Bai giang nlcb_1

15,282
-1

Published on

0 Comments
9 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total Views
15,282
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
301
Comments
0
Likes
9
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Bai giang nlcb_1

  1. 1. ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG Tiến sĩ Lê Hữu Ái Thạc sỹ Lưu Hoàng Tuấn Thạc sỹ Nguyễn Hồng Cử TẬP BÀI GIẢNG NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢNCỦA CHỦ NGHĨA MAC – LÊNIN (Phần I) Năm 2009
  2. 2. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Lời giới thiệu Thực hiện chương trình đổi mới việc giảng dạy và học tập các mônkhoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học vàcao đẳng, trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học, ngày 18 tháng 09 năm2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT về chương trình các môn học lý luận chính trị, chươngtrình này được áp dụng từ học kỳ II năm học 2008-2009. Nhằm đáp ứng nhucầu học tập của sinh viên các trường thuộc Đại học Đà Nẵng, tập thể cán bộgiảng dạy thuộc khoa Mác - Lênin và khoa Kinh tế chính trị, trường đại họcKinh tế đã phối hợp biên soạn tập bài giảng này. Tập bài giảng môn “Nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” được biên soạn theo chươngtrình khung và Giáo trình của môn học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.Tài liệu này còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để học tập của sinhviên các hệ đào tạo khác của Đại học Đà Nẵng. Do thời gian hạn chế do đóTập bài giảng không thể tránh khỏi sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được sựgóp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên. Đà Nẵng ngày 20 tháng 02 năm 2009 -1-
  3. 3. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Chương: Mở đầu NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN Bất kỳ ngành khoa học nào, thực sự là khoa học khi nó trả lời được bacâu hỏi, đó là: môn học nghiên cứu cái gì? (tức là xác định đối tượng của mônhọc); cần phải nghiên cứu, học tập như thế nào (tức là phương pháp của mônhọc) và hệ thống các kết quả từ việc áp dụng phương pháp vào nghiên cứu đốitượng (hệ thống các quy luật, phạm trù). Chương Mở đầu của môn họcNhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm giải quyết ba vấnđề đó. Chương này trình bày khái lược các nội dung trọng tâm và quá trìnhhình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác-Lênin nhằm tạo ra cái nhìn tổngquát về đối tượng và phạm vi của môn học.I. KHÁI LƯỢC VỀ CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN1. Chủ nghĩa Mác-Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành a. Chủ nghĩa Mác-Lênin Chủ nghĩa Mác-Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa họccủa C.Mác, Ph.Ăngghen và sự phát triển của V.I.Lênin; là sự kế thừa và pháttriển những giá trị của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn của thờiđại; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dânlao động và giải phóng con người; là thế giới quan và phương pháp luận phổbiến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng. b. Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực,nhưng trong đó có ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là: triết học, kinh tếchính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học: - Triết học Mác-Lênin là bộ phận nghiên cứu những quy luật vận động,phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy nhằm hình thành thế giới -2-
  4. 4. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------quan và phương pháp luận chung nhất cho nhận thức khoa học và thực tiễncách mạng. - Kinh tế chính trị nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội, đặcbiệt là nghiên cứu quy luật kinh tế của sự phát sinh, phát triển của chủ nghĩatư bản và sự ra đời của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. - Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu quy luật khách quan của quátrình cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự chuyển biến lịch sử từ chủ nghĩa tư bảnlên chủ nghĩa xã hội. Ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác-Lênin có đối tượng nghiên cứucụ thể khác nhau nhưng đều nằm trong hệ thống lý luận khoa học thống nhất -Đó là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dânlao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột, tiến tới giải phóng con người.2. Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin a. Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác Điều kiện kinh tế - xã hội Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 thế kỷ XIX. Đây là thời kỳphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnhmẽ trên cơ sở những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp. Cách mạngcông nghiệp không những đánh dấu sự chuyển biến từ nền sản xuất thủ côngsang đại công nghiệp mà còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, nhất là sựhình thành và phát triển của giai cấp vô sản. Cách mạng công nghiệp làm chomâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá với quan hệ sản xuấtmang tính tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt. Biểu hiện của mâuthuẫn trên là sự xuất hiện của khủng hoảng kinh tế (xảy ra lần đầu tiên ở Anhvào năm 1825) Phong trào công nhân phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩacủa công nhân ngành dệt thành phố Liôn (Pháp) năm 1831, 1834; Phong tràoHiến chương Anh (1835-1848), khởi nghĩa của công nhân dệt ở Silêdi (Đức)năm 1844...Điều đó chứng tỏ giai cấp công nhân đã trở thành lực lượng chínhtrị độc lập. Thực tiễn cuộc đấu tranh giai cấp đặt ra đòi hỏi khách quan là giai -3-
  5. 5. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------cấp công nhân cần phải được trang bị vũ khí về lý luận làm cơ sở cho đấutranh giai cấp. Vì vậy, thực tiễn cách mạng là tiền đề thực tiễn cho sự phát triển lýluận của chủ nghĩa Mác. Tiền đề lý luận: Chủ nghĩa Mác ra đời dựa trên sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận củanhân loại trong đó trực tiếp là Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị học cổđiển Anh và Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Triết học cổ điển Đức với các đại biểu xuất sắc là L.Phơbách (LudwigAndreas Feuerbach, 1804 – 1872) và G.W.Ph.Hêghen (Georg WilhelmFriedrich Hegel, 1770 1831) đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thếgiới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác. Với triết học của G.W.Ph.Hêghen, lần đầu tiên trong lịch sử tư duy củanhân loại đã diễn đạt nội dung của phép biện chứng dưới dạng lý luận chặtchẽ thông qua một hệ thống các quy luật, phạm trù. Trên cơ sở phê phán quanđiểm duy tâm thần bí trong triết học của G.W.Ph.Hêghen, C.Mác vàPh.Ăngghen đã kế thừa phép biện chứng của ông để xây dựng phép biệnchứng duy vật. C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá cao quan điểm triết học của L.Phơbáchtrong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo nhưng đồng thờicũng phê phán quan điểm quan điểm siêu hình của ông. Chủ nghĩa duy vật, vôthần của ông đã tạo tiền đề cho sự chuyển biến của C.Mác, Ph.Ăngghen từ thếgiới quan duy tâm sang duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lậptrường chủ nghĩa cộng sản. Kinh tế chính trị cổ điển Anh với các đại biểu tiêu biểu như A.Smít,D.Ricácđô đã góp phần tích cực vào sự hình thành quan niệm duy vật về lịchsử của chủ nghĩa Mác. Công lao của A.Smít (Adam Smith, 1723 – 1790) và D.Ricácđô (DavidRicardo, 1772 -1823) là đã xây dựng lý luận giá trị lao động, đưa ra kết luậnquan trọng về nguồn gốc của giá trị và lợi nhuận và các quy luật kinh tế khách -4-
