Tl thuc trang va bien phap khac phuc lam phat của vn nam 2010

  • 488 views
Uploaded on

 

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
    Be the first to like this
No Downloads

Views

Total Views
488
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0

Actions

Shares
Downloads
20
Comments
0
Likes
0

Embeds 0

No embeds

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 MỤC LỤC Lời mở đầu ..........................................................................................................................5 Chương 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MÔN KINH TẾ VĨ MÔ ................6 1.1Khái quát về kinh tế vĩ.........................................................................................6 1.2Hoạnh toán thu nhập quốc dân.............................................................................6 1.3Lạm phát – thất nghiệp........................................................................................8 1.4Chính sách tài chính.............................................................................................12 1.5Tiền tệ ngân hàng và chính sách tiền tệ................................................................12 1.6Thương mại quốc tế.............................................................................................13 Chương 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM NĂM 2010.................................................................................14 2.1Thực trạng lạm phát của Việt Nam năm 2010......................................................14 2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát trong năm 2010......................................19 2.3 Hậu quả của lạm phát..........................................................................................20 2.4 Một số giải pháp nhằm hạn chế lạm phát của Việt Nam năm 2010.....................21 Chương 3 ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ.........................................23 3.1Giảng dạy học phần..............................................................................................23 3.2 Đề xuất biện pháp................................................................................................24 Kết luận................................................................................................................................25 Tài liệu tham khảo................................................................................................................26 SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 1
  • 2. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, với xu hướng nền kinh tế thị trường và đánh dấu sự gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Việt Nam. Chính vì thế, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội đầu tư phát triển kinh tế và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, xâm nhập nhiều nền kinh tế mới trên toàn cầu. Bên cạnh đó, Việt Nam còn phải gặp rất nhiều thách thức trong nền kinh tế mở cửa như hiện nay, đặc biệt là sự cạnh tranh gây gắt trong kinh doanh cần đòi hỏi các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề nổi bậc nhất và có tầm ảnh hưởng quan trọng cho nền kinh tế đó là lạm phát. Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về mặt thời gian cũng như là trí tuệ mới mong muốn đạt được kết quả khả quan. Vì vậy việc chống lạm phát không chỉ là nhiệm vụ của riêng Chính Phủ mà là cả các doanh nghiệp. Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là người lao động. Do đó, ở Việt Nam công tác chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định và cân đối là rất quan trong trong sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Hiểu rõ về tầm quan trọng của lạm phát, nên em đã quyết định chọn đề tài “Thực trạng và biện pháp khắc phục lạm phát của Việt Nam năm 2010”. 2. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở nhận thức về lạm phát, cùng với các phương pháp tìm hiểu thông tin, em đã tiến hành nghiên cứu, phân tích thực trạng lạm phát của Việt Nam năm 2010. Từ đó đánh giá về tình hình lạm phát của Việt Nam năm 2010 và đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế lạm phát ở nước ta. 3. Đối tượng nghiên cứu Những thông tin chung liên quan đến tình hình lạm phát của Việt Nam năm 2010. Những số liệu liên quan đến thực trạng lạm phát của Việt Nam năm 2010. 4. Phạm vi nghiên cứu Do giới hạn về thời gian, đề tài được nghiên cứu bao quát tổng thể tình hình thực trạng lạm phát của Việt Nam trong năm 2010. SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 2
  • 3. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 5. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả, những số liệu và thông tin cần thiết cho đề tài được lấy từ nhiều nguồn thông tin khác nhau như sách báo, tạp chí, internet. 6. Bố cục đề tài Nội dung của bài báo cáo được chia làm ba phần: Chương 1: Giới thiệu tổng quan về kinh tế vĩ mô Chương 2: Phân tích thực trạng và biện pháp khắc phục lạm phát của Việt Nam năm 2010 Chương 3: Đánh giá môn học kinh tế vĩ mô CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MÔN KINH TẾ VĨ MÔ 1.1 Khái quát về kinh tế vĩ mô 1.1.1 Kinh tế học là gì? Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu xem xã hội sử dụng như thế nào nguồn tài nguyên khai hiếm để sản xuất ra những hàng hóa cần thiết và phân phối chi các thành viên trong xã hội. Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu hoạt động của con người trong sản xuất và tieu thụ hàng hóa. Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu việc lựa chọn sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực để sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cho xã hội. Kinh tế vĩ mô: nghiên cứu hoạt động của toàn bộ tổng thể rộng lớn của toàn bộ nền kinh tế: tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái,… Kinh tế vi mô: nghiên cứu sự hoạt động của các tế bào kinh tế trong nền kinh tế: doanh nghiệp, hộ gia đình, số lượng sản phẩm,…trong các thị trường riêng lẻ. 1.1.2 Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc Kinh tế học thực chứng: là việc mô tả và phân tích sự kiện, các mối quan hệ trong nền kinh tế. Ví dụ: nếu kinh tế tăng trưởng 8% thì lạm phát sẽ bao nhiêu? Kinh tế học chuẩn tắc: đề cập đến nhận thức, đạo lý được giải quyết bằng sự lựa chọn. Ví dụ: tỷ lệ lạm phát đến mức nào thì có thể chấp nhận được? 1.1.3 Các mô hình kinh tế Mỗi một kiểu tổ chức kinh tế khác nhau sẽ có cách giải quyết khác nhau. Có 4 hệ thống kinh tế mà xã hội loài người đã trải qua: Kinh tế truyền thống: các vấn đề được giải quyết theo tập quán truyền thống từ thế hệ trước sang thế hệ sau. Tự cung, tự cấp. Kinh tế mệnh lệnh: nền kinh tế giải quyết các vần đề đều do Nhà nước quyết định. Kinh tế thị trường: các vần đề kinh tế được giải quyết thông qua cơ chế thị trường, do thị trường quyết định Kinh tế hỗn hợp: là sự kết hợp nền kinh tề thị trường và nền kinh tế mệnh lệnh (thông qua bàn tay “vô hình” của thị trường và bàn tay “hữu hình” của Nhà nước). SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 3
