EURODOLLARS- Nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá thị trường tài chính ngàynay (Số 7/2005) (22/08/2005)TS.      Lý     ...
đây chỉ là quy ước chứ không phải chỉ về Châu Âu.Lãi suất cho vay của nó dựa trên cơ sở lãi suất LIBOR (London interbanks ...
đề và là động lực cho sự phát triển tín dụng bằng Eurodollars thuộc tài sản có trênbảng cân đối tài sản của các Eurobanks....
đó, các ngân hàng nội địa phải trích một phần tài sản Có của mình để đáp ứng nhucầu dự trữ bắt buộc không có lãi suất hoặc...
Một mối quan tâm khác đến thị trường Eurodollar là áp lực tiềm ẩn của thị trườngnày lên lạm phát. Sự tăng trưởng nhanh chó...
USD ra các đồng tiền khác để tránh nguy cơ mất giá của đồng tiền. Để hạn chếlượng vốn chạy ra nước ngoài, Chính phủ Mỹ phả...
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá thị trường tài chính ngày nay

2,263

Published on

tài chính quốc tế

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
2,263
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
21
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Transcript of " Nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá thị trường tài chính ngày nay"

  1. 1. EURODOLLARS- Nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá thị trường tài chính ngàynay (Số 7/2005) (22/08/2005)TS. Lý Hoàng ánh & Đoàn Thị Thanh ThuNgày nay, đối với các đồng tiền mạnh, thị trường tiền tệ đã vượt ra ngoài biên giớitruyền thống vốn có của chúng, do đó, chúng ta có thể ký một tờ séc bằng Đôla Mỹtừ tài khoản mở tại ngân hàng ở Tokyo, hoặc ký một tờ séc bằng Yên Nhật từ tàikhoản mở tại ngân hàng ở New York. Tương tự, chúng ta cũng có thể dàn xếp mộtkhoản tín dụng bằng Đôla Mỹ tại Hồng Kông hay Bảng Anh tại Madrid. Từ đó, dẫnđến một thực tế là: các đồng tiền khác nhau được duy trì bên cạnh nhau trên các tàikhoản ngân hàng.Khởi đầu cho sự tăng trưởng Eurocurrencies là sự xuất hiện Eurodollars vào nhữngnăm 1950. Thị trường Đôla Châu Âu rất rộng lớn, ước tính tổng số lượng của thịtrường vượt trên 1000 tỷ USD, trong đó hoạt động của Eurodollar chiếm tới 65 -70% tổng doanh số họat động toàn thị trường Eurocurrency, sau đó là Euromark,Eurofrancs, Eurosterling và Euroyen. Chính vì vậy, theo nghĩa hẹp, khi nói đếnEurocurrency thì người ta còn hiểu đó là thị trường Eurodollars.Eurodollars là khoản tiền gửi bằng Đô la Mỹ trên tài khoản ngân hàng nằm ngoàinước Mỹ (những ngân hàng nhận Eurodollars gọi là Eurobanks hay OffshoreBanks). Một cách khái quát, ta có thể hiểu: Eurocurrencies là tiền gửi bằng các đồngtiền khác nhau trên tài khoản của các ngân hàng nằm ngoài nước phát hành. Từ địnhnghĩa, ta cần giải thích một số thuật ngữ:Eurobanks là những ngân hàng nhận tiền gửi và cho vay ngắn hạn đồng tiền của mộtquốc gia bất kỳ, nhưng không chịu sự chi phối các qui định của Ngân hàng Trungương (NHTW) phát hành đồng tiền này. Do đó, các Eurobanks chính là các ngânhàng nước ngoài (hay ngân