếu mà nó được chuyển đổi sang. Chẳng hạn, giả sử một trái phiếu được quy đổi ra 20 cổ phiếu thông thường của tập đoàn A và cổ phiếu đang được giao dịch với giá 40 USD. Nếu trái phiếu được đặt ở giá 790 USD nhà mua bán song hành có thể bán khống 20 cổ phiếu đồng thời mua và chuyển đổi một trái phiếu ra thành 20 cổ phiếu thường, giao 20 cổ phiếu nhận được để tất toán giao dịch bán khống chứng khoán trước đó. Lợi nhuận sẽ là 10 USD và không có rủi ro. 1.3.3.3 Bán khống kỹ thuật được thực hiện bởi các nhà buôn và môi giới. Đây là loại bán khống được tiến hành bởi các chuyên gia thị trường, những NĐT lô lẻ và những nhà ngân hàng tham gia đầu tư. Các nhà môi giới và các NĐT có thể sử dụng bán khống cho nhiều mục đích khác nhau. Còn các chuyên gia trên thị trường lại sử dụng kiểu giao dịch này để duy trì trật tự ổn định của thị trường các loại chứng khoán mà họ nghiên cứu. Những NĐT lô lẻ cũng tham gia vào nghiệp vụ bán khống khi công chúng mua hết số dư và NĐT không còn số chứng khoán dự trữ để đáp ứng cầu về chứng khoán đó. Các ngân hàng đầu tư tung ra những đợt phát hành mới hoặc nắm giữ khối lượng lớn chứng khoán dự trữ lớn đôi khi rất có lợi cho việc bán khống. Việc tất toán những giao dịch bán khống như vậy sẽ góp phần làm ổn định thị trường và như vậy đảm bảo cho họ khỏi bị thua lỗ từ lượng chứng khoán nắm giữ khi thị trường rớt giá.
  15. 15. Đối với trường hợp phát hành mới, tất toán các giao dịch bán khống giúp cho thị trường mới có một khởi đầu tốt đẹp thông qua việc ngăn ngừa sụt giá nhẹ ngay sau khi phát hành. Sự sụt giá trong thời điểm này có thể gây áp lực cho công chúng đầu tư mới bán tống bán tháo chứng khoán. 1.4 Tác động của bán khống 1.4.1 Lợi ích của bán khống 1.4.1.1 Đối với thị trường a. Giá cả hiệu quả (Pricing Efficiency) Thị trường hiệu quả yêu cầu rằng giá cả hoàn toàn phản chiếu mọi nhu cầu mua và bán. Hành vi đầu tư giá lên (bull market) là việc mua và nắm giữ chờ giá tăng sẽ bán ra để thu lợi nhuận (long position). Chính vì vậy, hiện tượng các NĐT lớn gom cổ phiếu đã thúc đẩy cầu hàng hóa tăng lên, dẫn đến đẩy giá lên cao, thậm chí nếu họ không bán ra thì giá khó có khả năng giá giảm. Cho nên nếu có nghiệp vụ bán khống thì sẽ ngày càng nhiều người từ vị thế mua chuyển sang vị thế bán làm tăng cung chứng khoán, khi đó thị trường sẽ tự điều chỉnh. Do NĐT bán khống thường cho rằng giá CP bị đánh giá quá cao và họ sẽ có lợi nhuận khi giá CP trên thị trường giảm xuống (bear market). Việc tung ra thị trường một khối lượng lớn chứng khoán vào lúc giá lên cao, có nghĩa là tăng mức cung hàng hóa để làm giảm áp lực giá cả. Đây là biện pháp tích cực để điều tiết thị trường. Có thể nói, giao dịch bán khống khiến cho những ai thực hiện hành vi gom hàng đầu tư giá lên sẽ phải dè chừng. Tóm lại những người bán khống đã góp phần làm cho giá cổ phiếu hiệu quả bởi vì những giao dịch của họ thông báo thị trường về sự đánh giá của họ đối với sự thực hiện của giá cổ phiếu trong tương lai. Sự đánh giá này được phản chiếu trong giá cả thị trường của cổ phiếu. b. Giúp thị trường sàn lọc những công ty kinh doanh không hiệu quả. Sự suy tính cẩn trọng về tài chính công ty của người thực hiện bán khống khi họ cho rằng thị trường đang đánh giá quá cao CP cũng sẽ giúp phát hiện ra các tình huống lừa đảo hay gian lận mà các NĐT giá lên che đậy hoặc bỏ qua. NĐT nổi tiếng Warren
  16. 16. Buffet cho rằng bán khống có tác dụng phát hiện những gian lận hay lừa đảo về kế toán và các vấn đề khác trong công ty. c. Gia tăng tính thanh khoản cho thị trường Tính thanh khoản của chứng khoán là khái niệm thể hiện khả năng chuyển đổi dễ dàng từ tiền sang chứng khoán và ngược lại. Thông thường tâm lý của các NĐT cũng làm cho giao dịch trên thị trường lúc sôi nổi, lúc ảm đạm. Khi thị trường đi lên, NĐT hưng phấn thì thị trường có tính thanh khoản cao. Khi thị trường đi xuống, NĐT bắt đầu lo sợ thì tính thanh khoản của thị trường thấp, dù ai cũng biết rằng thị trường đi xuống là cơ hội để mua vào. Riêng đối với NĐT bán khống thì họ sẽ tung tiền ra mua cổ phiếu khi giá cổ phiếu đó đang giảm, để hoàn trả lại các cổ phiếu đã vay của công ty chứng khoán. Điều này đã khiến thị trường trở nên sôi nổi hơn, tránh được sự ảm đạm khi thị trường đi xuống. Một số nghiên cứu ở các thị trường Mỹ và Canada đã cho thấy bán khống có quan hệ thuận chiều với tính thanh khoản của thị trường, mà theo một số lý thuyết thì tính thanh khoản càng cao, tính bất ổn giá cổ phiếu sẽ được giảm. Do vậy nghiệp vụ bán khống sẽ giúp gia tăng tính thanh khoản cho thị trường ngay cả khi thị trường đi xuống bởi những NĐT Theo nghiên cứu cho thấy khi thị trường suy thoái thì khoảng 90% tổng số cổ phiếu trên thị trường giảm giá trị theo trong khi ở thị trường chuyên nghiệp sẽ bù lại sự không cân bằng tạm thời trong cung và cầu cổ phiếu trên thị trường. đang tăng trưởng thì có khoảng 70% tổng số cổ phiếu trên thị trường tăng giá trị, đây cũng là điểm hấp dẫn các NĐT của thị trường suy thoái, đồng thời rủi ro thua lỗ do bán khống trong thị trường suy thoái bao giờ cũng nhỏ hơn rủi ro thua lỗ do mua cổ phiếu trong thị trường tăng trưởng. Ngoài ra, còn một ưu điểm nữa của thị trường suy thoái là lợi nhuận thu được từ bán khống bao giờ cũng nhiều hơn và nhanh hơn so với lợi nhuận thu được từ việc mua cổ phiếu có giá trị gia tăng trên thị trường tăng trưởng, khi thị trường suy thoái cổ phiếu rớt giá rất nhanh, đôi khi không có lý do chính đáng mà đơn giản chỉ do ảnh hưởng chung trên thị trường. 1.4.1.2 Đối với nhà đầu tư a. Gia tăng lợi nhuận cho NĐT khi thị trường suy thoái Hiện NĐT chỉ có thể mua chứng khoán và chờ giá lên để bán ra kiếm lời (không tính yếu tố đầu tư nhằm vào mục tiêu tăng trưởng của đơn vị niêm yết). Liệu có NĐT nào dám mạnh tay bỏ tiền vào một loại chứng khoán mà họ và thị trường cho rằng, nhiều khả năng chứng
  17. 17. khoán đó sẽ giảm giá mạnh? Chính vì thế, trong giai đoạn thị trường giảm giá, khi có yếu tố bất lợi là NĐT sẽ ào ạt bán chứng khoán ra trong khi lượng cầu rất yếu, đẩy thị trường giảm giá mạnh hơn mức cần thiết, gây hoảng loạn và bất ổn tâm lý đầu tư trên thị trường. Do có nghiệp vụ bán khống đã giúp cho NĐT kiếm được lợi nhuận ngay cả khi thị trường suy thoái. Giá cổ phiếu giảm mà lợi nhuận thu được từ bán khống bao giờ cũng nhiều hơn và nhanh hơn so với lợi nhuận thu được từ việc mua cổ phiếu có giá trị gia tăng trên thị trường tăng trưởng khi thị trường suy thoái, cổ phiếu thường rớt giá rất nhanh, đôi khi không lý do chính đáng mà đơn giản là ảnh hưởng chung trên thị trường hay là một tin đồn thất thiệt nào đó. b. Bán khống để dàn trải rủi ro: đây chính là công cụ để phòng ngừa rủi ro hiệu quả, hoạt động này bao gồm hai hình thức Bán khống cổ phiếu yếu kém đồng thời tìm cách nắm giữ cổ phiếu mạnh: thông qua bán khống, NĐT mong muốn sẽ ngăn chặn được rủi ro cho các cổ phiếu yếu kém mà NĐT đang nắm giữ đồng thời có thể thu lợi từ việc bán khống. Bán khống cổ phiếu tương đương với cổ phiếu mà NĐT đang nắm giữ: chẳng hạn như hai cổ phiếu của hai công ty khác nhau trong cùng một ngành kinh doanh nhằm bảo vệ cho cổ phiếu của NĐT. Khi thị trường tăng trưởng hay suy thoái thì hai loại cổ phiếu đó cũng đồng thời tăng hoặc giảm theo. Khi đó, phần lợi nhuận thu được từ cổ phiếu này sẽ bù đắp cho phần thua lỗ từ cổ phiếu kia. 1.4.1.3 Đối với công ty chứng khoán và ngân hàng Áp dụng nghiệp vụ bán khống sẽ làm cho việc cung cấp dịch vụ của các CTCK trên thị trường trở nên đa dạng hơn, các NĐT có nhiều cơ hội đầu tư mới. Bên cạnh đó các CTCK có thêm thu nhập nhờ có thêm các dịch vụ này, hưởng hoa hồng nhiều hơn nhờ lượng giao dịch tăng cao. 1.4.2 Rủi ro của bán khống Vì bán khống cho phép NĐT bỏ ra một khoản ký quỹ nhỏ nhưng có thể giao dịch tài sản lên gấp nhiều lần nên rất dễ bị lợi dụng để thực hiện hành vi đầu cơ gây nguy hiểm cho nền kinh tế. Mặt khác, khi bán khống lợi nhuận cao nhất mà người bán khống có thể kiếm được là toàn bộ số tiền do bán khống mang lại. Tuy nhiên, sau khi bán
