Kinh te phat trien 45F nhom 2(ĐHTM)

2,852 views
2,742 views

Published on

1 Comment
1 Like
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
2,852
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
38
Comments
1
Likes
1
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Kinh te phat trien 45F nhom 2(ĐHTM)

  1. 1. LỜI NÓI ĐẦU Ở bất cứ đất nước nào, dù là nước nghèo hay nước giàu, nông nghiệp đềucó vị trí quan trọng. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nềnkinh tế cung cấp những sản phảm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho conngười tồn tại. Trong quá trình phát triển kinh tế, nông nghiệp cần được pháttriển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực và thực phẩm của xãhội. Vì thế, sự ổn định xã hội và mức an ninh về lương thực và thực phẩm củaxã hội phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp. Những năm qua kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn, tốcđộ tăng trưởng GDP cao và ổn định. Đời sống của người dân không ngừng đượccải thiện. Đến năm 2009 chúng ta đã thoát khỏi tình trạng là nước nghèo. Cóđược những thành tựu to lớn này là có sự đóng góp công sức của toàn Đảng,toàn quân, toàn dân và của tất cả các ngành các cấp trong đó có sự đóng góp tolớn của ngành nông nghiệp. Việt Nam vẫn được coi là nước nông nghiệp với khoảng trên 80% dân sốsống ở nông thôn và khoảng 74,6% lực lượng lao động làm nông nghiệp. Có thểnói nông nghiệp, nông thôn là bộ phận quan trọng trong nên kinh tế quốc dâncủa Việt Nam. Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới vấn đề phát triển nông nghiệp, nôngthôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, và coi đó nhiệm vụchiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định tình hình chính trị - xã hội, sự pháttriển hài hoà và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước. Chính nhờ được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước mà trongnhững năm qua ngành nông nghiệp và nông thôn đã gặt hái được nhiều thànhtựu. Nông nghiệp Việt Nam không những đảm bảo tự cung tự cấp mà còn trởthành một cường quốc trên thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó ngành nông nghiệp ViệtNam cũng còn có một số mặt hạn chế cần phải khắc phục như vấn đề phát triểnnông nghiệp kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa thực sự xử dụng hiệu quảvà phát huy hết các nguồn lực .... Do dó với mong muốn tìm hiểu thực trạng nền nông nghiệp nước nhà vàđề xuất một số giải pháp để phát triển tốt hơn ngành nông nghiệp,nhóm chúngem đã chọn tiến hành nghiên cứu đề tài : ” Phát triển nông nghiệp bền vững củaViệt Nam hiện nay ”.Phần I: Một số lý thuyết chung về phát triển nông nghiệpbền vững
  2. 2. 1.1 Một số vấn đề cơ bản về nông nghiệp:1.1.1 Đặc điểm của nông nghiệp : Trong nền kinh tế, sự phát triển của nông nghiệp cũng gắn liền với quátrình phát triển kinh tế nói chung, tuy nhiên với những đặc điểm riêng có củasẳn xuất nông nghiệp mà ngành này có những ảnh hưởng khác nhau trong quátrình phát triển kinh tế. Khi đề cập đến phát triển nông nghiệp cần phải gắn liềnvới những đặc điểm tất yếu của ngành sản xuất này. Thứ nhất, đối tượng của ngành nông nghiệp là cây trồng vật nuôi vì vậychúng tồn tại và phát triển theo quy luật tự nhiên với thời gian sinh trưởng, điềukiện sinh trưởng khác nhau. Thứ hai, trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản vàđặc biệt quan trọng nhưng nó bị giới hạn bởi yếu tố diện tích. Do vậy việc mởrộng quy mô của sản xuất nông nghiệp và việc tang lợi nhuận trong nông nghiệpcó giới hạn nhất định. Thứ ba, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ lớn. Trong quá trình sảnxuất , có thời kì nhu cầu về tư liệu sản xuất, sức lao động, tiền vốn rất căngthẳng. Ngược lại có thời kỳ rất nhàn rỗi. Thứ tư, trong sản xuất nông nghiệp lao động không được chuyển hóa trựctiếp mà phải thông qua cây trồng vật nuôi tuy nhiên đây là ngành sử dụng nhiềulao động. Trong nông nghiệp thời gian lao động không trùng khớp với thời giantạo ra sản phẩm, nghĩa là khi kết thúc một quá trình lao động cụ thể như làmđất, gieo hạt, chăm sóc…chưa có sản phầm ngay mà phải chờ tới khi thu hoạch. Thứ năm, chu kỳ sản xuất nông nghiệp nói chung là dài và không giốngnhau giữa các loại cây trồng và vật nuôi.1.1.2 Vai trò của nông nghiệp với quá trình phát triển kinh tế Vai trò đầu tiên và trên hết có nghĩa quyết định đến sự tồn tại của xã hộilà đáp ứng một trong ba nhu cầu cơ bản nhất của con người: nhu cầu ăn, mặc vàở. Tất cả các nguồn dinh dưỡng cung cấp cho nhu cầu của con người đều cónguồn gốc bắt đầu từ những sản phẩm của nông nghiệp.Do vậy trong xu hướngdân số thế giới gia tang ngày một nhiều thì nhu cầu về lương thực thực phẩmngày càng gia tăng nhanh, vấn đề an ninh lương thực và đảm bảo an ninh lươngthực không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà đã trở thành vấn đề mang tínhtoàn cầu. Thứ hai, sự phát triển của nông nghiệp gắn liền với sự phát triển của cácngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến. Nông nghiệp là điều kiệnđể tồn tại và phát triển của các ngành công nghiệp sử dụng đầu vào là các sảnphẩm nông nghiệp như các ngành công nghiệp chế biến cây công nghiệp: chè,
  3. 3. cà phê, cao su, thuốc lá, mía , dầu cọ, dầu lạc…Ngoài ra còn có các ngành côngnghiệp khác: phân bón, rượu bia, giấy, thuộc da, dệt…. Thứ ba, nông nghiệp là nguồn cung caaos lao động phục vụ công nghiệpvà các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội. Kinh nghiệm cho thấy trong quátrình phát triển dần dần tỷ trọng lao động tham gia vào khu vực nông nghiệp sẽgiảm xuống và đặc biệt là lao động dư thừa đã chuyển dịch từ khu vực nôngnghiệp sang các khu vực công nghiệp và dịch vu. Do vậy, việc nâng cao trìnhđộ văn hóa, khoa học kỹ thuật cho lực lượng lao động ở nông thôn cùng với quátrình đầu tư để đổi mới trang thiết bị, công cụ lao động và tổ chức hợp lý quátrình lao động là điều kiện cơ bản để tăng năng xuất lao động trong nông nghiệpvà các ngành khác ở nông thôn. Thứ tư, nông nghiệp là ngành kinh tế ra đời đầu tiên nên cũng giữ vai tròquan trọng trong việc tích lũy và cung cấp vốn cho việc phát triển các ngànhnghề kinh tế khác, đặc biệt trong giai đoạn đầu của cách mạng công nghiệp ởcác quốc gia. Hoạt động thương mại quốc tế phát triển , trình độ chuyên mônhóa được nâng cao việc sản xuất chế biến và xuất khẩu sản phẩm có nguồn gốctừ nông nghiệp cũng là nguồn cung cấp lượng ngoại tệ khá lớn giúp cho cácnước đang phát triển đầu tư phát triển, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóanền kinh tế. Thứ năm, nông nghiệp và nông thôn luôn là khu vực hình thành nênnhững thị trường lớn đối với các ngành kinh tế khác đặc biệt là đối với cácngành nông nghiệp sản xuất vật tư sử dụng trong sản xuất nông nghiệp. Thunhập từ sản xuất nông nghiệp mang lại cũng giúp cho tần lớp dân cư nâng caokhả năng thanh toán, thúc đẩy nhu cầu về các sản phẩm công nghiệp tiêu dùngcủa khu vực nông thôn đặc biệt khi các sản phẩm công nghiệp đã bão hòa trongkhu vực thành thị. Việc tăng cường sử dụng đầu vào từ công nghiệp tạo điềukiện nâng cao năng suất lao động , nâng cao sản lượng, thu nhập của khu vựcnông nghiệp sẽ kéo theo nhu cầu về các sản phẩm công nghiệp tăng lên. Nhưvậy ngành nông nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ đối với các ngành khác trongnền kinh tế quốc dân, đó vừa là mối liên kết xuôi, vừa là mối liên kết ngược gắnliền với sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Thứ sáu, phát triển nông nghiệp còn có ý nghĩa qua trọng trong việc bảovệ và cải tạo môi trường thiên nhiên. Với đối tượng sản xuất là cây trồng, vậtnuôi gắn liền với đất đai, việc phát triển nông nghiệp tạo nên một hệ sinh tháihoàn chỉnh, đảm bảo sự phát triển cân bằng giữa các vùng, góp phần vào việcbảo vệ môi sinh. Tuy nhiên muốn được nhưu vậy phải kết hợp nhiều loại nôngsản theo một hệ sinh thái hoàn chỉnh, tránh sử dụng quá mức các loại hóa chất,tiến tới phát triển một nền nông nghiệp sạch, nền nông nghiệp sinh thái. Nhưvậy xét về mặt kinh tế xã hội và môi trường thì nông nghiệp có vai trò rất quantrọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi nước.