  • 4. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 1.2 Hoạch toán thu nhập quốc dân 1.2.1 Các thước đo về sản lượng 1.2.1.1Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP) GDP (Gross Domestic Product) là giá trị bằng tiền của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh thổ một nước, trong một thời kỳ nhất định. GDP = GNP – NIA NIA: Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài là phần chênh lệch giữa thu nhập của công dân nước ta ở nước ngoài và công dân nước ngoài ở nước ta. GNP (Gross National Product) là giá trị bằng tiền của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng do công dân một nước sản xuất ra, trong một thời kỳ nhất định. GNP danh nghĩa (GNPn), đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời kỳ, theo giá cả hiện hành, tức là giá cả của cùng thời kỳ đó. GNP thực tế (GNPr), đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời kỳ, theo giá cả cố định ở một thời kỳ được lấy làm gốc. Cầu nối giữa GNP danh nghĩa và GNP thực tế là chỉ số giá cả, còn gọi là chỉ số lạm phát tính theo GNP. Chỉ số lạm phát = 100 Pr GNPn GN × 1.2.1.2 Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm Xác định GDP theo giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong nền kinh tế: GDP = C + I + G + X – N C: là tiêu dùng của hộ gia đình. I: là đầu tư tư nhân. G: Chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ. X: xuất khẩu. N: nhập khẩu. 1.2.1.3 Phương pháp xác định GDP theo luồng thu nhập hoặc chi phí Phương pháp ngày tính GDP theo chi phí các yếu tố đầu vào của sản xuất mà các doanh nghiệp phải thanh toán. GDP = W +i + R + Pr + Ti + De Thu nhập của người cung cấp sức lao động: tiền công, tiền lương: W Thu nhập người cho vay : Chi phí trả lãi tiền vay : i Thu nhập người cho thuê tài sản : Chi phí thuê tài sản: R Thu nhập người sản xuất kinh doanh : lợi nhuận : Pr Thu nhập của chính phủ: thuế gián thu : Ti Khấu hao mặc dù không phải là một lọai thu nhập theo đúng nghĩa nhưng đó cũng là khoản chi phí nên được tính vào GDP: De 1.2.1.4 Phương pháp xác định GDP theo giá trị gia tăng SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 4
  • 5. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 Giá trị gia tăng là khoản chênh lệch giữa giá trị sản lượng của một doanh nghiệp với khoản mua vào về vật liệu và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác mà đã được dùng hết trong việc sản xuất ra sản lượng đó. Giá trị gia tăng của một doanh nghiệp là số đo phần đóng góp của doanh nghiệp đó vào tổng sản lượng của nền kinh tế. Tổng giá trị gia tăng của mọi đơn vị sản xuất và dịch vụ trong vòng một năm là tổng sản phẩm quốc nội GDP. 1.2.1.5 Phương pháp xác định GNP GNP = GDP + NIA Qua các phương pháp tính toán, GNP là thước đo tốt nhưng chưa là thước đo hoàn hảo về thành tựu kinh tế cũng như phúc lợi kinh tế của một đất nước vì: • Đã bỏ sót nhiều sản phẩm và dịch vụ nhân dân tự làm hoặc giúp đỡ nhau làm do không đưa ra thị trường. • Nhiều hoạt động phi pháp hoặc hợp pháp nhưng không báo cáo để trốn thuế. • Những thiệt hại về môi trường chưa được “điều chỉnh “ khi tính GNP. Hàng hoá cao cấp nhất do con người là thời gian nghỉ ngơi để bổ khuyết cho sự thoải mái về tâm lý không thể phản ảnh được vào GNP. 1.2.1.6 Sản phẩm quốc nội ròng (NDP) và sản phẩm quốc dân ròng (NNP) Sản phẩm quốc nội ròng (NDP – Net Domestic Product) phản ánh lượng giá trị mới sáng tạo, được sản xuất ra trên lãnh thổ một nước. NDP = GDP – De Sản phẩm quốc dân ròng (NNP – Net National Product) phản ánh lượng giá trị mới sáng tạo, do công dân một nước sản xuất ra. NNP = GNP - De 1.2.2 Các thước đo thu nhập 1.2.2.1Thu nhập quốc dân (NI – National Income) phản ánh mức thu nhập mà công dân một nước tạo ra. NI = NNPmp – Ti = NNPfc 1.2.2.2 Thu nhập cá nhân (PI – Personal Income) phản ánh phần thu nhập thực sự được phân chia cho các cá nhân trong xã hội. PI = NI – Pr* + Tr Pr* là lợi nhuận giữ lại và nộp cho Chính Phủ. 1.2.2.3 Thu nhập khả dụng (DI – Disposable Income) lượng thu nhập cuối cùng mà hộ gia đình có khả năng sử dụng. DI = PI – Thuế cá nhân 1.3 Lạm phát – thất nghiệp 1.3.1 Khái niệm lạm phát – phân loại 1.3.1.1Khái niệm Lạm phát (inflation) là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên liên tục trong một thời gian nhất định. Giảm phát (deflation) là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống. SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 5
  • 6. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 Giảm lạm phát (disinflation) là sự sụt giảm của tỷ lệ lạm phát. Chỉ số giá thời điểm (t) – Chỉ số giá thời điểm (t – 1) Tỷ lệ lạm phát thời điểm (t) = Chỉ số giá thời điểm (t – 1) 1.3.1.2Phân loại Căn cứ vào mức độ • Lạm phát vừa phải: là loại lạm phát một con số, tỷ lệ lạm phát thấp dưới 10%/năm. • Lạm phát phi mã: là loại lạm phát hai hay ba con số, tỷ lệ lạm phát khoảng hơn 10%, 50%, 200%,…/năm. • Siêu lạm phát: là loại lạm phát trên bốn con số. Căn cứ vào nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát • Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân hàng Nhà nước • Lạm phát do nguyên nhân chi phí • Lạm phát ỷ • Lạm phát cầu kéo • Lạm phát chi phí đẩy Căn cứ vào tỷ lệ lạm phát và độ dài thời gian • Lạm phát kinh niên: thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát đến 50% một năm. • Lạm phát nghiêm trọng: kéo dài trên 3 năm, với tỷ lệ lạm phát trên 50% một năm. • Siêu lạm phát: kéo dài trên 1 năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm. Căn cứ vào quá trình bộc lộ hiện hình lạm phát • Lạm phát ngầm • Lạm phát công khai 1.3.2 Đo lường lạm phát 1.3.2.1Chỉ số giá tiêu dung (CPI – Consumer Price Index) phản ánh tốc độ thay đổi giá của các mặt hàng tiêu dùng chính như lương thực, thực phẩm, quần áo,… 0 0 0 .100 t i i i i p q CPI p q = ∑ ∑ 1.3.2.2Chỉ số điều chỉnh GDP (GDPdef) phản ánh tốc độ thay đổi giá của tất cả các loại hàng hóa được sản xuất trong nền kinh tế. 0 .100 t t i i t i i p q CPI p q = ∑ ∑ 1.3.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát 1.3.3.1Lạm phát cầu kéo SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 6 .100
  • 7. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hoá có thể sản xuất được, trong điều kiện thị trường lao động đã đạt cân bằng. 1.3.3.2 Lạm phát chi phí đẩy Ngay cả khi sản lượng chưa đạt tiềm năng nhưng vẫn có khả năng xảy ra lạm phát, gọi là lạm phát chi phí đẩy, vừa lạm phát vừa suy giảm sản lượng, tăng thêm thất nghiệp nên cũng còn gọi là “ lạm phát đình trệ” Các cơn sốc giá cả của thị trường đầu vào - đặc biệt là các vật tư cơ bản (xăng dầu, điện…) là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, Giá cả sản phẩm trung gian (vật tư) tăng đột biến thường do các nguyên nhân sau: thiên tai, chiến tranh, sự biến động chính trị, kinh tế… 1.3.3.3 Lạm phát dự kiến Trong nền kinh tế tiền tệ, trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã, lạm phát vừa phải có xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó. Giá cả trong trường hợp này tăng đều đều với một tỷ lệ tương đối ổn định. Tỷ lệ lạm phát này được gọi là lạm phát dự kiến. 1.3.3.4 Lạm phát và tiền tệ Khi thị trường tiền tệ cân bằng, tỷ lệ lạm phát sẽ bằng tỷ lệ tăng tiền. Lượng tiền tăng càng nhanh thì lạm phát càng cao và bất kỳ một chính sách vĩ mô nào giảm được tốc độ tăng tiền cũng dẫn đến giảm tỷ lệ lạm phát và đặc biệt phù hợp với thời kỳ ngắn hạn (Chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng cách vay dân qua bán tín phiếu, thay cho in thêm tiền). 1.3.3.5 Lạm phát và lãi suất Lãi suất danh nghĩa biến động theo lạm phát. Khi lạm phát thay đổi lãi suất danh nghĩa sẽ thay đổi theo, lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát. Khi tỷ tệ lạm phát tăng lên, lãi suất danh nghĩa tăng theo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt. Điều này đặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát, tiền mất giá càng nhanh, tăng mức độ mua về mọi hàng hoá có thể dự trữ, gây thêm mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hoá và tiếp tục đẩy giá lên cao. 1.3.4 Những tác động của lạm phát • Đối với lĩnh vực sản xuất Tỷ lệ lạm phát cao làm cho giá đầu vào và đầu ra biến động không ngừng, gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất. Sự mất giá của đồng tiền làm vô hiệu hóa hoạt động hạch toán kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh – sản xuất ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi, gây ra những xáo động về kinh tế. Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn. • Đối với lĩnh vực lưu thông Lạm phát thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng hóa. Các nhà doanh nghiệp thấy rằng việc đầu tư vốn vào lĩnh vực lưu thông. Thậm chí khi lạm phát trở nên khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất sẽ gặp phải rủi ro cao. Do đó nhiều người SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 7