hàng hải ngoại), kinh doanh đồng tiền của một nước nhấtđịnh. Ví dụ, các ngân hàng không thuộc hệ thống ngân hàng Mỹ, chẳng hạn ngânhàng Pháp, ngân hàng Anh, ngân hàng Đức…) huy động và cho vay ngắn hạn đô laMỹ; các ngân hàng không thuộc hệ thống ngân hàng Nhật (ngân hàng Mỹ, ngânhàng Anh, ngân hàng Việt Nam) huy động và cho vay ngắn hạn đồng yên Nhật.Eurocurrency là đồng tiền của một nước được duy trì trên tài khoản của cácEurobanks. Vì các Eurobanks không chịu sự chi phối của các quy định của NHTWphát hành đồng tiền Eurocurrency, nên các Eurocurrency được coi là đồng tiền quốcgia lưu hành “bên ngoài” nước phát hành. Ví dụ những đô la Mỹ do các ngân hàngPháp mở tại các ngân hàng đại lý Mỹ gọi là Eurodollars.Sự di chuyển của những đồng bản tệ từ hệ thống ngân hàng nội địa sang cácEurobanks gọi là di chuyển từ lưu thông nội địa sang lưu thông hải ngoại.Cần chú ý rằng, tiền tố Euro đứng trước tên các đồng tiền có thể làm cho chúng tanhầm lẫn, do vậy, cần phải phân biệt nội dung các thuật ngữ Euro như sau:Eurocurrency là đồng tiền trôi nổi bên ngoài nước phát hành, tiền tố Euro +XXX ở
  2. 2. đây chỉ là quy ước chứ không phải chỉ về Châu Âu.Lãi suất cho vay của nó dựa trên cơ sở lãi suất LIBOR (London interbanks offerrate), đó là lãi suất 6 ngân hàng hàng đầu của Anh cho vay vào mỗi buổi sáng khi thịtrường giao dịch bắt đầu mở cửa cộng thêm một tỷ lệ phần trăm nhất định tuỳ theotính chất của vốn vay.Thị trường tiền tệ Châu Âu là nơi gặp gỡ của các NHTW, NHTM và các công ty lớntoàn cầu, một cách đúng nghĩa thì nó là cầu nối “chợ tài chính” giữa nội địa ChâuÂu và thế giới. Điển hình là các khoản tiền gửi bằng USD tại Mỹ, luân chuyểnnhanh chóng qua London và từ London phân bổ đi khắp nơi có nhu cầu tại Châu Âuhoặc từ Châu Âu đi nơi khác.Các NHTW tham gia thị trường này khi họ cần đầu tư tích trữ ngoại tệ, tuy nhiên,không một NHTW nào thực hiện chức năng kiểm soát hay giám sát thị trường này,bởi lẽ thị trường tiền tệ Châu Âu sẽ di chuyển đến bất kỳ nơi đâu có điều kiện pháplý thích hợp và rủi ro chính trị thấp. Các cá nhân thường không tham gia thị trườngnày, lý do là các giao dịch trên thị trường này thường rất lớn, vượt quá khả năng củamột người.Sự tiện lợi của tiền gửi Eurodollars: Eurodollars tiện lợi hơn nhiều so với nhữngUSD nằm trên tài khoản tại các ngân hàng ở Mỹ. Những công dân Châu Âu vànhững công dân khác không phải công dân Mỹ có những khoản thu và chi thườngbằng USD không bằng nhau tại mỗi thời điểm, ví dụ trong một số trường hợp, họ cónguồn thu USD vượt quá nhu cầu sử dụng, và trong các trường hợp khác, nhu cầuchi bằng USD lại vượt quá nguồn thu của họ. Một thực tế là, họ có thể bán phầnphụ trội bằng USD để lấy nội tệ khi nguồn thu quá lớn và mua phần thiếu hụt USDbằng nội tệ khi khoản chi quá lớn. Tuy nhiên, họ phải chịu chi phí giao dịch (chênhlệch giữa tỷ giá mua vào và bán ra) và phải đối mặt với tiềm ẩn rủi ro tỷ giá. Đểtránh được chi phí giao