  4. 4. Trong điều kiện hiện nay, hầu hết các nước đều nhận thức được rằng nếukhông có nền nông nghiệp phát triển, một nền nông nghiệp tiên tiến thì nền kinhtế quốc dân khó có thể phát triển với tốc độ cao được. Vì vậy, phát triển nôngnghiệp là cơ sở quan trọng để đảm bảo ổng định chính trị, xã hội và phát triểnkinh tế bền vững củng cố và tang cường quốc phòng an ninh và là cơ sở để thúcđảy sự phát triển kinh tế của đất nước. Thực tế nhiều nước đã chứng minh nướcnào có nền nông nghiệp phát triển vững chắc đều đạt được sự phát triển bềnvững cho nền kinh tế.1.2 Một số khái niệm liên quan - Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó lồng ghép các quá trình sảnxuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường, đảm bảo thỏa mãnnhững nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng nhữngnhu cầu của tương lai. - Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được yêu cầu của hiện tại,nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau.(Hội đồng thế giới về môi trường và Phát triẻn của Liên hợp quốc - WCED) - Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ vềvật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa , sự bình đẳng của các công dân vàsự đồng thuận của xã hội.Phát triển bền vững phải có sự kết hợp chặt chẽ, hợplý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (đặc biệt làtăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (đặc biệt là tiến bộ xã hội, công bằng xãhội, giảm nghèo và giải quyết công ăn việc làm) và bảo vệ môi trường (đặc biệtlà xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòngchống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyênthiên nhiên). - Quan điểm phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm vàchính sách của Đảng và Nhà nước ta. Chỉ thị số 36 CT/TW ngày 25 tháng 6năm 1998 của Bộ chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thờikỳ CNH-HĐH đất nước nhấn mạnh : “Bảo vệ môi trường là một nội dung cơbản không thể tách rời trong đường lối ,chủ trương và kế hoạch phát triển kinhtế -xã hội của tất cả các cấp,các ngành ,là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triểnbền vững,thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước”.Quan điểm pháttriển bền vững được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội IX của Đảngcộng sản Việt Nam và trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 là:“phát triển nhanh ,hiệu quả và bền vững , tăng trưởng kinh tế đi đôi với thựchiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “phát triển kinh tế- xãhội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môitrường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”
  5. 5. - Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được yêu cầu củathế hệ hiện tại mà không làm giảm khả năng thỏa mãn yêu cầu của thế hệ maisau (Tổ chức sinh thái và môi trường Thế giới – WORD) - Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phải đáp ứng được 2 yêucầu cơ bản: Đảm bảo đáp ứng cầu nông sản hiện tại và duy trì được tài nguyênthiên nhiên cho các thế hệ mai sau (bao gồm: gìn giữ quỹ đất, nước, rừng,không khí, khí quyển và tính đa dạng sinh học….. - Nông nghiệp bền vững là phạm trù tổng hợp, vừa đảm bảo các yêu cầuvề sinh thái, kỹ thuật vừa thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.Phần II: Thực trạng phát triển nông nghiệp bền vững củaViệt Nam hiện nay:2.1 Phần thực trạng phát triển nông nghiệp của VN:2.1.1 Giá trị sản lượng và tỉ trọng ngành nông nghiệp đóng góp vào GDP cảnước. Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp VN và cơ cấu nội bộ ngành.2.1.1.1 Giá trị sản lượng và tỉ trọng nông nghiệp trong tổng GDP cả nước. Từ năm 2000 đến nay, tăng trưởng giá trị sản xuất của nông nghiệp bìnhquân đạt gần 5,5%/năm. Tăng trưởng của GDP nông nghiệp thời gian qua có xuhướng giảm sút do sản xuất nông nghiệp phải đương đầu với hàng loạt rủi ro vềdịch bệnh, thiên tai và cạnh tranh trên thị trường diễn ra quyết liệt và ngườinông dân luôn phải chịu vị thế bất lợi.. Tỷ trọng nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm, diêm nghiệp và thuỷ sản)trong tổng GDP cả nước giảm từ 24,5% năm 2000 xuống còn 20,3% năm 2007và tăng trở lại 22,1% năm 2008, nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp thì tăng sovới các năm trước. Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp 9 tháng đầu năm 2011 ước đạt162.000 tỷ đồng, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, ước cả năm, tốc độ tăngGDP nông, lâm, thủy sản đạt 2,4-2,6%. Năm 2011 cũng là năm được mùa lúavới sản lượng ước đạt 41,5 triệu tấn, tăng khoảng 1,5 triệu tấn so với năm 2010. 2.1.1.2 Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp và cơ cấu nội bộ ngành. -Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp: Giai đoạn 1995 - 2000, tốc độ tăng GDP nông nghiệp là 4%, thì giai đoạn 2000 - 2007 giảm xuống còn 3,7%. Riêng năm 2008, trong bối cảnh giá nông sản trên thế giới tăng vọt, sản xuất nông nghiệp đã khôi phục mức tăng trưởng lên 4,1%.
  6. 6. -Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp: Cơ cấu sản xuất nông, lâm, thuỷ sản chuyển dịch tích cực theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả gắn với nhu cầu thị trường. Trong nội bộ ngành đang có xu hướng tăng nhanh tỷ trọng thuỷ sản, giảm tỷ trọng trồng trọt trong giá trị sản lượng. Trong giai đoạn 2000 - 2008, tỷ trọng thuỷ sản tăng từ 16% lên 23% trong khi trồng trọt giảm từ 65% xuống còn 57%. Trong trồng trọt, giai đoạn 2000 - 2008 diện tích gieo trồng lúa giảm hơn 250.000 ha, trong khi diện tích các cây công nghiệp, rau màu và cây ăn quả tiếp tục mở rộng. Trong chăn nuôi, hình thức chăn nuôi trang trại, gia trại đang thay thế dần mô hình chăn nuôi tận dụng nhỏ lẻ ở gia đình. Nhưng chất lượng một số vật nuôi chưa cao; mô hình chăn nuôi công nghiệp chưa thật sự phát triển, khả năng kiểm soát dịch bệnh còn rất khó khăn. Trong thủy sản, nghề khai thác xa bờ phát triển nhanh. Diện tích nuôi trồng thủy sản tăng rất nhanh, từ năm 2000 đến 2008 tăng 408.100 ha. Nuôi trồng Thủy sản tiếp tục đa loài, đa loại hình, đa phương thức hướng thân thiện với môi trường. Sản phẩm nuôi trồng, khai thác thủy sản ngày càng gia tăng không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Tuy nhiên, các vùng nuôi trồng thủy sản cũng ở trong tình trạng thiếu ổn định. Khi giá tăng thì nông dân ồ ạt phá rừng, phá lúa, chuyển sang nuôi trồng thủy sản và ngược lại khi giá xuống lại diễn ra tình trạng ứ thừa hàng hóa và nông dân san lấp các ao hồ nuôi trồng thủy sản để quay trở lại các cây trồng khác.Diện tích một số các vùng nuôi lớn với mức độ thâm canh cao, xử lý chưa tốt đã gây ô nhiễm môi trường. Trong lâm nghiệp, việc trồng rừng sản xuất được đẩy mạnh với chương trình trồng mới 5 triệu ha. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2008 đạt 38,7%. Nhiều nơi đã tiến hành khai thác kinh doanh tổng hợp, phát triển chế biến lâm sản. Đồ gỗ sau chế biến đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Tuy đóng góp của lâm nghiệp trong tăng trưởng kinh tế còn thấp so với tiềm năng. Nghề rừng hiện nay đang thể hiện tích cực vai trò đảm bảo cân bằng sinh thái, môi trường trong khi vai trò là một ngành kinh tế chưa được khai thác hết. Thu nhập từ lâm nghiệp mới đóng góp một phần rất nhỏ trong tổng GDP và trong cơ cấu thu nhập của hộ nông thôn. Tuy có những tiến bộ rõ rệt nhưng tình trạng phá rừng, cháy rừng, khai thác động thực vật hoang dã vẫn diễn ra. Xuất khẩu đồ gỗ phát triển nhanh nhưng phần lớn nguyên liệu vẫn phải nhập khẩu.2.1.2 Tình hình an ninh lương thực thực phẩm và giá trị xuất khẩu củangành nông nghiệp.