  • 8. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 tham gia vào lĩnh vực lưu thông nên lĩnh vực này trở nên hỗn loạn. Tiền ở trong tay những người vừa mới bán hàng xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưu thông, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng vọt và điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng. • Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp. Số người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều. Về phía hệ thống ngân hàng, do lượng tiền gửi vào giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng với việc sụt giá của đồng tiền quá nhanh, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi không làm an tâm những người hiện đang có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay. Về phía người đi vay, họ là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền một cách nhanh chóng. Do vậy, hoạt động của hệ thống ngân hàng không còn bình thường nữa. Chức năng kinh doanh tiền bị hạn chế, các chức năng của tiền tệ không còn nguyên vẹn bởi khi có lạm phát thì chẳng có ai tích trữ của cải hình thức tiền mặt. • Đối với chính sách kinh tế tài chính của Nhà nước Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hóa, khi lạm phát xảy ra những thông tin trong xã hội bị phá hủy do biến động của giá cả làm cho thị trường bị rối loạn. Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm ăn tốt và kém. Đồng thời lạm phát làm cho Nhà nước thiếu vốn, do đó Nhà nước không còn đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội bị cắt giảm…các ngành, các lĩnh vực dự định được Chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không có gì. Một khi ngân sách Nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện được. 1.3.5 Thất nghiệp 1.3.5.1Định nghĩa thất nghiệp Là tình trạng những người trong lực lượng lao động (trong độ tuổi lao động có khả năng lao động) không tìm được việc làm. .50 p t t n p Y Y UR UR Y − = + URt: tỷ lệ thất nghiệp thực tế. URn: tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Yp: sản lượng tiềm năng. Yt: sản lượng thực tế. 1.3.5.2 Phân loại Phân theo loại hình thất nghiệp • Thất nghiệp chia theo giới tính (nam, nữ) • Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi - nghề) • Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn…) • Thất nghiệp chia theo ngành nghề (ngành kinh tế, ngành hàng, nghề nghiệp). • Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc… Phân loại theo lý do thất nghiệp SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 8
  • 9. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 • Bỏ việc: Tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau như cho rằng lương thấp, không hợp nghề,… • Mất việc: Các hãng cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh… • Mới vào: Lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động, nhưng chưa tìm được việc làm (thanh niên đến tuổi lao động đang tìm việc, sinh viên tốt nghiệp đang chờ công tác…) • Quay lại: Những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay lại làm việc, nhưng chưa tìm được việc làm. Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp • Thất nghiệp tạm thời: • Thất nghiệp cơ cấu • Thất nghiệp do thiếu cầu • Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường còn được gọi là thất nghiệp theo lý thuyết cổ điển. 1.3.5.3 Tác hại của thất nghiệp Khi thất nghiệp ở mức cao, sản xuất sút kém, tài nguyên không được sử dụng hết, thu nhập của dân cư giảm sút, kéo theo nạn lạm phát. Nhiều hiện tượng tiêu cực phát triển, sự gia tăng các tệ nạn xã hội làm xói mòn nếp sống lành mạnh, có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống, gây tổn thương về mặt tâm lý và niềm tin của nhiều người. 1.4 Chính sách tài chính 1.4.1 Tổng chi tiêu 1.4.1.1Tiêu dùng hộ gia đình Tiêu dùng là chi tiêu của người tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ cuối cùng. Thu nhập khả dụng là lượng thu nhập mà người tiêu dùng thực sự có thể chọn lựa giữa việc chi tiêu hay tiết kiệm trong khoản thời gian nhất định. Thu nhập khả dụng = Tiêu dùng (C) + Tiết kiệm (S) 1.4.1.2 Rò rỉ và thêm vào Rò rỉ là toàn bộ thu nhập không được chi tiêu hết, mà được cất đi. Tiết kiệm là nguyên nhân gây ra rò rỉ. Ngoài ra, nhập khẩu, thuế cũng gây ra rò rỉ. Thêm vào là phần mua hàng hóa không bán được do tiết kiệm như Chính phủ mua hàng hóa, xuất khẩu, đầu tư. 1.4.1.3 Đầu tư Đầu tư của doanh nghiệp là khoản bơm them vào đáng kể cho luồng luan chuyển của nền kinh tế. Để quyết định đầu tư được hình thành, thì cần xem xét đến các yếu tố: những kỳ vọng về tăng trưởng kinh tế, lãi suất, công nghệ và đổi mới. 1.4.1.4 Chi tiêu Chính phủ Chi tiêu Chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ không trực tiếp liên quan đến thu nhập như quốc phòng, đường sá, y tế,… SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 9
  • 10. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 1.4.1.5 Xuất khẩu ròng Kim ngạch xuất khẩu ròng của một nước là một bộ phận của tổng chi tiêu trong thị trường sản phẩm. Nếu X – M > 0: cán cân thương mại thặng dư. Nếu X – M < 0: cán cân thương mại thâm hụt. Nếu X – M = 0: cán cân thương mại thăng bằng. 1.4.2 Chính sách tài chính 1.4.2.1Điều chỉnh khoản cách suy thoái Để giảm thiếu hụt tổng cầu (AD): • Tăng chi tiêu Chính phủ • Cắt giảm thuế 1.4.2.2 Điều chỉnh khoảng cách lạm phát • Cắt giảm chi tiêu của Chính phủ • Tăng thuế 1.5 Tiền tệ ngân hàng và chính sách tiền tệ 1.5.1 Tiền 1.5.1.1Khái niệm Tiền là bất cứ phương tiện nào được thừa nhận chung để làm trung gian cho việc mua bán hàng hóa. 1.5.1.2 Chức năng Phương tiện trao đổi, Cất giữ giá trị, Đơn vị hạch toán, Phương tiện thanh toán. 1.5.1.3 Khối lượng tiền Khối tiền tệ M1(tiền giao dịch) = tiền mặt + tiền ngân hàng Khối tiền tệ M2(chuẩn tệ) = M1 + tiền gửi định kỳ Khối tiền tệ M3 = M2 + tiền gửi khác Khối tiền tệ L = M3 + các loại chứng khoán khả nhượng 1.5.2 Ngân hàng 1.5.2.1Ngân hàng trung gian Là tổ chức giao dịch với công chúng trong việc nhận tiền gởi và cho vay như ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển và ngân hàng đặc biệt. 1.5.2.2 Ngân hàng Trung ương Là cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước, độc quyền phát hành tiền. Gồm ngân hàng Trung ương trực thuộc Quốc hội và ngân hàng Trung ương trực thuộc Chính phủ. 1.5.2.3 Kinh doanh và dự trữ của ngân hàng Kinh doanh: nhận tiền gởi, cho vay, đầu tư. Dự trữ: là bộ phận thiết yếu và tất yếu của mọi ngân hàng, đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống. Gồm có dự trữ bắt buộc và dự trữ tùy ý. 1.5.3 Chính sách tiền tệ 1.5.3.1Thị trường tiền tệ SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 10