  6. 6. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------quan, nhưng lý luận của các ông có hạn chế là không thấy được tính lịch sửcủa giá trị và mâu thuẫn của sản xuất hàng hóa, không phân biệt được sảnxuất hàng hóa giản đơn với sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, chưa phântích được những biểu hiện của giá trị trong phương thức sản xuất tư bản chủnghĩa. C.Mác đã kế thừa những yếu tố hợp lý trong học thuyết giá trị vànhững tư tưởng tiến bộ của các nhà cổ điển, giải quyết được những bế tắc màcác nhà cổ điển không thể vượt qua để xây dựng lý luận giá trị thặng dư, luậnchứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinhtế của sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời khách quan củachủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội không tưởng không tưởng đã có quá trình phát triểnlâu dài và đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ XIX. Các đại biểu xuất sắc như:H.Xanh Ximông (Henri Saint Simon, 1976 - 1725), S.Phuriê (Charles Fourier,1772 - 1837), R.Ôoen (Robert Owen, 1771 – 1858) thể hiện đậm nét tư tưởngnhân đạo, phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản và đưa ra nhưng dự báo thiêntài về xã hội tương lai. Hạn chế của họ là không phân tích được một cáchkhoa học bản chất của chủ nghĩa tư bản, chưa thấy được sứ mệnh lịch sử củagiai cấp công nhân, song tinh thần nhân đạo và những dự báo của các ông đãtrở thành tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời của lý luận khoa học về chủnghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác. Tiền đề khoa học tự nhiên Chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác là kết quả của sự tổng kếtnhững thành tựu khoa học của nhân loại, nhất là ba phát minh trong khoa họctự nhiên: Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Đây là cơ sở khoa họcđể khẳng định rằng vật chất và vận động của vật chất không do ai sáng tạo ravà không thể bị tiêu diệt. Chúng chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác,từ hình thức này sang hình thức khác. -5-
  7. 7. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Thuyết tiến hóa của Đácuyn (Charles Robert Darwin, 1809 – 1882) đãđem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển của các giống loài, mối liênhệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong quá trình chọn lọc tự nhiên. - Thuyết tế bào Học thuyết tế bào do GS. M.Slaiđen (trường Đại họcGana,ở Đức) xây dựng năm 1838. Ông cho rằng, tế bào là đơn vị sống cơ bảnnhất trong kết cấu của mọi thực vật. Quá trình phát dục của thực vật là quátrình hình thành và phát triển của tế bào. Sau đó, vào năm 1839 GS. T.Svannơ(GS phẫu thuật người của trường Đại học Ruăng ở Đức) đã mở rộng họcthuyết tế bào từ giới thực vật sang giới động vật, khiến loài người nhận thứcđược rằng, tế bào là đơn nguyên kết cấu chung của mọi cơ thể sinh vật.Những phát hiện nêu trên đã vạch ra quá trình biện chứng của sự vận động,phát triển, chuyển hoá không ngừng của bản thân giới sinh vật. Như vậy, sự ra đời của chủ nghĩa Mác là hiện tượng hợp quy luật, nó vừalà sản phẩm của tình hình kinh tế xã hội đương thời, của tri thức nhân loạitrong các lĩnh vực khoa học, vừa là sản phẩm năng lực tư duy và tinh thầnnhân văn của những người sáng lập ra nó. b. Các giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác Giai đoạn hình thành chủ nghĩa Mác (1842-1848) Trong giai đoạn này với các tác phẩm chủ yếu như: Bản thảo kinh tế-triết học (C.Mác, 1844), Gia đình thần thánh (C.Mác - Ph.Ăngghen, 1845),Luận cương về Phơbách (C.Mác, 1845), Hệ tư tưởng Đức (C.Mác-Ph.Ăngghen, 1845), C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa những tinh hoa của chủnghĩa duy vật và phép biện chứng để xây dựng nên phép biện chứng duy vật. Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (C.Mác, 1847), C.Mác đãđề xuất những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa xã hộikhoa học và bước đầu thể hiện tư tưởng về giá trị thặng dư. Trong Tuyên ngôncủa Đảng Cộng sản (C.Mác-Ph.Ăngghen, 1848) đã chỉ ra quy luật vận độngcủa lịch sử, thể hiện tư tưởng cơ bản về lý luận hình thái kinh tế xã hội, vềgiai cấp và đấu tranh giai cấp. Với các quan điểm này, C.Mác và Ph.Ăngghenđã tạo tiền đề sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử. -6-
  8. 8. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Giai đoạn từ 1849-1895 Đây là giai đoạn phát triển, hoàn thiện của chủ nghĩa Mác. Trong giaiđoạn này cùng với các hoạt động thực tiễn, trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duyvật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu một cách toàn diện phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Dựa trên việc phát hiện ra phạm trù hàng hóa sức lao động, C.Mác đãtìm ra nguồn gốc của giá trị thặng dư, chỉ ra bản chất bóc lột của chủ nghĩa tưbản. Lý luận giá trị thặng dư được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày toàn diện,sâu sắc trong bộ Tư bản. Tác phẩm này không chỉ mở đường cho sự hìnhthành hệ thống lý luận kinh tế chính trị trên lập trường giai cấp vô sản mà còncủng cố, phát triển quan điểm duy vật lịch sử thông qua lý luận hình thái kinhtế - xã hội, làm cho chủ nghĩa duy vật lịch sử không còn là một giả thuyết màlà một nguyên lý đã được chứng minh một cách khoa học, bộ Tư bản còn làtác phẩm chủ yếu trình bày về chủ nghĩa xã hội khoa học thông qua việc làmsáng tỏ quy luật hình thành, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tưbản, sự thay thế nó bằng chủ nghĩa xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấpcông nhân. Tư tưởng về chủ nghĩa duy vật lich sử, về cách mạng vô sản tiếp tụcđược phát triển trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (C.Mác, 1875). Tácphẩm này trình bày những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác về nhà nướcchuyên chính vô sản, về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xãhội, các giai đoạn xây dựng chủ nghĩa cộng sản. c. V.I Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịchsử mới Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giaiđoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền. Bản chất bóc lột và thống trị của chủ nghĩatư bản ngày càng được bộc lộ rõ nét, mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nêngay gắt. Các nước tư bản chia nhau thị trường thế giới và gây ra cuộc Chiếntranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). -7-
  9. 9. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Tại các nước thuộc địa, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc tạo nênsự thống nhất giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản màtrung tâm là Cách mạng Tháng Mười Nga. Sau khi Ph.Ăngghen qua đời, các phần tử cơ hội trong Quốc tế II tìmmọi cách nhằm xuyên tạc chủ nghĩa Mác. Trước tình hình đó đòi hỏiV.I.Lênin phải tiến hành đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong khoa học tự nhiên, nhất là trongvật lý học, có nhiều phát minh khoa học làm đảo lộn quan niệm siêu hình vềvật chất và vận động, gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong triếthọc. Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng tình trạng khủng hoảng này để tấn côngvà bác bỏ chủ nghĩa duy vật. Trong hoàn cảnh đó, V.I.Lênin tiến hành đấutranh chống chủ nghĩa duy tâm để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật. Vai trò của V.I Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác Quá trình bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác chia thành ba thời kỳ: Giai đoạn 1893-1907, là thời kỳ V.I.Lênin tập trung chống lại pháiDân túy. Trong tác phẩm: Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranhchống những người dân chủ - xã hội ra sao (1894), V.I.Lênin đã phê phántính chất duy tâm và những sai lầm của phái Dân túy về nhận thức những vấnđề lịch sử - xã hội, vạch rõ ý đồ xuyên tạc chủ nghĩa Mác bằng cách xóa nhòaranh giới giữa phép biện chứng duy vật của C.Mác với phép biện chứng duytâm của G.Hêghen, nêu lên mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Trong tác phẩm Làm gì? (1902) V.I.Lênin phát triển lý luận của chủnghĩa Mác về các hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trước khigiành chính quyền; đề cập đến nhiều vấn đề đấu tranh kinh tế, chính trị, tưtưởng; đặc biệt ông nhấn mạnh quá trình hình thành hệ tư tưởng của giai cấpvô sản. Năm 1905, V.I.Lênin viết tác phẩm Hai sách lược của Đảng dân chủ -xã hội trong cách mạng dân chủ. Trong tác phẩm này, V.I.Lênin đã phát triểnlý luận về phương pháp cách mạng, các nhân tố chủ quan và nhân tố khách -8-