  7. 7. Sản xuất nông nghiệp phát triển từng bước đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường trong nước. 10 năm qua, vượt qua biến động thị trường, thiên tai, dịch bệnh, sản xuất lương thực thực phẩm tiếp tục phát triển, nhờ đó bình quân lương thực đầu người tăng từ 445 kg năm 2000 lên 501 kg năm 2008, Việt Nam đảm bảo đủ nhu cầu lương thực trong nước và xuất khẩu trung bình hơn 4 triệu tấn gạo/năm. Mức tiêu dùng lương thực giảm xuống (tiêu dùng gạo giảm từ 12 kg/người/tháng năm 2002 xuống 11,4 kg/người/tháng năm 2006; tương tự, tiêu dùng các loại lương thực khác cũng giảm từ 1,4 kg/người/tháng năm 2002 xuống 1,0 kg/người/tháng năm 2006). Ngược lại, tiêu dùng thực phẩm tăng lên (tiêu dùng thịt các loại tăng từ 1,3 kg/người/tháng năm 2002 lên 1,5 kg/người/tháng năm 2006, tiêu dùng tôm, cá tăng mạnh từ 1,1 kg/người/tháng năm 2002 lên 1,5 kg/người/tháng năm 2006...). So với các nước trong vùng, giá nông sản, nhất là giá lương thực, thực phẩm ở Việt Nam ở mức tương đối thấp đã giữ giá ngày công lao động thực ở mức khá thấp, hấp dẫn thu hút đầu tư nước ngoài và góp phần thiết thực cho công tác xóa đói giảm nghèo. Xuất khẩu các loại nông, lâm sản tiếp tục được mở rộng, một số ngành có thị phần lớn trong khu vực và thế giới như: gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, sản phẩm đồ gỗ, thuỷ sản.... Giá trị kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản giai đoạn 2000 - 2007 đạt 51,9 tỷ USD, bình quân mỗi năm đạt khoảng 6,5 tỷ USD, tốc độ tăng bình quân 14,9%/năm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 11,2 tỷ USD, gấp 2,7 lần năm 2000, trong đó: cao su gấp 8,3 lần; cà phê 3,8 lần; gạo 2,2 lần; chè 1,6 lần; hạt điều 3,9 lần; hồ tiêu 2,0 lần, sản phẩm gỗ 5,9 lần. Kim ngạch xuất khẩu năm 2008 đạt khoảng 16 tỷ USD gấp 3,8 lần năm 2000, trong đó tăng trưởng trung bình của các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giai đoạn 2000 - 2008 là: gạo 13,6%, cà phê 19,4%; cao su 32,5%; điều 27,8%; hải sản 19,1%. Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt trên 4,5 tỷ đô la, chiếm 25% so với tổng kim ngạch xuất khẩu của khối nông, lâm, ngư nghiệp. Đã có 5 mặt hàng đạt mức trên 1 tỷ USD là thuỷ sản, cà phê, gạo, cao su, đồ gỗ. Lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp là lĩnh vực duy nhất trong nền kinh tế liên tục xuất siêu, năm sau cao hơn năm trước, kể cả trong những giai đoạn kinh tế gặp khó khăn.2.1.3 Tình hình phân bố cây trồng,vật nuôi. Trong nông nghiệp, sự chuyên môn hóa ngày càng rõ nét, thể hiện ở việc hình thành các vùng chuyên canh. Điều này tạo điều kiện cho nông nghiệp phát huy lợi thế của mình và ngày càng tiến tới phát triển bền vững. Khu vực phân bố của một số cây trồng, vật nuôi: - Cây lương thực, cây lúa phân bố chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long vì ở đây có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho cây lương thực phát triển như đất phù sa màu mỡ,
  8. 8. khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mưa nhiều, nguồn nước dồi dào từ sông, ngòi, ao, hồ, kênh rạch... - Cây hoa màu, lương thực như ngô, khoai, sắn tập trung ở Đông Nam Bộ, Tây Bắc và đông bằng sông Hồng. - Cây thực phẩm rau đậu trồng ở khắp các địa phương. - Cây công nghiệp có 2 loại chính cây công nghiệp lâu năm và cây công nghiệp hằng năm. + Cây công nghiệp lâu năm chè trồng ở trung du miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên, cà phê trồng chủ yếu ở Tây Nguyên (Đăklăk),cao su trồng ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. + Cây công nghiệp hằng năm như mía ở đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ; lạc ở Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ; đậu tương ở vùng Đông Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng; bông thuốc lá ở Đông Nam Bộ. - Về chăn nuôi gia súc gia cầm: trâu phân bố tập trung ở miền Bắc; bò ở khắp các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, ven các thành phố lớn; lợn ở đồng bằng song Hồng, Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ; gà ở khắp các vùng trên cả nước; vịt ở đồng bằng sông Cửu Long; ngan ngỗng ở đồng bằng sông Hồng, Duyên Hải Nam Trung Bộ. - Về nuôi trồng thủy hải sản tập trung chủ yếu ở các vùng ven biển và đông bằng sông Cửu Long.2.1.4 Tình hình sử dụng tài nguyên nông nghiệp. Năm 2005 có 9.4 triệu ha đất sử dụng trong nông nghiệp chiếm hơn 28% tổng diện tích đất tự nhiên. Bình quân đất nông nghiệp tính theo đầu người là 0.1 ha. Nhiều vấn đề tồn tại trong việc khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên: Khả năng mở rộng đất ở đồng bằng và miền núi là không nhiều. Đặc biệt tại Tây Nguyên, diện tích rừng tự nhiên giảm liên tục, do khai thác quá mức và chưa ngăn chặn được hoạt động khai thác bất hợp pháp. Rừng trồng không đạt chỉ tiêu. Phát triển cây trồng chưa gắn với khả năng tưới. Phát triển cây trồng trên địa hình không thuận lợi, chưa gắn với việc sử dụng kỹ thuật canh tác thích hợp. Do vậy, càng phát triển càng kém bền vững. Nhiều giải pháp tương đối toàn diện đã được kiến nghị. Một số nghiên cứu chuyên đề, như phương án sử dụng đất ở huyện Ngọc Hồi và Sa Thầy, đã được hoàn thành và bàn giao cho địa phương sử dụng. Vấn đề suy thoái chất lượng đất do lượng phân bón sử dụng còn thấp, chưa bù lại được lượng dinh dưỡng do cây trồng lấy đi, hoặc do sự mất cân đối trong sử dụng phân hoá học. Cũng có nhiều nơi dư lượng thuốc bảo vệ thực vật còn tồn lưu trong đất khá cao, ảnh hưởng tới chất lượng sảm phẩm cây trồng.
  9. 9. Về mặt đa dạng sinh học, nhiều giống cây trồng, vật nuôi cổ truyền có giá trị về gen đã bị thất thoát, thí dụ 56 giống lúa, trong đó có 30 giống có chất lượng gạo ngon. Các loài thiên địch trong vùng trồng lúa cũng đã giảm đi 23 loài và giảm trên 50% về số lượng. Vùng ĐBSCL có tiềm năng lớn về nông nghiệp và thuỷ hải sản, nhưng cũng có những trở ngại lớn về mặt môi trường do chế dộ thuỷ văn và tình hình khai thác trên sông Mê Công, do ảnh hưởng của bán nhật triều Biển Đông, lại là vùng có những diện tích đất phèn rộng lớn và miền đất ngập nước nhậy cảm. Tác động của các bờ bao làm thay đổi quan hệ dòng chảy tiêu biểu là ở sông Tiền và sông Hậu và thúc đẩy hiện tượng sạt lở bờ và tăng bồi lấp ở cửa sông. Việc sử dụng kém hiệu quả tài nguyên nuớc, cùng những tồn tại, yếu kém trong quản lý và bảo vệ tài nguyên nước chủ yếu tại lưu vực các con sông lớn như sông Hồng, sông Đồng Nai… là nguyên nhân làm suy giảm và thiếu nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và cũng như nước phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp. Điều này đòi hỏi việc thực hiện Luật về tài nguyên nước. Hiện tượng hoang mạc hoá xuất hiện ở nước ta và có nguy cơ lan rộng tại một số tỉnh Nam Trung Bộ. Nguyên nhân của các hiện tượng này do đặc điểm địa hình, điều kiện khí hậu khô nóng, tính chất cực đoan của khí hậu-thuỷ văn giữa mùa khô và mùa mưa, thành phần thạch học của đất đá, các phương thức canh tác lạc hậu và việc chăn thả gia súc quá tải...Nhiều biện pháp đã được đề xuất, liên quan đến vấn đề quy hoạch, các giải pháp kỹ thuật trong sản xuất và các giải pháp về tổ chức và quản lý. Một số mô hình dựa trên các kinh nghiệm của nhân dân đã được nghiên cứu, cải tiến và đang thử nghiệm, bước đầu cho kết quả tốt.2.1.5 Tình hình ứng dụng KH-CN vào sx nông nghiệp.2.1.5.1Việc ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp: Ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong lĩnh vực nông nghiệp được coi là giải pháp đột phá xây dựng nền nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, việc đầu tư nghiên cứu ứng dụng CNSH vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, đến hết năm 2010, chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực nông nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2006-2010 đã phê duyệt đưa