  18. 18. khống, giá cổ phiếu tăng nhiều lần thì rủi ro thua lỗ tiềm năng của NĐT là không giới hạn. Nguyên nhân xuất phát từ chính những đặc điểm của nghiệp vụ này. Bên cạnh các lợi ích nó mang lại không thể phủ nhận là nghiệp vụ bán khống cũng có những rủi ro nhất định của nó. 1.4.2.1 Đối với nhà đầu tư Trong nghiệp vụ bán khống nếu bị thua lỗ sẽ bị tổn thất lớn hơn so với kinh doanh hoàn toàn bằng tiền của mình do họ kinh doanh theo dự đoán thị trường giá xuống. Điều này xuất phát từ lý do họ có thể nắm giữ chứng khoán lớn hơn gấp nhiều lần so với số tiền mà họ ký quỹ nên nếu thua lỗ do dự báo giá sai thì họ sẽ lỗ rất lớn. Rủi ro lớn nhất của NĐT bán khống đó là giá chứng khoán tăng, như vậy khi vay NĐT vay với giá thấp và khi mua trả lại họ sẽ phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn đồng nghĩa với khoản lỗ khổng lồ nếu họ không chịu đóng vị thế của mình sớm. Mặt khác nếu vào lúc đó, cũng có nhiều NĐT khác cùng mua vào loại chứng khoán đó thì rất có thể làm giá chứng khoán tăng vọt, điều này cũng sẽ gây thiệt hại càng lớn hơn cho NĐT. Nếu trong trường hợp này NĐT chỉ đầu tư trên số tài sản mình có thì họ có thể bán trực tiếp chứng khoán của mình, khi thị trường lên giá họ mua lại thì dù có lỗ cũng không bao nhiêu. Việc kinh doanh trên chính tiền của mình sẽ làm cho NĐT không có được một tài sản khổng lồ như nghiệp vụ bán khống tạo cho họ. 1.4.2.2 Đối với các Công ty chứng khoán và Ngân hàng Rủi ro do NĐT thua lỗ nhiều hơn cả số tiền ký quỹ và không nộp thêm tiền vào tài khoản. Khi thị trường không như dự đoán của NĐT – thị trường tăng giá – lúc này NĐT sẽ bị thua lỗ và nếu không kịp phản ứng số thua lỗ của họ có thể vuợt qua ngưỡng của số tiền ký quỹ. Khi đó, NĐT có thể không có đủ số tiền để mua chứng khoán trả lại cho CTCK hoặc Ngân hàng, nếu CTCK hoặc Ngân hàng không hành động nhanh: đóng vị thế của NĐT thì thiệt hại sẽ thuộc về CTCK hoặc Ngân hàng. 1.4.2.3 Đối với thị trường Bán khống cũng đồng thời có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường. Thứ nhất, trường hợp vay mượn quá nhiều để thực hiện hành vi bán khống sẽ có thể gây khan hiếm chứng khoán nhất thời và đẩy giá chứng khoán lên quá cao điều này gây sự
  19. 19. bất lợi cho NĐT (thua lỗ) do thị trường tăng giá chứ không rớt giá như NĐT dự đoán. Thứ hai, khi các NĐT lớn bắt tay nhau cùng bán khống một lúc một lượng chứng khoán lớn sẽ có thể làm cho giá cổ phiếu rớt thảm hại nếu lúc này họ lại mua vào thì họ sẽ hưởng một khoản chênh lệch rất lớn (hoạt động đầu cơ, làm giá). Qua đó cho thấy, nếu không kiểm soát, các NĐT bán khống mà “thông đồng” với nhau thì hậu quả thật khủng khiếp. Điều này gây khó khăn nhất định cho thị trường chứng khoán vào một thời điểm nhưng rồi sẽ được bù trừ trong tương lai. Đó là khi NĐT ồ ạt mua cùng một lúc sẽ làm giá cổ phiếu tăng cao. Nghiệp vụ bán khống nếu xảy ra như trên sẽ tạo được khoản lợi nhuận khổng lồ, như chúng ta đã biết TTCK là nơi huy động vốn cho nền kinh tế, cho nên nếu lợi nhuận này được rút ra và không được tái đầu tư vào nền kinh tế thì quả thật đây là một lãng phí quá lớn. Thứ ba, bán khống cùng với các công cụ khác: giao dịch tài khoản lưu ký (trading margin) và nghiệp vụ repo sẽ cho phép NĐT khai thác tối đa thị trường, khi đó dù thị trường tăng giá hay xuống giá NĐT đều có khả năng tìm kiếm lợi nhuận – mở rộng biên độ hoạt động của NĐT – điều này sẽ làm thị trường sôi nổi và thu hút NĐT hơn. Tuy nhiên, trong nghiệp vụ bán khống, có hai quyền sở hữu trên một tài sản: quyền sở hữu của người cho vay và quyền sở hữu của người mua chứng khoán dễ dẫn tới đổ vỡ và khủng hoảng. Ngoài ra, bán khống làm cho tổng lượng vốn tham gia vào thị trường chứng khoán bị thổi phồng lên rất nhiều lần gây nên nền kinh tế bong bóng. Đầu cơ nói chung và bán khống nói riêng đã tạo ra những cái ảo (bong bóng) sau: Tốc độ phát triển ảo: tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán mấy năm qua ở Zurich là 35%/năm, ở Amsterdam là 30%/năm, ở các thị trường chứng khoán các nước khác cũng gần 30%/năm. Tốc độ phát triển kinh tế trên 10%/năm đã được coi là quá nóng, là kinh tế bọt dễ đổ vỡ, nhưng tốc độ phát triển trên dưới 30% của thị trường chứng khoán lại được ca ngợi là biểu hiện của một thời đại kinh tế mới (new age). Người có đầu óc bình thường chắc sẽ đặt ra câu hỏi tại sao thị trường vốn lại phải tăng nhanh gấp 7 - 8 lần tốc độ phát triển kinh tế? Nếu vốn ngày càng sử dụng có hiệu quả thì vòng quay càng nhanh và tốc độ tăng vốn sẽ chậm hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế mới phải? Những nhà tài chính với cái đầu máu mê cờ bạc ca ngợi đầu cơ phải chăng muốn
  20. 20. kéo nền kinh tế thế giới vào những canh bạc trúng quả đậm nhưng cũng sạt nghiệp nhanh của thị trường chứng khoán? Tỷ suất lợi nhuận ảo: đầu cơ ở thị trường chứng khoán có tỷ suất lợi nhuận cao gấp nhiều lần, thậm chí lợi nhuận trúng quả của đầu cơ bán khống có thể gấp cả trăm lần tỷ suất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. Chỉ cần bỏ ra 1% giá trị ghi trong một hợp đồng tiền tệ là có thể mua nó và lãi 300% - 400% khi giá USD tăng 3% - 4%. Có thể tính bằng Việt Nam cho dễ hiểu: chỉ cần bỏ ra 18 triệu đồng là có thể mua được một hợp đồng tiền tệ chuẩn 100.000 USD. Nhà xuất khẩu không muốn mạo hiểm về tỷ giá nên bán hợp đồng tiền tệ này để nhà buôn bán tiền tệ cam đoan khi giá USD hạ sẽ bù lỗ cho họ. Nếu giá USD tăng họ cũng chỉ lấy theo giá cũ, phần lời do giá USD tăng nhà buôn bán tiền tệ hương 18 triệu đồng là chi phí bảo vệ rủi ro tỷ giá. Nếu giá USD tăng 3% nhà buôn bán tiền tệ lãi cả 3.000 USD hay 54 triệu. Nhưng đầu cơ đâu có tạo ra lợi nhuận như các ngành sản xuất vật chất hay dịch vụ để chia sẻ số lợi nhuận đó. Đầu cơ chứng khoán và tiền tệ chỉ phân phối lại thu nhập nên người trúng quả khi đoán đúng thị giá tăng đã lột của người đoán thị giá hạ. Nếu cho tỷ suất lợi nhuận cao như trên là lợi nhuận thật thì chả khác gì công nhận chỉ cần chơi hụi cũng tự tạo ra lợi nhuận, chẳng cần những nhà sản xuất hay buôn bán hốt hụi rối è lưng ra trả lãi suất cao nuôi hụi và từ đó khẳng định rằng không bao giờ vỡ hụi cả. Người có đầu óc bình thường hiểu ngay lợi nhuận 30 - 40% trong chơi hụi là lợi nhuận ảo. Các nhà kinh tế nổi tiếng ca ngợi lợi nhuận đầu cơ 300% - 400% rõ ràng có đầu óc không bình thường, nghe theo họ tự do hóa tài chính là thổi cho kinh tế thành những bong bóng dễ vỡ. Tốc độ quay vòng ảo: trong thanh toán quốc tế từ thập kỷ 70 tới nay chu chuyển buôn bán tiền tệ và đầu cơ chứng khoán lớn gấp trăm lần chu chuyển hàng hóa và dịch vụ. Nếu bảo đó là quay vòng thực thì có nghĩa là vốn ở thị trường chứng khoán phải quay 100 vòng mới phục vụ được cho một vòng luân chuyển hàng hóa và dịch vụ. Tính bốc hơi nhanh: kiểu vỡ bong bóng xà phòng của nó làm cho vốn chuyển đổi dòng rất nhanh. Nhà đầu cơ lớn tạo ra hiệu ứng đàn cừu, thấy người ta bán cũng xô nhau bán chứng khoán nên vốn đầu tư gián tiếp có thể đổi dòng nhanh chóng, hút đại bộ phận vốn ở nước này chuyển sang nước khác. Vì vậy các công ty ở các nước bị khủng hoảng tiền tệ bừng mắt dậy vào một sáng tháng 7/1997 bỗng nhiên thấy vốn cổ phiếu của mình
  21. 21. chỉ còn 1/2 thậm chí chỉ còn 10% và bị phá sản oan trong lúc mức độ yếu kém trong kinh doanh chưa đến mức làm họ sập tiệm. Quả thật không gì bốc hơi nhanh hơn khi tỷ giá bị những đòn đầu cơ bán khống thổi quả bóng cầu về USD phồng to lên gấp 100 lần. Thái Lan đã mất tới 23 tỷ USD dự trữ nhưng ngăn không nổi nên phải thả nổi tỷ giá ngày 2/7/1997 và cuộc khủng hoảng tiền tệ nổ ra, lây lan nhanh chóng. Quy mô ảo: tổng tư bản của các công ty đăng ký ở New York đã lên hơn 100% của tổng sản phẩm nội địa (GDP) của toàn nước Mỹ. Điều này chưa từng xảy ra, ngay cả năm 1929. 1.5 Bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc triển khai nghiệp vụ bán khống 1.5.1 Bài học về bán khống nhìn từ khủng hoảng tài chính năm 1997 Những quỹ đầu cơ (hedge fund) từ điển ghi Bán khống có thể được xem như là quỹ đầu tư hợp tác mà chủ yếu là mua bán hoạt động đầu cơ nguy hiểm. Nhẹ thì nó đầu cơ nên được gọi là quỹ đầu cơ để nói rõ làm thị giá chứng khoán giảm xuống tính đầu cơ (bán khống) đã bán khống các hợp làm lợi cho người bán khống. Họ không đồng tiền tệ tương lai FRA, những quả bom sở hữu chứng khoán nhưng lại có thể nguyên tử trên thị trường tiền tệ, vì chỉ cần bỏ vay chứng khoán để bán khi dự đoán thị ra 20 triệu USD mua 200 FRA tiêu chuẩn (100 giá của loại chứng khoán đó có khả nghìn USD/cái) là họ có thể tiêu hao 2 tỷ USD năng hạ. Như vậy khi vay, giá chứng của quỹ dự trữ ngoại hối Thái Lan. Ngày khoán lúc đầu là 10.000đ, do cung 15/05/1997 Thái Lan bị hai cú bán khống cỡ 2 chứng khoán tăng lên qua việc bán tỷ USD như vậy, từ hai Ngân hàng Nước ngoài khống nên giá hạ xuống còn 9.000đ và ở Luân Đôn và Hồng Kông và tới tháng 7 năm người bán khống lời 1.000đ (vay 1997 họ rơi vào khủng hoảng tiền tệ và tài 10.000đ nhưng mua trả lại chỉ có giá chính vì đã bị các quả bom nguyên tử tiền tệ 9.000đ), nếu họ bán ra 1 triệu chứng phá sạch quỹ dự trữ ngoại hối. Các NĐT bán khoán sẽ lãi 1 tỷ đồng. Cũng do bán khống đã lãi 3 tỷ USD trong vụ đẩy Thái Lan khống mà đã làm bay hết 30 tỷ USD vào khủng hoảng tiền tệ. Vì siêu lợi nhuận như quỹ dự trữ ngoại hối của Thái Lan trong vậy họ đã tiếp tục bán khống ở các nước Đông Á và gây ra cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Á lan sang các Châu lục khác năm 1998.
  22. 22. vòng 1,5 tháng và buộc Ngân hàng Trung ương Thái thả nổi đồng Bath vì chẳng còn USD để can thiệp giữ giá đồng Bath. Tỷ giá từ 25,5 Bath/1USD đã tăng lên 54 Bath/1 USD (tăng 11%) và đẩy Thái lan vào cuộc khủng hoảng kép: khủng hoảng tiền tệ và tài chính. Gọi là bán khống hợp đồng tiền tệ tương lai (HĐTTTL) do hợp đồng này vốn là một công cụ tài chính mới để chống đỡ các rủi ro về tỷ giá cho các nhà xuất – nhập khẩu. Nhưng khi bán khống các HĐTTTL cho những người không có rủi ro tỷ giá vì chẳng có hoạt động xuất nhập khẩu nào cả thì thật là nguy hiểm: với các HĐTTTL đó nhà đầu cơ bán khống có thể mua USD với giá 26 Bath/1 USD vào tháng 7/1997 để bán ra với giá 30 Bath chẳng hạn kiếm siêu lợi nhuận 8 nghìn triệu bath (30 bath - 26 bath)x 2.000 triệu USD, trên số vốn 20 triệu USD để làm một cú bán khống cỡ 2 tỷ USD như vậy, 20 triệu USD tương đương với 520 triệu Bath Thái khi đó như vậy siêu lợi nhuận là 15.3 lần (8.000/520) Thủ tướng Malaysia TS.Mahathir Mohamad đã viết báo để vạch trần George Soros trùm bán khống HĐTTTL là thủ phạm gây ra khủng hoảng tiền tệ Đông Á phá hoại thành quả 20 năm xây dựng kinh tế của các nước nạn nhân. Ông đã ra lệnh cấm bán khống nhưng thị giá chứng khoán đã giảm ngay 40% khiến ông phải hủy bỏ việc cấm bán khống vì nước này đã cho bán khống từ lâu mà cấm bán khống thì sẽ làm đỗ vỡ các quỹ đầu cơ làm thị giá chứng khoán sụt giảm mạnh như vậy. Rõ ràng phóng lao thì đành phải theo lao. 1.5.2 Bài học về bán khống nhìn từ tầm quan trọng của bán khống ở TTCK Mỹ Những số liệu thống kê trên TTCK Mỹ về bán khống ngày nay luôn có sẵn và được quản lý chặt chẽ. Tuy nhiên, quản lý được các giao dịch bán khống không phải là điều dễ, bởi vì các NĐT cũng trở nên tinh vi hơn vì họ nhận được sự hỗ trợ của khoa học công nghệ. Chẳng hạn, vào ngày 14/12/1990, theo số liệu ghi nhận được, tổng số chứng khoán bán khống là 855,7 triệu cổ phiếu. Nếu chỉ dựa vào nguyên nhân đầu cơ trong thị trường giá hạ, khó có thể giải thích tại sao tổng số chứng khoán bán khống lại lên đến con số như vậy. Trong năm 1990, có 3.535 tỷ cổ phiếu được bán khống trên các TTCK Mỹ. Khoảng 61% tổng số cổ phiếu bán khống được thực hiện bởi các chuyên gia thị
  23. 23. trường thông qua tài khoản của họ. Họ thực hiện với vai trò là những người bình ổn thị trường có nghĩa là bán khi giá tăng và mua khi giá hạ. Để đo được tầm quan trọng của bán khống trên TTCK Mỹ, có thể đem so sánh tỷ lệ giữa tổng số chứng khoán bán khống và doanh số giao dịch bình quân hàng ngày của SGDCK New York. Chẳng hạn vào năm 1990, khối lượng giao dịch bình quân hàng ngày là 156,7 triệu cổ phiếu. Số lượng cổ phiếu bán khống dao động từ mức cao 855,7 triệu cổ phiếu xuống mức thấp 520,5 triệu cổ phiếu. Như vậy, tỷ lệ giữa tổng số chứng khoán bán khống và doanh số giao dịch bình quân hàng ngày của SGDCK New York trong năm 1990 nằm trong khoảng mức thấp nhất là 332% và mức cao nhất là 546%. Các nhà phân tích kỹ thuật cho rằng tỷ lệ chứng khoán bán khống tăng trên 150% sẽ góp phần làm tăng giá thị trường. Nếu số lượng chứng khoán bán khống chiếm hơn 1,5 lần khối lượng giao dịch trung bình trong ngày, thị trường có xu hướng tăng giá. Sở dĩ có thể kết luận như vậy vì những cổ phiếu bán khống đã được vay mượn trước đó. Kết quả tất cả vụ bán khống đều làm phát sinh nhu cầu thực tế mua và trả lại cổ phiếu đã bán ra cho người đã cho mượn. Việc sử dụng ngày càng nhiều chỉ số chứng khoán và các dạng mua bán song hành khác trên TTCK Mỹ đã tạo ra những cách sử dụng mới của nghiệp vụ bán khống. Hơn thế nữa, trước đây các công ty thường bị cấm tham gia vào bất kỳ một dạng bán khống nào vì mục đích đầu cơ. Ngày nay nhiều công ty đã bán khống để thực hiện những chiến lược khác nhau của họ. Chính số lượng lớn trong giao dịch cổ phiếu của các công ty lớn này làm tăng số lượng bán khống. 1.5.3 Bài học rút ra cho Việt Nam khi triển khai nghiệp vụ bán khống Khi triển khai bán khống thì phải quản lý chặt chẽ để nó phát huy vai trò là một công cụ điều tiết, bình ổn thị trường. Bán khống trong chừng mực nào đó (≥ 150% so với doanh số giao dịch) sẽ góp phần làm tăng giá thị trường. Quản lý chặt chẽ việc bán HĐTTTL cho các cá nhân không chịu rủi ro tỷ giá để tránh lợi dụng việc bán khống HĐTTTL để đầu cơ gây tổn hại nền kinh tế như khủng hoảng kinh tế từ đó làm ảnh hưởng đến TTCK.