dịch và rủi ro tỷ giá, họ có thể chọn phương án ký gửi USDtại các ngân hàng ở Mỹ. Tuy nhiên, phương án này tỏ ra không hiệu quả, bởi vì họlại phải giao dịch với những nhà ngân hàng ở cách xa hàng nghìn dặm cùng vớinhững vấn đề phức tạp trong tập quán giao dịch. Rõ ràng sẽ thuận lợi hơn nhiềunếu những người ngoài nước Mỹ ký gửi USD tại một ngân hàng ở xung quanh họhay tại nước bản địa. Các ngân hàng này sẽ đáp ứng nhanh hơn những yêu cầu củakhách hàng. Điều này trở thành động lực khiến cho thị trường Eurocurrency pháttriển nhanh chóng.Sự không hạn chế vay USD tại Eurobanks: thị trường Eurodollars có thể vẫn pháttriển cho dù không tồn tại nhu cầu vay của những người không cư trú. Nếu điều nàyxảy ra thì các Eurobanks phải chuyển toàn bộ Eurodollars có được quay trở lại thịtrường tiền tệ của Mỹ. Tuy nhiên, một thực tế là trong những năm 60 và 70 (thế kỷtrước), do có những hạn chế đối với người không cư trú trong việc tiếp cận tín dụngtại các ngân hàng ở Mỹ (nhưng các Eurobanks không bị hạn chế), đã kích thíchnhững người này quay sang vay USD tại các Eurobanks. Đây được xem như là tiền
  3. 3. đề và là động lực cho sự phát triển tín dụng bằng Eurodollars thuộc tài sản có trênbảng cân đối tài sản của các Eurobanks. Vào năm 1965, đầu tư ra nước ngòai bị hạnchế bởi một chương trình tự nguyện nhằm kiểm soát hạn chế cho vay USD đối vớicác ngân hàng ở Mỹ, và đến năm 1968 thì chương trình này trở thành bắt buộc.Chương trình kiểm soát hạn chế tín dụng này đã buộc nhiều người có nhu cầu vayUSD chuyển hướng sang thị trường Eurodollars.Không phải chịu thuế thu nhập từ đầu tư vào chứng khoán nước ngoài. (The U.S.Interest Equalization Tax-IET). Một quy chế tiếp theo đã tác động làm tăng trưởngtín dụng Eurodollars là việc Mỹ đánh thuế thu nhập đối với người cư trú có thu nhậptừ đầu tư vào chứng khoán nước ngoài (IET). Điều này hàm ý, để kích thích côngdân Mỹ tiếp tục cho người nước ngoài vay, thì lãi suất người nước ngoài chào vayphải tương đối cao đủ để bù đắp chi phí thuế thu nhập (IET) nói trên. Để giảm chiphí, những người nước ngoài chuyển sang vay USD trên thị trường Eurodollars. Dotránh được thuế thu nhập (IET) nên lãi suất chào vay thực sự đã giảm xuốngSự tiện lợi của tín dụng Eurodollars: sự tiện lợi của tín dụng Eurodollars cũng giốngnhư tiền gửi Eurodollars. Tín dụng Eurodollars thường tiện lợi hơn nhiều so với tíndụng do các ngân hàng ở Mỹ cấp. Điều này cũng đúng đối với tín dụng bằngEurocurrency khác, bởi vì các ngân hàng hải ngoại biết rõ hơn về độ tín nhiệm vànăng lực của khách hàng trên cùng địa bàn hoạt động. Kết quả là, thay vì phải đi vayUSD tại New York, GBP tại London..., những người có nhu cầu có thể đi vay đồngtiền cần thiết ngay trên thị trường nội địa của mình.Những sự kiện như tiền gửi chảy ra nước ngoài để tránh Quy chế Q (FED – Ngânhàng Trung ương Mỹ) khống chế trần lãi suất tối đa đối với các khoản tiền gửi tạingân hàng và các tổ chức nhận tiền