  • 11. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 Là nơi nghiên cứu chính sách tiền tệ hoạt động như thế nào. Có ba động cơ làm cho chúng ta muốn nắm giữ tiền: nhu cầu giao dịch, nhu cầu dự phòng và nhu cầu đầu cơ. 1.5.3.2 Chính sách tiền tệ mở rộng Ngân hàng Trung ương kích thích nền kinh tế bằng cách: gia tăng cung tiền tệ, giảm lãi suất và tăng tổng cầu 1.5.3.3 Chính sách tiền tệ thắt chặt Cơ chế vận hành chính sách tiền tệ thắt chặt là chống lại lạm phát bằng cách: giảm cung tiền tệ, tăng lãi suất và giảm tổng cầu 1.6 Thương mại quốc tế Khi một nước tham gia Thương mại Quốc tế, khả năng tiêu thụ của nó luôn vượt quá khả năng sản xuất của nó. 1.6.1 Các chính sách bảo hộ 1.6.1.1Thuế quan Thuế quan là một loại thuế đặc biệt đánh trên hàng nhập khẩu, nó làm cho Thương mại Thế giới bị thu hẹp lại. 1.6.1.2 Hạn ngạch Hạn ngạch là giới hạn số lượng một loại hàng hóa có thể được nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định, nó làm giảm tính hiệu quả của Thương mại và lôi kéo hành động trả đũa. 1.6.1.3 Hiệp định hạn chế tự nguyện Thay cho áp đặt hạn ngạch nhập khẩu, Chính phủ một số nước thương lượng với các nhà sản xuất nước ngoài hạn chế xuất khẩu của họ (tự nguyện). 1.6.1.4 Hàng rào phi thuế quan khác Một số nước đưa ra các yêu cầu rất cao vè các tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn lao động, đóng gói, bao bì, nhãn hiệu,…làm cản trở cho Thương mại Quốc tế. 1.6.2 Thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối là thị trường Quốc tế mà trong đó đồng tiền các quốc gia này có thể đổi lấy đồng tiền của các quốc gia khác. 1.6.2.1Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái (exchange rate) là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền trong nước với đồng tiền nước ngoài. Tỷ giá thị trường được quyết định bởi cung và cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. 1.6.2.2 Các loại cơ chế tỷ giá Tỷ giá cố định (fixed exchange rate) là loại tỷ giá được quyết định bởi Chính Phủ. Tỷ giá hối đoái thả nổi (Floating Exchange rate) là loại tỷ giá được quyết định bởi cung cầu thị trường. Tỷ giá thả nổi có quản lý (Managed floating exchange rate) là Chính phủ có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối mà không hoàn toàn ấn định tỷ giá hối đoái. CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM NĂM 2010 SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 11
  • 12. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 2.1 Thực trạng lạm phát của Việt Nam năm 2010 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2010 được Tổng cục Thống kê công bố tăng 1.96% so với tháng trước đó. Đây là mức tăng CPI cao nhất trong vòng 17 tháng qua. Số liệu thống kê này cùng với quyết định điều chỉnh tỷ giá hối đoái, giá xăng dầu, giá điện, nước, than… trong thời gian gần đây và áp lực tăng giá hàng hóa sau dịp Tết Âm lịch đã khiến cho lo ngại về lạm phát một lần nữa được nhắc đến nhiều hơn. Báo cáo do Ngân hàng Thế giới nhận định tỷ lệ lạm phát của Việt Nam đột ngột dâng cao hơn dự kiến trong tháng 10 và 11. Cụ thể, đến cuối tháng 11, tỷ lệ lạm phát 11 tháng đứng ở mức gần 9,6%. Lạm phát giá lương thực hàng năm lên đến 14,8%, cao nhất kể từ tháng 4/2009. Mức lạm phát 2 con số của Việt Nam trong năm 2010 đã chính thức được khẳng định. Con số 11,75% tuy không quá bất ngờ nhưng vẫn vượt so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra hồi đầu năm gần 5%. Trong đó, yếu tố tiền tệ đóng góp tới 4,65% và các yếu tố khác góp 7,1%. Yếu tố tiền tệ đã có một “đóng góp” đáng kể trong sự gia tăng vượt chỉ tiêu (dù đã được điều chỉnh) của lạm phát năm 2010, đặc biệt là từ đầu quý 4. Tuy nhiên, trong những thông tin chính thống được phát đi từ Ngân hàng Nhà nước, hay đánh giá của đầu mối chuyên trách tư vấn, đó lại không do hoặc không phải là nguyên nhân chủ yếu. Đánh giá đưa ra là: đến quý 3/2010, về cơ bản, lạm phát được kiềm chế. Nhưng sang quý 4/2010, lạm phát tăng cao ngoài khả năng dự đoán. “Nguyên nhân chủ yếu không phải do sai lầm của chính sách và điều hành vĩ mô, chính sách tiền tệ trong năm cũng không phải là nhân tố làm cho lạm phát tăng cao. Nguyên nhân chính là xuất phát từ những nhân tố khách quan như sự bất ổn kinh tế, giá cả thế giới và một số yếu tố chủ quan nội tại của nền kinh tế”, thông tin từ Ngân hàng Nhà nước giới thiệu về nội dung tại cuộc họp cho biết. Trong năm 2010, giá cả một số hàng hóa thiết yếu thế giới tiếp tục tăng cao (giá dầu thô và giá xăng - gas tăng, sắt thép, nguyên vật liệu nhập khẩu tăng do kinh tế thế giới phục hồi, giá cả nguyên vật liệu tăng trên 10%), giá vàng biến động mạnh. Trung Quốc mất mùa nên đã thu hút hàng hóa của Việt Nam khá mạnh. Trong nước, dịch bệnh trong nông nghiệp, bão lũ nặng nề ở miền Trung làm ảnh hưởng khá lớn đến cung cầu hàng hóa, giá lương thực thực phẩm tăng do việc chủ động đưa giá lên để tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước và nông dân. Tăng lương cơ bản, tăng chi phí giáo dục, y tế. Do chi tiêu ngân sách và đầu tư công khá lớn những năm qua và cả năm 2010, kết hợp tỷ giá tăng, giá vàng tăng, yếu tố tâm lý kỳ vọng lạm phát trong dân dẫn đến tổng cầu tăng đột biến, làm giá tăng mạnh ở thời điểm quý 4/2010… Trong tháng 12/2010, mức tăng giá tiêu dùng (CPI) của cả nước là 1,98%, cũng là mức tăng cao nhất trong năm. Đóng góp chủ yếu vào con số này là mức tăng giá ở khu vực hàng ăn và dịch vụ ăn uống, tăng 3,31% (riêng lương thực tăng tới 4,67%). Cũng trong tháng này, giá nhà ở và vật liệu xây dựng cũng tăng mạnh tới 2,53%. Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2010, giáo dục mới là nhóm tăng giá mạnh nhất trong rổ hàng hóa tính CPI (gần 20%). Tiếp đó là hàng ăn (16,18%) và nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%). Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010. SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 12
  • 13. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 Về các địa phương, việc Hà Nội và TP HCM có mức tăng giá (lần lượt là 1,83% và 1,61%) thấp hơn so với trung bình cả nước trong tháng 12 là một diễn biến khá bất ngờ. Trong khi đó, những địa phương có mức trượt giá mạnh trong tháng (khoảng 2%) là Thái Nguyên, Hải Phòng và Gia Lai. Trong tháng 12, giá vàng và đôla Mỹ không leo thang mạnh như những tháng trước (lần lượt tăng 5,43% và 2,86%). Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2010, giá vàng đã tăng tới 30% trong khi mức tăng của đôla Mỹ là xấp xỉ 10%. Mặc dù năm 2010, bội chi ngân sách đã được kéo xuống còn dưới 6%, nhưng nếu tính cả huy động trái phiếu, thì tỷ lệ vẫn còn ở mức 7%. Đó là mức rất cao, không những là một trong những nguyên nhân của lạm phát cao, mà còn làm gia tăng nợ nần. Nhập siêu năm 2010, so với năm trước và so với kế hoạch năm, đã giảm và thấp hơn cả về kim ngạch tuyệt đối cũng như tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu, nhưng nhập siêu liên tục, kéo dài và hiện ở mức khá cao (năm 2007 là 14,2 tỷ USD, năm 2008 là 18,0 tỷ USD, năm 2009 gần 12,9 tỷ USD, năm 2010 khoảng 12 tỷ USD). Điều này đã tác động tiêu cực tới cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và tạo sức ép lên tỷ giá. Giá USD trên thế giới giảm, nhưng ở trong nước vẫn tăng (năm 2008 tăng 6,31%, năm 2009 tăng 10,7%, 11 tháng năm 2010 tăng 6,63%), làm tăng mạnh gánh nặng lạm phát … Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2010 vẫn cao ở đầu và cuối năm, thấp ở giữa năm. Nhưng bảo bất thường có thể chẳng sai, khi có đến nửa số tháng trong năm 2010, mức tăng CPI đã vượt qua 1%. Các tháng từ 9 đến 11, chỉ số giá tiêu dùng đều đạt kỷ lục của 15 năm trở lại đây. Diễn biến CPI năm 2010 như hình chiếc cốc, tạo bởi mức chênh lệch giữa tháng tăng đỉnh và đáy lên đến hơn 1,5%, khá tương đồng với năm 2007. Hai điểm cao nhất đều được tạo SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 13