  10. 10. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------quan, vai trò của quần chúng nhân dân, của các đảng chính trị trong cáchmạng tư sản giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Giai đoạn 1907-1917 Trong giai đoạn này diễn ra cuộc khủng hoảng về thế giới quan, dẫnđến sự xuất hiện tư tưởng duy tâm của Makhơ phủ nhận chủ nghĩa Mác.V.I.Lênin đã tổng kết toàn bộ thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX,đầu thế kỷ XX; tổng kết các sự kiện lịch sử của thời kỳ này để viết tác phẩmChủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909). Bằng việc đưara định nghĩa kinh điển về vật chất; nêu lên mối quan hệ giữa vật chất và ýthức, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, những nguyên tắc của nhận thức.Bảo vệ nguồn gốc lịch sử, bản chất và kết cấu của chủ nghĩa Mác (ở tác phẩmBa nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, 1913), phép biệnchứng (tác phẩm Bút ký triết học, 1914-1916), phát triển tư tưởng về nhànước và chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, vai trò của Đảng Cộng sảnvà con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội (tác phẩm Nhà nước và cách mạng,1917). Giai đoạn sau Cách Mạng Tháng Mười 1917-1924 Cách mạng Tháng Mười Nga thành công mở ra thời đại quá độ từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, nảy sinh nhữngnhu cầu mới về lý luận mà thời C.Mác, Ph.Ăngghen chưa đặt ra. Trên cơ sởtổng kết thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân, V.I.Lênin đã viết cáctác phẩm: Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản (1920), Lại bànvề về công đoàn, Về tình hình trước mắt và về những sai lầm của các đồngchí Tơrôtxki và Bukharin (1921), Về chính sách kinh tế mới (1921), Bàn vềthuế lương thực (1921) nhằm tiếp tục bảo vệ phép biện chứng mácxít, chốngchủ nghĩa chiết trung, và thuyết ngụy biện; phát triển học thuyết Mác về nhântố quyết định thắng lợi của một chế độ xã hội, về giai cấp, về hai nhiệm vụ cơbản của giai cấp vô sản, về chiến lược, sách lược của đảng vô sản trong điềukiện lịch sử mới, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, về kế hoạch xâydựng chủ nghĩa xã hội. -9-
  11. 11. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- d. Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới Chủ nghĩa Mác-Lênin với cách mạng vô sản Nga (1917) Chủ nghĩa Mác ra đời đã ảnh hưởng to lớn đến phong trào cộng sản vàcông nhân quốc tế. Cách mạng tháng Ba năm 1871 ở Pháp với sự ra đời củanhà nước chuyên chính vô sản (công xã Pari) là sự kiểm nghiệm đầu tiên củachủ nghĩa Mác. Tháng 8 năm 1903, chính đảng vô sản đầu tiên được thành lập ở Ngavà lãnh đạo cuộc cách mạng 1905. Tháng Mười năm 1917, cuộc cách mạngxã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản thắng lợi, mở ra một kỷ nguyên mới chonhân loại, chứng minh tính hiện thực của chủ nghĩa Mác-Lênin trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc vàxây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. Sau 1917, học thuyết Mác-Lênin tiếp tục có những ảnh hưởng sâu rộng:năm 1919 Quốc tế Cộng sản được thành lập; năm 1922 Liên bang Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Xô viết ra đời; sau chiến tranh thế giới thứ 2, hàng loạt nước xãhội chủ nghĩa ra đời, hình thành nên hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới bao gồmcác nước Mông Cổ, Ba Lan, Rumani, Hunggari, Việt Nam, Tiệp Khắc, Cộnghòa dân chủ Đức, Trung Quốc, Cu Ba, Nam Tư, Anbani, Bungari. Những sự kiện trên đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào công nhân và phongtrào giải phóng dân tộc trên thế giới. Vai trò định hướng của chủ nghĩa MácLênin đã đem lại những thành quả lớn lao cho sự nghiệp vì hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà đặc biệt là do sailầm trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác của những người cộng sản đã dẫn tớihệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào, song đókhông phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác-Lênin; sự sụp đổ của Liên Xô vàcác nước Đông Âu không đồng nhất với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nóichung. Một số nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam... thực hiệnthành công công cuộc đổi mới chủ nghĩa xã hội, chẳng những đã có thể rakhỏi khủng hoảng, mà còn thực hiện tốt hơn những mục tiêu của công cuộc - 10 -
  12. 12. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hộivẫn được khẳng định ở nhiều quốc gia và chiều hướng đi theo con đường xãhội chủ nghĩa vẫn lan rộng ở các nước khu vực Mỹ Latinh. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây là sự phá sản củamô hình cũ của chủ nghĩa xã hội. Việc đổi mới thành công chủ nghĩa xã hội ởmột số nước đã mở ra cho nhân loại nhiều triển vọng mới. Nhân loại chẳngnhững không từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà trái lại, tìm kiếm một mô hình mớicủa chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình mới. Cần phải thấy rằng, dù xã hộihiện nay có biến đổi thế nào thì bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không thayđổi. Chính vì vậy, việc bảo vệ thành quả của chủ nghĩa xã hội, phát triển chủnghĩa Mác-Lênin và đổi mới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trở thànhvấn đề cấp bách trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng ta phát động và lãnh đạo khôngcó nghĩa là từ bỏ mà là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng;kiên trì mục tiêu chủ nghĩa xã hội; nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩaMác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện cụ thể của nướcta và bối cảnh thế giới hiện nay.II. ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP,NGHIÊN CỨU NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN1. Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu Đối tượng học tập, nghiên cứu môn học“Những nguyên lý cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin” là: “những quan điểm cơ bản, nền tảng của chủnghĩa Mác-Lênin trong phạm vi ba bộ phận cấu thành nó. Trong phạm vi lý luận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin: nghiên cứunhững nguyên lý cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận chung nhất,bao gồm: Những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tư cách là hạtnhân lý luận của thế giới quan khoa học. - 11 -
  13. 13. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Phép biện chứng duy vật với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổbiến và sự phát triển, những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triểncủa tự nhiên, xã hội, tư duy. Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là sự vận dụng những nguyênlý của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng vào việc nghiên cứu đời sốngxã hội. - Trong phạm vi lý luận kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, đólà nghiên cứu học thuyết giá trị lao động, học thuyết giá trị thặng dư, họcthuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhànước; khái quát những quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn phát triển cao của nó. - Trong phạm vi chủ nghĩa xã hội khoa học, đó là nghiên cứu về sứmệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa;những quy luật của sự hình thành, phát triển của hình thái kinh tế xã hội cộngsản chủ nghĩa và những định hướng cho hoạt động của giai cấp công nhân. Mục đích của việc nghiên cứu, học tập môn Những nguyên lý cơbản của chủ nghĩa Mác-Lênin: - Nắm vững quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩaMác Lênin. - Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh vàĐường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. - Xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học và vận dụngsáng tạo những nguyên lý đó trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, hiểu rõnền tảng tư tưởng của Đảng - Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin là để xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng, rèn luyện tu dưỡng đạođức, đáp ứng yêu cầu của con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ đất nước.2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu - 12 -
  14. 14. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Trong quá trình học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin cần thực hiện một số yêu cầu cơ bản sau: - Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó; tránh bệnh kinh viện,giáo điều trong quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng các nguyên lý cơbản đó trong thực tiễn. - Những luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin có quan hệ mật thiết vớinhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau, vì vậy, nghiên cứu mỗi luận điểm của chủnghĩa Mác-Lênin phải đặt chúng trong mối liên hệ với các luận điểm khác,mỗi bộ phận cấu thành trong mối quan hệ với các bộ phận cấu thành khác đểthấy sự thống nhất trong tính đa dạng và nhất quán của mỗi tư tưởng nóiriêng, của chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung. - Học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cần phải theo nguyên tắc gắn kết những quan điểm cơ bản của chủnghĩa Mác-Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại đểthấy được sự vận dụng sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong từng giaiđoạn lịch sử. - Học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin phải gắn với quá trình giáodục, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, đáp ứng yêu cầu xây dựng con người ViệtNam trong giai đoạn mới. - Hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là hệ thống lýluận khép kín mà trái lại là hệ thống lý luận không ngừng phát triển trên cơ sởphát triển thực tiễn của thời đại, do vậy, cần đặt nó trong lịch sử phát triển tưtưởng của nhân loại. - 13 -