  24. 24. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Chương 1 trình bày một công cụ đầu tư giá xuống rất phổ biến trên thế giới đó là bán khống. Nhóm đã giới thiệu về nghiệp vụ bán khống, các loại bán khống và đi sâu phân tích các tác động của bán khống lên TTCK cũng như các kinh nghiệm trong triển khai hoạt động bán khống từ Thái Lan và Mỹ. Bên cạnh đó chương 1 đã cung cấp lý luận cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu và áp dụng bán khống vào TTCK Việt Nam trong các chương tiếp theo. Chương 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ NH U CẦU BÁN KHỐNG 2.1 Điểm qua tình hình TTCK Việt Nam từ đầu năm 2006 đến ngày 22/05/2008. Đồ thị Vn-Index và Hastc-Index cho thấy TTCK năm 2007 biến động theo các xu hướng thất thường. Chỉ số Vn-Index và Hastc-Index đã chứng minh sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường trong năm 2007. TTCK Việt Nam kết thúc phiên cuối cùng của năm 2007 với chỉ số chứng khoán Vn-Index đạt 927,02 điểm tăng 23% và chỉ số Hastc-Index đạt 323,55 điểm, tăng 32% so với thời điểm cuối năm 2006. Nói chung năm 2007, là thời kỳ huy hoàng của TTCK Việt Nam, nó đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. (xem thêm phụ lục 3 về tổng quan TTCK Việt Nam) Nếu Vn-Index và Hastc-Index 3 tháng đầu năm 2007 vụt lên mạnh mẽ theo đà tăng nóng của năm 2006 với Vn-Index lập kỷ lục ở mức 1.170,67 điểm vào ngày 12/03/2007, Hastc-Index lập kỷ lục ở mức 459,36 điểm vào ngày 19/03/2007 thì 3 tháng đầu năm 2008 hai chỉ số này tuột dốc không phanh. Cổ phiếu bị bán đổ, bán tháo ở mức giá chỉ bằng 40-50% so với đầu năm nay. Chỉ số Vn-Index chính thức xuống đến mức 434,75 điểm vào ngày 22/05/2008, riêng chỉ số Hastc-Index xuống đến mức chỉ còn 130,35
  25. 25. điểm cùng ngày đó. TTCK đang trải qua những ngày tháng khốn khó nhất trong vòng 1 năm trở lại đây. Hết ngày thứ Hai, ngày thứ Ba rồi lại ngày thứ Tư, tất thảy đều đen tối. Cái từ ngày thứ Hai đen tối đã quá phổ biến với những NĐT ở đất nước có dải đất hình chữ S. Thế nhưng, ở thời điểm này họ đang có nguy cơ đối mặt với những “tuần đen tối”. Hơn bao giờ hết sức công phá của màu đỏ trên bảng chứng khoán điện tử có thể vượt qua bất cứ một rào cản nào, bất cứ một ngưỡng kháng cự nào. Màu xanh cũng đang dần chiếm “vị thế” nhưng đau đớn thay lại không phải là màu xanh cốm, màu xanh của hy vọng mà là màu xanh lam, màu xanh của sự vụt tắt đối với dân chứng khoán. Hầu như ngày nào cũng vậy, lần lượt mất điểm từ đợt 1 cho đến đợt giao dịch xác định giá đóng cửa, càng về cuối “trận” màu đỏ càng thêm “đậm đặc”. Tổng giá trị giao dịch khớp lệnh mỗi phiên chỉ còn vài trăm tỷ đồng, mỗi ngày mỗi giảm điều này càng thêm khẳng định: NĐT đã lạnh nhạt với chứng khoán. Vẫn biết đây là điều rất chua xót nhưng âu đó cũng là lẽ thường. Cơ hội kiếm lời từ những đợt “lướt sóng” không còn nữa, thay vào đó là những lời than vãn vì lỗ nhiều quá. Không biết đến bao giờ giới đầu tư chứng khoán mới thoát khỏi cảnh “lầm than” như lúc này. Trước mắt chỉ thấy một màu u ám. Ngày hôm nay giảm 30 điểm, ngày mai lại 30 điểm, biểu đồ giá chứng khoán ngày một “cúi gằm mặt” xuống như cảm thấu sự mất mát của giới đầu tư. Dẫu biết rằng, lịch sử không phải chỉ có một, tương lai sẽ chẳng phải là không có. Chứng khoán ấy là vậy, có tăng ắt có giảm. Cũng như thương trường của bao lĩnh vực kinh tế khác, có kẻ khóc, có người cười. Chỉ khác rằng, là chứng khoán nếu giảm thì có lẽ đa phần sẽ khóc, có người cười chăng chỉ là những người đứng ngoài cuộc mà thôi. Trong cơn bĩ cực, thị trường chưa tiếp thêm được sức mạnh, tâm lý NĐT ngày 1 giảm dần, ắt hẳn sẽ phải tìm cơ hội khác hoặc rút về chờ thời cơ. Nhiều NĐT đã nhận ra sai lầm khi đầu tư theo danh mục mà không hề quan tâm đến xu thế. Đặc biệt có không ít NĐT chạy theo “blue-chips” (Blue-chips là loại cổ phiếu "chất lượng cao" hay còn gọi là cổ phiếu "thượng hạng", do các công ty lớn có tiếng phát hành) và giờ đây chính những “blue-chips” này lại quay mặt lại với họ. Chắc chắn rằng cả cung và cầu đều không muốn thế, nhưng thị trường là thế và chứng khoán là thế. Chỉ cách đây 1 năm, nhiều người giàu lên vì FPT thì giờ đây vẫn là con số nhiều đó đau
  26. 26. xót nhìn tài sản của mình đội nón ra đi. Chắc chắn rằng, FPT làm ăn vẫn có lãi, lãi rất nhiều, tương lai sáng hơn ai hết, ấy vậy mà ngày nào cũng giảm. Chúng ta hãy cùng hiểu thị trường và chia sẻ những khó khăn nhiều bề của nhiều định chế. Cơ quản quản lý thị trường thì nát óc để xoay chuyển tình thế, công ty chứng khoán thì rầu rĩ vì thâm hụt doanh thu (môi giới, tự doanh, bảo lãnh…), NĐT – đối tượng được quan tâm nhiều nhất thì thua lỗ đến 30-40% nên đã quá nản, mất lòng tin vào tương lai của thị trường. Trước kia lịch sử cũng đã chứng kiến chứng khoán giảm một cách thê thảm, mức độ giảm cũng tương đương thời điểm này, mất ngót 50% điểm. Đa phần NĐT hoang mang, lo lắng. Nhưng nỗi lo lúc đó nó còn quá nhỏ, không lớn như bây giờ. Cũng bởi quy mô thị trường lúc đó còn quá nhỏ, NĐT chứng khoán rất ít, không nhiều như hiện nay. Nếu xét ở một góc độ tương quan thì TTCK lúc này đang giảm một cách thê thảm hơn bao giờ hết. Ở bất cứ một TTCK nào trên TTCK nói chung đều có thời kỳ giảm mạnh, thậm chí là suy thoái trầm trọng, không phải là suy thoái một lần, mà có thể nhiều lần. Đó cũng là một trong những đặc thù cơ bản của TTCK, có tăng ắt có giảm, có tăng nóng ắt có đóng băng. Thế nhưng bài học của những nước có TTCK tồn tại và phát triển được đến ngày nay là gì? Họ chống chọi trước những “cơn bão” này ra sao? Thiết nghĩ cơ quan quản lý thị trường và những đơn vị truyền thông cho chứng khoán hãy đưa ra những kinh nghiệm đó, trước là để có bài học cho mình, sau là để động viên và hướng đối tượng thị trường cùng chung tay chung sức mà gánh vác. Quay trở lại với lịch sử suy thoái của TTCK Việt Nam đã từng xảy ra vào thời điểm năm 2004, tuy ở quy mô nhỏ nhưng đó cũng là bài học có thể áp dụng phần nào để khắc phục TTCK lúc này. Khi TTCK thoát khỏi đà suy thoái, ai giám chắc rằng sẽ không bao giờ còn suy thoái? Và rất có thể, tình hình lúc này sẽ là một bài học quý giá cho tương lai.