  10. 10. vào thực hiện được 90 nhiệm vụ khoa học công nghệ (78 đề tài và 12 dựán sản xuất thử nghiệm), trong đó có 35 đề tài kết thúc năm 2010. Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát khẳng định, các kết quảnghiên cứu đã tạo ra hoặc tiếp nhận và làm chủ được một số CNSH hiệnđại đưa vào ứng dụng hiệu quả chủ yếu tập trung ở những lĩnh vực chínhnhư chuyển gen mang tính trạng tốt vào giống cây trồng, vật nuôi nhằmtạo ra những giống có năng suất cao, thích nghi với điều kiện thời tiếtkhắc nghiệt, có khả năng chống chịu dịch bệnh hoặc tạo ra các chế phẩmsinh học bảo vệ cây trồng, vật nuôi. Nhiều địa phương đã ứng dụng CNSH vào trồng trọt và chăn nuôiđạt hiệu quả kinh tế cao. Đơn cử như việc triển khai 14 đề tài chọn tạogiống cây trồng nông, lâm nghiệp bằng phương pháp chỉ thị phân tử đãchọn tạo được 7 giống lúa chịu hạn, 2 giống lúa kháng đạo ôn, 4 giốnglúa kháng rầy nâu, 2 giống lúa thơm chất lượng cao, 2 giống chè có triểnvọng về năng suất, chất lượng, 8 giống bông kháng bệnh xanh lùn... Trong lĩnh vực chăn nuôi, các kết quả nghiên cứu đã lựa chọn đượcmôi trường bảo quản tinh dịch dài ngày, cải tiến được các quy trình côngnghệ tạo phôi, cấy truyền phôi, đông lạnh phôi lợn và bò trong ốngnghiệm. Việc sử dụng tinh nhân tạo giúp bò trưởng thành tăng từ180kg/con lên 250-300kg/con, tỷ lệ xẻ thịt tăng 1,5 lần. Nông dân ởnhiều địa phương còn ứng dụng CNSH trong ủ, chế biến thức ăn chănnuôi cho gia súc, gia cầm để tận dụng các phế phẩm nông nghiệp, giảmchi phí đầu vào. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nghiên cứu CNSH đã được ứngdụng vào sản xuất thì vẫn còn một số đề tài CNSH vẫn chỉ là thí nghiệm,nhiều nhiệm vụ chậm triển khai thậm chí không ít đề tài đang nằm lưucữu trong phòng thí nghiệm.Ngoài ra, các nhà khoa học thủy lợi còn đềxuất được qui trình công nghệ tưới tiết kiệm nước cho vùng khan hiếmnước ở Nam Trung Bộ, Miền núi phía Bắc, ĐBSCL. Mô hình phục hồiđất thoái hóa, nhiễm mặn do nuôi trồng thủy sản cho vùng bán đảo CàMau và vùng ven ĐBSCL. Nhiều quy trình công nghệ mới được pháttriển và ứng dụng như công nghệ ngăn sông vùng ven biển, công nghệđập trụ bao liên hợp để đưa ra phương án thiết kế ngăn các cửa sông lớntại ĐBSCL và ĐBSH. Cũng trong 5 năm từ 2006 - 2010, Bộ NN&PTNT đã nghiên cứutạo ra được 273 giống cây trồng, trong đó có 97 giống cây được côngnhận chính thức gồm 28 giống lúa, 10 giống ngô, 11 giống đậu đỗ, 4
  11. 11. giống cây có củ, 8 giống rau, 4 giống cây ăn quả,… nhiều loại giống đã được công nhận và cho sản xuất thử. Trong chăn nuôi thú y, Bộ NN&PTNN cũng đã lai tạo thành công giống lợn lai cho từng vùng đưa năng suất chăn nuôi lên cao. Nghiên cứu trong lâm nghiệp cũng cho ra đời 87 giống mới, gồm 78 dòng và 9 giống cây lâm nghiệp,… gắn bó với nghề nông.2.1.5.2 Về sử dụng máy móc. Cả nước có khoảng 22.000 ô tô loại nhỏ, 20.000 tàu, thuyền gắn máy có thể đảm bảo 80% việc vận chuyển ở nông thôn. Số lượng máy kéo các loại có khoảng 300.000 chiếc, tổng công suất 3,5 triệu mã lực. Trong đó đa phần là máy léo 2 bánh dưới 15 mã lực (75,3%), máy kéo 4 bánh 15-35 mã lực (15,2%), máy kéo trên 35 mã lực chỉ chiếm 9,5%. Tây Nguyên là địa bàn có tỷ lệ sử dụng máy nông ngiệp cao nhất, chiếm 34,45%, thấp nhất là trung du miền núi phía Bắc (4,47-6%) và duyên hải Nam Trung Bộ (4,29-4,53%).2.1.6 Tình hình thiên tai, dịch bệnh và công tác dự báo thiên tai, cảnh báo dịchbệnh ảnh hưởng đến nông nghiệp. Trong thời gian gần đây, do diễn biến xấu của tình trạng nóng lên toàn cầu, do sự phá hoại môi trường của các hoạt động sản xuất và phát triển không bền vững, diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp hàng năm gây ra thiệt hại lớn về người và của cho sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân. Tần suất thiên tai ngày càng dày, mức độ nghiêm trọng và quy mô ngày càng lớn. Ở nước ta trong các năm qua liên tục xuất hiện bão lớn, mưa to gây lũ lụt, lở đất, hạn hán, cháy rừng,... Theo số liệu thống kê nhiều năm thì trung bình hàng năm có khoảng 5 - 6 cơn bão và 2 - 3 áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam. Ngoài ra, gió mùa (gió mùa Tây Nam khô nóng và gió mùa Đông Bắc lạnh)và một số kiểu thời tiết khắc nghiệt như : mưa dông kèm lốc xoáy và vòi rồng, mưa đá, sương muối, sương giá… cũng gây ra những thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp. Trung bình hàng năm có 37,9% và 16,7% hộ nông dân bị thiệt hại do mất mùa và thiên tai. Năm 2007, ước tính thiệt hại do thiên tai gây ra làm 462 người chết và 11.514 tỷ đồng, bằng gần 1% GDP. Trong tương lai, xu hướng nóng lên toàn cầu sẽ tiếp tục gây thiệt hại lớn cho Việt Nam. Thêm vào đó là tình trạng dịch bệnh diễn biến phức tạp trên quy mô rộng cho cả cây trồng, vật nuôi và con người. Trên lúa xuất hiện dịch
  12. 12. rầy nâu, vàng lùn xoắn lá,... trên gia súc xuất hiện bệnh lở mồm long móng, lợn tai xanh, cúm lợn... trên gia cầm bệnh cúm tiếp tục đe dọa,... Các bệnh dịch này chẳng những gây thiệt hại trực tiếp cho sản xuất mà một số loại bệnh của gia súc, gia cầm có nguy cơ lây lan sang cho người, gây khó khăn ổn định kinh tế xã hội. Với nuôi trồng thủy hải sản thì một số dịch bệnh hay gặp phải là: bệnh đốm trắng và bệnh đầu vàng đối với tôm sú và tôm chân trắng, bệnh hội chứng Taura đối với tôm chân trắng. - Công tác dự báo thiên tai và cảnh báo dịch bệnh. , rađa thời tiết người ta có thể phát hiện được bão, dông, tố, lốc, mưa đá, sương mù... song do các hiện tượng trên xảy ra quá nhanh hoặc diễn biến phức tạp nên chỉ có thể dự báo cực ngắn. Tuy vậy do điều kiện thông tin truyền thông, thông tin dự báo đến cộng đồng . Với nước ta hiện nay căn cứ vào điều kiện và khả năng hình thành thiên tai trong những hệ thống thời tiết nhất định chúng ta chỉ có thể cảnh báo khả năng xuất hiện chúng để phục vụ công tác phò nghiệp nói riêng vẫn là chiến lược lâu dài và hiệu quả nhất đối với công tác phòng chống thiên tai, giảm nhẹ thiệt hại. Với dịch bệnh thì hàng năm các cơ quan chức trách vẫn có những cảnh báo cho người sản xuất nông nghiệp theo mùa, tháng mà dịch bệnh phát triển mạnh. Tuy nhiên, do công tác thanh tra kiểm tra còn yếu kém và hệ thống thông tin chậm nên dịch bệnh dễ bị lan rộng, khó kiểm soát dẫn tới hậu quả khó lường trong sản xuất nồn nghiệp.2.1.7 Hệ thống thủy lợi trong cả nước.2.1.7.1 Hiện trạng thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp. Sau nhiều năm đầu tư, với mục tiêu chủ yếu là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia tiến tới xuất khẩu. Đến nay, cả nước đã có 75 hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn, rất nhiều hệ thống thuỷ lợi nhỏ với tổng giá trị tài sản cố định khoảng 60.000 tỷ đồng (chưa kể giá trị đất và công sức nhân dân đóng góp). Các hệ thống thuỷ lợi năm 2000 đã đảm bảo tưới cho 3 triệu ha đất canh tác, tiêu 1.4 triệu ha đất tự nhiên ở các tỉnh bắc bộ, ngăn mặn 70 vạn ha, cải tạo 1.6 triệu ha đất chua phèn ở đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2000, diện tích lúa được tưới cả năm gần 7 triệu ha chiếm 84% diện tích lúa. Các công trình thuỷ lợi còn tưới trên 1 triệu ha rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả. Lượng nước sử dụng cho nông nghiệp rất lớn. Theo tính toán năm 1985 đã sử dụng 41 tỷ m3 chiếm