  15. 15. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Phần thứ nhất THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN Chương I CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNGI. CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG1. Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm trong việcgiải quyết vấn đề cơ bản của triết học Dựa trên tổng kết toàn bộ lịch sử triết học, Ph.Ăngghen cho rằng: “Vấnđề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đềquan hệ giữa tư duy và tồn tại” (1) , hay giữa ý thức với vật chất. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: Mặt thứ nhất, (mặt bản thể luận) trả lời câu hỏi: trong mối quan hệ giữatư duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau,cái nào quyết định cái nào? Mặt thứ hai, (mặt nhận thức luận) trả lời câu hỏi: tư duy con người cókhả năng nhận thức thế giới hay không? Việc giải quyết vấn hai mặt vấn đề cơ bản của triết học là xuất phát điểmcủa các trường phái lớn: chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật; khả tri luận(thuyết có thể biết) và bất khả tri luận (không thể biết). Ngoài ra còn có chủnghĩa nhị nguyên và hoài nghi luận. Chủ nghĩa duy vật là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm: bảnchất của thế giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai;vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức. Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học cho rằng: bản chất của thếgiới là tinh thần; ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức cótrước và quyết định vật chất. (1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.403. - 14 -
  16. 16. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Chủ nghĩa duy tâm có hai trào hình thức cơ bản là Chủ nghĩa duy tâmkhách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận tính thứ nhất của tinh thần, ýthức nhưng tinh thần, ý thức đó được quan niệm là tinh thần khách quan, ýthức khách quan có trước và tồn tại độc lập với giới tự nhiên và con người.Những đại biểu của trào lưu này là Platon, Hêghen, Tômat Đacanh… Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức conngười, khẳng định ý thức quyết định vật chất, vật chất không tồn tại độc lậpmà phụ thuộc vào cảm giác, ý thức. Những đại biểu của trào lưu này làG.Beccơli, D.Hium. Ngoài sự phân biệt chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, người ta cònphân biệt: Thuyết nhất nguyên là khuynh hướng triết học cho rằng thế giới chỉ cómột bản nguyên, là thực thể vật chất hoặc thực thể tinh thần có trước và quyếtđịnh. Tùy theo quan niệm cho rằng vật chất hay tinh thần là thực thể của thếgiới mà thuyết nhất nguyên có hai hình thức tương ứng: thuyết nhất nguyênduy vật và thuyết nhất nguyên duy tâm. Thuyết nhị nguyên cho rằng có hai thực thể vật chất và ý thức song songtồn tại, không phụ thuộc lẫn nhau. Thuyết đa nguyên là khuynh hướng triết học cho rằng có nhiều cơ sở,nhiều bản nguyên của tồn tại, chúng không phụ thuộc lẫn nhau. Trong việc giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học có haikhuynh hướng đối lập nhau là thuyết khả tri và thuyết bất khả tri. Đa số cácnhà triết học khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới,có khả năng đạt được chân lý khách quan. Một số các nhà triết học phủ nhậnmột phần hay toàn bộ khả năng nhận thức của con người. Những nhà triết họcnày thuộc thuyết bất khả tri (có nghĩa là không thể nhận thức được). Đại biểucủa khuynh hướng này là Protagor, D.Hium, I.Cantơ… Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật tồn tại và phát triểncó nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và thực tiễn, đồng thời thường gắn - 15 -
  17. 17. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------với lợi ích của giai cấp và lực lượng tiến bộ trong lịch sử. Chủ nghĩa duy vậtkhông chỉ tổng kết, khái quát kinh nghiệm và thành tựu mà con người đạtđược mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễn của con người.2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng-hình thức phát triển cao nhất của chủnghĩa duy vật. Trong lịch sử, cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, chủnghĩa duy vật được hình thành và phát triển với ba hình thức cơ bản là chủnghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình và chủ nghĩa duy vậtbiện chứng. a. Chủ nghĩa duy vật chất phác Chủ nghĩa duy vật chất phác là kết quả nhận thức của các nhà triết họcduy vật thời kỳ cổ đại. Họ thừa nhận tính thứ nhất của vật chất nhưng lại đồngnhất vật chất với một hay dạng tồn tại cụ thể của vật chất, coi đó là thực thểđầu tiên, là bản nguyên của vũ trụ. Đó là sự nhận thức mang tính trực quannhưng chủ nghĩa duy vật chất phác Scó ưu điểm là đã lấy bản thân giới tựnhiên để giải thích giới tự nhiên mà không viện đến một thần linh hay mộtđấng sáng tạo nào để giải thích thế giới. b. Chủ nghĩa duy vật siêu hình Chủ nghĩa duy vật siêu hình là hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật,phát triển rõ nét từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, và đạt đỉnh cao vào thế kỷXIX, nó gắn với thời kỳ cơ học cổ điển phát triển mạnh, do đó chịu sự tácđộng mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc. Đặc điểm củachủ nghĩa duy vật siêu hình là nhận thức thế giới như một cỗ máy cơ giới màmỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại. Nếu có biến đổi thìchỉ có sự tăng, giảm đơn thuần về số lượng, do những nguyên nhân bên ngoàigây ra. Tuy chưa phản ánh đúng hiện thực trong mối liên hệ phổ biến và sựphát triển nhưng chủ nghĩa duy vật siêu hình đã góp phần vào việc chống lạithế giới quan duy tâm và tôn giáo, nhất là giai đoạn lịch sử chuyển tiếp từ thờiTrung cổ sang thời Phục hưng ở các nước Tây Âu. - 16 -
  18. 18. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- c. Chủ nghĩa duy vật biện chứng Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng từnhững năm 40 của thế kỷ XIX và được V.I.Lênin phát triển. Chủ nghĩa duyvật biện chứng ra đời trên cơ sở kế thừa tinh hoa trong lịch sử triết học, dựatrên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên vì vậy, đã khắc phục đượchạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy vật siêu hình. Trêncơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến vàsự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng là công cụ vĩ đại cho hoạt độngnhận thức và thực tiễn cách mạng.II. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, ÝTHỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC1. Vật chất a. Phạm trù vật chất Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên2500 năm và có quá trình phát triển gắn liền với thực tiễn và nhận thức củacon người: Chủ nghĩa duy tâm quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên củamọi tồn tại là bản nguyên tinh thần, còn vật chất là sản phẩm của bản nguyêntinh thần ấy. Chủ nghĩa duy tâm phủ nhận vật chất với tính cách là thực tạikhách quan, cho rằng thế giới vật chất là tạo vật của thượng đế, hoặc là “sựphức hợp” những cảm giác của con người. Chủ nghĩa duy vật cổ đại đã đồng nhất vật chất với những dạng tồn tạicụ thể của vật chất. Thí dụ: nước (quan niệm của Talet); không khí (quanniệm Anaximen); lửa (quan niệm của Hêraclit); nguyên tử (quan niệm củaĐêmôcrit); đất, nước, lửa, gió (quan niệm của triết học Ấn Độ); kim, mộc,thủy, hỏa, thổ (quan niệm trong Thuyết ngũ hành ở Trung Quốc). Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII đồng nhất vật chất với nguyên tửvà khối lượng. Với quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên,sản sinh ra vũ trụ chứng tỏ các nhà duy vật trước C.Mác đã đồng nhất vật chấtvới vật thể. Hạn chế này tất yếu dẫn đến quan điểm duy vật nửa vời, không - 17 -
