• Share
  • Email
  • Embed
  • Like
  • Save
  • Private Content
Bai giang nlcb_1
 

Bai giang nlcb_1

on

  • 12,673 views

 

Statistics

Views

Total Views
12,673
Views on SlideShare
12,673
Embed Views
0

Actions

Likes
8
Downloads
243
Comments
0

0 Embeds 0

No embeds

Accessibility

Categories

Upload Details

Uploaded via as Adobe PDF

Usage Rights

© All Rights Reserved

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Processing…
Post Comment
Edit your comment

    Bai giang nlcb_1 Bai giang nlcb_1 Document Transcript

    • ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG Tiến sĩ Lê Hữu Ái Thạc sỹ Lưu Hoàng Tuấn Thạc sỹ Nguyễn Hồng Cử TẬP BÀI GIẢNG NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢNCỦA CHỦ NGHĨA MAC – LÊNIN (Phần I) Năm 2009
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Lời giới thiệu Thực hiện chương trình đổi mới việc giảng dạy và học tập các mônkhoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học vàcao đẳng, trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học, ngày 18 tháng 09 năm2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT về chương trình các môn học lý luận chính trị, chươngtrình này được áp dụng từ học kỳ II năm học 2008-2009. Nhằm đáp ứng nhucầu học tập của sinh viên các trường thuộc Đại học Đà Nẵng, tập thể cán bộgiảng dạy thuộc khoa Mác - Lênin và khoa Kinh tế chính trị, trường đại họcKinh tế đã phối hợp biên soạn tập bài giảng này. Tập bài giảng môn “Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” được biên soạn theo chươngtrình khung và Giáo trình của môn học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.Tài liệu này còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để học tập của sinhviên các hệ đào tạo khác của Đại học Đà Nẵng. Do thời gian hạn chế do đóTập bài giảng không thể tránh khỏi sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được sựgóp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên. Đà Nẵng ngày 20 tháng 02 năm 2009 -1-
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Chương: Mở đầu NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN Bất kỳ ngành khoa học nào, thực sự là khoa học khi nó trả lời được bacâu hỏi, đó là: môn học nghiên cứu cái gì? (tức là xác định đối tượng của mônhọc); cần phải nghiên cứu, học tập như thế nào (tức là phương pháp của mônhọc) và hệ thống các kết quả từ việc áp dụng phương pháp vào nghiên cứu đốitượng (hệ thống các quy luật, phạm trù). Chương Mở đầu của môn họcNhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm giải quyết ba vấnđề đó. Chương này trình bày khái lược các nội dung trọng tâm và quá trìnhhình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm tạo ra cái nhìn tổngquát về đối tượng và phạm vi của môn học.I. KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN1. Chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành a. Chủ nghĩa Mác-Lênin Chủ nghĩa Mác-Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa họccủa C.Mác, Ph.Ăngghen và sự phát triển của V.I.Lênin; là sự kế thừa và pháttriển những giá trị của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thờiđại; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dânlao động và giải phóng con người; là thế giới quan và phương pháp luận phổbiến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng. b. Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực,nhưng trong đó có ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là: triết học, kinh tếchính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học: - Triết học Mác-Lênin là bộ phận nghiên cứu những quy luật vận động,phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy nhằm hình thành thế giới -2-
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------quan và phương pháp luận chung nhất cho nhận thức khoa học và thực tiễncách mạng. - Kinh tế chính trị nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, đặcbiệt là nghiên cứu quy luật kinh tế của sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩatư bản và sự ra đời của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. - Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu quy luật khách quan của quátrình cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự chuyển biến lịch sử từ chủ nghĩa tư bảnlên chủ nghĩa xã hội. Ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin có đối tượng nghiên cứucụ thể khác nhau nhưng đều nằm trong hệ thống lý luận khoa học thống nhất -Đó là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dânlao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột, tiến tới giải phóng con người.2. Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin a. Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác Điều kiện kinh tế - xã hội Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 thế kỷ XIX. Đây là thời kỳphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnhmẽ trên cơ sở những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp. Cách mạngcông nghiệp không những đánh dấu sự chuyển biến từ nền sản xuất thủ côngsang đại công nghiệp mà còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, nhất là sựhình thành và phát triển của giai cấp vô sản. Cách mạng công nghiệp làm chomâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá với quan hệ sản xuấtmang tính tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt. Biểu hiện của mâuthuẫn trên là sự xuất hiện của khủng hoảng kinh tế (xảy ra lần đầu tiên ở Anhvào năm 1825) Phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩacủa công nhân ngành dệt thành phố Liôn (Pháp) năm 1831, 1834; Phong tràoHiến chương Anh (1835-1848), khởi nghĩa của công nhân dệt ở Silêdi (Đức)năm 1844...Điều đó chứng tỏ giai cấp công nhân đã trở thành lực lượng chínhtrị độc lập. Thực tiễn cuộc đấu tranh giai cấp đặt ra đòi hỏi khách quan là giai -3-
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------cấp công nhân cần phải được trang bị vũ khí về lý luận làm cơ sở cho đấutranh giai cấp. Vì vậy, thực tiễn cách mạng là tiền đề thực tiễn cho sự phát triển lýluận của chủ nghĩa Mác. Tiền đề lý luận: Chủ nghĩa Mác ra đời dựa trên sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận củanhân loại trong đó trực tiếp là Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị học cổđiển Anh và Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Triết học cổ điển Đức với các đại biểu xuất sắc là L.Phơbách (LudwigAndreas Feuerbach, 1804 – 1872) và G.W.Ph.Hêghen (Georg WilhelmFriedrich Hegel, 1770 1831) đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thếgiới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác. Với triết học của G.W.Ph.Hêghen, lần đầu tiên trong lịch sử tư duy củanhân loại đã diễn đạt nội dung của phép biện chứng dưới dạng lý luận chặtchẽ thông qua một hệ thống các quy luật, phạm trù. Trên cơ sở phê phán quanđiểm duy tâm thần bí trong triết học của G.W.Ph.Hêghen, C.Mác vàPh.Ăngghen đã kế thừa phép biện chứng của ông để xây dựng phép biệnchứng duy vật. C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao quan điểm triết học của L.Phơbáchtrong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo nhưng đồng thờicũng phê phán quan điểm quan điểm siêu hình của ông. Chủ nghĩa duy vật, vôthần của ông đã tạo tiền đề cho sự chuyển biến của C.Mác, Ph.Ăngghen từ thếgiới quan duy tâm sang duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lậptrường chủ nghĩa cộng sản. Kinh tế chính trị cổ điển Anh với các đại biểu tiêu biểu như A.Smít,D.Ricácđô đã góp phần tích cực vào sự hình thành quan niệm duy vật về lịchsử của chủ nghĩa Mác. Công lao của A.Smít (Adam Smith, 1723 – 1790) và D.Ricácđô (DavidRicardo, 1772 -1823) là đã xây dựng lý luận giá trị lao động, đưa ra kết luậnquan trọng về nguồn gốc của giá trị và lợi nhuận và các quy luật kinh tế khách -4-
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------quan, nhưng lý luận của các ông có hạn chế là không thấy được tính lịch sửcủa giá trị và mâu thuẫn của sản xuất hàng hóa, không phân biệt được sảnxuất hàng hóa giản đơn với sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, chưa phântích được những biểu hiện của giá trị trong phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa. C.Mác đã kế thừa những yếu tố hợp lý trong học thuyết giá trị vànhững tư tưởng tiến bộ của các nhà cổ điển, giải quyết được những bế tắc màcác nhà cổ điển không thể vượt qua để xây dựng lý luận giá trị thặng dư, luậnchứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinhtế của sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời khách quan củachủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội không tưởng không tưởng đã có quá trình phát triểnlâu dài và đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ XIX. Các đại biểu xuất sắc như:H.Xanh Ximông (Henri Saint Simon, 1976 - 1725), S.Phuriê (Charles Fourier,1772 - 1837), R.Ôoen (Robert Owen, 1771 – 1858) thể hiện đậm nét tư tưởngnhân đạo, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản và đưa ra nhưng dự báo thiêntài về xã hội tương lai. Hạn chế của họ là không phân tích được một cáchkhoa học bản chất của chủ nghĩa tư bản, chưa thấy được sứ mệnh lịch sử củagiai cấp công nhân, song tinh thần nhân đạo và những dự báo của các ông đãtrở thành tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời của lý luận khoa học về chủnghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác. Tiền đề khoa học tự nhiên Chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác là kết quả của sự tổng kếtnhững thành tựu khoa học của nhân loại, nhất là ba phát minh trong khoa họctự nhiên: Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Đây là cơ sở khoa họcđể khẳng định rằng vật chất và vận động của vật chất không do ai sáng tạo ravà không thể bị tiêu diệt. Chúng chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác,từ hình thức này sang hình thức khác. -5-
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Thuyết tiến hóa của Đácuyn (Charles Robert Darwin, 1809 – 1882) đãđem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển của các giống loài, mối liênhệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên. - Thuyết tế bào Học thuyết tế bào do GS. M.Slaiđen (trường Đại họcGana,ở Đức) xây dựng năm 1838. Ông cho rằng, tế bào là đơn vị sống cơ bảnnhất trong kết cấu của mọi thực vật. Quá trình phát dục của thực vật là quátrình hình thành và phát triển của tế bào. Sau đó, vào năm 1839 GS. T.Svannơ(GS phẫu thuật người của trường Đại học Ruăng ở Đức) đã mở rộng họcthuyết tế bào từ giới thực vật sang giới động vật, khiến loài người nhận thứcđược rằng, tế bào là đơn nguyên kết cấu chung của mọi cơ thể sinh vật.Những phát hiện nêu trên đã vạch ra quá trình biện chứng của sự vận động,phát triển, chuyển hoá không ngừng của bản thân giới sinh vật. Như vậy, sự ra đời của chủ nghĩa Mác là hiện tượng hợp quy luật, nó vừalà sản phẩm của tình hình kinh tế xã hội đương thời, của tri thức nhân loạitrong các lĩnh vực khoa học, vừa là sản phẩm năng lực tư duy và tinh thầnnhân văn của những người sáng lập ra nó. b. Các giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác Giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác (1842-1848) Trong giai đoạn này với các tác phẩm chủ yếu như: Bản thảo kinh tế-triết học (C.Mác, 1844), Gia đình thần thánh (C.Mác - Ph.Ăngghen, 1845),Luận cương về Phơbách (C.Mác, 1845), Hệ tư tưởng Đức (C.Mác-Ph.Ăngghen, 1845), C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những tinh hoa của chủnghĩa duy vật và phép biện chứng để xây dựng nên phép biện chứng duy vật. Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (C.Mác, 1847), C.Mác đãđề xuất những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa xã hộikhoa học và bước đầu thể hiện tư tưởng về giá trị thặng dư. Trong Tuyên ngôncủa Đảng Cộng sản (C.Mác-Ph.Ăngghen, 1848) đã chỉ ra quy luật vận độngcủa lịch sử, thể hiện tư tưởng cơ bản về lý luận hình thái kinh tế xã hội, vềgiai cấp và đấu tranh giai cấp. Với các quan điểm này, C.Mác và Ph.Ăngghenđã tạo tiền đề sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử. -6-
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Giai đoạn từ 1849-1895 Đây là giai đoạn phát triển, hoàn thiện của chủ nghĩa Mác. Trong giaiđoạn này cùng với các hoạt động thực tiễn, trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duyvật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu một cách toàn diện phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Dựa trên việc phát hiện ra phạm trù hàng hóa sức lao động, C.Mác đãtìm ra nguồn gốc của giá trị thặng dư, chỉ ra bản chất bóc lột của chủ nghĩa tưbản. Lý luận giá trị thặng dư được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày toàn diện,sâu sắc trong bộ Tư bản. Tác phẩm này không chỉ mở đường cho sự hìnhthành hệ thống lý luận kinh tế chính trị trên lập trường giai cấp vô sản mà còncủng cố, phát triển quan điểm duy vật lịch sử thông qua lý luận hình thái kinhtế - xã hội, làm cho chủ nghĩa duy vật lịch sử không còn là một giả thuyết màlà một nguyên lý đã được chứng minh một cách khoa học, bộ Tư bản còn làtác phẩm chủ yếu trình bày về chủ nghĩa xã hội khoa học thông qua việc làmsáng tỏ quy luật hình thành, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tưbản, sự thay thế nó bằng chủ nghĩa xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân. Tư tưởng về chủ nghĩa duy vật lich sử, về cách mạng vô sản tiếp tụcđược phát triển trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (C.Mác, 1875). Tácphẩm này trình bày những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác về nhà nướcchuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội, các giai đoạn xây dựng chủ nghĩa cộng sản. c. V.I Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịchsử mới Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giaiđoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền. Bản chất bóc lột và thống trị của chủ nghĩatư bản ngày càng được bộc lộ rõ nét, mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nêngay gắt. Các nước tư bản chia nhau thị trường thế giới và gây ra cuộc Chiếntranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). -7-
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Tại các nước thuộc địa, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc tạo nênsự thống nhất giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản màtrung tâm là Cách mạng Tháng Mười Nga. Sau khi Ph.Ăngghen qua đời, các phần tử cơ hội trong Quốc tế II tìmmọi cách nhằm xuyên tạc chủ nghĩa Mác. Trước tình hình đó đòi hỏiV.I.Lênin phải tiến hành đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong khoa học tự nhiên, nhất là trongvật lý học, có nhiều phát minh khoa học làm đảo lộn quan niệm siêu hình vềvật chất và vận động, gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong triếthọc. Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng tình trạng khủng hoảng này để tấn côngvà bác bỏ chủ nghĩa duy vật. Trong hoàn cảnh đó, V.I.Lênin tiến hành đấutranh chống chủ nghĩa duy tâm để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật. Vai trò của V.I Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác Quá trình bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác chia thành ba thời kỳ: Giai đoạn 1893-1907, là thời kỳ V.I.Lênin tập trung chống lại pháiDân túy. Trong tác phẩm: Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranhchống những người dân chủ - xã hội ra sao (1894), V.I.Lênin đã phê phántính chất duy tâm và những sai lầm của phái Dân túy về nhận thức những vấnđề lịch sử - xã hội, vạch rõ ý đồ xuyên tạc chủ nghĩa Mác bằng cách xóa nhòaranh giới giữa phép biện chứng duy vật của C.Mác với phép biện chứng duytâm của G.Hêghen, nêu lên mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Trong tác phẩm Làm gì? (1902) V.I.Lênin phát triển lý luận của chủnghĩa Mác về các hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trước khigiành chính quyền; đề cập đến nhiều vấn đề đấu tranh kinh tế, chính trị, tưtưởng; đặc biệt ông nhấn mạnh quá trình hình thành hệ tư tưởng của giai cấpvô sản. Năm 1905, V.I.Lênin viết tác phẩm Hai sách lược của Đảng dân chủ -xã hội trong cách mạng dân chủ. Trong tác phẩm này, V.I.Lênin đã phát triểnlý luận về phương pháp cách mạng, các nhân tố chủ quan và nhân tố khách -8-
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------quan, vai trò của quần chúng nhân dân, của các đảng chính trị trong cáchmạng tư sản giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Giai đoạn 1907-1917 Trong giai đoạn này diễn ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan, dẫnđến sự xuất hiện tư tưởng duy tâm của Makhơ phủ nhận chủ nghĩa Mác.V.I.Lênin đã tổng kết toàn bộ thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX,đầu thế kỷ XX; tổng kết các sự kiện lịch sử của thời kỳ này để viết tác phẩmChủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909). Bằng việc đưara định nghĩa kinh điển về vật chất; nêu lên mối quan hệ giữa vật chất và ýthức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, những nguyên tắc của nhận thức.Bảo vệ nguồn gốc lịch sử, bản chất và kết cấu của chủ nghĩa Mác (ở tác phẩmBa nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, 1913), phép biệnchứng (tác phẩm Bút ký triết học, 1914-1916), phát triển tư tưởng về nhànước và chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, vai trò của Đảng Cộng sảnvà con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội (tác phẩm Nhà nước và cách mạng,1917). Giai đoạn sau Cách Mạng Tháng Mười 1917-1924 Cách mạng Tháng Mười Nga thành công mở ra thời đại quá độ từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, nảy sinh nhữngnhu cầu mới về lý luận mà thời C.Mác, Ph.Ăngghen chưa đặt ra. Trên cơ sởtổng kết thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân, V.I.Lênin đã viết cáctác phẩm: Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920), Lại bànvề về công đoàn, Về tình hình trước mắt và về những sai lầm của các đồngchí Tơrôtxki và Bukharin (1921), Về chính sách kinh tế mới (1921), Bàn vềthuế lương thực (1921) nhằm tiếp tục bảo vệ phép biện chứng mácxít, chốngchủ nghĩa chiết trung, và thuyết ngụy biện; phát triển học thuyết Mác về nhântố quyết định thắng lợi của một chế độ xã hội, về giai cấp, về hai nhiệm vụ cơbản của giai cấp vô sản, về chiến lược, sách lược của đảng vô sản trong điềukiện lịch sử mới, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về kế hoạch xâydựng chủ nghĩa xã hội. -9-
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- d. Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới Chủ nghĩa Mác-Lênin với cách mạng vô sản Nga (1917) Chủ nghĩa Mác ra đời đã ảnh hưởng to lớn đến phong trào cộng sản vàcông nhân quốc tế. Cách mạng tháng Ba năm 1871 ở Pháp với sự ra đời củanhà nước chuyên chính vô sản (công xã Pari) là sự kiểm nghiệm đầu tiên củachủ nghĩa Mác. Tháng 8 năm 1903, chính đảng vô sản đầu tiên được thành lập ở Ngavà lãnh đạo cuộc cách mạng 1905. Tháng Mười năm 1917, cuộc cách mạngxã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản thắng lợi, mở ra một kỷ nguyên mới chonhân loại, chứng minh tính hiện thực của chủ nghĩa Mác-Lênin trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc vàxây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. Sau 1917, học thuyết Mác-Lênin tiếp tục có những ảnh hưởng sâu rộng:năm 1919 Quốc tế Cộng sản được thành lập; năm 1922 Liên bang Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Xô viết ra đời; sau chiến tranh thế giới thứ 2, hàng loạt nước xãhội chủ nghĩa ra đời, hình thành nên hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới bao gồmcác nước Mông Cổ, Ba Lan, Rumani, Hunggari, Việt Nam, Tiệp Khắc, Cộnghòa dân chủ Đức, Trung Quốc, Cu Ba, Nam Tư, Anbani, Bungari. Những sự kiện trên đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào công nhân và phongtrào giải phóng dân tộc trên thế giới. Vai trò định hướng của chủ nghĩa MácLênin đã đem lại những thành quả lớn lao cho sự nghiệp vì hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà đặc biệt là do sailầm trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác của những người cộng sản đã dẫn tớihệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào, song đókhông phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác-Lênin; sự sụp đổ của Liên Xô vàcác nước Đông Âu không đồng nhất với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nóichung. Một số nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam... thực hiệnthành công công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội, chẳng những đã có thể rakhỏi khủng hoảng, mà còn thực hiện tốt hơn những mục tiêu của công cuộc - 10 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hộivẫn được khẳng định ở nhiều quốc gia và chiều hướng đi theo con đường xãhội chủ nghĩa vẫn lan rộng ở các nước khu vực Mỹ Latinh. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây là sự phá sản củamô hình cũ của chủ nghĩa xã hội. Việc đổi mới thành công chủ nghĩa xã hội ởmột số nước đã mở ra cho nhân loại nhiều triển vọng mới. Nhân loại chẳngnhững không từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà trái lại, tìm kiếm một mô hình mớicủa chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình mới. Cần phải thấy rằng, dù xã hộihiện nay có biến đổi thế nào thì bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không thayđổi. Chính vì vậy, việc bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội, phát triển chủnghĩa Mác-Lênin và đổi mới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trở thànhvấn đề cấp bách trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng ta phát động và lãnh đạo khôngcó nghĩa là từ bỏ mà là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng;kiên trì mục tiêu chủ nghĩa xã hội; nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩaMác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện cụ thể của nướcta và bối cảnh thế giới hiện nay.II. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP,NGHIÊN CỨU NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN1. Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu Đối tượng học tập, nghiên cứu môn học“Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin” là: “những quan điểm cơ bản, nền tảng của chủnghĩa Mác-Lênin trong phạm vi ba bộ phận cấu thành nó. Trong phạm vi lý luận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin: nghiên cứunhững nguyên lý cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận chung nhất,bao gồm: Những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là hạtnhân lý luận của thế giới quan khoa học. - 11 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Phép biện chứng duy vật với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổbiến và sự phát triển, những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triểncủa tự nhiên, xã hội, tư duy. Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là sự vận dụng những nguyênlý của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng vào việc nghiên cứu đời sốngxã hội. - Trong phạm vi lý luận kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, đólà nghiên cứu học thuyết giá trị lao động, học thuyết giá trị thặng dư, họcthuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhànước; khái quát những quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn phát triển cao của nó. - Trong phạm vi chủ nghĩa xã hội khoa học, đó là nghiên cứu về sứmệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa;những quy luật của sự hình thành, phát triển của hình thái kinh tế xã hội cộngsản chủ nghĩa và những định hướng cho hoạt động của giai cấp công nhân. Mục đích của việc nghiên cứu, học tập môn Những nguyên lý cơbản của chủ nghĩa Mác-Lênin: - Nắm vững quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩaMác Lênin. - Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh vàĐường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và vận dụngsáng tạo những nguyên lý đó trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, hiểu rõnền tảng tư tưởng của Đảng - Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là để xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng, rèn luyện tu dưỡng đạođức, đáp ứng yêu cầu của con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ đất nước.2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu - 12 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Trong quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin cần thực hiện một số yêu cầu cơ bản sau: - Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; tránh bệnh kinh viện,giáo điều trong quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý cơbản đó trong thực tiễn. - Những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin có quan hệ mật thiết vớinhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau, vì vậy, nghiên cứu mỗi luận điểm của chủnghĩa Mác-Lênin phải đặt chúng trong mối liên hệ với các luận điểm khác,mỗi bộ phận cấu thành trong mối quan hệ với các bộ phận cấu thành khác đểthấy sự thống nhất trong tính đa dạng và nhất quán của mỗi tư tưởng nóiriêng, của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung. - Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cần phải theo nguyên tắc gắn kết những quan điểm cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại đểthấy được sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong từng giaiđoạn lịch sử. - Học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin phải gắn với quá trình giáodục, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, đáp ứng yêu cầu xây dựng con người ViệtNam trong giai đoạn mới. - Hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là hệ thống lýluận khép kín mà trái lại là hệ thống lý luận không ngừng phát triển trên cơ sởphát triển thực tiễn của thời đại, do vậy, cần đặt nó trong lịch sử phát triển tưtưởng của nhân loại. - 13 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Phần thứ nhất THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN Chương I CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNGI. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG1. Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm trong việcgiải quyết vấn đề cơ bản của triết học Dựa trên tổng kết toàn bộ lịch sử triết học, Ph.Ăngghen cho rằng: “Vấnđề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đềquan hệ giữa tư duy và tồn tại” (1) , hay giữa ý thức với vật chất. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: Mặt thứ nhất, (mặt bản thể luận) trả lời câu hỏi: trong mối quan hệ giữatư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau,cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai, (mặt nhận thức luận) trả lời câu hỏi: tư duy con người cókhả năng nhận thức thế giới hay không? Việc giải quyết vấn hai mặt vấn đề cơ bản của triết học là xuất phát điểmcủa các trường phái lớn: chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật; khả tri luận(thuyết có thể biết) và bất khả tri luận (không thể biết). Ngoài ra còn có chủnghĩa nhị nguyên và hoài nghi luận. Chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm: bảnchất của thế giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai;vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức. Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học cho rằng: bản chất của thếgiới là tinh thần; ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức cótrước và quyết định vật chất. (1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.403. - 14 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Chủ nghĩa duy tâm có hai trào hình thức cơ bản là Chủ nghĩa duy tâmkhách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận tính thứ nhất của tinh thần, ýthức nhưng tinh thần, ý thức đó được quan niệm là tinh thần khách quan, ýthức khách quan có trước và tồn tại độc lập với giới tự nhiên và con người.Những đại biểu của trào lưu này là Platon, Hêghen, Tômat Đacanh… Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức conngười, khẳng định ý thức quyết định vật chất, vật chất không tồn tại độc lậpmà phụ thuộc vào cảm giác, ý thức. Những đại biểu của trào lưu này làG.Beccơli, D.Hium. Ngoài sự phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, người ta cònphân biệt: Thuyết nhất nguyên là khuynh hướng triết học cho rằng thế giới chỉ cómột bản nguyên, là thực thể vật chất hoặc thực thể tinh thần có trước và quyếtđịnh. Tùy theo quan niệm cho rằng vật chất hay tinh thần là thực thể của thếgiới mà thuyết nhất nguyên có hai hình thức tương ứng: thuyết nhất nguyênduy vật và thuyết nhất nguyên duy tâm. Thuyết nhị nguyên cho rằng có hai thực thể vật chất và ý thức song songtồn tại, không phụ thuộc lẫn nhau. Thuyết đa nguyên là khuynh hướng triết học cho rằng có nhiều cơ sở,nhiều bản nguyên của tồn tại, chúng không phụ thuộc lẫn nhau. Trong việc giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học có haikhuynh hướng đối lập nhau là thuyết khả tri và thuyết bất khả tri. Đa số cácnhà triết học khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới,có khả năng đạt được chân lý khách quan. Một số các nhà triết học phủ nhậnmột phần hay toàn bộ khả năng nhận thức của con người. Những nhà triết họcnày thuộc thuyết bất khả tri (có nghĩa là không thể nhận thức được). Đại biểucủa khuynh hướng này là Protagor, D.Hium, I.Cantơ… Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật tồn tại và phát triểncó nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và thực tiễn, đồng thời thường gắn - 15 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------với lợi ích của giai cấp và lực lượng tiến bộ trong lịch sử. Chủ nghĩa duy vậtkhông chỉ tổng kết, khái quát kinh nghiệm và thành tựu mà con người đạtđược mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễn của con người.2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng-hình thức phát triển cao nhất của chủnghĩa duy vật. Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, chủnghĩa duy vật được hình thành và phát triển với ba hình thức cơ bản là chủnghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vậtbiện chứng. a. Chủ nghĩa duy vật chất phác Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết họcduy vật thời kỳ cổ đại. Họ thừa nhận tính thứ nhất của vật chất nhưng lại đồngnhất vật chất với một hay dạng tồn tại cụ thể của vật chất, coi đó là thực thểđầu tiên, là bản nguyên của vũ trụ. Đó là sự nhận thức mang tính trực quannhưng chủ nghĩa duy vật chất phác Scó ưu điểm là đã lấy bản thân giới tựnhiên để giải thích giới tự nhiên mà không viện đến một thần linh hay mộtđấng sáng tạo nào để giải thích thế giới. b. Chủ nghĩa duy vật siêu hình Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật,phát triển rõ nét từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, và đạt đỉnh cao vào thế kỷXIX, nó gắn với thời kỳ cơ học cổ điển phát triển mạnh, do đó chịu sự tácđộng mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc. Đặc điểm củachủ nghĩa duy vật siêu hình là nhận thức thế giới như một cỗ máy cơ giới màmỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại. Nếu có biến đổi thìchỉ có sự tăng, giảm đơn thuần về số lượng, do những nguyên nhân bên ngoàigây ra. Tuy chưa phản ánh đúng hiện thực trong mối liên hệ phổ biến và sựphát triển nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình đã góp phần vào việc chống lạithế giới quan duy tâm và tôn giáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp từ thờiTrung cổ sang thời Phục hưng ở các nước Tây Âu. - 16 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- c. Chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng từnhững năm 40 của thế kỷ XIX và được V.I.Lênin phát triển. Chủ nghĩa duyvật biện chứng ra đời trên cơ sở kế thừa tinh hoa trong lịch sử triết học, dựatrên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên vì vậy, đã khắc phục đượchạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy vật siêu hình. Trêncơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến vàsự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng là công cụ vĩ đại cho hoạt độngnhận thức và thực tiễn cách mạng.II. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, ÝTHỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC1. Vật chất a. Phạm trù vật chất Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên2500 năm và có quá trình phát triển gắn liền với thực tiễn và nhận thức củacon người: Chủ nghĩa duy tâm quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên củamọi tồn tại là bản nguyên tinh thần, còn vật chất là sản phẩm của bản nguyêntinh thần ấy. Chủ nghĩa duy tâm phủ nhận vật chất với tính cách là thực tạikhách quan, cho rằng thế giới vật chất là tạo vật của thượng đế, hoặc là “sựphức hợp” những cảm giác của con người. Chủ nghĩa duy vật cổ đại đã đồng nhất vật chất với những dạng tồn tạicụ thể của vật chất. Thí dụ: nước (quan niệm của Talet); không khí (quanniệm Anaximen); lửa (quan niệm của Hêraclit); nguyên tử (quan niệm củaĐêmôcrit); đất, nước, lửa, gió (quan niệm của triết học Ấn Độ); kim, mộc,thủy, hỏa, thổ (quan niệm trong Thuyết ngũ hành ở Trung Quốc). Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII đồng nhất vật chất với nguyên tửvà khối lượng. Với quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên,sản sinh ra vũ trụ chứng tỏ các nhà duy vật trước C.Mác đã đồng nhất vật chấtvới vật thể. Hạn chế này tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật nửa vời, không - 17 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------triệt để. Họ chỉ duy vật khi giải quyết những vấn đề của tự nhiên nhưng lạiduy tâm thần bí khi giải thích các hiện tượng xã hội. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt phát minh khoa học làm chocác quan điểm duy vật siêu hình rơi vào khủng hoảng. Nhiều páht minh trongvật lý học thời kỳ này đã làm đảo lộn quan niệm cũ về vật chất, đó là:Rơnghen (Đức) phát hiện ra tia X (1895); A.H.Beccơren (1852-1908), nhà vậtlý học Pháp và M.Quyri (1867-1934), phát minh ra hiện tượng phóng xạ trongchất uranium (1896); S.J.Tômxơn phát hiện ra điện tử (1897); nhà bác họcĐức Kaufman phát hiện ra sự thay đổi khối lượng điện tử; thuyết tương đốihẹp của A.Anhxtanh... Các phát minh khoa học này gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quantrong vật lý học. Một số các nhà vật lý học giải thích một cách duy tâm cáchiện tượng vật lý và cho rằng vật chất tiêu tan. Trong hoàn cảnh đó, các nhàtriết học duy tâm chủ quan lợi dụng cơ hội này để khẳng định bản chất “phivật chất” của thế giới, khẳng định vai trò của các lực lượng siêu nhiên đối vớiquá trình sáng tạo ra thế giới, cơ sở tồn tại của chủ nghĩa duy vật không cònnữa. Tình hình đó đòi hỏi V.I.Lênin phải đấu tranh bảo vệ và phát triển chủnghĩa duy vật. Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán”, V.I.Lênin đưa ra định nghĩa vật chất kinh điển: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quanđược đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng tachép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (1) . Từ định nghĩa vật chất có thể khẳng định: Thứ nhất, cần phải phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết họcvới những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. Vật chất với tư cách là phạm trùtriết học là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính,những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cáichung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật,(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,1976, t.18, tr.151. - 18 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------hiện tượng chỉ là những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trìnhphát sinh, phát triển và chuyển hóa. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất vớimột hay một số dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. Thứ hai, đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan,tức là thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức conngười, dù con người có nhận thức được nó hay không. Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gâynên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giácquan của con người. Ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất,còn vật chất là cái được ý thức phản ánh. Phương pháp định nghĩa mà V.I.Lênin dùng để định nghĩa vật chất làđối lập vật chất với phạm trù ý thức, chỉ ra thuộc tính cơ bản để phân biệt vậtchất với ý thức. Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với sự pháttriển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học: Một là, với việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộctính khách quan, V.I.Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể,khắc phục được sự hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vậtcũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học cho sự phát triển của triết học và cáckhoa học khác và là cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật vềlịch sử. Hai là, với việc khẳng định vật chất là thực tại khách quan “được đemlại cho con người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại, phản ánh” V.I Lênin khẳng định vật chất là tính thứ nhất, ý thức làtính thứ hai đồng thời thừa nhận khả năng của con người có thể nhận thứcđược thực tại khách quan. b. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phươngthức tồn tại của vật chất; không gian, thời gian là những hình thức tồn tại củavật chất. - 19 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất Ph.Ăngghen viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức đượchiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vậtchất,- thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ,kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” (1) . Định nghĩa trên của Ph.Ăngghen cho thấy vận động là phương thức tồntại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất, thông qua vận động mà cácdạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình. Vận động của vật chấtlà tự thân vận động và sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vận động. Vật chất chỉ có thể tồn tại trong vận động, bằng cách vận động, khôngthể có vật chất không vận động, cũng như không thể có vận động ngoài vậtchất. Các thuộc tính của vật chất chỉ biểu hiện thông qua vận động. Ph.Ăngghen viết: “Các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất chỉcó thể nhận thức được thông qua vận động; thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộqua vận động; về một vật thể không vận động thì không có gì mà nói cả” (2) Các hình thức vận động của vật chất: Dựa trên những thành tựu khoa học ở thời đại mình, Ph.Ăngghen phânchia vận động thành năm hình thức vận động cơ bản: Vận động cơ giới là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian. Vận động vật lý là vận động của phân tử, của các hạt cơ bản, vận độngcủa nhiệt, ánh sáng, điện, trường, âm thanh… Vận động hóa học là sự vận động của các nguyên tử; sự hóa hợp và phângiải của các chất. Vận động sinh vật là vận động của các cơ thể sống như sự trao đổi chất,đồng hóa, dị hóa, sự tăng trưỏng, sinh sản, tiến hóa… Vận động xã hội là sự thay đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhóa…của đời sống xã hội.(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.519.(2) Sđd, t.20, tr.743. - 20 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Các hình thức vận động cơ bản trên được sắp xếp theo thứ tự từ trình độthấp đến trình độ cao, tương ứng với trình độ kết cấu của vật chất. Các hìnhthức vận động khác nhau về chất song chúng không tồn tại biệt lập mà có mốiquan hệ mật thiết với nhau trong đó hình thức vận động cao xuất hiện trên cơsở các hình thức vận động thấp và bao hàm trong nó những hình thức vậnđộng thấp hơn. Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hìnhthức vận động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởihình thức vận động cao nhất mà nó có. Bằng việc phân loại các hình thức vậnđộng cơ bản, Ph.Ăngghen đã đặt cơ sở cho việc phân loại, phân ngành, hợploại, hợp ngành khoa học. Vận động và đứng im: Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vận động là tuyệt đối, là vĩnhviễn nhưng điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự đứng im, cân bằng ; songđứng im, cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứngim, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động. Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bằng chỉ xảy trong một số quanhệ nhất định, chứ không phải trong tất cả mọi quan hệ. Đứng im, cân bằng chỉxảy ra trong một hình thức vận động. Đứng im là tạm thời vì đứng im không phải là cái tồn tại vĩnh viễnmà chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, chỉ là xét trong một hay mộtsố quan hệ nhất định, ngay trong đứng im vẫn diễn ra những quá trình biếnđổi nhất định. Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thếcân bằng, ổn định, vận động chưa làm thay đổi cơ bản về chất, về vị trí, hìnhdáng, kết cấu của sự vật Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất Quan điểm siêu hình coi không gian là một cái hòm rỗng trong đó chứavật chất. Có không gian và thời gian không có vật chất. Có sự vật, hiện tượngkhông tồn tại trong không gian và thời gian. - 21 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng mọi dạng cụ thể của vật chấtđều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính (chiều cao, chiều rộng,chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định (trước haysau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái…) với những dạng vật chất khác.Những hình thức tồn tại như vậy gọi là không gian. Mặt khác sự tồn tại của sựvật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyểnhóa… những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian. Ph.Ăngghen cho rằng: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là khônggian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ởngoài không gian”, do đó có thể hiểu: - Vật chất, không gian và thời gian không tác rời nhau, không có khônggian và thời gian không có vật chất cũng như không thể có sự vật, hiện tượngtồn tại ngoài không gian và thời gian. - Không gian, thời gian có những tính chất chung như những tính chấtcủa vật chất đó là tính khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn. - Không gian có thuộc tính ba chiều (chiều cao, chiều dài, chiều rộng)còn thời gian chỉ có một chiều (từ quá khứ đến tương lai). Tính ba chiều củakhông gian và tính một chiều của thời gian biểu hiện hình thức tồn tại vềquảng tính và quá trình diễn biến của vật chất vận động. c. Tính thống nhất vật chất của thế giới Thế giới vật chất biểu hiện hết sức phong phú, đa dạng, song, nhữngdạng biểu hiện của thế giới vật chất đều phản ánh bản chất của thế giới vàthống nhất với nhau. Quan điểm duy tâm giải thích sự thống nhất của thế giới ở một thực thểtinh thần đầu tiên (Ý niệm, Thượng đế) hoặc từ cảm giác của con người. Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vậtchất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chấtlà cái có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người. - 22 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không đượcsinh ra và không bị mất đị. Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất vớinhau, đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, cónguồn gốc vật chất và chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổbiến của vật chất. Nhận thức trên có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ định hướng chocon người giải thích về tính đa dạng của thế giới mà còn định hướng cho việctiếp tục nhận thức tính đa dạng ấy để thực hiện quá trình cải tạo hợp quy luật.2. Ý thức a. Nguồn gốc của ý thức Trên cơ sở khái quát thành tựu của khoa học, của thực tiễn xã hội, chủnghĩa duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc vật chất, bản chất phản ánhvật chất của ý thức để rút ra vai trò của ý thức trong mối quan hệ với vật chất. Quan điểm duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc của ý thức từ mộtlực lượng siêu tự nhiên (Ý niệm, Brahman, Thượng đế, Trời, v.v.). Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng ý thức là cái vốn có của conngười, không do thần thánh ban cho, cũng không phải là sự phản ánh thế giớibên ngoài. Quan điểm duy vật siêu hình coi ý thức là một dạng vật chất; “óc tiết ra ýthức cũng như gan tiết ra mật”. Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng ý thức ra đời là kết quả của quátrình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội. Ý thức có hai nguồn gốc lànguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội * Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: thể hiện qua sự hình thành của bộ óccon người và hoạt động của bộ óc đó cùng mối quan hệ của con người với thếgiới khách quan, trong đó thế giới khách quan tác động đến bộ óc con ngườitạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo. Về bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao làbộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh - 23 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------của bộ óc. Bộ não người là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới sinhvật. Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng cóhiệu quả, ý thức con người càng phong phú và sâu sắc. Bộ não của động vậtchỉ đạt đến trình độ phản xạ, bản năng, tâm lý động vật, trong khi đó bộ ócngười có khả năng phản ánh thế giới bằng tư duy trừu tượng. Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trìnhphản ánh năng động, sáng tạo: Trong mối quan hệ giữa con người với thếgiới khách quan, thông qua hoạt động của các giác quan, thế giới khách quantác động đến bộ óc người, hình thành quá trình phản ánh. Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vậtchất khác trong quá trình tác động qua lại với nhau giữa chúng. Những đặc điểm được tái tạo ở dạng vật chất nhận sự tác động bao giờcũng mang thông tin của dạng vật chất tác động được gọi là cái phản ánh; còndạng vật chất tác động được gọi là cái được phản ánh. Cái phản ánh và cáiđược phản ánh không tách rời nhau, không đồng nhất với nhau. Cái đượcphản ánh là những dạng cụ thể của vật chất, còn cái phản ánh chỉ là đặc điểmchứa đựng thông tin của dạng vật chất đó ở một dạng vật chất khác. Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất và được thể hiện dướinhiều hình thức, những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa củavật chất. Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng chovật chất vô sinh được thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự tácđộng qua lại với nhau giữa các dạng vật chất vô sinh. Hình thức phản ánh nàymang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động. Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tựnhiên hữu sinh được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ. Tínhkích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổichiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, cấu trúc…khi nhận sựtác động trong môi trường sống. Tính cảm ứng là phản ứng của động vật cóhệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển - 24 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tácđộng từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống. Phản ánh tâm lý là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ươngđược thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ cóđiều kiện. Phản ánh năng động, sáng tạo: là hình thức phản ánh cao nhất trong cáchình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất,có tổ chức cao nhất là bộ óc người. Là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọnthông tin, xử lý thông tin để tạo ra các thông tin mới, phát hiện ý nghĩa củathông tin. Sự phản ánh này được gọi là ý thức. Ý thức là hình thức phản ánhcao nhất trong các hình thức phản ánh của vật chất. * Nguồn gốc xã hội của ý thức: ý thức không thể tồn tại ngoài nãongười; tuy nhiên, ý thức không phải do não sinh ra. Não chỉ là cơ quan thựchiện chức năng phản ánh. Để có ý thức phải có não người và thế giới kháchquan. Ngoài ra còn phải có những điều kiện xã hội nữa đó là: lao động, ngônngữ. Lao động Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tựnhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu con người; là quátrình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổivật chất giữa mình với giới tự nhiên. Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan,làm cho thế giới khách quan bộc lộ ra những thuộc tính, những kết cấu, nhữngquy luật vận động của nó biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà conngười có thể quan sát được. Những hiện tượng ấy thông qua hoạt động củacác giác quan, tác động vào bộ óc con người, tạo ra khả năng hình thànhnhững tri thức nói riêng và ý thức nói chung. Lao động còn là quá trình phát triển bản thân con người, biến vượn thànhngười. Trong lao động con người phải suy nghĩ, tính toán đề ra mục đích, tìm - 25 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------kiếm phương pháp và phương tiện thực hiện mục đích, đúc rút kinh nghiệmthành công và thất bại. Đó chính là phương thức phát triển của ý thức. Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giớikhách quan thông qua quá trình lao động Ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nộidung ý thức. Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện. Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động. Mối quan hệ giữa cácthành viên trong quá trình lao động làm nảy sinh nhu cầu phải có phương tiệnđể biểu đạt, nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy trừu tượng, là phương tiện giao tiếpquan trọng nhất, nhờ ngôn ngữ con người có thể tổng kết tri thức, kinhnghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tóm lại: ý thức ra đời do hai nguồn gốc: Nguồn gốc tự nhiên, đó là kếtquả sự tiến hóa của bộ não và thuộc tính phản ánh của nó. Nguồn gốc xã hộicủa ý thức là lao động, ngôn ngữ. Sự tiến hóa tự nhiên là tiền đề vật chấtkhông thể thiếu được của ý thức. Tuy nhiên, điều kiện xã hội giữ vai trò quyếtđịnh trực tiếp đối với sự ra đời của ý thức. b. Bản chất và kết cấu của ý thức Bản chất của ý thức Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vàotrong đầu óc con người, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo, không phải là sự sao chépđơn giản, máy móc. Tính sáng tạo của phản ánh ý thức thể hiện ở chỗ ý thứccó khả năng phản ánh bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng; ý thức conngười có khả năng biến đổi hình ảnh (cảm tính và lý tính) của sự vật trongđầu óc của mình, tạo ra mô hình mới để từ đó biến đổi sự vật trong hoạt độngthực tiễn. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: ý thức là hình ảnhcủa thế giới khách quan, do thế giới khách quan quy định cả về nội dung và - 26 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quanmà đã được cải biến thông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyệnvọng, kinh nghiệm, tri thức, nhu cầu…) của con người. Theo C.Mác: ý thức“chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người vàđược cải biến đi trong đó” (1) . Ý thức là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tạicủa ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, không những chịu tác động của cácquy luật sinh học mà còn chủ yếu là các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xãhội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội quy định. Với tính năngđộng, ý thức sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội. Kết cấu của ý thức Ý thức có kết cấu phức tạp, có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về kết cấucủa ý thức. Nếu tiếp cận kết cấu của ý thức theo các yếu tố cơ bản nhất hợpthành nó thì ý thức bao gồm: tri thức, tình cảm, ý chí, trong đó tri thức là nhântố quan trọng nhất. Tri thức là toàn bộ sự hiểu biết của con người, là kết quả của quá trìnhnhận thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạngngôn ngữ. Mọi hoạt động của con người đều có tri thức, được tri thức định hướng.Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức. Tri thức là phươngtiện tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển. Căn cứ vào lĩnh vực nhận thức, tri thức có thể chia thành tri thức về tựnhiên, tri thức xã hội, tri thức nhân văn. Căn cứ vào trình độ phát triển của nhận thức tri thức được chia thành: trithức đời thường, tri thức khoa học, tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận, trithức cảm tính và tri thức lý tính. Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong cácquan hệ. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, được(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, t.23, tr.35. - 27 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------hình thành từ sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi nhận sựtác động của ngoại cảnh. Tình cảm biểu hiện và phát triển trong mọi lĩnh vực đời sống của conngười, là động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức và thực tiễn. Tùy vào từngđối tượng nhận thức và sự rung động của con người về đối tượng đó trong cácquan hệ mà hình thành nên các loại tình cảm khác nhau như tình cảm đạođức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm tôn giáo… Ý chí là khả năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua những cảntrở trong quá trình thực hiện mục đích của con người Ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, một biểu hiện của ý thứctrong thực tiễn mà ở đó con người tự giác được mục đích của hành động nêntự đấu tranh với mình và ngoại cảnh để thực hiện đến cùng mục đích đã lựachọn. Có thể coi ý chí là quyền lực của con người đối với mình, nó điều chỉnhhành vi để con người hướng đến mục đích một cách tự giác. Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhausong tri thức là yếu tố quan trọng nhất; là phương thức tồn tại của ý thức,đồng thời là nhân tố định hướng đối với sự phát triển và quyết định mức độbiểu hiện của các yếu tố khác.3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức a. Vai trò của vật chất đối với ý thức Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất là cái có trước, ýthức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ýthức; ý thức là sự phản ánh đối với vật chất. Ý thức của con người không phải là sản phẩm chủ quan thuần tuý, cũngkhông phải có nguồn gốc từ một lực lượng siêu tự nhiên. Nó là kết quả của sựphản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người. Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên và xã hội của ý thức đều do bảnthân thế giới vật chất hoặc những dạng tồn tại của vật chất tạo ra, do đó vậtchất là nguồn gốc của ý thức. - 28 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển của ý thức; sự biến đổi của ýthức là sự phản ánh đối với sự biến đổi của vật chất. Vật chất không chỉ quyếtđịnh nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biếnđổi của ý thức. b. Vai trò của ý thức đối với vật chất Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chấtthông qua hoạt động thực tiễn của con người: Vai trò của ý thức đối với vật chất thực chất là vai trò của con người.Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp làm thay đổi được hiện thực, muốn thayđổi hiện thực cần phải có hoạt động vật chất. Song do mọi hoạt động của conngười đều được ý thức chỉ đạo, nên ý thức trang bị cho con người tri thức vềthực tại khách quan trên cơ sở đó giúp con người xác định mục tiêu, phươnghướng, lựa chọn biện pháp, công cụ ... để thực hiện mục tiêu của mình. Sự tác động của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cựchoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có nghị lực, ý chí,hành động hợp quy luật khách quan thì có tác dụng thúc đẩy hoạt động thựctiễn, cải tạo được thế giới, đạt được mục đích của mình. Nếu ý thức phản ánh sai hiện thực khách quan, khiến cho hành động củacon người đi ngược lại quy luật khách quan thì những tác động ấy sẽ mang lạitác động tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, kìm hãm sự phát triển xã hội. Chính vì thế, trong hoạt động thực tiễn, ngoài việc nhận thức đúng quyluật khách quan, còn cần phải phát huy cao độ tính năng động chủ quan, đồngthời chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, chống lạinhững tư tưởng lạc hậu, phản động, phản khoa học.4. Ý nghĩa phương pháp luận Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới; bản chất năngđộng, sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thứccó thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận là: Trong mọi hoạt động nhận thức và - 29 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hànhđộng theo khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan. Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan là xuấtphát từ tính khách quan của vật chất, có thái độ tôn trọng hiện thực kháchquan mà căn bản là tôn trọng quy luật; nhận thức và hành động theo quy luậtkhách quan. Trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thựctế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách,kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phảitìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vậtchất để hành động. Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năngđộng, sáng tạo của ý thức và nhân tố con người trong việc vật chất hóa tínhtích cực, năng động, sáng tạo ấy. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng trithức khoa học, mặt khác phải tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thứckhoa học đồng thời phải tu dưỡng rèn luyện bản thân mình về đạo đức, ý chí,nghị lực. Đảm bảo nguyên tắc tính thống nhất biện chứng giữa tôn trọng kháchquan và phát huy năng động chủ quan trong hoạt động thực tiễn đòi hỏi phảikhắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, chủ nghĩa kinh nghiệm, coi thường trithức khoa học...trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. - 30 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Chương II PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬTI. PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT1. Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng a. Khái niệm biện chứng, phép biện chứng Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác,chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng,quá trình trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Biện chứng bao gồm: Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất. Biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào đờisống ý thức của con người. Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng củathế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệthống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn. Phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan. Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình - phương pháp tư duy về sựvật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập tĩnh tại và tách rời. b. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng Trong lịch sử triết học, phép biện chứng phát triển qua ba hình thức cơbản: phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điểnĐức và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin. Phép biện chứng chất phác thời cổ đại Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phépbiện chứng trong lịch sử triết học, là nội dung cơ bản trong nhiều hệ thốngtriết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Tiêu biểu như. Tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (họcthuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ); “ngũhành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tốchất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia. - 31 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Trong triết học Ấn Độ biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng làtriết học Phật giáo với các phạm trù như: “vô ngã”, “vô thường”, “nhânduyên” Thời cổ đại Hy Lạp, một số nhà triết học duy tâm (Platon) coi phép biệnchứng là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý. Arixtôt đồng nhất phép biệnchứng với lôgíc học. Một số nhà triết học duy vật có tư tưởng biện chứng vềsự vật (biện chứng khách quan). Hêraclit coi sự biến đổi của thế giới như mộtdòng chảy. Ông nói: “Mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều biến đổi”. “Người takhông thể tắm được hai lần trong cùng một dòng sông”. Phép biện chứng chất phác thời cổ đại có đặc điểm là: Nhận thức đúngvề tính biện chứng của thế giới nhưng không phải dựa trên thành tựu của khoahọc mà bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, là kết quả của sựquan sát trực tiếp. Do đó, chưa đạt tới trình độ phân tích giới tự nhiên, chưachứng minh được mối liên hệ phổ biến nội tại của giới tự nhiên. Từ nửa cuối thế kỷ XV, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển mạnh, đivào nghiên cứu từng yếu tố riêng biệt của giới tự nhiên dẫn đến sự ra đời củaphương pháp siêu hình và phương pháp này trở thành thống trị trong tư duytriết học và nghiên cứu khoa học vào thế kỷ XVIII. Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Cantơ và hoànthiện ở hệt thống triết học của G.Hêghen. Triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phépbiện chứng duy tâm. Tính duy tâm trong triết học của G.Hêghen được biểuhiện ở chỗ, ông coi phép biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ýniệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan.Ông cho rằng “ý niệm tuyệt đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa”thành giới tự nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần. Tinhthần, tư tưởng, ý niệm tuyệt đối là cái có trước, thế giới hiện thực chỉ là bảnsao chép của ý niệm. Như vậy, Hêghen, là người xây dựng phép biện chứng tương đối hoànchỉnh với một hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật. Tuy nhiên, phép biện - 32 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------chứng Hêghen là phép biện chứng duy tâm, là phép biện chứng ngược đầu;ông coi biện chứng của ý niệm sinh ra biện chứng của sự vật, chứ không phảingược lại. Ph.Ăngghen nhận xét rằng: “Tính chất thần bí mà phép biện chứngđã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thànhngười đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vậnđộng chung của phép biện chứng. Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngượcđầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lýcủa nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó” (1) .2. Phép biện chứng duy vật a. Khái niệm phép biện chứng duy vật Phép biện chứng duy vật do C. Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sởkế thừa có phê phán hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng củaG.W.Ph.Hêghen, là phép biện chứng dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật,xuất phát từ biện chứng khách quan của tự nhiên và xã hội. Theo Ph.Ăngghen : “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa họcvề những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên,của xã hội loài người và của tư duy” (2) . Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến,Ph.Ăngghen còn đưA ra một định nghĩa khác về phép biện chứng duy vật:“phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”. Khi nhấn mạnh vai tròcủa nguyên lý về sự phát triển trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa từtriết học của Hêghen, V.I.Lênin cho rằng, trong số những thành quả đó thìthành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dướihình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tínhtương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luônluôn phát triển không ngừng. b. Đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.494.(2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.20. - 33 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Xét từ góc độ kết cấu nội dung, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩaMác-Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau: Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin là phépbiện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học.Với đặc trưng này phép biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin chẳng những cósự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm của G.Hêghen mà còn cósự khác biệt về trình độ so với phép biện chứng duy vật cổ đại. Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin có sựthống nhất giữa nội dung của thế giới quan (duy vật biện chứng) với phươngpháp luận (biện chứng duy vật) do đó, nó không dừng lại ở sự giải thích thếgiới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Mỗi nguyênlý, quy luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin khôngchỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn làphương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới. Với những đặc trưng cơ bản trên mà phép biện chứng duy vật giữ vaitrò là nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương phápluận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tạo nên tính khoa học và tính cáchmạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan vàphương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vựcnghiên cứu khoa học.II. CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến a. Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên dùng để chỉ sự quy định, sựtác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa cácmặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới. Thí dụ: Mối liên hệ giữa điện tích dương và điện tích âm trong mộtnguyên tử; mối liên hệ giữa các nguyên tử, giữa các phân tử, giữa các vật thể;mối liên hệ giữa vô cơ với hữu cơ; giữa sinh vật với môi trường; giữa xã hộivới tự nhiên; giữa cá nhân với cá nhân; giữa cá nhân với tập thể, cộng đồng; - 34 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------giữa các quốc gia, dân tộc; giữa các mặt, các bộ phận của đời sống xã hội;giữa tư duy với tồn tại; giữa các hình thức, giai đoạn nhận thức; giữa các hìnhthái ý thức xã hội… Mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ởnhiều sự vật, hiện tượng của thế giới. Trong mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, những mối liên hệ phổbiến nhất là mối liên hệ giữa các mặt đối lập, mối liên hệ giữa lượng và chất,khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng… Giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệđặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến trong phạm vi nhất định hoặcmối liên hệ phổ biến nhất, trong đó mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện nhữngmối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định. b. Tính chất của các mối liên hệ Tính khách quan của các mối liên hệ Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiệntượng của thế giới là có tính khách quan. Sự quy định lẫn nhau, tác động vàchuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng hoặc trong bản thân chúng làcái vốn có của nó, tồn tại không phụ thuộc vào ý chí con người; con người chỉcó khả năng nhận thức được những mối liên hệ đó. Tính phổ biến của mối liên hệ Phép biện chứng duy vật khẳng định: Không có bất cứ sự vật, hiện tượnghay quá trình nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối với các sự vật,hiện tượng hay quá trình khác mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràngbuộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau. Không có bất cứ sự vật, hiệntượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm các yếu tố cấu thànhvới những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng làmột hệ thống mở tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làmbiến đổi lẫn nhau. Ph.Ăngghen chỉ rõ, tất cả thế giới tự nhiên mà chúng ta có thể nghiêncứu được là một hệ thống, một tập hợp các vật thể khăng khít với nhau.... - 35 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------Việc các vật thể ấy đều có liên hệ qua lại với nhau đã có nghĩa là các vật thểnày tác động lẫn nhau, và sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động”. Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định mối liên hệ còn có tínhphong phú, đa dạng. Tính chất này được biểu hiện ở chỗ: - Các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liênhệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và pháttriển của nó. - Cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điềukiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động,phát triển của sự vật thì cũng có tính chất và vai trò khác nhau. Do đó, khôngthể đồng nhất tính chất, vị trí vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đốivới mỗi sự vật nhất định. Căn cứ vào tính chất, đặc trưng của từng mối liênhệ, có thể phân loại thành các mối liên hệ sau: - Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài. - Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp - Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu - Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản - Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến c. Ý nghĩa phương pháp luận Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàndiện, quan điểm lịch sử - cụ thể. Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phảixem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộphận, các yếu tố, giữa các mặt của sự vật và trong sự tác động qua lại giữ sựvật đó với sự vật khác. Trên cơ sở đó có nhận thức và hành động đúng vớithực tiễn khách quan. “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứutất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “ quan hệ gián tiếp” của sự vật đó.Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự - 36 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------cần thiết phải xem xét tất cả các mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sailầm và sự cứng nhắc” (1) . Đối lập với quan điểm biện chứng toàn diện thì quan điểm siêu hình xemxét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện. Nó không xem xét tất cả các mặt,các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt kia, sựvật này tách rời sự vật khác. Quan điểm toàn diện cũng khác với chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵbiện. Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt một cách vô nguyên tắc, kếthợp những mặt vốn không có mối liên hệ với nhau hoặc không thể dung hợpđược với nhau. Thuật nguỵ biện cường điệu một mặt, một mối liên hệ; hoặclấy mặt thứ yếu làm mặt chủ yếu. Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ cho thấy trong hoạtđộng nhận thức và thực tiễn cần phải kết hợp quan điểm toàn diện với quanđiểm lịch sử - cụ thể. Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu việc nhận thức các tình huống tronghoạt động thực tiễn cần xét đến tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức vàtác động; xác định rõ vị trí vai trò khác nhau của mối liên hệ cụ thể trongnhững tình huống cụ thể để đưa ra các biện pháp đúng đắn phù hợp với đặcđiểm cụ thể của đối tượng cần tác động nhằm tránh quan điểm phiến diện,siêu hình, máy móc.2. Nguyên lý về sự phát triển a. Khái niệm “phát triển” Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy vềlượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quátrình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp. Phép biện chứng duy vật cho rằng: Phát triển là sự vận động theo hướngđi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoànthiện của sự vật(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1976, t.42, tr.384. - 37 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có sự khác nhau: Vậnđộng là mọi biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể: đi lên hayđi xuống, tiến bộ hay lạc hậu, còn phát triển là sự biến đổi về chất theo hướnghoàn thiện của sự vật. Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâuthuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ địnhnhững nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũtrong hình thái mới của sự vật. b. Tính chất cơ bản của sự phát triển Các quá trình phát triển đều có các tính chất cơ bản sau: Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sựvận động và phát triển. Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiệntượng; là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó. Vìvậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ýmuốn con người. Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình pháttriển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọisự vật, hiện tượng và mọi quá trình; trong mọi giai đoạn phát triển của sựvật, hiện tượng. Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: pháttriển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng song trong mỗi sựvật, hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau. Sự vật, hiện tượngtồn tại trong thời gian, không gian khác nhau có sự phát triển khác nhau.Trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, cáchiện tượng hay quá trình khác, của nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử cụ thể, sựthay đổi của các yếu tố tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triểncủa sự vật. c. Ý nghĩa phương pháp luận Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việcnhận thức và cải tạo thế giới. Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn cầnphải: - 38 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- - Xem xét sự vật và hiện tượng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự pháttriển, trong “sự tự vận động”, trong sự biến đổi của nó”. - Luôn đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên. Phát triển là quátrình biện chứng, bao hàm tính thuận, nghịch, đầy mâu thuẫn vì vậy, phảinhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trìnhphát triển. - Xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quátrình đó trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong mối liên hệ biện chứng giữaquá khứ, hiện tại và tương lai trên cơ sở khuynh hướng phát triển đi lên đồngthời phải phát huy nhân tố chủ quan của con người để thúc đẩy quá trình pháttriển của sự vật, hiện tượng theo đúng quy luật. - Phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.III. CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT Phạm trù là những khái niệm rộng nhất phản ánh những mặt, nhữngthuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật và hiệntượng thuộc một lĩnh vực nhất định. Mỗi bộ môn khoa học đều có các phạm trù riêng của mình phản ánhnhững mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến thuộcphạm vi khoa học đó nghiên cứu. Ví dụ: trong toán học có các phạm trù như“số”, “hình”, “điểm”...Trong kinh tế học có các phạm trù như “hàng hóa”,“giá trị”, “giá cả”, “tiền tệ”, “lợi nhuận”... Các phạm trù của phép biện chứng duy vật như “vật chất”, “ý thức”, “vậnđộng”, “mâu thuẫn”, “nguyên nhân”, “kết quả”...là những khái niệm chung nhấtphản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biếncủa cả tự nhiên, xã hội và tư duy, tức là của toàn bộ thế giới hiện thực. Mối liên hệ giữa các phạm trù của phép biện chứng và các phạm trùcủa các khoa học cụ thể là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Với tưcách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứngkhái quát những mối liên hệ phổ biến nhất bao quát các lĩnh vực tự nhiên, xãhội và tư duy vào các cặp phạm trù cơ bản, đó là các cặp phạm trù: cái chung - 39 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------và cái riêng, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung vàhình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực.1. Cái chung và cái riêng a. Khái niệm Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng,một quá trình nhất định. Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, nhữngmặt, những yếu tố, những quan hệ… tồn tại phổ biến ở nhiều sự vật, hiệntượng. Trong mối sự vật, ngoài cái chung còn tồn tại cái đơn nhất. Cái đơn nhấtlà những đặc tính, những tính chất chỉ tồn tại ở một sự vật, một hiện tượngnào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác. b. Quan hệ biện chứng giữa cái riêng với cái chung: - Cái riêng và cái chung đều tồn tại khách quan, vì nó là biểu hiện tínhhiện thực tất yếu, độc lập với ý thức con người. - Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiệnsự tồn tại của mình; cái chung không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng mà nóphải tồn tại trong từng cái riêng cụ thể, xác định. - Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Không có cáiriêng tồn tại độc lập, tuyệt đối tách rời cái chung mà tất yếu phải tồn tại trongmối liên hệ với cái chung. - Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng hơn cái chung; còn cáichung là cái bộ phận nhưng sâu sắc, bản chất hơn cái riêng bởi vì cái riêng làtổng hợp của cái chung và cái đơn nhất, còn cái chung biểu hiện tính phổbiến, tính quy luật của nhiều cái riêng. - Cái riêng và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điềukiện nhất định: Cái mới ra đời: đi từ cái đơn nhất - cái đặc thù - cái phổ biến.Cái cũ mất theo con đường chuyển hóa ngược lại. c. Ý nghĩa phương pháp luận: - 40 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- - Vì cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung nên khôngđược tuyệt đối hóa cái riêng (lợi ích riêng của cá nhân, gia đình, tôn giáo, dântộc, v.v..) - Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng, nên muốntìm ra cái chung (bản chất, quy luật, chính sách, v.v..) phải thông qua việcnghiên cứu cái riêng. Mặt khác, khi áp dụng cái chung vào cái riêng cần phảitính đến đặc điểm và những điều kiện tồn tại cụ thể của cái riêng. - Tôn trọng tính đa dạng phong phú của cái riêng, đồng thời phải tôntrọng những nguyên tắc chung. - Tạo điều kiện để cái riêng và cái đơn nhất chuyển hóa đúng quy luậtđể thúc đẩy sự ra đời và phát triển của mới và sự tiêu diệt cái cũ, cái lỗi thời.2. Nguyên nhân và kết quả a. Khái niệm Nguyên nhân là phạm trù dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặttrong một sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau tạo ramột sự biến đổi nhất định. Kết quả là phạm trù dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do những tácđộng giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiệntượng tạo nên. Nguyên nhân khác với nguyên cớ và điều kiện. Điều kiện là những yếutố giúp nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng bản thân điều kiện không sinh rakết quả. Nguyên cớ là cái không có mối liên hệ bản chất với kết quả. b. Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả. - Nguyên nhân sinh ra kết quả nên nguyên nhân bao giờ cũng có trướckết quả, còn kết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân. Mối quan hệnhân quả không chỉ đơn thuần là sự đi kế tiếp nhau về thời gian (cái này cótrước cái kia), mà là mối liên hệ sản sinh: cái này tất yếu sinh ra cái kia. Chỉcó mối quan hệ tất yếu về mặt thời gian mới là quan hệ nhân quả. - Nguyên nhân thế nào thì sinh ra kết quả thế ấy. Cùng một nguyênnhân sinh ra nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả do nhiều nguyên nhân - 41 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------sinh ra. Do đó, mối quan hệ nhân quả rất phức tạp. Trong trường hợp nhiềunguyên nhân cùng tham gia sinh ra một kết quả, người ta chia ra các loạinguyên nhân: Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài; Nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp; Nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân không cơ bản; Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu; Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. - Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điềukiện nhất định. Nguyên nhân sinh ra kết quả, rồi kết quả lại tác động đến sựvật, hiện tượng khác và trở thành nguyên nhân sinh ra kết quả khác nữa. Dođó, sự phân biệt nguyên nhân với kết quả chỉ có tính chất tương đối. Chẳnghạn, sự phát triển của vật chất là nguyên nhân sinh ra tinh thần, nhưng tinhthần lại trở thành nguyên nhân làm biến đổi vật chất. c. Ý nghĩa phương pháp luận - Mối liên hệ nhân quả có tính khách quan nên cần phải tìm nguyên nhâncủa các sự vật, hiện tượng dẫn đến kết quả trong thế giới hiện thực kháchquan chứ không phải ở ngoài thế giới đó. - Do mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chínhxác các loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợpvới mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn. - Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả, một kết quả có thểdo nhiều nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần có cách nhìntoàn diện và lịch sử cụ thể trong phân tích, giải quyết và ứng dụng quan hệnhân quả.3. Tất nhiên và ngẫu nhiên a. Khái niệm Tất nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái do nguyên nhân cơ bản,bên trong của sự vật, hiện tượng quyết định và trong những điều kiện nhấtđịnh, nó phải xảy ra như thế chứ không thể khác. - 42 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Ngẫu nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái do nguyên nhân bênngoài quyết định, cho nên nó có thể xuất hiện hay không xuất hiện, có thểxuất hiện như thế này hoặc như thế khác. Như vậy, tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân. Nguyên nhân cơbản, bên trong gắn với tất nhiên còn nguyên nhân bên ngoài gắn với ngẫunhiên. b. Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên: - Quan điểm siêu hình tuyệt đối hóa cái tất nhiên hoặc cái ngẫu nhiên,hoặc tách rời hai cái với nhau. Nếu tuyệt đối hóa cái tất nhiên sẽ dẫn đếnthuyết định mệnh. Nếu tuyệt đối hóa cái ngẫu nhiên, sẽ dẫn đến phủ nhận quyluật khách quan, phủ nhận khoa học. - Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định rằng: + Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan trong hiện thực và đềucó vai trò nhất định đối với sự phát triển của sự vật và hiện tượng, trong đó tấtnhiên giữ vai trò quyết định. + Tất nhiên và ngẫu nhiên là hai mặt vừa thống nhất, vừa đối lập. Khôngcó tất nhiên thuần túy và ngẫu nhiên thuần túy. Tất nhiên vạch đường đi chomình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên là biểu hiện một mặt, mộtkhía cạnh của cái tất nhiên.Trong tất nhiên có ngẫu nhiên, trong ngẫu nhiêncó tất nhiên. + Tất nhiên quy định ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên bổ sung cho tất nhiên. Tuynhiên, ranh giới giữa tất nhiên và ngẫu nhiên có tính chất tương đối. Tất nhiênvà ngẫu nhiên có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định. c. Ý nghĩa phương pháp luận Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải căn cứ vào cái tấtnhiên chứ không phải căn cứ vào cái ngẫu nhiên. Tuy nhiên không được bỏqua cái ngẫu nhiên, không tách rời cái tất nhiên khỏi cái ngẫu nhiên. Cần xuấtphát từ cái ngẫu nhiên để đạt đến cái tất nhiên và khi dựa vào cái tất nhiênphải chú ý đến cái ngẫu nhiên. - 43 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau vì vậy cần tạo ranhững điều kiện nhất định để cản trở hoặc thúc đẩy sự chuyển hóa của chúngtheo mục đích nhất định.4. Nội dung và hình thức a. Khái niệm Nội dung là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt,những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng. Hình thức là phạm trù triết học dùng để chỉ phương thức tồn tại và pháttriển của sự vật, hiện tượng đó, hình thức là hệ thống các mối liên hệ tươngđối bền vững giữa các yếu tố của nó. b. Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức - Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất biện chứngvới nhau. Không có nội dung nào lại không có một hình thức nhất định. Cũngkhông có một hình thức nào lại không chứa đựng một nội dung nhất định.Cùng một nội dung có thể biểu hiện trong nhiều hình thức, cùng một hìnhthức có thể chứa đựng nhiều nội dung. - Nội dung quyết định hình thức và hình thức tác động trở lại nội dung.Khuynh hướng chủ đạo của nội dung là khuynh hướng biến đổi, còn hìnhthức là mặt tương đối ổn định trong mỗi sự vật, hiện tượng. - Nội dung thay đổi bắt buộc hình thức phải thay đổi theo cho phù hợpnhưng không phải lúc nào cũng có sự phù hợp tuyết đối giữa nội dung và hìnhthức. Nội dung quyết định hình thức nhưng hình thức có tính độc lập tươngđối và tác động trở lại nội dung. Hình thức phù hợp với nội dung thì thức đẩynội dung phát triển và ngược lại, hình thức không phù hợp với nội dung sẽkìm hãm sự phát triển của nội dung. c. Ý nghĩa phương pháp luận - Nội dung và hình thức luôn thống nhất với nhau nên trong hoạt độngthực tiễn, cần tránh sự tách rời giữa nội dung và hình thức hoặc tuyết đối hóamột trong hai mặt đó. - 44 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- - Nội dung quyết định hình thức cho nên khi xem xét sự vật, hiện tượng,trước hết cần căn cứ vào nội dung của nó, muốn thay đổi sự vật, hiện tượngthì trước hết phải thay đổi nội dung của nó. - Trong hoạt động thực tiễn, cần phát huy tính tích cực của hình thức đốivới nội dung trên cơ sở tạo ra tính phù hợp của hình thức với nội dung; mặtkhác cần thay đổi những hình thức không còn phù hợp với nội dung, cản trởsự phát triển của nội dung.5. Bản chất và hiện tượng. a. Khái niệm Bản chất là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt,những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong quy định sự vậnđộng và phát triển của sự vật, hiện tượng đó. Hiện tượng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự biểu hiện của nhữngmặt, những mối liên hệ đó trong những điều kiện xác định. Hiện tượng là những biểu hiện ra bên ngoài của bản chất. c. Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng: - Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan, là hai mặt vừa thốngnhất, vừa đối lập trong mỗi sự vật. Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng biểu hiện ở chỗ: Bản chất bao giờ cũng biểu hiện ra thành những hiện tượng nhất định.Còn hiện tượng bao giờ cũng là sự biểu hiện của một bản chất nhất định.Không có bản chất tách rời hiện tượng cũng như không có hiện tượng lạikhông biểu hiện của một bản chất nào đó. - Bản chất quyết định hiện tượng. Bản chất như thế nào thì hiện tượngnhư thế ấy. Bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi theo. Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng thể hiện ở chỗ: Bản chất là cái chung, cái tất yếu, còn hiện tượng là cái riêng biệt, phongphú và đa dạng. Bản chất là cái bên trong, hiện tượng là cái bên ngoài. Bản chất là cái tương đối ổn định, hiện tượng là cái thường xuyên biến đổi. - 45 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- c. Ý nghĩa phương pháp luận - Trong nhận thức, không được dừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu tìmra bản chất của sự. Phải thông qua nhiều hiện tượng khác nhau mới nhận thứcđúng được bản chất. - Bản chất phản ánh tính tất yếu, tính quy luật nên trong nhận thức vàthực tiễn cần phải căn cứ vào bản chất chứ không căn cứ vào hiện tượng mớicó thể đánh giá đầy đủ, chính xác về sự vật, hiện tượng.6. Khả năng và hiện thực a. Khái niệm Khả năng là phạm trù triết học dùng để chỉ là cái chưa có, chưa tới,nhưng sẽ có, sẽ tới trong những điều kiện nhất định. Hiện thực là phạm trù triết học dùng để chỉ cái đang tồn tại trong thực tế. Hiện thực có hiện thực vật chất và hiện thực tinh thần. Khả năng có khảnăng tất nhiên và khả năng ngẫu nhiên. Khả năng còn được chia ra: khả nănggần và khả năng xa. b. Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực - Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, khôngtách rời, luôn chuyển hóa lẫn nhau. - Khả năng trong những điều kiện nhất định thì biến thành hiện thực.Hiện thực mới lại mở ra khả năng mới và trong những điều kiện nhất định lạichuyển hóa thành hiện thực. - Với cùng một điều kiện nhất định có thể tồn tại một hoặc nhiều khảnăng: khả năng thực tế, khả năng tất nhiên, khả năng ngẫu nhiên, khả nănggần, khả năng xa… - Khả năng biến thành hiện thực cần phải có những điều kiện khách quanvà nhân tố chủ quan. Nhân tố chủ quan là tính tích cực xã hội của ý thức chủthể con người để chuyển hóa khả năng thành hiện thực. Điều kiện khách quanlà sự tổng hợp các mối quan hệ về hoàn cảnh, không gian, thời gian để tạonên sự chuyển hóa đó. c. Ý nghĩa phương pháp luận - 46 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- - Khả năng và hiện thực không tách rời nhau, nên trong hoạt động nhậnthức và thực tiễn cần dựa vào hiện thực để nhận thức và hành động. Cần phânbiệt khả năng với cái không khả năng; khả năng với hiện thực để tránh rơi vàoảo tưởng. - Trong đời sống xã hội, để khả năng biến thành hiện thực cần phát huytối đa tính năng động chủ quan của con người trong việc nhận thức và thựctiễn để biến khả năng thành hiện thực theo mục đích của mình.IV. CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biếnvà lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mối sự vật haygiữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Trong thế giới tồn tại nhiều laọi quy luật; chúng khác nhau về mức độphổ biến, về phạm vi bao quát, về tính chất, về vai trò của chúng đối với quátrình vận động và phát triển của sự vật trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy.Việc phân loại quy luật là cần thiết để nhận thức và vận dụng có hiệu quả cácquy luật vào hoạt động thực tiễn của con người. Căn cứ vào mức độ của tính phổ biến thì các quy luật được chia thành: Quy luật riêng: là những quy luật chỉ tác động trong phạm vi nhất địnhcủa các sự vật, hiện tượng cùng loại. Ví dụ như quy luật vận động sinh học,quy luật vận động hóa học, quy luật vận động cơ học... Quy luật chung: là những quy luật tác động trong phạm vi rộng hơn,trong nhiều loại sự vật, hiện tượng khác nhau. Ví dụ như quy luật bảo toànkhối lượng, bảo toàn năng lượng... Quy luật phổ biến: là những quy luật tác động trong tất cả các lĩnh vựctrong tự nhiên, xã hội và tư duy. Đây là quy luật của phép biện chứng duy vật. Căn cứ vào lĩnh vực tác động, các quy luật được chia thành: Quy luật tự nhiên: là quy luật nảy sinh và tác động trong giới tự nhiên,kể cả cơ thể con người. Quy luật xã hội: là quy luật hoạt động của chính con người trong cácquan hệ xã hội. - 47 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Quy luật của tư duy: là những quy luật thuộc mối liên hệ nội tại củanhững khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận và của quá trình phát triểnnhận thức lý tính ở con người.1. Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sựthay đổi về chất và ngược lại Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sựthay đổi về chất và ngược lại là quy luật cơ bản, phổ biến thể hiện hình thứcvà cách thức của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội vàtư duy. a. Khái niệm chất, lượng - Khái niệm “chất” dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có củasự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phânbiệt nó với cái khác. Chất của sự vật là các thuộc tính khách quan vốn có của sự vật nhưngkhông đồng nhất với khái niệm thuộc tính. Mỗi sự vật, hiện tượng đều cónhững thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Chỉ những thuộc tính cơ bản mớihợp thành chất của sự vật, hiện tượng. Khi các thuộc tính cơ bản thay đổi thìchất của sự vật thay đổi. Chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất củacác yếu tố cấu thành mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng,thông qua các mối liên hệ cụ thể do đó việc phân biệt thuộc tính cơ bản vàkhông cơ bản, chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩa tương đối. Mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà có nhiều chất, tùythuộc vào các mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác. Chất không tồntại thuần túy tách rời sự vật, biểu hiện tính ổn định tương đối của nó. - Khái niệm “lượng” dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có củasự vật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồntại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật. Một sự vật có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằngcác phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật. - 48 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiệntượng. Hai phương diện đó tồn tại một cách khách quan, tuy nhiên sự phânbiệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối: có cái trong mối quan hệ nàyđóng vai trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng. b. Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng - Tính thống nhất giữa chất và lượng trong một sự vật Sự vật, hiện tượng nào cũng là thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng.Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất nhưng khôngphải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất. Ở mộtgiới hạn nhất định sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất.Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi được gọi là độ. Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất vàlượng, là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổicăn bản chất của sự vật, hiện tượng. Trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượngvẫn còn là nó mà chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác. - Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sựthay đổi về chất. Sự vận động, biến đổicủa sự vật, hiện tượng bắt đầu từ sự thay đổi vềlượng. Lượng biến đổi trong phạm vi “độ” chưa làm chất thay đổi nhưng khilượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất.Giới hạn đó chính là điểm nút. Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, vớinhững điều kiện xác định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới. Sự thayđổi về chất gọi là bước nhảy. Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quátrình phát triển của sự vật, hiện tượng; là sự kết thúc một giai đoạn vận động,phát triển đồng thời là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạntrong quá trình vận động, phát triển liên tục của sự vật. - Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về chất thành những sựthay đổi về lượng: Khi chất mới ra đời, sẽ tác động trở lại lượng mới. Chất - 49 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------mới tác động tới lượng mới làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệucủa sự vận động, phát triển của sự vật. Như vậy, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biệnchứng giữa hai mặt chất và lượng. Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫnđến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy. Chất mới ra đời sẽ tác động trởlại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phươngthức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượngtrong tự nhiên, xã hội, tư duy. c. Ý nghĩa phương pháp luận - Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồntại trong tính quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau do đótrong thức tiễn và nhận thức phải coi trọng cả hai phương diện chất và lượng. - Những sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất trong điềukiện nhất định và ngược lại do đó cần coi trọng quá trình tích lũy về lượng đểlàm thay đổi chất của sự vật đồng thời phát huy tác động của chất mới để thúcđẩy sự thay đổi về lượng của sự vật. - Sự thay đổi về lượng chỉ làm thay đổi chất khi lượng được tích lũyđến giới hạn điểm nút do đó trong thực tiễn cần khắc phục bệnh nôn nóng tảkhuynh, bảo thủ trì trệ. - Bước nhảy của sự vật, hiện tượng là hết sức đa dạng, phong phú dovậy cần vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với điềukiện cụ thể. Đặc biệt trong đời sống xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụthuộc vào điều kiện khách quan, mà còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan củacon người. Do đó, cần phải nâng cao tính tích cực chủ động của các chủ thểđể thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất.2. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật ở vị trí“hạt nhân” của phép biện chứng duy vật; quy luật này vạch ra nguồn gốc,động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển. a. Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn - 50 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Khái niệm mâu thuẫn Quan điểm siêu hình: coi mâu thuẫn là cái đối lập phản lôgic, không cósự thống nhất, không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập. Ngược lại, phép biện chứng quan niệm, mâu thuẫn để chỉ mối liên hệthống nhất và đấu tranh, chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật,hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập. Mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính,những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng là điều kiện, tiền đềtồn tại của nhau. Ví dụ: điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử,đồng hóa và dị hóa của một cơ thể sống, sản xuất và tiêu dùng trong hoạtđộng kinh tế... Tính chất chung của mâu thuẫn Tính khách quan và phổ biến: bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong tựnhiên, xã hội và tư duy cũng tồn tại, vận động trên cơ sở các mâu thuẫn nội tạicủa các mặt đối lập của nó hoặc giữa nó với các sự vật, hiện tượng khác. Tính đa dạng, phong phú của mâu thuẫn: mỗi sự vật, hiện tượng, quátrình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khácnhau trong những điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau; giữ vị trí vai trò khácnhau đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của sự vật. Đó là mâu thuẫn bêntrong, mâu thuẫn bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đốikháng và không đối kháng...Trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại nhữngmâu thuẫn với những tính chất khác nhau tạo nên tính phong phú trong sựbiểu hiện của mâu thuẫn. b. Quá trình vận động của mâu thuẫn Sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràngbuộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấymặt kia làm tiền đề tồn tại. Xét về phương diện nào đó giữa các mặt đối lập - 51 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------bao giờ cũng có một số yếu tố giống nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lậpbao hàm sự đồng nhất của nó. Khái niệm sự đấu tranh giữa các mặt đối lập dùng để chỉ khuynhhướng tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập. Hình thứcđấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú tùy thuộc vào tính chất, mối quanhệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng. Quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đếnsự chuyển hóa giữa chúng. Sự chuyển hóa của các mặt đối lập diễn ra hết sứcphong phú, đa dạng tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như tùythuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể. Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự đấu tranhgiữa chúng là tuyệt đối, sự thống nhất giữa chúng là tương đối, có điều kiện,tạm thời; trong sự thống nhất đã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính thốngnhất của chúng. Vai trò của mâu thuẫn đối với quá trình vận động và phát triển của sựvật: Sự liên hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc,động lực của sự vận động và phát triển trong thế giới. “Sự phát triển là mộtcuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”. c. Ý nghĩa phương pháp luận Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, độnglực của sự vận động, phát triển do vậy trong nhận thức và thực tiễn cần phảitôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập,nắm được nguồn gốc, bản chất, khuynh hướng của sự vận động phát triển. Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú do đó trong việc nhận thức vàgiải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể tức là biết phântích cụ thể từng loại mâu thuẫn và phương pháp giải quyết phù hợp. Trongquá trình hoạt động nhận thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trícủa các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định; những đặcđiểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫnmột cách đúng đắn nhất. - 52 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------3. Quy luật phủ định của phủ định Quy luật phủ định của phủ định, thể hiện khuynh hướng cơ bản phổbiến của mọi vận động, phát triển diễn ra trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hộivà tư duy; đó là khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật thông quanhững lần phủ định biện chứng, tạo thành hình thức mạng tính chu kỳ “phủđịnh của phủ định”. a. Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng: Phủ định là khái niệm chỉ sự mất đi của sự vật này, sự ra đời của sự vật khác. Phủ định biện chứng là sự phủ định tạo ra điều kiện, tiền đề cho quátrình phát triển của sự vật. Với tư cách không chỉ là học thuyết về sự biến đổi nói chung mà cănbản là học thuyết về sự phát triển, phép biện chứng duy vật chú trọng phântích không phải sự phủ định nói chung mà căn bản là sự phủ định biện chứng. Hai đặc trưng cơ bản của phủ định biện chứng là tính khách quan vàtính kế thừa. Tính khách quan: Phủ định biện chứng có tính khách quan vì nguyênnhân của sự phủ định nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng; là kết quảtất yếu của của quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong bản thân sựvật. Phủ định biện chứng là sự phủ định tự thân. Tính kế thừa: Phủ định biện chứng có tính kế thừa những nhân tố hợpquy luật và loại bỏ các nhân tố phản quy luật. Phủ định biện chứng khôngphải là phủ định sạch trơn cái cũ mà trái lại cái mới ra đời trên cơ sở nhứnghạt nhân hợp lý của cái cũ để phát triển thành cái mới, tạo nên tính liên tụccủa sự phát triển. b. Phủ định của phủ định Phủ định biện chứng có vai trò to lớn đối với các quá trình vận động,phát triển: Phủ định biện chứng là dây chuyền vô tận. Trong quá trình vận động,phát triển, không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại vĩnh viễn. Sự vật ra đời, - 53 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------trải qua những giai đoạn nhất định rồi trở thành lỗi thời và bị thay thế bởi sựvật mới tiến bộ hơn. Sự vật mới này đến lượt nó cũng sẽ trở thành lỗi thời vàbị thay thế bởi sự vật mới khác. Sự phát triển là quá trình vô tận không có sựphủ định cuối cùng. Qua mỗi lần phủ định, sự vật loại bỏ được những yếu tố lạc hậu, lỗi thời,tích lũy những yếu tố mới, tiến bộ hơn. Do đó, sự phát triển thông qua phủđịnh biện chứng là quá trình đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Hình thức “phủ định của phủ định” của các quá trình vận động, pháttriển: Tính chất chu kỳ của các quá trình phát triẻn thường diễn ra theo hìnhthức “xoáy ốc”, đó cũng là tính chất phủ định của phủ định. Theo tính chấtnày, mỗi chu kỳ phát triển của sự vật thường trải qua hai lần phủ định cơ bảnvới ba hình thái tồn tại chủ yếu của nó, trong đó hình thái cuối mỗi chu kỳ lặplại những đặc trưng cơ bản của hình thái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn vềtrình độ phát triển nhờ kế thừa được những nhân tố tích cực và loại bỏ đượcnhững nhân tố tiêu cực qua hai lần phủ định. Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất chung, phổ biến củasự phát triển: đó không phải là sự phát triển theo đường thẳng mà theo hìnhthức “xoáy ốc”, thể hiện tính chất biện chứng của sự phát triển, đó là tính kếthừa, tính lặp lại và tính tiến lên. Tóm lại, nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định trongphép biện chứng duy vật phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa cái phủ địnhvà cái khẳng định trong quá trình phát triển của sự vật. Phủ định biện chứnglà điều kiện cho sự phát triển, cái mới ra đời là kết quả của sự kế thừa nhữngnội dung tích cực từ trong sự vật cũ, phát huy nó trong sự vật mới và tạo nêntính chu kỳ của sự phát triển. Nhận xét về vai trò của quy luật này,Ph.Ăngghen khẳng định: “Phủ định cái phủ định là gì? Là một quy luật vôcùng phổ biến và chính vì vậy mà có một tầm quan trọng và có tác dụng vôcùng to lớn về sự phát triển của tự nhiên, của lịch sử và tư duy”. - 54 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- c. Ý nghĩa phương pháp luận Quy luật phủ định của phủ định là cơ sở để nhận thức một cách đúngđắn về xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Quá trình đódiễn ra không phải theo đường thẳng mà là con đường quanh co, phức tạp,gồm nhiều giai đoạn, nhiều quá trình khác nhau. Tuy nhiên, tính đa dạng vàphức tạp của quá trình phát triển chỉ là sự biểu hiện của khuynh hướng chung,khuynh hướng tiến lên theo quy luật. Do đó, cần phải nắm được bản chất, đặcđiểm, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng để xác định phương thức, biệnpháp tác động thích hợp thúc đẩy sự phát triển. Trong thế giới khách quan, cái cũ tất yếu sẽ bị thay thế bởi cái mới, đólà sự vận động có tính quy luật nhưng cũng cần phát huy vai trò của nhân tốchủ quan để thúc đẩy sự thay thế đó, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại, bảothủ, kìm hãm sự ra đời của cái mới. Cần phải có quan điểm biện chứng trong quá trình kế thừa sự pháttriển. Quan điểm đó đòi hỏi không được phủ định hoàn toàn cái cũ tức phủđịnh sạch trơn nhưng cũng không được kế thừa toàn bộ cái cũ mà phải kếthừa các yếu tố hợp lý của cái cũ cho sự phát triển của cái mới, tức là kế thừamột cách khoa học.V. LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG1. Thực tiễn, nhận thức và vai trò của thực tiễn với nhận thức Trong chủ nghĩa Mác-Lênin, lý luận nhận thức là một nội dung cơ bảncủa phép biện chứng; đó là lý luận nhận thức duy vật biện chứng, tức họcthuyết về khả năng nhận thức của con người đối với thế giới khách quanthông qua hoạt động thực tiễn; lý giải bản chất, con đường và quy luật chungcủa quá trình con người nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quannhằm phục vụ hoạt động thực tiễn của con người, a. Thực tiễn và các hình thức cơ bản của thực tiễn Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử -xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội. - 55 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Khác với các hoạt động khác hoạt động thực tiễn là hoạt động mà conngười sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chấtlàm biến đổi chúng theo mục đích của mình. Đó là hoạt động đặc trưng vàbản chất của con người. Hoạt động thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động vậtchất mang tính sáng tạo, có mục đích và tính lịch sử - xã hội. Các hình thức cơ bản của thực tiễn Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức, song có ba hìnhthức cơ bản là: Hoạt động sản xuất vật chất: Là hoạt động cơ bản, đầu tiên của thựctiễn. Đây là hoạt động mà con người sử dụng công cụ lao động để tác độngvào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết để duy trìvà phát triển con người và xã hội. Hoạt động chính trị xã hội: là hoạt động của các cộng đồng người, cáctổ chức khác nhau trong xã hội nhằn cải biến những quan hệ chính trị xã hội.Thúc đẩy xã hội phát triển. Hoạt động khoa học: là hình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn,được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra nhằm xác địnhnhững quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu. Hoạt động nàycó vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Mỗi hình thức hoạt động thực tiễn có chức năng khác nhau nhưng cómối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, trong đó hoạt động sản xuấtvật chất là quan trọng nhất, quyết định các hoạt động thực tiễn khác. b. Nhận thức và các trình độ nhận thức Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thếgiới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ranhững tri thức về thế giới khách quan đó. Quan niệm trên đây về nhận thức xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản sau: Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ýthức con người và con người có thể nhận thức được thế giới khách quan ấy. - 56 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Hai là, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới kháchquan; coi nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc củacon người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể; thừa nhận không cócái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có những cái con người chưa nhậnthức được. Ba là, khẳng định sự phản ánh là quá trình biện chứng, tích cực, tự giácvà sáng tạo và đi từ thấp đến cao (chưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều,chưa toàn diện sâu sắc đến toàn diện sâu sắc...) Các trình độ nhận thức Nhận thức là một quá trình với các trình độ nhận thức khác nhau, đócũng là quá trình đi từ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận;từ nhận thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học. Nhận thức kinh nghiệm: Là trình độ nhận thức hình thành từ sự quansát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, xã hội hay trong cácthí nghiệm khoa học. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinhnghiệm bao gồm cả tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinhnghiệm khoa học. Hạn chế của nhận thức kinh nghiệm là chỉ dừng lại ở sự mô tả sự vật dođó chỉ đem lại những hiểu biết về các mặt riêng rẽ, bề ngoài, rời rạc, chưaphản ánh được bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng. Nhận thức lý luận: Là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tínhhệ thống trong việc khái quát bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thứckhác nhau, có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó nhận thức kinhnghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận. Nhận thức lý luận không hình thành một cách tự phát, trực tiếp do đónó có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thànhnhững tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý phục vụcho hoạt động thực tiễn. - 57 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Nhận thức thông thường: là loại nhận thức được hình thành một cáchtự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người. Nhận thức thông thường phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cảnhững đặc điểm chi tiết, cụ thể và với sắc thái khác nhau của sự vật do đómang tính phong phú, nhiều vẻ, gắn liền với quan niệm sống hàng ngày. Vìthế nó có vai trò chi phối thường xuyên hoạt động của con người trong xã hội. Nhận thức khoa học: là loại nhận thức được hình thành một cách tựgiác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu củađối tượng nghiên cứu. Nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, vừa có tính trừu tượng,khái quát, hệ thống dưới hình thức các khái niệm, các phạm trù và quy luậtkhoa học. Để nhận thức khoa học, con người phải sử dụng một hệ thống cácphương pháp nghiên cứu và được diễn đạt bằng cả ngôn ngữ thông thường vàthuật ngữ khoa học. Nhận thức khoa học có vai trò to lớn trong hoạt độngthực tiễn, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học là hai bậc thang khácnhau về chất của quá trình nhận thức nhằm đạt tới các tri thức chân thực.Giữa chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau: nhận thức thông thường là cơ sở chonhận thức khoa học ngược lại khi đã đạt đến trình độ nhận thức khoa học nólại tác động trở lại nhận thức thông thường, làm cho nhận thức thông thườngphát triển. c. Vai trò của thực tiễn với nhận thức Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đíchcủa nhận thức và là tiêu chuẩn chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trìnhnhận thức. Thực tiễn là cơ sở và mục đích của nhận thức Thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức, đề ra nhu cầu,nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức.Hoạt động thực tiễn của con người nhằm biến đổi tự nhiên và xã hội của conngười làm cho các đối tượng tự nhiên và xã hội bộc lộ ra những thuộc tính, - 58 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài liệucho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vậnđộng của thế giới, trên cơ sở đó mà hình thành các lý thuyết khoa học. Ph. Ăngghen viết: “Từ trước tới nay, khoa học tự nhiên cũng như triếthọc đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tưduy của họ. Hai môn ấy một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tưtưởng. Nhưng chính việc người ta biến đổi giới tự nhiên, chứ không phải chỉmột mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất vàtrực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển songsong với việc người ta đã học cải biến tự nhiên” (1) . Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Nhận thức không phải để nhậnthức mà để phục vụ cho hoạt động thực tiễn cải biến tự nhiên và xã hội. Tronglịch sử triết học có khuynh hướng cho rằng “triết học vị triết học”, “khoa họcvị khoa học”, “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Quan điểm triết học Mác-Lêninkhẳng định rằng triết học, khoa học, nghệ thuật đều nhằm phục vụ cho cuộcsống con người. Thực tiễn là động lực thúc đẩy quá trình vận động, phát triển của nhậnthức. Thực tiễn đề ra mục đích và nhu cầu cho nhận thức, thúc đẩy nhận thứcphát triển. Thực tiễn làm nảy sinh mâu thuẫn, đòi hỏi phải phát triển nhậnthức mới giải quyết được. Nhờ có hoạt động thực tiễn mà con người chế tạonhững phương tiện kỹ thuật sử dụng trong nhận thức khoa học. Ph. Ăngghen viết: “Khi xã hội có nhu cầu về kỹ thuật thì nhu cầu nàythúc đẩy khoa học hơn mười trường đại học” (2) . Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm tính chân lý trong quá trình pháttriển nhận thức. Thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt đượctrong nhận thức đồng thời thực tiễn không ngừng bổ sung, hoàn thiện, điềuchỉnh, sửa chữa, hoàn chỉnh và phát triển nhận thức.(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.720.