  27. 27. Hình 2.1-Đồ thị biểu diễn chỉ số Vn-Index và Hastc-Index từ đầu năm 2006 đến 22/05/2008 BIỂU ĐỒ BIỂU DIỄN CHỈ SỐ VN-INDEX VÀ HASTC-INDEX HASTC-INDEX VN-INDEX 1300 510 480 450 420 390 360 1200 1100 1000 900 330 300 270 800 700 240 210 180 150 120 600 500 400 300 90 60 30 0 200 100 0 Jan- Feb- Mar- Apr- May- Jun- Jul- Aug- Se p- Oct- Nov- Dec- Jan- Feb- Mar- Apr- May- Jun- Jul- Aug- Se p- Oct- Nov- De c- Jan- Fe b- Mar- Apr- May06 06 06 06 06 06 06 06 06 06 06 06 07 07 07 07 07 07 07 07 07 07 07 07 08 08 08 08 08 VN-INDEX HASTC-INDEX Nguồn: www.ssc.gov.vn - Ủy ban chứng khoán Nhà nước 2.2 Rủi ro của TTCK Việt Nam đối với các NĐT 2.2.1 Rủi ro chính sách: TTCK Việt Nam còn đang trong giai đoạn đầu phát triển, mức độ thị trường hóa chưa đủ và luôn chịu ảnh hưởng bởi chính sách của chính phủ. Hệ thống pháp luật quy định về TTCK còn nhiều bất cập. Các quy định của các cơ quan quản lý đưa ra bất ngờ, gây hoang mang cho NĐT họ không kịp phản ứng, thích nghi với các quy định mới và hậu quả là dẫn tới thua lỗ thậm chí là phá sản. NĐT Việt Nam phần đông là các NĐT nhỏ lẻ, nên trước những thông tin nóng hổi của các cơ quan nhà nước họ tiếp nhận rất thụ động và họ cũng chính là những người chịu thua thiết nhất trong thời gian qua. Nhiều NĐT dày dạn khác đã kinh qua hầu hết các khóa đào tạo chứng khoán, tìm hiểu kỹ các trường phái đầu tư, bám sàn, phân tích giỏi và có kinh nghiệm…, nhưng rốt cuộc vẫn khó tránh khỏi những rủi ro liên quan đến chính sách. (xem thêm phụ lục 4)
  28. 28. Sự can thiệp quá sâu của các cơ Tiêu biểu vẫn là Chỉ thị 03 của Ngân hàng quan quản lý vào TTCK sẽ ngăn cản Nhà nước (nay được thay bằng Quyết định 03), sự phát triển của thị trường, bởi nó “đùng một cái” được ban hành, không tổ chức làm tăng tính rủi ro hệ thống và lấy ý kiến hoặc định hướng trước để giới đầu tư NĐT sẽ "chùn chân" khi cân nhắc có thể chuẩn bị ứng phó. Ở đây, một số đối việc tham gia vào thị trường. tượng NĐT có kinh nghiệm, có khả năng tiên Đặc biệt đối với một nước đoán được chính sách, và không loại trừ khả đang phát triển như nước ta, những năng thông tin chính sách rò rỉ, là có thể nhanh rủi ro do các chính sách mang tính chân thoát khỏi đà sụt giảm sau đó. chiến thuật ngắn hạn để đối phó với Và gần đây, quyết định phát hành 20.300 tỷ diễn biến kinh tế phức tạp là khá đồng tín phiếu bắt buộc của Ngân hàng Nhà lớn, thì cần phải làm cho người dân nước bất ngờ công bố, tạo một áp lực lớn đối với biết tự bảo vệ mình, chứ không có kỳ vọng phục hồi trên TTCK. Lãi suất và vốn chuyện gì cũng tìm Nhà nước. Làm VND của các ngân hàng thương mại biến động được như vậy thì cũng tạo ra tính mạnh là một nguyên nhân khiến chứng khoán độc lập cho chính sách mang tính “rơi tự do” chiến lược dài hạn của Nhà nước, không phải bận tâm ra các quy định ngắn hạn làm yên lòng dân nữa. 2.2.2 Thị trường thiếu các công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả cho các NĐT. TTCK non trẻ và đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam chúng ta thì rủi ro đối với NĐT rất nhiều, tuy nhiên những rủi ro đó không phải là không phòng ngừa được. Ngoài ra, do sự dè dặt của các cơ quan nhà nước mà đến nay các NĐT Việt Nam vẫn đang “khát” công cụ phòng ngừa rủi ro bằng chứng là các công cụ này vẫn chưa được phép triển khai trong khi nhu cầu của NĐT là khá lớn. Ở các thị trường phát triển họ đều triển khai các công cụ tài chính phái sinh (quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, giao sau,…), các hoạt động mua – bán khống như là các công cụ giúp NĐT thông qua đó hạn chế rủi ro của mình, tự cứu mình. Mà làm sao người dân tự cứu được khi mà Nhà nước không trao cho người ta công cụ để tự cứu? TTCK giảm giá nhưng người ta không thể bán khống cổ phiếu, không thể phòng ngừa rủi ro bằng quyền chọn, thì tự cứu như thế
  29. 29. nào? Lý thuyết đầu tư cho thấy thị trường có tính chu kỳ, có lên ắt có xuống, khi thị trường ở trong chu kỳ xuống, nỗ lực cho nó đi lên là làm ngược quy luật; thay vào đó, cho NĐT công cụ tự bảo vệ khi giá giảm như bán khống hay quyền chọn, vừa không đi ngược quy luật, vừa tạo ra cơ hội kinh doanh cho CTCK và NĐT. 2.2.3 Rủi ro bong bóng Đây là loại rủi ro hình thành do sự bất cân xứng giữa cung và cầu chứng khoán thường thấy ở các thị trường mới nổi như ở nước ta. Mặc dù, trong năm 2006, 2007 đã có nhiều công ty niêm yết trên sàn chứng khoán nhưng nhu cầu mua cổ phiếu của các NĐT, đặc biệt là các NĐT nước ngoài là rất lớn. Cầu gia tăng mạnh tạo áp lực dẫn đến trong thời gian dài các cổ phiếu của nhiều công ty bị đẩy lên giá rất cao vượt xa giá trị thực tế của nó, chính điều này tạo nên bong bóng của thị trường. Đây cũng chính là nhân tố tạo nên sự bất ổn cho thị trường, chỉ cần có một sự cố gì xảy ra thì sự lây lan, sụp đổ là rất lớn và nguy hiểm thị trường giai đoạn cuối năm 2007 đến nay là một ví dụ. 2.2.4 Cùng với xu thế hội nhập vào nền kinh tế thế giới, với các chính sách cởi mở trong đầu tư nên sự hiện diện của NĐT nước ngoài tại Việt Nam ngày càng nhiều. Theo sau họ là những dòng vốn khổng lồ điều này mang đến nhiều lợi ích cũng như những thách thức không nhỏ. Đây là vấn đề đặt ra để các nhà quản lý Việt Nam cần hết sức cảnh giác. Mục tiêu cuối cùng của chủ đầu tư nước ngoài là thực hiện thu lãi từ đầu tư theo dự kiến, khi biện pháp quản lý giám sát, cơ chế quản lý ngoại hối, chế độ, pháp luật quy định về TTCK của nước chủ nhà xuất hiện lỗ hổng, NĐT nước ngoài sẽ lợi dụng những lỗ hổng này tiến hành các hoạt động mang tính đầu cơ sẽ gây nguy hại cho nền kinh tế. Kinh nghiệm xương máu của nhiều quốc gia trên thế giới bị giới đầu cơ quốc tế tấn công làm tê liệt thậm chí là khủng hoảng kinh tế vẫn là bài học nóng hổi cho Việt Nam khi chúng ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. 2.2.5 Kiến thức của đại bộ phận NĐT còn nhiều hạn chế, khó tiếp thu các nghiệp vụ phức tạp, các nghiệp vụ tài chính cao cấp.