  19. 19. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------triệt để. Họ chỉ duy vật khi giải quyết những vấn đề của tự nhiên nhưng lạiduy tâm thần bí khi giải thích các hiện tượng xã hội. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một loạt phát minh khoa học làm chocác quan điểm duy vật siêu hình rơi vào khủng hoảng. Nhiều páht minh trongvật lý học thời kỳ này đã làm đảo lộn quan niệm cũ về vật chất, đó là:Rơnghen (Đức) phát hiện ra tia X (1895); A.H.Beccơren (1852-1908), nhà vậtlý học Pháp và M.Quyri (1867-1934), phát minh ra hiện tượng phóng xạ trongchất uranium (1896); S.J.Tômxơn phát hiện ra điện tử (1897); nhà bác họcĐức Kaufman phát hiện ra sự thay đổi khối lượng điện tử; thuyết tương đốihẹp của A.Anhxtanh... Các phát minh khoa học này gây ra cuộc khủng hoảng về thế giới quantrong vật lý học. Một số các nhà vật lý học giải thích một cách duy tâm cáchiện tượng vật lý và cho rằng vật chất tiêu tan. Trong hoàn cảnh đó, các nhàtriết học duy tâm chủ quan lợi dụng cơ hội này để khẳng định bản chất “phivật chất” của thế giới, khẳng định vai trò của các lực lượng siêu nhiên đối vớiquá trình sáng tạo ra thế giới, cơ sở tồn tại của chủ nghĩa duy vật không cònnữa. Tình hình đó đòi hỏi V.I.Lênin phải đấu tranh bảo vệ và phát triển chủnghĩa duy vật. Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán”, V.I.Lênin đưa ra định nghĩa vật chất kinh điển: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quanđược đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng tachép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (1) . Từ định nghĩa vật chất có thể khẳng định: Thứ nhất, cần phải phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết họcvới những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. Vật chất với tư cách là phạm trùtriết học là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính,những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cáichung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn tất cả những sự vật,(1) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,1976, t.18, tr.151. - 18 -
  20. 20. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------hiện tượng chỉ là những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trìnhphát sinh, phát triển và chuyển hóa. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất vớimột hay một số dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. Thứ hai, đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan,tức là thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức conngười, dù con người có nhận thức được nó hay không. Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gâynên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giácquan của con người. Ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất,còn vật chất là cái được ý thức phản ánh. Phương pháp định nghĩa mà V.I.Lênin dùng để định nghĩa vật chất làđối lập vật chất với phạm trù ý thức, chỉ ra thuộc tính cơ bản để phân biệt vậtchất với ý thức. Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với sự pháttriển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học: Một là, với việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộctính khách quan, V.I.Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể,khắc phục được sự hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vậtcũ; cung cấp căn cứ nhận thức khoa học cho sự phát triển của triết học và cáckhoa học khác và là cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật vềlịch sử. Hai là, với việc khẳng định vật chất là thực tại khách quan “được đemlại cho con người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại, phản ánh” V.I Lênin khẳng định vật chất là tính thứ nhất, ý thức làtính thứ hai đồng thời thừa nhận khả năng của con người có thể nhận thứcđược thực tại khách quan. b. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phươngthức tồn tại của vật chất; không gian, thời gian là những hình thức tồn tại củavật chất. - 19 -
  21. 21. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất Ph.Ăngghen viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức đượchiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vậtchất,- thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ,kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy” (1) . Định nghĩa trên của Ph.Ăngghen cho thấy vận động là phương thức tồntại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vật chất, thông qua vận động mà cácdạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình. Vận động của vật chấtlà tự thân vận động và sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vận động. Vật chất chỉ có thể tồn tại trong vận động, bằng cách vận động, khôngthể có vật chất không vận động, cũng như không thể có vận động ngoài vậtchất. Các thuộc tính của vật chất chỉ biểu hiện thông qua vận động. Ph.Ăngghen viết: “Các hình thức và các dạng khác nhau của vật chất chỉcó thể nhận thức được thông qua vận động; thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộqua vận động; về một vật thể không vận động thì không có gì mà nói cả” (2) Các hình thức vận động của vật chất: Dựa trên những thành tựu khoa học ở thời đại mình, Ph.Ăngghen phânchia vận động thành năm hình thức vận động cơ bản: Vận động cơ giới là sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian. Vận động vật lý là vận động của phân tử, của các hạt cơ bản, vận độngcủa nhiệt, ánh sáng, điện, trường, âm thanh… Vận động hóa học là sự vận động của các nguyên tử; sự hóa hợp và phângiải của các chất. Vận động sinh vật là vận động của các cơ thể sống như sự trao đổi chất,đồng hóa, dị hóa, sự tăng trưỏng, sinh sản, tiến hóa… Vận động xã hội là sự thay đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhóa…của đời sống xã hội.(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.519.(2) Sđd, t.20, tr.743. - 20 -
  22. 22. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Các hình thức vận động cơ bản trên được sắp xếp theo thứ tự từ trình độthấp đến trình độ cao, tương ứng với trình độ kết cấu của vật chất. Các hìnhthức vận động khác nhau về chất song chúng không tồn tại biệt lập mà có mốiquan hệ mật thiết với nhau trong đó hình thức vận động cao xuất hiện trên cơsở các hình thức vận động thấp và bao hàm trong nó những hình thức vậnđộng thấp hơn. Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hìnhthức vận động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởihình thức vận động cao nhất mà nó có. Bằng việc phân loại các hình thức vậnđộng cơ bản, Ph.Ăngghen đã đặt cơ sở cho việc phân loại, phân ngành, hợploại, hợp ngành khoa học. Vận động và đứng im: Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vận động là tuyệt đối, là vĩnhviễn nhưng điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự đứng im, cân bằng ; songđứng im, cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứngim, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận động. Đứng im là tương đối vì đứng im, cân bằng chỉ xảy trong một số quanhệ nhất định, chứ không phải trong tất cả mọi quan hệ. Đứng im, cân bằng chỉxảy ra trong một hình thức vận động. Đứng im là tạm thời vì đứng im không phải là cái tồn tại vĩnh viễnmà chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, chỉ là xét trong một hay mộtsố quan hệ nhất định, ngay trong đứng im vẫn diễn ra những quá trình biếnđổi nhất định. Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thếcân bằng, ổn định, vận động chưa làm thay đổi cơ bản về chất, về vị trí, hìnhdáng, kết cấu của sự vật Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất Quan điểm siêu hình coi không gian là một cái hòm rỗng trong đó chứavật chất. Có không gian và thời gian không có vật chất. Có sự vật, hiện tượngkhông tồn tại trong không gian và thời gian. - 21 -
  23. 23. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng mọi dạng cụ thể của vật chấtđều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính (chiều cao, chiều rộng,chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định (trước haysau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái…) với những dạng vật chất khác.Những hình thức tồn tại như vậy gọi là không gian. Mặt khác sự tồn tại của sựvật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyểnhóa… những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời gian. Ph.Ăngghen cho rằng: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là khônggian và thời gian; tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ởngoài không gian”, do đó có thể hiểu: - Vật chất, không gian và thời gian không tác rời nhau, không có khônggian và thời gian không có vật chất cũng như không thể có sự vật, hiện tượngtồn tại ngoài không gian và thời gian. - Không gian, thời gian có những tính chất chung như những tính chấtcủa vật chất đó là tính khách quan, tính vĩnh cửu, tính vô tận và vô hạn. - Không gian có thuộc tính ba chiều (chiều cao, chiều dài, chiều rộng)còn thời gian chỉ có một chiều (từ quá khứ đến tương lai). Tính ba chiều củakhông gian và tính một chiều của thời gian biểu hiện hình thức tồn tại vềquảng tính và quá trình diễn biến của vật chất vận động. c. Tính thống nhất vật chất của thế giới Thế giới vật chất biểu hiện hết sức phong phú, đa dạng, song, nhữngdạng biểu hiện của thế giới vật chất đều phản ánh bản chất của thế giới vàthống nhất với nhau. Quan điểm duy tâm giải thích sự thống nhất của thế giới ở một thực thểtinh thần đầu tiên (Ý niệm, Thượng đế) hoặc từ cảm giác của con người. Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vậtchất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chấtlà cái có trước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người. - 22 -
  24. 24. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không đượcsinh ra và không bị mất đị. Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất vớinhau, đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, cónguồn gốc vật chất và chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổbiến của vật chất. Nhận thức trên có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ định hướng chocon người giải thích về tính đa dạng của thế giới mà còn định hướng cho việctiếp tục nhận thức tính đa dạng ấy để thực hiện quá trình cải tạo hợp quy luật.2. Ý thức a. Nguồn gốc của ý thức Trên cơ sở khái quát thành tựu của khoa học, của thực tiễn xã hội, chủnghĩa duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc vật chất, bản chất phản ánhvật chất của ý thức để rút ra vai trò của ý thức trong mối quan hệ với vật chất. Quan điểm duy tâm khách quan cho rằng nguồn gốc của ý thức từ mộtlực lượng siêu tự nhiên (Ý niệm, Brahman, Thượng đế, Trời, v.v.). Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng ý thức là cái vốn có của conngười, không do thần thánh ban cho, cũng không phải là sự phản ánh thế giớibên ngoài. Quan điểm duy vật siêu hình coi ý thức là một dạng vật chất; “óc tiết ra ýthức cũng như gan tiết ra mật”. Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng ý thức ra đời là kết quả của quátrình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội. Ý thức có hai nguồn gốc lànguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội * Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: thể hiện qua sự hình thành của bộ óccon người và hoạt động của bộ óc đó cùng mối quan hệ của con người với thếgiới khách quan, trong đó thế giới khách quan tác động đến bộ óc con ngườitạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo. Về bộ óc người: Ý thức là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao làbộ óc người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh - 23 -
  25. 25. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------của bộ óc. Bộ não người là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới sinhvật. Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng cóhiệu quả, ý thức con người càng phong phú và sâu sắc. Bộ não của động vậtchỉ đạt đến trình độ phản xạ, bản năng, tâm lý động vật, trong khi đó bộ ócngười có khả năng phản ánh thế giới bằng tư duy trừu tượng. Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trìnhphản ánh năng động, sáng tạo: Trong mối quan hệ giữa con người với thếgiới khách quan, thông qua hoạt động của các giác quan, thế giới khách quantác động đến bộ óc người, hình thành quá trình phản ánh. Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vậtchất khác trong quá trình tác động qua lại với nhau giữa chúng. Những đặc điểm được tái tạo ở dạng vật chất nhận sự tác động bao giờcũng mang thông tin của dạng vật chất tác động được gọi là cái phản ánh; còndạng vật chất tác động được gọi là cái được phản ánh. Cái phản ánh và cáiđược phản ánh không tách rời nhau, không đồng nhất với nhau. Cái đượcphản ánh là những dạng cụ thể của vật chất, còn cái phản ánh chỉ là đặc điểmchứa đựng thông tin của dạng vật chất đó ở một dạng vật chất khác. Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất và được thể hiện dướinhiều hình thức, những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa củavật chất. Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng chovật chất vô sinh được thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự tácđộng qua lại với nhau giữa các dạng vật chất vô sinh. Hình thức phản ánh nàymang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động. Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tựnhiên hữu sinh được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ. Tínhkích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổichiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, cấu trúc…khi nhận sựtác động trong môi trường sống. Tính cảm ứng là phản ứng của động vật cóhệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển - 24 -
  26. 26. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tácđộng từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống. Phản ánh tâm lý là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ươngđược thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ cóđiều kiện. Phản ánh năng động, sáng tạo: là hình thức phản ánh cao nhất trong cáchình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất,có tổ chức cao nhất là bộ óc người. Là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọnthông tin, xử lý thông tin để tạo ra các thông tin mới, phát hiện ý nghĩa củathông tin. Sự phản ánh này được gọi là ý thức. Ý thức là hình thức phản ánhcao nhất trong các hình thức phản ánh của vật chất. * Nguồn gốc xã hội của ý thức: ý thức không thể tồn tại ngoài nãongười; tuy nhiên, ý thức không phải do não sinh ra. Não chỉ là cơ quan thựchiện chức năng phản ánh. Để có ý thức phải có não người và thế giới kháchquan. Ngoài ra còn phải có những điều kiện xã hội nữa đó là: lao động, ngônngữ. Lao động Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tựnhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu con người; là quátrình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổivật chất giữa mình với giới tự nhiên. Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan,làm cho thế giới khách quan bộc lộ ra những thuộc tính, những kết cấu, nhữngquy luật vận động của nó biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà conngười có thể quan sát được. Những hiện tượng ấy thông qua hoạt động củacác giác quan, tác động vào bộ óc con người, tạo ra khả năng hình thànhnhững tri thức nói riêng và ý thức nói chung. Lao động còn là quá trình phát triển bản thân con người, biến vượn thànhngười. Trong lao động con người phải suy nghĩ, tính toán đề ra mục đích, tìm - 25 -
  27. 27. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------kiếm phương pháp và phương tiện thực hiện mục đích, đúc rút kinh nghiệmthành công và thất bại. Đó chính là phương thức phát triển của ý thức. Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giớikhách quan thông qua quá trình lao động Ngôn ngữ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nộidung ý thức. Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện. Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động. Mối quan hệ giữa cácthành viên trong quá trình lao động làm nảy sinh nhu cầu phải có phương tiệnđể biểu đạt, nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh. Ngôn ngữ là công cụ của tư duy trừu tượng, là phương tiện giao tiếpquan trọng nhất, nhờ ngôn ngữ con người có thể tổng kết tri thức, kinhnghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ này qua thế hệ khác. Tóm lại: ý thức ra đời do hai nguồn gốc: Nguồn gốc tự nhiên, đó là kếtquả sự tiến hóa của bộ não và thuộc tính phản ánh của nó. Nguồn gốc xã hộicủa ý thức là lao động, ngôn ngữ. Sự tiến hóa tự nhiên là tiền đề vật chấtkhông thể thiếu được của ý thức. Tuy nhiên, điều kiện xã hội giữ vai trò quyếtđịnh trực tiếp đối với sự ra đời của ý thức. b. Bản chất và kết cấu của ý thức Bản chất của ý thức Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vàotrong đầu óc con người, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo, không phải là sự sao chépđơn giản, máy móc. Tính sáng tạo của phản ánh ý thức thể hiện ở chỗ ý thứccó khả năng phản ánh bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng; ý thức conngười có khả năng biến đổi hình ảnh (cảm tính và lý tính) của sự vật trongđầu óc của mình, tạo ra mô hình mới để từ đó biến đổi sự vật trong hoạt độngthực tiễn. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: ý thức là hình ảnhcủa thế giới khách quan, do thế giới khách quan quy định cả về nội dung và - 26 -