gửi của Mỹ), các ngân hàng chuyển hướng sanghọat động ở nước ngoài, các nhu cầu USD chuyển hướng sang vay ở nước ngoài đểtránh quy chế về thuế thu nhập (IET), chương trình kiểm soát tín dụng và đầu tư trựctiếp... đã kích thích thị trường Eurodollars tăng trưởng một cách nhanh chóng. Ngoàira, cho dù hầu hết những quy chế nêu trên, thuế thu nhập (IET), cũng như các kiểmsoát khác được dỡ bỏ vào những năm 70, nhưng thị trường Eurodollars vẫn tiếp tụcphát triển mạnh mẽ.Vai trò của chênh lệch đầu vào, đầu ra hẹp: nguyên nhân chính khiến cho các hoạtđộng của Eurobanks thành công ngay cả sau khi Chính phủ Mỹ bãi bỏ các quy chếkhắt khe đối với các ngân hàng Mỹ là: Eurobanks có khả năng trả lãi suất tiền gửicao hơn và thu lãi suất cho vay thấp hơn so với các ngân hàng ở Mỹ. Đây là lợi thếcạnh tranh và là nguyên nhân cơ bản giúp cho các hoạt động của Eurobanks tồn tại,được ưa chuộng và phát triển. Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửitại các Eurobanks là hẹp hơn so với tại các ngân hàng ở Mỹ. Có nhiều nguyên nhângiải thích điều này, nhưng nhìn chung, những nguyên nhân chính bao gồm: Khác vớicác ngân hàng kinh doanh nội địa, các Eurobanks được độc lập với những quy chếkiểm soát của chính phủ, đặc biệt là không phải tham gia dự trữ bắt buộc. Trong khi
  4. 4. đó, các ngân hàng nội địa phải trích một phần tài sản Có của mình để đáp ứng nhucầu dự trữ bắt buộc không có lãi suất hoặc lãi suất rất thấp. Trong khi đó, do cácEurobanks không phải là đối tượng phải tham gia dự trữ bắt buộc, cho nên chúng cókhả năng chỉ duy trì một lượng tài sản tối ưu có mức lãi suất thấp làm tài sản dự trữ,chính vì vậy mà các Eurobanks có thể trả lãi suất tiền gửi cao hơn và thu lãi suất chovay thấp hơn so với các ngân hàng ở Mỹ.Lợi ích kinh tế từ quy mô giao dịch lớn của Eurobanks. Nhìn chung, mức trung bìnhcủa mỗi khoản tiền gửi và mỗi khoản cho vay là rất lớn, từ hàng trăm triệu đến nghìntriệu USD, lớn hơn rất nhiều so với giao dịch nội địa (từ $10, $100 hay $1000...).Điều này có nghĩa là chi phí hoạt động trung bình liên quan đến mỗi USD nhận tiềngửi hay cho vay là rất thấp đối với các Eurobanks.Các Eurobanks tránh được đáng kể những chi phí phụ trội liên quan đến tổ chức cánbộ, hành chính và sự chậm trễ phát sinh do phải tuân theo các quy định tại mỗi ngânhàng nội địa. Các Eurobanks không phải duy trì một hệ thống chi nhánh cồng kềnhnhư các ngân hàng nội địa. Hơn nữa, những ngân hàng nội địa cần một cơ chế kiểmsoát nội bộ chặt chẽ và thường là phải chịu chi phí khá lớn cho những họat động liênquan đến pháp lý, trong khi đó, các Eurobanks giảm được đáng kể những chi phínày.Những hoạt động của các Eurobanks chịu sự cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ và nhữngđiều kiện tham gia hoạt động trên thị trường này tương đối dễ dàng so với nhữnghoạt động ngân hàng nội địa. Điều này khiến cho thị trường Eurocurrency càng trởnên hiệu quả và cạnh tranh hơn.Các