  30. 30. Các NĐT Việt Nam vẫn còn tâm lý e ngại và chưa có ý thức sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro, khi họ bị thua lỗ thì họ thật sự trắng tay. Kinh nghiệm rút ra từ các thị trường nước ngoài là người ta có xu hướng chỉ dùng thường xuyên một sản phẩm phòng ngừa rủi ro hay đầu tư nếu dùng một lần thấy có lợi (positive feedback trading). Nếu dùng mà bị lỗ thì họ không dùng nữa. Do đó, cho phép triển khai sản phẩm phái sinh là một chuyện, nhưng tạo ra văn hóa phòng ngừa rủi ro cho xã hội, để người có gánh chịu rủi ro phải quan tâm tự giác tìm tòi về sản phẩm phái sinh và phòng ngừa rủi ro, biết lo ngại rủi ro và biết phòng chống đúng cách để có lợi, còn quan trọng hơn nhiều lần. 2.2.6 Rủi ro thông tin Thông tin trên TTCK Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và chưa được công khai minh bạch. Hành vi kinh doanh dựa trên trên thông tin nội gián để trục lợi vẫn còn nhan nhãn. Ngoài ra, do có rất ít thông tin chính thống nên NĐT thường xuyên theo dõi các phân tích trên báo chí, đôi khi thông tin báo chí nhìn nhận bi quan về thị trường (chỉ là quan điểm của một nhà báo, chuyên gia nào đó) thì ngay lập tức các NĐT ùn ùn kéo nhau hành động và đưa thị trường đến chỗ bi quan thật, mặc dù thực tế thị trường không đến mức tồi tệ như vậy. Những báo cáo thị trường của các tổ chức đầy danh tiếng trong và ngoài nước như IMF, HSBC hay SSI, TSC gần đây ít nhiều gây sóng gió trong giới đầu tư và có những tác động nhất định đến tâm lý thị trường trong thời gian vừa qua là một ví dụ. Thông tin của báo chí là cần thiết nhưng đó chỉ nên xem là thông tin tham khảo, bản thân NĐT cần phải tỉnh táo và phải biết chọn lọc, cân nhắc chứ không nên coi đó là kim chỉ nam cho thị trường. Ngoài ra, thị trường chứng khoán Việt Nam còn là thị trường của những tin đồn, đôi khi không biết vô tình hay cố ý mà một thông tin nào đó được truyền tai nhau, thông tin không hề được xác nhận, công bố của các cơ quan quản lý, bất chấp nguồn gốc của nó, NĐT vẫn răm rắp tin và hành động theo. Tâm lý không vững vàng, thiếu tính chuyên nghiệp trong đầu tư, thiếu kiến thức chuyên môn trong phân tích, dự báo, nhìn nhận thị trường chỉ qua ngôn ngữ báo chí, qua thông tin rỉ tai nhau chính điều này đã làm không ít NĐT Việt Nam phá sản. 2.2.7 Rủi ro đến từ bản thân NĐT.
  31. 31. TTCK nước ta ra đời chưa được bao lâu, lực lượng NĐT được đào tạo qua trường lớp và có kiến thức đầu tư rất khiêm tốn. Khi TTCK Việt Nam chứng kiến sự tăng trưởng “thần kỳ” vào năm 2007 thì việc kiếm lời từ "buôn" chứng khoán tưởng như dễ dàng, rất nhiều người huy động vốn từ nhiều nguồn, đặc biệt là cầm cố gia sản để mua chứng khoán. Tâm lý đã mua là được khiến NĐT không cân nhắc hết những rủi ro do thị trường mang lại. Kết quả là khi thị trường bước sang giai đoạn điều chỉnh, không có tiềm lực tài chính, những NĐT vốn mỏng buộc phải cắt lỗ rời bỏ thị trường. Hơn nữa, việc thiếu tính bền vững trong hoạt động đầu tư, chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn mà không tính toán đến các chi phí hoặc rủi ro có thể gặp phải trong thị trường đầy biến động của NĐT cũng là một nguyên nhân làm gia tăng rủi ro trong đầu tư chứng khoán. Như vậy, đầu tư không có chiến lược, chỉ chạy theo cái lợi trước mắt nên không những NĐT tự mang lại rủi ro cho chính mình mà còn gia tăng thêm rủi ro chung cho thị trường. 2.2.8 Rủi ro thanh khoản của các chứng khoán NĐT đang nắm giữ. Thị trường Việt Nam do còn thiếu các kết cấu hạ tầng, thiếu các công cụ phụ trợ của thị trường: nhà tạo lập thị trường, thông tin, các công cụ tài chính phái sinh…là những nguyên nhân đầu tiên gây ra tình trạng thanh khoản thấp của các chứng khoán. Mặt khác cũng xuất phát từ tình hình thực tế kinh doanh, tình hình tài chính của một số công ty niêm yết không sáng sủa cũng tạo ra tính thanh khoản kém cho các chứng khoán. Ngoài ra, nếu NĐT phân tích không đúng chọn nhằm chứng khoán “dở” để đầu tư hoặc giữ rất nhiều chứng khoán trong cùng “một rổ” cũng gây ra rủi ro thanh khoản. Ngày nay việc cạnh tranh ngày càng gay gắt, sự thay đổi đến chóng mặt của nền kinh tế cho nên ngay cả những công ty hàng đầu nếu không có chiến lược hợp lý cũng khó lòng trụ vững, điều này cho thấy tình hình kinh doanh ngày càng khốc liệt, đòi hỏi doanh nghiệp phải vừa tấn công nhưng cũng phải biết cách phòng thủ và điều này cũng góp phần gia tăng rủi ro thanh khoản của chứng khoán. 2.2.9 Rủi ro từ các quy định và chất lượng dịch vụ của các sàn, trung tâm giao dịch và công ty chứng khoán Với các quy định hiện nay của Sở giao dịch chứng khoán vẫn chưa mang lại công bằng cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ, các nhà đầu tư nước ngoài. Các quy định về cách khớp
  32. 32. lệnh, cách đặt lệnh, điều chỉnh số lượng cổ phiếu tối thiểu trong giao dịch (tăng từ 10 lên 100 cổ phiếu: buộc nhà đầu tư bỏ trứng vào 1 rổ không thể xé nhỏ như trước), chất lượng dịch vụ của một số CTCK còn phân biệt NĐT nước ngoài, trong nước, NĐT lớn và nhỏ…cũng làm gia tăng rủi ro cho NĐT trong kinh doanh chứng khoán. 