  28. 28. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------hình thức biểu hiện nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quanmà đã được cải biến thông qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyệnvọng, kinh nghiệm, tri thức, nhu cầu…) của con người. Theo C.Mác: ý thức“chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người vàđược cải biến đi trong đó” (1) . Ý thức là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tạicủa ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, không những chịu tác động của cácquy luật sinh học mà còn chủ yếu là các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xãhội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội quy định. Với tính năngđộng, ý thức sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội. Kết cấu của ý thức Ý thức có kết cấu phức tạp, có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về kết cấucủa ý thức. Nếu tiếp cận kết cấu của ý thức theo các yếu tố cơ bản nhất hợpthành nó thì ý thức bao gồm: tri thức, tình cảm, ý chí, trong đó tri thức là nhântố quan trọng nhất. Tri thức là toàn bộ sự hiểu biết của con người, là kết quả của quá trìnhnhận thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạngngôn ngữ. Mọi hoạt động của con người đều có tri thức, được tri thức định hướng.Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung tri thức. Tri thức là phươngtiện tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển. Căn cứ vào lĩnh vực nhận thức, tri thức có thể chia thành tri thức về tựnhiên, tri thức xã hội, tri thức nhân văn. Căn cứ vào trình độ phát triển của nhận thức tri thức được chia thành: trithức đời thường, tri thức khoa học, tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận, trithức cảm tính và tri thức lý tính. Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong cácquan hệ. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, được(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, t.23, tr.35. - 27 -
  29. 29. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------hình thành từ sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi nhận sựtác động của ngoại cảnh. Tình cảm biểu hiện và phát triển trong mọi lĩnh vực đời sống của conngười, là động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức và thực tiễn. Tùy vào từngđối tượng nhận thức và sự rung động của con người về đối tượng đó trong cácquan hệ mà hình thành nên các loại tình cảm khác nhau như tình cảm đạođức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm tôn giáo… Ý chí là khả năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua những cảntrở trong quá trình thực hiện mục đích của con người Ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, một biểu hiện của ý thứctrong thực tiễn mà ở đó con người tự giác được mục đích của hành động nêntự đấu tranh với mình và ngoại cảnh để thực hiện đến cùng mục đích đã lựachọn. Có thể coi ý chí là quyền lực của con người đối với mình, nó điều chỉnhhành vi để con người hướng đến mục đích một cách tự giác. Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhausong tri thức là yếu tố quan trọng nhất; là phương thức tồn tại của ý thức,đồng thời là nhân tố định hướng đối với sự phát triển và quyết định mức độbiểu hiện của các yếu tố khác.3. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức a. Vai trò của vật chất đối với ý thức Trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, vật chất là cái có trước, ýthức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ýthức; ý thức là sự phản ánh đối với vật chất. Ý thức của con người không phải là sản phẩm chủ quan thuần tuý, cũngkhông phải có nguồn gốc từ một lực lượng siêu tự nhiên. Nó là kết quả của sựphản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người. Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên và xã hội của ý thức đều do bảnthân thế giới vật chất hoặc những dạng tồn tại của vật chất tạo ra, do đó vậtchất là nguồn gốc của ý thức. - 28 -
  30. 30. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển của ý thức; sự biến đổi của ýthức là sự phản ánh đối với sự biến đổi của vật chất. Vật chất không chỉ quyếtđịnh nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biếnđổi của ý thức. b. Vai trò của ý thức đối với vật chất Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chấtthông qua hoạt động thực tiễn của con người: Vai trò của ý thức đối với vật chất thực chất là vai trò của con người.Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp làm thay đổi được hiện thực, muốn thayđổi hiện thực cần phải có hoạt động vật chất. Song do mọi hoạt động của conngười đều được ý thức chỉ đạo, nên ý thức trang bị cho con người tri thức vềthực tại khách quan trên cơ sở đó giúp con người xác định mục tiêu, phươnghướng, lựa chọn biện pháp, công cụ ... để thực hiện mục tiêu của mình. Sự tác động của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cựchoặc tiêu cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có nghị lực, ý chí,hành động hợp quy luật khách quan thì có tác dụng thúc đẩy hoạt động thựctiễn, cải tạo được thế giới, đạt được mục đích của mình. Nếu ý thức phản ánh sai hiện thực khách quan, khiến cho hành động củacon người đi ngược lại quy luật khách quan thì những tác động ấy sẽ mang lạitác động tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, kìm hãm sự phát triển xã hội. Chính vì thế, trong hoạt động thực tiễn, ngoài việc nhận thức đúng quyluật khách quan, còn cần phải phát huy cao độ tính năng động chủ quan, đồngthời chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, chống lạinhững tư tưởng lạc hậu, phản động, phản khoa học.4. Ý nghĩa phương pháp luận Trên cơ sở quan điểm về bản chất vật chất của thế giới; bản chất năngđộng, sáng tạo của ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thứccó thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận là: Trong mọi hoạt động nhận thức và - 29 -
  31. 31. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng và hànhđộng theo khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan. Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan là xuấtphát từ tính khách quan của vật chất, có thái độ tôn trọng hiện thực kháchquan mà căn bản là tôn trọng quy luật; nhận thức và hành động theo quy luậtkhách quan. Trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thựctế khách quan để xác định mục đích, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách,kế hoạch, biện pháp; phải lấy thực tế khách quan làm cơ sở, phương tiện; phảitìm ra những nhân tố vật chất, tổ chức những nhân tố ấy thành lực lượng vậtchất để hành động. Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy vai trò tích cực, năngđộng, sáng tạo của ý thức và nhân tố con người trong việc vật chất hóa tínhtích cực, năng động, sáng tạo ấy. Điều này đòi hỏi con người phải tôn trọng trithức khoa học, mặt khác phải tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thứckhoa học đồng thời phải tu dưỡng rèn luyện bản thân mình về đạo đức, ý chí,nghị lực. Đảm bảo nguyên tắc tính thống nhất biện chứng giữa tôn trọng kháchquan và phát huy năng động chủ quan trong hoạt động thực tiễn đòi hỏi phảikhắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, chủ nghĩa kinh nghiệm, coi thường trithức khoa học...trong hoạt động nhận thức và thực tiễn. - 30 -
  32. 32. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Chương II PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬTI. PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT1. Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng a. Khái niệm biện chứng, phép biện chứng Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác,chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng,quá trình trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Biện chứng bao gồm: Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất. Biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào đờisống ý thức của con người. Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng củathế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệthống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn. Phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan. Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình - phương pháp tư duy về sựvật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập tĩnh tại và tách rời. b. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng Trong lịch sử triết học, phép biện chứng phát triển qua ba hình thức cơbản: phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điểnĐức và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin. Phép biện chứng chất phác thời cổ đại Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phépbiện chứng trong lịch sử triết học, là nội dung cơ bản trong nhiều hệ thốngtriết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại. Tiêu biểu như. Tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc là “biến dịch luận” (họcthuyết về những nguyên lý, quy luật biến đổi phổ biến trong vũ trụ); “ngũhành luận” (học thuyết về những nguyên tắc tương tác, biến đổi của các tốchất bản thể trong vũ trụ) của Âm dương gia. - 31 -