(2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, t.6, tr.788. - 59 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Tính thống nhất biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức: được thể hiện ởchỗ thực tiễn là xuất phát điểm của nhận thức, quyết định sự hình thành vàphát triển của nhận thức, là nơi thể nghiệm và kiểm nghiệm tính đúng đắn củanhận thức; ngược lại nhận thức, nhất là nhận thức lý luận, nhận thức khoa họckhi nó phản ánh đúng bản chất và quy luật vận động của sự vật, hiện tượng cóthể giúp con người thông qua nhận thức của mình mà xác định các biện phápcần thiết để thúc đẩy sự phát triển của thực tiễn. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luônquán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phảixuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, coi trọng công tác tổng kếtthực tiễn. Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, tránh bệnh giáo điều,duy ý chí, quan liêu nhưng đồng thời cũng không được tuyệt đối hóa thực tiễnđể rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa. Nguyên tắc thốngnhất giữa thực tiễn với lý luận phải là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thựctiễn và hoạt động lý luận. Lý luận không có thực tiễn làm cơ sở và tiêu chuẩnđể xác định chân lý của nó là lý luận suông, ngược lại thực tiễn không có lýluận khoa học soi sáng sẽ trở thành thực tiễn mù quáng.2. Con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý a. Quan điểm của V.I.Lênin về con đường biện chứng của sự nhậnthức chân lý Trong tác phẩm Bút ký triết học, V.I.Lênin khái quát con đường biệnchứng của sự nhận thức chân lý như sau: Từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biệnchứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan. Giai đoạn từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính là giai đoạn mở đầu của quá trình nhận thức. Đó làgiai đoạn nhận thức mà con người trong hoạt động thực tiễn sử dụng các giácquan để tiến hành phản ánh các sự vật khách quan, mạng tính chất cụ thể, cảmtính với những biểu hiện phong phú của nó trong mối quan hệ với sự quan sátcủa con người. Do vậy, trong giai đoạn này con người mới chỉ phản ánh được - 60 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------cái hiện tượng, biểu hiện bên ngoài của sự vật mà chưa phản ánh được cái bảnchất, quy luật, nguyên nhân của hiện tượng. Nhận thức cảm tính được thực hiện qua ba hình thức cơ bản là: cảmgiác, tri giác và biểu tượng: Cảm giác của con người về sự vật khách quan là hình ảnh sơ khai nhất,đơn giản nhất của quá trình nhận thức nhưng nếu không có nó thì sẽ không cóbất cứ nhận thức nào về sự vật khách quan. Cảm giác là hình ảnh chủ quancủa thế giới khách quan, là cơ sở hình thành tri giác. Tri giác là sự phản ánh tương đối toàn vẹn của con người về nhữngbiểu hiện của sự vật khách quan, cụ thể, cảm tính; nó được hình thành trên cơsở liên kết, tổng hợp những cảm giác về sự vật đó. Tri giác là hình thức nhậnthức cao hơn cảm giác, đầy đủ hơn, phong phú hơn về sự vật nhưng vẫn chỉ làsự phản ánh đối với những biểu hiện bề ngoài của sự vật. Biểu tượng là sự tái hiện hình ảnh về sự vật khách quan vốn đã đượcphản ánh bởi cảm giác và tri giác, là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạpnhất của giai đoạn nhận thức cảm tính, là bước quá độ từ nhận thức cảm tínhsang nhận thức lý tính, là tiền đề của sự trừu tượng hóa của giai đoạn nhậnthức lý tính. Nhận thức lý tính lý tính là giai đoạn cao hơn của quá trình nhận thức,đó là sự phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, nhữngđặc điểm bản chất của sự vật khách quan. Đây là giai đoạn nhận thức thựchiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất, có tính quyluật của các sự vật, hiện tượng. Nhận thức lý tính được thực hiện thông qua ba hình thức cơ bản là kháiniệm, phán đoán và suy lý. Khái niệm là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, phản ánh nhữngđặc tính bản chất của sự vật. Sự hình thành khái niệm là kết quả cuae sự kháiquát, tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp các sự vật. Nólà cơ sở hình thành nên những phán đoán trong quá trình con người tư duy vềsự vật khách quan. - 61 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Phán đoán là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính được hình thành thôngqua việc liên kết các khái niệm lại với nhau theo phương thức khẳng định hay phủđịnh một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng nhận thức. Theo trình độ của nhận thức có thể chia thành: phán đoán đơn nhất,phán đoán đặc thù, phán đoán phổ biến. Phán đoán phổ biến là hình thức phảnánh thể hiện sự bao quát rộng lớn nhất về thực tại khách quan. Suy lý là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính được hình thành trêncơ sở liên kết các phán đoán nhằm rút ra tri thức mới về sự vật. Điều kiện đểcó bất cứ một suy lý nào là phải trên cơ sở những tri thức đã có dưới dạngnhững phán đoán, đồng thời tuân theo các quy tắc lôgic của các loại hình suyluận: suy luận quy nạp (đi từ cái riêng đến cái chung), suy luận diễn dịch (đitừ cái chung đến cái riêng, cái cụ thể). Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính , nhận thức lý tính với thực tiễn. Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính đều là những nấc thang hợpthành chu trình nhận thức, chúng thường diễn ra đen xen vào nhau nhưng cóchức năng, nhiệm vụ khác nhau: Nhận thức cảm tính gắn liền với thực tiễn, với sự tác động của kháchthể cảm tính, là cơ sở cho nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính có tính khái quát cao nhờ đó hiểu được bản chất, quyluật vận động của sự vật, giúp cho nhận thức cảm tính có được sự định hướngđúng và trở nên sâu sắc hơn. Nhận thức lý tính mới chỉ đạt được những tri thức về đối tượng nhưngnhững tri thức đó có chính xác hay không cần phải có sự kiểm nghiệm củathực tiễn, tức là nhận thức nhất thiết phải quay trở về với thực tiễn, dùng thựctiễn để đo lường tính chân thực của nhận thức. Mặt khác, mọi nhận thức, suyđến cùng đều là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và trở lại phục vụ thực tiễn. Tóm lại, quy luật chung của quá trình nhận thức là: từ thực tiễn đếnnhận thức - tái thực tiễn - tái nhận thức...quá trình này không có điểm dừngcuối cùng, nhờ đó mà quá trình nhận thức đạt dần tới tri thức ngày càng đầyđủ hơn, đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về thực tại khách quan. Đây cũng chính là - 62 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------quan điểm về tính tương đối của nhận thức của con người trong quá trìnhphản ánh thực tại khách quan. Quy luật chung của nhận thức có ý nghĩa quan trọng về mặt phươngpháp luận, giúp chúng ta nắm được quy luật khách quan của quá trình nhậnthức đồng thời đây cũng chính là phương pháp học tập, nghiên cứu khoa họcvà hoạt động thực tiễn; học đi đôi với hành; học liên tục, suốt đời tránh bệnhtự mãn hoặc hời hợt trong hoạt động nhận thức. b. Chân lý và vai trò của chân lý với thực tiễn Mọi quá trình nhận thức đều sáng tạo ra những tri thức, tức những hiểubiết của con người về thực tế khách quan, nhưng không phải mọi tri thức đềucó nội dung phù hợp với thực tế khách quan. Thực tế lịch sử chứng minh rằngnhững tri thức mà con người đạt được có nhiều trường hợp không phù hợpthậm chí hoàn toàn đối lập với thực tế khách quan. Khái niệm chân lý Khái niệm chân lý được dùng để chỉ những tri thức có nội dung phùhợp với thực tế khách quan mà sự phù hợp đó đã được kiểm tra và chứngminh bởi thực tiễn. Theo nghĩa như vậy, khái niệm chân lý không đồng nhất với khái niệmtri thức và cũng không đồng nhất với khái niệm giả thuyết (dù là những giảthuyết khoa học), đồng thời chân lý là một quá trình. Theo V.I.Lênin “sự phùhợp giữa tư tưởng và khách thể là một quá trình: tư tưởng (= con người)không nên hình dung chân lý dưới dạng đứng im, một bức tranh (hình ảnh)đơn giản, nhợt nhạt (lờ mờ), không khuynh hướng, không vận động”. Các tính chất của chân lý: Mọi chân lý đều có tính khách quan, tính tương đối, tính tuyệt đối vàtính cụ thể Tính khách quan của chân lý là chỉ tính độc lập về nội dung phản ánhcủa nó đối với ý chí chủ quan của con người; nội dung của tri thức phải phùhợp với thực tế khách quan, thuộc về thế giới khách quan, do thế giới kháchquan quy định. - 63 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Khẳng định chân lý có tính khách quan là một trong những điểm cơ bảnphân biệt quan niệm về chân lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủnghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri – là những học thuyết phủ nhận sự tồn tạikhách quan của thế giới vật chất và phủ nhận khả năng của con người nhậnthức được thế giới đó. Tính tuyệt đối và tính tương đối của chân lý Tính tuyệt đối của chân lý là chỉ tính phù hợp hoàn toàn và đầy đủ giữanội dung phản ánh của tri thức với hiện thực khách quan. Về nguyên tắcchúng ta có thể đạt đến chân lý tuyệt đối vì không có sự vật, hiện tượng nàomà con người hoàn toàn không thể nhận thức đựợc song khả năng đó lại bịhạn chế bởi những điều kiện cụ thể của từng thế hệ khác nhau, của từng thựctiễn cụ thể và bởi điều kiện xác định về không gian và thời gian của đối tượngđược phản ánh...do đó chân lý có tính tương đối. Tính tương đối của chân lý là tính phù hợp nhưng chưa hoàn toàn đầyđủ giữa nội dung phản ánh của những tri thức đã đạt được với hiện thực kháchquan mà nó phản ánh mà mới chỉ đạt được sự phù hợp từng phần, từng bộphận, ở một số mặt, khía cạnh nào đó và trong những điều kiện nhất định. Chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối không tồn tại tách rời nhau màcó sự thống nhất biện chứng với nhau. Một mặt, chân lý tuyệt đối là tổng sốcủa các chân lý tương đối; mặt khác trong mỗi chân lý mang tính tương đốibao giờ cũng chứa đựng những yếu tố của tính tuyệt đối. Chân lý tuyệt đối vàchân lý tương đối là hai mặt của một chân lý cụ thể. Một chân lý cụ thể vừacó tính tuyệt đối (vì nếu áp dụng trong điều kiện cụ thể của nó thì nó luônluôn đúng và không bao giờ trở thành sai lầm), vừa có tính tương đối (vì nóchưa đầy đủ, chưa toàn diện, nếu áp dụng trong điều kiện khác thì sẽ trở thànhsai lầm). Như vậy, không thể có chân lý vĩnh cữu, tức chân lý bất di bất dịch.Tư duy con người trong quá trình tiến lên vô cùng tận ngày càng tiệm cận đếnchân lý tuyệt đối, chứ không bao giờ có thể đạt được một cách đầy đủ, hoàntoàn. - 64 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Tính cụ thể của chân lý là đặc tính gắn liền và phù hợp giữa nội dungphản ánh với một đối tượng nhất định cùng các điều kiện, hoàn cảnh lịch sửcụ thể. Bất kỳ chân lý nào cũng có gắn liền với những điều kiện lịch sử cụthể, do đó “ không có chân lý trừu tượng, chân lý luôn luôn là cụ thể. Vai trò của chân lý đối với thực tiễn Để sinh tồn và phát triển, con người phải tiến hành các hoạt động thựctiễn nhưng hoạt động thực tiễn chỉ có thể thành công và có hiệu quả khi conngười có tri thức đúng đắn về thực tế khách quan và vận dụng đúng đắn trithức đó trong hoạt động thực tiễn do vậy, chân lý là một trong những điềukiện tiên quyết đảm bảo sự thành công và tính hiệu quả của hoạt động thựctiễn. Mối quan hệ giữa chân lý và hoạt động trong thực tiễn là mối quan hệsong trùng trong quá trình vận động, phát triển của cả chân lý và thực tiễn.Chân lý phát triển nhờ thực tiễn nhưng thực tiễn lại phát triển nhờ vận dụngđúng đắn những chân lý mà con người đã đạt được trong hoạt động thực tiễn. Ý nghĩa phương pháp luận Quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa chân lý và thực tiễn đòi hỏitrong hoạt động nhận thức con người phải xuất phát từ thực tiễn để đạt đượcchân lý, coi chân lý là một quá trình, đồng thời phải thường xuyên tự giác vậndụng chân lý vào hoạt động thực tiễn để phát triển thực tiễn. Coi trọng tri thức khoa học và tích cực vận dụng sáng tạo những trithức đó vào các hoạt động kinh tế xã hội, nâng cao hiệu quả của hoạt độngthực tiễn của con người. Về thực chất đó chính là việc phát huy vai trò củachân lý khoa học trong hoạt động thực tiễn. - 65 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Chương III CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬI. VAI TRÒ CỦA SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤTPHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT1. Sản xuất vật chất và vai trò của nó a. Khái niệm sản xuất vật chất và phương thức sản xuất Khái niệm sản xuất vật chất và các nhân tố cơ bản của quá trình sảnxuất vật chất Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hộiloài người, bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bảnthân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại vớinhau, trong đó sản xuát vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xãhội. Theo Ph.Ăngghen: “điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xãhội loài vật là ở chỗ: loài vật may lắm chỉ hái lượm, trong khi con người lạisản xuất” (1) . Sản xuất vật chất là một loại hình hoạt động thực tiễn với mục đích cảibiến các đối tượng của giới tự nhiên theo nhu cầu tồn tại, phát triển của conngười và xã hội. Với nghĩa như vậy, sản xuất vật chất là một loại hoạt độngcó tính khách quan, tính xã hội, tính lịch sử và tính sáng tạo. Bất cứ quá trình sản xuất nào cũng gồm ba yếu tố cơ bản: sức lao động,đối tượng lao động và tư liệu lao động: Sức lao động: là toàn bộ thể lực và trí lực của con người có khả năngđược vận dụng, sử dụng trong quá trình sản xuất vật chất. Sức lao động và laođộng là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên quan với nhau. Lao động làquá trình con người sử dụng sức lao động trong quá trình sản xuất vật chất.Sức lao động là tiền đề để có quá trình lao động nhưng nếu không có quátrình lao động thì sức lao động chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng. Đối tượng lao động: là những tồn tại của giới tự nhiên mà con ngườitác động vào chúng trong quá trình lao động. Tư liệu lao động: là những phương tiện vật chất mà con người sử dụngtrong quá trình lao động để tác động vào đối tượng lao động.(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.34, tr.241. - 66 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Khái niệm phương thức sản xuất Phương thức sản xuất là những cách thức mà con người sử dụng đểtiến hành quá trình sản xuất của xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định. Mối xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định đều có phương thức sảnxuất của nó với những đặc điểm riêng. Mỗi phương thức sản xuất đều có haiphương diện cơ bản của nó là kỹ thuật và kinh tế. Phương diện kỹ thuật của phương thức sản xuất là chỉ quá trình sảnxuất được tiến hành bằng cách thức kỹ thuật, công nghệ nào để biến đổi cácđối tượng lao động. Phương diện kinh tế của phương thức sản xuất là chỉ quá trình sản xuấtđược tiến hành với những cách thức tổ chức kinh tế nào. Trong các xã hộinông nghiệp truyền thống, phương thức kỹ thuật chủ yếu của quá trình sảnxuất là các công cụ kỹ thuật thủ công với quy mô nhỏ và khép kín về phươngdiện kinh tế. Ngược lại, trong các xã hội hiện đại, quá trình sản xuất được tiếnhành với phương thức kỹ thuật công nghiệp và tổ chức kinh tế thị trường vớiquy mô ngày càng mở rộng. b. Vai trò của sản xuất vật chất và phương thức sản xuất đối với sựtồn tại và phát triển của xã hội Sản xuất vật chất giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triểncủa xã hội, là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệxã hội của con người; nó là cơ sở của sự hình thành, biến đổi và phát triển củaxã hội loài người. Xuất phát từ nhân tố “con người hiện thực” C.Mác cho rằng, tiền đềđầu tiên của mọi sự tồn tại của con người và đó là việc: “con người ta phải cókhả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử”. Muốn vậy con người cần cóthức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo... những thứ đó chỉ có thể được tạo ra từsản xuất vật chất. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên của con người là việc sảnxuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, đó là hoạt động cơ bảncủa con người, là cái để phân biệt hoạt động của con người với con vật. Để tiến hành sản xuất vật chất con người phải có không chỉ có quanhệ với tự nhiên mà phải có quan hệ với nhau và trên cơ sở những quan hệsản xuất này mà phát sinh các quan hệ khác như: chính trị, đạo đức, pháp - 67 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------luật...Vì vậy, trong quá trình sản xuất vật chất con người không những làmbiến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội đồng thời làm biến đổi cả bản thân mình.Do đó, sản xuất vật chất không ngừng phát triển tất yếu làm cho xã hộikhông ngừng phát triển. Sự phát triển của sản xuất vật chất quyết định sự biến đổi, phát triểncủa toàn bộ đời sống xã hội. Sự vận động, phát triển của xã hội suy cho cùngcó nguyên nhân từ sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Do đó, để giải thíchvà giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội thì phải xuất phát từ thực trạngsản xuất vật chất của xã hội. Lịch sử phát triển của xã hội là lịch sử phát triển của các phương thứcsản xuất từ thấp đến cao. Suy cho cùng cái để phân biệt các thời đại kinh tếkhông phải ở chỗ nó sản xuất ra cái gì mà là nó được tiến hành bằng cách nàovà với công cụ gì. Quan điểm về vai trò quyết định của phương thức sản xuấtđối với trình độ phát triển của sản xuất và xã hội là cơ sở để giải thích sự pháttriển của lịch sử nhân loại, đó chính là lịch sử phát triển thay thế của phươngthức sản xuất. Sự thay thế và phát triển của các phương thức sản xuất phản ánh xuhướng tất yếu khách quan của quá trình phát triển xã hội loài người từ trìnhđộ thấp đến trình độ cao. Sự thay thế của phương thức sản xuất này bằngphương thức sản xuất khác có thể diễn ra theo quy luật phát triển tuần tự hoặcnhảy vọt, bỏ qua một phương thức sản xuất nào đó trong những điều kiệnnhất định, hoặc có thể có sự đan xen giữa các phương thức sản xuất trongnhững giai đoạn nhất định tạo nên tính phong phú, đa dạng về con đường pháttriển của các dân tộc trong lịch sử. Nhận thức được vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và pháttriển của xã hội. Trên cơ sở đó trong nhận thức là cơ sở giúp cho chúng tanhận thức được rằng, mọi hoạt động thực tiễn và nhận thức phải dựa trên nềntảng sản xuất vật chất. Sự biến đổi của phương thức sản xuất quyết định sự biến đổi, phát triểncủa xã hội do đó để thúc đẩy xã hội phát triển cần phải thúc đẩy sự phát triểncủa phương thức sản xuất. - 68 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Quá trình vận động, phát triển, thay thế của phương thức sản xuất tronglịch sử là quá trình phong phú, đa dạng do đó các dân tộc phải tùy thuộc vàođiều kiện lịch sử cụ thể để lựa chọn con đường phát triển riêng của mình, phùhợp với quy luật vận động khách quan của lịch sử.2. Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất. a. Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất và các yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quátrình sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sứcsản xuất làm cải biến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tức là tạo ra nănglực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhucầu nhất định của con người và xã hội. Lực lượng sản xuất bao gồm: Người lao động (như năng lực, kỹ năng,tri thức...) và các tư liệu sản xuất (gồm đối tượng lao động và tư liệu laođộng) trong đó nhân tố người lao động giữ vai trò quyết định. Sở dĩ như vậylà vì suy đến cùng các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của conngười, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộcvào trình độ sử dụng của người lao động. Trong tư liệu sản xuất, nhân tố côngcụ lao động do con người sáng tạo ra phản ánh rõ nhất trình độ phát triển củalực lượng sản xuất. Ngày nay, với sự phát triển và ứng dụng nhanh chóngnhững thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trìnhsản xuất làm cho các tri thức khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuấttrực tiếp, thúc đẩy sự phát triển và chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sangnền kinh tế tri thức. Lực lượng sản xuất phản ánh quan hệ giữa con người với giới tự nhiêntrong quá trình sản xuất. Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạothành nội dung vật chất của quá trình sản xuất. Thế nhưng, chỉ có lực lượngsản xuất vẫn chưa thể diễn ra quá trình sản xuất hiện thực. Để quá trình sảnsản xuất diễn ra còn phải có những quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thứckinh tế của quá trình sản xuất ấy. - 69 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế giữa người và người trong quátrình sản xuất. Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất,quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm.Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chiphối, tác động lẫn nhau, trong đó quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất giữa vaitrò quyết định. b. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là mối quanhệ thống nhất biện chứng trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sảnxuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu củaquá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quátrình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình đó.Trong quá trình sản xuất, không thể có sự kết hợp các yếu tố sản xuất diễn rabên ngoài những hình thức kinh tế nhất định; ngược lại cũng không có quátrình sản xuất nào lại có thể diễn ra chỉ với những quan hệ sản xuất mà khôngcó nội dung vật chất của nó. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tạitrong tính quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau. Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuấttuân theo nguyên tắc khách quan: quan hệ sản xuất phụ thuộc vào thựctrạng phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhấtđịnh. Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuấtđược thể hiện ở chỗ: - Lực lượng sản xuất thế nào thì quan hệ sản xuất phải thế ấy tức làquan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. - Khi lực lượng sản xuất biến đổi quan hệ sản xuất sớm muộn cũngphải biến đổi theo. - Lực lượng sản xuất quyết định cả ba mặt của quan hệ sản xuất tức làquyết định cả về chế độ sở hữu, cơ chế tổ chức quản lý và phương thức phânphối sản phẩm. - 70 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Tuy nhiên, quan hệ sản xuất với tư cách là hình thức kinh tế của quátrình sản xuất luôn có tác động trở lại lực lượng sản xuất. Sự tác động nàydiễn ra theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực, điều đó phụ thuộc vàotính phù hợp hay không phù hợp của quan hệ sản xuất với thực trạng của lựclượng sản xuất. - Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ tạo ra tácđộng tích cực, thúc đẩy và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. - Nếu không phù hợp sẽ tạo ra tác động tiêu cực, tức là kìm hãm sựphát triển của lực lượng sản xuất. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quanhệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập vàphát sinh mâu thuẫn. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thống nhất với nhau trongmột phương thức sản xuất, tạo nên sự ổn định tương đối, đảm bảo sự tươngthích giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, tạo điều kiện cho sảnxuất phát triển. Lực lượng sản xuất không ngừng biến đổi, phát triển, tạo ra khả năngphá vỡ sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm xuấthiện nhu cầu khách quan phải tái thiết lập quan hệ thống nhất giữa chúng theonguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với yêu cầu phát triển của lựclượng sản xuất. Sự vận động của mâu thuẫn này tuân theo quy luật “từ sự thayđổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại”, “quy luật phủ định củaphủ định”, khiến cho quá trình phát triển của sản xuất xã hội vừa diễn ra vớitính chất tiệm tiến, tuần tự lại vừa có tính nhảy vọt với những bước đột biến,kế thừa và vượt qua của nó ở trình trình độ ngày càng cao hơn. Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất là nguồn gốc và động lực cơ bản của sự vận động, phát triểncác phương thức sản xuất. Nó là cơ sở để giải thích một cách khoa học vềnguồn gốc sâu xa của toàn bộ hiện tượng xã hội và sự biến động trong đờisống chính trị, văn hóa của xã hội.II. BIỆN CHỨNG CỦA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng - 71 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- a. Khái niệm, kết cấu cơ sở hạ tầng Khái niệm cơ sở hạ tầng dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuấtcủa một xã hội trong sự vận động hiện thực của chúng hợp thành cơ cấu kinhtế của xã hội đó. Cơ sở hạ tầng của xã hội, trong sự vận động của nó, được tạo nên bởicả ba loại hình quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sảnxuất tàn dư và quan hệ sản xuất mới tồn tại dưới hình thức mầm mống, đạibiểu cho sự phát triển của xã hội tương lai, trong đó quan hệ sản xuất thốngtrị chiếm địa vị chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, định hướng sựphát triển của đời sống kinh tế xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độkinh tế của một xã hội nhất định. Sự tồn tại của ba loại hình quan hệ sảnxuất cấu thành cơ sở hạ tầng của một xã hội phản ánh tính chất vận động,phát triển liên tục của lực lượng sản xuất với các tính chất: kế thừa, và pháttriển. Hệ thống quan hệ sản xuất hiện thực của một xã hội đóng vai trò haimặt: một mặt là hình thức kinh tế cho sự phát triển của lực lượng sản xuất vàmặt khác với các quan hệ chính trị xã hội, nó đóng vai trò là cơ sở hình thànhkết cấu kinh tế, làm cơ sở cho sự thiết lập hệ thống kiến trúc thượng tầng củaxã hội đó. b. Khái niệm kiến trúc thượng tầng Khái niệm kiến trúc thượng tầng dùng để chỉ toàn bộ hệ thống kết cấucác hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị-xã hội tương ứng,được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. Kiến trúc thượng tầng của mỗi xã hội là một kết cấu phức tạp. Từ giácđộ chung nhất có thể thấy kiến trúc thượng tầng của một xã hội bao gồm: hệthống các hình thái ý thức xã hội (hình thái ý thức chính trị, pháp quyền, tôngiáo...) và các thiết chế chính trị xã hội tương ứng của chúng (nhà nước, đảng,giáo hội...) Trong xã hội có giai cấp, hình thái ý thức chính trị và pháp quyền cùnghệ thông thiết chế, tổ chức chính đảng và nhà nước là hai thiết chế, tổ chứcquan trọng nhất trong hệ thống kiến trúc thượng tầng của xã hội. - 72 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Nhà nước là một bộ máy quyền lực và thực thi quyền lực đặc biệt trongxã hội có giai cấp đối kháng. - Về danh nghĩa, nhà nước là hệ thống tổ chức đại biểu cho quyền lựcchung của xã hội để quản lý, điều khiển hoạt động của xã hội và công dân,thực hiện chức năng chính trị và chức năng xã hội, chức năng đối nội và đốingoại của quốc gia. - Về thực chất nhà nước là công cụ quyền lực thực hiện chuyên chínhgiai cấp của giai cấp thống trị, tức là giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếucủa xã hội, nó chính là chủ thể thực sự của quyền lực nhà nước.2. Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản củađời sống xã hội đó là phương diện kinh tế và phương diện chính trị - xã hội,chúng có quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau trong đócơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng; kiến trúcthượng tầng có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng đã sản sinh ra nó. a. Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng đượcthể hiện trên nhiều phương diện: Cơ sở hạ tầng quyết định nội dung và tính chất của kiến trúc thượngtầng; nội dung và tính chất của kiến trúc thượng tầng là sự phản ánh đối vớicơ sở hạ tầng. Tương ứng với một cơ sở hạ tầng sẽ sản sinh ra một kiến trúcthượng tầng phù hợp, có tác dụng bảo vệ cơ sở hạ tầng đó. Cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng; nhữngbiến đổi trong cơ sở hạ tầng tạo ra nhu cầu khách quan phải có sự biến đổitrong kiến trúc thượng tầng; do đó sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng là sựphản ánh đối với sự biến đổi của cơ sở hạ tầng. Tính chất phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng cónguyên nhân từ vai trò quyết định của kinh tế đối với toàn bộ các lĩnh vựchoạt động của xã hội. b. Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng Với tư cách là các hình thức phản ánh và được xác lập do nhu cầu củaphát triển kinh tế, các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng có vị trí độc lập - 73 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------tương đối của nó và thường xuyên có vai trò tác động trở lại cơ sở hạ tầng củaxã hội. Sự tác động của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng có thể thôngqua nhiều phương thức, hình thức tùy thuộc vào bản chất của mỗi nhân tốtrong kiến trúc thượng tầng, phụ thuộc vào vai trò, vị trí của nó và những điềukiện cụ thể. Trong điều kiện kiến trúc thượng tầng có yếu tố nhà nước thì phươngthức và hình thức tác động của các yếu tố khác tới cơ sở kinh tế phải thôngqua nhân tố nhà nước và pháp luật mới thực sự phát huy vai trò thực tế củanó. Nhà nước là nhân tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất tới cơ sở hạ tầngkinh tế của xã hội Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng theo nhiềuxu hướng và mục tiêu, thậm chí các xu hướng không chỉ khác nhau mà còn cóthể đối lập nhau, điều đó phản ánh tính chất mâu thuẫn lợi ích của các giaicấp, các tầng lớp xã hội khác nhau. Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng có thể diễnra theo xu hướng tích cực hoặc tiêu cực. Khi các yếu tố của kiến trúc thượngtầng phù hợp với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế nó sẽ tạo ra tácđộng tích cực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, ngược lại nếu các yếu tố của kiếntrúc thượng tầng không phù hợp nó sẽ kìm hãm, phá hoại sự phát triển kinhtế. Tuy nhiên, dù kiến trúc thượng tầng có tác động như thế nào tới cơ sở hạtầng thì nó cũng không thể giữ vai trò quyết định cơ sở hạ tầng của xã hội.III. TỒN TẠI XÃ HỘI QUYẾT ĐỊNH Ý THỨC XÃ HỘI VÀ TÍNH ĐỘC LẬPTƯƠNG ĐỐI CỦA Ý THỨC XÃ HỘI1. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội a. Khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất vàcác điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Các yếu tố cấu thành tồn tại xã hội gồm: phương thức sản xuất vật chất,các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân cư. Các yếu tố đótồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành - 74 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó phương thức sản xuất vậtchất là quan trọng nhất. Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ toàn bộ phương diện sinh hoạt tinhthần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trongnhững giai đoạn phát triển nhất định. Ý thức xã hội và ý thức cá nhân có quan hệ với nhau nhưng khôngđồng nhất với nhau. Cấu trúc của ý thức xã hội: Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội cócấu trúc hết sức phức tạp và có thể tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau. Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội baogồm: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẩm mỹ, ýthức khoa học. Theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội thì ýthức xã hội được chia thành: Ý thức xã hội thông thường: là toàn bộ những tri thức, những quanniệm của con người trong một cộng đồng nhất định, được hình thành mộtcách trực tiếp từ hoạt động trực tiếp hàng ngày, chưa được hệ thống, khái quátthành lý luận. Ý thức lý luận: là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa,khái quát hóa thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng nhữngkhái niệm, phạm trù, quy luật. Ý thức lý luận có khả năng phản ánh hiện thựckhách quan một cách khái quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệbản chất của các sự vật, hiện tượng. Ý thức lý luận đạt trình độ cao và mangtính hệ thống tạo thành các hệ tư tưởng. Nếu căn cứ theo hai trình độ và hai phương thức phản ánh đối với tồntại xã hội có thể phân thành tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội: Tâm lý xã hội là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ýchí... của những cộng đồng người nhất định, phản ánh trực tiếp và tự pháthoàn cảnh sống của họ. Hệ tư tưởng xã hội là toàn bộ các hệ thống quan niệm, quan điểm xãhội: chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo... là sự phản ánh giántiếp và tự giác đối với tồn tại xã hội. - 75 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Trong xã hội có giai cấp thì ý thức xã hội cũng có tính giai cấp, phản ánhđiều kiện sinh hoạt vật chất và lợi ích khác nhau, đối lập nhau giữa các giai cấp.Mỗi giai cấp đều có đời sống sinh hoạt tinh thần đặc thù của nó, nhưng hệ tưtưởng thống trị xã hội bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội,nó có ảnh hưởng đến ý thức của các giai cấp khác trong xã hội. b. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội Tồn tại xã hội quyết định nội dung của ý thức xã hội; nội dung của ýthức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng tồn tại xã hội thế nào thì ýthức xã hội thế ấy, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trêncơ sở đời sống vật chất, do đó không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lýxã hội trong bản thân nó mà phải tìm trong hiện thực vật chất. Ý thức xã hội là sự phản ánh đối với tồn tại xã hội và phụ thuộc vào tồntại xã hội. Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, điều kiện đời sống vật chấtkhác nhau thì ý thức xã hội cũng khác nhau. Mỗi khi tồn tại xã hội (nhất làphương thức sản xuất) biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, nhữngquan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật...tất yếu sẽ biến đổi theo. Tồn tại xã hội quyết định sự biến đổi của ý thức xã hội. Khi tồn tại xã hộinhất là phương thức sản xuất thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo; sự biếnđổi của ý thức xã hội là sự phản ánh đối với sự biến đổi của tồn tại xã hội. Sự biếnđổi của một thời đại nào đó sẽ không thể giải thích được nếu chỉ căn cứ vào ý thứccủa thời đại đó. Theo C.Mác: “ ...không thể nhận định về một thời đại đảo lộn nhưthế căn cư vào ý thức của thời đại đó. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằngnhững mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lựclượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội”(1). Quan điểm duy vật lịch sử về nguồn gốc của ý thức xã hội cũng chỉ rarằng tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội không phải một cách giản đơn,trực tiếp mà thường thông qua các khâu trung gian. Không phải bất cứ tưtưởng, quan niệm, hình thái ý thức xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trựctiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, nhưng nếu xét đến cùng thì các mối(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.15. - 76 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------quan hệ kinh tế bao giờ cũng được phản ánh bằng cách này hay cách kháctrong các tư tưởng ấy. Ý nghĩa phương pháp luận: việc nắm vững mối quan hệ biện chứnggiữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội có vai trò quan trọng để xây dựng phươngpháp nhận thức và hoạt động thực tiễn đúng đắn, khắc phục bệnh chủ quan,duy ý chí trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Quan điểm duy vật biện chứng về xã hội không chỉ khẳng định tồn tạixã hội quyết định ý thức xã hội mà còn làm sáng tỏ tính độc lập tương đối củaý thức xã hội. Thứ nhất, ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, do đó khi tồn tại xã hội biếnđổi thì ý thức xã hội cũng biến đổi theo. Tuy nhiên, không phải trong mọitrường hợp, sự biến đổi của tồn tại xã hộiđều ngay lập tức dẫn đến sự biến đổicủa ý thức xã hội. Trong nhiều trường hợp, ý thức xã hội có thể tồn tại lâu dàingay cả khi tồn tại xã hội đã thay đổi. Điều đó là do: - Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội nên ý thức xã hội chỉ cóthể biến đổi sau khi có sự biến đổi của tồn tại xã hội. - Do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán và do tính bảo thủcủa một số hình thái ý thức xã hội. - Ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoànngười, những giai cấp nhất định trong xã hội. Vì vậy, những tư tưởng cũ, lạchậu thường được các lực lượng xã hội phản tiến bộ cố tình duy trì để bảo vệlợi ích của mình. Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội: chủ nghĩa duyvật lịch sử thừa nhận trong điều kiện nhất định tư tưởng con người có thểvượt trước tồn tại xã hội, nhất là các dự báo khoa học. Tuy nhiên, suy đếncùng khả năng phản ánh vượt trước của ý thức xã hội vẫn phụ thuộc vào tồntại xã hội. Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của nó: Lịchsử phát triển của đời sống tinh thần của xã hội cho thấy ý thức xã hội của mộtxã hội có thể kế thừa những giá trị của ý thức xã hội của các xã hội trước đó. - 77 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát triển nên không thể giải thích một tưtưởng nào đó chỉ dựa vào những quan hệ kinh tế hiện có mà cần phải dựa vàocả những quan hệ kinh tế trước đó. Thứ tư, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sựphát triển của chúng làm cho mỗi hình thái ý thức xã hội có những mặt,những tính chất không thể giải thích được một cách trực tiếp từ tồn tại xã hội. Thứ năm, ý thức xã hội có khả năng tác động trở lại tồn tại xã hội, nhấtlà ý thức tư tưởng tiến bộ góp phần to lớn vào thúc đẩy tồn tại xã hội pháttriển, ngược lại ý thức xã hội lạc hậu, phản tiến bộ có thể kìm hãm sự pháttriển của tồn tại xã hội. Nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đốicủa ý thức xã hội đã chỉ ra động thái phức tạp trong lịch sử phát triển của ýthức xã hội và đời sống tinh thần của xã hội nói chung; nó bác bỏ mọi quanđiểm siêu hình, máy móc, tầm thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội vàý thức xã hội. Ý nghĩa phương pháp luận: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tính quyết định của tồn tại xãhội đối với ý thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội là cơ sởphương pháp luận căn bản của hoạt động nhận thức và thực tiễn. Theo nguyênlý này, một mặt, nhận thức các hiện tượng của đời sống tinh thần xã hội phảicăn cứ vào tồn tại xã hội nhưng mặt khác cũng phải thấy được sự độc lậptương đối giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Do đó, trong thực tiễn cải tạoxã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồntại xã hội và ý thức xã hội, trong đó thay đổi tồn tại xã hội là điều kiện cơ bảnđể thay đổi ý thức xã hội; đồng thời, cũng cần phải thấy rằng những tác độngcủa đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ranhững biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội.IV. HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ-TỰ NHIÊN CỦASỰ PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI 1. Khái niệm, cấu trúc hình thái kinh tế-xã hội Khái niệm hình thái kinh tế-xã hội. - 78 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Xã hội là tổng thể của nhiều lĩnh vực với những mối quan hệ xã hội hếtsức phức tạp. Vân dụng phương pháp luận duy vật biện chứng vào phân tíchđời sống xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đưa ra kháiniệm hình thái kinh tế - xã hội. Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vậtlịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểuquan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất địnhcủa lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xâydựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Theo khái niệm trên thì kết cấu của hình thái kinh tế - xã hội bao gồm:lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Với khái niệm khoa học về xã hội theo cấu trúc “hình thái” như vậy đãđem lại phương pháp luận khoa học trong việc nghiên cứu cấu trúc cơ bản củaxã hội, cho phép phân tích đời sống hết sức phức tạp của xã hội để chỉ ra cácmối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực cơ bản của nó, chỉ ra quy luật vậnđộng và phát triển của nó như một quá trình lịch sử - tự nhiên. Xã hội loài người đã biết đến 5 hình thái kinh tế - xã hội tương ứng với 5phương thức sản xuất: Hình thái kinh tế - xã hội cộng đồng nguyên thủy, hìnhthái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế - xã hội phong kiến,hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, hình thái kinh tế - xã hội cộng sảnchủ nghĩa .2. Quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội Tính lịch sử - tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội: Khi phân tích sự phát triển của lịch sử nhân loại theo lý luận cấu trúchình thái kinh tế - xã hội, C.Mác cho rằng: “sự phát triển của các hình tháikinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” (1) . Tính chất lịch sử - tự nhiên của quá trình phát triển các hình thái kinh tế- xã hội được thể hiện ở các nội dung sau: Một là, sự vận động và phát triển của xã hội tuân theo các quy luậtkhách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tếxã hội mà trước hết là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.23, t.r21. - 79 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------triển của lực lượng sản xuất, quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơsở hạ tầng. Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội đều cónguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất xãhội. Theo V.I.Lênin: “Chỉ có đem quy các quan hệ xã hội vào những quan hệsản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lựclượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệmsự phát triển của những hình thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” (1) . Ba là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, tức là quátrình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội là do sự tác động củacác quy luật khách quan làm cho các hình thái kinh tế - xã hội không tồn tạivĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Vai trò của nhân tố chủ quan đối với tiến trình lịch sử: Sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế -xã hội trong lịch sử trước hết do tác động của các quy luật khách quan nhưngđồng thời còn chịu tác động của các nhân tố chủ quan như điều kiện địa lý,tương quan lực lượng giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa, điềukiện quốc tế... Chính vì vậy, tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người cóthể diễn ra với những con đường, hình thức phức tạp, đa dạng phongphú...Tính chất phong phú đa dạng của tiến trình phát triển các hình thái kinhtế - xã hội có thể bao hàm những bước phát triển “bỏ qua” một hay một vàihình thái kinh tế - xã hội nhất định. Tuy nhiên sự “bỏ qua” đó phải gắn vớinhững điều kiện khách quan và chủ quan nhất định. Sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủquan đối với sự vận động, phát triển của xã hội: Lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theotính tất yếu quy luật xã hội, vừa chịu tác động đa dạng của các nhân tố khácnhau, trong đó có cả nhân tố hoạt động chủ quan của con người, từ đó lịch sửphát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thống nhất trong tính đa dạngvà đa dạng trong tính thống nhất của nó.