  • 14. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 thành từ mức tăng xấp xỉ 2% của tháng 2 và tháng 12, trong khi đáy kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8, chỉ “bay là là” quanh mức 0%, xác định kỷ lục ngược với xu thể kể trên. Xuống chậm trong quý đầu năm, “ru ngủ” bằng mức tăng rất thấp giữa năm, để rồi lại dốc ngược rất sớm trong tháng 9, kéo dài mức tăng trên 1% liên tiếp 3 tháng sau đó, diễn biến CPI năm 2010 hình thành nên hai thời điểm thay đổi của cảm nhận về lạm phát, sau các cú đột biến “lao dốc” và “bốc đầu”. Lo ngại lạm phát một lần nữa được “treo” vào mức tăng 1,98% của tháng 12/2010. Xuống chậm sau Tết Tết Canh Dần rơi vào đầu tháng 2/2010, các mức tăng CPI hai tháng đầu năm đều trên 1% và tiến gần 2% cũng không phải quá bất thường, nhưng khác biệt trong năm nay lại rơi vào tháng 3, khi chỉ số giá tiêu dùng không chịu xuống mạnh như các năm trước. Tâm lý thị trường sau một năm 2009 lạm phát tương đối ổn định dường như không mấy lo ngại với các mức tăng 2 tháng trước Tết Nguyên đán. Vn-Index thể hiện xu hướng bật lên sau khi chỉ số giá tiêu dùng các tháng 1 và 2 được công bố. Từ điểm đáy đầu tiên vào ngày 22/1/2010, khoảng 477 điểm, chỉ số Vn-Index có một chu kỳ vận động đi lên, đến 15/3/2010 đạt khoảng 532 điểm (tăng xấp xỉ 10%). Tuy nhiên, tháng 3 bắt đầu “hứng chọn” các đột biến. Khởi động cho loạt nguyên nhân tác động này là việc Ngân hàng Nhà nước ngày 10/2/2010 đã công bố điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND tăng hơn 3% so với trước đó, đưa mức giá trần theo quy định lên 19.100 VND/USD. Trong khi đó, nhiều mặt hàng thuộc diện Nhà nước quản lý cũng chính thức được cho phép điều chỉnh lên mức giá mới, đồng loạt áp dụng từ ngày 1/3/2010: giá than bán cho điện tăng đến 47% tùy loại, giá điện tăng 6,8%, giá nước sạch tại Tp.HCM tăng khoảng 50%. Một tác động khác gây ảnh hưởng lớn đến giá cả và tâm lý người dân, ngay trước ngày các viên chức trở lại làm việc sau kỳ nghỉ Tết kéo dài, trưa 21/2/2010, giá xăng đột ngột được điều chỉnh tăng khoảng 3,6% cùng lúc dòng xe cộ ùn ùn đổ về các thành phố. Tiếp theo các diễn biến này, gas, xi măng, sắt thép… cũng kéo nhau tăng giá. Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) Nguyễn Tiến Thỏa khi ấy tỏ ra lo ngại. “Có thể đợi đến khi có chỉ số tăng giá của tháng 3 thì chúng ta sẽ có những điều chỉnh về chính sách tiền tệ, đầu tư, chi tiêu của Chính phủ cho phù hợp”, ông phát biểu với báo giới. Ngay sau đó, từ ngày 15/3/2010 những thông tin về khả năng CPI tháng sau Tết tăng cao đã được một số nguồn tin dự báo sớm. Con số chính thức sau đó chốt lại mức tăng 0,75%, chỉ kém năm 2008 đột biến nhưng tương đương năm 2004 và 1996. So với tháng 12/2009, CPI tháng 3/2010 đã tăng 4,12%. Ở những năm bình thường, chỉ số giá tiêu dùng quý 1 thường chiếm khoảng một nửa mức tăng cả năm. Do vậy, lo ngại đột ngột dấy lên. Nửa cuối tháng 3, thị trường chứng khoán chứng kiến giai đoạn xụt giảm mạnh, chỉ số Vn-Index về đáy vào ngày 31/3/2010, ở mức dưới 500 điểm, mất khoảng 6% so với đỉnh 15/3/2010. Trong cuộc họp Chính phủ thường kỳ tháng 3, thông điệp về hướng chính sách trong năm được phát đi, theo đó sẽ tập trung mạnh vào ổn định nền kinh tế, đặc biệt là kiềm chế lạm phát. SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 14
  • 15. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 Một mục tiêu quan trọng đặt ra lúc bấy giờ là tăng trưởng cung tiền cả năm giới hạn ở 20% so với cuối năm 2009, tăng trưởng tín dụng 25%. “Giấc ngủ” kéo dài Nhưng việc “nằm sàn” trong 5 tháng kế tiếp cũng là một đột biến đáng nhắc đến của lạm phát năm nay. Sau CPI tháng 3 được công bố, nhiều phân tích cho rằng đỉnh điểm lạm phát năm nay có thể rơi vào tháng 4 - 5, với lập luận rằng mức tăng mạnh cung tiền và tín dụng cuối năm 2009 (tăng khoảng 29% và 38% cả năm) cộng độ trễ khoảng 5 - 7 tháng sẽ hợp với thời điểm ấy. Tuy nhiên, kịch bản đã không đúng như nhiều suy luận và cảnh báo sớm. Trong khoảng 5 tháng từ tháng 4 đến tháng 8, chỉ số giá tiêu dùng liên tục tăng rất thấp, về gần sát mức 0% (tháng 7 chỉ tăng 0,06% so với tháng 6). Xét về cao độ, các mức tăng này lập kỷ lục về độ thấp kể từ 2004 đến nay. Tăng thấp giai đoạn giữa năm, thậm chí có năm giảm một số tháng, không phải là bất thường do sản xuất ở giai đoạn này đã vào guồng, cung cầu không có đột biến lớn. Tuy nhiên, mức tăng thấp kỷ lục của các tháng giữa năm 2010 có sự khác biệt, một phần nhờ hiệu quả các chính sách vĩ mô. Một ví dụ, trong cả thời kỳ dài, việc kìm giữ giá xăng dầu được thực hiện rốt ráo với quỹ bình ổn liên tục được sử dụng trong những thời điểm có biến động. Thậm chí, Bộ Tài chính vào đầu tháng 6 còn ban hành công văn yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối giảm giá đối với các mặt hàng xăng dầu. Động thái này ngay lập tức có tác động hạn chế tăng CPI tháng 7 ở mức rất thấp như nói trên. Cũng giai đoạn này xuất hiện sự điều chỉnh đáng kể ở các tương quan ảnh hưởng đến giá tiêu dùng. Sức mua tăng đột ngột thể hiện ở tổng mức bán lẻ đi lên trong tháng 4 và đến tháng 5 đạt mức tăng gần 27% so với cùng kỳ, đi kèm với nó là chỉ số tồn kho giảm tốc. Một tham khảo đối với ngành công nghiệp chế biến, chỉ số tồn kho tăng 27,5% so với cùng kỳ vào tháng 5. Tuy nhiên, xu thế này thay đổi nhanh chóng. Tổng mức bán lẻ so với cùng kỳ liên tục trượt xuống mức tăng thấp hơn qua từng tháng, nguyên nhân là do cung tiền và tín dụng không hỗ trợ chi tiêu trong thời gian này. Vào cuối tháng 7, tổng phương tiện thanh toán M2 và tín dụng mới đạt mức tăng gần 13% so với cuối năm 2009, chỉ bằng một nửa so với mục tiêu cho phép. Lập tức, chỉ số tồn kho công nghiệp chế biến tăng lên 38,6% vào tháng 6 và giữ ở mức trên 37% trong hai tháng kế tiếp. Ở vào thời điểm đó, nhiều phân tích cho rằng, với khả năng tiêu thụ khó khăn và tồn kho lớn, giá cả nhiều loại hàng hóa đang bị kìm lại và có thể bật lên bất cứ lúc nào. Vấn đề là cần một cú hích từ dòng tiền đổ thêm vào nền kinh tế, điều này sau đó thành hiện thực. Không được hỗ trợ từ tiêu dùng, tồn kho tăng cao gây sức ép lên sản xuất. Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp theo tháng không tạo được bứt phá kể từ tháng 4. Mức tăng trưởng đi xuống dần và đến tháng 10/2010, giá trị sản xuất công nghiệp đã giảm 3,4% so với tháng 9. Để hỗ trợ sản xuất, trong giai đoạn này Hiệp hội ngân hàng nỗ lực giảm lãi suất thông qua thỏa thuận với các thành viên. Tuy nhiên sau một thời gian khá dài, lãi suất chỉ được điều chỉnh với biên độ rất thấp, không hỗ trợ được nhiều cho doanh nghiệp nhưng vẫn đủ góp sức kìm lạm phát. SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 15