2.2.10 Rủi ro từ các chấn động thị trường trong và ngoài nước Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộngvào nền kinh tế thế giới, chúng ta đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thế giới. Các chấn động của nền kinh tế thế giới đều ít nhiều ảnh hưởng ảnh hưởng đến tình hình nền kinh tế trong nước và trong đó có TTCK Việt Nam. Thời điểm này bất cứ sự sụt giảm nào ở một số thị trường chứng khoán lớn trong khu vực và thế giới như New York, Tokyo, Hong Kong, Singapore…thì lập tức TTCK Việt Nam sẽ ảnh hưởng theo. Nền kinh tế thế giới, đặc biệt là từ năm 2007 đến nay liên tiếp hứng chịu nhiều chấn động lớn: giá dầu, giá vàng leo thang, khủng hoảng tín dụng ở Mỹ, thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng lương thực, bất ổn chính trị ở một số nước…tất cả đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, đôi lúc nó đã làm cả thế giới lao đao và Việt Nam cũng nằm trong số ấy. Trong nước, giá tiêu dùng tăng đến chóng mặt, tốc độ lạm phát cao dự đoán năm 2008 là trên 20%, đồng tiền mất giá so với đô la, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, thâm hụt thương mại ngay càng lớn, thị trường bất động sản rồi thị trường chứng khoán đóng băng, tốc độ tăng trưởng chậm lại…tất cả những thứ đó đã làm xấu đi bảng thành tích tăng trưởng kinh tế vượt bật đáng tự hào của chúng ta. Trong thị trường chứng khoán nói riêng, các NĐT nhỏ lẻ vốn đã yếu thế bây giờ còn gồng gánh thêm rủi ro do tâm lý bầy đàn, đầu tư đầy cảm tính của NĐT Việt Nam, thông tin không minh bạch, thị trường chạy theo tin đồn gây nhiễu loạn thông tin và sự thao túng thị trường của một số NĐT có tiềm lực tài chính lớn, có thế lực và thông tin nội gián đủ sức làm giá trên thị trường để trục lợi. Chúng ta thấy rằng, mọi thứ ngày càng trở nên bất ổn, khó dự đoán hơn cũng từ đó mà rủi ro trong đầu tư cũng tăng lên. 2.3 Có hay không bán khống ở thị trường Việt Nam 2.3.1 Bán khống “ngầm”trên TTCK Việt Nam
  33. 33. Nghiệp vụ kinh doanh được các công ty chứng khoán và giới đầu tư mong đợi là mua bán khống (short sale). Tuy nhiên, trong Dự thảo Luật Chứng khoán trình Quốc hội mới đây, Bộ Tài chính một lần nữa đề nghị cấm nghiệp vụ này. Tuy nhiên bán khống vẫn được diễn ra ngầm trên thị trường OTC và thị trường niêm yết. Bán khống ở đây phần lớn dựa trên sự quen biết và tin tưởng giữa các NĐT với nhau. Trên thị trường OTC vì việc sang tên cổ phiếu khá dễ dàng và cũng chỉ gói gọn trong từng nhóm những NĐT đã quen biết và tin tưởng lẫn nhau. Thông thường NĐT có nhu cầu bán khống sẽ "mượn" cổ phiếu của một NĐT khác trong một khoảng thời gian nhất định với mức lãi suất thỏa thuận giữa hai bên. Cổ phiếu sau đó sẽ được sang tên để bên mượn có thể thực hiện hoạt động bán khống. Đối tượng cho vay, thường là những NĐT nắm giữ cổ phiếu dài hạn mà không chú ý nhiều đến biến động giá ngắn hạn hay là các NĐT ngắn hạn đang bị lỗ nặng, khoảng 30% trở lên, vì tiếc của mà không còn ý định cắt lỗ nữa mà họ sẽ nắm cổ phiếu "chung thân" chuyển sang đầu tư dài hạn. Đây là đối tượng dễ khai thác để "mượn" cổ phiếu nhất. Bên cạnh đó, đối tượng cho vay cũng cảm thấy hài lòng nhờ thu lời qua lãi suất cho vay chứng khoán. Trên thị trường niêm yết, cổ phiếu niêm yết cũng có thể lướt được theo cách này. Tuy nhiên mọi chuyện sẽ phức tạp hơn vì NĐT muốn mượn cổ phiếu không thể trực tiếp đặt lệnh mà vẫn phải thông qua NĐT có cổ phiếu. Sau khi bán cổ phiếu hai bên còn phải tiếp tục chuyển tiền qua lại, nên rất bất tiện. Những rủi ro NĐT bán khống “ ngầm” trên TTCK Việt Nam gặp phải là:  Tính thanh khoản của cả thị trường niêm yết và OTC đang thấp, sau khi NĐT đã mượn được cổ phiếu để tiến hành bán khống, thì bây giờ việc tìm người mua những cổ phiếu đó cũng không hề đơn giản.  Việc mượn cổ phiếu rồi "xù" luôn không phải là không có. Người cho mượn cổ phiếu rất khó bảo vệ quyền lợi của mình, do mọi hoạt động sang tên cổ phiếu OTC đều được thực hiện một cách hợp pháp.  Chưa hề có chế tài, quy định nào về việc thực hiện giao dịch bán khống như trên, quyền lợi của NĐT chưa được bảo vệ. Ràng buộc duy nhất giữa hai bên chỉ là sự tin tưởng lẫn nhau.
  34. 34. Nhiều NĐT cho rằng giới đầu tư chứng khoán tại Việt Nam rõ ràng đang có nhu cầu bán khống. Nếu nghiệp vụ này được áp dụng tại thị trường Việt Nam thì sẽ có thể giúp tăng tính thanh khoản, ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi cũng như tạo thêm một phương tiện giao dịch nữa cho các NĐT. 2.3.2 Giao dịch ký quỹ vàng – Một hình thức bán khống hợp pháp Khoản 9, Điều 71 Luật Chứng khoán quy định về nghĩa vụ của CTCK như sau: “Thực hiện việc bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng khoán để bán theo quy định của Bộ Tài chính”. Như vậy, Luật thì không cấm nhưng phải chờ hướng dẫn của Bộ Tài chính. Theo lộ trình phát triển công ty chứng khoán của UBCKNN thì đến năm 2009 nghiệp vụ bán khống mới có quy chế hướng dẫn thực hiện. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho các NĐT quan tâm đến nghiệp vụ bán khống, tuy nhiên khi nào thì bán khống mới thật sự được triển khai mới là điều quan trọng. TTCK của Việt Nam còn non trẻ và phát triển chưa vững chắc, các văn bản pháp luật quy định về lĩnh vực này còn nhiều hạn chế và chưa hoàn thiện nên chúng ta thận trọng trong việc triển khai nghiệp vụ bán khống là cần thiết. Kinh nghiệm ở một số nước cho thấy, bán khống có tính hai mặt của nó: nó vừa mang lại lợi ích nhưng cũng mang đến cho thị trường nhiều rủi ro. Như chúng ta đã biết, vàng và chứng khoán là hai công cụ đầu tư có mối liên hệ mật thiết với nhau, chúng có nhiều nét tương đồng với nhau. Việc tổ chức sàn giao dịch vàng và cho phép các hoạt động mua bán khống vàng trong thời gian qua đã thỏa mãn nhu cầu đầu tư và đầu cơ của mọi người, cung cấp thêm một kênh đầu tư và phòng ngừa rủi ro mới, hấp dẫn. Qua nghiên cứu cách vận hành, cũng như sự phát triển lớn mạnh của sàn giao dịch vàng và sự đón nhận nồng nhiệt nghiệp vụ bán khống vàng của NĐT sẽ phần nào cung cấp kinh nghiệm thực tế quý báu giúp ích trong quá trình xây dựng và triển khai nghiệp vụ bán khống trên TTCK Việt Nam trong thời gian tới. Đó là lý do để nhóm tiến hành một phần khảo cứu nhỏ về sàn giao dịch vàng. (xem thêm phụ lục 5) Trong bối cảnh, đồng đôla ngày càng mất giá và nguy cơ suy thoái của nền kinh tế Mỹ cũng như nền kinh tế toàn cầu đã khiến giới đầu tư và đầu cơ thế giới chuyển danh mục sang hàng hoá, nhất là vàng, dầu và lương thực.