(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,1974, t.1, tr.163. - 80 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------3. Ý nghĩa phương pháp luận (giá trị khoa học của lý luận hình thái kinhtế - xã hội) Với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử mà hạt nhân của nó là lýluận hình thái kinh tế - xã hội đã cung cấp một phương pháp luận thực sựkhoa học trong nghiên cứu về lĩnh vực xã hội. Thứ nhất, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, sản xuất vật chất là cơsở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định trình độ phát triểncủa nền sản xuất và cũng là nhân tố quyết định trình độ phát triển của đờisống xã hội và lịch sử nói chung, do đó việc giải thích các hiện tượng trongđời sống xã hội không thể xuất phát từ ý thức, tư tưởng hoặc ý chí chủ quancủa con người mà phải xuất phát từ bản thân thực trạng phát triển của sản xuấtxã hội, từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thứ hai, xã hội là một cơ thể sống động, trong đó các phương diện củađời sống xã hội tồn tại trong một hệ thống cấu trúc chặt chẽ, tác động qua lạivới nhau, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò là quan hệ cơ bản nhất, quyếtđịnh các quan hệ khác vì vậy, để lý giải các vấn đề đời sống xã hội cần xuấtphát từ quan hệ sản xuất hiện thực của xã hội để phân tích các phương diệnkhác nhau (chính trị, pháp luật, văn hóa, khoa học...) của đời sống xã hội vàmối quan hệ giữa chúng. Thứ ba, sự vận động, phát triển của xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên,diễn ra theo quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan, dođó muốn nhận thức và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tế của đời sốngxã hội thì phải nghiên cứu quy luật vận động, phát triển của xã hội.V. VAI TRÒ CỦA ĐẤU TRANH GIAI CẤP VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI ĐỐI VỚISỰ VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI CÓ ĐỐI KHÁNG GIAI CẤP1. Giai cấp và vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triển của xãhội có đối kháng giai cấp a. Khái niệm giai cấp, tầng lớp xã hội Khái niệm giai cấp dùng để chỉ “những tập đoàn to lớn gồm nhữngngười khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhấtđịnh trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất, về - 81 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội, khác nhau về cách thức hưởngthụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng”. Từ khái niệm trên cho thấy: - Giai cấp là kết quả của sự phân hóa xã hội do có sự đối lập giữa họ vềđịa vị trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định. - Trong xã hội, giai cấp nào nắm được tư liệu sản xuất chủ yếu của xãhội thì đồng thời có khả năng chiếm được địa vị làm chủ quyền lực chính trịvà quyền lực nhà nước và trở thành giai cấp thống trị xã hội. - Giai cấp không chỉ là khái niệm của khoa học chính trị mà còn là kháiniệm phản ánh mối quan hệ khách quan giữa lĩnh vực kinh tế và lĩnh vựcchính trị của xã hội; phản ánh mối quan hệ kinh tế, chính trị giữa các tập đoànngười trong một điều kiện lịch sử nhất định. Đó là mối quan hệ không chỉ cósự khác biệt mà còn có tính chất đối lập của họ trên phương diện kinh tế vàchính trị. Từ đó cho thấy, việc phân tích các vấn đề về kết cấu chính trị cầnphải gắn liền với việc phân tích kết cấu kinh tế của xã hội theo quan điểm lịchsử cụ thể. Cần phân biệt khái niệm giai cấp với khái niệm tầng lớp xã hội. Kháiniệm tầng lớp xã hội dùng để chỉ sự phân tầng, phân lớp, phân nhóm giữanhững con người trong cùng một giai cấp theo địa vị và sự khác biệt cụ thểcủa họ trong giai cấp đó hoặc chỉ những nhóm người ngoài kết cấu giai cấptrong một xã hội nhất định (công chức, trí thức, tiểu nông). b. Nguồn gốc giai cấp Phát hiện mới của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là sự tồn tại giaicấp, đối kháng và đấu tranh giai cấp mà là đã chỉ ra sự tồn tại giai cấp, đốikháng và đấu tranh giai cấp không phải là bản tính của nhân loại, là tiền địnhmà chỉ là hiện tượng có tính lịch sử, gắn với những giai đoạn lịch sử nhất địnhcủa sản xuất, của lịch sử nhân loại. Nguồn gốc trực tiếp của giai cấp trong xã hội là từ sự phân hóa xã hộido sự ra đời, tồn tại của chế độ tư hữu đối với những tư liệu sản xuất chủ yếucủa xã hội. Trong điều kiện đó tất yếu làm phát sinh và tồn tại sự phân biệtđịa vị của các tập đoàn người trong quá trình sản xuất, dẫn tới khả năng tậpđoàn người này chiếm đoạt lao động thặng dư của tập đoàn người khác. Tuy - 82 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------nhiên, quá trình này còn phải gắn với điều kiện lực lượng sản xuất phải pháttriển đến một mức độ nhất định, làm cho năng suất lao động tăng lên khiếncho thời gian lao động được chia thành thời gian lao động tất yếu và thời gianlao động thặng dư mà biểu hiện của nó là sự dư thừa tương đối của cải trongcộng đồng xã hội. Nguồn gốc sâu xa của sự phân hóa giai cấp trong xã hội là do tình trạngphát triển chưa đầy đủ của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản xuất pháttriển tới mức đầy đủ thì chính nó lại là nguyên nhân khách quan dẫn đến xóabỏ chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do đó xóa bỏ giai cấp, đốikháng và đấu tranh giai cấp trong xã hội. Con đường hình thành giai cấp có thể diễn ra với những hình thứckhác nhau, mức độ khác nhau ở các cộng đồng khác nhau trong lịch sử.Điều đó tùy thuộc sự tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan đếntiến trình vận động, phát triển của mỗi cộng đồng người. Tuy nhiên, có thểkhái quát quá trình hình thành, phát triển giai cấp diễn ra chủ yếu với sự tácđộng của nhân tố bạo lực và của quy luật kinh tế phân hóa những người sảnxuất hàng hóa trong nội bộ cộng đồng xã hội, hoặc là sự kết hợp của cả haiyếu tố nói trên. c. Vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự vận động, phát triển củaxã hội có đối kháng giai cấp Đấu tranh giai cấp và các hình thức đấu tranh giai cấp: Đấu tranh giai cấp là khái niệm dùng để chỉ “cuộc đấu tranh của quầnchúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặclợi, bọn áp bức và bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhânlàm thuê hay những người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tưsản” (1) Tùy theo điều kiện lịch sử khác nhau, các cuộc đấu tranh giai cấp cóthể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, với những phạm vi và trình độkhác nhau như: đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị...Trong thực tế lịch sử đấu tranh giai cấp còn có thể mang hình thức đấu tranhdân tộc, tôn giáo, văn hóa...(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,1977, t.7, tr.237 - 238. - 83 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Nhà nước – công cụ chuyên chính giai cấp: Sự ra đời và tồn tại của nhà nước là kết quả tất yếu của đấu tranh giaicấp trong xã hội có đối kháng giai cấp. Để khống chế và đàn áp những ngườinô lệ, những ngườI làm thuê, duy trì và thực hiện sự bóc lột, các giai cấpthống trị trong lịch sử (chủ nô, địa chủ, tư sản) tất yếu phải sử dụng đến sứcmạnh bạo lực có tổ chức – đó là nhà nước với những đội vũ trang đặc biệt vàhệ thống pháp luật nhằm duy trì trật tự của sự thống trị giai cấp. Vì vậy, vấnđề chính quyền nhà nước là vấn đề trung tâm và cơ bản của cuộc đấu tranhgiai cấp trong xã hội. Sự ra đời và tồn tại của nhà nước không phải để giải quyết mâu thuẫngiai cấp mà là để duy trì trật tự xã hội trong điều kiện mâu thuẫn không giảiquyết được. Nhà nước là công cụ bạo lực để trấn áp giai cấp, duy trì địa vị của giaicấp thống trị, do đó nó là công cụ chuyên chính giai cấp của giai cấp bóc lộttrong lịch sử đối với nô lệ hay lao động làm thuê. Trong lịch sử đã từng tồntại nhiều kiểu nhà nước khác nhau: nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến,nhà nước tư sản nhưng bản chất giai cấp của nó đều là công cụ chuyên chínhgiai cấp của các giai cấp bóc lột. Trái lại, với sự xuất hiện của nhà nướcchuyên chính vô sản, đó là nhà nước kiểu mới, nhà nước “nửa nhà nước” tồntại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trở thành công cụ bạo lực có tổchức và công cụ quản lý kinh tế xã hội của giai cấp công nhân và nhân dânlao động. Vai trò của đấu tranh giai cấp Đấu tranh giai cấp giữ vai trò là phương thức, động lực cơ bản của sựtiến bộ, phát triển xã hội trong điều kiện xã hội có sự phân hóa thành đốikháng giai cấp. Lịch sử nhân loại từ khi có sự phân hóa đến nay về thực chất chỉ là lịchsử của những cuộc đấu tranh giai cấp được biểu hiện dưới nhiều hình thức đadạng với những mức độ khác nhau và mang sắc thái khác nhau. Kết quả cuốicùng của những cuộc đấu tranh đó đều dẫn tới sự ra đời của phương thức sảnxuất mới thông qua đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội. - 84 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Đấu tranh giai cấp không chỉ là động lực cơ bản của sự phát triển lịchsử mà còn là phương thức cơ bản của sự tiến bộ và phát triển xã hội, nhằmgiải quyết những mâu thuẫn đối kháng trong đời sống kinh tế, chính trị, xãhội. Trong điều kiện xã hội có sự phân hóa giai cấp thì sự vận động của cácmâu thuẫn trong phương thức sản xuất biểu hiện ra là mâu thuẫn giữa các giaicấp trong đời sống chính trị xã hội, do đó mâu thuẫn đối kháng trong đời sốngkinh tế chỉ có thể được giải quyết thông qua việc giải quyết mâu thuẫn đốikháng giai cấp trên lĩnh vực chính trị xã hội. Ý nghĩa phương pháp luận: Lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin có ýnghĩa quan trọng về phương pháp luận. Nó cho phép thấy được tính tất yếucủa đấu tranh giai cấp trong xã hội, nhận thức được bản chất và các hình thứcbiểu hiện của đấu tranh giai cấp; tạo cơ sở lý luận để xây dựng đường lốichiến lược đấu tranh giai cấp chống lại ách áp bức bóc lột, bất bình đẳng giaicấp, xây dựng chế độ xã hội mới đồng thời là cơ sở để giải quyết mâu thuẫngiai cấp của xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.2. Cách mạng xã hội và vai trò của nó đối với sự phát triển của xã hội cóđối kháng giai cấp a. Khái niệm cách mạng xã hội và nguồn gốc của cách mạng xã hội Khái niệm cách mạng xã hội và khái niệm cải cách xã hội Cách mạng xã hội là khái niệm dùng để chỉ bước chuyển biến lớn củalịch sử xã hội loài người - đó là bước chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội ởtrình độ thấp lên một hình thái kinh tế - xã hội ở trình độ cao hơn, được tiếnhành trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa...của xã hội. Khái niệm cách mạng xã hội khác với khái niệm cải cách. Cải cách làkhái niệm dùng để chỉ những cuộc cải biến diễn ra trên một hay một số lĩnhvực của đời sống xã hội, trong phạm vi một hình thái kinh tế - xã hội, nhằmhoàn thiện hình thái kinh tế - xã hội đó. Cách mạng xã hội cũng khác với khái niệm đảo chính. Đảo chính làkhái niệm dùng để chỉ những sự biến tranh giành địa vị quyền lực nhà nước - 85 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------giữa các lực lượng chính trị (thường trong cùng một giai cấp) và với chủtrương không thay đổi bản chất chế độ hiện thời. Nguồn gốc của cách mạng xã hội: Nguyên nhân sâu xa của cách mạng xã hội là từ mâu thuẫn gay gắttrong bản thân nền sản xuất vật chất của xã hội, tức là mâu thuẫn giữa nhu cầukhách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất với sự kìm hãm của quan hệsản xuất đã trở nên lỗi thời mà không một cuộc cải cách kinh tế hay chính trịnào giải quyết được. Biểu hiện về mặt chính trị xã hội của mâu thuẫn đó làđấu tranh giai cấp, đẫn đến bùng nổ các cuộc cách mạng xã hội Nguyên nhân chủ quan là sự phát triển nhận thức và tổ chức của giaicấp cách mạng, tức giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới tiến bộhơn, từ đó tạo ra phong trào đấu tranh giai cấp từ tự phát đến tự giác và khi cósự kết hợp chín muồi của các nhân tố khách quan và chủ quan, tức tạo đượcthời cơ cách mạng thì khi đó tất yếu cách mạng sẽ bùng nổ. b. Vai trò của cách mạng xã hội đối với sự vận động, phát triển củaxã hội có đối kháng giai cấp. Cách mạng xã hội là phương thức của sự vận động, phát triển xã hộicó đối kháng giai cấp. Thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội màxã hội có giai cấp đối kháng không ngừng vận động theo chiều hướng đi lên. Cách mạng xã hội là động lực của sự vận động, phát triển xã hội nhằmthay đổi chế độ xã hội đã lỗi thời chuyển lên chế độ xã hội mới cao hơn.Không có những cuộc cách mạng xã hội trong lịch sử thì không thể thay thếhình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội cao hơn. TheoC.Mác, cách mạng xã hội là đầu tàu của lịch sử. Chính nhờ cách mạng xã hộimà mâu thuẫn cơ bản của đời sống xã hội được giải quyết triệt để, tạo độnglực cho sự tiến bộ và phát triển của xã hội. Nhận thức về vai trò của cách mạng xã hội đối với sự phát triển của xãhội là cơ sở để nhận thức tính khách quan của cách mạng xã hội chủ nghĩađồng thời thấy rõ vai trò to lớn của cách mạng vô sản trong việc xóa bỏ chủnghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.VI. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ VỀ CON NGƯỜI VÀVAI TRÒ SÁNG TẠO LỊCH SỬ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN - 86 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------1. Con người và bản chất của con người a. Khái niệm con người Con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội; có sự thốngnhất biện chững giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội. Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của con người Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triểncủa con người là giới tự nhiên, do đó trước hết con người có bản tính tựnhiên. Nghiên cứu, khám phá khoa học về cấu tạo tự nhiên và nguồn gốc tựnhiên của con người là cơ sở khoa học để con người hiểu biết về chính bảnthân mình, tiến đến làm chủ bản thân trong mọi hành vi hoạt động sáng tạo ralịch sử. Bản tính tự nhiên của con người thể hiện trên hai giác độ sau đây: Thứ nhất, con người là kết quả tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tựnhiên, cơ sở khoa học của kết luận này đã được chứng minh bằng sự pháttriển của chủ nghĩa duy vật và khoa học tự nhiên, đặc biệt là học thuyết củaĐácuyn về sự tiến hóa của các loài. Thứ hai, con người là bộ phận của giới tự nhiên do đó những biến đổicủa giới tự nhiên và tác động của quy luật tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếpthường xuyên quy định sự tồn tại của con người và xã hội loài người, nó làmôi trường trao đổi vật chất giữa con người với giới tự nhiên; ngược lại, sựbiến đổi và hoạt động của con người luôn tác động trở lại môi trường tự nhiênvà làm biến đổi môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, con người cũng không đồng nhất với các tồn tại khác củagiới tự nhiên, nó có đặc tính xã hội. Bản tính xã hội của con người là bản tínhđặc thù của nó trong quan hệ với các tồn tại khác của giới tự nhiên. Bản tínhxã hội của con người thể hiện ở các mặt sau: Một là, nguồn gốc hình thành con người không chỉ là quá trình tiến hóacủa giới tự nhiên mà trước hết và cơ bản nhất là nhân tố lao động. Chính nhờlao động mà con người có khả năng vượt qua loài động vật để tiến hóa vàphát triển thành người. Hai là, sự tồn tại và phát triển của con người luôn bị chi phối bởi cácnhân tố xã hội và các quy luật xã hội. Xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng - 87 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------biến đổi và ngược lại, sự phát triển của mỗi cá nhân lại trở thành tiền đề chosự phát triển xã hội. Hai phương diện tự nhiên và xã hội của con người tồn tại trong tínhthống nhất của nó, quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau, làm biến đổi lẫnnhau, nhờ đó tạo nên khả năng hoạt động sáng tạo của con người trong quátrình làm ra lịch sử của chính mình. Vì vậy, để lý giải bản tính sáng tạo củacon người cần kết hợp chặt chẽ cả hai phương diện tự nhiên và xã hội nhằmtránh rơi vào phiến diện, không triệt để, dẫn đến những sai lầm trong nhậnthức và hoạt động thực tiễn. b. Bản chất của con người Theo C.Mác, “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cốhữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngườilà tổng hòa những quan hệ xã hội” (1) . Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan điểm khác nhau vàbản chất, “bản tính người” của con người song về cơ bản những quan niệm đóđều mang tính phiến diện, trừu tượng và duy tâm thần bí, tuyệt đối hóaphương diện tự nhiên của con người, xem nhẹ việc lý giải con người từphương diện lịch sử xã hội. Quan điểm của C.Mác đã khắc phục được hạn chế của quan điểm duyvật siêu hình về con người, trong khi thừa nhận bản tính tự nhiên của conngười còn lý giải con người từ giác độ các quan hệ lịch sử xã hội, từ đó pháthiện ra bản tính xã hội của nó, hơn nữa chính bản tính xã hội của con người làphương diện bản chất nhất của con người, là cía phân biệt con người với cáctồn tại khác của giới tự nhiên. Năng lực sáng tạo lịch sử của con người và các điều kiện phát huynăng lực sáng tạo của con người: Con người làm ra lịch sử của chính mình. Theo quan điểm duy vật biệnchứng về bản chất xã hội của con người thì sự hình thành và phát triển củacon người cùng những khả năng sáng tạo lịch sử của nó là xuất phát từ sựhình thành và phát triển của những quan hệ xã hội của nó trong lịch sử., khinhững quan hệ này thay đổi thì cũng có sự thay đổi về bản chất của con(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.11. - 88 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------người. Vì vậy, sự giải phóng bản chất con người cần phải hướng vào sự giảiphóng những quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội của nó, thông qua đó mà pháthuy khả năng sáng tạo lịch sử của con người. Không có con người phi lịch sử mà trái lại luôn gắn với điều kiện hoàncảnh lịch sử nhất định. Con người là sản phẩm của lịch sử, lịch sử sáng tạo racon người trong chừng mực nào thì con người lại sáng tạo ra lịch sử trongchừng mực đó. Đây là biện chứng của mối quan hệ giữa con người – chủ thểcủa lịch sử với chính lịch sử do nó tạo ra và đồng thời lại bị quy định bởichính lịch sử đó. Với tư cách là thực thể xã hội, con người trong hoạt động thực tiễn tácđộng vào giới tự nhiên, cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu của mình thì đồngthời con người cũng sáng tạo ra lịch sử của chính nó, thực hiện sự phát triểncủa lịch sử đó. Ý nghĩa phương pháp luận: Từ quan niệm khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người, có thểrút ra ý nghĩa phương pháp luận quan trọng sau đây: Một là, để lý giải một cách khoa học những vấn đề về con người phảicăn cứ cả vào phương diện tự nhiên và phương diện xã hội, trong đó vấn đềcó tính quyết định là phương diện bản tính xã hội của nó, từ những quan hệkinh tế xã hội của nó. Hai là, động lực cơ bản của tiến bộ và phát triển của xã hội là năng lựcsáng tạo lịch sử của con người, vì vậy phát huy năng lực sáng tạo của mỗi conngười là phát huy nguồn động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ và phát triểncủa xã hội. Ba là, sự nghiệp giải phóng con người, nhằm phát huy khả năng sángtạo lịch sử của nó phải hướng vào việc giải phóng những quan hệ kinh tế xãhội. Trên cơ sở đó có thể khẳng định giá trị căn bản nhất của cách mạng xãhội chủ nghĩa là ở mục tiêu xóa bỏ triệt để các quan hệ kinh tế xã hội áp bức,bóc lột nhằm giải phóng con người, phát huy cao nhất năng lực sáng tạo củacon người, đưa con người tới sự phát triển tự do và toàn diện.2. Khái niệm quần chúng nhân dân và vai trò sáng tạo lịch sử của quầnchúng nhân dân. - 89 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- a. Khái niệm quần chúng nhân dân Quần chúng nhân dân là một cộng đồng liên kết những con ngườitrong xã hội có tổ chức, có lãnh đạo của những cá nhân hay tổ chức chính trịxã hội nhất định nhằm giải quyết các nhiệm vụ lịch sử trên các lĩnh vực kinhtế, chính trị, văn hóa của xã hội. Lực lượng cơ bản tạo thành quần chúng nhân dân bao gồm: - Những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị tinhthần, đó là hạt nhân cơ bản trong cộng đồng quần chúng nhân dân. - Bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị, áp bức, bóc lột đối khángvới cộng đồng nhân dân. - Các giai cấp, tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thông qua hoạtđộng của mình trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quần chúng nhân dân không phải là một cộng đồng bất biến mà trái lạinó thay đổi cùng với sự biến đổi của những nhiệm vụ lịch sử ở mối thời đại,mỗi giai đoạn phát triển nhất định. Tuy nhiên, lực lượng cơ bản nhất của mỗicộng đồng nhân dân chính là những người lao động; ngoài ra, tùy theo mốiđiều kiện lịch sử nhất định còn bao gồm những lực lượng giai cấp và tầng lớpxã hội khác. b. Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân và vai trò củacá nhân trong lịch sử Các nhà tư tưởng trước C.Mác đều không nhận thức đúng vai trò sángtạo lịch sử của quần chúng nhân dân. Theo quan điểm duy vật lịch sử, quần chúng nhân dân là chủ thể sángtạo lịch sử và là lực lượng quyết định sự phát triển lịch sử, do đó lịch sửtrước hết và căn bản là lịch sử hoạt động của quần chúng nhân dân trên tấtcả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử, quyết định tiến trình phát triển lịch sửcủa quần chúng nhân dân được thể hiện ở các mặt sau: Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của mọixã hội, trực tiếp tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triểncủa con người và xã hội. - 90 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Thứ hai, quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị tinhthần của xã hội. Hoạt động của quần chúng nhân dân là cơ sở hiện thực và làcội nguồn phát sinh những sáng tạo văn hóa tinh thần của xã hội; mọi giá trịsáng tạo tinh thần dù qua phương thức nào thì cuối cùng cũng là để phục vụhoạt động của quần chúng nhân dân, chỉ có ý nghĩa hiện thực khi được vậtchất hóa bởi hoạt động thực tiễn của nhân dân. Thứ ba, quần chúng nhân dân là lực lượng và động lực cơ bản của mọicuộc cách mạng và cải cách trong lịch sử. Cách mạng xã hội hoặc cải cách xãhội chỉ có thể thành công nếu xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng của nhândân, do nhân dân thực hiện. Với ý nghĩa đó có thể nói: “cách mạng là ngàyhội của quần chúng”, nhờ đó làm cho lịch sử tiến được những bước dài. Vai trò của cá nhân, vĩ nhân đối với sự phát triển của lịch sử: Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân không thể tách rời vaitrò cụ thể của mỗi cá nhân, nhất là cá nhân là thủ lĩnh hay lãnh tụ của nhân dân. Cá nhân và vai trò của cá nhân Cá nhân là khái niệm dùng để chỉ mỗi con người cụ thể trong một cộngđồng xã hội nhất định và được phân biệt với những con người khác thông quatính đơn nhất và tính phổ biến của nó. Theo quan niệm đó, mỗi cá nhân là mộtchỉnh thể thống nhất, vừa mang tính cá biệt vừa mang tính phổ biến, là chủthể của lao động, của mọi quan hệ xã hội và của nhận thức nhằm thực hiệnchức năng cá nhân và chức năng xã hội trong một giai đoạn phát triển nhấtđịnh của lịch sử. Mỗi cá nhân, tùy theo vị trí, chức năng, vai trò và năng lực sáng tạo cụthể của họ mà có thể tham gia vào quá trình sáng tạo ra lịch sử của cộng đồngnhân dân. Theo ý nghĩa đó, mỗi cá nhân của cộng đồng nhân dân đều indấuấn của mình vào quá trình sáng tạo ra lịch sử, dù mức độ và phạm vi có thểkhác nhau. Lãnh tụ và vai trò của lãnh tụ: Lãnh tụ là những cá nhân kiệt xuất do phong trào cách mạng của quầnchúng nhân dân tạo nên, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân. Để trở thành lãnh tụ của nhân dân, được quần chúng nhân dân tínnhiệm, lãnh tụ phải là người có các phẩm chất sau: - 91 -
    • Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- - Có tri thức khoa học uyên bác, nắm được xu thế vận động, phát triểncủa lịch sử. - Có năng lực tập hợp quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí và hànhđộng của quần chúng nhân dân. - Gắn bó mật thiết với nhân dân, hy sinh vì lợi ích của nhân dân. Lãnh tụ nhất là lãnh tụ ở tầm vĩ nhân có vai trò to lớn trong việc tậphợp, tổ chức, chỉ đạo phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân. Lãnhtụ xuất hiện và thực hiện vai trò của mình từ trong phong trào của quần chúngnhân dân. Trong hoạt động thực tiễn cần có quan điểm biện chứng về vai trò củaquần chúng nhân dân và vai trò của cá nhân. Không được tuyệt đối hóa vai tròcủa quần chúng nhân dân cũng như không được tuyệt đối hóa vai trò của cánhân, của lãnh tụ. Ý nghĩa phương pháp luận.: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò sáng tạo lịch sử của quầnchúng nhân dân và vai trò của các cá nhân đối với tiến trình lịch sử đã cungcấp một phương pháp luận khoa học quan trọng cho hoạt động nhận thức vàthực tiễn. Thứ nhất, lý giải một cách khoa học về vai trò quyết định lịch sử củaquần chúng nhân dân, chống những quan điểm sai trái của chủ nghĩa duy tâmđồng thời đem lại phương pháp luận khoa học trong việc nghiên cứu, đánh giávai trò của cá nhân, của vĩ nhân, của lãnh tụ trong cộng đồng xã hội. Thứ hai, cung cấp phương pháp luận khoa học để các đảng cộng sảnphân tích các lực lượng xã hội, tổ chức xây dựng lực lượng quần chúng nhândân trong công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, tập hợp đông đảo lực lượngquần chúng nhân dân để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. - 92 -