  • 16. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 Với vai trò “hàn thử biểu” của nền kinh tế, trong suốt giai đoạn từ đầu tháng 5 đến cuối tháng 8, Vn-Index kéo một đường dài sụt giảm. Đạt đỉnh vào ngày 5/5 ở gần 549 điểm, sau 4 tháng liên tục đi xuống, đến 25/8 VN-Index chạm đáy ở mức 427 điểm, mất trên 22%. “Bốc đầu” tăng mạnh Bốn tháng cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng liên tục duy trì ở mức cao. Có tới 3 tháng đạt kỷ lục về cao độ, cho thấy sức nóng của lạm phát đã ở gần. Điểm lại các nguyên nhân tác động đến lạm phát trong giai đoạn này, yếu tố chủ quan không ít hơn khách quan.Vào khoảng tháng 8, sự đổi hướng chính sách lại được ghi nhận. Những động thái thay đổi trên thực tế đều cho thấy việc kiểm soát lạm phát dường như đã lơ là hơn, trong khi quan điểm ưu tiên cho tăng trưởng lại trỗi dậy. Ngày 9/8, giá xăng dầu sau một thời gian dài được giữ cố định đã điều chỉnh tăng lên khoảng 2,5%, đẩy CPI tháng 9 vào vòng thử thách mới. Không lâu sau đó, ngày 18/8, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND với USD lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%) và giữ nguyên biên độ tỷ giá +/-3%. Các địa phương cũng không thiếu phần góp trong việc tăng giá CPI giai đoạn này. Khi mà Nghị định 49/NĐ-CP cho phép điều chỉnh học phí có lộ trình, các tỉnh, thành phố đã đồng loạt tăng học phí lên rất cao trong tháng 9, dẫn tới nhóm giáo dục và đào tạo góp phần làm cho CPI tháng đó tăng tới 0,7%. Vẫn chưa hết, Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội kéo dài 10 ngày cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 10. Lại thêm lũ lụt diễn ra liên miên tại miền Trung kéo dài thêm chuỗi tác động đễn chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn cuối năm. Trong khi đó, dưới tác động từ giá thế giới, gạo xuất khẩu liên tục lên giá đẩy mặt bằng giá trong nước lên theo. Cả năm 2010, giá sàn xuất khẩu gạo đã được điều chỉnh tăng đến 6 lần. Riêng giai đoạn cuối năm, giá gạo tăng bình quân khoảng 3 - 4%/tháng, kéo dài từ tháng 8 đến những ngày cuối cùng năm dương lịch. Bồi thêm cú chót, từ khoảng trung tuần tháng 10, thị trường lại ghi nhận các đợt leo thang của giá vàng và USD, trong bối cảnh xu hướng CPI đã bắt đầu tăng cao. Yếu tố tâm lý thể hiện trong diễn biến giá cả giai đoạn này, ở một số thời điểm, sức áp đặt lên chỉ số giá là đáng kể. Nhưng điểm đáng lưu ý là chính sách tiền tệ đã nới lỏng hơn. Từ mức tăng chỉ chưa đầy 13% vào cuối tháng 7, tổng phương tiện thanh toán và tín dụng được “bồi đắp” nhanh chóng, đến cuối tháng 11 đã đạt mức tăng 22,54% với M2 và 26,31% với tín dụng, so với cuối năm 2009. Ghi nhận tích cực từ chính sách nới lỏng, giá trị sản xuất công nghiệp tháng 11 đã tăng 4,9% so với tháng 10 và dự kiến tháng 12 này còn tăng khoảng 6% so với tháng trước. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến cũng giảm dần về mức 28% tăng hơn so với cùng kỳ, chốt tại đầu tháng 12. Trong khi đó, thị trường chứng khoán cũng trải qua giai đoạn đi ngang, Vn-Index dao động trong khoảng hẹp kéo dài từ giữa tháng 9 đến đầu tháng 11, sau đó xuất hiện dấu hiệu đi lên. Nhưng trước sức nóng của lạm phát tăng cao, đến đầu tháng 11, tín hiệu thắt chặt lại xuất hiện. Ngày 5/11, các lãi suất chủ chốt được điều chỉnh tăng thêm 100 điểm cơ bản. Cung tiền và tín dụng cũng thu hẹp tốc độ tăng, chốt lại cả năm M2 còn tăng 23%, tín dụng tăng 27,65% so SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 16
  • 17. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 với cuối năm 2009. Thể hiện trên Vn-Index, từ giữa tháng 12 đến nay, chỉ số thị trường đang trong chuỗi giảm điểm liên tiếp, hướng tới ngưỡng hỗ trợ 467 điểm. Nhìn trong cả năm 2010, diễn biến CPI gần như song hành cùng những thay đổi chính sách vĩ mô và can thiệp thị trường từ cơ quan chức năng. Những ngày năm mới đang đến cũng đóng lại một năm lạm phát không đạt chỉ tiêu, nhưng còn neo lại những đoán định về hướng điều chỉnh chính sách có thể xuất hiện trong đầu năm tới. 2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát trong năm 2010 Các yếu tố tác động đến lạm phát trong năm 2010 dưới ba nhóm chính: nguyên nhân chi phí đẩy (tăng giá xăng dầu, điện nước, điều chỉnh tỷ giá...), nguyên nhân cầu kéo (kích cầu, thâm hụt ngân sách…), nguyên nhân tiền tệ (tăng cung tiền, tăng tín dụng…). • Điều chỉnh giá điện, xăng dầu và một số hàng hóa cơ bản khác Sau dịp Tết Nguyên đán, giá nhiều mặt hàng cơ bản đã được điều chỉnh tăng. Giá điện tăng 6.8% từ 01/3/2010, giá xăng dầu điều chỉnh tăng 6.5% (tổng cộng 2 lần), than bán cho ngành điện tăng từ 28 – 47%. Phần lớn ý kiến đều quan ngại việc tăng giá điện và các hàng hóa cơ bản này sẽ ảnh hưởng mạnh đến giá cả hàng hóa trong toàn bộ nền kinh tế và mức tăng trưởng GDP. Tuy vậy, theo tính toán của Bộ Công thương việc tăng giá điện tác động trực tiếp chỉ làm CPI tăng 0.16%. Một số ngành công nghiệp với chi phí tiền điện cao (chiếm 30 - 40% giá thành) như cấp nước, điện phân… giá đầu ra sản phẩm tăng thêm khoảng 2.83 – 3.5%. Những ngành sản xuất thâm dụng năng lượng khác như cán thép, xi măng giá thành tăng thêm khoảng 0.20 – 0.69%. Tổng hợp chi phí tiêu dùng cuối cùng chỉ tăng từ 0.19 – 0.27%. Thực tế, ước lượng mức độ tác động thực sự của việc tăng giá hàng hóa cơ bản này đến CPI là việc làm khó khăn. Việc tăng giá điện, xăng dầu ngoài ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, còn tác động lên kỳ vọng của người tiêu dùng. Nếu kỳ vọng về mức lạm phát cao trong tương lai thì mức lạm phát thực tế càng trở nên trầm trọng. Điều này thường xảy ra đối với những nền kinh tế mà cơ chế thị trường kém hiệu quả. • Ảnh hưởng của việc điều chỉnh tỷ giá Ngày 10/02, Ngân hàng Nhà nước quyết định điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng tăng thêm 3.3%, đưa mức trần tỷ giá chính thức lên 19.100 VND/USD. Nhiều nhận định cũng quan ngại về việc điều chỉnh tỷ giá này sẽ ảnh hưởng tới đà tăng giá của hàng hóa trong nước, vì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hiện nay đã bằng khoảng 1.5 lần GDP. Nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu của Việt Nam bị ảnh hưởng khá mạnh bởi tỷ giá. Vừa qua một số hàng hóa như sữa, sắt thép… cũng điều chỉnh giá bán sau khi tỷ giá được điều chỉnh. Hiện nay, nhiều nhận định còn cho rằng tỷ giá tiền đồng vẫn có khả năng tiếp tục được điều chỉnh trong thời gian tới. Do vậy, đây cũng là một trong những nguyên nhân rất đáng được quan tâm. • Hiệu ứng từ việc tăng lương tối thiểu Năm 2010, mức lương cơ bản được điều chỉnh tăng khoảng 10-15%, tùy từng khu vực. Việc tăng lương tối thiểu sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp và ảnh hưởng tới SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 17
  • 18. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 giá cả hàng hóa. Ngoài ra, việc tăng lương tối thiểu cũng có thể tạo ra một hiệu ứng tăng giá ăn theo trên thị trường. • Lạm phát do yếu tố cầu kéo Lạm phát do cầu kéo xuất phát từ sự chênh lệch cung cầu làm cho giá hàng hóa biến động mạnh. Khi nhu cầu tăng cao đột biến trong khi nguồn cung chưa kịp thay đổi hoặc ngược lại khi nguồn cung giảm xuống cầu vẫn giữ nguyên đều làm cho giá hàng hóa tăng. Trong dịp Tết Âm lịch vừa qua, giá của nhiều hàng hóa tăng một cách đột biến là do nguyên nhân cầu kéo. Năm 2009, các gói kích thích kinh tế và việc tăng chi tiêu của chính phủ khiến nhu cầu một số hàng hóa tăng mạnh. Hiệu ứng từ việc gia tăng nhu cầu này tiếp tục kéo dài sang năm 2010, gây sức ép lên giá cả nhiều hàng hóa. Ngoài ra, năm 2010 người dân có thể sẽ tăng cường chi tiêu khi triển vọng kinh tế khả quan hơn, tạo ra một sức cầu lớn hơn đối với nhiều loại hàng hóa. • Lạm phát từ nguyên nhân tiền tệ Năm 2009, chính sách tiền tệ được mở rộng, lãi suất và tỷ lệ dự trữ bắt buộc được ấn định ở mức thấp. Tăng trưởng tín dụng năm 2009 lên đến 37.74%, và là mức khá cao so với trung bình những năm vừa qua. Tăng trưởng cung tiền M2 lên mức 28.7%, mức tăng này thấp hơn so với năm 2006 và 2007, nhưng vẫn khá cao so với năm 2008 và những năm còn lại trước đó. Tăng trưởng tín dụng và cung tiền cao trong năm 2009 sẽ ảnh hưởng đến lạm phát trong năm 2010. Chúng ta đều biết lạm phát có quan hệ chặt chẽ với cung tiền, nhưng thường có độ trễ từ 5 – 7 tháng. 2.3 Hậu quả của lạm phát Ngoài trường hợp lạm phát nhỏ, lạm phát vừa phải (lạm phát một con số) có tác dụng tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế xã hội, còn lại nói chung lạm phát đều gây ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển đi lên của nền kinh tế xã hội. • Lạm phát làm cho tiền tệ không còn giữ được chức năng thước đo giá trị hay nói đúng hơn là thước đo này co dãn thất thường, do đó xã hội không thể tính toán hiệu quả, điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của mình. • Tiền tệ và thuế là hai công cụ quan trọng nhất để nhà nước điều tiết nền kinh tế đã bị vô hiệu hóa, vì tiền tệ bị mất giá nên không ai tin vào đồng tiền nữa, các biểu thuế không thể điều chỉnh kịp với mức độ tăng bất ngờ của lạm phát và do vậy tác dụng điều chỉnh của thuế bị hạn chế, ngay cả trong trường hợp nhà nước có thể chỉ số hóa luật thuế thích hợp với mức lạm phát, thì tác dụng điều chỉnh của thuế cũng vẫn bị hạn chế. • Phân phối lại thu nhập, làm cho một số người nắm giữ các hàng hóa có giá trị tăng đột biến giàu lên nhanh chóng và những người có các hàng hóa mà giá cả của chúng không tăng hoặc tăng chậm và người giữ tiền bị nghèo đi. • Kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hóa, bất động sản, vàng bạc…gây ra tình trạng khan hiếm hàng hóa không bình thường và lãng phí. • Xuyên tác bóp méo các yếu tố của thị trường làm ch các điều kiện của thị trường bị biến dạng. Hầu hết các thông tin kinh tế đều thể hiện trên giá cả hàng hóa, giá cả tiền tệ, giá SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 18