Eurobanks không phải trả phí bảo hiểm tiền gửi, trong khi đó các ngân hàng Mỹphải trả phí bảo hiểm tiền gửi.Nhìn chung, đội ngũ khách hàng được các Eurobanks cho vay đều là những kháchhàng có chất lượng cao, có tỷ lệ vỡ nợ không đáng kể, ngược lại, những khách hàngmà các ngân hàng nội địa cho vay thường có tỷ lệ vỡ nợ khá cao, do đó, các ngânhàng nội địa phải thu thêm một khoản phí cho vay để bù đắp rủi ro, làm cho mức lãisuất cho vay bị đội lên và mức lãi suất tiền gửi giảm xuống.Rủi ro hoạt động của thị trường Eurodollar không những ảnh hưởng gián tiếp màcòn ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của nước chủ quyền đồng tiền này. Mộttrong những mối quan tâm chính đến thị trường Eurodollar là thị trường này baogồm một khối lượng khổng lồ nguồn vốn có khả năng tạo tín dụng nhưng lại khôngcó bất cứ một quy chế điều chỉnh nào. Một số lý luận cho rằng, những hoạt động củaEurobanks ví như một quả bom tiềm ẩn được cài dưới Hệ thống tài chính thế giới.Trong thực tế, những hoạt động của Eurobank không bị điều chỉnh và không tồn tạicơ chế tiếp cận với người cho vay cuối cùng, cộng với sự hoạt động trên thị trườngInterbank rất sôi động, làm phát sinh những lo ngại rằng: nếu một Eurobank sụp đổsẽ tạo ra hiệu ứng tàn khốc làm sụp đổ các Eurobank khác (theo hiệu ứng lây lan dâychuyền), như vậy, sẽ làm tăng mối nguy hiểm đến toàn hệ thống tài chính quốc tế.
  5. 5. Một mối quan tâm khác đến thị trường Eurodollar là áp lực tiềm ẩn của thị trườngnày lên lạm phát. Sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường Eurodollar trongnhững năm 60 và 70 (thế kỷ trước) xảy ra trùng khớp với tăng đáng kể tỷ lệ lạm phátở các nước công nghiệp. Một số nhà hoạch định chính sách và kinh tế đã cho rằng,do tốc độ tăng trưởng nhanh của thị trường Eurodollar đã góp phần tăng tỷ lệ lạmphát. Lý luận này dựa trên cơ sở là: sự tăng trưởng nhanh của thị trường Eurodollarkhông bị hạn chế bởi dự trữ bắt buộc, do đó, đã tạo ra hiệu ứng tạo tiền bổ sung vàocung tiền quốc gia, làm cho áp lực lạm phát gia tăng. Ví dụ: do không chịu các quychế điều chỉnh nên thị trường Eurodollar không có tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay có tỷ lệrất thấp so với thị trường trong nước, từ đó, thị trường Eurodollar đã tạo ra hiệu ứngmở rộng cung ứng tiền rất lớn, tăng khả năng lạm phát ở các quốc gia tham gia thịtrường này.Một số nhà kinh tế học đã phản đối hoạt động của thị trường Eurodollar từ nhữnggóc độ khác; đặc biệt họ rất quan tâm đến một thực tế rằng, thị trường Eurodollar đãtạo điều kiện thuận lợi để các quốc gia tài trợ cho thâm hụt cán cân thanh toán mộtcách dễ dàng. Họ cho rằng, thị trường Eurodollar phát triển nhanh chóng là do có sựtồn tại một bên là nhóm các nước có thặng dư cán cân thanh toán và một bên lànhóm các nước có thâm hụt cán cân thanh toán thường xuyên. Thị trường Eurodollarđược coi như chiếc cầu nối chuyển vốn từ những nước thặng dư đến những