  13. 13. 89,8% tổng lượng nước tiêu thụ, năm 1990 sử dụng 46,9 tỷ m3 chiếm 90% và năm 2000 khoảng trên 60 tỷ m3 Nhờ các biện pháp thuỷ lợi và các biện pháp nông nghiệp khác trong vòng 10 năm qua sản lượng lương thực tăng bình quân 1.1 triệu tấn/năm. Tổng sản lượng lương thực năm 2000 đạt 34,5 triệu tấn, đưa bình quân lương thực đầu người 330 kg năm 1990 lên 444 kg năm 2000. Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn với mức gần 4 triệu tấn/năm.2.1.7.2 Công tác thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thuỷ sản Tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản nước ta khá lớn, nhiều hệ thống thuỷ lợi khi xây dựng đã xét đến việc kết hợp cấp nước để nuôi trồng thuỷ sản. Khi xây dựng các hồ chứa nước vấn đề phát triển thuỷ sản trong hồ chứa cũng được đề cập đến. Vài năm gần đây do hiệu quả của nuôi trồng thuỷ sản nhất là tôm sú nhiều vùng đất ven biển đã được xây dựng thành những khu vực nuôi trồng thuỷ sản tập trung. Tuy nhiên việc xây dựng các hệ thống thuỷ lợi đáp ứng yêu cầu sản xuất chưa được quan tâm đúng mức, chưa có qui hoạch và các giải pháp đồng bộ. Hầu hết đều do dân tự phát, tự tổ chức xây dựng theo kinh nghiệm. Nhiều nơi, đã có hiện tượng thủy hải sản bị bệnh, tôm chết hàng loạt mà nguyên nhân là do môi trường nước không đảm bảo liên quan đến hệ thống cấp nước và thoát nước. Một số vùng đã có tranh chấp giữa nuôi tôm và trồng lúa gắn với nó là ranh giới mặn, ngọt cũng là vấn đề công tác thuỷ lợi phải xem xét, giải quyết. Việc phát triển thuỷ sản ở các hồ chứa nước cũng rất hạn chế, ở hầu hết các hồ chứa vừa và lớn chủ yếu chỉ khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên nên chỉ sau 1 thời gian ngắn nguồn lợi này đã cạn kiệt. Đây là một tiềm năng lớn nhưng chưa được quan tâm tổ chức, đầu tư.2.2 Thành tựu và thách thức trong phát triển nông nghiệp ở ViệtNam2.2.1 Thành tựa đạt được : Trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới, vượt qua bao gian khó, đến nay nền nông nghiệp nước ta đã từng bước trưởng thành và đóng góp nhiều thành tựu vào sự nghiệp phát triển kinh tế, trong đó nổi bật là những vấn đề sau đây: - Thành tựu nổi bật nhất là nông nghiệp VN tăng trưởng cao,liên tục, đặc biệt là căn bản giải quyết được vấn đề lương thực cho đất nước. tăng trưởng bình quân hàng năm về nông lâm và ngư nghiệp thời kì 1991 – 2000 đạt 4,3% trong đó nông nghiệp đạt 5,4% ( riêng lương thực đạt 4,2%, cây công nghiệp đạt 10%, chăn nuôi 5,4%) thủy sản tăng 9,1%.lâm
  14. 14. nghiệp tăng 2,1%.sản xuất lương thực nước ta đã đạt được kết quả to lớntừ 13,478 triệu tấn lương thực năm 1976 đã tăng lên 14,309 triệu tấn năm1980, lên 18,20 triệu tấn 1985, lên 21,488 triệu tấn năm 1990, lên 27,570triệu tấn năm 1995 và lên 34,254 triệu tấn năm 1999, đáng chú ý là năm1999 so với năm 1994 sản lượng lương thực tăng 8,055 triệu tấn, hàngnăm tăng bình quân 1,611 triệu tấn.nếu so với năm 1976 săn lượng lươngthực năm 1999 tăng 154.41% trong đó lúa gạo tăng 133.75%.tính bìnhquân lương thực đầu người từ 274.4kg năm 1990 lên 372.5kg năm 1995lên 407.9kg năm 1998 và lên 433.9kg năm 2000. Giá trị sản xuấtlâm,nông nghiệp và thủy sản năm 2010 theo giá so sánh 1994 ước tínhđạt 232.7 nghỉn tỷ đồng, tăng 4.7 % so với năm 2009, bao gồm nôngnghiệp đạt 168.4 nghìn tỷ đồng, tăng 4.2%; lâm nghiệp đạt 7.4 nghìn tỷđồng tăng 4.6%; thủy sản đạt 56.9 nghìn tỷ đồng tăng 6.1% Trong hơn bốn thập kỷ lương thực đối với nước ta luôn là vấn đềnóng bỏng, tình trạng thiếu lương thực diễn ra triền miên. Tính riêng 13năm(1976-1988) Việt Nam đã nhập 8.5 triệu tấn gạo, hàng năm nhập0.654 triệu tấn gạo, trong đó thời kỳ 1976 – 1980 bình quân hàng năm1.12 triệu tấn. thời kỳ 1981 – 1988 bình quân hàng năm nhập 0.3625 triệutấn.song từ năm 1989 lại đây sản xuất lương thực, sản xuất lương thựcnước ta chẳng những đa trang trải nhu cầu lương thực cho tiêu dùng, cólương thực dữ trữ cần thiết mà còn dư thừa để xuất khẩu, hàng năm xuấtkhẩu từ 1,5 – 2,0 triệu tấn gạo thời kỳ 1989 – 1995 và tăng lên 3 – 4,6triệu tấn, tăng 1,04 triệu tấn so với năm 2009 do cả diện tích và năng suấtđều tăng, trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt 7513,7 nghìn ha, tăng76,5 nghìn ha so với năm trước : năng suất đạt 53,2 tạ/ha,tăng 0,8 tạ/ha. Giải quyết tốt vấn đề lương thực là điều kiện quyết định để đa dạnghóa độc canh lúa nước, từ khi giải quyết được vấn đề lương thực, mới cóđiều kiện để đa dạng hóa theo hướng giảm tỷ trọng cây lương thực, tăngtỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả…Năm 2000 tỷ trọng cây lương thựclà 67,11%, trong đó lúa chiếm 61,38%, tỷ trọng cây công nghiệp chiếm6,33%, riêng cây công nghiệp lâu năm chiếm 11,21%, tỷ trọng cây ănquả tăng 29,34%.Lương thực dồi dào, nguồn thức ăn phong phú đã tạođiều kiện để phát triển chăn nuôi. Từ năm 1981 trở lại đây con bò lạiđược xác định không chỉ để cày kéo mà là nguồn cung cấp thịt, sữa chonhân dân, 11 đàn bò nước ta đã tăng lên nhanh chóng, năm 2000 đàn bòcả nước tăng lên 4,1279 triệu con tăng 152,21% so với năm 1976, trongđó đàn bò miền Bắc gấp 3,2 lần. Hiện nay lợn là gia súc cung cấp nguồnthịt chủ yếu cho nhân dân, số lượng đàn lợn từ 8,9581 triệu con năm1976 tăng lên 12,2605, tăng 36,86%, đó là thời kỳ lương thực đang gặpkhó khăn đàn lợn tăng chậm. Từ năm 1991 trở đi lương thực được giảiquyết vững chắc, đàn lợn đã tăng nhanh từ 12,1404 triệu con tăng lên17,6359 triệu con, chỉ trong vòng 7 năm số lượng đàn lợn tăng thêm
  15. 15. nhiều hơn 2,29 lần của 15 năm trước đó. Điều đáng chú ý là số lượng đànlợn năm 2000 tăng 125,42% so với năm 1976, trong khi đó sản lượng thịtlợn hơi tăng 326,85%. Đạt được kết quả đó là do chất lượng đàn lợn tănglên. Ngoài lợn, trâu bò chăn nuôi gia cầm đang phát triển mạnh về sốlượng và chủng loại, cùng với phương thức chăn nuôi truyền thống, nôngdân đã tiếp thu phát triển chăn nuôi kiểu công nghiệp. Năm 2010 đàn lợncả nước có 27,37 triệu con, giảm 0,9% so với cùng thời điểm năm 2009.Đàn gia cầm có 300,5 triệu con, tăng 7,3%. Đàn trâu có 2913,4 nghìn con,tăng 0,9%. Đàn bò có 5916,3 nghìn con, giảm 3,1%. Sản lượng thịt trâuhơi xuất chuồng năm 2010 ước tính 84,2 nghìn tấn, tăng 6,5% so với năm2009. Sản lượng thịt bò 278,9 nghìn tấn, tăng 5,9%. Sản lượng thịt lợn3036,4 nghìn tấn, tăng 0,2%. Sản lượng thịt gia cầm 621,2 nghìn tấn, tăng17,5%. Trứng gia cầm 6371,8 triệu quả, tăng 16,5%. Những năm gần đây thuỷ sản đã có bước phát triển đáng kể, côngtác nuôi trồng thủy sản được coi trọng, nhất là vùng ven biển. Những cơsở sản xuất giống và nuôi tôm xuất khẩu được triển khai ở ven biển miềnTrung. Việc đánh bắt hải sản đang được khôi phục và phát triển ở nhiềuđịa phương, tàu thuyền và các phương tiện đánh bắt được tăng cường,nhất là hiện nay các tỉnh đang triển khai dự án đánh bắt cá xa bờ, tiềmlực của thuỷ sản được tăng nhanh, nhờ vậy mà sản lượng thuỷ sản tăngnhanh, sản phẩm xuất khẩu ngày càng lớn. Sản lượng thuỷ sản năm 2010ước tính đạt 5127,6 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2009, trong đó cá đạt3847,7 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm 588,8 nghìn tấn, tăng 7,1%. - Từng bước hình thành những vùng sản xuất chuyên môn hoá vớiqui mô lớn. Từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp chuyển sang sản xuấtnông sản hàng hoá, nông nghiệp nước ta đã và đang từng bước hình thànhcác vùng sản xuất chuyên môn hoá với qui mô lớn. Hai vùng trọng điểmlúa của nước ta là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng đólà hai vùng sản xuất lúa lớn nhất của đất nước. Ở đồng bằng sông CửuLong, năm 2000 diện tích gieo trồng lúa đạt 3,936 triệu ha, hàng nămdiện tích trồng lúa cần được mở rộng, trong đó có những tỉnh có qui môdiện tích tương đối lớn, như tỉnh Kiên Giang có gần 540 ngàn ha, AnGiang có 464 ngàn ha, Cần Thơ có 413 ngàn ha v.v... Cà phê là sản phẩm hàng hoá xuất khẩu quan trọng sau lúa gạo,năm 2000 diện tích cà phê cả nước đạt 516,7 ngàn ha với sản lượng hơn698,2 ngàn tấn cà phê nhân. Năm 2010 diện tích cà phê cả nước 548,2nghìn ha, sản lượng cà phê ước tính 1105,7 nghìn tấn, tăng 4,6% so vớinăm 2009. Cà phê được phân bố tập trung nhất ở vùng Tây Nguyênchiếm 80,25% diện tích và 85,88 sản lượng, riêng tỉnh ĐăkLăk chiếm48,93% diện tích và 64,73% sản lượng cà phê nhân cả nước... Ngoài vùngcà phê Tây Nguyên, cà phê cũng phát triển mạnh ở vùng Đông Nam Bộ,