  • 19. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 cả lao động…Một khi những giá cả này tăng hay giảm đột biến và liên tục thì các yếu tố của thị trường không thể tránh khỏi bị thổi phồng hoặc bóp méo. • Sản xuất phát triển không đều, vốn chạy vào những ngành nào có lợi nhuận cao. • Ngân sách bội chi ngày càng tăng trong khi các khoản thu ngày càng giảm về giá trị. • Đối với ngân hàng, lạm phát làm cho hoạt động bình thường của ngân hàng bị phá vỡ, ngân hàng không thu hút được các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội. • Đối với tiêu dùng: làm giảm sức mua thực tế của nhân dân về hàng tiêu dùng và buộc nhân dân phải giảm khối lượng hàng tiêu dùng, đặc biệt là đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng khó khăn. Mặt khác lạm phát cũng làm thay đổi nhu cầu tiêu dùng, khi lạm phát gay gắt sẽ gây nên hiện tượng là tmf cách tháo chạy ra khỏi đồng tiền và tìm mua bất cứ hàng hóa dù không có nhu cầu. Từ đó làm giàu cho những người đầu cơ tích trữ. 2.4 Một số giải pháp nhằm hạn chế lạm phát của Việt Nam năm 2010 Về chính sách tiền tệ : mục tiêu đầu tiên của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng nội trên cơ sở kiểm soát lạm phát. Chúng ta đều biết vấn đề quan trọng là kiểm soát lạm phát chứ không phải triệt tiêu nó ví tỉ lệ lạm phát vừa phải sẽ có những tác động tích cực lên nền kinh tế. Trách nhiệm này thuộc về ngân hàng Nhà nước, thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ của mình ngân hàng Nhà nước sẽ phải cố gắng điều tiết mức cung tiền cho hợp lý. Vì vậy vấn đề nâng cao trình độ của các nhà hoạch định chính sách cũng rất quan trọng. Về chính sách tài khoá : đối với nước ta hiện nay thì vấn đề đặt ra là phải kiện toàn bộ máy Nhà nước, cắt giảm biên chế quản lý hành chính. Thực hiện tốt biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc cắt giảm chi tiêu thường xuyên của Chính phủ , trên cơ sở đó làm giảm bội chi ngân sách nhà nước. Thắt chặt chính sách tiền tệ Ngay từ đầu năm 2011 phải xác định cơ chế điều hành chính sách tiền tệ rõ ràng, công khai, minh bạch và thực hiện xuyên suốt trong cả năm, nhằm kiểm soát tốt lạm phát. Theo Thống đốc Nguyễn Văn Giàu, hiện Ngân hàng Nhà nước đã trình Thủ tướng phương án điều hành lãi suất, tỷ giá, theo hướng linh hoạt hơn. Nếu được Thủ tướng đồng ý, sắp tới Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố định hướng điều hành lãi suất cả năm. Ông Giàu cũng cho biết, lúc lạm phát cao sẽ đảm bảo tỷ lệ lãi suất thực dương thấp, khoảng 0,5%, còn khi thị trường ổn định, nâng tỷ lệ thực dương cao hơn - có thể trên 1% , để không tác động tiêu cực đến thị trường tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước còn tập trung thực hiện mục tiêu đạt tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán là 21 - 24%, tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế khoảng 23%, tỷ giá ở mức cân bằng, đảm bảo khả năng an toàn thanh toán của hệ thống tín dụng và ổn định thị trường tiền tệ. Kiềm chế lạm phát không quá 7% Người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước kiến nghị, để đạt mục tiêu kiềm chế lạm phát không quá 7% trong năm 2011và ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ rất cần nhận được sự SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 19
  • 20. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 phối hợp đồng bộ của chính sách tài khoá. Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh cam kết, trong quá trình triển khai các chính sách tài khóa, sẽ phối hợp sát với Ngân hàng Nhà nước và bộ ngành liên quan. Bộ Tài chính sẽ tập trung kiểm soát tiết kiệm chi tiêu ngân sách, tăng cường quản lý nợ công, nợ của doanh nghiệp nhà nước. Việc huy động các nguồn vốn vay của Chính phủ sẽ được tiến hành trên cơ sở tiến độ giải ngân, tránh đọng vốn. Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư Võ Hồng Phúc đề xuất giải pháp mạnh: từ đầu năm, cần phấn đấu giảm bội chi ngân sách bằng cách cắt giảm chi, nhất là giảm chi đầu tư, xuống 3 - 3,5% GDP. Chi ngân sách theo đúng dự toán đã được Quốc hội thông qua. Tất cả các khoản chi vượt thu ngân sách so với dự toán, phải đưa vào Quỹ dự phòng; không phân bổ, tăng các khoản chi cao hơn dự toán đã phê duyệt. “Đặc biệt, không phân bổ đầu tư Nhà nước vào các ngành mà tư nhân trong nước có thể kinh doanh, như dịch vụ thương mại, nhà hàng, khách sạn; đồng thời, cổ phần hoá hoặc bán các cơ sở kinh doanh thuộc sở hữu Nhà nước cho tư nhân trong nước, theo quy định có liên quan về cải cách doanh nghiệp nhà nước”, ông Phúc nhấn mạnh. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho rằng, cắt giảm đầu tư Nhà nước cần đi liền với nâng cao hiệu quả đầu tư, nhằm giảm hệ số ICOR (hệ số sử dụng vốn). Đây là giải pháp căn cơ để giảm nhu cầu vốn, giải tỏa áp lực tăng cung tiền phục vụ đầu tư, cũng như nền kinh tế, nhằm chủ động ngăn ngừa lạm phát. Khống chế nhập siêu dưới 20% Đây là nhận định của Thứ trưởng Công thương Nguyễn Thành Biên, tại cuộc họp giao ban xuất nhập khẩu chiều 30/12. Năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009, nhập khẩu tăng tới 20,1%, đạt 84 tỷ USD. Nhập siêu cả năm 2010 khoảng 12,3 tỷ USD, với tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu khoảng 17,3%, đạt chỉ tiêu Chính phủ đặt ra, là không quá 20%. Hai mặt hàng thuộc nhóm không khuyến khích nhập khẩu giảm về kim ngạch trong năm nay là ô tô và xe máy nguyên chiếc. Nhập khẩu xăng dầu cũng giảm, một phần do trong nước đã đáp ứng được nhờ Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động. CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC KINH TẾ VĨ MÔ 3.1 Giảng dạy học phần 3.1.1 Giáo trình, số tiết, đội ngũ giảng viên, tài liệu học tập • Giáo trình: nói chung giáo trình cung cấp cho việc học tập của sinh viên mang tính chất là tương đối đầy đủ các kiến thức cơ bản mang tính tầm vĩ mô của một nền kinh tế, nhưng chưa mang tính cập nhật những thông tin mới trong tình hình kinh tế xã hội biến động như hiện nay. Giáo trình được in và xuất bản trong một lần và được sử dụng trong một thời gian dài, điều đó làm cho những sinh viên tiếp nhận những kiến thức cũ trong vài năm trước, làm cho sinh viên không có những kiến thức linh hoạt xác thực với tình hình hiện tại, việc nghiên cứu không mang tính chất logic với lý thuyết và thực tiễn. • Số tiết học: với một môn học khái quát của một nền kinh tế, số lượng tiết học dành cho cao đẳng nghề là 45 tiết là tương đối, nhưng có thể học tốt cho môn này chúng ta có thể học là 60 tiết để kiến thức được kỹ càng và tạo nên một nền móng cho các môn học kế tiếp. SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 20