  33. 33. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Trong triết học Ấn Độ biểu hiện rõ nét nhất của tư tưởng biện chứng làtriết học Phật giáo với các phạm trù như: “vô ngã”, “vô thường”, “nhânduyên” Thời cổ đại Hy Lạp, một số nhà triết học duy tâm (Platon) coi phép biệnchứng là nghệ thuật tranh luận để tìm ra chân lý. Arixtôt đồng nhất phép biệnchứng với lôgíc học. Một số nhà triết học duy vật có tư tưởng biện chứng vềsự vật (biện chứng khách quan). Hêraclit coi sự biến đổi của thế giới như mộtdòng chảy. Ông nói: “Mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều biến đổi”. “Người takhông thể tắm được hai lần trong cùng một dòng sông”. Phép biện chứng chất phác thời cổ đại có đặc điểm là: Nhận thức đúngvề tính biện chứng của thế giới nhưng không phải dựa trên thành tựu của khoahọc mà bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, là kết quả của sựquan sát trực tiếp. Do đó, chưa đạt tới trình độ phân tích giới tự nhiên, chưachứng minh được mối liên hệ phổ biến nội tại của giới tự nhiên. Từ nửa cuối thế kỷ XV, khoa học tự nhiên bắt đầu phát triển mạnh, đivào nghiên cứu từng yếu tố riêng biệt của giới tự nhiên dẫn đến sự ra đời củaphương pháp siêu hình và phương pháp này trở thành thống trị trong tư duytriết học và nghiên cứu khoa học vào thế kỷ XVIII. Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Cantơ và hoànthiện ở hệt thống triết học của G.Hêghen. Triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phépbiện chứng duy tâm. Tính duy tâm trong triết học của G.Hêghen được biểuhiện ở chỗ, ông coi phép biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ýniệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan.Ông cho rằng “ý niệm tuyệt đối” là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa”thành giới tự nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại tinh thần. Tinhthần, tư tưởng, ý niệm tuyệt đối là cái có trước, thế giới hiện thực chỉ là bảnsao chép của ý niệm. Như vậy, Hêghen, là người xây dựng phép biện chứng tương đối hoànchỉnh với một hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật. Tuy nhiên, phép biện - 32 -
  34. 34. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------chứng Hêghen là phép biện chứng duy tâm, là phép biện chứng ngược đầu;ông coi biện chứng của ý niệm sinh ra biện chứng của sự vật, chứ không phảingược lại. Ph.Ăngghen nhận xét rằng: “Tính chất thần bí mà phép biện chứngđã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thànhngười đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vậnđộng chung của phép biện chứng. Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngượcđầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lýcủa nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó” (1) .2. Phép biện chứng duy vật a. Khái niệm phép biện chứng duy vật Phép biện chứng duy vật do C. Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sởkế thừa có phê phán hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng củaG.W.Ph.Hêghen, là phép biện chứng dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật,xuất phát từ biện chứng khách quan của tự nhiên và xã hội. Theo Ph.Ăngghen : “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa họcvề những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên,của xã hội loài người và của tư duy” (2) . Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến,Ph.Ăngghen còn đưA ra một định nghĩa khác về phép biện chứng duy vật:“phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”. Khi nhấn mạnh vai tròcủa nguyên lý về sự phát triển trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa từtriết học của Hêghen, V.I.Lênin cho rằng, trong số những thành quả đó thìthành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dướihình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tínhtương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luônluôn phát triển không ngừng. b. Đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.494.(2) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.20, tr.20. - 33 -
  35. 35. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- --------------- Xét từ góc độ kết cấu nội dung, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩaMác-Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau: Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin là phépbiện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học.Với đặc trưng này phép biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin chẳng những cósự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm của G.Hêghen mà còn cósự khác biệt về trình độ so với phép biện chứng duy vật cổ đại. Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác Lênin có sựthống nhất giữa nội dung của thế giới quan (duy vật biện chứng) với phươngpháp luận (biện chứng duy vật) do đó, nó không dừng lại ở sự giải thích thếgiới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Mỗi nguyênlý, quy luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin khôngchỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn làphương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới. Với những đặc trưng cơ bản trên mà phép biện chứng duy vật giữ vaitrò là nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương phápluận triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tạo nên tính khoa học và tính cáchmạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan vàphương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vựcnghiên cứu khoa học.II. CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến a. Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên dùng để chỉ sự quy định, sựtác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa cácmặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới. Thí dụ: Mối liên hệ giữa điện tích dương và điện tích âm trong mộtnguyên tử; mối liên hệ giữa các nguyên tử, giữa các phân tử, giữa các vật thể;mối liên hệ giữa vô cơ với hữu cơ; giữa sinh vật với môi trường; giữa xã hộivới tự nhiên; giữa cá nhân với cá nhân; giữa cá nhân với tập thể, cộng đồng; - 34 -
  36. 36. Tập bài giảng: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin--------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------giữa các quốc gia, dân tộc; giữa các mặt, các bộ phận của đời sống xã hội;giữa tư duy với tồn tại; giữa các hình thức, giai đoạn nhận thức; giữa các hìnhthái ý thức xã hội… Mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ởnhiều sự vật, hiện tượng của thế giới. Trong mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, những mối liên hệ phổbiến nhất là mối liên hệ giữa các mặt đối lập, mối liên hệ giữa lượng và chất,khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng… Giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệđặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến trong phạm vi nhất định hoặcmối liên hệ phổ biến nhất, trong đó mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện nhữngmối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định. b. Tính chất của các mối liên hệ Tính khách quan của các mối liên hệ Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiệntượng của thế giới là có tính khách quan. Sự quy định lẫn nhau, tác động vàchuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng hoặc trong bản thân chúng làcái vốn có của nó, tồn tại không phụ thuộc vào ý chí con người; con người chỉcó khả năng nhận thức được những mối liên hệ đó. Tính phổ biến của mối liên hệ Phép biện chứng duy vật khẳng định: Không có bất cứ sự vật, hiện tượnghay quá trình nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối với các sự vật,hiện tượng hay quá trình khác mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràngbuộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau. Không có bất cứ sự vật, hiệntượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm các yếu tố cấu thànhvới những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng làmột hệ thống mở tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làmbiến đổi lẫn nhau. Ph.Ăngghen chỉ rõ, tất cả thế giới tự nhiên mà chúng ta có thể nghiêncứu được là một hệ thống, một tập hợp các vật thể khăng khít với nhau.... - 35 -

×