  16. 16. chiếm 13,27% diện tích và 11,85% sản lượng cà phê của cả nước, trongđó tập trung nhất là tỉnh Bình Phước. Cao su là cây công nghiệp lâu năm được phát triển mạnh ở nướcta, đến năm 2000 Việt Nam đã có 406,9 ngàn ha, với sản lượng mủ khô291,9 ngàn tấn và lượng cao su mủ khô đã xuất khẩu năm 2000 là 280,0ngàn tấn. Sản xuất cao su được phân bổ chủ yếu vùng Đông Nam Bộ,trong đó tập trung ở hai tỉnh Bình Phước và ở Tây Nguyên. Năm 2010 sản lượng một số cây ăn quả cũng tăng khá, trong đó sảnlượng cam, quýt cả năm ước tính đạt 729,4 nghìn tấn, tăng 5,2% so vớinăm trước; dứa 502,7 nghìn tấn, tăng 3,8%; chuối 1,7 triệu tấn, tăng 3%;xoài 574 nghìn tấn, tăng 3,6%, bưởi 394,1 nghìn tấn, tăng 3,4%. Về chăn nuôi được phân bố đồng đều ở các vùng trong cả nước,tính tập trung chưa cao, song bước đầu đã thể hiện sự hình thành vùngsản xuất hàng hoá tương đối rõ. Lợn là vật nuôi quan trọng, cung cấpnguồn thực phẩm chủ yếu cho nhân dân nước ta, sản lượng thịt hơi chiếm76,8% tổng sản lượng thịt hơi. Tính bình quân cả nước trên 1 ha đất canhtác hàng năm có 3,18 con lợn và sản xuất được 207,8 kg thịt hơi, tronglúc đó vùng đồng bằng sông Hồng là nơi chăn nuôi lợn khá tập trung,chiếm 22,19% tổng đàn lợn và 26,41% tổng sản lượng thịt hơi sản xuất racủa cả nước tính trên ha đất canh tác hàng năm có 6,2 con lợn, cao gấphai lần bình quân chung cả nước và 503,9 kg thịt hơi, cao gấp 2,5 lần sovới bình quân chung cả nước. Đàn bò cả nước có gần 4,0 triệu con năm1997, tính bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp có 0,51 con và sản xuấtđược 9,4 kg thịt hơi, trong đó vùng Duyên hải miền Trung đạt mức caonhất - 1,83 con/ha và 33,63 kg thịt hơi/ha cao gấp ba lần bình quân chungcả nước. Tiếp đó là vùng khu 4 đạt mức 1,29 con/ha và 13,48 kg thịthơi/ha. Nhờ quá trình chuyển nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá theohướng đa dạng đã tạo điều kiện để từng bước hình thành những vùng sảnxuất chuyên môn hoá, có qui mô sản phẩm hàng hoá lớn. Nông nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc tăng nguồn hàngxuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước. Với quan điểm xuất khẩu đểtăng trưởng kinh tế, nông nghiệp nước ta đã có những tiến bộ và chuyểnbiến tích cực. Năm 1986, giá trị xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản đạt 513triệu đô la tăng lên 3168,3 triệu đô la năm 1996. Sau 10 năm kim ngạchxuất khẩu đã cao gấp hơn 6 lần. Đáng chú ý là thời kỳ 1991-1995 trong10 năm hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn của cả nước thì nông lâm thuỷsản có 6 mặt hàng, đó là gạo, cà phê, cao su, hạt điều, lạc nhân và thuỷsản.
  17. 17. Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã đạttrên 18 tỷ USD, đưa nước ta thành một trong những quốc gia xuất khẩunông, lâm, thủy sản lớn trên thế giới. Năng suất lúa năm 2010 đạt 53tạ/ha, gấp 4,4 lần năng suất năm 1945 và gần gấp hai lần năm 1985. Sảnlượng lúa năm 2010 đạt gần 40 triệu tấn; sản lượng thịt tăng gấp năm lầnso với năm 1985; độ che phủ của rừng tăng lên 39,5% vào năm 2010.Thủy sản năm 2010 đạt tổng sản lượng 4,8 triệu tấn. Sản lượng muối đạt1,1 triệu tấn. Nước ta đã tham gia xuất khẩu gạo, cà-phê, cao-su, chè,điều, hồ tiêu, thủy sản, các loại lâm sản với số lượng và chất lượng ngàycàng tăng. Hạt điều, hạt tiêu có giá trị xuất khẩu cao nhất thế giới và đượcđánh giá cao về chất lượng; gạo, cà-phê đứng thứ hai, cao-su đứng thứ tư,thủy sản đứng thứ năm, chè đứng thứ bảy... Ðã có năm mặt hàng kimngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD trở lên là gạo, thủy sản, đồ gỗ, cà-phê vàcao-su. Hàng nghìn công trình thủy lợi được xây dựng trong 65 năm qua,trong đó có nhiều công trình quy mô lớn. Hệ thống thủy lợi với hàngnghìn hồ đập, trạm bơm, hàng chục nghìn km kênh mương, đê kè đã đượchình thành. Trong sự phát triển nhanh chóng của ngành nông lâm nghiệp trongnhững năm qua có sự đóng góp đáng kể của đội ngũ cán bộ khoa học - kỹthuật thuộc các viện, các trung tâm nghiên cứu các trường đại học và cánbộ khuyến nông, khuyến lâm ở khắp mọi miền đất nước. Thành tựu nổibật nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam hiện nay là GDP hằng nămtăng trưởng tương đối ổn định, bình quân từ 4,2% đến 4,5%/năm. Tổnggiá trị nông, lâm và thủy sản năm sau thường cao hơn năm trước, năm2009 đã đạt khoảng 12,5 tỷ USD. Hiện nay, nhiều tiến bộ khoa học vàcông nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp đã tạo ra giá trị gia tăngtrong tăng trưởng nông nghiệp khoảng 30%. Những năm qua, các cơquan nghiên cứu, các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu thành công cácquy trình công nghệ và chọn tạo được nhiều giống cây trồng, gia súc...Những tiến bộ kỹ thuật đó được được áp dụng vào sản xuất nông nghiệptrên nhiều lĩnh vực như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và chếbiến sau thu hoạch. Năm 2011 cũng là năm thứ 21, nước ta thực hiện kimngạch xuất khẩu gạo cao. Khả năng cả năm 2010, xuất khẩu đạt 6,5 triệutấn, trong đó đến ngày 9-11-2010 đã giao cho bạn hàng nước ngoài 5,9triệu tấn gạo, với giá trị kim ngạch 2,5 tỷ USD (giá FOB) tăng 9% về sốlượng và 14% giá trị kim ngạch. Giá gạo xuất khẩu đang ngày càng tăngdần, bình quân đạt 424 USD/tấn, tăng 18,58 USD/tấn so cùng kỳ năm2009.. Với sản lượng lúa chiếm hơn 90% số sản lượng các cây lương thựccó hạt, Việt Nam đang trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. - Nông nghiệp đã tạo nhiều việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo(tỷ lệ hộ đói nghèo giảm 2%/năm). Trước đổi mới, số người sống dướimức đói nghèo là 60%, năm 2003 giảm xuống còn 29% và năm 2006 còn
  18. 18. 19%. Mức giảm đói nghèo ấn tượng này chỉ có Việt Nam và Trung Quốc đạt được trong thời gian qua, chủ yếu là nhờ thành tựu to lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn. Trong khi công nghiệp và dịch vụ còn đang lấy đà thì nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn là nơi tạo việc làm chính cho dân cư nông thôn - Môi trường được cải thiện một cách rõ rệt. Thập kỷ 90 của thế kỷ 20 chứng kiến những bước ngoặt quan trọng về nhận thức và hành động của lâm nghiệp, chuyển từ khai thác rừng tự nhiên sang bảo vệ rừng, tăng đầu tư trồng mới, khoanh nuôi; xã hội hoá hoạt động trồng và bảo vệ rừng. Chương trình Phủ xanh đất trống đồi núi trọc (327), Chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng cùng các chính sách giao đất, giao rừng và hạn chế khai thác gỗ đã góp phần tăng tỷ lệ che phủ rừng từ 33,2% (năm 1999) lên 38% (năm 2006), tăng lên 39,5% vào năm 2010. - Công tác thuỷ lợi và phòng chống thiên tai có chuyển biến tích cực. Đến nay, cả nước có 75 hệ thống thuỷ lợi lớn; 800 hồ chứa lớn; 3.500 hồ chứa dung tích trên 1 triệu m3; trên 1.000 trạm bơm; hàng vạn công trình khác có khả năng tưới trực tiếp cho 3, 45 triệu hecta, tiêu cho 1, 7 triệu hecta, ngăn mặn 0, 87 triệu hecta, cải tạo chua phèn 1, 6 triệu hecta và cấp hơn 5 tỷ m3/năm cho sinh hoạt và công nghiệp. Bên cạnh đó, hệ thống đê điều đồ sộ với 5.700km đê sông, 2.000km đê biển, 23.000km bờ bao làm nền cho công tác phòng chống thiên tai. Đặc biệt năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO đã đánh dấu một bước chuyển biến lớn của kinh tế cả nước nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng. Sau 3 năm gia nhập WTO, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những kết quả rõ rệt. Giá trị xuất khẩu tiếp tục duy trì đà tăng. Nếu như năm 2007, giá trị xuất khẩu đạt xấp xỉ 12,5 tỷ USD thì năm 2008, con số này là 16 tỷ USD và năm 2009 xuất khẩu đạt 15,4 tỷ USD. Cán cân thương mại nông lâm thủy sản năm 2007 xuất siêu 5,450 tỷ USD, năm 2008 tiếp tục tăng xuất siêu với mức 5,874 tỷ USD và năm 2009 là 7,3 tỷ USD. Như vậy, sau 3 năm hội nhập WTO với 3 cú sốc về giá lương thực, giá xăng dầu, và khủng hoảng kinh tế toàn cầu phủ “bóng đen” lên Việt Nam, nông nghiệp đã thể hiện được vai trò “trụ đỡ” trong việc chống chọi được với những tác động của khủng hoảng kinh tế.2.2.2Những thách thức của nông nghiệp VN