  • 21. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 • Đội ngũ giảng viên: giảng viên truyền đạt kiến thức trong vấn đề môn học kinh tế vĩ mô nói chung là còn thô, có nghĩa là khô khan trong giờ học, tạo cho sinh viên có cảm giác mệt mỏi them, không hứng thú trong giờ học. Trong giờ học giảng viên chỉ có nhiệm vụ truyền đạt kiến thức, thông tin ở đây chỉ là một chiều. Giảng viên không có tạo cho không khí học tập mang tính chất thảo luận và tranh luận với nhau. Vì vậy, điều đó sẽ làm cho buổi học có vẻ nhàm chán và giống như là thu nạp kiến thức từ giảng viên chứ không có sự ngược lại. • Tài liệu học tập: đa phần là những tài liệu cũ, chưa có sự cập nhật hay bổ sung những tài liệu mới, kho tài liệu cho các ngành kinh tế nói chung là chưa đồi dào về tài liệu để sinh viên tìm kiếm và tham khảo, sách báo kinh tế cũng mang một con số khá khiêm tốn. 3.1.2 Cơ sở vật chất: máy chiếu, âm thanh, thư viện, phòng học nhóm • Máy chiếu: với tình hình hiện nay, đa phần là tất cả các phòng học đều có máy chiếu để phục vụ cho việc giảng dạy của giảng viên và trình bày các đề tài của sinh viên trong những giờ thuyết trình. Nhưng mặt khác, những phòng mới thì có máy chiếu mới ngược lại thì các phòng cũ thì tình hình máy chiếu lại xuống cấp trầm trọng, hình ảnh không rõ nét, màu sắc thì bị xuống màu, có máy có những màu không thể nào học được, buộc giảng vien phải mượn máy chiếu khác điều đó làm cho thời gian giảng dạy của một buổi đó bị mất đi vài chục phút. Ngoài ra, sự quá tải của các lớp làm cho máy chiếu của quá tải theo, theo những lời phàn nàn của giảng viên là đến sớm thì mới có máy chiếu để dạy, còn đến trễ thì đành dạy chay một buổi đó, khi nào có thì hay. • Âm thanh giảng dạy: tất cả các phòng học đều được trang bị hệ thống âm thanh cho việc giảng dạy thuận tiện hơn, rõ ràng hơn, sinh viên tiếp nhận nhanh chóng hơn. Ngoài ra, một số phòng âm thanh còn nhiễu song làm cho việc dạy khó khăn, điều đó không những sinh viên không nghe được mà càng làm cho việc ồn ào hơn trong giờ học. Mặt khác, giữa những phòng học gần nhau thì âm thanh có vẻ mạnh ai nấy giảng, sinh viên ngồi phòng này thì có thể nghe giọng nói giảng bài của giảng viên của hai phòng còn lại, làm cho sinh viên rối loạn trong việc tiếp nhận những thông tin nào là quan trong, gây sức ép cho bộ não xử lý. • Thư viện: phần lớn là cung cấp đầy đủ các sách tham khảo cho sinh viên trong việc nghiên cứu và tim kiếm các kiến thức thêm. Nhưng hiện nay, lượng sinh viên tại trường tăng lên với một con số đáng kể, nơi dành cho sinh viên đọc sách trong thư việc cũng quá tải khiến cho một số sinh viên không sử dụng được dịch vụ thư viện này. • Phòng học nhóm: không đáp ứng đủ cho sự gia tăng của sinh viên trong trường với nhu cầu thảo luận theo nhóm đang tăng cao so với trước đây. Không gian phòng học nhóm tương đối là phù hợp. 3.1.3 Tính hữu ích, thiết thực môn học: môn kinh tế vĩ môn sẽ cung cấp cho sinh viên những kiến thức chung về một nền kinh tế, hiểu được tình hình kinh tế và sự biến động của nền kinh tế với các yếu tố kinh tế như lạm phát, thất nghiệp, GDP,…từ đó có thể vận dụng trong công việc sau khi tốt nghiệp, thực hiện việc phân tích các nguồn thông tin để biết được tầm ảnh hưởng của nó để có thể đưa ra các quyết định đúng đắn. 3.1.4 Một số nhận xét khác SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 21
  • 22. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 Phòng học: đa phần là các phòng học không có hướng đón ánh sáng trực tiếp cho nên mỗi khi học phải mở điện liên tục, tạo nên sự hao phí về nguồn năng lượng điện năng, tăng sự gia tăng cận thị ở sinh viên khi phải học trong những phòng học đó, những phòng học này tạo cho sinh viên đang học có cảm giác hầm nóng và có gió nhưng lại tạo nên cơn nóng hơn. 3.2 Đề xuất biện pháp Luôn luôn cập nhật và cung cấp những nguồn thông tin về những kiến thức mới qua các tư liệu, sách, báo, tạp chí,… Điều chỉnh hay sửa chữa lại tất cả các máy chiếu hoặc thay những máy chiếu nào không còn sử dụng được, để nhằm mục đích giúp sinh viên học tập tốt hơn. Âm thanh nên cần điều chỉnh phù hợp với tần số, tránh gây nhiễu song giữa các phòng. Phòng học nên thiết kế theo kiểu cách âm thanh giữa các phòng với nhau và tạo sự thoáng mát với không khí bên ngoài. Lượng sinh viên đầu vào nên được thắt chặt, để giảm sự quá tải của các dịch vụ cung cấp cho sinh viên kèm theo, để nâng cao chất lượng học tập của sinh viên. Hệ thống Internet (Wifi) nên được phủ sóng mạnh trong toàn trường, để giúp cho sinh viên có thể tìm kiếm các thông tin ngay trong giờ học để các cuộc thảo luận mang tính thiết thực, sinh động và thực tế hơn. KẾT LUẬN Chúng ta nhận thức rằng quá trình đấu tranh chống lạm phát không đơn giản ngày một ngày hai. Nó là căn bệnh kinh niên, việc xóa bỏ hoàn toàn lạm phát thì cái giá phải trả không tương xứng với lợi ích đem lại. Vì vậy, nên duy trì một tỷ lệ lạm phát một cách hợp lý sẽ mang lại cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn. Tình hình diễn biến lạm phát năm 2010 của Việt Nam diễn ra một cách phức tạp và gia tăng ngoài sự mong đợi và ý muốn của Nhà nước. Vì thế để khống chế lạm phát ở một mức vừa phải thì Nhà nước cần thực hiện các chính sách kiềm chế lạm phát đúng mức và hợp từng thời SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 22
  • 23. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 điểm để trách các tác dụng ngược lại ảnh hưởng cho nền kinh tế, tìm ra những nguyên nhân tác động đến lạm phát làm cho lạm phát gia tăng, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục. Lạm phát luôn rình rập và đe dọa nền kinh tế bất cứ lúc nào. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước cần phải luôn thận trọng trong mỗi bước đi của minh để đảm bảo cho nền kinh tế nước ta phát triển vững mạnh làm nền tảng để phát triển khoa học, giáo dục, đuổi kịp sự phát triển của các nước trong khu vục nói riêng và các quốc gia trên thế giới nói chung. Điều này không chỉ của riêng ai mà là một phần không nhỏ dành cho các nhà doanh nghiệp trẻ góp phần làm rạng danh đất nước trong nhiều năm tới. Kinh tế vĩ mô là một môn học giúp cho sinh viên am hiểu về các vấn đề kinh tế ở cấp vĩ mô như lạm phát, thất nghiệp, chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ,…của một quốc gia là điều hết sức cần thiết đối với mỗi sinh viên của khối ngành Kinh tế. Trong quá trình đào tạo môn kinh tế vĩ mô tại trường và đem ra ứng dụng với thực tiễn, em thấy môn kinh tế vĩ mô này giúp em rất nhiều trong việc phân tích và có cái nhìn về các vấn đề kinh tế nóng hổi của nền kinh tế Việt Nam như hiện nay. Và là cơ sở để cho em đưa ra các nguyên nhân, tác nhân và là các tác động đến các vần của chiến lược marketing, đó là môn chuyên ngành mà em theo học. Môn kinh tế vĩ mô, đó là một môn nền tảng, cho nên chúng ta cần phải nắm được các vấn đề căn bản của một nền kinh tế để thuận tiện cho các đánh giá các vấn đề ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Trong quá trình thực hiện chuyên đề, thì em không thể không tránh những thiếu sót mong được sự đánh giá và đóng góp ý kiến của các giảng viên khoa Quản trị kinh doanh để bài chuyên đề của em được hoàn thiện hơn. Tài liệu tham khảo Sách TS. Nguyễn Minh Tuấn và Ths. Trần Nguyễn Minh Ái – Giáo trình kinh tế vĩ mô – Nhà xuất bản Lao động xã hội – 2006. Một số Website: www.baomoi.com www.nld.com.vn SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 23
  • 24. Chuyên đ t t nghi p L m Phátề ố ệ ạ 2010 www.nhandan.com.vn www.vneconomy.vn SVTH Nguy n Hoàng Thái Ph ngễ ươ Page 24 Hình 1. Diễn biến chỉ số CPI năm 2009 và 2010