nướcthâm hụt; và nếu sự di chuyển vốn này cứ xảy ra liên tục trong nhiều năm, sẽ dẫnđến kết quả là nợ của các nước thâm hụt ngày càng tăng. Các nhà kinh tế tỏ ra lolắng khi cho rằng, do điều kiện đi vay trên thị trường Eurodollar là quá dễ dàng, đãkích thích các nước thâm hụt đi vay quá mức, hơn nữa, có thể làm cho các quốc giathâm hụt không kiên quyết theo đuổi những chính sách kinh tế vĩ mô một cáchnghiêm túc. Do đó, hệ thống Eurobanks có thể gặp phải rất nhiều mối nguy hiểm.Giả sử khi đã trở thành con nợ quá lớn, có thể một số nước sẽ không còn thiện chítrả nợ; và nếu điều này xảy ra có hệ thống thì mọi niềm tin vào Eurobanks sẽ khôngcòn nữa. Một vấn đề nữa, nếu những người gửi tiền vào Eurobanks nhận thấy rằngdư nợ của các nước thâm hụt là quá lớn và bộc lộ nhiều rủi ro, khiến cho mọi ngườiồ ạt rút tiền gửi từ các Eurobanks và sẽ tạo ra hai hiệu ứng: (i) hệ thống Eurobankscó thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán; (ii) các nước thâm hụt không cònkhả năng tuần hoàn tín dụng.Mặt khác, thị trường Eurodollar cũng tạo ra sự bất ổn cho nước Mỹ (nước chủ quyềncủa đồng tiền này), khi có những áp lực về tỷ giá sẽ làm cho giá trị của đồng USDtăng lên hay giảm xuống, dẫn đến lãi suất thị trường trong nước có thể thay đổi, nótác động đồng thời ở cả hai thị trường Eurodollar và thị trường nội tệ Mỹ. Chúng tacó thể xem xét vấn đề trên qua hai trường hợp: (i) đồng tiền USD đang bị áp lựcgiảm giá; (ii) đồng tiền USD đang bị áp lực tăng giá.Khi đồng USD có áp lực giảm giá thì khả năng đồng tiền này chạy ra khỏi nước Mỹvới số lượng lớn là điều không thể tránh khỏi, người dân muốn đổi nhanh chóng từ
  6. 6. USD ra các đồng tiền khác để tránh nguy cơ mất giá của đồng tiền. Để hạn chếlượng vốn chạy ra nước ngoài, Chính phủ Mỹ phải có những biện pháp cứng rắn nhưkiểm soát số lượng USD mà người nước ngoài có thể vay tại Mỹ. Điều này làm chothị trường Eurodollar ngoài nước Mỹ có cơ hội phát triển mạnh, làm cho lãi suất củathị trường trong nước, nơi đồng USD bị kiểm soát, giảm xuống.Khi đồng USD có áp lực tăng giá, để tránh luồng vốn đổ vào Mỹ do dự đoán đồngUSD lên giá, chính phủ Mỹ phải có chính sách kiểm soát nguồn vốn này, những biệnpháp này có mục đích giới hạn lượng vốn mà người nước ngoài có thể gửi tại Mỹ vàgiới hạn lượng USD mà người dân Mỹ có thể cho vay ra nước ngoài. Bất kì ngườinào không có quốc tịch Mỹ mà muốn giữ tài khoản tiền gửi bằng USD chỉ còn mộtcách là thông qua thị trường Eurodollar, kết quả là làm cho lãi suất tiền gửi của đồngUSD ở thị trường thấp hơn so với thị trường nước Mỹ.Tóm lại, ngày nay tốc độ tăng trưởng của thị trường tiền tệ quốc tế được biểu hiệnthông qua tốc độ tăng trưởng của tiền gửi và tín dụng (Eurocurrency Deposits andLoans) là đáng kinh ngạc, đồng thời là nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa cácthị trường tài chính nói chung và ngành công nghiệp ngân hàng nói riêng, trong đócó Việt Nam chúng ta.

×