  35. 35. Hình 2.2-Biểu đồ biểu diễn sự biến động của tỷ giá USD/VND từ 2005-2008 16,500 16,400 16,300 16,200 16,100 16,000 15,900 15,800 15,700 15,600 15,500 15,400 15,300 1 2 3 4 5 TG Thị trường 2007 6 7 TG Thị trường 2006 8 9 10 TG Thị trường 2008 11 12 TG Thị trường 2005 Nguồn: Ngân hàng TMCP Á Châu - ACB Với sự biến động mạnh mẽ của thị trường vàng đã khiến cho các NĐT và nhà đầu cơ khao khát được giao dịch loại hàng hoá này. Hệ lụy là giá vàng trong nước tăng mạnh, hút một lượng lớn dòng tiền và sự quan tâm của giới đầu tư và đầu cơ trong nước. Một lượng vốn lớn từ TTCK đã bị hút sang thị trường vàng. Để đáp ứng nhu cầu của NĐT và đầu cơ, Ngân hàng TMCP Á Châu – ACB đã thiết lập sàn giao dịch vàng và triển khai thêm sản phẩm mang hình thức giao dịch mua bán khống – Vay đầu tư vàng tại ACB. Hình 2.3-Biểu đồ biểu diễn sự biến động giá vàng thế giới và giá vàng trong nước từ 2005-2008
  36. 36. USD/ounce VND/chỉ 1,100 2,1 00,000 1,050 2,0 00,000 1,000 1,9 00,000 950 1,8 00,000 900 1,7 00,000 850 1,6 00,000 800 1,5 00,000 750 1,4 00,000 700 1,3 00,000 650 1,2 00,000 600 1,1 00,000 550 1,0 00,000 500 900 ,00 0 450 800 ,00 0 400 700 ,00 0 350 600 ,00 0 300 500 ,00 0 250 400 ,00 0 200 150 300 ,00 0 100 200 ,00 0 50 100 ,00 0 0 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 VÀNG TG2005 VÀNG TG2006 VÀNG TG2007 VÀNG TG2008 VÀNG ACB2005 VÀNG ACB2006 VÀNG ACB2007 12 VÀNG ACB2008 Nguồn: Ngân hàng TMCP Á Châu - ACB “Vay đầu tư vàng tại ACB” là sản phẩm cho phép các cá nhân, doanh nghiệp tư nhân mua bán vàng gấp 14 lần vốn tự có. Ngân hàng sẽ cho vay vàng hay tiền đồng tùy theo kỳ vọng của NĐT. Chẳng hạn trường hợp NĐT kỳ vọng giá vàng sẽ tăng và quyết định vay tiền đồng và sau đó mua vàng tại Ngân hàng. Khi giá vàng tăng đến mức mong muốn, NĐT bán vàng cho Ngân hàng và trả nợ vay tiền đồng. Đây là hình thức giao dịch mua khống. Ngược lại, khi NĐT dự báo giá vàng sẽ xuống thì cho vay vàng, người vay bán số vàng vay được lại cho Ngân hàng. Đến khi giá vàng giảm đến một mức mong muốn, NĐT mua lại vàng và trả nợ vay cho ngân hàng. Đây là hình thức giao dịch bán khống. Tham gia sàn, NĐT chỉ cần ký quĩ 7% giá trị giao dịch, phần còn lại sẽ được Ngân hàng cho vay theo hạn mức tín dụng được cấp, hiện tối đa là 30 tỉ đồng đối với cá nhân. Chẳng hạn, giá vàng đang là 20 triệu đồng/lượng, với khối lượng giao dịch tối thiểu là 50 lượng, tức tổng giá trị giao dịch là 1 tỉ đồng, nhưng NĐT (về lý thuyết) chỉ cần có khoảng 70 triệu đồng là có thể giao dịch. (xem thêm phụ lục 6) Một ví dụ cụ thể: NĐT có vốn là 3,75 lượng vàng quy đổi ra tiền đồng hơn 57,976 triệu đồng (lấy giá vàng là 1,624 triệu đồng/chỉ), khi giá vàng giảm 10% thì lợi nhuận thu được hơn 5,783 triệu đồng. Nếu NĐT sử dụng dịch vụ này thì với 3,57 lượng vàng tự có, NĐT sẽ được cho vay đến 50 lượng vàng (gấp 14 lần số vốn tự có). Khi giá vàng
  37. 37. giảm 10% đúng như nhận định của NĐT, số lời mà họ thu được đạt 81 triệu đồng. Mức cho vay tối đa của Ngân hàng ở dịch vụ này là 30 tỉ đồng, thời gian vay là 12 tháng, người vay trả lãi hằng tháng, trả vốn khi đến hạn. Hơn 6.000 lượng vàng đã được Ngân hàng cho vay chỉ sau vài tháng triển khai đã chứng tỏ sức hấp dẫn của hình thức tín dụng này. Hình thức này cũng tạo ra tính đòn bẩy rất cao, đồng thời đây cũng là công cụ bảo hiểm hữu hiệu, vì xu hướng mua bán bất động sản ở Việt Nam thường bằng vàng, hình thức cho vay này sẽ giúp khách hàng thuận lợi hơn rất nhiều. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước tại TP.HCM, chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm 2007, dư nợ cho vay bằng vàng của 9 ngân hàng có thực hiện nghiệp vụ này đã đạt gần 8.400 tỷ đồng, tăng 225% so với năm 2006. Sàn vàng là một trong những minh chứng cho sự sôi động của thị trường vàng hiện nay, khi số lượng tài khoản của các NĐT mở tại Sàn giao dịch vàng Sài Gòn đã tăng gần gấp đôi, lên 3.500-3.700 tài khoản. Sàn có giao dịch bình quân tới trên 10.000 lệnh/ngày, ngày cao điểm lên đến 400.000 lệnh, số lượng vàng giao dịch mỗi ngày dao động từ 200.000 - 400.000 lượng (hình 2.4), tổng giá trị giao dịch từ 4.000 - 7.000 tỉ đồng/ngày. Hình 2.4-Khối lượng giao dịch trên sàn vàng năm 2008 KHỐI LƯỢNG GIAO DỊCH SÀN VÀNG NĂM 2008 Lượng 450,000 400,000 350,000 300,000 250,000 200,000 150,000 100,000 50,000 0 2-Jan 9-Jan 16-Jan 23-Jan 30-Jan 6-Feb 13-Feb 20-Feb 27-Feb 5-Mar 12-Mar 19-Mar 26-Mar 2-Apr 9-Apr 16-Apr Nguồn: Ngân hàng TMCP Á Châu - ACB Những điểm khiến đầu tư vàng hấp dẫn hơn chứng khoán là việc chỉ phải nộp tiền ký quỹ 7% giá trị giao dịch là đã có thể mua bán. Trong khi với chứng khoán, mặc dù luật cho phép chỉ ký quỹ 70% nhưng đa phần các công ty chứng khoán đều bắt NĐT
  38. 38. phải có đủ 100% ký quỹ mới cho phép giao dịch. Thêm vào đó, NĐT được phép mua bán vàng ngay trong ngày, chỉ cần có đủ số ký quỹ là được phép giao dịch. Đồng thời, cũng còn có thể thực hiện nghiệp vụ mua bán khống. Do NĐT đầu tư chủ yếu bằng tiền vay của ngân hàng, nên Ngân hàng sẽ yêu cầu NĐT nộp thêm tiền ký quỹ ngay trong ngày khi tỷ lệ tổng giá trị tài sản ròng/tổng dư nợ vay chỉ còn 5% (tỷ lệ cảnh báo). Nếu tỷ lệ tiếp tục biến động xuống 4% (tỷ lệ xử lý) thì Ngân hàng sẽ có toàn quyền xử lý tài sản của bạn để đảm bảo mức an toàn cho Ngân hàng. Lợi nhuận lớn bao giờ cũng đi kèm rủi ro cao, nếu mức lỗ 7% vẫn nằm trong khả năng chịu lỗ (trên lý thuyết) đối với đầu tư chứng khoán thì với đầu tư vàng, coi như NĐT đã phá sản. Bước chân vào thị trường mới thấy kinh doanh vàng ngắn hạn mức sinh lời cao vô cùng hấp dẫn nhưng cũng vô cùng khốc liệt. Rủi ro cho các NĐT nhỏ lẻ lớn hơn rất nhiều các lĩnh vực khác như chứng khoán hay bất động sản. Cơ hội ở thị trường vàng hơn chứng khoán ở chỗ khi thị trường lên NĐT đương nhiên kiếm được tiền, khi thị trường xuống họ cũng có thể kiếm được tiền bằng cách bán khống hoặc mua khống. Tóm lại, thị trường Việt Nam đã có bán khống nhưng theo các hình thức khác nhau. Ở TTCK Việt Nam, bán khống đã được thực hiện “ngầm” thông qua sự tin tưởng giữa các NĐT với nhau. Còn thị trường vàng, tuy rằng bán khống được công khai thực hiện nhưng nó chỉ là một dạng bán khống “trá hình” do nó chưa được pháp luật thừa nhận là nghiệp vụ bán khống. Hai loại hình thức bán khống ở trên là một sự minh chứng rõ ràng cho nhu cầu bán khống ở thị trường Việt Nam nói chung và TTCK nói riêng. 2.4 Lợi ích nghiệp vụ bán khống mang đến khi được triển khai ở thị trường Việt Nam 2.4.1 Những lợi ích của bán khống mang lại cho thị trường Việt Nam Thứ nhất, nghiệp vụ bán khống sẽ góp một phần quan trọng trong việc giúp bình ổn thị trường. Bán khống làm cho nguồn cung-cầu chứng khoán trở nên điều hòa hơn bởi vì nó chính là một công cụ điều tiết thị trường hiệu quả. Tránh những biến động lớn cho thị trường mỗi khi có các đợt phát hành cổ phiếu mới. Bán khống cũng sẽ giúp ngăn chặn việc thực hiện hành vi gom chứng khoán để đầu cơ giá lên của một số cá nhân tổ chức

×