  19. 19. Do ảnh ảnh hưởng suy thoái của kinh tế thế giới và những rủi ro, bất lợi về thời tiết, ngành nông nghiệp đã phải gánh chịu nhiều khó khăn trong năm trước đây. Những khó khăn này cũng đặt nông nghiệp Việt Nam trong năm tới trước nhiều thách thức.2.2.2.1 Vấn đề môi trường trong nông nghiệp nông thôn: Cháy rừng đang là một vấn nạn của ngành nông nghiệp, vừa trực tiếp gây mất rừng vừa gián tiếp gây ra hiệu ứng khí thải nhà kính. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu làm thay đổi quy luật thủy văn các con sông, gây nên hiện tượng hạn hán trên diện rộng tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng và gây ra nhiều áp thấp nhiệt đới, bão, lũ lụt ở khu vực phía Nam. Tại đồng bằng sông Cửu Long, mực nước trên sông có khuynh hướng tăng, gây ngập trên diện rộng. Đồng thời đồng bằng sông Cửu Long còn phải hứng chịu hiện tượng nước mặn xâm nhập vào nội địa gây thiếu nghiêm trọng nước ngọt phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Bên cạnh đó, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ làm quá trình xâm nhập mặn vào nội địa đồng bằng sông Cửu Long sâu hơn, không loại trừ địa phương nào và nước ngọt sẽ trở nên khan hiếm hơn. Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cần lựa chọn giải pháp tối ưu để ứng phó. Thời tiết thay đổi thất thường cũng làm tăng nguy cơ xuất hiện các loại dịch bệnh mới.2.2.2.2 Đời sống dân cư nông thôn Khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn vẫn ở mức trên 2 lần. Tỷ lệ nghèo khu vực nông thôn (18,1%) cao gấp 6 lần khu vực thành thị (3,1%). Gần 90% hộ nghèo tập trung ở vùng thường xuyên gánh chịu thiên tai nên khả năng tái nghèo rất lớn. Ảnh hưởng của thời tiết và thiên tai ngày một nhiều có khả năng làm giảm sản lượng lương thực, thực phẩm gây nguy cơ đói cục bộ tại các vùng khó khăn. Tỷ lệ nghèo ở nhóm dân tộc ít người vẫn ở mức rất cao và tốc độ giảm nghèo rất chậm. Lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn, chiếm 70% trong tổng số lao động nông thôn và 50% lao động xã hội. Xét về độ tuổi, lao động nông thôn tương đối trẻ, với 47,7% nằm trong độ tuổi từ 15-35 tuổi. Tuy có số lượng lao động trẻ dồi dào nhưng chất lượng lao động nông thôn còn thấp, cản trở đầu tư tư nhân vào nông nghiệp nông thôn, cũng như việc rút lao động nông thôn vào khu vực công nghiệp - dịch vụ chính thức ở đô thị. Tăng trưởng nông nghiệp suy giảm trong bối cảnh giá XK giảm sút, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nông dân tại các vùng XK nông-lâm-thủy sản. Nông hộ buộc phải giảm chi tiêu. - 68,4% số hộ giảm chi tiêu cho thịt cá khoảng 18,5%.
  20. 20. - 65,2% số hộ giảm chi tiêu cho đồ dùng lâu bền khoảng 13,6%. - 52,3% số hộ giảm chi tiêu cho xây dựng khoảng 25,9%.2.2.2.3 DN nông nghiệp nông thôn Tính đến năm 2009 có khoảng gần 20.000 cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, tăng gần 78% so với năm 2005 (thời điểm Luật doanh nghiệp ra đời). Tuy nhiên, kết cấu kinh tế ở nông thôn vẫn chủ yếu là thuần nông. Các hoạt động phi nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Hoạt động của nhiều DNNN vẫn kém hiệu quả, 27% DN làm ăn thua lỗ. Bên cạnh khó khăn của khu vực DN, kinh tế trang trại cũng phát triển rất chậm, chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông - lâm - ngư nghiệp của cả nước. Mức độ trang bị cơ giới và áp dụng khoa học công nghệ của các trang trại này còn rất yếu kém, khả năng liên kết với thị trường rất hạn chế, khả năng cạnh tranh kém. Kinh tế hợp tác phát triển chậm, chủ yếu là các HTX cũ chuyển đổi. Số lao động thường xuyên trong các HTX chỉ chiếm 5% tổng số lao động nông – lâm - ngư nghiệp. 54% số hợp tác xã hiện nay có hiệu quả hoạt động ở mức trung bình và yếu.2.3 Mục Tiêu Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững2.3.1 Mục tiêu chung Mục tiêu chiên lược của các nước nông nghiệp là xây dựng và phát triển một nên nông nghiệp bền vững. Mục tiêu tổng quát đến năm 2015 là: “xây dựng nền nông nghiệp toàn diện, đa dạng theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, hiện đại, bền vững, thân thiện với môi trường; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống nhân dân”.2.3.2 Mục tiêu cụ thể Mục tiêu cụ thể đến năm 2015: Tạo sự chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nông dân trên cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất chuyên canh, sử dụng giống mới, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và đẩy mạnh cơ giới hóa, trong sản xuất; gắn sản xuất với chế biến, thị trường tiêu thụ và mở rộng xuất khẩu. Đến năm 2015, diện tích cây ăn trái 34.500 ha, sản lượng
  21. 21. 442.000 tấn; 53.500 ha dừa, sản lượng 494 triệu trái; diện tích vùng chuyên canh sản xuất lúa tập trung 26.500 ha, sản lượng đạt 331.600 tấn; vùng mía nguyên liệu 4.300 ha, sản lượng 365.500 tấn; diện tích đất có rừng đạt 4.400 ha; đàn bò 220.000 con, đàn heo 350.000 con, đàn gia cầm 5 triệu con; diện tích nuôi thủy sản đạt 46.000 ha, trong đó nuôi tôm biển thâm canh bán thâm canh 5.500 ha, sản lượng thủy sản nuôi đạt 195.000 tấn; sản lượng thủy hải sản đánh bắt đạt 90.000 tấn. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp bình quân hàng năm 5,63%. Phấn đấu trong giai đoạn 2011 – 2015 được mức tăng trưởng toàn ngành là 3.5% - 3.8% / năm .Kế hoạch năm 2011 đạt múc tăng trưởng của ngành là 4,5% - 5% so với năm 2010 trên cơ sở tập trung ưu tiên nguồn lực cho nâng cao năng suất , chất lượng các sản phẩm chủ lực như cá tra, tôm nước lợ, lúa gạo, cao su, cà phê, điều, hạt tiêu, lạc, đậu tương, chăn nuooi gia súc, chăn nuôi gia cầm. Đối với lĩnh vực trồng trọt, mục tiêu đến năm 2015 ổn định diện tích đất lúa 3,8 triệu ha, sản lượng thu hoạch 40 triệu tấn / năm. Tổng sản lượng cây có hạt đạt 46,3 triệu tấn. Với chăn nuôi, mục tiêu giai đoạn 2011 – 2015 đạt mức tăng giá trị sản xuất binh quân 6 – 7% /năm. Năm 2012 sẽ sản xuất 4,28 triệu tấn thịt hơi các loại, 6,53 tỷ quả trứng, 230 nghìn tấn sữu tươi, 2 triệu tấn thức ăn chăn nuôi . Ngành thủy sản phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng 6% - 7%/năm, riêng năm 2011 tăng trưởng 7% và cho tổng sản lượng 5,3 triệu tấn thủy sản. Kim ngạch xuất khẩu phải trên 5 tỷ USD. Ngành lâm nghiệp phấn đấu phát triển toàn diện trong 5 năm tới, giá trị sản xuất tăng bình quân 1,5 – 2%/ năm, sẽ trồng mới 200 nghìn ha rừng, khoanh nuôi tái sinh thêm 100 nghìn ha, khoán bảo vệ rừng thêm 2,26 triệu ha. Năm 2011 Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đề nghị Chính Phủ, Quốc Hội tiếp tục cho triên khai cơ chế chính sách để bảo vệ phát triển rừng nâng cao chất lượng rừng phấn đấu mục tiêu đến 2015 nâng độ che phủ rừng đạt 45%, Phó Thủ Tướng Nguyễn Sinh Hùng thay mặt Chính Phủ đã biểu dương ngành Nông Nghiệp, thành tựu ngành nông nghiệp năm 2011 cho thấy nghị quyết Trung Ương 7 bắt đầu đạt kết quả trong cuộc sống. Trong tình hình vài năm gần đây, nền kinh tế nước ta nói chung gặp nhiều khó khăn nhưng nông nghiệp vẫn phát triển tự hào tôn vinh người nông dân .Phần III.Giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững:3.1.Cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp.
  22. 22. Trong bối cảnh nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt, sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải cung cấp sản lượng lương thực nhiều hơn nữa, Việt Nam cần xây dựng chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp để phát triển hiệu quả, bền vững.  Những vấn đề cần giải quyết để tái cơ cấu ngành nông nghiệp.- Tái cơ cấu lại đầu tư.- Ứng dụng và đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất.- Chú trọng đào tạo cho người nông dân – nguồn nhân lực chính phục vụ phát triển nông thôn.- Cải cách hành chính, xây dựng khuôn khổ pháp luật cần thiết cho việc tái cơ cấu ngành.  Định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh yêu cầu: Bước sang giaiđoạn phát triển mới, ngành nông nghiệp cần có những định hướng tập trungphát triển mới. “Đó là việc hướng tới việc khai thác tối đa tiềm năng và lợithế phát triển của ngành hiện còn rất lớn. Tiềm năng đó là giá trị gia tăng vàchất lượng các sản phẩm nông, thủy hải sản” -Ngành trồng trọt Ưu tiên cao hơn cho nhóm cây rau và hoa; tiếp tục khai thác khả năngtăng giá trị gia tăng trong trồng trọt theo hướng đổi mới trong khâu giống,thâm canh, ứng dụng công nghệ cao, thực hành GAP nhằm nâng cao chấtlượng sản phẩm; chú trọng nâng cao giá trị gia tăng trong khâu sau thu hoạchvà chế biến. -Ngành chăn nuôi Tái cơ cấu đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng gia cầm, bò sữa; chuyển dịch mạnh chăn nuôi nhỏ lẻ sang trang trại, gia trại theo kiểu công nghiệp và công nghệ cao đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh và bảo vệ môi trường; chuyển dịch dần chăn nuôi từ đồng bằng lên vùng trung du, miền núi, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung xa thành phố, khu dân cư.- Ngành thủy sản
  23. 23. Ưu tiên phát triển tôm, cá tra và nhuyễn thể; tập trung phát triển nuôi trồng theo hướng công nghiệp, thâm canh, tăng hiệu quả, đảm bảo vệ sinh an toàn và duy trì cân bằng sinh thái môi trường; ưu tiên cao cho việc đầu tư phát triển nuôi trồng ở vùng ĐBSCL, vùng ven biển. - Ngành lâm nghiệpƯu tiên phát triển rừng kinh tế; rừng phòng hộ lưu vực xung yếu, rừng ngậpmặn ven biển, rừng biên giới. - Phát triển công nghiệp chế biến và ngành nghề nông thôn Khuyến khích các ngành công nghiệp chế biến tinh, chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm nông nghiệp; phát triển ngành nghề nông thôn, gắn hoạt động kinh tế của các làng nghề với hoạt động dịch vụ du lịch và bảo tồn phát triển văn hóa truyền thống. Trong 5 năm tới, ngành nông nghiệp cần tập trung tối đa cho các giải pháp tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Việc tái cơ cấu cần đồng bộ, trước hết là trong chuyển đổi cơ cấu vốn đầu tư, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách, có chính sách thu hút đầu tư ngoài xã hội, nhất là đầu tư nước ngoài để ưu tiên cho các chương trình KHCN, giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng, giá trị cao. Đặc biệt là gia tăng hàm lượng, giá trị chế biến trong tất cả các sản phẩm nông, lâm, thủy hải sản, coi đây là khâu đột phá để vừa đảm bảo ổn định về tăng trưởng vừa nâng cao giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp.3.2 Sử dụng hợp lí tài nguyên nông nghiệp Nền kinh tế nước ta vẫn còn phải dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên (TNTN). Riêng giá trị sản lượng nông nghiệp còn chiếm tới 23% tổng giá trị GDP. Nếu tính cả các lĩnh vực khác, thì có thể thấy TNTN đã đóng góp tới 50% tổng giá trị GDP, 60-70% tổng giá trị hàng xuất khẩu, và mang lại việc làm cho hàng triệu người lao động. Nước ta có nguồn TNTN tương đối phong phú, nhưng cũng có những nét đặc thù. Tài nguyên sinh vật phong phú và có tính đa dạng sinh học cao, tài nguyên nước và tài nguyên khoáng sản thuộc loại trung bình, nhưng tài nguyên đất thì lại hạn chế. Tình hình bảo vệ không tốt, khai thác bừa bãi, thiếu kỹ thuật, chế biến và sử dụng kém hiệu quả TNTN là tương đối phổ biến hiện nay, đã và đang gây tổn thất và làm cạn kiệt, suy thoái nhiều nguồn tài nguyên. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy nhiều vấn đề tồn tại trong việc khai thác sử dụng TNTN. Tại Tây Nguyên, diện tích rừng tự nhiên giảm liên
  24. 24. tục, do khai thác quá mức và chưa ngăn chặn được hoạt động khai thácbất hợp pháp. Rừng trồng không đạt chỉ tiêu. Phát triển cây trồng chưagắn với khả năng tưới. Phát triển cây trồng trên địa hình không thuận lợi,chưa gắn với việc sử dụng kỹ thuật canh tác thích hợp. Do vậy, càng pháttriển càng kém bền vững. Nhiều giải pháp tương đối toàn diện đã đượckiến nghị. Một số nghiên cứu chuyên đề, như phương án sử dụng đất ởhuyện Ngọc Hồi và Sa Thầy, đã được hoàn thành và bàn giao cho địaphương sử dụng. Chuyên đề nghiên cứu quy luật phân bố và triển vọngkhoáng sản quý hiếm ở Tây Nguyên đã xác định 4 kiểu nguồn gốc đáquý, trong đó 2 kiểu có giá trị công nghiệp và đã sơ bộ khoanh vùng triểnvọng phát hiện đá quý ở Tây Nguyên. Vùng ĐBSH đất chật người đông, cho nên tài nguyên đất đặc biệtcó ý nghĩa. Trong thập kỷ qua, do phát triển thâm canh nông nghiệp,ngoài những thành tựu to lớn đã đạt được, cần quan tâm hơn đến vấn đềsuy thoái chất lượng đất do lượng phân bón sử dụng còn thấp, chưa bù lạiđược lượng dinh dưỡng do cây trồng lấy đi, hoặc do sự mất cân đối trongsử dụng phân hoá học. Cũng có nhiều nơi dư lượng thuốc bảo vệ thực vậtcòn tồn lưu trong đất khá cao, ảnh hưởng tới chất lượng sảm phẩm câytrồng. Về mặt đa dạng sinh học, nhiều giống cây trồng, vật nuôi cổ truyềncó giá trị về gen đã bị thất thoát, thí dụ 56 giống lúa, trong đó có 30 giốngcó chất lượng gạo ngon. Các loài thiên địch trong vùng trồng lúa cũng đãgiảm đi 23 loài và giảm trên 50% về số lượng. Nhiều kiến nghị cũng đãđược đề xuất, như việc cải tiến công tác quy hoạch, các giải pháp về sửdụng hợp lý đất và cải thiện chất lượng môi trường đất bằng các phươngpháp canh tác hợp lý, các biện pháp bảo vệ đất, hạn chế sử dụng hoá chấtbảo vệ thực vật, tăng cường sử dụng các phương pháp sinh học. Vùng ĐBSCL có tiềm năng lớn về nông nghiệp và thuỷ hải sản,nhưng cũng có những trở ngại lớn về mặt môi trường do chế dộ thuỷ vănvà tình hình khai thác trên sông Mê Công, do ảnh hưởng của bán nhậttriều Biển Đông, lại là vùng có những diện tích đất phèn rộng lớn và miềnđất ngập nước nhậy cảm. Sau các biện pháp thoát lũ, còn có những vấn đềphải nghiên cứu giải quyết tiếp, như phân chia lại dòng tràn đồng và dòngchính, tác động của các bờ bao làm thay đổi quan hệ dòng chảy ở sôngTiền và sông Hậu và thúc đẩy hiện tượng sạt lở bờ và tăng bồi lấp ở cửasông. Có nhiều biện pháp đã được đề xuất về việc sử dụng hợp lý tàinguyên; đa dạng hoá nền kinh tế, mà trước hết là đa dạng hoá nôngnghiệp; tăng cường hệ số trao đổi nước; lợi dụng nước lũ để thay nướcvùng phèn và vùng nước mặn để ngọt hoá; tăng lượng trữ nước trên đồngbằng; xử lý các chất thải, kể cả trong mùa lũ; xây dựng các khu dân cưsinh thái; tăng cường công tác khảo sát đo đạc để có thể dự báo sớm nguycơ sạt lở; sử dụng các biện pháp công trình và phi công trình để phòng
  25. 25. ngừa và hạn chế nguy cơ sạt lở; bảo vệ đa dạng sinh học và kiểm soát việc nhập nội các loài lạ vv... Hiện tượng hoang mạc hoá làm ảnh hưởng tới đời sống của hàng trăm triệu người trên thế giới, hàng năm gây thiệt hại khoảng trên 40 tỷ USD. Hiện tượng này cũng xuất hiện ở nước ta và có nguy cơ lan rộng tại một số tỉnh Nam Trung Bộ. Kết quả nghiên cứu của các đề tài đã làm rõ nguyên nhân của các hiện tượng này do đặc điểm địa hình, điều kiện khí hậu khô nóng, tính chất cực đoan của khí hậu-thuỷ văn giữa mùa khô và mùa mưa, thành phần thạch học của đất đá, các phương thức canh tác lạc hậu và việc chăn thả gia súc quá tải...Nhiều biện pháp đã được đề xuất, liên quan đến vấn đề quy hoạch, các giải pháp kỹ thuật trong sản xuất và các giải pháp về tổ chức và quản lý. Một số mô hình dựa trên các kinh nghiệm của nhân dân đã được nghiên cứu, cải tiến và đang thử nghiệm, bước đầu cho kết quả tốt.3.3 Tăng cường chuyển giao khoa học công nghệ cho người laođộng Việc nâng cao tay nghề và kĩ năng sản xuất cho người nông dân là một việc hết sức quan trọng và cần thiết nhằm phát triển nền nông nghiệp bền vững ở nước ta. Việc chuyển công nghệ cần được thực hiện thường xuyên và rộng khắp trong cả nước, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc ít người, giúp họ nâng cao năng suất, giảm tỷ lệ đói nghèo. Góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo Nhà nước ta đang thực hiện.

×